Làm sao ta biết được mình là kẻ tội lỗi?- Cha Vương
“Bạn gặp ai trong đêm tối cuộc đời?” – Lm. Gioan Baotixita Phương Đình Toại
Sập cầu Phong Châu: Ông trời là thế lực thù địch của Hà Nội
September 18, 2024
Vụ sập cầu Phong Châu (tỉnh Phú Thọ) ngày 9 Tháng Chín sau bão Yagi, đã khiến 13 người rơi xuống sông cùng với 1 xe container, 1 xe tải, 3 xe hơi, 4 xe máy, chỉ có 3 người thoát nạn. Kể từ vụ sập cầu Cần Thơ (2007), thì đây là cây cầu lớn duy nhất bị sập nhịp chính giữa sông, đây cũng là vụ sập cầu gây thiệt hại nặng nề nhất.
Cầu này được làm bằng thép và bê tông cốt thép dự ứng lực với quy mô vĩnh cữu. Chỉ mới được khánh thành năm 1995, và đã trải qua 3 lần sửa chữa trong các năm 2013, 2019 và 2023. Sau đợt gia cố năm 2019 thi sở Giao thông Vận tải Phú Thọ đã kiểm định và tuyên bố rằng chân móng trụ rất vững chắc, đạt tiêu chuẩn tải trọng HL93, không phải cấm biển hạn chế trọng tải xe cộ.
Khi đã không hạn chế tải trọng thì tức là cầu sập không phải do trọng tải của các xe đang lưu thông trên cầu. Quan sát các hình ảnh, video lúc cầu sập thì cũng không có mưa to gió lớn, nước dưới chân cầu chảy cũng không quá mạnh để có thể đẩy sập cầu. Nếu lưu lượng dòng chảy đủ mạnh để làm sập một cây cầu mới xây năm 1995 thì cầu Long Biên, cũng trên sông Hồng, do Pháp xây cách đây 122 năm đã không thể trụ vững tới bây giờ.
Lập tức, người ta nhìn ra vấn đề của cầu sập: (1) là công ty xây dựng rút ruột công trình và kiểm định có nhận hối lộ để thông cầu khi không đảm bảo chất lượng, và (2) là do khai thác cát vô tội vạ khiến cho lòng sông bị xói mòn, ảnh hưởng tới dòng chảy, gây sụt lún chân trụ cầu.
Và cả hai nguyên nhân này đều là do cách quản lý của người cộng sản. Việc xây dựng cầu rồi lợi dụng rút ruột công trình là tình trạng vô cùng phổ biến từ các công ty do đảng cộng sản quản lý. Đấu thầu cũng là người cộng sản. Nhận thầu rồi nhận ngân sách để làm cầu cũng là người cộng sản ăn chia với nhau. Đến rút ruột công trình để làm giàu cũng là chuyện gian dối của người cộng sản.
Còn nếu cầu sập vì khai thác cát thì cũng chính các quan chức cộng sản ăn hối lộ, cho khai thác cát tràn lan, những kẻ khai thác cát đều không thể phanh phui xử lý, bởi tất cả đều nằm dưới tay cộng sản.
Móng cầu Phong Châu lúc cạn do người dân địa phương chụp lại từ năm 2023. (Hình: Facebook Lê Vinh)
Thế nhưng khi cầu sập thì ai là người chịu thiệt hại nặng nề nhất? Chắc chắn là người dân, không chỉ tổn thất về nhân mạng, xe cộ, của cải; mà còn là tiền thuế đã đóng cho nhà nước để xây dựng cầu. Và còn những thiệt hại về thời gian, quãng đường di chuyển khi không thể đi qua cầu trong khi chờ đợi xây cầu mới.
Nhưng rồi báo chí đổ tội cho ai? Ông trời! Đúng vậy, từ lúc sập cầu, chỉ thấy đỗ lỗi cho thiên tai, bão lũ. Không thấy một cán bộ cộng sản nào đứng ra chịu trách nhiệm, từ chức, hoặc ít nhất là xin lỗi dân cũng không có. Cả một hệ thống từ người duyệt dự án xây cầu, nhà thầu, kỹ sư xây dựng, quản lý thi công, giám sát; tới những người duy tu, sửa chữa cầu… tất cả đều giấu mặt im lặng!
Ai là người hưởng lợi nhờ cầu sập? Cầu sập mới một tuần lễ, chưa tìm đủ xác nạn nhân, nhưng lãnh đạo cộng sản tỉnh Phú Thọ đã hớn hở đề nghị ngân sách chi 865 tỷ đồng xây cầu mới, và thêm 250 tỷ gia cố đê. Có lẽ không cần nói ra thì ai cũng biết kẻ nào hưởng lợi từ vụ sập cầu này.
Thế rồi chuyện bổn cũ soạn lại, cây cầu mới được dựng lên bởi chính những người đã gian tham, bọn quan lại giấm giúi chia nhau ngân sách và rút ruột công trình. Bên cạnh đó, vẫn không chấm dứt được việc khai thác cát bừa bãi. Thì câu hỏi đặt ra là khi nào lại sập cầu nữa?
Cầu Trung Hà bị “hở chân”, vỡ trụ dù mới chỉ được khánh thành từ năm 2002. (Hình: TTXVN)
Cầu Phong Châu bị sập chỉ là câu chuyện biểu trưng. Trên khắp Việt Nam, rất nhiều cây cầu được xây dựng theo cách đó, những con sông dưới chân cầu cũng bị hút cát tràn lan như vậy. Sau vụ sập cầu Phong Châu, lộ mặt quan quyền nhà nước thì dư luận bắt đầu quan tâm tới cầu Trung Hà nối Hà Nội với Phú Thọ. Những trụ của cây cầu này cũng bị hở chân, vỡ trụ dù mới chỉ được khánh thành từ năm 2002.
Việt Nam năm nào cũng phải hứng chịu hàng chục cơn bão, áp thấp nhiệt đới, cùng với đó là việc xả lũ tuỳ tiện của các đập, hồ thuỷ điện. Kết hợp với quy trình xây cầu, hút cát hiện nay, thì có lẽ Phong Châu chỉ là cây cầu mở màn chứ chưa phải là cuối cùng. Bão thì không tránh được, nhưng mọi việc chung quanh đó đều là do đảng cộng sản quyết định. Khi mọi thứ còn nằm trong tay độc tài cộng sản thì những cây cầu, hay tính mạng người dân như ngàn cân treo sợi tóc, nhưng cần thì cứ đổ lỗi cho trời đất. Cầu chông chênh như chính con đường đi lên xã hội chủ nghĩa của chế độ cộng sản hiện nay, cứ nhắm mắt đi, bất chấp sinh mạng con người và đất nước.
Sự Diệu Kỳ.
Hệ thống đường hầm chống lũ của Tokyo…
Hệ thống đường hầm chống lũ của Tokyo, hay còn gọi là hệ thống thoát nước ngầm lớn nhất thế giới, là một công trình kỹ thuật vô cùng ấn tượng và phức tạp. Nằm dưới lòng đất phía bắc Tokyo, hệ thống này được xây dựng với mục đích ngăn chặn lũ lụt và bảo vệ thành phố khỏi những trận mưa lớn và lũ quét thường xảy ra trong mùa mưa và khi có bão. Đây là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng của Tokyo, giúp giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra và bảo vệ sinh mạng cũng như tài sản của hàng triệu người dân.
