Chém người bằng gươm Samurai, bà gốc Hoa bị buộc tội sát nhân

Ba’o Nguoi- Viet

July 29, 2024

LOS ANGELES, California (NV) – Một người phụ nữ bị bắt trong tháng này liên quan tới một vụ hành hung trong gia đình bằng gươm Samurai, vừa bị buộc tội sát nhân và mưu sát.

Hôm Thứ Hai, 29 Tháng Bảy, Biên Lý Cuộc Los Angeles thông báo Weichien Huang bị buộc tội giết vợ của bà và toan tính giết luôn mẹ vợ.

Huang bị bắt ngày 18 Tháng Bảy ở San Dimas khi cảnh sát Los Angeles LASD tới dãy nhà số 300 đường South Huntington Avenue và thấy một người phụ nữ đi bộ trên đường, tay lê theo một thanh gươm katana, loại mà chiến binh Samurai Nhật Bản thường dùng.

Weichien Huang cầm gươm đi trên đường phố San Dimas trước khi bị cảnh sát LASD chặn bắt ngày 18 Tháng Bảy, 2024 (Hình: Danielle Leivo/KTLA)

Cảnh sát chặn người phụ nữ lại, ra lệnh cho bà bỏ gươm xuống, và giơ hai bàn tay vấy đầy máu lên trời đầu hàng.

Sau đó, giới chức cho biết, Huang đưa cảnh sát về một căn nhà gần đó, nơi có một người phụ nữ đã chết và một người nữa bị thương.

Do những người liên can nội vụ chỉ nói tiếng Hoa, không có nhiều chi tiết được cung cấp vào thời điểm đó.

Nay thì Biện Lý Cuộc cho biết, Huang bị buộc tội giết vợ là bà Fei Chen Chen, bằng thanh gươm tại nhà. Huang cũng bị buộc tội tấn công người mẹ vợ cao tuổi, nhưng bà này sống sót sau một tuần chữa trị thương tích trong bệnh viện.

Công Tố Trưởng George Gascón của Los Angeles nói vụ tấn công bạo lực này là một thí dụ “vấn đề ẩn khuất tai hại của bạo lực gia đình ảnh hưởng nhiều người trên toàn đất nước chúng ta.”

Huang ra tòa Pomona vào Thứ Hai để chính thức bị buộc một tội sát nhân và một tội mưu sát, với cáo trạng gia trọng vì gây thương tích cho một người trên 70 tuổi và dùng một thanh gươm trong khi gây án.

Công tố viên yêu cầu giam giữ Huang với $3 triệu tiền thế chân. Nếu bị phán có tội, Huang có thể đối diện mức án tối đa là tù chung thân.

Cảnh sát LASD vẫn đang điều tra vụ án này. (TTHN) 


 

MỘT MÌNH – Lang Thang Chiều Tím

Lang Thang Chiều Tím

“Một Mình” là một trong những ít nhạc phẩm của người nhạc sĩ tài ba Lam Phương viết riêng cho mình.  Lúc sáng tác, ông chỉ đơn giản trút nỗi niềm u uẩn qua những vần thơ nốt nhạc, có điều ông không ngờ bài hát “Một Mình” được nhiều người ưa thích và trở thành một lời tiên tri buồn cho chính bản thân mình.  “Sớm mai thức giấc, nhìn quanh một mình, ngoài hiên nắng lóe, đàn chim giật mình…” đây có thể là nỗi sợ không chỉ một mình Lam Phương.  Ai cũng sợ một mình, dù giàu hay nghèo, già hay trẻ, đàn ông hay đàn bà, khỏe mạnh hay bịnh tật…  Dù là bất chợt một khoảng khắc một mình, một quãng đời tạm một mình, hay cả đời một mình…. thì cái một mình nào cũng đáng sợ.  Với người Á Đông, từ nhỏ đã quen sống chung đụng với anh chị em, cha mẹ, ông bà… thì cái một mình cô đơn mới đáng sợ hơn.  Vậy một mình có thật sự đáng sợ không?

Từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã mời gọi con người một mình đi vào sa mạc để trong cõi hoang tịch cô liêu đó con người có thể nghe được tiếng tỏ tình từ trời cao “Này ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình.” (Hs 2,16).  Trong cõi một mình của Lam Phương phủ đầy những nỗi niềm u uất, những trằn trọc giãy giụa muốn thoát ra khỏi cái một mình cô đơn đang bủa vây xung quanh, đang một mình nhưng không muốn một mình, muốn bay vút ra khỏi “ngoài hiên nắng lóe” rực rỡ ngoài kia, muốn có ai đó ở bên kia hàng hiên nghe được tiếng lòng của mình “biết lời tỏ tình, đã có người nghe….?”  Còn trong sa mạc của Kinh Thánh là một sa mạc tĩnh lặng, ngọt ngào, ngập tràn những tiếng lòng thổn thức lãng mạn mà chỉ khi một mình bước chân vào đó mới nghe được “Vào ngày đó…. ngươi sẽ gọi Ta: “Mình ơi,” chứ không còn gọi “Ông chủ ơi” nữa.” (Hs 2,18).  Một sa mạc mở rộng vòng tay mời gọi con người một mình tự do tự tại bước vào để sống chậm lại, để cảm nhận “lời Ngài đã hứa, ngọt ngào hơn mật ong trong miệng” (TV 119, 103), để “nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy, hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người!” (TV 34, 9).  Hàn Mạc Tử khi một mình cô đơn đau đớn vì bịnh tật thay vì oán hận số phận hẩm hiu lại tha thiết mời gọi thế nhân “Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều, để nghe dưới đáy nước hồ reo; để nghe tơ liễu run trong gió, và để xem trời giải nghĩa yêu… (Đà Lạt trăng mờ).  Vì chỉ khi một mình trong thanh vắng tôi mới nghe, mới xem, mới cảm và mới nếm được những điều kỳ diệu mà Thiên Chúa đang muốn mạc khải cho.

“Nắng xuyên qua lá, hạt sương lìa cành, đời mong manh quá, kể chi chuyện mình, nắng buồn cuộc tình, bỗng tắt bình minh…”  Cõi một mình của Lam Phương giăng đầy những nỗi buồn da diết kể về cuộc đời mong manh, là những giọt nước mắt khóc cho tình yêu dễ tan, là những tiếc nuối con người dễ quên, là cái nhìn ảm đạm cho một tương lai tăm tối sầu lo.  Lam Phương không hận, chỉ là những lời trách nhẹ nhàng bâng quơ “đường xưa quen lối, tình dối người mang,” buồn cho phận mình long đong lận đận “tình duyên trăm mối, một kiếp đa đoan,” những nỗi buồn kế tiếp nỗi buồn.  Một nỗi buồn không chia sẻ được với ai, buồn lại càng thêm buồn, may mà có những nốt nhạc vần thơ nói lên được cõi lòng đơn côi của ông.  Ngược lại, cõi một mình trong sa mạc với Thiên Chúa là những hoan ca rộn ràng của hai tâm hồn có dịp gặp gỡ trò chuyện hàn huyên, là những nức nở buồn vui, cũng có những giọt nước mắt nuối tiếc cho những lầm lỡ sa ngã đã qua, sau đó là những vỗ về ủi an tha thứ, là những khích lệ nâng đỡ, là những lời tỏ tình mật ngọt… “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31,3).  Và đoạn kết của một chuyện tình đẹp là một kết thúc có hậu với “một hôn ước vĩnh cửu.  Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong công minh và chính trực, trong ân tình và xót thương.” (Hs 2,21).

Nghe rồi mới hiểu tại sao phải đi vào sa mạc cô tịch, tại sao phải là một mình, phải lắng đọng, phải thinh lặng mới nghe được những lời tỏ tình mật ngọt rất nhỏ kia.  Nếu Lam Phương không buồn, không một mình, không cô đơn thì chắc chắn sẽ không có nhạc phẩm bất hủ “Một Mình.”  Nếu tôi không chọn một mình, không đi vào sa mạc, không rũ áo với những tiếng ồn tất bật xung quanh, biết tôi có nghe được gì chăng cho dù Chúa vẫn nói?  Một mình không phải để viết nhạc như Lam Phương,  làm thơ như Hàn Mạc Tử, nhưng một mình để mở lòng hướng về trời cao, trao ban cho Thiên Chúa cái tự do để Ngài muốn viết nên những vần thơ, điệu nhạc gì lên linh hồn tôi thì túy ý Ngài.  Khi một mình là lúc trở về với chính mình, tôi mới nhận ra có một niềm khắc khoải trong hồn muốn tìm về cội nguồn Chân Thiện Mỹ, mới nghe được những khao khát sâu kín trong trái tim mình.

