Hãy chôn cất Chủ nghĩa Cộng sản-Ngô Nhân Dụng

VOA

26/07/2024

Tại một hội chợ sách ở Bắc Kinh, 2005. Các hình chân dung, từ trái: Marl Marx, Friedrich Engels, Lenin.

Trong bài trước, mục này đề nghị đảng Cộng sản Việt Nam hãy chôn cất chủ nghĩa Mác – Lê nin. Hơn nữa, từ nay phải chấm dứt không tôn thờ một thứ chủ nghĩa hay lý thuyết kinh tế, chính trị nào nữa. Đó là một căn bệnh tâm thần từ châu Âu lan ra thế giới từ thế kỷ 19, mà chính các nước Tây phương nay đã trị gần hết bịnh rồi.

Ông Nguyễn Phú Trọng phí bộ óc thông minh của mình cả đời cổ động cho lý thuyết chính trị lỗi thời của Karl Marx và Vladimir Lenin. Ông viết: “… điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin” (Trong bài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,” năm 2022.)

Ông Trọng ca ngợi “Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác – Lênin.” Nói “cách mạng triệt để” thì đúng, nhưng từ trăm năm nay ai cũng biết “chủ nghĩa” đó không hề có tính chất khoa học, từ khi loài người hiểu thế nào là khoa học.

Trước kia, các hiểu biết thường được gọi là khoa học nếu có thể xác nhận qua các bằng chứng hoặc thí nghiệm cụ thể. Nhưng Karl Popper, trong cuốn “Logik der Forschung” (Quy luật của Khám phá Khoa học), in năm 1934, cho thấy một đặc tính cốt yếu của các giả thuyết khoa học là chúng có thể bị chứng minh ngược lại (falsifiability). Điều nào không thấy chứng cớ bác bỏ được thì tạm coi là đúng, cho đến khi thấy bằng chứng mới. Karl Marx trình bày các lý do khiến kinh tế tư bản sẽ sụp đổ, các phát biểu này không thể dùng thí nghiệm để phủ nhận. Cuối cùng, ông chỉ phỏng đoán ra một tương lai, hoàn toàn tưởng tượng. Cho đến khi giấc mơ của ông được thi hành, bắt đầu từ nước Nga, cả loài người biết Marx sai lầm. Bây giờ mà còn tôn thờ chủ nghĩa đó thì đúng là mê tín, phản khoa học.

Một điều ông Nguyễn Phú Trọng luôn luôn khẳng định là: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc.” Có rất nhiều bằng chứng ngược lại. Sau Đại chiến Thứ Hai, bao nhiêu dân tộc đã giành lại độc lập, từ châu Á đến châu Phi, không ai dùng tới chủ nghĩa cộng sản. Trung Cộng, Bắc Hàn, Việt Nam và Cuba theo nên sau đó chậm phát triển, phải quay ngược chiều, bắt chước kinh tế tư bản.

Năm 2008, nói trên đài ti vi ở Hà Nội ông Nguyễn Phú Trọng đã báo tin rằng chỉ trong ba năm nữa thôi “Hội đồng Lý luận Trung ương” sẽ hoàn tất việc nghiên cứu để tìm ra một “Học thuyết xây dựng chiến lược Việt Nam trong thế kỷ 21.” Từ đó tới nay, cái “chiến lược” đó vẫn chỉ gồm những khẩu hiệu.

Trong bài phát biểu ngày 19 tháng 5, 2021, ông Nguyễn Phú Trọng tự trả lời cho câu hỏi “chủ nghĩa xã hội là gì?” Ông mô tả đó là “… một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; … có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc…; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo.” Tất cả chỉ là những ước vọng, ai muốn hô lên cũng được không thể gọi là chiến lược hay kế hoạch. Chỉ có một điều cụ thể là ông xác nhận “nhà nước” phải “do Đảng Cộng sản lãnh đạo!” Ông Kim Jong Un cũng từng nói giống hệt như vậy với dân Bắc Hàn; ông Pol Pot nếu còn sống cũng hô hào không khác! Phải do Đảng của tui lãnh đạo!

Trong khi Đảng Cộng sản Việt Nam đang ca tụng ông Nguyễn Phú Trọng “để lại một di sản lý thuyết” lớn lao về chủ nghĩa Mác – Lênin, thì người Việt biết rằng chúng tôi không cần cái di sản tác hại đó! Hàng trăm năm qua loài người vẫn cứ thế tiến tới, không nhờ một chủ nghĩa nào chỉ đường dẫn lối cả. Bởi vì trước hết loài người phải sống đã, không ai chờ có một chủ thuyết nào rồi mới bắt đầu sống!

Cái bệnh đi tìm chủ thuyết phát sinh ở nước ta là do ảnh hưởng phương Tây. Các “ông Tây” sống duy lý từ mấy trăm năm trước đã xây dựng nhiều chủ thuyết để dẫn dắt người khác theo mình; nó thành một thứ bệnh truyền nhiễm.

Bệnh nặng nhất là ông Karl Marx, truyền xuống ông Lenin, lây dần dần sang nhiều người khác. Vì chủ nghĩa đó mà thế giới chia đôi, hai khối đánh nhau, người Trung Hoa, người Hàn quốc, người Congo, người Việt Nam chết nhiều nhất. Từ giữa thế kỷ 20 loài người bắt đầu trị bệnh chủ nghĩa, và đến mười năm sau cùng của thế kỷ thì hầu như mọi người đã trừ được loài vi khuẩn đó. Ngoại trừ ở những nước vẫn bế quan tỏa cảng, ngăn cấm thông tin, không cho dân được mở cái đầu ra, nhiều người vẫn còn mơ màng về một thứ chủ thuyết nào đó. Khi thấy chế độ cộng sản ở Nga và Âu châu sụp đổ, có những người ở Việt Nam lo lắng một cách thành thật rằng sau khi dẹp bỏ lý thuyết Mác Lê thì không biết mình sẽ nương tựa vào một ý thức hệ nào để mà sống! Đúng là lo… con bò trắng răng!

Con người sinh ra để sống chứ không phải để chuẩn bị sống, như một nhân vật của Boris Pasternak nói. Hay nói như Trang Tử, vì có người đi nên mới có đường đi (Đạo hành chi nhi thành); không phải vì có con đường rồi nên mọi người mới biết lối đi. Biết vậy, nhưng vẫn phải chờ tới khi chế độ cộng sản hoàn toàn thất bại ở Nga, thất bại hiển nhiên khi kinh tế suy sụp, thì loài người mới vỡ lẽ ra rằng tất cả câu chuyện chủ nghĩa là chuyện tầm phào!

Nếu vậy thì trong kinh tế tư bản người ta không cần một chủ nghĩa nào chỉ đạo hay sao? Đúng như vậy. Kinh tế tư bản chỉ dựa trên vài nhận xét của nhà đạo đức học xứ Scotland, Adam Smith. Ông ta thấy rằng bất cứ ai, một bà nướng bánh hay một ông hàng thịt, họ làm việc chính vì muốn kiếm lời; nhưng khi ai cũng làm như thế thì người chung quanh cũng được hưởng. Smith cũng thấy một điều là người ta thường chỉ trao đổi với nhau nếu cả hai bên thấy mình có lợi. Đó là hai ý kiến căn bản của kinh tế tư bản, có ai muốn gọi đó là một chủ nghĩa hay không?

Thức ra mọi môn khoa học đều không cần một chủ nghĩa và không nên có. Vì các kiến thức khoa học đều là những giả thuyết, người ta tạm dùng cho đến khi nào bị đánh đổ nếu có chứng cớ trái ngược. Trong thiên văn bây giờ mọi người tin ở thuyết Big Bang nhưng không ai tôn thờ nó như một chủ nghĩa. Trái lại, ai tìm ra được một kẽ hở nào trong lý thuyết đó sẽ được cả làng thưởng công! Trong kinh tế học cũng vậy, không có lý thuyết vĩ đại nào với tham vọng giải quyết mọi vấn đề nhân sinh, mà chỉ có những tìm tòi và khám phá cụ thể.

Một tấm gương là Leonid Hurwicz, nhà kinh tế lỗi lạc đã qua đời. Ông sinh ở Matx Cơ Va trước Cách mạng Tháng Mười, chạy qua Ba Lan năm 1919 để tránh chế độ cộng sản. Tốt nghiệp luật khoa ở Đại học Warsaw, ông sang Anh học về kinh tế, rồi năm 1940 sang Mỹ. Hurwicz chịu ảnh hưởng của những giáo sư kinh tế nổi danh ở London khi ông theo học ở đó, như Friedrich Hayek, Nicholas Kaldor, và Ludwig von Mises. Vào những thập niên 1930, 40, có những nhà kinh tế thất vọng trước cuộc thí nghiệm của Liên Xô đã cổ động việc cải thiện hệ thống xã hội chủ nghĩa. Tuy không đồng ý với lý thuyết kinh tế của Karl Marx và cũng không thích chế độ độc tài kiểu Stalin, Oskar Lange đã nẩy ra ý tưởng kết hợp kinh tế thị trường với Chủ nghĩa Xã Hội.

Trong khi đó, Hayek và von Mises nhìn thấy nhược điểm cơ bản của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa, là vấn đề thông tin. Sống trong thời đại tin học chúng ta hiểu vấn đề này nhanh, nhưng vào thập niên 1940 thì đây là một khám phá. Đời sống kinh tế dựa trên tin tức, các quyết định kinh tế dựa trên thông tin. Trước khi trao đổi sức lao động, hàng hoá, tiền bạc, người ta thế nào cũng tìm hiểu tin tức. Không một uỷ ban kế hoạch nhà nước nào có thể thu lượm đầy đủ thông tin về nhu cầu cũng như khả năng của tất cả mọi người trong xã hội. Ngược lại, trong một hệ thống thị trường thì mọi người đều “tự động tiết lộ” những thông tin về nhu cầu và khả năng cung ứng của họ: Chỉ cần coi giá cả lên hay xuống khi họ mua bán, trao đổi với nhau! Giá cả là động cơ điều tiết thị trường.

Hơn thế nữa, như Friedrich Hayek đã biện luận, khi kinh tế được tập trung chỉ huy thì cuối cùng sẽ thất bại. Vì thất bại cho nên phải cưỡng chế, dẫn đến cảnh nô lệ hoá mọi người. Một chế độ kinh tế tập trung chỉ huy cuối cùng sẽ tước bỏ hết các quyền tự do. Từ đó, đến nhân phẩm cũng mất.