Hệ thống này bao gồm một loạt các bể chứa khổng lồ và đường hầm thoát nước, kéo dài đến khoảng 6,4 km dưới lòng đất với độ sâu tối đa lên đến 50 mét. Nổi bật nhất trong số đó là bể chứa trung tâm – một hầm chứa nước có kích thước khổng lồ, được ví như một “thánh đường ngầm” với trần nhà cao 25 mét, rộng 78 mét và dài 177 mét. Khi xảy ra mưa lớn, nước mưa được thu gom từ các con sông và kênh rạch nhỏ trong thành phố, sau đó được dẫn qua hệ thống đường hầm để tập trung tại các bể chứa. Cuối cùng, nước được bơm ra sông Edogawa thông qua các trạm bơm khổng lồ có công suất cực lớn.
Hệ thống này có khả năng chứa tới 670.000 mét khối nước, tương đương với lượng nước của 25 bể bơi Olympic. Được hoàn thành vào năm 2006 sau 13 năm xây dựng với chi phí khoảng 2,6 tỷ USD, hệ thống thoát nước ngầm của Tokyo không chỉ là công trình ngăn lũ lớn nhất thế giới mà còn là một minh chứng về sự kết hợp giữa kỹ thuật hiện đại và tầm nhìn dài hạn trong quản lý thiên tai của Nhật Bản.
Với sự phát triển nhanh chóng của đô thị và biến đổi khí hậu gây ra những hiện tượng thời tiết cực đoan, hệ thống đường hầm chống lũ này đóng vai trò then chốt trong việc giữ an toàn cho Tokyo, giúp thành phố này tránh được những trận lũ lụt nghiêm trọng mà nếu không có hệ thống này, thiệt hại sẽ khó mà lường trước được.
Tiệm McDonald’s đầu tiên ở Sài Gòn bất ngờ đóng cửa sau 10 năm
September 17, 2024
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Sau khi Starbucks Việt Nam đóng cửa quán cao cấp duy nhất ở Sài Gòn, nay đến lượt McDonald’s phải đóng cửa dẹp tiệm mở đầu tiên ở ngay Bến Thành, quận 1.
“Dù không muốn nói lời chia tay, nhưng vào 2 giờ ngày 19 Tháng Chín, 2024, McDonald’s Bến Thành sẽ khép lại hành trình 10 năm đồng hành đầy cảm xúc,” McDonald’s chia sẻ trên fanpage có tích xanh với hơn 82 triệu người theo dõi.
Hình ảnh tiệm McDonald’s Bến Thành, quận 1, Sài Gòn, những ngày đầu mới khai trương. (Hình: Tuổi Trẻ)
Theo truyền thông trong nước, nguyên nhân McDonald’s Bến Thành đóng cửa chưa được công bố. Tuy nhiên, một lần nữa cộng đồng mạng lại hướng đến lý do “không trụ nổi giá thuê mặt bằng trung tâm.”
Là một trong những cửa hàng đầu tiên tại Việt Nam, McDonald’s Bến Thành có vị trí đắc địa trong ngôi nhà ba tầng rộng gần 660 mét vuông, sức chứa khoảng 260 chỗ ngồi (180 chỗ ngồi bên trong nhà hàng và 80 chỗ ngồi ngoài trời), vừa gần chợ Bến Thành sầm uất, vừa không xa “khu phố Tây” Bùi Viện thường đông đúc du khách, lại mở cửa suốt 24 giờ, không chỉ là nơi cung cấp món ăn nhanh mà còn là địa điểm gặp gỡ, tụ tập của giới trẻ, du khách giữa đêm khuya.
Ngoài ra, thay vào dịch vụ Drive-thru, tiệm McDonald’s Bến Thành có một quầy đặt hàng “To Go” đặc biệt, giúp khách dễ dàng mua đồ ăn, thức uống nhanh chóng, tiện lợi mà không cần vào bên trong nhà hàng.
Nhiều người từng kỳ vọng điểm bán này sẽ “cố gắng bám trụ” đến khi tuyến metro đầu tiên được vận hành. Khi đó, đây sẽ là điểm đến khó bỏ qua của người dân, nhất là khách du lịch và Việt kiều. Vì thế, tin McDonald’s Bến Thành đóng cửa sau 10 năm hoạt động khá thu hút công luận.
Báo Tuổi Trẻ hôm 17 Tháng Chín nhận định, với thông báo đóng cửa McDonald’s Bến Thành, tại Việt Nam chuỗi thức ăn nhanh của Mỹ chỉ còn 35 điểm bán, riêng ở Sài Gòn có khoảng 17 điểm bán.
Sau Starbucks, việc McDonald’s đóng cửa trả mặt bằng vị trí trung tâm đã đánh dấu thêm biến động trong thị trường thực phẩm và thức uống F&B (Food and Beverage Service) tại Việt Nam.
Việc hai “ông lớn” trong ngành ẩm thực này liên tiếp dừng hoạt động một số chi nhánh chủ chốt ở trung tâm Sài Gòn, cho thấy thay đổi trong chiến lược phát triển cũng như bức tranh cạnh tranh ngày càng khốc liệt trong ngành F&B tại Việt Nam.
Tiệm McDonald’s Bến Thành thông báo đóng cửa sau 10 năm hoạt động. (Hình: Người Lao Động)
Các thương hiệu quốc tế đang phải đối mặt với chi phí vận hành cao, áp lực từ giá thuê mặt bằng trung tâm và thay đổi trong hành vi tiêu dùng của người Việt.
“Có thể cả Starbucks và McDonald’s đều có những kế hoạch tái cấu trúc nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh, nhưng việc đóng cửa các địa điểm nổi bật như Bến Thành cho thấy họ đang điều chỉnh chiến lược để thích nghi với những biến động trong thị trường,” báo Tuổi Trẻ dẫn lời một chuyên gia trong ngành F&B nhận xét.
Báo VNExpress hôm 21 Tháng Tám dẫn phúc trình từ iPOS – nền tảng cung cấp giải pháp quản lý cho hơn 100,000 doanh nghiệp nhà hàng và quán cà phê ở Việt Nam – cho biết có ít nhất 30,000 cửa hàng F&B ở Việt Nam phải đóng cửa trong sáu tháng đầu năm, khi thực khách giảm chi tiêu do kinh tế khó khăn. (Tr.N) [qd]
Những chiếc xe mì của quá khứ- Đỗ Duy Ngọc
Hình 1: Một xe mì Tàu ngày nay ở Sài Gòn. Ảnh: Báo Người Lao Động
Sài Gòn từ khi hình thành là nơi đất lành chim đậu, là nơi giao thoa các nền văn hóa khác nhau. Đó không chỉ là nơi hội tụ của người Việt từ ba miền Nam, Trung, Bắc mà còn là nơi đón nhận nhiều phong tục, lối sống của nhiều dân tộc khác nhau trên thề giới nữa. Đặc biệt là văn hóa ẩm thực. Ở Sài Gòn ta có thể thưởng thức món gan ngỗng béo ngậy của Pháp, món lẩu chua cay của Thái, mắm bò hóc và chè Kampuchia, món sushi của Nhật, món piza của Ý, món cari của Ấn, món nướng của Hàn, món soup rau của Địa Trung Hải, món cháo ếch của Singapore, món Dim sum Hồng Kông… và đặc biệt không thể không nhắc đến những món ăn của người Hoa Chợ Lớn.
