Đốt đuốc nhìn lại giáo dục Việt Nam Cộng Hòa

Minh-Triết Lâm Minh-Nghị  PHƯỚC TUY QUÊ HƯƠNG TÔI

Đốt đuốc nhìn lại giáo dục Việt Nam Cộng Hòa

Miền Nam từng có một nền giáo dục huy hoàng. Thành ra người Miền Nam chúng ta có toàn quyền ,có thể so sánh giữa “ngày nay” và “trước kia”.

Khi mà ngày nay người ta cứ làm những trò “cải cách”, đòi sửa này, chỉnh kia, bỏ nọ nhưng bản chất và cái gốc là cách dạy và chất lượng thì họ không đá động gì tới và cũng không có khả năng.

Việt Nam Cộng hòa hồi xưa phổ cập giáo dục tiểu học, trẻ em đi học tại trường công miễn phí và có sữa uống miễn phí luôn, sách giáo khoa không là gánh nặng của con nhà nghèo vì rất rẻ và đời anh xài tới đời em chỉ có mấy cuốn.

Từ lớp 6 trở đi thì học trò không được phổ cập. Tức lớp 5 sẽ thi tuyển vào lớp 6 trung học đệ nhứt cấp với những kỳ thi cực kỳ kinh khủng, chỉ lấy có 62% vào trường công, 38% vào trường tư học hoặc có thể nghĩ học nghề.

Đến cuối năm lớp 11, học sinh phải thi Tú tài I, cuối năm lớp 12 phải thi Tú tài II.

Tú tài 1 chỉ lấy khoảng 15–30% và Tú tài 2 lấy khoảng 30–45%.

Có bằng tú tài 2 là thành một người công dân trí thức lịch lãm của VNCH rồi.

Ngày nay thì học trò thi lớp 12 đậu gần hết, có nơi 100%,trình độ thì “rất cao”, trường ĐH nhiều hơn sinh viên, cái bằng cử nhân giờ tương đương tú tài, rồi “Thạc sĩ” và “Tiến sĩ” thì nhiều như lá rụng. Xã hội trí thức nhiều nhưng ảo, chẳng làm được tích sự gì, giống như vẻ bùa đeo cho liệu pháp xã hội vậy.

Học trò VNCH được dạy từ nhỏ triết lý, luân lý, đạo đức, cách xử sự và sống chuẩn mực với xóm làng, xã hội, quốc gia, dạy cho con người biết cách sống trong xã hội, biết nền văn hóa mà con người được sanh ra trong đó để sống cho thích hợp.

Cách ăn uống, lễ phép, cách đối xử, các nghề nghiệp sanh sống, phong tục tập quán.

Nền giáo dục của VNCH gói gọn trong ba chữ : Nhân bản, Dân tộc, và Khai phóng.

Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa lấy con người làm nền, dạy tình thương, lòng trắc ẩn giữa người và người với nhau, người làm gốc, đó là giáo dục nhân bản.

Con người khác thú vật là con người có suy tư, có sáng tạo và làm cho đời sống càng ngày càng nâng cao. Con người cần được no cơm ấm áo, tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng.

Con người trước nhứt là phải biết yêu thương nhau, tôn trọng nhau tối thiểu, hiếu thảo, yêu thương gia đình, kính trọng ông bà cha mẹ, yêu thương họ hàng thân tộc, kính trọng thầy cô, có lương tâm trong mọi sanh hoạt, có trách nhiệm với tha nhơn, góp phần bảo vệ cuộc sống cho xã hội.

“Cha sanh, mẹ dưỡng,

Đức cù lao lấy lượng nào đong.

Thờ cha mẹ ở hết lòng,

Ấy là chữ hiếu dạy trong luân thường.

Chữ đễ nghĩa là nhường,

Nhường anh, nhường chị lại nhường người trên.

Ghi lòng tạc dạ chớ quên,

Con em phải giữ lấy nền con em “

(Quốc Văn Giáo Khoa Thư)

Giáo dục Việt Nam Công Hòa là giáo dục dân tộc, nó hướng người VN biết tự hào nguồn gốc, màu da của mình, biết trân trọng lịch sử của ông bà tổ tiên, biết lòng tự trong dân tộc để đi ra nước khác gìn giữ cái liêm sỉ của ông bà mình.

Giáo dục Việt Nam Công Hòa là giáo dục khai phóng. Tức là open, cởi mở, giáo dục con người tánh sáng tạo, không gò bó, không thắt não, không nhồi sọ.

Con người tiếp nhận kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

Giáo dục Việt Nam Công Hòa cũng dạy con người tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân, biết nhìn cái sai cái đúng trong chính bản thân mình, sai thì chịu trách nhiệm và sửa từ từ để tốt hơn.

Nền giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa rất tuyệt vời. Nó dạy cho con người kiến thức và đạo đức song song.

Trong xã hội có những cá nhơn khác biệt, nhưng không thể đánh giá con người qua sự khác biệt đó để kỳ thị giàu nghèo, giới tính, tôn giáo, địa phương, chủng tộc.

Mọi người đều được hưởng đồng đều về giáo dục.

Một người có giáo dục, có nhơn cách sẽ là một công dân tốt, có tình yêu quê hương đất nước, sống đàng hoàng.

Một nền giáo dục mà không dạy đạo đức nó tạo ra xã hội có đạo đức bị băng hoại, con người lương tri và lương năng cũng mất.

Khi đạo đức biến mất thì xã hội sẽ không có trật tự, an ninh, thường xảy ra trộm cướp, giết người, con người mất dạy, ý thức buông bỏ, con người không tôn trọng nhau khiến cho cuộc sống của con người đầy dẫy sự đau khổ và bất an.

Một đất nước không đạo đức là một đất nước không phồn vinh, thạnh trị, mưa không thuận gió không hòa, lòng dân oán thán, khi đó sẽ có loạn lạc.

Giáo dục Việt Nam Cộng Hoà là nền giáo dục hiệu quả và tiến bộ.

Trình độ giáo dục VNCH là thiệt và thế giới công nhận. Bằng cấp của VNCH được thế giới công nhận.

Bằng cấp của VN ngày nay chẳng có nước nào công nhận.

Đường xá ngày nay dơ hơn thời trước 1975. Sông hồ ngày nay dơ hơn trước 1975.

Đồ ăn ngày nay dơ hơn trước 1975, ung thư người VN cao hơn trước 1975.

Con nít ngày nay mất dạy kinh khủng, điều này trước 1975 là ít có. Xã hội ngày nay loạn thất kinh, không có một giới hạn nào hết, điều mà trước 1975 rất rõ ràng giới hạn.

Và rất nhiều không kể hết.

Nhiều người may mắn lớn lên trong một gia đình, trong một xã hội mà ông bà cha mẹ vẫn giữ nề nếp của Miền Nam thời VNCH với một nền lễ giáo cổ truyền Việt Nam còn sót lại, tôn trọng các giá trị gia đình cao đẹp từ ngàn xưa, những tin yêu vào tình đời tình người, vào cái chung vẫn còn mạnh mẽ dữ lắm.

Có thể nói, dư âm giá trị di sản VNCH là đồ cổ, nhưng rất quý.

Không cách nào xóa bỏ di sản VNCH trong lòng người Miền Nam.

Nghĩ về cái xưa ta tiếc đứt ruột, dân tộc này vô phước vô phần.

–nguồn Nguyễn Gia Việt

GẶP LÀNH

GẶP LÀNH

Năm 2020 tôi có đăng một bài tựa đề là “Thầy Tôi” trên group “Phước Tuy quê hương tôi” viết về người thầy dạy môn Pháp Văn của mình : thầy Trần Ba. Tôi viết về thầy bởi vì vào năm 1977, có một câu chuyện buồn mà thầy là nhân vật chính, nói đúng hơn thầy là một nạn nhân của sự thù hận của bên thắng dành cho bên thua. Một lý do khác, tôi mong qua bài viết, hy vọng có ai đó sẽ đọc được và cho tôi biết tin tức của thầy.

Nhắc lại câu chuyện buồn này một chút, vào một ngày của năm 1977, cả trường đang trong giờ học, có 2 người bộ đội hay công an gì đó vào thẳng văn phòng giáo viên bắt thầy Trần Ba và giải thầy từ văn phòng ra sân trường trước sự chứng kiến của nhiều học trò và thầy cô. Hôm đó tôi ngồi cạnh cửa sổ nên đã nhìn thấy rõ mọi việc, thầy còn dắt theo chiếc xe đạp cũ không có cạc te đi giữa 2 tay công an. Lúc đó, tôi đã lờ mờ đoán được thầy bị bắt vì cái tội gọi là “phản động” hay “xê i a” gì đó. Những năm đầu sau 75, người dân bị bắt không có gì lạ, có thể bị bắt vì một lý do vu vơ nào đó, không cần trác toà hay công tố. Công an bao luôn công việc của ngành tư pháp. Trong chuyện này, chỉ có một điều làm tôi ưu tư mãi là tại sao người ta không bắt thầy ở một địa điểm nào khác, chẳng hạn như bên ngoài trường hoặc tại nhà riêng, mà lại bắt một người giáo sư trung học trước mặt các học trò của mình trong sân trường? Không lẽ người ra lịnh bắt thầy chưa bao giờ đi học và chưa bao giờ có thầy cô? Vô lý, không học sao làm sếp được! Chỉ còn một lý giải nghe có lý : lòng thù hận.

Trước khi đăng bài “Thầy Tôi” lên group Phước Tuy, tôi chưa có tin tức gì của thầy Trần Ba kể từ ngày thầy ra tù năm 1982, sau 5 năm bị giam cầm ở Biên Hoà. Ngày thầy ra tù, tôi và 2 người bạn có đến thăm thầy nhưng không dám nói chuyện nhiều vì …sợ công an theo dõi. Sau lần gặp đó, tôi không còn cơ hội gặp thầy lần nào nữa vì ai cũng phải lo đi tìm kế sinh nhai. Một thời gian sau, nhờ bài đăng trên group Phước Tuy, tôi nhận được tin nhắn của một người thuộc thế hệ đàn anh cùng quê Phước Tuy, anh nhắn cho tôi số phone và nơi ở của thầy thuộc tiểu bang Oregon bờ tây nước Mỹ. Mừng quá, tôi vội vàng gọi ngay cho thầy. Thật may mắn, người bắt máy hôm đó chính là thầy. Thầy nhớ ra tôi ngay, vì lúc đi học thầy trò chúng tôi thường đi lao động, ăn cơm và nói chuyện với nhau. Hồi đó thầy hay gọi tôi bằng tiếng “con” nghe rất thương, bây giờ thầy cũng gọi tôi như vậy.

