“Không có ví dụ nào về cuộc xung đột này”

“Không có ví dụ nào về cuộc xung đột này”

Der SPIEGEL

Bernhard Zand phỏng vấn Henry Kissinger

Đỗ Kim Thêm, dịch

16-7-2022

Henry Kissinger. Nguồn: George Etheredge / DER SPIEGEL

SPIEGEL phỏng vấn Ngoại trưởng Mỹ huyền thoại về nỗi ám ảnh và lệnh ngừng bắn của Putin.

Kissinger sinh ra ở Fürth năm 1923. Năm 1938, ông di cư cùng cha mẹ sang Hoa Kỳ và được Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon bổ nhiệm làm Ngoại trưởng vào năm 1973. Kissinger được coi là một trong những chính khách có ảnh hưởng mạnh nhất thời hậu chiến. Trong cuốn sách “Nghệ thuật lãnh đạo đất nước: Sáu bài học cho thế kỷ 21” mới xuất bản gần đây của C. Bertelsmann; 608 trang; giá 38 Euro), cho biết Kisinger xây dựng di sản của mình theo học thuyết hiện thực.

***

SPIEGEL: Thưa ông Kissinger, khi ông  chào đời, Lenin vẫn còn sống. Ông được 29 tuổi khi Stalin qua đời, năm ông 39 tuổi thì Nikita Khrushchev đặt tên lửa hạt nhân ở Cuba và năm ông 45 thì Leonid Brezhnev đánh bại cuộc nổi dậy Mùa xuân Prague. Trong số những nhà cai trị ở điện Kremlin này, người nào làm cho ông nhớ đến Vladimir Putin ?

Kissinger: Khrushchev

SPIEGEL: Tại sao?

Kissinger: Khrushchev, vì tất cả liên hệ về sự công nhận. Khrushchev muốn xác nhận tầm quan trọng của đất nước mình và được mời đến Mỹ. Đối với Khrushchev, mọi thứ đều xoay quanh sự bình đẳng. Trong trường hợp của Putin, điều này thậm chí còn gay gắt hơn. Putin coi sự sụp đổ vị thế của Nga ở châu Âu kể từ năm 1989 là một thảm họa chiến lược. Đây gần như là một nỗi ám ảnh của Putin. Tôi không chia sẻ đánh giá rằng Putin muốn lấy lại tất cả những gì Moscow đã mất kể từ năm 1989. Nhưng Putin không thể chịu đựng được là gần như toàn bộ lãnh thổ giữa Berlin và biên giới Nga đã rơi vào tay của khối NATO. Đối với Putin, điều đó đã khiến cho Ukraine trở thành một điểm tế nhị.

SPIEGEL: Khrushchev đã gây ra cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba, nhưng cuối cùng đã nhượng bộ. Liệu Putin có làm như vậy không?

Kissinger: Putin không bốc đồng như Khrushchev. Putin tính toán hơn và bực bội kéo dài. Có lẽ sẽ dễ dàng hơn nếu chúng ta phải đối phó với một nhà lãnh đạo khác của Nga trong cuộc khủng hoảng này. Nhưng không chắc rằng việc chuyển đổi từ Putin sang người kế nhiệm sẽ diễn ra trong suôn sẻ. Nga tự phát triển như thế nào, cuối cùng đó là một vấn đề của Nga. Sau đó, các quốc gia phương Tây sẽ phải tuân theo điều này và kết quả quân sự ở Ukraine.

SPIEGEL: Ông đã viết một cuốn sách mới, và chương đầu tiên mô tả về Konrad Adenauer. Ông viết rằng chính sách của Adenauer “dựa trên việc coi sự phân chia đất nước Đức là tạm thời”. Ông đã nghĩ đến ý nghĩa này khi gần đây ông đưa ra đề xuất chấm dứt chiến tranh Ukraine bằng cách Ukraine chấp nhận một sự phân chia tạm thời lãnh thổ của mình, phát triển một phần của đất nước thành một quốc gia thân phương Tây, dân chủ, mạnh về kinh tế và chờ đợi đến một ngày nào đó phần khác cùng tham gia?

Kissinger: Những gì tôi đã nói là một điều khác: để kết thúc cuộc chiến này, đường phân chia tốt nhất là hiện trạng, bao gồm khoảng 93% đất nước. Khôi phục hiện trạng này có nghĩa là sự xâm lược đã không thành công. Do đó, đây là một câu hỏi về một lệnh ngừng bắn dọc theo đường  liên lạc của ngày 24 tháng 2. Lãnh thổ do Nga kiểm soát, khoảng 2,5% lãnh thổ Ukraine ở Donbass và bán đảo Crimea, sau đó sẽ là một phần của các cuộc đàm phán tiếp theo.

SPIEGEL: Tuy nhiên, ông đã nói thêm rằng, nếu cuộc chiến tiếp tục vượt ra ngoài đường liên lạc của ngày 24 tháng 2, nó “không còn là về tự do của Ukraine, mà là về một cuộc chiến mới chống lại chính Nga”.

Kissinger: Tôi chưa bao giờ nói rằng, Ukraine nên từ bỏ một phần lãnh thổ của mình.

SPIEGEL: Nhiều người Ukraine đã hiểu khác đi. Dân biểu Quốc hội Oleksej Gontscharenko nói rằng, ông “vẫn đang sống trong thế kỷ 20” và Ukraine sẽ không từ bỏ một tấc đất nào thuộc lãnh thổ của mình.

Kissinger: Tổng thống Volodymyr Zelenskyi không nói điều đó. Ngược lại. Chưa đầy hai tuần sau lời tuyên bố của tôi, Zelenskyi đã nói trong một cuộc phỏng vấn với “Financial Times” rằng, việc phục hồi hiện trạng sẽ là một chiến thắng vĩ đại. Và sau đó họ sẽ tiếp tục chiến đấu bằng ngoại giao cho phần còn lại của lãnh thổ. Điều đó phù hợp với quan điểm của tôi.

SPIEGEL: Trong phần giới thiệu cuốn sách mới, ông trích dẫn lời của Winston Churchill: “Hãy nghiên cứu lịch sử. Lịch sử nắm giữ tất cả các bí mật của nghệ thuật lãnh đạo đất nước”. Tiền lệ lịch sử nào ông coi là bài học sâu xa nhất để hiểu và kết thúc cuộc chiến Ukraine?

Kissinger: Đó là một câu hỏi rất hay mà tôi không có câu trả lời trực tiếp. Bởi vì ở một bình diện, cuộc xung đột về Ukraine là một cuộc chiến về quân bình quyền lực, và trên bình diện khác, nó có các yếu tố của một cuộc nội chiến. Do đó, nó kết hợp một cuộc xung đột cổ điển của châu Âu với một cuộc xung đột hoàn toàn trong toàn cầu. Khi cuộc chiến này kết thúc vào một ngày nào đó, câu hỏi sẽ được đặt ra là liệu Nga sẽ tìm thấy một mối quan hệ chủ yếu với châu Âu – điều mà họ luôn mong muốn – hay trở thành một tiền đồn của châu Á ở ngay biên giới với châu Âu. Không có ví dụ tốt đẹp về một cuộc xung đột như vậy.

SPIEGEL: Chính ông và sáu nhân vật mà ông mô tả trong cuốn sách của mình – ngoài Adenauer, còn có Charles de Gaulle, Richard Nixon, Anwar el-Sadat, Lý Quang Diệu và Margaret Thatcher – đã định hình cho thế giới mà chúng ta đang sống ngày nay. Đó không phải là một thế giới ổn định: ở châu Âu, cuộc chiến Ukraine đang hoành hành, ở châu Á, một cuộc xung đột về Đài Loan là đáng sợ, ở Trung Đông là một cuộc xung đột về chương trình hạt nhân của Iran. Tại sao các chính trị gia nên làm theo các ví dụ trong cuốn sách của ông?

Kissinger: Tôi không nói rằng các chính khách nên noi gương theo những nhân vật này là vì tính cách rất khác biệt này. Nhưng tôi nghĩ rằng, người ta có thể học hỏi từ những vấn đề mà họ đang giải quyết. Thế giới đang đầy rẫy những xung đột, đó không phải là chuyện mới. Điều mới là, do toàn cầu hóa, chúng ta hiện đang đối phó lần đầu tiên với xung đột thường trực của các khu vực khác nhau về văn hóa. Đối với một số xung đột hiện tại, các ví dụ từ trong cuốn sách có thể hữu ích, đối với những người khác thì không. Tôi không viết một cuốn sách dạy về nấu ăn về cho các mối quan hệ quốc tế.

SPIEGEL: Ông có nghĩ rằng chính sách đối ngoại, chẳng hạn như chính sách mà Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon và ông theo đuổi, vẫn là hiệu quả nhất – có nghĩa là, sự ổn định là quan trọng hơn việc tuân theo các điều nên làm mang tính quy phạm, và các chính khách trong chính trị thích hợp hơn là những người có viễn kiến?

Kissinger: Các chính khách và những người có viễn kiến chỉ đơn giản là hai khuôn mẩu của các nhà lãnh đạo khác nhau.

SPIEGEL: Ưu tiên của ông là hiển nhiên: Trong cuốn sách của ông, ông đặt tên cho Theodore và Franklin D. Roosevelt, Kemal Ataturk và Jawaharlal Nehru là “các chinh khách” và Echnaton, Jean d`Arc, Robespierre và Lenin là “những người có viễn kiến”. Ông có nghĩ rằng nó vẫn là tất cả về việc cân bằng trọng lượng của các sức lực?

Kissinger: Quân bình quyền lực là điều kiện tiên quyết cho nhiều thứ, nhưng tự nó không phải là một mục đích. Chỉ riêng sự cân bằng quyền lực không đảm bảo cho sự ổn định. Tuy nhiên, nếu không có sự cân bằng, không có sự ổn định.

SPIEGEL: Trên giá sách phía sau lưng ông là tiểu sử của Hoàng tử Metternich, đó là một nhân vật mà ông đã làm luận án tiến sĩ và được coi là kiến trúc sư của trật tự hòa bình châu Âu hồi đầu thế kỷ 19. Các giai đoạn của một vài thập kỷ ổn định tương đối như khi xưa hoặc sau Thế chiến II có phải là điều tốt nhất mà chúng ta có thể thực sự hy vọng?

Kissinger: Không. Tôi tin rằng trong cái nhìn này, hiện tại là duy nhất. Theo quan điểm của tôi, Thế chiến thứ nhất đã chứng minh rằng, công nghệ hiện đại đang phát triển nhanh hơn khả năng chế ngự kỷ thuật bằng chính trị của chúng ta. Trong thời đại của chúng ta, không còn nghi ngờ gì về điều này. Vũ khí hạt nhân đã có mặt trên thế giới gần 80 năm và hàng ngàn tỷ đã được chi trả cho sự phát triển của chúng. Kể từ năm 1945, không ai dám sử dụng chúng, thậm chí không một lần chống lại các quốc gia không có vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, ngày nay, vũ khí hạt nhân thậm chí còn nguy hiểm hơn thông qua các phương tiện điều khiển binh pháp trong không gian mạng và trí tuệ nhân tạo…

SPIEGEL: … bởi vì trong trường hợp xảy ra khủng hoảng, các binh pháp không thể tiên đoán thuật toán kiểm soát?

Kissinger: Trong mọi trường hợp, đối với nhà lãnh đạo chính trị, họ đã gặp các khó khăn cực kỳ để kiểm soát tình trạng công nghệ của mình, trước tiên là trong trường hợp có chiến tranh. Đó là lý do tại sao có một nghĩa vụ quan trọng đối với mọi thứ khác để ngăn chặn một cuộc chiến, mà trong đó công nghệ cao như vậy có thể được mang ra sử dụng. Trên tất cả, tất nhiên, một cuộc chiến giữa hai quốc gia công nghệ cao hàng đầu là Trung Quốc và Mỹ. Một tình huống tương tự như vậy chưa bao giờ có trước đây, bởi vì trong các cuộc chiến, người ta luôn có thể tưởng tượng được rằng, một trong hai đối thủ ít nhất có thể tận dụng một số lợi thế của chiến thắng trước đối phương.

SPIEGEL: Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden mô tả tình hình địa chính trị hiện tại là một cuộc đấu tranh giữa nền dân chủ và chuyên chế. Chính phủ liên bang mới cũng đã đặt cho mình mục tiêu của một chính sách đối ngoại “định hướng theo giá trị” hơn. Ông đánh giá điều đó như thế nào?

Kissinger: Đối với một người với lịch sử cá nhân tôi, sự ưu tiên dành cho nền dân chủ là vấn đề không cần phải nói. Đối với tôi, nền dân chủ là hệ thống đáng để theo đuổi hơn. Nhưng nếu vấn đề ưu tiên này được tuyên bố là mục tiêu chính trong các mối quan hệ quốc tế của thế giới ngày nay, nó sẽ dẫn đến một sự thúc đẩy mang tính truyền giáo. Điều này có thể dẫn đến một cuộc xung đột quân sự mới như trong Chiến tranh Ba mươi năm. Đối với Trung Quốc, chính quyền Tổng thống Biden đã tuyên bố rằng, họ không có ý định mang lại “sự thay đổi chế độ” ở đó. Vì vậy, Biden phải đối mặt với một vấn đề mà tất cả các nhà lãnh đạo của các quốc gia lớn gặp phải. Thực sự có những tình huống trong đó có nghĩa vụ tự vệ – và đó là cách châu Âu nhận thức về cuộc xung đột  Ukraine. Tuy nhiên, trong tình huống này, nghệ thuật lãnh đạo nhà nước phải bao gồm ba điều cùng một lúc: ý nghĩa lịch sử của sự cân bằng lực lượng, ý nghĩa mới của công nghệ cao và bảo tồn các giá trị thiết yếu của nó. Thách thức này là mới.

SPIEGEL: Ông đánh giá như thế nào về lời tuyên bố của Biden: “Tổng thống Putin không thể nắm quyền”?

Kissinger: Đó không phải là một câu nói thông minh.

SPIEGEL: Một trong những giả định cơ bản của chủ thuyết hiện thực chính trị cho là, hệ thống quốc tế cuối cùng là tình trạng vô chính phủ và không có thẩm quyền đối với từng quốc gia riêng. Kinh nghiệm của ông có xác nhận giả định này không?