Ẩm thực của người Hoa thì vô cùng phong phú, kể ra cũng vài trang giấy. Ở đây, trong phạm vi những dòng ngắn ngủi đầu xuân, tôi chỉ nói tới món hủ tíu và mì của họ. Những món ăn luôn hấp dẫn tôi từ trước đến nay.
Nhắc tới món ăn này trước hết phải kể đến chiếc xe mì.
Đó là những chiếc xe thường xuất hiện vào lúc xẩm tối, bên vỉa hè, nơi góc chợ, chỗ có đông người qua lại. Đó là những chiếc xe chuyên dụng, chỉ dùng để bán hủ tíu, mì. Trên chiếc xe này được trang bị đầy đủ như một quán ăn, có bếp đốt bằng than củi, có chỗ xài bình ga, lửa xanh lét phì phì, có nồi nước lèo hai ngăn to bự chảng, một bên để trụng hủ tíu, mì, ngăn còn lại chứa nước lèo sôi sùng sục. Nước lèo thường được hầm với xương, củ cải trắng, mực, tôm khô, có nơi còn có cả sá sùng. Bên trên có tủ kiếng chia ngăn để thịt, rau hành. Đặc biệt luôn luôn bên cạnh thùng nước lèo có mặt một cái vịm bằng gốm, trong chứa mỡ nước và những miếng mỡ heo thái hạt lựu đã được thắng vàng. Tôi có mấy người bạn làm nghề này bảo rằng thứ làm cho tô mì ngon hay dở đều nằm trong cái vịm thắng mỡ này. Theo họ thì cái này không chỉ chứa mỡ mà còn được gia cố thêm bột nêm, bột ngọt và bí quyết riêng của mỗi xe mì. Trụng xong mì hay sợi hủ tíu, bỏ vào tô, cho thịt, xá xíu, hành, rau, lúc đó múc một muỗng mỡ vào rồi mới chế nước lèo lên. Không có cái muỗng mỡ này, tô mì ăn lạt nhách. Hơn nữa, nồi nước lèo nếu nêm nếm gia vị nhiều quá sẽ mau thiu, không thể để lâu được. Còn cái vịm mỡ gia vị đó thì để bao lâu cũng chẳng hư. Âu đó cũng là kinh nghiệm gia truyền.
Ba mặt của xe mì thường có ba tấm thiếc, nhôm hoặc inox hay ván gỗ, mở ra, cài hai cái móc, để thêm mấy cái ghế xếp nữa thành bàn. Trên đó để chai giấm, chai nước tương, hủ ớt dầm giấm và lon guigoz đựng muỗng đũa. Ông bà nào dân Việt thuần túy đi ăn mì Tàu mà muốn kiếm nước mắm sẽ không bao giờ tìm thấy ở đây. Nếu quán đông khách, người ta kê thêm mấy cái bàn, vài cái ghế đẩu và quán hoạt động đến khuya.
Nhắc xe mì mà không nói đến những tranh kiếng đủ màu trang trí trên xe là một thiếu sót lớn. Đó là những tấm tranh vẽ những điển tích của văn hóa dân gian Trung Hoa. Đó là những cảnh minh họa truyện Tam Quốc như nhân vật Quan Công mặt đỏ râu dài cỡi ngựa đỏ, Trương Phi râu rậm, mắt lồi dữ tợn, Triệu Tử Long múa đao, đó là cảnh Bát tiên phó hội, Bát tiên quá hải, Tôn ngộ không, Thất hiền, rồng phụng tương giao, cảnh sơn thủy…..
Tất cả đều tô màu sặc sỡ, với một kỹ thuật đặc biệt và nét vẽ điêu luyện tuy chỉ do những người thợ mỹ nghệ làm ra. Đến nay, nghề này đã bị thu hẹp lại, các nghệ nhân xưa đã già hay đã qua đời, nghề lại ít người theo nên tranh kiếng ngày nay thiếu mất cái hồn, cái uy nghi, vũ dũng trong nét bút của thời xưa. Hồi đó, mỗi lần đi ăn mì, tôi say sưa ngồi ngắm những tranh vẽ đó, về nhà học vẽ theo đầy cả vở, bị ba tôi phạt hoài.
Ngày nay, những xe mì với tranh kiếng vắng bóng dần trên các vỉa hè, đôi khi lại tìm thấy trong các nhà hàng, người ta để như là một biểu tượng. Chiếc xe mì tranh kiếng nằm nơi góc chợ, bên lề đường có vẻ hay hơn, đắc địa hơn, có sinh khí hơn nhiều.
Ngoài những xe mì cố định, còn có xe mì lưu động. Đó là những chiếc xe nhỏ hơn, trang bị gọn hơn, ít khi có tranh kiếng, nếu có cũng vẽ đơn giản, sơ sài hơn. Ông chủ xe thường là tuổi trung niên, mặc cái áo thun ba lỗ, vai vắt khăn. Bên cạnh thường có những đứa bé cầm hai thanh tre đã lên nước nâu bóng gõ theo nhịp điệu muôn đời không đổi sực ..tắc, sực…tắc. Tiếng gõ vang một góc đường, một con hẻm giữa đêm gợi cho ta thèm muốn một bát mì nghi ngút giữa đêm, giúp cho người đi chơi khuya về có bát mì ngon, giúp kẻ lỡ đường với số tiền ít ỏi qua cơn đói. Bởi những xe mì lưu động này bán giá rất bình dân, tuy vậy cũng có những xe mì lưu động rất ngon không khác gì những xe, những quán cố định.
Nhiều người đi xa có lúc nhớ về quê nhà lại nhớ tiếng sực tắc đêm khuya. Có những người đã già, nhớ lại thời bé dại, cũng có lúc lại nhớ tiếng gõ đều đều của hai thanh tre của chiếc xe mì đi qua ngõ quá khứ.
Tô mì hay hủ tíu thường được ăn cùng với xá xíu, những miếng thịt heo nạc màu đỏ xắt mỏng ăn thơm thơm mùi ngũ vị hương, ngòn ngọt của mật ong phết lên lúc quay lúc nướng. Cũng có mì hủ tíu ăn với cật, gan heo và con tôm hồng hào hấp dẫn. Còn có mì hoành thánh, sủi cảo chấm tương ớt hoặc nước tương. Bỏ vào miệng cảm được cái mềm mại của bột, cái dai dai béo béo đậm đà của thịt, cái ngọt lừ của nước lèo, tất cả hòa thành một hương vị đặc biệt khó quên. Người Hoa Chợ Lớn có người Tiều, người Quảng, người Hẹ, Phúc Kiến, người Hải Nam… Người vùng nào cũng có người làm nghề bán hủ tíu mì. Nhưng riêng tô hủ tíu mì của người Quảng thường có miếng bánh tráng mỏng nho nhỏ chiên vàng ươm, trên có một vài con tôm nhỏ để nguyên chân cắng, râu càng. Cắn miếng bánh dòn rụm, húp thêm niếng nước lèo, đưa thêm vài sợi mì, ngon!