Leonid Hurwicz thoát khỏi giấc mơ Chủ nghĩa Xã Hội và các thứ “Chủ nghĩa” nói chung. Ông không xây dựng một chủ thuyết nào cả mà chỉ nêu những vấn đề thực tế, giải quyết từng chuyện cụ thể một. Một trong các đề tài ông theo đuổi là “động cơ kinh tế của mỗi cá nhân.” Làm cách nào để mọi người tham dự một cuộc chơi kinh tế tự tiết lộ những tin tức mình có, chứ không giữ kín. Hay là làm thế nào để mọi người cố gắng hết lòng cho xong công việc chứ không chỉ làm lấy lệ. Trong tất cả các vụ đó, phải vẽ ra những cách thưởng, phạt để người ta thấy có lợi nếu nói thật, và có lý do muốn làm hết sức mình.

Một thí dụ về phương pháp tạo động cơ thích hợp là câu chuyện chia đôi cái bánh. Bà mẹ có thể cắt cái bánh thật công bằng, chia cho hai con. Có thể trao nhiệm vụ cắt bánh cho anh, khuyên nhủ anh phải chia đều với em. Nhưng thế nào mỗi đứa con cũng thấy phần của mình nhỏ hơn, có thể trong lòng sẽ ganh tị. Bây giờ có thể bày ra một “cơ chế” như vầy: Một đứa con sẽ cắt bánh làm hai phần, nhưng đứa kia sẽ được chọn phần bánh trước. Với “cơ chế” như vậy, đứa trẻ có nhiệm vụ cắt bánh sẽ cố cắt hết sức công bằng, không cần phải nghe lời Đức Khổng Tử dạy hay là bị quản giáo nhồi sọ về một xã hội “công bằng, dân chủ, văn minh.”

Chính khi đi tìm những động cơ thích hợp để giúp một cơ chế kinh tế đạt kết quả, Hurwicz đã giúp người ta hiểu tại sao kinh tế cộng sản thất bại. Với những phương pháp thiết lập “động cơ thích hợp” nền kinh tế có thể hoạt động tự do mà xã hội vẫn theo đuổi được những mục tiêu ngoài kinh tế, như tôn trọng công bằng xã hội, trọng người già hoặc giúp trẻ em, vân vân, mà không cần“giáo dục” hay cưỡng bức ai cả. Điều quan trọng là không cần biến một thứ chủ nghĩa nào thành tôn giáo buộc mọi người tin theo.

Tự do dân chủ không phải là tên một chủ nghĩa. Dân chủ chỉ là những “luật chơi,” giống như luật đá banh vậy. Khi có tự do, người ta được chọn, khi cần phải cùng nhau chọn, đặt ra những quy tắc chọn lựa chung, thí dụ như bỏ phiếu. Cứ như vậy, loài người sẽ sống hạnh phúc hơn mà không cần tôn thờ một chủ nghĩa như lối người cộng sản trong thế kỷ trước.

Đa số những người cộng sản ở Việt Nam bây giờ, không tin vào chủ nghĩa nào nữa, chỉ tin ở thế lực kim tiền! Nhưng nhiều người vẫn còn muốn dân chúng tiếp tục tôn thờ chủ nghĩa Marx, để bảo vệ địa vị và tài sản của họ! Phải chấm dứt trò gian dối đó.


 

Kamala Harris huy động được $200 triệu từ lúc thế chỗ Biden

Ba’o Nguoi-Viet

July 28, 2024

PITTSFIELD, Massachusetts (NV) – Chiến dịch tranh cử của Phó Tổng Thống Kamala Harris huy động được $200 triệu từ lúc bà vươn lên thành ứng cử viên tổng thống Đảng Dân Chủ vào tuần trước, một khoản quyên góp đáng trầm trồ trong cuộc tranh cử với ứng cử viên Đảng Cộng Hòa, cựu Tổng Thống Donald Trump, thông tấn xã AP loan tin.

Chiến dịch tranh cử của Harris công bố tổng số tiền gây quỹ mới nhất hôm Chủ Nhật, 28 Tháng Bảy, cho biết phần lớn các khoản quyên góp — gồm có 66% — đến từ những người lần đầu tiên quyên tiền trong chu kỳ bầu cử 2024 và xuất hiện sau khi Tổng Thống Joe Biden tuyên bố rút lui và tiến cử Harris.

Hơn 170,000 tình nguyện viên cũng ghi danh hỗ trợ chiến dịch của Harris bằng các hoạt động gọi điện thoại, vận động cùng các nỗ lực vận động bỏ phiếu khác. Chỉ còn 100 ngày nữa là tới Ngày Bầu Cử.

Phó Tổng Thống Kamala Harris lên phi cơ Air Force Two ở Westfield, Massachusetts, ngày 27 Tháng Bảy, 2024 (Hình: STEPHANIE SCARBROUGH/POOL/AFP/Getty Images)

“Phó Tổng Thống Harris đang thực sự tạo ra động lực và tỏa ra sinh khí — các nguyên tắc căn bản trong chiến dịch tranh cử này cũng vậy: kết quả sẽ rất sít sao và chỉ cần một số ít cử tri ở một vài tiểu bang thôi cũng đủ mang đến kết quả thành hay bại,” Michael Tyler, giám đốc truyền thông của chiến dịch tranh cử, viết trong một bản ghi nhớ.

Hôm Thứ Bảy, Harris tổ chức vận động tranh cử tại Pittsfield, Massachusetts, thu hút hàng trăm người tới tham dự buổi gây quỹ được tổ chức từ lúc Biden vẫn còn là ứng cử viên hàng đầu của Đảng Dân Chủ. Ban đầu, buổi gây quỹ dự trù huy động được $400,000 nhưng cuối cùng lại thu về khoảng $1.4 triệu, theo chiến dịch tranh cử của Harris.

Harris nhanh chóng quy tụ làn sóng ủng hộ trong Đảng Dân Chủ sau khi Biden, thất bại trong cuộc tranh luận tệ hại hôm 27 Tháng Sáu trước Trump, rời khỏi cuộc đua. Cựu Chủ Tịch Hạ Viện Nancy Pelosi, Lãnh Tụ Khối Đa Số tại Thượng Viện Chuck Schumer, Lãnh Tụ Đảng Dân Chủ tại Hạ Viện Hakeem Jeffries, cựu Lãnh Tụ Khối Thiểu Số tại Hạ Viện Jim Clyburn, cựu Tổng Thống Bill Clinton và cựu Ngoại Trưởng Hillary Clinton lập tức tuyên bố ủng hộ Harris.

Những tên tuổi trong Đảng Dân Chủ từng là những nhà gây quỹ vĩ đại gồm có cựu Tổng Thống Barack Obama và cựu Đệ Nhất Phu Nhân Michelle Obama cũng tuyên bố ủng hộ hôm Thứ Sáu.

Hôm Thứ Bảy, trong buổi gây quỹ, Harris cho biết bà vẫn đang “dưới cơ” nhưng chiến dịch tranh cử của bà đang tăng tốc.

Future Forward, Đại Ủy Ban Hành Động Chính Trị SPAC lớn nhất trong nền chính trị Đảng Dân Chủ, loan báo vào tuần trước rằng họ cam kết các nhà tài trợ sẽ rót $150 triệu trong 24 giờ đầu tiên từ thời điểm Biden rút lui và tiến cử Harris.

Các ứng cử viên Đảng Dân Chủ tại Hạ Viện và Thượng Viện cho biết họ cũng chứng kiến ​​bà được ủng hộ nhiệt liệt từ lúc thăng tiến lên thành ứng cử viên có thể nhận được đảng đề cử chính thức của đảng phái. (TTHN)


 

Sự kiêu ngạo cộng sản-Nguyễn Thông 

Sự kiêu ngạo cộng sản

08:57 | Posted by BVN4

Nguyễn Thông 

Nhà thơ Việt Phương nói: “Ta đã thấy những vết bùn trên các vì sao”, nay chỉ ra vết bùn sự kiêu ngạo của “sao”, tôi chỉ mong muốn họ biết lắng nghe, thực tâm gột rửa để ngày càng trở nên sạch sẽ, gần gũi với mọi người dân trên đất nước này. Còn họ khăng khăng không thừa nhận cũng đành chịu, chả cãi họ được.

********

“Sự kiêu ngạo cộng sản” – Những chữ trên không phải do tôi nghĩ ra, cũng không phải do thế lực thù địch nào vu cáo, mà là chữ dùng của ông Phan Diễn. Ông Diễn người Quảng Nam, con cụ Phan Thanh – một nhân vật nổi tiếng thời Mặt trận Dân chủ 1936-1939. Ông Diễn từng là Ủy viên Bộ Chính trị, đóng đến chức Thường trực Ban Bí thư (tức nhân vật số 2 của đảng, chỉ sau Tổng bí thư). Họ hàng ông Diễn còn có những người là yếu nhân của chế độ, chẳng hạn ông Phan Bôi (tức Hoàng Hữu Nam), em ông Phan Thanh, ông Bôi là Thứ trưởng Bộ Nội vụ của chính quyền sau Cách mạng tháng 8, Chánh văn phòng chính phủ, người được cụ Hồ hết sức tin cậy; mẹ ông là bà Lê Thị Xuyến từng là Phó chủ tịch Trung ương Hội LHPN Việt Nam… Kể qua như vậy để nói rằng phát ngôn của ông Diễn không phải dạng ai đó nói vu vơ, nói lấy được, mà là rất có trọng lượng. Đó là nhận xét của người trong cuộc, “ở trong chăn…” chứ không phải bị kích động, xúi giục, nhẹ dạ gì (làm sao mà kích động nổi những người như ông Diễn, nay ông vẫn còn sống và mạnh khỏe, sáng suốt, ai không tin thì cứ hỏi ông).

Trong bài trả lời báo điện tử VnExpress đăng ngày 17.12.2016, ông Diễn chắc thấm nhuần tư tưởng của Lenin, người thầy của cách mạng vô sản thế giới, đưa ra nhận định “Tôi cho rằng, chúng ta ít nhiều đã có sự chủ quan, có thể gọi là “kiêu ngạo cộng sản” sau chiến thắng 1975. Việc này có thể hiểu là xuất phát từ những điều tự hào về lý tưởng và thành công của mình trên con đường cách mạng, nhưng rồi đi quá đà đến xu hướng chủ quan”(trích nguyên văn).

Cũng trong bài trả lời này, ông cựu nhân vật số 2 còn cho biết chi tiết rất đáng quan tâm đối với những người chép sử, ông bảo “Trước giải phóng, mỗi năm kinh tế miền Nam được Mỹ viện trợ khoảng một tỷ USD. Miền Bắc cũng được chi viện của các nước xã hội chủ nghĩa một lượng xấp xỉ như thế” (trích nguyên văn).