Kissinger: Không. Nguyên tắc chủ quyền, mà trong đó các mối quan hệ quốc tế đã được xây dựng đầu tiên ở châu Âu và cuối cùng trên toàn thế giới, có hai hậu quả: một mặt, nó đã thiết lập một khái niệm về tính hợp pháp trong luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, mặt khác, nó phân mảnh thế giới, bởi vì ở từng các quốc gia riêng, nguyên tắc chủ quyền của chính mình được coi là tối thượng. Đây là một vấn đề nan giải, nó rất khó giải quyết về mặt triết học, đặc biệt là vì từng khu vực riêng tuân theo các hệ thống phân cấp giá trị rất khác nhau do sự dị biệt văn hóa.

SPIEGEL: Diễn biến của cuộc chiến Ukraine cho đến nay có đẩy mạnh hay làm suy giảm mong muốn của giới lãnh đạo Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan theo hướng có lợi cho mình không?

Kissinger: Không – cũng không. Putin rõ ràng đã đánh giá thấp sự kháng cự đang gặp phải. Tuy nhiên, phía Trung Quốc sẽ chỉ sử dụng toàn bộ sức mạnh chống lại Đài Loan, nếu họ kết luận rằng không một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột này là khả thi. Tôi tin rằng họ vẫn chưa đạt đến điểm này.

SPIEGEL: Nhưng nếu một ngày nào đó, Trung Quốc đi đến kết luận này, cuộc xung đột này sẽ khác với cuộc xung đột ở Ukraine như thế nào?

Kissinger: Đó là một đặc thù quân sự của cuộc xung đột Ukraine, hai đối thủ có vũ khí hạt nhân ở đó đang chiến đấu trong một cuộc chiến tranh thông thường trên lãnh thổ của một quốc gia thứ ba, tất nhiên có nhiều vũ khí của chúng ta. Mặt khác, một cuộc tấn công Đài Loan, về mặt pháp lý, sẽ đẩy Trung Quốc và Hoa Kỳ vào một cuộc xung đột trực tiếp, ngay từ đầu.

SPIEGEL: Đã 50 năm qua, từ khi Tổng thống Richard Nixon và ông thực hiện một chuyến Hoa du lịch sử. Theo quan điểm ngày nay, đó là một thành tựu hay sai lầm khi trì hoãn việc giải quyết cuộc xung đột Đài Loan vào thời điểm đó?

Kissinger: Đó là một đường lối duy nhất có thể để bắt đầu hợp tác với Trung Quốc. Ngược lại, điều này là cần thiết để chấm dứt chiến tranh Việt Nam, để mở ra việc kết thúc Chiến tranh Lạnh – và để đạt được sự phát triển hòa bình kéo dài trong ít nhất trong 25 năm. Việc Trung Quốc trỗi dậy sẽ gây ra nhiều vấn đề, đó là điều không thể tránh. Nhưng đối với Đài Loan, đó là một thành tựu khá lớn để giành lấy từ Mao Trạch Đông một sự hoãn lại giải pháp cuối cùng cho cuộc xung đột này.

SPIEGEL: Trong nhiều thập kỷ, các chính trị gia đã tìm lời khuyên của ông, các Tổng thống Mỹ, các Thủ tướng Đức từ Konrad Adenauer đến Angela Merkel. Nhưng ông cũng bị chỉ trích, bao gồm cả hành động của chính quyền Nixon ở Campuchia và Chile. Khi nhìn lại sự nghiệp chính trị của mình, ông đã sai ở đâu?

Kissinger: Hiện nay, tôi sẽ không tham gia vào một cuộc tranh luận về Campuchia và Chile, tôi đã viết về điều đó một cách chi tiết trong hồi ký của tôi. Nhưng sự công bằng của báo chí đòi hỏi chúng ta là phải chỉ ra rằng, tất cả những biến cố này có một bối cảnh nhất định. Cuộc ném bom đầu tiên tại Campuchia diễn ra chỉ hơn một tháng sau khi Nixon nhậm chức. Người Bắc Việt Nam đã phát động một cuộc tấn công ngay sau đó, với bốn sư đoàn đóng quân ở Campuchia, rất gần Sài Gòn. Họ đã giết khoảng 1.000 người Mỹ. Họ vượt qua biên giới vào ban đêm, tấn công và rút lui về Campuchia. Vì vậy, những cuộc ném bom này không phải là hành động của một tổng thống, người muốn mở rộng cuộc chiến, mà là của một tổng thống muốn kết thúc cuộc chiến. Đó là ý định của Nixon ngay từ đầu, ông đã viết thư cho Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam, trước khi nhậm chức.

Và việc lật đổ Tổng thống Salvador Allende là kết quả của những diễn biến nội bộ ở Chile. Chúng ta không may mắn khi ông nhậm chức vào năm 1970. Nhưng vào thời điểm ông bị lật đổ, tất cả các đảng dân chủ trong quốc hội Chile đã xa lánh ông. Đó là những điều tạo ra các điều kiện cho cuộc đảo chính quân sự. Các chính trị gia luôn phải đối mặt với tình thế tiến thoái lưỡng nan khi phải cân nhắc lợi ích quốc gia trong những tình huống mơ hồ. Sau đó, các nhà báo vô cùng thích thú khi chỉ ra những sai lầm hoặc hậu quả của chúng. Không ai có thể đưa ra đòi hỏi là mình chưa bao giờ phạm sai lầm. Nhưng để tiếp tục quay trở lại những điều đã xảy ra hơn 50 năm trước mà không đặt bối cảnh vào bối cảnh là không công bằng.

SPIEGEL: Đồng ý. Và vì chúng ta nói về Trung Đông, cuộc xâm lược Iraq của Mỹ có phải là một sai lầm?

Kissinger: Tôi đã không còn ở trong chính phủ hơn 20 năm khi cuộc xâm lược bắt đầu. Tôi hiểu biện pháp này. Ấn tượng của tôi là Tổng thống George W. Bush muốn cho thấy rằng, các chế độ hỗ trợ cho các cuộc tấn công bằng khủng bố tạo ra sự bất ổn thường trực. Có nhiều lời biện minh hợp lý và đạo đức cho quyết định loại bỏ Saddam ra khỏi chính quyền. Nhưng muốn cai trị Iraq theo cách mà chúng ta đã cai trị nước Đức bị chiếm đóng là một sai lầm về phân tích. Các tình huống là không thể so sánh được, và việc chiếm đóng Iraq vượt quá khả năng của chúng ta.

SPIEGEL: Trước cuộc chiến Ukraine, đã có một cuộc thảo luận về việc liệu Mỹ có nên tìm kiếm sự gần gũi với Nga để gây áp lực cho đối thủ Trung Quốc hay không. Ngày nay, câu hỏi đặt ra đúng hơn là, khi đối mặt với mối đe dọa của Nga, liệu Washington có nên giảm bớt căng thẳng với Bắc Kinh hay không – như Nixon và ông đã làm cách đây 50 năm. Ông có nghĩ rằng, nước Mỹ đủ mạnh để đối đầu với hai đối thủ lớn to lớn nhất cùng lúc?

Kissinger: Nếu điều đó có nghĩa là mở rộng cuộc chiến ở Ukraine thành một cuộc chiến chống lại Nga và đồng thời vẫn giữ thái độ thù địch với Trung Quốc, thì tôi nghĩ điều đó sẽ rất ư là không khôn ngoan. Tôi ủng hộ những nỗ lực của khối NATO và Mỹ nhằm ngăn chặn sự xâm lược của Nga và khôi phục Ukraine về các tầm vóc mà họ đã có trước chiến tranh. Và tôi hiểu rằng, Ukraine đang đưa ra những yêu cầu vượt xa hơn thế. Vấn đề này có thể được giải quyết trong khuôn khổ một nhãn quan rộng hơn về các mối quan hệ quốc tế. Nhưng ngay cả khi điều này thành công, mối quan hệ tương lai của Nga với châu Âu sau đó phải được làm rõ, tức là vấn đề liệu Nga sẽ vẫn là một phần của lịch sử châu Âu hay liệu nó sẽ trở thành một đối thủ thường trực trong liên minh với các vùng lãnh thổ hoàn toàn khác nhau. Đó sẽ là vấn đề chủ yếu. Và điền này đúng, bất kể cho kết quả của cuộc chiến Ukraine là gì, những hậu quả có thể xảy ra mà hiện nay tôi đã vạch ra nhiều lần – và chưa bao giờ nói rằng Ukraine nên từ bỏ một phần lãnh thổ của mình.

SPIEGEL: Ông Kissinger, chúng tôi cám ơn ông về buổi nói chuyện này. 

________

Tác giả: Bernhard Zand sinh năm 1967 tại Bad Ausse (Áo). Từ năm 1998, ông là Biên tập viên của SPIEGEL và đầu năm nay là Thông tín viên tại New York.

Chỉ có một “Việt Á” trong Bộ Khoa học và Công nghệ?

Chỉ có một “Việt Á” trong Bộ Khoa học và Công nghệ?

21-7-2022

Ảnh trên mạng

Năm 2018, Công ty Thu Đức của ông Nguyễn Bình Dương đăng ký một loạt nhãn hiệu: Thu Đức Ga, My Tra Petro, OIRIGIN GAS, VINSIN trùng với tên viết tắt hoặc tương tự với tên thương mại của một số doanh nghiệp khác đã nổi tiếng trên thị trường hàng chục năm như THỦ ĐỨC GAS, MỸ TRÀ GAS, ORIGIN GAS, Vinashin.

Điều đáng ngạc nhiên là, cho dù hoạt động “cùng lĩnh vực kinh doanh”, lại sử dụng tên thương mại và nhãn hiệu “rất dễ gây nhầm lẫn” với những nhãn hiệu đã nổi tiếng nhiều thập niên, “có tính chất lừa dối về nguồn gốc, xuất xứ…” mà các nhãn hiệu của ông Nguyễn Bình Dương lập ra vẫn được Cục Sở hữu Trí tuệ Bộ Khoa học và Công nghệ cấp “giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa”.

Không dừng lại ở mức độ “gian lận thương mại”, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, ngày 5-7-2021, khi kiểm tra một cửa hàng của Gas Thu Đức ở Hòa Bình, Đoàn kiểm tra liên ngành (Cục Quản lý thị trường phối hợp với PC03 Công an tỉnh Hòa Bình) đã bắt quả tang Công ty Thu Đức có hành vi làm giả, làm nhái nhiều loại thương hiệu gas nổi tiếng trên thị trường, như Thủ Đức gas, Mỹ Trà gas, ORINGIN GAS và Vinashin.

Ngoài việc làm giả, làm nhái, ông Nguyễn Bình Dương còn thu gom bình gas của nhiều doanh nghiệp về “cưa tai, mài vỏ, mài số chế tạo, bỏ logo cũ, dán lô gô của mình vào, rồi sang chiết gas không nguồn gốc rõ ràng để cung cấp ra thị trường”.

“Cưa tai, mài vỏ” không phải là “tội phạm mới” trong ngành kinh doanh gas. Nhưng, “cưa tai, mài vỏ” với “căn cước” được cấp bởi Cục Sở Hữu Trí Tuệ của Bộ Khoa học và Công nghệ thì hành vi gian lận đã được nâng lên một quy mô mới.

Các nạn nhân của Gas Thu Đức và Hiệp hội kinh doanh Gas đã nhiều lần gửi văn bản lên ông Cục trưởng Cục Sở hữu Trí tuệ đề nghị rút lại các giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa; gửi C03 đề nghị “xử lý hình sự người đại diện pháp luật của công ty này, ông Nguyễn Bình Dương”. Nhưng, đến nay sự việc vẫn chưa giải quyết.

Giả mạo các nhãn hiệu nổi tiếng không phải là câu chuyện riêng của Việt Nam nhưng ít có ở đâu, việc giả mạo lại ngang nhiên tồn tại như ở Việt Nam.

Trong thập niên 1990s, không mấy ai tới Hà Nội mà không biết phố thịt chó Nhật Tân. Khởi nghiệp thành công ở “ngành công nhiệp” này là “Anh Tú”. Bắt đầu một mình với một “mái lều tranh” nhưng khi “Anh Tú” được nâng cấp thành khu nhà sàn 2 tầng, Nhật Tân ngay lập tức trở thành “liên hiệp các xí nghiệp thịt chó Hà Nội” với gần 50 quán khác. Không chỉ có Trần Mục, Hồ Kiếm, A Trang… “thương hiệu Anh Tú” đã bị nhái bởi những Anh Tú Xịn, Anh Tú Nhà Kính, Anh Tú Nhà Lá…

“Kinh đô thịt chó” vì nhiều lý do nay đã không còn nữa. Nhưng, ngay giờ đây ở Hà Nội, bên cạnh “Lạc rang húng lừu gia truyền bà Vân” vẫn có “Thương hiệu bà Vân lạc rang húng lừu gia truyền”. Ở Hà Tĩnh, bên cạnh cửa hàng của một thương hiệu cu đơ uy tín, Thư Viện, mọc thêm ngay sát một Thư Viện khác.

Hẳn nhiều người còn nhớ, năm 2010, khi xuất hiện “thương hiệu Vincon” nhái Vincom, Chánh thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ đã ra quyết định xử Vincon với mức phạt tiền 14 triệu và yêu cầu loại bỏ “Vincon” trên biển hiệu, giấy tờ giao dịch… Không lẽ, Bộ Khoa học và Công nghệ giờ đây không còn khả năng vận hành như 12 năm trước.

Tôi không rõ, ông bà Thư Viện và “Bà Vân” chính hiệu đã từng đăng ký nhãn hiệu hay thưa kiện hay chưa; nhưng, trong một môi trường kinh doanh mà những kẻ lười biếng (sử dụng trí tuệ), kiếm tiền bằng làm nhái, ăn cắp, gian lận… được dung túng thì sẽ không bao giờ có kinh tế thị trường.

Trong nhiệm kỳ trước, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thường xuyên nói đến “nhà nước kiến tạo”, cho đến nay, người dân vẫn chưa thực sự hiểu rõ nội hàm của nhà nước kiến tạo là gì. Trước khi có thể kiến tạo cơ hội kinh doanh cho người dân, người dân và doanh nghiệp chỉ mong nhà nước làm đúng trách nhiệm của mình, không tiếp tay cho các hành vi gian dối, lừa đảo để chiếm đoạt thành quả kinh doanh của họ.

Không chỉ có dấu hiệu gian lận thương mại, hành vi của Thu Đức Gas có nhiều dấu hiệu chiếm đoạt tài sản của các công ty như Thủ Đức Gas, Mỹ Trà Gas… Khởi tố những vụ án tương tự (ở nhiều ngành khác nhau) không chỉ là cách duy nhất để dần thiết lập một môi trường kinh doanh lành mạnh, để thực sự có kinh tế thị trường, mà còn có thể giúp phát hiện ở Bộ Khoa học & Công nghệ thêm những vụ án khác có “mùi Việt Á”.

