NHÂN TÂM

Lương Văn Can

NHÂN TÂM

Tôi nhớ hồi còn nhỏ, có lần một người đàn ông ghé vào nhà tôi xin tiền. Ông nói ở quê lên đây chữa bệnh, giờ đã mất hết tiền rồi, không còn tiền về quê nên ông phải đi xin. Mẹ tôi đưa cho ông số tiền ít ỏi bà có và hỏi ông ăn cơm chưa rồi bảo tôi xới cho ông bát cơm nguội với mắm. Bà lấy cho ông cái áo của anh tôi cho ông ấy mặc…

Ông ăn xong, cầm cái áo và tiền cứ vừa đi thụt lùi ra cổng vừa chắp tay chấp bái vừa nói:

– “Tôi đội ơn cô, cầu Trời Phật ban phước cho nhà mình….!”*

Với một đứa trẻ ở quê, đó là một câu chuyện lạ, tôi tò mò níu áo Mẹ,

– “Mẹ, ông ấy quê ở đâu…? Ông ấy bị bệnh gì…? Ông ấy đi xin được nhiều tiền không…?”

Mẹ mỉm cười:

– “Mẹ không hỏi.”

– “Tại sao Mẹ không hỏi…?”

– “Ừ, người ta xa quê, rơi vào cảnh khốn cùng thì hỏi về quê hương là đụng vào nỗi đau của họ. Người thành đạt rất tự hào khi nói về quê hương nơi chôn nhau cắt rốn, người sa cơ thì xấu hổ khi nói về quê của mình. Mình cho người ta có một chút mà mình lại chạm vào nỗi đau, nỗi xấu hổ của người ta thì không phải, không đúng. Làm vậy là ác tâm…!”

Tôi lại băn khoăn:

– “Ông ấy sắp chết hả Mẹ…?” Ông ấy có xin đủ tiền về quê không…?”

Mẹ nhìn xa xăm…

– “Ừ, phần lớn con người dù có thế nào thì vẫn muốn khi mất, được chôn trên mảnh đất nơi mình sinh ra, nơi chôn nhao cắt rốn… Cái đó gọi là tình yêu quê hương….! À, lúc nãy con đưa cho chú ấy bát cơm bằng một tay rồi chạy biến đi không mời là sai đấy nhé…!”

Tôi xấu hổ dụi mặt vào ngực Mẹ. Bà nghiêm khắc:

– “Tại sao con được dạy đưa đồ cho người lớn phải đưa bằng hai tay mà hôm nay con lại chỉ đưa bát cơm bằng một tay cho chú…? Chú ấy đi xin, nhưng không có nghĩa là con được phép đưa đồ cho chú bằng một tay…

Làm vậy người ta sẽ nghĩ Mẹ không biết dạy con tôn trọng lễ phép với người lớn tuổi. Hôm nay, người ta phải đi xin hay sắp chết thì con người vẫn luôn có phẩm giá của họ. Con không được khinh khi người ta vì biết đâu sau này mình sẽ như họ…!”

Tôi càng xấu hổ và rúc sâu hơn vào lòng Mẹ vì biết mình sai…

Ngày bé, những bài học Mẹ dạy cứ nhẹ nhàng như vậy nhưng nó đi vào đầu tôi và ở đó, không thể quên. Những bài học đã hình thành nên tính cách, con người của tôi hiện tại. Khi lớn, tôi mới hiểu hết những lời dặn và sự tinh tế trong cách cư xử, trong các bài học của Mẹ. Nó cũng làm cho tôi nhận biết người có nhân tâm hay ác tâm, tinh tế hay hời hợt qua hành vi, lời nói, cách ứng xử, hành động, hành vi của họ chứ không phải nhân danh việc của họ làm.

Khi chịu khó để ý, suy nghĩ để nhận ra đâu là hành động xuất phát từ nhân tâm, đâu là từ nhân danh nhân tâm, ta sẽ thấy có rất nhiều việc làm nhân danh nhân tâm nhưng thật ra nó lại phục vụ cho một mưu toan, mục đích khác…

Đôi khi chúng ta để cho bản thân bị đánh lừa và khi số đông bị lừa thì nó sẽ là tai hoạ cho xã hội, cho cả dân tộc…

Tôi khát khao, khi đất nước tự do, các bài học trong môn văn học và giáo dục công dân là những bài học đơn sơ như thế, để con người có thể phân định rõ các giá trị và trả nó về đúng giá trị của nó, dần loại bỏ các hành động nhân danh để xã hội là một xã hội trung thực và nhân văn đúng nghĩa…!

– Kim Oanh Phung –

DU HỌC SINH: “ĐI ĐI, ĐỪNG VỀ!”

Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Bạn Bè

Thuận Đinh  

Đến con cháu của thg hồ, thg giáp…mà còn chẳng thèm về, thì đủ hiểu rồi hén.

Báo Tin Tức Việt Đức

 DU HỌC SINH: “ĐI ĐI, ĐỪNG VỀ!”

Đây là những tâm sự thật của một bạn du học sinh Mỹ vừa về Việt Nam trong đợt hè 2018. Tôi quyết định giấu tên người chia sẻ câu chuyện này.

Góc nhìn Việt Nam: ‘Đi Mỹ được rồi, về làm gì?

Tôi năm nay 21 tuổi, đang du học tại Mỹ. Kết thúc 4 năm Đại học, tôi muốn về Việt Nam. Nhưng ai cũng ngăn cản: ‘Đi đi, đừng về!’

Bố mẹ tôi làm trong ngành y. Hai người bắt đầu nói về chuyện du học và định cư tại Mỹ khi tôi mới học 11. Mẹ thường hay kể công việc hằng ngày tại bệnh viện, để tôi hiểu lời hối thúc ‘đừng về Việt Nam’ bắt nguồn từ 20 năm sống trong bức xúc của mẹ: ‘Bệnh viện của mẹ có một bác giám đốc lên chức từ những năm 80. Kể từ đó, bác đã cho không biết bao nhiêu họ hàng từ Bắc, Trung vào làm hộ lý, điều dưỡng, kỹ thuật viên,…

Với ‘quyền lực mềm’ của giám đốc, bác chỉ nói một tiếng, có anh trưởng khoa nào không dám nhận người? Toàn con ông cháu cha. Còn những sinh viên chính quy, nắm tấm bằng Đại học, phải trầy trật khổ sở để được bước chân vào cổng viện. Không chỉ ở đây, mà bất cứ nơi đâu tại Việt Nam này cũng có ‘quyền lực mềm’ giống thế hoặc hơn thế. Nhiễu nhương lắm. Hách dịch lắm. Về làm gì hả con?’

Khi không thuyết phục được tôi, ba mẹ viện đến dì. Dì bảo: ‘Dì hiểu là con muốn về Việt Nam để cống hiến. Nhưng, ở nơi này, tài năng của con không có cơ hội phát triển. Tìm cách định cư đi. Khi đã có kinh tế, con muốn làm gì cho quê hương mà chẳng được!’ Không chỉ bố mẹ, dì, mà các bác đang sống ở Mỹ đều đồng ý với quan điểm ấy.

Lăng kính Mỹ: ‘Lý do nào để quay về quê hương?’

Trong vòng tròn bạn bè của tôi, chỉ ra ai không muốn về Việt Nam thì rất dễ. Còn tìm người quyết tâm trở lại thì thật khó khăn. Nhiều bạn lưỡng lự, không ai dám chắc chắn hai chữ: ‘Sẽ về!’

Tôi có một cô bạn thân đang học ngành Công nghệ thực phẩm. Cô bảo: ‘Ngành mình học, về nước không xài được. Còn đường ở Canada thì rộng mở. Mình không muốn trở về để chật vật kiếm một chỗ làm sau 4 năm vất vả!’ Một người bạn khác chia sẻ: ‘Từ lúc quyết tâm theo đuổi sự nghiệp sản xuất âm nhạc, mình đã biết.

Tại Việt Nam, mình sẽ không làm được.’ Một chị theo học kinh tế thì bảo: ‘Đơn giản chị không muốn!’ Chị đang đi thực tập rất nhiều nơi, kiếm tìm một chỗ tài trợ visa cho mình. Anh bạn học kỹ sư hóa, vừa apply thạc sĩ thành công nói với tôi: “Anh thích nghiên cứu khoa học, Việt Nam sao có đất cho anh?

Về ư? Anh không thể.” Những thằng Mỹ thì hỏi thẳng vào mặt tôi: ‘Tụi mày từ Việt Nam đến đây học, thụ hưởng văn hóa của tụi tao, thụ hưởng cả những đồng tiền bố mẹ tao còng lưng đóng thuế. Học xong mày phủi tay quay về nước, thế thì có công bằng với tụi tao hay không?’

Giữa dòng ý kiến ‘Đi đi, đừng về!’ dữ dằn như thác lũ đẩy tôi lùi lại, tôi nhìn về quê hương, cố gắng tìm một lý do cho mình quay lại. Nhưng tìm hoài mà không thấy.

Chưa bao giờ sách giáo khoa nói về những cái cúi đầu của chúng tôi trên đất Mỹ, vì nỗi tự ti quê hương thua kém hơn, mà chỉ bảo: ‘Nước ta rừng vàng biển bạc.’ Chưa bao giờ chúng tôi được dạy về ‘trách nhiệm công dân’.

Chúng tôi chỉ học ganh đua điểm số, chứ không học cách cùng nắm tay nhau mà đi xây dựng đất nước. Chưa bao giờ bố mẹ nói tôi phải có trách nhiệm với Việt Nam, mà chỉ nói: ‘Đừng về để dẫm vào đường cụt. Trên mảnh đất này, người tài không có cơ hội. Vì tương lai của con, hãy đi đi!” Việt Nam ơi, người có cho tôi một lý do để trở về?’

________________

Tâm sự của một du học sinh Mỹ trong dịp hè về thăm Việt Nam

Đỗ Thanh Lam

Bàn cờ thế cuộc

Bàn cờ thế cuộc

Bởi  AdminTD

 Tạ Duy Anh

5-2-2022

Từ năm 1957, trong cuốn “Chính đề Việt Nam”, của Tùng Phong (nghe nói là bút danh của ông Ngô Đình Nhu) tác giả đã đưa ra tiên đoán trước sau nước Nga cũng sẽ quay lại châu Âu, như trở về đại gia đình văn hóa của mình.

Năm 1991, điều này đã xảy ra.

Nhưng 30 năm sau dưới thời Pu-tin, nước Nga lại phải tìm đến Trung Quốc, kẻ thù lịch sử của mình, bằng thái độ nhún nhường, cầu cạnh của kẻ dưới. Thực sự thì Nga đang dung dưỡng một con hổ luôn đói mồi ngay trong nhà. Giới tinh hoa của nước Nga sẽ khó mà nuốt trôi viên thuốc đắng này.

