ĐIỀU TUYỆT VỜI RỒI CŨNG XẢY RA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 (Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Ai nấy đều ăn và được no nê!”.

“Thật là khờ khạo khi bạn muốn chinh phục thế giới! Thật là khôn ngoan khi bạn muốn chinh phục ‘cái tôi!’. Cuộc sống của bạn không đo bằng những gì giành được, nhưng đo bằng những gì bạn đã vượt qua! Và điều tuyệt vời rồi cũng xảy ra!” – Morrison.

Kính thưa Anh Chị em,

“Cuộc sống được đo bằng những gì bạn đã vượt qua!”. Ý tưởng của Morrison được gặp lại qua Lời Chúa hôm nay khi Matthêu mở đầu Tin Mừng bằng ‘cái chết của Gioan’ và kết thúc nó với việc hơn ‘5.000 người được no nê’. Qua đó, Chúa Giêsu đã chinh phục ‘cái tôi’, ‘vượt qua chính mình’; và ‘điều tuyệt vời rồi cũng xảy ra!’.

Sau khi nghe tin Gioan – người anh họ – chết, Chúa Giêsu xuống thuyền, tìm một nơi hoang vắng. Rõ ràng, Ngài muốn ở một mình! Vậy mà, dân chúng không để Ngài yên. Họ biết Ngài đi đâu và phải đợi Ngài ở đâu! “Ra khỏi thuyền, trông thấy một đoàn người đông đảo, Ngài chạnh lòng thương”; và – ‘điều tuyệt vời rồi cũng xảy ra!’ – “Ngài chữa những người bệnh tật trong họ”. Bằng cách ấy, những ‘rắc rối riêng’ của Ngài đã phải xếp qua một bên, nhường chỗ cho những nhu cầu lớn hơn của người khác.

Câu chuyện tiếp tục khi chiều xuống, các môn đệ đến thưa Ngài, “Xin Thầy cho dân chúng về!”. Không, “Chính anh em hãy cho họ ăn!”. Làm sao họ có thể nuôi ngần ấy người khi chỉ có vỏn vẹn năm chiếc bánh và hai con cá? Họ nghĩ, đây là chuyện ngụ ngôn! Họ đã quá tập trung vào việc sẽ làm được ‘ít như thế nào’; họ không nghĩ với cái ‘ít như thế nào’ họ có, Chúa sẽ làm như thế nào! Điều gì đã xảy ra trong đầu họ khi Chúa Giêsu bảo mọi người ngồi thành từng nhóm? Họ đã nói gì trong khoảnh khắc đó? Không ai biết. Tuy nhiên, điều chúng ta biết, là họ đã vâng lời! Họ không phàn nàn điều đó là vô nghĩa. Chỉ với hành động vâng lời, ‘điều tuyệt vời rồi cũng xảy ra’, họ không mất gì cả!

Quả thế, điều không thể đối với con người vẫn có thể đối với Thiên Chúa! Các môn đệ, dẫu bất lực, vẫn là những ‘chiếc giỏ’ mang bánh cá đã hoá nhiều cho dân. Thiên Chúa cũng sẽ làm những điều không tưởng trong chúng ta nếu mỗi người cho phép Ngài sử dụng ‘cái ít ỏi’ của mình; và quan trọng hơn, ‘vâng lời’ Ngài! Trước bao thách thức của công cuộc Tân Phúc Âm hoá, nếu bạn sẵn sàng đem ‘cái ít ỏi’ và những hạn chế của mình cho Chúa Giêsu, luôn vâng lời Ngài, Ngài sẽ làm những điều không tưởng.

Anh Chị em,

“Ai nấy đều ăn và được no nê!”. Chúa Giêsu muốn có những kết quả tương tự nơi bạn và tôi. Nếu cái chết của Gioan mở đầu cho câu chuyện hơn ‘5.000 người’ được no nê, thì cái chết của Ngài sẽ mở đầu cho câu chuyện hơn ‘năm châu’ được nghe biết Tin Mừng. Bạn và tôi cũng hãy làm như vậy tuỳ theo đấng bậc và hoàn cảnh của mình. Tuy nhiên, đôi khi có vẻ như sự cố gắng của chúng ta không mang lại kết quả như mong đợi. Chuyện gì thế? Hãy cứ can đảm, cứ cho đi những gì bạn có dù nó ‘ít như thế nào’. Đừng sợ, bạn sẽ không mất gì cả, vì nếu bạn cho đi, Ngài sẽ nhân lên gấp bội. Hãy loại bỏ những ‘khiêm tốn giả tạo’ khi cảm thấy không đủ; cứ tin tưởng vào Chúa, vào tình yêu, vào sức mạnh của phục vụ, của lòng thương xót. Và phép lạ rồi cũng xảy ra!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con chùn bước. Cho con biết tặng trao ‘cái ít ỏi’, vâng lời và tín thác vào Chúa; phần còn lại, Chúa lo. Và ‘điều tuyệt vời rồi cũng xảy ra!’”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

******************************

Thứ Hai Tuần XVIII Thường Niên, Năm Chẵn

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

13 Khi ấy, được tin ông Gio-an Tẩy Giả chết, Đức Giê-su xuống thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người. 14 Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ.

15 Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người: “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn.” 16 Đức Giê-su bảo: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn.” 17 Các ông đáp: “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá!” 18 Người bảo: “Đem lại đây cho Thầy!” 19 Sau đó, Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho môn đệ, và môn đệ trao cho đám đông. 20 Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. 21 Số người ăn khoảng chừng năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con. 


 

Hạt giống ĐỎ và kết cục ĐEN

Tác Giả:Đàn Chim Việt

04/08/2024

Ông Đặng Quốc Khánh

Hôm nay, 3/8, thêm bốn cán bộ cấp cao được cho thôi nhiệm vụ, gồm Phó Thủ tướng Lê Minh Khái, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường Đặng Quốc Khánh, Bí thư tỉnh ủy Tuyên Quang Chẩu Văn Lâm và Bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh Nguyễn Xuân Ký.

Bốn vị rời khỏi nhà đỏ, trẻ tuổi nhất và bất ngờ nhất là Đặng Quốc Khánh, sinh năm 1976.

Đặng Quốc Khánh nhận chức Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường vào ngày 22/5/2023. Tính đến nay chỉ mới được 14 tháng ngồi ghế thượng thư.

Đặng Quốc Khánh từng là một hạt giống đỏ rất được kỳ vọng. Đặng Quốc Khánh có học vị tiến sĩ ngành quản lý đô thị, cũng không quan trọng bằng việc Đặng Quốc Khánh có thân phụ là Đặng Duy Báu đảm đương Bí thư tỉnh ủy Hà Tĩnh từ năm 1996 đến năm 2005.

Năm 40 tuổi, Đặng Quốc Khánh đã là ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng và làm Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh. Vị chủ tịch tỉnh trẻ nhất nước thời điểm ấy được thử thách bằng sự cố Formosa gây ô nhiễm môi trường.

Ngày 6/7/2019, Đặng Quốc Khánh được điều chuyển làm Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang. Đại hội Đảng khóa 13, Đặng Quốc Khánh chính thức trở thành ủy viên Trung ương Đảng và tiếp tục làm Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang thêm 2 năm, trước khi về kinh đô.

Bây giờ, Đặng Quốc Khánh quay lại làm người tử tế ở tuổi 48, có gì nghe xót xa và ngậm ngùi. Không lẽ Đặng Quốc Khánh chuyển sang làm thơ, như ngày nào ở vị trí Bí thư tỉnh ủy Hà Giang đã viết bài thơ “Đón anh về” được phổ nhạc hát vang lừng: “Sống bám đá mà đánh giặc. Chết hoá thành bất tử! Đồng đội đưa các anh về hội tụ giữa vòng tay chan chứa tình Hà Giang/ Thung sâu, rừng thẳm bao người đang nằm lại/ Dâng nén tâm nhang xin đón nhận ngày về”?

Hạt giống đỏ có kết cục đen là do đâu? Vì được nâng đỡ không trong sáng, hay vì kém tu dưỡng giữa quan trường nhiều cạm bẫy?

Cứ cái đà hạt giống đỏ rơi rụng bẽ bàng, thì chả còn biết tin tưởng ai nữa. Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh!

Lê Thiếu Nhơn

(Facebook)


 

Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ! (Ga 6:35)

Ngày Chúa Nhật tràn đầy tình yêu, ân sủng, và sức mạnh của Chúa nhé.

Cha Vương

CN: 4/8/2024

TIN MỪNG: Vì thế, anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện. (Ep 4:22-24)

SUY NIỆM: Đối với người Kitô hữu Công giáo, Thánh Lễ là sự sống, là lương thực thiêng liêng, là mối hiệp nhất giữa Thiên Chúa với con người, và giữa con người với nhau. Khi bạn “tham dự” Thánh Lễ một cách tích cực, chủ động và linh hoạt, bạn sẽ được biến đổi bởi Thần Khí Thiên Chúa. Đây là Tặng Phẩm Thần Linh mà Thiên Chúa trao cho nhân loại. Có bao giờ bạn tự hỏi những câu hỏi sau đây: Tại sao tôi không được biến đổi mạnh mẽ bởi các Thánh Lễ tôi tham dự? Tại sao tôi mất niềm tin vào sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu Kitô trong Bí tích Thánh Thể? Tại sao tôi– linh mục, tu sĩ và giáo dân – lại vi phạm và từ bỏ các lời khấn, lời hứa và lời cam kết hôn nhân một cách dễ dàng như vậy? Tại sao tôi lại trở nên hư hỏng, lười biếng, vô đạo đức, không trung thực, tức giận, không vui vẻ, vô vọng,… như những người không tin vào Chúa Giêsu Thánh Thể, Thánh Lễ và không quan tâm việc rước lễ? Tại sao có những người đi lễ hằng ngày, khi về đến nhà vẫn còn chứng nào tật nấy nặng mùi người cũ nếp xưa? Câu trả lời rất đơn giản: Họ chỉ “hiện diện” hoặc “có mặt” trong Thánh Lễ chứ họ không “tham dự”.  Nói cách khác đi họ là người đi xem Olympic chứ không phải là cầu thủ tham dự vào những cuộc tranh giải huy chương Olympic. Có một người hỏi ĐHY Nguyễn Văn Thuận câu hỏi như sau: “Cách gì đẹp lòng Chúa hơn cả?” Ngài trả lời: “Hãy tham dự Thánh lễ, vì không kinh nào, không tổ chức, nghi thức nào sánh bằng lời nguyện và hy lễ Chúa Giêsu trên Thánh giá”. (Đường Hy Vọng #349); ”Muốn tin, phải nuôi mình bằng Thánh Thể, vì Thánh Thể chứa đựng ‘Mầu nhiệm Đức tin’ và ban sức mạnh đức tin cho con “. (Đường Hy Vọng #373); “Biết giá trị Thánh lễ, dù xa dù khó con cũng cố gắng tham dự. Càng hy sinh con càng thấy mến Chúa hơn.” (Đường Hy Vọng #346); ”Dù cô đơn nơi đèo heo hút gió, dù tăm tối trong ngục tù, con hãy hướng về các bàn thờ trên thế giới, nơi Chúa Giêsu đang tế lễ; con dâng lễ và rước lễ thiêng liêng. An ủi và can đảm sẽ tràn ngập lòng con”. (Đường Hy Vọng #364) Tuyệt vời quá đi! Có bao giờ bạn “tham dự” Thánh Lễ với tâm tình như vậy chưa? Ước mong bạn cảm nhận được giá trị cao siêu của Tặng Phẩm Thần Linh mà Thiên Chúa trao cho bạn khi tham dự Thánh Lễ hôm nay.

LẮNG NGHE: Đức Giê-su bảo họ: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ! (Ga 6:35)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, “là lương thực cho chúng con ở đời này, là nơi an nghỉ là niềm thoả mong khát vọng hạnh phúc cho chúng con trong tương lai, xin cho chúng con được đồng bàn với Chúa và xin ở lại với con khi con trở về với gia đình, với công việc, với anh em…, nhất là với những người con gặp gỡ hôm nay.” (Trích một đoạn trong lời kinh của thánh Tôma Aquinô)

THỰC HÀNH: Cố gắng cầm lòng cầm trí “Tham dự” tích cực vào Thánh Lễ hôm nay nhé.

From: Do Dzung

 *******************

BIẾN ĐỔI ĐỜI CON – HIỆP LỄ CHÚA HIỂN DUNG – Lm Thái Nguyên

Ngành công an bành trướng quyền lực: Một di sản khác của Nguyễn Phú Trọng

Ba’o Dat Viet

August 4, 2024

Trong suốt khoảng thời gian từ năm 2016 cho đến nay, ông Nguyễn Phú Trọng đều được ca ngợi là một người chiến sĩ cộng sản kiên trung, dẫn đầu chiến dịch chống tham nhũng lớn nhất và chưa từng có tiền lệ trong lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam. [1] Điều này đã được người ta nhắc đến rất nhiều.

Song nói đến “dẫn đầu”, ở một khía cạnh khác, ông Trọng có lẽ cũng là chính trị gia dù chưa từng có chức vụ trong ngành công an nhưng lại đóng góp nhiều nhất cho sự thống trị của ngành này. Chưa xét đến các nước cờ chính trị (dù sai hay đúng) của ông đã giúp cho vị thế của Bộ Công an và lãnh đạo của bộ này ngày một mạnh, trong giai đoạn cầm quyền gần như tuyệt đối của mình (2016 – 2024), ông Trọng có thể được xem là người giám sát lẫn bật đèn xanh cho hàng loạt dự án luật tăng cường phạm vi ảnh hưởng lẫn quyền lực của Bộ Công an trong hầu hết các vấn đề dân sự, xã hội, chính trị khác nhau. [2]

Bài viết này sẽ giới thiệu, phân tích các văn bản quy phạm pháp luật này, cũng như cách mà nó bổ sung cho quyền lực ngày một lớn của Bộ Công an.