TÌNH CHA – TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TÌNH CHA

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Trong cuộc sống thực tế, người cha thường hay nghiêm khắc đối với con cái, nhưng lại dạt dào tình thương.  Nói đúng hơn, cách thể hiện tình cảm của người cha khác với người mẹ.  Tuy vậy, tình cha không kém gì tình mẹ, vừa rộng mở, vừa bao dung.  Nếu có nghiêm khắc, là vì muốn cho con nên người, bởi lẽ “thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi.”  Cũng trong quan niệm thông thường của người Việt Nam, chữ “tình” rất quan trọng.  “Trăm cái lý không bằng một tý cái tình.”  Vì tình nghĩa, người ta dễ dàng bỏ qua những thiếu sót, “chín bỏ làm mười”, để quên đi quá khứ và sống hài hòa với nhau trong một làng, một xóm hoặc một đại gia đình.

Trong Kinh Thánh, Thiên Chúa được xưng tụng là Cha.  Ngài rất khiêm khắc đối với tội nhân, nhưng lại bao dung đối với những ai thành tâm sám hối.  Ngài là Đấng “nổi giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời.  Lệ có rơi khi màn đêm buông xuống, hừng đông về đã vọng tiếng hò reo” (Tv 30,6).  Câu chuyện ông Abraham “mặc cả” với Chúa đã diễn tả lòng nhân từ của Ngài.  Thời đó, dân thành Xơ-đôm và Gô-mô-ra sống trong tội lỗi và sa đọa, khiến Thiên Chúa bừng bừng nổi giận.  Ngài quyết định sẽ trừng phạt họ.  Ông Abraham đã “năn nỉ” với Chúa và dần dần từng bước hạ thấp điều kiện.  Từ con số năm mươi người công chính, ông đã hạ xuống chỉ còn mười người, nhờ đó mà Chúa thay đổi ý định trừng phạt.  Thiên Chúa đã bớt giận trước lời nài xin của ông Abraham và Ngài đã đồng ý: nếu có được mười người công chính thì Ngài sẽ không tru diệt hai thành này.  Tác giả sách Sáng thế đã dùng lối văn “như nhân” để diễn tả Thiên Chúa.  Ngài nguôi giận trước sự van xin của con người.  Nếu đọc tiếp đoạn Sách thánh này, chúng ta sẽ thấy, điều kiện có mười người công chính cũng không đạt được.  Thành Xơ-đôm và Gô-mô-ra đã bị lửa diêm sinh từ trời thiêu rụi.  Tất cả đã bị tru diệt, chỉ trừ gia đình ông Lót, là người kính sợ Chúa.  Khi vừa chạy khỏi thành, bà vợ ông Lót, vì tiếc của quay lại, bỗng hoá thành tượng muối.

Nếu Thiên Chúa kiên nhẫn trước sự xúc phạm của con người, thì con người cũng phải kiên nhẫn cậy trông để thoát khỏi trừng phạt.  Người hàng xóm trong Tin Mừng thánh Luca đã kiên trì nhẫn nại để vay bánh vào lúc nửa đêm.  Sự kiên trì đã làm thay đổi lòng chai đá của chủ nhà, mà trỗi dậy lấy bánh cho người hàng xóm.  Chúa Giêsu đã dùng một tình huống đời thường để liên hệ đến lòng thương xót của Thiên Chúa.  Nếu người thường còn làm thế, huống chi Cha trên trời.  Hãy kiên trì cầu nguyện.  Hãy phó thác nơi Thiên Chúa những lo lắng của cuộc đời.  Ba động từ được Chúa Giêsu nhắc tới, đó là: xin, tìm, gõ cửa.  Cả ba hành động này đều diễn tả sự kiên nhẫn, lòng cậy trông và tin tưởng phó thác.  Thiên Chúa là Cha nhân từ.  Ngài luôn lắng nghe những ước nguyện chân thành của chúng ta.

Cầu nguyện làm nên cốt lõi đời sống người tin Chúa.  Vì cầu nguyện chính là than thở với Ngài, để trình bày với Ngài về nỗi niềm nhân thế.  Cầu nguyện cũng là xin Chúa đỡ nâng trên đường đời còn mang nhiều truân chuyên.  Đức Giêsu đã dạy các môn đệ cầu nguyện.  Lời Kinh “Lạy Cha” diễn tả mối dây thiêng liêng giữa Thiên Chúa và người tín hữu.  Chỉ có Chúa Giêsu mới được gọi Thiên Chúa là Cha, vì Người là Con của Chúa Cha, như Người nhiều lần khẳng định.  Lời cầu nguyện mà Người dạy các môn đệ khởi đầu bằng hai chữ “Lạy Cha”, hoặc “Thưa Cha”, hoặc “Cha ơi.”  Như vậy, Chúa Giêsu đã cho phép chúng ta gọi Chúa là Cha, giống như bản thân Người.  Nói cách khác, nhờ Chúa Giêsu, trong Chúa Giêsu, và với Chúa Giêsu mà chúng ta được gọi Chúa là Cha với tâm tình thân thương trìu mến.

Nếu chúng ta mạnh dạn đến với Chúa và thân thưa với Ngài: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”, là nhờ cái chết của Đức Giêsu trên thập giá.  Thánh Phaolô nói với chúng ta: trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã tha thứ mọi sa ngã lỗi lầm của chúng ta.  Đức Giêsu đã giải phóng chúng ta khỏi mọi chướng ngại ngăn bước chúng ta đến gần Thiên Chúa.

Khác với lối cầu nguyện kể lể dài dòng và nhằm phô trương nơi những người biệt phái đã bị Chúa Giêsu kịch liệt lên án, kinh Lạy Cha ngắn gọn, đơn sơ mà lại mang nội dung rất phong phú.  Đây là tâm tình đơn sơ của người con thảo thân thưa với Chúa.  Điều cầu nguyện ưu tiên là ước mong cho vinh quang Chúa tỏ hiện giữa lòng nhân thế, để mọi người trên thế giới nhận biết Chúa là Cha vinh hiển quyền năng.  Tiếp đó là những ý cầu nguyện xin cho bản thân và cho những người anh chị em bạn hữu.  “Xin tha tội cho chúng con, vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con.”  Lời kinh khiêm tốn nhẹ nhàng, vừa hướng chúng ta về Chúa, vừa liên kết chúng ta với tha nhân.  Lời kinh cũng thể hiện thiện chí sống hài hòa với mọi người nhờ ơn Chúa, để có được trái tim bao dung như Ngài.

Với tâm tình yêu mến, phó thác và cậy trông, chúng ta cùng thưa với Chúa; “Lạy Cha chúng con ở trên trời…”.  Chắc chắn lời kinh sẽ đem lại cho chúng ta niềm vui và sự bình an, trong mọi tình huống của cuộc đời.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Thánh Lawrence of Brindisi Linh Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (1559-1619)- Cha Vương

Thánh Lawrence of Brindisi Linh Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (1559-1619).

Chúc bình an. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Lawrence of Brindisi Linh Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (1559-1619).

Cha Vương 

Thứ 5: 21/07/2022

Thoạt nhìn qua tiểu sử, có lẽ đặc tính nổi bật của Thánh Lawrence ở Brindisi là ngài biết nhiều thứ tiếng. Ngoài kiến thức về tiếng mẹ đẻ là tiếng Ý, ngài còn có thể đọc và viết thông thạo tiếng Latinh, Do Thái, Hy Lạp, Ðức, Bohemia, Tây Ban Nha và tiếng Pháp.

Ngài sinh ngày 22 tháng 7 năm 1559, và từ trần đúng 60 năm sau cũng vào ngày sinh nhật năm 1619. Tên thật của ngài là Julius Caesare Rossi, sau khi cha mẹ mất sớm, ngài được người chú nuôi nấng và cho theo học trường Thánh Máccô ở Venice.

Khi mới 16 tuổi, ngài gia nhập Dòng Phanxicô Capuchin ở Venice và lấy tên là Lawrence. Ngài học triết thần, Kinh Thánh, và các ngôn ngữ ở Ðại Học Padua và được thụ phong linh mục năm 23 tuổi.

Với khả năng ngôn ngữ trổi vượt, ngài có thể nghiên cứu Phúc Âm bằng tiếng nguyên thủy. Theo lời yêu cầu của Ðức Giáo Hoàng Clêmentê VIII, ngài dành nhiều thời giờ để rao giảng cho người Do Thái ở Ý. Ngài thông thạo tiếng Hebrew đến nỗi các giáo sĩ Do Thái tin rằng ngài là người Do Thái trở lại Kitô Giáo.

Ngài rất nhạy cảm trước nhu cầu của người khác — đó là một đặc tính không ngờ nơi một học giả tài giỏi như vậy. Ngài được bầu làm bề trên tỉnh dòng Capuchin ở Tuscany khi mới 31 tuổi. Ngài là một con người tổng hợp của sự lỗi lạc, có lòng thương người và khả năng điều hành. Sau một loạt “thăng quan tiến chức”, ngài được các tu sĩ Capuchin chọn làm bề trên toàn Dòng vào năm 1602. Với chức vụ này, ngài góp phần lớn trong việc phát triển Dòng về phương diện địa lý.

Sau khi từ chối việc tái bổ nhiệm chức vụ bề trên vào năm 1605, ngài được đức giáo hoàng chọn làm sứ thần và sứ giả hòa bình cho một vài tranh chấp giữa các hoàng gia. Vào năm 1616, ngài giã từ mọi sinh hoạt trần tục để về sống trong tu viện ở Caserta.

Vào năm 1956, Dòng Capuchin đã hoàn tất việc biên soạn 15 tuyển tập của ngài. Trong các tuyển tập ấy, mười một tập là các bài giảng, mỗi bài giảng được ngài dựa trên một câu Kinh Thánh để dẫn giải. Một trong những bài giảng: “Thiên Chúa là tình yêu, và mọi hoạt động của Ngài xuất phát từ tình yêu. Một khi Ngài muốn thể hiện sự tốt lành ấy bằng cách chia sẻ tình yêu của Ngài ra cho bên ngoài, thì sự Nhập Thể là một thể hiện vượt bực về sự tốt lành và tình yêu và vinh quang của Thiên Chúa. Như thế, Ðức Kitô đã được tiền định trước tất cả mọi tạo vật và cho chính Ngài. Vì Người mà muôn vật được tạo thành, và đối với Người mà muôn vật phải quy phục, và Thiên Chúa yêu quý mọi tạo vật trong Ðức Kitô và vì Ðức Kitô. Ðức Kitô là trưởng tử của mọi tạo vật, và toàn thể nhân loại cũng như thế giới vật chất tìm thấy nền tảng và ý nghĩa của nó trong Ðức Kitô. Hơn thế nữa, điều này cũng sẽ xảy ra ngay cả nếu Adong không phạm tội” (Thánh Lawrence ở Brindisi, Tiến Sĩ Hội Thánh).

Thể theo lời yêu cầu của các nhà cầm quyền ở Naples, ngài đã đến Tây Ban Nha để can thiệp với Vua Philip III. Cái nóng bức oi ả của mùa hè trong chuyến đi ấy đã làm ngài kiệt sức, và vài ngày sau khi gặp gỡ nhà vua, ngài từ trần ở Lisbon, Bồ Đào Nha ngày 22 tháng 7 năm 1619 và được mai táng tại nghĩa trang của Dòng thánh Clare nghèo khó ở Villafranca.

Đức Giáo Hoàng Pius VI đã tôn phong Chân Phước cho ngài năm 1783 và Đức Giáo Hoàng Leone XIII đã nâng ngài lên hàng hiển thánh ngày 08 tháng 12 năm 1881. Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII tuyên xưng ngài là Tiến Sĩ Hội Thánh ngày 19 tháng 3 năm 1959 với tước hiệu “doctor apostolicus – tiến sĩ tông đồ”.

(Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online & Nhóm Tinh Thần nhuận chính lại theo Patron Saint và Santi-Beati-Testimoni)

Thánh Lawrence ở Brindisi, cầu cho chúng con.

HỒI TÂM – TGM Giuse Vũ Văn Thiên

HỒI TÂM

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Hồi tâm là một hành vi tâm lý, nhìn lại quá khứ để nhận ra những việc mình đã làm.  Có thể đó là những việc tốt, nhưng cũng có thể đó là những việc chưa tốt.  Việc hồi tâm đòi hỏi lòng can đảm và trung thực, vì có nhiều người rất sợ đối diện với lương tâm của chính mình.  Đó là lý do tại sao có những người, sau khi làm điều ác, uống rượu hoặc hút chích ma túy để quên đi quá khứ, để gạt bỏ lời khiển trách của lương tâm.  Hồi tâm giúp chúng ta nhận ra những lầm lỗi của mình, để rồi sửa chữa, uốn nắn và canh tân cuộc đời. 

Lời mời gọi “Hãy trở về” cũng có nghĩa là “Hãy hồi tâm.”  Hồi tâm là một trong những thực hành quan trọng của Mùa Chay.  Việc hồi tâm phải được thực hiện trước mặt Chúa, trong tâm tình cầu nguyện và với thiện chí chừa cải. 

Hồi tâm cũng là ôn lại lịch sử đã qua.  Ông Môisen đã chỉ thị cho các tư tế Do Thái, mỗi khi dâng của lễ đầu mùa, phải nhắc lại quá khứ của dân tộc mình.  Quá khứ này vừa kể lại thuở hàn vi nghèo khổ, vừa ghi đậm dấu ấn quyền năng vô biên của Thiên Chúa.  Người Do Thái nhớ lại cha ông mình ngày xưa chịu cảnh lang thang phiêu bạt, nhờ quyền năng của Chúa, họ được định cư và phát triển đông đúc “như sao trên trời và như cát dưới biển.”  Quá khứ đã qua của dân riêng Thiên Chúa vừa huy hoàng, vừa đau khổ.  Lời cầu nguyện của tư tế cũng nhắc tới thời kỳ đen tối, dưới ách nô lệ của người Ai Cập.  Lại một lần nữa, Chúa giang cánh tay uy quyền để giải thoát họ, đưa họ về miền đất hứa.  Đó là lý do để người Do Thái, từ thế hệ này đến thế hệ khác, phải dâng của lễ để tôn vinh và tạ ơn Thiên Chúa (Bài đọc I).