Vì đâu nên nỗi?

Hẳn Pu-tin, một cáo già chính trị, biết rất rõ câu trả lời.

Nếu ông đã đọc cuốn “Sự trả thù của địa lý”, chắc cũng sẽ đồng ý với kiến giải của tác giả vì sao tổ tiên của ông cứ phải mở rộng lãnh thổ ra đến mênh mông như vậy?

Tuyên bố chung Nga-Trung, nghe thì hùng hồn, hùng hồn từ cái đầu đề, nhưng vẫn không che đậy được sự sáo rỗng, đầy tính tạm bợ, cảnh giác nhau của hai con sói. Cảnh giác nhất là không để mày kéo tao đối đầu với Mỹ! Quân sự thì chả ai thua ai, nhưng chỉ kẻ nào dại dột mới chối bỏ miếng bánh Chúa ban cho riêng Hoa Kỳ!

Ngày mai nếu Nga tiến quân vào Kiev và bị lãnh hậu quả, Trung Quốc sẽ cười thầm theo kiểu ngư ông đắc lợi. Tình huống khác, nếu Trung Quốc huy động một triệu quân vượt eo biển Đài Loan, đối đầu với liên minh Mỹ-Nhật, Nga sẽ chờ xem thằng nào chết chìm để nâng cốc!

Bỗng nhớ Nguyễn Trần Bạt, khi ông bảo rằng, trên thế giới chỉ có vài kẻ chơi cờ, còn lại thì đều là quân cờ, đều là những kẻ “lon ton” (nguyên văn lời ông) chạy theo phía sau. Lãnh đạo của những nước thân phận quân cờ đừng cố phỉnh rằng mình cũng phải là kẻ chơi cờ, mà nên tìm cách để làm sao mình không phải là con tốt gỉn, không bị thí khi kẻ chơi cờ bí nước, hoặc khi họ tạm thời hoãn chiến!

Người Việt cứ cảm tính, hồn nhiên ủng hộ Nga chiếm Crưm, mà quên rằng mình cùng cảnh ngộ với U-crai-na: Oằn mình sống bên cạnh một nước lớn còn lâu mới văn minh.

Thủ tướng Ba Lan mới đây nói rằng: “Ở bên cạnh nước Nga, chả khác nào ở dưới chân núi lửa!” Ông chỉ nhắc lại-theo cách của ông- một câu ngạn ngữ của người Mê-hi cô: “Chúa ở xa còn nước Mỹ ngay sát nách”.

Người Việt thì ngàn đời nay vẫn truyền nhau: “Con ơi nhớ lấy câu này/ thằng tây nó tếch, thằng Tầu nó sang”.

“Nó sang”, vì nó ở ngay bên kia rặng rào.

Ba Lan đã “thoát Nga” và đang đầy kiêu hãnh trở về với thế giới văn minh, một bài học hay nhưng cực khó. Mê-hi-cô thì vừa ghét Mỹ vừa cần Mỹ, chấp nhận số phận với may mắn lớn là dù sao nước Mỹ cũng không củ chuối như Nga hay Tầu. U-crai-na thì đang vật vã giữa hai sự lựa chọn: Thần phục Nga thì yên thân, nhưng mãi mãi sống thân phận chư hầu. Thoát khỏi Nga về với châu Âu dân chủ, có thể phải đổ máu, đất nước có thể tan hoang, nhưng may ra còn thấy tương lai?

Nhưng luôn sẵn một câu hỏi khó trả lời hơn nhiều, dành cho giới tinh hoa U-crai-na: Ngay cả khi chấp nhận rủi ro lớn, thì liệu có thực sự thoát được Nga và thoát bằng cách nào?

Lựa chọn Tự do chưa bao giờ thoát khỏi cảnh khốn nạn. Ở đâu và bao giờ cũng thế. Nhưng thiếu Tự do, thì sống (dù sống trong nhung lụa) cũng không bằng chết!

Thánh Agata Sicilê (c. 235?-251), đồng trinh tử đạo

Thánh Agata Sicilê (c. 235?-251), đồng trinh tử đạo

Chúc một ngày thật ấm áp bên Chúa và người thân yêu nhé! Hôm nay 5/2, Giáo Hội mừng kính Thánh Agata Sicilê (c. 235?-251), đồng trinh tử đạo. Đặc biệt là qua lời chuyển cầu của thánh nhân nhiều bệnh nhân bị ung thư vú đã được chữa lành. Vậy hôm nay mời bạn hãy dành thời gian để cầu nguyện cho những ai đang mắc bệnh liên quan đến vú.

Cha Vương

Thứ 7: 05/02/2022

Cũng như trường hợp của Thánh Agnes, vị đồng trinh tử đạo thời Giáo Hội tiên khởi, chúng ta không có dữ kiện lịch sử chắc chắn về Thánh Agata, ngoại trừ sự kiện ngài chịu tử đạo ở Catania  trong thời kỳ cấm đạo của hoàng đế Rôma là Decius năm 251.

Theo truyền thuyết, ngài sinh trưởng năm 235 tại Catania, Sicily (nước Ý) trong một gia đình giầu có. Khi còn trẻ, ngài đã tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa, và từ chối bất cứ lời cầu hôn nào. Một trong những người say mê ngài là Quintian, là người có địa vị cao trong xã hội nên nghĩ rằng có thể ép buộc thánh nữ. Biết ngài là Kitô Hữu nên ông ra lệnh bắt giữ và đưa ra xét xử – bởi chính ông. Hy vọng rằng vì sợ hãi sự tra tấn và cái chết, thánh nữ sẽ đành phải trao thân cho ông, nhưng ngài nhất quyết tin tưởng vào Thiên Chúa, và cầu nguyện rằng: “Lạy Ðức Kitô Giêsu, là Chúa mọi sự! Ngài đã thấy lòng con, Ngài biết con muốn gì. Xin hãy làm chủ toàn thể con người của con – chỉ mình Chúa mà thôi. Con là chiên của Ngài; xin giúp con vượt qua sự dữ một cách xứng đáng.”

Sau đó, Quintian tống Agata vào nhà gái điếm lấy cớ ngài là người Công Giáo với hy vọng ngài sẽ thay đổi ý định. Sau một tháng bị đánh đập và xỉ nhục, Quintian lại đưa ngài ra xét xử, nhưng Agatha vẫn không lay chuyển, vẫn can đảm tuyên xưng rằng chỉ một mình Chúa Giêsu mới có thể ban cho ngài sự tự do. Quintian lại tống ngài vào ngục thay vì nhà gái điếm. Và khi ngài tiếp tục tuyên xưng đức tin nơi Chúa Giêsu, Quintian ra lệnh tra tấn. Ðể trả thù, bạo quan hạ lệnh nướng ngài trên giường sắt. Sau đó, người ta lại tống giam thánh nữ. Tương truyền thì trong đêm đó, thánh Phêrô đã hiện ra và chữa lành cho ngài. Dù bị quan trấn Quintian nhiều lần dụ dỗ, ngài vẫn một lòng trung kiên với đạo Chúa. Dù đau đớn lăn lộn trên than hồng và mảnh chai nhọn, ngài vẫn tin cậy vào Chúa, Ðấng sẽ cứu linh hồn ngài. Chính cử chỉ của thánh nữ khiến cả thành phố náo động, Quintian sợ dân nổi loạn nên truyền giam thánh nữ trong ngục.

Ngài đã chết rũ tù ngày 25 tháng 2 năm 251 tại Catania, Sicily. Trước khi chết, ngài cầu nguyện: “Lạy Chúa, là Ðấng dựng nên con, Ngài đã gìn giữ con từ khi còn trong nôi. Bởi tình yêu thế gian Ngài đã dẫn dắt con và ban cho con sự kiên nhẫn để chịu đựng đau khổ. Xin hãy nhận lấy hồn con.”

Thánh nữ đã làm nhiều phép lạ như che chở thành Catania khỏi hiểm họa núi lửa Etna. Ngay từ thời đó, người ta đã cầu khẩn và cậy trông vào sự cầu bầu của thánh nữ. Ngài được coi là quan thầy của xứ Palermo và Catania, và được chọn làm quan thầy các bà vú nuôi và cũng được cầu khẩn khi bị tai nạn vì lửa và vì bệnh nhủ bộ. (Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online & Nhóm Tinh Thần nhuận chính lại theo Patron Saints và Santi-Beati-Testimoni)

Lạy Chúa, thánh nữ A-ga-ta đã luôn luôn làm đẹp lòng Chúa, vì vừa sống cuộc đời kiên trinh, vừa can trường hy sinh tử đạo. Xin nhận lời thánh nữ chuyển cầu cho chúng con được ơn tha thứ. Chúng con cầu xin nhờ danh Chúa Ki-tô Chúa chúng con. A men. (Lời nguyện, Lễ nhớ)

From: Đỗ Dzũng

MƯỜI ĐỊA DANH NỔI TIẾNG TRONG ÂM NHẠC MIỀN NAM – Phạm Văn Duyệt

MƯỜI ĐỊA DANH NỔI TIẾNG TRONG ÂM NHẠC MIỀN NAM – Phạm Văn Duyệt

ĐỒI CHARLIE

Trong vài chục năm ngắn ngủi, các nhạc sĩ thân thương của Miền Nam Tự Do đã dày công sáng tác nhiều bài hát để đời. Một số địa danh được nhắc nhở trang trọng qua những dòng nhạc lãng mạn trữ tình.

Bài này xin nêu lên mười vùng đất quê hương để cùng nhớ lại trang sử “nhạc vàng” từng được ưa chuộng mê say trước cũng như sau 1975.

  1. CẦU ÁI TỬ 

“Mẹ thương con ra cầu Ái Tử

Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu”

Chiều chiều trông về biên khu

Lòng căm hờn oán quân thù

Mở đầu là hai câu ca dao mà Nhạc Sĩ Duy Khánh nhắc lại trong bài Lối Về Đất Mẹ.

“Chiều qua giả từ đất Mẹ mà đi

Vì nghe tình quê tình nước đôi bề

Nước chia hai đường nước chưa về

Trót thương cho người lỡ câu thề

Lên đường từ ly, hỏi lòng mình lưu luyến gì”.

Vậy Ái Tử nằm ở đâu ? Vì sao tác giả nói tới địa danh này ?

Để lời lời câu hỏi đó, chúng ta hãy tham khảo wikipedia, lần giở lịch sử nước nhà giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh.

Năm 1527 Mạc Đăng Dung cướp ngôi Nhà Lê, Nguyễn Kim (1468 – 1545) cùng một số danh tưởng khác chạy sang Ai Lao phù Lê diệt Mạc, lập nên Nhà Lê Trung Hưng (1533).

Vì quý mến tài năng Trịnh Kiểm nên Ông gả con gái Ngọc Bảo cho viên tướng này.