Trong Tân Ước, Chúa Giêsu trước khi bắt đầu cuộc đời công khai, Ngài đã lui vào sa mạc để ở một mình 40 ngày.  Trước khi chọn 12 tông đồ, Ngài cũng đi vào cõi một mình và “Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa” (Lc 6,12).  Sau những phép lạ, những lúc rao giảng mệt mỏi, Ngài lánh riêng ra một mình, khi thì “sáng sớm, lúc trời còn tối mịt,” hoặc “chiều đến.”  Trước khi bước vào cuộc tử nạn, Giêsu cũng đi vào cõi một mình trong vườn Cây Dầu cầu nguyện suốt đêm cho tới khi binh lính đến bắt Ngài.  Trong ba năm rao giảng và huấn luyện các tông đồ, Giêsu cũng buộc các ông sau những ngày bận rộn với đám đông, rao giảng, chữa lành… thì lánh riêng ra một chỗ nghỉ ngơi, cầu nguyện, tránh xa thế gian ồn ào… Đôi khi, Thầy Giêsu cũng phải dùng tới biện pháp mạnh là “đem các ông đi riêng với mình…” (Lc 9,10).

Như vậy một điều dễ nhận thấy là Giêsu thích ở một mình!  Khi tôi một mình ở với Giêsu Một Mình thì không còn là một mình nữa.  Hai cái một mình thì là hai rồi, không còn là một nữa.  Một mình ở với Giêsu không phải là cái một mình của cô đơn, lo lắng, tiếc nuối như cái một mình của Lam Phương, mà đó là cái một mình đáng yêu của Hàn Mạc Tử, trong đau đớn thể xác vẫn rung động với cảnh vật, vẫn nghe được Trời giải nghĩa yêu…

Một chiều thứ Sáu trên đồi Canvê năm xưa, có ba người tử tội bị hành hình trên ba cây thập tự giữa một đám đông ồn ào huyên náo, la hét, người cười kẻ khóc, người đau khổ tiếc thương, kẻ hả hê đắc chí….

Tử tội thứ nhất, tên cướp không ăn năn, khi sống hắn đã chọn con đường gian ác cô độc lẻ loi, ai ai cũng sợ hãi kinh khiếp tránh xa.  Đến gần với sự chết, hắn vẫn tiếp tục ngoan cố một mình giãy giụa trong sự dữ luôn miệng nguyền rủa và một mình đi vào cõi chết trong giận dữ, oán hận…  Cái một mình kinh hoàng của bóng đêm sự dữ, thiếu vắng bóng dáng tình yêu mặc dù Thiên Chúa Tình Yêu đang ở ngay cạnh bên.

Tử tội thứ hai, tên trộm lành, cũng như bạn mình đã sống cuộc đời của một tên cướp ác ôn.  Nhưng khi đối diện với thần chết, hắn lại mở lòng để nhìn ra những lầm lỡ sai trái của mình, mở mắt để nhìn thấy người tử tội bên cạnh là người vô tội bị án oan, dám mở miệng để mắng tên đồng bọn ngu ngốc, và khiêm nhường để xin sự tha thứ…  Và hắn đã được mãn nguyện!  Hắn không cô đơn một mình đi vào cõi chết!  Người bạn mới tử tù Giêsu đã nắm tay cùng đồng hành với hắn đi về một nơi mà hắn chỉ biết lơ mơ “Nước của ông,” với một lời hứa bao người mơ ước: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 23, 43b).

Tử tội cuối cùng, Giêsu thành Nazaret, trong ba năm rao giảng làm bao nhiêu phép lạ cả thể, xung quanh lúc nào cũng có đám đông lớn nhỏ tung hô vạn tuế, với 12 tông đồ, 72 môn đệ, đến khi hấp hối chỉ còn một mẹ, một trò và vài người đàn bà khác dưới cây thập giá.  Lúc này đây có lẽ tử tội Giêsu mới thấm thía hai chữ một mình.  Một mình không nhất thiết là khi chỉ có một mình.  Một mình giữa đám đông với những tiếng la hét, nguyền rủa…  Một mình đang bị nhấn chìm từ từ với những cánh tay giơ lên “Đóng đinh nó vào thập giá!”  Một mình mới thấm thía cảm giác bị đệ tử thân tín phản bội, bị trò yêu chối bỏ, bị cả thế gian lên án.  Và cái đáng sợ nhất là cảm giác bị Người Cha yêu dấu bỏ rơi, để rồi trong hơi tàn sức kiệt trước khi chết, Giêsu đã phải thốt lên “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15:34b).  Cái một mình này mới thật đáng sợ!  Chúa Giêsu trên cây thập giá đã đi đến tận cùng của một mình cô đơn, bị kết án, bỏ rơi, nguyền rủa…  Có ai hiểu cảm giác một mình lẻ loi bị bỏ rơi cho bằng Giêsu?

Sống là chuẩn bị cho chuyến đi cuối cùng!  Trong chuyến đi đó dù muốn hay không ai rồi cũng phải một mình ra đi.  Cho dù có vạn người khóc, triệu người thương, nhà nhà tiễn đưa… nhưng không ai có thể cùng đồng hành với tôi trong chuyến đi đó.  Chỉ một mình tôi sẽ độc hành trong chuyến đi cuối cùng này.  Chỉ một mình tôi sẽ ra trước tòa phán xét của Đấng Tối Cao.  Chỉ một mình tôi thôi!  Một mình lúc đó mới thật đáng sợ!  Vậy sao ngay bây giờ tôi không tập sống một mình với Giêsu để Ngài sẽ cùng đồng hành với tôi trong chuyến đi cuối cùng như Ngài đã từng đồng hành với tên trộm lành trong chuyến đi cuối cùng của hắn.  Và tôi sẽ không bơ vơ một mình trước tòa phán xét vì đã có Giêsu bênh đỡ cho tôi.

Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đã yêu thích một mình, xin cho con biết sắp xếp thời gian bận rộn của mình để bước vào cõi tĩnh lặng với Chúa mỗi ngày, để làm bạn với Ngài ngay từ bây giờ để rồi con không phải một mình cô đơn trong cuộc sống này, không một mình trong chuyến đi cuối cùng, và chắc chắn sẽ không một mình lạc lõng trước tòa phán xét Chúa trong ngày sau hết.  Amen!

Lang Thang Chiều Tím

From: Ngọc Nga & KimBang Nguyen


 

CHỐN NƯƠNG MÌNH  – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Chúa là chốn con nương mình!”.

Đọc Augustinô, chúng ta hiểu thế nào là sự chữa lành! “Vết thương của chúng ta rất nghiêm trọng, nhưng vị Thầy Thuốc thì toàn năng. Tôi sẽ tuyệt vọng về vết thương chí mạng của tôi nếu tôi không tìm thấy một Thầy Thuốc vĩ đại như Ngài!”. Và Augustinô kết luận, “Lãng quên Thiên Chúa là chết; tìm kiếm Thiên Chúa là tái sinh; ở trong Thiên Chúa là sống!”; “Con càng khốn khổ, Ngài càng gần con!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Lãng quên Thiên Chúa là chết; tìm kiếm Thiên Chúa là tái sinh; ở trong Thiên Chúa là sống!”. Cùng với Tin Mừng hôm nay, Thánh Vịnh đáp ca – “Chúa là chốn con nương mình!” – cho thấy hành trình cuộc đời mỗi người là một hành trình tìm kiếm Thiên Chúa, tìm kiếm kho báu, tìm ‘chốn nương mình’.

Có ‘chốn nương mình’ tạm bợ; có ‘chốn nương mình’ bền vững! Và Giêsu, ‘chốn’ đáng nương mình nhất vì Ngài là ‘Kho Báu’ của mọi kho báu! Sự bồn chồn trong trái tim mỗi người về một tình yêu có thể sánh với sự bồn chồn của người đi tìm kho báu. Theo những cách khác nhau, chúng ta trải qua những khát khao về một tình yêu vô điều kiện; một bảo đảm hạnh phúc đời này, đời sau và câu trả lời cho mọi nan đề. Trong Chúa Giêsu, chúng ta có tất cả! Hãy đào sâu ý thức về sự vĩ đại của món quà tình bạn mà Ngài ‘tặng không’ như người kia tình cờ tìm được kho báu ngoài đồng. Hãy ra sức tìm kiếm và củng cố tình bạn này bằng sự cởi mở trước tình yêu của Ngài như người kia ‘rảo khắp’ tìm ngọc đẹp. Và bạn sẽ nghiệm ra Giêsu là ‘chốn nương mình’ đích thực nhất.

Trong Chúa Giêsu, chúng ta khám phá cuộc sống mình có giá trị vô hạn trước mặt Thiên Chúa; trong giáo huấn Ngài, chúng ta khám phá sự khôn ngoan để xây dựng cuộc sống mình trên nền tảng vững bền; và trong ân sủng Ngài, chúng ta nhận được sức mạnh để lớn lên trong tình yêu! Kho báu Giêsu là nơi đầu tư tốt nhất cho một tương lai vững chắc; nơi mỗi người có thể sống ơn kêu gọi ‘cho sự vĩ đại’ của mình. Vì thế, hãy gác lại mọi bận tâm khác để làm sao thực sự sở hữu Ngài! Hãy bỏ qua một bên bất cứ điều gì tìm cách mang lại cho chúng ta một cảm giác an toàn ngoài Ngài! Vì lẽ, không chỉ là ‘chốn nương mình’, Chúa Giêsu còn là Đấng biến đổi tất cả những ai tìm Ngài nương thân!