Sau này còn có Hủ tíu sa tế, gồm bò hoặc nai ăn với một loại sauce cay cay trộn đậu phụng giã nát. Hình như những quán bán loại này đa phần là người Triều Châu, không biết đúng không bởi món này cũng không phổ biến lắm?
Tô mì ngon ngoài nước lèo ngọt, đậm đà, thịt chế biến giỏi còn có yếu tố quan trọng là sợi mì phải dai, ăn đến muỗng cuối cùng, mì vẫn không nhão nát. Mì được làm từ bột mì, thêm màu vàng óng của nghệ hoặc phẩm màu và nghe đâu phải có tro tàu sợi mì mới dai ngon. Có loại sợi mì nhỏ như sợi bún, cũng có loại to dẹp, ngon dở tùy khẩu vị mỗi người mà lựa chọn. Khi trụng mì cũng là một kỹ thuật. Có nơi trụng bằng nước sôi, xong lại qua một lượt nước lạnh, rồi trụng sơ lại nước nóng lượt nữa mới cho vào tô. Trụng như thế sợi mì sẽ dai lâu mà không nát. Mì được khoanh từng vắt nhỏ dáng tròn tròn như hột vịt. Có người muốn ăn no, thường kêu ba hoặc bốn vắt một tô. Nhìn tô mì đầy nhóc thấy ớn. Cũng có đôi chỗ bán mì tươi, kéo mì tại chỗ thành những sợi dài, kiểu mì này cũng ít nơi bán vì rất mất thì giờ chờ đợi.
Sợi hủ tíu làm bằng bột gạo, sợi hủ tíu ngon là sợi hủ tíu không bị nhão khi ăn, nuốt vào miệng nghe trơn tuột và cũng cần kỹ thuật khi trụng.
Cũng có nhiều xe mì bán thêm món há cảo, bột được bọc với con tôm, đem hấp chín, khi ăn chấm với tương ớt và xì dầu.
Có người thích ăn chung một tô có mì lẫn hủ tíu, cũng là một cái thú vì ăn được hai thứ trong một tô. Thế nhưng có nhiều xe mì không chịu làm thế, hủ tíu là hủ tíu, mì là mì, không thế có thứ hỗn hợp như thế.
Đi năm châu bốn bể, kể cả một thời gian khá dài ở bên Trung quốc, tôi vẫn không thấy đâu ngon bằng tô hủ tíu mì ở Việt Nam, đặc biệt là tô mì ở Chợ Lớn. Họ cũng gọi là mì nhưng thiếu cái hương vị mình đã dùng qua, cái cảm giác mà mình đã hưởng thụ. Ngay khi ra Hà Nội, hay về Đà Nẵng, vẫn thấy tô mì không giống tô mì Chợ Lớn. Bởi tô mì của quá khứ là tô mì quen thuộc, đã theo ta suốt một quãng đường dài của cuộc đời.
Bây giờ ở Sài Gòn, Chợ Lớn rong chơi, cũng chẳng khó khăn gì để kiếm một bát mì ngon, nhưng ăn trong quán, trong nhà hàng máy lạnh lại không có được cảm giác thú vị của ngọn gió đêm hiu hiu, ngọn đèn đường hắt hiu và phố xá có người qua, ăn trong âm thanh rộn rã của cuộc sống.
Tìm tô mì dễ dàng nhưng không còn thấy những chiếc xe mì lưu động, thay vào đó là những xe mì gõ mới không như cũ, tiếng sực tắc cũng chẳng còn âm thanh cũ, chất lượng, hương vị cũng đổi thay và tiếc nhất là những xe mì vỉa hè có những bức tranh kiếng. Giờ vẫn còn rải rác đâu đó để kiếm tìm, nhưng chắc chắn mốt mai, nó chỉ còn trong kỷ niệm.
Ai cũng có một món ngon của quá khứ, và chắc hẳn món đó là món ngon nhất trong tâm tưởng của riêng mình.
Xe hủ tíu Giang Cẩu ký ‘since 1968’. Ảnh: Báo Thanh Niên
Đỗ Duy Ngọc
ĐƯỢC VIẾNG THĂM – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)
“Tôi phải ví người thế hệ này với ai?”.
Không ít người phi thường bị coi là tầm thường trước khi được chấp nhận. Fulton Sheen – nhà giảng thuyết lừng danh những 40 năm của truyền hình, truyền thanh Mỹ, viết 73 cuốn sách – từng bị một giáo sư chê bai, “Anh là diễn giả tồi nhất mà tôi từng gặp!”. Ernest Hemingway – tiểu thuyết gia, nhà văn, nhà báo bậc thầy của Hoa Kỳ – từng bị một giáo sư miệt thị, “Quên chuyện viết lách đi! Anh không đủ khả năng!”.
Kính thưa Anh Chị em,
Như Fulton Sheen và Hemingway đã từng thất vọng vì những định kiến của các vị thầy, Tin Mừng hôm nay cho thấy nỗi thất vọng của Chúa Giêsu trước những định kiến của người đương thời. Họ không nhận ra Ngài, họ không biết mình ‘được viếng thăm!’.
Chúa Giêsu ví họ như lũ trẻ ngoài chợ vốn bất nhất, điều mà các nhà tâm lý gọi là ‘thái độ bạo chúa của trẻ lên hai’; họ gọi Gioan là “quỷ ám”, gọi Chúa Giêsu là “ăn nhậu!”. Thói quen thường xuyên sàng lọc thực tế ‘người mang sứ điệp’ thông qua định kiến, thành kiến có thể khiến chúng ta từ chối sứ giả Chúa sai đến và ngày giờ của Ngài. Thay vì để mình được định hình theo tiêu chí Thiên Chúa muốn, chúng ta lại khéo đặt Ngài ngay ngắn trong thế giới tự tạo và thiết định trước của mình.
Trong đời sống ơn gọi hay cả trong đời sống gia đình, chính sự ‘bất nhất tâm cảm’ dẫn chúng ta đến việc chối từ Thiên Chúa, chối từ tha nhân. Thành kiến khiến chúng ta mất kiên định, định kiến khiến chúng ta mất khả năng đi trọn con đường ‘ơn gọi riêng’. Chúng ta xa rời mục tiêu hoặc thậm chí, gãy gánh! Không quan trọng bạn đi con đường khổ chế của các môn đệ Gioan hay sự phóng khoáng của các môn đệ Chúa Giêsu; điều quan trọng là liệu bạn có đi trọn con đường Chúa định cho đấng bậc mình! Bao lâu chúng ta còn tiến tới, bấy lâu Thiên Chúa còn dẫn dắt; không dịch chuyển, Thiên Chúa không có gì để dẫn dắt! Trong thực tế, việc ngồi chờ một số “điều kiện hoàn hảo” – như thần thoại – chỉ tỏ lộ một sự bất nhất và thiếu cam kết.
Khôn ngoan là quà tặng của Chúa Thánh Thần; nhờ Thánh Thần, chúng ta phân định, phán đoán. Từ đó, đưa ra những quyết định đúng đắn và khiêm tốn đón nhận ân huệ Thiên Chúa gửi đến. Đó cũng là những gì Phaolô đề cập trong thư Côrintô hôm nay, “Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất!”.
Anh Chị em,
“Tôi phải ví người thế hệ này với ai?”. Chúa Giêsu đau đớn vì sự cứng lòng của người đương thời, những kẻ không nhận ra vòng tay yêu thương của Thiên Chúa và giờ họ ‘được viếng thăm’. Đây không phải là một cảnh trong vở “Sứ Vụ Công Khai” của Chúa Giêsu; nhưng đây là bộ phim nhiều tập, bộ phim cuộc đời mỗi người! Bạn và tôi có thể tự hỏi, “Làm thế nào tôi nhận biết giờ tôi ‘được viếng thăm?’”, vì lẽ mỗi người chúng ta đều có thể dễ dàng rơi vào sự cứng lòng của các biệt phái. Mỗi ngày Chúa Giêsu đến thăm chúng ta, gõ cửa nhà chúng ta qua Thánh Lễ, qua các giờ cầu nguyện, qua các biến cố, qua những con người… Tôi có cảm nhận được lời mời nào, nguồn cảm hứng nào để gần Chúa Giêsu hơn, sống bác ái hơn hay để lắng nghe Ngài nhiều hơn?
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, ơn Chúa qua đi, không bao giờ trở lại. Đừng để con không múc được một ân huệ nào vào giờ Chúa ghé!”, Amen.
(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)
From: KimBang Nguyen
*****************************
Thứ Tư Tuần XXIV, Mùa Thường Niên, Năm Chẵn
Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.
12 31 Thưa anh em, trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả.
13 1 Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng. 2 Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. 3 Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi. 4 Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, 5 không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, 6 không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. 7 Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. 8 Đức mến không bao giờ mất được. Ơn nói tiên tri ư? Cũng chỉ nhất thời. Nói các tiếng lạ chăng ? Có ngày sẽ hết. Ơn hiểu biết ư ? Rồi cũng chẳng còn. 9 Vì chưng sự hiểu biết thì có ngần, ơn nói tiên tri cũng có hạn. 10 Khi cái hoàn hảo tới, thì cái có ngần có hạn sẽ biến đi. 11 Cũng như khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con; nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con. 12 Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi. 13 Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến.
Trung Ương Đảng họp bất thường và quyết sách đổi mới đang được chú ý của TBT Tô Lâm
Hơn cả chữ “thương”
Hôm qua, có một trường học ở trên Lào Cai tổ chức trung thu cho các em học sinh.
Nhưng….có những món quà được đặt trên những chiếc bàn ghế mà không có ai ngồi… Đó là những chỗ ngồi của những bạn nhỏ đã thiệt mạng do bão lũ ở Làng Nủ, Lào Cai… Cô giáo và các bạn vẫn dành những phần quà trung thu cho các bạn ấy, cho dù các bạn ấy không còn ngồi trong lớp nữa…
Mọi người thường nói, trung thu là tết thiếu nhi, là ngày của những nụ cười, sự đầm ấm, hân hoan… Nhưng ở nhiều nơi ở miền Bắc năm nay, sẽ thiếu đi rất nhiều thứ.
Không đèn ông sao, không văn nghệ, không còn những trò chơi đùa nghịch, không còn những người bạn thân quen… Trên nhiều gương mặt hôm nay, có những giọt nước mắt vì nhớ bạn bè.
Chỉ cầu mong sao, con người đừng phá rừng, phá núi thêm nữa, đừng làm thuỷ điện vô tội vạ nữa…lũ về dân khổ quá rồi, tận cùng của nỗi đau rồi…
Hơn cả chữ “thương”
Con tàu chỉ có một người – Tác giả : Phan Xuân Sinh – Truyen ngan HAY
Tác giả : Phan Xuân Sinh
Con tàu chỉ có một người – Câu chuyện xúc động ý nghĩa sâu sắc
Anh cũng như bao nhiêu người sĩ quan khác ở Miền Nam. Sau 75, đều bị tập trung cải tạo. Những tháng đầu anh được vợ gửi cho một hai lần đồ ăn, sau đó thì biệt tăm. Anh được phép viết thư về cho gia đình nhiều lần. Nhưng không thấy vợ trả lời. Như thế kể như anh bị vợ bỏ.
Sống trong trại cải tạo mà không có người thăm nuôi, không được tiếp tế đồ ăn, người đó kể như chết. Anh biết mình nằm trong số người bất hạnh đó. Nên anh phải tự lực cánh sinh. Nói chơi cho vui vậy chứ tự lực gì nổi. Có được thăm nuôi hay không, người tù nào cũng co cúm lại. Thức ăn dành dụm từng chút. Ra ngoài lao động, con mắt của họ dáo dác tìm bất cứ thứ gì có thể bỏ vào bụng cho đở đói. Cho nên người có quà thăm nuôi cũng như dân mồ côi, khi ra ngoài lao động cũng xục xạo tìm kiếm đào bới như nhau. Ai tìm được nấy ăn.
Chuyển ra ngoài Bắc anh lại càng tơi tả hơn. Không quen với cái lạnh thấu xương, bụng thì đói meo. Trông anh như một ông cụ già hom hem. Công việc nặng nhọc làm cho anh còm lưng. Ngày trở về thì không thấy hy vọng. Anh cứ nghĩ mình kéo dài tình trạng đói khát, nặng nhọc nầy mãi, thì thế nào cũng bỏ xương tại cái xứ đèo heo hút gió nầy. Trốn trại thì không can đảm. Mà cũng chẳng biết trốn đi đâu, giữa núi rừng trùng trùng điệp điệp. Đành phải bó tay chịu trận…
Bỗng nhiên một hôm anh nhận được gói đồ ăn gửi bằng đường bưu điện. Anh nghĩ chắc vợ anh gửi cho. Nhưng khi cầm gói quà trên tay nhìn tên người gửi lạ hoắc, anh phân vân, đắn đo. Chắc chắn đây là một sự nhầm lẫn. Tuy nhiên vì đói quá anh không có can đảm hoàn trả lại cho cán bộ, khi mà sự thèm khát đã lên tới tột đỉnh. Mà chắc gì gói quà được trả về cho khổ chủ của nó!
Cán bộ trại đời sống cũng chẳng hơn tù bao nhiêu, thế nào họ cũng chia nhau. Trong lúc mình đang cần, anh an ủi mình như vậy. Anh về trại. Bạn bè tới chúc mừng anh. Như vậy, kể từ nay anh thuộc thành phần có thăm nuôi. Không còn mồ côi như trước. Gói quà đã được mở ra kiểm soát, cột lại sơ sài trước khi giao cho anh nhận lãnh.