Hôm đó thầy trò chúng tôi nói chuyện với nhau hơn 2 tiếng đồng hồ. Thầy kể lúc bị bắt, thầy hoàn toàn không biết vì lý do gì, phạm tội gì. Nhưng sau này thầy biết có một người đã báo cho công an là thầy làm “xê i a” cho đế quốc Mỹ. Họ đã điều tra thầy suốt 5 năm trời mà không tìm ra một bằng chứng nào để kết tội, cuối cùng đành phải thả thầy ra. Sau khi ra tù, dù vô tội, thầy vẫn không được đi dạy lại nên phải làm nghề “buôn chuyến” để kiếm sống. Các con của thầy vì mang “lý lịch xấu” do có cha “phản động” ở tù nên cũng không thể học hành và xin việc làm được. Cuộc sống của gia đình thầy thời gian đó rất khó khăn. Trong một lần đi buôn chuyến, thầy bị một người học trò cũ ở Đất Đỏ làm cán bộ thuế vụ tịch thu hết hàng hoá. Hết vốn, thầy đành phải trở về Đất Đỏ làm rẫy. May mắn thay, đến năm 1997 thầy và vợ thầy được sang Mỹ theo diện di dân do người em vợ của thầy bảo lãnh, nhưng các con của thầy vẫn còn ở lại.

Thầy trò thường nhắc lại kỷ niệm cùng đi lao động ngày xưa, dù thiếu ăn nhưng ai cũng phải ráng cuốc nhằm đạt thành tích “lao động tiên tiến” để lấy điểm. Thời đó lao động là vinh quang, chỉ có đào bới xới cuốc đổ mồ hôi hột mới được gọi là “lao động”, còn những nghề khác như y tá, bác sĩ, dạy học…đều là “phi lao động”.

Tết vừa rồi, thầy cho tôi biết các con của thầy đã được sang Mỹ, cả gia đình đoàn tụ và có cuộc sống ổn định. Thầy còn nói cho tôi biết tên của tay công an huyện đã đến trường bắt thầy ngày hôm đó. Tôi nghe xong giựt mình. Thì ra tay công an đó có bà con họ hàng với bên ngoại của tôi, tôi gọi ông ta là cậu. Sau khi bắt thầy vào tù chỉ một thời gian ngắn, tay công an này đã bị tai nạn xe mất mà chưa kịp hưởng thành quả cách mạng của mình.

Cứ mỗi lần nói chuyện phone với thầy, câu cuối cùng trước khi từ giã mà thầy hay nói với tôi là :”Ở hiền gặp lành nhen con”. Tôi nghĩ thầy đã trải qua một khoảng đời tựa như một bi kịch, nhưng cuối cùng lại là một kết thúc có hậu : GẶP LÀNH.

(Hình các giáo sư trường trung học Đất Đỏ, Phước Tuy năm 1968. Thầy Trần Ba đứng thứ 3 từ trái sang)

Hoa Kỳ: Quản lý tà đạo bằng con đường “xã hội hóa”

Hoa Kỳ: Quản lý tà đạo bằng con đường “xã hội hóa”

Dùng nguồn lực của xã hội để chống lại ảnh hưởng xấu của các tư tưởng cực đoan.

On 18/02/2022

By  NGUYỄN QUỐC TẤN TRUNG

Một cảnh trong phim tài liệu “The Source Family” (2012) của đạo diễn Jodi Wille, kể về một giáo phái cùng tên tại Mỹ. Nguồn: Netfilx.

Trong bài viết trước, người viết đã bàn về hệ lụy của việc không có những công cụ bảo vệ xã hội khỏi những tư tưởng cực đoan của các nhóm cuồng tín và tà đạo (cult/ heresy). [1] Bài viết này một lần nữa khẳng định nhu cầu phải quản lý nhà nước đối với tôn giáo.

Tuy nhiên, quản lý nhà nước đối với tôn giáo không đồng nghĩa với hành động cầm tay chỉ việc hay can thiệp sâu vào các hoạt động tôn giáo – một việc hoàn toàn có khả năng vi phạm các quy định về quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo trong hệ thống pháp luật nhân quyền quốc tế.

Vậy làm thế nào để quản lý nhà nước về tôn giáo mà không nhất thiết phải thao túng sâu vào cấu trúc tổ chức và hoạt động của một tôn giáo? 

Trường hợp của Hoa Kỳ cung cấp nhiều kinh nghiệm đáng tham khảo.

Trước tiên, cần khẳng định rằng Tu chính án thứ Nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ bảo vệ ở mức độ gần như là tuyệt đối sự thành lập của các nhóm cuồng tín, thậm chí là tà đạo.

Nói cách khác, chính phủ Hoa Kỳ sẽ không can thiệp kiểm soát trước vào câu chuyện xác định ai được xem là tôn giáo, ai không được xem là tôn giáo, ai là tà đạo, ai không phải là tà đạo, v.v.

Song điều này cũng dẫn đến những công cụ và những thảo luận pháp lý có một không hai.

“Deprogramming”: Toàn dân du kích chống giáo phái cuồng tín

Một trong những công cụ tư nhân nổi bật nhằm chống lại các giáo phái cuồng tín và tà đạo tại Hoa Kỳ là các chương trình “deprogramming”, tạm dịch là “giải giáo”.

Đây là các chương trình tư nhân có mục tiêu giáo dục, đào tạo và thuyết phục thành viên của các giáo phái cuồng tín, rằng thứ đức tin mà họ đang theo đuổi có vấn đề, là sai lầm và nguy hại cho gia đình lẫn xã hội.

Phong trào, hay nói đúng hơn là “dịch vụ giải giáo”, thường phục vụ các gia đình của những thành viên đang hoạt động bên trong các giáo phái . Thập niên 1960 – 1970 là giai đoạn làn sóng giáo phái tại Hoa Kỳ nở rộ với hàng ngàn giáo phái mới được thành lập. Những cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ giải giáo cũng phất lên từ đó. [2]

Gói dịch vụ này ban đầu bao gồm cả việc tạm “bắt cóc” thành viên gia đình đang tham gia giáo phái (với sự đồng thuận của các thành viên còn lại trong gia đình).

Các bước tiếp theo của quá trình giải giáo có thể từ nhẹ nhàng như trò chuyện, thuyết phục, giảng giải đạo đức hay áp dụng các biện pháp tâm lý trị liệu, cho đến các biện pháp nặng đô hơn như gây áp lực tinh thần.

Một cảnh giải giáo (deprogramming) trong bộ phim tài liệu “Deprogrammed” (2015).

Một số lượng đáng kể các nhà tâm lý học lâm sàng, bác sĩ tâm thần, và thậm chí các luật gia – luật sư ủng hộ cách tiếp cận và các biện pháp của những chương trình giải giáo này. [3] Nó giúp cho ngành công nghiệp giải giáo – do tư nhân thành lập, điều chỉnh và cung ứng vốn – trở thành một ngành được thừa nhận rộng rãi trong nền kinh tế Hoa Kỳ.

Dù rất nhiều giáo phái mới rao giảng những giáo điều đi ngược lại nhiều giá trị đạo đức cộng đồng nói chung và nhu cầu quản lý nhà nước nói riêng, các cơ quan chức năng không thể can thiệp vào hoạt động của các giáo phái này vì chúng không vi phạm Hiến pháp Hoa Kỳ.

Thay vào đó, nhà nước vừa khuyến khích người dân tự nguyện rút khỏi các giáo phái, vừa ngầm ủng hộ các dịch vụ giải giáo.

Vậy kỹ thuật ủng hộ của họ ra sao?

Các công cụ tư pháp

Đọc đến đây, có lẽ nhiều bạn đọc đang có vài câu hỏi về nội dung đoạn trước.

“Bắt cóc”?

Chẳng phải như vậy là trái luật hay sao? 

Hoa Kỳ, một nước tôn trọng nhân quyền, thượng tôn pháp luật, sao lại cho phép chuyện như thế?

Đây sẽ là chỗ mà các cơ quan tư pháp Hoa Kỳ cho thấy sự can thiệp nhất định của họ vào việc ủng hộ những nỗ lực tư nhân trong việc kiểm soát các giáo phái.

Để bắt đầu, chúng ta cần tìm hiểu hai thuật ngữ: “colour of law” và “conservatorship”.

“Conservatorship” là một khái niệm tư pháp trong hệ thống thông luật Hoa Kỳ. Nó cho phép một thẩm phán, dựa trên các bằng chứng mà họ có, tuyên trao cho một người trong gia đình quyền đại diện và kiểm soát hành vi dân sự của một thành viên khác vì thành viên này không còn đủ năng lực hành vi.

Nếu đối chiếu với hệ thống pháp luật Việt Nam, chúng ta có thể hiểu khái niệm này là gần tương tự với việc “giám hộ người mất năng lực hành vi dân sự” (trong trường hợp của Hoa Kỳ thì không đến mức mất năng lực).

Sau khi giành được quyền này, gia đình của một giáo dân có thể sử dụng vũ lực đúng mức để giữ và ngăn cản thành viên, không cho tiếp tục tham gia giáo phái, buộc họ điều trị theo các chương trình giải giáo.

Trong quá trình thực hiện thẩm quyền này, gia đình và tổ chức thực hiện dịch vụ giải giáo sẽ hoạt động dưới danh nghĩa “the colour of law”. Nói cách khác, các hành vi vũ lực mà gia đình có thể thực hiện được sự “ủy quyền ban đầu” của pháp luật.