Giêrêmia đã nói lên niềm xác tín đó khi coi Thiên Chúa là ‘chốn nương mình’, coi Lời Ngài như của ăn – bài đọc một. “Gặp được lời Chúa, con đã nuốt vào, lời Ngài làm cho con hoan hỷ”; và Chúa phán, “Chúng có chống lại ngươi cũng chẳng làm chi được, vì Ta ở với ngươi để cứu sống và giải thoát ngươi!” đúng như lời Thánh Vịnh đáp ca, “Chúa là chốn con nương mình!”.

Anh Chị em,

“Chúa là chốn con nương mình!”; “Con càng khốn khổ, Ngài càng gần con!”. Ai gần Giêsu, sở hữu Giêsu, người ấy sở hữu Thiên Chúa, sở hữu thiên đàng. Augustinô và các thánh sở hữu Giêsu, họ được Ngài biến đổi. Như vậy, với Chúa Giêsu, một con tim không hoán cải, không thể dịch chuyển, là một con tim của người đánh mất khả năng cảm nhận rằng, mình được yêu; đánh mất khả năng đó, bấy giờ, sẽ là đánh mất một kho tàng! Hãy như Augustinô, như các thánh, một khi tìm được Giêsu, bạn và tôi hãy cố ôm chặt Ngài!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, “con càng khốn khổ, Ngài càng gần con”. Cho con biết rằng, càng gần thế gian, con càng nghèo; càng gần Chúa, con càng bớt nghèo và giàu ra!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

*****************

Thứ Tư Tuần XVII, Mùa Thường Niên, Năm Chẵn

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

44 Khi ấy, Đức Giê-su kể cho dân chúng nghe dụ ngôn này : “Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.

45 “Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. 46 Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.”


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Xe lôi, xe kéo & xe ôm

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

30/07/2024

Từ Rạch Giá, nhà văn Thận Nhiên đã gửi đến độc giả xa gần tấm hình của người đàn ông gầy gò/đen đủi, ngồi trên chiếc xe lôi (trong một con phố nào đó) ở thị xã này. Bức ảnh tuy chỉ đơn sơ và giản dị thế thôi nhưng vẫn khiến tôi không khỏi ngậm ngùi tự hỏi, theo thói quen nghề nghiệp:

  • Xe của thằng chả hay là xe thuê vậy ta?

Dù đều phải “nhọc nhằn cam chịu mưu sinh” nhưng dân chạy mướn phải đổ mồ hôi gấp đôi mới đủ ăn vì tiền thuê xe khá bộn. Tuy thế, đây vẫn chưa phải là đám cùng đinh mạt hạng. Ít nhất thì họ cũng còn có đủ “uy tín” và “tư cách” để thuê được một cái xe.

Tôi thì không!

Không tiền, không nhà, không một tờ giấy lận lưng, cũng không quen biết bất cứ một ai ở Rạch Giá – ngoài ông chủ ghe tổ chức vượt biên nhưng thằng chả đã bị công an bắt mất tiêu rồi.

Lạnh và đói nên giấc khuya tôi hay la cà trước rạp hát Châu Văn ở trung tâm thành phố. Nơi đây, ngoài mấy cái xe hủ tíu/mì của người Tầu, còn có hơn chục cái bàn ăn thấp lè tè chuyên bán rượu đế (tôm khô, củ kiệu, cải chua, hột vịt bắc thảo, hột vịt muối …) và cháo trắng cho đám dân nghèo mà phần lớn đều là phu xe cả!

Tôi chưa lần nào dám xin xỏ gì ai (và cũng chả bao giờ giành giật chi với đám trẻ bụi đời còi cọc) chỉ lặng lẽ đi loanh quanh nhặt những mẩu thuốc lá hay thu vét chút thực phẩm thừa cho vào một cái lon gô, rồi tìm một góc khuất ngồi ăn.

Đôi lúc, tôi cũng được mời một ly rượu nhỏ, hay một chén cháo khuya, từ quí vị thực khách hảo tâm và hào sảng. Thảng hoặc, cũng có một hai tay chạy thuê may mắn (kiếm đủ sở hụi sớm hơn mong đợi) nên họ có thể yên tâm ngồi nhậu lai rai và cho tôi được mượn tạm cái xe – đạp lòng vòng – kiếm khách.

Tôi vợ con không có (mèo chó cũng không) và lại rất hảo rượu nên kiếm được đồng nào cũng đều bỏ hết vào bàn nhậu để chung vui với mọi người. Ai cũng vui như Tết nên dần dà tôi được dân xe lôi ở Rạch Giá “chấp nhận” như là một thành viên chính thức, và rồi cũng thuê được một cái xe, như nhiều người khác.

Từ đó, tôi sống khỏe! Ngày nào cũng cơm no, xui lắm mới có hôm chỉ chạy đủ tiền thuê xe và đành phải nhai khoai nướng hay chuối nướng (chan nước dừa) cho qua bữa. Đêm lại càng khoẻ nữa. Từ đây, khỏi còn lo chuyện bắt bớ lôi thôi như trước.

Thỉnh thoảng, bạn đồng nghiệp trúng mánh (chắc mới chở dầu cho ghe vượt biên) còn lôi dậy rủ nhậu vài ly nữa chớ. Sau khi uống “sương sương” chừng nửa chai, có người còn rủ rê về chơi (cho biết nhà biết cửa) dù giữa đêm khuya khoắt.

Tôi chả hề phân biệt (hay kỳ thị) ngày/đêm gì sất nên gật đầu là cái chắc. Thực sự, tôi không cần chỗ ngủ nhưng cần được xối vài gáo nước cho sạch sẽ và mát mẻ. Tắm rửa là một trong những nhu cầu cấp thiết nhưng rất khó thực hiện khi lâm vào cảnh … không nhà!

Nói chung là tôi OK. Không có gì để phàn nàn cả, nếu so với cuộc sống nhếch nhác của đám phu kéo xe thời trước :

“Ở Hà Nội có tới ngàn rưỡi người chỉ vì bát gạo mà làm cái nghề kéo người. Bất cứ trời rét hay trời nóng, đang mưa như trút nước hay đang nắng như hun trời, đút đầu qua hai cái càng gỗ, anh em phu xe phải thúc tay co vó, chạy bở hơi tai, mình mẩy nhễ nhại mồ hôi, áo quần ướt như dúng nước. Họ khó nhọc như thế để kiếm cái gì! – Năm ba xu, một hào, một cuốc. Vừa đúng số tiền để mua ít cơm đút miệng, cái thứ cơm thổi bằng gạo hẩm trộn với ít nước hàng. Ăn để mà sống, ta không cần nói đến cái ăn! Nhưng sống nào đã được yên?” (Tam Lang. Tôi Kéo Xe. Mai Lĩnh, Hà Nội: 1935).

Đạp xe lôi cũng không “yên” lắm nên một đêm tối trời – vào tháng 3 năm 1980, khi mà nước biển êm ru như nước trong lu – tôi đã đành đọan bỏ Rạch Giá ra đi. Tôi  đến được nơi mà người ta sẵn sàng cấp phát cho mình một cái căn cước mới (với tên họ cũ) và một cái thẻ cử tri mà không cần phải qua một cuộc điều tra lý lịch xét nét hay lôi thôi nào cả. Nói cách khác là tôi đã tìm được một cơ hội đổi đời.

Những bạn đồng nghiệp còn lại tại Rạch Giá thì không. Tấm ảnh Thận Nhiên chụp được gần nửa thế kỷ sau, vào hôm 21 tháng 3 vừa qua, cho thấy là họ vẫn sống như xưa: chưa ráo mồ hôi đã cạn túi rồi!

Ở những thành phố lớn mới có ít nhiều đổi thay. Xe lôi và xích lô nay đã được thay thế bằng xe ôm hay xe grab. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nhận xét: “Những cảnh làm ruộng của những người nông dân của mấy chục năm trước kia và bây giờ chẳng khác nhau chút nào. Có khác thì chỉ khác một điểm. Đó là người nông dân đi sau đít con trâu mấy chục năm trước kia hiện ra trong ảnh đen trắng còn người nông dân bây giờ vẫn đi sau đít trâu nhưng là trong ảnh màu rực rỡ.”

Những thay đổi trong giới phu phen ở thành phố, xem chừng, có vẻ “triệt để” hơn thế. Phu quét rác nay đã trở thành “công nhân vệ sinh đường phố” với đồng phục đàng hoàng và tươm tất. Đám phu xe kéo hay xe lôi cũng thế. Họ được mệnh danh là “công nhân công nghệ xe ôm” với phương tiện hành nghề là những chiếc xe máy tân kỳ (với đủ loại sắc mầu tươi tắn thật sự) chứ chả phải là “ảnh mầu” đâu.