  1. Luật Phòng thủ Dân sự 2023

Luật Phòng thủ Dân sự 2023 là văn bản luật được ban hành vào ngày 20/6/2023 và có hiệu lực vào ngày 01/7/2024. [3] Đây có thể nói là dự án luật liên quan đến an ninh quốc phòng cuối cùng trong giai đoạn ông Trọng còn tại vị.

Dù cái tên “phòng thủ dân sự” gợi ý cho chúng ta sự kết hợp giữa các nhóm cơ quan nhà nước là Bộ Quốc phòng cùng cơ quan dân sự như ủy ban nhân dân các cấp, Bộ Công an vẫn có một vai trò rất lớn trong luật ở nhiều khía cạnh.

Tính mới của văn bản: Hoàn toàn mới. Việt Nam chưa từng có văn bản riêng về vấn đề phòng thủ dân sự. Trước đây, vấn đề này được phân bổ rải rác trong các văn bản như Luật Đê điều 2006; Luật Phòng, chống thiên tai 2013; Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015; hay Luật Quốc phòng 2018.

Luật Phòng thủ dân sự, vì vậy, một phần pháp điển hóa, tổng hợp các quy định có sẵn từ các văn bản khác, nhưng quan trọng nhất là nó chuyên nghiệp hóa và tạo ra các định chế riêng, thủ tục riêng và quy cách riêng cho các vấn đề được cho là liên quan đến phòng thủ dân sự. Trong đó, về mặt chính sách và nhân sự, Bộ Công an có thể nói là được lợi nhiều nhất từ nỗ lực pháp điển hóa này.

Phạm vi điều chỉnh: Về mặt lý thuyết, Luật Phòng thủ Dân sự quy định về các biện pháp “phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh; phòng, chống, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa, thiên tai, dịch bệnh; bảo vệ Nhân dân, cơ quan, tổ chức và nền kinh tế quốc dân” (theo Điều 2).

Nói cách khác, đạo luật này đưa ra khung pháp lý cũng như trao thẩm quyền cho các cơ quan ban ngành nhằm dùng các công cụ khác nhau ứng phó với các sự cố hay thảm họa xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam.

Thẩm quyền bổ sung cho Bộ Công an: Thẩm quyền của Bộ Công an trong luật được tăng cường thông qua nhiều khía cạnh, mà trong tổng thể bài viết này, người viết tạm thời nhóm thành ba ý chính: (1) thẩm quyền về hoạch định, (2) thẩm quyền về ngân sách, và (3) thẩm quyền về nhân sự.

Về mặt thẩm quyền hoạch định và ngân sách, trong các Điều 5.2 (“xây dựng lực lượng chuyên trách về tổ chức và trang bị hiện đại, chuyên nghiệp; tăng cường trang bị, phương tiện lưỡng dụng cho lực lượng vũ trang…”) và Điều 17.1 (“Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành nội dung, chương trình đào tạo, huấn luyện phòng thủ dân sự cho lực lượng vũ trang”), chúng ta có thể thấy Bộ Công an được xếp chung với Bộ Quốc phòng trong thẩm quyền đào tạo, tăng cường phương tiện và xây dựng lực lượng chuyên nghiệp cho các hoạt động phòng thủ dân sự. Nói cách khác, ngân sách về đào tạo và trang thiết bị, thẩm quyền về chương trình đào tạo, tiếng nói trong chủ trương và chỉ đạo phòng vệ đều phải qua kênh quan trọng là Bộ Công an, chia sẻ thẩm quyền với Bộ Quốc phòng.

Đặc biệt hơn, Bộ Công an cũng được xếp chung với Bộ Quốc phòng khi nói về lực lượng vũ trang, tiếp tục củng cố quan điểm của Luật Quốc phòng 2018 về thẩm quyền sâu rộng ở cả khía cạnh trị an dân sự lẫn sử dụng vũ lực trong các tình huống cấp bách như sự cố hay thảm họa dẫn đến yêu cầu phòng thủ dân sự của siêu Bộ này. [4]

Về mặt thẩm quyền nhân sự, ở Điều 35 của luật, lực lượng phòng thủ dân sự nòng cốt của phòng thủ dân sự gồm dân quân tự vệ – dân phòng và lực lượng chuyên trách kiêm nhiệm của Quân đội Nhân dân hoặc Công an Nhân dân. Trong đó, lực lượng dân phòng trực thuộc quyền quản lý, điều động trực tiếp của công an địa phương (mà chúng ta sẽ tiếp tục nhắc đến ở các văn bản sau); trong khi Bộ Công an cũng được trao quyền thành lập định chế chuyên trách hoặc kiêm nhiệm cho mình. Điều này đồng nghĩa với lương, trợ cấp, biên chế đặc biệt được bổ sung cho nhân sự dưới quyền Bộ Công an.

  1. Luật Lực lượng tham gia bảo vệ An ninh, Trật tự ở cơ sở 2023

Luật Lực lượng tham gia bảo vệ An ninh, Trật tự ở cơ sở 2023 tiếp tục là một dự án luật tham vọng, với mong muốn pháp điển hóa và chính danh hóa sự tham gia của một bộ phận phần tử địa phương do công an xã quản lý trong việc thực thi các chính sách quản lý, kiểm tra, hay thậm chí đàn áp các cá thể, hội nhóm ở một khu vực cụ thể. [5] Được ban hành vào ngày 28/11/2023 và có hiệu lực vào ngày 01/7/2024, luật này chính thức thừa nhận và mở rộng thực hành “an ninh cơ sở”, dung hợp các nhóm như “bảo vệ dân phố”, “công an bán chuyên trách”, và từ đó biến họ thành lực lượng chân rết đông đảo nhất đại diện cho Bộ Công an tại các địa phương.

Tính mới của văn bản: Hoàn toàn mới. Trước đây, vấn đề an ninh trật tự địa phương có được quy định chủ yếu trong Pháp lệnh Công an xã năm 2008. Song điều thú vị là pháp lệnh này không ghi nhận cụ thể điều nào về “lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự”. Theo “truyền thống” của ngành, đây là một nhóm bán vũ trang dưới quyền của Bộ Công an được sáng tạo ra từ nhiều các văn bản nhỏ dưới luật, ban hành và kiểm soát bởi chính bộ này. Thông qua đạo luật, nhà nước chính thức thừa nhận vai trò thường được gọi là “bảo vệ dân phố”, và thẩm quyền sâu sát của lực lượng “dưới Bộ Công an” tại các thôn, làng, ấp…

Phạm vi điều chỉnh: Về mặt lý thuyết, văn bản luật ghi nhận các yếu tố về cấu trúc, vai trò – nhiệm vụ, cơ cấu nhân sự, cơ chế quản lý, ngân sách dành cho lực lượng an ninh cơ sở. Văn bản không giấu giếm khả năng điều động và sử dụng lực lượng đông đảo này của Bộ Công an trong rất nhiều hoạt động trị an tùy chọn khác nhau.

Thẩm quyền bổ sung cho Bộ Công an: Tương tự như trên, chúng ta có thể hiểu sự cơi nới thẩm quyền của Bộ Công an với luật lực lượng an ninh cơ sở qua ba khía cạnh: (1) thẩm quyền về hoạch định (2) thẩm quyền về ngân sách; và (3) thẩm quyền về nhân sự.

Về mặt thẩm quyền hoạch định, Bộ Công an, thông qua công an cấp xã, sẽ là cơ quan đầu não trong việc đào tạo, giáo dục lực lượng cơ sở (Điều 18). Ngoài ra, họ cũng là cơ quan có quyền phân công, huy động lực lượng an ninh cơ sở khi cần “nắm bắt tình hình an ninh” (Điều 7); “hỗ trợ công tác phòng cháy chữa cháy” (Điều 9); “kiểm tra nhân khẩu, tạm trú, tạm vắng…” (Điều 10); giám sát và quản lý các đối tượng đang sinh sống tại cơ sở, dù là người bị cấm khỏi nơi cư trú, đã chấp hành hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích, đang trong thời gian thử thách, hay các trường hợp khác (Điều 11).

Một số quy định như Điều 7 và Điều 11 là rất đáng bận tâm. Dù trước nay việc dùng tiền thân của lực lượng này để theo dõi, đe dọa, giam cầm tại gia… các đối tượng bị xem là nguy hiểm về chính trị, có tiền án tiền sự… là không mới, đây là lần đầu tiên có một văn bản cấp độ luật công nhận hoạt động này.

Về mặt nhân sự, Bộ Công an, thông qua công an xã, tiếp tục có thẩm quyền khuynh đảo trong việc xây dựng lực lượng an ninh cơ sở.

Không những luật không giải tán “bảo vệ dân phố”, “công an bán chuyên”, “dân phòng” trước kia, các nhóm này đơn giản được hợp nhất và “kiện toàn” thành lực lượng mới với danh nghĩa “Tổ viên tổ an ninh trật tự”. Về mặt số lượng tổ viên, tuyển dụng tổ viên, lực lượng công an xã và các cấp công an cao hơn có quyền chủ động “tham mưu” và “xây dựng” phương án để chính quyền địa phương làm theo. Nói cách khác, họ cũng là nhóm quyết định thực tế về mặt số lượng tổ viên tổ an ninh trật tự và quy trình tuyển chọn diễn ra như thế nào. Điều này được thể hiện rõ nhất ở Điều 15.4 của luật, ghi rằng “Bộ trưởng Bộ Công an quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục tuyển chọn Tổ viên Tổ bảo vệ an ninh, trật tự”.

Về mặt ngân sách, lực lượng bảo vệ an ninh, trật tự cơ sở vừa tạo ra nguồn ngân sách cho Bộ Công an (Điều 25), vừa nhận thêm ngân sách từ chính quyền dân sự địa phương (Điều 26).

  1. Luật Cảnh sát Cơ động 2022

Luật Cảnh sát cơ động 2022 được ban hành vào ngày 14/6/2022, và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2023. [6] Đây là văn bản đầu tiên trong các văn bản chúng ta đã nhắc tới mà các nhóm quy phạm không sáng tạo ra thẩm quyền và không gian hoạt động mới cho Bộ Công an. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng đạo luật không ghi nhận thêm nhiều lợi ích, mở rộng thêm quyền hạn có sẵn, và từ đó bổ trợ thêm nhiều công cụ cho siêu Bộ Công an tại Việt Nam.

Tính mới của văn bản: Không hoàn toàn mới. Luật Cảnh sát cơ động là sản phẩm nâng cấp có tính kế thừa từ Pháp lệnh Cảnh sát cơ động 2013.

Phạm vi điều chỉnh: Xét tổng quát, Luật Cảnh sát cơ động làm rõ các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, và hoạt động của lực lượng cảnh sát cơ động và đồng thời làm rõ chế độ – chính sách lương bổng, ngân sách và các phúc lợi khác cho lực lượng này.

Thẩm quyền bổ sung cho Bộ Công an: Dù không sáng tạo như các văn bản ở trên, điều này không có nghĩa là Luật Cảnh sát Cơ động không nâng quyền hạn, lợi ích dành cho lực lượng cảnh sát cơ động – một trong những nhánh có khả năng biểu dương uy quyền nhất của Bộ Công an. Và để nhận thấy điều này, chúng ta cần xoáy sâu vào các chi tiết và điều khoản nhỏ lẻ.

Ví dụ, tại Điều 4, đạo luật bổ sung thêm một khoản chưa từng có trong pháp lệnh trước đó, ghi nhận chủ trương quản lý đối với lực lượng cảnh sát cơ động là “bảo đảm sự chỉ đạo, chỉ huy tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương”. Khoản 5 này có thể được diễn giải theo nhiều hướng, nhưng với các điều khoản đi kèm bên dưới, có thể khẳng định đây là xu hướng tách lực lượng cảnh sát cơ động ra khỏi các định chế chính trị tỉnh thành (ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân), và đặt họ trực tiếp dưới quyền Bộ Công an.

Quan sát này có thể nói được biểu hiện rõ nhất tại Điều 12 về vấn đề “tuần tra, kiểm sát bảo đảm an ninh trật tự”. Đây cũng là một điều hoàn toàn mới so với Pháp lệnh Cảnh sát Cơ động, mở rộng không gian hoạt động của lực lượng này ngay cả trong trường hợp không có bạo loạn hay những vấn đề trị an nghiêm trọng khác. Khoản 4 của Điều 12 luật hóa khả năng dừng, kiểm tra, lục soát người, phương tiện, đồ vật, tài liệu với độ bao quát gần như không giới hạn. Điều đáng nói hơn là, việc tuần tra, kiểm soát để bảo đảm an ninh trật tự ra sao sẽ không được quản lý bởi chính quyền địa phương, dù là lực lượng cảnh sát cơ động địa phương, mà do “Bộ trưởng Bộ Công an quy định quy trình hoạt động tuần tra, kiểm soát của Cảnh sát Cơ động” (Khoản 5 Điều 12).

Cơ chế bảo vệ dành cho “cán bộ, chiến sĩ cảnh sát cơ động” cũng được tăng cường. Tại Điều 8 về các hành vi bị nghiêm cấm, Khoản 1 của điều này không chỉ cấm hành vi “chống đối, cản trở” công vụ (như pháp lệnh cũ), mà còn nghiêm cấm việc “trả thù, đe dọa, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cán bộ, chiến sĩ cảnh sát cơ động, cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia phối hợp, cộng tác, hỗ trợ, giúp đỡ cảnh sát cơ động trong thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ”.

Cuối cùng, luật cũng bổ sung thêm “trách nhiệm” của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân cấp tỉnh, ngoài việc “quy hoạch quỹ đất phù hợp để xây dựng trụ sở đóng quân, thao trường huấn luyện” còn bao gồm “hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất khác”, lẫn “ưu tiên thực hiện chính sách về nhà ở xã hội cho cán bộ, chiến sĩ cảnh sát cơ động theo quy định của pháp luật” (Điều 30).

Những quy định trên rõ ràng củng cố quyền lợi của Bộ Công an cả về mặt hoạch định, nhân sự, lẫn tài chính.