Những thành viên bị “bắt cóc” hoàn toàn có thể khởi kiện, yêu cầu tuyên sự ủy quyền và các hành động của gia đình là bất hợp pháp. [4] Tuy nhiên, thành viên gia đình tham gia vào các giáo phái ít khi thành công khi kiện gia đình của mình. [5]

Ban đầu, các thẩm phán địa phương khá ngại ngần trong việc cho các gia đình dùng quyền giám hộ để tạm giữ và giải giáo cho con cái của mình.

Song cùng với làn sóng giáo phái cuồng tín và tà đạo trỗi dậy quá mạnh mẽ, cân nhắc những trói buộc dành cho cơ quan công quyền theo Tu chính án thứ Nhất như đã nói ở trên, nhiều tiểu bang quyết định mở rộng các quy định liên quan đến “conservatorship”.

Ví dụ, ở tiểu bang Arizona, các nhà lập pháp thậm chí cho phép các thẩm phán trao “conservatorship” cho ba mẹ hay gia đình nói chung để can thiệp vào quá trình giải giáo của con hoặc thành viên trong gia đình mà không cần trải qua các thủ tục thông báo (notice) hay trình bày, tranh biện tại tòa (hearing). Trong các trường hợp khẩn cấp, bang Arizona khuyến khích trao cho gia đình cơ chế giám hộ tạm thời (temporary guardianship) kéo dài ba mươi ngày. [6]

Và ba mươi ngày thật ra cũng là quá đủ đối với các chương trình giải giáo. 

***

Sau khi đạt đỉnh ở thập niên 1970 – 1980, phong trào thành lập các giáo phái mới ở Hoa Kỳ hạ nhiệt. Các chương trình giải giáo và các công cụ tư pháp mà chính quyền tiểu bang trao cho hệ thống tư pháp của mình cũng dần bị bãi bỏ.

Nhìn chung, có thể thấy ngay cả ở quốc gia tôn trọng tự do tôn giáo đến mức gần như tuyệt đối như Hoa Kỳ, việc điều chỉnh hệ thống pháp luật để thích ứng với những thách thức quản lý nhà nước đối với tôn giáo không phải là không có.

Điểm thú vị nhất là họ lại trao quyền đó cho tư nhân và thị trường.

Đọc thêm: Tự do tôn giáo và bài toán “tà giáo”: Từ góc nhìn quản lý nhà nước

 Những hiểu lầm về tự tử

 Những hiểu lầm về tự tử

  • TS Nguyễn Phương Mai
  • Viết cho BBC News Tiếng Việt 

BBC 19/02/2022.

Câu chuyện bạn sinh viên đeo đá tự vẫn mới đây khiến chúng ta ai nấy đều đau đớn. Đó không chỉ là một cái chết thương tâm mà còn là bao nhiêu câu hỏi sẽ còn quanh quẩn day dứt với người ở lại. 

Trong những khắc khoải đòi câu trả lời ấy, có một vài điều chúng ta cần chia sẻ rộng hơn để xã hội thêm sự thấu cảm với những cái chết như vậy.    

Chỉ những người bị trầm cảm hay có vấn đề về tinh thần mới tự sát 

Đúng là trầm cảm chiếm tỷ lệ lớn, đôi khi đến 50% số người tự sát. Tuy nhiên, lý do để một người chấm dứt cuộc đời đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau. 

Theo một báo cáo của UNICEF ở Việt Nam, lý do tự sát vô cùng đa dạng: áp lực học hành, bị bắt nạt, thất tình, bất hạnh và xung khắc với gia đình, gánh nặng kinh tế, bị ép buộc cưới sớm hoặc bị cản trở trong hôn nhân, áp lực phải thành công và mạnh mẽ…vv.

Như vậy, ta không nên coi tất cả những người tự tử là bệnh nhân trầm cảm vì như vậy giải pháp sẽ chỉ dồn về việc chữa trị một căn bệnh. Trong khi đó, nguyên nhân tự sát không chỉ là một căn bệnh đơn lẻ. Rất nhiều áp lực, bất công và vấn đề trong cuộc sống hàng ngày đều có thể là lý do để người thân của chúng ta tìm đến cái chết. 

Trong báo cáo của UNICEF về Việt Nam có một chi tiết khá quan trọng, đó là việc sống riêng có tác dụng bảo vệ người có ý định tự tử. Lý do có thể đến từ việc cha mẹ mong đợi quá nhiều ở con cái, biến yêu thương thành áp lực.      

Những người tự tử thường hành động bất ngờ, chẳng có dấu hiệu gì báo trước

Một trong những hình xăm tạo viral trên mạng khi mới xuất hiện là dòng chữ “I’m fine” (tôi ổn mà), nhưng khi nhìn ngược lại, chính dòng chữ ấy có thể đọc là “save me” (cứu tôi với). 

Khi một người ra đi, họ đã bằng nhiều cách khác nhau để lại những tín hiệu của dự định tìm đến cái chết. Câu hỏi là liệu xung quanh họ có những người đủ gần gũi, đủ sắc bén, đủ thấu cảm để nhận ra những tín hiệu đó?

Danh sách những tín hiệu của ngõ cụt, đường cùng bao gồm: xa lánh người xung quanh, buồn bã, không chăm sóc bản thân, có hành vi khác thường, thay đổi thói quen ăn uống và sinh hoạt theo hướng tồi tệ hơn, giận giữ, mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều, dùng chất kích thích, tự làm đau bản thân, than thân trách phận, có cái nhìn bế tắc với cuộc sống, tin rằng mình là gánh nặng cho người khác, coi bản thân là sự thất bại, tự coi mình là vô nghĩa, và bộc lộ suy nghĩ về tự sát. 

Từ khía cạnh sinh học tiến hóa, hành vi tự tử là kết quả cuối cùng của một chuỗi những tín hiệu cảnh báo mà không được để ý (bargaining model). Giả thuyết này cho rằng những người gặp vấn đề đã vô thức tìm đến việc phát đi tín hiệu cứu giúp ở mức độ cao nhất, và cái chết chỉ là một hệ quả không hề mong muốn của tín hiệu đường cùng đó. 

Nói về tự tử là vẽ đường cho hươu chạy

Không hẳn, bởi con hươu ấy đã đang chạy rồi, và chạy trong một ma trận không có đường thoát. Cách xã hội nhìn tự tử như một chủ đề nhạy cảm và cấm kỵ khiến ma trận đó càng khó giải hơn. Vấn đề này cũng khá giống cách một xã hội bảo thủ nhìn tình dục hay LGBTQ. Tìm hiểu về sex không có nghĩa là con trẻ sẽ tìm đến sex, nói về tình dục đồng giới không có nghĩa là góp phần bẻ thẳng thành cong. 

Người có ý định tự sát sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn khi được chia sẻ. Ba câu hỏi mà các chuyên gia khuyên nên dùng, theo thứ tự, chỉ hỏi câu tiếp theo khi câu đầu tiên trả lời là “có”:

  • Bạn có nghĩ rằng cuộc đời này đáng sống hay thà chết còn hơn? 
  • Bạn đã bao giờ nghĩ về tự tử chưa?
  • Bạn có nghĩ mình sẽ chấm dứt cuộc đời không? Bạn đã từng thử làm điều đó chưa? 

Những khó khăn về tinh thần cũng giống như những khó khăn về cơ thể, đều cần trị liệu mới khỏi. Một người gãy chân không thể tự đứng dậy mà đi. Tương tự, một người bị áp lực tinh thần không thể cứ vui lên mà sống tiếp mà không có sự chia sẻ, trợ giúp và nâng đỡ nào.

Những người tự tử là kẻ ích kỷ 

Một cái chết luôn để lại đau thương cho người ở lại. Chính vì thế mà kẻ tự tử bị coi là ích kỷ khi chỉ nghĩ đến giải thoát cho chính mình. 

Tuy nhiên, việc “bôi đen” hành động tự tử cũng là một cơ chế tâm lý vị kỷ nhằm gián tiếp bảo vệ bản thân kẻ phán xét. Ta sợ rằng mình sẽ là nạn nhân của sự đau khổ ấy, từ đó vô thức tìm cách giảm thiểu khả năng xảy ra hành vi tự tử bằng cách dán cho hành vi ấy một cái nhãn xấu xí

Trong thực tế, bất chấp giá trị thực trong mắt xã hội, nhiều người tìm đến cái chết thường thật lòng tin rằng họ là một gánh nặng cho người xung quanh. Họ coi tự tử là một giải pháp quên mình, xóa đi một mối lo, bỏ đi một mắt xích lỏng lẻo, khiến những người ở lại có thể trút được một phần khổ đau. 

Điều này chính là giả thuyết thứ hai của hành vi tự tử từ góc nhìn sinh học tiến hóa (adaptive suicide). Các nghiên cứu về vấn đề này cho rằng, khi tìm đến cái chết, những người tự tử không hẳn chỉ tìm đến sự giải thoát cho bản thân mà còn là sự giải thoát cho những người xung quanh, giống như một sự hy sinh vô thức cho lợi ích của cộng đồng.

Những người tự tử là kẻ yếu đuối 

Con người chúng ta sinh ra không hề bình đẳng. Chúng ta chỉ có quyền đấu tranh để đạt được điều đó. Không ai có thể chọn cho mình một sức khỏe hoàn hảo, một gia đình hạnh phúc, một ngôi nhà giàu sang, một đất nước phồn vinh vv…rồi mới chấp nhận chào đời. 

Bởi mỗi chúng ta đều mang vác trên mình những gánh nặng vô hình rất khác nhau của sức khỏe và tâm sinh lý, thật khó để phán xét rằng tại sao tôi cũng bị áp lực như bạn mà tôi không bỏ cuộc. Ngưỡng chịu đựng của mỗi người khác nhau bởi nguồn tài nguyên cung cấp cho sự sống của mỗi người là khác nhau. 

Đây chính là giả thuyết thứ ba của hành vi tự tử, nhìn từ góc độ sinh học tiến hóa (pain-brain hypothesis). Giả thuyết này cho rằng chỉ loài người mới có khả năng nhìn nhận và đánh giá nỗi đau của mình, rồi dùng bộ não để lập kế hoạch tự hủy diệt nhằm chấm dứt nỗi đau ấy. 

