Lừa gần $400,000 ‘thủ tục định cư Mỹ,’ bà Đồng Nai trốn sang Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

August 10, 2024

ĐỒNG NAI, Việt Nam (NV) – Công An Tỉnh Đồng Nai vừa phát lệnh “truy tìm” bà Bùi Thị Huệ, 48 tuổi, quê Đồng Nai, đang trốn tại Mỹ, với cáo buộc lừa 10 tỷ đồng ($398,327) bằng chiêu làm hồ sơ đưa người Việt đi Mỹ.

Theo báo Thanh Niên hôm 9 Tháng Tám, bà Huệ hứa hẹn với các nạn nhân rằng chỉ cần chi từ $25,000-$45,000 mỗi trường hợp là đủ điều kiện sang Mỹ làm việc, thậm chí định cư.

Thông báo “truy tìm” bà Bùi Thị Huệ của Công An Tỉnh Đồng Nai. (Hình: Chụp qua màn hình)

Điều tra sơ bộ của công an cho hay, với chiêu thức nêu trên, từ năm 2021 đến 2024, bà Huệ chiếm đoạt tiền của hàng chục nạn nhân ở các tỉnh, thành như Đồng Nai, Nghệ An, Cà Mau và Sài Gòn.

Thông báo “truy tìm” cho thấy bà Huệ làm thẻ căn cước tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, hồi Tháng Giêng, và nhiều khả năng đã bỏ trốn sang Mỹ trước Tháng Năm.

Công An Tỉnh Đồng Nai yêu cầu bà Bùi Thị Huệ từ Mỹ về Việt Nam trình diện trước cáo buộc “lừa đảo chiếm đoạt tài sản.”

Bên cạnh đó, nhà chức trách cũng kêu gọi những người đã nộp tiền cho bà Bùi Thị Huệ để đi Mỹ cần liên lạc điều tra viên để trình báo.

Các vụ lừa đảo định cư Mỹ diễn ra liên tiếp trong thời gian qua tại Việt Nam với cùng chiêu thức hứa hão.

Báo Tuổi Trẻ hồi đầu Tháng Sáu cho biết, nghi can Nguyễn Đình Trung, 62 tuổi, Việt kiều Mỹ, bị bắt tại thành phố Huế với cáo buộc lừa “làm hồ sơ cho người Việt đi làm việc và định cư ở Mỹ,” chiếm đoạt 1.7 tỷ đồng ($66,902).

Cùng bị bắt với nghi can Trung là đồng phạm Nguyễn Thị Hoa, 44 tuổi, ở địa phương nêu trên.

Theo hồ sơ của Công An Tỉnh Thừa Thiên Huế, nghi can Trung thường xuyên về Việt Nam, cấu kết với Hoa tìm “con mồi” là những người muốn làm hồ sơ đi lao động và định cư tại Mỹ.

Hai nghi can ra giá $25,000 mỗi hồ sơ.

Sau khi nhận tiền, nghi can Trung không làm hồ sơ cho nạn nhân mà quay về Mỹ.

Hồi năm ngoái, hai nghi can Trung và Hoa đã chiếm đoạt của sáu nạn nhân ở huyện Phong Điền và Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, tổng cộng 1.7 tỷ đồng. Số tiền này cả hai chia nhau để mua xe hơi và chi xài cá nhân.

Trước khi bỏ trốn sang Mỹ, bà Bùi Thị Huệ sống tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. (Hình: VNEconomy)

Hồi Tháng Năm, nghi can Trung lại nhập cảnh về Việt Nam cùng Hoa lừa đảo, chiếm đoạt tiền của một số bị hại rồi bỏ trốn vào tỉnh Quảng Nam.

Ngày 10 Tháng Sáu, trong lúc cả hai đặt vé máy bay sang Mỹ thì bị Công An Tỉnh Thừa Thiên Huế lần ra dấu vết và bắt giữ. (N.H.K) 


 

Thánh Lô-ren-sô (St. Lawrence) thế kỷ thứ ba, phó Tế tử đạo.

Mến chào một ngày mới, hôm nay 10/08 Giáo Hội mừng kính Thánh Lô-ren-sô (St. Lawrence) thế kỷ thứ ba, phó Tế tử đạo. Mừng Bổn Mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy. Hãy bảo trọng và cầu nguyện cho nhau nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 10/08/2024

Thánh Lôrensô là một trong bảy nô bộc của giáo hội (phó tế) chịu trách nhiệm giúp đỡ người nghèo túng và ngài được giao cho trách nhiệm “quản lý tài sản của giáo hội”. Khi sự cấm đạo dưới thời hoàng đế Valerian bùng nổ, Thánh Giáo Hoàng Sixtus bị kết án tử hình cùng với sáu nô bộc khác. Khi đức giáo hoàng bị điệu ra pháp trường, Lôrensô đi theo khóc lóc nức nở, ngài hỏi, “Cha ơi, cha đi đâu mà không cho nô bộc này theo?” Ðức giáo hoàng trả lời, “Con ơi, ta không bỏ con đâu. Trong ba ngày nữa, con sẽ theo ta.” Nghe thấy thế, Lôrensô thật vui mừng, ngài về phân phát hết tiền của trong kho cho người nghèo, và còn bán cả các phẩm phục đắt tiền để có thêm của cải mà phân phát.

Quan Tổng Trấn Rôma, một người tham lam, nghĩ rằng Giáo Hội có giấu giếm nhiều của cải. Do đó, ông ra lệnh cho Lôrensô phải đem hết tài sản của Giáo Hội cho ông. Vị thánh trả lời, xin cho ba ngày. Thế là ngài đi khắp thành phố, quy tụ mọi người nghèo khổ, đau yếu được Giáo Hội giúp đỡ. Khi trình diện họ trước mặt quan, ngài nói: “Ðây là tài sản của Giáo Hội!”

Giận điên người, quan tổng trấn xử phạt Lôrensô phải chết cách thê thảm và chết dần mòn. Vị thánh bị cột trên một vỉ sắt lớn với lửa riu riu để từ từ thiêu đốt da thịt của ngài, nhưng thánh nhân đang bừng cháy với tình yêu Thiên Chúa nên dường như ngài không cảm thấy gì. Thật vậy, Thiên Chúa còn ban cho ngài sức mạnh đến độ có thể đùa bỡn. Ngài nói với quan tòa, “Lật tôi đi chứ. Phía bên này chín rồi!” Và trước khi trút hơi thở cuối cùng, ngài nói, “Bây giờ đã chín hết rồi.” Sau đó ngài cầu xin cho thành phố Rôma được trở lại với Ðức Kitô và cho Ðức Tin Công Giáo được lan tràn khắp thế giới. Và ngài tiến lên lãnh nhận triều thiên tử đạo.

(Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online)

Noi gương quả cảm của Thánh Lô-ren-sô, mời Bạn hãy làm một việc hy sinh để cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo các quốc gia trên thế giới, xin Chúa thương soi trí mở lòng để họ biết hành động theo thánh ý Chúa mà tận tình lo cho dân nước được an cư lạc nghiệp và vui hưởng tự do.

Thánh Lô-ren-sô, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*************************

Kinh Hòa Bình – Mai Thiên Vân 

 Đánh cảnh sát Quốc Hội ngày bạo loạn, ông Nam California lãnh 20 năm tù

 Ba’o Nguoi-Viet

August 9, 2024

WASHINGTON, DC (NV) – Ông Nam California “tấn công hung bạo và làm bị thương cảnh sát” trong vụ bạo loạn Quốc Hội năm 2021 bị kết án 20 năm tù hôm Thứ Sáu, 9 Tháng Tám, một trong những bản án nặng nhất liên quan tới biến cố này, theo The Hill.

Tháng Giêng năm nay, ông David Nicholas Dempsey, 34 tuổi, cư dân Van Nuys, nhận hai tội danh tấn công cảnh sát bằng vũ khí nguy hiểm.

Hình chụp ông David Nicholas Dempsey lúc bị bắt giam vì xịt thuốc đuổi gấu lên người biểu tình phản đối ông Donald Trump ở Santa Monica, California, năm 2019. (Hình: Santa Monica Police Department)

Ngày 6 Tháng Giêng, 2021, ông Dempsey leo qua đám đông bạo loạn “như giàn giáo sống” để vượt lên phía trước rồi bắt đầu tấn công nhân viên công lực bằng tay, cây cờ, đồ nội thất bị bể, bình xịt tiêu và “bất cứ thứ gì khác ông chụp được” – thậm chí đánh luôn kẻ bạo loạn khác cố tước vũ khí của ông, công tố viên cho hay.

“Ông Dempsey là một trong những kẻ bạo loạn bạo lực nhất, vào một trong những giai đoạn bạo lực nhất, tại hiện trường những vụ đụng độ bạo lực nhất ở Quốc Hội ngày 6 Tháng Giêng, 2021,” công tố viên cho biết.

Chánh Án Royce Lamberth gọi hành vi của ông Dempsey hôm đó là “vô cùng xấu xa.” Về phần mình, ông Dempsey nói chuyện ông làm là “đáng trách,” đồng thời xin lỗi nhân viên công lực.

Bản án dành cho ông Dempsey chỉ thua bản án dành cho ông Enrique Tarrio, cựu thủ lĩnh nhóm dân quân cực hữu. Ông Tarrio bị kết án 22 năm tù vì âm mưu ngăn cản thủ tục chuyển giao quyền lực ôn hòa từ cựu Tổng Thống Donald Trump sang Tổng Thống Joe Biden sau cuộc bầu cử năm 2020.

Ông Dempsey từng bị kết tội sau khi xịt thuốc đuổi gấu lên người biểu tình phản đối ông Donald Trump ở Santa Monica, California, năm 2019.

Tới nay, tổng cộng hơn 1,400 người bị truy tố liên quan tới vụ bạo loạn Quốc Hội. (Th.Long) [qd] 


 

CÁCH CÁC THÁNH CHỮA LÀNH TÌNH BẠN BỊ TỔN THƯƠNG- Tác giả: Fr. Joseph M. Esper 

 Tác giả: Fr. Joseph M. Esper – Chuyển ngữ: Mai Ni

Tình bạn không chỉ là khởi nguồn cho sự phát triển thiêng liêng mà còn của niềm vui và sự hài lòng, và do đó, việc kết thúc một tình bạn trong sự giận ghét có thể gây ra nhiều đau khổ và buồn bã.  Những cuộc tranh luận, bất đồng hoặc hiểu lầm có thể khiến những mối quan hệ từng tốt đẹp và giàu sức sống phải tan vỡ.

Nếu điều này đã từng xảy ra với bạn, thì hãy can đảm lên; một số vị thánh cũng từng trải qua kinh nghiệm không hạnh phúc này.  Ví dụ điển hình nhất về tình bạn tan vỡ có thể kể đến chính Chúa Giêsu, vì một trong những môn đệ đã phản bội Ngài.

Khi Giuđa Ítcariốt dẫn lính canh đền thờ vào Vườn Gethsemane để bắt Chúa Giêsu, Ngài gọi hắn là “bạn” (Mt 26:50), không phải theo cách mỉa mai hay châm chọc, mà là chân thành và yêu thương.  Chúa sẵn lòng tha thứ cho Giuđa về việc hắn đã làm, nhưng Giuđa từ chối.  Mối quan hệ đi đến một kết thúc bi thảm không phải vì Chúa Giêsu mong muốn như vậy, mà bởi vì Giuđa đã đầu hàng tuyệt vọng sau hành động phản bội của mình và tự treo cổ.

 Tình bạn căng thẳng của các vị thánh

Nhiều trường hợp về tình bạn căng thẳng giữa các vị thánh đã được ghi nhận.  Thánh Phaolô và thánh Banaba là những người bạn thân thiết.  Trong thực tế, chính Banaba là người đã giới thiệu Phaolô với thánh Phêrô và các tông đồ khác.

Việc Banaba đón nhận Phaolô đã làm cho những Kitô hữu tiên khởi khác bỏ qua sự nghi ngờ đối với người từng bắt bớ Giáo hội này.  Cả hai vị tông đồ được Chúa Thánh Thần chọn để đi truyền giáo cùng nhau.  Banaba có người em họ trẻ tuổi là Máccô đi cùng.  Tuy nhiên, trong hành trình đó, Máccô đã quay về vì một lý do nào đó không rõ (Cv 13:13).  Điều này khiến Phaolô tức giận.  Khi hai vị tông đồ chuẩn bị cho một hành trình truyền giáo khác, Banaba lại muốn mang theo Máccô, nhưng Phaolô nhớ lại sự không kiên định trước đó của người trẻ tuổi này nên không cho phép, và điều này dẫn đến sự rạn nứt tạm thời giữa Phaolô và Banaba.

Vào thế kỷ thứ tư, thánh Heliodorus gặp thánh Giêrônimô ở Ý, trở thành môn đệ và cuối cùng là bạn của vị học giả lỗi lạc này.  Ngài thậm chí còn tài trợ cho thánh Giêrônimô trong việc dịch Kinh Thánh sang tiếng Latinh, ngôn ngữ phổ thông thời bấy giờ.  Bản dịch này, theo yêu cầu của Giáo hoàng St. Damasus, được gọi là Vulgate.  Khi thánh Giêrônimô và các môn đệ đến Đất Thánh, thánh Heliodorus cũng đi theo, mặc dù ngài từ chối tham gia vào cuộc sống ẩn dật trong sa mạc vì ngài cảm thấy Chúa không kêu gọi mình theo lối sống đó.

Thánh Giêrônimô nổi tiếng với tính khí nóng nảy, đã rất bực bội về điều này và đã viết một lá thư đầy phẫn nộ quở trách thánh Heliodorus.  Sau đó, thánh Heliodorus trở lại Ý và được bổ nhiệm làm Giám mục của thị trấn nhỏ Altino.  Ở đây, ngài vẫn thể hiện lòng khoan dung và độ lượng của mình bằng cách tiếp tục gửi hổ trợ tài chính cho thánh Giêrônimô.

Đôi khi, sự khác biệt về tính cách có thể khiến tình bạn trở nên căng thẳng.  Ví dụ điển hình về điều này liên quan đến hai vị thánh Basiliô và Grêgôriô thành Nazianzus của thế kỷ IV.

Basiliô là người hướng ngoại, dứt khoát và kiên định, trong khi đó Grêgôriô nhạy cảm, rụt rè và thích ẩn dật.  Cả hai đều được thụ phong linh mục, Basiliô rất sẵn sàng, còn Grêgôriô thì rất miễn cưỡng, và cả hai đều về một tu viện để tu tập một thời gian.  Vào năm 370, Basiliô được bổ nhiệm làm Giám mục Caesarea, và ngài đã chứng tỏ mình rất phù hợp với vai trò tích cực trong việc bảo vệ giáo lý của Giáo hội chống lại những lạc thuyết thời đó.

Đổi lại, hai năm sau, Basiliô đã bổ nhiệm “người bạn miễn cưỡng” của mình là Grêgôriô làm Giám mục Sasima.  Tuy nhiên, thay vì đến Sasima ở, Grêgôriô vẫn ở lại Nazianzus để phụ giúp cha mình, lúc đó cũng đang là Giám mục ở đó (vào thời kỳ đầu của Giáo hội, giáo sĩ chưa bắt buộc phải độc thân).  Điều này khiến Basiliô rất tức giận, có lẽ vì ngài đã quen với chuyện mọi việc phải theo ý mình trong những vấn đề như vậy.  Tuy nhiên, cuối cùng, hai người bạn cũng đã làm hòa với nhau, và nếu sự hòa giải này không xảy ra trong cuộc sống trần thế của họ, thì chúng ta có thể chắc chắn rằng nó sẽ xảy ra trên Thiên Đàng.

Tình bạn là một quà tặng

Tình bạn là một quà tặng của Thiên Chúa.  Quả vậy, theo thánh Aelred thành Rievaulx: “Thiên Chúa là tình bạn.”  Đó là lý do tại sao Thánh Phanxicô de Sales có thể tự tin nói rằng: “Tình bạn trên thế giới này sẽ được nối lại, không bao giờ bị tan vỡ.”  Suy nghĩ này có thể là một sự an ủi nếu bạn buồn bã vì sự tan vỡ của một tình bạn từng viên mãn.  Bạn có thể yên tâm rằng trong vương quốc của Thiên Chúa, tất cả các mối quan hệ đổ vỡ sẽ được chữa lành và hoàn thiện.  Nếu bạn không muốn tái lập mối quan hệ với ai đó, ngay cả trên Thiên Đàng, thì tốt hơn hết bạn nên bắt đầu cầu nguyện để thay đổi con tim, vì cách duy nhất để tránh biết và yêu thương ai đó trong cõi vĩnh hằng là một hoặc cả hai bạn đều ở ngoài Nước Trời.

Những người bạn thường giúp chúng ta phát triển lòng đạo hạnh, và chúng ta cũng nên làm điều tương tự cho họ.  Giúp đỡ lẫn nhau để trưởng thành trong sự thánh thiện đôi khi có thể cần đến sự sửa dạy trong tình huynh đệ.  Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề này, Thánh Phanxicô Xaviê khuyên rằng: “Các bạn càng thân thiết, các bạn càng có thể nói thẳng thắn, nhưng nếu chỉ là quen biết xã giao thì từ từ rồi hãy quở trách.”