  1. Luật An ninh mạng 2018

Luật An ninh mạng 2018 là một sản phẩm pháp lý gây tranh cãi dữ dội trong nước lẫn trên trường quốc tế. [7] Nó cũng là bước đệm lớn nhất cho việc mở rộng quyền lực của Bộ Công an sang môi trường công nghệ cao và không gian mạng. Được ban hành vào ngày 12/6/2018 và có hiệu lực vào ngày 01/01/2019, đây có thể được xem là văn bản luật có tầm ảnh hưởng quan trọng nhất đối với sự phát triển và trần giới hạn của không gian mạng Việt Nam trong tương lai, mà theo đó, vai trò của Bộ Công an ở tất cả các khía cạnh hoạch định chính sách, nhân sự, và ngân sách là hoàn toàn vượt trội.

Tính mới của văn bản: Hoàn toàn mới. Luật An ninh mạng khác biệt với hầu hết các quy định pháp lý trước đó về không gian mạng. Nó tạo ra thẩm quyền mới, và định chế mới, và từ đó là những tác động mới cho xã hội Việt Nam.

Phạm vi điều chỉnh: Xét tổng quát, Luật An ninh mạng được đặt ra nhằm “bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng”, đi kèm theo đó là các vấn đề về tổ chức và quản lý nhà nước.

Thẩm quyền bổ sung cho Bộ Công an: Trước khi nói về tình trạng “cường hóa” Bộ Công an, cần công nhận rằng trong môi trường hiện nay, Luật An ninh mạng có đưa ra một số giải pháp để đảm bảo sự ổn định của hệ thống hạ tầng thông tin cũng như sẵn sàng cho các cuộc tấn công kỹ thuật mạng có khả năng làm tê liệt nhiều hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia. Tuy nhiên, văn bản luật cũng trao quá nhiều thẩm quyền cho Bộ Công an so với tất cả các cơ quan khác (kể cả Bộ Quốc phòng).

Trước tiên, bàn về thẩm quyền hoạch định, Bộ Công an trở thành cơ quan quản lý thực tế về an ninh mạng.

Ví dụ, tại Điều 10, khi nói về thẩm định, đánh giá, kiểm tra, khắc phục sự cố của hệ thống thông tin, Khoản 4 cho biết Chính phủ sẽ quy định về việc phối hợp giữa các bộ, ban ngành. Song điều này được làm rõ trong Nghị định 53/2022/NĐ-CP, cho thấy Bộ Công an sẽ là cơ quan gửi yêu cầu, đề nghị, và tham gia chủ trì toàn bộ và tất cả các quy trình liên quan. [8]

Thẩm quyền về hoạch định chính sách cũng được ghi nhận rõ ràng hơn ở Điều 7 của luật, với việc “Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp thực hiện hợp tác quốc tế về an ninh mạng”. Thẩm quyền duy nhất lọt khỏi tay Bộ Công an là vấn đề hợp tác quốc tế có liên quan trực tiếp đến quốc phòng.

Cuối cùng, liên quan đến mọi hoạt động phòng ngừa, xử lý thông tin; phòng ngừa gián điệp mạng; phòng chống tấn công mạng, khủng bố mạng; ứng phó với tình huống nguy hiểm về an ninh mạng… được quy định tại Chương III (từ Điều 16 cho đến Điều 22), Bộ Công an cũng là đầu mối duy nhất.

Điều này cũng dẫn đến thực tế pháp lý quan trọng nhất, ghi nhận tại Điều 36 của luật, là Bộ Công an có thẩm quyền soạn dự thảo luật và đề xuất chính sách chủ trương chung đối với vấn đề an ninh mạng nói chung, cho mọi vấn đề, trừ khi đó là phạm vi thẩm quyền hạn chế của Bộ Quốc Phòng.

Với thẩm quyền bao trùm hoàn toàn, không khó để tưởng tượng rằng lực lượng quản lý của ngành này cũng sẽ do Bộ Công an xây dựng, đào tạo, và bổ sung ngân sách cho việc duy trì hoạt động. Từ đó, chúng ta có Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc Bộ Công an.

Với những dẫn chứng pháp lý rõ ràng trên, không khó để khẳng định thẩm quyền gần như tuyệt đối của Bộ Công an trong lĩnh vực an ninh mạng, dù rất nhiều nội dung trong số đó có thể được chia sẻ cho cơ quan có chuyên môn kỹ thuật và phù hợp về mặt logic hơn như Bộ Thông tin và Truyền thông.

Di sản của một nhà lãnh đạo là một điều rất khó để đánh giá, với nhiều cách tiếp cận và nhiều thông tin để khai thác, biện dẫn. Có người thích nói về văn hóa, có người thích bàn về giọng nói, có người lại khen ngợi sự giản dị, gần gũi.

Tuy nhiên, dưới góc độ pháp luật, di sản lập pháp có lẽ là điều quan trọng nhất. Nhà lãnh đạo đã ủng hộ con đường lập pháp nào và đã có dấu ấn bằng những văn bản nào là một phương tiện dễ dàng hơn để đánh giá “di sản”, vì “di sản” chỉ có ý nghĩa khi nó là thứ mà người đời sau có thể thật sự vận dụng cho tương lai của mình.

Nhìn vào cách mà quyền năng pháp lý của Bộ Công an được thổi phồng trong giai đoạn ông Nguyễn Phú Trọng nắm quyền, có lẽ giới luật sư và những người nhà nghiên cứu pháp luật đều phải lắc đầu ngao ngán. (LKTC)


 

Tình Nghĩa, Nghĩa Tình – Khôi An.

U 70 LVC.

Kimtrong Lam  ·   ·

Khôi An.

Lần đầu tiên tôi có ý định viết chuyện này là năm 1989. Năm đó, cả nước Mỹ xôn xao tranh cãi về việc một người đàn ông đã đốt lá cờ Mỹ ngay trên thềm toà nhà Quốc Hội trong buổi họp thường niên cuả đảng Cộng Hòa. Lúc đó tôi đã nghe nhiều bàn tán về sự kiện này từ phía chống đối cũng như phe ủng hộ. Ngày đó tôi vưà mới tốt nghiệp đại học, chưa để ý nhiều đến những sinh hoạt chính trị xã hội ở chung quanh, nhưng trong lòng tôi đột nhiên dâng lên một cảm xúc gần như là tiếc cho người đàn ông đã làm hành động đó. Nếu ông ta từng nhìn lá cờ Mỹ qua đôi mắt của tôi và của hơn một trăm người bạn đồng thuyền vaò buổi sáng muà hè năm ấy, không biết ông ta có hành động khác đi chăng”

Đêm trung tuần tháng 7 năm 1983 bắt đầu khá êm ả. Con thuyền nhỏ đầy kín người đã ra hải phận quốc tế được gần 24 tiếng. Tôi đã hơi quen với mùi hôi tanh lợm giọng trong thuyền nên cảm thấy hơi tỉnh táo, ngồi bó gối nhìn cô em gái nằm bên cạnh đang mê man vì say sóng. Ngước mắt nhìn lên bầu trời đang chuyển dần từ màu xám sang màu đen thẫm, tôi thầm cầu nguyện cho được bình an.

Cám ơn trời, biển khá êm, con tàu không vật vã mà chỉ chồm lên hụp xuống theo từng đợt sóng. Tiếng khóc cuả con nít, tiếng càu nhàu than thở, tiếng chửi thề cũng lắng dần khi mọi người chìm vào giấc ngủ mệt mỏi…

Hình như tôi có thiếp đi một lúc vì khi tôi giật mình chòang dậy thì sự hoảng sợ đã chụp xuống chung quanh. Bác tài công đang hối hả kêu mấy người lái phụ và các thanh niên khác dùng bạt bịt kín khoang thuyền nơi mọi người đang nằm chen chúc. Chiếc đèn măng xông duy nhất trong phòng máy bị thổi tắt phụt sau khi bác tài công ra lệnh:

– Tắt đèn! Tắt hết đèn đi!!!

Lắng nghe những lời thì thào trao đổi một lúc tôi mới hiểu ra rằng tàu chúng tôi đang bị tàu cuớp Thái Lan đuổi bắt. Chúng tôi phải tắt hết đèn chạy xuyên vào biển đen trong khi tàu Thái ra sức rượt theo. Cả tàu đuợc lệnh tuyệt đối im lặng, những đứa bé vưà lên tiếng khóc phải bị bịt miệng ngay. Không biết lúc đó tôi còn trẻ quá, dại dột quá, có nhiều tin tưởng quá, hay vì cảm xúc cuả tôi đã tê dại đi, nên tôi không thấy sợ hãi lắm. Tôi gần như không cảm được sự hãi hùng của hơn một trăm sinh mạng đang loi ngoi trong khoang thuyền bịt kín. Tôi chỉ thấy khó thở vô cùng; tôi chỉ thấy nhẹ gánh cho em tôi đang mê man, chắc nó không phải cảm thấy sự ngộp thở tưởng chừng như không kham nổi mà tôi đang chịu; tôi chỉ biết tự nhủ ráng lên, ráng lên; và tôi không ngừng cầu xin Thượng Đế, Chúa, Phật, và tất cả những đấng thiêng liêng cứu vớt chúng tôi…

Chúng tôi chạy vòng vèo ngay truớc mũi tử thần trong suốt một đêm, và bình minh tới dù không ai mong đợị. Những tia sáng đã quét đi màn đêm đang che chở chúng tôi. Bác tài công buông những câu chửi thề uất hận khi khoảng cách giữa bọn cướp và chúng tôi thu ngắn trong khoảnh khắc… Rồi tôi lại nghe bác lại chửi, nhưng lần này đượm vẻ ngạc nhiên pha chút vui mừng:

– ĐM, hình như tụi nó bỏ đi hả bây”

Tấm bạt bịt khoang được hé ra cho chúng tôi khỏi chết ngộp, và qua cái khe hở nhỏ đó, một con cá nhỏ xíu bằng ngón tay cái đã phóng vào thuyền, rơi xuống ngay cạnh tôi. Tôi ngước mắt cố nhìn nhưng vì đang ngồi bẹp trong khoang thuyền nên tôi chẳng thấy được gì ngoài một mảng trời đang sáng dần.

Bỗng bác tài công và những người trong phòng máy trên cao vụt la lớn:

– Có tàu! Có tàu lớn ở đàng xa kià!

– Tàu gì vậy” Vái trời cho không phải tàu Liên Xô!

Chúng tôi như đuợc hồi sinh, ai cũng nhỏm lên nhìn nhưng vì lúc đó chiếc tàu kia chỉ là một đốm nhỏ ở xa nên tôi chưa thấy gì cả. Vài phút sau, có tiếng máy rồi một chiếc máy bay trực thăng nhỏ bay qua. Người trong thuyền la hét như điên cuồng, nhiều người đàn ông cởi áo phất lia lịa nhưng máy bay chỉ lượn vài vòng rồi… mất hút. Dù sao chúng tôi cũng có một tia hy vọng ở chân trời, chúng tôi vội nhắm cái chấm ở tít đằng xa mà chạy tới. Và chiếc tàu kia hình như cũng đang chạy về phía chúng tôi vì nó càng ngày càng lớn dần.

Và, suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên giây phút đó, giây phút người đàn ông ngồi trên cao la lạc giọng:

– Thấy rồi! Thấy cờ Mỹ rồi!!!

Nước mắt ông ràn rụa trên khuôn mặt khắc khổ lấm lem dầu máy. Mọi người đứng bật lên làm thuyền chao mạnh. Chúng tôi đã thật sự được sống!

Chiếc tàu vớt chúng tôi là một hàng không mẫu hạm của Mỹ. Nó to như một toà nhà mười mấy tầng, những người lính đầu tiên phải leo thang dây xuống để đem con nít và những người yếu sức lên trước. Em tôi đã tỉnh dậy như một phép lạ và chúng tôi bám vào thang dây, dò từng bước leo lên boong tàu. Vưà lên tới nơi, mỗi người được trao một ly sữa và một trái táo trước khi tụ tập trong một góc boong. Và ngạc nhiên thay, trên tàu đã có cả trăm người Việt Nam chạy ra mừng chúng tôi. Thì ra chiếc tàu Mỹ này vừa mới vớt một thuyền vượt biên khác ngày hôm trước. Sau khi mọi người đã lên tàu lớn, những người lính Mỹ tưới xăng lên chiếc thuyền mà chúng tôi vưà rời khỏi rồi châm lưả đốt. Đứng trên boong tàu nhìn vói theo chiếc thuyền nhỏ xíu đang bốc cháy và trôi dần ra xa, biết rằng mình vô cùng may mắn, nhưng lòng tôi vẫn thoáng chút ngậm ngùi…

Tổng cộng thuyền nhân được cứu từ hai chiếc ghe vượt biên lên tới gần hai trăm năm mươi người. Hồi đó, tiếng Anh cuả tôi kém và tính tình nhút nhát nên không dám hỏi han những người lính ở trên tàu. Tôi chỉ nghe nói lại là chiếc hàng không mẫu hạm này đang trên đuờng đi công tác ở Phi Luật Tân. Họ đã nhìn thấy tàu chúng tôi từ rất xa và quyết định đi chếch qua để cứu chúng tôi. Chiếc trực thăng bay qua trước khi tàu đến cũng là do vị thuyền trưởng đã gởi tới để xem xét tình trạng của chúng tôi.

Không hiểu vì sao mà trên tàu có sẵn một số quần áo cũ. Chúng tôi được phép lựa những thứ tạm mặc được để thay đổi hàng ngàỵ. Khổ nỗi đống quần áo đã qua sự lựa chọn cuả những người lên trước nên chỉ còn toàn những thứ khó mặc. Tôi nhặt đại hai cái áo to bằng bốn lần khổ người tôi, và một bộ áo liền quần màu xanh bó sát. Chẳng hề gì, tôi vẫn vô cùng sung sướng vì ước mơ gần như hoang đường nay đã thành sự thật: tôi đã trốn thoát khỏi Việt Nam và đang ở trên tàu Mỹ.