Cao hơn, đó thậm chí còn là câu hỏi về quyền tự quyết. Ta đã không được chọn phương cách được sinh ra, nhưng ta có thể chọn phương cách mình chết đi. 

Sự phán xét, thậm chí rủa xả những người tự tử là kẻ hèn nhát phản ánh nhiều điều, trong đó rõ nhất là khả năng thấu cảm của người phán xét. Những người có ý định tự sát khi đọc được những lời phán xét đó có thể tìm cách vượt qua nỗi đau. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, sự phán xét đó cũng khiến họ che giấu nỗi đau kỹ hơn, từ chối tìm đến sự trợ giúp. 

Đây chính một trong những nguyên nhân lớn nhất giải thích cho việc tỷ lệ nam giới tự vẫn luôn cao gấp nhiều lần nữ giới, ở Việt Nam là gấp hai, ở Úc là gấp ba. 

Như vậy có phải là đàn ông bản chất là yếu đuối hơn phụ nữ hay không? 

Đàn ông vốn được cho là phái mạnh. Họ cũng bị áp lực phải là phái mạnh. Nếu họ thất bại trong cuộc sống, đó là do họ yếu đuối, nhu nhược, là do tự bản thân họ không xứng đáng chứ không phải do các nguyên nhân khác. 

Lấy ví dụ như bạo hành. Không khó để thấy những câu chuyện đàn ông bị đánh đập và thiên hạ thi nhau thả mặt cười. Sự chế giễu “đàn ông mà yếu đuối” vô tình ngăn cản họ tìm kiếm sự giúp đỡ, xuất phát từ nỗi sợ rằng không ai tin họ. Họ tự xấu hổ và trách móc chính bản thân mình.

Như vậy, không chỉ xã hội đổ lỗi cho nạn nhân (đàn ông mà thế à?) mà chính nạn nhân cũng đổ lỗi cho chính mình (tại bản thân tôi yếu kém). Kết cục là người đàn ông phải đối mặt với không chỉ một mà tận hai tầng chướng ngại vật, khiến họ phải trả giá đắt vì phải chịu đựng, che dấu các vấn đề sức khỏe thể chất và tinh thần. 

Thậm chí chính người đàn ông cũng cố gắng tự coi đó là chuyện nhỏ để tránh làm mình bị tổn thương hơn, hoặc để không bị xấu hổ. Tại Mỹ chẳng hạn, tỷ lệ những người bị mắc chứng trầm cảm tìm đến giải pháp tự sát là 1% với phụ nữ, nhưng với đàn ông, tỷ lệ đó là 7%. 

Việc tỷ lệ nam giới tự tử cao gấp nhiều lần nữ giới khiến ta hiểu rằng, các vấn đề trong cuộc sống không đứng riêng lẻ mà tương tác với nhau. Như một kẻ bị đánh hội đồng, các vấn đề liên quan đến giới, giai tầng xã hội, tuổi tác, sức khỏe, tài chính, tinh thần …vv cùng “xúm vào” dần cho nạn nhân tơi tả, không có thời gian hồi phục. Chính vì thế, ta nên cân nhắc để không so sánh một cú đấm riêng lẻ với một trận tấn công dồn dập, để từ đó phán xét rằng kẻ tự tử chỉ là một kẻ yếu đuối. 

Vả lại, cái chết luôn là điều đáng sợ. Vì sự sinh tồn, tạo hóa đã cài đặt nỗi sợ ấy sâu đến mức con người luôn bằng mọi giá né tránh cái chết. Dù là tự tử, cảm tử, trợ tử, hay thậm chí chết vì danh dự, những con người tự nguyện đối mặt với cái chết đều có một động lực mạnh mẽ hơn cả cái chết. Vượt qua được nỗi sợ có tính bản năng đó có thể nào thuần túy là hèn nhát yếu đuối không hay thực sự là một trạng thái của lòng can đảm? 

*PGS.TS Nguyễn Phương Mai làm việc tại ĐH Khoa học Ứng dụng Amsterdam, Hà Lan. Bà nghiên cứu quản trị đa văn hoá bằng phương pháp liên ngành kết hợp với kiến thức thần kinh não bộ (neuroscience). Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

From: Đỗ Tan Hung & KimBang Nguyen

ĐÔI MẮT CỦA TÌNH YÊU

ĐÔI MẮT CỦA TÌNH YÊU

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Chúng ta hình dung một cặp say sưa yêu nhau trong thời gian đầu; một người tân tòng yêu mến Chúa, cầu nguyện đến xuất thần; một thanh niên lòng đầy lý tưởng, làm việc không mệt mỏi vì người nghèo, lòng bừng bừng vì khao khát công bằng.  Hai bạn trẻ đó có yêu nhau thực sự không?  Người tân tòng đó có yêu Chúa thực sự không?  Nhà hoạt động xã hội trẻ có có thật sự yêu người nghèo không?  Đó là những câu hỏi không dễ để trả lời.

Khi có cảm giác yêu là chúng ta thật sự đang yêu ai?  Yêu người khác?  Yêu bản thân?  Yêu mẫu hình và sinh lực nơi những người khác?  Yêu ảo tưởng của chúng ta về người đó?  Hay là yêu cái cảm giác mà trải nghiệm đó khơi lên trong chúng ta?  Khi yêu, chúng ta thật sự yêu người khác hay chỉ đắm mình trong một cảm giác tuyệt vời vốn có thể dễ dàng được vô số người khơi lên?

Có những câu trả lời khác nhau cho câu hỏi này.  Thánh Gioan Thánh Giá nói tình yêu là tất cả những điều này, là chúng ta thật sự yêu người đó, yêu ảo tưởng của chúng ta về người đó, và đắm mình trong cảm giác vui thích mà chuyện này khơi gợi lên trong lòng chúng ta.  Chính vì thế, một chuyện luôn xảy ra là, đến một lúc nào đó trong mối quan hệ, những cảm giác yêu nồng nàn mạnh mẽ 3/ nhường chỗ cho vỡ mộng – và theo định nghĩa, “vỡ mộng” là xóa tan những ảo tưởng, mộng tưởng sai lầm, những gì không có thật.  Với Thánh Gioan Thánh Giá, khi chúng ta yêu, thì một phần tình yêu đó là thật, và một phần là ảo tưởng.  Hơn nữa, ngài nói điều này cũng đúng với những cảm giác sốt sắng ban đầu của chúng ta khi cầu nguyện và làm những việc hảo tâm.  Có sự trộn lẫn cả hai, cả tình yêu chân thực và ảo tưởng.

Một vài phân tích khác lại không nương tay đến thế.  Nhiều phân tích xác định rằng mọi tình yêu ban đầu của chúng ta, dù là với người khác, với Thiên Chúa khi cầu nguyện, với người nghèo trong việc phục vụ, chủ yếu đều là ảo tưởng.  Xét cho cùng, chúng ta yêu chuyện được yêu, yêu những gì lời cầu nguyện làm cho ta, hoặc là yêu cảm giác chúng ta có được khi làm việc vì công bằng.  Người khác, Thiên Chúa và người nghèo, chỉ là điều thứ yếu.  Chính vì thế, chuyện thường xảy ra là khi lửa mến ban đầu nguội đi, thì tình yêu của chúng ta dành cho đối tượng cũng lạnh dần.  Khi ảo tưởng chết đi, thì cảm thức yêu cũng thế.  Chúng ta yêu mà không thật sự hiểu người kia, và chúng ta hết yêu mà cũng không thật sự hiểu người kia.  “Bắt đầu yêu” trong tiếng Anh là “fall in love” (tiếng Việt là rơi vào lưới tình, là phải lòng) và nó nói lên nhiều điều.  “Fall/ngã” không phải là điều chúng ta quyết định mà điều xảy đến với chúng ta.  Linh đạo về hôn nhân có một khẩu hiệu rất sáng suốt: hôn nhân là lựa chọn, yêu thì không. 

Ai nói đúng đây?  Khi chúng ta yêu, bao nhiêu phần là tình yêu đích thực và bao nhiêu phần là ảo tưởng, vốn thật sự chỉ là chúng ta đang yêu chính mình?  Nhà thơ người Mỹ Steven Levine trả lời câu hỏi này từ một góc nhìn khác và soi rọi nhận định mới về vấn đề này.

Ông nói rằng, tình yêu không phải là “cảm xúc đối ngẫu.”  Với ông, mỗi khi chúng ta cảm nhận tình yêu chân thực, chính lúc đó, chúng ta cảm nhận sự đồng nhất với Thiên Chúa và vạn vật.  Ông viết: “Cảm nghiệm tình yêu trỗi dậy khi chúng ta buông bỏ sự tách biệt của mình trước sự đồng nhất toàn thể.  Nó là một cảm giác hợp nhất…  Nó không phải là cảm giác, đúng hơn là một tình trạng hiện hữu….  Nó không phải là ‘cả hai nên một’ cho bằng ‘một mà thể hiện như hai.’”  Nói cách khác, khi yêu ai đó, thì lúc ấy, chúng ta là một với người đó, không tách rời, đến nỗi dù cho những ảo tưởng và cảm giác của chúng ta chỉ nhắm vào tác động cho riêng chúng ta, nhưng luôn có đó một điều sâu sắc hơn và chân thực hơn nhiều.  Chúng ta là một với người kia trong hiện hữu, và khi yêu, chúng ta cảm nhận được điều đó. 

Với quan điểm này, tình yêu chân thực không phải là cái chúng ta cảm nhận cho bằng là cái mà chúng ta là.  Về căn bản, tình yêu không phải là một cảm xúc gây xúc động hay một đức tính (dù chúng là những phần của tình yêu).  Tình yêu là một tình trạng siêu hình, chứ không phải một thứ đến rồi đi như cảm xúc, không phải một thứ mà chúng ta có thể chọn hoặc bỏ theo tinh thần của mình.  Tình trạng siêu hình là điều được trao, điều mà chúng ta tồn tại trong nó, điều mà một phần con người chúng ta cố kết dù chúng ta không nhận ra.  Do đó, tình yêu, thậm chí cả cảm giác mới yêu, có thể giúp chúng ta ý thức hơn về sự không tách rời của mình, về sự thống nhất hiện hữu của chúng ta với người khác. 