Sau khi Ông mất, Trịnh Kiểm lên nắm binh quyền, liền giết ngay anh vợ Nguyễn Uông. Người em còn lại Nguyễn Hoàng lo âu cho số phận mình. Thỉnh ý Trạng Trình Bỉnh Khiêm thì được lời khuyên “Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân”. Nghe xong Nguyễn Hoàng (1545 – 1613) nhờ Chị xin anh rễ cho vào trấn Thuận Hóa năm 1558. Nơi dừng chân đầu tiên là vùng đất hoang vu Ái Tử, Triệu Phong, Quảng Trị. Chúa Nguyễn đóng đô ở đây cho đến 1626 thì dời đi.

Trong thời chiến tranh Quốc- Cọng, một dạo Hoa kỳ từng sử dụng Ái Tử làm căn cứ quân sự.

Mới nghe qua ai cũng hiểu ái tử là thương con. Nhưng vì sao Duy Khánh lại mượn câu ca dao để mở đầu cho bài hát của mình?

Đây là chuyện kể của một người gốc Quảng Trị: vào giai đoạn toàn dân kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) có người chiến binh ôm mìn ngụy trang trôi theo đám lục bình bơi tới cầu Ái Tử đang thuộc quyền cai quản của Pháp với mưu toan giựt sập. Chẳng may viên lính gác cầu phát hiện bắn chết, có ngờ đâu đó là đứa con trai của mình.

Người Mẹ hay tin vội vã ba chân bốn cẳng chạy tới ôm xác kẻ lìa trần mà đau đớn tột cùng. Suốt mấy tháng trời bà vẫn hay ra cầu Ái Tử vật vã kêu gào thương khóc con. Phải chăng cảnh tượng này làm động lòng nhạc sĩ miền Trung đa tình?

PHÁ TAM GIANG

  1. PHÁ TAM GIANG

Năm 1972, Thi Sĩ Tô Thùy Yên cùng Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh viếng thăm vùng địa đầu giới tuyến. Bay ngang phá Tam Giang thấy cảnh sông nước lửng lờ trong buổi chiều tà, chợt nhớ Saigon đang bước vào mùa thi, Nhà Thơ dạt dào thi hứng làm bài thơ dài đưa cho Nhật Trường xem. Quá xúc động và đồng cảm với thi nhân, Trần Thiện Thanh phổ thành bài Chiều Trên Phá Tam Giang để rồi nhận ngay vòng nguyệt quế. Thi Sĩ nổi tiếng hơn mà Nhạc Sĩ cũng được hâm mộ nhiệt thành. Đã 50 năm trôi qua vẫn còn hằng triệu người khắp nơi ca hát xem như tâm sự của chính mình.

“Chiều trên phá Tam Giang

Anh chợt nhớ em

Nhớ ôi!  Niềm nhớ! Ôi niềm nhớ

Đến bất tận

Em ơi! em ơi!”

Phá Tam Giang rộng 50 km² chạy dài từ Sông Ô Lâu tới Cầu Hai, ngang qua hai huyện Phong Điền và Quảng Điền, Thừa Thiên, với độ sâu 2 – 4 m. Phá này được biết tiếng từ lâu với câu ca dao:

“Thương em anh cũng muốn vô

Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”.

Xưa có gã thư sinh từ xứ Nghệ vô kinh đô ứng thí. Khi ngang qua bến Sông Ô Lâu thì chàng phải lòng cô lái đò duyên dáng dễ thương. Hai người thề non hẹn biển sau khi đỗ đạt sẽ cùng kết tóc xe tơ.

Chàng thi đậu công thành danh toại, nàng ngày ngày ngóng trông tái hợp. Nhờ người nhắn gởi thì chàng mượn câu ca dao đó để thoái thác lời ước thề.

Về sau Nội Tán Nguyễn Khoa Đăng (1690 – 1725) đã điều động dân phu đào bới mở rộng cửa phá cho nên sóng biển không còn. Nhờ vậy mà tai nạn giật thuyền bè giảm hẳn.

“Phá Tam Giang ngày rày đã cạn

Truông Nhà Hồ Nội Tán dẹp tan”.

Còn cô lái đò vẫn giữ lòng chung thủy, mơ màng lặn lội băng rừng vượt núi kiếm tìm.

“Đói lòng ăn nửa trái sim

Uống lưng bát nước đi tìm người thương”.

Tới nơi mới hỡi ơi chàng đã yên bề gia thất. Nàng choáng váng xây xẩm mặt mày. Cố lê lết trở về quê cũ với nỗi niềm chua xót thở than:

“Đi đường những lách cùng lau

Những tràm với chổi bỏ nhau sao đành”.

Thế rồi không chịu nổi nghịch cảnh bị phụ tình, lỡ bước sang ngang, nàng trầm mình theo giòng nước nơi hai người từng tha thiết hẹn hò.

  1. LẦU ÔNG HOÀNG 

“Đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa

Lầu Ông Hoàng đó, thuở xưa chân Hàn Mặc Tử đã qua

Ánh trăng treo nghiêng nghiêng, bờ cát dài hoang vắng”.

Đó là lời trong bài “Hàn Mặc Tử” của Trần Thiện Thanh.

Theo wikipedia, tòa lâu đài này được công tước người Pháp vốn là cháu nội vua Louis xây cất năm 1911 rộng 500 m² cách tháp Chàm Pôshanu vài trăm mét thờ công chúa người Chăm và cách thành phố Phan Thiết 7 km.  Vua Bảo Đại từng mua lại Lầu này làm chỗ nghỉ ngơi, thưởng ngoạn cảnh đẹp hoang dã nên thơ của bãi cát dài trắng xóa cùng tiếng sóng rì rào với gió thổi vi vu từ đại dương.

Về sau người Pháp xây dựng nhiều đồn bót quanh khu vực nên không tránh khỏi chinh chiến điêu linh, danh thắng này trở nên đổ nát hoang tàn chẳng còn để lại dấu tích. Nhưng nơi đây từng là chốn hẹn hò của đôi tình nhân Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) và Mộng Cầm (1917 – 2007) trong những năm 1936 – 1937. Ta hãy nghe Hàn thổn thức khắc khoải nhớ nhung thần tượng bẻ nhỏ tên Nghệ (Mộng Cầm) qua bài Muôn Năm Sầu Thảm:

“Nghệ hỡi Nghệ muôn năm sầu thảm

Nhớ thương còn một nắm xương thôi

Thân tàn ma dại đi rồi

Rầu rầu nước mắt bời bời ruột gan

Thấy gió là ôm ngang lấy gió

Tưởng chừng như trong đó có hương

Của người mình nhớ mình thương

Nào hay gió tạt chẳng vương vấn gì

Nhớ lắm nhớ như si như dại

Nhớ quá nhiều mà bại hoại chân tay

Nhớ hàm răng nhớ hàm răng

Mà ngày nào đó vẫn khăn khít nhiều

Dẫu đau đớn vì lời phụ rãy

Nhưng mà ta không lấy làm điều

Trăm năm vẫn một lòng yêu

Và còn yêu nữa rất nhiều em ơi!”

Thêm nữa, hãy đọc bài Phan Thiết!  Phan Thiết! để nghe Hàn thở than rên xiết:

“Rồi ngây dại nhờ thất tinh chỉ hướng

Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng

Lầu Ông Hoàng người thiên hạ đồn vang

Nơi đã khóc đã yêu thương da diết

Ôi trời ơi ! là Phan Thiết ! Phan Thiết!

Mà tang thương còn lại mãnh trăng rơi

Ta đến nơi nàng ấy vắng lâu rồi

Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ

Trăng vàng ngọc, trăng ân tình, chưa phỉ

Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng

Ta vãi vung thơ lên tận sông Hằng

Thơ phép tắc bỗng kêu lên thống thiết

Hỡi Phan Thiết! Phan Thiết!

Mi là nơi ta ôm hận nghìn thu

Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư”.

Nghe lời thơ tưởng chừng như không có ai đau thương vì tình hơn chàng thi nhân đoản mệnh. Có biết đâu rằng trong một lúc nào đó song đôi với Mộng Cầm mà nhà thơ họ Hàn đã dịu dàng thỏ thẻ như trong bài Đà Lạt Trăng Mờ:

“Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều

Để nghe dưới đáy nước hồ reo

Để nghe tơ liễu run trong gió

Và để nghe trời giải nghĩa yêu”.

Hiện nay khu vực Lầu Ông Hoàng là địa điểm du lịch của tỉnh Phan Thiết.

  1. ĐỒI THÔNG HAI MỘ

Cạnh Hồ Than Thở, Dalat có ngôi mộ đôi nằm hiu quạnh hoang vu trên đồi

thông. Ngang qua đây mấy ai mà không khỏi chạnh lòng một nỗi u hoài. Trong tâm trạng đó, nhạc sĩ Hồng Vân đắm mình sáng tác bài ĐỒI THÔNG HAI MỘ kể lại cuộc tình bi thương ai oán có một không hai trên cõi đời này.

Chàng tên Tâm, con nhà địa chủ ở Gò Công. Đang theo học khóa Võ Bị Dalat thì gặp Thảo, con một gia đình công chức. Hai người thầm yêu trộm nhớ và thường hẹn hò bên Hồ Than Thở. Mãn khóa ra trường, Tâm xin cưới Thảo nhưng bị cha mẹ từ chối vì vì không môn đăng hộ đối.

Buồn tình trắc trở, chàng xin ra tiền tuyến. Phần Thảo còn đau khổ hơn khi biết song thân người yêu khước từ và chàng vì phẩn chí mà tình  nguyện xông pha ngoài biên ải. Tuy vậy nàng luôn một lòng chung thủy đợi chờ, lấy niềm vui qua những giờ phút trông ngóng thư người tình từ nơi phương trời lửa đạn.

Bỗng một hôm có thư báo về cái tin sét đánh ngang tai: Tâm vừa anh dũng hy sinh ngoài trận tuyến.  Trời đất quay cuồng sụp đổ.

“Rồi nàng buồn thơ thẩn chẳng còn ngồi trang điểm qua màu phấn

Để phai úa đến tàn cả hương sắc

Tháng ngày luôn héo hon”.

Chờ ai đây đợi ai đây khi mà người thương vĩnh viễn ra đi. Thế rồi tuyệt  vọng tình, nàng nhảy xuống bờ hồ quyên sinh theo người yêu. Gia đình thương tiếc cho lập mộ trên đồi thông.

Ngang trái thay lá thư báo tử là lá thư lầm lẫn chết người. Tâm không tử trận mà vẫn còn chiến đấu dưới cờ. Tám tháng sau chàng trở về thăm thì nghe hung tin Thảo không còn.