Ngày đó tôi vưà học xong trung học. Sau 8 năm đói khổ sau bức màn sắt cuả Cộng Sản, thế hệ chúng tôi hầu như quên mất có một thế giới bên ngoài. Trong những ngày trên tàu Mỹ tôi đã gặp lại những hành động lịch sự, những cử chỉ nhân ái gần như đã biến mất trong xã hội nơi tôi vừa ra đi. Những ân nhân của chúng tôi ân cần đến từng chi tiết nhỏ, một trong những việc đầu tiên họ làm là phát phong bì, giấy bút cho chúng tôi viết thư báo tin cho người thân. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ chiếc phong bì màu xanh nhạt có hình chiếc hàng không mẫu hạm và tên tàu ở góc, tôi vẫn còn nhớ ánh mắt thương cảm của những người trên tàu nhìn chúng tôi nhếch nhác, bơ phờ dò từng bước lên tàu.

Suốt thời gian trên tàu tôi vô cùng ái ngại cho những ngưòi lính và những sĩ quan đã tốn không biết bao nhiêu công sức để lo cho hơn hai trăm người chúng tôi. Vì hàng không mẫu hạm là đơn vị quân sự nên chúng tôi không được phép ra khỏi phần cuối boong tàu. Mỗi người được phát một tấm chăn dạ màu xám, loại chăn nhà binh Mỹ mà tôi đã thấy trước năm 1975. Chăn rất tốt và khí hậu Thái Bình Dương vào muà hè khá ấm nhưng chúng tôi phải nằm ngay trên boong và gió thổi lồng lộng khi tàu chạy nhanh nên ban đêm vẫn lạnh. Tôi ngủ được rất ít nhưng chính vì thế tôi càng có cơ hội chứng kiến sự tận tâm cuả những người trên tàu. Sáng sớm tôi vưà thức dậy đã thấy người ta đang lăng xăng dọn thức ăn sáng cho chúng tôi. Mất mấy tiếng mới phục vụ hết đám người đông đúc nên chỉ vài tiếng sau là họ lại lục tục lo bữa ăn trưa, rồi ăn tối. Thức ăn quá lạ miệng nên tôi không thấy ngon, ngay cả trái chuối cũng khác ở Việt Nam, nhưng tôi nhớ nhất là ly cà phê đầu tiên trên tàu. Đã từng nếm những ly cà phê đen sánh quậy với sữa đặc ở Việt Nam, tôi ngạc nhiên lắm khi ngậm ngụm cà phê Mỹ pha sẵn. Thật tình, cà phê sao chua lè và trong veo, y như là nước giảo của cà phê Việt Nam!

Vấn đề vệ sinh cho hơn hai trăm người chen chúc trong khoảng không gian nhỏ mới thật là kinh khủng. Thuỷ thủ đòan phải dùng nylon đen che thành mấy phòng tắm quay mặt ra biển, nhà vệ sinh cũng là nylon đen quây quanh mấy thùng sắt to. Mỗi sáng nhân viên trên tàu cùng chúng tôi dọn dẹp, và tôi không thấy người nào tỏ thái độ khó chịu cho dù trong khi làm những việc cực nhọc nhất.

Mấy ngày ngắn ngủi trên tàu mãi mãi là một trong những kỷ niệm khó quên nhất trong đời tôi. Trên chiếc hàng không mẫu hạm hùng vĩ đó, tôi đã được xem cảnh tàu chở xăng xáp vào tiếp nhiên liệu cho tàu lớn ngay trên biển, đã được chứng kiến những sinh hoạt hàng ngày quy củ răm rắp như một trong guồng máy nhưng được thực hiện bởi hải đoàn đầy ắp tình người. Tôi nhớ nhân viên trên tàu ngoài nhiệm vụ riêng họ còn phải chăm sóc đủ thứ cho chúng tôi, và phải lo rất nhiều giấy tờ cho thủ tục gởi chúng tôi vào trại tị nạn Thái Lan. Bận rộn vậy nhưng không khí trên tàu luôn ấm cúng và thân tình. Tôi vẫn nhớ lễ chào cờ mỗi sáng, đám người tị nạn đứng sát bên thuỷ thủ đoàn cùng lắng nghe quốc ca Hoa Kỳ vang vọng. Tôi vẫn mường tượng được cảm giác bàng Hòang khi nhìn lá cờ Hoa Kỳ bay lồng lộng trên bầu trời xanh biếc cuả Thái Bình Dương mà tự nhủ không biết mình sẽ ra sao nếu chiếc tàu này đến trễ chỉ một vài tiếng trong buổi bình minh hôm trước…

Mỗi buổi chiều khi công việc đã xong, người trên tàu túa ra trò chuyện với chúng tôi. Từ vị sĩ quan trong đồng phục trắng toát tới anh thuỷ thủ trong đồng phục xanh, ai cũng ân cần vui vẻ. Họ đùa giỡn với con nít, trò chuyện với mọi nguời, cố lắng nghe những câu tiếng Anh vụng về cuả chúng tôi để tìm hiểu xem chúng tôi có cần thêm gì hay không. Để chúng tôi giải khuây, họ còn căng màn chiếu phim. Tôi nhớ mãi cuốn phim đó là phim Điệp viên 007 James Bond với tựa đề “For Your Eyes Only”. Giữa trời đêm lồng lộng ngàn ánh sao, trên con thuyền băng băng xuyên vào biển đen, những hình ảnh rực rỡ chớp tắt trên màn ảnh vĩ đại làm tôi mơ màng tưởng như mình đang trôi trong đêm hoa đăng thần thoại của một giấc mơ kỳ diệu.

. . .

Như thế đó, tôi đã may mắn gặp được cái đẹp đẽ nhất cuả nước Mỹ trước khi đặt chân tới đất nước này. Tôi đến Mỹ với vài đô la và mấy bộ quần áo tồi tàn nhưng gia tài cuả tôi là lòng cảm mến sâu xa với một miền đất giàu tình người, cùng với Hòai bão sẽ cố gắng sống cho xứng đáng với sự hy sinh cuả gia đình, với sự may mắn mà Thượng Đế đã nhờ những “sứ giả” trên tàu Mỹ đem đến cho chúng tôi.

Những bối rối vì ngôn ngữ, những trở ngại khi hội nhập đôi khi có làm tôi buồn nản, nhưng tôi thấy quay quắt nhất là những khi nhớ về Việt Nam. Những chuyện nhỏ nhặt như khi đi chợ Việt Nam, nhìn người ta xăm soi tìm cho được những trái tuyệt hảo nhất trong đám nhãn mọng tươi nhập cảng từ Á châu cũng làm tôi bùi ngùi. Tôi nghĩ đến những trái hơi có tì vết mà không ai thèm mua kia cũng có thể là hàng xuất khẩu từ Việt Nam, là tinh hoa chắt ra từ quê hương nghèo nàn của tôi, là loại hàng “xuất khẩu” mà người đi làm bình thường như cha mẹ tôi không bao giờ mua nổi.

Tuy thế, vấn đề lớn nhất tôi gặp phải trên đất Mỹ là một chuyện tôi chưa hề nghĩ tới: đó là tình cảm của tôi với nước Mỹ đã làm tôi hoang mang. Ngay từ nhỏ, những câu tục ngữ như “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà nghèo” đã thấm sâu vào lòng tôi. Cho dù tôi biết chắc rằng tôi không liều mạng vượt biển vì miếng cơm manh áo, tôi ra đi không phải vì tôi chê mẹ Việt Nam nghèo khó, nhưng trong trí óc cuả một thiếu nữ đang trưỏng thành một mình trên miền đất mới, tôi cảm thấy gần như… có lỗi khi thấy mình càng ngày càng quen với đời sống mới và thật sự yêu mến quê hương thứ hai này. Có lẽ cảm giác đó giống như đưá con nuôi cuả một gia đình giàu có, một ngày kia trở về quê cũ và cảm thấy băn khoăn khi bắt gặp mình ngập ngừng, xa lạ trước cha mẹ ruột nghèo nàn xấu xí.

Không hiểu may mắn hay không may cho tôi là khi chiến tranh Việt Nam đang diễn ra thì tôi còn nhỏ. Vì thế, trong lòng tôi không có cảm giác hụt hẫng và đau đớn của nhiều người lớn khi bị “đồng minh Mỹ bỏ rơi”. Khi tôi nghe vài ngưòi nói rằng nước Mỹ cưu mang chúng ta không phải vì họ tốt mà vì họ có trách nhiệm với người Việt, tôi hiểu tại sao họ nghĩ thế nhưng tôi không cảm được. Tôi kính trọng suy tư riêng cuả mỗi người, nhưng riêng tôi, tôi thấy cái tinh tuý cuả hiệp chủng quốc vượt khỏi những nhiệm kỳ tổng thống hay đảng phái. Tinh tuý đó đến từ những người dân Mỹ. Có lẽ tình cảm cuả tôi với nước Mỹ đã thành hình từ lúc nhìn con tàu mang lá cờ Mỹ lớn dần từ phía chân trời trên Thái Bình Dưong, từ khoảnh khắc thấy người lính Mỹ ôm chặt em bé nhớp nhúa ói mửa vào lòng để đem lên tàu, từ khi anh thủy thủ ân cần dùng con dao nhỏ cắt bớt chiếc dép cao su cho vừa chân tôi, từ hình ảnh người sĩ quan trong bộ đồng phục trắng toát đang xắn quần, gò lưng kéo dây ghìm cho thuyền nhỏ đứng yên để chúng tôi bước lên bờ biển Thái Lan, từ hình ảnh những người Mỹ đứng một hàng dài lưu luyến dõi theo đám thuyền nhân chúng tôi đang lục tục đi vào trại mà còn cố ngoái lại nhìn qua làn nước mắt.

Tôi tin rằng không phải vị thuyền trưởng nghĩ rằng người Mỹ có trách nhiệm với chúng tôi, hay vì sự may mắn khi con cá nhỏ nhảy vào tàu mà chúng tôi được vớt. Nước Mỹ có quyền không cho phép chiếc hàng không mẫu hạm đi chệch hải đồ để cứu người, giống như bao con tàu khác đã làm ngơ với những chuyến vượt biên kém may mắn. Hơn nữa, những gì không thật sẽ không tồn tại lâu bền, cho nên tình cảm ban đầu cuả tôi với nước Mỹ sẽ mất đi nếu tôi không càng ngày càng thấy Hoa Kỳ là một đất nước bao dung. Tôi không ngây thơ nghĩ rằng – hay mong rằng – nước Mỹ là Hòan hảo; nhưng với tôi nuớc Mỹ là một dòng sông mênh mông, đôi khi cũng đem theo rác dơ, đôi khi cũng dậy sóng nguy hiểm, nhưng dòng sông đó đã rộng lòng đem nước và phù sa đến cho những giống cây đến từ khắp nơi có cơ hội đơm trái ngọt.

Người sống lâu ngày trong bình an, sung sướng thường quên rằng mình may mắn. Người đàn ông đốt lá cờ Mỹ trên thềm nhà Quốc Hội chắc chỉ nhớ đến những rác rưởi trong dòng sông, chắc ông ta không hiểu rằng chỉ ở Hoa Kỳ ông ta mới dám chà đạp quốc kỳ ngay trước toà nhà lập pháp mà không sợ rằng mình sẽ “ra đi không có ngày về”. Ông ta chắc chắn không biết rằng lá cờ đó đã khiến hải tặc Thái Lan buông chúng tôi, đã quyết định giữa cuộc sống bình an ở Hoa Kỳ và cái chết – hay một cuộc sống nô lệ trên xứ Thái đau khổ hơn cả cái chết – cuả hơn một trăm người trên chiếc thuyền vượt biên vào một ngày hè năm 1983.

. . .

Thời gian trôi qua. Tôi đã lớn lên và đã hiểu ra rằng tôi không hề phải chọn lựa giữa quê hương thứ nhất Việt Nam và quê hưong thứ hai Hoa Kỳ. Tôi yêu mến đất nước Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã cưu mang tôi, cho cây tôi lớn lên thành một cây quýt ngọt, và đất nước này không hề phiền hà khi tôi đem chia xẻ trái ngọt đó với nơi tôi sinh ra. Tôi đâu phải là cá hồi mà phải chọn lựa giưã sông và biển” Tinh thần cuả nước Mỹ luôn khuyến khích mọi người góp sức làm thế giới tốt đẹp hơn và tôi sẽ làm như thế. Tôi sẽ cố gắng để bằng cách này hay cách khác, trao lại những may mắn và cơ hội mà tôi đã được trao. Hy vọng là tôi sẽ góp phần để một ngày nào đó người dân Việt Nam không còn phải tìm cách ra đi cho dù phải trả giá bằng tính mạng hay nhân phẩm

Tôi yêu Việt Nam đã sinh thành ra tôi và tôi yêu Hoa Kỳ đã dưỡng dục tôi. Đôi khi tôi tẩn mẩn phân tích tình cảm cuả mình: với Việt Nam là tình, với Hoa Kỳ là nghiã… Rồi tôi lại loay hoay tự hỏi có phải như vậy không, hay là ngược lại” Cuối cùng tôi bật cười, nghĩ mình thật là lẩn thẩn, bởi vì tình cảm đâu cần gì phân loại và đặt tên.

Khôi An.


 

Lê Đình Công & Lê Đình Chức-Tưởng Năng Tiến/SGN

Ba’o Nguoi-Viet

August 3, 2024

Tưởng Năng Tiến/SGN

Hồi đầu thế kỷ, có bữa, tôi nhận được thư của Vũ Thư Hiên. Ông hớn hở cho hay “Anh Tấn sắp sang Pháp chơi với anh vài tuần.” Thuở ấy, hai ông còn khá trẻ trung (và còn sung lắm) nên chắc chắn là đôi bạn già sẽ đi lung tung khắp Âu châu, chứ dễ gì mà chịu quanh quẩn ở Paris.

Mãi cả chục năm sau, sau khi nhà văn Bùi Ngọc Tấn lâm trọng bệnh, tôi mới nghe ông nhắc đến chuyến du hành thú vị này (với ít nhiều tiếc nuối) trong một cuộc phỏng vấn dành cho BBC – vào hôm 14 Tháng Mười Một năm 2014: “Sang châu Âu, tôi quan sát dáng người đi, nét mặt của họ khác dân mình lắm … Đi thì mới biết mình bị mất những gì.”