Việc hồi tâm cũng giúp chúng ta lượng giá cuộc sống hiện tại, để nhờ đó, chúng ta luôn khôn ngoan thận trọng trước những cạm bẫy giăng đầy xung quanh.  Thánh Luca đã thuật lại việc Chúa Giêsu vào hoang địa.  Ở đó, Chúa cầu nguyện, ăn chay và chịu cám dỗ.  Tên cám dỗ là ma quỷ.  Nội dung cám dỗ là lời mời gọi ở ba khía cạnh: bánh ăn trong lúc đói; bổng lộc vinh hoa để quên sứ mạng thiên sai; làm những điều ngoạn mục (gieo mình từ nóc Đền thờ) để vui chơi giải trí.  Như chúng ta thấy trong trình thuật của Luca, Chúa Giêsu đã dùng Lời Chúa để đánh bại ma quỷ.

Ba cơn cám dỗ Chúa Giêsu đã trải qua cũng luôn tồn tại trong cuộc sống của chúng ta.  Quả vậy, bất kể thời nào, lứa tuổi và bậc sống nào, chúng ta cũng bị cám dỗ về ăn uống, về vinh hoa, và thử thách Thiên Chúa.  Hồi tâm chính là nhận ra những cơn cám dỗ ấy, để khôn ngoan can đảm khước từ những lời mời gọi ngọt ngào nhưng chứa nọc độc.  Cám dỗ giống như những viên thuốc độc bọc đường, bên ngoài thì đẹp đẽ, nhưng dễ dàng đầu độc và giết chết chúng ta.

 Sau khi thất bại, quỷ rút lui và chờ đợi thời cơ – Thánh Luca kết thúc trình thuật như thế.  Kể cả lúc chúng ta chiến thắng cám dỗ của ma quỷ, chúng ta vẫn phải luôn thận trọng.  Tâm tình cầu nguyện, gắn bó với Lời Chúa sẽ giúp chúng ta sức mạnh để chiến thắng những tấn công của Satan.  “Lời Chúa ở gần bạn, ngay trên miệng, ngay trong lòng.”  Sức mạnh của chúng ta đến từ Lời Chúa và vào lòng trông cậy vững vàng nơi Ngài.  “Tất cả những ai kêu cầu Danh Chúa sẽ được cứu thoát” (Bài đọc II).

 “Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin gìn giữ họ khỏi ác thần” (Ga 17, 15).  Giữa biển đời sóng gió phong ba, Chúa Giêsu biết chúng ta sẽ trải qua nhiều cám dỗ.  Người cầu xin Đức Chúa Cha, để Ngài gìn giữ các môn đệ và những ai tin vào Chúa Giêsu.  Người tín hữu không tách rời khỏi thế gian, nhưng sống giữa thế gian với sức mạnh diệu kỳ của Thiên Chúa, để rồi họ chiến thắng nhờ sức mạnh ấy.  Sống tinh thần Mùa Chay là sống tinh thần hoang địa.  Ở đó, giữa thinh lặng và trong tinh thần chay tịnh, chúng ta sẽ gặp Chúa và được đón nhận từ Ngài sức mạnh siêu nhiên, giúp chúng ta thắng cám dỗ đang vây bọc tư bề.

 Sau cùng, hồi tâm giúp chúng ta hướng về tương lai, với lạc quan hy vọng.  Chúng ta tin vào tình thương của Chúa và vào lòng nhân hậu của Ngài.  Thiên Chúa là Đấng “không nỡ bẻ gãy cây lau bị giập, không dập tắt tim đèn còn khói” (Is 42,2), có lẽ nào Ngài bỏ rơi chúng ta, khi chúng ta cậy trông phó thác nơi Ngài?

 “Điều gì tốt anh em phải đạt cho bằng được, hãy chiến đấu nếu cần.  Vậy, anh em đừng sợ cám dỗ, nhưng hãy vui mừng, bởi vì chúng đưa đến thành tựu.  Thiên Chúa phù giúp và bảo vệ anh em” (Thánh Barsanuphius)

 “Thiên Chúa như một người mẹ ẵm con trên tay bên bờ một vực thẳm.  Trong khi bà mẹ tìm cách giữ con cho khỏi nguy hiểm, thì đứa nhỏ lại cố sức để nhào xuống đó.” 

Xin Chúa giúp chúng ta sức mạnh để chiến thắng cám dỗ đang bao bọc vây quanh chúng ta, để sống giữa trần gian, mà lương tâm chúng ta vẫn thanh thoát, tâm hồn chúng ta vẫn gắn bó với Chúa trọn đời.  Amen.

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

CHUYỆN CON BÒ TRONG TÒA – Bài của Khanh Nguyen (Nhạc sĩ Tuấn Khanh)

CHUYỆN CON BÒ TRONG TÒA

Bài của Khanh Nguyen (Nhạc sĩ Tuấn Khanh)

Trong phiên tòa xử Tịnh Thất Bồng Lai ngày 20/7, luật sư Âu Quang Phục, người được gọi là bảo vệ cho bị hại Trần Ngọc Thảo tức ông Thích Nhật Từ, đã đặt một vấn đề với những người ở Tịnh Thất Bồng Lai, trước mặt phiên tòa, điều mà ai nấy đều phải ngỡ ngàng:

“Nếu như bây giờ tôi nói Chúa ngu như bò thì các ông thấy sao?”

Luật sư Phục đưa ra câu hỏi này, bởi đơn tố cáo vì cho là bị xúc phạm của ông Trần Ngọc Thảo, nói rằng thành viên của Tịnh Thất Bồng Lai đã phát biểu nói “Thích Nhật Từ ngu như bò”. Tức giận do bị so sánh với con bò nên ông Thích Nhật Từ đã làm đơn khởi kiện, nói bị xúc phạm danh dự cá nhân, nhất định hoàn toàn không thể là bò.

Thế nhưng câu hỏi được đặt ra mang tính đối chiếu của luật sư Phục khiến ai nấy ngỡ ngàng, thậm chí phải bật cười vì sự ấu trĩ – và phải nói rõ là ngu xuẩn về trình độ nhận thức – vì Chúa Giêsu dù được đặt ra ở bất kỳ vị trí nào cũng không hề liên quan gì với những người trong Tịnh Thất Bồng Lai.

Nhưng cần nhớ, câu hỏi kém cỏi của luật sư Phục cũng có thể đáng bị đặt vào tình trạng bị khởi tố theo Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm C “Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức chính trị – xã hội”.

Chuyện cố ý đưa Đức Chúa Giêsu vào trong nội dung này chính là mang tính xúc phạm vô cớ, vì nhân vật Chúa Giêsu không liên quan đến vụ án, và không thể hiện bất kỳ sự suy luận kiến giải nào về việc so sánh ông Thích Nhật Từ ngu như bò, ngoại trừ khi ông Thích Nhật Từ tự coi mình ngang hàng với Chúa, và đặc biệt là hoàn toàn khác con bò.

Cần nói rõ là nội dung quyết định ở đây, đang được cân phân giữa ông Thích Nhật Từ và con bò, là hai thực thể rất rõ ràng.

Vấn đề là phía bị hại cần phải xác định rằng con bò có những điểm xấu như thế nào mà người ta so sánh với mình khiến mình cảm thấy bị xúc phạm, kể cả chuyện “ngu” ở mức nào là được so sánh với con bò.

Tuy vậy, ở một góc nhìn khác, việc so sánh một con người với một con vật đó là chuyện thường tình mang đầy tính văn hóa dân gian vẫn diễn ra trong xã hội, ví dụ người ta vẫn so sánh “Anh A làm việc chăm chỉ như một con ong” hoặc “Anh B suốt cuộc đời cặm cụi như một con kiến”, hoặc “Hắn làm việc như con trâu”. Sự kiện ông Thích Nhật Từ tức giận đâm đơn kiện, có thể coi là vụ kiện đầu tiên trong lịch sử tòa án Việt Nam về việc bất đồng so sánh với thú vật.

Trở lại câu hỏi rất “bò” của luật sư Âu Quang Phục, chắc chắn sẽ không ai ở phiên tòa xử Tịnh Thất Bồng Lai buồn nghĩ gì cả, vì câu chuyện này không liên quan với vụ án. Hơn nữa, câu hỏi này đầy tính khiêu khích, thể hiện chủ trương thù hằn tôn giáo.

Ông Trần Ngọc Thảo / Thích Nhật Từ trong các bài giảng của mình cũng đã có rất nhiều lần vô cớ công kích Chúa Giêsu và nội dung của tín ngưỡng Công giáo. Thế nhưng phía Công giáo Việt Nam đã đối xử với ông không khác gì người lớn thấu hiểu, nhìn thấy đứa con nít cứ chòi chọc bám đít tìm cách gây khó. Vì vậy không loại trừ là luật sư của ông Thảo cũng đã được hướng dẫn cách trình bày quan điểm so sánh tín ngưỡng như vậy ở phiên tòa này – dĩ nhiên trình bày kiểu như vậy thì rất “bò”.

——–

Ảnh: LS Âu Quang Phục, trong vòng tròn

MẶC KỆ… – Thanh Hương Trần

Thuha T. Tran

MẶC KỆ…

Thanh Hương Trần

Con à, cuộc đời này, đôi khi con phải biết mặc kệ một số người và một số chuyện!

Mặc kệ không phải con sợ hãi, nhút nhát, mà khi đó con tự tìm cho mình một lối thoát, một chút thời gian để thả lỏng bản thân, để chuẩn bị đối diện với cơn bão lớn trước mắt.

Mặc kệ, không phải là tức giận, mà đó là quên đi.

Mặc kệ, không phải là oan ức, mà đó là tha thứ.

Mặc kệ, không phải là diễn kịch, mà đó là khoan dung.

Khi con tổn thương, hãy nói với chính mình rằng: “Mặc kệ đi, coi tổn thương đó là bài học, lần sau sẽ cẩn thận hơn”.

Khi con tranh cãi với người khác, hãy nhắc nhở bản thân: “Mặc kệ đi, cãi tới cãi lui lãng phí thời gian, hao tổn tâm sức”.

Khi con đối diện với thất bại, hãy thuyết phục chính mình: “Mặc kệ đi, đạt được chưa chắc đã là phúc, mất đi chưa chắc đã là họa, tất cả là duyên vậy thôi!”.

Khi con chịu tủi thân, hãy an ủi bản thân rằng: “Mặc kệ đi, nhẫn nhịn được đó là chí khí, nhượng bộ được đó là trí tuệ, chịu tủi bây giờ, sau này may mắn sẽ tới”.

Một câu đơn giản “Mặc kệ đi” kỳ thực chẳng đơn giản chút nào, cần phải nỗ lực buông bỏ, cần phải thực lòng giải thoát, cần một tấm lòng khoan dung rộng lượng, cần đủ dũng khí để đối diện.

Mặc kệ đi! Đó không phải là thỏa hiệp, mà là một loại tâm thế.

Mặc kệ đi! Đâu phải là bị khuất phục, đó là sẵn sàng từ bỏ. Là an ủi, cũng là tha thứ, là dũng khí và cũng là sự kiên cường.

Chỉ cần cuộc sống bình an, chỉ cần thân thể khỏe mạnh, chỉ cần ngày qua ngày lạc quan vui vẻ, gia đình hoà thuận, mất đi một chút thì có là gì, tiền tài không đủ thì có làm sao. An trú trong tâm hồn mới là điều quan trọng nhất.

Mặc kệ đi, giải thoát cho chính mình!

NAM MÔ ĐẠI BI QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT NAM MÔ ĐẠI BI QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT NAM MÔ ĐẠI BI QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT

Ghi chú thêm: Thiền sư Hakuin Ekaku (1686-1768): với hai tiếng Thế à.!

https://phatgiao.org.vn/thien-su-nhat-chi-noi-dung-2-tu-khi-bi-thi-phi-d30707.html

ĐƯỜNG SẮT RĂNG CƯA THÁP CHÀM -ĐÀ LẠT

Lịch sử sẽ không quên lũ ăn tàn phá hại.

_______________________________

NHỮNG TÊN TÂM THẦN.

ĐƯỜNG SẮT RĂNG CƯA THÁP CHÀM -ĐÀ LẠT

Bán 650.000 đô la.

Mua lại 1.200.000.000, một Tỷ hai đô la.

..………….

Đà Lạt vừa “giải phóng”, ông Phạm Khương thay mặt ban quân quản tiếp nhận ga Đà Lạt khi đầu máy, toa xe và toàn bộ tuyến đường đã nằm phơi sương suốt từ năm 1969 vì chiến tranh. Dầu mazut, thứ dầu đặc chủng để chạy đầu máy răng cưa, cũng không còn. Vậy mà chỉ hai tháng sau, ngày 6.6.1975, chiếc đầu máy răng cưa lại lần đầu tiên lăn bánh gần 70km, vượt D’ran, vượt Eo Gió, vượt Krongpha về tới Tân Mỹ, chỉ còn chờ cầu Tân Mỹ hoàn nhịp là lăn bánh về đến ga cuối Tháp Chàm. Không có dầu mazut, ông Khương đã cùng anh em kỹ sư còn lại ở ga Đà Lạt mày mò hoán đổi cho tàu chạy bằng than củi. Vậy mà tàu lăn bánh gọn gàng, công nhân đi hái trà ở Cầu Đất, cán bộ đi công tác xuống Phan Rang, rồi lâm nông sản xuôi ngược Phan Rang – Đà Lạt được tiếp tế cho nhau sau ngày giải phóng đều nhờ những toa tàu răng cưa vừa hồi sinh chở miễn phí.

Nhưng tàu chỉ chạy được đúng 27 chuyến. Cuối năm 1975, khi vừa chuyển giao tuyến đường cho Liên hiệp Xí nghiệp đường sắt VN thì ông nhận được lệnh sét đánh : ngừng chạy tàu, tháo toàn bộ tà vẹt trên tuyến đường Phan Rang – Đà Lạt để chuyển ra tu bổ cho đường sắt Thống Nhất đoạn Bình Định – Quảng Nam. Không chỉ ông Khương mà cả chính quyền tỉnh Lâm Đồng lúc đó cũng bàng hoàng. Một sự đánh đổi cấp tốc được đề ra, Lâm Đồng quyết định hạ cây rừng, cấp 230.000 thanh tà vẹt gỗ cho ngành đường sắt. Nhưng số tà vẹt ấy vẫn không làm thay đổi được quyết định ban đầu.

Tàu răng cưa ngưng chạy. Đường sắt răng cưa vẫn bị tháo tà vẹt. Ông Phạm Khương một lần nữa gửi công văn hỏa tốc năn nỉ lần cuối cùng : xin tháo 70% tà vẹt để những thanh ray còn có điểm tựa ( không bị gỡ đi vì khác kích cỡ với tuyến đường sắt Thống Nhất ). Nhưng tất cả đều bị khước từ. Sau đó thì gần như toàn bộ tuyến đường từ ga Trại Mát trở về Tháp Chàm đều bị gỡ sạch tà vẹt. Còn những thanh ray và cả những đoạn răng cưa mười mấy cây số thì được hóa giá đưa về các nông trường, nhà máy tận dụng làm các công trình và sau đó tiếp tục được người dân “tiếp sức” cho vào những xưởng phế liệu.