“Sao người về đây để tìm nhưng thôi đã mất còn đâu

Ôi buồn làm sao đồi thông xưa nay vắng bóng người yêu

Đời hợp tan, hợp rồi tan như mây kia gặp gió”.

Thật đắng cay chua xót, đồng cảnh ngộ của Thi Bá Vũ Hoàng Chương thuở nào: Đời vắng em rồi say với ai !

“Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu

Lênh đênh thương nhớ dạt trời Âu

Thôi rồi tay nắm tay lần cuối

Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau

“Gặp gỡ chừng như chuyện Liêu Trai

Ra đi chẳng hẹn một ngày mai

Em ơi ! lửa tắt bình khô rượu

Đời vắng em rồi say với ai?”.

Nghĩ mình đã tới đường cùng. Chàng quẩn trí tự vẫn với ước nguyện mồ chôn nằm bên cạnh người yêu. Cha mẹ chấp nhận và cho mai táng gần Thảo.

“Rồi mộ chàng được ở bên cạnh nàng như lời xưa thề ước

Nằm hiu hắt đến ngàn thu an giấc dưới mộ sâu đất khô”.

Nhưng từ sau 1975, do tuổi già sức yếu, đường sá đi lại quá khó khăn nên cha mẹ phải đành đoạn di dời mộ chàng về quê quán. Còn Thảo tuy xa Tâm nhưng vẫn nằm yên nghỉ bên cạnh ngôi mộ trống của chàng. Ai qua đây mà không khỏi bùi ngùi cho số kiếp người bạc mệnh.

  1. ĐỒI CHARLIE

Dựa theo bút ký Người Ở Lại Charlie của Nhà Văn Phan Nhật Nam, Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh đã soạn thành ca khúc cùng tên.

Charlie với cao độ gần 1000 m là dãy đồi nằm cạnh huyện Dakto, Kontum.

Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 khởi đầu giai đoạn chiến tranh khốc liệt nổ ra khắp các chiến trường miền Nam. Binh sĩ Cọng Hòa hành quân liên miên không một ngày thư thả.

Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù của Người Anh Cả Nguyễn Đình Bảo đã quần thảo ở Toumorong, Dakto, Dambe, Krek, Snoul, Đức Cơ, Khe Sanh, Hạ Lào… Có nơi chỉ đáo qua vài ngày rồi phải vội vàng từ giả theo tình hình chiến sự nóng bỏng trên bốn vùng chiến thuật.

Tháng 4.1972 được lệnh trấn đóng đỉnh đồi Charlie với nhiệm vụ án ngữ và kiểm soát ngã 3 biên giới Việt Miên Lào. Chừng 500 binh sĩ nhảy dù đối đầu lực lượng địch hùng hậu cấp sư đoàn. Chúng vẫn sử dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung quen thuộc, cường tập pháo kích hàng ngàn hỏa  tiễn suốt ngày đêm nhằm uy hiếp tinh thần và làm tiêu hao quân số trú phòng.

Sau hơn mười ngày đêm tử thủ dưới làn mưa pháo, Trung Tá Bảo bị sập hầm trúng đạn tử thương. Ngay sau đó Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó Lê Văn Mễ lên thay thế khi mà đơn vị gần như cạn kiệt vũ khí và lương thực.

Tình hình quá khẩn trương không thể cầm cự lâu hơn. Nếu chậm trể sẽ bị bao vây tràn ngập.Thiếu Tá Mễ cùng một số đồng đội phải gấp rút kiếm đường thoát thân, tìm cái sống trong cái chết rồi kêu gọi thượng cấp cho

pháo đài bay B52 dội bom ngay ngọn đồi vừa rút đi. Hàng ngàn cán binh sinh bắc tử nam bị tiêu diệt. Còn theo Nhà Văn Phan Nhật Nam, bên ta thiệt mất 400 binh sĩ đền nợ nước.

Trong số sĩ quan thoát ra từ tử địa có Y Sĩ Tô Phạm Liệu. Tuy thương tích ở chân nhưng Anh vẫn không nản chí ngã lòng. Rán điều trị rồi chờ đơn vị tái bố sung để cùng ra trận trong tháng 6 nơi vùng hỏa tuyến.

Tới tháng 9.1972 tất cả quân cọng sản xâm lăng phải tháo chạy về phương bắc. Y Sĩ Phạm Anh Dũng cho hay Đại Úy Tô Phạm Liệu được tuyên dương sĩ quan xuất sắc nhất của Sư Đoàn Dù.

Hy sinh vì đại nghĩa, Trung Tá Bảo được truy thăng Đại Tá, để lại bao tiếc thương cho hình ảnh người chỉ huy tài ba, gan dạ, luôn hết lòng thương yêu thuộc cấp. Ông giả biệt vợ trẻ và 3 con thơ lúc mới 36 tuổi đời. Bà Nguyễn Đình Bảo là cựu chiêu đãi viên hàng không vẫn ở vậy thờ chồng nuôi con ăn học thành tài.

“Anh! Anh! hỡi Anh ở lại Charlie

Anh! Anh! hỡi Anh giả từ vũ khí

Vâng, chính Anh là ngôi sao mới

Một lần này chợt sáng trưng

Là cánh dù đan bằng tiếc thương vô cùng

Anh! cũng Anh vừa ở lại một mình

Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành

Xin một lần thôi, một lần thôi

Vẫy tay tạ từ Charlie

Xin một lần nữa, một lần nữa

Vẫy tay chào buồn Anh đi”.

Vời lòng cảm phục vô biên những Người Anh Hùng Mũ Đỏ, nhiều cựu binh và dân thường đã lặn lội tìm đường tới Charlie thăm chiến trường xưa. Trong tận sâu thẳm đáy lòng, ai ai cũng đều ngậm ngùi khi nhìn lại ngọn đồi nơi mà 50 năm về trước những người con thân yêu của Tiểu  Đoàn 11 Nhảy Dù oanh liệt ra đi chẳng hẹn ngày về.

  1. PLEIME

Trại Lực Lực Lượng Đặc Biệt Pleime nằm giáp ranh vùng 3 biên giới, cách Pleiku 40 km về hướng nam.

Pleime được Phạm Duy nhắc tới trong nhạc phẩm Kỷ Vật Cho Em, phổ từ bài thơ Để Trả Lời Một Câu Hỏi của Thi Sĩ Linh Phương với lời lẻ vô cùng áo não tang tóc bi ai dễ làm nao lòng chiến sĩ. Chính vì vậy mà từng bị xếp vào loại nhạc phản chiến và cấm hát một thời gian.

“Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại

Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về

Anh trở về có thể bằng chiến thắng Pleime

Hay Đức Cơ Đồng Xoài Bình Giả

Anh trở về, anh trở về hàng cây nghiêng ngả

Anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa

Anh trở về trên chiếc băng ca

Trên trực thăng sơn màu tang trắng”.

Nhạc Sĩ Trúc Phương cũng nhắc đến Pleime trong bài Trên Bốn Vùng Chiến Thuật:

“Tôi thường đi đó đây

Bùn đen in dấu giày

Chân nghe lạ từng khu chiến thuật

Áo nhà binh thương lính, lính thương quê

Vì đời mà đi

Pleime gió mưa mùa

Bốn vùng nghe lưu luyến bước bâng khuâng của vạn người thân”.

Tại Pleime từng xảy ra hai trận đánh  khốc liệt.

* Trận đầu ở Thung lũng Ia – Drang:

Theo lời kể của Thiếu Úy Trần Quốc Cảnh (khóa 19 Võ Bị Dalat) thì cuối tháng 10.1965 Việt Cọng bao vây Trại Pleime. Lực lượng tham chiến bên ta

có trung đoàn 3 thiết giáp, tiểu đoàn 21 biệt động quân, tiểu đoàn 1/42, 400 dân sự chiến đấu và một bộ phận của lữ đoàn dù cùng chống trả chiến thuật công đồn đả viện của 3 trung đoàn cọng quân.

Mặc dù quân số đông đảo cọng thêm trang bị vũ khí tối tân nhưng sau 7 ngày giao tranh ác liệt, phía bắc phương thiệt hại nặng nề phải rút chạy vào rừng. Ta bẻ gãy kế hoạch cắt đôi Tây Nguyên của chúng.

Đó là nhờ tinh thần chiến đấu gan dạ cùng sự phối hợp nhịp nhàng hoàn hảo giữa quân đội Cọng Hòa và Không Lực Hoa Kỳ.

Theo Time Magazine ngày 5.11.1965, trong số 6000 quân cọng phỉ, ước chừng 1000 tử vong và 2000 thương tích.

* Trận thứ nhì: sau trận đầu, trại Pleime cũ bị phá hủy và trại mới được xây dựng. Đầu năm 1974, Thiếu Tá Vương Mộng Long nhậm chức Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân Biên Phòng phụ trách bảo vệ vùng núi rừng rộng lớn bao quanh Pleime.

Đây là hành lang chiến lược cho cọng quân di chuyển từ bắc vô nam, từ đồng bằng lên Tây Nguyên và vận hành binh lính vũ khí quân lương qua các tỉnh vùng 3 biên giới. Vì vậy mà  chúng quyết tâm nhổ sạch Trại để rộng đường cho giấc mộng xâm lăng. Cuộc chiến khởi đầu từ cuối tháng 7.1974.

Theo Thiếu Tá Long về tương quan lực lượng đôi bên thì địch có quân số gấp mười lần, chưa kể cơ giới, pháo binh, chiến xa và phòng không.

Biết mình sức yếu thế cô phải một chọi mười, thật là không cân sức. Nhưng cả Tiểu Đoàn quyết tử để quyết sinh. Chiến đấu đến người lính cuối cùng. Thề sống chết có nhau đồng lòng bảo vệ quê hương tự do và đời sống ấm no cho đồng bào. Nhiều ngày bị cô lập với bên ngoài và lương thực đạn dược gần như cạn kiệt. Nhưng Trời luôn phù hộ người chính nghĩa. Bất chấp hàng loạt mưa pháo  hoặc cái lạnh cắt da của núi rừng trùng điệp. Thiếu Tá Long khóa 20  Võ Bị Dalat luôn điều động binh sĩ vững lòng chống trả các đợt tấn công biển người của giặc thù. Nhờ vậy mà chúng không thể tràn ngập tiêu diệt căn cứ kể cả cho tank 54 lồng lộn  xung trận nhưng cũng đành thúc thủ rút lui vào cuối tháng 8 sau 33 ngày đêm tử thủ kiêu hùng của Tiểu Đoàn. Quốc Kỳ Việt Nam Cọng Hòa lại phất phới tung bay trên cột cờ cao vào sáng ngày 2.9.1974.