Giờ ạ! Tưởng gì? Chứ nếu “đi mới biết mình bị mất những gì” thì cần chi phải qua đến tận Âu châu làm chi (cha nội!) chỉ cần xẹt qua Cambodia cũng đủ “biết” là “họ khác dân mình lắm,” và khác “toàn tập” luôn.

“Trên đường phố mù bụi đỏ, những tủ đổi tiền, cỡ bằng tủ thuốc lá của ta, vẫn hoạt động bình thường, thong thả với hàng cọc tiền đủ từ mọi quốc gia chứa bên trong. Tiền bày ra đường, an nhiên, tự tại như vậy, ắt hẳn nạn trộm cướp ở đây không hề là nỗi ám ảnh thường xuyên của những ngân hàng đường phố kiểu này.

Dừng chân hỏi đường với một anh xe ôm đen sạm, phong sương bên đường bằng một thứ tiếng Miên bồi, tôi đã không khỏi ngạc nhiên và cảm động khi câu trả lời chỉ được thốt ra sau khi giở nón. Rõ ràng, người xe ôm này thuộc về một nền văn hóa lớn, mà những con người của nó đã học cách sống lễ độ và văn minh một cách rất tự nhiên.” (Lê Đình Phương. “Về Một Nền Du Lịch Lễ Độ.” Lang Thang Như Gió. Phụ Nữ: 2013).

Cho đến nay số người Việt có cơ hội “lang thang như gió” vẫn chưa nhiều nhặn gì cho lắm nên ít kẻ có cơ hội để so sánh, và nhận thức được về sự thua thiệt hay “mất mát” của mình. Phần lớn vẫn chấp nhận chuyện bị giựt đồ, bị thu phí thu thuế vô tội vạ, bị công an giao thông trấn lột, bị bắt đi bầu, bị công an phường mời lên làm việc (bất kể ngày giờ)… chỉ là những chuyện xui thôi. Cũng không mấy ai phiền hà chi, khi hỏi đường thì bị đòi tiền công (“10K”) chỉ dẫn.

Cho đến khi “đụng” phải sự mập mờ, lập lờ, gian giảo, lật lọng, tráo trở (trắng trợn) của Bộ Luật Đất Đai Thuộc Sở Hữu Toàn Dân thì “toàn dân” mới thực sự biết thế nào là “mất mát,” và mới có những phản ứng thích đáng, sau khi “bừng con mắt dậy thấy mình trắng tay.” Cái giá mà dân Việt phải trả cho sự phản kháng quyết liệt của họ, tất nhiên, không rẻ. Không ít người, Kinh cũng như Thượng, vẫn đang (hoặc đã) lãnh án tù.

(Hình: tác giả cung cấp)

Sự việc nổi cộm nhất liên quan đến chuyện tranh chấp đất đai, giữa Đảng và Dân, được mệnh danh là Vụ Án Đồng Tâm. Từ California, ký giả Nguyễn Tuyển (nhật báo Người Việt) tóm lược như sau:

Vào sáng sớm 9 Tháng Giêng, 2020, nhà cầm quyền CSVN đưa một lực lượng hùng hậu gồm một trung đoàn cảnh sát cơ động cùng các lực lượng công an khác tấn công xã Đồng Tâm. Dân làng cương quyết chống đối lại việc tịch thu khu đất thường được gọi là “cánh đồng Sênh” mà dân làng canh tác hàng chục năm. Họ có các văn kiện địa bạ chứng minh quyền sở hữu, canh tác trong khi nhà cầm quyền lấy cớ đó là đất “quốc phòng” nên đòi lại.

Các vụ tranh cãi, kiện tụng và cưỡng chế hụt cũng như chống cưỡng chế đất tại xã Đồng Tâm kéo dài suốt nhiều năm. Trước khi xảy ra vụ tấn công đầu năm ngoái, vào Tháng Tư, 2017, dư luận trong ngoài nước rúng động khi dân làng đã bắt giữ gần 40 cảnh sát cơ động, công an, viên chức huyện Mỹ Đức. Những người vừa kể chỉ được thả một tuần sau khi nhà cầm quyền cam kết giải quyết thỏa đáng, căn cứ theo đúng luật đất đai và quyền lợi của người dân.

Nhưng sau đó, nhà cầm quyền CSVN trở mặt, vẫn lập luận là dân địa phương chiếm cứ bất hợp pháp, đòi trả đất nhưng không lấy được, dẫn tới đàn áp.

Từ phiên xử sơ thẩm đến phúc thẩm, các nhân chứng quan trọng có mặt khi xảy ra vụ việc như bà vợ ông Kình, con dâu, cháu dâu cùng nhiều dân làng khác đã có lời yêu cầu triệu tập ra tòa làm chứng. Không những không cho triệu tập mà còn bị ngăn chặn từ xa, không cho đến gần tòa án.

Trước phiên xử phúc thẩm, các luật sư biện hộ đã gửi một đơn kiến nghị, yêu cầu thực nghiệm lại hiện trường để xem những cáo buộc qua lời khai của công an có đúng hay trái với sự thật. Tuy nhiên, họ đã bị tảng lờ. Nói chung, phiên tòa xử mang tính áp đặt, bất chấp luật lệ tố tụng hình sự của chính họ đặt ra…

Phiên tòa phúc thẩm tại Hà Nội chiều Thứ Ba, 9 Tháng Ba, với kết quả không làm mấy ai ngạc nhiên khi chủ tọa phiên xử phúc thẩm đọc bản án y án tử hình với hai anh em ông Lê Đình Công, Lê Đình Chức. Hai ông là con ông Lê Đình Kình, người bị công an CSVN giết chết khi xông vào nhà ông vào sáng sớm 9 Tháng Giêng, 2020. Con trai ông Công là Lê Đình Doanh bị y án chung thân…

Vào thời điểm trên tuy ông Tô Lâm đang giữ chức Bộ Trưởng Công An (lực lượng đã tấn công vào xã Đồng Tâm và hạ sát ông Lê Đình Kình) nhưng T.B.T kiêm C.T.N Nguyễn Phú Trọng mới là kẻ “chịu trách nhiệm trực tiếp và cao nhất trong vụ án kinh hoàng” này. Ông qua đời vào ngày 19 Tháng Bảy vừa qua (hoặc trước đó vài hôm) và để lại không ít eo sèo, cùng rất nhiều điều tiếng.

Bên cạnh những mỹ từ cố hữu (anh minh, đạo đức, vỹ đại, giản dị, liêm chính, hết lòng vì dân vì nước…) của mọi cơ quan truyền thông quốc doanh – đây đó – trên những trang Thông Tấn Xã Vỉa Hè là vô số những lời chỉ trích, phê bình, chê bai, chửi rủa, mạt sát: lạc hậu, bảo thủ, giáo điều, hèn nhát, tham quyền cố vị …

Giữa hai thái cực này là thái độ và ngôn từ trung dung, dễ được công luận tán đồng: hãy để lịch sử phán xét, nghĩa tử là nghĩa tận …

Ơ hay! Hai ông Lê Đình Công và Lê Đình Chức đã “tử” đâu (mà “tận” được) cả hai vẫn còn đang vật vờ – sống dở/chết dở – với hai bản án tử hình lơ lửng trong tù mà, đúng không?

(Hình: tác giả cung cấp)

Vào những giây phút cuối đời (khi vẫn còn thoi thóp thở) nếu Nguyễn Phú Trọng chợt nhận thức ra được việc làm tàn ác/bất nhân/thất đức của mình – chắc chắn – ông đã ký lệnh miễn tử cho Lê Đình Công và Lê Đình Chức. Thế là làm giảm nhẹ được phần nào tội nghiệt của mình, và cũng xóa luôn được cái bản án “tru di” một vết nhơ không nhỏ của loài người ở thế kỷ này.

Nguyễn Phú Trọng, tiếc thay, đã không “ngộ” ra được điều chi cho đến khi nhắm mắt/xuôi tay. Ông xứng đáng bị thế nhân nguyền rủa mà khỏi cần chờ đến thời gian hay lịch sử gì sất cả!

Nay thì mạng sống hai lương dân vô tội này đang trong tay của ông Tô Lâm. Nếu còn nhất điểm lương tâm – ông tân chủ tịch nước – cũng nên ký lệnh “ân xá” (và phóng thích tất cả những người dân Đồng Tâm đang bị cầm tù) dù hy vọng như thế thật rất mong manh. Người còn chút nhân tính đâu ai nhẫn tâm để “đớp” một miếng thịt bò dát vàng (trị giá “tương đương với tám tấn lúa khô”) trong khi suy dinh dưỡng vẫn là vấn nạn lớn đối với rất nhiều trẻ thơ, ở đất nước mình.


 

Sức mạnh của sự tha thứ-Mai Lâm/SGN

Ba’o Nguoi-Viet

Mai Lâm/SGN

Hơn tất cả, tha thứ là buông bỏ sự oán giận và đón nhận sự chữa lành. Đối với hầu hết mọi người, cơn giận giống như một gánh nặng hiện hữu thường trực cả ngày lẫn đêm trong cơ thể và tâm trí họ, nó khiến cuộc sống trở nên khó khăn, cả về thể chất lẫn tinh thần.

Sự tha thứ rõ ràng là con đường tiến về phía trước, nhưng vẫn có điều gì đó kìm hãm trong lòng.

Những lý do tuyệt vời để buông bỏ sự oán giận và việc chấp nhận chữa lành có thể làm cho cuộc sống của bạn, là gì?

Cơn giận chỉ làm bạn tổn thương

Thường thì chỉ có bạn chịu đựng nỗi đau vì bị tổn thương chứ người gây ra tổn thương không hề biết. Cơn giận nằm trong cơ thể và tâm trí của bạn, và thật không dễ dàng chút nào khi có một “cư dân” thường trú “bất hợp pháp” bên trong bạn.

Đức Phật nói hoàn toàn đúng: “Giữ cơn giận giống như ta uống thuốc độc và mong người kia chết.”

Vì vậy, trước hết bạn nên buông bỏ sự oán giận và chấp nhận chữa lành, bởi vì nó chỉ liên quan đến chính bản thân bạn.

Cơn giận không xác nhận hoặc bào chữa cho hành vi

Hầu hết chúng ta đều đồng ý rằng buông bỏ sự oán giận chỉ mang lại điều tốt. Nhưng bạn vẫn có thể cảm thấy một sự kháng cự bên trong, bởi vì bạn muốn giữ cảm giác rằng những gì đã xảy ra với bạn là sai, và sự tha thứ có vẻ như sẽ xác nhận hành vi đó. Nhưng không phải vậy. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng:

Tha thứ không có nghĩa là những gì người đó làm với bạn là đúng;
Tha thứ không có nghĩa là bạn quên những gì đã xảy ra;
Tha thứ không có nghĩa là làm lành với người đã làm tổn thương bạn;
Tha thứ không có nghĩa là giả vờ rằng người đó không làm tổn thương bạn;
Tha thứ không có nghĩa là kìm nén cảm xúc của bạn và không bao giờ nghĩ về chúng;
Tha thứ không có nghĩa là bạn yếu đuối, mà gược lại!

Tha thứ khiến bạn trở thành một người tử tế hơn

Nếu bạn không buông bỏ sự oán giận, bạn sẽ thấy mình có những suy nghĩ như bắt người kia “trả giá,” hay nói cách khác là bạn có tư tưởng trả thù, hoặc chí ít là mong muốn điều gì tệ sẽ xảy đến với người kia.

Nỗi đau khiến bạn hoàn toàn có lý, nhưng có lẽ bạn không muốn trở thành người đi khắp nơi với bản nhạc tệ hại trong tâm trí. Khi bạn tha thứ và đón nhận sự chữa lành, bạn có thể chuyển sang một bản nhạc nhẹ nhàng, thanh thoát hơn, bản nhạc của tình yêu và lòng trắc ẩn, thể hiện phiên bản tốt nhất của bạn.

Bạn không cần phải giới hạn bản thân

Ở trên, chúng ta đã nói đến suy nghĩ “trả thù.” Điều thứ hai là sự né tránh. Điều này có thể bao gồm việc từ bỏ việc đi dự tiệc, tham gia khóa học hoặc đăng bài trực tuyến vì bạn sợ họ có thể ở đó hoặc nhìn thấy. Việc muốn tránh tiếp xúc với người, làm tổn thương bạn là điều dễ hiểu. Nhưng hãy nghĩ về điều này: bạn có muốn để người đó thay đổi cách bạn muốn sống cuộc sống của mình không? Lý do bạn tránh họ là vì bạn sợ cảm giác của mình khi ở bên họ. Và sự thật là, lúc đầu có lẽ bạn sẽ cảm thấy rất khó chịu. Nhưng bạn không thể để những gì họ đã làm với bạn tiếp tục hạn chế bạn, tất cả chỉ vì một cảm giác. Sống cuộc sống theo cách của bạn quan trọng hơn nhiều và theo thời gian, bạn sẽ không còn cảm thấy khó chịu nữa.

Bạn lấy lại quyền kiểm soát hạnh phúc của mình

Khi bạn buông bỏ sự oán giận, bạn sẽ ngừng muốn trả thù và cũng ngừng tránh người đó. Nhưng để thực sự đón nhận sự chữa lành, bạn phải tiến xa hơn nữa.

Tiến Sĩ Bob Enright, nhà nghiên cứu về sự tha thứ, cho biết sự tha thứ thực sự có nghĩa là “trao tặng điều gì đó tích cực, sự đồng cảm, lòng trắc ẩn, sự hiểu biết cho người đã làm tổn thương bạn.”

Một nhà tâm lý học khác giải thích điều này là “xóa bỏ món nợ.”

Khi ai đó làm sai với mình, chúng ta cảm thấy như thể họ đã lấy đi thứ gì đó thuộc về mình – sự bình yên, niềm vui, hạnh phúc của mình – và giờ họ “nợ” mình. Khi chúng ta tha thứ, chúng ta chỉ đơn giản là xóa bỏ món nợ. Không còn là “bạn đã làm tổn thương tôi và bạn phải trả giá” nữa. Chúng ta không giả vờ rằng món nợ chưa từng tồn tại, chúng ta chỉ tha thứ. “Bạn không còn nợ tôi bất cứ điều gì nữa.”