Sự quan tâm của chúng ta đến hạnh phúc thiêng liêng của bạn bè luôn đi kèm với sự rủi ro là họ sẽ bị xúc phạm hoặc buồn lòng vì chúng ta.  Nhưng mọi tình bạn – ngay cả khi tan vỡ – đều có thể trở thành phúc lành khi bạn nhìn nhận từ góc độ của sự vĩnh hằng.

Suy tư thêm từ các vị thánh

“Khi tôi kiệt sức vì những bất ổn của thế giới, tôi hoàn toàn phó mình cho tình thương của những người đặc biệt gần gũi với tôi.  Tôi biết rằng mình có thể hoàn toàn tin tưởng họ với những suy nghĩ và cân nhắc của mình, bởi vì họ có một tình yêu Kitô giáo nồng nàn và là những người bạn trung thành của tôi.  Vì tôi không tin tưởng họ như tin tưởng một con người khác, mà là tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng ngự trong họ và khiến họ trở nên như hiện tại.”  Thánh Augustinô

“Nếu một người phải chịu đựng sự lăng mạ, đánh đập và bỏ tù vì một trong những người bạn của mình, anh ta sẽ đau khổ biết bao khi biết rằng người bạn của mình không nhớ gì về điều đó và thậm chí không muốn nghe người ta nói về điều đó.  Mặt khác, anh sẽ hài lòng biết bao khi biết rằng bạn anh ta luôn tha thiết nói về điều đó và thường cảm ơn anh về điều đó.  Vì vậy, Chúa Giêsu Kitô rất hài lòng khi chúng ta nhớ lại với lòng biết ơn yêu thương vì những nỗi đau đớn, nỗi buồn và cái chết mà Ngài đã chịu vì chúng ta.  Mỗi lần chúng ta bị một người bạn đối xử tệ bạc, chúng ta có thể tự hỏi mình đã đối xử với “Người Bạn” vĩ đại nhất như thế nào.” Thánh Alphonsus Liguori

Một số điều bạn có thể thử

Thánh Augustinô nói rằng vào những lúc chúng ta bị cái nghèo làm khổ cực, buồn bã vì tang chế, ốm đau hoặc dằn vặt bởi nỗi đau, hãy để những người bạn tốt đến thăm chúng ta.  Họ nên là những người không chỉ có thể vui với niềm vui của ta mà còn có thể khóc với nỗi sầu của ta nữa.  Hãy để họ là những người đưa ra lời khuyên hữu ích và giúp ta bày tỏ cảm xúc của mình trong cuộc trò chuyện.

Bạn nên cố gắng trở thành người bạn tốt như thánh Augustinô đã đề cập, ngay cả với những người bạn cũ, đặc biệt là khi họ gặp bất hạnh.  Đây sẽ là dấu chỉ của lòng bác ái Kitô giáo chân chính nơi bạn, và trong trường hợp tình bạn rạn nứt, nó thậm chí có thể giúp hàn gắn lại.

Duy trì lòng bác ái với những người bạn cũ là điều quan trọng, ngay cả khi họ đối xử bất công với bạn.  Thánh Thomas More, khi bị kết án tử hình vì từ chối chấp nhận cuộc hôn nhân không hợp lệ của Vua Henry VIII, đã nói với các thẩm phán của mình, một số người trong số họ vốn là bạn bè và đồng nghiệp của ngài rằng: “Giống như thánh Phaolô đã giữ áo cho những kẻ ném đá Stêphanô chết, giờ đây cả hai đều là bạn trên Thiên đàng và sẽ mãi mãi là bạn ở đó, thì tôi cũng thật sự tin tưởng và nguyện cầu hết lòng rằng, mặc dù hiện giờ trên trần gian, các ngài là những vị thẩm phán lên án tôi, nhưng sau này chúng ta vẫn có thể gặp nhau trên Thiên đàng trong sự cứu rỗi đời đời.”

 Tác giả: Fr. Joseph M. Esper – Chuyển ngữ: Mai Ni
Nguồn: Catholic Exchange

From: Langthangchieutim


 

TRUYỀN CẢM HỨNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác!”.

Một ấn phẩm Anh trao thưởng cho định nghĩa tốt nhất về một người bạn. Trong hàng nghìn câu trả lời, có một số câu đáng chú ý. “Đó là một người có lòng trung thực bất khả xâm phạm; một người nhân lên tình yêu, truyền cảm hứng cho bạn và người khác!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa lễ thánh Laurensô cho thấy sức mạnh và tầm quan trọng của việc ‘truyền cảm hứng’ và ‘nhân lên tình yêu’ nơi những ai sống cho tình yêu Thiên Chúa và tha nhân!

Không ai ‘nhân lên tình yêu’ và ‘truyền cảm hứng’ mạnh mẽ bằng Chúa Giêsu, “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó sinh được nhiều hạt khác!”. Dùng hình ảnh hạt lúa chết đi để vụ mùa bội thu, Chúa Giêsu đang nói đến nghịch lý chết và sống – một chân lý – nhưng đó là quy luật để thiên nhiên tồn tại! Ngài mời chúng ta sống ‘chân lý nghịch lý’ đó. Không vị thần nào được tôn thờ, yêu mến mà dám sống, dám chết cho các tín đồ của mình như Chúa Giêsu, Đấng từng nói, “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống vì bạn hữu!”. Đó là một tình yêu có sức giục giã người khác hướng về điều thiện như hạt lúa sẵn sàng chết đi để nhân lên những đồng lúa vàng nối tiếp những đồng lúa vàng.

Laurensô được ‘truyền cảm hứng’ từ ‘Người Bạn có lòng trung thực bất khả xâm phạm’ Giêsu, cảm nghiệm được tình yêu của Ngài, đã nên giống Ngài khi chịu nướng chậm trên một chiếc giường sắt; không phải cực lòng, nhưng rất vui lòng: “Lật tôi lại để hai bên được chín đều!”. Chỉ những con người đầy tin yêu vào Đấng đã chết cho mình mới can đảm đến thế. Bạn và tôi không được gọi để sống và chết anh hùng như Laurensô, nhưng Chúa Phục Sinh đã ban ân sủng tương tự để mỗi người đủ sức ‘truyền cảm hứng’ và ‘nhân lên tình yêu’ bằng cách sống vị tha cách hào phóng nhất có thể!

Ngắm cuộc đời các thánh, chúng ta được ‘truyền cảm hứng’ từ sự trung thành của các ngài dành cho Chúa Kitô và Giáo Hội. Cũng thế, hành vi trung thành của chúng ta rồi sẽ ‘truyền cảm hứng’, ‘nhân lên tình yêu’ và lòng can đảm nơi những người khác để họ cũng có thể làm điều tương tự! Phaolô nói, “Ai vui vẻ dâng hiến, thì được Thiên Chúa yêu thương. Vả lại, Ngài có đủ quyền tuôn đổ xuống trên anh em mọi thứ ân huệ, để anh em vừa được luôn đầy đủ mọi mặt, vừa được dư thừa mà làm mọi việc thiện” – bài đọc một. “Phúc thay người biết cảm thương và cho vay mượn!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

“Nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác!”. Sự chết mang mầm sự sống, thập giá tiềm tàng phục sinh. Cuộc đời Chúa Giêsu trên trần gian là một chuỗi ngày của mục nát và chết đi; thế nhưng, chính tình yêu trong quãng đời xem ra không mấy thuận lợi này của Ngài đã kiến tạo một Vương Quốc mới giữa lòng thế giới, Vương Quốc Tình Yêu. Suốt dòng lịch sử, bao người đã sống cái ‘chân lý nghịch lý’ này; nhờ đó, ‘tình yêu nhân lên tình yêu’, những ‘hạt vàng’ nhân lên những đồng lúa vàng. Bạn và tôi cũng hãy sống cái ‘chân lý nghịch lý’ – quy luật Phục Sinh – đó! Bấy giờ, chúng ta cũng là những con người ‘chết để sống’, ‘mất để được’, được cả đồng lúa, mới mẻ và vĩnh cửu!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy con chắt chiu những ‘hiến tế nhỏ’ mỗi ngày; chúng cũng sẽ ‘truyền cảm hứng’, ‘nhân lên tình yêu’ và con được cả cánh đồng!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

****************************

Ngày 10 tháng 8

THÁNH LÔ-REN-XÔ, PHÓ TẾ, TỬ ĐẠO

lễ kính

Bài trích thư thứ hai của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

6 Thưa anh em, tôi xin nói điều này : “Gieo ít thì gặt ít ; gieo nhiều thì gặt nhiều.” 7 Mỗi người hãy cho tuỳ theo quyết định của lòng mình, không buồn phiền, cũng không miễn cưỡng, vì ai vui vẻ dâng hiến, thì được Thiên Chúa yêu thương. 8 Vả lại, Thiên Chúa có đủ quyền tuôn đổ xuống trên anh em mọi thứ ân huệ, để anh em vừa được luôn đầy đủ mọi mặt, vừa được dư thừa mà làm mọi việc thiện, 9 theo như lời đã chép : “Kẻ túng nghèo, Người rộng tay làm phúc ; đức công chính của Người tồn tại muôn đời.”

10 Đấng cung cấp hạt giống cho kẻ gieo, và bánh làm của ăn nuôi dưỡng, tất sẽ cung cấp dư dật hạt giống cho anh em gieo, và sẽ làm cho đức công chính của anh em sinh hoa kết quả dồi dào.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

24 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình ; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. 25 Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. 26 Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy ; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy.”


 

Đường mòn Hồ Chí Minh-Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

08/08/2024

Số phận của kẻ thua trận thì đã nhận đủ thứ thiệt thòi từ kẻ chiến thắng.
Nhưng kẻ thắng trận mà “Xương trắng Trường Sơn”, mà “Mạng người như lá rụng” mà ” Đường đi không đến’ thì cái lẽ thắng thua chẳng hiểu còn có nghĩa lý gì!!

Ai là những người chủ xướng cuộc chiến tranh được trả giá bằng xác người này?

Thắng mà bằng cái giá phải trả là một đổi lấy 5 lần thì còn có nghĩa là thắng hay không! (Thời chiến tranh Đông Dương là một đổi ba). Dù lạc quan cách mấy- dù không nói ra- Sự thiệt hại và tổn thất về người về phía cộng sản là lớn lao. Người ta không thể dấu được sự thiệt hại ấy. Mặc dầu không một hồi ký nào của tướng lãnh cộng sản dám nói sự thật về tổn thất nhân mạng này.
Sự tranh chấp nội bộ đi đến chỗ có thể thủ tiêu lãnh tụ đồng thời dứt điểm với vụ án”Xét lại chống Đảng” trong đó có một số lãnh đạo cao cấp bị bắt giam đồng loạt năm 1967- Một năm trước vụ tẩn tống công Tết Mậu thân 1968-.mang ý nghĩa quyết định.

(Những người bị bắt như Vũ Đình Huỳnh, Hoàng Minh Chính, Phạm Viết, thiếu tướng Đạng Kim Giang vv..và Vũ Thư Hiên ..)

Hàng không mẫu hạm xuất hành 5337 lượt và thả 7.491 tấn bom ..

– Máy bay B.52 xuất hành 2.548 lượt và thả 59.542 tấn bom và trang bị xuống Khe Sanh.
– Số binh lính tử trận về phía cộng sản vào khoảng từ 10.000 đến 15.000 người. Đó là sự thắng thế của phe Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và tướng Nguyễn Chí Thanh?
Không có việc thanh toán nội bộ này bắt đầu từ tháng 7/1967 thì có diễn ra vụ Tết Mậu Thân được không? Những người bị xử lý này, theo Vũ Thư Hiên là những người tù không có án cho mãi tới 1973 mới lần lượt được thả. Có người thì đến năm 1976 mới được thả.
Sự im lặng của hầu hết ” lãnh tụ” miền Bắc lúc bấy giờ đồng nghĩa với sự đồng lõa và bội phản.

Từ trái sang:   Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, tướng Nguyễn Chí Thanh

Theo Vũ Thư Hiên thì Hồ Chí Minh kể như đã ” chết ” dưới mắt một số người. Ông Hồ bị cô đơn, dù là cô đơn trong quan điểm riêng của ông. Trường chinh im lặng “lầm lũi ở ẩn trong sự đường bệ” còn sót lại. Phạm Văn Đồng im lặng trong sự ba phải vụng về và vô tích sự vốn có của ông. Ông không muốn mất lòng ai cả, nhất là cấp trên – Mà cấp trên của ông là Lê Duẩn. Lê Đức Thọ.

Nhất là nhân vật chính yếu là Võ Nguyên Giáp, cũng im lặng để khỏi trả giá đắt như Vũ Đình Huỳnh.
Nói về những việc như thế này, nhà văn Nguyễn Tuân đã phải gián tiếp ví von là:
Nước ta là một pháp trường trắng, không có đầu rơi, không có máu chảy, mà có người chết”.

Thật ra nói như Nguyễn Tuân thì cũng chưa đủ nghĩa. Người chết ở đây không phải là những cán bộ Đảng mà là hơn hai triệu người đã chết trong cuộc chiến tranh “Giải phóng miền Nam” này .
Tuy nhiên, mọi người có thể đồng ý với nhau là không có cách nào tính được con số thương vong chính xác về phía cộng sản Hà Nội – dù chỉ là một sự chính xác tương đối-.

Xét về mặt đức lý hay mặt nhân bản mà kết thúc cuộc chiến bằng cái giá một đổi lấy năm là một xúc phạm đến phẩm giá con người, là một hy sinh vô ích, là một phí phạm không tha thứ được.

Vậy mà có cái kẻ lãnh đạo đã có lần phát biểu: Con người là vốn quý nhất. Câu nói đó được ghi trong sách Giáo Khoa, trong các buổi học tập .. Vậy mà cũng chính con người ấy mang vốn quý nhất của con người để đổi lấy điều được gọi là “Độc lập, Thống Nhất, Tự Do và Dân chủ”!!!
Đây là một thực tế tàn bạo và đen tối nhất của cuộc chiến này mà mọi người- nhất là kẻ chiến thắng- không muốn ai nhắc tới.
Cuộc chiến Mậu Thân đã thất bại mà theo ông Mười Hương, Cục trưởng K.68 cho hay mục đích là chiếm Đài phát thanh Sài Gon, đánh tòa đại sứ Mỹ, bắt sống đại sứ Martin, đánh Dinh Độc Lập để bắt Nguyễn Văn Thiệu, để chúng phải tuyên bố đầu hàng trên Đài phát thanh Sài Gòn.

Cuộc tổng công kích Mậu Thân với ba đợt tấn kích và mỗi lần cho thấy sự thất bại vì không đạt được mục tiêu đề ra và số thương vong không phải là ít!
Người ta đành lòng phải dựa theo những ước tính tổng quát theo những con số của tài liệu của Mỹ được coi là khả tín hơn cả thì:
– Phía người Mỹ có 52.227 người bị giết (23.000 nhiều hơn trong thời kỳ chiến tranh Triều Tiên).
– Phía quân đội Sài Gòn, con số chính thức là 188.000 người bị chết và 430.000 bị thương.
– Phía Bắc Việt là: 920.000 người chết.
– Phía thường dân trong miền Nam là 350.000 bị giết và 950.000 bị thương
– Có 300.000 trẻ em mồ côi.(1)
(1) Trích L’Aigle et le Dragon, Claude de Groulat, trang 293-294

Số phận của họ nào chết bom đạn, chết vì đói ăn, vì bệnh tật như sốt rét ngã nước hay suy dinh dưỡng là đáng kể.
Họ, những lính cụ Hồ mới là những người lính chết đủ kiểu: chết trong rừng già, bên bờ suối, bờ ruộng, trong hầm trú ẩn, trên đường mòn Hồ Chí Minh, trên những địa danh như Pleime, Dakto, Hạ Lào, Mậu Thân Huế, Quảng Trị, Khe Sanh.

Chỉ riêng trận Khe Sanh mà theo Peter Brush trong bài The Battle of the Khe Sanh, 1968 cho thấy bom đạn khủng khiếp như thế nào.

– Pháo binh Mỹ đã rót 158.891 quả đạn sang phòng tuyến địch
– Máy bay chiến đấu của lực lượng không quân số 7 đã xuất hành 9.691 chuyến bay
và thả 14.223 tấn bom và đạn Rockets.
– Máy bay của thủy quân Mỹ xuất hành 7.078 chuyến bay và thả 17.015 tấn bom
– Máy bay từ các Hãng riêng trong trận Khe Sanh.