Khi yêu đậm sâu hay nồng nhiệt, có lẽ (như lời Thomas Merton mô tả một thị kiến cha thấy ở một góc đường) chúng ta có thể tỉnh hơn khỏi mộng ảo tách biệt và ảo tưởng khác biệt để thấy được vẻ đẹp và chiều sâu nơi tâm hồn người khác.  Có lẽ nó cũng sẽ cho chúng ta thấy được người khác, thấy được phần mà cả tội, dục vọng hay sự tự tri đều không vươn đến được, phần cốt lõi hiện thực của con, là con người trong mắt Thiên Chúa.

Và thật là tuyệt vời, “nếu chúng ta có thể thấy người khác như thế suốt.” (theo lời cha Merton).

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: langthangchieutim

Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em

Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em

Ngày Chúa Nhật thật là tốt lành nhé.

Cha Vương

CN: 20/02/2022

TIN MỪNG: Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em, và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. (Lc 6:27-28)

SUY NIỆM: Thật, đây là một mệnh lệnh rất khó để thực hành trong cuộc sống va chạm hằng ngày. Mình biết rất khó đó nhưng không phải là bạn “không có thể”. Sự thường thì bản tính tự nhiên của con người dạy ta: “thương kẻ nể ta, đập kẻ mất lòng ta” còn trong Kinh Thương Linh Hồn 7 Mối, điều thứ năm và thứ 6 lại dạy ta: “Tha kẻ hại ta, nhịn kẻ mất lòng ta”. Hai điều này quy về một điều mà Chúa dạy hôm nay là: hãy YÊU MẾN kẻ thù của mình, LÀM ƠN cho kể ghét mình, CHÚC LÀNH cho kẻ nguyền rủa mình, CẦU NGUYỆN cho kẻ vu khống mình. Nếu bạn yêu không được thì hãy làm ơn làm phước cho họ. Nếu bạn yêu cũng chẳng vô, làm ơn cũng chẳng được vì chữ “khó” hoặc vì không muốn nhìn mặt người đó thì việc chúc lành và cầu nguyện cho họ là một việc “có thể”. Nó không đến nỗi khó như bạn tưởng đâu. Bạn cứ chúc lành và cầu nguyện cho họ đi rồi để Chúa là người sẽ phán xét họ. Nếu bạn cứ dành thời gian và năng lực để phán xét chỉ trích họ thì bạn có thời gian đâu để cầu nguyện cho họ nữa, hãy để Chúa làm việc phán xét đó. Chúa Giêsu đến để mạc khải sứ điệp tốt hơn, trọn hảo hơn, bẻ gẫy những giới hạn tự nhiên: “răng đền răng mắt đền mắt”. Ngài nhắc nhở bạn 2 điều hôm nay:

1) Tình yêu của Chúa không là Tình Yêu phân loại (exclusive): ai là người thân hoặc ai là thù địch.  Tình Yêu Chúa là tình yêu bao gồm (inclusive), không ai bị loại ra khỏi tình yêu thương của Người.

2) Tình yêu thương đó được thể hiện bằng những hành động cụ thể, và quan trọng nhất, đó là thi ân, chúc lành, và cầu nguyện cho những kẻ không tự nhiên được bạn yêu thương, và đây không còn là tình yêu thương theo tình cảm, mà là tình yêu thương thực sự hướng đến lợi ích của người khác. Ước mong bạn cảm nhận được lời Chúa dạy là một giải pháp tích cực để đương đầu với những người đáng ghét hôm nay.

LẮNG NGHE: Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, / Người chấp giận và giàu tình thương. / Người không cứ tội ta mà xét xử, / không trả báo ta xứng với lỗi lầm. (Tv 102: 8,10)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin đổ tràn trên con tình yêu thương của Chúa, để con được giải thoát khỏi tình yêu hạn hẹp, có tính toán, mà biết quảng đại yêu thương tất cả mọi người, ngay cả kẻ chống đối và có ác cảm với con hôm nay.

THỰC HÀNH: Cầu nguyện và làm một việc hy sinh cho những đối tượng của bạn nhé.

From: Đỗ Dzũng

Tội là gì?

Tội là gì?

Chúa là hơi ấm trong đêm giá lạnh… Hôm nay trời Houston gió lớn và lạnh, khi ra ngoài đừng quên Chúa nhé.

Thứ 6: 18/02/2022

GIÁO LÝ: Tội là gì? Tội là hoàn toàn từ bỏ Thiên Chúa, từ chối không đón nhận Tình yêu Thiên Chúa, khinh thường không giữ giới răn của Thiên Chúa. (YouCat, số 67)

SUY NIỆM: Tội còn hơn là một thái độ lầm lỡ, và cũng không phải chỉ là một yếu đuối tâm lý. Thực ra mọi từ bỏ hoặc phá hủy điều gì là tốt, xét cho cùng đều là bỏ tốt để chọn xấu, loại bỏ Thiên Chúa vậy. Trong kích thước sâu xa và kinh khủng nhất, tội là xa lìa Thiên Chúa, xa lìa nguồn sống. Vì thế, chết là hậu quả tất nhiên do tội lỗi. Chỉ nhờ Chúa Giêsu ta mới hiểu được kích thước không thể đo được của tội, vì muốn liên đới với loài người đã phạm tội bỏ Chúa, Chúa Giêsu đã chịu đau khổ vì các hậu quả của tội nơi chính thân xác Người. Người đã phải gánh lấy sức mạnh gây chết của tội, để nó không làm hại ta. Đó là tất cả ý nghĩa của “cứu chuộc”. (YouCat, số 67 t.t)

❦ Điều xấu hơn không phải là phạm tội ác mà là đã không làm những điều tốt mà mình có thể làm. Chính tội bỏ sót không làm chẳng qua là tội không yêu mến, và thường không ai xưng thú tội đó. (Léon Bloy, 1846-1917, văn sĩ Pháp)

LẮNG NGHE: Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội. (Rm 5:20)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa yêu thương con và mong muốn con đáp tình yêu đó bằng cuộc sống thánh thiện trước mặt Chúa và đối với anh em. Xin đừng để con rơi vào tình trạng dửng dưng về tội, tưởng mình không có tội hay chỉ có lỗi qua quít để rồi vẫn sống khơi khơi, nhưng xin hãy khuấy động tim con để con biết ý thức về tội đang làm con xa lìa Chúa và tổn thương đến anh em con.

THỰC HÀNH: Tự xét mình coi bạn có “tội bỏ sót không làm” không hả? Td: Đưa công việc cho người khác vì lười biếng trong khi mình có thể làm được. Cụ thể khi đi làm mệt về bạn vẫn thấy một đống chén đũa vẫn nằm chềnh ềnh trong bồn rửa chẳng ai thèm đá động đến.

From: Đỗ Dzũng

Bữa Ăn Một Mình – Tạp Ghi Huy Phuơng

Tạp Ghi Huy Phuơng,

***

Bữa Ăn Một Mình

Hiện nay tôi đang sống với gia đình cô con gái út. Cháu có một gái đã trưởng thành sống ở tiểu bang khác và một cháu trai đang học năm cuối của trung học. Chồng cháu thỉnh thoảng phải đi làm xa. Hai vợ chồng tôi đã đến tuổi già gần đất xa trời, nên thời khắc biểu của những thành viên trong gia đình rất khác nhau, nên ít khi chúng tôi ngồi lại cạnh nhau cùng ăn chung một bữa cơm.

Buổi sáng thức dậy trễ, thì con cái đã đi làm, cháu đã đến trường, vợ thì luẩn quẩn ở sau khu vườn nhỏ, đành ngồi ăn sáng một mình. Buổi tối, thấy cơm canh đã sẵn sàng nhưng chưa thấy ai sẵn sàng cùng ăn với mình. Gọi vợ thì vợ bảo:

-“Ông cứ ăn đi, tôi mới ăn củ khoai, còn ngang bụng!” Gọi con thì con thưa: “Ba cứ dùng cơm đi, con đang bận tay!” Ðứa cháu thì khi hiện khi biến, chẳng mấy khi gặp mặt, có khi ăn ở trong bếp hay đem phần ăn lên phòng riêng để có sự tự do một mình.

Tôi muốn có những bữa ăn đông người, vui vẻ, có tiếng cười nói rộn ràng, nhưng thường là phải ăn những bữa ăn một mình. Bữa ăn một mình thì đâu cần đến mâm bàn dọn ra ngay ngắn, tươm tất, mà sao cũng cho xong một bữa ăn. Một tô cơm trộn thức ăn, và một cái muỗng, ngồi trước máy computer hay trước máy truyền hình.

Bạn có nghĩ một bữa ăn như thế có dễ tiêu hoá, có lợi cho sức khoẻ hay không? Và một bữa ăn như thế có buồn không?

Tôi không bao giờ quên được những bữa ăn gia đình thời thơ ấu. Tất cả mọi người trong gia đình đều chờ nhau vào mâm cơm một lượt, dù là buổi sáng giờ trưa hay bữa chiều tối. Bữa cơm có cả ông bà nội, cha mẹ, cả anh chị cùng mấy đứa em nhỏ, kể cả thành viên nhỏ bé của đại gia đình là con mèo vàng luẩn quẩn chờ miếng ăn trong lòng bà nội tôi.

Rồi thời gian qua đi, kẻ còn, người mất, gia đình mỗi người một nơi. Tôi lớn lên, tạo lập một gia đình nhỏ, có những bữa ăn sum họp gia đình, nhưng không quên được những người đã đi xa, không còn hiện diện trên cuộc đời này nữa.

Rồi chiến tranh, tù đày, xô đẩy con người mỗi người đi mỗi hướng.

Trong một trại tù nào đó, trên cái chõng tre tập thể, hay bữa trưa ngoài bìa rừng, tôi ngồi dùng đũa đếm những hạt ngô bung, xót xa nhớ đến những bữa cơm gia đình. Khi tôi từ nhà tù trở về, thì bữa cơm không còn là bữa cơm nữa. Con tản mát, vợ chạy gạo mỗi ngày, nồi cơm lạnh lẽo trên bếp, ai thấy thì ăn.