Quá khứ bị bán rẻ

Vậy là tuyến đường răng cưa huyền thoại đã tan hoang chỉ sau một quyết định. Bảy đầu máy Fuka lầm lũi nằm lại ga Đà Lạt, Tháp Chàm và Krongpha phơi sương gió. Những đầu máy răng cưa ấy có thể bị quên lãng trên chính xứ sở nó từng hoạt động, nhưng với những kỹ sư hỏa xa Thụy Sĩ, nơi cũng có một tuyến đường sắt răng cưa nhưng lại không còn chiếc đầu máy răng cưa hơi nước nào còn vận hành được, thì “đống sắt” trên những nhà ga ở miền cao nguyên Việt Nam là một báu vật.

Ông Khương nhớ đầu năm 1988, Ralph Schorno, một kỹ sư hỏa xa người Thụy Sĩ, đã tìm đến ga Đà Lạt và Tháp Chàm để xem những chiếc đầu máy răng cưa. Trong số bảy chiếc đầu máy, Ralph Schorno chấm được bốn cái còn tốt có thể khôi phục và một số toa tàu của Mỹ để lại. Và sau chuyến thị sát ấy của kỹ sư Ralph Schorno, những cuộc mặc cả đã được đẩy đi nhanh chóng với sự trợ giúp của Đại sứ quán Thụy Sĩ tại Hà Nội bởi một lý do rất đơn giản : cả một tuyến đường đã bị phá dỡ, chỉ còn mấy đầu máy hoen gỉ bỗng dưng có người mang đến những khoản USD lớn xin mua thì tại sao phải ngại ngần. Số tiền đề nghị bán là 1 triệu USD nhưng sau nhiều lần đàm phán đã được chốt giá 650.000 USD, cả lúc đó và muôn đời sau, đó là một cái giá rẻ bèo cho các báu vật nầy.

Thương vụ diễn ra nhanh chóng đến mức không ai kịp can thiệp. Ông Phạm Khương kể khi tỉnh Lâm Đồng một lần nữa hay biết về quyết định đó đã triệu tập một cuộc họp suốt 3 ngày liền để tìm cách giữ lại những chiếc đầu máy răng cưa. Nhưng “tiền trao cháo múc”, tháng 8.1990 khi mọi người đang họp thì phía Thụy Sĩ đã đưa xe đặc chủng lên tới Đà Lạt. Và cứ vậy, lần lượt những chiếc đầu máy và toa tàu răng cưa rời D’ran, rời Eo Gió, vượt Kronphra về Tháp Chàm rồi thẳng cảng Vũng Tàu, xuống tàu biển Thụy Sĩ. Câu chuyện về thương vụ bán những đầu máy răng cưa ấy đã vĩnh viễn đóng chặt giấc mơ nối lại tuyến đường xe lửa răng cưa trong ông Phạm Khương và rất nhiều người. Nhưng với người Thụy Sĩ lại mở ra một chương mới về sự hồi sinh của tuyến đường răng cưa mà từ nhiều thập kỷ trước đó, họ đã không còn đầu máy để chạy.

Chỉ hai tháng sau khi những đầu máy răng cưa rời Đà Lạt, ông Phạm Khương đã nhận được bưu phẩm của kỹ sư Ralph Schorno từ nhà ga Jungfraujoch. Đó là một cuốn sách rất dày, in những tấm ảnh màu trên nền giấy tốt, kể lại hành trình tìm ra đầu máy răng cưa ở Đà Lạt, đưa về Thụy Sĩ. Và cuối sách là những hình ảnh về hai trong bốn chiếc đầu máy răng cưa mà họ đã khôi phục thành công đang nhả khói trên đường đèo vượt dãy Alpes. Và rất lịch sự, người Thụy Sĩ đã không quên đính kèm một tấm bảng trên thành đầu máy, với dòng chữ về mốc thời gian mà chiếc đầu máy từng chạy trên tuyến đường Phan Rang–Đà Lạt. Như một sự nhắc nhớ về nguồn cội, nhắc nhớ về cả một nỗi đau trong những người Việt Nam từng yêu mến và tự hào về con đường răng cưa đã mất.

—

* Trong quá trình xây dựng và khai thác Thiết lộ Lâm Viên, Công ty Hỏa xa nhà nước CFI nhập cảng vào Việt Nam các đầu máy chạy được trên đường rầy răng cưa theo bốn đợt như bảng bên. Các đầu máy HG 4/4 được xem là vật hiếm không thể tìm đâu ra ngoài Việt Nam vì công ty SLM ở Winterthur của Thụy Sĩ ( Schweizerische Lokomotiv und Maschinenfabrik ) chỉ chế tạo 7 chiếc đầu máy kiểu HG 4/4 và công ty MFE ( Maschinenfabrik Esslingen ) của Đức chế tạo thêm 2 đầu máy HG 4/4 dựa trên giấy phép nhượng quyền của SLM trong chương trình bồi thường chiến tranh cho Pháp khi Đức bại trận trong Đệ nhất Thế chiến theo hoà ước Versailles. Tất cả 9 đầu máy nầy đều được đem sử dụng ở Việt Nam và không có ở nơi nào khác trên thế giới. Tất cả cũng đều là những đầu máy hơi nước mạnh nhất thế giới chạy được trên hệ thống răng cưa Abt.

* Đây không phải chỉ là một sai lầm lớn mà còn thể hiện sự ngu xuẩn cực độ. Bởi vì đường rầy xe lửa đoạn Sông Pha – Đà Lạt được chế tạo đặc biệt cho đường xe lửa răng cưa với tính toán kỹ lưỡng về thiết kế cho địa thế dốc. Để có thể chịu được lực kéo khủng khiếp khi xe lửa leo núi trong một khoảng thời gian dài nên bản thân các tà vẹt đỡ phải được làm bằng thép có chất lượng cao nhất. Ngay cả đến những con ốc và bù lon cũng khác với loại dùng cho đường rầy xe lửa thông thường.

Do sự không hiểu biết về kỹ thuật cơ khí đường sắt của lãnh đạo, mặc dù có sự phản đối của các nhân viên hoả xa miền Nam cũ, Cục Đường Sắt vẫn ra lệnh tháo gỡ toàn bộ tuyến đường để đưa vào việc phục hồi tuyến đường sắt Xuyên Việt. Thời kỳ nầy tiếng nói của những nhân viên làm việc cho chính quyền cũ không được xem xét. Ngay cả phản ứng của chính quyền cấp tỉnh mới ở sở tại cũng không mang lại hiệu quả, họ đành nhìn địa phương mình mất đứt đi một báu vật mà ngay trong thời điểm khó khăn về kinh tế, đây là một tuyến giao thông kinh tế huyết mạch mang tính sinh tồn.

Và có thể đoán chuyện gì xảy ra tiếp theo sau đó. Đường rầy đặc biệt này không thể ăn khớp khi kết nối với loại đường rầy ở nơi bằng phẳng. Họ quyết định biến chúng thành sắt phế thải, chất đống tại các kho chứa, nơi lũ kẻ cắp cưa vụn ra và các quan tham bán chúng đi với giá sắt vụn rẻ như bèo. Đúng là một thảm kịch của lịch sử hỏa xa Đông Dương! Nếu đường xe lửa này không bị tháo gỡ, thì giờ đây đã có thể dễ dàng khôi phục để có những chuyến xe lửa du lịch kỳ thú từ các khu nghỉ dưỡng vùng duyên hải Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né đi lên cao nguyên Lâm Viên.

Copy từ Hung Phan

L Ê N  S Á U – Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu

Mấy ai còn nhớ – Bài thơ đã tɾên 100 năm nhưng vẫn còn nguyên ý nghĩa về sự giáo dục con người.  

Mấy αi còn nhớ  Đây là bài thơ giáo khoα do Tản Đà làm cho tɾẻ em lên sáu tuổi, viết năm 1919. Bài thơ đã tɾên 100 năm nhưng vẫn còn nguyên ý nghĩα về sự giáo dục con người.

Tɾước khi dạy tɾẻ yêu nước, yêu đồng bào. Hãy dạy tɾẻ hiếu thuận với chα mẹ, kính quý thầy cô. Thì tất cả những cái “yêu” còn lại sẽ hình thành tốt đẹρ.

L Ê N  S Á U

Sách quốc ngữ – Chữ nước tα,

Con cái nhà – Đều ρhải học.

Miệng thì đọc- Tαi thì nghe

Đừng ngủ nhè -Chớ láu táu

Con lên sáu – Đαng vỡ lòng

Học cho thông – Thầy khỏi mắng.

* * *

Tɾong tɾời đất – Nhất là người

Ở tɾên đời – Hơn giống vật

Con bé thật – Chưα biết gì

Còn ngu si – Phải dạy bảo

Cho biết đạo – Mới nên thân

Sau lớn dần – Con sẽ khá

* * *

Ai đẻ ta – Chα cùng mẹ

Bồng lại bế – Thương và yêu

Ơn nhường bαo – Con ρhải ngẫm

Áo mặc ấm – Mẹ mαy cho

Cơm ăn no – Chα kiếm hộ

Chα mẹ đó – Là hαi thân

* * *

Hαi thân là – Là thân nhất

Tɾong tɾời đất – Không αi hơn

Con biết ơn – Nên ρhải hiếu

Nghĩα chữ hiếu – Đạo làm con

Con còn non – Nên học tɾước

Đi một bước – Nhớ hαi thân

* * *

Con còn nhỏ – Có mẹ chα

Lúc vào ɾα – Được vui vẻ

Con còn bé – Mẹ hαy chiều

Thấy mẹ yêu – Chớ làm nũng

Đã đi học – Phải cho ngoαn

Hαy quấy càn – Là chẳng hiếu.

* * *

Con còn bé – Mẹ hαy lo

Ăn muốn cho – Lại sợ ᵭộc

Con ốm nhọc – Mẹ lo tҺươпg

Tìm Ϯhυốc thαng – Che nắng gió

Con nghĩ đó – Sαo cho ngoαn

Hαy ăn càn – Là chẳng hiếu

* * *

Anh em ɾuột – Một mẹ chα

Mẹ đẻ ɾα – Tɾước sαu đó

Cùng мάu mủ – Như tαy chân

Nên yêu thân – Chớ gαnh tị

Em coi chị – Cũng như αnh

Tɾước là tình – Sαu có lễ

* * *

Người tɾong họ – Tổ sinh ɾα

Ông đến chα – Bác cùng chú

Họ nội đó – Là tông chi

Cậu và dì – Về họ mẹ

Con còn bé – Nên dạy quα

Còn họ xα – Sαu mới biết

* * *

 Người tɾong họ – Có bề tɾên

Lạ hαy quen – Đều ρhải kính

Có khách đến – Không được đùα

Ai cho quà – Đừng lấy vội

Ông bà gọi – Phải dạ thưα

Phàm người nhà – Không được hỗn

* * *

Con bé dại – Mãi vui chơi

Muốn ɾα người – Phải chăm học

Miệng đαng đọc – Đừng tɾông ngαng

Học dở dαng – Đừng có chán

Học có bạn – Con dễ hαy

Mến tɾọng thầy – Học chóng biết

* * *

Dạy con biết – Phéρ vệ sinh

Ăn quả xαnh – Khó tiêu hoá

Uống nước lã – Có nhiều sâu

Áo mặc lâu – Sinh ghẻ lở

Mặt không ɾửα – Sinh u mê

Đαng mùα hè – Càng ρhải giữ

* * *

Các giống vật – Thật là nhiều.

Như con hươu – Ở ɾừng cỏ

Như con chó – Nuôi giữ nhà

Con bα bα – Loài мάu lạnh

Loài có cάпh – Như chim câu

Còn loài sâu – Như bọ ɾóm

* * *

Cây và cỏ – Có khác loài

Tɾông bề ngoài – Cũng dễ biết

Như cây mít – Có nhiều cành

Lúα,. cỏ giαnh – Có từng đốt

Còn tɾong ɾuột – Lại khác nhαu.

Vài năm sαu – Con biết kỹ

* * *

Đá bờ sông – Không sống cҺếϮ

Không có biết – Không có ăn

Không người lăn – Cứ nằm đây

Như đá cuội – Như đá xαnh

Như mảnh sành – Như đất thó

Các vật đó – Theo loài kim

* * *

Các loài kim – Tìm ở đất

Nhất là sắt – Nhì là đồng

Làm đồ dùng – Khắρ tɾong nước

Như vàng bạc – Càng quý hơn

Đúc làm tiền – Để muα bán.

Ai có vạn – Là người giàu.

* * *

Vốn xưα là – Nhà Hồng Lạc

Nαy tên nước – Gọi Việt Nαm

Bốn nghìn năm – Ngày mở ɾộng

Nαm và Bắc – Ấy hαi miền

Tuy khác tên – Đất vẫn một

Lào, Miên, Việt – Là Đông Dương

* * *

Đầu tɾị nước – Đức Kinh dương

Tɾuyển Hùng Vương – Mười tám chúα

Quα mấy họ – Quân Tàu sαng

Vuα Đinh hoàng – Khαi nghiệρ đế

Tɾải Đinh, Lý – Đến Tɾần, Lê

Nαy nước tα – Là nước Việt

* * *

Chữ nước tα – Tα ρhải học

Cho tɾí óc – Ngày mở mαng

Muốn vẻ vαng – Phải làm lụng

Đừng lêu lổng – Mà hư thân

Nước đαng cần – Người tài giỏi

Cố học hỏi – Để tiến nhαnh

Vừα ích mình – Vừα lợi nước

Chớ lùi bước – Là kẻ hèn

(Nghiêm Hàm ấn quán xuất bản, 1924). – Bài thơ đã tɾên 100 năm nhưng vẫn còn nguyên ý nghĩα về sự giáo dục con người.

From: TU PHUNG

SỰ HÌNH THÀNH BỆNH-VIỆN VÌ DÂN

SỰ HÌNH THÀNH BỆNH-VIỆN VÌ DÂN

Bác Sĩ Phạm Ngọc Tỏa

Bệnh Viện Vì Dân (BVVD) thành lập trên ba mươi năm nay bởi Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội (PNPSXH), Chủ Tịch Hội là Bà Nguyễn Văn Thiệu, với sự trợ giúp của nhiều cơ quan, đoàn thể thiện nguyện, các nhà hảo tâm trong nước và ngoại quốc, các phái bộ quân sự đồng minh, và nhất là phủ Tổng Thống (TT). Một đồng nghiệp sống nhiều năm ở Pháp bảo chúng tôi viết về sự hình thành của bệnh viện này. Vì thời gian đã qua lâu, chúng tôi có thể bỏ sót một vài chi tiết hay bị lầm lẫn, độc giả nào nhận thấy xin cho chúng tôi biết để chúng tôi bổ túc hay đính chánh, chúng tôi xin đa tạ.