Hai dãi băng trắng chữ sơn đỏ căng ngang trước tư dinh Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 2: “Toàn dân Pleiku ghi ơn Thiếu Tá Vương Mộng Long và  các chiến sĩ Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân”. Hàng ngàn quân dân cán chính long trọng làm lễ khao quân suốt mấy ngày. Đâu đâu cũng nghe vang dội khúc quân hành: “Kìa đoàn quân chiến thắng trở về trong nắng hồng…” (Bài Ca Chiến Thắng, Minh Duy).

  1. THA LA XÓM ĐẠO 

Tha La là xóm nhỏ ở vùng Trảng Bàng Tây Ninh.

Gần 200 năm trước một số con chiên từ Huế do bị Vua Minh Mạng cấm theo Thiên Chúa Giáo nên chạy trốn vào ẩn trú ở vùng đất hẻo lánh này. Họ chung tay khẩn hoang lập ấp, xây dựng thôn xóm để bảo tồn niềm tin tôn giáo.

Năm 1950, Nhà Thơ Vũ Anh Khanh (1930 – 1956) tình cờ ghé thăm nơi đây. Duyên nợ đẩy đưa Anh sáng tác bài thơ dài Hận Tha La:

“Đây Tha La xóm đạo

Có trái ngọt cây lành

Tôi về thăm một dạo

Giữa mùa nắng vàng hanh”.

Nhạc Sĩ Dzũng Chinh đã phổ thành bài hát Tha La Xóm Đạo:

“Đây Tha La, đây xóm đạo tiêu điều

Cây buồn quanh hận thù dâng ai oán” Người Tha La rất hãnh diện hát bài quê hương mình để ghi nhớ một thời đao binh:

“Đây Tha La, đây xóm đạo hoang tàn

Mây trời vây quanh màu tang khói  lửa

Bao năm qua Tha La còn trơ đó

Đoàn người đi giết thù đã hẹn thề từ dạo ấy

Lòng viễn khách bồi hồi như thương tiếc mùa xuân nắng hanh vàng”.

Nhà Văn Xuân Vũ gặp Anh Khanh tại miền Tây năm 1950 khi cùng tham gia kháng chiến. Xuân Vũ cho biết: “Nhà thơ tốt nghiệp khóa lục quân 12 tháng. Anh hay mặc áo nhà binh xập xệ, quần ống cao ống thấp, miệng cười xề xề. Lúc nào có liên hoan thì bạn bè hay bắt Anh lên ngắm thơ”.

Tới hiệp định Geneve 1954 cả hai cùng tập kết ra bắc. Vài năm sau Anh được cử đi dự hội nghị văn chương quốc tế ở Ấn Độ. Khi về Anh kể chuyện thăm ngôi đền lạ lùng thờ “cái đó” và “cái ấy”. Bạn bè thắc mắc một hồi thì Anh cho biết “cái đó” dài bằng cây cột còn “cái ấy” to bằng cái nia. Ai nghe cũng ôm bụng cười sặc sụa.

Bữa ấy Anh khao anh em một chai rượu ngoại vừa mang về từ hội nghị.

Thế rồi Anh xin đi công tác. Giấy phép ghi tới Vĩnh Phúc nhưng anh sửa thành Vĩnh Linh để tìm cách vượt tuyến vào Nam. Gần Cầu Hiền Lương anh nhìn lui nhìn tới rồi vội vàng lặn hụp cố bơi qua bờ. Rủi thay bị công an biên phòng phát hiện. Chúng dùng mũi tên tẩm độc bắn chết anh rồi vùi thây ngay đụn cát ven sông. Thế là mộng ước của bao nhiêu người Tha La đành trở thành tuyệt vọng, cho dù ai nấy đều thầm ca bài  Chuyến Đò Vỹ Tuyến của Lam Phương như bày to niềm khát vọng một ngày Anh Khanh trở lại:

“Bùi ngùi nhìn cách xa ngàn trùng

Giờ đây em điêu linh nơi quê nhà đang chìm đắm

Bao đêm thổn thức dưới trăng ngà

Hồn đắm say chờ đón ngày anh về sưởi lòng nhau”.

Xuân Vũ từng đóng vai phóng viên  thăm vùng giới tuyến. Ngang khúc sông Anh Khanh gặp nạn, Vũ âm thầm muốn trốn nhưng quan sát kỹ thấy nguy hiểm không an toàn nên đành thối lui. Khi về Nhà  Văn Đoàn Giỏi hỏi:

“Mày vô đó có thấy mộ Anh Khanh không?

– Chẳng biết mộ anh ấy nằm ở đâu vì gặp quá nhiều nắm đất dọc bờ cát trắng.

Đoàn Giỏi buồn rầu nói thêm: Phải chi biết ngày nó chết tụi mình cơm canh cúng giỗ một bữa cho nó bớt tủi vong hồn”.

Anh Khanh là văn nghệ sĩ hăng say theo cọng sản rồi bỏ hàng ngũ trở về với chính nghĩa tự do sớm nhất. Sau Anh có nhiều người vượt thoát thành công như Xuân Vũ, Ca Sĩ Bùi Thiện… Một số manh nha ly khai nhưng chưa kịp đào tị thì bị trù dập tả tơi. Điển hình là Nhà Thơ Trần Vàng Sao đang là sinh viên đại học Huế lại thoát ly lên rừng núi Trường Sơn “chống Mỹ cứu nước” rồi chợt hiểu rõ bộ mặt giả nhân giả nghĩa của cọng sản liền thức tỉnh viết ra những nhận thức phê phán chân thành. Hậu quả là không những bị hạch hỏi trừng trị mà còn hết tin dùng. Ai đọc bài thơ “Tau Chửi” nguyền rủa lên án việt cọng tàn ác gian manh vắt chanh bỏ vỏ mới hiểu thấu nỗi uất hận cay đắng của kẻ trót dại lầm đường như Ông.

  1. ĐƯỜNG DUY TÂN 

là đoạn đường nối Nhà Thờ Đức Bà và Hồ Con Rùa thuộc quận 3 Saigon. Hai bên đường có hàng cây sao cổ thụ cao vút, vài cây tồn tại cả trăm năm, xen lẫn nhiều ngôi biệt thự uy nghi kín cổng cao tường che phủ bởi những giàn bông giấy sắc màu rực rỡ.

Đường Duy Tân mang tên Nhà Vua thứ 11Triều Nguyễn là Thái Tử Vĩnh San lấy niên hiệu Duy Tân (1900 – 1945) với hoài vọng đổi mới cải cách cho đất nước. Năm 16 tuổi do chống Pháp nên Ngài bị đày sang Đảo Reunion (Phi Châu) và tới 1945 thì tử thương trong một tai nạn phi cơ.

Con đường này trở nên nổi tiếng từ khi nhạc phẩm Trả Lại Em Yêu của Phạm Duy ra đời.

“Trả lại em yêu khung trời đại học

Con đường Duy Tân cây dài bóng mát

“Trả lại em yêu con đường học trò

Những chiều Thủ Đô tưng bừng phố xá

Chủ nhật uyên ương hẹn hò đây đó

Uống ly chanh đường uống môi em ngọt”.

Duy Tân là con đường tình yêu học trò, con đường hẹn hò đưa đón, con đường tạ từ chia biệt, con đường gặp gỡ lứa đôi, con đường hạnh phúc thiết tha, con đường ngọt ngào âu yếm, con đường giận hờn đổ vỡ, con đường đau khổ ly tan…

Đường này có Đại Học Luật Khoa với hàng chục ngàn sinh viên ghi danh. Trong 20 năm trời lắm cuộc tình diễn ra ở đó để lại bao nhiêu dư âm buồn vui suốt cả cuộc đời. Ai có chút tâm hồn mơ mộng mà không bày tỏ nỗi niềm thi nhân khi mỗi chiều ngang qua đây tình cờ bắt gặp những đôi tình nhân sánh bước chung đôi dưới hai hàng cây xanh mát.

Khung cảnh thơ mộng tưởng chừng Lưu Thần Nguyễn Triệu đáo Thiên Thai. Nhưng xa rồi những ngày xưa thân ái. Không chỉ tên đường thay đổi mà cảnh vật xung quanh cũng đổi thay. Không còn hai hàng cây thẳng tắp quen thuộc. Chủ nhân mấy ngôi nhà cổ kính bỏ đi xa, thay vào đó là lớp người mới giàu có từ đâu tới xây cất những biệt thự cao tầng nguy nga tráng lệ. Vừa chật hẹp mà lưu lượng quá đông nên nạn kẹt xe xảy ra hằng ngày.

Chính tại đường Duy Tân đã chứng kiến bản chất côn đồ giết người không gớm tay của việt cọng.

Mùa hè 1971 diễn ra cuộc bầu cử Ban Chấp Hành Sinh Viên Đại Học Luật Khoa giữa hai liên danh Lê Khắc Sinh Nhật và Trịnh Đình Ban. Kết quả  Sinh Nhật thắng cử vẻ vang. Phe thất bại là nhóm thân cọng đã điên cuồng tức giận trả thù hèn nhác và ra tay bắn chết đối thủ trước cổng trường ngay giữa ban ngày. Từ đó con đường cây dài bóng mát trở thành con đường đau buồn tan nát.

Ai gây ra thảm cảnh này?

  1. PHÀ HẬU GIANG (Phà Cần Thơ)

Băng qua Sông Hậu nối liền Cần Thơ và Vĩnh Long dài 1840 mét.

Trong một chuyến về quê vợ ở miền Tây có công việc nhà, Nhạc Sĩ Nhật Ngân đang thơ thẩn đi tới đi lui ngóng chờ phà Hậu Giang thì chợt nghe văng vẳng đâu đây tiếng hát mượt mà của ai đó giữa đám đông người lũ lượt chen chúc trên bến sông.Tiến lại gần thì Ông thấy người thương binh chống nạn, cụt mất một chân bận bộ đồ treillis rách nát bạc màu đang ca bài Xuân Này Con Không Về.

“Con biết bây giờ Mẹ chờ mong con

Khi ánh mai đào nở vàng bên nương

Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về

Nay én bay đầy trước ngõ mà tin con vẫn xa nghìn xa

“Con biết không về Mẹ chờ em trông

Nhưng nếu con về bạn bè thương mong

Bao lứa trai hùng chào xuân chiến trường

Không lẻ riêng mình êm ấm

Mẹ ơi! con xuân này vắng nhà”.

Nghe xong Nhạc Sĩ quá xúc động, đâu ngờ ở nơi chốn chợ đời đua chen này lại có người hát thành thạo bản nhạc của mình mà không cầm được nước mắt.