Điều này thật tuyệt vời cho quá trình chữa lành của bạn vì bạn không còn phải chờ đợi người đó cho bạn thứ gì đó để được hạnh phúc trở lại.

Bạn lấy lại hạnh phúc của mình vào tay chính mình.

Bạn sẽ hạnh phúc hơn

Điều này nghe có vẻ khá hiển nhiên, nhưng lý do chính để buông bỏ sự oán giận và đón nhận sự chữa lành là nó khiến bạn hạnh phúc hơn. Nếu những gì chúng ta đã trải qua ở trên vẫn chưa đủ, thì có rất nhiều nghiên cứu chứng minh điều này.

Sự tha thứ mang đến cho bạn những mối quan hệ hạnh phúc hơn, giúp gia đình và những người tiếp cận với bạn hạnh phúc hơn. Đây quả là món lợi lớn.

Giảm trầm cảm và lo âu
Tăng lòng tự trọng
Mang đến cho bạn sức mạnh cảm xúc và sự lạc quan lớn hơn
Giúp bạn bớt buồn phiền vì căng thẳng trong cuộc sống.

Tha thứ sẽ cải thiện sức khỏe của bạn

Nếu sức khỏe của bạn quan trọng với bạn, thì đó là lý do lớn để buông bỏ sự oán giận.

Trước hết, nó giúp bạn giảm căng thẳng và giảm mức độ hormone căng thẳng cortisol gây ra căng thẳng và bệnh trầm cảm. Ngoài ra còn có những lợi ích tuyệt vời cho tim: hạ huyết áp và giảm nguy cơ mắc bệnh tim, giảm đau lưng mãn tính, thành công hơn trong việc vượt qua chứng nghiện và cảm giác tội lỗi, giảm hành vi thù địch, chức năng miễn dịch tốt hơn.

Bạn sống ở hiện tại, thay vì quá khứ

Thành thật mà nói: người khó tha thứ nhất có thể là chính bạn. Ngay cả khi bạn đang oán giận người khác, thì có thể là lúc bạn tức giận bản thân vì đã không tự đứng lên bảo vệ mình một cách đúng đắn, hoặc bạn xấu hổ vì điều gì đó mình đã làm, và cách họ cư xử khiến bạn cảm thấy về bản thân mình.

Nhưng bạn phải nhớ rằng: những sai lầm của bạn không định nghĩa bạn. Những bài học bạn học được từ đó mới quan trọng. Việc bạn đang đấu tranh với điều này cho thấy bạn quan tâm đến việc trở thành một người tốt. Và sự tha thứ sẽ chỉ giúp bạn làm được điều đó, vì nó khiến bạn có nhiều khả năng đưa ra những quyết định tốt hơn trong tương lai. Bạn sẽ ngừng lặp lại những sai lầm tương tự.

Bất kể bạn đang phải đối mặt với điều gì – có thể là cãi vã với đồng nghiệp, mối bất hòa dai dẳng với hàng xóm hoặc thậm chí là điều gì đó cực kỳ nghiêm trọng, khi có một câu chuyện về một người đã trải qua điều gì đó khủng khiếp và tha thứ cho người kia, điều đó thật đáng kinh ngạc và vô cùng đáng ngưỡng mộ, và bạn cũng có thể tìm thấy sự bình yên.

Chúng ta đã xem xét chín lý do thuyết phục để buông bỏ sự oán giận và đón nhận sự chữa lành. Và đây là phần quan trọng nhất.

Bạn có biết những chuyên gia Thiền dành hàng thập kỷ để thiền không? Vâng, bạn có thể nhận được những lợi ích về mặt cảm xúc giống như họ, và tất cả những gì bạn phải làm là tha thứ. Điều này được tìm thấy bởi một chương trình có tên là 40 Years of Zen. Chương trình đã đo sóng alpha trong quá trình thiền và phát hiện ra rằng việc ôm giữ mối hận thù là yếu tố lớn nhất kìm hãm những sóng đó. Ngay cả những người có ít kinh nghiệm thiền cũng có thể đạt được trạng thái não alpha sau khi họ tha thứ. Đó một con đường tắt đến với sự bình yên nội tâm!

Có thể mất một thời gian, nhưng giống như mọi thứ khác, bạn có thể làm tốt hơn khi bạn nỗ lực nhiều hơn.

(theo Hack Spirit)


 

TTKh. và những khám phá về thân thế tác giả-Lưu An-Vũ Ngọc Ruẩn/SGN

Ba’o Nguoi-Viet

August 2, 2024

Lưu An-Vũ Ngọc Ruẩn/SGN

Ðã gần bảy thập niên, kể từ khi bốn bài thơ độc đáo của TTKh được phổ biến trên hai tạp chí Tiểu Thuyết Thứ Bẩy và Phụ Nữ Thời Đàm ở Hà Nội. Giới văn chương, báo chí cũng như những người yêu thích thơ văn tiền chiến đã tốn khá nhiều bút mực, công lao để tìm hiểu về thân thế và con người thật ngoài đời của bà, nhưng đến nay vẫn còn nhiều mù mờ!

Gần đây đã có vài khám phá đáng mừng, dù vậy văn học sử vẫn còn cần thời gian để kiểm chứng mức độ chính xác của nó.

Trong suốt thời gian dài vừa qua, biết bao nhiêu những dữ kiện được thêu dệt rất lãng mạn liên quan đến tác giả bởi những người yêu thơ của bà cũng như những nhà làm văn nghệ… Vài người còn tưởng tượng hay đưa ra những chứng minh tự nhận mình là người yêu của bà.

Trong bài này, chúng tôi thu gom một số tài liệu từ xưa đến nay viết về TTKh cũng như đề cập đến nguyên nhân mà những bài thơ của bà đã được xuất hiện trên thi đàn. Ðây cũng chỉ là công việc sắp xếp những tài liệu đó cho có thứ tự với hy vọng cung ứng một vài kiến thức cho những người thích thơ văn tiền chiến và nhất là thơ của TTKh mà thôi.

1.Sự xuất hiện TTKh. trên thi đàn tiền chiến

Vào khoảng giữa năm 1937, trên tạp chí Tiểu Thuyết Thứ Bẩy xuất bản ở Hà Nội có đăng một truyện ngắn ”Hoa Ti-gôn” của ký giả Thanh Châu. Ðây là một truyện khá bi đát, trong đó mô tả truyện tình của một họa sĩ trẻ vừa ra trường tên Lê Chất. Trong một lần đạp xe đi tìm phong cảnh để vẽ ở một làng quê ven Hà Nội, ngẫu nhiên khi đi qua một căn biệt thự cổ Lê Chất nhìn thấy một cô gái rất đẹp, mặc áo ngắn tay bằng lụa đang đứng trên chiếc ghế cao níu lấy một cành hoa ti gôn mầu đỏ.

Sắc đẹp của người thiếu nữ nổi trội lên giữa giàn hoa ti gôn đỏ đã làm cho người hoạ sĩ mẩn mê đứng nhìn… Rồi từ hôm đó, ngày nào anh ta cũng tìm cách quanh quẩn gần căn biệt thự để được nhìn cô gái và ngược lại cô gái cũng thấy anh ta. Nhưng chỉ được vài lần, rồi không biết lý do gì người con gái không còn xuất hiện nữa.

Thời gian qua đi, mang thành công và danh vọng đến cho người hoạ sĩ, nhưng anh ta vẫn không bao giờ quên hình bóng người con gái đẹp dưới giàn hoa tigôn mầu đỏ mà anh ta đã gặp gỡ ngày còn nghèo khổ xa xưa .

Rồi ngẫu nhiên, chín năm sau, trong lần đi tìm đề tài sáng tác ở miền Nam Trung Quốc, anh ta được mời tham dự buổi dạ vũ trong toà lãnh sự Pháp tại Vân Nam. Lê Chất gặp lại cô con gái ngày xưa, nhưng trong nhiều oái oăm, muộn màng. Chồng của cô gái là một viên chức cao cấp của toà lãnh sự, người chồng mà cô ta không hề yêu thương. Trong lần tái ngộ đó, họ khiêu vũ, tâm sự với nhau, và tiếp theo mối tình của họ được tiếp nối trong vụng trộm. Ðến một lần, họ dự tính bỏ lại đằng sau tất cả để tìm cách trốn đi Nhật sinh sống với nhau.

Nhưng đến giây phút cuối, người thiếu phụ gửi cho chàng họa sĩ một lá thư, kèm một chùm hoa tigôn mầu đỏ máu, nàng từ chối ra đi vì không đủ can đảm từ bỏ danh dự và tai tiếng của gia đình cũng như sự khinh bỉ của gia đình chồng.

Buồn đau vì ý định không thành, người họa sĩ vẫn ra đi Nhật Bản một mình trước khi trở về Hà Nội. Rồi, ngẫu nhiên, bốn năm sau, anh ta nhận được lá thư từ người chồng của cô gái báo tin nàng đã mất! Lê Chất sang Vân Nam viếng mộ người xưa với một chùm dây hoa tigôn, loại hoa kỷ niệm mối tình của họ. Cũng từ đó cho đến suốt cuộc đời, cứ vào mua hoa tigôn nở, Lê Chất không bao giờ quên mua những chùm hoa tigôn để trang hoàng trong phòng làm việc như để tưởng nhớ đến người yêu xa xưa vắn số của mình .

Mấy ngày sau khi câu truyện ngắn trữ tình đó xuất hiện trên báo, có một thiếu phụ khoảng 20 tuổi, dáng dấp nhỏ bé, thùy mị, nét mặt u buồn mang đến toà báo, đưa tận tay người chủ bút một phong thư dán kín. Trong đó có một bài thơ rất hay với đề tựa ”Hai sắc hoa tigôn”  được ký tên tác giả là T.T.Kh.

Bài thơ não lòng, lột tả được tất cả cái đau xót của người con gái đã phải xa người mình yêu, người đã cùng mình gắn bó thề ước dưới giàn hoa tigôn để đi lấy chồng, người mà mình không hề yêu:

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui
Bảo rằng: hoa dáng như tim vỡ
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!

Nỗi đau buồn đó đã theo hết cuộc đời của nàng trong sự hững hờ của gia đình chồng vì biết nàng vẫn còn tưởng nhớ đến tình nhân xa cũ:

Từ đấy thu rồi thu lại thu
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

Cái ray rứt, cái đau khổ vì nghĩ mình là kẻ phụ bạc vẫn theo dầy vò người thiếu phụ, làm cho nàng sợ những buổi chiều thu nhạt nắng, sợ bóng dáng ai kia vẫn còn nhớ đến chùm hoa kỷ niệm đỏ tựa máu hồng:

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ
Chiều thu hoa đỏ rụng chiều thu
Gió về lạnh lẽo, chân mây vắng
Người ấy sang sông đứng ngóng đò
Nếu biết rằng tôi đã có chồng
Trời ơi, người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng!

Khi bài thơ ”Hai sắc hoa tigôn” vừa cho lên mặt báo đã gây xôn xao trong giới yêu văn chương. Nhiều nhà phê bình đã không ngần ngại cho rằng đây là một kiệt tác. Trong không khí sôi động đó, toà báo lại nhận thêm được một bài thơ khác cùng tác giả, qua đường bưu điện với đề tựa ”Bài thơ thứ nhất.” Bài thơ này cũng với những câu thơ buồn đau đầy nước mắt, giải thích, mô tả kỹ lưỡng hơn về mối tình dang dở của cặp tình nhân gặp nhau rồi yêu nhau và cuối cùng không biết vì lý do nào đó người đàn ông rời xa, người đàn bà ở lại yêu kỷ niệm cho đến ngày lấy chồng:

Ở lại vườn Thanh có một mình
Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh
Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo
Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành
Và một ngày kia tôi phải yêu
Cả chồng tôi nữa, lúc đi theo
Những cô áo đỏ sang nhà khác!

Người con gái đã tưởng rằng, cuộc tình dang dở của mình đã đi vào dĩ vãng. Thời gian và ngăn cách cũng làm đổi thay nơi cố nhân để giúp nàng quên được mối tình xa xưa, lỡ dở đó. Nhưng oái oăm thay, người xưa vẫn còn nặng lòng, tưởng nhớ đến nàng, đến chòm hoa tigôn mầu đỏ hình tim kỷ niệm:

Ðang lúc lòng tôi muốn tạm yên
Bỗng ai mang lại cánh hoa tim
Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
Rỏ xuống thành thơ khóc chút duyên!
Ðẹp gì một mảnh lòng tan vỡ
Ðã bọc hoa tàn dấu xác xơ!
Tóc úa giết lần đời thiếu phụ
Thì ai trông ngóng chẳng nên chờ.

Khi Bài thơ thứ nhất được đưa lên báo, có người thắc mắc tại sao bài thơ Hai sắc hoa Tigôn lại được gửi đăng báo trước Bài thơ thứ nhất?

Người ta cho rằng, tác giả đã làm Bài thơ thứ nhất, than khóc cho mối tình lỡ dở của mình từ lâu nhưng vì một lý do nào đó không gửi đăng báo. Nhưng sau đó, ngẫu nhiên đọc câu truyện ngắn Hoa Tigôn của ký giả Thanh Châu, cảm động với câu truyện và nhất là tìm thấy nhiều dữ kiện tương đồng với mối tình ngang trái của chính mình, tác giả đã làm bài thơ Hai sắc hoa Tigôn rồi gửi ngay cho toà báo. Chính vì thế bài thơ thứ nhất được phổ biến sau bài Hai sắc hoa tigôn:

Buồn quá hôm qua xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ
Và đỏ như mầu máu thắm pha

Cũng ở tuổi ngây ngô lúc mới gặp nhau thì làm sao hiểu được ý nghĩa của những tiếng thở dài của người yêu?!

Thuở đó nào tôi đã hiểu gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly
Cho nên cười đáp mầu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biết suy!