Tổng cộng chung có 14 triệu tấn bom đã được sử dụng tại VN.
Nhà báo Oriana Fallaci cũng có dịp đi quan sát trận địa Khe Sanh cho biết: toàn bộ sư đoàn 325, niềm tự hào của tướng Giáp đã biến mất dưới những trận mưa bom của Mỹ và được gọi là: “Điện Biên Phủ thứ hai”!
“Và nhóm 50 người đầu tiên của đại đội Delta đã tới được những giao thông hào và ở đó người ta tìm thấy hàng chục khẩu moóc chê để lại, những dàn phóng rốc két, rồi liên thanh hạng nặng, những cái nón do Liên Xô chế tạo, thùng còn đầy đạn, nhiều ba lô và 400 cái xẻng mới ..”.(02)
(02)Trích Oriana Fallaci La vie, la guerre et puis rien …trang 241

Nhìn cái cảnh “để lại tại trận Khe Sanh” et puis rien như Oriana Fallaci vừa mô tả cho thấy chiến tranh vừa tàn bạo, vô tình đến vô nghĩa, nhưng cũng vừa bất nhẫn đến không hiểu được.
Bài viết này xin đưa ra một số chứng từ tiêu biểu nhất về số phận những kẻ đã “Hy sinh”, đặc biệt là:

Giới trẻ miền Bắc, trong đó thành phần Thanh niên xung Phong trên tuyến đường Trường Sơn- trong đó có trường hợp của nhà văn Dương Thu Hương-.

Đây là vết thương chiến tranh gây chết chóc và thương tâm nhất của cuộc chiến đã cố tình bị kẻ chiến thắng cố tình bỏ quên. Mỗi năm, có những buổi lễ lạc mừng chiến thắng nhân dịp 30 tháng tư. Vui mầng lắm, hãnh diện lắm. Nhưng có buổi tưởng niệm nào dành cho những người đã chết trên đường Trường Sơn?

  • Về Đường mòn Hồ Chí Minh

Theo nhà báo Phan Nghị, “Sau Hiệp định Genève, người ta bỏ đoạn đường Quảng Ngãi- Bình Định không dùng tới nữa. Từ Bắc vào, tới khu vực Bến Hải, họ đi men theo dãy Trường Sơn rồi vào mật khu Đỗ Xá, ở đó là Tổng trạm giao liên, từ Đỗ Xá, họ xuống khu Kon Tà Nừng, tới Chu Lya và đi về phía Khánh Hòa.
Từ Khánh Hòa sẽ có hai con đường, một đi vào Lâm Đồng để sang chiến khu D, một đi xuống Ninh Thuận, Bình Thuận rồi tới mạn Biên Hòa, rừng Sát… (..)
Cuộc Nam Tiến của Bộ đội chính quy Bắc Việt bắt đầu dồn dập từ những năm 1962. Trước khi xuất quân, họ được bồi dưỡng trong khoảng một thời gian là 8 tháng. Tiêu chuẩn bồi dường là 2đ40 (tiền Bắc Việt một ngày).
(..) Khi tới gần Bến Hải, sắp sửa vượt Trường Sơn thì các cán bộ thu hết các quân hàm, phù hiệu, huy chương và không cho phép một ai đuợc giữ những hình ảnh ở trong túi. Giầy vải cũng phải bỏ lại để đổi lấy dép Bình Trị Thiên. Và mũ bần thì đem đổi lấy mũ vải rộng vành.

 Cũng từ đó họ bỏ cờ đỏ sao vàng để dùng cờ của MTGPMN và bài”Tiến quân ca” cũng được thay thế bằng bài ” Giải phóng mền Nam”.(03)
(03)Trích Phan Nghị, vượt Trường Sơn, các trang 185-187.

Để phù hợp với chủ trương “chiến tranh giải phóng miền Nam” do MTGPMN chủ xướng, Hà Nội còn có chủ trương nhằm đánh lừa dư luận thế giới như sau:
“Giai đoạn này, những cán bộ miền Nam tập kết đưa ra Bắc trước kia đều có bổn phận phải trở về Nam, không về cũng không được, ngoại trừ những trường hợp bất khả kháng về sức khỏe và nhu cầu công tác ở miền Bắc .. Như vậy, cho đến cuối 1965, xem như chính quyền Hà Nội đã vét hết dân Nam bộ tống khứ về Nam (…) Trở lại số cán bộ mùa thu, ta thấy đó là cả một cuộc “dốc túi” vét sạch. Dù là quân đội hay dân chính, dù là đảng viên hay quần chúng, dù là nhiều con hay ít con, gia đình đủ ăn hay thiếu mặc, dù là thành phần cơ bản hay lưng chừng, dù là có đủ sức khỏe hay không, không sao cả, miễn rằng không là đàn bà, là trẻ con, là ốm liệt giường hay mang bệnh hiểm nghèo đều được chỉ định về Nam” .(04)
(04)Trích Kim Nhật, Về R, 249-251

Ở đây cần phải nói rõ là chính sách và đường lối do Lê Duẩn đề ra mặc cho sự bất đồng ý kiến của Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh vốn không muốn tiến hành một cuộc Tổng tấn công miền Nam.
Theo nhà báo Sơn Tùng, trong một bài nói chuyện ngày 27/1/2001 tại trường cán bộ Quản lý Giáo dục đào tạo tiết lộ cho biết:

“Trong bài viết của ông Vũ Ký(thư ký riêng của ông Hồ) mà ta đọc báo ta không để ý ông viết kín đáo để đăng báo Văn Nghệ, báo Tiền Phong, báo Nghệ An số tết 1998, hồi đó ông chủ trương đăng trên ba tờ báo đó. Nội dung bài bào là: năm 1967, Bộ chính trị mời Bác Hồ đang chữa bệnh ở Trung Quốc về để thông qua việc tổng tiến công 1968. Khi họp lần thứ nhất bác đã không đồng ý chủ trương tổng tiến công nổi dậy.

Bác chỉ đồng ý tập kích chiến lược rồi rút ngay. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng chủ trương như vậy, nhưng bị thiểu số nên đành đi chữa bệnh ở Hungary. Nhưng sắp đến tết (Mậu Thân) rồi nên phải thông qua chủ trương đó để đi vào cái tết, nên phải mời Bác về, ông Vũ Kỳ viết bài báo như sau:

Trên máy bay chỉ có Bác, ông Vũ Kỳ và người lái máy bay chuyên cơ của Bác từ Trung Quốc về. Lúc đó đã báo cho bộ đội phòng không từ giờ này… đến giờ này, trên bầu trời ta từ hướng này … phương vị này. Tuyệt đối là không nổ súng. Thời đó đang chiến tranh, vào giờ đó xuất hiện máy bay của ta Khi máy bay về tới vùng trời Hà Nội, sân bay Nội Bài khi đó là sân bay quân sự nên máy bay xuống sân bay Gia Lâm. Người lái báo cho anh Vũ Kỳ ngồi bên cạnh (Bác ngồi sau hút thuốc):
– Thưa anh, tín hiệu đường bay lệch 15 độ, bây giờ làm sao đây ạ?
– Quan sát lại đi, ông Vũ Kỳ nói
– Em là người lái mà, lái máy bay cho Bác thì em nhìn sai sao được, người lái nói .
Máy bay lượn hai vòng không dám xuống, xăng hết rồi, giờ quy định cũng đã hết rồi, phòng không họ bắn chết, mà xuống theo tín hiệu thì không an toàn ..
Cuối cùng xuống theo trí nhớ của người lái chứ không xuống theo đèn tín hiệu, vì trên máy bay báo đi báo lại, nhưng dưới sân bay vẫn không thay đổi, đèn ” tính hiệu chệch” dưới, vẫn cứ để thế, không sửa. Vòng một vòng và máy bay chạm đất an toàn, thở đánh phào một cái, Bác vẫn ngồi tĩnh lại hút thuốc, ở dưới sân bay vẫn yên tĩnh .
An toàn rồi anh ơi (Mừng quá nói to lăm, nhưng Bác làm như không nghe thấy
).(05)
(05)Trich trên Blog Ba Sàm, đăng lại ngày 14/9/2011
Thật ra những tiết lộ “động trời” như trên của nhà báo Sơn Tùng là quá chậm. Vừa chậm vừa không đầy đủ.
Ông Hoàng Tùng đã gián tiếp nói tới trong 10 nỗi đau của Bác Hồ, trong đó có vấn đề tranh  chấp nội bộ Đảng.
Vũ Thư Hiên, trong Đêm giữa ban ngày cũng đã gián tiếp nói tới như sau:

Tại nhiều cuộc nói chuyện với cán bộ, Lê Duẩn không bỏ lỡ dịp tốt nào công kích ” quan điểm xét lại của một số đồng chí sa sút lập trường, sợ đụng đầu với bọn đế quốc quốc tế, làm nô lệ cho vũ khí luận, quên mất rằng yếu tố quyết định chiến tranh là sức mạnh chính nghĩa, là sức mạnh nhân dân”.(06)

(06) Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Tiếng Quê Hương, Virginia, trang 384
Đứng ở quan điểm của người bây giờ nhìn lại sự việc, tôi chỉ thấy cái Hèn của người cộng sản, trong đó có Võ Nguyên Giáp ..
Trong cuốn sách mới nhất viết về Hồ Chí Minh, William J. Duiker cũng đã đưa ra một số nhận xét chính xác như sau:
Quan điểm của Lê Duẩn nay đã rõ ràng là tư tưởng chỉ đạo về sách lược chiến tranh của Hà Nội. Lê Duẫn đã coi thường và chế nhạo sự lưỡng lự của Hồ Chí Minh không dám chọn lựa giải pháp quân sự và muốn dựa vào ngoại giao. Phần Lê Duẩn, ông cho rằng ngay từ khi rời miền Nam thì ông đã chuẩn bị mọi thứ. Tôi chỉ có một mục tiêu: Đó là sự chiến thắng cuối cùng.”(07)
(07) Ho Chi Minh, William J . Duiker, tóm lược 533-534

Nguyễn Chí Thanh đã hỗ trợ cho quan điểm “diều hâu” của Lê Duẩn . Người mà Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh lo ngại hơn cả là Võ Nguyên Giáp, vốn có cái uy tín quần chúng chỉ đứng sau Hô Chí Minh. Võ Nguyên Giáp đã có quan điểm làm sao tiến hành cuộc chiến tranh ở miền Nam .. Đó là Võ Nguyên Giáp tỏ ra lo ngại phải đối đầu trực diện với người Mỹ bao lâu quân đội của ông chưa được huấn luyện kỹ càng và được trang bị bằng những vũ khí tân tiến ..Vì thế, ông phản đối chiến tranh du kích của Ngyễn Chí Thanh và Lê Duẩn, ông nghiêng về một cuộc chiến tranh quy ước. Giáp lo ngại chẳng khác gì tự sát nếu chọc giận Moscou và nếu không được sự hỗ trợ huấn luyện và võ khí thích hợp ..

Nhưng cũng như Phạm Văn Đồng, Giáp im lặng một cách khó hiểu trước sự đối đầu một cách kiêu căng của Lê Duẩn .. Trong các buổi họp của Bộ chính tri, Giáp thất bại không dám nói mạnh mẽ về đường lối kỹ thuật chiến tranh của nhóm Lê Duẩn.

Còn đối với Hô Chí Minh thì mặc dầu được coi là nguy hiểm nhất chống lại nhóm Lê Duẩn vì chính con người của HCM với những thành tích quá khứ. Nhưng càng ngày xem ra thái độ của nhóm Lê Duẩn tỏ ra coi thường Hô Chi Minh, bởi vì họ cho rằng nay HCM mất cái nhạy bén chính trị và càng tỏ ra lúng túng trong những suy nghĩ của Ông ta.

Dư luận ở Hà Nội còn đồn thổi là Lê Duẩn đã có kế hoạch thay thế chủ tịch Hô Chí Minh bằng đại tướng Nguyễn Chí Thanh. NCT đã được giao phó nắm giữ vai trò Giám đốc cơ quan nghiên cứu chủ nghĩa Mác Xít- Lê ni nít ..
Cuối cùng có thể nói, nhóm Lê Duẩn đã loại trừ Hồ Chi Minh vào thế phải im lặng..(08)
(08) Ho chi Minh .. Ibid, tóm lược 536-538
Trước khi tiến hành Tổng Công kích Tết Mâu Thân, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và đám bộ hạ, cộng thêm Tố Hữu đã đi một chuyến viếng thăm Bắc Kinh và sau đó đến Liên Xô..
Con đường tiếp vận mà Lê Duẩn dùng để tiến hành cuộc chiến tranh đánh chiếm miền Nam vẫn là Đường mòn Hồ Chí Minh. Nó được xây dựng từ năm 1950. Nhưng kể từ năm 1959, có chiến dịch cho bộ đội Việt Minh xâm nhập vào Nam mỗi ngày một nhiều. Đường mòn HCM mới thực sự trở thành con đường huyết mạch vận chuyển người và võ khí vào miền Nam.

Không có con đường này và không có cuộc Trung lập hóa Lào do cái sai lầm của chính quyền Kennedy, cuộc chiến đã hẳn khác.

  Chặn được con đường này, chiến tranh sẽ đem đến một hậu quả không giống như ngày hôm nay.
TT. Nixon viết: “We failed to prevent North Viet Nam from establishing a key supply route, the Ho Chi Minh Trail, through Laos and Cambodia “.(Chúng ta đã thất bại trong việc ngăn chặn Bắc Việt thiết lập một con đường tiếp vận chính là đường mòn Hồ Chí Minh đi qua Lào và Cambodia)(09).
(09) No more Vietnams, Richard Nixon, trang 47

Năm 1964 có 12.000 người và 33.000 vào năm sau. Từ 1966 đến 1971, con số lên tới 600.000 quân đội Bắc Việt được chuyển vào Nam qua đường mòn này.
Hàng vạn TNXP đã được điều động để xây dựng trên tuyến đường này. Sự tuyên truyền khéo léo, che dấu đã cho thấy nhiều thanh thiếu niên đã tình nguyện xông pha vào “cõi chết” vì bom Mỹ bỏ ngày đêm.

Họ đã chết bỏ xác tại trận hay chết cho chính tương lai tuổi trẻ của họ sau này- không chút đền bù- như một đồ dùng phế thải.

Viết về họ là xót thương cho tuổi trẻ VN.

Claude de Groulat đã dành hẳn chương XVIII trong sách của ông để nói về con đường mòn này. Đây là con đường chiến lược vận chuyển người và vũ khí, dài khoảng 4000 cây số, chằng chịt những đường nhánh, có nơi chỉ rộng độ một thước, có nơi có thể cho hai đường xe qua lại. Thời gian thuận lợi nhất cho việc vận chuyển là từ các tháng giêng đến tháng tư.

Để đi trọn con đường mòn này, thời gian phải mất là từ 3 đến 5 tháng . Số lượng tổn hại trên đường mòn là 15% hoặc hơn thế nữa do bom đạn Mỹ, bệnh tật và đào ngũ.
Người Mỹ Đã dành hơn phân nửa số máy bay của không quân Mỹ dùng vào việc bỏ bom con đường này mà mục đích chính là ngăn chặn ít ra là một phân nửa số tiếp liệu từ miền Bắc vào Nam.

Họ đã phải trả một giá đắt cho mỗi tấn tiếp liệu từ miền Bắc vào Nam .
Hàng ngày có khoảng 380 lượt máy bay C-119, C-130 hoặc B.52 thả bom suốt dọc con đường này ..Trong đó có bom hóa học để đốt cháy rụi cây rừng mà một ngọn cỏ cũng không mọc được. Chưa kể các tín hiệu điện tử được gọi là Igloo White thả xuống mỗi khi có tiếng động hoặc sư vận chuyển của chân người hay xe cộ đi qua sẽ báo động cho trung tâm ở phi trường. Hoặc hệ thống Pave way dùng các tia sáng laser. Khi mục tiêu bị phát hiện, máy bay bắt được tín hiệu thì hệ thống Pave way giúp máy bay thả bom theo sự chỉ dẫn của hệ thống tìm ánh sáng ..(09)
(09) Trích L’Aigle et le Dragon, Claude de Groulat, nxb Rossel, các trang từ 246-250.

Họ những TNXP là những kẻ hy sinh nhiều nhất, kẻ thiệt thòi nhiều nhất, kẻ không được hưởng chút ân huệ nào của chính quyền cộng sản.(TNXP).

Phải nói họ là những con vật thí cho sự thử thách giữa tiến bộ kỹ thuật và sức chịu đựng và sức xây dựng của bàn tay của con người.

Đọc Phan Nghị trong Vượt Trường Sơn, trang 88 để thấy những trận bom lân tinh (Bombe Phosphore) mà Claude de Groulat vừa nói đến ở trên .. nó khủng khiếp như thế nào.

Loại bom này mới được đem xử dụng ở các chiến trường từ mấy tháng nay. Nó có một sức cháy dai dẳng nửa ngày cũng chưa hết. Và khói của nó có mùi thối, có tác dụng xua đuổi tất cả những loài sinh vật trong đó kể cả giống người phải chui ra khỏi các hầm hố. Chất khói của nó bám vào người thì cũng chẳng khác gì như khi ta bị con giời leo bò trên da thịt”.(10)
“Và khi về đến phi trường theo nhận xét của Phan Nghị về các phi công vừa đi ném bom về:
“Các phi công ai nấy đều tươi cười nhảy xuống phi cơ .Tôi không đọc thấy, không nhận thấy, và cũng không nhìn thấy một nét căm thù nào biểu lộ trên khuôn mặt của họ cả .. Họ đánh giặc rất thản nhiên và vui nhộn“(10)
(10) Vượt Trường Sơn, Phan Nghị, trang 83 đến 91
   Những chúng từ của một số nhà văn về đường mòn

Đường mòn là một thứ Holocaust của chiến tranh hiện đại. Tất cả con đường đều được xây dựng bằng tay và ở hai bên vệ đường có trồng tre, che khuất đến nỗi máy bay không thể nào khám phá ra được.

Họ là những người đi trước mà về sau. Trước những trận đánh, họ luôn luôn đi trước để mở đường, xây dựng chiến tuyến, rồi trực tiếp tham gia chiến đấu, cuối cùng, họ lại chính là những người về sau thu dọn chiến trường, tải thương, chôn cất liệt sĩ”.(11)
(11 )Trích bài viết của Francois Guillemot: Trực diện nỗi đau và cái chết, Trương Hòa dịch, Talawas 2010 .
Có nhiều người trong bọn họ rời nghế nhà trường ở tuổi 13, 15 tuổi, trở thành TNXP” Giải phóng miền Nam” mà độ tuổi từ 13 đến 24 tuổi.

Phần đông họ là các cô gái học sinh, không kiến thức quân sự, chưa một lần xa nhà, ban đêm vẫn còn sợ ma đã được nhanh chóng ném ra chiến trường.

Có những đơn vị cấp tốc được thành lập, không được trang bị, ngay một đôi dép cũng không có, hoặc có không đúng cỡ, đi chân đất, bàn chân phổng rộp. Một số đội viên đã ngã xuống ngay từ những ngày đầu ở chiến trường vì bom đạn Mỹ, hoặc do rắn cắn chết mà chưa có một ngày cống hiến.
Khẩu phần ăn rất thất thường mặc dù trên nguyên tắc phải được ăn uống đầy đủ. Tiêu chuẩn là 24 kg/đầu người. Thực tế khắt khe của chiến trường do phải di chuyển để tránh bom Mỹ nên thường ở trong tình trạng thường xuyên thiếu thốn lương thực, thuốc men và quần áo.
Tháng chỉ được phân phát 4kg/đầu người. Thay vì 24 kg.
Có khi khát quá, họ thấy một hố bom thì vội vã múc uống cho đã khát và cho vào bi đông. Nhưng đến khi nhá đèn Pin mới phát hiện nổi lềnh bềnh xác người chết đa thối rữa .

Sự hy sinh của đội quân TNXP mà tỷ lệ nữ chiếm một nửa hoặc 70 đến 85% ..

Sự hy sinh của họ là vô bờ bến, bất kể đến quy luật thể lý của người phụ nữ như thời kỳ kinh nguyệt vv..

Trong chiến tranh, không ai có thời giờ nghĩ tới cái băng vệ sinh của người phụ nữ khi có kinh nguyệt.
Nhân vật Thu-một nhân vật chính trong các hồi ký của Xuân Vũ cũng từng lội qua suối khi có kinh nguyệt. Tác giả Xuân Vũ viết:
Chập sau, thấy Thu hơi tỉnh người lại, tôi hỏi:
– Em thấy trong mình thế nào?
Thu lắc đầu. Đôi môi Thu khô ran như muốn nứt ra. Nước da của Thu vừa xanh vừa tái. Quần áo ướt đẫm. Tôi chú ý thấy dưới đít võng những giọt nước hồng hồng.
Thì tôi biết Thu vẫn khó ở . Và có thể Thu ốm nặng vì cái trận lội suối này. Tôi ái ngại cho Thu vô cùng. Tôi muốn tìm ông bác sĩ Năm Cà Dom nhưng không thấy ông ta ở đâu “
.(12)

(12) Xương trắng Trường Sơn, Xuân Vũ, trang.
Xuân Vũ kết luận: Cô Thu, sau năm năm tình duyên và công tác chìm nổi, đã mang một chứng bệnh kinh niên mà nguồn gốc phát sinh từ lúc cô vượt sông và ngâm mình dưới suối …
Do đó, cô trở thành phế nhân, suốt năm năm không biểu diễn được một màn nào . Vì thế, cô được ” ân huệ” cho về Bắc cũng bằng đường Trường Sơn, với cặp chân cô ta, như lúc cô vào Nam” .(13)
(13) Xuân Vũ Ibid, trang Thay lời tựa
Phần Thu: Thu sợ tất cả mọi hòn đá trên mặt đường. Mà cái mặt đường vinh quang, đường giải phóng miền Nam này có chỗ nào là không lởm chởm đá và gai ” (14)
(14)Trích Xuân Vũ, Đường đi không đến, trang 20
Phải đi qua con đường ấy, phải đã từng trải nghiệm cuộc sống khó khăn nguy hiểm ngày đêm trên con đường ấy mà theo như lời Xuân Vũ :

Tôi biết rằng con đường về là con đường đầu thai một lần nữa, con đường về là con đường đói khát, con đường sấm sét, con đường đau khổ và gian khổ, con đường dốc, con đường dài, con đường đi không đến mà rồi vẫn phải đi, trên vai phải mang theo những sứ mạng bày đặt, không biết ai trao cho, một thứ vinh quang không có, một thứ tình cảm ái quốc cũngg iả tạo nốt, chỉ còn lại có tình cảm gia đình là thực mà thôi(15).
           (15)Xuân Vũ, Đường đi không đến, trang 11
Các cô gặp phải các trường hợp tắt kinh hoặc rối loạn kinh nguyệt hoặc đau đớn trong hoàn cảnh thiếu thuốc men và băng vệ sinh. Băng vệ sinh chỉ là một miếng vải mà thôi. Về vấn đề vệ sinh vùng kín của phụ nữ ít được đề cập đến và chẳng ai muốn rắc rối đặt thành vấn đề.
Da dẻ các cô nổi ghẻ, tóc trên đầu đầy chấy rận. Các bộ phận kín trong cơ thể ngứa ngáy đến phát điên. Các cô gái còn thường xuyên bị các loại bò cạp, nhện rừng gây ra những vết cắn, nhức, sưng tấy. Các loại bọ “đen và to”, các loại côn trùng đủ loại tham lam hút máu người gây ngứa ngáy, sưng tấy trên da thịt.

Thân thể mỏi mệt và ẩm ướt nơi các vùng kín là nơi lý tưởng thu hút bày muỗi và ruồi vàng nhiều vô kể. Tất cả đã khiến cho cơ thể nhiễm các cơn sốt làm mỏi mệt và tàn tạ dần dần.
Phần đàn ông như theo sự hiểu biết qua những cán bộ Hồi Chính, Phan Nghị ghi nhận:

Người ta cũng còn được biết rằng những người lính của MTDTGPMN hoạt động ở vùng 4, một số lớn hiện đang mắc phải một cái bệnh quái đản: Họ bị chứng di tinh, nó bắt đầu bằng một hiện tượng xuất tinh sớm . Nguyên nhân là bộ phận tinh sách thần kinh hưng phấn quá mau..”
(Trích Phan Nghị IBID, trang 105)
Họ luôn sống trong một thế giới bị đe dọa bởi thiên nhiên và sự đe dọa từ trên trời.
Không được thuốc men, không được thường xuyên tắm rửa, các vùng kín như háng, nách, kẽ bàn tay, ngay cả đầu vú trở thành chỗ cho các nấm mọc. Các vùng ẩm ướt bị quấy rầy bởi đủ thứ bệnh ngoài da dần dần ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tinh thần của các chiến binh.

Lãnh đạo Hà Nội “lo ngại”, nhưng những người lãnh đạo quân đội ở Hà Nội chỉ biết gửi thuốc đỏ để gửi cho họ. Thuốc đỏ nào có thể chữa trị được các nấm, các vùng da khô cháy nứt nẻ, các bệnh đường ruột và nhất là tinh thần căng thẳng đến kiệt sức.

Cái đói gặm mòn tuổi trẻ các cô gái. Đôi khi chỉ có cháo mà ăn. Muối đường thiếu và rau tươi thì hầu như không có. Họ phải tìm kiếm hái rau rừng. Vào mùa mưa thì măng rừng mọc rất nhiều trở thành nguồn rau chủ yếu.
Vậy mà Nguyễn Văn Đệ đã viết ca tụng về: Một thời oanh liệt của TNXP ..
Nhưng riêng Dương Thu Hương- kẻ trong cuộc, người đã nếm trải nghiệm đủ và viết như thế này :
Tôi nằm xuống ván, gối đầu lên tay, đăm đăm nhìn kèo hầm. Dọc theo kẽ nứt của cây kèo, một đàn rệp béo mọng xếp hàng nằm nghỉ. Lũ rệp thời chiến là những ông Hoàng Bà Chúa. Chúng được tự do và luôn luôn no đủ. Người ta hiến máu cho chúng một cách vui vẻ, so với lệ phí của bom đạn thì đó chỉ là những khoản thuế còm” .(16)
(16)Dương Thu Hương, tiểu thuyết Vô Đề, Stanton, CA, Văn Nghệ, trang 68
Trường hợp 10 cô gái ở Đồng Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã bị hy sinh, được tôn vinh và được ghi lại như sau: ” Ngày 24 tháng bảy 1968, sau 18 lần địch đánh phá, một loạt quả bom đã thả trúng vào hầm, mười cô gái Đồng Lộc đã hy sinh vào lúc 5 giờ chiều, trong tư thế tay vẫn còn cầm dụng cụ sản xuất “.(17)
(17)Trích bài viết của F. Guillemot : 10 cô gái Ngã ba thuộc ty Giao thông Hà Tĩnh, Anh hùng quê hương 1975.
Hậu quả là đưa đến tình trạng một số trong bọn họp hoặc tự tử, hoặc đào ngũ hay mất tích.
Theo Xuân Vũ, người ta tìm thấy trong sắc cốt hoặc trong túi áo các xác chết có những truyền đơn được thả xuống từ máy bay kêu gọi các cán binh cộng sản về đầu hàng, hoặc những chỉ dẫn cách thức về đầu hàng như thế nào ..Đó là những người lính có ý đính đào ngũ mà chưa có dịp thực hiện được thì đã bị bom đạn giết chết .
Phần Phan Nghị cho rằng một khi vượt Trường Sơn vào đến miền Nam, họ có nhiều cơ hội đào ngũ hơn như đi thu mua gạo ở các vùng thôn quê là một cơ hội tốt nhất để trốn về phía Quốc Gia.
“Tôi hỏi một quy chánh viên:
– Ông ra quy chính trong trường hợp nào?
– Đi lấy gạo . Phần lớn chúng tôi chỉ có thể lợi dụng đi lấy gạo, hay ở bệnh viện ra thì mới trốn được mà thôi .
– Mỗi lần đi lấy gạo có bao nhiêu người?
– Thường là 10 người
– Ông lấy gạo ở vùng nào?
– Vùng Chợ Cát, ( Bình Định) . Mỗi người lấy hai gạt đổ vào ba lô. Chỉ ăn 5,6 hôm là hết và lại phải đi .. Sau đó, họ được hưởng một sinh họat phí đồng đều là 20 đ/ một ngày . Nhưng để cho các quy chính viên có một sự ưu đãi hơn, một vài nơi đã linh động cắt bớt sinh hoạt phí của tù binh đi rồi bù đắp cho quy chính viên ..(18)
(18) Trường Sơn, Ibid, trang 199
Người ta phỏng đoán có khoảng 300.000 vừa là TNXP, vừa là cán binh bộ đội đã đào ngũ hay mất tích hoặc chấm dứt đời sống.

Bệnh tật như kiết lỵ, sốt rét đã nhanh chóng hoàn tất cuộc đời của họ mà có thể chưa một ngày lâm trận. Thân xác chỉ còn là những bộ xượng lụi tàn, nằm chờ chết như một niềm an ủi cuối cùng ..
Xin một lần đọc Xuân Vũ mô tả những trận sốt rét rừng:
Thôi đích thị hắn rồi ! Thằng sốt rét lại đến viếng tôi. Tôi hình dung rõ từng đợt vi trùng . Chúng hình tròn hoặc hình lưỡi lam theo lời bác sĩ giảng . Chúng xông vào cắt những túi hồng huyết cầu vỡ ra, hoặc quấn lấy những túi ấy và cũng làm cho nó vỡ ra, tồi xoắnn lấy từng túi mà tiêu diệt.
Sau cuộc ác chiến, khi hồng huyết cầu chống lại có kết quả thì con người cứ eng eng không lên cơn hẳn, còn khi lũ vi trùng lấn lướt hoàn toàn thì bịnh nhân run lên ngay và xác hồng huyết cầu bập bềnh trong máu …Tôi rất bình tĩnh nhưng lại vô cùng ngao ngán, bởi vì tôi biết bản thân mình đang lao vào một cuộc chiến đấu mà tôi biết trước kẻ chiến bại sẽ là tôi
”.(19)
(19) Trích Xuân Vũ, Đường đi không đến, trang 110
Nhưng ngoài những cơn sốt rét, còn lại đủ loại cơn sốt như Xuân Vũ viết:
Nhưng đây không phải chỉ là một cơn sốt tầm thường, một cơn sốt hơn mọi cơn sốt, cơn sốt vàng kí nin, cơn sốt đỏ của những nốt muỗi đố, cơn sốt của thế kỷ 20, cơn sốt của lòng tin và sự đổ nát, cơn sốt của chủ nghĩa và sự suy đồi trông th (…) Cơn sốt của những canh bạc mù quáng, cơn sốt của những con vẹt ăn phải quả dại, giờ bỗng nhiên câm mồm, cơn sốt của những bạo chúa khoác áo thánh thần …”. (20)
(20)Xuân Vũ, Đường đi không đến, trang 83
Những điều Xuân Vũ viết ra cách đây đã nửa thế kỷ mà xem ra bây giờ vẫn còn đúng!
Cũng theo Xuân Vũ:
Để vun bồi “uy tín”(hão) cho một người hoặc một vài người trên dãy Trường Sơn này, núi rững đã phải nhận hàng vạn bộ xương khô, hằng vạn nấm mồ không có nấm, không có bia.
Trong không khí Trường Sơn lúc bấy giờ có vô số sự uế tạp: nào mùi thuốc đạn, nào mùi thây ma sình thối, nào hơi lá mục muôn thuở của rừng hoang, cộng vào đó trời mưa nắng bất thường. Cứ mưa xong lại nắng, đang nắng lại đổ cơn mưa, cho nên bệnh thương hàn, kiết lỵ rất phổ biến.
Hay có thể nói là gần 70% người mắc những chứng bệnh này. Thế là ngoài sốt rét rừng ra, chúng tôi còn có thêm thương hàn, kiết lỵ
”.

Có người bị một lúc cả hai chứng: thương hàn và kiết lỵ hoặc kiết lỵ à sốt rét. Binh tướng nào còn có tinh thần chiến đấu. Hoạ chăng có Gia Cát Lượng tái sinh mới điều khiển nổi nổi đám quân ọc cạch như vậy “.(21)
(21)Trích Xuân Vũ, Xương trắng Trường Sơn, trang 330.

Nhưng những tiết lộ của Xuân Vũ qua nhân vật bác sĩ Cường sau đây thì thật không thể nào tưởng tượng ra được. Theo lời của bác sĩ Cường kể lại cho bác sĩ Năm Cà Dom thì khi có quá nhiều thương bệnh binh mà không có thuốc men để chữa trị được. Để thì bệnh nhân trước sau gì cũng chết. Theo lời bác sĩ Cường kể lại:
“-Ừ đúng thật. Vô nhân đạo, dã man, tán tận lương tâm nữa, nhưng mà nếu để cho họ rên siết, vật vã, lăn lộn, mà mình không cứu chữa cũng không kéo dài được sự sống của họ thêm phút nào, thì lại càng dã man, tán tận lương tâm hơn. Tớ đã suy nghĩ rất nhiều, thấy mình ác, tệ thật. Nhưng làm sao ? Đứt động mạch, vỏ não bị thương, gãy đốt xương sống vv.. cậu có là thánh cũng đành co tay ở đây … Nhưng tớ không ra lệnh. Tớ cứ để cho tổ lao động họ làm. Bề nào cũng chết thà chết sớm cho đỡ đau khổ ..
Sau khi nghe xong câu chuyện, bác sĩ Năm Cà Dom mới hiểu rõ câu chuyện.
” Thật là ngoài sức tưởng tượng. Thảo nào tôi trông thấy những cái hầm giống như những cái huyệt mô dưới đó có những thương binh nằm sẵn. Khi cần, cứ lấp đất, tiện lợi biết bao (22)
(22)Trích Xuân Vũ, Xương trắng Trường Sơn, trang 263.
Theo ông Bùi Tín, người đã từng đi trên Đường mòn Hồ Chí Minh vào thập niên 1961 đã nhận xét như sau về con đường này:
Thế nhưng, số người hy sinh trên con đường mòn này không phải là ít. Cách vài binh trặm( mỗi binh trạm cách nhau 20 đến 30km) lại có một nghĩa trang, chôn cất anh em hy sinh trên con đường mòn. Hồi ấy có đến vừa đúng 10 kiểu chết khác nhau trên con đường hành quân Nam-Bắc. Lạc đường trong rừng rậm, đi miết, không tìm được lối trở ra, bị chết đói. Đi tốp nhỏ, ngủ đêm bị hổ vồ. Trời mưa, không nhìn rõ, đạp lên rắn độc, bị cắn chết . Bị đau ruột thừa cấp tính, hoặc bị sốt rét ác tính không chữa chạy kịp. Mắc võng dưới cây to, có cơn lốc bất thường, cành cây lớn gẫy hay cành cây to đổ, bị đè chết. Qua suối lớn, nước chảy xiết, cầu trơn trượt chân, bị cuốn đi, không cứu kip. Có khi chỉ con vắt xanh, hàng trăm, hàng nghìn con ngọ nguậy trên đường ngửi thấy hơi người, bám vào chân rồi leo lên người ở nơi có động mạch, hay nơi có tĩnh mạch lớn, cắn và hút thỏa sức; thường là ở nách, ở bẹn và cả bộ phận sinh dục của nam và nữ, không cầm máu được. Có khi leo núi đá đầy rêu, trời mưa, đất trơn như đổ mỡ, trượt chân nhào xuống vực sâu cùng với ba lô nặng sau lưng. Lại có khi ăn phải nấm độc, rau độc, không cứu kịp. Chưa nói đến vụ lụt cực lớn trên rừng như năm 1965 ở (Tây guyên, nhà cửa, trâu bò, heo, gà và cả người nữa bị nước dâng lên cao và cuốn đi. Vậy mà chúng tôi vần nhẹ nhàng dấn thân vì có một niềm tin vững hắc ơ thắng lợi, vì luôn luôn nghĩ: ” Chí làm trai thời loạn, phải có mặt ở nơi mũi nhọn. Cầu an, bảo mạng, nhường hy sinh gian khổ cho người khác là sự ươn hèn và ích kỷ đáng hổ thẹn với lương tâm” (23).
(23)Trích Bùi Tín, Hoa Xuyên Tuyết, trang 26-27
Cuối cùng là một con số không kể xiết những người tự nguyện chấm dứt cuộc đời ..
Còn nếu không tự chấm dứt cuộc đời thì nhiều TNXP trở thành điên khùng, rồ dại như Dương Thu Hương viết trong tiểu thuyết Vô Đề:
 “Mấy cậu sốt rét ác tính điên rồ, cởi hết áo quần ra mà nhảy múa la hét” .

Phần ông Nguyễn Văn Đệ, trong Một thời oanh liệt của TNXP nhắc đến một tình huống dẫn đến Hội chứng sau đây:
Có khi chị em đang xúm lại đọc một lá thư của gia đình gửi đến, bỗng một người xúc động khóc nấc lên, thế là cả tiểu đội, đại đội như có sự phản ứng kích động dây chuyền tất cả đều la hét khóc toáng lên và cứ thế lan từ đại đội này sang đại đội kia. Họ khóc, họ kêu, họ chạy, họ nhảy, thậm chí trèo lên cây nói cười lảm nhảm hàng tiếng đồng hồ”.
Xuân Vũ trong Xương trắng Trường Sơn viết :
“Tôi được nghe anh em kể lại thì đêm qua lúc ai nấy đang ngủ, hắn ta cũng đang ngủ, bất thình lình, hắn tung màn ra nhảy xuống đất và kêu lên những tiếng thất thanh, rồi cứ như một thằng mất trí, hắn tuôn rừng lướt bụi chạy mãi, vấp té, lại ngồi dậy, lại chạy. Anh em đuổi theo bắt, nhưng không tài nào giữ hắn lại được. Mãi cho đến lúc trưa này, họ mới bắt hắn về trói lại và đi bá cáo cho tôi ..
Bỗng bệnh nhân cười lên và nói như hát.
– Út út út ! Rầm rầm rầm !
Tôi nhớ lúc sau trận máy bay B.52 oanh tạc, đơn vị phải gấp rút di quân, tôi thấy có một người bị đồng đội dắt đi bằng một sợi giâ mây. Và một người khác chạy bạt mạng qua những hố bom còn nghi ngút khói “(24)
(24)Trich Xuân Vũ, Xương trắng Trường Sơn, trang 328-329

Đó là hiện tượng cuồng điên tập thể . Nhà văn Võ Thị Hảo sau này đã viết truyện: Người xót lại của Rừng Cười ..
Câu chuyện kể về 4 cô gái giữ kho quân nhu trên đường Trường Sơn mà dòng nước xanh đen thớ lợ đã dần dà vặt trụi tóc của họ. Thảo, môt cô gái thứ năm gia nhập nhóm 4 cô gái và họ hy vọng dùng các lá thơm cho Thảo gội để không cho rừng cướp đi mái tóc đẹp của Thảo.
Nhưng chỉ hai tháng sau, tóc của Thảo chỉ còn là một túm sợi mỏng manh xơ xác .. Các cô gái ôm nhau khóc cay đắng. Nhưng Thảo chỉ cười và khuyên các cô đừng khóc làm gì vì em có người yêu học văn khoa Hà Nội: Em thế này chứ em có trọc đầu thì anh ấy vẫn yêu cơ mà ..
Họ đã ở đây qua ba mùa mưa rầu rĩ. Chợt một ngày có ba người lính đến lĩnh quân trang .. Anh bị một con “vượn người” lõa lồ ôm chặt, nó phát ra những tiếng cười khanh khách. Trên sàn chòi còn lại ba cô gái đang vừa cười, vừa khóc, tay dứt tóc và xé quần áo. Còn một cô đang chạy tới chạy lui ôm đầu tuyệt vọng . Cô chưa bị lây, nhưng- với cung cách này, chẳng bao lâu, cô ta cũng sẽ không thoát nổi ..
Khi các cô chợt tỉnh lại thì ba người lính đã bỏ ra đi và các cô đọc được mảnh gấy ghi lại :
” Kính chào các đồng chí. Chúng tôi sẽ lấy quân trang ở một kho khác và gọi bác sĩ đến. Các đồng chí thân yêu. Chiến tranh mà. Mong tha lỗi vĩnh biệt”.
Vài ngày sau, cô y tá đến, cho các cô gái uống thứ thuốc gì đó màu trăng trắng . Không thuốc thì cũng đã khỏi. Nhưng các cô gái trầm lặng hẳn và già thêm hai mươi tuổi.
Cánh rừng nay được mang tên “Rừng cười” từ đó.
Một ngày kia, tiếng súng địch tới gần và cả bốn cô đã hy sinh. Riêng Thảo sốt nặng- những trận sốt rét nhập môn cho người ở rừng- đã được các cô đem đi dấu ở một gốc cây kín đáo nên Thảo còn sống sót.
Riêng Hiên, người lính đằ cứu các cô gái trong cơn điên loạn cũng bị hy sinh ..Người ta đang làm giấy gửi ra Bắc để truy tặng huy hiệu anh hùng thì chính trị viên đọc được những dòng này trong cuốn nhật ký của Hiên dấu trong ba lô :
Sẽ không bao giờ mình quên được những người đã nhìn thấy ở Rừng Cười. Có lẽ cảnh chết chóc còn dễ chịu hơn ! Ôi ! Thế là sau chín năm ở chiến trường, tôi đã nhìn thấy ở Rừng Cười cái cười méo mó man dại của chiến tranh.
Việc chiến tranh lôi những người phụ nữ vào cuộc chiến thật là khủng khiếp. Tôi sẵn sàng chết hai lần cho họ khỏi rơi vào cảnh ấy.
Tôi rùng mình khi nghĩ rằng, người yêu tôi, em gái tôi, cũng đang cười sằng sặc như thế, giừamột khu rừng mênh mông nào đó
 “.

Vì những dòng này, người ta kết luận rằng Hiên có tư tưởng dao động, sặc mùi tiểu tư sản (anh vốn là sinh viên) . Hành động anh hùng của anh chỉ là ngẫu nhiên, bột phát. Chính trị viên nói : ” Anh ta không bị kiểm thảo là may rồi .”
Hai năm sau, Thảo- người sót lại của Rừng Cười- đang học năm thứ nhất khoa văn.
Số phận dành cho Thảo như thế nào có lẽ mỗi người tự tìm cho mình một câu trả lời .
Sau chiến tranh, hầu hết họ trở về trong thân thể úa tàn, khô héo, da dẻ nhăn nhẻo, bệnh tật..và khuyết tập trong một tâm hồn đã đánh mất tuổi thanh xuân và tuổi trẻ.
75% phần trăm số họ quay trở về nghề nông vì không có học thức, không có ngành nghề. Và kéo lê cuộc sống không chồng, không nhà, không con, không chế độ và sống đời sông độc thân vì không người đàn ông nào đoái hoài đến họ.

Vấn đề quan trọng nhất là giúp họ phục hồi lại nữ tính đã bị đánh mất trong những năm tháng trên đường Trường Sơn.

Nhưng đánh mất tuổi trẻ thì lấy gì phục hồi lại?

Nhưng ai cũng hiểu rằng điều đó chẳng bao giờ có cơ thực hiện nổi vì chế độ nay chẳng bao giờ quan tâm đủ đến họ.
Trường hợp nhà văn Xuân Vũ, ông đã may mắn thoát nạn trên đường vượt Trường Sơn, ông đã may mắn đên nơi đến chốn. Đường Trường Sơn đã để lại sinh mạng của nhiều người chỉ còn là những bộ xương trắng. Nhưng dù gì, ông cũng đã tiêu phí hơn 20 năm tuổi trẻ để đi trên con đường này mà nay bí lối: Đường đi vẫn không đến. Đến mà không đến. 37 năm sau con đường Trường Sơn ngày hôm nay đã đi đến đâu?

Mặc dầu Hồi Ký của Xuân Vũ phơi bày ra những cảnh tượng mà sức người không tưởng tượng ra nổi. Vậy mà ộng tiểu đòan trưởng của bộ đội chánh quy miền Bắc xâm nhập sau đã tìm Tự do sau khi đọc xong cuốn Đường đi không đến: ” Văn thì hấp dẫn nhưng chuyện khổ thì không ăn thua gì với sự chịu đựng của đơn vị tôi “.

Những chứng từ liên quan đến số phận những con người đi trên đường Trường Sơn
Hồi ký của Xuân Vũ

Có lẽ nhiều người không lạ gì 5 cuốn ký sự của nhà văn Xuân Vũ, Bùi Quang Triết viết vê Con đường Trường Sơn. Đó là các cuốn Đường Đi không đến, Xương Trắng Trường Sơn, Đến mà không đến, Đồng Bằng gai góc và Mạng người lá rụng.
Mỗi nhan đề sách gửi đi một thông điệp, một lời tố cáo về cuộc chiến tranh xảy ra trên Đường mòn Hồ Chí Minh.
Ông vốn là người sinh trưởng ở miền Nam, theo cộng sản rồi tập kết ra Bắc vào năm 1955 khi còn rất trẻ. Ông trở lại miền Nam năm 1971 nhờ đó có dịp đi trên con đường Trường Sơn để viết lên những tập Hồi ký này. Vốn là một nhà văn, nhà báo đã từng sống nhiều năm ở ngoài Bắc nên ông quen biết nhiều trong giới văn nghệ sĩ miền Bắc. Những tiết lộ của ông về giới văn nghệ sĩ sau này sẽ là nhưng tư liệu văn học quý giá.

Nhưng những chứng từ về con đường Trường Sơn vẫn là nhưng giá trị sử liệu vô giá.

Đó là giá trị tố cáo.

Thật vậy .. “ Con đường chập chùng rừng núi không tên đã dìm chết bao nhiêu người có tên, nhưng khi nằm xuống thì nấm mộ lại không tên (25)
(25 )Xuân Vũ, Mạng người lá rụng trang 10.

Mỗi tiêu đề cuốn sách của ông tự nó mang tính tố cáo.

Trong Đường Đi không đến, nhà văn Xuân Vũ lấy kinh nghiệm lúc còn nhỏ thường nhìn thấy chiếc xe ngựa quen thuộc chạy từ làng lên quận. Con ngựa già, ốm yếu hầu như không đủ sức kéo xe nữa. Lão già chủ xe đã nghĩ ra cái kế buộc một mớ cỏ non trên cáng của xe ngựa. Mỗi lần con ngựa được buộc vào cảng xe thì thấy trước mặt nó đám cỏ non trước mặt. Cái mớ cỏ non đó nhảy múa trước mặt con ngựa và thúc dục nó chạy tới.

Đó là hình ảnh biểu tượng của chế độ Đảng lãnh đạo và nhân dân là con ngựa già ..

Sự thảm khốc trên con đường mòn này không hẳn do thiên nhiên gây ra như rừng thiêng nước độc mà còn do sự vô trách nhiệm của lãnh đạo Hà Nội. Bộ Tổng Tư lệnh được Tổng cục Hậu cần bá cáo là đường đi tốt lắm, trang bị quân sĩ rất đầy đủ, chiến sĩ và cán bộ rất phấn khởi khi được đi giải phóng miền Nam.
Nhiều thanh niên như Phẩm đã bị lừa:
” Em dang học lớp 10 một thì bị động viên . Em được đưa vô thẳng trong này. Ở trên hứa sẽ cho về Hà Nội học tiếp sau sáu tháng phục vụ ở Trường Sơn”.(26)
(26) Mạng người lá rụng, Xuân Vũ, 20

Và đã bao nhiêu mùa lá rụng, Phẩm vẫn đóng trụ một mình trên đường Trường Sơn? Và chẳng hiểu đã có bao nhiêu thanh niên như Phẩm đã tình nguyện hy sinh trên con đường này để giải phóng miền Nam?

Phẩm chợt hiểu rằng: Con đường này một khi đã dẫm lên là kể như phân nửa cuộc đời đã hy sinh cho Tổ quốc.

Nhưng Hồi ký của Xuân Vũ mới chỉ nói lên được một nữa những khổ đau của đoạn đường mòn này .

* Phải đợi sau khi hòa bình trở lại, đất nước được thống nhất. Nỗi đau của con đường Trường Sơn mới thật sự là nỗi bất hạnh cho những người đã từng hy sinh tuổi trẻ của họ cho mảnh đất ấy.
Những phần viết sau đây hãy để cho họ cất lên tiếng nói- tiếng nói không hận oán- mà làm xao động lòng người. Trong cuộc chiến giữa đôi bên này, hãy khoan nói đến điều gì lý tưởng.

Tiếng nói của Vụ Thi Vinh

Cô là đại diện một trong số trên 10 ngàn TNXP tình nguyện đi công tác ở đường Trường Sơn. Trường Sơn làm nên cuộc đời cô. Cô đã nghĩ như thế. Đoàn của chị Vinh được thành lập vào năm 1956. Nhiệm vụ của cô và các bạn là chặt cây, mở đường, làm đường và lấp đầy các hố bom và nguy hiểm hơn nữa làm nổ các quả bom đã rơi xuống mà chưa nổ.

Theo Vinh, chặt và đốn các cây rừng là một việc thập phần gian nan, vượt sức người (superhuman task). Trong trường hợp gặp cây lớn quá không cưa nổi, chúng tôi phải cho nổ mìn. Phải cần 20 người mới có thể cưa và chuyển dịch một cái cây lớn sang bên cạnh đường.

Tất cả đều làm bằng tay!!!

Phần lớn thì giờ làm việc là vào ban đêm. Ban ngày ngủ. Nhưng khi công việc khẩn cấp thì phải làm cả đêm lẫn ngày như lấp hố bom lại ..

Chẳng cần phải nói thì đời sống trong rừng là cực kỳ gian nan và vất vả . . Khi thiếu gạo thì phải tìm bất cứ cái gì có thể ăn được cho đỡ đói. (27)
(27)Patriots, The Viet Nam War, Chistian G. Appy, trang 103

Tiếng kêu của Nguyễn Thị Kim Chủy: We came home hairless with ghostly white eyes

Khi chúng tôi được trở về với gia đình thì đầu tôi đã rụng hết tóc và tròng mắt sâu hóm, trắng dã ..
Tôi đã tình nguyện đi lên Trường Sơn và đã ở đó trong 4 năm. Chúng tôi làm việc ở Quảng Bình, cửa ngõ đi vào Trường Sơn .. Chúng tôi hứng chịu nhiều bom đến độ có thể phân biệt được các loại bom qua tiếng nổ của nó.

Một lần, chỉ trong một ngày, chúng tôi hứng chịu 7 trận bom. Và thế là chúng tôi phải làm ngày, làm đêm để lấp các hố bom ..Người đội trưởng của tôi sai tôi đi xem xét nhóm TNXP khác ở cách chỗ chúng tôi làm khoảng 100 mét. Khi tôi gần đến chỗ họ thì tôi trông thấy những quả bom đang rơi xuống trúng vào hầm tránh bom của đám bạn. Có 5 người thì 4 người chết, xác không toàn thây, không nhận diện được. Họ chỉ còn là một đống da thịt bầy nhầy. Chỉ có một người còn có thể nhận ra diện mạo. Cạnh đó có một bà chắc là đại diện chính quyền địa phương đến thăm chúng tôi. Bà cũng bị chết thảm trên tay bà còn nắm chặt một đứa bé khoảng hai tuổi. Chúng tôi đành chôn chung cả hai mẹ con.

Sau khi chôn cất mấy người xong .. Chúng tôi còn lại hai hố bom phải lấp .. Chúng tôi tiếp tục làm việc như thể không có việc gì xảy ra cả.

Khi còn ở nhà, tôi chưa hề bao giờ thức đêm cả. Nay công việc đòi hỏi phải làm ban đêm. Tôi mất ngủ và nhiều khi ngủ đứng, vừa đi vừa ngủ. Một lần, tôi ngủ như thế và ngã chúi vào một bụi cây, họ phải đến kéo tôi ra.

Sau chiến tranh tôi trở về quê ở ngoại ô Hà Nội. Tôi bị mắc bệnh sốt rét ngã nước như phần đông các đồng chí khác. Đầu rụng hết tóc, da bủng, đau nhức khớp xương. Và nhiều phụ nữ khác tuyệt đường sinh đẻ .

Tôi có người bạn trai ở cùng xóm, tôi biết rằng mình không còn đủ năng lục sức khỏe để lập gia đình, tôi đành xin chia tay anh .. Tôi rất buồn và đau khổ bởi vì nhà anh ở không cách xa nhà tôi lắm.

Nay, tôi chỉ cân nặng có 37 kí lô ..Tôi đã xin chị tôi một đứa con và nhận nó làm con nuôi .(28)
(28)Trích Patriots. The Viet Nam war, Christian G. Appy, trang106

* Làng không chồng ở Tiên Hà

Đường về xã miền núi Tiên Hà gập ghềnh, heo hút bởi nhiều đoạn đèo dốc dựng đứng, khúc khuỷu. Xã có hơn 800 hộ dân, sống rải rác khắp các vùng đồi, trong đó hơn 1/3 là những “gia đình không có đàn ông”.

Số lượng phụ nữ đơn thân cứ tăng lên mỗi ngày và người ta bắt đầu gọi Tiên Hà là làng… không chồng! Nhưng tiếng đời thị phi không ngăn được khát vọng làm mẹ của những người phụ nữ trên đất này.

Đi khắp làng, đâu cũng chỉ thấy những dây phơi toàn quần áo của đàn bà và trẻ nhỏ. Bà Nguyễn Thị Cúc, 70 tuổi, ở thôn Đại Tráng đúc kết: “Vì trong làng không có đủ con trai để cho con gái cưới, nên đàn bà ở giá nhiều là phải”. Đúng là ở Tiên Hà có chuyện âm thịnh dương suy. Đàn ông đã ít, lại bỏ đi làm ăn xa biền biệt.

Về Tiên Hà chỉ bắt gặp toàn những người đàn bà lam lũ, dắt díu theo sau những đứa con lem luốc hoặc những phụ nữ rỗi việc, tụ nhau thành nhóm ngồi tán gẫu ở các ngã ba đường.

Chị Chử Thị Ninh ở thôn Trung An, tuổi đã 42, tự túc được mụn con trai lên 10, nói: “Tiên Hà xa xôi quá, ai mà thèm tới, phải tự túc thôi. Có được chồng mới là chuyện… lạ!”. Đúng là xa xôi thật, lại thêm cái “dốc Si không đi thì bò” chổng ngược, khiến Tiên Hà gần như cô lập với thế giới bên ngoài. Người dân nơi đây hiếm khi ra khỏi làng thì làm sao người ngoài dạm tới.

Chị Nguyễn Thị Ánh Liên, cán bộ tuyên giáo Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Quảng Nam, cho biết: “Thế hệ phụ nữ đơn thân lớn tuổi nhất ở Tiên Hà bây giờ là những cô gái thanh niên xung phong năm xưa trong “tiểu đoàn bà Thao”. Trở về sau chiến tranh, hàng chục người không còn cơ hội làm vợ, làm mẹ”.

“Tiểu đoàn bà Thao” là tên một đơn vị quân đội do người phụ nữ tên Thao chỉ huy, tham gia tải đạn và lương thực cho quân đội ta trên Đường 9 Nam Lào vào những năm chống Mỹ ác liệt. Những cái tên “vang bóng một thời” như Hai Khởi, Bốn Thời, Tám Hồng, Hoa, Tân… của đội ngày ấy, nay đã ngấp nghé tuổi 60,  sống quạnh quẽ tuổi già trong nghèo khó.

Bà Nguyễn Thị Khởi, một trong những nữ thanh niên xung phong đó, kể: “Tôi cưới chồng năm 1965, sau đó ra mặt trận. Năm 1982, tôi trở về thì chồng đã hy sinh. Lúc đó tôi đã 36 tuổi, ai mà ưng nữa, đành tự túc kiếm con nuôi”. Bà Khởi “tự túc” được 2 đứa con, một trai một gái, nhưng đứa con trai tên Phạm Thanh Trà chẳng may bị ảnh hưởng của chất độc màu da cam, sống đời sống thực vật. Nỗi đau lại đè xuống đôi vai của bà Khởi thêm lần nữa.

      Người đồng đội của bà Khởi là bà Bốn Thời nay cũng bước qua tuổi 59.

Năm 1964 kết hôn, năm 1967 ra trận. Ba năm sau, chồng bà hy sinh nhưng mãi hơn 2 năm sau bà mới biết. Nén nỗi đau, bà thầm lặng trở về chịu cảnh phòng không và đến năm 1984 mới “kiếm” được bé Tuyết. Năm 2000, bé Tuyết lên lớp 11, trong một chiều đi học về bị nước lũ cuốn trôi. Bà Thời khóc hết nước mắt, tiếp tục đơn độc trên hành trình tuổi già.

Không thể kể hết những thân phận hiện thời của những thành viên trong “tiểu đoàn bà Thao” năm xưa. Bà Tám Hồng sống cả đời cô độc, vừa mất bởi bệnh ung thư, nay không người thờ phụng. Bà Hoa, bà Tân cũng lặng lẽ trở về sau cuộc chiến, nay đau đáu phận phòng không. Bà Thời từ chối biết bao nhiêu mối tình đẹp khi đi kháng chiến bởi đã có chồng, để rồi cô lẻ thân cò trong thời bình…
Thế hệ phụ nữ không chồng tự túc kiếm con thứ hai ở Tiên Hà là những người đàn bà tuổi từ 32 đến 45. Dù UBND xã Tiên Hà chưa có con số thống kê chính thức, nhưng theo ông Nguyễn Lương Bá, Phó Chủ tịch xã, thì thế hệ này cũng đã có đến hơn 120 người. Họ “bỏ quên tuổi thanh xuân trong nghèo khó, cơ cực vào những năm 80 của thế kỷ trước. Khi ngoảnh lại, “cái tuổi đã đuổi xuân đi”, họ đành lẻ bạn, đành bằng cách này hay cách khác kiếm cho được đứa con để về già có người thờ phụng.(29)
(29 ) Trích Theo Người Lao Động

*Việt Nam: Nữ cán binh thời chiến, nỗi đau thời bình.

   NINH BÌNH, Việt Nam

Họ là những cô gái thời chiến, những thiếu nữ tình nguyện đầu quân vào một trong những đội nữ binh lớn nhất mà bất cứ nước nào từng đưa ra một chiến trường tân tiến. Ròng rã bao nhiêu năm, họ đã chiến đấu, tự chống đỡ bằng một giấc mơ là trung tâm của văn hóa Việt Nam:

Khi hòa bình trở lại, họ mong sẽ tìm được một tấm chồng xứng đáng và sinh con đẻ cái.

Ðối với nhiều người trong số họ, giấc mơ đó đã không thành. Trở về sau khi cuộc chiến chấm dứt năm 1975, họ đã bị coi như thiếu hấp dẫn, vì bị tàn phá bởi bệnh hoạn, thiếu ăn và những cực khổ khác mà họ đã phải chịu đựng trong rừng.

Các thanh niên, những người cũng vừa trở về từ cuộc chiến, đã không đáp lại những cái liếc mắt của họ trên đường phố. Nếu tình yêu nở hoa, các cha mẹ thường cắt ngang, cấm con trai họ cưới những phụ nữ có vẻ quá yếu đuối rất khó sinh nở và nuôi con.

“Ôi, rừng sâu đã làm tôi già đi biết bao nhiêu,” lời bà Vũ Hoài Thu, một trong số 500 phụ nữ quê ở thành phố Ninh Bình, 60 dặm phía nam Hà Nội, người đã chiến đấu trong cái mà người cộng sản Việt Nam gọi là Cuộc Chiến Chống Mỹ.

Cuối cùng, tôi đã gặp một người con trai dễ thương. Anh ấy đã hỏi cưới tôi, nhưng cha mẹ anh không cho. Anh đã không muốn rời bỏ tôi, nhưng tôi đã thuyết phục anh là anh phải bỏ. Tôi đã quá yếu vì sốt rét và thiếu ăn. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ không bao giờ có đủ sức khỏe để sinh con đẻ cái cho anh ấy.”

Những phụ nữ như bà Thu hiện giờ ở độ tuổi 50, và khi họ gặp nhau để hồi tưởng những hy sinh của họ, họ nói tới sự mất mát tuổi thanh xuân trên Ðường Trường Sơn, tên mà người (Miền Bắc) Việt Nam gọi là đường mòn Hoà Chí Minh.

Họ nói về chuyện trở về nhà với đời sống khó khăn hơn là đời sống mà họ đã rời bỏ.

Sự cay đắng dai dẳng vì trong suốt bao nhiêu năm họ đã là những chiến sĩ bị bỏ quên trong một cuộc chiến tranh mà những người đàn ông chiến đấu – chứ không phải phụ nữ – đã trở thành anh hùng.

“Tôi đã tưởng cuộc đời tôi sau chiến tranh sẽ giản dị và hạnh phúc,” theo lời Nguyễn Thị Bình, cân được 85 pounds khi trở về nhà. “Nhưng tôi đã để cho người bạn trai của tôi ra đi. Tôi đã nói với anh ấy rằng với những chứng bệnh của tôi, với một chân bị thương của tôi, tôi sẽ là một gánh nặng cho anh ấy.

Bà Bình đã sống một mình suốt 17 năm, một hình thức lưu vong trong một xã hội nặng về gia đình trong đó những phụ nữ hiếm muộn và những cặp vợ chồng không con là những đối tượng để thương hại. Thế rồi, trước sự thúc giục của những cựu đồng chí trong một đoàn phụ nữ – đoàn 559 – bà Bình đã “lấy một người chồng qua đêm” và sinh được một đứa con gái.
Bà và đứa con, tên Lan, hiện 10 tuổi, sống với nhau trên một cánh đồng lúa nhỏ do bà Bình canh tác.

“Những người tốt dành cho tôi sự hiểu biết và tình cảm,” bà Bình nói. “Và tôi biết ơn điều đó. Nhưng đôi khi những người xấu đem con họ tới nhà tôi và nói, ‘Ðừng như người đàn bà đó.’”

Những sử gia quân sự ước tính trong thập niên 1950, gần một triệu nữ du kích đã tham gia vào cuộc chiến tranh chống các lực lượng thực dân Pháp. Trong cuộc xung đột với Hoa Kỳ, 40% những cấp chỉ huy địa phương của Việt Cộng là phụ nữ. Một người trong số họ, Nguyễn Thị Ðịnh, là một cấp tướng.

Hàng trăm ngàn phụ nữ, hầu hết đều còn trẻ và độc thân, đã phục vụ trong những chiến khu trong cuộc chiến tranh đó. Họ điều khiển súng phòng không, xây dựng đường xá dưới sự oanh tạc thường xuyên và đi tuần trong những đơn vị hỗn hợp nam nữ.

“Chúng tôi đã sống và ngủ chung nhưng không đụng chạm,” theo lời một phụ nữ trong Ðoàn 559, người đã cho rằng có được sự kềm chế là nhờ tinh thần bảo thủ về văn hóa. “Tôi không thấy một vụ mang thai nào trong đơn vị của chúng tôi. Chúng tôi khao khát tình yêu, nhưng chỉ trong tim mà thôi.”

Những phụ nữ khác thu thập tin tình báo, do thám, chở quân và đồ tiếp tế dọc theo đường sông trên những con thuyền nhỏ.
Mai Thị Diễm đã tình nguyện chiến đấu sau khi Hoa Kỳ bỏ bom nông trại tập thể nơi bà ở, giết chết 100 người, kể cả nhiều người trong số thân nhân của bà.

“Tôi cân được 35 kilô (77 pounds) khi tôi ghi tên nhập ngũ, ban tuyển quân nói tôi quá nhỏ,” bà Diễm bị què một chân, kết quả của một vụ mìn. “Tôi nói với là họ tôi sẽ nhảy xuống cầu tự tử nếu họ không nhận tôi. Cuối cùng, họ nhận.”

Lê Minh Khuê, một nhà văn ở Hà Nội,

đã viết về những gắn bó mạnh mẽ hun đúc bởi nỗ lực chiến tranh. “Tôi yêu tất cả mọi người với một tình yêu đam mê,” bà Khuê là người đã nói dối về tuổi của mình để được gia nhập quân đội vào năm 15 tuổi. Ðó là một tình yêu, bà nói, mà “chỉ có người nào đã đứng trên ngọn đồi đó trong những giây phút đó mới có thể cảm thông hoàn toàn. Ðó là tình yêu của người dân trong khói lửa, người dân thời chiến.”
Phan Thanh Hảo, một nhà báo và là đồng tác giả của một cuốn sách về những nữ chiến binh của (Bắc) Việt, đã phục vụ trên dãy núi Trường Sơn dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh.
“Phụ nữ đã làm lệch cán cân đưa tới chiến thắng trong cuộc chiến tranh,” bà nói. “Ngoài Liên Bang Sô Viết trong Thế Chiến II, không có nước nào có con số phụ nữ như vậy trong những vai trò chiến đấu trực tiếp. Tuy vậy, thật khó cho chúng tôi để trở lại bình thường. Ðối với thế hệ tôi, cho tới ngày nay, tim chúng tôi vẫn thắt lại mỗi khi nghe tiếng máy bay trên đầu.”

Những cô gái thời chiến đã trở về với gia đình nghèo khó. Thêm một miệng ăn phải nuôi đã là một vấn nạn. Gầy guộc vì bệnh hoạn và thiếu ăn, da dẻ họ đã dày dạn bởi những năm tháng trong rừng rậm, họ bị coi như không hấp dẫn như vào thời từ làng mạc của họ ra đi.

Thêm vào đó, biết bao nhiêu trai trẻ đã bị giết trong chiến tranh đến độ đám người có triển vọng làm chồng đã giảm đi. Ngay cả bây giờ, có 97.6 đàn ông cho mỗi 100 phụ nữ ở Việt Nam, một trong những tỉ số thấp nhất ở Ðông Nam Á.

“Tôi đã may mắn,” lời bà Nguyễn Thị Nhòng, 51 tuổi, một cựu chiến binh của Ðoàn 559.    “Tôi đã gặp một thanh niên, rất đẹp trai, trên Trường Sơn. Anh ấy quê ở một làng lân cận, và chúng tôi đã lấy nhau. Nhưng tôi biết bao nhiêu người khác đã yêu nhau trên chiến trường và sau chiến tranh đã tìm kiếm, rồi tìm kiếm nhưng không bao giờ có thể tìm được nhau.”

Nhiều người trong số các phụ nữ đã hồi phục sức khỏe và kết hôn. Những người khác còn độc thân đã tới sống trong những ngôi chùa Phật Giáo hoặc trong những công trình gia cư của chính phủ.

Vào đầu thập niên 1980, nhằm giảm bớt sự cô đơn của họ, nhà nước đã loại bỏ sự cấm kỵ về việc có con ngoài hôn nhân. Chính phủ loan báo rằng những bà mẹ không kết hôn và con cái của họ sẽ được coi như gia đình và được cấp đất để làm ruộng. Hàng ngàn phụ nữ đã lấy “một người chồng qua đêm.”

Khi chiến tranh kết thúc, đàn ông đã trở lại vai trò người chủ gia đình. Họ quyết định chi tiêu bao nhiêu tiền, quyết định gia đình bao nhiêu người mà không tham khảo với vợ và giữ văn tự đối với mọi tài sản. Sự làm ngơ với phương pháp ngừa thai khiến phá thai trở thành phương tiện hàng đầu trong nước để kiểm soát sinh sản. Sự ham mê nhậu nhẹt của họ đóng góp vào tình trạng bạo lực trong gia đình.

Và những phụ nữ của Ðoàn 559, những người đã tham gia cuộc chiến với tính cách những thiếu nữ tình nguyện, đã được tặng một huy chương đặc biệt như là những “Chiến Sĩ Trường Sơn.”

Ba trong số những người đó đã mặc những bộ đồng phục cũ tới một cuộc tái hợp mới đây ở Ninh Bình.

Họ và nửa tá người nữa đã tụ tập tại một tiệm ăn nhỏ để vinh danh 40 người đã không trở lại từ Trường Sơn và 50 người khác đã trở về như những người tàn phế.

Họ đã chuyện vãn và trao đổi kỷ niệm, và khi bữa ăn trưa được dọn ra, người chỉ huy của đoàn, Trần Thị Bình, đã đứng lên và loan báo rằng bà muốn chia sẻ với các bạn một bài thơ do bà sáng tác, “Thời Con Gái.” Bài thơ dài, và bà đọc từ trí nhớ theo lối diễn ngâm, đôi mắt bà nhắm lại.

Tôi muốn đốt một nén hương
cho những người con gái xấu số.
Dù họ không bao giờ trở lại,
chúng tôi, những người đánh mất tuổi thanh xuân,
vẫn đợi chờ.
Chúng tôi, những cô gái Trường Sơn,
tóc đã hoa râm và lòng tràn đầy kỷ niệm,
Tưởng nhớ những người bạn tình
đã đi xa không bao giờ tìm được.

Những người phụ nữ khác lấy giấy thấm nước mắt khi bà Bình chấm dứt câu chuyện . Rồi bà Bình để đã kết thúc buổi họp mặt lên tiếng,
“Hãy làm cho ngày hôm nay là một ngày vui đi.”(25)
(25) Trích Nguồn: Los Angeles Times, Viet-Mercury, 17.01.2003.. bản dịch Nguyễn Nhật.

Chỉ mong sau này những người phụ nữ con cháu các cô TNXP không gặp những cảnh bất hạnh như mẹ chúng nữa. Mong vậy thay.

Viết xong bài này, tôi cảm thấy như đã làm xong một nhiệm vụ ..là trả lại công đạo cho những thanh thiếu niên đà hy sinh tuổi trẻ cho những tham vọng điên rồ của Lê Duẩn, Lê Đức Thọ.

Nhưng trớ trêu thay! Đáng nhẽ việc này phải do tướng Giáp làm mới phải sau khi Lê Duẩn chết.

Để cho một người ở tư thế kẻ thua trận viết thì không hay cho lắm.
Tôi tự hỏi sau nội chiến Nam- Bắc chiến tranh của Hoa Kỳ năm 1865 xong thì tướng Grant, miền Bắc đã làm gì?

Các binh lính phía miền Nam được cho phép giữ lại lừa ngựa để về làm ăn sinh sống.
7000 tử sĩ của cả hai bên đã được an táng và chôn cất chung một nơi ..

Lê Duẩn, Lê Đức Thọ không nói làm gì! Nhưng phần Tướng Giáp đã không làm được những điều xem ra đơn giản như thế!


 

Nộp $2.4 triệu ‘tiền khắc phục,’ 2 cựu bộ trưởng có thể sắp ‘về nhà’ và được trả biệt thự

Ba’o Nguoi-Viet

August 9, 2024

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Ba tháng sau phiên tòa phúc thẩm vụ án Việt Á, giới chức Cục Thi Hành Án Dân Sự Hà Nội xác nhận hai tù nhân là cựu bộ trưởng, Nguyễn Thanh Long và Chu Ngọc Anh, đã nộp tổng cộng $2.4 triệu “tiền khắc phục hậu quả.”

Theo báo Dân Trí hôm 9 Tháng Tám, phần lớn số tiền nêu trên, $2.25 triệu là từ gia đình bị cáo Nguyễn Thanh Long, cựu bộ trưởng Y Tế Việt Nam.

Bị cáo Nguyễn Thanh Long, cựu bộ trưởng Y Tế Việt Nam, được giảm án một năm tù, còn 17 năm, trong phiên tòa phúc thẩm hồi Tháng Năm. (Hình: Nam Phương/Dân Trí)

Bị cáo Long được tòa phúc thẩm tuyên giảm án một năm tù, do nhận tội, xin giảm án và chịu nộp đúng số tiền bị cáo buộc nhận hối lộ.

Trong khi đó, bị cáo Chu Ngọc Anh, cựu chủ tịch Hà Nội, cựu bộ trưởng Khoa Học và Công Nghệ Việt Nam, nộp 4.6 tỷ đồng ($183,194) và là một trong những bị cáo được tuyên án nhẹ nhất trong vụ Việt Á – ba năm tù.

Nhiều khả năng tù nhân Ngọc Anh có thể được ông Tô Lâm, tổng bí thư kiêm chủ tịch nước, cho đặc xá vào dịp 2 Tháng Chín.

Tù nhân Thanh Long có thể được xét giảm án vào những đợt sau do án của ông này nặng hơn ông Ngọc Anh.

Bản tin của Dân Trí cũng cho hay, sau khi đã nộp đủ số “tiền khắc phục hậu quả,” cả hai tù nhân Thanh Long và Ngọc Anh nhiều khả năng sẽ được giải tỏa các tài sản như nhà đất bị kê biên, tài khoản ngân hàng bị phong tỏa khi hai ông ngồi tù.

Bị cáo Chu Ngọc Anh, cựu chủ tịch Hà Nội, cựu bộ trưởng Khoa Học và Công Nghệ Việt Nam, tại phiên tòa xử vụ án Việt Á. (Hình: Nam Phương/Dân Trí)

Vào thời điểm hai cựu bộ trưởng bị bắt hồi Tháng Sáu, 2022, các báo ở Việt Nam mới dám đề cập đến chuyện họ tuy lương cỡ 10 triệu đồng ($398) mỗi tháng nhưng đều ở biệt thự cao cấp, trị giá hàng triệu đô la trở lên.

Ông Thanh Long được ghi nhận sở hữu biệt thự ở đường Hoàng Hoa Thám, quận Ba Đình, trong lúc ông Ngọc Anh có biệt thự “khủng” ở khu đô thị Vinhomes Gardenia, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Theo báo Dân Trí thời điểm đó, căn biệt thự của ông Ngọc Anh được giới buôn bán bất động sản định giá khoảng 80 đến 100 tỷ đồng ($3.2 triệu đến $4 triệu). (N.H.K) [qd]


 

Đạo Quân Vé Số-Tưởng Năng Tiến

Ba’o Tieng Dan

Tưởng Năng Tiến

9-8-2024

“Tôi hơi chậm hiểu lại rất chóng quên nên dù đã lê lết qua hơi nhiều trường ốc (trong cũng như ngoài nước) nhưng trình độ học vấn và kiến thức cũng chả̉ tới đâu, vẫn chỉ ở mức làng nhàng. Nói tóm lại là thuộc loại “xoàng”!

Ơ! “Xoàng” thì đã sao nhỉ?

Cũng không đến nỗi trăng/ sao gì đâu, nếu tôi biết điều (biết chuyện – biết thân – biết phận) hơn chút xíu. Khổ nỗi, tôi lại cứ tưởng là mình cũng thuộc loại đầu óc trung bình (hoặc chỉ dưới mức đó không xa lắm) nên ghi danh học – tùm lum/ tùm la – đủ thứ phân khoa: Triết Lý, Tâm Lý, Xã Hội, Nhân Chủng …

Mâm nào cũng có tui hết ráo!

Dần dà, tôi nhận ra là ngành học cuối có vẻ hợp với cái tạng, và cái tính bao la trời biển (bẩm sinh) nên quyết định sẽ chơi cho tới bến luôn. Quyết định này – tiếc thay – đã không được vị cố vấn giáo dục (academic counselor) củ̉a nhà trường khích lệ:

“Ấy chớ! Chớ nên đi vào con đường xa xôi, lôi thôi, diệu vợi, hoang vu, âm u, và mịt mù như thế. Với bằng tiến sĩ nhân chủng thì chỉ có hai cách để kiếm sống thôi: Đi dạy học hoặc đi chạy taxi. Dạy học thì ngay dân bản xứ (da trắng bóc, tóc vàng hoe, mắt xanh lè) cũng khó chen chân, nói chi đến cái ngữ di dân với vốn tiếng Anh ngọng nghịu. Còn chạy taxi ở New York (hay San Francisco) thì cái thứ trông lờ khờ, lừ khừ, lử khử, lù khù, lờ đờ, lù đù, lừ đừ như ông từ vào đền (“y dạng của chú mày”) chắc cũng chỉ được độ ba bẩy/ hai mốt ngày là … phải bỏ việc thôi – con ạ!

Tất nhiên, không ai nỡ nói thẳng vào mặt tha nhân những lời lẽ thô bạo và nặng nề đến thế. Tuy thế, tuy chỉ số thông minh trí tuệ (IQ – intelligence quotient) rất thấp nhưng mức độ mẫn tuệ (EQ – emotional intelligence) thì không đến nỗi gì nên tôi cảm nhận được ngay cái tình huống (không được sáng sủa gì lắm) của mình – qua giọng điệu của người đối thoại. Quả là tôi lầm thật, và chắc rằng lầm lắm, chứ chả bỡn đâu!

Nói nào ngay thì tôi cũng chả mặn mà (cái con bà) gì với cái bằng tiến sĩ. May mắn chui tọt ra được xứ người nên cũng có nuôi chút hoài bão là được hấp thụ một mớ kiến thức cơ bản về một ngành học lạ, cùng với ước mơ là sẽ thành lập được phân khoa về nhân chủng học (ở quê nhà) mai hậu.

Mai hậu chả biết là bao giờ mà đời người thì ngắn ngủi. Tóc tôi mỗi lúc một bạc dần (rồi bạc ráo) mà đường về thì mãi vẫn chưa có lối. Đã thế, cơm áo không đùa với khách thơ hay khách trú (fresh off the boat) không một xu dính túi, không nghề nghiệp trong tay, bằng cấp và học thức cũng không luôn … nên đành thôi vậy.

Giấc mơ nhân chủng học, tới đây, kể như là chấm hết (hay nói rõ hơn là đã chết) nhưng tôi nhất định vẫn chưa chịu mang chôn. Lâu lâu – đi lang thang trên mạng – cứ thấy loáng thoáng đâu đó có đám nào đang xì xào, thăm dò/ tìm kiếm/ xăm xoi/ đào xới/ bới móc/ khai quật (hang hốc, lăng tẩm, mộ bia, mồ mả, xương cốt …) là thế nào tôi cũng dừng chân, ghé mắt xem qua, cho biết.

Có lần, tôi tình cờ xem được đôi ba bài báo có đề cập đến nơi xuất phát của nền văn minh nhân loại:

– Helping someone else through difficulty is where civilization starts

– A 15,000 year old bone and the Fall 2013 issue of Reflections

– How A 15,000-Year-Old Human Bone Could Help You Through The Coronacrisis

Xin được tóm lược nội dung:

Khi được hỏi, “điều gì có thể được xem như là dấu hiệu đầu tiên của sự văn minh”, nhà nhân chủng học Margaret Mead trả lời rằng: “Helping someone else through difficulty is where civilization starts”. (“Văn minh khởi đầu ở nơi mà tha nhân được trợ giúp khi lâm vào nghịch cảnh”).

Theo bà, trong thế giới loài vật khi một con thú bị gẫy chân thì chết là cái chắc. Nó không còn khả năng sinh tồn, và sẽ bị đồng loại xâu xé tức thì. Do vậy, khi khai quật được một cái xương đùi của kẻ bị thương đã được chữa lành (15 ngàn năm trước) thì đây là dấu chỉ của văn minh, di tích về tính tương trợ của giống người.

Margaret Mead từ trần vào ngày 15 tháng 11 năm 1978. Gần nửa thế kỷ sau, sau khi bà tạ thế, mới có một cuộc tái khai quật tại hang động Shanidar (Trung Đông) vào năm 2018. Thành quả vừa được Netflix trân trọng giới thiệu một cuốn phim tài liệu (“Secrets of Neanderthal”) dài 80 phút – sản phẩm của BBC – hôm 2 tháng 5 năm 2024, với nhiều khám phá mới lạ có liên quan đến vấn đề thượng dẫn.

Một trong những phát hiện quan trọng đưa đến kết luận là, người Neanderthal đã từng thể hiện sự thương cảm và tinh thần tương thân/ tương ái lâu lắm rồi, chớ không phải chỉ mới 15.000 năm trước đâu!

Fred Lewsey, thuộc phân khoa nhân chủng của Đại Học Cambridge, cũng có bài tóm lược (“Revealed: face of 75,000-year-old female Neanderthal from cave where species buried their dead”) về cuộc khai quật mới mẻ này. Ông ghi nhận:

“ … remains from Shanidar Cave still show signs of an empathetic species. For example, one male had a paralyzed arm, deafness and head trauma that likely rendered him partially blind, yet had lived a long time, so must have been cared for. (… hài cốt từ hang động Shanidar còn có dấu hiệu của những giống loài đồng cảm. Chẳng hạn, có một người nam với cánh tay bị liệt, điếc và bị thương trên đầu rất có thể bị mù nữa mà vẫn sống thọ, hẳn đã được chăm sóc đàng hoàng).

Tinh thần tương trợ của giống người Neanderthal (được thể hiện từ bốn mươi lăm ngàn năm trước) khiến tôi không khỏi bùi ngùi, khi thoáng nhớ đến những mẩu tin ngăn ngắn – xuất hiện hằng ngày – trên mặt báo ở đất nước mình:

– Dùng Gậy Đánh Người Tàn Tật Ngồi Xe Lăn Cướp Hơn 180 Tờ Vé Số

– Tuổi teen cướp giật vé số

– Bắt hai gã trai tráng chuyên đi cướp vé số của người nghèo

– Giật Gần 300 Tờ Vé Số Của Người Bán Dạo

– Cụ Bà Bệnh Tật Bị Cướp Giật Hơn 200 Tờ Vé Số

– Bắt Nhanh Đôi Nam Nữ Chuyên Cướp Giật Vé Số

– Cướp 260 Tờ Vé Số Của Người Khuyết Tật

– Khởi tố 4 người cướp giật hàng ngàn vé số của người già, tàn tật

– Cướp vé số của người tàn tật để lấy tiền mua ma túy sử dụng

Những đứa bé thơ (không một mái trường) những người già cả neo đơn (không nơi nương tựa) những kẻ thương tật (không nơi bám víu) những mảnh đời cùng quẫn, (không hề được đoái hoài) … đã biến Việt Nam thành một “cường quốc vé số”, theo như ghi nhận của giới truyền thông:

– Xổ số kiến thiết “góp” 10.000 tỷ đồng cho Nhà nước trong quý I

– Xổ số đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước

– Xổ số đóng góp gần bằng ngành dầu khí và vượt xa hàng không

– Nguồn thu từ xổ số cao hơn nhà đất

Tuy là “lực lượng kinh tế nòng cốt” của một “cường quốc” nhưng những đạo quân vô danh này luôn bị trấn lột, bóc lột, ức hiếp, và dầy xéo đủ cách bởi bọn trẻ trâu (nghiện ngập) và đám lãnh đạo (đã không còn nhân tính) ở xứ sở này.

Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh phẫn nộ: “Cái bọn đặt ra cái nghề kinh doanh mà lợi dụng triệt để lòng thương xót của cộng đồng đối với những người không còn sức lao động hoặc chưa đến tuổi lao động để tăng doanh thu quả rất đáng để khinh bỉ và căm giận. Sáng nay, tui ngồi uống ly cà phê trong 1/2 tiếng đồng hồ để chờ vào cơ quan làm thủ tục giấy tờ ở một thị trấn tại Đồng Nai mà có đến gần 10 người vào mời mua vé số. Người già nua có, trẻ em có, người tàn tật có”.

Từ Việt Nam, thông tín viên Uyên Nguyên (RFA) cho biết:

“Mỗi công ty có số lượng nhân viên biên chế chưa tới 50 người, với mức lương khá hời, số còn lại, cũng là nhân viên nhưng không có bất kỳ một chế độ nào, đó là những người bán vé số. Số lượng này đông gấp nhiều chục lần nhân viên biên chế, nhưng thu nhập và đời sống của họ vô cùng khó khăn. Thậm chí, có nhiều người chết trên đường đi bán vé số vì bụng đói và bệnh tật!”

Những đứa bé thất học, những cụ già không còn sức lao động, những kẻ cơ nhỡ thương tật … ở nước CHXHCNVN (Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc) nếu sống trước đây vài chục ngàn năm – rất có thể – đã được đồng loại cưu mang và nuôi dưỡng tử tế, chứ không đến nỗi phải “chết trên đường đi bán vé số vì bụng đói và bệnh tật” như hiện trạng đâu.

Việt cộng thì cũng là người Việt thôi. Sao cũng là dòng dõi Lạc Hồng hay con Rồng cháu Tiên (gì đó) mà họ lại có thể ăn ở man rợ đến vậy, hả Trời?


 

Tô Lâm được ‘suy tôn’ như một bạo chúa toàn quyền-Viết Dũng/SGN

Ba’o Nguoi-Viet

August 7, 2024

Viết Dũng/SGN

Ngày 3 Tháng Tám, báo Điện Tử Chính Phủ và các cơ quan truyền thông Việt Nam đều loan tải thông tin ông Tô Lâm nhận chức Tổng Bí thư (TBT), với thông điệp: “Tại hội nghị ban chấp hành Trung Ương – BCHTW), căn cứ các quy định của Đảng, trên cơ sở định hướng giới thiệu nhân sự của Bộ Chính Trị, Trung Ương đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, tập trung trí tuệ, thảo luận dân chủ, suy tôn, thống nhất rất cao với số phiếu tuyệt đối 100% bầu đồng chí Tô Lâm, uỷ viên Bộ Chính Trị, Chủ Tịch Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam giữ chức tổng bí thư BCHTW Đảng Cộng Sản Việt Nam khoá XIII.”

Điều đó không có gì mới. Việc ông Lâm lên nắm chức TBT đã được giới quan sát nhận định trước đây.

Điều mới ở chỗ, họ dùng từ “suy tôn” dành cho một người mới được “bầu” vào vị trí có thực quyền cao nhất của Việt Nam hiện tại. Nghe sao giống như diễn văn thông báo việc kế vị của dòng hoàng tộc hay các lãnh chúa mới lên ngôi sau cuộc lật đổ trong các triều đại phong kiến.

Cộng Sản Việt Nam đã từng “suy tôn” ai?

CSVN rất ít dùng từ này cho các quan chức cấp cao của họ. Trước đây, họ chỉ suy tôn ông Hồ, người được bơm thổi lên ở tầm “cha già dân tộc.” Ấy vậy mà báo Điện Tử Chính Phủ cùng hàng loạt các cơ quan truyền thông do nhà nước Việt nam kiểm soát lại đồng loạt suy tôn ông Lâm ngay sau khi ông vừa mới được bầu vào vị trí quyền lực tối cao của đảng CS. Ông Lâm đã làm gì khiến cả hệ thống CS phải suy tôn ngay khi cái ghế tổng bí thư còn chưa kịp yên vị?

Tô Lâm – Stalin thời đại mới?

Tô Lâm là người giỏi mượn chiến thuật đốt lò của ông Nguyễn Phú Trọng, để rồi vũ khí hóa nó biến thành công cụ riêng của mình, khiến tất cả những thành viên của đảng CS đều cung kính lo sợ. Nhiều năm kinh nghiệm chờ thời, ông Lâm cũng dựng được cho mình một bộ máy công an trị, với các đàn em thân tín nằm rải rác khắp đất nước

Để phục vụ cho “công cuộc đốt lò,” nhân dân phục vụ đảng, ông Lâm thể nghiệm những quyền lực vượt bậc, như bắt người xuyên biên giới, hay bắt bớ ngay trong nội bộ cấp cao Bộ Chính Trị. Việc đó khiến cho những ai khiêu khích quyền lực của ông Trọng hay thuộc “nhóm đối lập” bị thanh trừng hoặc phải e dè. Và sự sợ hãi e dè này được diễn đạt rất rõ qua hai, chữ “suy tôn.”

Những hành động của ông Lâm làm một số nhà quan sát nhớ đến hình ảnh vị độc tài Xô Viết Stalin ngày xưa: Ông ta là nhà độc tài có những hành động quyết đoán và không có chút nào khoan nhượng với những ai mà ông liệt vào hàng kẻ thù, để vững ngôi cai trị.

Phải suy tôn vì Bộ Chính Trị là con tin của Tô Lâm?

Có ít nhất một lần người dân được chứng kiến những chiến dịch cố gắng chận bước Tô Lâm nhưng có vẻ khó thành công trong thi hành thực tế. Chẳng hạn như ngày 16 Tháng Sáu, ông Lương Cường, thường trực Ban Bí Thư (chức vụ này có giá trị như phó tổng bí thư) phải vội vã ký ban hành cùng lúc hai quyết định: Quyết định 164 về “quy trình giải quyết tố cáo với tổ chức đảng trực thuộc Trung Ương và đảng viên là cán bộ thuộc diện Trung ương (TƯ) quản lý,” và Quyết định 165 về “quy trình xem xét, thi hành kỷ luật với tổ chức đảng, đảng viên thuộc thẩm quyền ban chấp hành Trung Ương Đảng, Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư.”

Hai quyết định này nhằm tạo ra những rào cản khiến cho phe công an của ông Lâm không thể “bắt nóng” những ai thuộc quyền quản lý của TƯ Đảng được nữa.

Những ngày chưa bị bắt, ký giả Trương Huy San (thường gọi: Osin Huy Đức) từng cảnh báo ông Trọng về vấn đề quyền lực của Bộ Công An. Ở một bài có tựa đề “Một quốc gia không thể phát triển dựa trên sự sợ hãi” đăng trên Facebook cá nhân, ông viết:

“Việt Nam đang duy trì một thể chế tương đồng với Trung Quốc. Việt Nam nên học Trung Quốc ở những điều họ đúng: Bộ trưởng công an không phải là ủy viên bộ chính trị. Có lẽ đảng CS Trung Quốc coi công an là công cụ của bộ chính trị chứ không để bộ chính trị trở thành con tin của công an. Bộ Công An cũng không nên cấu trúc như hiện nay mà nên tách chức năng điều tra khỏi lực lượng cảnh sát… Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy, không phải lực lượng công an đông mà đất nước an toàn hơn.”

Tuy nhiên, có lẽ những lời cảnh báo được viết dưới dạng góp ý này đã đến vào thời điểm quá muộn màng.

Có câu, “không có bông tuyết nào trong sạch,” bởi vậy sau thời gian được điều tra “không vùng cấm” trước đây của mình, hồ sơ của toàn bộ ủy viên Trung Ương đảng nói chung và cả Bộ Chính Trị nói riêng, ông Lâm đều nắm giữ. Với quyền lực vừa như Stalin mà lại đáng sợ như Beria, không lạ gì khi cả hội nghị phải “suy tôn” ông Lâm với số phiếu tuyệt đối 100%.

Ngay trong ngày đầu tiên, chỉ vài giờ sau khi được “suy tôn” cầm quyền tuyệt đối, ông Lâm đã “chém” bay 4 vị ủy viên TƯ để thị uy. Thông điệp mà ông phát ra đã quá rõ ràng.

Quyền lực hiện nay của ông Tô trên chính trường Việt Nam quá lớn. Lớn đến mức giới “báo chí cách mạng” đã phải dùng từ suy tôn như một bạo chúa toàn quyền.

Rõ là một “triều đại mới” tại Việt Nam đã bắt đầu!


 

Nhân tài đất nước dần dần bỏ đi hết.

Việt Tân ÚC Châu

Là “thần đồng” với những thành tích đáng nể phục

Là con trai lớn trong gia đình có cha là kỹ sư điện, mẹ là cô giáo tiểu học, Phan Đăng Nhật Minh sớm nổi tiếng khắp vùng Quảng Trị với những tố chất “thần đồng” ngay từ nhỏ. Mẹ Nhật Minh cho biết, 4 tháng tuổi, con trai đã thích các chương trình dạy học trên truyền hình. 6 tháng tuổi, cậu đã nhận biết được một số đồ vật hoặc màu. Ngay từ buổi đầu đi học, Minh bắt đầu thể hiện khả năng tính toán nhanh và ghi nhớ rất tốt.

Năm lớp 8, tên tuổi của cậu vang danh khắp cả nước sau khi trở thành quán quân “Chinh Phục 2014” – cuộc thi trên truyền hình dành cho học sinh THCS. Nhật Minh đã khiến khán giả ngỡ ngàng khi trả lời cực nhanh và chuẩn xác những câu hỏi ở nhiều lĩnh vực mà không cần thời gian suy nghĩ. Không chỉ giỏi toán với khả năng tính nhẩm “nhanh hơn máy”, Nhật Minh còn am tường kiến thức ở những lĩnh vực khác như sinh học, văn…

Cũng từ đó, những cái tên như: “cậu bé Google”, “vua tốc độ”, “thần đồng”… được nhiều người dành gọi Nhật Minh.

Sưu tầm


 

Lần đầu Việt Nam và Philippines tập trận chung

Theo Cổng thông tin điện tử Bộ Quốc phòng, trước đó, sáng 5-8, tàu CSB 8002 (Hải đoàn 21, Vùng Cảnh sát biển 2) cùng đoàn công tác Cảnh sát biển Việt Nam cập cảng Manila (Philippines), bắt đầu chuyến thăm, giao lưu với Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines.

Đây là lần đầu tiên Cảnh sát biển Việt Nam tổ chức tàu sang thăm, trao đổi kinh nghiệm thực thi pháp luật trên biển với Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines.

Tàu CSB 8002 tham gia luyện tập cứu hộ cứu nạn cùng tàu BRP Gabriela Silang của Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines sáng 9-8 - Ảnh: REUTERS

Tàu CSB 8002 tham gia luyện tập cứu hộ cứu nạn cùng tàu BRP Gabriela Silang của Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines sáng 9-8 – Ảnh: REUTERS

 

Thượng tá Hoàng Quốc Đạt, phó tư lệnh quân sự Vùng Cảnh sát biển 2, làm trưởng đoàn.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, tàu CSB 8002 và đoàn công tác đã tham gia nhiều hoạt động giao lưu thể thao, tham quan văn hóa, dự tiệc chiêu đãi với Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines

Quang cảnh lễ tiễn tàu CSB 8002 tại quân cảng Manila - Ảnh: Cổng thông tin điện tử Bộ Quốc phòng

Quang cảnh lễ tiễn tàu CSB 8002 tại quân cảng Manila – Ảnh: Cổng thông tin điện tử Bộ Quốc phòng

Đặc biệt, ngày 6-8, đoàn công tác đã đến chào xã giao lãnh đạo Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines tại trụ sở lực lượng này.

 Chuẩn đô đốc Edgar L Ybañez – chỉ huy trưởng Hạm đội bảo vệ bờ biển (Lực lượng tuần duyên Philippines) – chúc mừng đoàn công tác Cảnh sát biển Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ thăm, giao lưu với Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines. Đồng thời, ông Ybañez tin tưởng chuyến thăm lần này sẽ góp phần tăng cường mối quan hệ, hợp tác giữa hai lực lượng.

Cảnh sát biển Việt Nam và Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines đã thực hành cơ động, tổ chức luyện tập về tìm kiếm cứu nạn và phòng chống cháy nổ trên biển.

Tàu Cảnh sát biển 8002 luyện tập cứu hộ trên biển cùng Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines- Ảnh 3.

Thuyền viên tàu CSB 8002 tham gia nội dung luyện tập cứu nạn trên biển sáng 9-8 – Ảnh: REUTERS

Một tàu cảnh sát biển Việt Nam hôm 5/8 đến Manila trong chuyến thăm thiện chí kéo dài bốn ngày và tập trận chung khi hai nước cố gắng gác lại các tranh chấp lãnh thổ của riêng mình trước căng thẳng gia tăng với Trung Quốc về quyền kiểm soát các thực thể chính ở Biển Đông.

Philippines và Việt Nam nằm trong số những nước chỉ trích mạnh mẽ nhất các hành động ngày càng thù địch của Trung Quốc tại vùng biển tranh chấp, một tuyến đường thương mại và an ninh toàn cầu quan trọng. Bản thân Việt Nam và Philippines cũng có các yêu sách chồng chéo ở tuyến đường biển đông đúc cùng với Malaysia, Brunei và Đài Loan. Các tranh chấp này được coi là điểm nóng ở Châu Á và là sự rạn nứt nhạy cảm trong sự cạnh tranh khu vực giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Sau cuộc đối đầu dữ dội vào ngày 17 tháng 6 tại Bãi Cỏ Mây do Philippines chiếm đóng ở Biển Đông giữa lực lượng Trung Quốc — được trang bị dao, rìu và giáo tự chế — và lực lượng hải quân Philippines, Trung Quốc và Philippines đã đạt được một thỏa thuận tạm thời vào tháng trước để ngăn chặn các cuộc đụng độ tiếp theo có thể gây ra xung đột vũ trang lớn tại đảo san hô này.

Philippines-China confrontation: What’s next? | ABS-CBN News

Một tuần sau khi thỏa thuận được ký kết, lực lượng chính phủ Philippines đã vận chuyển thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác đến con tàu mắc cạn mà Manila dùng làm tiền đồn tại Bãi Cỏ Mây, không có cuộc đối đầu nào được báo cáo.

Tuy nhiên, Philippines đã cam kết sẽ tiếp tục nỗ lực tăng cường lực lượng lãnh thổ và quốc phòng cũng như mở rộng liên minh an ninh với các nước châu Á và phương Tây.


 

Thánh Edith Stein, (1891-1942), nữ tu, tử đạo)-Cha Vương

Ngày thứ 6 và cuối tuần an lành và bình an nhé. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Tê-rê-xa Bê-nê-đíc-ta (Thánh Edith Stein, nữ tu, tử đạo). Xin thánh nhân chuyển cầu cho chúng con trong những thăng trầm của cuộc sống.

Cha Vương

Thư 6: 09/08/2024

Thánh Edith Stein (1891-1942), một nữ tu Camêlô thánh thiện, một triết gia uyên thâm và một văn sĩ sáng giá, không những ngài có ảnh hưởng lớn ở thời ấy mà ngày nay, ảnh hưởng ấy đang lan tràn trong giới triết gia và trí thức ở Ðức cũng như trên toàn thế giới. Ngài là nguồn cảm hứng cho tất cả những ai coi Thánh Giá là di sản, và cuộc đời ngài được dâng hiến cho sự đau khổ và bách hại của dân tộc Do Thái. Sinh ngày 12 tháng 10 năm 1891 trong một gia đình Do Thái ở Breslau, nước Ðức, ngay từ nhỏ Edith Stein đã chứng tỏ năng lực học hỏi lạ thường, và vào lúc bắt đầu Thế Chiến I, ngài đã học xong triết và ngữ văn tại đại học Breslau và Goettingen. Sau cuộc chiến, ngài tiếp tục cao học tại Ðại Học Freiburg và lấy bằng tiến sĩ ưu hạng về triết. Sau đó ngài là giáo sư phụ tá và là cộng tác viên của Giáo Sư Husserl, cha đẻ của hiện tượng học và cũng là người có ảnh hưởng lớn đến tư duy của thánh nữ. Trong tất cả các ngành học hỏi, Edith Stein không chỉ tìm kiếm chân lý mà còn đi tìm chính Chân Lý và ngài đã tìm thấy ở Giáo Hội Công Giáo sau khi đọc tự truyện của Thánh Têrêsa Avila. Edith Stein được rửa tội vào ngày đầu năm 1922. Sau khi trở lại đạo, Edith dùng toàn thời giờ để dạy học, diễn thuyết, viết lách và thông dịch, và không bao lâu ngài trở nên một triết gia và tác giả nổi tiếng, nhưng điều ngài khao khát là cuộc sống cô độc và tịnh niệm của dòng Camêlô, là nơi ngài tận hiến cho Thiên Chúa và người dân của ngài. Trước khi Ðức Quốc Xã bách hại người Do Thái khiến ngài phải ngưng mọi hoạt động thì cha linh hướng đã đồng ý để ngài gia nhập dòng Camêlô Hèn Mọn ở Cologne-Lindenthal vào tháng Mười năm 1933. Vào tháng Tư năm kế tiếp, ngài được mặc áo dòng và lấy tên là “Têrêsa Bênêđícta của Thánh Giá.” Vào Chúa Nhật Phục Sinh năm 1935, ngài khấn trọn. Khi sự bách hại người Do Thái gia tăng mãnh liệt và điên cuồng, Sơ Têrêsa Bênêđícta nhận thấy sự nguy hiểm khi có mặt tại nhà dòng Camêlô ở Cologne, và ngài đã xin phép bề trên để di chuyển đến một tu viện ở ngoại quốc. Vào đêm 31 tháng Mười Hai 1938, ngài bí mật vượt biên giới đến Hòa Lan là nơi ngài được tiếp đón một cách nồng nhiệt vào dòng Camêlô ở Echt. Ở đây ngài sáng tác văn bản sau cùng là Thánh Giá Học.

Chính Thánh Giá của ngài thì ở trước mặt, vì lúc ấy Ðức Quốc Xã đã xâm lăng Hòa Lan, và khi các giám mục Hòa Lan công bố lá thư mục vụ phản đối việc trục xuất người Do Thái và đuổi các học sinh Do Thái ra khỏi trường Công Giáo, thì Ðức Quốc Xã ra lệnh bắt giữ mọi người Công Giáo thuộc gốc Do Thái ở Hòa Lan. Sơ Têrêsa Bênêđícta bị bắt vào ngày 2 tháng 8 năm 1942, và được chở đến trại tử thần Auschwitz. Ngài chết trong phòng hơi ngạt ở Auschwitz ngày 9 tháng 8 năm 1942. Vào ngày 01 tháng 5 năm 1987, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong chân phước cho Sơ Têrêsa Bênêđícta, và sau cùng sơ được phong thánh ngày 11 tháng 10 năm 1998. (Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online) và (Nhóm Tinh Thần nhuận chính lại theo Patron Saint và Santi-Beati-Testimoni)

Sau đây là một đoạn viết của Thánh Edith Stein: “Những gì trong dự án của Thiên Chúa tôi không hề dự liệu tí nào. Tôi đã có được một đức tin sống động và xác tín rằng, theo quan điểm của Thiên Chúa, không hề có chuyện ngẫu nhiên tình cờ, tất cả cuộc đời của tôi, cho tới hết mọi chi tiết của nó, đều đã được phác họa trong sự quan phòng thần linh của Thiên Chúa và có một ý nghĩa trọn vẹn và toàn hảo trước con mắt toàn tri của Thiên Chúa”.

 (Nguồn: theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 8/2/2007)

Bạn nghĩ thế nào về đoạn trích này?

From: Do Dzung

***********************

Con Có Chúa Mà – Nguyễn Hồng Ân