Nếu đúng như ông Diễn nói thì với 1 tỷ đô như vậy, ở miền Nam ngoài chi cho phương tiện chiến tranh, tiền viện trợ còn được biến thành nền kinh tế “phồn vinh giả tạo”, dân thực sự được nhờ, được sung túc, chứ 1 tỷ ở miền Bắc bị chuyển hóa hết thành vũ khí đạn dược để “giải phóng miền Nam”, nên dân chịu đói khổ thiếu thốn kéo dài suốt mấy chục năm.

Phải nói rằng, trong gầm trời này, từ thời thượng cổ đến nay, nếu nói về sự kiêu ngạo thì có thể nói rằng người cộng sản là số 1. Người đời vẫn nhắc với nhau một “tấm gương” điển hình về kiêu ngạo, đó là Quan Vũ (còn gọi là Quan Công, Quan Vân Trường) thời Tam quốc. Ông ta đứng đầu ngũ hổ tướng của Lưu Bị, tài giỏi, công lao khó ai bì, chỉ có điều kiêu ngạo quá lắm. Thiên hạ có thể khen ông nhiều điều, cho qua chuyện ông xem thường Mã Siêu (và cả Hoàng Trung, Triệu Vân nữa, những “đồng chí” của ông, tài giỏi chẳng kém ông, thậm chí còn hơn ông) nhưng chỉ với việc ông khước từ sự cầu hôn của nhà Ngô, họ muốn gả con trai vua Tôn Quyền lừng lẫy đất Giang Nam cho con gái ông để hai nhà liên kết, nhưng bằng thói kiêu ngạo ngấm trong máu, Quan Vũ thẳng thừng “con gái ta như loài hổ, lại thèm gả cho con loài chó à”, thì với chính thái độ đó ông đã phết chữ “tử” vào sự nghiệp của mình cũng như sự tồn tại của nhà Thục. Thói kiêu ngạo đã giết chết ông ta và nhà nước của ông chứ không phải nguyên nhân gì khác, dù Lã Mông rất giỏi. Ở đây cũng phải kể thêm cái “tội” của Khổng Minh, đã biết không thể tin cậy Quan Vũ trong việc giữ Kinh Châu mà vẫn cứ giao, bởi mấy chữ khuyên “Đông hòa Tôn Quyền, bắc cự Tào Tháo” đối với một kẻ kiêu ngạo chả có ý nghĩa gì, chả là cái đinh gì. Về vụ dùng người này, Khổng Minh kém Tư Mã Ý xa.

Kiêu ngạo là gì? Kiêu là sự ngạo mạn, không chịu phục tùng. Kiêu ngạo là thái độ khoe khoang, ngạo mạn. Kẻ kiêu ngạo thường tự cho mình hơn người, thậm chí mình là nhất. Kiêu căng ngạo mạn, trên đời không ai bằng mình. Kiểu Chí Phèo, “anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta”. Từ đó dẫn đến coi thường người khác, coi thường tất cả. Việc gì mình làm cũng hay cũng đúng. Mình chả bao giờ sai. Luôn nhìn đời bằng nửa con mắt. Nếu có ai phê phán phản đối thì lấy làm khó chịu, nhẹ thì chê bai dè bỉu người ta, nặng thì dùng quyền lực tìm cách vùi dập. Trong mênh mông thế sự, kẻ kiêu ngạo luôn sống cô độc với vòng hào quang mà nó tự tô vẽ.

Nói cho công bằng, không phải ai cũng có thể sinh thói kiêu ngạo. Những hạng ngu đần, an phận, rụt rè, kém bản lĩnh, thiếu tài năng, tầm thường thì không thể là kẻ kiêu ngạo. Những người cả đời không lập công, không thành đạt thì lấy gì để kiêu ngạo. Phải có khí chất nhất định của kẻ anh hùng, phải hơn người mới có thể kiêu ngạo.

******

Kể từ khi chủ nghĩa cộng sản với cốt lõi là tư tưởng Marx – Lenin và học thuyết đấu tranh giai cấp được du nhập vào Việt Nam hồi nửa đầu thế kỷ 20, người cộng sản đã dần tìm được chỗ đứng trong đời sống chính trị bởi họ khá khôn ngoan. Họ biết lợi dụng và dựa vào dân nghèo, nhất là nông dân, lực lượng đông nhất ở một xứ thuộc địa. Những ông tổ của cộng sản, khi truyền bá học thuyết đấu tranh giai cấp đã khẳng định “ai nắm được công nông, người ấy sẽ chiến thắng”. Lý luận ấy từng chính xác ở nơi nào thì tôi chưa rõ lắm, nhưng xứ ta trước năm 1945 thì quả đúng như vậy.

Sau khi đã trở thành lực lượng chính trị quan trọng, người cộng sản VN từng bước giành thắng lợi. Đó là nghệ thuật biết thắng từng bước, dù họ thừa hiểu phải giá đắt bằng máu và nước mắt của dân. Dấu mốc lịch sử quan trọng vẻ vang nhất là họ khơi dậy được sức mạnh tổng hợp của quần chúng, khơi mối căm thù giai cấp bóc lột, hô hào nhân dân đứng lên làm cuộc lật đổ nhà nước thực dân – phong kiến, cướp chính quyền (chữ “cướp” được người cộng sản trước kia hay dùng, sau có lẽ thấy chối quá mới âm thầm bỏ), thiết lập được bộ máy cầm quyền mới vào tháng 8.1945.

Theo dòng lịch sử, trải qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 9 năm (1945-1954), cuộc nội chiến Bắc-Nam để thống nhất đất nước (1954-1975), cuối cùng người cộng sản đã đoạt chiến thắng chung cuộc. Đánh ván cờ xương máu, họ đã thắng. Đó là thực tế lịch sử. Bao nhiêu đau thương mất mát, biết bao bi kịch ám vào số phận từng cá nhân, từng gia đình, từng vùng đất và cả đất nước này ròng rã mấy chục năm trời để có ngày toàn thắng.

Tiếp theo nữa, gần nửa thế kỷ, suốt từ năm 1975 đến nay, người cộng sản hãnh diện mình đã có công trời biển thu non sông về một mối. Bộ máy tuyên truyền của họ hằng năm bắt mọi người phải nhớ ơn cái công lao được xây bằng núi xương, sông máu của hàng triệu con người. Sang năm, 2025, họ kỷ niệm 50 năm tròn cho sự kiện này. Non sông thu về một mối, nhưng lòng người, sự hòa giải hòa hợp thì không biết tới khi nào mới thành, nếu vẫn kiểu kỷ niệm “khắc sâu mối thù Mỹ Ngụy” như vậy.

Trong chiến tranh, do cần lợi dụng sức dân, người cộng sản đã khéo léo tô vẽ được hình ảnh về chiến sĩ hết lòng vì nước vì dân, hy sinh quyền lợi cá nhân, bình dị gần gũi, chan hòa với quần chúng, không ngại gian khổ không sợ hy sinh… Họ đầy ham muốn, nhưng lúc cần che giấu vẫn biết khôn khéo lui xuống vị trí cần thiết để tạo nên hình ảnh có lợi trong mắt dân. Có lẽ chính vì thế mà trong cộng đồng dân tộc những năm đầy ác liệt, người cộng sản được số đông dân chúng tin cậy, giao phó sứ mệnh chèo lái mà ít mảy may nghi ngờ, lăn tăn.

Đội ngũ văn nghệ sĩ “chiến sĩ trên mặt trận văn hóa nghệ thuật” hoặc với tấm lòng ngây thơ, hoặc có dụng ý, ăn cây nào rào cây ấy, đã thỏa sức làm thơ, kẻ nhạc, dựng kịch, đóng phim, viết tiểu thuyết… ca ngợi người cộng sản, nâng họ thành “tên quân cảm tử đi tiên phong”, “như cánh chim trời không biết mỏi, mỗi bước đi biết mấy yêu thương”. Những hình tượng, hình ảnh đẹp nhất, có sức lôi cuốn nhất ở trên đời được ví, được gắn với người cộng sản. Đó là vầng thái dương, đuốc soi đường, nguồn ánh sáng, đỉnh cao chói lọi, người cầm lái vững vàng, ngọn cờ bách chiến bách thắng, chiến sĩ tiên phong…, tất cả được báo chí, đài phát thanh, cán bộ tuyên huấn hằng ngày ra rả phong tặng cho người cộng sản. Nói một cách khách quan, công bằng, không phải toàn bộ cộng sản ở xứ này, không phải tất cả mọi thành viên (đảng viên) của tổ chức chính trị đòi độc quyền lãnh đạo xứ này đều xứng đáng đeo những tấm huân huy chương bốc trời ấy, nhưng thực sự trong đội ngũ họ có những người như vậy, chỉ có điều rất ít, rất hiếm hoi.

Đừng quá đòi hỏi cao ở người cộng sản. Thực ra họ cũng là người chứ không phải thánh nhân siêu nhân, dù có lúc họ là đấng bậc. Người đứng đầu của họ, cụ Hồ, từng dạy họ phải có đủ cả tài đức, “có tài mà không có đức là người vô dụng/có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Người ta đang ca ngợi một nhân vật với những chi tiết đức độ, nhưng nếu cứ theo “chuẩn” của cụ Hồ thì người ấy không chỉ “làm việc gì cũng khó” mà còn gây ra biết bao tai hại. Vậy mà đám đông được bộ máy đương thời giáo dục rèn luyện vẫn cứ ca ngợi lên mây. Ông bạn tôi bảo, giả sử Tố Hữu – siêu chuyên gia ca ngợi có sống lại cũng phải chắp tay tôn hậu sinh làm sư phụ, bậc thầy.

Một trong những sai lầm và định kiến khó chữa nhất của người cộng sản là họ luôn cho mình đúng. Họ xem cộng đồng xã hội như một cơ thể, mà họ là bộ óc. Óc chi phối tất cả, điều khiển mọi hành vi. So với tim gan phèo phổi mắt mũi chân tay thì chỉ óc mới là lý trí. Có sai cũng vẫn lý trí hơn tim gan phèo phổi. Độc quyền nghĩ, độc quyền đúng; Không chịu lắng nghe; Ít phục thiện, ít sửa chữa. Từ đó phát sinh ra những hệ lụy khủng khiếp. Khi sự kiêu ngạo đã thấm vào từng tế bào thì “mục hạ vô nhân”, chả có gì lọt vào mắt họ, ngoài chính họ.