Chỉ có sự cơ cực thì dường vẫn không khác mấy. Báo Tuổi Trẻ vừa đăng tải một bài viết ngắn (Xe Ôm Chắt Bóp Mưu Sinh”) với những chi tiết não lòng: “Những ngày qua, nhiều tài xế xe ôm phải tăng giờ chạy xe từ 10 tiếng lên 14-15 tiếng mỗi ngày để bù đắp cho các khoản chi phí gia tăng. Cuộc sống họ đang phải đắp đổi từng ngày.”

Bài báo thượng dẫn cũng trích dẫn vài lời tâm sự của đôi ba người trong cuộc :

  • Nguyễn Văn Thảo: “Dân chạy xe ôm chỉ qua năm thứ ba, thứ tư trở lên đã hay đổ bệnh, mà nhiều nhất là bệnh hô hấp và mắt vì khói bụi. Còn tai nạn thì chỉ biết tự an ủi là gặp xui xẻo thôi.”
  • Trần Văn Chí: “Rất nhiều dân xe ôm chạy đến nát xe và không dành nổi tiền để mua lại xe mới. Nghĩ lại cứ y như lấy mỡ mình rán mình.”
  • Ngô Du: “Sáng xách chiếc xe ra đổ 100 ngàn xăng để mưu sinh. Họ đã cúng cho nhà nước 64 ngàn. Chạy một cuốc xe… Nộp thêm 10% VAT nữa.”

Blogger Nguyễn Thùy Dương cho biết thêm :

“Mội tài xế chạy Grab được xem như một giám đốc doanh nghiệp riêng lẻ. Và mức thuế họ chịu bằng với mức thuế của một doanh nghiệp vận tải. Đúng là một niềm vui hiếm thấy, khi chỉ cần một bản xác minh lý lịch của địa phương, một chiếc xe máy, một cái điện thoại, một bộ đồ, 2 cái nón bảo hiểm, 2 triệu đồng ký quỹ, từ người tốt nghiệp Tiểu học cho đến Cử nhân Đại học đều có thể cùng nhau làm Giám đốc doanh nghiệp.

Các giám đốc doanh nghiệp này không được giảm trừ gia cảnh, không được trừ các loại thuế phí hao hụt, không có chế độ bảo hiểm, không có chế độ đãi ngộ. Ngày đêm, họ cần mẫn nuôi ‘Má mì’ Grab và đóng góp vào ngân sách Quốc gia.”

Thùy Dương giúp tôi nhớ đến đôi câu ca dao Việt Nam mà mình đã quên bẵng từ lâu, sau nhiều năm viễn xứ: Thương thay thân phận con rùa/Lên đình cõng hạc xuống chùa đội bia!


 

Bàn về Hạnh phúc- Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

Tôi là con người của thường dân, hay viết về những gì diễn ra xung quanh mình bằng những từ ngữ đơn giản. Hôm nay, tôi sẽ cố gắng dùng những từ đơn giản để nói về một vấn đề tưởng như phức tạp mà lại thật là đơn giản

Gần đây có vụ ông « giáo sư » Phan Văn Trường nói về hạnh phúc về tiêu chuẩn văn minh…

Giáo sư đã trở thành người nổi tiếng rầm rầm và cũng bị ăn rất nhiều gạch đá. Nhân vụ này, tôi mạo muội bàn về hạnh phúc.

Hạnh phúc không phải là một vật chất cụ thể, chỉ là 1 trạng thái, không cân đong đếm được vì thế mấy kẻ lộng ngôn cũng có thể dựa vào đó để múa mép biện hộ cho 1 cái gì đó hoặc dẫn dắt du luận.

Thực ra, theo tôi, hạnh phúc cũng chẳng phải một khái niệm gì trìu tượng đến mức khó hiểu và người ta muốn nói thế nào cũng được.

Có rất nhiều người định nghĩa hạnh phúc khác nhau. Mình tổng kết lại thì đại loại như sau :

« Hạnh phúc là một trạng thái của một đời sống viên mãn, luôn luôn có sự hài lòng, nó đươc thể hiện bởi những cảm xúc tích cực, những thành công trong cuộc sống và sự cân bằng trong tất cả các khía cạnh của cuộc sống »

Tuy nhiên, nói như vậy vẫn rắc rối quá. Nếu cứ nói một cách dân dã nhất và ngắn gọi nhất thì hạnh phúc chẳng qua là sự sung sướng. Hết chuyện.

Tuy nhiên cái sự sung sướng ở đây nó phải được hiểu như một sự sung sướng bình thường được đa số chấp nhận hay cho đó là sung sướng. Nói như vậy là để loại những kẻ lý luận cùn cho rằng ăn C hay ở tù cũng có thể là là sung sướng…

Đúng là mức độ thỏa mãn của con người rất khác nhau. Có người cần phải có nhà lầu xe hơi… thì mới sướng, có người chỉ cần có một căn nhà nhỏ và 1 cái xe đạp. OK, cái đó đúng. Tuy Nhiên, để đáp ứng được cái sướng thì cũng cần phải có một cái tối thiểu gì đó. Không có nó thì chắc chắn không thể sướng được mà thậm chí đau khổ. Muốn sướng bắt buộc phải có một lượng vật chất nhất định đã.

Bây giờ nói về cảm nhận sự sướng(hay hạnh phúc)

Sáng nay, tình cờ đọc được bài kể về một cậu bé. Bố chết, mẹ bỏ nhà lên thành phố « làm việc » và không bao giờ về. 3 anh em phải ở với bà ngoại và đi làm thêm để kiếm sống. Rồi bà cũng chết nên cậu bé phải lên thành phố tìm mẹ, sống vất vưởng, trong người chỉ có mấy nghìn đồng…Cậu bé được người chủ quán phở cho ăn và cho tiền để quay về quê.

Nếu hỏi cậu bé có hạnh phúc không thì chưa chắc nó đã biết trả lời cho đúng và có khi cũng không hiểu hạnh phúc là gì.

Một thí dụ khác nữa là có 1 bạn lý luận rằng một bộ phận dân Ấn độ không có nhà cửa, sống vất vưởng cùng với chuột, với cứt đái…  họ không cảm thấy đau khổ và vậy họ có thể vẫn hạnh phúc.

Nhưng nếu hỏi đa số quần chúng trên thế gian này thì tất cả những người bình thường đều cho rằng hai thí dụ nêu trên là những trường hợp khổ(hay bất hạnh).

VẬY, SUNG SƯỚNG (HAY HẠNH PHÚC) CÒN PHẢI LÀ SỰ CẢM NHẬN, SỰ ĐÁNH GIÁ CỦA SỐ ĐÔNG CHỨ KHÔNG PHẢI CHỈ LÀ SỰ CẢM NHẬN CỦA 1CÁ NHÂN, MỘT THẬP THỂ (Nhiều khi) VÔ THỨC.

Đây là tôi mới đang nói về sự sướng liên quan đến đời sống vật chất. Người ta cũng không thể sướng được khi phải sống trong một xã hội không có tự do. Và trớ trêu thay, kể cả có rất rất nhiều vật chất mà không có tự do thì vẫn chỉ là thân nô lệ bất hạnh. Vật chất không có nhiều, tự do cũng không có thì không thể nói là dân hạnh phúc hơn được. Đó chỉ là một thứ ngụy biện bằng thước đo hạnh phúc và văn minh riêng của mình.


 

Chuγện xảγ ra ở hành lang một Ьệпh viện-Truyen rat ngan

Võ Thanh

Chuγện xảγ ra ở hành lang một Ьệпh viện. Cô con dâu nhăn mặt nói với chồng:

– Ở nhà đủ thứ ρhải lo, làm sao mà vô trong đâγ hầu ba được?

Anh nói cô Năm haγ cô Bảγ ở không thì chia nhau vô chăm sóc ba “.

Anh con trai chưa kịρ trả lời thì có lẽ cô Năm haγ cô Bảγ gì đó đã cong môi ρhản đối:

– Tui cũng có đủ thứ chuγện để lo chứ bộ, quên tui đi”.

Một cậu con trai khác cau cau lông màγ:

– Nói chung là ai cũng bận hết, với lại ba mắc Ьệпh lâγ nhiễm, vô hầu ba rồi lỡ bị lâγ thì làm sao ?

Cô con dâu trưởng ρhán một câu:

– Thôi khỏi bàn tán gì hết, mướn người nuôi là xong chuγện.

Tất nhiên sau đó, sự việc xảγ ra đúng như hoạch định của họ.

Một ρhụ nữ khỏe mạnh, có dáng vẻ nông dân đang nuôi một người Ьệпh nằm giường bên cạnh ông cụ đã chủ động đề nghị nuôi Ьệпh cho ông cụ luôn.