Thời Cộng Sản vào nhà, không còn hai chữ “sum họp,” cũng chẳng còn câu “ngồi lại với nhau.”

Ra hải ngoại, thì cái văn hoá “bữa cơm gia đình” cũng đã mờ nhạt. Ly cà phê bữa sáng trên xe, cái hamburger cùng ly coke vào giờ lunch và những buổi tối về nhà trong giờ giấc trước sau không đồng nhất. Phải chờ đến những ngày Lễ Tết, sinh nhật, cha con, anh chị em họa hoằn mới có dịp ngồi lại trong những bữa tiệc cuối tuần.

Các bạn còn trẻ có lẽ chưa cảm nhận được nỗi buồn khi phải ngồi ăn một mình. Thức ăn có ngon đến đâu, bổ dưỡng đến đâu mà không “dịch vị” của tiếng cười, niềm vui, chỉ còn “gia vị” của cô đơn, buồn nản, thì bữa ăn ấy chỉ còn là bổn phận ăn để sống. Chính các vị y sĩ cũng đã khuyên người già “ăn uống phải có bạn, nên ăn chung với gia đình hay con cháu. Về phần con cháu, cũng không nên để cho cha mẹ mình ăn uống trong cô đơn buồn tẻ, vì khi ăn một mình, sẽ kém vui, và ăn ít đi, không tốt cho sức khoẻ. Sự cô đơn sẽ làm miếng ăn thêm cay đắng.”

Rõ ràng là tâm lý đã tác dụng vào sinh lý. Dù đau yếu, suy kiệt, mòn mỏi nhưng tôi vẫn nghĩ rằng những người sống chung với con cháu, hay còn vợ chồng có khả năng sống lâu hơn là những ông bà cụ già hiện đang sống một mình trong những căn phòng lạnh lẽo của những căn “nursing home.”

Trong nhà dưỡng hưu, tôi đã thấy những bữa cơm gọn gàng trong những cái khay nhỏ do nhà bếp đưa đến tận giường, để cả giờ nguội lạnh mà các ông bà vẫn chưa muốn ăn.

Tôi đã đến thăm nhà thơ Nguyễn Chí Thiện lẻ loi trong căn nhà già ở Santa Ana lúc ông chưa vào bệnh viện. Lúc ấy vào buổi xế trưa, mà từ sáng đến giờ, nồi cơm điện còn nguyên chưa được xới ra trên bếp, thức ăn còn để lạnh ngắt trong tủ lạnh. Ông thú nhận là ông không muốn ăn, mà chỉ ăn vì “nghĩa vụ,” một nghĩa vụ nặng nề! Chung quy cũng vì nỗi buồn cô đơn, thui thủi một mình.

Keith Ferrazzi, tác giả cuốn sách “Ðừng bao giờ đi ăn một mình (Never eat alone) không nói về sự cô đơn mà nói về sự giao tiếp đưa đến sự thành công và hạnh phúc cho cuộc sống. Chúng ta không bàn đến chuyện “ăn một mình” theo lối này.

Ðã đi hết một chặng đường dài, đã lo toan cho mọi thứ, nhưng cuối cùng tuổi già cô độc bên mâm cơm, lặng lẽ một mình. Những bậc cha mẹ già không mong con tặng quà, phải chi con ghé nhà thăm, ngồi ăn với cha hay mẹ một bữa cơm, nói cười như thuở ấu thơ

KỶ YẾU MỘT “H O”

 

KỶ YẾU MỘT “H O”

PHƯỚC AN THY.

Cha Mẹ tôi vốn là phú nông, còn buôn bán thêm từ Huế ra Vinh.

Hồi nhỏ, tôi học trường Don Bosco tại Quảng Trạch – Quảng Bình, do các Cha và các Thầy dòng dạy.

Tháng Bảy 1954, hiệp định Genève ngừng bắn, gia đình tôi Di cư vào Nam lập nghiệp tại Kim Long – Huế.

Vào Nam tôi học các trường Nguyễn Công Trứ – Phan Thanh Giản

– Sao Mai.

Ra trường đi làm và tự lập.

Năm 1959, Cha Mẹ từ Huế vào cưới vợ cho tôi tại Ðà Nẵng.

Ðến năm 23 tuổi, tôi được động viên học khóa 12 Trần Hưng Ðạo – Sĩ quan Thủ Ðức.

Tháng Tám 1960 ra trường với cấp bậc Chuẩn úy.

Ðược tuyển chọn một trong số 10 người trên 1250 sinh viên, về ngành An Ninh Quân Ðội ANQĐ – Bộ Quốc Phòng.

Ðậu thủ khoa trên 25 Sĩ quan và trên 100 Hạ sĩ quan, tôi được Ðại tá Ðỗ Mậu – Giám đốc Nha ANQÐ – Bộ Quốc Phòng, sau là Thiếu tướng thông tin, trao bằng Danh dự cùng quà tặng trước sự hiện diện của Quân nhân, gia đình binh sĩ và ban Văn nghệ bậc nhất thời bấy giờ.

Ra trường, tôi được Ðại úy Dương Tiến, sau là Trung tá Chánh Sở I ANQÐ, giới thiệu về làm việc ở Sở I ANQÐ.

Tôi được chỉ định làm Trưởng Ban I/ Phòng Nhân viên, theo dõi điều chỉnh hồ sơ, vẽ sơ đồ..

Sau một thời gian, tôi nhận được công điện thuyên chuyển về cục ANQÐ tại Saigon, được “bố trí” trưởng ban I, phòng bảo vệ do Ðại úy Phạm Thành Kiếm làm Trưởng phòng.

Tại Cục ANQÐ, tôi được yêu cầu huấn luyện cho Sĩ quan, Hạ sĩ quan về đề tài bảo vệ Cơ sở.

Sau đó lại được hoán đổi về Sở I ANQÐ tại Ðà Nẵng, Sở yêu cầu tôi tổ chức liên tục các khóa An ninh căn bản cho Sĩ quan, Hạ sĩ quan An ninh trong đơn vị, trong số học viên khóa tu bổ tại Ðà Nẵng có Trung tá Tài là cấp bậc lớn nhất.

Mỗi khóa học một tháng, số học viên từ 40 đến 50 người, bằng cấp do Trung tá chánh Sở ký, với kiến thị của Trung tướng Tư lịnh Quân đoàn I.

Sau đó tôi được theo học hai khóa cấp I và cấp II tình báo tại trường Quân báo Cây Mai, rồi Du học tại trường phản tình báo Okinawa – Nhật Bản, tốt nghiệp hạng ưu.

Ðại tá Chu Văn Sáng về làm Chánh Sở I ANQÐ, gia đình tôi được cho ở trong dãy nhà Sĩ quan tại sở.

Trong 17 năm làm việc tại Sở I ANQÐ, tôi đã giữ các chức vụ:

Phụ tá Trưởng ty ANQÐ Quảng Trị, phụ tá Trưởng Phòng An Ninh Quân đoàn cho Thiếu tá Hồ Văn Thống, Trưởng phòng Ban Khai Thác, Chánh văn phòng.

Ngày 1 tháng 3, Ðại tá Sáng vào Nha Trang nhận chức Chánh Sở II ANQÐ, tôi vào nhận chức Trưởng chi ANQÐ Ninh Hòa.

Sau đó tôi làm Trưởng ban phản tình báo Cam Ranh – Khánh Hoà cho tới ngày “mất nước”, thầy trò dắt nhau đi ở tù “cải tạo.”

Sau 30/4/1975, vợ và các con tôi không nhà, không nơi nương tựa phải đi “kinh tế mới”.

Mấy mẹ con lên kinh tế mới được một năm thì vợ tôi bị bịnh sốt rét, và qua đời tại bịnh viện Khánh Hòa.

Cha Mẹ tôi đưa xác về chôn cất tại Cam Ranh.

Một người vợ hiền lành, mảnh mai, lâm cảnh cơ hàn, chết bơ vơ trong cảnh đổi đời.

Các con mồ côi, đào bới đất đá nơi núi rừng mà sống.

Còn tôi trong trại tù, lao động cực khổ, sắn ăn cầm hơi. Tôi lãnh “ba nhiệm kỳ”, chín năm tù, ra trại bị quản chế tại kinh tế mới ở Khánh Hòa ba năm.

Ở trại tù miền Bắc, tôi được cho đi làm ngoài, toán sáu người đi chặt nứa. Anh em lo chặc nứa phần của tôi, để tôi vào nhà dân mua bán đổi chác giùm anh em. Anh em đưa áo quần cho tôi nhờ đổi con gà luộc hoặc ký đường cát.

Nhờ vậy mà mỗi ngày tôi có điều kiện luộc sắn cho anh em ăn, còn đem về trại cho một hai anh em bạn thân khác, trong số có người bạn quê Lệ Thủy là ưu tiên.

Về sau, hắn đổi qua láng khác, tôi vẫn cho đồ ăn, nhưng hắn ghen tỵ nên báo cáo để cán bộ bắt quả tang.

Thật ra, mua bán đổi chác chỉ nhốt năm ba bữa, nhưng tôi bị xui là buổi sinh hoạt đêm qua, tôi phát biểu về mánh khóe bớt xén gạo nhà bếp của Thượng úy Tẩu làm hậu cần, quê ở Quảng Nam.

Tên này, do tôi tố cáo với Thượng úy Huệ, Sĩ quan thanh tra liên trại, nên bị sa thải tại chỗ. Tuy nhiên đêm trước đó, hắn đã ra lệnh nhốt tôi phòng cách biệt, phòng cách biệt rộng khoảng 1 thước vuông, làm bằng nứa, đổ đất ở giữa.

Đêm đến hắn cho lính canh vào đánh tôi, may là tụi lính canh thương hại nên chỉ đánh đá vào vách tường.