Sinh thời, giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, người nổi tiếng với câu nói “Ấy, cái xứ ta nó thế”, đã viết rằng, những nhà cai trị của chế độ này cần đọc Luận ngữ của Khổng tử. Đừng vội cho rằng tư tưởng, lý luận của ông Tàu hủ nho đó thì đọc làm gì. Bài Trung chống Tàu (cộng) không có nghĩa là sổ toẹt hết. Cái nào đúng, đã được thử thách giá trị qua thời gian thì chả tội gì phải bỏ. Thiển nghĩ rằng, thứ cần bỏ ngay bây giờ không phải những lời răn của Khổng tử hoặc Hàn Phi tử mà chính là học thuyết Marx – Lenin, nhất là sự xúi giục đấu tranh giai cấp và lý luận về một chủ nghĩa xã hội không tưởng của mấy ông này, và đừng kiên định đường lối đi lên chủ nghĩa xã hội nữa, bởi chúng đã quá lỗi thời. Lỗi thời từ khi mới ra đời.

Trở lại cuốn sách nho nói trên. Trong sách đó có thuyết “Tử tứ tuyệt” gồm: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã. Đáng chú ý, “vô ý” có nghĩa là trong bất kỳ xã hội hoặc thể chế nào, không được dành đặc quyền cho ý kiến quan điểm nào cả, đừng tuyệt đối hóa nó, bởi nếu như thế sẽ khiến ta (nhất là người cầm quyền) không nhìn thấy những ý khác, điều khác có thể còn đúng, còn hay hơn ý của ta, kể cả những ý kiến trái chiều, đối lập. Chỉ một cái “vô” đó thôi, chúng ta đã thấy người xưa tiến bộ như thế nào, cách nay cả hơn hai nghìn năm.

Vậy mà bây giờ nhà cai trị nước này, xã hội này, nhất là đảng (cộng sản), luôn cho mình đúng, là đỉnh cao chói lọi. Mỗi nghị quyết của họ đều được họ hãnh diện gọi là “ánh sáng” (dưới ánh sáng nghị quyết của đảng), có nghĩa sánh ngang với mặt trời. Họ độc quyền, độc tôn chân lý, chỉ riêng mình là đúng. Vênh váo thế nên họ xem thường tất cả mọi ý kiến quan điểm trái chiều, khác suy nghĩ, không chấp nhận những ai nói ngược họ. Ai nghĩ khác họ, họ quy là thế lực thù dịch, gắn mác “tự suy thoái”, “tự diễn biến”, tìm cách loại bỏ. Khi còn quyền lực trong tay thì họ trấn áp, đe dọa, vùi dập, nhưng liệu trong dòng chảy cuộc sống đang biến đổi tích cực từng ngày từng giờ thì liệu có dậm dọa được mãi không?

Hồi các thể chế chính trị trên thế giới còn chia làm hai phe kình địch, lứa 5X chúng tôi ở miền Bắc luôn được nghe từ đài báo nhà nước, từ cán bộ tuyên truyền rằng “chủ nghĩa cộng sản là mùa xuân của nhân loại”, còn chủ nghĩa tư bản đang tự đào mồ chôn, đang giãy chết. Cứ nghe mãi những điều ấy rồi cũng thành niềm tin mặc dù chẳng biết chủ nghĩa cộng sản lẫn chủ nghĩa tư bản mặt mũi ngang dọc như thế nào. Cái mùa xuân mà họ nói thì quá xa xôi, chưa biết bao giờ mới “theo chim én về”, còn tư bản khi nào chết cũng chả biết. Mọi thứ đều rất mơ hồ, chỉ có nghèo đói, chiến tranh, xung đột là có thực, phải chứng kiến hằng ngày.

Phải thừa nhận người cộng sản, dù ở Liên Xô, Trung Quốc hay Việt Nam, rất giỏi tuyên truyền. Họ nắm được quyền lực, độc quyền quyền lực, rất mạnh tay thực hiện chuyên chính vô sản, huy động hết tất cả cung bậc của bộ máy tuyên truyền, lại cộng thêm mị dân siêu hạng, nên có những thứ họ tưởng tượng ra tuy chỉ là bánh vẽ nhưng phần đông dân chúng cũng tin là thực. Dường như bất cứ điều gì họ chủ trương, nêu ra, họ (người cộng sản) đều cho là chân lý. Chẳng hạn họ luôn đề cao chủ nghĩa duy vật, chống lại mọi quan điểm duy tâm; đề cao tập thể, chống tôn phò cá nhân… nhưng trên thực tế thì ngược lại. Chính họ duy tâm siêu hạng, tôn thờ cá nhân, sùng bái cá nhân siêu hạng.

Trước hết, có thể thấy rõ thói kiêu ngạo cộng sản lộ rõ ở những từ ngữ, khẩu hiệu mà họ thường dùng. Hằng ngày ta luôn bắt gặp trên sách báo, trong những bản tin đài phát thanh, trên cửa miệng của cán bộ tuyên truyền, trên những bức tường khắp vùng thành thị lẫn nông thôn những từ: muôn năm, mãi mãi, vô địch, đời đời bền vững, sống mãi, bách chiến bách thắng, bất diệt… tất cả đều hàm chứa sự duy ý chí, phản lại quy luật cuộc sống.

Đi đâu người ta cũng gặp những câu khẩu hiệu dạng: Chủ nghĩa Mác-Lê Nin bách chiến bách thắng vô địch muôn năm; Đảng Lao động VN quang vinh muôn năm (giờ đây câu này gần như hiện diện 100% trên sân khấu tại các hội trường cơ quan đơn vị, chỉ khác tí ti là thay chữ Lao động bằng chữ Cộng sản); Đảng là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng; Chủ tịch… sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta; Tình hữu nghị Việt-Xô (Việt-Trung) đời đời bền vững; Tinh thần cách mạng tháng Tám bất diệt… 

Hồi gần nửa thế kỷ trước, tôi đi xe lửa qua Nhà máy xi măng Bỉm Sơn (do Liên Xô giúp xây dựng) thấy trên nóc nhà máy câu khẩu hiệu đúc bằng bê tông to vật vã “Tình hữu nghị Việt-Xô đời đời bền vững”, sau năm 1991, nó mất đi lúc nào không biết.

Là người duy vật, lẽ ra họ phải hiểu hơn ai hết rằng chẳng có cái gì tồn tại mãi mãi, vững bền muôn thuở, chẳng có gì hoàn hảo không tì vết. Mặt trời còn có lỗ đen, ngọc còn bị sứt mẻ, nói chi con người, xã hội loài người. Thế nhưng họ cứ thích nói ngược, thích duy ý chí, biết sai vẫn cứ làm, chứ không phải do u mê lú lẫn mà làm.

Sự sùng bái cá nhân của người cộng sản dường như một phần được hình thành từ sự kiêu ngạo. Với họ, cứ là lãnh tụ thì sẽ là thần thánh, là đỉnh cao chói lọi, sáng như vầng thái dương, đẹp hơn cả mùa xuân. Mỗi lời nói của lãnh tụ chả khác gì “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”. Những Lenin, Mao Trạch Đông, Stalin, Kim Nhật Thành, Castro, và cả cụ Hồ, đều được họ ca tụng cực kỳ mẫu mực, đẹp đẽ. Còn hơn cả Phật, cả Chúa. Không cho ai được động vào thần tượng. Nói đâu xa, ngay cỡ lãnh tụ tầm vừa vừa nhơ nhỡ ở xứ ta, như các vị Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh… tới dịp kỷ niệm ngày sinh, ngày mất cứ ồn ào như hội, đó là chưa kể xây dựng đủ thứ nhà tưởng niệm, tượng đài nọ kia khiến thiên hạ cảm tưởng đó là Thánh chứ không phải người.

Cả dân tộc đâu phải chỉ “đói nghèo trong rơm rạ” mà còn khổ sở bởi sự hoang tưởng, kiêu ngạo, tôn sùng cá nhân của họ. Khi đã cố tình coi cá nhân như Trời như Thánh thì họ lờ đi tất cả những điều tầm thường, xấu xa, tội lỗi; chỉ khai thác, lần mò, đào bới, ca tụng những siêu việt của cá nhân, thậm chí còn bịa ra cho siêu nhân được hoàn chỉnh hoàn hảo để lừa đám quần chúng ngây thơ cả tin. Cộng sản nơi đâu cũng vậy, từ trước tới nay, nên mới có những Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành… tỏa hào quang chói lọi.

Tự xưng là lực lượng tiến bộ nhất của xã hội loài người, có tư duy khoa học, nhìn nhận sáng suốt, suy nghĩ biện chứng… nên họ rất kiêu ngạo. Sau cuộc nội chiến kéo dài suốt hơn 20 năm (1954-1975), người cộng sản giành phần thắng nên càng sinh kiêu ngạo. Sau ngày 30.4.1975 rất phổ biến tâm lý “từ nay đất nước ta hoàn toàn giải phóng, vĩnh viễn độc lập tự do”, “đất nước ta đã thu về một mối, vĩnh viễn thoát khỏi ách nô dịch của đế quốc thực dân, vĩnh viễn sạch bóng quân thù, hoàn toàn tự do độc lập”.

Những câu trên tôi trích trong Lời giới thiệu cuốn “Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội” của Nhà xuất bản Sự thật (nhà xuất bản riêng của Đảng), xuất bản tháng 8.1975.

Và không chỉ trong sách, chính Tổng bí thư Lê Duẩn cũng từng rất hào hứng khẳng định trong diễn văn tại lễ kỷ niệm quốc khánh 2.9.1975 rằng, kể từ nay đất nước vĩnh viễn sạch bóng quân thù, thênh thang con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Sự mừng rỡ say chiến thắng thái quá cùng sự kiêu ngạo đã làm họ không thấy những tai họa cận kề đang rình rập, kéo dài mãi tận bây giờ.

Nhưng có thể châm chước cho những suy nghĩ như thế nếu ở vào thời điểm núi lửa lịch sử phun trào dung nham quá nóng quá mạnh, chứ mãi về sau gần nửa thế kỷ, khi đất nước đang loay hoay xóa đói giảm nghèo, nghèo bền vững, lo tụt hậu, ở khoảng cách rất xa so với những nước trước kia cùng xuất phát điểm với mình, tham nhũng tràn lan, đạo đức xuống cấp, văn hóa lộn xộn, dân chủ bị co hẹp… thế mà người đứng đầu đảng vẫn sung sướng tự hào “từ xưa đến nay, đất nước có bao giờ được thế này chăng”, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế như ngày nay”, “dân chủ đến thế là cùng”…

Đó là cái nhìn, cách nghĩ của anh binh nhì đang tập đội ngũ dậm chân tại chỗ chứ không phải của người đang làm chủ cuộc sống, chứ chưa nói gì lãnh đạo xã hội.