Công việc tỉ mỉ, cần sự chu đáo, từ việc cho uống sữa, uống Ϯhυốc đến thaγ quần áo, lau người (ông cụ đã mất hết cảm giác vệ sinh), nhưng chị vẫn làm với sự chăm chút, không để lộ bất cứ thái độ ghê tởm nào, lại còn có vẻ hiền hậu, dịu dàng như con đối với cha mẹ.

Trong lúc ấγ, có lẽ γên tâm vì cha đã có người chăm sóc, đám con trai, con gáι, dâu, rể hơn một chục người của ông cụ thỉnh thoảng mới lượn qua như một luồng gió nhẹ.

Tiếc thaγ, sự chăm chút của chị ρhụ nữ không kéo dài bao lâu, chỉ hơn một tuần sau là ông cụ đã quα ᵭờι.

Con cái, cháu chắt ông kéo vào mới đông chứ. Họ khóc lóc khá ồn ào nhưng vẫn bình tĩnh chỉ huγ việc khâm liệm ông cụ, và ở hành lang lại xảγ ra một cuộc cãi vã xem người nào ρhải chi nhiều nhất cho đám tang ?…

Anh con trai trưởng cầm một xấρ tiền đến trả cho chị ρhụ nữ đã nuôi Ьệпh cha mình. Hai mắt đỏ hoe, chị trả lời:

– Tôi nuôi cụ ấγ vì thấγ xót xa cho cụ có lắm con nhiều cháu mà chẳng ai đoái hoài, chứ tôi có làm cái nghề nàγ đâu mà lấγ tiền ?

Đám người đang khóc mếu, cãi nhau…

Đột nhiên im bặt. Rồi từng người một lẻn ra ngoài…

Nguồn sưu tầm


 

Ông Tổng bí thư Trọng có chết vì một nguyên nhân tự nhiên?

Ba’o Nguoi-Viet

July 30, 2024

*Chuyện Vỉa Hè

*Đặng Đình Mạnh

Những ngày cuối đời, ông Nguyễn Phú Trọng xuất hiện trước mắt công chúng với bộ dạng sức khỏe ngày càng kém, nhưng không phải là quá kém đến mức thập tử nhất sinh.

Sau ngày phải muối mặt chấp thuận đề cử ông Lương Tam Quang làm Bộ trưởng Bộ Công an và thượng tuần tháng 06/2024, cho dù trước đó đã chỉ đạo Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị 9 loại Lương Tam Quang ra khỏi Bộ Chính Trị.

Bà Ngô Thị Mận (trái), đứng trước quan tài chồng, ông Nguyễn Phú Trọng, cùng ông Thủ tướng Phạm Minh Chính (thứ hai từ trái) và Chủ tịch nước Tô Lâm (giữa), trong tang lễ ngày 26 Tháng Bảy 2026 ở Hà Nội. (Hình: Nhạc Nguyễn/AFP/Getty Images)

Để gỡ gạc, một tuần lễ sau đó, trung tuần Tháng Sáu 2024, ông Trọng đã chỉ đạo truyền thông trong nước đưa tin về việc ông họp với các lãnh đạo chủ chốt. Theo đó, trong các hình ảnh được truyền đi, ông trông phương phi, khỏe mạnh, tươi cười ngồi giữa Chủ tịch nước Tô Lâm. Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Thường trực Ban Bí thư Lương Cường, Chánh Văn phòng Trung ương đảng Nguyễn Duy Ngọc. Trong ảnh, ông Trọng ngồi chính giữa, vị trí trung tâm quyền lực, như ngụ ý rằng ông ấy vẫn là người nắm giữ quyền lực cao nhất, chứ không phải là người đã từng bị ép buộc phải chấp nhận nhân sự làm Bộ trưởng Bộ Công an từ nguồn khác.

Vẫn Tháng Sáu, vào dịp hạ tuần, báo chí Nga đưa hình ảnh ông Trọng ngồi hội đàm với nguyên thủ của họ là Tổng thống Putin tại Hà Nội, nhân dịp ông Putin đến thăm Việt Nam.

Chưa hết, đến đầu Tháng Bảy 2024, trong Hội nghị Đảng ủy Công an Trung ương, tin dẫn từ truyền thông trong nước cho biết, ông Trọng lại gởi văn bản đến yêu cầu lực lượng Công an cần có giải pháp khắc phục triệt để tình trạng lộ bí mật Nhà nước, tập trung phòng, chống cài cắm nội gián của “các thế lực thù địch”, tránh tình trạng “trong nhà chưa rõ, ngoài ngõ đã tường”.

Cho thấy rằng, tuy không khỏe như trước, nhưng ông ấy vẫn đủ sức theo dõi tình hình và chỉ đạo sát sao công việc, kể cả tiếp quốc khách nước ngoài. Đột ngột 10 ngày sau, ngày 18/07/2024, Bộ Chính trị CSVN ra thông báo cho rằng ông ấy lâm bệnh và cần phải nghỉ việc để điều trị tích cực. Chỉ 24 giờ sau, ông ấy được thông báo chính thức là đã qua đời.

Thông báo cần được điều trị tích cực rồi thông báo qua đời chỉ trong 24 giờ sau đó, có nghĩa là ông ấy chỉ được điều trị bệnh trong một ngày ngắn ngủi rồi xuôi tay!? Diễn biến khá lạ lùng này khiến công chúng không khỏi nghi ngờ. Họ vẫn không chắc rằng nguyên nhân ông Trọng qua đời là theo cách tự nhiên do bệnh, già? Hoặc do ai đó đã quá sốt ruột, nên quyết định cấp tốc “làm công tác nhân sự” với trường hợp đặc biệt của ông Trọng.

Nhưng điều chúng ta biết rất rõ rằng nếu ông Trọng sống thêm khoảng ít thời gian nữa thôi, thì với vụ Ciputra đã được Bộ Công An tung ra một cách hữu ý sau 2 thập kỷ được ưu tiên giấu nhẹm, thì khi qua đời, tang lễ của ông Trọng sẽ lặng lẽ hơn rất nhiều và thậm chí, rất có thể sẽ có một phiên bản Vũ Mão đến đọc bản điếu văn hạ nhục người quá vãng như trong tang lễ tướng Trần Độ…

Vì nếu sống thêm nữa, điều đó đồng nghĩa với việc kéo dài thời gian tại vị chức vụ tổng bí thư của ông Trọng đến tận thời điểm tổ chức đại hội đảng lần thứ 14 vào đầu năm 2026. Khi ấy, chưa rõ ông Trọng đã sẵn sàng nghỉ hưu hay chưa? Hoặc lại vẫn ung dung tại vị nhiệm kỳ thứ tư với tư cách “Trường hợp đặc biệt” như đã từng có tiền lệ vào năm 2021.

Chưa kể rằng, nếu quyết định nghỉ hưu, thì rất có thể ông ấy sẽ có sự chọn lựa người kế vị khác chứ không phải chọn lựa ông Tô Lâm, một người đầy tham vọng đang rất sốt ruột với việc ông Trọng quá lỳ lợm và quá thọ trong chiếc ghế tổng bí thư lâu đến như vậy!

Không chỉ thế, dù ông Trọng không giới thiệu người kế vị, thì trước kỳ đại hội đảng, các ứng viên đều ở mức xuất phát ngang nhau, cơ hội cho ông Tô Lâm trúng cử cũng sẽ thấp hơn. Thậm chí, cơ hội bằng không (0) khi mà hầu hết số đảng viên có quyền bỏ phiếu tại đại hội đều xem ông Tô Lâm là mối nguy tiềm tàng, kẻ sẽ tống giam họ bất cứ lúc nào vì nắm giữ hồ sơ tham nhũng dày cộp suốt bao lâu nay của họ.

Dân ở Hà Nội ôm hình ông Nguyễn Phú Trọng trong ngày tang lễ ông Tổng bí thư ở Hà Nội ngày 26 Tháng Bảy 2024. (Hình: Lương Thái Linh/AFP/Getty Images)

Cho nên, chờ đợi đến kỳ đại hội chính thức để “Đêm dài lắm mộng” là hoàn toàn thất sách. Ông Tô Lâm không thể kiên nhẫn hơn được nữa. Thế nên, thời điểm này, thời điểm mà vị thế của ông Tô Lâm đang ở mức cao nhất thì ông Trọng phải chết, không chết tự nhiên vì bệnh, vì già thì cũng phải chết vì sự tranh đoạt quyền lực trong Đảng để ông Tô Lâm có thể thành tựu tham vọng cuối cùng của mình là ngồi vào chức vụ tổng bí thư đầy quyền lực.

Giữ chức vụ tổng bí thư, không chỉ là thỏa mãn tham vọng quyền lực, mà còn là lá chắn có giá trị như “Thượng phương bảo kiếm” bảo đảm cho sự an toàn cá nhân của ông Tô Lâm sau cả một đời kết oán khắp chính trường Việt Nam, từ người dân lương thiện cho đến những kẻ xưng hô là đồng chí với nhau.