Khoảng đầu năm 1969, Đại tá Võ Văn Cầm, Chánh Văn Phòng Phủ Tổng Thống có mời tôi lên nói là Bà Nguyễn Văn Thiệu muốn thành lập một bệnh viện tư làm việc thiện với danh nghĩa Chủ Tịch Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội, ông bà Tổng Thống thấy tôi có kinh nghiệm trong việc thành lập Bệnh Viện Trưng Vương cho Hội Bảo Trợ Gia Đình Binh Sĩ năm 1967, nên muốn tôi tham gia vào việc này. Lúc đó tôi đã giải ngũ được hơn một năm, có ý định xin đi tu nghiệp để về gia nhập ban giảng huấn của YKĐH Saigon. Tôi phân vân vì nghĩ là việc này sẽ kéo dài nhiều năm, bắt đầu từ số không, sẽ gặp nhiều khó khăn về đủ mọi phương diện và đòi hỏi rất nhiều thì giờ, nếu làm đàng hoàng thì không còn thì giờ hành nghề tư, và xong việc có khi bị thay thế, đó là thường tình ở các nước chậm tiến! Nhưng tôi cũng có một ý nghĩ khác là khi mới bước chân vào trường Đại Học Y Khoa Hà Nội năm 1951, đến tập sự tại Bệnh Viện Yersin (Phủ Gioãn) thấy dụng cụ giải phẫu, máy móc cũ kỹ, thiếu thốn do Pháp để lại từ trước Đệ Nhị Thế Chiến, tôi vẫn tâm niệm làm sao cho có được một bệnh viện trang bị đầy đủ để các thầy thuốc làm việc thoải mái, có cơ hội tiến về kỹ thuật, cứu được bệnh nhân đến mức tối đa. Thêm vào đó khi còn học PCB tại Khoa Học Đại Học Hà Nội tôi đã được nghe một lời phê phán nghiêm khắc của một Giáo Sư Pháp, GS P.L., về khả năng của người Việt như sau: “Người Việt Nam chẳng làm được việc gì nên hồn cả”, câu này đã in sâu vào tâm khảm tôi. Ngoài ra BVVD sẽ giúp đỡ nhiều cho bệnh nhân nghèo, đó là ba động cơ thúc đẩy tôi hy sinh thì giờ để nhận việc này.

Một Ủy Ban xây cất được thành lập gồm có:

  • Đại Tá Võ Văn Cầm, Chánh Văn Phòng phủ T T, Chủ Tịch
  • Ô. Nguyễn Đình Xướng, Tổng Thư Ký phủ T T, Ủy viên
  • Phạm Ngọc Tỏa, Bộ Y Tế, Ủy viên
  • Kiến Trúc Sư Nguyễn văn Chuyên, phủ T T, Ủy viên

Ủy ban này thường họp vào buổi trưa hay sau giờ làm việc công sở, tổ chức các buổi hội họp với các bộ Y Tế, Công Chánh và các ban Giám Đốc các bệnh viện tư Saigon, Chợ Lớn (Triều Châu, Sùng Chính v.v…) để học hỏi các kinh nghiệm của họ vào buổi tối. Riêng phần tôi còn phải lo về lập quy chế của bệnh viện, lo trang bị dụng cụ máy móc y khoa, vật dụng văn phòng, tổ chức tiếp liệu, tuyển dụng nhân viên chuyên môn và hành chánh. Tất cả khởi sự từ số không, trong thâm tâm tôi nghĩ là không thể nào khánh thành đợt đầu kịp vào tháng chín 1971 được, thời hạn này do phủ TT ấn định!

  • Đặt tên bệnh viện:

Ông Nguyễn Đình Xướng đề nghị nên đặt tên là Bệnh Viện Vì Dân. Phủ TT chấp thuận tên đó.

  • Kiếm địa điểm để xây cất:

Sau mấy tháng tìm kiếm mới chọn được lô đất trống ở đường Lý Thái Tổ cũ Chợ Lớn, gần mấy nhà Ủy Hội Quốc Tế Đình Chiến ở, chủ đất là người Trung Hoa vui lòng cho xử dụng một nửa, còn một nửa họ tính xây khách sạn nếu giải tỏa được, và họ hứa sẽ yểm trợ bệnh viện. Lô đất đó hình như dành để xây cất một trường Đại Học Kinh Doanh và Thương mại thì phải, nhưng vì chưa có ngân khoản nên chưa thực hiện được. Thủ tục chưa làm xong, anh em Thương Phế Binh chiếm đất xây nhà lên lô đất đó, đành phải tìm nơi khác. Cũng may sau tìm được ở góc đường Lê Văn Duyệt nối dài và đường Nguyễn Văn Thoại, gần Ngã Tư Bảy Hiềàn, thuộc Gia Định một khu đất bị trưng dụng từ lâu, hiện dùng làm Kho Đạn cho Sư Đoàn Dù, bom đạn được chứa trong những hầm bê tông tường dầy một thước, nóc cũng vậy. Lô đất thuộc quyền sở hữu của nhà Chung. Sau khi được sự chấp thuận giải tỏa của Bộ Quốc Phòng, phải điều đình với nhà Chung. Nhà Chung bằng lòng bán cho Hội PNPSXH khu đất đó khoảng gần 2 mẫu tây với giá tượng trưng một đồng bạc. Có đất rồi phải lo phá các hầm bê-tông bằng cách nổ mìn rồi san bằng. Công tác này làm gãy chân vợ một quân nhân. Người này được bồi thường thỏa đáng.

  • Kiến trúc sư vẽ kiểu:

Hội PNPSXH mướn KTS Trần Đình Quyền, vừa tu nghiệp về xây cất bệnh viện ở Hoa Kỳ về, để vẽ kiểu. Tôi phải góp ý về một số chi tiết với KTS. Sau khi sơ đồ được bà Chủ Tịch Hội chấp thuận thì nhà thầu xây cất khởi công. Việc kiểm soát công trường xây cất là của KTS Nguyễn Văn Chuyên. Sau này Đại Tá Võ Văn Cầm có yêu cầu tôi lưu tâm cả về việc này nữa.

  • Việc gây quỹ xây cất và điều hành:

Hội PNPSXH chỉ góp phần nhỏ thôi như thỉnh thoảng có tổ chức chợ phiên chẳng hạn, như chợ phiên Đồng Tâm v.v.. Các buổi tiếp tân tại phủ TT để gây quỹ xây cất BVVD mới quyên được nhiều: như mời các nhà tài phiệt gốc Hoa (các ông Trần Thành, Lý Long Thân v.v…), mời các ngân hàng nhân dịp đầu năm. Riêng ngân hàng Việt Nam Thương Tín đang xây cất trụ sở mới còn cho thêm đá cẩm thạch nữa để trang trí bệnh viện. Ngoài ra mỗi vé xi-nê lấy thêm mấy đồng cho BVVD. Trường đua ngựa Phú Thọ thỉnh thoảng tổ chức một cuộc đua đặc biệt để ủng hộ BVVD. Đông Phương Ngân Hàng ứng trước từng đợt hai chục triệu để xây cất. Đồng bào cư ngụ ở Nouvelle Calédonie về thăm Miền Nam cũng ủng hộ một số tiền lớn (hình như là một triệu đồng thì phải) v.v… Tóm lại việc gây quỹ thành công là nhờ ở thế lực của phủ TT. Vì tiền có dư dả nên lúc đầu chỉ định xây 5 tầng lầu cho Khu Điều Trị, sau xây thành bảy tầng.

  • Việc trang bị bệnh viện:

Tôi được ủy quyền đi gặp các cơ quan thiện nguyện, các phái bộ quân sự đồng minh để xin viện trợ y cụ và vật dụng. Đầu tiên tôi đến tiếp xúc với phái bộ quân sự Hoa kỳ, tôi được một vị Thiếu Tướng Quân Y tiếp đãi rất nhã nhặn, sau khi nghe tôi trình bày việc xin yểm trợ cho BVVD, ông ta trả lời vấn đề viện trợ ông không rành và kêu một vị Đại tá Hành Chánh Quân Y ra tiếp tôi. Vị này hỏi tôi là định thiết lập một bệnh viện mấy trăm giường, gồm những khoa nào, tôi trả lời chúng tôi có kế hoạch làm một bệnh viện toàn khoa 500 giường, ông bèn tham khảo cuốn sách về bảng cấp số các quân y viện, rồi đưa cho tôi xem nhu cầu trang bị một bệnh viện như vậy gồm có những thứ gì, trong cuốn sách có ghi đầy đủ hết không thiếu một thứ gì. Xong ông ta cho biết là rất tiếc hiện không có chỉ thị nào cho cơ quan của ông viện trợ một bệnh viện tư, nếu làm sai luật các thanh tra của Quốc Hội Mỹ sẽ khiển trách cơ quan ông. Mới ra quân lần đầu đã thất bại, tôi ra về lòng tràn ngập lo âu, thất vọng, vì đồng minh lớn nhất và giàu có nhất từ chối không giúp thì ít hi vọng nơi khác trợ giúp cho mình được gì! Tôi báo cáo cho ĐT Cầm biết và khuyến cáo TT nên biếu cho BVVD một trang bị có giá trị để cho các Mạnh Thường Quân khác noi gương, như châm ngôn “mình tự giúp mình, rồi Trời sẽ giúp mình” (Aide-toi le Ciel t’aidera). Vài bữa sau ĐT Cầm cho tôi biết là TT hỏi nên cho BVVD cái gì, tôi trả lời quý nhất là đồ trang bị cho Khu Quang Tuyến X, vì trang bị này đắt tiền ít người cho nếu có thì có khi là đồ cũ lỗi thời dễ hư hỏng khó bảo trì không xứng đáng với một bệnh viện tối tân. TT chấp thuận lời đề nghị này.

Với các phái bộ đồng minh khác và các cơ quan thiện nguyện thì cuộc vận động của tôi có kết quả như sau:

– Phái bộ quân sự Úc và Tân Tây Lan: trang bị cho hai phòng chữa răng và phòng thí nghiệm nha khoa với các dụng cụ đều mới và nhập cảng từ Tây Đức.

– Phái bộ quân sự Đại Hàn: bàn ghế mới cho khu Hành Chánh, một xe Hồng Thập Tự kiểu mới, và toàn bộ một nhà máy giặt cũ giao cho BVVD khi Sư đoàn của họ rút khỏi Việt Nam (nhà máy này giặt quần áo cho quân số một Sư Đoàn do ĐT Cầm điều dình xin được)

– Trung Hoa Quốc gia (Đài Loan): một xe HTT mới

– Cơ quan UNICEF: trang bị cho khu Nhi Khoa khoảng 100 giường bệnh trẻ em, 20 lồng ấp (couveuses) cho trẻ sơ sinh thiếu tháng, dụng cụ cho Nhi khoa và Sản Phụ Khoa.

– Hội Việt Hoa Thân Hữu Hương Cảng: trang bị cho phòng cấp cứu tim mạch gồm 4 máy điện tâm ký (electrocardiographe) cho 4 giường bệnh, mỗi máy được nối với một máy điện tâm ký trung ương đặt trong phòng y tá trực ở phòng kế bên để theo dõi 4 bệnh nhân, khi có một bệnh nhân trở bệnh nặng thì y tá trực làm ngay điệân tâm đồ ở máy trung ương và kêu Bác sĩ ngay.

– Hãng Schimadzu (sản xuất máy quang tuyến X) và ngân hàng Sumitomo: trang bị cho một phòng mổ đặc biệt có máy quang tuyến X giúp Bác sĩ nhìn rõ chỗ phải chẩn đoán qua màn truyền hình của máy quang tuyến X rồi mổ. Nếu muốn chụp phim ngay lúc đó để lưu trữ cũng được. Thật là tiện lợi và nhanh chóng cho các trường hợp giải phẫãu chỉnh hình, hay mổ lấy đạn v.v…

– Hãng Roussel Vietnam: trang bị cho phòng thí nghiệm máy chụp quang phổ (spectrophotometre) v.v…

Tất cả các tặng phẩm nhận được chúng tôi đều gắn danh hiệu của quốc gia, cơ quan hay cá nhân đã tặng cho BVVD. Một số vật dụng như dụng cụ vật lý trị liệu thì BVVD bỏ tiền ra mua.

Riêng việc trang bị Khu Quang Tuyến X (do TT tặng) định đặt mua của hãng CGR Pháp rồi hãng Phillips Hòa Lan đều không được, họ trả lời không đủ thời gian để giao hàng trước tháng chín năm 1971 được, vì đơn đặt hàng của hãng họ quá nhiều rồị. Thế là đầu 1971, ĐT Cầm cử tôi đi Nhật với lời dặn phải làm sao mua cho bằng được đồ trang bị cho Khu Quang tuyến X và ráp xong trước tháng chín 1971, đúng là làm việc theo lối nhà binh (système D). Tôi tiếp xúc với hãng Schimadzu là hãng sản xuất lớn nhất máy móc quang tuyến X ở Nhật. Nhà máy tọa lạc ở Osaka, khởi thủy chỉ là một nhà nhỏ lợp mái tranh, thành lập một năm sau khi nhà bác học Đức Rontgen tìm ra được tia X hồi cuối thế kỷ thứ 19. Bây giờ nhà máy choán một diện tích lớn như một thành phố và sản xuất cả nhiều bộ phận điện tử cho hãng Boeing Mỹ, sản xuất máy quang tuyến chỉ chiếm một khu thôi. Sau khi xem nhà máy, họ dẫn tôi gập vị Giám đốc kỹ thuật để cho biết nhu cầu của BVVD, và sơ đồ của khu Quang Tuyến X. Đại cương khu này có 4 phòng vây quanh một trung tâm điều khiển máy móc, đó là nơi làm việc của Bác sĩ và chuyên viên, tường của trung tâm này làm bằng kính cản tia X để có thể nhìn sang các phòng khác, tường của các phòng này bằng bê-tông dầy 25cm, đủ cản tia X. Về máy móc thì dự trù như sau:

– phòng số 1: một máy hoàn toàn tự động, có máy truyền hình, chuyên viên điều khiển máy ngồi tại phòng điều khiển và liên lạc với bệnh nhân qua một hệ thống âm thanh, trong phòng này có máy truyền hình liên hệ với máy quang tuyến X ở phòng số 1.

– phòng số 2: trang bị một máy bán tự động, có máy truyền hình

– phòng số 3: trang bị một máy chụp X-quang cắt lớp (tomographie)

– phòng số 4: trang bị một máy chụp phổi phim nhỏ.

Sau khi biết nhu cầu của BVVD, ông Giám Đốc Kỹ Thuật trả lời ngay là vì có nhiều đơn đặt hàng quá từ trước rồi, không thể giao hàng kịp thời hạn ấn định. Tôi đã thất vọng, nhưng vẫn bình tĩnh cố níu kéo ông ta, cho ông ta biết là BVVD là một bệnh viện làm việc thiện, tối tân nhất Đông Nam Á, khi khánh thành sẽ có mặt toàn thể ngoại giao đoàn, nếu ông cố gắng giúp chúng tôi, đó là một dịp chúng tôi quảng cáo không công cho hãng của ông, nhất là máy phòng số 1 là kiểu mới nhất của loại này như ông nói, chúng tôi lại là người đầu tiên đặt mua. Sau một lúc suy nghĩ ông ta trả lời sẽ ráng thu xếp công việc, để ưu tiên cung cấp cho BVVD kịp ngày khánh thành. Giá cả là 220.000 đô la, phải đặt trước 20.000 đô la sau một tháng, hai tháng sau sẽ nhận được hàng, kỹ sư sẽ tới ráp ngay khi hàng tới. Thế là tôi yên tâm về Saigon.

Hãng Schimadzu gửi ngay một kỹ sư đến BVVD xem vị trí xây cất của khu Quang Tuyến X, lúc đó khu này đã xây cất xong ở tầng 1 Khu Ngoại Chẩn. Mọi chi tiết đều được cả, trừ một điểm là các máy sẽ được đặt lên một tấm thép dầy mấy phân để cản tia X không đi xuống tầng trệt, nên phải phá một khúc tường của tầng 1 để câu các tấm thép này lên.

Khi các máy móc về đủ , hãng Schimadzu cử 3 kỹ sư tới làm việc: một chuyên về máy phát tia X, một chuyên về điện và một chuyên về máy truyền hình. Họ bắt tay ngay vào việc ráp máy. Tôi gửi họ 3 chuyên viên về quang tuyến X để phụ tá cho họ và nhờ họ huấn luyện luôn trong lúc làm việc để những người này biết điều khiển các máy sau khi ráp xong. Ngày 3/9/71 họ hoàn tất công việc sau hai tháng trời làm việc cực nhọc. Ngày hôm sau là ngày khánh thành BVVD đợt đầu (khu Ngoại Chẩn).

Sau này hãng Schimadzu cho tôi biết tính ra còn dư 20.000 đô la, xin tôi quyết định, tôi đề nghị cung cấp cho một máy rửa phim tự động, còn dư tiền thì dùng hết vào việc mua phim và các hóa chất xử dụng cho việc rửa phim.

  • Quy chế và tuyển dụng nhân viên:

BVVD là một bệnh viện tư thuộc Hội PNPSXH dành 25% sô’ giường cho bệnh nhân nghèo (gia đình tiểu công chức, gia đình hạ sĩ quan và binh sĩ, gia đình nghèo có giấy chứng nhận của khu phố) được giảm phí hay miễn phí tùy trường hợp do sự cứu xét và quyết định của Ban Xã Hội hàng ngày tới BVVD làm việc. Bệnh nhân nghèo được săn sóc, ăn uống như bệnh nhân hạng trả tiền, chỉ có khác là hưởng thuốc miễn phí do Bộ Y Tế hay các tổ chức thiện nguyện cho và nằm phòng 4 giường.

Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị (HDQT) là Chủ Tịch Hội PNPSXH tức là bà Nguyễn Văn Thiệu, các thành viên của HDQT đều là hội viên của Hội .

Giám Đốc bệnh viện có hai Phụ tá: một Phụ tá Kỹ Thuật (Bác sĩ Lê Phước Thiện) và một Phụ tá Hành Chánh (Trung tá Hành chánh Quân Y Phạm văn Sinh).

Các nhân viên chuyên môn như Bác sĩ , Dược sĩ, Nha sĩ, Nữ Hộ Sinh, Chuyên Viên Gây Mê, Chuyên viên Quang Tuyến X, Chuyên viên Phòng Thí Nghiệm, Y tá và Tá Viên Điều Dưỡng trong giai đoạn đầu xin Bộ Y Tế và Cục Quân Y biệt phái. Ngoài lương bổng do cơ quan gốc đài thọ, họ được hưởng thêm một phụ cấp do Hội PNPSXH đài thọ. Các Giáo Sư, Giảng Sư Đại Học Y khoa có thể gửi bệnh nhân của mình tới nằm BVVD để điều trị dưới sự săn sóc của họ.

Trong thời kỳ đang xây cất, BVVD có nhờ Bộ Y Tế huấn luyện cho một khóa Tá Viên Điều Dưỡng, chương trình một năm, học viên là những cô nhi quả phụ quân nhân có bằng Trung Học Đệ Nhất cấp, do BVVD tuyển dụng. Trong tương lai BVVD sẽ thành lập một trường Cán Sự Điều Dưỡng, chương trình học ba năm và tuyển dụng các cô nhi, quả phụ quân nhân có bằng tú tài cho đi học để làm nhân viên cốt cán cho bệnh viện. Tầng thứ bảy của Khu Điều Trị sẽ xây cất nhiều phòng để làm lớp học, và một thính đường lớn 500 chỗ dùng làm nơi hội nghị. Trên nóc Khu này có bãi đáp trực thăng để nhận bệnh nhân cần cấp cứu từ các nơi khác đưa tới, có thang máy đưa ngay xuống phòng mổ hay khu cấp cứu ở các tầng dưới.

Chúng tôi phải tuyển dụng khoảng 400 nhân viên đủ các loại: chuyên môn, hành chánh, y công, thợ thuyền v.v… (nếu bệnh viện hoạt động với 400 giường thì trung bình mỗi giường bệnh có một nhân viên). Sau khi họ đã được xét là đủ tiêu chuẩn thì được nhận việc tạm thời, đợi kết quả điều tra của An Ninh Quân Đội , nếu không có hoạt động cho Việt Cộng thì được tuyển dụng chính thức.

  • Tiếp liệu :

Vì các nguồn cung cấp vật dụng, y cụ, thuốc men rất phức tạp, đa nguyên, nên chúng tôi áp dụng kế toán sổ sách, phiếu xuất nhập theo kiểu Hoa Kỳ như ở các đơn vị Quân Y QLVNCH, để dễ kiểm soát bất thần, bất cứ lúc nào cũng có thể biết rõ số lượng tồn kho, biết rõ các nơi đã được phân phối của mỗi món hàng. Theo hệ thống tiếp liệu này ngay từ đầu, việc quản trị vật dụng không có khó khăn gì cả.

Riêng về dược phòng phải làm 2 phòng riêng biệt:

1/ Phòng thuốc miễn phí: quản trị các thuốc men do Bộ Y Tế, các cơ quan thiện nguyện cung cấp để phát miễn phí cho các bệnh nhân nghèo.

2/ Phòng thuốc trả tiền: cho các bệnh nhân nằm hạng trả tiền , thuốc do các Bác Sĩ Điều Trị kê toa và các Hãng Bào Chế OPV, Trang Hai và Tenamyd cung cấp, nếu các hãng này không đủ món nào thì BVVD có thể mua ở ngoài theo giá thị trường. Đây là quyết định của HĐQT. Đầu tiên chúng tôi có đề nghị cho đấu thầu phòng thuốc thứ hai này, nhưng không được HĐQT chấp thuận.

  • Khánh thành BVVD:

Ngày 4/9/1971 TT đến cắt băng khánh thành khu Ngoại Chẩn BVVD do Hội PNPSXH mời. Quan khách có Ngoại Giao Đoàn, các Phái Bộ Quân Sự Đồng Minh, các Tổng Bộ Trưởng, các vị Đại Diện Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp, các cơ quan thiện nguyện, các nhà hảo tâm, các thân hào nhân sĩ v.v… Đại Sứ Mỹ Bunker cũng tới dự.

Bà Chủ Tịch đọc diễn văn trình bày mục tiêu của BVVD, diễn tiến việc thành lập xây cất bệnh viện và cảm ơn các Phái Bộ Quân Sự Đồng Minh, các cơ quan thiện nguyện, các nhà hảo tâm trong nước và ngoại quốc đã giúp nhiều trong việc trang bị và xây cất BVVD, những tặng phẩm như xe cộ vật dụng máy móc gì đều kể ra hết, lẽ dĩ nhiên là không nói tới Phái Bộ Quân Sự Hoa Kỳ vì không có tặng phẩm nào cả.

Khu Ngoại Chẩn có hai tầng, hình chữ L, một phần chạy song song với đường Lê Văn Duyệt nối dài, phần kia song song với đường Nguyễn văn Thoại , Gia Định. Ngoài một số phòng dùng để khám bệnh: Ngoại khoa, Nội khoa, Sản Phụ khoa, Nhi khoa, Tai Mũi Họng, Nhãn khoa, Bệnh Tiêu Hóa, Bệnh Phổi v. v., phòng phát thuốc, phòng băng bó, ở tầng trệt còn phòng Vật Lý Trị Liệu, tiếp giáp vơi Khu Cấp Cứu. Trên tầng 1 là khu Nha Khoa với hai phòng khám và chữa răng, và phòng làm răng giả, kế bên là Phòng Thí nghiệm của Bệnh Viện, tiếp theo là khu Quang Tuyến X, rồi tới tám phòng mổ và phòng Hồi Sinh.

Sau bài diễn văn của Bà Chủ Tịch , quan khách được hướng dẫn đi thăm bệnh viện. Hôm đó quan khách đều chú ý tới khu Quang Tuyến X, các máy móc đều do Kỹ sư Nhật trình bày và cho chạy thử. Buổi tiếp tân kéo dài đến quá trưa mới chấm dứt.

  • Sau khi khánh thành:

Khoảng hơn hai giờ chiều, tôi đang ngồi nghỉ ở trong văn phòng thì có hai người Mỹ của phái bộ viện trợ Hoa Kỳ USAID xin gặp tôi. Một người là quan chức hành chánh và một người là Thiếu Tướng Quân Y Hải Quân hồi hưu tên là Iron. Hai người cho biết là nếu BVVD cần gì sẽ viện trợ cho. Tôi bèn hỏi họ sao trước chúng tôi xin viện trợ thì không được giúp. Họ trả lời bây giờ tình thế đã thay đổi: Hiện nay Việt Nam Hóa chiến tranh, Quân Đội Mỹ rút khỏi Việt Nam, nên có thể giúp cho BVVD các dụng cụ của Quân Y Hoa Kỳ.

Chúng tôi xin được vài chiếc xe vận tải để chuyên chở vật dụng cho bệnh viện, mấy trăm giường bệnh đủ trang bị cho mấy tầng lầu đang xây cất, các máy móc dụng cụ trang bị đầy đủ cho một phòng thí nghiệm và nhất là ba máy phát điện 250 KW để làm một nhà máy điện nhỏ đủ cung cấp điện cho những nơi quan trọng như các khu Cấp Cứu, Giải Phẫu, Hồi Sinh, Quang Tuyến X và Thí Nghiệm khi điện thành phố bị cắt.

Chúng tôi cho thực hiện ngay một phòng bảo trì để sơn phết lại các giường bệnh và vật dụng nhận được, sơn luôn cả phù hiệu hai bàn tay nắm chặt cùng với quốc kỳ Mỹ-Việt như trên các hàng viện trợ Mỹ cho dân chúng. Sau mỗi lần nhận hàng và tân trang lại thì sắp đặt vào các nơi sẽ xử dụng, chúng tôi mời B.S. Iron lại xem để ông biết là hàng không bị thất thoát.

Sau này B.S. Iron tín nhiệm BVVD, cho luôn cả những vật dụng dành cho bệnh viện thực tập tương lai của Y Khoa Đại Học, vì chờ mãi không có ngân khoản để xây cất bệnh viện này! Ngoài ra BVVD có xuất tiền ra mua một số giường có máy điện tự động thay đổi tư thế nằm cho bệnh nhân để trang bị cho một số phòng một giường. Bệnh viện chỉ có ba loại phòng: hạng một giường, hạng hai giường và hạng bốn giường.

  • Nhận bệnh nằm điều trị :

Khi đã có tạm đủ đồ trang bị và xây cất gần xong, chúng tôi bắt đầu nhận bệnh nhân nằm điều trị. Trước đó chúng tôi xin Cục Quân Y biệt phái cho một số bác sĩ chuyên môn làm nòng cốt. Các vị này thường quá 15 năm quân vụ, nhưng vì chiến tranh triền miên họ chưa được giải ngũ. Danh sách dưới đây có thể thiếu sót vì đã trên ba mươi năm rồi, xin lỗi đồng nghiệp nào mà chúng tôi quên không ghi tên:

Y Sĩ Đại Tá Lưu Thế Tế, chuyên khoa tim mạch

Y Sĩ Đại Tá Nguyễn Quang Huấn, giải phẫu ung thư, thường trú ở ngay trong BVVD

Y Sĩ Trung Tá Lê Thế Linh, giải phẫu chỉnh hình

Y Sĩ Trung Tá Trịnh Cao Hải, giải phẫu chỉnh hình

Y Sĩ Trung Tá Phạm Hữu Phước, giải phẫu thần kinh

Y Sĩ Trung Tá Trần văn Khoan, giải phẫu tổng quát

Y Sĩ Trung Tá Hồ Hữu Hưng , nhãn khoa

Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Thế Huy, Tai Mũi Họng

Y Sĩ Trung Tá Vũ Ban, Quang Tuyến X

Các vị trên đây có nhiều kinh nghiệm chuyên môn và từng đã đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ, ngoài ra một số bác sĩ vẫn làm việc trong ngành Quân Y nhưng giúp BVVD ngoài giờ làm việc như các B.S. Cao Xuân An (bệnh lý học), B.S. Đặng Như Tây (Vi Trùng Học), B.S. Bạch Toàn Vinh (Vi Trùng Học), Ngô Tôn Liên (Gây Mê , Hồi Sức)

Bộ Y Tế biệt phái cho BVVD:

B.S. Phạm Ngọc Tỏa, Giám Đốc, Sản Phu. Khoa, năm 1972 có đi tu nghiệp tại Singapore về giải phẫu triệt sản qua âm đạo (sterilisation par voie culdoscopique) do Ford Foundation tổ chức, mang về cho BVVD một bộ đồ giải phẫu theo thủ thuật này, do Ford Foundation tặng.

Nha Sĩ : Bà Nguyễn đình Hiệu, Cô Võ thi Văn (?)

Các đồng nghiệp trong Ban Giảng Huấn của Y Khoa Đại Học Saigon cộng tác với BVVD có:

G.S. Trần Kiêm Thục , Bệnh Tiêu Hóa

G.S. Trần Hữu Chí, Bệnh Phổi

G.S. Bùi Thị Nga, Nhi Khoa

G.S. Nguyễn Bích Tuyết, Sản Phụ Khoa

G.S. Vũ Thiện Phương, Sản Phụ Khoa

G.S. Trương Minh Ký, Tai Mũi Họng

BVVD có tuyển dụng:

B.S. Nguyễn Xuân Xương, Nội Khoa và tim mạch

Bà Nguyễn Gia Kiểng, B.S chuyên về Huyết học mới ở Pháp về

Dược sĩ Nguyễn Thị Dung, coi Dược Phòng

Dược sĩ Tôn Nữ Duy Thạnh, Phòng Thí Nghiệm (Hóa Học)

Ngoài ra còn một số quân y sĩ chuyên làm việc trực ngoài giờ làm việc của công sở.

Tóm lại có gần ba chục Y Nha Dược sĩ tham gia vào việc điều hành chuyên môn trong giai đoạn đầu.

Các y công được huấn luyện xử dụng máy móc lau chùi nhà cửa luôn luôn sạch sẽ chẳng kém gì các bệnh viện ngoại quốc. Hồi đó Việt Cộng thường kiểm soát các khu rừng ở miền Nam, sách nhiễu các người khai thác nên gỗ rất đắt, do đó tất cả các cửa đều làm bằng alumimium nhập cảng từ bên Nhật, vừa đẹp, vừa bền lại dễ bảo trì.

Vấn đề thực phẩm cho bệnh nhân lúc đầu do chủ nhân nhà hàng Đồng Khánh ở Chợ Lớn và Lê Lai ở Saigon cung cấp. Tôi thấy thức ăn phẩm lượng rất kém, lại không hợp vệ sinh, nên đề nghị HĐQT tìm nhà cung cấp khác vì thực phẩm bổ túc cho việc điều trị và cần cho việc phục hồi sức khỏe của bệnh nhân. HĐQT đồng ý, bèn cử hội viên ra đảm nhiệm việc nấu ăn cho bệnh nhân, nên sau này thức ăn rất tinh khiết ngon lành.

Trong giai doạn đầu khi các giường bệnh hạng trả tiền chưa choán hết, lại cho miễn phí, giảm phí rất nhiều, để giữ cho bệnh viện ở mức độ cao việc bảo trì rất tốn kém, đó là nguyên nhân lỗ vốn của giai đoạn này.

Một vài thân chủ đặc biệt là: vợ một Tham vụ Ngoại giao Mỹ nhờ một Bác Sĩ Quân Y Mỹ đỡ đẻ tại BVVD, trả giá đặc biệt; con Bà Chủ tịch HĐQT mổ cesarienne ở BVVD, khi ra về Bà Chủ Tịch tặng cho Quỹ Xã Hội một số tiền rất lớn; hãng Air America nhờ BVVD săn sóc sức khỏe cho nhân viên của hãng.

  • Vài sự kiện đáng ghi nhớ:

1/ Trường Y Khoa Đại Học Minh Đức muốn xin HĐQT cho sinh viên đến tập sự HĐQT hỏi ý kiến chúng tôi, chúng tôi trình bày muốn thu hút nhiều bệnh nhân hạng trả tiền để quân bình ngân sách nên tránh thâu nhận sinh viên y đến tập sự. Sau này nên mở các lớp chuyên khoa cho các Bác sĩ đã ra trường, muốn theo chương trình thường trú (resident) dự trù sẽ được tổ chức tại BVVD với sự cộng tác của các trường Đại Học Âu Mỹ. BVVD đã dự trù xây cất các phòng ở cho các B.S. thường trú tương lai. Như vậy họ vừa được huấn luyện tại chỗ các chuyên khoa, sau rồi ở lại làm việc tại VN, đỡ thất thoát chất xám. Ngược lại các trường Y khoa Đại Học ngoại quốc có dịp cử Giáo Sư đến VN dạy học, có thể nghiên cứu thêm bệnh lý đặc biệt của người Việt. Đề nghị này đươc chấp thuận.

2/ Có một phái đoàn Bác Sĩ Mỹ sang VN để giải phẫu tim (hình như là thuộc trường Đại Học Loma Linda thì phải) cho bệnh nhân VN. Xong việc họ mới biết Saigon có BVVD, họ đến thăm và không ngờ có một cơ sở tốt như vậy. Họ hứa lần sau sẽ đến mổ tại BVVD, rồi để lại cho bệnh viện các dụng cụ giải phẫu tim

3/ Trong đầu thập niên 70 Pháp tái lập bang giao với VN, muốn tân trang lại BV Grall, cử một phái đoàn của bộ Y Tế Pha’p trong đó có một Giáo Sư Đại Học Y Khoa, một ky õsư Bách Khoa. Ông Giám Đốc BV Grall điện thoại cho tôi xin phép cho phái đoàn đến thăm BVVD. Tôi dẫn họ xem các phòng ốc, đồ trang bị và trình bày diễn tiến của việc thành lập BVVD. Khi ra về họ nói không ngờ trong nước còn đang có chiến tranh mà đã làm được một cơ sở quá tốt như thế này.

4/ Khoảng năm 1973 bà Chủ Tịch HDQT có hỏi tôi: BVVD nên có một cái gì khác các bệnh viện khác. Tôi trả lời quý bà là Hội PNPSXH thì nên giúp cho phụ nữ VN, mà phụ nữ thì hay bị ung thư, hiện nay Viện Ung Thư Quốc Gia được Cơ Quan Y Tế Quốc Tế (OMS) viện trợ cho một bom Cobalt để trị liệu, nhưng không có ngân khoản để xây cất chỗ chứa và cơ sở tiếp bệnh nhân. Nếu bây giờ mình có khả năng xây cất nhanh chóng thì nên mở thêm khu điều trị ung thư. Đúng vào thời điểm đó một Bác Sĩ kiêm Kiến Trúc Sư chuyên về xây cất bệnh viện, làm việc cho OMS, lại thăm BVVD thấy còn nhiều đất trống, ông ta hỏi sao không xử dụng bỏ phí quá. Tôi có kể lại với ông là đang dự trù làm cơ sở dùng bom Cobalt trị liệu ung thư. Ông ta sốt sắng xung phong vẽ kiểu cho và hứa sẽ tìm người viện trợ trái bom này. Ít lâu sau tôi rời khỏi BVVD, nghe đâu ông ta đã vận động xin Hoàng Gia Đan Mạch viện trợ cho thì phải.

Khoảng tháng mười 1974 ĐT Cầm nói với tôi Ủy Ban Xây Cất chấm dứt nhiệm vụ vì việc xây cất đã xong. Tôi nghĩ mình làm việc gần năm năm rồi từ trước khi kiếm được địa điểm xây cất, nay đã hoàn thành việc tổ chức, trang bị và điều hành giai đoạn đầu, mỗi ngày làm việc trung bình 9, 10 giờ, nên tôi đệ đơn xin trở về Bộ Y Tế. Tôi phải chờ hơn hai tháng, đến 31/12/1974 HĐQT mới tìm được người thay thế: đó là Giáo Sư Đặng Văn Chiếu, cựu Khoa Trưởng Y Khoa Đại Học Saigon. Có sự thay đổi trong Sơ Đồ Tổ Chức BVVD: Dược Sĩ Nguyễn Thị Hai được Hội PNPSXH cử ra làm Giám Đốc BVVD, G.S. Đặng Văn Chiếu làm Giám Đốc Kỹ Thuật và Dược Sĩ Nguyễn Tiến Đức, có bằng Cao Học Y Tế Công Cộng Mỹ (MPH), làm Giám Đốc Hành Chánh.

Ngày 21/4/1975 TT Nguyễn Văn Thiệu trao quyền cho Phó TT Trần văn Hương. Ngày 22/4/1975 bà Nguyễn Văn Thiệu trao BVVD cho Bộ Y Tế. Ngày 30/4/1975 Cộng Sản cưỡng chiếm Saigon, BVVD được chúng đổi tên là Bệnh Viện Thống Nhất (BVTN). Như vậy danh hiệu BVVD sống được 3 năm 7 tháng 26 ngày tính từ ngày khánh thành đến 30/4/1975, trong thời gian đó tôi phục vụ được 3 năm 3 tháng.

  • Vài hàng về BVTN:

Khi tiếp thu, theo lời các nhân viên cấp nhỏ còn được ở lại làm việc, thì CS vào ở bừa bãi trong bệnh viện, thấy phòng Thí Nghiệm luôn luôn cho chạy máy điều hòa không khí, họ chỉ trích tư bản phung phí tiền của nhân dân, họ đâu có biết trong đó có nhiều máy móc điện tử cần lúc nào cũng phải điều hòa không khí. Họ lạm dụng thang máy, những thang máy để chuyên chở một giường bệnh lớn hay hơn 10 người, họ xử dụng bừa bãi. Cuối tháng tiền điện tăng lên quá cao, họ la lối có địch phá hoại, phải điều tra! Thật là “Ngọc để Ngâu vầy”, không biết vật dụng có mất mát gì không hoặc có bảo trì đúng mức không ! Có một đồng nghiệp nghe người nhà cũng ở trong ngành y ở lại làm việc ở miền Bắc kể lại trong thời chiến miền Bắc có được một nước bạn Đông Âu viện trợ cho toàn bộ đồ trang bị một bệnh viện nhỏ, sau vài tháng đến thăm vật dụng bị mất cắp gần hết!

Sau 30/04/1975 trong vài tháng đầu, để mị dân BVTN nhận tất cả mọi người vào nằm điều trị. Được vài tháng, họ tuyên bố BVTN chỉ thâu nhận đảng viên và cán bộ cao cấp, cán bộ trung cấp thì được nằm ở BV Trưng Vương, còn nhân dân thì nằm BV Bình Dân. Thật là phân chia giai cấp rõ ràng, đến nỗi một cán bộ nhỏ không được nằm BVTN phải than rằng: “Thời Thiệu Kỳ ai muốn nằm BVVD cũng được, bây giờ BVTN chỉ dành cho mấy ông lớn!”. Thê’ mới biết: BVVD thì lo điều trị cho Dân, còn BVTN chỉ lo phục vụ cho Đảng!”

Sau mấy tuần họ tưởng là đã học hết công việc điều hành của bệnh viện rồi , nên họ chỉ giữ lại các y công, còn thuyên chuyển đi nơi khác tất cả các nhân viên trung cấp như một số y tá phải đổi lên nhà thương điên Biên Hòa, trong số đó có một nữ chuyên viên Gây Mê Hồi Sức rất giỏi ! Vì họ chú trọng “Hồng hơn chuyên”, nên chính những cán bộ cao cấp nằm điều trị tại BVTN, tuy nằm ở đó, mà không tin tưởng vào B.S. của họ, nên vẫn tìm B.S. “ngụy” để chữa trị!

Kết luận :

Trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa, chiến cuộc gia tăng mạnh mẽ, BVVD ra đời nhờ sự cố gắng của trong nước và sự yểm trợ của các nước đồng minh, các cơ quan thiện nguyện và các vị hảo tâm trong và ngoài nước để bù đắp một phần nào sự thiếu thốn một hệ thống An Sinh Xã Hội (Securité Sociale). Ở thời điểm đó BVVD tương đối đầy đủ nhưng chưa thể so sánh được với các bệnh viện tối tân hiện đại của các nước Âu Mỹ ngày nay. Riêng phần tôi vì muốn làm việc xã hội mà không làm chính trị và muốn thực hiện những gì mình ấp ủ từ lâu nên đã nắm lấy cơ hội để thử sức mình. Kết quả: mang tiếng chạy theo chế độ và mất hết thân chủ phòng mạch tư, nên bị bà xã trách móc cho đến tận bây giờ!!!

“Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.”  (2 Côrintô 12:9) – Cha Vương

“Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.”  (2 Côrintô 12:9)

Hãy Tạ ơn vì Chúa đã ban cho Bạn một ngày mới! Chúc Bạn có một quả tim đầy ân sủng để vượt qua mọi khó khăn và thử thách trong ngày.

Cha Vương

Thứ 3: 19/07/2022

“Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.”  (2 Côrintô 12:9)

SUY NIỆM:

Khi bị bệnh Bạn đi tìm thầy thuốc. Khi đau khổ buồn chán Bạn đi tìm an ủi. Có 2 nguồn an ủi: an ủi của giác quan (thế gian) và an ủi của Thần Khí (Thiên Chúa).

Nguồn an ủi của thế gian Bạn nên tránh xa! “Không hưởng được nhiều an ủi ở đời, nhất là những yên ủi giác quan, thì lại có lợi và làm cho đời ta vững chắc hơn.” (SGCGs, Q1:C21)

Còn nguồn an ủi của Thiên Chúa thì bạn PHẢI có qua việc tham dự tích cực vào các Bí Tích, vì “Các Bí tích là những dấu chỉ hữu hiệu của ân sủng do Chúa Kitô thiết lập và uỷ thác cho Hội Thánh. Qua các bí tích, Thiên Chúa ban cho chúng ta sự sống thần linh.”(SGLCG, số 1131) Đức Hồng Y Thuận nói: “Con đừng bảo: ‘Nước không dập tắt được lửa!’—Chỉ vì nước ít lửa nhiều thôi.” (ĐHV, 438) Vậy Bạn hãy đến với Chúa thường xuyên hơn để xin Ngài tăng cường ân sủng cho mình thì mới dập tắt được ngọn lửa của dục vọng.

 BÀI TẬP THỰC HÀNH:

  1. Hãy đi xưng tội thường xuyên hơn.
  2. Nếu hoàn cảnh cho phép Bạn hãy đi Lễ ngày thường để rước Chúa.
  3. Tham dự thánh lễ một cách nghiêm trang và sốt sắng.
  4. Tắt nguồn (power off) điện thoại di động trước khi bước vào nhà thờ để khỏi bị chia trí.

Lạy Đức Mẹ Chúa Trời, / Ngài xiết bao thánh thiện, / Này chúng con chạy đến / Tìm nương ẩn nơi Ngài. / Lúc sa vòng gian khổ, / Khi gặp cảnh phong trần, / Lời con cái nài van, / Xin Mẹ đừng chê bỏ. (Lạy Đức Mẹ Chúa Trời (Sub tuum praesidium)

From: Đỗ Dzũng