Chính thói kiêu ngạo cũng đã làm xói mòn phẩm chất đẹp đẽ từng có của người cộng sản. Đã có thời họ gắn bó với nhân dân, cùng vui cùng buồn, cùng chia bùi sẻ ngọt. Thói kiêu ngạo đã tách cá ra khỏi nước, khiến họ rất khó coi, trở thành lố lăng, kiểu như ông Bộ trưởng, Chủ nhiệm văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng hùng hồn tuyên bố: “Nếu ta sai thì ta xin lỗi, còn nếu dân sai thì dân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”; hay như nhận xét nổi tiếng của bà Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan: “dân chủ của ta hơn gấp vạn lần dân chủ tư bản”. Dạng “lời hay ý đẹp” như thế nhiều lắm, chả thể kể ra hết được.

Thôi thì, nói như nhà thơ Việt Phương, “Ta đã thấy những vết bùn trên các vì sao”, nay chỉ ra vết bùn sự kiêu ngạo của “sao”, tôi chỉ mong muốn họ biết lắng nghe, thực tâm gột rửa để ngày càng trở nên sạch sẽ, gần gũi với mọi người dân trên đất nước này. Còn họ khăng khăng không thừa nhận cũng đành chịu, chả cãi họ được.

N.T.

Nguồn: FB Nguyễn Thông        


 

Lún đất ở Houston, 8 căn nhà phải di tản

Ba’o Nguoi-Viet

July 28, 2024

HOUSTON, Texas (NV) – Một vụ sụt lún lớn xảy ra tại phía tây Houston, khoét một cái hố khổng lồ, buộc người dân trong tám căn nhà phải di tản hôm Thứ Bảy, 27 Tháng Bảy, theo Sở Cứu Hỏa Houston HFD, Đài KHOU 11 loan tin.

HFD cho biết một bể chứa nước bị sập, gây ra tình trạng sụt lún, khoét một cái hố lớn trong cộng đồng Memorial Green gần ngã tư Memorial Drive và Gessner Road.

“Đó là một cái hố rất lớn, phải nói là lớn dữ dằn,” Rick McKee, một cư dân trong khu vực, nói với KHOU 11. “Khi xây cất cộng đồng Memorial Green, nhà thầu lắp đặt nhiều bể chứa nước rất lớn.”

Khu vực đất lún ở số 405 Sutherland Terrace Place, Houston, Texas, ngày 27 Tháng Bảy, 2024 (Hình: Houston Fire Department)

Không có ai bị thương nhưng những người dân sống trong những căn nhà gần đó được di tản như một biện pháp phòng ngừa.

HFD cho biết các kỹ sư có mặt tại khu dân cư để đánh giá thiệt hại.

Mặc dù bán kính ảnh hưởng của cái hố dường như không lan rộng, nhưng những người sống gần đó rất lo sợ.

“Tôi thấy cái hố sẽ lan tới những căn nhà khác nếu mưa tiếp tục, nên tôi mong là trời sẽ bớt mưa,” McKee cho biết.

Steven Rosen có bạn bè sống bên trong khu dân cư và ghé qua vào chiều Thứ Bảy sau hay tin về vụ sụt hố. Ông thở phào nhẹ nhõm khi biết rằng tất cả đều bình an vô sự và không cần phải di tản.

Một khu vực thuộc trung tâm mua sắm tọa lạc ngay phía sau hố sụt đã được rào chắn. (TTHN) 


 

Động Đất Lớn Tại Kon Tum Gây Chấn Động Rộng Khắp Các Tỉnh Miền Trung Việt Nam, Người Dân Hoang Mang

Ba’o Dat Viet

July 28, 2024

Trưa ngày 28/7, một chuỗi các trận động đất đã xảy ra tại huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum, gây chấn động rộng khắp và lan tỏa đến nhiều tỉnh miền Trung Việt Nam. Theo thông tin từ Viện Vật lý địa cầu, trận động đất mạnh nhất đạt 5 độ Richter, diễn ra vào khoảng 11h35 theo giờ  Hà Nội, với độ sâu chấn tiêu khoảng 8,1 km. Trận động đất này được đánh giá có cấp độ rủi ro thiên tai cấp 2, đặc biệt nguy hiểm cho các khu vực gần tâm chấn.

Trước đó, chỉ khoảng 18 phút, tức vào lúc 11h17 cùng ngày, tại khu vực này cũng đã xảy ra một trận động đất khác với cường độ 4,1 độ, có độ sâu chấn tiêu khoảng 8,3 km. Đây là trận động đất đầu tiên trong chuỗi bốn trận động đất diễn ra tại Kon Plông trong ngày, với hai trận khác xảy ra vào buổi sáng, cường độ lần lượt là 3,4 và 3,3 độ. Mặc dù các trận động đất này được xếp vào loại nhẹ, nhưng vẫn đủ để gây cảm nhận rõ rệt trong khu vực.

Theo ông Nguyễn Xuân Anh, Viện trưởng Viện Vật lý địa cầu, các trận động đất mạnh từ 5 đến 5,9 độ thường được coi là mức độ trung bình, có khả năng gây ra thiệt hại từ trung bình đến nặng cho các công trình xây dựng có thiết kế kém. Tuy nhiên, những công trình được xây dựng tốt thì ít bị ảnh hưởng. Trong khi đó, các trận động đất từ 4 đến 4,9 độ chủ yếu gây rung lắc nhẹ, thường không gây thiệt hại lớn, nhưng cũng đủ làm người dân cảm thấy bất an.

Cảm Nhận Rung Lắc Rộng Khắp Miền Trung

Không chỉ tại Kon Tum, động đất còn được cảm nhận rõ ràng tại nhiều tỉnh thành khác như Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế và Quảng Ngãi. Nhiều người dân tại đây đã trải qua những giây phút lo lắng khi cảm nhận rõ ràng sự rung lắc của mặt đất và các đồ vật trong nhà.

Tại Quy Nhơn, Bình Định, ông Nguyễn Hồng Phúc cho biết vào khoảng 11h50, khi đang ngồi xem tivi, ông cảm thấy chiếc ghế mình đang ngồi rung chuyển. Ban đầu, ông nghĩ rằng có thể ghế bị hỏng, nhưng sau đó phát hiện ra là toàn bộ nhà cửa đều đang rung lắc. Đây là lần đầu tiên trong đời ông Phúc cảm nhận được hiện tượng này.

Ở Phú Yên, anh Hoàng Vũ Phương cũng kể lại rằng anh và gia đình đã cảm nhận rõ rệt sự rung chuyển của tường và đồ đạc trong nhà vào khoảng 11h35. Cảm giác rung lắc kéo dài khoảng 5 giây, đủ mạnh để làm các bình rượu trong nhà rung động. Thậm chí, con gái anh cũng cảm nhận được điều này.

Tại Đắk Lắk, chị Quánh Thủy Kiều cho biết đã cảm nhận rõ ràng rung lắc khi đang ở trung tâm TP Buôn Ma Thuột vào khoảng 11h35. Sự bất ngờ khiến chị phải hỏi han bạn bè và người quen, nhiều người trong số họ cũng xác nhận cảm nhận được hiện tượng này. Chị Kiều chia sẻ rằng đây là lần đầu tiên chị cảm nhận được hiện tượng động đất, giống như trong các bộ phim hay trên tivi.

Phản Ứng Của Người Dân Miền Trung

Trận động đất không chỉ làm rung lắc các đồ vật trong nhà, mà còn khiến nhiều người dân tại các tỉnh miền Trung như Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế và Quảng Ngãi hoảng sợ. Nhiều người đã phải nhanh chóng rời khỏi nhà vì không biết nguyên nhân của sự rung chuyển.

Tại Đà Nẵng, chị Nguyễn Thị Nhung, sống tại khu nhà ở tập thể quân đội 88B Nguyễn Chánh, cho biết sau khi cảm nhận được rung lắc, chị đã ngay lập tức ôm con chạy ra khỏi nhà. Chị Nhung cùng nhiều cư dân khác tại khu tập thể này rất hoang mang vì lần đầu tiên họ trải qua một trận động đất mạnh như vậy.

Cũng tại Đà Nẵng, nhiều người dân khác cũng cho biết đã cảm nhận được sự rung chấn kéo dài khoảng 4-5 giây. Nhiều người đã phải bỏ dở công việc, chạy ra khỏi nhà để tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Ở Huế, anh Phan Hoàng, sống tại Ngự Bình, kể lại rằng mặt đất và đồ đạc trong nhà rung chuyển mạnh, như thể có một chiếc xe tải nặng chạy qua. Anh Quân ở xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền cũng cho biết đã cảm nhận được hai lần rung lắc mặt đất.

Tại Quảng Ngãi, lần đầu tiên TP Quảng Ngãi ghi nhận rung lắc mạnh do ảnh hưởng từ trận động đất ở Kon Plông. Nhiều người dân đã hoảng hốt chạy ra đường, trong đó có chị Nhi tại phường Nghĩa Chánh. Chị Nhi cho biết, khi đang ngồi trong nhà với con, chị cảm thấy rung lắc mạnh và phải ôm con chạy ra ngoài vì quá sợ hãi.

Phản Ứng của Chính Quyền và Cơ Quan Chức Năng

Trước tình hình này, Trung tâm báo tin động đất và cảnh báo sóng thần của Viện Vật lý địa cầu đang tiếp tục theo dõi các diễn biến để đưa ra những cảnh báo và biện pháp phòng ngừa cần thiết. Các cơ quan chức năng cũng đã sẵn sàng để đối phó với các tình huống khẩn cấp có thể xảy ra.

Trận động đất này là một lời nhắc nhở về sự cần thiết của việc tăng cường các biện pháp phòng chống thiên tai, nâng cao chất lượng thiết kế và xây dựng các công trình để giảm thiểu thiệt hại. Đồng thời, cũng cần nâng cao nhận thức và kỹ năng ứng phó của người dân trước các tình huống thiên tai để bảo vệ bản thân và gia đình.


 

 TẠO KHÔNG GIAN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 (Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Với ngần ấy người thì thấm vào đâu!”.

“Trao một khúc xương cho con chó không phải là bác ái! Dám chia sẻ với nó một khúc xương đang khi bạn cũng đói như nó mới là bác ái!” – Jack London!