Riêng với thân phận ông Trọng, như bánh xe luân hồi quay đủ một vòng trầm luân. Năm 2021, ông ấy dẫm đạp lên Điều lệ Đảng một cách vô pháp để tranh đoạt nhiệm kỳ tổng bí thư thứ ba. Bằng cách đó, ông mở đường, tạo tiền lệ cho sự tranh đoạt quyền lực bất chấp Điều lệ Đảng của ông Tô Lâm lúc này. Ông Nguyễn Phú Trọng đã chết vì sự vô pháp của chính mình.


 

Sự thật đằng sau “vĩ đại, kiệt xuất”- Quốc Anh

Ba’o Tieng Dan

29/07/2024

Quốc Anh

29-7-2024

Liên Xô, đất nước từng là chiếc nôi nuôi dưỡng nhiều người cộng sản hàng đầu trên thế giới với lãnh tụ được tôn thờ “kiệt xuất, vĩ đại” là Lenin.

Nhưng sự thật đằng sau mấy chữ “kiệt xuất, vĩ đại” là những mưu đồ đen tối, đã biến ông ấy thành “thần tượng” như một công cụ để che giấu tội ác, bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của các đồng chí tự nhận là “học trò” của ông ấy.

Vào những năm 1920 trong ban lãnh đạo của nhà nước Xô Viết xảy ra mâu thuẫn có tính đối kháng giữa hai nhóm, một do Lenin, một do Trotsky cầm đầu. Và trong cuộc đả phá đấu đá này, Stalin kẻ nham hiểm nhất đã đứng về phía Lenin, dù biết Stalin “không tốt” nhưng Lenin bắt buộc phải dùng Stalin.

Sự liên kết này đã gạt nhóm Trotsky ra khỏi bộ máy quyền lực của nhà nước Xô Viết.

Lenin giữ được vai trò của người đứng đầu đất nước Xô Viết, nhưng thực sự thì Stalin mới là kẻ có quyền lực thao túng, kéo bè kết đảng và ra lệnh hãm hại rất nhiều người có ý chống lại ông ta trong các chiến dịch thanh trừng dưới vỏ bọc làm “trong sạch đảng”.

Lenin biết điều này, nhưng đây là thời điểm sức khỏe suy yếu, đặc biệt là bị thương sau cuộc ám sát. Ông ta bất lực, không thể ngăn chặn được sự tiếm quyền của Stalin.

Khi biết không còn sống được bao lâu, Lenin đã bí mật viết di chúc tố cáo nhân cách tồi tệ của Stalin và đề nghị gạt Stalin trong vai trò lãnh đạo đảng ở đại hội.

Stalin biết điều này, rất tức tối và gọi điện cho vợ Lenin mạt sát và đe dọa phải giữ bí mật về di chúc.

Vì Stalin đã thao túng được bộ máy nên không cho công bố di chúc của Lenin tại đại hội, mà chỉ nói qua loa trong hội nghị trung ương nơi toàn những người được ông ta dựng lên.

Lenin chết dù rất hận, nhưng Stalin rất quỷ quyệt đã đứng ra làm trưởng ban lễ tang và tiến hành nghi lễ rất trọng thể, ca ngợi công lao trời biển của Lenin và quyết định xây dựng lăng để Lenin trở thành thần tượng bất tử, và sau này ông ta viết nhiều sách tự nhận mình là học trò của Lenin.

Ảnh: Stalin bên linh cữu Lenin. Tranh do họa sĩ Isaak Brodsky vẽ

Nhưng đấy là một thủ đoạn để che giấu tội ác, bàn tay đẫm máu của Stalin, lịch sử sau này phán xét sẽ đổ tội tất cả là do sự chỉ đạo của Lenin ông ta chỉ là người thực hiện – Đánh lạc hướng dư luận, và kẻ nào muốn bới móc, tố cáo sẽ phải coi chừng.


 

Đáp số thất bại từ một đám tang-Nam Việt/SGN

Ba’o Nguoi-Viet

July 29, 2024

Nam Việt/SGN

Khác với với cái chết của Lê Đức Anh hay Đỗ Mười, là những nguyên thủ cấp cao đời đầu, người ta nhận ra ngay việc ca ngợi và đánh bóng cho những nhân vật này hoàn toàn rất yếu ớt. Điều này hoàn toàn khác biệt với đám tang của Nguyễn Phú Trọng: bộ máy tuyên truyền của Hà Nội đã hoạt động hết công suất, thúc ép ca ngợi và khóc than, cho nhiều ý nghĩa khác nhau.

Có hai ý nghĩa quan trọng nhất, mà Hà Nội muốn nhấn mạnh trong đám tang của Nguyễn Phú Trọng. Thứ nhất, đó là đánh bóng lại bộ mặt chính danh cầm quyền được dựng lên của Hà Nội, mà qua vài thập niên qua đã lộ rõ là một đảng cầm quyền ăn tàn phá hại đất nước, coi nhân dân chỉ là thành phần để bóc lột và cai trị.

Ý nghĩa thứ hai, dùng cái chết được dựng lên đầy màu sắc ý nghĩa thanh liêm của ông Trọng như một phép thử, xem liệu sau 50 cưỡng chiếm miền Nam và thống nhất địa lý đất nước, đã thật sự thống nhất được lòng người dưới sự chỉ huy của đảng CSVN hay không.

Cả hai vấn đề này, có thể tìm thấy đáp số ngay sau khi phút quốc tang cuối cùng vừa chấm dứt, xã hội Việt Nam bùng lên những sự chỉ trích về ông, cũng như chỉ ra sự mục ruỗng của đảng CSVN.

Suốt một giai đoạn dài, hình tượng ông Hồ Chí Minh qua cuộc chiến tranh tấn công miền Nam, cùng những sai lầm được nhắc đi nhắc lại hàng năm như cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm… đã khiến mọi thứ của chủ nghĩa cộng sản mòn mỏi. Thậm chí người ta nhìn thấy những thế hệ lớn lên ở phía Bắc, gia đình cách mạng, thậm chí trưởng thành từ mô hình giáo dục xã hội chủ nghĩa cũng đã mỉa mai và bỡn cợt hình tượng ông Hồ không ngại ngùng.

Nhưng nhân sắp đến ngày kỷ niệm 50 năm cưỡng chiếm miền Nam, Hà Nội rắp tâm muốn những dựng lên một hình ảnh ông Hồ mới, qua hình ảnh “Bác Trọng” như một điểm tựa tinh thần mới.

Một đoạn video trên mạng xã hội ghi lại hình ảnh khi xe tang của ông trọng diễu qua đường phố, một thanh niên – thành phần đã được chuẩn bị trước – đứng gào thét và bắt nhịp khẩu hiệu “bác Trọng,” lớp đoàn viên thanh niên đứng đằng sau nhịp nhàng hô to đáp lời “muôn năm.” Đây là một điều chưa bao giờ có, kể cả trong đám tang của ông Võ Văn Kiệt, hoặc ông Võ Nguyên Giáp, ông tướng mà hệ thống truyền thông CSVN Việt Nam cố gắng đẩy lên như một nhân vật để thờ phụng, ngang hàng ông Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Phú Trọng, một nhà lãnh đạo cộng sản kỷ trị, cả đời chưa bao giờ cầm một khẩu súng ra trận trong cả hai cuộc chiến với Mỹ và với Trung Quốc, đã khéo vẽ cho mình một hình ảnh như một người thanh liêm, và cũng được bộ máy tuyên truyền của nhà nước tung hô theo hướng đó như một sinh lộ, khi đảng cộng sản không còn một nhân vật nào xứng đáng để được nhân dân coi trọng.

Nói về ý nghĩa thứ hai ở trên, tức là một phép thử của Hà Nội để xem lòng dân lúc này thực sự có toàn phần ủng hộ đảng cộng sản hay không, đặc biệt với một nhân vật được dày công tô vẽ như một hình tượng đáng kính trọng.

Nếu không có một miền Nam có truyền thống dân chủ và nhận định rõ ràng công tội, không bị nhồi sọ về việc thần phục lãnh đạo như nhiều lớp người ở miền Bắc, Hà Nội đã thực sự thắng lợi toàn phần. Tiếc là những tiếng nói của đa số, khởi đi từ phía Nam – ngày càng nhiều – đã chỉ ra những sai lầm của ông Trọng, sự bất lực lãnh đạo trong một hệ thống thối nát, đồng thời là một người cầm quyền không có trái tim dành cho quê hương và đất nước.

Trong những ngày đảng CSVN đang vận hành cho đám tang, thì những lời chỉ trích xuất hiện tương đối kín đáo và ít, do việc bắt bớ bùng phát. Nhưng cho đến khi ngày quốc tang qua đi thì thực sự mọi thứ lộ rõ với tất cả những bình luận và nhận định trực diện rộ lên về ông Trọng.