Ông chạy tới chuyện trò hỏi han, bỗng nhận ra người bạn cùng lớp thời trung học sau gia nhập Võ Bị Dalat. Ra trường một năm thì bị thương gãy chân phải giải ngũ. Trở lại Mỹ, Nhật Ngân cùng Trần Trịnh hợp soạn ca khúc Chiều Qua Phà Hậu Giang để nói lên tâm sự của người thương binh quân lực Việt Nam Cọng Hòa sau cuộc chiến:

“Chiều qua phà Hậu Giang, tiếng ai hát dạo buồn thay

Tiếng ca sầu mênh mang như khơi  niềm đau năm tháng xưa

Chân nạng gỗ thấp cao kéo lê đời theo dòng nhạc đưa

Mãnh chiến y phai màu khúc ca nào gợi sầu không nguôi”.

Sự hy sinh tuổi thanh xuân và một phần thân thể của hàng vạn thanh niên trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam là vô bến bờ, không lấy gì đền đáp được. Bao năm qua nhiều nơi tổ chức Đại Nhạc Hội Cảm Ơn Anh nhằm vinh danh Người Thương Binh, gây quỹ giúp Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ Việt Nam Cọng Hòa còn kẹt lại ở quê nhà. Trong nước có Dòng Chúa Cứu Thế, Chùa Liên Trì…đã tận tay trao phát nhiều đợt quà tình nghĩa cho thành phần thiệt thòi này.

Nhưng nghĩa cử đó thực ra cũng quá nhỏ nhoi. Chỉ ước mong may ra có thế làm ấm lòng các gia đình kém may mắn trong một chừng mực nào đó mà thôi.

Về phần bến phà, sau khi Cầu Cần Thơ khánh thành năm 2010, tuy đường sá được thông xe, phà Hậu Giang kết thúc sứ mạng sau 100 năm hoạt động nhưng hiện nay vẫn còn bến đò vận hành loại phà nhỏ hơn cho người và xe mô tô qua lại vì nhanh và ít tốn phí hơn so với lưu thông bằng xe. Không biết có còn ai sống đời hát dạo như trước không?

  1. LĂNG MẠC CỬU 

Nhạc Sĩ Lê Dinh một lần ghé thăm  đã cảm tác ca khúc dễ thương Hà Tiên Mến Yêu.

“Tôi nhớ hoài một chiều

Dừng chân ghé qua thăm miền ước mơ

Tôi qua Lăng Mạc Cửu

Nằm trên con voi phục

Tôi vô thăm Thạch Động

Trời bát ngát mênh mông”.

Mạc Cửu (1655 – 1735) là thủy tổ dòng họ Mạc ở Hà Tiên. Do không thần phục Nhà Thanh nên Ông rời bỏ Quảng Đông trốn qua Nam Vang năm 1668 hành nghề thương nhân quanh các nước Đông Nam Á. Đến 1699 Ông khai khẩn nhiều khu vực hoang địa của Hà Tiên lập thành 7 xã thôn. Năm 1708 chịu thần phục Chúa Nguyễn, được phong Tổng Trấn Hà Tiên, cai quản như một Tiểu Vương theo truyền thống cha truyền con nối. Liên tục 7 đời, con cháu họ Mạc cải biến Hà Tiên từ vùng đất ít người biết đến thành cửa ngõ giao thương sầm uất của Đại Việt.

Di tích Lăng được xây dựng từ năm 1739. Trên cổng nhà thờ có câu đối Hán Nôm do chính Nhà Nguyễn ban tặng:

“Một nhà trung nghĩa danh thơm cả họ

Bảy lớp giậu che, cả nước mến yêu”.

Quanh mộ phong cảnh mây, nước, biển, trời quyện vào nhau thành bức tranh thủy mạc hữu tình, ngắm trông hoài tưởng chừng như lạc vào tiên giới.

Người Việt cảm hoài tấm lòng của dòng họ Mạc tận tụy mở rộng bờ cõi phương Nam cho cả nước. Nhớ ơn Mạc Cửu, thiết tưởng chúng ta không thể quên hai nhân vật gốc Hoa khác từng đóng góp nhiều cho sự phồn vinh của Miền Nam.

* Chú Hỏa (1851 – 1901)

Người gốc Phúc Kiến, Trung Quốc, mang quốc tịch Pháp. Di cư tới Saigon sống bằng nghề bán ve chai mà trở nên giàu có nhanh chóng.

Khoảng nửa đầu thế kỷ 20 đã là một trong tứ đại phú hào của Saigon: nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa (Huyện Sĩ – Lê Phát Đạt, Tổng Đốc Phương – Nguyễn Hữu Phương, Bá Hộ Xường – Lý Tường Quan, Chú Hỏa – Hui Bon Hoa).

Tuy xếp thứ tư nhưng Chú vẫn để lại tiếng thơm muôn đời nhờ tấm lòng không chỉ làm giàu cho riêng mình mà còn quan tâm giúp đỡ cộng đồng xung quanh.

Suốt thời gian dài gia đình Chú đóng góp lớn lao cho sự phát triển của thành phố về vật chất lẫn tinh thần, hiến tặng nhiều công trình phúc lợi như Bệnh Viện Từ Dũ, Bệnh Viện Đa Khoa Saigon, Bệnh Viện Nguyễn Trãi, Trường Tiểu Học Minh Đức…

* Mã Tuyên (1909 – 1994)

Bang Trưởng và Chủ Tịch 11 bang Hoa Kiều Chợ Lớn. Với chức vụ này Ông từng có dịp gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Chính mối tương giao đó mà tối ngày 1.11.1963 lúc đang bị quân đảo chánh bao vây, Tổng Thống và Cố Vấn Ngô Đình Nhu theo xe ra khỏi Dinh Gia Long rồi chọn nhà Ông để ẩn mình trong đêm định mệnh.

Đón chào Anh Em Tổng Thống tới tá túc. Ông hết mực ân cần chăm sóc tiếp đãi. Một lòng nồng hậu cung kính. Lo chu toàn mọi chuyện mà Tổng Thống cậy nhờ. Căn dặn gia nhân kín đáo bảo mật sự hiện diện của hai Ngài.

Thế rồi tình hình vẫn không sáng sủa. Trong bối rối lo âu Anh Em Tổng Thống phải giả biệt Người Bang Trưởng trung hậu hiếu khách để sang Nhà Thờ Cha Tam rồi bị thảm sát trên đường đến Bộ Tổng Tham Mưu.

Liền sau đó phe đảo chánh kết án Ông 3 năm tù và tịch biên tài sản. Nhưng đời vẫn chưa yên. Sau 30.4.75, việt cọng lại bỏ tù Ông 4 năm ròng.

Thật đáng thương cho Vị ân nhân Việt gốc Hoa chơn chất hào hiệp. Chỉ vì che chở cho Người Lãnh Tụ lâm nạn mà chịu thiệt thân. Xin cầu nguyện Ông yên nghỉ.

Do đâu mọi người bình đẳng với nhau?

Do đâu mọi người bình đẳng với nhau?

Con Cọp thở hơi ra lạnh quá đi thôi! Mến chúc bạn một ngày thật ấm áp trong Thánh Tâm Chúa và Trái Tim Vẹn Sạch của Đức Mẹ. Nhớ mặc đồ đủ ấm nhé kẻo ho làm người xung quanh lại tưởng là bị COVID đấy.

Cha Vương

Thứ 6: 04/02/2022

GIÁO LÝ: Do đâu mọi người bình đẳng với nhau? Mọi người đều bình đẳng với nhau, vì họ có cùng một nguồn gốc, trong Tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa. Mọi người đều có cùng một Đấng Cứu chuộc là Chúa Giêsu Kitô. Mọi người đều có thể tìm kiếm và được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trong Thiên Chúa. (YouCat, số 61)

SUY NIỆM: Mọi người đều là anh chị em với nhau. Kitô hữu không được chỉ liên đới với các Kitô hữu khác nhưng với tất cả mọi người để chiến đấu mạnh mẽ chống các thứ chia rẽ vì kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giới tính, kỳ thị kinh tế trong gia đình nhân loại. (YouCat, số 61 t.t)

❦Hãy mở miệng bênh vực người câm, vì quyền lợi của mọi kẻ bị bỏ rơi. (Cn 31:8)

Ngày nay: rất nhiều người trên thế giới, rất nhiều, hàng triệu người, không có quyền ăn, không có quyền học hành, không có quyền làm việc: họ là những nô lệ mới, những người ở ngoại vi cuộc sống, những người bị bóc lột khai thác bởi tất cả mọi người. Ngay cả ngày nay vẫn có chế độ nô lệ: chúng ta hãy nghĩ về điều này một chút. Chúng ta phủ nhận nhân phẩm của những người này. Họ là nô lệ. (Nhận định của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung, 8/9/2021)

LẮNG NGHE: Căn tính mới này vượt qua mọi khác biệt về sắc tộc, xã hội và tôn giáo: trong Đức Kitô, “không còn phân biệt người Do Thái hay người Hy Lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ” (Gl 3:28).

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, trong ánh mắt Chúa nam nữ, già trẻ, giàu nghèo, mọi sắc tộc, tất cả đều có một phẩm giá cao trọng như nhau, xin ban thêm lòng mến cho con để con biết tôn trọng phẩm giá con người trên khuôn mặt những người con gặp hôm nay, nhất là thể hiện phẩm giá của mình bằng cuộc sống quảng đại, phục vụ và yêu thương.

THỰC HÀNH: Tập đối xử với tất cả những người xung quanh với một tấm lòng khoan dung yêu mến như Chúa vậy.

From: Đỗ Dzũng

ĐÊM TẠ ƠN  

ĐÊM TẠ ƠN

Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền

Một năm cũ sắp trôi qua và một năm mới sắp đến.  Trong khoảnh khắc giao thừa giữa cũ và mới này, chúng ta đến với Chúa, Đấng Tạo dựng muôn loài, Đấng làm chủ thời gian, để tạ ơn Ngài về 365 ngày sắp qua, và xin Ngài giúp chúng ta biết sử dụng 365 ngày sắp đến theo đúng thánh ý Ngài.

Đêm nay người ta vẫn gọi là đêm giao thừa, là nhịp cầu chuyển tiếp giữa cũ và mới.  Ai ai cũng mong muốn trút khỏi lòng mình mọi lo âu phiền muộn, không ai dám nhắc tới những rủi ro bất hạnh của ngày hôm qua, dường như ai cũng thầm mong ước cho đêm nay như là một khởi đầu tốt đẹp cho hành trình mới của tương lai.  Ai cũng gác lại quá khứ để bước vào năm mới trong niềm vui và hy vọng như câu ca dao xưa:

“Đêm ba mươi co cẳng đạp thằng bần ra cửa.

Sáng mồng một giang tay bồng ông phước vào nhà.”

Thực vậy, mùa xuân, ngày tết, ai cũng mong nhận được nhiều phước lộc, nên ai cũng chúc cho nhau nhiều tài lộc, nhiều tiền, nhiều của.  Những người có tín ngưỡng thì tin rằng may mắn, tiền của là ân lộc trời ban.  Nhưng phước hạnh đời người mà chúng ta cầu chúc cho nhau không chỉ là nhắm đến tài lộc mà là hạnh phúc miên trường, hạnh phúc của người có tâm hồn bình an.