Sau khi bài thơ thứ nhất được đăng trên báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, giới văn nghệ càng bàn tán nhiều hơn nữa. Bao nhiêu những tưởng tưộng,thêu dệt với những tình tiết lâm ly về hình dạng, thân thế và cả mối tình buồn đau lãng mạn của tác giả được đưa ra báo chí.

Vẫn trong cái không khí xao động, bàn tán lung tung vì hai bài thơ vừa đăng báo đó, tạp chí Phụ Nữ Thời Đàm ở Hà nội lại nhận được bài thơ ”Ðan áo cho chồng” của cùng tác giả qua bưu điện. Bài thơ này cũng vẫn với giọng điệu buồn đau, nhưng có vẻ than van, oán trách thân phận mình nhiều hơn. Nàng mô tả như bị tù tội trong cuộc sống với người chồng không yêu nhưng vẫn mong đợi bóng dáng người xưa:

Tháng ngày miễn cưỡng em đan
Kéo dài một chiếc áo len cho chồng
Như con chim hót trong lồng
Tháng ngày mong đợi ánh hồng năm nao!
Ngoài trời mưa gió xôn xao
Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm?
Ai đem lễ giáo giam em?
Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời…

Bài thơ đan áo cho chồng vừa ra mắt thì toà báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy lại qua đường bưu điện nhận được bài thơ thứ tư với đề tựa: Bài thơ cuối cùng.

Ðúng như đề tựa của nó, sau bài thơ này, làng thơ không bao giờ còn nhận được thêm bài nào nữa, TTKh hoàn toàn biến mất trên thi đàn! Cũng từ đó trong lịch sử văn thơ tiền chiến phải nhận lấy sự bí mật về một tác giả mà chỉ có vỏn vẹn bốn bài thơ nhưng đã tạo được chỗ đứng rất vững trãi trong nền văn học Việt Nam.

Ý tứ của bài thơ cuối cùng hơi khác ba bài thơ trước, nó than van, mô tả nhiều hơn về nỗi xót xa của mối tình dang dở nhưng lại đượm đầy giọng trách móc cố nhân, đã vì hư danh mà rao bán bài thơ đan áo mà nàng đã tặng riêng cho chàng:

Chỉ có ba người được đọc riêng,
Bài thơ đan áo của chồng em
Bài thơ đan áo nay rao bán
Cho khắp người đời thóc mách xem…

Nàng hờn dỗi:

Từ đây, anh hãy bán thơ anh
Còn để yên tôi với một mình
Những cánh hoa lòng, hừ! đã ghét
Thì đem mà đổi lấy hư vinh!

Nhưng giận thế nào được khi lòng nàng vẫn còn đầy rẫy nhớ thương? Bóng dáng người xưa vẫn luẩn quẩn đâu đây trong tim và trí nhớ nàng?

Tôi biết làm sao được hỡi trời
Giận anh, không nỡ! Nhớ không thôi!
Mưa buồn, mưa hắt trong lòng ướt…
Sợ quá đi anh…Có một người !…

Bài thơ cuối cùng xuất hiện vào giữa năm 1938, trong giới văn chương vẫn không giảm xút những lời bàn tán, thêu dệt về thân thế và cuộc tình buồn bã của tác giả, đã thế nhiều nhà báo, nhà thơ có tên tuổi đương thời đã đưa ra những chứng cớ để cố nhận người thi sĩ tài năng đầy bí ẩn đó là người yêu của mình.

(Hình: Wikipedia.org)

2.Những dữ kiện liên quan đến thân thế của TTKh.

Như trên đã đề cập đến cái độc đáo của bài thơ kèm theo ý tứ của một mối tình buồn bã, lãng mạn… thêm vào đó sự bí mật về thân thế thi nhân càng làm cho người ta tò mò muốn biết về tác giả. Ðến nay đã gần 70 năm rồi, người ta vẫn phải nhận lấy những điều mù mờ về thân thế và cả những thêu dệt vô căn cứ về người nữ sĩ tài danh đó! Sau đây là một vài sự kiện đã gây ra những xáo động dư luận trong giới thơ văn. Ðúng hay sai, tưởng tượng hay là một lối tìm nguồn thi hứng của những người làm văn nghệ… Ðến nay vẫn chỉ là những dấu hỏi mù mờ mà thôi.

a.Dư luận với ký giả Thanh Châu: Như phần trên đã viết, truyện ngắn Hoa Tigôn của Thanh Châu trên báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy đã là nguyên nhân xuất hiện những bài thơ diễm tình, lãng mạn bất tử của TTKh trong làng thơ tiền chiến.

Nếu xét những diễn tiến cũng như tâm trạng buồn đau của người con gái trong truyện ngắn Hoa Tigôn và trong bốn bài thơ của TTKh, nhất là bài Hai sắc hoa Tigôn, người ta thấy nội dung hai bài gần như giống hệt nhau. Cũng vẻ ngây thơ của người con gái thủa ban đầu gặp gỡ người yêu, cũng bóng dáng người nghệ sĩ làm cho nàng nhớ mãi không quên dưới giàn hoa Tigôn kỷ niệm:

Thuở trước hồn tôi phơi phới quá
Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương
Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại
Êm ái trao tôi một vết thương

hay :

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui
Bảo rằng: hoa giống như tim vỡ
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi .

Rồi những câu thơ tả người thiếu phụ luôn luôn tưởng nhớ đến cố nhân, phải miễn cưỡng kéo dài cuộc sống nhàm chán bên người chồng luống tuổi mà mình không yêu… Tất cả những dữ kiện đó đã lột tả gần như hòa hợp rất khắng khít với cốt truyện ngắn của Thanh Châu.

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạnh lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết từng thu chết
Vẫn dấu trong tim bóng một người

Chính vì vậy ngay khi mấy bài thơ xuất hiện trên báo chí, ký giả Thanh Châu đã khẳng định với dư luận, TTKh chính là người con gái trong căn biệt thự ở ngoại ô Hà Nội, là người yêu của ông. Sự xác định này đã quấy lên những xáo trộn nghì ngờ cũng có, tin tưởng cũng có trong làng thơ văn lúc bấy giờ.

b.Dư luận với Nguyễn Bính: Có lẽ Nguyễn Bính cũng bị chinh phục bởi những vần thơ trữ tình, lãng mạn pha cảm giác đau buồn vì khắt khe của lễ giáo, danh dự gia đình của người thiếu phụ hoa Tigôn. Hình ảnh đau xót, lạnh lùng của người đàn bà đã phải chịu đựng suốt cuộc đời với người chồng mà nàng không yêu, nhưng vẫn giữ được tấm lòng son sắt, chung tình với cố nhân làm cho ông cảm động. Nguyễn Bính cũng nhập cuộc với cái xôn xao của làng thơ, ông cho rằng TTKh là ”người tình vườn Thanh” xưa cũ của mình!

Theo thi sĩ thì ngày ông còn trẻ, ở lứa tuổi còn thích giang hồ, đi Bắc, về Nam để tìm cảm hứng làm thơ. Có lần gặp buổi trời mưa lớn, ông ghé vào căn nhà trọ một vùng quê ở Thanh Hóa, căn nhà có một thửa vườn rất đẹp và ông gọi là vườn Thanh (Thanh Hóa). Cũng nơi đây ông đã gặp gỡ và yêu si một cô gái quay tơ xinh đẹp. Nhưng vì biết mình vẫn còn mang nặng kiếp giang hồ, thi sĩ đã không dám nghĩ đến việc nhân duyên, để rồi lại ra đi theo tiếng gọi của sông nước, tìm thi hứng cho thơ văn.

Rồi nhiều năm sau đó khi có dịp trở lại vườn Thanh, thi sĩ được người lão bộc kể cho nghe một thiên tình hận! Ngày nhà thơ bỏ ra đi đã làm lỡ dở mối tình của người thiếu nữ quay tơ, sau đó nàng phải bước sang ngang với một người chồng già tuổi, không yêu:

Tơ duyên đến thế thì thôi,
Thế là uổng cả một đời tài hoa
Ðêm đêm bên cạnh chồng già
Và bên cạnh bóng người xa hiện về…

Với thời gian, thi sĩ Nguyễn Bính tưởng rằng đã quên được mối tình hận năm xưa, nhưng khi đọc mấy bài thơ của TTKh. đã kéo ông lại với quá khứ! Nhà thơ tìm thấy mối tình của TTKh. mô tả trong mấy bài thơ giống y hệt như mối tình vườn Thanh của mình. Nhất là trong bài thơ thứ nhất tả cảnh cố nhân tiễn ông ra đi rồi trở về vườn Thanh để sống với nỗi cô đơn trong gió lạnh:

Thổi tan âm điệu du dương trước
Và tiễn người đi bến cát xa
Ở lại vườn Thanh có một mình
Tôi yêu gió lạnh lúc tàn canh
Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành.

Với cái cảm xúc có được từ hình ảnh đầy thi tứ, buồn thương đó, Nguyễn Bính đã làm một bài thơ khá dài ”Giòng Dư Lệ ” ông đề tặng riêng cho TTKh., người mà ông chắc chắn là cô gái quay tơ đã một lần thi sĩ gặp gỡ, yêu si. Trong bài thơ này ông mô tả tất cả những diễn tiến của cuộc tao ngộ lần đầu gặp nhau cho đến lúc ông xót đau than khóc khi đọc những bài thơ tâm sự của TTKh.

 Tuổi nàng năm ấy còn thơ
Còn bao hứa hẹn đợi chờ một mai
Rồi đây bao gió bụi đời
Tôi quên sao được con người vườn Thanh.

Ðể rồi thi sĩ chẳng ngại ngần gì xác quyết TTKh. là người yêu vườn Thanh xa xưa của mình:

Chuyện xưa hồ lãng quên rồi,
Bỗng đâu xem được thơ người vườn Thanh
Bao nhiêu oan khổ vì tình
Cớ sao giống hệt chuyện mình ngày xưa?
Phải chăng mình có nên ngờ
Rằng người năm cũ bây giờ là đây?

3.Dư luận với thi sĩ Thâm TâmVới thi sĩ Thâm Tâm (Nguyễn Tuấn Trình, 1917-1948) có những dữ kiện và chứng minh rất hấp dẫn nói đến sự liên hệ tình cảm của ông với TTKh. có vẻ như vững trãi hơn và đáng tin tưởng hơn so với ký giả Thanh Châu và thi sĩ Nguyễn Bính. Tuy nhiên nếu suy nghĩ kỹ lưỡng ngườI ta cũng không thể coi là hoàn toàn xác thực để cho vào văn học mà không có những dấu chấm hỏi nghi ngờ được!

Dữ kiện đầu tiên từ bút hiệu TTKh. đã là một dấu tích thuận lợi cho nhà thi sĩ Thâm Tâm tuyên bố với nhân gian là TTKh người yêu của mình vì đó là sự gán ghép hai tên Thâm Tâm và Khánh, tên của cô gái, người yêu của ông mà thành.

Nhưng Phạm Thanh tác giả cuốn Thi Nhân Việt Nam Hiện Ðại lại cho rằng, đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên và tưởng tượng vu vơ của Thâm Tâm mà thôi. Thật ra TTKh. chẳng phải là người yêu của ông nào cả. Nữ sĩ chính là Trần Thị Khánh (TTKh), một nữ sinh ở phố Sinh Từ, Hà nội, cô ta yêu tha thiết một thanh niên, nhưng vì bị ép buộc của gia đình phải lấy một người đàn ông khác nhiều tuổi hơn, tên là Nghiêm.. Ðơn giản chỉ có thế mà thôi!

Dư luận lúc đó cũng chẳng biết đúng sai ra sao vì sau khi ”Bài thơ cuối cùng”’ được đăng báo vào giữa năm 1938 , TTKh. biệt tích trên thi đàn. Nhưng mãi đến năm 1940 nhà thơ Thâm Tâm mới nhảy vào để nhận là người yêu của nàng. Ông làm một bài thơ khá dài với đề tựa là ”Trả lời của người yêu” dành tặng riêng cho TTKh., trong đó ông đã gọi tên nữ sĩ là Khánh, một bài thơ rất hay, rất não nùng bằng những câu thơ có tí phiền giận tác giả TTKh., người yêu của ông:

Khánh ơi, còn hỏi gì anh
Ái tình đã vỡ, ái tình lại nguyên
Em về đan nốt tơ duyên
Vào tà áo mới đừng tìm mối xưa
Bao nhiêu hạt lệ còn thừa
Dành ngày sau khóc những giờ vị vong!

Hay:

Giờ hình như gió thổi nhiều
Những loài hoa máu đã gieo nốt đời
Tâm hồn nghệ sĩ nổi trôi
Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh
Sá chi những chuyện tâm tình
Lòng đau, đau chứa trong bình rượu cay!

Sau đó Thâm Tâm còn viết hai bài thơ khác nữa tặng riêng cho TTKh., bài ”Mầu máu Tigôn” và bài ”Dang dở.” Đây là những bài thơ rất hay và rất cảm động của Thâm Tâm trong năm 1940.

Suốt mấy mươi năm sau đó nhiều người làm văn hóa vẫn cố tìm tòi thân thế thực của TTKh. để xóa đi bóng tối bí mật của người nử sĩ tài năng đó, nhưng những cố gắng đó cũng chẳng đến đâu ! Mãi sau này tờ báo Nhân Dân ra ngày Chủ Nhật 23 Tháng Bảy năm 1989, ký giả Hoàng Tiến đã đưa ra một dữ kiện khác, trong đó ông ta cùng với hai thi sĩ đương thời là Trần Lê Văn và Tú Sót, cả ba người cho biết đã trực diện nghe nhà thơ Lương Trúc (tên thật là Phạm Quang Hòa, thuộc thế hệ cùng thời và là bạn thân của Thâm Tâm, Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân) nói về sự liên hệ tình cảm giữa Thâm Tâm và TTKh.

Nhà thơ Lương Trúc cho biết năm 1985, ông có gặp TTKh., bà tên thật là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm. Theo ông, Thâm Tâm và cô Khánh yêu nhau nhưng không lấy được nhau, vì danh dự của gia đình cho nên họ hứa với nhau giữ kín mối tình đó. Rồi ngẫu nhiên cô Khánh đọc được truyện ngắn Hoa Tigôn của Thanh Châu trong Tiểu thuyết thứ bẩy số báo Tháng Chín năm 1937, cô ta xúc động với tình tiết của câu truyện và làm ra bài thơ Hai sắc hoa tigôn gửi đi đăng báo. Bài thơ đã làm xáo động trong làng thi văn, rồi nàng gửi thêm Bài thơ thứ nhất với mục đích giải thích cho bài thơ Hai sắc hoa Tigôn.

Ngoài ra TTKh. còn viết tặng riêng cho Thâm Tâm bài thơ Ðan áo cho chồng. Thâm Tâm cảm động với ý tứ bài thơ và nhất là muốn chứng minh với dư luận đang ồn ào, TTKh. chính là người yêu của mình, ông đã gửi bài thơ đến tâp san Phụ Nữ Thời Đàm để phổ biến.

TTKh. không vừa ý với hành động đó của Thâm Tâm, vì thế cô ta viết một bài thơ khác lấy tên là Bài thơ cuối cùng, nói lên sự hờn trách người yêu đã vì hư danh mà đem quảng bá bài thơ mà nàng tặng riêng cho ông ra cho nhân gian biết. Nhưng trong những câu thơ hờn trách đó nàng vẫn không dấu được lòng yêu thương cố nhân:

Tôi biết làm sao được hỡi trời
Giận anh không nỡ! Nhớ không thôi
Mưa buồn, mưa hắt trong lòng ướt…
Sợ quá đi anh…Có một người !

Dù với lời xác nhận của nhà thơ lão thành Lương Trúc nhưng vẫn chưa thật sự làm thỏa mãn dư luận được vì trong đó vẫn còn rất nhiều điểm mù mờ về thân thế, tên tuổi… của người nữ thi sĩ bí mật đó!

d.Khám phá mới nhất về TTKh: Vào năm 1994 trong một tài liệu không lưu tên tác giả đã tiết lộ một tin tức mới nhất, được coi là đầy đủ nhất về thân thế của TTKh. Nhưng có lẽ người ta vẫn cần thời gian để xác nhận mức độ xác thực của tiết lộ này. Theo tài liệu cho biết một người đàn bà dấu tên D.T.L. đã cho nhà văn Thế Nhật biết như sau:

4.Bốn chữ TTKh có ý nghĩa như sau:

– Chữ T đầu tiên là TRẦN, là tên họ của nữ thi sĩ Trần Thị Chung tác giả của bốn bài thơ bất tử đó, nhưng thường gọi là Trần Thị Vân Chung, bà sinh ngày 25 Tháng Tám năm 1919 tại thị xã Thanh Hóa, nhưng trưởng thành ở Hà Nội trong một gia đình quan lại. Bà Vân Chung hay là TTKh. có một người anh cả, hai người em gái và một người em trai út. Năm 1934 qua mối mai của gia đình bà kết hôn với luật sư Lê Ngọc Chấn của VNCH, sau năm 1975 ông Chấn bị chết trong trại cải tạo.

Hiện nay bà cùng con cái sống ở một thị xã nhỏ miền nam nước Pháp, bà vẫn tiếp tục viết văn làm thơ với nhiều bút hiệu khác nhau như Vân Nương, Tơ Sương…

-Chữ T thứ hai, có nghĩa là Thanh, để chỉ tên ký giả Thanh Châu, tác giả truyện ngắn ”Hoa Tigôn.” Cốt truyện đã mang đến cho bà sự cảm xúc tột cùng với mối tình đầy lãng mạn, chung thủy, đã cho bà thi hứng để làm được những bài thơ tuyệt vời mang đầy cảm giác giận hờn, thương đau và cao thượng.

-Chữ Kh có nghĩa là khóc! Bà khóc thay cho mối tình dang dở với những trái ngang làm cho người thiếu phụ phải sống trọn cuộc đời với người chồng mà mình không yêu nhưng cũng không thể quên được người tình xưa cũ của mình.

Nếu tiết lộ trong tài liệu này là đúng thì tất cả những sự kiện liên quan đến tên tuổi, thân thế của TTKh. trong nhiều thập niên qua, cũng như những thêu dệt lâm ly, trữ tình của ký giả Thanh Châu, thi sĩ Nguyễn Bính, Thanh Tâm và cả thi sĩ J. Leiba chỉ còn là những tưởng tượng vu vơ, mà những người làm văn nghệ cần đến nó để dìm mình vào thế giới mộng ảo cho việc tìm cảm hứng để sáng tác mà thôi.

Kết luận:

Bản chất của thơ văn là tưởng tượng và hư cấu. Khi bước vào thơ văn để thưởng thức cái hay, cái cảm của một áng văn, một bài thơ… Người ta phải biết trải rộng tâm hồn mình ra tiếp nhận những cảm xúc đưa đến từ bài thơ, bản văn đó. Ðiều đó có nghĩa là người ta phải sống và hoà nhập vào nội dung của tác phẩm, phải biết vui buồn, đau khổ hay hoan lạc, giận hờn với những hoàn cảnh éo le của nhân vật trong tác phẩm. Có được những cái đó trong khi thưởng thức thì coi là ”đạt” vậy! Người ta cần biết thân thế hay cuộc đời riêng tư của tác giả để làm gì? Ðôi khi sự tìm tòi, tò mò đó chẳng có lợi ích gì cho cái thú thưởng lãm của người đọc mà còn mang đến cho người đọc có cái nhìn sai lệch vì chủ quan, thành kiến với cá nhân tác giả nữa.

Với cái quan niệm đó, người ta nên nghĩ rằng bốn bài thơ của TTKh. đã quá đủ để làm cho người đọc ngẩn ngơ vì cái hay, cái xúc tích biết bao nhiêu cảm giác đau buồn, thương nhớ, giận hờn… đôi lúc đã làm người đọc phải lịm người mà nước mắt ướt mi… Như vậy là đủ rồi! Chúng ta cần gì phải thắc mắc TTKh. là ai làm gì nhỉ? Nàng là cô nữ sinh Trần Thị Khánh ở phố Sinh Từ, Hà Nội. Nàng là Trần Vân Chung hay Trần Thị Vân Chung cô gái đất Thanh Hoá… Nàng là ai cũng thế mà thôi! Ðiều quan trọng mà chúng ta biết rất rõ, những bài thơ của TTKh. là những bài thơ rất hay, sẽ mãi mãi bất tử trong thi đàn Việt Nam. Thế là đủ rồi !

Cũng nhân tiện trong bài viết có lẽ chúng ta cũng nên biết sơ qua về loài hoa Tigôn mà nó đã là đề tựa cho bốn bài thơ của TTKh. ra đời. Hoa Tigôn là một loại hoa leo, có hai loại, loại cho ra hoa mầu trắng và loại cho ra hoa mầu đỏ hay hồng tươi, có thể mọc ở toàn cõi Việt Nam. Lá Tigôn mầu xanh, hình tim như lá trầu nhưng nhỏ cỡ ba ngón tay. Hoa Tigôn nhỏ bằng đầu chiếc đũa ăn cơm, mọc thành chùm, hoa tigôn có năm cánh hình trái tim, hai cánh nhỏ ở trong và ba cánh lớn hơn chụm vào nhau bao ở ngoài. Khi gặp gió hay mưa hoa rụng từ cuống hoa, rơi xuống đất nhưng vẫn còn nguyên cả bông hoa chứ cánh hoa không tách rời ra tơi tả như TTKh. mô tả trong thơ của bà:

Thuở đó nào tôi đã hiểu gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly!


 

Khi người ta già đi…- Mai Lâm/SGN

Ba’o Nguoi-Viet

August 2, 2024

Mai Lâm/SGN

Con người thay đổi theo tuổi tác. Nhưng bạn có để ý thấy một số người có xu hướng xa lánh người khác khi họ già đi không?

Đó không chỉ là tâm trạng tồi tệ nhất thời. Trên thực tế, những người này thường biểu hiện một kiểu hành vi cụ thể, khiến họ cứ xa dần những người xung quanh. Và nếu bạn chú ý, bạn có thể bắt đầu thấy những dấu hiệu.

-Cô đơn ngày càng tăng
Khi già đi, các vòng tròn xã hội có xu hướng thu hẹp lại. Đây là một phần tự nhiên của quá trình lão hóa, nhưng đối với một số người, nó không chỉ là sự rút lui dần.

Thông thường, bạn sẽ thấy rằng những người già đi sẽ có lựa chọn có ý thức dành là nhiều thời gian ở một mình hơn. Họ bắt đầu từ chối lời mời cà phê, họp lớp, thường xuyên hủy bỏ kế hoạch. Dường như sự thoải mái trong ngôi nhà của mình được những người già ưa thích hơn là các cuộc tụ tập xã hội.

Hành vi cô đơn ngày càng tăng này không hẳn là tiêu cực. Một số người tìm thấy sự bình yên và mãn nguyện khi ở một mình. Nhưng nếu điều đó dẫn đến sự cô độc, thì đó có thể là dấu hiệu cho thấy họ đang xa lánh người khác. Hãy tiếp cận vấn đề này bằng sự đồng cảm và thấu hiểu, thay vì phán xét.

-Ít giao tiếp
Khi dần già đi, những cuộc gọi điện thoại dài dòng trở nên ngắn gọn và ít thường xuyên hơn. Đơn giản là người già ít muốn giao tiếp hơn. “Tám chuyện” hàng giờ trực tiếp hay trên điện thoại đều không còn là chuyện hào hứng nữa. Đó là cách họ dần dần xa cách với mọi người.

-Thay đổi sở thích
Sự thay đổi sở thích và thú vui cũng có thể là dấu hiệu cho thấy một người nào đó đang trở nên xa cách hơn. Ví dụ, một người từng là người hâm mộ thể thao cuồng nhiệt có thể đột nhiên mất hứng thú với việc xem các trận đấu hoặc theo dõi đội bóng yêu thích của họ. Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nghiên Cứu Lão Hóa phát hiện ra rằng khi mọi người già đi, họ có xu hướng chuyển sở thích của mình sang các hoạt động đơn độc hơn. Sự thay đổi này thường là một quá trình tiến triển tự nhiên nhưng cũng có thể là dấu hiệu cho thấy một người nào đó đang xa lánh người khác.

-Tránh các mối quan hệ mới
Khi già đi, người ta thường tránh bắt đầu các mối quan hệ mới. Thay vì tham gia vào cuộc trò chuyện và làm quen với những người mới, họ có thể chỉ giao du với những người quen hoặc thậm chí chọn cách ở ẩn. Hành vi này có thể là nỗ lực có ý thức hoặc vô thức để giữ cho vòng tròn xã hội của họ nhỏ và dễ xử lý, làm nổi bật thêm khoảng cách của họ với những người khác.

-Ít cởi mở về mặt cảm xúc
Thay vì chia sẻ cảm xúc của mình một cách thoải mái như khi còn trẻ, người già bắt đầu kìm nén. Không còn những câu chuyện phiếm dông dài. Ngay cả nụ cười cũng trở nên kín đáo hơn. Không phải là người già không vui, họ chỉ ít cởi mở hơn về cảm xúc của mình. Họ có vẻ cảnh giác hơn hoặc ít muốn tham gia vào những cuộc trò chuyện sâu sắc.

-Thích những hoạt động quen thuộc
Khi già đi, người ta thường phát triển sở thích về duy trì những hoạt động quen thuộc.
Tính dễ đoán và thoải mái khi biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo có thể giúp người già an tâm. Tuy nhiên, sở thích này đôi khi có thể dẫn đến việc xa lánh người khác. Một khi trong nhóm có ai đó từ chối các kế hoạch tự phát hoặc phản đối việc thay đổi lịch trình của họ, thì đó có thể là dấu hiệu cho thấy họ đang xa lánh. Hãy hiểu hành vi này và tôn trọng sự lựa chọn của họ đối với thói quen, ngay cả khi điều đó có nghĩa là ít tương tác xã hội hơn.

-Giảm sự đồng cảm
Dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy một người trở nên xa cách khi họ già đi là sự giảm đáng kể sự đồng cảm. Họ có vẻ ít bị ảnh hưởng bởi các vấn đề của người khác, hoặc ít quan tâm đến niềm vui và thành tựu của họ. Đó có thể là cơ chế phòng vệ để bảo vệ bản thân khỏi sự kiệt sức về mặt cảm xúc. Tuy nhiên, nó cũng có thể dẫn đến khoảng cách đáng kể giữa họ và những người thân yêu, khiến các tương tác có vẻ lạnh nhạt hoặc xa cách. Vì vậy, nếu bạn nhận thấy sự thay đổi này, hãy nhớ rằng đó không phải về phía bạn. Đó là về việc họ điều hướng sự phức tạp của quá trình lão hóa theo cách riêng của họ.

Điều cần thiết là phải hiểu rằng lão hóa là một quá trình phức tạp, đan xen với cả những thay đổi về thể chất và tâm lý.

Bảy hành vi mà chúng ta đã thảo luận không phải là dấu hiệu kết luận hoặc xác định của việc một người nào đó xa cách mình khi họ già đi, mà đơn thuần chỉ là những mô hình phổ biến được quan sát thấy.

Nhà tâm lý học nổi tiếng Erik Erikson đề xuất một lý thuyết về sự phát triển tâm lý xã hội bao gồm tám giai đoạn, giai đoạn cuối cùng mà ông gọi là ‘Bản ngã toàn vẹn so với tuyệt vọng.’ Khi già đi, ngườ ta sẽ suy ngẫm về hành trình cuộc đời của mình.

Một đánh giá thỏa đáng dẫn đến cảm giác trọn vẹn, trong khi sự hối tiếc và bất mãn sẽ gây ra tuyệt vọng. Hãy nhớ rằng quá trình lão hóa không chỉ là già đi, mà là lúc suy ngẫm về cuộc sống của một người, làm hòa với quá khứ và tìm kiếm ý nghĩa trong hiện tại.

(theo Hack Spirit)