Người ta đem hình ảnh của ông Lê Đình Kình, một đảng viên gần 60 năm tuổi đảng, con người luôn luôn lý tưởng với chủ nghĩa cộng sản nhưng bị chính những người lãnh đạo của mình xua quân đến tận giường và bắn chết, vì ông tranh đấu cho đất đai của làng ông, cho những người dân quê quanh ông. Trọng chưa bao giờ nói một lời nào về con người cộng sản lão thành đó, và cũng chưa bao giờ lên tiếng về những sai phạm mà công an cũng như chính quyền địa phương là đối xử với gia đình ông Lê Đình Kình. So với cả ông Lê Đình Kình, rõ là ông Trọng thâm hiểm và thủ đọa hơn, kể cả hèn hạ hơn.

Bà Mận (vợ ông Trọng) bên linh cữu chống, và bà Thành (vợ ông Kình), bị công an cướp xác chồng mang đi. (FB)

Những tay nhiếp ảnh của báo chí nhà nước cố gắng săn tìm hình ảnh ra vẻ cô đơn và chịu đựng của bà Mận, vợ ông Trọng trong lễ tang, để đưa lên nhằm để mủi lòng người nhìn thấy. Nhưng người ta cũng không quên hình ảnh của bà Dư Thị Thành, vợ ông Lê Đình Kình, đeo khăn tang và đau đớn khóc kể về câu chuyện công an ập vào bắn nát người một cụ già đang ngồi xe lăn. Bà cũng mạnh mẽ tố cáo nói công an vu cho ông Kình là cầm lựu đạn. Đã vậy công an còn tra tấn, ép cả làng phải nói dối, nhận tội và áp án tử hình cho hai người con của ông Lê Đình Kình. Sự cô đơn và chịu đựng nào có thể so được với bà Dư Thị Thành?

Gượng gạo, một số trí thức xã hội chủ nghĩa vội đưa ra lý lẽ là với ông Trọng “hãy để lịch sử về sau phán xét”. Nhưng nói như bà Phạm Thanh Nghiên, thì “tại sao ông Trọng lại được đặc cách để lịch sử phán xét”, khi tội ác và sự hèn kém của ông ta lộ rõ qua từng vụ xử đại án, từng vụ cho quan chức từ chức để hạ cánh an toàn, hay vỗ tay cho Bộ Công an tung hoành với điều 331 và 117 để bắt bớ, đánh đập người yêu nước nhưng không yêu đảng?

Lợi dụng cái chết của ông Trọng, đảng cầm quyền thao túng nhằm cố nối dài hơi thở tàn của chủ nghĩa cộng sản trên đất Việt Nam. Nhưng đáp số có thể thấy ngay là thất bại. Hà Nội không thể nào vui mừng với những lời tung hô và khóc than giả tạo do chính họ tạo ra, mà lúc này, họ không thể ăn ngon ngủ yên với sự im lặng nặng nề và những nụ cười mỉa mai của cả nước trước chiêng trống rùm beng, từ đám tang của một tay lãnh đạo.


 

Thánh Phêrô Chrysôlogô (Kim Ngôn)- Cha Vương

Bình an và yêu thương trong Chúa nhé. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Phêrô Chrysôlogô (Kim Ngôn), đứng nhầm lẫn với Thánh Gioan Chrysostom (Kim Khẩu). Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy.

Cha Vương

Thứ 3: 30/7/2024

Thánh Phêrô có biệt hiệu là Chrysôlôgô (Kim Ngôn) bởi tài hùng biện đặc biệt của Ngài. Ngài sinh vào khoảng năm 405, tại miền Imola, nước Ý. Đức Giám mục giáo phận Imola là Cornêlliô phong chức phó tế cho Ngài. Dưới sự hướng dẫn của Đức giám mục, Ngài thực hiện những bước tiến lạ lùng trên con đường trong tu viện.

Năm 430, Đức Tổng Giám mục Gioan của Giáo phận Ravenna từ trần. Trong khi tìm vị chủ chăn mới, hàng giáo sĩ và giáo dân đã xin Đức giám mục Iomola nhập đoàn phải họ để đi Roma yết kiến Đức giáo hoàng Sixtô III coi Phêrô như người được tiền định để làm giám mục Ravenna. Ngài liền đặt Phêrô làm giám mục Ravenna, kế vị Đức giám mục Gioan năm 433. Các đại biểu của Giáo phận này lúc đầu tỏ ý bất bình, nhưng rồi đã đổi thái độ khi được đức giáo hoàng Sixtô III cho biết thị kiến của mình.

Vâng theo ý Chúa, Phêrô thụ phong Giám mục và trở về Ravenna. Trong bầu khí tiếp đón nồng nhiệt, Ngài nói: “Tôi đến với anh chị em như một y sĩ đến chữa trị, như một mục tử để dẫn dắt, như một người mẹ để nuôi dưỡng, như một người cha để bảo vệ và chăm sóc phần rỗi đời đời của anh chị em. Vậy anh chị em hãy mau mắn vâng phục cách thích đáng đối với tác vụ rất thánh của tôi.”

Đầy nhiệt thành bứng rễ các việc thờ ngẫu tượng còn rớt lại, cũng như lên án sự giả tạo của giáo dân. Trong một cuộc lễ vào đầu năm, Ngài đã phá những cuộc diễn hành đáng tội trên đường phố: “Ai muốn vui chơi với ma quỉ thì không thể vui hưởng với Chúa Kitô.”

Ngài đã nhiệt tâm rao giảng. Ngày nay chúng ta còn giữ lại được khoảng 180 bài giảng của Ngài. Lời lẽ đơn sơ nhưng đầy nhiệt huyết. Người ta không thể quên được những lời như:

“Nằm trong thói hư tính xấu, chúng ta sẽ bị tiêu diệt. Chúng ta sẽ thực sự đứng thẳng khi biết chỗi dậy để tiến thẳng tới bằng các việc lành.”

❦ “Ai biết tìm kiếm trong đức tin, sẽ thấy ngay rằng là Cha đang ở đó, vì họ.”

❦ “Mọi sự dữ cha mẹ làm cho con cái, Thiên Chúa là Cha hết mọi người sẽ trả lại cho họ.”

Các tiền nhân sống cho chúng ta. Chúng ta sống cho thế hệ mai sau. Không ai sống cho mình cả.”

Người ta cũng còn nhớ lời Ngài kêu gọi sống bác ái: “Biết nói sao về niềm tin lễ Giáng sinh, nếu người nghèo than khóc, tù nhân rên siết, dân tị nạn than thở, người lưu đày thổn thức, người Do thái mừng lễ bằng thuế thập phân, còn người Kitô hữu nghĩ sao khi họ không mừng bằng một phần trăm của cải? Tôi đau buồn, phải, tôi đau buồn vì các đạo sĩ trải vàng trên nôi Chúa Kitô trong khi các Kitô hữu để cho thân thể Chúa Kitô trống trải, khi mà những người nghèo than khóc. Đừng nói rằng tôi không có gì. Thiên Chúa muốn xin cái anh em có chứ không phải cái anh chị em không có, khi mà Ngài thương nhận hai đồng tiền của bà góa. Hãy tận tâm với Đấng tạo thành và tạo vật cũng sẽ tận tâm với anh chị em.”

Thánh Phêrô Chrysôlôgô đã trở thành danh tiếng, đến nỗi Đức giáo hoàng Lêo I đã trao cho Ngài đọc tại công đồng Chalcedonia một luận án chống lại lạc thuyết của Eutychèr, Ngài cũng còn viết một bức thư cho kẻ lạc giáo này để khuyên ông ta vâng phục Giáo hội.

Sau cùng, sau khi cai quản giáo phận Ravenna trong 18 năm, thánh giám mục biết rằng mình sắp tới hồi kết thúc các nỗ lực. Ngài muốn lui về Imola để dọn mình chết. Ngày 3 tháng 12 năm 450 Ngài đã từ trần và năm 1729 được đặt làm tiến sĩ Hội Thánh.

(Mạng: TGPSG)

From: Do Dzung

**************

Tìm Về Bên Chúa (Sáng tác: Jerome) – Đặng Đình Quynh

Chi hơn $21 triệu nâng cấp, mặt đường đèo Prenn rạn nứt do ‘trời mưa’

Ba’o Nguoi-Viet

July 29, 2024

LÂM ĐỒNG, Việt Nam (NV) – Đường đèo Prenn, cửa ngõ vào trung tâm thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, xuất hiện vết nứt dài hàng chục mét, đe dọa có thể sụp lún bất cứ lúc nào.

Theo ghi nhận của báo VNExpress, vị trí mặt đường bị rạn nứt cách điểm đầu đèo phía thành phố Đà Lạt khoảng hơn 200 mét, được phát hiện hôm 27 Tháng Bảy. Vết rạn nứt mặt đường phía taluy âm, rộng 1-3 cm, kéo dài khoảng 20 mét.