Nhìn lại một năm qua, có những người được hạnh phúc vì làm ăn thuận buồm xuôi gió, công thành danh toại, có những người hạnh phúc vì tìm được chân lý, tìm được lẽ sống, tìm được bình an trong tâm hồn.  Nhưng vượt lên trên tất cả cái may mắn đó, chính là sự sống, là sự bình an của đời người. 

Sự sống luôn ở bên ngoài khả năng của chúng ta, sự sống của chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa.  Hạnh phúc là ân ban của Thiên Chúa.  Con người không thể kiến tạo hạnh phúc cho mình bằng thủ đoạn, bằng gian dối hay sự ác.  Con người phải sống ngay lành nhờ đó mà Thiên Chúa mới ban phúc lành là bình an.  Một năm qua với những vụ trọng án cho ta thấy con người không thể tạo dựng hạnh phúc cho mình bằng quyền lực để tham nhũng hại dân mà phải bằng tấm lòng luôn đi theo chân thiện mỹ.  Đâu ai ngờ một ông Đinh La Thăng dám nói dám làm đầy quyền thế lại phải hầu tòa?  Đâu ai ngờ một Trịnh Xuân Thanh luôn sống trong nhung lụa giầu có quyền thế lại phải thân tàn ma dại?  Đâu ai ngờ một đại gia Vũ Nhôm khuynh đảo thành phố đáng yêu Đà Nẵng lại có kết cục trong tù tội…?

Hạnh phúc đến từ lộc Trời ban xuống thì con người phải sống theo lẽ Trời.  Phải sống ăn ở ngay lành và làm việc thiện phúc đức.  Quy luật của trời đất là “Xởi lởi trời gửi của cho – Co ro trời co của lại.”   Càng gieo nhân nghĩa con người lại càng tìm được niềm vui hạnh phúc tự trong tâm hồn.  Đây gọi là tích đức để Trời sẽ ban hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình và cho mọi người thân nhờ công đức của ta.

Nếu hiểu rằng hạnh phúc – bình an là lộc ban từ Trời thì giây phút này là giây phút tạ ơn về quá khứ đã qua.  Tạ ơn Chúa đã ban cho chúng ta 365 ngày bình an.  Tạ ơn Chúa vì những biến cố xảy ra trong cuộc đời giúp ta nhận ra tình yêu của Chúa luôn bao bọc gìn giữ chúng ta.  Có thể đó là những đau khổ, là những mất mát nhưng chúng ta lại được bàn tay Chúa dìu dắt và bồng ẵm chúng ta qua những thăng trầm cuộc đời.  Tạ ơn Chúa đã cho chúng ta niềm tin tưởng vào Chúa, nếu không, biết đâu giờ này chúng ta đang rơi vào tâm trạng tuyệt vọng vì không đủ can đảm đối diện trước gian nan.

Nguyện xin Chúa Xuân đang về trên quê hương ban cho chúng ta những giây phút đầu xuân tràn đầy bình an và hoan lạc.  Xin Chúa Xuân chúc lành cho giây phút giao thừa này được vơi đi những ưu phiền để người người hưởng một mùa Xuân thánh ân hạnh phúc dư tràn.  Amen!

Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền

From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen

Bức Thư 6 Chữ Của Cô Bé 6 Tuổi Đã Làm Thay Đổi Cuộc Đời Tôi

Van Pham

GÓC SUY GẪM…

Bức Thư 6 Chữ Của Cô Bé 6 Tuổi Đã Làm Thay Đổi Cuộc Đời Tôi

Ngày hôm ấy, nếu tôi niềm nở hơn với cô bé thì có lẽ mọi chuyện đã khác. Phía dưới bức tranh của cô bé 6 tuổi gửi tặng tôi chỉ có 6 từ, nhưng chúng đã thay đổi cuộc đời tôi.

Cứ mỗi lần cảm thấy khó chịu hay bức bối, tôi lại thường lái xe đến nơi này, đó là một bãi biển vắng, cách nhà tôi 5 – 6 km bởi khi được ngắm biển, lòng tôi cảm thấy nhẹ nhõm và mọi muộn phiền dường như đều tan biến.

Lần ấy, khi đang đi dạo, tôi thấy một cô bé đang ngồi xây lâu đài trên cát hay cái gì đó, bỗng nhiên cô bé ấy ngẩng lên, đôi mắt xanh như màu nước và mở lời:

– “Chào chú”.

Tôi gật đầu, không muốn bị một đứa trẻ làm phiền

– “Cháu đang xây đây này!”, cô bé nói tiếp.

– “Chú thấy rồi! cháu xây gì vậy…”, tôi hỏi, dù chẳng quan tâm là mấy.

– “Cháu có biết đâu, cháu chỉ thích cảm thấy cát trong lòng bàn tay thôi!”.

Tôi nghĩ thầm “Nghe có vẻ hay đấy!”. Ngay lập tức, tôi cởi giày đi chân trần và cảm nhận những hạt cát li ti mát lạnh đang dưới chân mình.

– “Đó là niềm vui đấy!”, cô bé nói .

– “Mẹ cháu bảo cát mang niềm vui đến”.

Trong đầu tôi chợt nhớ đến câu nói: “Tạm biệt niềm vui, quay lại với nỗi buồn”.

Cuộc sống tôi đang bấp bênh, lòng tôi đang xao động và mọi thứ đối với tôi dường như là một sự mất cân bằng.

– “Tên chú là gì…?”, con bé này đúng là không chịu tha cho người ta!

Tôi đáp:

– “Ruth…Ruth Peterson”.

– “Cháu là Wendy, cháu 6 tuổi!”, cô bé nhanh nhảu tiếp lời tôi.

– “Ừ! Chào Wendy”.

– “Chú vui tính thật!”, cô bé cười một cách giòn giã rồi nói nhỏ:

– “Lần sau chú lại đến đây nhé, chú sẽ vui cho xem”.

Những tuần sau đó tôi bận rộn với nhiều việc khác, họp hành, bạn bè và mẹ tôi ốm. Đau đầu và mệt mỏi. Một buổi sáng, tội tự thấy mình cần có lại cảm giác của cát và tiếng sóng biển. Tôi lái xe đến bãi biển quen thuộc.

– “Chào chú!” (Không biết tự bao giờ cô bé cũng có mặt ở đó)

– “Chú có muốn chơi cát không…?”.

– “Cháu nghĩ gì thế…?”, tôi hỏi, cảm giác hơi khó chịu vì cứ bị làm phiền.

– “Cháu không biết”.

– “Cháu sống ở đâu…?”.

– “Đằng kia ạ!”, cô bé chỉ tay về phía những nhà nghỉ mùa hè.

– “Lạ thật!”, tôi nghĩ (vì bây giờ là mùa đông).

– “Thế cháu không đến trường à….?”.

– “Không ạ, mẹ nói cháu đang được nghỉ”.

Sau khi nói chuyện với cô bé tôi ra về. Trước khi tạm biệt, Wendy chia sẻ rằng cô bé rất vui, và đúng là chính bản thân tôi cũng thấy nhẹ nhõm hơn nhiều.

Ba tuần sau đó, tôi lại đến bãi biển trong tâm trạng tồi tệ, thậm chí không muốn chào Wendy. Tôi nghĩ nếu tôi gặp mẹ cô bé, tôi sẽ bảo bà ấy giữ cô bé ở nhà cho tôi nhờ.

– “Hôm nay chú muốn ở một mình!”, tôi nói ngay khi Wendy thấy tôi và chạy lại gần.

– “Tại sao ạ… mặt cô bé có vẻ tái xanh”.

Tôi quay sang gào lên:

– “Mẹ chú mất rồi!”.

– “Ôi!!!”, Wendy lẩm bẩm: “Thế thì hôm nay là một ngày xấu!”.

– “Đúng, cả hôm qua và hôm kia và …thôi cháu đi đi”.

Tôi không hiểu sao lại nổi giận với cô bé và chính bản thân mình.

– “Điều đó có buồn không ạ?”, Wendy vẫn hỏi.

– “Cái gì có buồn không…?”. Tôi nổi cáu khi không hiểu cô bé đang cố gắng hỏi điều gì.

– “Khi mẹ chú mất ấy!”.

– “Tất nhiên là có chứ!”. Tôi thở dài, đứng dậy ra về bỏ mặc lại cô bé nhỏ.

Một tháng sau tôi quay lại bãi biển, cô bé không còn ở đó chờ tôi nữa. Cảm thấy có chút xấu hổ vì lần nóng nảy trước và tự thừa nhận là tôi rất nhớ cô bé, tôi đi về phía mấy cái nhà nghỉ.

Sau khi hỏi được nơi cô bé ở, tôi gõ cửa và một phụ nữ bước ra. Tôi chắc mẩm là mẹ của Wendy.

– “Chào chị!”, tôi nói. “Tôi là Peterson. Bé Wendy đâu rồi ạ…?”

– “À! Anh Peterson, mời vào. Wendy hay nhắc đến anh. Tôi sợ rằng nó làm phiền anh, rất xin lỗi anh”.

– “Không ạ! Wendy là một cô bé tuyệt vời”.

Trong vài giây im lặng, mẹ cô bé bỗng rơi nước mắt và nói:

– “Wendy mất tuần trước rồi anh Peterson ạ. Nó bị bệnh bạch cầu. Chắc nó không nói với anh”.

Quá hụt hẫng, tôi phải tìm ngay một cái ghế để ngồi xuống. Tôi phải cố gắng để thở.

– “Nó rất thích bãi biển này nên tôi đưa nó đến đây. Nó khỏe lên, và nói là nó đã có những ngày vui vẻ. Nhưng vài tuần trước, nó đã nói về một ngày xấu và từ hôm ấy suy sụp rất nhanh”. Giọng người phụ nữ chùng xuống:

– “Nó có gửi lại một bức tranh cho anh, để tôi đi tìm. Anh chờ một chút”.

Một lát sau, người phụ nữ đưa cho tôi một chiếc phong bì nhỏ, ở ngoài viết chữ: “Gửi chú Peterson” bằng nét chữ trẻ con.

Bên trong là một bức tranh: Bãi biển, trời xanh và cát. Dưới bức tranh có viết: “Cát mang niềm vui cho chú!”. Tôi khóc.

Tôi nắm lấy tay mẹ Wendy nói: “Tôi xin lỗi, tôi xin lỗi!”, và chúng tôi cùng khóc, nước mắt dường như thay cho lời nói, tôi cảm thấy trái tim mình như chết lặng. Thì ra cô bé bị mắc bệnh bạch cầu và sự sống chỉ còn tính bằng ngày, ấy vậy mà nó vẫn vui vẻ và lạc quan quá!