Kính thưa Anh Chị em,

“Đang khi bạn cũng đói như nó!”. Câu nói vắn gọn của J. London đưa chúng ta về hình ảnh một cậu bé vô danh có lẽ cũng ‘đang đói’ mà Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay đề cập. Ấy thế, chính cậu đã dám chia sẻ và đã ‘tạo không gian’ cho phép lạ của Chúa Giêsu.

Tin Mừng mời gọi bạn và tôi đồng nhất với cậu bé ấy vì lẽ cậu có một điều gì đó đáng học hỏi. Đối mặt với một đám rất đông đang đói, Philipphê và Anrê hơi bi quan, “Hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút”. Anrê thì biết cậu bé vốn có một ít thức ăn, nhưng kết luận “Với ngần ấy người thì thấm vào đâu!”.

Điều đáng ngạc nhiên là ngay lúc đó, Chúa Giêsu nói, “Cứ bảo người ta ngồi xuống!”; nghĩa là Ngài đã có trên tay những gì Ngài cần, tức là những gì cậu bé trao, trao lúc nào, không ai biết! Cậu bé đâu ngờ rằng, chính sự hào hiệp của cậu đã ‘tạo không gian’ cho Chúa Giêsu; nhờ đó, Ngài thoả mãn cơn đói của hơn 5.000 người. Êlisa – hình ảnh tiền trưng của Chúa Giêsu – thời các Vua đã có một phép lạ tương tự – bài đọc một. Rõ ràng, đây là những ‘bữa tiệc thần thánh’ báo trước tiệc Thánh Thể ban sự sống đời đời Chúa Giêsu sẽ mặc khải trong Tin Mừng Gioan. “Chúa thương rộng mở tay ban, đoàn con hết thảy muôn vàn thoả thuê!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Nhiều lúc trong cuộc sống, các nguồn lực chúng ta có quá nhỏ bé trước hoàn cảnh phải đối mặt, dù đó là ‘nguồn lực vật chất’, ‘nguồn lực thể chất’, ‘nguồn lực tinh thần’ hoặc ‘cảm xúc’. Chúng ta dễ thấy mình là một phiên bản của Anrê, “Với ngần ấy người thì thấm vào đâu!”. Đó là ‘loại’ câu hỏi kéo chúng ta xuống, làm mất sức mạnh, lòng yêu mến, nhất là mất lòng cậy trông! Chúng ta giới hạn quyền năng và tình yêu quan phòng của Thiên Chúa; đang khi lẽ ra phải “dám chia sẻ” và nỗ lực ‘tạo không gian’ cho Ngài.

Cậu bé chỉ cho đi những gì cậu có và điều tuyệt vời đã xảy ra! Nếu bạn và tôi làm những gì ít ỏi có thể, Chúa sẽ làm những gì còn lại theo những cách thức khiến chúng ta vô cùng ngạc nhiên. Ngài không phụ thuộc ai, nhưng sự đóng góp của chúng ta, dù nhỏ bé, có thể rất quan trọng: một cốc nước, một đồng tiền bà goá, một chút men hay một hạt cải! Chính cậu bé đã mở một cánh cửa cho Chúa Giêsu; nghĩa cử của cậu sẽ khởi đầu cho một giáo huấn vĩ đại Ngài sắp công bố: Bánh Từ Trời Ban Sự Sống Đời Đời!

Anh Chị em,

“Với ngần ấy người thì thấm vào đâu!”. Với lý do này, lý do khác, bạn và tôi thường tìm cách thoái thác. Tại sao? “Chúng ta tìm cách tích lũy và gia tăng những gì chúng ta có; chúng ta thích thêm vào, thêm nhiều hơn. Nhưng Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta cho đi, bớt đi; Ngài thích chúng ta trừ đi, lấy đi một thứ gì đó để trao cho người khác. Chúng ta muốn nhân lên; Ngài muốn chúng ta giảm xuống khi chia sẻ, khi cho đi!” – Phanxicô. Đó cũng là những gì Phaolô hôm nay kêu gọi các tín hữu Êphêsô, “Anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban!” – bài đọc hai.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con vào trần gian với đôi tay trống, con ra khỏi đó với đôi tay trơn. Cho con biết rằng, những gì con mang theo là những gì con ‘đã cho đi!’”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

***********************

CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN, NĂM B

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.

1 Thưa anh em, tôi là người đang bị tù vì Chúa, tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em. 2 Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại ; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. 3 Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau. 4 Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. 5 Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. 6 Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

1 Khi ấy, Đức Giê-su sang bên kia biển hồ Ga-li-lê, cũng gọi là biển hồ Ti-bê-ri-a. 2 Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm. 3 Đức Giê-su lên núi và ngồi đó với các môn đệ. 4 Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do-thái.

5 Ngước mắt lên, Đức Giê-su nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Phi-líp-phê : “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây ?” 6 Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi. 7 Ông Phi-líp-phê đáp : “Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút.” 8 Một trong các môn đệ, là ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, thưa với Người : 9 “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu !” 10 Đức Giê-su nói : “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi.” Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn. 11 Vậy, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý. 12 Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ : “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi.” 13 Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng. 14 Dân chúng thấy dấu lạ Đức Giê-su làm thì nói : “Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian !” 15 Nhưng Đức Giê-su biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.


 

Đức Bà tìm được Đức Chúa Giê-su trong đền thánh-Cha Vương

Mến chào “BÌNH AN!” Chân phước George Matulaitis nói: “Mỗi Kinh Lạy Cha và Kinh Kính Mừng (trong Kinh Mân Côi) giống như lương thực từ trời, củng cổ sức mạnh của chúng ta.” Vậy mỗi ngày thứ Bẩy trong tuần mời Bạn dành thời gian để suy niệm những mầu nhiệm tiềm ẩn trong Kinh Mân Côi để noi gương Mẹ Ma-ri-a sống vâng theo thánh ý Thiên Chúa. Hãy nhớ cầu nguyện cho nhau nhé.

Cha Vương

Thư 7: 27/7/2024

NĂM SỰ VUI: Thứ năm thì ngắm—Đức Bà tìm được Đức Chúa Giê-su trong đền thánh. Dù là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội và đầy ân sủng, nhưng Mẹ Maria vẫn là một con người hữu hạn. Nghĩa là, Mẹ không phải là Đấng Toàn Năng. Mẹ không thể biết được mọi sự, làm được mọi thứ, hay siêu vượt hẳn không gian và thời gian. Nhưng Mẹ khiêm tốn nhìn nhận sự giới hạn của mình. Đồng thời, thay vì tự ti, mặc cảm, và đóng kín, Mẹ sống tâm tình tạ ơn và mở lòng cho quyền năng của Thiên Chúa hoạt động nơi Mẹ. Mẹ cộng tác với ơn thánh (thời gian, sức lực, khả năng riêng, đức hạnh . . .) để công trình của Thiên Chúa được thành tựu. Hôm nay qua việc suy niệm 10 Kinh Kính Mừng này, Bạn hãy mở lòng để cho quyền năng của Thiên Chúa hoạt động nơi mình và xin cho được giữ nghĩa cùng Chúa luôn. (Nêu ra ý chỉ cầu xin…)

+ Kinh Lạy Cha: Lạy Cha chúng con ở trên trời…

  1. Hằng năm, cha mẹ Đức Giê-su trẩy hội đền Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt Qua. Khi Người được mười hai tuổi. (Luca 2:41-42) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  2. Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giê-su thì ở lại Giê-ru-sa-lem, mà cha mẹ chẳng hay biết.(Luca 2:43) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  3. Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc. Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giê-ru-sa-lem mà tìm.(Luca 2:44-45) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  4. Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. (Luca 2:46) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  5. Ai nghe cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu. (Luca 2:47) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  6. Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Luca 2:48) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  7. Người đáp: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao? ” (Luca 2:49) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  8. Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói. (Luca 2:50) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  9. Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. (Luca 2:51)Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  10. Còn Đức Giê-su ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta.  (Luca 2:52) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…

+ Kinh Sáng Danh: Sáng danh Đức Chúa Cha…

+ Câu Than Fatima: Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con…

+ Kinh Lạy Nữ Vương: Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành…

+Kinh Hãy Nhớ: Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay…

From: Do Dzung

********************

Vâng Theo Ý Cha – Angelo Band 

Ông Ba Thê Đồng Thời và Ông Đại Cuộc

Ba’o Tieng Dan

Tưởng Năng Tiến

26-7-2024

Lúc trẻ, tôi thích Võ Hồng. Khi già, tôi ưa Võ Phiến. Ông viết không nhiều (lắm) nên tác phẩm nào tôi cũng đọc đi, đọc lại đôi lần. Xem xong là quên ngay cái tựa nhưng tên tuổi các nhân vật trong chuyện của Võ Phiến thì cứ nhớ hoài. Họ để lại những ấn tượng rất sâu trong lòng độc giả:

– Ngô Thế Vinh: “Trước khi quen biết nhà văn Võ Phiến, tôi đã rất thân quen với những nhân vật tiểu thuyết của ông như anh Ba Thê đồng thời, anh Bốn thôi, ông Năm tản, ông tú Từ lâm, chị Bốn chìa vôi từ các tác phẩm Giã từ, Lại Thư nhà, Một mình…”

– Thụy Khuê“Ở miền Nam những năm 60, khi lớp trẻ đọc thơ Nguyên Sa, hát Tiễn em của Phạm Duy, Cung Trầm Tưởng… thì Võ Phiến đưa ra những nhân vật quê mùa, tầm thường, như anh Bốn Thôi, ông Ba Thê Đồng Thời, chị Bốn Tản, Bốn Chìa Vôi, những thân phận lạc loài, không hẫp dẫn, chẳng ai bận tâm, mất thì giờ mô tả. Đó là những mảnh vụn, thừa thẹo của xã hội, sống âm thầm như chưa hề có mặt”.

– Nguyễn Mộng Giác: “Nhân vật của Võ Phiến hầu hết là dân quê mùa ít học, quanh năm không có lấy vài phút sống cho được tới mức tạm gọi là sang trọng đầy đủ. Tên của họ là những anh Bốn Thôi, ông Ba Đồng Thời, chị Bốn Chìa Vôi, Ông Bốn Tản Cư, ông thập Tam, cô Tư Lớn…”

Nói nào ngay, ông Ba Thê (BT) tuy “ít học” thật nhưng “quê mùa” thì không đến nỗi: “Hồi xuân xanh ông Ba Thê đẹp trai, vui vẻ, lanh lợi, khiến ai thoáng trông qua cũng phải chú ý. Cho nên ông không cần khó khăn gì cả mà tự nhiên đi đến đâu có bạn bè, có nhân tình nhân ngãi đến đó, rồi không cần tìm kiếm mà tự nhiên cơ hội đến: Ông ta được vào lính khố xanh dễ dàng, được thăng lên cai, lên đội lúc nào, tựa hồ như không kịp để ý tới”. (Võ Phiến. Giã Từ. Thời Mới: 1967).

Rồi vì bài bạc nên Ba Thê bị “lột lon cho về làm dân” mà không có đồng xu cắc bạc hưu bổng nào ráo trọi. Túng nên phải tính, phải vay mượn (loanh quanh) nhưng cách “xoay sở” của ông ta – xem ra – cũng hơi nhàn nhã.

Thay vì đi gõ cửa từng nhà thì Ba Thê sai con mang phong thư đến. Nội dung chỉ vỏn vẹn mấy dòng chữ li ti (“Qui Nhơn le…Cher ami,”) viết trên một tấm danh thiếp con con, nhắc lại chút tình quen biết cũ và những khó khăn hiện tại…

Giản dị vậy thôi nhưng BT vẫn sống được và (đôi lúc) lại còn có dư ra chút đỉnh, đủ để chung chi cho một độ chọi gà trong xóm. Giá cứ như thế mãi thì cũng “khỏe” thôi, nếu thời thế đừng thay đổi. Mà thế thời thì tránh sao được đổi thay, dâu bể. Tình cảnh của BT, sau cuộc bể dâu, nhắc nhớ đến dăm ba câu thơ cũ:

Lép nhép vài hàng tỏi
Lơ thơ mấy khóm gừng
Vẻ chi là cảnh mọn
Thế mà cũng tang thường

(Ôn Như Hầu – Nguyễn Gia Thiều. “Ra Xem Vườn Sau Khi Trời Mưa”).

Chỉ sau một cơn mưa mà “cảnh mọn” còn “tang thương” thì nói chi đến chuyện thế nhân, trong cuộc hý trường:

Sau biến cố chính trị mùa thu năm 1945, ông Ba Thê liền đổi lốt, chọn một cuộc sống mới. Không phải rằng ông ta chịu nhận một nghề, nhưng chính là vì vẫn không có nghề nghiệp mà ông ta thành ra một kẻ hoạt động hăng hái theo lối mới. Hoạt động lối mới cần nhất ở cái mồm…

Nói cách khác, giai đoạn mới, ông đội Ba Thê ăn rồi toàn đi nói chính trị, khắp từ đầu làng tới cuối xóm … Ở chỗ công cộng, những khi đăng đàn phát biểu ý kiến, ông Ba Thê, đang thao thao diễn giảng, nếu thình lình thiếu ý, lúng túng, ông ta liền quẩn xung quanh một vài khẩu hiệu thật rỗng và thật rổn rảng … Ta ziết zặc zữ nước, đồng thời ta xây dựng con người mới, đồng thời tiến về…” Ông Ba Thê biến ra ông Ba Thê Đồng Thời trong trường hợp như vậy.

Tôi vốn có một ông bác già ưu thời mẫn thế. Nhưng tất cả sự đóng góp của người vào công cuộc cách mạng chung quy cũng chỉ trông cậy vào ba tấc lưỡi dùng để… động viên kẻ khác. Đối với kẻ hoang đàng nhác nhớn, người khuyên nên nghĩ đến đại cuộc. Đối với kẻ bủn xỉn ngần ngại trước những cuộc quyên góp, người cũng khuyên nên nghĩ tới đại cuộc… ông bác của tôi bèn mang thêm cái tên mới: “Ông Đại Cuộc”…

Nếu chịu khó bươi xới kho tàng ngôn ngữ của dân tộc như các nhà khảo cổ quật lên từng lớp đất, chắc chắn chỉ riêng cái cách ăn nói cũng giúp ta hiểu được nhiều về tâm lý, về cách sinh hoạt, về tổ chức xã hội, về đường lối chính trị … của mỗi thời. (V.P, s.đ.d).

Thời nay tôi thì chả phải mất công “bươi xới kho tàng ngôn ngữ” mà chỉ cần lướt net là cũng “hiểu được nhiều về tâm lý, về cách sinh hoạt, về tổ chức xã hội, về đường lối chính trị” của chế độ hiện hành.

Blogger Trân Văn (VOA) nhận xét: “Nếu ông Nguyễn Xuân Phúc – tiền nhiệm của ông Chính – thường xuyên khuyến khích các ngành, các địa phương trở thành… ‘đầu tàu’ … ông Chính – nhân vật kế nhiệm – lại rất yêu… ‘đột phá’.

Không chỉ động viên các ngành, các địa phương… ‘đột phá’, ông Chính còn khuyên các doanh nghiệp ngoại quốc đầu tư vào Việt Nam (FDI) tham gia ‘đột phá’ nếu muốn phát triển. Thậm chí ông Chính còn đề nghị những quốc gia khác nên cùng Việt Nam… ‘đột phá”!

Ôi! Tưởng gì chớ “đột phá” thì chả phải là chuyện mới mẻ chi. Trước khi “hạ cánh”, đồng chí Nguyễn Thanh Sơn (Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao – Chủ Nhiệm Ủy Ban Nhà Nước Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài) cũng thế, cũng cứ mở mồm ra là “đột phá” rầm rầm. Ông khiến cho lắm kẻ bị ù tai và nhiều người đỏ mặt.

Mà dường như tất cả quý vị lãnh tụ đều như thế cả, đều ăn nói theo cùng một sách, gồm những cụm từ vô nghĩa (quen thuộc) và bất biến ở đầu môi: “Vận dụng nội lực”, “nâng cao phẩm chất đạo đức”, “phát huy văn hóa”, “phát triển bền vững ”, “đi tắt đón đầu”, “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại”, “sánh vai cùng cường quốc năm châu” … Mới nghe một hai lần đầu cũng cảm thấy có chút khí thế nhưng nghe hết thế kỷ này qua thế kỷ khác (ra rả ngày đêm) thì ớn muốn ói luôn!

GS Nguyễn Văn Tuấn buồn rầu kết luận: “Có thể nói rằng rất nhiều bài nói chuyện và diễn văn của các lãnh đạo Việt Nam chỉ là những khẩu hiệu được lắp ráp vào với nhau”.

Cứ thế, họ biến tình hình tồi tệ của xứ sở này thành một đề tài giễu cợt cho thiên hạ cười chơi – khi trà dư/ tửu hậu: “Trên thế giới chia ra gồm nước phát triển, nước đang phát triển, nước chậm phát triển nhưng Việt Nam có lẽ là mô hình đặc biệt nhất. Đó là nước… không chịu phát triển”!

Chớ có nước nào mà phát triển … bằng mồm được, mấy cha? Chả những vậy, kiểu “lắp ráp” và “hô hoán khẩu hiệu” của đám lãnh đạo lưỡi gỗ còn có thể gây ra lắm điều tai hại khác:

“Ý đồ của ngôn ngữ này, theo Orwell phân tích, ta có thể gọi là ‘lưỡi gỗ’ không phải là mở rộng phạm vi hoạt động của tư tưởng. Trái lại, nó thu hẹp phạm vi của tư tưởng. Một trong những thủ đoạn của nó là cắt bỏ từ vựng, chỉ cho sử dụng một vốn từ vựng rất ít ỏi, rất nghèo nàn. Chức năng này của các ngôn từ không phải để diễn đạt tư tưởng mà nhằm hủy diệt bớt tư tưởng… Mục tiêu tối hậu của ngôn ngữ mới này là cầm tù tư tưởng, biến con người thành đàn bọ, đàn kiến, như Orwell đã từng viết”. (Bạch Thái Quốc. “1984  Của G. Orwell: 70 Năm Lời Cáo Buộc Chế Độ Toàn Trị”. RFI – 10/07/2019).

Thường dân cỡ tôi, tất nhiên, không thể̉ có được cái tầm nhìn cao xa đến thế. Tôi chỉ rất sốt ruột về tình trạng “không chịu phát triển”, và vô cùng ái ngại cho đám dân đen, ở đất nước mình.

Không hiểu quý vị lãnh tụ (Đầu Tầu, Đột Phá, Vận Dụng Nội Lực, Phát Huy Văn Hóa, Đi Tắt Đón Đầu …) có “ý đồ” chi trong việc “cắt bỏ từ vựng” hay không (?) chớ còn ông Ba Thê Đồng Thời và ông Đại Cuộc thì chắc chắn là chả có hậu ý gì đâu. Cả hai đều là dân đen, và đều là nạn nhân của thời cuộc thôi mà.

Theo cách diễn tả của một nhà văn họ Võ khác (Võ Văn Trực) thì hai ông chỉ là “những cọng rêu dưới đáy ao”. Võ Phiến cũng thường nhìn xuống đáy, nơi dành riêng cho Bốn Thôi, Bốn Chìa Vôi, Bốn Tản Cư, Tú Từ Lâm, Tư Lớn, Ba Thê Đồng Thời, Đại Cuộc … Ông mô tả họ như “những chiếc lá mục bết bùn ở dưới đáy sông” nhưng cũng phải “cựa quậy ve vẩy” (đôi ba khẩu hiệu) để thích ứng với thế thời, để giữ lấy thân, giữa cơn gió bụi. Vẻ chi là cảnh mọn/ Thế mà cũng tang thường!


 

Rò rỉ ảnh biệt phủ của anh em nhà Tô Lâm ngay sau đám tang Nguyễn Phú Trọng

Ba’o Nguoi-Viet

July 27, 2024

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Một ngày sau khi đám tang ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư CSVN, kết thúc, mạng xã hội hôm 27 Tháng Bảy lan truyền hình ảnh được cho là hai biệt phủ của ông Tô Lâm, chủ tịch nước Việt Nam và em trai.

Theo hình ảnh chụp được Luật Sư Lê Quốc Quân đăng tải trên trang cá nhân, ông Tô Lâm được cho là sở hữu căn nhà “trị giá hàng trăm tỷ đồng (hàng triệu đô la) tại khu đô thị Ecopark Hưng Yên, ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

Một phần của tấm ảnh lan truyền trên mạng hôm 27 Tháng Bảy. (Hình: Chụp qua màn hình)

Dinh thự này được mô tả là “luôn có từ bốn đến sáu người canh gác.”

Cũng theo tấm ảnh, em trai ruột ông Tô Lâm là ông Tô Dũng, chủ tịch tập đoàn Xuân Cầu, sở hữu căn nhà “100 tỷ đồng ($3.9 triệu) ở khu Thiên Đường Bảo Sơn, tọa lạc tại Hoài Đức, Hà Nội.

Tấm ảnh nêu trên còn đưa cáo buộc ông Tô Lâm “bảo kê” cho em trai “thâu tóm bất động sản, trúng thầu, chỉ định thầu các đại dự án có vốn đầu tư từ ngân sách [tiền thuế dân] lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng (hàng trăm triệu đô la).

Luật Sư Lê Quốc Quân cho biết trên trang cá nhân rằng ông “thấy trên mạng xuất hiện tấm hình” và đặt câu hỏi: “Anh em nào biết cụ thể hai biệt thự này thì kiểm chứng có đúng vậy không và nó giá bao nhiêu nhé?”

Luật Sư Quân viết thêm: “Theo pháp luật thì chủ tịch nước là chức danh có mức lương cao nhất với hệ số lương 13,00. Như vậy, từ hôm 1 Tháng Bảy, mức lương áp dụng với lãnh đạo đứng đầu nhà nước sẽ tăng từ 23.4 triệu đồng ($924) mỗi tháng lên 30.4 triệu đồng ($1,200).”

Bên dưới bài đăng, Facebooker “Nguyen Phuong Nga” bình luận: “Tầm này mà nói chuyện trăm tỷ là sỉ nhục anh ấy [Tô Lâm] đấy!”

Một số ý kiến khác cho rằng ông Tô Lâm “sở hữu cả cái tỉnh Hưng Yên còn được chứ nói mỗi cái góc Ecopark là còn quá ít.”

Nhiều khả năng tấm ảnh gây bàn tán nêu trên được rò rỉ từ phe đối nghịch với ông Tô Lâm trong đảng.

Ngay sau khi có tin ông Nguyễn Phú Trọng qua đời, giới quan sát đã suy đoán ông Tô Lâm sẽ lập tức thâu tóm quyền lực để giành ghế tổng bí thư và triệt hại các đối thủ đồng đảng.

Ông Tô Lâm (hàng đầu, thứ ba từ trái qua), chủ tịch nước Việt Nam, tại đám tang ông Nguyễn Phú Trọng hôm 26 Tháng Bảy. (Hình: ZNews)

Facebooker Dương Quốc Chính, người hay bình luận về chính trường Việt Nam, dự báo trên trang cá nhân về đấu đá trong nội bộ đảng sau khi ông Trọng qua đời: “…Trận này mới là sống mái này, vì không còn ai cầm trịch, là ‘trung tâm đoàn kết’ nữa.

Khoảng trống quyền lực sau khi một người nắm trọn quyền lực ra đi luôn là rất lớn và phải qua quá trình tranh đấu mới đi tới ổn định. Linh cảm của mình dựa trên lịch sử thôi nhé!” (N.H.K)


 

Về Hưu Dưỡng Lão

 Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều   

Dưỡng lão, đến cuối cùng cần dựa vào điều gì: Hãy đọc và tìm câu trả lời cho riêng mình

Cơ bản, dưỡng lão vẫn là dựa vào bản thân mình! Những người khác cho bạn chỉ là một chiếc lá, tự mình làm cây lớn mới có thể có được bóng râm!

Dưỡng lão nếu luôn dựa vào người khác thì sẽ không có cảm giác an toàn. Vì cho dù là con cái, người thân hoặc bạn bè, sẽ không thể lúc nào đều ở bên cạnh bạn. Khi bạn gặp khó khăn, họ không thể bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi nào cũng có thể xuất hiện để giải quyết giúp bạn.

Trong thực tế, mỗi người đều là một cá nhân độc lập, mọi người đều có cuộc sống của riêng mình, bạn không thể yêu cầu người khác phải cho bạn dựa vào, những người khác cũng không thể bất cứ lúc nào cũng có thể giúp bạn.

Chỉ có thông qua những nỗ lực của bản thân để giải quyết vấn đề, mới thực sự có thể sống cuộc sống mà bạn mong muốn!

Một nhóm người lớn tuổi nói ra sự thật: Dưỡng lão vẫn là nên dựa vào chính bản thân mình!

Chúng ta đã già đi, chỉ là hiện giờ sức khỏe của chúng ta vẫn còn, đầu óc vẫn tỉnh táo.

Giai đoạn đầu: 60-70 tuổi

Sau khi nghỉ hưu, sáu mươi đến bảy mươi tuổi, cơ thể tương đối tốt, điều kiện cũng tốt. Muốn ăn thứ gì thì ăn, thích mặc gì thì mặc, thích đi chơi thì đi.

Đừng khắc nghiệt với chính mình, những ngày này không còn bao lâu nữa, phải nắm bắt. Tiền tiết kiệm một chút, nhà giữ lại, để con đường hậu của mình có sự sắp xếp.

Con cái có điều kiện kinh tế tốt là do sự nổ lực của chúng, sự hiếu thảo của con cái là lòng biết ơn của chúng. Chúng ta đừng từ chối sự trợ giúp của chúng, đừng từ chối sự hiếu thuận của chúng. Nhưng vẫn phải dựa vào chính mình, sắp xếp tốt cuộc sống của chính bản thân mình.

Giai đoạn thứ hai: sau 70 tuổi không mắc bệnh

Bảy mươi năm tuổi không gặp rắc rối gì với bệnh tật, trong cuộc sống có thể tự chăm sóc bản thân, đây không phải là vấn đề lớn, nhưng phải biết rằng mình thực sự đã lớn tuổi, và từ từ thể lực và tinh thần sẽ không còn tốt nữa, phản ứng cũng sẽ trở nên chậm hơn, phải ăn chậm chống sặc, phải đi chậm chống ngã. Không còn có thể cố gắng sức, cần phải chăm sóc bản thân mình!

Đừng đi lo thứ này thứ kia nữa, quản thúc con cái, còn một số người còn quản cả thế hệ thứ ba. Quản cả một đời rồi, hãy ích kỷ một chút, tự quản bản thân mình. Mỗi ngày giúp dọn dẹp lau chùi, giữ trạng thái khỏe mạnh của mình lâu dài hơn một chút, để thời gian sống của mình lâu hơn một chút, cuộc sống không cần yêu cầu người khác rất thoải mái. Như thế, tất cả mọi thứ đều trở nên dễ dàng.

Giai đoạn thứ ba: Sau 70 tuổi bị bệnh

Cơ thể không tốt, đòi hỏi có người chăm sóc! Điều này nhất định phải được chuẩn bị, đại đa số người đều không thể thoát khỏi ải này. Tâm trạng phải điều chỉnh tốt, phải thích nghi. Sinh lão bệnh tử là lẽ thường của cuộc sống cần thản nhiên tiếp nhận. Đây là đoạn cuối của cuộc đời không có gì để sợ hãi, sớm chuẩn bị sẽ không có điều gì phải hối tiếc

Hoặc vào viện dưỡng lão, hoặc thuê người chăm sóc tại nhà, làm bất cứ điều gì đều tùy theo khả năng, theo tình huống mà làm, sẽ luôn luôn có cách giải quyết, nguyên tắc là đừng mài mòn đến con cái, đừng để tâm lý, gánh nặng gia đình, kinh tế đặt lên con cái quá nhiều.

Tự bản thân mình cố gắng một chút, thế hệ của chúng ta những khó khăn cay đắng đều đã trải qua, tin rằng cuộc hành trình cuối cùng của cuộc đời chúng ta cũng sẽ qua một cách bình thản.

Giai đoạn thứ tư: Giai đoạn cuối của cuộc đời

Tinh thần cần tỉnh táo, bệnh trên cơ thể không thể chữa khỏi được, chất lượng cuộc sống kém đi, lúc này phải dám đối mặt với cái chết, quyết tâm đừng để gia đình giải cứu, đừng để bạn bè và người thân làm những điều lãng phí không cần thiết.

Bạn muốn cuộc sống tuổi già không lo lắng, cần chuẩn bị sẵn sàng 4 bảo bối này!

Tục ngữ nói rất hay, “có tài chính sẽ không nghèo, có kế hoạch sẽ không loạn, có chuẩn bị sẽ không bận rộn”, thân là những người già như chúng ta, đã làm tốt công tác chuẩn bị chưa? Chỉ cần mọi việc chuẩn bị trước, tương lai cuộc sống sau này sẽ không phải lo lắng nữa.

  1. Sức khỏe về già

Điều đầu tiên cần chuẩn bị là sức khỏe về già, bình thường phải chú ý đến ba thứ dưỡng: ăn dinh dưỡng, chú ý đến bảo dưỡng, cần có tu dưỡng.

  1. Nơi trú ngụ về già

Thứ hai là nhà ở về già: sống với con cháu, sống một cuộc sống nhẫn nhịn nuốt đắng, chi bằng tận hưởng cuộc sống đơn thân vui vẻ, bất kể thành thị hay ngoại ô, ở nơi mình sống thích hợp nhất. Gần đó có một nhà hàng bạn yêu thích!

Thứ ba là tài sản lúc về già, vì con cái không thể nuôi dưỡng người tuổi già, bậc cha mẹ cũng chỉ có thể tự lập tự cường, tài sản cần giữ kỹ, trước khi chưa vào quan tài quan nhất định không chia tài sản.

Thứ tư là bạn già, có một người bạn tốt, bạn bè tốt và người đồng hành đều rất quan trọng, thường ngày kết giao bạn bè, quen biết nhiều loại bạn bè, là một bí mật để tận hưởng cuộc sống quý tộc đơn thân.

Tóm lại, cho dù bạn là ông cụ hay bà cụ trường thọ, cuối cùng cũng chỉ là một mình, câu nói này không bi ai chút nào, cũng không khủng khiếp, tất cả đều phụ thuộc vào cách bạn sắp xếp cuộc sống, tất cả đều phụ thuộc vào bạn có tâm lý trưởng thành hay không.

Thích thì hãy làm cho đáng, đừng quên, cuộc đời này chỉ có một lần, gặp những điều tốt đẹp hay hạnh phúc, đừng chỉ luôn muốn để lại cho thế hệ tiếp theo.

Những bạn hữu già hãy nhớ kỹ! Chúng ta được mệnh danh là thế hệ sau cùng hiếu thảo với cha mẹ, là thế hệ đầu tiên bị con cái bỏ rơi, tuyệt đối đừng vì “người ở trên trời, tiền trong ngân hàng”, cái gì “một mình rất cô đơn”, “già rồi không ai chăm sóc” những tin tức tiêu cực này làm cuộc sống của bạn mất đi ý nghĩa, những cách nói này đã lỗi thời rồi.

Chúng ta phải dựa vào chính mình dưỡng lão, lớn tiếng mà nói: tuổi già của tôi, tôi tự làm chủ.

Sưu tầm

Ảnh internet