Trường tôi, thầy tôi, cô tôi; cây đa cũ, bến đò xưa!- Triều Phong/SGN

Ba’o Nguoi-Viet

August 26, 2024

Triều Phong/SGN

Viết nhân dịp Lasan Taberd vừa kỷ niệm 150 năm thành lập: 17 Tháng Tám 2024

Trường tôi, thầy tôi, cô tôi, cây đa cũ, bến đò xưa!

“Thuở trời đất nổi cơn gió bụi…” (Đặng Trần Côn)

Một buổi trưa hè năm 1981, hắn đạp xe cà rịch cà tang, lang thang qua các con phố của Saigon rồi chạy chầm chậm tới con đường Nguyễn Du một cách vô thức tự lúc nào chẳng hay sau gần hai mươi tám tháng từ rừng rú trở về thành phố! Khung cảnh quen thuộc, con đường ngập lá me bay không quên ngày nào, đập vào mắt hắn. Ngôi trường Lasan Taberd thân thương thuở nhỏ hiện ra trước mặt hắn làm hắn bất giác dừng lại như một quán tính.

Ngồi yên trên xe, một chân chống trên lề đường, chân kia vẫn để trên cái “pédale” của chiếc xe đạp cà tàng, hắn nhìn con đường Hai Bà Trưng xa xa ở đằng kia. Con đường giờ này im ắng, ít người qua lại quá! Đoạn hắn chăm chú ngó cái cổng trường bên trong.

Đột nhiên hắn bước xuống và leo lên lề, dắt chiếc xe đạp cũ rích từ từ tiến đến gần cổng trường hơn. Qua những cái lỗ của hai cánh cổng sắt to lớn, hắn “dòm” vào trong

thấy sân danh dự ngày nào giờ vắng lặng chẳng một bóng người. Hắn bước qua, cố đứng sát sang cánh cửa phụ nhỏ bên trái để ngó xéo sang phía phải của sân. Không còn bức tượng Thánh Gioan đâu nữa! Dãy lầu cổ kính ngày xưa hắn hay chạy lên nô đùa trên hành lang cùng lũ bạn vào giờ ra chơi với những cái vòm to tròn do người Pháp xây theo lối kiến trúc Gothique vẫn còn đó nhưng cũ kỹ hơn.

(Hình: Taberd.org, tác giả cung cấp)

Cái lớp 10DP1 mà hắn học vào năm cuối sau 30 tháng 04 năm 1975 ở tầng trệt được cài kín bằng hai cánh cửa cây lá sách cũng nằm trơ ra đó với màu sơn đã bạc phếch. Hắn ngậm ngùi tự nhủ lấy mình, thầy xưa bạn cũ đã “bất từ mà biệt” hết rồi! Hình ảnh “cái miệng” hơi mím lại khi nói của Frère hiệu trưởng, Félicien Huỳnh Công Lương, lúc dạy bọn hắn môn Pháp Văn khi Ngài bị Sở Giáo Dục Thành Phố Hồ Chí Minh bắt đi ra dạy như những thầy cô khác vẫn còn in đậm trong tâm trí hắn. Sáu năm trôi qua rồi mà hắn ngỡ như mới hôm nào!

Đứng nhìn mãi ngôi trường thân thương suốt thời niên thiếu mà giờ không được phép vào trong và đã như xa lạ chỉ khiến hắn thêm buồn, chán xen lẫn bùi ngùi. Hắn quay người, thẫn thờ dẫn chiếc xe đạp đi dài dài trên vỉa hè về hướng Bộ Xã Hội ngày xưa, mắt dán chặt xuống mặt đường, cố tìm kiếm lại chút kỷ niệm của tuổi hoa niên; những viên gạch lát đường mà nhiều bữa trưa về, tụi hắn đã vẽ để chơi ca-rô trong lúc chờ người nhà đến rước vẫn nằm đó như các phận người đã bị giẫm đạp qua bao năm tháng!

Đoạn hắn đẩy xe xuống đường, leo lên ngồi rồi mà vẫn chưa muốn rời đi. Hắn ngó tới ngó lui một lúc lâu rồi cuối cùng thở dài một tiếng và lầm lũi đạp qua hướng Nhà Thờ Đức Bà, tới Bưu Điện Saigon với các kỷ niệm yêu thương khác của tuổi học trò. Nhớ “kiosque” bán bánh mì Hương Lan, nhớ tiếng gáy râm ran của mấy con dế ở trong những cái thùng đựng dế của mấy ông bán dế trước bưu điện ngày nào mà nghe  cả một cõi…tàn phai!

…Sau ba năm làm thủy lợi, móc sình, khiêng TV 20 inches “đã đời ông Địa,” ở miền Tây xong, hắn cầm mảnh giấy vàng ố như giấy “đi cầu” mà hắn quý hơn vàng kia về trình cho công an địa phương để xin nhập hộ khẩu lần nữa do lại đi “bậy bạ” đâu đó, rồi mang tới chỗ ép plastic tại chợ Bà Chiểu bọc nhựa hẳn hoi cho khỏi bị hư rách và cẩn thận bỏ túi làm bùa hộ mệnh để đi đường mỗi khi bị công an xét giấy tờ tùy thân.

Chiều nay, mưa vừa dứt, mặt đường còn sủng nước nhưng hắn vẫn dẫn xe ra khỏi hàng hiên đang đứng trú mưa bởi không muốn nhìn thằng nhỏ bán đậu phộng dạo ướt át, đang run rẩy trước mắt mình. Gần mười năm Saigon “được” giải phóng, đâu đâu hắn cũng nhìn thấy cả một trời tang thương!

(Hình: Taberd.org, tác giả cung cấp)

Trời đã tạnh, nhưng con đường Trương Định vẫn vắng vì còn giông tố. Cây cối hai bên đường rung rinh, nghiêng ngả khi gió thổi mạnh. Các nhánh cây gãy cùng mấy chiếc lá rụng rơi thi nhau chạy trên mặt đường kêu xào xạc tạo nên một thứ âm thanh sắc lạnh đến tàn nhẫn trong một buổi chiều mưa ảm đạm!

Một tấm bảng quảng cáo thật to của một trung tâm dạy ngoại ngữ bên đường bỗng đập vào mắt hắn khiến hắn dừng lại khi thấy tên của vị giáo sư, Nguyễn Văn T., dạy Pháp Văn thật là quen. Hắn ngẫm nghĩ không biết thầy T. này có phải là vị thầy dạy tiếng Pháp nổi tiếng của bọn hắn ở Taberd ngày xưa không hay tên lại trùng tên? Rồi hắn lại đưa mắt nhìn cái trung tâm đang đóng cửa im ỉm vì hôm nay là ngày chủ nhật! Đó là căn biệt thự có tường cao rào kín với tàng cây cổ thụ to đang đong đưa bên trong khiến hắn nhủ thầm có lẽ căn biệt thự này rất lớn và là nhà của vị tướng tá ngày xưa nào đây? Rồi hắn tự hứa ngày mai sẽ trở lại xem thầy T. này là ai? Nếu đúng là thầy của hắn hồi trước thì hắn sẽ ghi danh đi học lại vì hiện hắn cũng chẳng có gì để làm!

Ngày hôm sau, hắn dựng xe đạp vào nơi để xe rồi mau mắn bước lên thềm, lòng mừng khấp khởi vì thấy vị thầy quen thuộc của bọn hắn hồi xưa đang ngồi đằng xa, trên chiếc ghế đặt trước cửa văn phòng và hút thuốc một cách thư thả như ngày nào!

Hắn bồi hồi tiến lại gần, giở chiếc nón Jeans ra và kính cẩn cúi đầu chào:

-Dạ, em chào thầy. Thầy vẫn khỏe hả thầy?

Hơi bất ngờ và ngạc nhiên trước thái độ đầy kính trọng của người thanh niên trước mặt. Thầy T. hạ điếu thuốc đang cầm trên tay xuống thấp một tí, ngó anh ta qua cặp kính cận trắng, gọng vàng một thoáng và nói trong sự ngờ ngợ:

-Khỏe, cám ơn. Em là…

Thấy thầy nói lấp lửng hắn biết là thầy không nhớ rõ mình, hắn nhắc:

-Dạ, N., em là N. của 9/8 ở Taberd hồi xưa nè thầy. Chắc thầy quên em rồi!

-Ô, trời ơi! N. nổi tiếng phá phách của 9/8 ngày xưa đây mà, làm sao thầy quên được chứ?

Nghe thầy nhắc lại thành tích của hắn ngày xưa một cách vui vẻ, hắn cảm thấy mừng vì vậy là thầy nhớ hắn rồi! Nhìn gói thuốc Saigon xanh thầy để trên bàn hắn nhớ hồi đó thầy luôn hút thuốc lá hiệu “President” với một phong thái vô cùng sang trọng và thầy chỉ hút nửa điếu là bỏ nhưng hôm nay thì thầy lại hút Saigon xanh và không còn nửa điếu là quăng như trước nữa. Tuy nhiên giữa thời buổi khó khăn này mà thầy còn hút Saigon xanh là quá bảnh, và phong cách thì vẫn như dân Parisien ngày nào, muôn đời sang cả!

-Sao hôm nay đi đâu đây? Thầy hỏi chân thành.

-Dạ, tính đi học Pháp Văn lại!

Hắn nhanh nhảu trả lời không nghĩ ngợi nhiều. Tiếng thầy T. reo vui:

-Trời ơi, giờ nghe N. đi học thầy mừng quá. Sao giấy tờ tới đâu rồi?

-Giấy tờ gì thầy? Hắn hỏi lại.

Thầy T. ngạc nhiên.

-Giấy tờ bảo lãnh chứ giấy tờ gì?

-Dạ, em đâu có giấy tờ bảo lãnh gì đâu!

Nghe hắn trả lời thầy chưng hửng:

-Ủa, hổng có giấy tờ gì hết thì tới đây làm chi?

-Dạ, thấy thầy dạy ở đây, em muốn đến học lại Pháp Văn thôi.

Thầy im lặng một lúc lâu như cố đè nén sự xúc động xuống, ít phút sau thầy lên tiếng giọng có phần hơi lạc đi và có vẻ cảm khái khi hắn nói thế. Thầy chắt lưỡi:

-Nghe em nói thầy rất vui! N. mà bây giờ đi học tiếng Pháp thì quý vô cùng, bởi vì hiện nay hiếm có ai còn có lòng đi học chỉ để mở mang kiến thức tiếng Pháp lắm nếu không có diện định cư nào. Thế… em đang làm gì?

-Dạ, mới “ủ tờ” về có làm gì đâu thầy!

Đến lúc ấy thì thầy đã hiểu mọi chuyện. Thầy chép miệng nhìn hắn cảm thông, đưa điếu thuốc hờ hững lên môi thầy rít một hơi dài và thở ra nhè nhẹ. Ngước lên cao trông khói thuốc trắng lặng lờ bay vô định trong không gian rồi tan biến một cách âm thầm vào hư vô như đời sống này bây giờ thầy hạ giọng nói nho nhỏ như vừa đủ cho hắn nghe:

-Tui “một lần” tởn tới già! Tây có câu “Vouloir c’est pouvoir,” nhưng tui muốn mà có được đâu!

Vậy là kể từ đó mỗi chiều thứ hai, thứ tư, thứ sáu, hắn đến đây học Pháp Văn và học được rất nhiều các áng văn chương tuyệt tác của các đại văn hào Pháp như Alphonse Daudet, Anatole France…nơi thầy. Hắn thích nhất cái câu “Si j’étais riche, j’aurais à moi une maison rustique..” của Jean Jacques Rousseau lúc thầy mượn dạy làm ví dụ để giảng về thì “điều kiện cách” trong quá khứ quá. Nhờ sự phân tích sâu sắc chữ “à moi” của thầy T., hắn thấy đại thi hào đã dùng chữ một cách thần kỳ! Hắn nhìn nhận thầy là người đã truyền cảm hứng, đam mê viết lách cho hắn sau này.

Ngoài ra, để cho tiện lợi cũng như muốn dành lại số thời gian quý báu mà hắn đã đánh mất trong tháng ngày bị cưỡng bức cuốc đất trồng khoai, móc sình đắp đê vừa qua, hắn ghi tên học tiếng Anh luôn với thầy Tùng trong mấy ngày còn lại, bởi hắn biết thầy Tùng này cũng rất nổi tiếng vì cũng đã từng du học ở Mỹ về!

Trưa một hôm hắn đến rạp Quốc Tế (Thái Bình cũ) trên đường Phạm Ngũ Lão để xem phim “La Mélodie du bonheur” mà trước 1975 người ta dịch sang tiếng Việt theo nội dung của cuốn phim là “Lụy tình chưa dứt” nhưng sau 1975 lại gọi là “Giai điệu hạnh phúc.” Tuy nhiên dù dịch thế nào thì đây vẫn là một trong các phim hay mà hắn thích bởi đã từng coi hồi nhỏ ở “Trung Tâm Văn Hóa Pháp (Centre Culturel Française)” rồi!

Có một điều khó hiểu là rạp xi nê này từ mấy năm nay hay chiếu những phim ngoại quốc giá trị ngày xưa dưới chiêu bài là phim “tư liệu.” Ban quản lý rạp hát sử dụng chữ “tư liệu” có lẽ để tránh sự chỉ trích của công luận đối với một chính quyền đã từng hô hào việc bài trừ “văn hóa đồi trụy” trước đây hay nhằm tránh sự kiểm duyệt? Và họ là ai mà có được cái đặc quyền đó? Không ai biết được tuy nhiên dù sao thì cũng nhờ vậy mà dân Saigon mới có cơ hội được xem lại những phim một thời họ yêu thích!

Xem xong ra khỏi rạp, ngó đồng hồ chỉ mới gần hai giờ chiều! Lòng vẫn còn bồi hồi vì nội dung của cuốn phim, hắn đạp xe lang thang qua phố phường, ghé tới Trung Tâm Văn Hóa Pháp nơi có rạp hát Alliance Francaise bên trong mà hồi đi học hắn xem phim này ở đây coi nó ra sao thì vẫn thấy mấy tòa nhà cổ xưa ấy nằm buồn tênh theo tháng ngày nhưng cảnh học sinh tấp nập nay đã vắng xa. Sẵn trớn hắn men theo con đường Gia Long ngập đầy lá me bay với những bông hoa nắng li ti đang nhảy múa trên áo, trên vai hắn để tới cổng sau trường Taberd gần đấy nhìn một cái luôn. Bất chợt thấy có một đoàn người gồm cả đàn ông và đàn bà đang dắt xe đạp và xe gắn máy tiến vào trong. Một ý tưởng nảy ra trong đầu, hắn tấp vô nối đuôi theo đoàn người nọ.

Vừa đẩy xe qua khỏi cánh cửa sắt cao, to, nặng nề thì cái sân cát ở mé bên phải mà bọn hắn từng tập nhảy xa trong giờ thể dục hồi nhỏ đập ngay vào mắt hắn khiến hắn khựng lại mấy giây như gặp lại cố nhân!

Khi đã ở hẳn bên trong rồi, giữa lúc thiên hạ lo gửi xe, tíu tít cười nói thì hắn cũng làm theo nhưng gióng tai nghe ngóng. Hóa ra đây là đoàn cán bộ đi họp. Đợi cho họ đi hết, hắn bước thư thả loanh quanh sân trường, ngó mọi nơi, ngắm mọi thứ!

Đến gần cây me tây già cỗi theo năm tháng hắn đưa mắt nhìn bâng quơ rồi dừng lại ở cái bệ xi măng bằng đá rửa vẫn còn đó của tiệm bán hàng Pa Tí Xệ (Patisserie) sát góc cổng ra vào đường Hai Bà Trưng mà ngày nhỏ bọn học sinh của hắn vẫn leo trèo hay đu lên đấy để chen lấn mua kẹo Nougat hoặc gào thét mua bánh, giành giật mua các chai xí muội nhỏ với bao hình ảnh tuổi thơ tràn về. Rồi hắn đưa mắt xuống bên dưới tới dãy nhà rộng lớn đặt đầy các bàn banh bàn mà lúc sắp tới giờ ra chơi là bọn hắn đứng ngồi không yên, thấp thỏm đợi chuông vừa reo là phóng ra khỏi lớp, nhảy xuống lầu, chạy bán sống bán chết qua cái sân trường thật to, nhào vô đây tìm bàn ngon, bỏ trái banh vô chỗ đựng banh để “xí” bàn đến đổi nhiều khi cãi cọ, uýnh lộn nhau tới độ đứt cả nút áo hoặc nắm xé, giật sút cả túi áo trên mà khi sắp hàng trở vô lại lớp thì thấy nó treo lủng lẳng như lá cờ rủ sau trận ẩu đả của đám học trò quỷ ma ấy!

Chợt hắn lần bước tới cột bóng rổ, đưa tay sờ lấy cây cột xi măng, sơn trắng, mát lạnh với nhiều bồi hồi. Dưới chân cái cột này hắn thường bỏ “cartable” mỗi khi ra về và chạy lăng quăng theo thằng Chương để được nó dạy thảy banh, chơi bóng rổ đây mà!

Suy tư một lúc và từ nơi vô thức, hắn leo lên các nấc thang tới khán đài, ngồi xuống ở một góc đưa tay thoa nhè nhẹ cái sàn bằng đá rửa láng bóng như mân mê lấy những kỷ niệm mà lúc bé bọn hắn hay tụ tập lên đây la lối hoặc tụm đầu vô chơi vít hình chờ giờ vào lớp hôm nào!

Đoạn hắn bước xuống từ mấy bực xi măng ở phía bên kia đi lần tới phía dưới của dãy nhà hắn học thời trung học, nơi cũng có một cái căn tin nhỏ ở đây trước khu nhà vệ sinh rồi tà tà đến dưới chân cầu thang dẫn lên các lầu trên và dừng lại. Hắn nhìn cái góc cầu thang phía trên rất lầu bởi nơi này là hình ảnh thằng Trí “con” bị thầy Cà-ri Hòa nắm đầu lôi ra khỏi hàng đấm đá, bợp tai tới tấp do nó cứ say sưa kể chuyện vừa đọc về Cẩu Tạp Chủng trong Hiệp Khách Hành mà quên thầy Cà-ri đang rình mấy đứa nói chuyện trong hàng khi lên lớp làm cho mấy thằng học trò khác “thất kinh hồn vía!”

Và dãy lầu bên này cũng là nơi bọn hắn học năm lớp tám, lớp chín với nhiều cô nhiều thầy rất ấn tượng mà đến giờ nó vẫn chưa quên như cô Cao Thị T., dạy Lý-Hóa, đẹp như tây lai nhưng lạnh lùng vô độ hay Frère Bosco B., chủ nhiệm lớp hắn năm lớp chín, chẳng hạn. Frère dạy toán và rất đẹp trai lại trẻ măng vì mới ra trường nên vô cùng năng nổ. Ngày ấy Frère đã đem bầu nhiệt huyết của người thanh niên trong các sinh hoạt thể thao, văn hóa học đường, hoạt động xã hội, ước mơ dấn thân phục vụ, phụng sự đất nước, quốc gia tới cho bọn hắn. Sự say mê, tha thiết này của Frère đã ảnh hưởng rất nhiều đến đám học trò nhỏ của mình. Hắn không phủ nhận là ngày nay ý chí, tính cách của hắn bị ảnh hưởng nhiều từ sự hun đúc ngày trước ấy của Frère!

(Hình: Taberd.org, tác giả cung cấp)

Mải mê suy nghĩ vớ vẩn, hắn lần bước tới dãy phòng của mấy lớp Onzième, phòng dạy nhạc, cửa lên thính đường lúc nào không hay… trong niềm xúc động miên man!

Cuối cùng hắn đi trở ra đến giữa sân cờ, mắt dáo dác nhìn quanh tìm kiếm chỗ mà năm lớp Tám mỗi ngày bọn hắn được thầy thể dục, được Frère Giám Hiệu Martial Lê Văn Trí dẫn ra tập thể dục “đồng diễn” để chuẩn bị cho Đệ Bách Chu Niên, chuẩn bị múa với mấy em nữ học sinh duyên dáng của Saint Paul, Thiên Phước khiến bọn hắn lúc nào cũng chộn rộn, đếm từng ngày, mong ngóng từng giờ để được gặp mấy em hơn là lo tập!

Đang khi còn bần thần với “những ngày xưa thân ái” thì bỗng có một tiếng nói phát ra sau lưng làm hắn giật mình:

-Anh ơi, anh đến đây làm gì thế?

Hắn xoay lại, trước mặt hắn là một anh thanh niên mà hắn đoán tuổi mới chừng mười tám đôi mươi mặc bộ đồ của “Thanh Niên Xung Phong” mang dép nhựa làm từ vỏ xe, nhìn hắn lom lom ít thiện cảm. Hắn đáp tỉnh bơ:

-Tui vô thăm trường cũ, em!

-Anh có xin phép vô chưa? Ai cho anh vô?

Hắn nói trớ đi:

-A, lúc tui tới cổng thấy không có ai để xin phép hết em!

-Anh nói sao ấy chứ? Tui ngồi đó trực cả buổi mà sao anh bảo là không có?

Rồi hắn hậm hực, giơ tay khoác và sẵng giọng:

-Thôi yêu cầu anh ra đi!

-Anh là học trò cũ của trường này hồi trước. Em cho phép anh thăm một chút được không?

Hắn xuống nước năn nỉ, nhưng tên bảo vệ vẫn lạnh lùng:

-Không được anh ơi, chỗ này đâu phải là chỗ thăm viếng. Vã lại hiện đang có cuộc họp giáo chức ở đây, đâu phải giờ tham quan đâu chứ. Thôi mời anh ra ngoài ngay cho!

Thế là sau khi lấy xe đạp, hắn được tên bảo vệ “hộ tống” ra tới khỏi cổng như đuổi tà làm hắn không khỏi bẽ bàng. Leo lên xe đạp rồi mà hắn chưa vội chạy mà còn đứng suy nghĩ vẩn vơ “mình tới thăm trường xưa chứ có làm gì đâu mà nó xua đuổi mình như ăn trộm không bằng? Nó ăn cướp thì không sao!

“Ta về một bóng trên đường lớn

Thơ chẳng ai đề vạt áo phai”

Ta về như bóng ma hờn tủi

Lục lại thời gian, kiếm chính mình

(Tô Thùy Yên- Ta về!)

Cuối năm 1988 hắn lại “ra khơi” vì bị đẩy ra khỏi xã hội, bước đi bên cạnh cuộc đời “đá vàng!” Sau hai mươi bảy ngày đêm lênh đênh trên biển vì ghe chết máy và một người qua đời, cuối cùng ghe hắn bị đội Lưới Quàng Khơi; gồm ba chiếc ghe gỗ to, mỗi chiếc có năm tên công an được trang bị súng M16, M79 và đại liên M60 của một tỉnh ở miền Tây bắt lại lúc còn cách giàn khoan Tây Đức trong hải phận Mã Lai 3 giờ đồng hồ!

Đội Lưới Quàng Khơi này vừa đi đánh cá vừa có nhiệm vụ bảo vệ lãnh hải. Điều đáng nói là tuy không muốn ghe thuyền của nước khác xâm phạm lãnh hải mình nhưng trớ trêu thay, chúng lại đi vào vùng biển của nước khác để đánh bắt và gặp ghe hắn. Thời điểm ấy cộng sản Việt Nam có chính sách là sẽ thưởng 20% trên giá trị của “chiến lợi phẩm” mà chúng mang về do đó mà bọn chúng mới hăng hái là vậy.

Vì thế khi bắt được ghe hắn là chúng vội vàng tháo sợi dây “cu roa (belt)” và lôi thêm suốt sáu ngày đêm về VN! Lúc này cộng sản không còn quy kết kẻ vượt biên vào tội chính trị nữa vì quốc tế đã quyết định đóng cửa các đảo vào đầu năm 1989 nên sau vài tháng bị giam và đóng phạt vi cảnh hai trăm ngàn đồng hắn được thả về. Một hôm hắn trở lại trung tâm dạy sinh ngữ Trương Định thì trường đã dẹp từ lâu mà không rõ nguyên nhân?

Rồi vì hai chữ tự do hắn lại ra đi bất chấp tất cả mọi rủi ro, kể cả tính mạng vào tháng 06 năm 1989. Lần này hắn thoát khỏi Việt Nam đến được trại tị nạn Phi Luật Tân! Nhưng do tới sau ngày đóng cửa đảo nên hắn “chết dấp” nơi này và “trôi theo dòng đời” suốt gần mười một năm! Và như dòng sông không trở lại (La rivière sans retour,) trong thời gian ở đây, hắn chỉ có ăn và lo biểu tình chống thanh lọc bất công, chống cưỡng bức hồi hương mà thôi. “Rather die than return!”

Nhưng may mắn là số phận hắn thuộc vào cái loại “tiền hung hậu kiết” nên hắn được định cư cuối mùa; tới được Mỹ dù muộn màng nhờ sự giúp đỡ của mấy cộng đồng người Việt ở khắp nơi, của tổ chức BPSOS, của luật sư Trịnh Hội…! Tuy nhiên như ông bà ta thường nói “trâu chậm uống nước đục” vì thế hắn vô cùng vất vả, làm lụng nhiều nghề trong các mùa đông bão tuyết ở Minnesota, Virginia..để có tiền về Việt Nam thăm cha mẹ già đang lâm trọng bệnh!

Năm 2001, hắn trở lại. Quê hương còn đó và thay đổi khá nhiều sau thời mở cửa, nên đời sống dân chúng khá giả hơn. Tháng ngày ở đây ngoài việc sum họp vui vầy bên gia đình thì hắn cũng có đi thăm cô thầy cũ.

Trưa một bữa, hắn cùng thằng bạn học bên trường Trần Quốc Tuấn (tức Lasan Đức Minh cũ) bây giờ là bác sĩ rất nổi tiếng không chỉ ở trong nước mà còn cả ở nước ngoài nữa cùng với Tuấn; anh họ cô T., cũng là bạn học cũ của hắn thời ở Taberd đến thăm cô.

Nhà của cô vẫn ở chỗ cũ, sau lưng quán bánh cuốn Tây Hồ; tiếng tăm ở Dakao dạo nào. Đứng trước căn nhà lầu đúc mới xây lại chưa lâu, có rào và cổng sắt hẳn hoi, một ý nghĩ trêu đùa thoáng qua đầu, hắn bảo hai người bạn chạy ra xa núp chỉ để mình hắn ở lại và hắn bắt đầu lắc cửa cổng kêu inh ỏi.

Ít phút sau cô từ trên lầu đi xuống, dừng lại nơi cầu thang và nói vọng ra khi thấy một người đầu đội nón lụp xụp đứng bên ngoài mà cô nghĩ là dân buôn bán dạo:

-Không mua vé số!

Nhìn bóng dáng cô, hăn bồi hồi bởi cô nay đã lớn tuổi và gầy gò theo thời gian. Trong lòng đang suy nghĩ vậy nhưng tay hắn vẫn lắc lắc cánh cửa kêu rổn rảng liên tục. Cô đứng yên bên trong một lúc, có lẽ vì ngạc nhiên trước thái độ kỳ lạ của người mà cô cho là bán vé số, rồi cô tức mình vì thái độ ngoan cố mà cô cho là muốn chọc ghẹo cô của kẻ bán dạo cô bước mau ra, tới gần cửa cô giơ tay chỉ mặt, trợn mắt nói to:

-Đã bảo ở đây không có mua vé số mà sao lì…

Cử chỉ ấy của cô làm hắn nhớ lại cung cách mạnh mẽ của cô ngày xưa trên bục giảng khi trị đám học trò cứng đầu như hắn khiến hắn cứ đứng nghệt mặt ra cười hề hề. Cảm thấy có điều kỳ lạ, cô đi ra khỏi cửa nhìn kỷ lấy hắn một đổi rồi la lên:

-Ủa, N. hả? Về hồi nào vậy em? Chờ cô lấy chìa khóa cổng cái nha. Đoạn cô rảo bước trở vô trong khi hắn quay ra ngoài ngoắc hai thằng kia lại. Khi trở ra cô ngạc nhiên thấy ba thằng học trò cũ ngày xưa đứng đợi, cô cảm động lắm, hối thúc:

-Vào, vào đi mấy đứa!

Và cô quay sang Tuấn:

-Cậu vẫn khỏe hả anh?

-Dạ, khỏe. Tuấn gật đầu cười toe toét.

Khi tất cả đã vào nhà và ngồi yên đâu đó rồi. Cô T. ra sau bếp lấy nước cho ba đứa, lúc mang lên cô nói :

-Uống đi mấy em! Sao tính khỉ khọt mấy chục năm vẫn không bỏ vậy N.? Cô quay sang hỏi hắn.

-Dạ, xấu xa thường là bản chất nên khó bỏ cô!

Cô T. trợn tròn mắt trước câu trả lời nhiều ý nghĩa của hắn. Hắn cười hền hệt, đáp tỉnh bơ vờ như không biết gì đoạn hỏi lại:

-Cô khỏe hả cô?

-Khỏe!

Cô ngó hắn một lúc đoạn nhìn thằng bác sĩ và Tuấn ngồi bên cạnh cười. Vẫn nụ cười ngày xưa nhưng bây giờ thì bao dung và độ lượng nhiều:

-Thằng này đi cực khổ quá tụi em. Coi, nó qua Mỹ rồi mà còn đen mun hà!

-Nó không chết là may rồi đó cô!

Thằng bác sĩ cười khà khà đỡ lời. Tuấn chen vô:

-N. mang nắng Phi về cho mình, cô!

Cô T. gật đầu, pha trò:

-Ừ, hèn chi mấy hôm nay nắng nóng quá! Em đi gì mà ở tù thấy ớn luôn. Mỗi khi hỏi tới lại nghe đang ở tù! Lần cuối em gặp cô là hình như năm 1987 phải hông N.?

-Dạ đầu năm 1989, cô. Em nhớ rõ vì lúc ấy em mới được thả về, vài tháng sau thì đi đến Phi!

Cô liếc xéo hắn, mắt đầy thương hại:

-À, mà em ở trại tị nạn bên Phi bao lâu vậy N.?

-Dạ, gần mười một năm, cô!

Cô há mồm trợn mắt, như không tin nổi. Cuối cùng cô nhìn Tuấn, đánh tiếng như ngầm muốn Tuấn xác nhận lời mình sắp nói :

-Hồi ở Taberd nó nhỏ con, ốm yếu nhưng phá lắm tụi em. Không ngờ trông vậy mà ý chí mạnh dữ. Mà cũng phải thôi, chứ em ở lại đây cũng khó làm gì được!

Rồi cô quay sang hắn:

-À, mà em về hôm nào vậy?

-Dạ, được một tuần rồi là tới thăm cô liền đây.

Cô cảm động đôi phút, bỗng đưa tay lên cao, phân bua:

-Mấy em biết không? Hồi đó cô hỏi bài nó, nó không thuộc, cô ký đầu nó hoài. Vậy mà sao không ghét cô N.?

-Dạ, vì bị ký đầu đau nên nhớ cô hoài !

Tuấn và thằng bác sĩ ngồi kế bên bật cười ha hả, cô cũng cười trước câu nói hóm hỉnh của hắn, ngừng lại một chặp, cô lại lên tiếng:

-Rồi bây giờ bên đó em làm gì?

Hắn chợt nghiêm mặt:

-Hồi đi học em nhớ mãi câu cô nói “sau này khi lớn lên, cái nghề mà các anh sẽ làm thường lại không phải là cái nghề các anh ước mơ lúc này đâu. Bởi vì cuộc đời nó kỳ lạ lắm! Nếu ngày sau ai mà làm được đúng cái công việc lúc nhỏ còn đang ngồi trên ghế nhà trường mà mình mong muốn thì người đó rất may mắn…!”

Mọi người im lặng, suy nghĩ mông lung. Cô T. vô cùng bất ngờ trước điều hắn vừa thốt ra. Cô ngó thẳng mặt hắn chăm chăm một đổi như muốn tìm gì đó trên gương mặt hắn thật lâu, cuối cùng cô quay sang Tuấn và thằng bác sĩ giục mà tay còn chỉ hắn:

-Uống nước đi mấy đứa! Thằng này “nhớ dai” ghê!

Bọn hắn ra về sau buổi thầy trò hàn huyên thân mật trong niềm lưu luyến và hắn vẫn  giữ mối liên lạc ấy cho đến hôm nay.

Cuộc sống tại Mỹ có nhiều biến động khi nạn suy thoái nghiêm trọng xảy ra từ vụ 9/11 khiến những kẻ vừa đến vùng đất hứa như hắn lao đao. Năm 2008, hắn phải đi New Orleans, Louisiana lo công việc. Nhờ có địa chỉ email của lớp 8/8 do Phạm Xuân Chữ lập ra, hắn đã liên lạc được với các bạn cùng lớp và biết Frère Bosco cũng đang ở trong một nhà dòng của Lasan gần đấy, nên gọi điện thoại và hẹn thăm Frère khi tới đó.

Ngày đi, hắn háo hức gặp lại Frère khi ông nói sẽ đón hắn tại phi trường nhưng Frère rất là thản nhiên ngồi trong xe đợi hắn lúc hắn ra, bình thường như chỉ mới chưa gặp ngày hôm qua!

Khi hắn ngỏ ý nhờ ông chở tới một nhà hàng Việt nào nấu ăn ngon để mời Frère ăn trưa thì ông đưa hắn tới “Mcdonald!” Ăn xong, Frère chạy xe ra bờ sông gần đó hóng mát.

-Frère vẫn ở trong dòng tu thôi hả Frère? Hắn đánh tiếng.

Frère vẫn lái xe, mắt nhìn về phía trước nói chậm rãi như cách nói của ông ngày nào:

-Ừ, thì là vẫn tu, rồi có dạy toán thêm cho con em mấy người Việt Nam ở đây bởi họ bận đi đánh cá kiếm sống không ai kèm cặp tụi nó. Tiền dạy được bao nhiêu Frère về đưa cho nhà dòng hết vì nhà dòng nuôi mình mà! Mấy Frère già cho lại vài chục đổ xăng thôi vì ngoài dạy ra Frère còn phụ trách chở mấy vị ấy đi khám bệnh, bác sĩ…

Hắn gật gù và chẳng mấy chốc cả hai đã đến bờ sông. Trời có vẻ yên ắng và vắng lặng vì là ngày đi làm. Tại đây ông tặng cho hắn một mớ đồ như một ly uống nước, một laptop và dụng cụ sạc điện cho laptop từ xe hơi với một memory stick, một cái áo lạnh rất dày và đặc biệt là có một cây đàn Organ điện tử cho con trai bốn tuổi của hắn…rồi bảo:

-Trong các học trò của Frère thì N. là người tới Mỹ muộn nhất! Đây là những vật dụng tuy đã cũ nhưng còn xài được và tốt, Frère đi tu nên không có tiền do vậy Frère chia cho em đồ của Frère đang dùng hàng ngày như cha chia gia tài cho con! Đứa con út khổ và cực nhất…

Frère nói nhiều lắm mà hắn không còn nghe được nên giờ đây không nhớ để viết lại vì quá xúc động trước các lời lẽ chân tình của Frère. Đến chừng ấy hắn chợt hiểu lý do tại sao hồi nãy Frère không đưa hắn tới nhà hàng bởi…ông không muốn hắn tốn tiền!

Đó là kỷ niệm đầu tiên thầy trò hắn gặp lại sau gần bốn mươi năm xa cách mà hắn còn nhớ mãi! Và tất cả đồ Frère tặng kia hắn vẫn còn giữ đến hôm nay như để trân quý tình nghĩa thầy trò!

…Năm 1974, hắn có may mắn tham dự đại hội Đệ Bách Chu Niên của Lasan Taberd!

Bây giờ trường lại kỷ niệm một trăm năm mươi năm thành lập!

Thế là hắn đã xa trường, năm hắn mười sáu tuổi, khi vừa biết mộng mơ! Năm mươi năm lạnh lùng đi qua như một giấc mơ, tâm tư bùi ngùi, hắn nghĩ ngợi!

“Taberd trăm năm trước vẫn còn đó. Năm mươi năm sau sẽ ra sao?”

Nhưng cho dù như thế nào thì hình bóng Taberd vẫn cứ như bến đò xưa, trong lòng hắn. Thầy, cô xưa mãi vẫn như cây đa cũ trong tim đứa học trò mà giờ đây đã như con đò nhỏ, ra khơi…trôi xa bến đợi chờ!

Taberd ơi! Biết bao giờ trở lại? Gặp nhau để nói nhỏ mấy câu? Tinh thần Lasan bất diệt!

(Ohio, 24 Tháng 08 năm 2024)


 

BẢN DI CHÚC KỲ LẠ.-Truyen ngan HAY

Công Ty Cổ Phần Đông Y Trường Xuân –  Những câu chuyện Nhân Văn

Chừng 33 năm trước, vợ của một thương nhân ở Washington (Mỹ) đã bất cẩn đánh rơi chiếc túi da trong bệnh viện vào một buổi tối mùa đông. Thương nhân vô cùng sốt ruột đi ngay trong đêm đó để tìm. Bởi vì trong túi da không chỉ có 100.000 đô la mà còn có bản thông tin thị trường vô cùng cơ mật…

Khi người thương nhân đến bệnh viện đó, ông liền trông thấy ở một hành lang vắng lặng, lạnh giá của bệnh viện có một cô bé gầy gò đang co ro rét run bần bật ngồi dưới sát bức tường. Thứ cô bé đang giữ chặt trong lòng chính là chiếc túi da mà vợ ông đánh mất.

Thì ra cô bé có tên là Siada này đến bệnh viện để trông nom người mẹ đang mắc trọng bệnh. Hai mẹ con dựa vào nhau mà sống, gia cảnh rất nghèo, đã bán đi tất cả đồ đạc trong nhà, số tiền gom góp được vẫn chưa đủ chi phí thuốc men chữa bệnh trong một đêm. Không có tiền ngày mai biết làm thế nào bây giờ?

Tối hôm đó, Siada bất lực đi đi lại lại trong hành lang bệnh viện, cô thành kính cầu Thượng Đế bảo hộ, có thể gặp được người hảo tâm cứu mẹ cô. Bỗng nhiên một phụ nữ từ trên tầng đi xuống, khi đi qua hành lang thì chiếc túi da dưới nách cô rơi xuống. Có lẽ do dưới nách cô vẫn còn vật gì khác nên khi túi da rơi mất mà cô vẫn hoàn toàn không phát hiện ra.

Khi đó hành lang chỉ có một mình Siada. Cô chạy lại nhặt chiếc túi lên và vội vàng chạy ra ngoài cửa đuổi theo người phụ nữ kia, nhưng người phụ nữ đó đã bước lên một chiếc xe con và phóng đi.

Siada trở về phòng bệnh. Khi cô mở túi ra, hai mẹ con cô kinh ngạc vì những tờ giấy bạc xếp thành từng xấp. Lúc đó trong lòng hai mẹ con đều hiểu rõ, dùng số tiền này có thể chữa khỏi bệnh mẹ.

Nhưng mẹ cô lại bảo cô đem túi da quay trở lại hành lang, đợi người đánh mất đó quay lại lấy. Mẹ của Siada nói: “Người mất tiền nhất định rất lo lắng. Trong cả cuộc đời con người thì việc đáng làm nhất chính là giúp đỡ người khác, lo lắng nỗi lo lắng của người khác. Việc không được làm nhất là tham lam tiền tài bất nghĩa, thấy tiền tài mà quên đạo nghĩa”.

Người thương nhân sau khi tìm lại được chiếc túi, cảm kích vô cùng, đã dốc hết sức mình giúp đỡ. Nhưng mẹ của Siada vẫn để lại đứa con gái cô độc một mình mà ra đi mãi mãi. Hai mẹ con Siada không chỉ đã giúp người thương nhân có lại được 100.000 đô la mà quan trọng hơn là lấy lại được thông tin thị trường cơ mật bị mất đó. Nhờ thông tin này mà thương nhân đã làm ăn như diều gặp gió, rất nhanh chóng đã trở thành một triệu phú lớn.

Sau này, Siada được triệu phú nhận nuôi. Sau khi học xong đại học, cô trở lại giúp cha nuôi của mình quản lý việc kinh doanh. Việc kinh doanh rất phát đạt và người triệu phú nọ đã nhanh chóng trở thành một tỷ phú. Tuy ông không ủy nhiệm cho Siada bất kỳ chức vụ thực tế nào nhưng bởi được rèn luyện trong thương trường lâu dài, lại được học hỏi rất nhiều từ cha nuôi, Siada đã trở thành một nhân tài kinh doanh đầy triển vọng. Đến khi cha nuôi cô tuổi cao, sức yếu, rất nhiều ý kiến đều tham vấn Siada.

Tới khi vị tỷ phú lâm chung, ông đã để lại một bản di chúc khiến người ta ngạc nhiên:

“Trước khi tôi quen biết 2 mẹ con Siada, tôi đã là người có rất nhiều tiền rồi. Nhưng khi tôi đứng trước mặt 2 mẹ con nghèo khổ bệnh tật hiểm nghèo, nhặt được số tiền lớn mà không lấy, tôi đã phát hiện ra họ mới là những người giàu có nhất, bởi vì họ đã giữ được chuẩn mực cao nhất làm người. Đây chính là điều mà những thương nhân như tôi lại thiếu nhất. Tiền bạc của tôi dường như đều là có được từ việc lừa dối, đấu đá tranh giành. Hai mẹ con họ đã khiến tôi hiểu ra được vốn liếng lớn nhất của đời người chính là phẩm hạnh.

Tôi nhận nuôi dưỡng Siada không phải bởi vì cảm tạ báo ơn, cũng không phải vì cảm thông với hoàn cảnh của cô bé, mà đó là thể hiện sự kính trọng với một tấm gương làm người. Có cô bé ở bên, trên thương trường tôi luôn từng giờ từng phút ghi nhớ điều gì nên làm, điều gì không nên làm, tiền nào nên kiếm, tiền nào không nên kiếm. Đây chính là nguyên nhân căn bản giúp sự nghiệp của tôi sau này hưng thịnh phát đạt, trở thành tỷ phú.

Sau khi tôi qua đời, toàn bộ tài sản hàng tỷ đô la của tôi đều để lại cho Siada thừa kế. Đây không phải là tặng, mà là để cho sự nghiệp của tôi càng phát triển thịnh vượng huy hoàng hơn nữa.

Tôi hoàn toàn tin tưởng, đứa con trai thông minh của tôi sẽ hiểu dụng tâm của cha nó”.

Khi người con trai của tỷ phú từ nước ngoài trở về đã xem kĩ di chúc của cha, lập tức không do dự ký tên vào bản Giao kết thừa kế tài sản. Anh ta viết: “Tôi hoàn toàn đồng ý Siada kế thừa toàn bộ tải sản của cha tôi. Tôi chỉ thỉnh cầu Siada có thể làm phu nhân của tôi”.

Siada đọc những dòng chữ con trai tỷ phú viết, trầm ngâm một lúc rồi cầm bút viết: “Tôi xin tiếp nhận toàn bộ tài sản của cha nuôi để lại – bao gồm cả con trai ông”.

Bản di chúc kỳ lạ của một tỷ phú: Vốn liếng lớn nhất đời người là phẩm hạnh.

Trần Cầu Sưu tầm

(Visiontimes)


 

Ba nhân đức đối với Thiên Chúa là những nhân đức nào?-Cha Vương

Ngày Thứ 2 đầu tuần zui zẻ và thật mạnh mẽ trong đức Tin, Cậy, Mến nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 26/8/2024

GIÁO LÝ:  Ba nhân đức đối với Thiên Chúa là những nhân đức nào? Là đức tin, đức cậy, đức mến. Chúng được gọi là “đối thần”, vì chúng có nền tảng trong Thiên Chúa, và trực tiếp hướng về Thiên Chúa. Ta có thể nhờ 3 đức này như con đường trực tiếp đạt tới Thiên Chúa. (YouCat, số 305)

SUY NIỆM: Tại sao tin, cậy, mến là nhân đức? Vì là những sức mạnh thực sự được Chúa ban, và nhờ ơn Chúa giúp, ta có thể gia tăng và củng cố để đạt được sự sống sung mãn (Ga 10:10). Thiên Chúa là tình yêu: ai ở trong tình yêu là ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong họ.—1 Ga 4:16 (YouCat, số 305)

Có một gia đình nọ sống giữa đồng không mông quạnh. Vào một đêm kia, căn nhà bốc cháy dữ dội. Cha mẹ, con cái vội chạy ra ngoài sân và đứng bất lực nhìn ngọn lửa thiêu rụi tổ ấm gia đình họ.

Bỗng mọi người chợt nhận ra còn thiếu mất đứa con bé nhất. Thì ra cậu bé cũng chạy ra với mọi người, nhưng chưa tới cửa, thấy lửa cháy dữ quá, cậu sợ hãi quá nên lại chạy trở lên lầu.

Trong lúc cả gia đình hốt hoảng không biết phải làm sao để cứu cậu bé năm tuổi, vì lửa cao ngút tứ phía, bỗng cửa sổ trên lầu mở toang, và cậu bé kêu khóc inh ỏi. Cha cậu bé gọi lớn tên con, rồi nói:

– Con nhảy xuống đây!

Cậu bé nhìn xuống dưới chỉ thấy khói mù và lửa cháy, nhưng nghe tiếng cha kêu mình, liền trả lời:

– Ba ơi, con không trông thấy ba đâu hết!

Người cha trả lời giọng cương quyết:

– Cứ nhảy đi, có ba trông thấy con là đủ rồi!

Và cậu bé leo lên cửa sổ, liều nhảy xuống, rơi vào vòng tay yêu thương vạm vỡ của cha mình một cách an toàn.

Bạn có một người Cha còn yêu thương bạn hơn mọi người cha trần thế. Đó là chính Thiên Chúa. Để giúp bạn sống xứng đáng là con cái Thiên Chúa, vượt qua được những khó khăn trong cuộc sống, Thiên Chúa ban cho bạn một số nhân đức đặc biệt. Những nhân đức này quy hướng chúng ta về Thiên Chúa, nên được gọi là các nhân đức đối thần. Đó là các nhân đức Tin, Cậy, Mến. Vậy bạn hãy để mình rơi vào vòng tay từ bi và nhân lành của Chúa đi nhé.

LẮNG NGHE: Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến. (1 Cr. 13:13)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, vì yêu thương con, Chúa đã ban cho con các nhân đức—Tin, Cậy, Mến, xin giúp con luôn luôn hướng về tình thương Chúa mà kiên trì học hỏi cầu nguyện để có được đời sống tốt tràn ngập bình an và hạnh phúc.

THỰC HÀNH: Để tỏ lòng tin tưởng, cậy trông và yêu mến Chúa, bạn hãy quyết tâm trong tuần này luôn nhớ tới Chúa và xin Ngài chúc lành cho công ăn việc làm của bạn và những khó khăn bạn gặp trong ngày.

 From: Do Dzung

***********************

Con Tin Chúa Ơi | Sáng Tác: Lm. Duy Thiên | Trình Bày: Gia Ân

Chuyện nhà người ta – HẬU LY HÔN 2-Truyen ngan


Công Tú Nguyễn
Chuyện tuổi Xế Chiều

Chuyện nhà người ta

HẬU LY HÔN 2

“ Bài này của 1chú đang nằm viện dưỡng lão” Được con trai, con gái của vợ đầu đóng tiền chu cấp” viết khi đọc bài : “Bỏ mặc con, đàn ông đầu tư cho tình nhân rồi về già ai chăm?” Có cắt bớt …

Vợ chồng tôi ly hôn khi vợ phát hiện tôi ngoại tình và có con riêng 5 tuổi – ít hơn 1 tuổi K. – con trai út của vợ chồng tôi.

Vợ tôi cư xử rất có văn hóa và văn minh. Cô ấy không làm ầm ĩ cũng chẳng đánh ghen mà cho tôi chọn lựa: hoặc về với gia đình, hoặc đến với nhân tình. Trong lúc tôi đang đứng ở ngã ba đường thì cô bồ nhí trẻ đẹp, miệng ngọt ngào và luôn tâng bốc tôi tận trời xanh đòi tự tử, Còn đến tận nhà gặp gỡ vợ tôi với các con tôi ép bắt tôi phải ly hôn. Khi ấy, bé Mun – con gái đầu của tôi – 11 tuổi, con trai nhỏ vừa tròn 5 tuổi.

Tôi chưa bao giờ nghĩ hậu ly hôn, cha con tôi có khoảng cách, vì tôi rất yêu thương con, và chúng cũng vậy. Thế nhưng, sau ly hôn, bồ nhí lên chức vợ, quản tôi như quản tù. Vợ hai luôn cản trở, ngăn cấm tôi về thăm con. Tôi và vợ 2 làm chung cơ quan tình công sở, “ may cho tôi vợ cũ không triệt đường công việc của hai chúng tôi, nhưng anh em cùng cơ quan thì mỉa mai “…Nên tôi không thể trốn đi thăm con được. Theo lệnh của vợ 2, mỗi tháng tôi chỉ được thăm con một lần, dù hai nhà cách nhau chỉ 5km. Và khi đi phải chở theo cậu con nhỏ.

Lần đầu sau ly hôn 2 tháng sau tôi mới được về thăm con. Khi đó, chị em Mun đang chơi ngoài sân. Tôi vừa đưa tay ngoắc, hai đứa định chạy về phía tôi, thì bất ngờ, con trai riêng ôm chặt lấy chân tôi và hét lên “ba của tao, không phải ba của mày”. Con vừa hét, vừa khóc nên tôi bồng con lên.

Lúc ấy, Mun và K. đứng nhìn tôi trân trối rồi chúng bước thụt lùi, cho đến khi khuất sau cổng nhà ngoài. Cái cảnh cha con ôm nhau mừng rỡ và tôi sẽ công kênh cậu con trai trên vai như mỗi lần tôi đi làm về, và nghe tiếng con cười hắc hắc, giọng đớt đát “Ba của Chèo” (tên ở nhà của con là Tèo) không còn nữa.

Sau đó, tôi cũng về thăm con, nhưng một là chúng chạy mất dạng khi thấy bóng tôi, hai là ngồi lì trên võng trước nhà ngoại, tôi kêu thế nào cũng không bước ra (tôi bị cha vợ cấm cửa sau khi ly hôn).

Tôi chỉ gần hai con nhất vào dịp giỗ ba tôi. Dịp này, vợ cũ đưa hai con về cúng ông nội, rồi cô ấy lánh ra quán ngồi chờ. Tôi chẳng biết trước khi tôi đến, hai con thế nào, nhưng từ lúc tôi và vợ 2 còn con xuất hiện thì hai con thu vào một góc, sụ mặt xuống, không cười giỡn với ai, tôi ngoắc cũng không chịu lại. Tôi bước đến định ôm con, thì cả ba cha con tôi đều thấy ánh mắt tóe lửa của vợ 2 tôi, còn con trai riêng thì mè nheo. Vậy là tôi chẳng thể ôm con trọn vẹn.

Tôi không biết mỗi lần gặp con ở đám giỗ đều để lại vết hằn trong tâm trí con. Vợ 2 tôi chẳng biết cố ý hay vô tình, cô ấy cứ quấn lấy tôi, miệng cứ “chồng ơi”, rồi nhờ tôi lấy thức ăn, nước uống cho cô ấy. Cô ấy còn bắt tôi đút con ăn, bồng con suốt – dù thằng bé có thể tự chơi. Thể hiện đủ mọi trò trước mặt các con tôi.

Thấy vậy, má tôi cùng các em kéo chị em Mun lại gần vỗ về. Nhưng có lẽ việc cha mình cưng nựng một đứa trẻ khác và chăm chút cho người đàn bà khác là điều khó có đứa trẻ nào chấp nhận.Cũng không chấp nhận nhìn ảnh cha nó chụp với gia đình mới của cha nó

Những năm sau, tôi về đám giỗ thì không gặp hai con. Tôi gặng hỏi thì vợ cũ mới nói:

“Hai đứa nhỏ không chịu về, vì không muốn gặp ba và vợ con của ba”.

Vừa bị vợ 2 ngăn cản thăm con, quyết không cho tôi gửi tiền nuôi chúng nó như toà xử, tôi sống như tù giam lỏng… Con cái lại lợt lạt nên sau khi bức bối và làm ăn đang tuột dốc thì tôi chia tay “tập 2”, tôi lên TPHCM sống với “tập 3” và cũng ít khi gặp con cái.

Sau này tôi bị bệnh tiểu đường, biến chứng qua tim, khớp người yếu, đi lại khó khăn thì vợ 3 cũng dứt áo ra đi. Tôi không nghĩ, ở tuổi xế chiều tôi phải sống trong cô độc, bệnh tật dù có đến 3 đứa con. Tôi cũng không biết rằng, chị em Mun vĩnh viễn không thể bước tới với tôi sau những bước thụt lùi 20 năm về trước.

Ngày hai con cưới, vợ cũ cho tôi hay, nhưng tự ái vì hai con không gọi điện báo tin cho cha, và không mời cha dự nên tôi không về. Tôi nghĩ, sự vắng mặt của tôi sẽ làm con hối hận.

Cách đây 2 năm, tôi bị tai nạn gãy chân, gọi báo con. Tôi tin là con sẽ nóng ruột chạy tới ngay và vì con làm ở công an tỉnh nên có thể giúp tôi giải quyết nhanh vụ xe. Nhưng, đến gần sáng con mới tới, hỏi thăm mấy câu rồi về. Trong lúc vừa giận, vừa xỉn, tôi chửi:

“Đồ mất dạy, bất hiếu”.

Con trai trả lời:

“Tôi mất dạy vì không có ba và ông có trách nhiệm gì với tôi mà giờ đòi tôi báo hiếu, tôi được ngày hôm nay là sự hy sinh rất lớn của mẹ tôi “

Tôi cứng họng, không nói được câu nào.

-Có một điều đáng lưu tâm là phần lớn người thành đạt đều có những người mẹ tuyệt vời và những gì mà họ tiếp thu được từ người mẹ thì nhiều hơn rất nhiều từ người cha.

Mối quan hệ tôi với con gái đỡ hơn, khi tôi nằm viện, con tới thăm. Nhưng, con cho tôi ít tiền rồi về như làm từ thiện. Cả hai đứa không hề đụng tay vào tôi xem tôi gày hay ốm, chỉ đứng nhìn như người bất đắc dĩ đi thăm bệnh. Tôi rất đau, nhưng đó là cái giá tôi phải trả cho những năm tháng bỏ bê, không có trách nhiệm với con.

Còn cậu con trai với vợ sau thì lông bông, lêu lổng, chỉ nhớ đến tôi khi cần tiền tiêu xài, ăn nhậu. Mẹ nó thì vẫn chứng nào tật đấy đong đưa với đàn ông có vợ để có tiền …

Giờ đây, ở tuổi xế chiều, bệnh tật và cô độc, tôi vô cùng thấm thía khi đọc bài

“Bỏ mặc con, đàn ông đầu tư cho tình nhân rồi về già ai chăm?”-

Tôi chưa từng nghĩ đến điều đó khi lao theo những cơn say ái tình, để giờ phải trả giá. Vì vậy, những ngày qua, khi đọc tin tức, xem hình ảnh vị doanh nhân và cô diễn viên công khai yêu nhau bất chấp chưa ly hôn, tự dưng tôi hình dung hơn chục năm nữa, anh ta cũng sẽ như tôi của hôm nay – bị con cái quay lưng, Chính tôi cũng là người thành đạt rồi cứ vì gái như con quỉ vận xấu cứ đeo bám mà làm ăn càng xuống dốc.

Không biết trân trọng người vợ sát cánh bên mình khì khổ sở thì cuối đời chỉ cô độc mà thôi

Vợ là may mắn của người đàn ông, mất vợ là mất tất cả … Sau mỗi thành công của người chồng luôn có hình bóng người vợ kề bên..

Sau thất bại của đàn ông là kẻ thứ ba chiếm thị trường …

. Và chúng ta không chỉ có tội bỏ rơi con, làm tổn thương con, mà còn gián tiếp biến con thành kẻ bất hiếu. Đó là tội lỗi lớn nhất của người cha ngoại tình.

Tôi tha thiết mong con tới thăm khi bệnh tật, nắm tay tôi một cái cũng đỡ tủi thân, nhưng… Điều ấy xa vời.


 

Đúng là không giống ai!-Đoàn Bảo Châu

Ba’o Tieng Dan

Đoàn Bảo Châu

26-8-2024

Ảnh chụp màn hình

Vô tình thấy phát ngôn này của anh Huệ từ năm 2019. Thời gian có khả năng chứng minh nhiều điều, giờ báo chí mà phỏng vấn thì anh Huệ còn nhắc lại câu này một cách tự hào nữa không nhỉ?

Tự hào tới mức kiêu ngạo mà mọi ngành đều yếu kém, tham nhũng không chừa một ngành nào, từ y tế mẹ hiền tới ngoại giao lịch lãm đều bê bết. Văn hóa nghệ thuật, khoa học công nghệ không có đóng góp đáng kể gì cho nhân loại.

Các tập đoàn nhà nước thua lỗ bao nhiêu nghìn tỷ đồng, thay vì thành những nắm đấm thép thì biến thành những móng thép cào cấu vào ngân sách.

Về những công nghệ cả thế giới đang nhau lên để làm chủ như máy tính lượng tử, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học… thì mù tịt nhưng cứ thích ba hoa kiểu bà cán bộ nói sẽ áp dụng AI vào loa phường.

Về chủ quyền, rõ ràng mình đang khai thác dầu trong vùng đặc quyền kinh tế của mình, thằng hàng xóm nó ho một cái, lập tức phải co vòi, dừng hoạt động, đền bù cho đối tác nước ngoài.

Về những giá trị phổ quát của nhân loại như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, nhân quyền thì lẹt đẹt cuối bảng. Hiền lành như những nhà hoạt động môi trường mà còn bị bắt tới 6 người, giờ không còn tổ chức dân sự nào để giám sát cam kết của Việt Nam về chuyển đổi năng lượng với quốc tế. Bao tổ chức NGO phải đóng cửa. Bắt nhiều đến nỗi mà bao người sáng lập các tổ chức NGO đi học, đi du lịch rồi ở hẳn nước ngoài luôn, không dám về.

Quản lý đất nước khiến người dân chỉ chực lao ra nước ngoài bán sức lao động, riêng năm 2023 có tới 155.000 lao động, lượng đi chui không tính. Từ thuyền nhân phát triển thêm thùng nhân. 39 thùng nhân bị chết, vẫn không làm các thùng nhân khác nhụt chí. Suốt mấy chục năm qua lượng người Việt định cư ở nước ngoài trung bình 100.000 người/năm. Gái Việt ở Cam, Sing, Đài Loan có đầy, họ sang đấy làm gì thì ai cũng hiểu.

Khiêm tốn để học hỏi mới khá được. Hàn Quốc đã rất khiêm tốn, biết người biết ta mà copy nguyên xi chương trình giáo dục của Nhật Bản, tiết kiệm được bao chi phí mà tạo ra một bước tiến bộ nhảy vọt cho ngành giáo dục.

Cách giáo dục dùng “đom đóm” tuy đặc sắc thật nhưng chưa đủ thành di sản vĩ đại gì để thế giới học tập đâu.

Bao nhiêu thứ bắt chước thằng hàng xóm, cả cái lý tưởng thiên đường cũng copy mà bảo không “rập khuôn”.

Đúng là sự kiêu ngạo của các vị không hề “rập khuôn”, không hề giống ai trên quả địa cầu này.

Tôi viết có sai một câu nào không? Nếu không thì đừng chụp mũ, gán ghép cho tôi bất cứ điều gì.

Cán bộ trong hệ thống thì đương nhiên không dám nói, báo chí chỉ là những cái loa tắt bật theo chỉ đạo, người chính trực phát biểu công tâm trên mạng xã hội mà bịt nốt thì lại “rập khuôn” theo Bắc Hàn chăng?


 

KHÔNG KHỚP NHAU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)  

“Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu đạo đức giả!”.

“Bất kỳ ai đã từng dạy dỗ người khác đều biết đến xu hướng bên trong là phóng đại chiều sâu tính cách của mình, trong khi khoan dung với những khuyết điểm của bản thân. Chúng ta đã cố ý hoặc vô tình đưa ra hình ảnh tốt hơn về mình so với thực tế. ‘Ngoại hình tính cách’ và ‘thực tế bên trong’ chúng ta không khớp nhau!” – C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu chỉ ra cái ‘ngoại hình tính cách’ của giới kinh sư biệt phái và ‘thực tế bên trong’ của họ ‘không khớp nhau!’. Ngài nói, “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu đạo đức giả!”.

Ngài cáo buộc họ là những người đóng cửa Nước Trời, ngăn những người khác vào và chính họ cũng không vào. Một mặt, điều này có thể ám chỉ đến việc họ từ chối Ngài – hiện thân của Nước Trời – đang rao giảng Nước Trời và – bằng sự hiện diện của Ngài – làm cho Nước Trời trở nên dễ tiếp cận với những ai đến với Ngài. Mặt khác, điều này cũng có thể có nghĩa là họ đã khiến việc tuân thủ lề luật trở nên vô cùng khó khăn bằng cách diễn giải phức tạp những điều được phép và không được phép.

Trong khi cách sống của những nhà lãnh đạo tôn giáo ngăn cản mọi người đến gần Chúa Giêsu, thì chính họ lại nhiệt tình làm mọi cách để cải đạo ngay cả một người, chỉ để khiến người đó trở nên tệ hơn chính họ. Họ làm điều này bằng cách gieo rắc những ý tưởng sai lầm về tôn giáo thực sự là gì. Họ nhồi nhét những ý tưởng về các nghi lễ và do đó, tạo ra cảm giác an toàn sai lầm về những gì thực sự mang lại ơn cứu rỗi.

Buồn thay, ngày nay sự lạm dụng thẩm quyền và chức vụ – trong Giáo Hội, chính phủ, kinh doanh hay các lĩnh vực khác – dẫn đến đủ loại tham lam, làm suy yếu chính cấu trúc Giáo Hội và xã hội! Các vị trí phục vụ đã biến thành công cụ để trục lợi cá nhân, gây tổn hại đến những người dễ bị tổn thương và túng thiếu nhất. Giáo Hội cũng có thể thấy mình quá quan tâm đến tiền bạc mà quên đi sứ mệnh. Một Giáo phận, một Giáo xứ, một Giám mục hoặc Linh mục giàu có trong một thế giới nghèo đói và thiếu thốn là một trở ngại lớn đối với việc lắng nghe Phúc Âm; vì lẽ, ‘ngoại hình tính cách’ và ‘thực tế bên trong’ của chúng ta ‘không khớp nhau’.

Anh Chị em,

“Khốn cho các người!”. Dẫu thuộc đấng bậc nào, bạn và tôi vẫn có thể hoá nên “đạo đức giả” ngăn mọi người tiếp cận Chúa Giêsu và chính chúng ta cũng xa cách Ngài. Vậy phải làm sao? Cầu nguyện, xét mình với một lương tâm chân thực, ngay thẳng là điều không thể thiếu! Hãy để hành vi, lời nói và lương tâm của chúng ta hoà hợp, cởi mở trước Chúa Thánh Thần. Ngài sẽ thanh luyện và đào tạo một lương tâm tốt mà chúng ta có thể sở hữu trong cuộc sống. Nó mang lại bình an, thanh thản và bảo đảm về sự kiên trì của chúng ta trong điều thiện. Được như thế, “Danh của Chúa chúng ta là Đức Giêsu, sẽ được tôn vinh nơi anh em, và anh em được tôn vinh nơi Người” – bài đọc một; và “Muôn dân được biết những kỳ công Chúa làm” – Thánh Vịnh đáp ca.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy cho con ngoan nguỳ trong trường học của Thánh Thần; nhờ đó, ‘ngoại hình tính cách’ và ‘thực tế bên trong’ con luôn khớp nhau!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)  


 

Thời Tô Lâm chính trường được thanh toán một cách chóng vánh tính theo ngày hoặc tuần không phải là theo năm tháng.

Quốc Hội họp trong chỉ một ngày với chương trình thay đổi nhiều nhân sự cấp bộ.

Quốc hội phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ miễn nhiệm chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ đối với ông Trần Lưu Quang vì đã được Bộ Chính trị điều động, phân công, bổ nhiệm giữ chức Trưởng Ban Kinh tế Trung ương.

Quốc hội cũng phê chuẩn miễn nhiệm Bộ trưởng Tư pháp đối với ông Lê Thành Long do được Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm làm Phó Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2021 – 2026 vào ngày 16/6.

Quốc hội cũng phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ miễn nhiệm chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ đối với ông Lê Minh Khái và Bộ trưởng Bộ TN&MT Đặng Quốc Khánh do bị Đảng cho nghỉ công tác. 

Cũng tại kỳ họp này, Quốc hội đã tiến hành miễn nhiệm chức danh Chánh án TAND Tối cao đối với ông Nguyễn Hòa Bình và miễn nhiệm chức danh Viện trưởng VKSND Tối cao đối với ông Lê Minh Trí để nhận nhiệm vụ công tác khác.

Quốc hội cũng tiến hành kiện toàn các chức danh: 3 Phó Thủ tướng Nguyễn Hòa Bình, Hồ Đức Phớc, Bùi Thanh Sơn; Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Hải Ninh; Bộ trưởng TN&MT Đỗ Đức Duy.

Đồng thời, Quốc hội bầu ông Lê Minh Trí làm Chánh án TAND Tối cao; ông Nguyễn Huy Tiến, Phó Viện trưởng thường trực VKSND Tối cao làm Viện trưởng VKSND Tối cao.

Điều may mắn đã đến cho dân oan Việt Nam, ông Trùm án oan sai, án tử hình người vô tội, Trương Hòa Bình nay đã hết không còn tác oai tác quái ở Tòa Tối Cao. Liệu Ông ta có trở thành Chủ Tịch Nước trong tương lai như tin đồn hay không?
Le Minh Trí, từng chống lại án oan sai của anh Nguyễn văn Chưởng và đề nghị xử phúc thẩm lại theo hướng giảm hình phạt cho anh Chưởng vào ngày 18, tháng 4, năm 2011. Khi đó Ông Hòa Bình không chịu xử lại.

Thích Trí Quang, ông là ai? [1]-Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

25/08/2024

Diệt Thiên Chúa giáo là ý đồ và mục tiêu của Trí Quang. Nếu là truy diệt dư đảng Cần Lao nói chung thì người đầu tiên phải thanh toán là tướng Lê Văn Nghiêm, vì ông là thứ Cần Lao “gộc” cũng như Đỗ Mậu .

Tôi đặt ra câu hỏi như một tiền đề và mong  tiếp cận được con người thật của Trí Quang. Thích Trí Quang: Ông là ai? Một nhà tu đạo hạnh hay một kẻ vĩ cuồng tôn giáo?

 

Thích Trí Quang, 1964

Bạn đọc thử nhìn kỹ khuôn mặt, cái nhìn, nhất là đôi mắt săc và gian xảo, dáng điệu xem Trí Quang có phải là nhà tu thật không?

Trong chỗ riêng tư, tôi được bà tiến sĩ Thái thị Kim Lan ở Đức, hiện nay nghỉ hưu ở Huế thổ lộ tâm tư là bà rất yêu mến ông Trí Quang và con mắt sắc như dao của ông Trí Quang đã hớp hồn bà.

Đó là một “mối tình” nửa nạc nửa mỡ mà thực sự chỉ có hai người họ biết tỏ. Nếu tôi có nói sai thì nay bà còn sống, ở Huế bà cứ việc lên tiếng phản bác? Trong bài trả lời phỏng vấn của đài BBC mà bà vốn có duyên nợ Thày- Trò, một người gần gũi tâm giao, biết từng chi tiết thói quen, sở thích, tính nết, ai là bạn, ai là người mà Trí Quang không ưa. Cũng theo lời kể của Thái Kim Lan:  thấy người mà ông không ưa, ông  tỏ vẻ túc giận, đánh sầm cửa không tiếp.

Cũng theo lời tâm sự của Thái Kim Lan, bà mô tả Trí Quang có thân hình mảnh khảnh, nhưng đầy nghị lực và đầy nam tính, mắc săc như dao, cái nhìn chế ngự người khác. Giọng nói nhát gừng, rời rạc từng chữ, nhưng đầy quyền uy, không dấu được vẻ cao ngạo.

Bà kết luận: Nói đúng ra, ông có tư thế lãnh tụ.

Chính vì những lời lẽ tâm giao, sự giao cảm giữa hai người là mối thâm giao nhục cảm lẫn tinh thần giữa hai người họ..trở nên gắn bó suốt đời họ.

Trên đây là những tiết lộ của tôi về con người Trí Quang đối với một phụ nữ với nhũng mối liên lạc khác thường trong nhiều năm tháng.

Tôi thiển nghĩ, những tiết lộ này cho thấy, cuộc đời  bí mật của Trí Quang kể như lần đầu tiên được phô bày ra. Tôi can đảm viết ra sự thật như thế.

Và sau đây, tôi xin  trích dẫn những lời lẽ xưng tụng, bào chữa cho Thích Trí Quang trong một cuộc phỏng vấn:

“Ông ta là một vị tỳ kheo nghiêm túc, nhất mực hành đạo khi tụng kinh cũng như khi đi theo Phật. Chưa ai có thể vượt qua ông về cách tu chứng.. Tôi nghĩ Hòa thượng Trí Quang trong hoạt động về mặt xã hội cũng như về văn hóa, đối với xã hội, đối với lịch sử, đối với Phật học, ông luôn luôn bảo vệ đời sống bằng sự dấn thân của ông. Đó là vai trò lịch sử của Trí Quang và với vai trò này, có thể có nhiều người phê phán, nhưng theo tôi, nếu Việt Nam chỉ thực hiện một nguyện vọng của Trí Quang thì có thể Việt Nam có thể vượt được nhiều khổ nạn.. Tôi nghĩ trước hết là cần tôn trọng sự thật, cần phải nhìn lịch sử trong từng giai đoạn. Có thể là chúng ta phải có ý muốn làm thế nào đê giữ sự thật, bảo vệ sự thật lịch sử.. Trong lúc đó, lịch sử bây giờ đối với tôi, những trang lịch mà được viết về phong trào Phật giáo cũng như là về Hòa thượng Trí Quang của người Mỹ hay người Việt Nam, những khảo cứu tôi nghĩ chưa nói hết được hay là một cách trung thực cái ý nghĩa mà Thích Trí Quang đã đóng góp. Luôn luôn phải tâm nguyện không có bạo động, chỉ tuyệt thực theo đó yêu cầu thực thi chứ không phải cưỡng bức thực thi. Nghĩa là Trí Quang  tuyệt thực 100 ngày thì cũng ở trong tinh thần đó.”

(Quốc Phương phỏng vấn Thái Kim Lan, BBC Việt Ngữ).

Còn có lời lẽ xưng tụng nào hơn nữa chăng như thể một người trong cuộc!!!

Tôi chỉ nói thẳng với Thái Kim Lan  một điêu- một điều duy nhất mà thôi: con người không ăn và uống có thể sống được từ 8-21 ngày. Có uống nước sống được 60 ngày. ( theo  tài liệu Archiv Krimonogie trusted source.)

Và không ai tuyệt thực 100 ngày mà vẫn sống nhăn. Xin bà đừng khoa trương bốc láo nữa!!

  • Trích dẫn các tài liệu làm bằng chứng

Theo tài liệu của C.I.A. “Trí Quang là một kẻ mị dân, triệt để chống Thiên Chúa giáo, một người theo chủ nghĩa dân tộc cuồng tín và một người hoang tưởng tự đại (vĩ cuồng) với mục đich cuối cùng là thiết lập một chế độ thần quyền Phật giáo ở Việt Nam.”

1964: CIA Intelligence Information Cable & CIA Memorandum

Có thể tôi chưa từng nghe một lời nhận xét nặng nề như thế của một người nghiên cứu ngoại quốc đối với một nhân vật lãnh đạo tôn giáo hàng đầu của Việt Nam.

Tuy nhiên nhận xét về Trí Quang ở trên không có gì là quá đáng mà có thể rất gần sát với sự thật.

Người ta có thể không nói ra bởi vì không dám nói, sợ đụng chạm đến chiếc áo thày tu hoặc vì không đủ tài liệu dẫn chứng.

Phần tôi, tôi coi ông là người sắc sảo, có sức thu hút và quyết tâm và rất nhiều ngạo mạn và cao vọng. Chính cái cao vọng vĩ cuồng này đẩy ông đi rất xa. Có người gọi ông là có óc lãnh tụ hay óc làm trùm hay còn được gọi là: giấc mơ lãnh tụ.

Đúng cả. Các viên chức Mỹ cũng như đại sứ Cabot Lodge chỉ nhìn thấy ở Trí Quang là một ‘potential troublemaker’. Nhiều người khác gọi ông là một thứ ‘kingmaker’. Hình ông trên bìa báo Time số ra ngày 22-4-1966, ở góc  phụ chú, ‘The Buddhist Bid for power’ và gọi ông là “mysterious High Priest of Disorder” của Việt Nam.

Vậy mà một số đông người, không biết xuất phát từ ai đều cùng nhái theo một luận điệu: “Người làm rung chuyển nước Mỹ”.  Nguyễn Hữu Thái trong một bài tựa đề “Thượng tọa Thích Trí Quang. ‘Người làm rung chuyển nước Mỹ;” (www viet-studies.net) viết bịa đặt, dựng đứng chuyện.

Ca tụng như thế có khác nào chửi xéo thầy chẳng khác gì Trí Quang là một tên khủng bố trong vụ 9-11.

Tôi còn thấy trong phòng của ông ta một bức hình của Mahatma Gandhi.

Mỉa mai thay, Trí Quang không học được một góc của lòng nhân ái của bậc thánh nhân.

Lại còn Nelson Mandela chống lại nạn kỳ thị chủng tộc. Và nếu không có ông thì đất nước của ông không tránh khỏi một cuộc tắm máu giữa da đen và da trắng.

Cả hai, một thánh nhân, một người anh hùng đều không phải thầy tu mà họ có một tấm lòng nhân.

Nhưng tôi nhìn thấy rõ hơn ở ông Trí Quang, sau khi đọc một số tài liệu trong cuốn “Giấc  mơ lãnh tụ và mong mỏi bạn đọc tìm đọc, tài liệu của MarK Moyar, tài liệu của  Robert J. Topmiller và nhất là của tác giả James McAllister, một tài liệu dựa trên trực tiếp những trao đổi của ông Trí Quang với nhân viên ở tòa đại sứ Mỹ được CIA báo cáo về Bộ Ngoại giao Mỹ trong thời gian 1964-1965

Cuối cùng tài liệu không thể bỏ qua là tập sách do Hòa thượng Thích Tâm Châu viết, “Bạch thư về Vấn đề chia rẽ Ấn Quang với Việt Nam Quốc Tự (1994)”. Tổ Đình Từ Quang (2176 Ontario Est. Montréal, Quebec, Canada.

Trong đó TT. Tâm Châu thổ lộ phái Ấn Quang còn có âm mưu ám hại ông.

Thiển nghĩ bạn đọc, bất kể là ai, đều nên đọc các tài liệu kể trên để tránh bớt những tranh cãi vô ích. Rất tiếc là có một số người, ngay cả một số chức sắc Phật giáo chỉ đọc những gì họ muốn đọc.

Đọc những tài liệu ấy nó mới hiểu được con người thật của Trí Quang cũng như những mục đích và tham vọng của ông.

Viết bài này, tôi xử dụng thêm tài liệu của tờ báo Lập Trường, cơ quan tranh đấu của Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc ở Huế và chia xẻ những điều ấy với bạn đọc ngày hôm nay.

Cái cảm nghĩ của tôi khi đọc các tài liệu trên, tôi nhận thấy ông Trí Quang là loại người cực kỳ nguy hiểm. Nguy hiểm cho bất cứ ai không đồng quan điểm với ông – dù là ở bình diện chính trị hay nhất là tôn giáo.

Thiên Chúa giáo đã đành là mục tiêu hàng đầu và trên hết của ông với nhóm đệ tử của ông ở Huế. Tiếp đến là các chính quyền ở miền Nam như Tam Đầu chế, Nguyễn Khánh, Phan Huy Quát, Trần Văn Hương, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, v.v.. và cả những người đồng đạo của ông như Thích Tâm Châu, Thích Thiện Minh.

Nếu cần, ông sẵn sàng dùng bạo lực như biểu tình, tuyệt thực và biện pháp tối hậu là tự thiêu đối với các quyền lực thế tục.

Đã có bao nhiêu người đồng đạo tự thiêu cho những mục chính trị và những mưu đồ của ông? Những đe dọa, khủng bố trắng đối với những người đồng đạo?

Tôi gọi nó là một thứ phát xít tôn giáo.

Nguy hiểm nhất ở chỗ có thể ông đã mất một tấm lòng nhân ái. Nhiều người chỉ nhìn khuôn mặt ông ở bề ngoài đã ái ngại.

Nó lộ sự tàn bạo không dấu diếm được. Vậy mà những đệ tử của Trí như Cao Huy Thuần hay “ người tình không chân dung” Thái Thị Kim Lan lại chỉ nhìn con mắt săc sảo, bén như gươm lại có khả năng thuyết phục và chế ngự người khác?

Tôi xin gửi đến bạn đọc một nhà báo người Ý nổi tiếng người Ý Oriana Fallaci trong một cuộc phỏng vấn Trí Quang viết.

Trí Quang, con người năm 1960 [thật ra là năm 1963. NVL] đã nhẩy như một chú dê con vào sứ quán Mỹ để khỏi bị bắt và bị giết, nay không có vẻ gì là một người sắp tự thiêu cả. Mặt ông ta tròn trĩnh tinh quái, đôi mắt gian xảo, và cái nụ cười ác thú đang che dấu một cái gì không ai biết nổi, nhưng biểu lộ một thái độ tham sống mãnh liệt. Chỉ cần quan sát ông ta trong lúc ông ta kiểm tra xem có ai theo dõi chúng tôi không, lúc ông ta khóa cẩn thận cái gian phòng chỉ có một cái giường, một bàn nhỏ, một bức ảnh Gandhi, một cái ghế, một cái bô, nhưng lại có một cái Radio loại mới nhất, một máy điều hòa nhiệt độ và một hộp sô cô la ông ta vốn ưa thích.”

Lê Minh Đức, “Cuộc sống, cuộc chiến tranh, và rồi” 9-1991, trang 105 dịch từ bản tiếng Pháp của Jacqueline Remillet, tựa đề “La vie, la guerre et puis rien”, NXB Robert Laffont – Paris; nguyên bản tiếng Ý của Oriana Fallaci, tựa đề “Niente e così, sia” (Nothing, and so be it, 1969.)

Cho nên, những ai còn đề cao ông là một nhà sư bất bạo động, trước sau chỉ là nhà chân tu, trước sau chỉ vì Đạo pháp, một người đạo đức cao trọng tiêu biểu của Phật giáo thì thật sự họ không biết xấu hổ.

Phần tôi khen ai mà không đúng tôi thấy ngượng với lương tâm mình.

Nếu thật sự ông là người chân tu, đạo hạnh, theo tôi, sẽ  không có những tranh cãi như ngày hôm nay khi ông đã nhắm mắt lìa đời.

Sự gây ra tranh cãi tự nó là một điều bất thường.

Nhưng đối một vị tỳ kheo đạo hạnh như Dalai Lama, ai có can đảm dám chê trách?  Hình ảnh các nhà sư mà tôi trân trọng quý mến là hình ảnh sư cụ Chùa Long Giáng trong chuyện dài của nhà văn Khái Hưng. Ngay từ hồi còn trẻ, đọc Khái Hưng, tôi đã hình dung ra đạo Phật qua sư cụ chùa Long Giáng và nhiều nhà sư khác ở các vùng quê miền Bắc.

Đẹp biết làm sao.

Hình ảnh Trí Quang và những việc làm của ông trong suốt 20 năm miền Nam đã bôi bẩn hình ảnh cao đẹp của Phật giáo đi nhiều. Điều này xem ra một số đệ tử của thầy đã không nhìn nhận ra sự phá sản tinh thần đạo Phật của ông Trí Quang. Chẳng lẽ người có học, có đầu óc, có đọc sách vở, tài liệu lại không nhìn nhận ra điều đó sao?

Hãy để hình ảnh Phật lúc nào cũng là ông Bụt. Đơn giản chỉ có vậy thôi.

Ý của tôi là như vậy. Các đệ tử của thày có nên cứ tiếp tục tụng thầy nữa chăng? Phải biết xấu hổ với chính mình.

Riêng TT. Thich Tâm Châu đến cuối đời, 1993, cũng thấy cần nhìn lại công cuộc tranh đấu Phật giáo, cực chẳng đã, ông mới tiết lộ mối rứt nạn giữa Ấn Quang và Quốc Tự trong tập tài liệu nhan đề Bạch Thư về vấn đề chia rẽ của Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự. Trong đó gián tiếp cho thấy Trí Quang là người cực kỳ quá khich và nếu cần xử dụng bạo lực không khoan nhượng.

Thượng Tọa Tâm Châu là người hiểu rõ con người của Trí Quang, độc đoán và muốn thâu tóm mọi quyền lực nên mới có sự ra đi của cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền cũng như TT. Thích Tâm Châu, Việt Nam Quốc Tự rời khỏi Giáo Hội Ấn Quang.

Vì thế, sự chống đối ông Trí Quang của một số người Việt hải ngoại hiện nay là phải như thế, nhưng cũng cần xét lại. Vì nhiều phần chưa hiểu được mục đích và động lực nơi ông. Phần đông hiện nay dựa trên lập trường chính trị của người quốc gia cho rằng ông hoặc là người của CIA, nhất là người của cộng sản.

Cả hai quan điểm ấy rất nhiều phần chỉ đúng ở bề mặt, mà có thể nhiều phần không đúng khi đọc tập tài liệu của James McAllister nhan đề, “‘Chỉ có tôn giáo là đáng kể ở Việt Nam’: Thích Trí Quang và chiến tranh Việt Nam, bản dịch Only religious Count in Viet Nam. Thich Trí Quang and the Vietnam war của Trần Giao Thủy.

Điều đó cũng không có gì đáng trách, vì phần đông người Việt thiếu thông tin và và tài liệu. Theo McAllister, ngay cả những người viết sử tầm cỡ như Mark Moyar, trong cuốn “Political monks: The militant Buddhist Movement During the Vietnam War” hoặc cuốn của Robert Topmiller, “The Lotus Unleashedd: The Buddhist Power in South Vietnam, 1964-1066” đều thiếu sót trong việc chống hoặc bênh vực Trí Quang.

Vì thế James McAllister cho rằng thật là bất hạnh khi các sử gia hiện nay biết rất ít về mục tiêu và động cơ trong giai đoạn cam go của cuộc chiến tranh Việt Nam.

Unfortunately, contemporary historians still know very little about Tri Quang goals and motivations during this crucial period of the Vietnam war.”

James McAllister, Only religious Count in Viet Nam. Thich Trí Quang and the Vietnam war.

James McAllister

Nhiệm vụ chính của bài viết này là tìm hiểu xem ông là ai nhà tu đạo hạnh hay một kẻ vĩ cuồng tôn giáo..

  • Giai đoạn trong cuộc đời đấu tranh tôn giáo-chính trị của TT. Trí Quang trên tờ Lập Trường mà tôi có đầy đủ các số báo.

Theo tôi, ngoài vấn đề đọc tài liệu, cũng cần nghiền ngẫm kỹ càng lại bản chúc thư ngắn ngủi của ông. Ông vốn là người cao ngạo, khinh người, có nhiều cao vọng ngất trời, nhiều toan tính, nhiều âm mưu, nhiều thủ đoạn tàn bạo, nhiều hành vi ném đá dấu tay, tại sao lại muốn thầm lặng ra đi? Đó phải chăng là kết quả 44 năm nghiền ngẫm về cuộc đời dấn thân, đầy sóng gió và hào quang, thét ra lửa. Có phải chỉ vì ông muốn xóa trắng những trang sử lem luốc đời ông không? Có phải chỉ vì ông muốn từ bỏ tất cả thế sự để đi bình an về cõi vĩnh hằng? Có phải vì những tham vọng vĩ cuồng muốn làm thái thượng hoàng, một thứ vua không ngai. Cuối cùng, mục đích và những tham vọng của ông đã không đạt được?

Hiểu như thế mới hiểu được tại sao nay ông Trí Quang ngồi im một chỗ.

Câu hỏi là trước 1975 ông đã làm gì? Ông làm chính trị quậy phá. Nào ông có hăm hở gì sách vở chữ nghĩa? Muốn dịch thì trước 1975 cũng dịch được chứ? Muốn tu thì trước 1975 cứ ở trong chùa tụng kinh gõ mõ? Trước 1975, đã có biết bao nhiêu báo chí Phật giáo đã ra đời nhằm chấn hưng Phật giáo. Các tuần san như Hải Triều Âm, Thiện-Mỹ, Đuốc Tuệ, Đại Từ Bi. Rồi các nguyệt san như như Liên Hoa, Giữ thơm quê mẹ, Vạn Hạnh. Phần lớn chủ trương của các tập san này đều nhằm mục đích tôn giáo, văn học Phật giáo hơn là chính trị. Họa chăng tờ Hải Triều Âm mà ông cộng tác viết chung với Nhất Hạnh có viết những bài về chính trị.

Nếu ông có quan tâm và hỗ trợ, theo tôi chính yếu là tờ Lập Trường, cơ quan tranh đấu của Phong trào Nhân Dân cứu Quốc.

Đây là chỗ dựa của ông.

Đọc Lập Trường là đọc Trí Quang. Ông là linh hồn của tờ báo. Ông đứng sau tờ báo như cái bóng phủ.

Báo Lập Trường, 4-7-1964. Nguồn: Lập Trường/NVL

Những bằng chứng về sự cực đoan tôn giáo của Trí Quang dẫn đưa đến mộng làm bá chủ.

Muốn hiểu rõ con người và những cao vọng của ông Trí Quang, có thể chỉ cần đưa ra một vài so sánh có tính cách dẫn đường. Giả dụ, nếu Hòa Thượng Thich Tịnh Khiết hay ông Mai Thọ Truyền hay TT Thích Tâm Châu lãnh đao Phật giáo miền Trung thì có thể có biến cố Phật giáo 1963 hay không? Hoặc giả, nếu thay vì TT. Ngô Đình Diệm, một người công giáo thay bằng ông X, một người Phật giáo, liệu có thể có cái gọi là kỳ thị tôn giáo hay không?

Tại sao việc ông Kỳ, tự nhận là người Phật giáo ra dẹp Phật giáo miền Trung, đưa Trí Quang về Sài Gòn giam lỏng, không một ai coi đó là kỳ thị tôn giáo?

  • Ông Kỳ và Trí Quang.

Khi tướng Kỳ ra ổn định tình trạng vô chính phủ ở Đà Nẵng mà không hỏi ngay cả ý kiến người Mỹ kể đã là một kỳ công.

Sau đó, ông ra Huế, dẹp bàn thờ xuống đường rồi dẫn độ Trí Quang về Sài gòn như một tên tội phạm.. Chẳng một Phật tử, thượng tọa nào dám biểu tình phản đối?

Điều mà ông Diệm, ông Nhu, ông Cẩn không làm được và bị chết thảm thì ông Kỳ thẳng tay làm được.

Ông Kỳ đã viết lại với giọng diễu cợt, đôi chút xỏ lá Bắc Kỳ khi tóm được Trí Quang dân độ về Sài Gòn như sau:

I had to be careful with Trí Quang sice I did not want to create martyr., so I decide on a compromise, and confined him to house arrest in Saigon Hospital. Knowing the sort of tricks he would be up to, I deliberately chose a hospital in which one of the doctors was the friends of Trí Quang’s. Tri Quang stayed  in the hospital “ recuperating for several months, but  almost immediately on entering it annouced that he was going on a hunger strike.

Just what I expected. But, despite all the newspaper stories of his impending death, Tri Quang never seemed to lose weight. Each time the Amercan advisers asked me when he  would die, but Tri Quang is a politican and his doctor friend feeding him secretely. Don’t worry for a politician death is the end. Tri Quang must survive if he wants to carry on  his politician  career.”

( Nguyen Cao Ky, Twenty years and twenty days. Stein and day/ puplisher/ Newwork, 1976, trang 98)

Quả thật, sau 100 ngày tuyệt thực, ông  dược thả ra về khỏe mạnh.

Hòa thượng Thích Tịnh Khiết đã khuyên Trí Quang về chùa ở ẩn. Cuộc đời làm chính trị ồn ào chấm dưt từ đây..

Giải mã con người Trí Quang là giải mã những ẩn số che đậy đằng sau các cuộc tranh đấu của ông. Những điều ông nói và những điều ông làm cần được cân bằng một nhận xét khách quan và thông minh. Trước 1963, cùng lắm ông chỉ là một cao tăng trong giới Phật giáo miền Trung. Có thể ông sống ẩn mình, ẫn nhẫn vì thời cơ chưa đến. Và để giải mã những ý đồ của ông, có thể chia ra hai giai đoạn mục tiêu tranh đấu của ông.

  • Mục tiêu thứ nhất: lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm.

Việc lật đổ này bề ngoài mới đầu chỉ là một sự rắc rối nhỏ tưởng không có gì quan trọng, nó đã mau chóng kết tụ thành một khối bất mãn chống lại chính quyền. Việc đòi hỏi cho phát thanh lại vào lúc 8 giờ tối bài thuyết Pháp của TT Trí Quang nhân dịp lễ Phật Đản mà nội dung là chống chính phủ. Liệu ông giám đốc Đài phát thanh, ông Ngô Ganh có thể nào cho phép phát thanh một bài chống chính phủ hay không? Một cái xẩy nẩy cái ung. Ngô Ganh không dám quyết định, tỉnh trưởng cũng không. Nó mau chóng mang kich thước mội cuộc nổi dậy về chính trị lật đổ một chính quyền do một tổng thống người Thiên Chúa giáo lãnh đạo trong một đất nước tín hữu Phật giáo dông hơn. Sau vụ nổ ở Đài phát thanh, chính quyền địa phương cũng như trung ương lúng túng trong việc giải quyết. Tất cả đều bị động vì tính bất ngờ của nó và không ai dám đứng ra trách nhiệm. Ý đồ của ông Trí Quang là đã kích động đúng lúc tâm lý quần chúng đám đông Phật tử, tạo nên một làn sóng chống đối; bắt mạch được tâm lý đám đông ở đây là tuyệt vời. Vụ tấn công chùa lại thêm một vụng về làm mất chính nghĩa của chính quyền. Ông Diệm rơi vào thế cô đơn, chính quyền bị cô lập và bị động.

Thế nhưng đã không ai nhắc nhở gì đến lực lượng tranh đấu, Hội Đồng Nhân Dân cứu quốc của Trí Quang đã tấn công và thiêu rụi hai giáo xứ Thanh Bồ và Đức Lợi ở Đà Nẵng làm cho 11 người chết, 42 người bị thương và hàng ngàn người mất nhà mất cửa. Mời bạn đọc (Hàn Giang Trần Lệ Tuyền. Nhớ lại cuộc thảm sát Thanh Bồ Đức Lợi, Đà Nẵng 24-8-1966.)

Những nhóm người cực đoan tôn giáo được gọi là “ lực lượng thanh niên Phật tử cứu quốc” như các vị Thích Minh Chiếu, Thích Hạnh Đạo, Thích minh Tuấn, Thích Long Trí, Thích Như Huệ, Thích Thiện Duyên và đám Phan Xuân Huy, La Thành Tỵ, Hà Xuân Kỳ, Phan Chánh Dinh, Vĩnh Kha, Vĩnh Linh, Hồ Công Lộ, Nguyễn Văn Lương, Lê Văn Tương, Nguyễn Văn Côn, Nguyễn Văn Tổng đã tham gia vào đám người hạ sát những đồng bào vô tội tại Đà Nẵng. Những nạn nhân  vô tội, chết oan uổng mà không được công lý che chở. Những kẻ giết người một cách tàn bạo nay họ ra sao? Ở đâu ?

Giới Thiên Chúa giáo sau nhiều năm trời bị bách hại trong thầm lặng. Đây là lần đầu tiên rơi vào ghế bị cáo.

Họ giữ sự bình tĩnh không tuyên bố để tránh tình trạng đổ thêm dầu vào lửa. Sau 1-11-1963, kẻ thắng người thua đã rõ ràng khi TT. Trí Quang rời khỏi tòa đại sứ Mỹ ngày 4-11. Lật ông Diệm là kế gián tiếp loại trừ ảnh hưởng công giáo trong chính quyền, đồng thời lấy lại địa vị của Phật giáo đã mất. Nó nhắc nhở lại thời kỳ Văn Thân đời Tự Đức mà TT.Trí Quang có thể là nhân chứng tại làng quê Diêm Điền của ông tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình?

Nếu tin vào bài viết của tác giả Lê Trọng Quát khi tiếp xúc với TT Trí Quang khi chia tay, ông Trí Quang nới: “Bác ơi, chế độ này cho nó sập cho rồi.” (Lê Trọng Quát, “Một lời chứng trước khi lật qua một  trang sử thảm của dân tộc”.)

Người Mỹ và một số tướng lãnh miền Nam đã ủng hộ việc lật đổ TT. Diệm và sự việc ấy được coi như chính đáng. Tòa đại sứ Mỹ đã cho Trí Quang vào tỵ nạn chính trị mà sau này ông Trí Quang đã bày tỏ lòng tri ân của ông đối với người Mỹ.

Vấn đề không còn là đòi hỏi bình đẳng tôn giáo hay mục tiêu 5 điểm nữa. Nếu chỉ có thế thi mọi chuyện phải dừng lại ở đây vì hai ông Diệm-Nhu đã chết. Các sư sãi trở về Chùa tiếp tục việc tụng kinh gõ mõ.

Theo tài liệu của CIA gởi về Bộ Ngoại giáo Mỹ ngày 1 tháng Tư, 1964, James McAllister viết:

Ông ta là một người bị chính trị hóa cao độ, một người nhìn hầu hết mọi sự kiện ở Việt Nam qua lăng kính của một xung đột căn bản là tôn giáo giữa Phật giáo và Thiên Chúa giáo. Trí Quang nói, “Ngay cả người Thiên Chúa giáo tốt đối với người dân cũng đã phạm lỗi hai lần.”

Xin giải thích ý nghĩa câu nhận xét của Trí Quang là ngay cả những người công giáo cho dù họ là người tốt đi nữa thì họ cũng phạm hai tội. Tội thứ  nhất đã là người công giáo thì theo Tây thực dân và bán nước. Tội thứ hai là đã là công giáo thì họ là thứ Cần Lao Thiên Chúa giáo.

Ghi nhận này của CIA do tác giả James McAllister tiết lộ cho thấy ông Trí Quang đã đụng chạm đến căn tính của người Thiên Chúa giáo. Đạo Thiên Chúa đã được truyền sang từ thế kỷ 16 và hơn hai thế kỷ sau, người Pháp mới có mặt ở Việt Nam.

Về Cần Lao thì nhóm Cần Lao gộc là các tướng như Đỗ Mậu, Lê Văn Nghiêm, Tôn Thất Đính, v.v.

Tác giả Lữ Giang, năm 1964 đã gọi đây là một cuộc thánh chiến. Cuộc thánh chiến thứ nhất là lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Cuộc Thánh chiến thứ hai là diệt các tàn dư Cần Lao công giáo. Ông viết,

Các dư đảng Cần Lao phải rời khỏi các chức vụ và các vị trí then chốt trong chính quyền. Dư đảng Cần Lao ở đây được hiểu là những người theo Thiên Chúa giáo và khi nói “diệt dư đảng Cần Lao” thì phải hiểu là diệt Thiên Chúa giáo và các phần tử không đồng chủ trương của nhóm Phật giáo cực đoan miền Trung.”

Ông còn nhận xét thêm về Trí Quang với một số những đặc tính như: độc đoán, muốn nắm mọi quyền hành trong tay vào Giáo Hội Phật giáo Ấn Quang.

Cực đoan, muốn gắn liền Phật giáo và dân tộc.

Vận mệnh đất nước đi liền với vận mệnh Phật giáo. Ông muốn tự coi mình là Quốc sư ở trên mọi tôn giáo trong đó Phật gíao chiếm lãnh hàng đầu (tóm tắt trang 129). Diệm đổ chưa phải là xong. Ông tiến hành bước thứ hai là diệt trừ dư dẩng Cần Lao Thiên chúa giáo.

  • Mục tiêu thứ hai: Diệt trừ hiểm họa Cần Lao Thiên Chúa giáo.

Mục tiêu thứ hai của TT Trí Quang còn quan trọng hơn mục tiêu thứ nhất. Mục tiêu thứ nhất tương đối rõ ràng là đòi lại quyền bình đẳng tôn giáo. Vì thế ít ra nó cũng được khối Phật giáo Việt Nam Quốc Tự ủng hộ và tham gia. Mục tiêu thứ hai bộc lộ một cách rõ ràng, minh bạch và dứt khoát, triệt để. Mục đích của Trí Quang là tiêu diệt Cần Lao Thiên Chúa giáo và tham vọng biến Phật Giáo thành một thứ “Quốc giáo” và ông trở thanh Quốc sư của tôn giáo ấy.

Không lẽ gần một triệu người di cư đa phần là Thiên Chúa giáo trở thành kẻ thù của Trí Quang?

Đó là một thái độ ngông cuồng của một kẻ tu hành cuồng tín. Tham vọng còn là đặt dư đảng Cần Lao ra ngoài vòng Pháp luật!

Trong việc diệt trừ Thiên Chúa giáo, theo tác giả James McAllister, chính quyền Mỹ Jonhson cho rằng sau vụ lật đổ ông Diệm cần một tình thế ổn định và chính phủ miền Nam Việt Nam không cần đến một sự cải tiến hoặc thanh lọc các nhân viên chính phủ cũ. Nhưng Trí Quang không bao giờ chấp nhận cái ý tưởng sự đàn áp tôn giáo do chính quyền Ngô Đình Diệm đối với Phật giáo đã được giải quyết xong sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm đã sụp đổ.

Nói như thế, thâm ý của Trí Quang muốn đánh giá xem chính quyền mới đã hành xử như thế nào? Và ông ta nhận thấy rằng nhiều người tham dự trong cuộc lật đổ ông Diệm thì chính bản thân họ chỉ là một thứ Diệm-không Diệm, và ông cho rằng họ chỉ sợ Diệm-Nhu tính chuyện xa lìa Mỹ hơn là bản thân họ tin tưởng rằng chế độ Diệm căn bản là xấu.

Theo phúc trình của CIA, 11 tháng 11 và 7 tháng 12, 1963, gởi về bộ Ngoại giao Mỹ, James McAllister viết,

Vì niềm tin hay vì chiến thuật cần có, chính quyền Johnson đã bác bỏ ý kiến cho rằng xung đột tôn giáo chính phủ Việt Nam (chính phủ VNCH) cần bất kỳ cuộc đổi mới hoặc thanh trừng toàn bộ nhân sự nào. Tuy nhiên, Trí Quang không bao giờ chấp nhận ý kiến cho rằng xung đột tôn giáo và việc Thiên Chúa giáo đàn áp Phật giáo là vấn đề đã được giải quyết hoàn toàn bằng cách loại bỏ Diệm và Nhu khỏi ghế quyền lực. Dù nói rằng ông sẽ đánh giá chính phủ mới trên cơ sở thành quả, Trí Quang lo rằng nhiều người trong nhóm đảo chính là người của Diệm, và ông cho rằng họ đã hành dộng “vì sợ rằng Diệm và Nhu đang  xa lánh Hoa Kỳ chứ không phải họ tin là chế độ cũ về căn bản là sai.”(13).

 Đến tháng mười hai 1963, Trí Quang đã cho một số viên chức Hoa Kỳ biết rằng ông sẽ hoan nghênh một cuộc đảo chính khác nếu có thể lật đổ Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ, một nhân vật quan trọng trong chế dộ Diệm.(14)”

Thích Trí Quang đã tự cho mình sau khi lật đổ ông Diệm cái quyền giám sát các chính quyền sau Diệm và nghĩ rằng đó chỉ là chính quyền Diệm không có Diệm nên ông ta quyết định phải hành dộng. Chỉ vài tháng sau, ông Trí Quang phát động tiến hành việc tiêu điệt dư đảng “Cần Lao Thiên Chúa giáo”.  Bởi vì ông cho rằng, việc trước tiên phải làm là phải tẩy sạch cần lao Thiên Chúa giáo trước khi tiến hành tranh đấu chống cộng sản và bè lũ của chúng.

Thoạt đầu, nhóm của TT Trí Quang cho thành lập Hội Đồng Nhân dân cứu Quốc. Hội đồng này nhằm điều hành toàn thể khối Phật tử miền Trung, đồng thời gián tiếp như một thứ tòa án xét xử các nhóm Cần Lao Thiên Chúa giáo. Hội đồng cũng lãnh đạo các cuộc biểu tình, các cuộc xuống đường gây biến động ở miền Trung.

Hội đồng cũng cho ra tờ Lập Trường, cơ quan ngôn luận chính thức của Phong trào Nhân dân Cứu Quốc do Tôn Thất Hanh,chủ nhiệm, Lê Tuyên, chủ bút, Cao Huy Thuần, Tổng thư ký. Quản lý: Nguyễn Thị Trang. Tòa soạn đặt tại 17-B Lý Thường Kiệt- Huế. Hộp thư: 54, Điện thoại: 028.

Trong phần này, người viết chỉ xin nhấn mạnh vào mục tiêu thứ hai mà phần tài liệu về chủ trương của phong trào tranh đấu của Trí Quang đều dựa trên tờ báo Lập-Trường. Tờ báo này chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn, năm 1964 và tự đình bản sau khi giết được Phan Quang Đông, Ngô Đình Cẩn, thanh toản xong vụ Đặng Sĩ và dư đảng Cần Lao. Nói là dư đảng Cần Lao, nhưng sự thực chỉ là diệt người công giáo.

Để minh chứng về đường lối đấu tranh, diệt Cần Lao Thiên Chúa giáo của Hội đồng Nhân Dân Cứu Quốc, xin được dẫn chứng một trường hợp cụ thể liên quan đến người viết bài này. Để nói lên sự thật một cách rốt ráo, không che đậy.

Số là hồi đó, tôi đang dạy trường Trung học Võ Tánh Nha trang thì có hai đồng nghiệp là: Hàn Thuyên, giáo sư Vạn Vật và Tôn Thất Tuệ, giáo sư sử địa, chở nhau đến nhà tôi. Họ nhân danh đại diện nhóm Hội đồng nhân dân cứu quốc mời tôi tham gia. Tôi từ chối thẳng nói mình không tham dự vào các hoạt động chính trị. Trước khi ra về, họ bực bội dọa nạt: Sau này xảy ra chuyện gì thì đừng trách tụi tôi. Ông Tôn Thất Tuệ, theo tôi biết còn sống, nếu cần mời ông lên tiếng vì ông vốn thuộc loại người sắt máu, điên cuồng.

Trong một bài viết nhan đề Hai khuôn mặt (ám chỉ Dương Văn Minh và Nguyễn Khánh. NVL), tác giả là C. Minh Thành cũng thúc bách Nguyễn Khánh phải hành động. Minh Thành viết:

  1. Minh Thành, Hai Khuôn Mặt, Lập Trường, 4-7-1964

Dân chúng long trọng đặt câu hỏi với Thủ tướng Nguyễn Khánh: Bao giờ thì thủ tướng nhất quyết đứng vào thế của của nhân dân? Có nhân dân, Thủ tướng có thể làm được mọi việc. Không có nhân dân, dù Thủ tướng có được sự ủng hộ vô thời hạn và vô điều kiện từ bên ngoài đi nữa (ám chỉ Mỹ. NVL), Thủ tướng cũng sẽ chẳng làm được việc gì. Muốn có nhân dân rất dễ: Chính phủ chỉ việc thi hành một chính sách cách mạng.”

Báo Lập Trường, Thứ bảy 4-7-1964

Chụp mũ. (Quan điểm của tờ Lập Trường)

Lập  Lập  Trường, 30-5-1964

Như thế còn chưa đủ. Đội được mũ cách mạng vào đầu, chúng lấy mũ Trung lập, mũ Cộng sản đi chụp đầu kẻ khác. Chúng phải sát hại dân lành. Cho nên chúng đã không ngần ngại vu cáo nhân dân, trước chúng đã chụp cái mũ cộng sản lên đầu các Tăng ni, Ni, Sư Sãi và tín dồ Phật giáo. Và lúc đó thì chúng đội mũ Cần lao. Bây giờ đây khi toàn dân đã làm cách mạng, chúng cướp công cách mạng của dân, rồi đem mũ Cộng sản, Trung lập chụp lên đầu những người đã làm Cách mạng. Chúng làm như thể chỉ có chúng mới thực tâm chống Cộng.Và đã có nhiều người đã lầm nghe chúng(…) Và chỉ có Cần lao mới có bè đảng dư phái tổ chức thao túng hết mọi cơ sở xã hội. Việt Nam từ 9 năm nay. Và cái thiểu số bất lương ấy đã hại không gớm tay hàng ngàn, hàng vạn dân lành vô tội. (Ngô Đình Diệm và gia đình ông ta đã thi hành chính sách chụp mụ ghê tởm đó. Kết quả là cả một món nợ máu phải trả trước quốc dân.) Cho nên phải ra tay diệt trừ chúng. Thử hỏi chính quyền của tướng Khánh có can đảm để làm chuyện đó hay không? Uy tín của tướng Khánh còn hay mất là ở chỗ diệt được sạch hay không những tên chụp mũ. Nếu không dân chúng sẽ diệt chúng cho chính quyền xem.

Báo Lập Trường Thứ bảy, 30-5-1964.

Ông Phan Quang Đông (1929-9/5/1964) – một nạn nhân đầu tiên của Trí Quang. Hình ảnh và thơ gởi vợ trước giờ bị xử tử.

Trong đoạn văn này, không hài tên rõ rệt đích danh người nào cả. Ai diệt? Chúng là ai?  Dùng chữ Nhân đân hay Chính quyền Nhân dân là ai? Và người duy nhất bị đe dọa ở đây là tướng Khánh. Tướng Khánh khi lên nắm chính quyền, dưới áp lực của Trí Quang. Khánh sợ hãi và đã làm theo tất cả lệnh của Trí Quang như giết Phan Quang Đông, Ngô Đình Cẫn và bỏ tù chung thân Đặng Sĩ. Và để thỏa mãn những đòi hỏi của Trí Quang. Khánh đã chỉ thị cho Nguyễn Văn Mầu, bộ trưởng tư pháp phải ra một đạo luật để có thể tử hình Ngô Đình Cẩn. Vì bộ Hoàng Việt hình luật thì không thể tuyên án tử hình về các tội phạm như bắt người trái phép. Bức tử tống tiền. Dự luật 4/64, ngày 18-2-1964 (Phan Quang Đông bị tử hình ngày 26-3-1964) có hiệu lực hồi tố. Một nguyên tắc căn bản của luật hình Việt Nam Cộng hòa chỉ được áp dụng với các hành vi xảy ra từ ngày ban hành luật chớ không áp dụng áp dụng xảy ra trước ngày đó.

Diệt Thiên Chúa giáo là ý đồ và mục tiêu của Trí Quang. Nếu là truy diệt dư đảng Cần Lao nói chung thì người đầu tiên phải thanh toán là tướng Lê Văn Nghiêm, vì ông là thứ Cần Lao “gộc” cũng như Đỗ Mậu. Rồi tiếp theo là ông Tỉnh trưởng kiêm Thị Trưởng thành phố Huế Nguyễn Văn Đẳng, bác sĩ Lê Khắc Quyến, ông đại biểu chính phủ Hồ Đắc Khương, các trưởng ty cảnh sát và rất nhiều người khác.

Điển hình là trong vụ xử án Đặng Sỹ chỉ có mình Đặng Sỹ lãnh án tù 20 năm chung thân khổ sai, còn tất cả những người khác thuộc Phật giáo đều vô can.

Sau cuộc đảo chính năm 1963, người đầu tiên bị Tòa án Cách Mạng xử về các tội cố sát, bắt giam người trái phép, sách thủ tiền bạc kết án tử hình là Phan Quang Đông ngày 26-3-1964. Phan Quang Đông là nhân viên Sở mật vụ từ năm 1957.[1]

  • Về vụ giết ông Ngô Đình Cẩn

Cái chết của Ngô Đình Cẩn là công trạng của Nguyễn Khánh dâng lên cho Trí Quang – như cái chết của Phan Quang Đông cũng như bản án tù khổ sai chung thân dành cho Thiếu tá Đăng Sỹ. Khánh là người bắt cá hai tay giữa khối Thiên Chúa giáo và Phật giáo. Khi nắm quyền, Khánh đang ở giữa vòng ngờ vực là kẻ mong manh muốn phục hồi chế độ cũ. Thành tích quá khứ đem quân về dẹp phe đảo chánh 11/11/1960 là lý do chính cho mối ngờ vực này cho nên vận mệnh chính quyền Nguyễn Khánh nương tựa phần lớn vào cái chết của Ngô Đình Cẩn. Và mỗi viên đạn ghim vào thân xác Ngô Đình Cẩn đều là một bảo đảm tương lai cho Khánh. Ngô Đình Cẩn nói đúng ra chỉ là một vật tế thần trong tình thế bấp bênh của một chính quyền không được quần chúng hai bên chấp nhận. Trong cuốn Viet Nam, A History trang 345, Stanley Karnow đã đưa ra nhận xét về Nguyễn Khánh,

“Thậm chí trong một xã hội không quá câu nệ về lương tâm, đạo đức. Ông cũng không được ai tin tưởng. Ông đã xây đắp sự nghiệp mình bằng cách xoay đổi sự liên kết của ông cho phe phái nào hứa hẹn sẽ thỏa mãn tham vọng vô bờ bến của ông.”

Stanley Karnow, Vietnam, A History.

Nhiều người nghĩ Khánh chỉ là một kép hề cải lương diễu dở! Tội nghiệp cho y mà cũng tội nghiệp cho đám tướng lãnh bất tài. Bởi sau khi ông Diệm thành người thiên cổ thì các nhược điểm của ông không hề được sửa đổi đồng thời những ưu điểm của ông không hề được tiếp nối mà do mặc cảm tự ty, chúng còn được thay thế bằng những nhược điểm nặng nề gấp hai lần.

Tôi còn nhìn thấy cái sự hèn mạt của các sĩ quan chỉ huy ở Đà Nẵng để cho Trí Quang đi duyệt đoàn quân như một vị thống lãnh trong khi vị chỉ huy khúm núm theo sau.

Việc đầu tiên là có vụ bắt giữ Thiếu tá Nhung, chỉ một thời gian ngắn sau vụ Chỉnh Lý, rồi sau đó loan tin Nhung thắt cổ tự tử. Việc này vừa dằn mặt tướng Minh, vừà làm thỏa mãn vừa mua chuộc được cảm tình của giới công giáo. Và để mua chuộc phe Ấn Quang, chính quyền Nguyễn Khánh tuyên bố đem Ngô Đình Cẩn ra xét xử.

Bạn đọc có thể xem lại vụ án xử Ngô Đình Cẩn qua lời tường thuật của luật sự Võ Văn Quan, người trách nhiệm đứng ra  làm luật sư cãi cho Ngôn Đình Cẩn. Đó là cuốn Hồi ký, Luật sư. Nghề hay Nghiệp? Vài cảm nghĩ và kỷ niêm về một thời hành nghề. Vụ án Ngô Đình Cẩn hay là: Từ cố vấn chỉ đạo thành tử tội. Độc quyền của tờ báo Ngày Nay, năm 1982. Hay đọc Nguyễn Văn Lục, “Ngô Đình Cẩn, Ông là ai?” DCVOnline.net

Sau đây là quan điểm của Trí Quang về quyết định giết Cẩn theo báo cáo của CIA gởi về Bộ Ngoại giao Mỹ ngày  25 tháng, 1964 được James McAllister ghi lại,

Không còn gì để nghi ngờ, bị ảnh hưởng vì việc cả Cẩn và Thiếu tá Đặng Sỹ đã gây tội ác tại căn cứ của ông ta tại miền Trung và thành phố Huế, Trí Quang đã bác bỏ sự khoan hồng trong vụ án. Cảnh cáo rằng tiếng tăm của ông ta sẽ bị thiệt hại nếu người ta biết ông phản đối việc xử tử Cẩn, Trí Quang tin rằng việc Cẩn bị xử tử là điều cần thiết để chứng minh rằng “đám tàn dư cũ của Diệm” không còn quyền hành gì nữa. Trong một cuộc họp với Lodge vào tháng tư năm 1964, Trí Quang đã cảnh cáo Đại sứ Mỹ rằng cuộc chiến chống lại Chủ Nghĩa Cộng Sản và sự hỗ trợ của Phật giáo cho Hoa Kỳ sẽ bị tổn thương nếu Cẩn không bị hành quyết.(21)”

Ông Trí Quang đã có quan điểm tối cực đoan đến điên cuồng, đi đến chỗ vừa đe dọa, vừa mặc cả với Mỹ nếu Nguyễn Khánh không quan tâm đến việc làm cách mạng theo như ý của Trí Quang. Tài liệu của CIA gởi về cho Bộ Ngoại giao Mỹ ngay 23 tháng 8, 1964 và và một loạt các cuộc đối thoại  trong báo cáo gởi ngày 26 tháng 8, được McAllister ghi lại như sau,

Ngay sau khi ông Khánh tuyên bố hiến pháp mới, cái gọi là Hiến chương Vũng Tàu, Trí Quang kết luận rằng Khánh không quan tâm đến việc làm cách mạng. Nếu Khánh không tự sẵn sàng làm những gì cần làm, Trí Quang đã thông báo cho tòa Đại sứ Mỹ hay, là Phật giáo đồ sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc bắt tay vào một chiến dịch ‘bất hợp tác’ để buộc Khánh phải đi đến lựa chọn sau cùng giữa Phật tử và những tướng lãnh mà Trí Quang tin là đảng viên của Cần Lao hoặc Đại Việt. Vì rõ ràng có vẻ không có sự khác biệt giữa việc bị cộng sản hay người của Cần Lao đàn áp, Trí Quang cảnh cáo rằng Phật giáo đồ sẽ rút khỏi cuộc đấu tranh chống cộng và để người Mỹ và người Thiên Chúa giáo chiến đấu một mình nếu Khánh thất bại trong việc thanh trừng chính phủ của ông ta[29].”

Kết luận: Sau này, Trí Quang đã sống thân phận người tù không bản án trong suốt 44 năm ròng!! Giữ thinh lặng và không một lần lên tiếng. Nghĩ mà tội cho bản thân ông. Nay thì ông đã thật sự được “giải phóng”. Ông sống đến năm 2019 mà như thể đã chết từ năm 1975.

Cuối cùng, rốt ráo chỉ cộng sản tàn bạo mới bịt được miệng ông.!!!

——————————

[1]: Những nguồn khác cho biết Phan Quang Đông là sinh viên sĩ quan Thủ Đức (4-9, 1954) đào ngũ, nhân viên sở Nghiên cứu Chính trị từ tháng 2, 1955. Chỉ huy trưởng Trung tâm Kiểm Thính Huế từ tháng 5, 1961 (thực ra là cơ quan tình báo của chính phủ VNCH hoạt động ở bắc vĩ tuyến 17.) Nguồn: Bản sao “Khẩu cung phan quang đông” (cán bộ Việt-Cộng lộn sòng trong hàng ngũ Quốc Gia), Trần Văn Cư, Chủ sự phòng Cảnh Sát, Nha Cảnh Sát Quốc Gia Miền Bắc Trung Nguyên Trung Phần. Huế, Ngày 8 tháng 5 năm 1964


 

GÁI GIÀ CHỌN CHỒNG!- Truyện ngắn: Loan Ngẫn

Nàng đổ bệnh, sốt mê man đầu đau như búa bổ, nàng nằm bẹp chẳng thiết ăn uống gì. Công việc vẫn ngập đầu, điện thoại vẫn réo liên hồi… Nàng thấy cuộc sống vô vị quá. Khi người ta ốm đau chợt thấy tiền cũng chẳng giúp được gì nhiều. Có tiền thì có thuốc tốt, bệnh viện tốt nhưng không mua được một người thương yêu chân thật ở bên cạnh, không mua được một cái nắm tay nâng đỡ hoặc một cử chỉ ân cần an ủi động viên thật tâm. Hai con nàng thì ở xa quá, chúng bận rộn hơn nàng trong guồng quay công việc.

Nàng nghĩ đến bạn bè, có cô bạn chí cốt thì nhà cô ấy cũng còn bề bộn việc và nàng thấy ngại. Đàn ông ư, danh bạ rất nhiều nhưng biết bao lâu rồi nàng cô độc không có lấy một ai, nàng sợ những tổn thương, sợ những trắc trớ và sợ lòng dạ đàn ông lắm lắm rồi.

Nàng đến nhà Cành một buổi chiều nhập nhoạng. Cành vừa đi xây về, con bé thì đang đi học thêm. Nhìn căn nhà bé nhỏ nép dưới giàn bầu xanh mướt. Vợ Cành sang Đài lao động khi con gái vừa tròn một tuổi. Cô ta lấy chồng Đài và chưa một lần trở lại thăm quê!

Nàng yên lặng đứng nhìn Cành đang nấu nấu nướng nướng. Nàng ngắm ánh lửa bập bùng nơi căn bếp nhỏ. Cành vẫn nấu bếp củi. Nàng nhìn ánh lửa chập chờn trong gian bếp với ánh điện vàng vọt yếu ớt rồi lại ngước nhìn sang phía nhà nàng. Đúng thật khác xa nhau. Căn nhà ba tầng của nàng dù cố gắng khiêm nhường giản dị nhất có thể thì nó vẫn đồ sộ và áp đảo, ánh đèn nhà nàng có dịu dàng và bớt chói nhất thì ánh sáng nó vẫn cứ bao bọc hết phần không gian bốn xung quanh nó. Nàng nhìn và ngẫm nghĩ, căn nhà to và ánh điện sáng trưng kia cũng chẳng làm nàng thấy an toàn.

Khi ốm đau nàng vẫn chỉ có một mình. Mấy ngày li bì sốt chẳng ai gọi hỏi thăm nàng ngoài các cuộc gọi công việc. Chỉ có Cành, người phụ xây hàng xóm, lâu lâu nàng gọi anh ta sang cắt tỉa cây cảnh giúp, dọn hộ mảnh vườn, hàn lại mảnh tường rào… bữa ấy nàng sốt mê man, hai ngày không ăn chỉ uống sữa. Cành để ý mấy hôm không thấy nàng ra cửa. Cành gọi cả chục cuộc điện thoại cho nàng, nàng không bắt máy. Cành trèo cổng vào đập cửa kính, tháo chốt chui vào nhà để thấy nàng. Cành bế thốc nàng chạy ra trạm y tế, Cành bón cho nàng ăn từng thìa cháo, ép nàng uống từng miếng nước cam. Rơi nước mắt vì nàng gầy guộc! Những ngày sau ốm Cành luật quật vừa đi làm vừa ngày hai bữa cơm cháo chăm nàng vì chị giúp việc nhà nàng về quê chăm con dâu mới đẻ.

Nàng quyết định lấy Cành, mặc kệ lời chê bai của cha mẹ, của cô bạn. Mặc kệ sự ngạc nhiên của đối tác và những người đàn ông hào hoa quanh nàng vẫn. Nàng đã chán cảnh ốm đau lầm lụi một mình. Tiền nhiều thì để làm gì, đời người mấy tý, một cơn cảm, một bước hụt chân, một cú vấp ngã đập đầu và rất có thể như một cặp vợ chồng rất giàu có ở khu phố nhà nàng. Tối hôm trước vẫn khoẻ nhưng sáng hôm sau người giúp việc tới nhà thì cả hai đã bị trộm c.ắt c.ổ ch.ết ráo. Nàng cũng chẳng cần ông nọ ông kia làm gì? Tiền nàng không thiếu, nàng chỉ cần có người chăm bẵm lo lắng thương yêu thật tâm, có người đêm kéo giùm nàng cái chăn và khi nàng sốt có người lấy cho nàng cốc nước…

Cành dọn cơm, định bê mâm nó lên cái chõng tre phía đầu hè đợi con bé học thêm về rồi hai bố con ăn. Cành bỗng giật mình vì nàng đứng im lặng ngay bên lối đi.

– Ô cô …! Sao đứng đây mà không đánh tiếng. Mời cô vào nhà xơi nước…

Cành Bối rối xoa xoa lau lau hai tay vào cái quần lửng đã cũ sờn. Cái áo may ô màu cháo lòng, hai nách chảy dài tới cạp quần, vạt áo thiên di dài tới gần đầu gối. Nhìn Cành đứng bên nàng đúng là hai thế giới. Nàng nhỏ nhắn nữ tính, tóc mềm ôm sát lấy khuôn mặt đoan trang rất sáng của nàng. Trang phục nàng giản dị nhưng đúng như khuôn mặt chủ nhân của nó, tất cả đều tinh tế và xinh đẹp. Cành lúng túng và ngượng ngập trước bề ngoài của mình và của nàng, Cành càng lúng túng hơn khi nàng đột nhiên nắm lấy tay Cành. Nàng bất giác ấp bàn tay mềm mại xinh đẹp thơm tho của nàng vào bàn tay chai cằn, ngón thô ráp và cáu bẩn của Cành! Nàng nhẹ nhàng đan rồi xiết chặt lấy những ngón tay của Cành. Nàng từ từ kéo bàn tay Cành và cả người Cành về phía nàng. Thật nhẹ và nhanh chóng nàng đưa nó lên miệng hôn bàn tay đầy vết chai sần của Cành trong khi những giọt nước mắt nàng thánh thót tuôn rơi. Có giọt rơi rồi trượt trên mu bàn tay của Cành, nước mắt nàng nóng hổi…

Cành run bắn, chân Cành đứng không vững, tai Cành ù đặc, miệng khô khốc và sợ hãi khi nàng rời bàn tay nàng khỏi tay Cành. Nàng vòng tay ôm riết lấy Cành rồi áp đầu vào ngực Cành thổn thức:

– Anh, Anh Cành… anh đồng ý làm chồng em nhé!

Nàng cứ ôm chặt lấy Cành rồi nức nở khóc. Nàng nhớ lại những lần ốm trước. Ốm no bò dậy. Kể cả khi nàng còn ở với thằng chồng. Có những trận nàng bị hắn đánh, cứ mặt cứ mồm nàng hắn vả hắn đấm. Hắn ngồi đè lên ngực lên bụng nàng một tay khoá hai tay nàng còn một tay vừa đấm vừa tát vừa chửi. Khi hắn rời nàng thì thân thể nàng oặt đi như tàu lá héo. Máu mồm máu mũi bện vào với nước mắt bết vào tóc vào tai. Cả mười ngày nàng chỉ húp cháo loãng và uống sữa vì mồm miệng không há ra được. Thằng chồng nàng đ.ộc á.c vô cùng. Hắn đ.ánh nàng bằng bất cứ thứ gì hắn vớ được. Nàng cũng chẳng tội tình gì chỉ là tội lam làm và tội làm hắn ngứa mắt.

Sau này nàng quyết liệt ly hôn, nàng làm việc cật lực, nỗ lực hết mình để nuôi con và tạo dựng cho mình một cuộc sống tốt đẹp. Nàng nhất quyết không yêu ai nữa.

Con bé đi học về đến đầu sân mới gọi: Bố ơi!

Cành giật mình buông nàng, nàng vẫn còn níu lấy tay Cành. Con bé bất ngờ và bối rối khi thấy nàng cầm tay cha nó.

Bữa tối ấy nàng ăn cơm với con bé và Cành. Nàng ăn hai bát cơm ngon lành với canh bầu đầu tôm và tôm rim me Cành nấu.

Bữa ấy nàng chính thức nói với con bé là Cành với nàng sẽ cưới nhau, mặc cho Cành đồng ý hay chưa. Con bé bối rối, nó cứ cúi đầu khi nàng gặng hỏi. Cuối cùng chỉ lý nhí tuỳ cô và bố rồi buông bát đứng lên.

Cành về trong ngôi nhà mới với nàng. Con bé ở phòng bên cạnh. Sau ngày cưới, hai thằng con nàng được ở nhà với mẹ và dượng mới vài ngày. Chúng tíu tít ăn những món ăn Cành nấu, nào là ếch om củ chuối, cá quả om măng. Bầu nấu canh tôm và cả món canh cua nấu bồng khoai nước.

Ba mẹ con nàng hì hụi tranh nhau ăn cháy cơm vần bếp củi nhà Cành, uống nước vối tươi, ăn sắn lùi bếp lửa. Chúng nói rằng đây là những món ngày bé chúng vẫn được ăn, nhưng mẹ ngày càng bận việc, cô đầu bếp toàn nấu những món mà chúng không hề thích.

Nàng nhẹ nhàng và mềm mại, dịu dàng và tế nhị với Cành và con gái Cành bất cứ lúc nào. Hai thằng con của nàng cũng thế. Chúng tôn trọng và lễ phép với Cành. Có những buổi chiều hai đứa rủ Cành đi bơi sông, đi câu và nướng cá. Chúng nói với Cành chỉ cần chú tốt và thương mẹ con thật lòng thì chú là ai không quan trọng. chúng con sẽ cho chú thấy tầm quan trọng và vị thế của chú bên cạnh mẹ chúng con.

Cành và con bé thật sự cảm thấy ấm áp và vui vẻ. Đúng là mẹ con nàng đã nâng cha con Cành lên bằng sự quan tâm và khích lệ của họ. Cành chỉ chăm sóc ngôi nhà, nấu ăn và thương yêu nàng thật lòng để nàng bình yên kiếm tiền là được. Nàng chỉ cần có thế không hơn

Những buổi sáng sớm Cành dậy tưới rau bên vườn nhà mình để được ăn rau sạch, nàng vẫn còn say sưa ngủ. Tỉnh dậy đã có một tô phở Cành tự nấu hoặc đi mua. Đêm nàng làm việc khuya có Cành ngồi gần đó khi thì pha cốc nước cam, khi thì cái bánh pía nàng ưa thích. Và thích nhất là chấm dứt cảnh nàng phải nằm co một mình vì giờ đã có Cành. Nàng nghĩ chả cần là ông nọ ông kia, làm này làm nọ. Chỉ cần người bên nàng là đàn ông, thương nàng, yêu nàng là đủ. Thế thôi.

Truyện ngắn: Loan Ngẫn

– Hình minh họa.


 

bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” (Ga 6:67-68)- Cha Vương

Ngày Chúa Nhật đầy xác tín và sự hiện diện của Chúa Giê-su trong Bí tích Thánh Thể nhé. Xin một lời cầu nguyện cho các Linh mục của Chúa.

Cha Vương

CN: 8/25/2024

TIN MỪNG: Vậy Đức Giê-su hỏi Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” Ông Si-môn Phê-rô liền đáp: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” (Ga 6:67-68)

SUY NIỆM: Trong chương 6 của Phúc Âm Thánh Gioan, diễn từ bánh trường sinh. Chúa Giê-su lập đi lập lại những lời tuyên bố sau đây: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga 6:35), “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” (Ga 6:51), “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. (Ga 6:53-56). Lời tuyên bố này làm cho nhiều môn đệ của người chướng tai quá: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi? (Ga 6:60) Thực ra lời tuyên bố trên vẫn gây sốc cho con người thời đại hôm nay. Tại sao các tín hữu nói: khi rước lễ là tôi ăn thịt và uống máu Chúa Giêsu? Bằng cách nào? Sao lại ăn thịt và uống máu con người. Nhìn từ bên ngoài, người Công Giáo lên rước lễ là đón nhận một tấm bánh trắng, họ cũng được nhận chút rượu từ chén lễ của linh mục (tuỳ theo tập tục địa phương). Bánh rượu ấy làm thế nào biến nên thịt và máu của Chúa Giêsu được? Với lý luận như thế, chắc nhiều người vẫn khó tin vào những gì Giáo Lý dạy về Bí Tích Thánh Thể. Thảm nào dựa theo cuộc thăm dò của Trung tâm Nghiên cứu Pew 2019 (Pew Research) chỉ có 1/3 tín hữu Công Giáo tin vào việc bánh rượu hóa nên Mình Máu Chúa. Để trả lời cho những người kém lòng tin, cách lý giải của Đức Bênêđictô XVI xem ra hợp lý: “Làm thế nào Chúa Giêsu có thể ban Mình và Máu Người? Bằng cách biến đổi bánh thành Thân xác Người và rượu thành Máu Người, và Người ban Mình Máu Người trước khi chịu chết, Người đón nhận cái chết tự nội tâm Người và biến nó thành một cử chỉ yêu thương. Xem bề ngoài đó là chuyện tàn bạo dữ dội – việc đóng đinh vào thập giá – nhưng bên trong là hành vi yêu thương tận hiến toàn vẹn.” (bài giảng 21–8–2005). Nhìn vào một khía cạnh khác, bạn hãy quan sát  cái vỏ của quả trứng gà. Chỉ vỏn vẹn trong vòng 20-21 ngày ấp, chuyện gì xảy ra bên trong của vỏ trứng? Rất nhiều biến đổi mà mắt thường bạn không thấy được, phải không bạn? Sau khi chú gà con ra đời vỏ trứng vẫn còn nguyên là vỏ trứng. Đưa thí dụ này vào bí tích Thánh Thể, sau phần truyền phép, xem vẻ bề ngoài  tấm bánh vẫn mang hình dạng của tấm nhưng bên trong đã trở nên của ăn thần linh nuôi sống con người. Ước mong mẩu suy niệm này giúp bạn biết trân quý món quà này của Đức Giêsu. Đây là điều sống còn dành cho các tín hữu, bởi trên đường dương thế, bạn sẽ chẳng đủ sức nếu không đón nhận của ăn thần linh này. Lời Đức Giêsu hằng đảm bảo cho mỗi người: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết.” (Ga 6,54) là sự thật chứ không phả là lời nói ám chỉ hoặc phóng đại. Đó là lý do tại sao Phê-rô nói với một tấm lòng tin tưởng đầy xác tín: “bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” Thánh Gioan Vianney nhắn nhủ rằng: “Không rước lễ thì giống như chết khát bên dòng suối.” Hình ảnh thật đẹp biết bao khi dòng người lên đón nhận Mình Máu Thánh Chúa Kitô trong mỗi thánh lễ.

LẮNG NGHE: Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết. Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa. (1 Cr 11:26-27)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, lời tuyên xưng “AMEN” khi rước Mình và Máu Thánh Chúa là một lời tuyên bố xác nhận “đúng như thế, thật vậy”, xin thánh hóa cuộc đời con nên giống Chúa mỗi ngày. Amen.

THỰC HÀNH: Hãy nhìn lại lời đáp AMEN của bạn sau khi rước Mình và Máu Thánh Chúa nhé.

From: Do Dzung

****************

Bỏ Ngài Con Theo Ai

CUỘC CHIẾN ĐẤU NỘI TÂM CỦA CHÚNG TA – Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Hai điều trái ngược không thể cùng tồn tại trong cùng một chủ thể.  Triết gia A-rix-tốt đã viết như vậy và nghe chừng điều đó quá rõ ràng; không thể có cái gì vừa là ánh sáng vừa là bóng tối cùng một lúc.

Tuy nhiên, xét về những gì đang xảy ra bên trong tâm hồn chúng ta thì dường như những điều trái ngược thật sự có thể cùng tồn tại trong cùng một chủ thể.  Bất cứ thời điểm nào, trong lòng mình, chúng ta là sự trộn lẫn giữa ánh sáng và bóng tối, chân thành và giả trá, vô ngã và ái ngã, đức hạnh và suy đồi, ân sủng và tội lỗi, thánh thần và tội phạm.  Như cha Henri Nouwen thường nói: Chúng ta muốn là những bậc thánh vĩ đại, nhưng cũng không muốn bỏ lỡ tất cả các cảm giác mà những người tội lỗi trải qua.  Và thế là cuộc sống chúng ta không hề đơn giản.

Chúng ta sống trong ánh sáng lẫn bóng tối trong lòng mình và dường như, trong một thời gian dài, những điều trái ngược thật sự cùng tồn tại trong lòng chúng ta.  Tâm chúng ta như một bãi chiến trường, nơi vô ngã và ái ngã, đức hạnh và tội lỗi, cái gì cũng tranh nhau làm chủ.  Nhưng cuối cùng, chỉ một cái này hoặc cái kia sẽ bắt đầu làm chủ và tìm cách đánh bật cái kia ra.  Đó là lý do tại sao Thánh Gio-an Thánh giá đã chọn câu dụ ngôn triết học này và dùng nó để dạy một bài học cốt lõi về việc đi đến chỗ khiết tịnh của con tim và khiết tịnh của ý định trong đời sống chúng ta.  Bởi vì những điều trái ngược không thể nào cùng tồn tại trong lòng chúng ta, nên có điều cần yếu mà chúng ta cần làm.  Đó là điều gì?

Chúng ta cần chuyên cần cầu nguyện.  Những điều trái ngược không thể nào cùng tồn tại trong chúng ta như vậy, nếu chúng ta duy trì lòng cầu nguyện chân thành trong đời sống mình để cuối cùng sự thành tâm sẽ đánh bật đi giảo trá, vô ngã sẽ đánh bật ái ngã, và ân sủng sẽ đánh bật tội lỗi.  Nếu chúng ta giữ lòng cầu nguyện chân thành, thì về lâu dài, chúng ta sẽ không bao giờ rơi vào lý luận biện hộ cho tội lỗi.  Nếu chúng ta duy trì cầu nguyện chân thành trong đời sống thì chúng ta sẽ không bao giờ nhắm mắt làm ngơ trước tội lỗi của mình, và cứ như vậy tới mức chúng ta bắt đầu có những vùng miễn nhiễm về đạo đức trong đời sống của mình.  Trung thành với cầu nguyện sẽ bảo đảm chúng ta không bao giờ, về lâu dài, sống đời hai mặt bởi vì những gì lời cầu nguyện đưa vào đời sống chúng ta, một sự có mặt chân chính của Chúa, sẽ không sống chung hòa hợp với ái ngã, tội lỗi, lý luận biện hộ cho tội lỗi, tự huyễn, và giảo trá.  Nói nôm na, đến một lúc nào đó trong đời, chúng ta hoặc sẽ thôi cầu nguyện hoặc thôi hành xử tệ hại.  Chúng ta sẽ không thể nào sống cả hai thứ trái ngược.  Như vậy mối nguy hiểm lớn nhất của chúng ta là ngừng cầu nguyện.

Và đây là lời khuyên vô cùng hữu dụng: Chúng ta không thể lúc nào cũng kiểm soát được việc mình cảm thấy như thế nào về mọi chuyện.  Chúng ta không thể lúc nào cũng kiểm soát được chuyện mình bị quyến dụ ra sao.  Và không ai trong chúng ta có sức mạnh để không bao giờ rơi vào tội lỗi.  Chuyện chúng ta không có khả năng thực hiện đạo đức mong muốn cho bản thân khiến chúng ta luôn luôn không thể thánh thiện đầy đủ.  Có những điều vượt ngoài khả năng của chúng ta.

Nhưng có đôi điều chúng ta có thể kiểm soát, những điều vượt quá con ngựa cảm xúc và cám dỗ bất kham.  Chúng ta bị nhiều thứ vây bủa, nhưng chúng ta có thể chuyên cần có mặt để cầu nguyện, theo ý chí của mình, có chủ tâm, với kỷ luật và quyết tâm.  Chúng ta có thể cầu nguyện riêng theo kỷ luật chuyên cần trong cuộc sống của mình.  Chúng ta có thể hứa với chính mình phải có thói quen cầu nguyện riêng.  Và, nếu làm như vậy, thì bất luận sự thực chúng ta sẽ phải chịu một thời gian dài khô khan và chán nản, cuối cùng những gì lời cầu nguyện đưa vào đời sống chúng ta sẽ đánh bật ra các thói quen xấu, những lý luận biện hộ cho tội lỗi, và tội lỗi của chúng ta.  Hai điều trái ngược nhau không thể cùng tồn tại trong cùng một chủ thể.  Cuối cùng chúng ta hoặc sẽ phải thôi cầu nguyện hoặc sẽ từ bỏ tội lỗi và lý luận biện hộ cho tội lỗi.  Không ai có thể vừa cầu nguyện chân thành một cách đều đặn lại vừa nhắm mắt làm ngơ trước tình trạng tội lỗi của mình.

Vậy thì, nhiệm vụ của chúng ta là duy trì việc cầu nguyện riêng như một thói quen trong cuộc sống, kể cả khi chúng ta không có cái nhìn sâu sắc lẫn không có lòng can đảm để nhìn nhận và giải quyết tất cả các kiểu tiêu chuẩn kép và những điểm mù-đạo-đức trong đời sống của mình.  Những gì đi vào đời sống chúng ta qua lời cầu nguyện, mà thường thì khó cảm nhận hơn là dễ thấy, cuối cùng sẽ đánh bật ra (“hóa cứng,” nói theo lời thánh Gio-an Thánh giá) tội lỗi của chúng ta lẫn những lý luận chúng ta biện hộ cho nó.

Điều này gần với lời Ronald Knox từng dạy về phép Thánh thể.  Đối với ông, phép Thánh thể là nghi thức có tính cách nâng đỡ, cốt yếu, duy nhất trong đời sống Ki-tô hữu.  Tại sao?  Bởi vì Knox tin rằng, là Ki-tô hữu, chúng ta chưa bao giờ thật sự sống theo những gì Chúa Kitô yêu cầu.  Chúng ta chưa bao giờ thật sự yêu thương kẻ thù mình, chìa má kia ra, chúc phúc cho những ai nguyền rủa chúng ta, sống đời quang minh chính đại trọn vẹn, hay tha thứ cho những ai đã làm chúng ta tổn thương.  Nhưng, ông nói, chúng ta đã trung thành với Chúa chủ yếu theo cách: Chúng ta đã trung thành với phép Thánh thể, trung thành với mệnh lệnh duy nhất đó.

Ngay trước khi từ giã chúng ta, Chúa Giêsu đã ban phép Thánh Thể và yêu cầu chúng ta tiếp tục dâng phép Thánh Thể cho tới khi Người quay trở lại.  Hai ngàn năm nay, trong khi chờ đợi sự quay trở lại đó, chúng ta đã trung thành với phép Thánh Thể, dù chúng ta đã trở nên bất trung xét theo các khía cạnh khác.  Chúng ta đã tiếp tục dâng phép Thánh Thể, và cuối cùng, hơn bất cứ điều gì khác, đó là điều duy nhất gọi chúng ta, liên tục liên hồi, trở lại với lòng trung tín.

Thói quen cầu nguyện riêng cũng sẽ làm được điều đó cho chúng ta.  Bởi vì hai điều trái ngược không thể nào cùng tồn tại trong một chủ thể, cuối cùng chúng ta hoặc sẽ thôi cầu nguyện hoặc chúng ta sẽ không phạm lỗi và lý luận biện hộ cho tội lỗi nữa.  Mối nguy hiểm đạo đức lớn nhất trong đời sống là chúng ta ngừng cầu nguyện!

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

ĐẾN VỚI AI? – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?”.

“Không phải cái gì, mà là ai, tôi tin! Ngài bước đi bên tôi trong bóng tối, chia sẻ mọi gánh nặng mệt mỏi; soi sáng mọi nẻo đường xám xịt và bảo tôi nhìn xa hơn ngôi mộ cuộc sống lớn lao hơn để sống. Không phải cái gì, mà là ai, tôi tin!” – John Oxenham.

Kính thưa Anh Chị em,

Sau tuyên bố của Chúa Giêsu về Bánh Hằng Sống, “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời!”, “nhiều môn đệ rút lui”. Ngài quay lại hỏi các tông đồ liệu họ có bỏ đi không; Phêrô tuyên bố, “Bỏ Thầy thì chúng con biết ‘đến với ai?’”. Với câu hỏi của Phêrô, ý tưởng của Oxenham được gặp lại, “Không phải cái gì, mà là ai, tôi tin!”.

Trước hết, “Nhiều môn đệ rút lui!”. Nhận định này được bản NAB của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ dịch rất thâm thuý, “Nhiều môn đệ trở lại lối sống cũ!”. Ai từ chối Chúa Giêsu, từ chối Thánh Thể, người ấy ‘trở lại lối sống cũ!’. Đại diện nhóm Mười Hai, Phêrô không nói “Chúng con sẽ đi đâu?”, nhưng thật sâu sắc, ông nói, “Chúng con biết đến với ai?”. Vấn đề cốt lõi không phải là rút lui hay bỏ dở công việc đã thực hiện để đến một nơi nào khác, với một công việc khác; nhưng quan trọng là ‘đến với ai?’.

Qua câu hỏi cũng là câu trả lời của Phêrô, chúng ta hiểu rằng, trung thành với Thiên Chúa là trung thành với một con người mà chúng ta tự nguyện ràng buộc để bước đi với người ấy trên cùng một con đường. Những gì Phêrô nói là một khẳng định; đúng hơn, một tuyên tín ‘khéo giả trang’. Qua đó, vị Giáo Hoàng tiên khởi tuyên xưng Chúa Giêsu là Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ; Ngài là ‘phương án’ tốt nhất của mọi chọn lựa và duy chỉ một: chọn trung thành theo Chúa Giêsu bất cứ giá nào! Không gì trong cuộc sống đáng để lựa chọn hơn Ngài, dù lựa chọn đó có phổ biến hay không; được ưa chuộng hay không, và không thành vấn đề người khác có chọn lựa như thế hay không!

Chỉ có sự thật “Giêsu” mới có thể làm dịu cơn khát của trí tuệ chúng ta, chỉ có nguồn sống và lòng tốt “Giêsu” mới có thể thoả mãn mọi ước muốn liên tục của ý chí chúng ta; và chỉ có Chiên Thiên Chúa – Lễ Hy Sinh – đổ máu đền thay mới có thể giải thoát mỗi người chúng ta khỏi xiềng xích tội lỗi. Chỉ có tình yêu mới có thể chinh phục trái tim chúng ta và lấp đầy nó bằng niềm vui bất tận. Chúa Kitô là “Đấng duy nhất”; không ai khác, không ai ngang hàng có thể mang cho chúng ta sự sống vĩnh cửu như Ngài.

Anh Chị em,

“Chúng con biết đến với ai?”. Đến với Chúa Giêsu, tin vào Ngài, có nghĩa là biến Ngài thành trung tâm, ý nghĩa cuộc sống của mình! Chúa Kitô không phải là một yếu tố tuỳ chọn: Ngài là “Bánh Hằng Sống”, là nguồn dinh dưỡng thiết yếu. Ràng buộc với Ngài trong mối quan hệ đức tin và tình yêu đích thực không có nghĩa là bị trói buộc, mà là tự do sâu sắc khi có Ngài luôn gắn kết, đồng hành trên hành trình cuộc đời. Mỗi chúng ta có thể tự hỏi: Chúa Giêsu là ai đối với tôi? Ngài là một cái tên, một ý tưởng, hay chỉ là một nhân vật lịch sử? Hay Ngài thực sự là người yêu thương tôi, đã hy sinh mạng sống vì tôi, tha thứ cho tôi và luôn ở cùng tôi? Vậy với bạn, Chúa Giêsu là ai?

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con xuống nhầm dòng sông, ‘trở lại lối sống cũ’ chết chóc; giúp con mỗi ngày chọn Chúa – Dòng Sông Ân Sủng – dẫn ra đại dương xót thương!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)