Bức tranh nhỏ, quý giá ấy bây giờ đã được lồng vào khung và treo trong phòng tôi. Sáu từ mà Wendy viết trong bức tranh – mỗi từ như một năm tuổi của cô bé – luôn nhắc nhở tôi bình tĩnh và luôn động viên tôi.

Một món quà từ cô bé mắt màu xanh biển và tóc màu cát đã dạy tôi biết coi trọng thời gian của cuộc sống và biết nhận thấy sự yêu thương.

Trích dịch từ tạp chi Mama’s Journey

Thánh Blase (Biagio)

Thánh Blase (Biagio)

 Trong tâm tình của ngày mùng 3 Tết là ngày cầu xin Chúa thánh hoá công ăn việc làm. Chúc Tết! Chúc Tết! Mời bạn hãy dâng lên Chúa tất cả những công việc sẽ làm trong năm mới này, cùng với những lao nhọc cực khổ bạn sẽ gặp.

* Xin Chúa giúp bạn có việc làm để nuôi sống bản thân và gia đình.

* Xin Chúa giúp bạn cảm thấy hạnh phúc trong công việc của mình.

* Xin Chúa mở rộng con tim của bạn để bạn biết chia sẻ cho những người túng thiếu.

* Nhất là, xin Chúa giúp bạn được nên thánh trong công việc hằng ngày—bằng cách khi làm việc, bạn không quên Chúa, nhưng luôn nhớ đến Chúa và cậy nhờ vào Ngài.

Cha Vương

Thứ 5: 03/02/2022

Hôm nay cũng là ngày Giáo hội mừng kính Thánh Blase (Biagio), mời Bạn suy niệm về đời sống nhân đức của Ngài nhé.

Chúng ta biết nhiều về sự sùng kính của Kitô Hữu đối với Thánh Blase hơn là tiểu sử của ngài. Trong Giáo Hội Ðông Phương, ngày lễ kính ngài được coi là một ngày lễ lớn. Công Ðồng Oxford, vào năm 1222 đã cấm làm việc xác trong ngày lễ Thánh Blase (hay còn gọi là Thánh Biagio). Người Ðức và người Ðông  Âu rất kính trọng thánh nhân, và trong nhiều thập niên, người Công Giáo Hoa Kỳ thường chạy đến với thánh nhân để xin chữa bệnh đau cổ họng.

Chúng ta được biết Ðức giám mục Blase chịu tử đạo năm 316 ngay trong giáo phận của ngài ở Sebaste, Armenia. Mãi cho đến 400 năm sau mới có huyền thoại viết về ngài. Theo đó, Thánh Blase là một giám mục tốt lành, làm việc vất vả để khuyến khích giáo dân sống lành mạnh về tinh thần cũng như thể xác.

Mặc dầu chỉ dụ Toleration, năm 311, đã cho phép tự do tôn giáo ở Ðế Quốc Rôma hơn năm năm, nhưng ở Armenia, việc bách hại vẫn còn dữ dội. Hiển nhiên là Thánh Blase buộc phải rời bỏ giáo phận và sống trong rừng núi. Ở đó ngài sống trong cô độc và cầu nguyện, làm bạn với thú rừng.

Một ngày kia, có nhóm thợ săn đi tìm thú dữ để dùng trong đấu trường và tình cờ họ đã thấy hang động của Thánh Blase. Từ kinh ngạc cho đến sợ hãi, họ thấy vị giám mục đi lại giữa đám thú dữ một cách điềm tĩnh để chữa bệnh cho chúng. Nhận ra ngài là giám mục, họ bắt ngài về để xét xử. Trên đường đi, ngài ra lệnh cho một con sói phải thả con heo nó đang cắn giữ vì đó là của người đàn bà nghèo. Khi Thánh Blase bị giam trong tù và bị bỏ đói, người đàn bà này đã đền ơn ngài bằng cách lẻn vào tù cung cấp thức ăn cho thánh nhân.

Ngoài ra, truyền thuyết còn kể rằng, một bà mẹ có đứa con trai bị hóc xương đã chạy đến ngài xin cứu giúp. Và sau lời truyền của Thánh Blase, đứa bé đã khạc được chiếc xương ra khỏi cổ.

Agricolaus, Thủ Hiến xứ Cappadocia, tìm mọi cách để dụ dỗ Thánh Blase bỏ đạo mà thờ tà thần. Lần đầu tiên từ chối, ngài bị đánh đập. Lần kế tiếp, ngài bị treo trên cây và bị tra tấn bằng chiếc lược sắt cào vào thân thể. Sau cùng ngài bị chém đầu năm 316. Người được tôn kính như quan thầy các thợ chải len, những người bị đau cuống họng. (Nguồn: Người Tín Hữu online)

Sau đây là Kinh cầu Thánh Blase được dùng để khẩn cầu cho những ai mang bệnh của cổ họng: “Qua lời cầu bầu của Thánh Blase, là giám mục và là vị tử đạo, xin Thiên Chúa chữa con khỏi bệnh tật của cổ họng và khỏi mọi sự dữ. Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần” (Kinh cầu Thánh Blase). Xin Thánh Blase, cầu cho chúng con!

From: Đỗ Dzũng

THÁNH THIỆN VÀ TỘI LỖI

THÁNH THIỆN VÀ TỘI LỖI

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Thánh thiện và tội lỗi là hai phạm trù đối lập nhau.  Thánh thiện thuộc về Thiên Chúa và tội lỗi là bản chất của con người.  Hai nhân vật được nêu trong Lời Chúa hôm nay, một trong Bài Cựu ước và một trong Bài Tin Mừng, đã khẳng định sự tách biệt này.  Khi được chiêm ngưỡng vinh quang của Thiên Chúa với lời tung hô ba lần “Thánh!  Thánh!  Thánh”, ngôn sứ Isaia đã thốt lên: “Vô phúc cho tôi!  Tôi chết mất, vì lưỡi tôi nhơ bẩn, tôi ở giữa một dân tộc mà lưỡi họ đều nhơ nhớp, mắt tôi đã trông thấy Đức Vua, Người là Chúa các đạo binh.”  Về phần ông Phêrô, khi chứng kiến mẻ lưới lạ, đã khiếp đảm thú nhận: “Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi.”  Phản ứng của hai nhân vật trên đây cho thấy quan niệm của Do Thái giáo về sự cách biệt giữa Thiên Chúa và con người, vì Thiên Chúa là Đấng Chí thánh và con người là kẻ phàm hèn tội lỗi.  Sự khác biệt này đã tạo một khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người.  Khoảng cách ấy ngặt nghèo đến nỗi, nếu con người lỡ nhìn thấy Chúa, thì phải chết.

Nếu con người lo sợ và mặc cảm về thân phận tội lỗi của mình, thì Thiên Chúa lại chủ động đến với họ.  Thiên Chúa trong Cựu ước đã trấn an ông Isaia: “Hãy nhìn xem, than lửa này đã chạm đến lưỡi ngươi, lỗi của ngươi được xoá bỏ, và tội của ngươi được thứ tha.”  Đức Giêsu trong Tân ước thì lại nói với ông Phêrô: “Đừng sợ hãi: từ đây con sẽ là kẻ chinh phục người ta.”  Thật lạ lùng!  Thiên Chúa không những bỏ qua thân phận tội lỗi của con người, mà còn chọn gọi họ như những cộng sự viên thân cận của Ngài.  Ông Isaia và ông Phêrô không những không phải chết, mà còn được gọi và sai đi để loan truyền giáo huấn của Thiên Chúa, giúp cho nhiều người nhận biết Ngài.  Quả thật, ông Isaia và ông Phêrô đã nhiệt thành đáp lại lời mời gọi của Chúa, trở nên ngôn sứ và tông đồ của Ngài.

Thiên Chúa đã lấp đầy khoảng cách giữa Ngài với chúng ta.  Không chỉ chủ động đến gần con người tội lỗi, Chúa Cha còn sai Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô đến trần gian để sống thân phận con người.  Người thánh thiện, mà chấp nhận hòa mình vào đám đông tội nhân đang xin ông Gioan Tẩy giả làm phép rửa.  Người là Đấng vô tội mà bị kết án như một kẻ bất lương.  Người là nguyên lý của sự sống mà đã phải mang lấy cái chết trên thập giá.  Qua Đức Giêsu, nhờ Đức Giêsu và trong Đức Giêsu, con người tội lỗi được trở nên con Thiên Chúa là Đấng Chí Thánh.  Đây là sự trao đổi nhiệm màu: Con Thiên Chúa mang lấy tội lỗi của con người để con người được làm con Thiên Chúa.

Con Thiên Chúa đã làm người để giao hòa nhân loại với Thiên Chúa.  Từ nay, không ai còn mặc cảm thân phận tội lỗi nữa.  Hết thảy đều được Thiên Chúa yêu thương và mời gọi làm sứ giả của Ngài giữa lòng thế giới.  Thánh Phaolô là một bằng chứng: ông thú nhận mình đã từng giết hại các tín hữu, nhưng khi được Chúa quy phục, ông đã ăn năn sám hối và cuộc đời của ông đã sang trang.  Ông tâm sự: “Tôi vốn là kẻ hèn mọn nhất trong các tông đồ, và không xứng đáng được gọi là tông đồ, vì tôi đã bắt bớ Hội Thánh của Thiên Chúa.  Nhưng nay tôi là người thế nào, là nhờ ơn của Thiên Chúa, và ơn của Người không vô ích nơi tôi, nhưng tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn tất cả các Đấng: song không phải tôi, nhưng là ơn của Thiên Chúa ở với tôi” (Bài đọc II).  Đó là điều kỳ diệu của tình thương.  Phaolô luôn tâm niệm điều này và ông thấy có bổn phận làm cho vương quốc của Chúa sớm được thực hiện nơi trần gian.

Isaia, Phêrô, Phaolô, ba con người xuất thân từ ba hoàn cảnh xã hội khác nhau, nhưng có chung một lý tưởng và một ơn gọi: làm sứ giả của Chúa và nhiệt thành loan báo lời Ngài.  Hôm nay, Chúa vẫn đang kêu gọi chúng ta.  Đừng mặc cảm cho rằng mình bất xứng hay bất tài.  Ơn của Chúa sẽ phụ giúp và ban cho chúng ta sức mạnh.  Về phía chúng ta, chúng ta cần đáp lại lời mời gọi của Chúa, bằng tâm tình yêu mến, nhiệt thành và thiện chí.  Chúa sẽ làm cho chúng ta trở nên những dụng cụ hữu ích trong Giáo Hội của Người.  Qua những dụng cụ bé mọn ấy, Chúa tiếp tục làm nên những mẻ cá kỳ diệu, và làm cho cuộc sống này nở hoa.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim