Vụ bạo hành trẻ em với những tình tiết rùng rợn như thời Trung Cổ.

Lê Vi

Chỉ chưa đầy một tháng mà đã có hai vụ bạo hành trẻ em với những tình tiết rùng rợn như thời Trung Cổ. Bé gái 8t bị “mẹ ghẻ” tra tấn cả năm cho đến chết. Hôm nay dân tình lại rúng động, và không quên cầu nguyện, cho cháu gái 3 tuổi bị “cha ghẻ” hành hạ bằng ép nuốt đinh, uống thuốc rầy và cuối cùng là đóng gần chục cây đinh vào đầu.

Nhìn phim chụp hộp sọ của bé con mà tưởng chừng đứng ngoài trời đang 2°C vẫn còn ấm hơn. Người cứ run lên vì đau đớn như chính mình bị tra tấn. Đất nước đáng sống đây ư? Cứ mãi học tập và làm theo… thì chẳng mấy khi xã hội này như cái cối xay thịt mất.

Tui cẩn thận edit và scan lại bức tranh vẫn mới tinh tươm, còn nồng mùi máu của trẻ thơ bất hạnh. Các con sẽ còn đau khổ bởi xiềng xích vô hình cho đến bao giờ. Trời ơi!

Fb Vũ Tuân

Lấy yêu thương xóa bỏ hận thù

Lấy yêu thương xóa bỏ hận thù

(Câu chuyện có thật)

Tại một nơi sâu hun hút trong khu rừng Hürtgen, một phụ nữ Đức tên Elisabeth Vincken dẫn theo cậu con trai 12 tuổi Frisbey lánh đến đây dựng một căn nhà gỗ ở tạm, bởi tiệm bánh của họ trong thành phố đã bị những trận oanh tạc trên không của quân đồng minh phá hủy tan tành.

Đêm giáng sinh, hai mẹ con Frisbey rất mong chồng và cha của họ đang làm việc trên thị trấn về nhà đoàn tụ, cùng đón Chúa sinh ra đời. Thế nhưng hôm đó tuyết rơi nhiều bao trùm cả ngọn núi nên có thể bố của Frisbey khó trở về nhà.

Đột nhiên, tiếng gõ cửa dồn dập vang lên. Cậu bé Frisbey ngỡ rằng cha về, vội chạy ra mở cửa song mẹ cậu đã nhanh hơn. Elisabeth vừa hé cửa thì thấy có 2 binh sĩ đội mũ cối sắt đứng ngoài, còn 1 người khác đang nằm trên tuyết nhìn như đã chết.

Elisabeth ý thức ngay được rằng đó là lính Mỹ – đối thủ không đội trời chung của quân Đức thời điểm đó.

Họ thuộc sư đoàn 8 binh đoàn bộ binh 121, bị lạc mất đội và loanh quanh trong rừng sâu suốt 3 ngày, vừa phải tìm cách tránh quân Đức, vừa phải tìm lối thoát. Vừa đói vừa rét, người họ thâm tím, trong đó 1 người bị trúng đạn ở chân, mất rất nhiều máu, có thể sống được hay không chẳng ai có thể nói được vào lúc đó.

Mặc dù có súng trong tay song họ vẫn gõ cửa nhà Elisabeth một cách lịch sự.

Người mẹ dù không hiểu họ nói gì những cô hiểu ý của những binh sĩ Mỹ. Trầm ngâm một lúc, cô mời họ vào nhà và đưa người bị thương lên giường của Frisbey nghỉ ngơi, giúp anh ta làm ấm tay, đồng thời sai con đi bắt gà, lấy thêm vài củ khoai tây để làm cơm giáng sinh.

Không lâu sau, mùi gà nướng thơm phức đã bay ngào ngạt khắp nhà. Cùng lúc đó, Elisabeth nhận ra cô có thể nói chuyện với một lính mỹ bằng tiếng Pháp, không khí căng thẳng trong nhà lập tức giảm đi rất nhiều.

Một lúc sau, lại có tiếng gõ cửa dồn dập vang lên. Frisbey chạy ra mở cửa. Thấy 4 lính Đức đứng ngay trước cửa, cậu bé quá đỗi sợ hãy, người như bị đóng băng. Dù là trẻ con, Frisbey cũng biết rõ quy định của Đức quốc xã khi đó, rằng cứ chứa chấp quân địch là giết ngay, không cần giải thích.

Elisabeth điềm tĩnh bước ra, nói với viên sĩ quan chỉ huy trong nhóm: “Giáng sinh an lành!”

Viên sĩ quan nói anh ta và cấp dưới của mình bị lạc đường, muốn ở nhờ trong nhà Elisabeth một đêm.

Người phụ nữ này vẫn bình tĩnh trả lời: “Mời các anh vào nhà cho ấm, và cũng mời các anh ăn cơm giáng sinh với chúng tôi. Tuy nhiên, chúng tôi cũng có những vị khách khác, họ không phải là bạn của các anh, hi vọng các anh có thể chấp nhận họ.”

Viên sĩ quan người Đức lập tức cảnh giác và hỏi dồn: “Ở trong nhà có người? Chúng là người Mỹ?”

Elisabeth đáp: “Vâng, hôm nay là đêm giáng sinh, không ai được phép động thủ, mời các anh để vũ khí ở bên ngoài.”

Viên sĩ quan Đức nhìn Elisabeth một cái, rồi ra hiệu cho những người khác để vũ khí ngoài cửa trước khi bước vào nhà.

Những viên lính Mỹ trong phòng bỗng chốc trở lên căng thẳng, vội vã cầm chắc súng trong tay. Một người thậm chí còn rút súng lục, chuẩn bị bắn lính Đức đang tiến vào. Thế nhưng Elisabeth đã ngăn cản anh ta và lặp lại những câu nói mà cô vừa nói với lính Đức: “Hôm nay là đêm giáng sinh, không được phép tàn sát, hãy đưa súng cho tôi.”

Và như thế, người phụ nữ thu hồi cây súng trong tay viên lính Mỹ đang lo lắng hơn là chủ động.

Elisabeth sắp xếp để khách ngồi quanh một cái bàn. Vì ngôi nhà khá chật hẹp nên lính Mỹ, lính Đức phải ngồi sát cạnh nhau, không khí rất căng thẳng. Hai bên, ai cũng nâng cao cảnh giác, đề phòng vì không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Chỉ có nữ chủ nhà là vừa cười nói, vừa bận rộn chuẩn bị bữa tối giáng sinh.

Vài phút sau, mùi thức ăn hấp dẫn cộng thêm thái độ nhiệt tình của chủ nhà nên trạng thái căng thẳng dần dần được thả lỏng.

Một lính Mỹ lấy ra một hộp thuốc lá mời những viên lính Đức, trong khi một viên lính Đức lại rút ra một bình rượu vang và một cái bánh mỳ trong chiếc ba lô trên lưng ra chia cho mọi người. Một viên lính Đức thậm chí khi thấy viên lính Mỹ bị thương còn lại gần kiểm tra vết và xử lý lại vết thương cho người mà nếu ở chỗ khác, anh ta sẽ là kẻ thù không đội trời chung.

Vì được học qua trường y nên viên lính này có chút kinh nghiệm về y tế, lại có thể nói được tiếng Anh nên anh ta nói với viên lính Mỹ rằng vì trời lạnh, vết thương không bị nhiễm trùng nên không nguy hiểm đến tính mạng.

Đến lúc này, sự hoài nghi lẫn nhau giữa hai nhóm lính mới bắt đầu tan biến.

Đồ ăn được đưa ra bàn. Elisabeth bắt đầu cầu nguyện trước bữa ăn. Cô cầu nguyện trong nước mắt:

“Cảm ơn Chúa đã ban ơn để mọi người có thể ngồi ăn chung một bữa trong trận chiến khủng khiếp này. Trong đêm giáng sinh hôm nay, chúng con đã hứa sẽ không coi nhau là kẻ thù mà sẽ đối xử hữu hảo với nhau, cùng thưởng thức bữa cơm giáng sinh đơn giản; chúng con cầu mong cuộc chiến đáng sợ này sẽ kết thúc trong thời gian sớm nhất để mọi người có thể bình an trở về quê hương của mình.”

Elisabeth nói xong cũng là lúc nước mắt lăn dài trên má những người lính. Họ bị những lời cầu nguyện của nữ chủ nhà lay động, thù hận trên chiến trường bỗng chốc tiêu tan, lòng họ hướng về quê nhà, về người thân, ai nấy cũng đang mong hòa bình sẽ lập lại.

Dùng xong bữa tối cũng là 12h đêm, mọi người ra ngoài đi dạo. Lúc này, tuyết ngừng rơi và gió cũng đã ngừng thổi, trên trời sao sáng lấp lánh.

Sau đó, 7 viên lính vốn không đội trời chung vào nhà cùng ngủ một giấc thoải mái cho đến sáng hôm sau.

Chủ nhà làm một ít canh trứng gà cho viên lính Mỹ bị thương. Viên sĩ quan Đức thì lấy bản đồ ra chỉ cho lính Mỹ sơ đồ trận mạc và nhắc họ những nơi không nên đi tới. Thậm chí những viên lính Đức còn làm tặng cho viên lính Mỹ bị thương một cái cáng.

Hai bên cảm kích chào tạm biệt mẹ con Elisabeth rồi đường ai nấy đi.

Vào năm 1958, cậu bé Frisbey đã 26 tuổi, sau khi kết hôn và di dân sang Mỹ, anh đã cư trú tại Hawaii và mở một tiệm bánh Pizza. Nhờ có bạn bè cổ vũ động viên, Frisbey đã viết lại câu chuyện trên và gửi cho nhà xuất bản “Reader’s Digest”.

Năm 1995, chương trình truyền hình “Unsolved mysteries” đã đem câu chuyện của Frisbey quay thành phim.

Không lâu sau, một nhân viên dưỡng lão viện ở thị trấn vùng Maryland gọi điện thoại cho người phụ trách tiết mục, nói rằng ở chỗ họ có một người lính già hay kể chuyện hệt như vậy.

Người lính đó là một trong ba người lính Mỹ đêm hôm đó, ông tên là Ralph. Rất nhanh, họ bố trí cho hai người gặp mặt.

Sau 52 năm xa cách, vào năm 1996, Frisbey và Ralph lại gặp nhau, hai người ôm nhau cảm động đến phát khóc. Ralph nức nở:” Mẹ cậu đã cứu sống chúng tôi”.

Về sau, Frisbey lại tìm được thêm một người lính Mỹ, nhưng chưa tìm lại được ai trong số những lính Đức năm xưa.

Năm 2002, Frisbey qua đời, cùng năm ấy, Hollywood đã sản xuất bộ phim có tên “The Silent Night” dựa trên chính câu chuyên đầy chất nhân văn này.

Cố tổng thống Mỹ Ronald Reagan đã dùng câu chuyện trên để tổng kết lại những gì ông có thể cảm nhận từ thế chiến thứ II, rằng “Cái thiện nhất định sẽ đẩy lùi cái ác, tự do nhất định sẽ đẩy lùi bá quyền!”. Câu nói cho đến nay vẫn còn giữ nguyên ý nghĩa và giá trị của nó.

Con người chúng ta ai cũng lấy thiện làm gốc, để đẩy lùi hiểm ác.

Thánh Xê-bát-ti-a-nô (St. Sebastian) (+263-304), tử đạo.

Thánh Xê-bát-ti-a-nô (St. Sebastian) (+263-304), tử đạo.

Đúng là thời tiết Texas rất thất thường, chỉ có ông trời mới biết thôi, hôm qua gần 80ºF hôm nay rớt xuống 40ºF có thể xuống thấp hơn nữa tối nay… Tự phòng thân, mặc đủ ấm nhé.

Cha Vương,

Hôm nay 20/01/2022 Giáo Hội mừng kính Thánh Xê-bát-ti-a-nô (St. Sebastian) (+263-304), tử đạo. Mừng quan thầy đến những ai nhận thánh Sebastian làm quan thầy nhé.

Về phương diện lịch sử, không có gì chắc chắn về Thánh Sebastian, ngoại trừ ngài là một vị tử đạo Rôma, được sùng kính ở Milan ngay trong thời của Thánh Ambrôsiô và được chôn cất ở Appian Way, có lẽ gần Ðền Thánh Sebastian ngày nay. Việc sùng kính ngài lan rộng nhanh chóng, và ngài được nhắc đến trong vài sổ tử đạo ngay từ năm 350.

Truyền thuyết về Thánh Sebastian góp phần quan trọng cho nghệ thuật, có rất nhiều tranh ảnh về thánh nhân. Chỉ có một truyền thuyết mà các học giả ngày nay đồng ý là việc thánh nhân gia nhập quân đội La Mã và được Hoàng Ðế Diocletian giao cho việc chỉ huy đội vệ binh, sau này khi Diocletian đi sang miền Ðông thì Hoàng Ðế Maximian kế vị cũng giao công việc này cho thánh nhân. 

Không một hoàng đế nào biết Thánh Sebastian là một Kitô Hữu và ngài đã bí mật giúp đỡ các vị tử đạo. Sau cùng, ngài bị bắt gặp, bị đánh đập trước mặt Hoàng Ðế Maximian và được giao cho các cung thủ của Mauritanian để hành hình. 

Thân thể ngài ghim đầy những mũi tên và bị bỏ mặc cho chết dần mòn. Nhưng khi bà quả phụ Castulus đến tìm xác ngài để đem chôn thì thấy ngài còn sống và bà đã săn sóc, giúp ngài bình phục. Sau khi khoẻ mạnh, thay vì hèn nhát trốn tránh, ngài đã đứng chờ ở chỗ hoàng đế hay đi qua và lớn tiếng lăng mạ ông vì sự tàn nhẫn đối với Kitô Hữu. Lần này thánh nhân bị kết án tử hình, và bị đánh đập bằng gậy cho đến chết. Xác người được một bà khác chôn cất tại nghĩa trang Ad Catacumbas trên đường Appienne. Một ngôi thánh đường được xây lên tại đó để kính thánh nhân. 

Người được tôn kính cùng với Thánh Giáo Hoàng Fabianô, tuy vị này chết vì đạo nửa thế kỷ trước, được mừng kính cùng một ngày. (Nguồn: (Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu)

Để thể hiện sự thán phục trước ơn can đảm của thánh nhân, mời bạn hãy làm một việc hy sinh đau đau nho nhỏ hôm nay nhé.

  From: Đỗ Dzũng

8 bước suy niệm trước Chúa

Giáo xứ Cần Giờ – DCCT

8 bước suy niệm trước Chúa

THÁNH TERESA AVILA

“Cầu nguyện là một cuộc nói chuyện thân mật với Đấng là chúng ta biết rằng Ngài yêu thương chúng ta.” (Thánh Teresa Chúa Giêsu)

  1. Chuẩn bị trước:

-Sống cuộc sống chân chính của người Kitô hữu.

-Tránh phạm tội và những cám dỗ phạm tội.

-Cố gắng bẻ gẫy những dính bén trần gian.

-Sống cuộc sống đơn sơ mà Thánh Kinh dạy.

-Huấn luyện cho mình thói quen nhớ đến sự hiện diện của Chúa trong đời sống mình bằng cách sống thinh lặng và sống một mình, bắt chước Chúa Giêsu là Đấng cầu nguyện trong thinh lặng.

  1. Chuẩn bị gần:

Đây là thời kỳ chuẩn bị cho việc cầu nguyện (trong nhóm hay âm thầm).

-Ngừng làm việc hay ngừng học hỏi khoảng 15 phút và để tâm hồn yên tĩnh và khỏi bị chia trí.

-Ngồi im lặng và thư giãn tâm trí và thể xác.

* GIỜ CẦU NGUYỆN:

  1. Chuẩn bị ngay:

-Làm dấu thánh giá là một hành động đức tin trước sự hiện diện của Chúa.

-Hồi tâm và xưng tội và đọc kinh Ăn Năn Tội.

-Nhận sự tha thứ của Chúa. Tha thứ cho bản thân mình.

-Canh Tâm và hứa không bao giờ bỏ cầu nguyện dù có bận rộn hay đau yếu.

  1. Đọc:

Mục đích của việc đọc sách thiêng liêng là để giúp cho bạn tìm được một đề tài thích hợp cho sự đối thoại đầy tình yêu với Chúa.

-Chọn một đề tài nào nói về đức tin và nói lên chứng cớ tình yêu của Chúa.

-Suy gẫm về cuộc đời Chúa Giêsu ở trong Thánh Kinh, đặc biệt là Cuộc Khổ Nạn Chúa Giêsu KItô.

-Đọc chậm rãi với sự chú ý và sùng kính chứ không phải là với tính cách một nhà học giả.

-Mục đích là có thêm niềm xác tình mạnh mẽ và tình yêu Chúa dành cho ta.

  1. Suy Niệm

Mục đích của sự suy niệm là dùng tâm trí và sự tưởng tượng của mình để hình dung, chiêm niệm và đọc đề tài. Tất cả những chân lý được biểu lộ đều cho chúng ta biết về tình yêu Chúa.

-Cho phép tâm trí bạn chú tâm về tình yêu Chúa dành cho bạn và hãy cố gắng hiểu tình yêu Ngài qua việc chiêm niệm.

-Sử dụng và suy gẫm về tình yêu của Chúa để rồi tình yêu ta dành cho Chúa sẽ triển nở trong trái tim bạn.

-Trong lúc suy gẫm, bạn có thể đọc thêm rồi suy gẫm.

-Trong lúc suy niệm thì chúng ta được nghỉ ngơi trong sự hiện diện của Chúa.

-Tốt nhất là suy gẫm trước Chúa Giêsu Thánh Thể.

-Có thể đọc đi đọc lại kinh Lạy Cha cách chậm rãi, ngừng lại trước những chữ và câu, rồi nghỉ ngơi trước sự hiện diện đầy tình yêu của Chúa .

  1. Cuộc nói chuyện thân thương.

-Hãy nói cho Chúa nghe rằng bạn yêu mến Chúa, bạn muốn tiến sâu hơn trong tình yêu Chúa và bạn muốn chứng tỏ bạn yêu mến Chúa bằng hành động và bằng cách làm theo thánh ý Chúa.

-Bạn có thể đọc sách thiêng liêng và suy niệm rồi lại tiếp tục cuộc nói với thân mật với Chúa.

-Bạn ngừng lại để nghỉ ngơi với Chúa rồi lắng nghe Chúa nói. Lúc này là lúc chúng ta đang ở trong trung tâm cuả việc cầu nguyện.

  1. Tạ ơn:

-Cảm tạ Chúa với thái độ cảm tạ khiêm nhường đối với tình yêu lớn lao mà Chúa dành cho bạn.

-Cảm tạ Chúa về những hồng ân mà bạn nhận được từ Chúa: cuộc đời bạn, gia đình, quốc gia và đức tin, ơn gọi.

  1. Thánh hiến bản thân

-Khi nhận biết rằng Chúa ban cho ta quá nhiều thì ta cần dâng hiến bản thân mình cho Chúa.

-Dâng công nghiệp của các thánh, của Đức Mẹ Maria và của Chúa Giêsu lên Chúa Cha.

-Tuyên hứa sẽ làm những gì tốt trong tương lai.

-Đọc lại lời hứa khi được rửa tội, khi làm phép hôn phối hay lời hứa tu sĩ và xin sống trong Chúa và xin Chúa sống trong ta.

  1. Nhận biết khuyết điểm của mình nên xin Chúa giúp ta thi hành những lời hứa của ta. Xin những ơn mà bạn cần nhất để thi hành công việc của mình, để sống thánh thiện và luôn giúp những người khác sống tốt để lênThiên Đàng.
  2. Kết luận

Luôn biết rằng Chúa biết bạn và hãy tin tưởng nơi tình yêu, lòng nhân hậu và thương xót của Chúa trong suốt ngày và đêm của cuộc sống.

THÁNH TERESA AVILA

Gx. Cần Giờ DCCT

 

Lòng Tự Trọng Của Chú Bé Đánh Giày.

Lòng Tự Trọng Của Chú Bé Đánh Giày.

Chiều đi làm về, trời nóng, anh tạt vào quán ngay gần công ty uống một ly cafe, chờ cho vãn người rồi về cho đỡ đông. Nhìn người đi trên đường ai nấy đều mồ hôi nhễ nhại, anh chẳng muốn chen chúc làm gì cho mệt.
– Chú ơi đánh giầy không chú?
– ưmmm… Anh vùa cúi ngậm ống hút vừa lắc đầu.
– Rẻ mà chú, con chỉ xin cái bánh mì ăn cho đỡ đói thôi…
– Giầy chú sắp cho vào bảo tàng đến nơi rồi, thử hỏi người khác xem nhé!
Anh cười nhìn nó, nó xị mặt nhìn anh, buông thõng 2 vai có vẻ mệt mỏi rồi thất thểu đi ra mé cửa ngồi.
Bà chủ quán ngồi ngay đó cất giọng chua ngoa:
-Đi chỗ khác kiếm ăn đi 2 cái thằng kia! Chúng mày ngồi đó án ngữ thì ai dám vào hàng nhà tao nữa. Hãm tài vừa chứ!!! Đúng là cái miệng xinh không đồng nghĩa với những lời nói đẹp.
Sao có thể hắt hủi thân phận của một chú bé như vậy chứ. Anh với tay lấy chùm chìa khoá trên bàn gọi thanh toán, “từ giờ mình sẽ không bao giờ quay lại cái quán này nữa”, anh lầm bầm.
Lao xe theo hướng 2 đứa nhỏ đi để tìm mà mãi không thấy. Bỗng anh nghe thấy tiếng thất thểu:
-Chú ơi… Anh giật mình, quay lại thấy thằng bé con đang ngồi sát ngay sau vách tường lúc nãy chìa tay ra.
-Sao lại ngồi đây? Anh cháu đâu?
– Anh đi kiếm đồ ăn rồi, chú ơi…đói…!!!
Tội nghiệp, thằng bé còm nhom, chắc chỉ tầm 3 – 4 tuổi, bằng đứa cháu con ông anh trai anh là cùng.
Đáng lẽ ra bây giờ nó phải đang được chăm sóc, ăn uống đầy đủ, được đi mẫu giáo, có bố và có mẹ bên cạnh như bao đứa trẻ khác.
Thế mà… Anh lần túi quần ra được hơn 30k đưa cho nó:
-Này cháu, cầm bảo anh đi mua đồ ăn cho nhé!
-KHÔNGGG!!!…
Chưa kip đưa đến tay thằng bé thì thằng anh từ đâu chạy lại giật tay thằng em vào.
– Con cám ơn chú nhưng anh em con đâu phải ăn xin. Chú có lòng tốt thì để con đánh giầy cho chú.
Giọng nó có vẻ dứt khoát.
– Thế mày định để cho em nó đói chết à???
Nó cúi gằm mặt xuống không nói gì. Thằng em thì cứ cầm lấy tay anh giật giật. Anh bước gần đến ấn tiền vào tay thì nó lại hẩy ra, rồi nó quay ra ôm lấy đứa em.
– Thôi được rồi, thế qua quán nước mía kia ngồi chú trả công đánh giầy và mời 2 thằng nước mía. Được chưa?
Nó lí nhí:
_ Vâng, thế thì được ạ.
Vừa đặt cốc nước mía xuống bàn 2 đứa nó hút 1 mạch hết sạch, còn toàn đá. Anh quay qua chị bán nước giơ 2 ngón tay ý ra hiệu thêm 2 cốc nữa, chị hiểu ý, gật lia lịa.
Đơi 2 cốc nước nữa đến, anh bắt đầu chuyện.
_ Uống từ từ thôi không lạnh cổ, về đau họng đấy. Ngon không?
_ Dạ ngon ạ! Thằng bé con mút chùn chụt rồi quay sang anh.
_ Nước mía ngon quá anh hai, thế mà hôm trước anh bảo đắng lắm!
Nó cười hề hề rồi xoa đầu em. Thấy cốc thằng em đã gần hết, nó lấy cốc của mình đổ sang cho em.
_ Ơ, anh hai không uống à?
_ Không, anh không thích uống nước mía. Em uống nốt đi.
Nó nhìn xuống chân anh.
_ Giầy chú bẩn quá rồi, con đánh giầy cho chú nha.
_ OK! hy vọng nó còn đánh được. Không cần sạch quá đâu.
Anh vừa tụt đôi giầy vừa xỏ đôi dép tổ ong nó đưa. Mặt nó đen nhẻm, nhưng nhìn kỹ khá sáng sủa.

_ Cháu bao nhiêu tuổi?
_ Tám tuổi chú ạ.
_ Tám?
_ Dạ
_ Quá nhỏ!

Nó cười trừ: Con lớn rồi mà.
_ Mà sao cháu cứ xưng con với chú thế? Chú đâu quen cháu nhỉ.
_ Mẹ con bảo ra đường gặp người lớn phải xưng con hết, phải lễ phép với người lớn tuổi, mình không có gì thì cũng không để người ta coi thường được. Xưng con để thấy con người gần gũi nhau hơn chú ạ.
Anh lấy tay chống cằm thở dài. Mình còn cố chấp hơn một đứa con nít.
_ Thế mẹ cháu… à con đâu? Nhà ở đâu?
_ Mẹ con mất rồi ạ, gần 2 năm nay rồi. Nhà con ở đằng kia, nhưng bị phá rồi chú ơi. Người ta giải toả rồi, giờ tụi con ngủ ở sau chợ.
_ Thế bố của con ở đâu?
_ Con không có bố. Lúc sinh ra đến giờ con chỉ biết có mẹ thôi.
Con không được đến trường, mẹ dạy con viết, dạy con làm toán, cái gì mẹ cũng dạy con hết.
Nó vừa nói, 1 tay luồn vào trong giầy, 1 tay quệt xi thoăn thoắt, mặt chùng xuống. Anh cũng thôi không hỏi thêm nữa, quá khứ của mẹ chắc nó cũng chẳng biết đâu mà hỏi làm gì… Nhưng có điều, anh chắc chắn đó là một bà mẹ tốt. Cứ nhìn cách thằng bé ăn nói và đối xử với người khác thì biết, hẳn nó đã học rất nhiều từ mẹ.
Anh bế thằng bé con lên cho ngồi lên đùi, nó cười, nụ cười như chưa từng được một lần như thế. Nó còn bé quá, còn chưa biết điều gì đang đợi chờ ở phía trước.
_ Con định tích góp tiền để bữa nào nó lớn cho nó đến trường chú ạ, con không muốn nó giống như con. Nhưng mà sao giờ người ta khó quá, trước 1 ngày con đánh được 20 chục đôi giầy mà giờ chỉ được năm, sáu… Hôm mưa thì có khi chẳng có đôi nào. Không có cái cho nó ăn nên nó còm nhom.
_ Mà sao nhìn 2 đứa chả giống nhau nhỉ?
_ Dạ con nhặt được nó ở góc chợ, nó khóc to lắm, con không biết ai để nó ở đấy nữa.
_ Sao không đem nó trả lại, con có nuôi nổi nó đâu.
_ Biết người ta ở đâu mà trả chú? Người ta đâu có thương nó, bỏ nó giữa chợ thế kia còn gì. Ít ra con còn có chỗ ngủ, kiếm được cái ăn cho nó. Nó chẳng có gì.
_ Xong rồi. Có mấy chỗ con chà mãi không sạch.
_ Ừ, nó nát rồi thì sạch sao được, thế này là tốt lắm rồi, chú cảm ơn.
Hết bao nhiêu chú gửi tiền nào?
_ Dạ, 7 ngàn chú. Nhưng thôi ạ, chú cho anh em con uống nước mía coi như hoà rồi ạ.
_ Hoà là hoà thế nào, nước mía là chú mời bọn con. Đây, ví chú còn có ngần này, cầm lấy đưa em đi ăn cơm đi. Tối rồi.
_ Sao nhiều thế chú, con không dám cầm đâu. Mẹ con mắng đấy!
_ Sao con bảo mẹ con mất rồi? Không được nói dối nha, xấu lắm đấy.
_ Con không nói dối, mẹ con vẫn ở đây mà.
Nói rồi nó thò tay vào túi áo lôi ra cái ảnh be bé đen trắng có hình người phụ nữ tóc dài, đôi mắt buồn nhìn rất hiền.
Lần đầu tiên anh thấy những tia nắng vàng cuối ngày nặng trĩu trên khoé mắt đến thế… Anh xoa đầu nó:
_ Cầm lấy, coi như chú đặt trước cả tháng, mai lại đánh giầy cho chú nhé.
Nó lưỡng lự một hồi, cuối cùng chịu cầm rồi lí nhí:
_ Thế mai con sẽ đánh giầy cho chú nữa. Con cảm ơn chú!
_ Ừa…
Thằng anh cầm tay thằng em lững thững đi theo.
_ Bữa nào mình kiếm được tiền mình đi uống nước mía nữa nha anh hai, ngon lắm!!!
Anh nghe mà chẳng nhấc chân đươc lên. Giá mà ngay lúc này chú có thể làm được điều gí đó tốt hơn cho 2 đứa.

Cảm ơn con, hôm nay là ngày may mắn của chú, con đã chỉ lại cho chú một con đường mà chú dường như đang mất dần niềm tin vào cái xã hội này. Chú vẫn tin là có điều kỳ diệu trên thế giới này, và con là một ví vụ. Cố gắng lên nhé! Mọi chuyện rồi sẽ ổn cả thôi…

From: TU-PHUNG

Phi Châu Đến Thương về Nhớ

Phi Châu Đến Thương về Nhớ

(Hình ảnh của Ánh, Trâm và Frank)

Khi cô cháu rủ đi Phi Châu với nhóm bạn của cô, tôi rất ngại đường xa, hơn nữa Phi Châu rừng rú, ngà voi, sừng tê giác, vốn không phải là những thứ hấp dẫn hay gợi trí tò mò của tôi. Cháu rủ mãi, tôi nhận lời, xong lại hủy bỏ. Frank hơi thất vọng vì anh muốn đi lắm. Cô cháu tôi la oai oải trong phôn: “Cô không thích, nhưng chú thích thì cô phải cho chú đi.” Ừ, thì nể chồng, nể cháu, đi vậy.

Chao ôi là con đường dài… Từ Seattle bay 5 tiếng tới Atlanta, rồi đợi ở phi trường 3 tiếng, bay sang Johannesburg (Nam Phi) 14 tiếng qua vùng biển Atlantic (Đại Tây Dương) đến Johannesburglúc 6 giờ chiều, lấy khách sạn ở ngay phi trường ngủ qua đêm, sáng hôm sau 11 giờ gặp nhóm đi Tour chung đến từ Los Angeles, cùng bay tiếp gần hai tiếng nữa tới Cape Town. Tổng cộng mất gần hai ngày từ lúc ra khỏi nhà. Tôi ngao ngán máy bay lắm rồi, nói với Frank, khi quay về lại Seattle tôi sẽ walk home, chứ không lên máy bay nữa.

Bây giờ ngồi đây, viết những dòng chữ này, tôi nghĩ lại vẫn “ngán” những giờ ngồi trên máy bay lắm. Nhưng chuyến đi Phi Châu vừa qua thật sự đã cho tôi một đoạn thời gian “có giá trị” trong đời sống mình. Những điều nhìn thấy, cảm nhận được ở đất, ở rừng, ở thác, ở sông, ở con người của Phi Châu hoàn toàn khác hẳn ở những nơi khác trên thế giới như: Pháp, Ý, Na Uy, Nhật, Thổ Nhĩ Kỳ, Tầu, Thái Lan, Đài Loan, Hồng Kông, Cam Bốt, Mỹ, v.v mà tôi đã sống hay đã đi qua.

Người hướng dẫn Tour luôn luôn nhắc nhở du khách là không bao giờ được đi một mình, ban ngày luôn luôn phải đi thành nhóm, ban đêm dù có nhóm cũng phải đi taxi, không được đi bộ dù chỉ một, hai đoạn đường. Tỷ lệ thất nghiệp hiện tại ở thành phố này là 50%. Lợi tức của người có việc là US$2.00/ một ngày, nên không tránh được việc cướp giựt và nguy hiểm tính mạng, nhất là cho du khách. Tiếc thay cả nước sống nhờ vào du khách là chính. Người hướng dẫn cho biết: Cứ mỗi một du khách tới Phi Châu nuôi được năm người bản xứ trong một năm.

Tôi chỉ có thể kể ra những điểm chính trong rất nhiều sinh hoạt của chuyến thăm Nam Phi này. Chúng tôi được đi qua các nước:Zambabwe, Swaziland và South Africa. (Tổng số nước trên lục địa Châu Phi là 54 quốc gia được công nhận là thành viên của Liên Hiệp Quốc.Chưa kể đến 9 lãnh thổ không có chủ quyền.Diện tích của toàn Phi Châu là: 30.521.332 cây số vuông. Dân Số chiếm 1/7 trên thế giới.)

Mặc dù thành phố, viện Bảo Tàng cũng hấp dẫn nhưng phong cảnh thiên nhiên, tìm xem các loài thú vật trong cánh rừng hoang dã Phi châu và thăm thác Victoria Fall là những điểm chính của Tour Du Lịch này.

Thiên Nhiên ở Phi Châu

Hãy nói đến những con vật nhỏ nhất trước tiên.

Những con Chim Cánh Cụt (Penguins Colonies) ởBoulder Beach nơi duy nhất loại chim baby Penguins này hiện diện. Con lớn nhất to chưa bằng một con vịt trung bình. Phần đông chỉ bằng con chim bồ câu. Chim tí teo đi xiêu vẹo như em bé mang cái tã nặng trông thật đáng yêu. Chúng nhào ra sóng chơi một lúc, chìm nghỉm, rồi lại trôi vào bờ, đào những lõm cát nông, nằm phơi nắng. Mỗi gia đình như tự chiếm lấy một chỗ cho riêng mình.

Chim Cánh Cụt-Penguins

Thiên nhiên Phi Châu cho ta rất nhiều kỳ bí, ngoài vẻ đẹp dọc theo bờ Biển Đại Tây Dương, chúng tôi được đi thuyền hai giờ trên hồ Saint Lucica, phía Bắc KwaZulu-Natal,hồ có diện tích 350 cây số vuông, ở Nam Phi.

Xem cá sấu và những con Hippo từng đàn trồi lên, hụp xuống trong nước hay nằm phơi nắng ấm trên bãi bùn và xa xa trong cánh rừng tiếp mặt nước, thỉnh thoảng gặp gia đình nhà voi đủng đỉnh đi qua đi lại.

Hà Mã – Hippo

Được đi bằng xe jeep vào rừng xem Thú Hoang (Game Drive) hai ngày, ở Kruger Park và Unfolozi Game Reserve.

Buổi sáng tinh mơ, trước khi mặt trời mọc, chúng tôi mặc quần áo thật ấm với mũ trùm kín đầu, sẵn sàng đứng trước của khách sạn chờ được đưa vào rừng. Ngồi trên những chiếc xe Jeep dài (3 hàng ghế) hai bên không có cửa, mỗi xe chở được mười du khách và tài xế. Máy ảnh sẵn trên tay, chúng tôi đi tìm gặp những con thú thức dậy sáng sớm đi kiếm mồi. Người tài xế lái xe cũng là người hướng dẫn Tour Trong Rừng, anh ta thông thạo từng nhánh cây, ngọn cỏ. Anh biết đón đầu thú vật, biết chụm tay lên miệng làm thành tiếng gọi Chúa Sơn Lâm.

Một con sư tử từ đâu bỗng xuất hiện, đàn trâu rừng hơn mười con đang đi rải rác vội chụm lại với nhau, đứng im bất động. Chúng nín thở, chờ cho con sư tử đi qua. Chúng sợ Chúa Sơn Lâm ngang với loài người sợ Bạo chúa.

Cả buổi sáng kéo dài tới trưa chúng tôi thích thú để cả tâm trí vào việc ngắm nhìn thú rừng tự do thong thả đi rất gần tầm mắt mình, từ sư tử, trâu rừng, hươu cao cổ, ngựa vằn, voi, chó rừng (với chân như chân nai, những cái đuôi trắng dựng lên như cỏ lau,trước đây mình chưa thấy bao giờ);những con tê giác (Rhino), heo rừng, khỉ, vượn… và nhất là chim rừng, với những bộ lông xanh biếc, hoặc đỏ rực.

Xe Jeep và Du Khách sửa soạn vào rừng.

Thú rừng muôn vẻ

Chúa Sơn Lâm

Chó Rừng

Tê Giác- Rhino

Hảo Vọng Giác và Núi Bàn

Trong buổi chiều đầu tiên ở Cape Town chúng tôi được đi xem Cape of Good Hope. Nhớ lại ngày nhỏ được học Địa Lý Thế Giới gọi làHảo Vọng Giác. Đây là một góc biển Đại Tây Dương. Hôm đó bầu trời xanh lam biếc, nước biển xanh ngọc bích, sóng trắng như tuyết lở từng khối. Đẹp đến nín thở vì sự hoàn hảo và hùng vĩ của hóa công. Trong tiếng gọi nhau ơi ới, nao nứcchụp hình của cả nhóm, tôi đứng xa xa một chút nghe tiếng sóng và chiêm ngắm biển trời, chỉ nghĩ đến biển và biển trong khỏanh khắc đó: Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Bắc Băng Dương. Tôi đã đứng mấp mé ở những Đại Dương nào? Có lẽ Thái Bình Dương là bờ biển thân yêu và nghĩ đến là đau xót nhất, nơi cả triệu người dân tôi bỏ xác trong lòng biển.

Hảo Vọng Giác

Chúng tôi được đi bằng xe cáp (Cable car) kéo lên đỉnh của Table Mountain để nhìn xuống biển, nơi đỉnh núi bằng phẳng như một chiếc bàn dài, nơi đón mời mình ngồi xuống dự bữa tiệc thiên nhiên, nơi thức ăn là mây, là gió là biển xanh với sóng bạc đầu. Muốn dùng bao nhiêu cũng được. Có thể Thượng Đế sẽ tính vào hóa đơn của tuổi đời, có thể không, nào ai biết được?

Theo tài liệu lưu truyền: António de Saldanha, gốc Bồ Đào Nha, người Âu Châu đầu tiên đến vùng biển này. Ông leo lên ngọn núi hùng vĩ ấy vào năm 1503 và đặt tên cho núi là Taboa do Cabo (tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là bàn của mũi đá). Mỏm núi, đứng xa nhìn ở một góc cạnh nào đó của biển từ chân núi hất lên thì lại thấy có hình dáng giống như đầu con sư tử, vị thuyền trưởng này có khắc vào đó một cây thập giá, cho đến nay nếu nhìn kỹ, vẫn có thể tìm ra dấu vết. Thật tuyệt! (*)

Trên đỉnh núi Bàn với bạn

Tú trên Đỉnh Núi Bàn 

Thác Victoria Fall.

Nằm giữa ranh giới của Zambabwe và Zambia, đã có lúc Victoria Fall được coi là một trong bảy kỳ quan của Thế Giới.

Chúng tôi đứng ở Zambabwe, phía bên này thác, mặc dù có áo mưa vẫn ướt sũng đầu tóc và hai chân. Không gì đẹp bằng đứng ngắm bức tường thác hùng vĩ bắn những tia nước như mưa trong ánh nắng, hắt sang bờ bên một chiếc cầu vồng bẩy sắc, trên thân thể du khách, trên mặt cỏ hay trong lùm cây. Cầu vồng ban ngày đã đẹp lắm rồi, nhưng có du khách nói, nếu bạn đi ngắm thác vào một đêm trăng tròn, bạn sẽ thấy một Cầu Vồng Trăng (Moonbows) một cầu vồng ánh sáng lung linh bóng trăng huyền ảo.(*)

Chiều ngang của thác 1708 mét được coi như một tấm màn bằng nước dài nhất thế giới. Thác buông xuống từ độ cao 90 đến 100 mét qua bờ xuống lòng thác (Zambezi Gorge) một lượng 550,000 thước khối nước mỗi phút.

Có người tới đây chụp cả trăm tấm hình vẫn chưa thỏa lòng. Dịch vụ trực thăng bay trên đỉnh thác nước cho du khách nhìn xuống cũng được cung cấp. Tôi thì xin hàng, không dám thử môn giải trí này.

Trắng Xóa Đất Trời 

Con Người Phi Châu.

Mặc dù tháng bảy Dương Lịch là mùa đông ở Phi Châu, buổi sáng tuy phải mặc áo ấm ra đường, nhưng đến trưa là bắt đầu nóng, trên xe bus của du khách luôn luôn mở máy lạnh. Những con đường ra ngoài thành phố, hai bên cát bụi đỏ au, thỉnh thoảng có người đàn bà địu con sau lưng, đội thúng trên đầu đứng bên đường chờ xe, có những thanh niên đi nhóm hai ba người, ăn mặc cũng tươm tất, đi như đi từ trong rừng ra, có một vài em bé đi đến trường hay đi học về, có em mặc đồng phục hẳn hoi (Được biết những đồng phục này được chuyển từ gia đình nọ, tới gia đình kia.) Màu sắc xanh đỏ trên y phục của họ tương phản với mặt đất, với hoang vu của núi rừng. Họ đi bộ xa giỏi lắm, đôi chân họ thanh mảnh và vững chắc. Nếu để ý sẽ thấy phần đông đàn ông gầy hơn đàn bà.

Quán Bên Đường

Học Trò Tới Trường 

Khu Langa Township ở Cape Town

Bạn không thể tự mình đến đây được, vì sẽ không an toàn. Du khách phải trả tiền riêng cho chuyến thăm viếng này, nhờ người địa phương hướng dẫn cho được an toàn.

Xe bus tới Trung Tâm Cộng Đồng. Nơi đây chúng tôi được hướng dẫn xem công việc thủ công như: làm đồ gốm, vẽ tranh, đẽo gỗ, đan, tết, những đồ dùng và những con thú bán cho du khách. Được xem và đánh trống cùng thổ dân. Mua một vài món vừa lưu niệm vừa giúp quỹ cho Trung Tâm.

Trung Tâm Cộng Đồng và Hình phòng vẽ

Được đi tới khu những ngôi nhà ổ chuột (Township), nơi con người vẫn ở trong những cái nhà, nếu gọi là nhà, thật ra là những cái Container cũ, bằng tôn hay gỗ,những cái hộp được quây bằng những tấm thiếc đã gỉ sét, có diện tích bằng khoảng hai mét vuông. Những cái thùng này kê sát nhau, chen chúc bên cạnh những con đường đất đỏ, những rãnh nước và những vòi nước rỉ rả chẩy. Những quầy hàng xếp lèo tèo vài mớ rau héo, trái cây rụng cuống và những mảng thịt tái ngắt để lẫn vào nhau. Bụi cát thản nhiên thổi trên mặt người và mặt hàng. Ở khu này có người giơ tay ra xin tiền nhưng bị người hướng dẫn nạt, và gạt đi.

Khu Dân Nghèo Sinh Sống -Township

Chúng tôi dừng lại nơi có những người đàn bà da đen vẽ mặt đang ngồi đốt những chiếc đầu cừu, móc chút thịt còn sót lại; có người đàn ông cầm chai rượu vừa đi chân thấp chân cao vừa ngã vào đống lửa, lồm cồm tự đứng dậy, rồi lại lăn quay xuống. Chẳng ai để ý nhìn, ngay cả những đứa trẻ đang ngồi gần đó cạnh mẹ. Chỉ có du khách chú ý thôi. Ruồi ở đâu về mở hội trên những chiếc đầu cừu không còn một hột máu. Rùng mình!

Nướng Đầu Cừu

Chúng tôi được đưa tới một trong những khu chung cư của nhà nước. Một căn nhà cho một hay hai gia đình, tùy theo mỗi gia đình có mấy người. Theo người hướng dẫn, chui qua những giây phơi quần áo dài từ đầu bãi rác to tới con đường ra ngoài khu chung cư, chúng tôi vào một căn nhà (được chọn cho du khách thăm) Đồ đạc, bếp núc sơ sài gần như không có gì, người đàn bà nét mặt thản nhiên (như đã quen khách như thế), không nói, không cười, đang đứng cạnh cái bếp giữa nhà. Một người đàn ông bước ra từ phía trong, rồi đi hẳn, khuất sau cánh cửa chính. Một đứa bé bên trong cái buồng ngủ duy nhất, ngước đôi mắt như hai viên ngọc đen, nó ra khỏi buồng, nhìn chiếc đĩa giấy để trên mặt cái bàn gỗ tạp giữa nhà ngoài, trên đĩa có ghi chữ Donation. Một con ruồi bay vào từ bên ngoài, đậu trên đó, thằng bé xua xua tay, đuổi con ruồi. Có một vài du khách đặt trên chiếc đĩa đó những tờ giấy bạc mỏng cho nhẹbớtđi những điều mình vừa thấy, kéo hồn mình trĩu nặng.

Cuối cùng, khi chúng tôi chụp hình, cũng xin được một nụ cười ngập ngừng của người đàn bà.

Giây phơi quần áo công cộng

Trường Học Ở Swaziland

Ở Swaziland chúng tôi cũng được đi thăm lớp học Mẫu Giáo Ezulwini cho trẻ mồ côi. Với tôi đây là nơi đáng nhớ nhất.

Xe bus của du khách vừa tới, các em từ một tuổi, còn cầm bình sữa đến các em lên 5, lên 6, được các cô giáo dắt ra tận nơi. Như đã quen với du khách mang dụng cụ học trò, quần áo, trái cây và kẹo tới,các em hân hoan, tươi cười, dạn dĩ chạy ào ra nắm tay du khách. Những bàn tay bé bỏng, đen như gỗ mun, đặt vào những bàn tay to lớn, xa lạ, khác màu da, không ngượng ngập. Những đôi mắt như ngọc đen sáng bóng, ngước nhìn khách tràn đầy hạnh phúc. Khách phương xa, kẻ trào lệ, kẻ khóc trong lòng.

Các em hát bằng thổ ngữ, bằng tiếng Anh, vừa hát vừa nhìn vào những túi kẹo trên tay khách. Hát xong các em được phát kẹo. Sau đó là màn du khách ôm ấp, chụp hình với các em,rồi trao sách tô màu, chì màu, tập, vở học trò, quần áo và nói chuyện với mấycô giáo.

Các em đẹp như những viên sỏi đen bóng, hai con mắt tròn đen, nụ cười rạng rỡ. Tôi nhìn các em tự hỏi, rồi tuổi thơ này cuối cùng sẽ ra sao? Tôi đã nhìn thấy các em lớn tuổi hơn, các thanh niên mười tám, đôi mươi đang làm tất cả những công việc ngoài kia để kiếm được hai Mỹ kim cho một ngày.

Tôi đã thấy ở những khu chợ trời, những thanh niên trẻ lắm, bầy những con thú bằng gỗ, bằng đá trên mặt đất bán cho du khách. Người mua ít hơn người bán. Những chàng thanh niên luôn luôn có đôi mắt rất buồn. Đôi mắt chứa cả một bầu trời đen như màu da đen của họ.

Không Mang Được Em Về Với Tôi

Như Những Viên Sỏi Đen

Máu và Kim Cương Phi Châu

Chúng tôi cũng được đi xem một tiệm bán Kim Cương ở Nam Phi, nhưng hầu như cả nhóm hơn hai mươi người cũng chỉ đi lướt qua từ cánh cửa vào tới cánh cửa đi ra. Những người du lịch ở tuổi ngoài sáu mươi hay có trẻ hơn cũng trên năm mươi, không ai nghĩ đến việc cần mua nữ trang nữa, nhất là khi du lịch. Người hướng dẫn thương mại cũng cho chúng tôi xem những tấm hình Mỏ Kim Cương, nhưng không ai đả động đến những phu đào mỏ. Họ có thể là một em bé Phi Châu ở tuổi lên 9, lên 10. Cũng không ai nói cho chúng ta biết rằng, món nữ trang chúng ta đang đeo trên cổ lấp lánh ánh sáng huyền ảo đó có nhuộm máu trẻ thơ. Đó là những viên kim cương máu (Blood diamonds). Con đường chuyển Kim Cương từ quốc gia này tới quốc gia khác, phần đông không ai biết xuất xứ từ hầm mỏ nào.(*)

Không phải chỉ có người Phi Châu mới là những nô lệ đào mỏ. Có những nô lệ của các nơi trên thế giới cũng được đưa tới đây làm phu đào mỏ này. Họ được những chủ nhân ông thu thập từ các nơi đến, và ở đây họ tự tạo ra một ngôn ngữ riêng để những phu mỏ hiểu nhau. (*)

Phu Đào Mỏ Kim Cương hay Vàng ở Phi Châu, em trong hình 11 tuổi.

(Hình trên net) 

Neilson Mandela

Phi châu nghèo và bị những người da trắng đến cai trị quá lâu, nên họ đã có những anh hùng đứng lên tranh đấu. Đó là Bishop Tutu và Neilson Mandela. Hai người anh hùng này đã cùng được trao giải Nobel Hòa Bình.

Chúng tôi được đi thăm hai ngôi nhà của Neilson Mandela. Một ngôi ở khu da đen trước khi ông làm cách mạng và bị tù. Một ngôi nhà ở khu da trắng giầu có sau khi ông làm Tổng Thống. Trước cửa ngôi nhà sau này, dân chúng làm những mảnh vườn nhỏ, trồng những cây cọ thấp. Nơi đó ai muốn viết những lời trò truyện, lời cám ơn cho ông thì viết lên một viên đá cuội đặt xuống chung quanh cây cọ.

Tú và Trâm ngồi trước nhà Mandela

Nam Phi còn biết bao nhiêu điều chưa nói hết trên những trang giấy hạn hẹp này.Tôi ra về trên chuyến bay dài, chập chùng mây, chập chùng biển.

Cái thân nhỏ bé bềnh bồng nhớ đến những căn nhà ở gần bãi biển giá năm, mười triệu, nhớ những khu phố của người giầu, phần lớn thuộc về người da trắng. Nhớ đến khu ổ chuột của người da đen, những cái thùng, cái hộp quây bằng thép gỉ được gọi là nhà, những đôi mắt đen nhánh ngây thơ của các em bé, đôi mắt buồn bã của những thanh niên ngoài chợ trời.

Nhớ đến những điều được nghe, được đọc, được nhìn về một Nam Phi Châu:

Những bệnh viện cho dân nghèo ở Nam Phi luôn luôn bị quá tải vì quá nhiều bệnh nhân so với khả năng. Cả nước có tới 5 triệu người đang sống với HIV/AIDS.

Nghĩa là mười người thì có hơn một người nhiễm bệnh (more than one in ten). Đã có 3 triệu người chết do truyền bệnh sang nhau, phần đông là người lớn nên bỏ con lại thành trẻ mồ côi và tuổi thọ trung bình của dân Phi Châu là dưới 50.

Tình trạng sức khỏe của dân Nam Phi rất kém so với các dân tộc da màu khác hay da trắng. Do đó tỷ lệ tử vong rất cao. Tỷ lệ tử vong càng cao theo tỷ lệ thất nghiệp và lạm dụng ma túy và nhiễm HIV/AIDS. Có 14% Nam Phi da đen bị bệnh so với 2% da màu hoặcchỉ có 0,3 % da trắng và Ấn Độ.

Nam Phi là một trong số các nước trên thế giới, nơi có các bà mẹ và trẻ em tử vong tăng từ năm 1990 bởi HIV/AIDS, (trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 1/3.)

Trong suốt mười hai ngày chúng tôi ở Nam Phi Châu, người hầu hạ phục dịch hoàn toàn là người da đen. Chưa hề nhìn thấy một người da đen nào được ngồi vào bàn ăn có người da trắng đứng hầu. (không biết tôi có thể hy vọng được nhìn thấy cảnh ấy trong một thành phố khác ở Nam Phi?).

Ở đâu thì cũng vậy thôi, nơi nào cũng bất công, cũng phân biệt giữa giầu và nghèo. Nhưng tôi vừa thăm một dân tộc trải qua bao nhiêu thế kỷ vẫn chưa ra khỏi cánh rừng, và dưới một góc nhìn nào đó, vẫn là nô lệ, vẫn phải phục dịch người từ xa tới phần đất của tổ tiên mình.

Có ai đó nói: người Phi Châu với đầu óc đơn sơ chậm chạp họ không tự khai thác được gì ở thiên nhiên ngoài sinh sống với thú rừng. Có lẽ vì thế Thượng Đế đã cho họ những thác nước hùng vĩ, những cánh rừng âm u đầy thú; mỏ kim cương, mỏ vàng như những tặng phẩm, để quyến rũ những con người thông minh hơn, tàn ác hơn đến cai trị họ,và sau hết để quyến rũ du khách mang công việc đến cho họ. Những công việc làm bằng tay chân mà thôi.

Tôi nhắm mắt lại nhớ đến những khuôn mặt ngây thơ của các em bé trong trường Mẫu Giáo Mồ Côi. Tờ báo The Times phát hành ở Botswana- Phi Châu, ra ngày 11 tháng 7 úp trên mặt tôi.

Newborn baby left alone to fight for his life in cold hospital sluice room.

Đó là một em bé da đen. Khi mẹ sanh em (với 26 tuần 5 ngày) không có bác sĩ trong buồng sanh, em cân nặng dưới 1 kilo, y tá cho mẹ ôm em 15 phút, rồi mang em đi, nói là em không sống được. Họ quấn sơ sài trong một tấm chăn, để trong một phòng lạnh lẽo,căn phòng chỉ dùng để rửa thau, chậu của bệnh viện, không có ai săn sóc. Em chết sau khi ra đời được hai tuần. Ba em nói:

“Đứa con trai bé bỏng của tôi là đứa bé phấn đấu, nó muốn sống nhưng người ta đã giết nó.”

Được hỏi tại sao em bị bỏ không săn sóc, bệnh viện trả lời không được săn sóc vì em quá nhẹ kí, trước sau rồi cũng chết.

Ôi Phi Châu! Đến thương về nhớ.

Trần Mộng Tú.

From: TU-PHUNG

Tại sao Chúa Giêsu lại là mẫu gương tuyệt vời nhất thế giới?

Tại sao Chúa Giêsu lại là mẫu gương tuyệt vời nhất thế giới?

Hôm nay Thứ 4, mời bạn hãy chạy đến Thánh Cả Giu-se xin ngài cầu bầu cho những người đang trong giai đoạn cuối đời được ơn chết lành. Một ngày bình yên nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 19/01/2022

GIÁO LÝ: Tại sao Chúa Giêsu lại là mẫu gương tuyệt vời nhất thế giới? Vì Chúa Giêsu Kitô là Đấng duy nhất không những đã tỏ cho chúng ta biết bản tính thật của Thiên Chúa, mà còn tỏ ra lý tưởng đích thật của con người. (YouCat, số 60)

SUY NIỆM: – Chúa Giêsu còn hơn là một con người lý tưởng rất nhiều. Ngay cả những người khác thường thì bề ngoài cũng là tội nhân. Do đó, không ai có thể là gương mẫu tuyệt đối cho con người. Còn Chúa Giêsu không có tội lỗi. Thân phận loài người [chẳng] là gì [cả] và [cũng chẳng hiểu được] cái làm cho con người vô cùng đáng yêu theo đúng nghĩa của nó, ta chỉ thấy nơi Chúa Giêsu Kitô mà thôi. [Chúa Giêsu là mẫu gương tuyệt vời. Ngài là Đấng hoàn thiện. (Mt 5:48)] Người đã gặp mọi thử thách trừ tội lỗi (Dt 4,15), Chúa Giêsu con Thiên Chúa, là một người chính hiệu và có thật. Nơi Người, ta khám phá được Thiên Chúa đã muốn con người thế nào. (YouCat, số 60 t.t)

❦ “Ecce Homo”, Đây là người (Ga 19,5). Philatô dùng những lời đó để giới thiệu Chúa Giêsu đã bị tra tấn hành hạ và đội mũ gai, cho dân chúng.

❦ Chúa đã trở nên người như ta để có thể làm cho ta giống như Người. (Thánh Atanasiô cả, 295-393, giáo phụ)

LẮNG NGHE: Chúa Giêsu là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, Con đầu lòng của mọi tạo vật vì nhờ Người mà mọi vật được tạo thành… tất cả đều được tạo dựng bởi Người và cho Người. (Cl 1:15-16)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, thật “không thể tuyệt vời hơn”, Chúa đã ban con Chính Con Một Người là mẫu gương đích thực của Tình Yêu Thiên Chúa. Xin cho con biết yêu đúng nghĩa như Chúa Giêsu đã yêu con.

THỰC HÀNH: Kiểm tra lại thái độ của bạn đối với Thầy Giêsu. Thái độ và cách cư xử hằng ngày của bạn có giống như Sư Phụ của mình tí nào không nhỉ?

From: Đỗ Dzũng

Phạm Đoan Trang được trao giải thưởng nhân quyền quốc tế Martin Ennals

Phạm Đoan Trang được trao giải thưởng nhân quyền quốc tế Martin Ennals

Bởi  AdminTD

 Luật Khoa

19-1-2022

Nhà báo vừa bị chính quyền kết án nay lại được quốc tế tôn vinh.

Ngày 19/1/2022, từ Geneva, Thụy Sĩ, ban tổ chức Giải thưởng Martin Ennals dành cho Nhà hoạt động Nhân quyền đã xướng tên Phạm Đoan Trang – nhà báo, nhà hoạt động người Việt Nam vừa bị chính quyền kết án chín năm tù hồi tháng trước.

Phạm Đoan Trang được vinh danh vì các nỗ lực từ những năm 2000 trong việc bảo vệ quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin của người dân. Ban tổ chức giải thưởng đặc biệt nhắc đến những sáng kiến truyền thông độc lập của cô, bao gồm Luật Khoa tạp chí và Nhà xuất bản Tự Do. Theo họ, trong một quốc gia chuyên chế như Việt Nam, những tổ chức độc lập này đã truyền cảm hứng cho rất nhiều người khác cùng lên tiếng vì nhân quyền, và chúng cũng là lý do khiến Đoan Trang trở thành mục tiêu truy đuổi của chính quyền.

Nhà báo Phạm Đoan Trang đã liên tục bị quấy nhiễu trong suốt thời gian hoạt động. Cô bị đánh nhiều lần, dẫn đến những chấn thương lâu dài. Đoan Trang bị bắt vào ngày 7/10/2020, bị giam giữ biệt lập suốt hơn một năm, sau đó bị kết án chín năm tù vì tội “Tuyên truyền chống Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. [1] Bản án này bị các tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia lên án mạnh mẽ. [2] Hiện tại, Đoan Trang bị giam tại Hà Nội. Cô vẫn không được phép gặp gia đình và không được điều trị y tế trong khi sức khỏe ngày càng giảm sút.

Phạm Đoan Trang bị giải đi sau phiên tòa ngày 14/12/2021. Ảnh: Lê Kiên/ TTXVN

Thay mặt Phạm Đoan Trang phát biểu tại buổi họp báo công bố giải thưởng chiều nay, ông Trịnh Hữu Long, người đồng sáng lập, tổng biên tập Luật Khoa tạp chí nói rằng giải thưởng này khẳng định những việc làm của người cộng sự của mình là đúng đắn.

“Giải thưởng Martin Ennals mà Đoan Trang được nhận hôm nay gửi đi thông điệp mạnh mẽ và rõ ràng đến chính quyền chuyên chế của Việt Nam, và quan trọng hơn là đến người dân Việt Nam, rằng những gì Trang đã làm là đúng đắn, và cộng đồng quốc tế đứng về phía cô ấy”, Trịnh Hữu Long nói.

“Câu chuyện của Phạm Đoan Trang chính là minh họa cho tình hình nhân quyền tại Việt Nam”, ông nhấn mạnh.

Giải thưởng Martin Ennals được tổ chức hàng năm nhằm ghi nhận nỗ lực của các nhà hoạt động nhân quyền trên thế giới và vận động cho việc bảo vệ họ. Giải thưởng này được thành lập từ năm 1992, đặt tên theo Martin Ennals, nhà hoạt động nhân quyền người Anh từng là Tổng thư ký của Tổ chức Ân xá Quốc tế từ năm 1968 đến năm 1980. Hội đồng chấm giải là một ủy ban độc lập bao gồm đại diện của mười tổ chức nhân quyền uy tín trên thế giới.

Tiến sĩ Daouda Diallo (trái) và Abdul-Hadi Al-Khawaja – hai nhà hoạt động nhân quyền cùng được vinh danh trong giải thưởng Martin Ennals năm 2022. Ảnh: iBurkina.com, Bahrain Center for Human Rights

Cùng nhận giải thưởng năm 2022 với Phạm Đoan Trang là hai nhà lãnh đạo phong trào nhân quyền khác: Tiến sĩ Daouda Diallo đến từ Burkina Faso (một quốc gia ở khu vực Tây Phi) và ông Abdul-Hadi Al-Khawaja đến từ Bahrain (một đảo quốc theo chế độ quân chủ thuộc Vịnh Ba Tư). Cả ba người này đều hoạt động tích cực trong việc thu thập bằng chứng và tư liệu hóa các vụ việc vi phạm nhân quyền.

Theo ban tổ chức, Phạm Đoan Trang, Abdul-Hadi Al-Khawaja và Tiến sĩ Daouda Diallo được nhận giải vì họ đã can đảm đấu tranh bảo vệ các giá trị nhân quyền với chủ trương phi bạo lực, bất chấp rủi ro đến tính mạng. Họ đã lãnh đạo và truyền cảm hứng cho nhiều người, và đều đang ở trong tình trạng cần được bảo vệ khẩn cấp.

Ở Bahrain, ông Al-Khawaja bị kết án chung thân và đã phải ngồi tù đến năm thứ mười, còn Tiến sĩ Diallo thì là mục tiêu của rất nhiều lời đe dọa trong bối cảnh xung đột vũ trang tại Burkina Faso.

Lễ trao giải thưởng dự kiến được tổ chức vào ngày 2/6/2022 tại Geneva, Thụy Sĩ. Mỗi người được giải sẽ nhận số tiền thưởng từ 20.000-30.000 Francs Thụy Sĩ (tương đương khoảng 500–750 triệu đồng). Mạng lưới của giải thưởng Martin Ennals cũng sẽ tổ chức nhiều hoạt động quảng bá và vận động ở tầm quốc tế cho những nhà hoạt động nhân quyền được vinh danh.

_____

*Ghi chú:

  1. Luật Khoa tạp chí (2021, December 14). Tường thuật trực tiếp: Đoan Trang lĩnh 9 năm tù giam. Luật Khoa Tạp Chí. https://www.luatkhoa.org/2021/12/live-phien-toa-so-tham-vu-an-pham-doan-trang/
  2. BBC News Tiếng Việt. (2021, December 17). Việt Nam kết án nhà hoạt động: LHQ và ngoại giao bốn nước G7 bất bi`nh  https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-59670124

CHỊ DẬU THOÁI VỐN!

CHỊ DẬU THOÁI VỐN!

Nghe tiếng chó sủa, Nghị Quế nhìn ra thấy chị Dậu tay cắp rổ Chó con, tay đẩy cổng bước vào.

Nghị vội bước ra sân, quát:

– Mày đến đây làm gì, hả con mụ Dậu kia?

Chị Dậu khép nép để rổ Chó xuống đất, lí nhí:

– Dạ bẩm ông! Nhà con hết gạo nên con đem mấy con chó này đến đây xin thoái vốn ạ!

– Thoái vốn là sao?

– Dạ, ông đưa tiền cho con rồi lấy mấy con chó này ạ.

– Đệch bố! Mày đến đây bán chó thì nói bán chó mẹ nó đi! Bày đặt thoái vốn với thu hồi vốn!

– Ậy, ậy… dạ, con sợ nói bán thì chính quyền nhân dân họ bắt bỏ tù đấy ạ.

– Mày láo! Bán chó thì chính quyền nào bắt bỏ tù?

– Dạ, con thấy ở thiên đường này chỉ có người mua là không bị gì, còn người bán đều bị xử tù hết đấy ông ơi!

Nghị Quế nổi giận chỉ tay vào mặt chị Dậu quát:

– Con Dậu kia! Mày vu khống chính quyền nhân dân chúng tao à?

… Mua bán phi pháp đều phạm tội đồng lõa như nhau, tại sao chính quyền của ông chỉ bắt người bán mà tha cho người mua, hử …?…

– Dạ con thấy chính quyền ông chỉ bắt người bán dâm, bán ma túy, bán bằng đại học…. chớ có bắt mấy người mua mấy thứ ấy đâu? Có khi chính quyền còn đưa họ vào diện bí mật quốc gia, chứ chưa ai được biết danh tính mấy ngài mua dâm ngàn đô, mua bằng đại học… hết ạ. Bởi, con sợ vậy nên mới nói thoái vốn thay vì bán chó!

Nghị Quế lúng túng vì câu hỏi của chị Dậu nhưng vẫn lên giọng:

– Chính quyền của ông là chính quyền chuyên chính! Bán thì nói bán, việc quái gì phải sợ thằng Tây nào!

– Dạ, chính quyền ông chuyên chính thế sao bán rừng ông hô chuyển đổi mục đích sử dụng? Bán cảng biển, bán đất ông hô chuyển quyền sử dụng? Bán công ty bia SG, bán tập đoàn sữa Vinamilk… ông hô thoái vốn? Bán hãng xưởng, bán xe công… ông gọi thanh lý ??

Nghị Quế mặt đỏ gay đập bàn thét lớn:

– Á, Á…. Mày đến đây bán chó hay chất vấn ông hả con Dậu kia? Lính lệ đâu, lôi cổ nó ra nọc…….

(Sưu tầm…bậy…)

 Thân mến

TQĐ

   From: Truong Le

LẮNG NGHE LINH HỒN CỦA CHÚNG TA

LẮNG NGHE LINH HỒN CỦA CHÚNG TA

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Trong thời Thế chiến Thứ hai, khi Phát xít Đức chiếm đóng nước Pháp, một nhóm thần học gia Dòng Tên đã phản đối việc chiếm đóng bằng cách xuất bản một tờ báo ngầm, Tập sách Chứng từ Kitô (Cahiers du Temoignage Chretien), với dòng mở đầu bất hủ trên số báo đầu tiên: “Nước Pháp, cẩn thận đừng để mất linh hồn mình.”  Chuyện đó làm cho tôi nhớ lại một câu của linh mục Hans Kolvenbach, cựu Bề trên Tổng quyền Dòng Tên.  Nói về toàn cầu hóa, cha cho rằng một trong những điều cha sợ nhất về toàn cầu hóa, chính là sự toàn cầu hóa sự tầm thường.  Một cảnh báo quá đúng!

Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự tầm thường hóa linh hồn trong nền văn hóa.  Bây giờ không còn mấy chuyện siêu nhiên nữa, nghĩa là còn ít chuyện liên quan đến linh hồn.  Những chuyện từng mang ý nghĩa thâm sâu, bây giờ lại liên quan đến những thứ bình thường hơn.  Như tình dục chẳng hạn.  Nền văn hóa này (trừ một vài giáo hội lẻ loi đứng ngoài xu thế) ngày càng tin rằng tình dục phải không liên quan đến linh hồn, trừ khi chúng ta muốn nó như thế và cho nó một ý nghĩa như thế.  Ví dụ gần đây, trong một tranh luận, tôi nghe có người giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng về luân lý trong việc một giáo sư ngủ với sinh viên của mình bằng lập luận: có gì khác nhau giữa chuyện này với chuyện một giáo sư chơi quần vợt với sinh viên của mình chứ?  Vậy quan điểm của người đó là gì?  Tình dục không cần phải đặc biệt trừ khi chúng ta muốn nó đặc biệt.  Có gì khiến làm tình khác với một trận quần vợt?

Chỉ có những người ngây thơ đến độ nguy hiểm mới không thấy sự khác biệt quá lớn về mặt linh hồn ở đây.  Một trận quần vợt không chạm đến chiều sâu của linh hồn.  Nhưng tình dục thì có, và nó là như thế không chỉ bởi một số giáo hội nói như thế.  Chúng ta thấy rõ chuyện này khi nó bị xâm phạm.  Freud từng nói, chúng ta hiểu rõ nhất cái gì đó khi nó vỡ.  Ông nói đúng, và trong chuyện này, không gì thể hiện rõ hơn tác hại của bạo lực và lạm dụng tình dục lên người khác.  Khi tình dục sai trái, thì có sự xâm phạm linh hồn quá lớn so với một trận quần vợt.  Thậm chí nếu các giáo hội không khẳng định như vậy, thì tình dục vẫn là chuyện của linh hồn.  Bởi vì nó liên kết với linh hồn theo những cách mà trận quần vợt không thể làm được.  Mỉa mai thay, khi nền văn hóa này đang tầm thường hóa quan điểm truyền thống của xã hội về tình dục vốn xem nó liên quan đến linh hồn, thì những chuyên gia chữa trị tổn thương về tình dục lại thấy rõ hơn bao giờ hết sự khác biệt không thể so sánh nổi về mặt linh hồn, giữa chuyện bị lạm dụng tình dục với một trận quần vợt.