Vết rạn nứt trên đường đèo Prenn có thể lan rộng thêm và sụt lún bất cứ lúc nào. (Hình: Khánh Hương/VNExpress)

Điều đáng nói là đoạn đường đèo Prenn dài 7.27 km nối quốc lộ 20 này mới vừa được nâng cấp, mở rộng với kinh phí đầu tư 552 tỷ đồng ($21 triệu), gồm bốn làn xe hơi, vận tốc thiết kế 60 km/h và mới được đưa vào sử dụng từ đầu năm 2024.

Giải thích về sự việc trên, công ty Cổ Phần Xây Dựng Đèo Cả, nhà thầu thi công, và cơ quan chuyên môn cho rằng “do mưa lớn nhiều ngày, nước thấm sâu xuống đất dưới nền đường gây ra trạng thái bão hòa, đồng thời đất nền ở đèo hàm lượng sét cao ảnh hưởng khả năng liên kết, chịu lực, dẫn tới hư hỏng mặt đường.”

Để xoa dịu công luận, nhà thầu đã sử dụng nhựa đường trám các vết nứt ngăn nước thâm nhập xuống nền, xem diễn biến của vết nứt và “sẽ có phương án xử lý dứt điểm ngay khi mùa mưa kết thúc.”

Về phía chính quyền tỉnh Lâm Đồng, sau khi tuyến đường đèo xuất hiện sạt lở ở một số vị trí, đất đá tràn xuống bên dưới, nguy cơ mất an toàn giao thông đã yêu cầu chủ đầu tư, nhà thầu dọn đất đá sạt trượt, khơi thông mương tránh ngập úng, nước chảy ra đường, đồng thời “thường xuyên kiểm tra đường để kịp thời sửa chữa.”

Một đoạn đường đèo Prenn được mở rộng. (Hình: Hải Đăng/VNExpress)

Đèo Prenn dài 7.27 km nối quốc lộ 20, đường huyết mạch từ khu vực Đông Nam Bộ lên Đà Lạt, có địa hình đồi núi cao, nhiều khúc cua nguy hiểm. Dọc đường đèo còn có nhiều điểm du lịch nổi tiếng như thác Datanla, hồ Tuyền Lâm, Thiền Viện Trúc Lâm… nên vào các dịp lễ, cuối tuần, lưu lượng xe cộ rất lớn, thường xuyên xảy ra kẹt xe.

Ngoài đường đèo Prenn, còn có hai tuyến từ huyện Đức Trọng lên Đà Lạt là Mimosa và Tuyền Lâm. (Tr.N) [kn]


 

CHẤP NHẬN Ý CHÚA KHI THẤT VỌNG – Jeannie Ewing

Jeannie Ewing

“Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa, câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi.  Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên.  Hãy cùng tôi ngợi khen Đức Chúa, ta đồng thanh tán tụng danh Người.  Tôi đã tìm kiếm Chúa, và Người đáp lại, giải thoát cho khỏi mọi nỗi kinh hoàng.” (Tv 34:1-5)

Trong nhiều loại cảm xúc, thất vọng được liệt kê dưới dáng vẻ của nỗi buồn và sự xấu hổ.  Sự thất vọng kéo dài có thể chuyển sang cảm giác mất tinh thần hoặc không hài lòng.  Những từ đồng nghĩa này tiết lộ nhiều điều cho tâm hồn đang gặp rắc rối.  Trong các chu kỳ tôn giáo, nơi tâm linh tươi sáng được đề cao, sự thất vọng bị che giấu, bị vô hiệu, bị làm ngơ.  Tuy nhiên, hầu như mọi Kitô hữu đều trải qua sự thất vọng ở một mức độ nào đó trong cuộc sống.

Cách đây không lâu, con gái lớn của tôi muốn bày tỏ cảm giác thất vọng khi một người họ hàng gần quyết định từ chối chuyến thăm đã được lên kế hoạch từ nhiều tháng trước.  Con gái tôi đã hủy chuyến đi theo đúng nghĩa đen một tuần trước khi chuyến bay đến Indiana.  Nói Felicity thất vọng sẽ đánh giá thấp cảm xúc của con gái; nó đã bị tàn phá, bị nghiền nát.  Theo yêu cầu của con gái, chúng tôi đã tìm cách chia sẻ cảm xúc của nó một cách trung thực và cởi mở.  Phản ứng mà con gái tôi nhận được là “Mọi người đều thất vọng trong cuộc sống.  Bạn sẽ phải học cách đối phó với nó.”

Đôi khi chúng ta hiểu cùng một thông điệp này khi chúng ta thất vọng về ý Chúa đối với cuộc sống của chúng ta.  Có thể chúng ta đã mong đợi một kết quả khác với lời cầu nguyện của mình hoặc được yêu cầu “có thêm đức tin” rằng Thiên Chúa sẽ ban một phép lạ.  Khi điều có vẻ trái ngược với phúc lành làm suy sụp niềm tin của chúng ta vào lòng nhân lành của Thiên Chúa, thì thật khó để tiếp tục theo cách tương tự.  Chúng ta cảm thấy bị lừa dối và kiệt quệ, xa rời việc cầu nguyện – như thể bí ẩn vĩnh cửu về cách thức và lý do Thiên Chúa chọn hoặc cho phép những hoàn cảnh nào đó tạo ra vực thẳm nghi ngờ trong chúng ta.

Ở đây, Thánh Vịnh gia biết rõ về sự thất vọng.  Không phải lúc nào chúng ta cũng có thể nhảy vượt từ việc thực hiện ước mơ của mình đến một nơi vui mừng và ca ngợi Thiên Chúa.  Thay vào đó, đức tin của chúng ta linh hoạt hơn và thường lên xuống khi chúng ta vật lộn với những gì Chúa có thể yêu cầu chúng ta chịu đựng.

Phần đầu của Tv 34 sử dụng cách đặt liền nhau giữa người nghèo và người giàu.  Thánh Vịnh gia không viết về sự giàu có hay nghèo khó về vật chất, mà nói đến người nghèo về tinh thần.  Điển hình như trong thực tại tâm linh, chúng ta thấy một nghịch lý – người nghèo thực sự là người giàu, trong khi người giàu lại thiếu những gì quan trọng nhất.

Có vẻ như Thánh Vịnh gia muốn chúng ta nhớ rằng, khi thất vọng hoặc nản lòng, chúng ta lớn lên trong ơn phúc của sự nghèo nàn về tinh thần.  Chúng ta trở nên trống rỗng về bản thân, và dù đau đớn đến đâu, chúng ta vẫn mở lòng để Thiên Chúa di chuyển tự do hơn trong chúng ta.  Trong Thánh Vịnh này, người nghèo là những người đã “tìm kiếm Chúa” và “kêu cầu” với Ngài.  Cũng vậy, chúng ta có xu hướng khuỵu gối trong nỗi tuyệt vọng và khóc lóc khi dồn dập có những sự mất mát.

Thật thú vị khi Thánh Vịnh gia muốn bắt đầu bằng việc ca ngợi Thiên Chúa, bởi vì điều đó có vẻ khó khăn hơn khi chúng ta chán nản và cố gắng chấp nhận ý Chúa dành cho chúng ta.  Tuy nhiên, khi chúng ta hành động trái với cảm xúc của mình và nhớ lại đường lối của Chúa rất rộng lớn, những điều kỳ diệu của sự sáng tạo của Ngài, và những phúc lành trong quá khứ mà chúng ta đã nhận được, điều đó tạo ra lời cầu được xây dựng trên đức tính kiên cường và sau đó có thể chịu đựng được đau khổ lớn hơn.

Ở đây, điều an ủi là Thiên Chúa thấy người đau khổ đang quay về với Ngài.  Chúng ta có thể không nhận được câu trả lời mà chúng ta đang tìm kiếm khi cầu nguyện.  Chúng ta có thể không có thập giá cụ thể nào bị loại bỏ khỏi cuộc đời mình.  Tuy nhiên, chúng ta có thể chắc chắn rằng Thiên Chúa lắng nghe và không quên chúng ta.

Cuối cùng, ai kính sợ Chúa và kiên định thì tìm thấy phần thưởng của mình.  Thánh Vịnh gia nhắc nhở chúng ta rằng sự trung thành với Thiên Chúa là nền tảng khi chúng ta gần đến bờ vực thẳm của sự vô vọng và muốn bỏ cầu nguyện.  Kính sợ Chúa không phải là khiếp sợ Chúa như bạo chúa nhưng là khiêm nhường và nhận biết rằng những cách thức huyền bí và nghịch lý của Chúa đến từ nơi có tình yêu thương sâu sắc đối với chúng ta.

Giống như bất kỳ cảm xúc nào, sự thất vọng phải được nhận biết và chấp nhận chính điều đó.  Chúng ta có thể làm điều này mà không suy sụp, nhưng thay vào đó bằng cách vượt qua những thăng trầm trong mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa.  Như trong tất cả các mối quan hệ, thử thách và kiểm tra thường tạo ra kết quả tốt đẹp nhất – nếu chúng ta sẵn sàng đi đúng hướng và chịu đựng những gì gian khổ và khó khăn.

 Jeannie Ewing

Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

From: Langthangchieutim