Tuần đầu tôi bị nhốt, do Trung sĩ Phát trông coi rất dễ chịu. Tuần thứ hai, tên Trung sĩ Minh đổi toán thay cho Trung sĩ Phát. Bàn giao xong, tên Trung sĩ Minh đi một mình xuống trại giam, bắt trói hai tay tôi ra sau, vào cột nhà.

Hắn đánh đập vào đầu, đá vào ngực tôi liên tục nhiều giờ.

Biết tên này hung dữ, lỡ đánh chết mình thì oan, hắn mang lòng thù oán vì có hai người anh tử trận ở miền Nam, tôi giả vờ nói:

“Qua một tuần lễ suy nghĩ, tôi biết việc làm sai trái, cán bộ để tôi cung khai, cả người mua lẫn người bán”.

Hắn tin, đưa tôi lên bàn ăn ngoài láng, đưa bút giấy cho tôi khai. Hắn giao cho tên Ngọc là Tàu lai đứng trên chòi, canh chừng tôi. Hết giờ làm việc, tên Ngọc quay mặt ra ngoài, chậm rãi đánh kiểng.

Đây là giờ khởi sự cho việc trốn trại của tôi.

Tôi vội chạy vào trại thay bộ đồ đi rừng, chụp cái nón lá, đạp hàng rào ra ngoài, rồi lẻn quay ngược lên khu vệ binh riêng biệt cạnh trại để trốn.

Bọn chúng không ngờ tôi còn ở trong trại, nên rải quân hàng ngang từ lính chí quan, lần lượt từ đồi sắn này đến đồi sắn khác, cán bộ dùng loa kêu gọi bảo lãnh tánh mạng cho tôi.

Ðến khoảng 2 giờ, mệt lả, đói bụng, chúng kéo nhau về.

Tôi xuống đồi, đến nhà anh Triệu Mai Tân, vợ anh người Tày tên Nghĩa. Anh cho tôi bộ bà ba đen, một dao phay và một cái nón cối. Trước giờ chia tay, tôi nhờ anh lên đồi đốn cho năm cây nứa cỡ bằng cườm chân để vượt hồ Thác Bà rộng chừng hai cây số.

Trời tối đen, tôi vượt hồ Thác Bà.

Ra giữa hồ tôi phải tránh né những bè mảng của dân câu cá. Trong lúc đó, trại cũng cho đốt đuốc truy lùng.

Tôi lên núi, đi bốn ngày đêm, ăn sắn tươi, bắp sống.

Công an, du kích, dân làng các xóm truy lùng tôi ngày đêm. Khi họ cầm đèn bão, bao vây chỉ còn cách nơi tôi trốn khoảng 50 mét, tôi biết mình sẽ bị bắt và sẽ bị đánh đến chết, tôi đọc kinh cầu nguyện dọn mình chịu chết. Bỗng trời đổ cơn mưa gió dữ dội, chịu không nổi vừa mưa gió vừa lạnh, nên họ từ từ rút dần xuống đồi.

Cảm tạ ơn Chúa, Mẹ đã cho tôi thoát chết.

Qua một ngày lội theo ven suối, vào khoảng sáu giờ chiều, tôi vào trình diện liên trại. Tôi được mấy ông Trung tá, Thiếu tá ở liên trại chỉ thị nhà bếp cho tôi một dĩa cơm.

Ăn xong, Thượng úy Huệ dùng đèn pin dẫn qua cánh đồng đưa đến trại 4. Ông này lấy thêm lời khai của tôi vụ Thượng úy Tẩu bớt xén gạo nhà bếp, chi tiết do anh Châu đầu bếp cho tôi biết.

Anh này bị lật mảng, chết đuối tại hồ Thác Bà khi mang cơm cho anh em lao động ăn trưa tại chỗ.

Trung tá Luyện ở trại cũ mang tư trang lên cho tôi, có tên Ngọc gác cổng dẫn đi. Tên Ngọc đi lên với hy vọng đánh tôi vài báng súng. Thiếu úy Huệ ở liên trại bảo hắn ra ngoài chờ bàn giao nên tôi thoát bị đòn.

Tôi được chuyển về trại 3 Tân Kỳ – Nghệ Tĩnh, được chỉ định làm tổ trưởng tổ chuyển vận gồm 10 người từ năm 1982.

Đến năm 1984 tôi được thả về.

Tôi về, ở cùng các con vùng kinh tế mới làm ruộng rẫy, chặt lồ ô về chẻ hom đem ra chợ bán.

Cuộc sống cha con khổ cực, cơm độn khoai sắn, mắm muối qua ngày.

Tại đây, người ta tổ chức một cuộc tập trung nhân dân toàn xã, bắt tôi đọc tiểu sử.

Trưởng công an huyện nói:

“Tiểu sử của anh rất huy hoàng, nhưng anh sống trên xương máu của nhân dân”.

Tôi trả lời:

“Sống chế độ nào, phục vụ chế độ đó, chính phủ trả lương, tôi chẳng bóc lột xương máu nhân dân bao giờ”.

Kết luận, hắn khuyên tôi hòa mình với nhân dân, xây dựng Xã hội Chủ nghĩa.

Tôi bị trưởng Công an huyện, tù ở đảo về, coi “trọng” vì tôi là Sĩ quan ngành An ninh phản tình báo. Hắn buộc tôi phải ghi vào một quyển sổ những gì đã học tập, lao động, sinh hoạt hằng ngày… Trình diện, báo cáo cho Công an xã hàng tuần, Công an huyện hàng tháng, suốt ba năm.

Mấy năm sau, nhiều người lo thủ tục giấy tờ đi Mỹ diện “H.O”.

Cái khó khăn bấy giờ của chúng tôi là tiền đâu để lo thủ tục và ở ngoài Trung xa Saigon.

Tôi chạy đến anh em, bà con họ hàng xin xỏ vay mượn, được chừng nào thì lo chừng đó.

Thật tình thì cha con chúng tôi cũng không hy vọng gì mấy, làm hồ sơ thì làm chứ không có đủ tiền để lo lót đến nơi đến chốn, chỉ cầu may.

Chờ đợi mấy năm, chúng tôi nhận được giấy báo, rồi giấy phỏng vấn. Chúng tôi lại chạy vay tiền bạc vào Saigon phỏng vấn, khám sức khỏe. Cuối cùng, chúng tôi cũng tới được ngày được đi Mỹ.

Từ chốn núi rừng đói rách, đặt chân lên đất Mỹ văn minh, nhà cao, đường lớn, tâm trạng chúng tôi thật háo hức và cũng đầy âu lo.

Gia đình tôi đến Mỹ năm 1994.

Sau 16 năm định cư tại Hoa Kỳ, các con tôi ai cũng từ độc thân, tay trắng, nay đều đã có gia đình, con cái, nhà cửa, xe cộ.

Cuộc sống chúng tôi mọi sự thật đầy đủ, hạnh phúc, duy chỉ có điều buồn là tôi sắp lìa xa các con cháu vì tôi bị ung thư giai đoạn cuối.

Nằm nhà thương, như cây đèn cạn dầu, tôi thở, ăn uống bằng những ống dây, không nói được lời nào đã gần hai năm nay.

Thân xác tôi ốm yếu, nhỏ thó như một đứa con nít thiếu ăn, tinh thần yếu kém, mọi chăm sóc cá nhân đều nhờ người khác.

Bác sĩ nói, tôi không còn sống được bao ngày nữa.

Thế là hết một kiếp người.

Cảm tạ ơn trên đã quan phòng, che chở cho gia đình tôi bình yên.

Cám ơn các ân nhân đã giúp cha con tôi được định cư tại Hoa Kỳ.

“H.O” – 26, viết trên giường bệnh trước khi từ giã gia đình và bằng hữu…..

Phuoc An Thy

CHUYỆN CỤ LOUIS CẦU HÔN

 

CHUYỆN CỤ LOUIS CẦU HÔN

Cụ ông Louis và cụ bà Rose cùng sống trong một viện dưỡng lão.

Họ đã góa vợ và góa chồng từ lâu.

Một ngày nọ, họ ngồi đối diện nhau trong bữa ăn tối, cụ Louis đưa mắt nhìn ấm áp về phía bạn gái. Cuối cùng, lấy hết can đảm, cụ ông hỏi:

– Bà Rose, bà có muốn kết hôn với tôi không?

Sau vài giây suy nghĩ cẩn thận, cụ bà đáp:

– Vâng. Vâng. Tôi đồng ý!

Rồi họ tiếp tục trò chuyện vui vẻ.

Sau bữa tối, ai về phòng nấy ngủ.

Sáng hôm sau, cụ ông Louis thức dậy, rất băn khoăn.

– Không biết bà ấy nói “có” hay “không” nhỉ?

Ông không thể nhớ được.

Càng cố gắng nhớ, ông cũng không thể nhớ một điều gì cụ thể.

Tuổi già đã làm cho trí nhớ đã trở nên yếu đi như vậy.

Cuối cùng, không chịu được, cụ Louis quay lại điện thoại và gọi cho cụ bà Rose.

Đầu tiên, ông giải thích với bà rằng tuổi tác sẽ có một số vấn đề về trí nhớ, rằng đêm qua thật tuyệt vời, và chỉ sau đó, lấy hết can đảm, ông hỏi:

– “Và khi tôi hỏi bà lấy tôi làm chồng, bà có nói đồng ý hay không nhỉ?”

– Có! Tôi nói có mà. Và tôi rất vui khi nghe ông hỏi đó thôi.

Cụ Louis thở phào nhẹ nhõm.

Cụ bà Rose nói tiếp:

– Và tôi cũng rất vui vì ông đã gọi điện, chớ tôi đã không thể nhớ chính xác, ai đã cầu hôn tôi ..

St.& dịch Svi Doan

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Vũ Ánh

Ảnh của tuongnangtien

 

Sau 30 tháng 4 năm 1975 Bên Thắng Cuộc đã dàn dựng một hệ thống gồm những “tổ chức phục quốc” ở rất nhiều nơi, và đã khiến cho không ít thanh niên miền Nam bị rơi vào … bẫy!  Nhà báo Vũ Ánh (V.A) là một trong những người này –  như chính ông cho biết, trong cuốn hồi ký (Thung Lũng Tử Thần) do Người Việt Books xuất bản vào năm 2014:

Tôi còn nhớ rõ buổi hoàng hôn ngày 16 tháng 8 năm 1975, khi mặt trời đỏ lừ đang từ từ rơi xuống phía sau hàng cây trên bờ sông La Ngà, toán chúng tôi gồm tôi, Cự, Phụ, Khải, Thuật và một số khoảng 20 người khác đã rơi ngay vào tay một cánh quân mà sau này chúng tôi biết là của Quân Khu 7 Việt Cộng khi vừa đến một điểm hẹn tập trung gần bờ sông.

Hầu hết những người bị bắt đều là sĩ quan, công chức, cảnh sát VNCH khước từ lệnh trình diện để lựa chọn một con đường khác: đi tìm bóng dáng của các nhóm tàn quân VNCH mà chúng tôi được mật báo một cách sai lạc bởi chính bọn quân báo Việt Cộng qua trung gian gồm chính một số cựu sĩ quan, viên chức VNCH cộng tác với họ.

Giận dữ, nôn nóng, vội vã và cả tin đã khiến chúng tôi bị sập bẫy như những đứa con nít. Và khi vào nằm trong gông cùm rồi, chúng tôi chỉ còn biết tự an ủi: bản thông báo của Ủy Ban Quân Quản ra lệnh cho các sĩ quan, viên chức chỉ huy trong chính phủ VNCH, thành viên trong các chính đảng ở Miền Nam Việt Nam phải trình diện và mang theo lương thực đủ 10 ngày để đi “học tập cải tạo” không đánh lừa được chúng tôi, dù cái giá chúng tôi phải trả cho sự tỉnh táo ấy rất đắt.  

Rất đắt là bao nhiêu?

Xin thưa là hơn 13 năm tù, với 7 năm biệt giam, và khẩu phần là “ba muỗng nước, với ba muỗng cơm” mỗi bữa. Không phải ai lãnh án “phục quốc” đều bị giam cầm khắc nghiệt như thế cả. V.A là một “trường hợp đặc biệt” nên được ban giám thị trại tù A-20 Xuân Phước … đối đãi cách riêng – theo lời nhận xét của một bạn đồng tùA-20 Nguyễn Chí Thiệp:

“Vũ Văn Ánh đến từ trại Hàm Tân Z-30C, nguyên là một công chức cao cấp của Bộ Thông Tin, anh có học báo chí ở Hoa Kỳ và giáo sư ngành truyền thông Đại học Cửu Long, sau tháng 4 năm 1975, anh học tập ba ngày tại cơ sở rồi trốn trình diện.

Ánh và số bạn bè như Đại-úy Cảnh sát Vũ Trọng Khải, Trung-úy Dù Đoàn Bá Phụ, Đại-úy An Ninh Quân Đội Nguyễn Đại Thuật, những người trốn học tập. Các anh được móc nối tham gia tổ chức của Bác-sĩ Phan Huy Quát, người móc nối đưa các anh vào bưng vùng Biên Hòa thì bị bắt…

Ở các trại Ánh sống đứng đắn, trọng danh dự nên được rất nhiều sĩ quan trẻ mến, trong đó có Trần Bửu Ngọc sĩ quan Biệt Kích và Ngô Văn Ly sĩ quan Biệt Động Quân. Ở đâu Ánh cũng là một cá nhân có sức thu hút và thuyết phục. Chính điểm son này, ở trại giam nào anh cũng bị giam cùm trong kỷ luật…” (Nguyễn Chí Thiệp. Trại Kiên Giam. Los Angeles, CA: Sông Thu, 1992).

Cái “điểm son thu hút” của V.A, thực ra, không phải lý do khiến ông thường trực bị  giam riêng. Cá tính “đứng đắn” cũng không thể khiến ông bị gông cùm suốt từ năm này sang năm khác. Vấn đề – có lẽ – chỉ vì V.A quá “trọng danh dự” mà thôi, theo như quan điểm và cách ứng xử cố hữu của ông:

“Cuối cùng muốn giữ nhân phẩm, duy trì nhân cách và khí tiết, một người tù cải tạo phải biết chấp nhận phần xấu nhất cho đời tù của mình, đó là sẵn sàng ra nằm ở Ðồi Thông (nghĩa địa của tù nhân cải tạo). Sự chấp nhận ấy là chiếc chìa khóa hóa giải bất cứ sự sợ hãi nào.”  (V.Ánh, sđd, 107).

Chính nhờ “sự chấp nhận ấy” nên bạn đồng tù đã nhiều lần “há hốc mồm lắng nghe” khẩu khí của V.A, khi ông thay mặt anh em để đặt vấn đề với ban quản lý trại giam:

Anh sửa micro cho vừa với tầm đứng của mình và bắt đầu nói… “Ông giám thị nói về chính sách nhân đạo khoan hồng rất hay, người tù chúng tôi nghe rất sướng tai, nhưng rất tiếc lời nói và việc làm thường không đi đôi với nhau; người đời thường nói một đàng và làm một nẻo.”Anh nói về chế độ ăn uống… Anh nhấn mạnh về việc cán bộ võ trang đánh tù (chính trị có án). Và sau cùng anh nói về chính sách kỷ luật… Lúc ấy trông anh đẹp quá! Hiên ngang quá! Anh ứng khẩu, giọng chững chạc, đầy uy lực. Cả hội trường há hốc mồm, lắng nghe như uống từng lời nói của anh. (Phạm Đức Nhì. “Vũ Ánh Và Tôi – Chung Một Đoạn Đời”. Việt Báo 03.06.2014)

Không chỉ nói suông mà V.A còn làm những chuyện kinh khủng khác. Cùng với Trần Danh San, Nguyễn Chí Thiệp…, ông thực hiện một tờ báo chui (underground press) khiến cho không chỉ Cục Quản Lý Trại Giam mà đến cả Bộ Công An Việt Nam cũng phải rúng động.

Chuyện làm báovượt trạituyệt thựcchất vấn cán bộ quản giáotổ chức những buổi văn nghệ tù ca … của những tù nhân A-20 có thể làm thành một cuốn phim hấp dẫn, với rất nhiều pha ngoạn mục, cùng những mẩu đối thoại “đôm đốp” rất bất ngờ (và cũng rất khó tin) đã có thể xẩy ra thường xuyên trong một trại kiên giam.

 

Chúng tôi đã có dịp nhắc đến tờ Hợp Đoàn (trong những trang sổ tay trước, cũng trên diễn đàn này) nên xin phép chỉ ghi thêm đôi điều, theo lời của chính những người trong cuộc:

  • Nằm trong cùm bị bớt khẩu phần và nước uống nhưng không phải lao động khổ sai để đổi lại 300 grams thực phẩm mỗi ngày. Nằm cùm, dù bị cắt bớt khẩu phần, có đói đến lả đi, nhưng sẽ không chết trừ phi bị nhiễm kiết lỵ. Ngược lại ở ngoài trại, lao động nặng lại ăn uống thiếu thốn kiểu đó, bị lao phổi có khi lại chết mau hơn không chừng…

      Phân tích và quyết định như thế khiến tôi yên tâm và coi việc nằm    chuồng cọp là một hình thức nghỉ ngơi. Ðó cũng là lý do tại sao giữa vòng vây của an ninh trại giam và những nội gián trong số bạn đồng tù với mình, tôi gấp rút chuẩn bị cùng với một số anh em khác đồng chí hướng cho ấn hành một nguyệt san lấy tên là “Hợp Ðoàn,” một nguyệt san chỉ có một ấn bản viết tay duy nhất và bí mật lưu hành trong trại, nhưng lúc nào chúng tôi cũng chuẩn bị nếu có cơ hội là gởi ra nước ngoài. (Vũ A., s.đ.d, tr.106 -107).  

  • Hợp Đoàn xem như là một thành công, anh em tiếp nhận đọc rất thận trọng và nghiêm túc. Thực chất nội dung vẫn chưa hẳn là một tờ báo đáng giá gì nhưng vì ở trong tù vừa khó khăn vừa nguy hiểm, mỗi lần Ánh hay Cường viết và lên khuôn tờ báo, những anh em thân thiết đều phải canh chừng và tổ chức đánh cờ chung quanh để tránh sự dòm ngó của an-ten, nên công một người thành công của nhiều người. Anh em đọc củng cố bảo vệ nó như người phát hành, vì nếu đổ bể ra thì tất cả đều bị chịu thiệt hại. (Nguyễn C.T., s.đ.d, ch.13).

Nhưng trước sau gì thì cũng “bể” thôi, theo bút ký (Ký Ức Bỏ Quên) của A-20 Nguyễn Thanh Khiết:  

“Cũng vì tờ Hợp Đoàn mà 1983 có gần 60 mạng vào biệt giam … Tháng 10-1986 Alpha, Nguyễn Chí Thiệp, Trần Danh San, Trần Bửu Ngọc, Ngô Văn Ly, Nguyễn Tú Cường, cùng vài đấng máu mặt bị quăng lên xe đưa về trại T20 (Thành Gia Định).

Bọn chèo dứt khoát muốn đào tận gốc rễ tờ báo ‘Hợp Đoàn’. Chính vì thế tại trại giam này, một số các anh được thả từ 1981-82 cũng bị hốt lại, trong đó có mặt những hào kiệt từng làm điêu đứng bọn cai tù ở trại A20, Phạm Đức Nhì, Trần Đức Long, Bùi Đạt Trung, Nguyễn Văn Hiếu, Phạm Chí Thành …”

Tuy nhiên, vào phút chót, đám lãnh đạo Hà Nội (bỗng dưng”) đổi ý. Họ chợt nhận thức được rằng khoác thêm cái bản án chung thân cho những con người đã trải qua gần hết đời mình trong những trại biệt giam (mà không hề nao núng) chả phải là chuyện khôn ngoan.

Thêm một phiên tòa dành cho tờ Hợp Đoàn chỉ giúp cho công luận thấy được rõ hơn sự tàn bạo của chế độ hiện hành, cùng tính chất bất khuất và can trường của những kẻ thuộc bên thua cuộc mà thôi.