Tuy nhiên, chúng ta không chỉ đang tầm thường hóa chuyện của linh hồn, mà còn chật vật trong việc lắng nghe linh hồn.  Một điều đáng chú ý là thời nay, lời cảnh báo này không phải đến từ các giáo hội cho bằng đến từ các triết gia theo thuyết bất khả tri, và những nhà phân tích tâm lý theo trường phái Jung.  Ví dụ như, nét chủ đạo trong những bài viết của James Hillman, triết gia theo thuyết bất khả tri về linh hồn, nói rằng nhiệm vụ của cuộc sống là sống trong cảm xúc sâu đậm của linh hồn và chúng ta chỉ có thể sống được khi lắng nghe linh hồn của mình.  Và ông thừa nhận, có rất nhiều thứ đang lâm nguy.  Trong quyển sách Tự tử và Linh hồn (Suicide and the Soul), ông cho rằng đôi khi trong chuyện tự tử, linh hồn không thể kêu thấu ai, nên cuối cùng đã giết đi thân xác.

Tâm lý chiều sâu cũng có những cái nhìn tương tự và cho rằng sự hiện diện của một số triệu chứng nhất định như trầm cảm, lo âu quá độ, rối loạn mặc cảm tội lỗi và nhu cầu cần tự chữa cho mình thường là tiếng kêu của linh hồn muốn được lắng nghe.  Tiến sĩ tâm lý theo trường phái Jung, James Hollis, cho rằng đôi khi chúng ta có những ác mộng là bởi linh hồn đang giận dữ với chúng ta, ông còn nói rằng, khi thấy những triệu chứng đó, chúng ta cần tự hỏi: “Linh hồn muốn gì nơi tôi?”

Thật sự, linh hồn muốn gì nơi chúng ta?  Linh hồn muốn nhiều thứ, dù về bản chất quy về ba điều này: được bảo vệ, được tôn kính, và được lắng nghe.

Trước hết, linh hồn cần được bảo vệ khỏi sự xâm phạm và tầm thường hóa.  Những gì nằm ở nơi thâm sâu nhất của chúng ta, ở trọng tâm linh hồn chúng ta, là điều mà Thomas Merton từng mô tả là điểm trinh nguyên.  Tất cả những gì thiêng liêng nhất, dịu dàng nhất, chân thật nhất và yếu đuối nhất nơi chúng ta trú ở đó, và dù linh hồn chúng ta liên tục xin bảo vệ, nhưng linh hồn không thể tự bảo vệ chính mình.  Linh hồn cần chúng ta bảo vệ điểm trinh nguyên đó.

Thứ hai, linh hồn cần được tôn kính, cần chúng ta tôn trọng sự thiêng liêng của nó và nhìn nhận chiều sâu của nó.  Linh hồn cứu rỗi là “bụi gai đang cháy” mà chúng ta cần cởi giày khi đến gần.  Đánh mất sự tôn kính đó chính là tầm thường hóa chiều sâu của chính mình.

Cuối cùng, linh hồn cần được lắng nghe.  Tiếng kêu, sự kháng cự của linh hồn và những giấc mơ mà linh hồn cho chúng ta trong giấc ngủ, là những điều mà chúng ta phải lắng nghe.  Hơn nữa, linh hồn cần được lắng nghe không chỉ trong những lúc hăng hái mà còn trong những lúc nặng nề, buồn sầu, giận dữ.  Cũng thế, chúng ta cần phải lắng nghe cả yêu cầu được bảo vệ của linh hồn và thách thức của linh hồn muốn chúng ta mạo hiểm.

Linh hồn là điều quý báu xứng đáng để chúng ta bảo vệ.  Linh hồn là tiếng nói thâm sâu nhất trong chúng ta, nói lên những gì quan trọng nhất và đánh động nhất trong đời chúng ta, và chúng ta cần luôn mãi để ý đến lời cảnh báo này: cẩn thận đừng để mất linh hồn mình.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 From: Langthangchieutim

DÂN TỘC DUY NHẤT KHÔNG CÓ ĂN MÀY

DÂN TỘC DUY NHẤT KHÔNG CÓ ĂN MÀY

Trong hơn 2000 năm, người Do Thái ly biệt quê hương và tản mạn đi khắp mọi khu vực của trái đất.

Mãi đến năm 1947, khi chiến tranh thế giới thứ 2 chấm dứt, người Do Thái mới trở về đất nước của mình.

Nhưng mà, là một dân tộc dù phải lang bạt hơn 2000 năm, nhưng Do Thái lại là dân tộc “độc nhất vô nhị” không có người ăn mày.

Người Do Thái cho rằng: Giáo viên vĩ đại hơn cả quốc vương. Họ vô cùng kính trọng giáo viên.

Dựa vào học tập, tri thức và sách, người Do Thái dù lang thang ở bất kể nơi đâu họ cũng đều có thể sinh tồn, hơn nữa còn phát triển mạnh mẽ.

Người Do Thái là một dân tộc có tín ngưỡng tôn giáo mạnh mẽ. Họ coi học tập là một phần của tín ngưỡng, học tập là một hình thức thể hiện sự tôn kính của mình đối với Thượng đế.

Mỗi người Do Thái đều cần phải đọc sách.

Talmud chính là nguồn gốc trí tuệ của người Do Thái. Talmud có nghĩa là “nghiên cứu” hoặc “nghiên cứu và học tập”.

Talmud cho rằng:

“Học tập là thứ giúp hành vi hướng thiện, là nguồn gốc của đức hạnh. Sự thành kính, lương thiện, ôn hòa, ưu nhã của một người đều là dựa vào kết quả của giáo dục.”

Người Do Thái coi sách là bảo bối của cả đời. Giá sách không được đặt ở đầu giường hay cuối giường nếu không sẽ bị coi là bất kính với sách.

“Trí tuệ quan trọng hơn tri thức”.

Như thế nào là tri thức?

Tri thức chính là thực tế khách quan và chân tướng của vạn sự vạn vật.

Còn trí tuệ là đem thực tế khách quan và chân tướng của vạn sự vạn vật tiến hành tổng hợp ra một phương án tốt nhất để giải quyết vấn đề.

Đối với con người, quan trọng nhất là cái gì?

Là đến từ trí tuệ, mà trí tuệ lại đến từ tri thức.

Mục đích của đọc sách là để mở rộng tri thức, sau khi đã chuẩn bị được nguồn tri thức phong phú, bạn sẽ học được cách suy xét.

Bạn sẽ minh bạch được đạo lý làm người hoặc là sẽ tìm được cách thức giải quyết vấn đề. Đây chính là trí tuệ!

Vì vậy, trí tuệ đến từ tri thức và quan trọng hơn tri thức!

Người Do Thái ủng hộ sáng tạo cái mới.

Họ cho rằng, việc sáng tạo ra cái mới chính là trí tuệ, phải dám hoài nghi, dám đặt câu hỏi bất cứ lúc nào, bởi vì tri thức càng nhiều sẽ càng sản sinh ra sự hoài nghi.

Người Trung Quốc thường hỏi con cái khi chúng tan trường là:

– “Hôm nay con làm bài thế nào?”

Còn người Do Thái sẽ hỏi con:

– “Hôm nay con có đưa ra câu hỏi nào không?

– “Hôm nay con có gì khác hôm qua không?”

Người Do Thái cho rằng, thông qua học tập mọi người có thể nhận thức chính mình và siêu việt chính mình.

Cách giáo dục của người Do Thái bao gồm cả đóng và mở.

Đối với nội bộ người Do Thái là cởi mở, còn đối với bên ngoài là đóng kín, để duy trì sự cạnh tranh sinh tồn của người Do Thái. Talmud là kinh thánh chuẩn.

Trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ 6 công nguyên, người Do Thái đã vận dụng nó 500 năm.

Hơn 2000 giáo sĩ Do Thái và các nhà khoa học đã biên soạn ra cuốn sách quý này. Nó là bảo bối sinh tồn của người Do Thái.

Trên thế giới, dân tộc Do Thái là dân tộc hiểu nhất về nghệ thuật của giáo dục. Có thể nói, người Do Thái là dân tộc thành công nhất về giáo dục.

Người Do Thái cho rằng giáo dục có thể cải biến đời người, số mệnh, cải biến hết thảy.

Vì vậy, trong hơn 2000 năm lang bạt trong lịch sử, hết thảy mọi thứ của họ đều bị cướp đoạt hết chỉ có sách và tri thức là không thể bị cướp mất.

Người Do Thái vô cùng coi trọng giáo dục, tri thức và sách.

Chỉ có tri thức là tài phú quan trọng nhất, là tài sản có thể mang theo bên mình và còn cả đời có thể hưởng dụng.

Vì thế, người Do Thái là dân tộc đầu tiên trên thế giới xóa mù chữ.

Từ trước năm 1947, ngay cả một mảnh đất lãnh thổ cũng không có. Thế nhưng, trong thời kỳ trung cổ, người Do Thái đã xóa mù chữ, vì vậy tố chất chỉnh thể của dân tộc này cao hơn của các dân tộc khác một bậc.

Dù với dân số ít ỏi, nhưng Do Thái là dân tộc đã giành được rất nhiều giải thưởng Nobel, với 169 người, chiếm 17.7% tổng số người giành được giải thưởng này của cả thế giới.

Chính những yếu tố này đã khiến cho người dân Do Thái dù phải phiêu bạt khắp thế giới hơn 2000 năm, nhưng lại là một nước duy nhất trên thế giới không có ăn mày.

Hãy dạy con cái làm người trước khi dạy chúng cách kiếm tiền.

Gia Nguyễn chia sẻ từ Quý Mão