Ai nhận quà về đến chỗ nằm của mình, đều bóc ngay ra. Còn anh thì không dám đụng đến. Lúc đầu cái đói, cái thèm khát lâu ngày làm cho anh bấn loạn. Anh nghĩ nhận quà về bóc ra ngay ăn một bữa cho đã. Nhưng khi cầm gói quà trên tay, không phải tên vợ mình gửi, anh đâm ra đắn đo. Anh nằm gác tay lên trán nghĩ ngợi về tên người gửi. Anh đào bới hết trí nhớ, vẫn không tìm ra tên người đàn bà nầy, được viết trên góc của gói quà. Bạn bè tù cùng phòng với anh thì nghĩ khác. Họ cho rằng lâu quá không được nhận quà, không nghe tin tức vợ, nên anh muốn kéo dài cảm giác sung sướng. Không bóc vội gói quà.
Thế nhưng rồi cũng đến lúc gói quà được mở. Sau khi ăn cơm chiều xong, anh leo lên chỗ nằm, ngồi quay mặt vào vách. Anh trịnh trọng mở gói quà. Quan trọng với anh bây giờ không phải là trong gói quà có những gì để ăn. Giữa lúc nầy, sự thèm khát bỗng nhiên trốn mất. Mà là lá thư trong gói quà nói gì.
” Anh yêu quý,
Anh đã mất tích từ lâu, tưởng rằng anh đã chết. Em và các con lập bàn thờ mấy năm nay. Không ngờ, cách đây mấy hôm, vô tình đến thăm một người bạn, có người anh được thả ra từ trại cải tạo Miền Bắc. Em hỏi thăm là có bao giờ anh nghe tên người nào là Nguyễn Hữu trong trại của anh không? Anh đó trả lời là có một người cùng đội sản xuất với anh mang tên ấy, trước là đại úy thuộc Sư Đoàn 2, người Bắc Kỳ, từ bao nhiêu năm nay không được ai thăm nuôi. Em nghe xong muốn quỵ xuống, đúng là anh rồi. Thế là từ nay em phải hạ bàn thờ xuống. Các con có bố chứ không còn mồ côi cha nữa. Em mừng quá, mang tên anh, tên đội, tên trại đến Ủy Ban Quân Quản Thành Phố để xin giấy phép gửi quà thăm nuôi. Lý do vì loạn lạc, di chuyển nhiều lần, địa chỉ không còn chỗ cũ, nên không nhận được giấy gửi quà thăm nuôi.
Anh đừng để vi phạm nội quy, ráng học tập tốt, sẽ được nhà nước khoan hồng để sớm về đoàn tụ với gia đình. Có dịp được trại cho phép viết thư, anh viết thư về cho em biết sức khỏe của anh. Anh cần những gì lần sau có giấp phép em sẽ gửi ra cho anh. Em và các con bao giờ cũng mong chờ anh về.
Thư nầy không viết dài được, em ngưng đây. Chúc anh luôn luôn khỏe mạnh.
Vợ anh
Lê Thị Hồng”…
Anh không dám đọc lại lần thứ hai. Một sự trùng hợp lạ ky, anh và ông Hữu kia cùng thuộc Sư Đoàn 2, cùng là người Bắc. Chỉ khác nhau là ông ta mất tích trong chiến tranh, còn anh thì trình diện đi cải tạo. Người đàn bà nầy vì quá thương chồng không điều tra cặn kẽ, chứ trong một sư đoàn, chuyện trùng tên, trùng họ là chuyện bình thường. Mà cán bộ kiểm duyệt thư từ cũng lơ đễnh, không thấy chữ mất tích từ đầu lá thư. Anh nhìn gói đồ ăn mà lòng trĩu nặng. Một bên vợ người ta, chồng mất tích bao năm mà vẫn chờ đợi. Còn mình sống sờ sờ vợ chẳng thèm ngó ngàng tới.
Đọc thư xong, anh bỏ thư lại trong gói đồ rồi cột lại như cũ. Anh nằm gác tay lên trán suy nghĩ miên man. Các bạn chung phòng đến hỏi thăm tin tức gia đình anh ra sao, anh trả lời nhát gừng cho qua chuyện. Họ nghĩ, có lẽ gia đình anh đang gặp rắc rối gì đó, nên anh buồn ít nói.
Sáng hôm sau ra lao động, anh không mang thêm cái gì để ra ăn buổi trưa. Anh không biết phải làm sao với gói quà mà anh đã nhận. Anh cảm thấy mình giống như một thằng ăn trộm, oa trữ đồ gian. Không biết phải giải quyết thế nào cho ổn thỏa đây. Mấy năm trời đói khát, thèm ăn. Chụp được một con dế, con cóc thì xem như được một bữa tiệc lớn. Thế mà khi nhận quà có thịt chà bông, cá khô, muối sả ớt v.v… anh lại sờ sợ. Lương tâm ư? Làm gì có thứ nầy ở đây. Anh không biết phải diễn tả thế nào tâm trạng của anh lúc ấy. Vì đụng vào đó, anh thấy mình như bị phạm tội.
Buổi trưa, anh ra nhận cơm với vài cọng rau muống, nước muối. Anh lại thèm các thứ mà mình đang giữ. Sự thèm khát lại bắt đầu dằn vặt, hành hạ anh. Anh không thể nào chống lại nổi sự đòi hỏi hợp lý nầy. Thôi thì tới đâu hay tới đó.
Ngày hôm sau anh mang tí ti đồ ăn theo, chia cho một số bạn cùng cảnh ngộ với anh, nghĩa là thuộc dạng mồ côi, không có ai thăm viếng hay gửi quà. Họ ăn một cách ngon lành. Anh ăn cũng ngon miệng nhưng khi ăn xong, anh thấy nghèn nghẹn. Mấy ngày đầu anh mang tâm trạng nầy, nhưng dần dần về sau nguôi ngoai. Hình như sự phạm tội thường xuyên, ít bị lương tâm cắn rứt hơn là phạm tội một đôi lần.
Vài ba tháng sau đó, anh được trại cho phép viết thư về gia đình. Đây là một điều khó khăn cho anh. Gửi thư cho vợ hay gửi cho chị Lê Thị Hồng? Gửi cho vợ thì bao nhiêu cái vẫn biệt vô âm tín, còn gửi cho chị Lê Thị Hồng, thì biết nói sao cho chị hiểu là anh không phải là chồng chị ta. Nếu thư không bị kiểm duyệt thì chuyện nầy dễ nói. Còn thư tù như anh thì qua biết bao nhiêu cửa ải. Biết đâu khi cán bộ kiểm duyệt phát giác chuyện nầy sẽ tống cổ anh vô cùm. Cái tội mạo nhận ẩu để lãnh đồ thăm nuôi. Một lần cũng là mang tội, mà cái tội nầy bạn bè biết được thì khinh khi lắm. Nhưng mọi chuyện đã lỡ rồi, đành phải theo lao vậy. Anh đánh liều viết theo cái kiểu người chồng viết cho vợ.
“Hồng em,
Cám ơn em rất nhiều về gói quà vừa rồi em gửi cho. Em đừng lo gì cho anh nữa, ở đây anh được nhà nước cách mạng lo cho đầy đủ, ăn uống không thiếu. Em yên tâm để dành lo cho các con. Em ở nhà cố gắng dạy dỗ các con nên người, cố gắng chấp hành chính sách và pháp luật của nhà nước cách mạng.
Nhờ ơn cách mạng, nhờ ánh sáng soi đường, nhờ chính sách khoan hồng của nhà nước ta. Anh học tập đã hiểu thế nào con đường lầm lẫn của mình trước đây. Anh đã ăn năn hối cải và mong sao sau khi được khoan hồng trở về với gia đình, anh sẽ làm lại cuộc đời tốt hơn. Đừng lầm lẫn đi theo con đường cũ nữa, phải sống hòa đồng với nhân dân và tuân thủ pháp luật nhà nước.
Nhắc lại cho em rõ, đừng gửi quà cho anh nữa. Ở đây anh ăn uống rất đầy đủ, hãy dành dụm cho con, lo cho tương lai các con.
Cầu chúc em và các con khỏe mạnh.
Chồng em
Nguyễn Hữu”
Anh nhắc lại hai lần chữ “lầm lẫn”, để chị Hồng biết đoán ra mọi sự, không dám viết đi viết lại nhiều lần, sợ cán bộ trại nghi ngờ.
Hai ngày sau, văn phòng trại gọi anh lên làm việc. Anh điếng hồn, không biết chuyện gì xẩy ra. Có lẽ vì mấy chữ lầm lẫn đó sao? Người kiểm duyệt sao thông minh quá vậy. Anh vừa đi, vừa tìm cách chạy tội. Nhưng không nghĩ ra cách nào giải thích, anh đổ liều, cứ chối đại ra sao thì ra. Mỗi lần gọi người nào một cách bất thần như vậy, là người đó có vi phạm điều gì. Các bạn tù cùng phòng lo lắng cho anh.
Anh bước vào phòng cán bộ quản giáo, đầy lo âu và không biết chuyện lành dữ ra sao. Người công an chấp cung ngồi trước lá thư của anh viết cho chị Hồng. Anh ta tươi cười mời anh ngồi đối diện, rút trong túi gói thuốc lá mời anh. Một thái độ thân thiện lạ lùng. Anh rút một điếu và chậm rãi hút. Người cán bộ nhìn anh nói: “Trong trại nầy, ai viết thư về cho gia đình cũng xin cái nầy cái nọ. Riêng anh thì không, lại bảo chị đừng gửi gì cả. Cũng lạ thật. Anh thật sự không thấy cần thiết sao?”
Anh lắc đầu: “Nhiều năm không được thăm nuôi, quen rồi. Hơn nữa gia đình tôi cũng nghèo. Vợ tôi lo cho các cháu đủ mệt. Lo thêm cho tôi, kiệt sức mất.. ”
“Anh nghĩ vậy cũng đúng. Các anh ngày trước sung sướng quen rồi, không quen chịu cực khổ. Mới có vài năm đã thấy thèm khát đủ thứ. Chúng tôi mấy chục năm đánh giặc. Ăn uống kham khổ. Không hề hé răng.”
Người cán bộ nói tiếp: ” Chúng tôi có bỏ đói các anh đâu. Nuôi ăn đầy đủ đấy chứ. Chúng tôi cũng muốn cho các anh về với gia đình. Nghẹt vì các anh chưa thông suốt chính sách cách mạng, nên chúng tôi phải tạm giữ thêm một thời gian nữa.”
Anh ấp úng: “Vâng, thưa cán bộ.”
Người cán bộ nhìn thẳng vào mặt anh, trịnh trọng nói: ” Thay mặt Quản Giáo trại, tôi biểu dương tinh thần ý thức của anh. Thư anh gửi có giá trị thuyết phục. Anh là trại viên gương mẫu, sẽ được Ban Quản Giáo Trại đề bạt để anh được về sớm với gia đình.”
Mấy thằng làm ăng-ten, cũng nghe cái lời hứa cho về sớm. Nên chúng nó ra sức kiếm điểm, mà có thấy thằng nào được về trước đâu. Anh cười thầm trong bụng với cái chiêu dụ nầy.
Người cán bộ tiễn anh ra cửa và bắt tay thân thiện. Anh hú hồn, thoát được sự căng thẳng. Anh về chỗ nằm. Mấy người bạn tới hỏi thăm tin tức về chuyện nầy. Anh trả lời với họ là bị cán bộ cảnh cáo, vì lá thư viết không đúng tiêu chuẩn.. Anh nghĩ thế nào rồi câu chuyện nầy cũng đổ bể. Rồi cũng sẽ đi cùm vài tháng, với cái tội mạo nhận ẩu để lấy quà gửi. Chị Hồng thế nào cũng nhận ra nét chữ, và chữ ký của anh, không phải của chồng. Không cần mấy chữ “lầm lẫn” kia, chị Hồng cũng hiểu hết mọi sự là chồng chị đã chết..
Ngày nầy qua tháng khác, anh vẫn lao động đều đặn. Anh vẫn yên tâm là mình trở lại với vị trí mồ côi muôn thuở. Anh không còn hy vọng có ai đó ngó ngàng tới để gửi cho chút quà thăm nuôi. Người ta có gia đình gửi quà. Người ta có quyền tưởng tượng các món ăn để vỗ an cho cái dạ dày. Vì thế nào có ngày cũng được thăm nuôi, món ăn mình ao ước sẽ được người nhà mang đến. Còn anh chỉ ăn hàm thụ các món đó thôi. Cũng không sao nghĩ ra, cái đói khát triền miên, đã làm cho anh chai lì mọi ao ước. Thần kinh tê liệt và suy sụp đến tận cùng.
Nhận quà thăm nuôi bằng bưu điện lại có tên anh. Lại thêm một lần ngạc nhiên. Lần trước anh không dám mở gói quà, vì biết đó không phải là quà của mình. Không dám đọc thư vì biết thư đó không viết cho mình. Lần nầy thì ngược lại. Về đến chỗ nằm thì anh xáo tung để tìm lá thư ra đọc.. Thư viết cũng thắm thiết như lần trước, không hề đá động gì sự lầm lẫn mà anh đã nhấn mạnh. Nét chữ cứng cỏi thể hiện người viết có học thức, thế mà tại sao không biết mọi sự lầm lẫn đó. Trong thư nầy chị Hồng lại hiểu sai vấn đề, nghĩ rằng vì mấy năm không nhận quà thăm nuôi, nên anh giận dỗi. Biết làm sao đây, khi mà anh không có khả năng bày tỏ tự sự. Mặc kệ, cứ thản nhiên mọi chuyện, cứ ăn cho sướng. Phó mặc mọi chuyện cho trời đất. Anh đổ ra cáu kỉnh và lì lợm. Hình như anh muốn tạo ra tình huống nầy, để dễ dàng nuốt trôi mấy miếng thực phẩm thăm nuôi, mà không thẹn với lương tâm.
Mỗi lần sực nhớ lại chuyện quà cáp, anh vội vàng xua đuổi ngay. Nhủ với lòng mình như vậy, nhưng dễ gì quên được điều đó. Mỗi đêm, khi cơn đói hành hạ, các món ăn trong trí tưởng tượng tuôn ra, là hình ảnh chị Hồng lại hiện lên. Đẹp hay xấu lúc nầy đối với anh chẳng cần thiết, nhưng tấm lòng thương chồng của chị đã làm cho anh cảm phục. Thực sự, anh thương hại cho hoàn cảnh côi cút của chị và mấy đứa con. Sống giữa sự khó khăn chung của xã hội, nuôi mấy miệng ăn cũng thấy khó lắm rồi, đừng nghĩ gì xa xôi hơn như chuyện thăm nuôi chồng. Tệ hại hơn nữa, đây không phải là chồng của mình.
Mọi chuyện vẫn bình thường, ngày nầy qua ngày khác trong trại cải tạo. Anh vẫn sinh hoạt chung với các anh em. Bỗng nhiên một ngày, sau khi đi lao động về, anh được loa phóng thanh gọi tên ra khu thăm nuôi, có vợ là Lê Thị Hồng đến thăm. Lần nầy thì anh bối rối thật sự. Anh biết sự gặp nhau nầy rất bẽ bàng và ngượng ngập. Mọi sự thật sẽ làm cho chị Hồng đau khổ biết mấy. Với anh thì không sao, anh đã biết trước mọi chuyện, anh đã chuẩn bị tinh thần. Dù gì thì anh cũng phải trả lại sự thật nầy. Anh không muốn nó cứ mãi kéo dài, cứ mãi gây cho anh cảm giác phạm tội. Anh cố gắng diễn tả cho chị ấy biết, anh không phải thứ lừa đảo để kiếm miếng ăn. Dù có chết anh cũng chấp nhận, chứ không thể thuộc loài vô loại nầy. Anh nói nhiều, nhiều hơn nữa, để cảm ơn, để chị tha thứ. Anh sợ một vài tháng bị cùm, sợ mất mấy miếng ăn, mà phải để lại sự hiểu lầm trầm trọng. Để chị phải lặn lội khó nhọc, leo đèo vượt suối, từ Sài Gòn ra tận nơi đây thăm một người mà không phải là chồng mình.
Người cán bộ phụ trách dẫn anh ra khu trại thăm nuôi. Từ xa anh nhìn thấy người đàn bà đang ngồi nơi bàn chờ đợi. Tự nhiên anh hồi hộp. Tự nhiên chân anh bước cảm thấy nặng nề. Rồi anh cũng bước tới chỗ chị ngồi. Tim anh muốn vọt ra khỏi lồng ngực. Anh e thẹn như con gái. Thấy xấu hổ và hối hận. Chị Hồng nhìn anh rồi bật khóc. Chị khóc nức nở. Mặt cúi xuống bàn. Tiếng khóc ấm ức như đang gặp sự bất trắc. Anh ngồi vào vị trí đối diện. Nước mắt anh cũng chảy dài. Anh không nói được với chị câu gì. Những gì anh đã chuẩn bị bay đi đâu cả. Người cán bộ ngồi ở đầu bàn kiểm soát thấy hai người cứ khóc mãi.. Có lẽ anh ta nghĩ rằng vì vợ chồng lâu ngày xa nhau, thương nhớ chồng chất lâu ngày, để họ khóc cho đã nư. Anh ta cũng chẳng cần để ý tới họ. Anh ta vừa đứng dậy đi ra cửa sổ khạc nhổ, anh chụp ngay cơ hội nói với chị: “Xin lỗi…xin lỗi chị”.
Chị ngẩng mặt lên đưa ngón tay giữa miệng, ngụ ý cho anh biết đừng nói gì thêm. Anh thở dài. Tiếng thở của anh nghe rất não nuột. Nhưng trong tiếng thở ấy, như hàm chứa tất cả những gì anh đã chuẩn bị nói ra với chị. Chị lau nước mắt nhìn anh, rồi ấp úng hỏi anh những câu về sức khỏe, những lời khuyên cố gắng học tập tốt để về với gia đình, cho vừa lòng cán bộ kiểm soát. Chị cũng bịa ra những chuyện là con cái vẫn đi học bình thường, cha mẹ khỏe mạnh, tất cả gia đình, dòng họ, trông anh mau về sớm. Anh chỉ gật đầu mà không thốt được lời nào. Chị khóc chiếm hầu hết thời gian thăm nuôi.. Hơn ai hết, anh hiểu tiếng khóc của chị. Mọi hy vọng gặp lại chồng xem như hoàn toàn không còn nữa. Chị khóc cho số phận hẩm hiu của mình, thương cho phần số ngắn ngủi của chồng.
Cán bộ báo cho biết giờ thăm nuôi chấm dứt. Chị đưa tay nắm lấy tay anh. Anh đưa hai bàn tay ra ôm lấy tay chị. Tự nhiên, không biết tại sao anh bật khóc lớn. Có lẽ anh thấy tủi thân. Anh thấy lòng thương hại của chị dành cho anh, đây là lần cuối. Làm sao anh đòi hỏi gì hơn, với người đàn bà không phải là vợ mình. Khóc cho mình, mà cũng thương cho chị lặn lội đường xa tìm chồng. Chị lủi thủi trở về với niềm tuyệt vọng. Rồi anh chị chia tay. Anh gánh phần quà của chị mang tới cho anh, vào trại. Chị đứng dựa vào cột tre nhìn theo. Thỉnh thoảng anh quay đầu ngó lại, lần nào chị cũng đưa tay lên vẫy chào. Mọi người trong trại từ xa nhìn thấy cảnh nầy. Ai cũng thông cảm cho cảnh vợ chồng khắng khít, bây giờ phải lìa xa.
Anh gánh vào tới phạm vi giam giữ, thì các bạn anh chạy ra phụ mang đồ về phòng. Anh đứng lại nhìn ra khu thăm nuôi, đưa tay vẫy chào chị cho đến khi chị ra khỏi cổng trại khuất dạng. Anh lầm lũi về chỗ nằm. Đồ đạc còn để lăn lóc dưới đất. Anh chẳng màng sắp xếp. Anh vẫn chưa kịp định thần lại. Những giây phút thật bất ngờ đến với anh nhanh quá. Suốt trong nửa giờ gặp nhau, anh chỉ nói ra được hai tiếng xin lỗi. Màn kịch do chị diễn ra thật xuất sắc, xuất sắc đến nỗi anh là người trong cuộc, vẫn cảm thấy rất tự nhiên không ngượng ngịu. Không sao hiểu nổi được lòng chị.
Ngồi nhớ lại cảnh gặp gỡ, khi chị ngước mắt lên nhìn anh. Khuôn mặt chị thật đẹp, đôi mắt thật hiền từ. Anh nghĩ chị cũng đã biết trong mấy lá thư gửi về, không phải là thư của chồng. Thế nhưng chị vẫn hy vọng, mong manh hy vọng. Trong mong manh đó chị đổi một giá cho sự phũ phàng, cay đắng. Có lẽ khi nhận thư hồi âm, sau khi đọc, chị thấy thương hại cho anh, thông cảm nỗi thống khổ của anh. Chị quyết định tiếp tục liên lạc với anh, giúp đỡ anh. Khi ra thăm nuôi, chị vẫn biết anh không phải là chồng, nhưng chị vẫn đi. Để xác định rõ ràng, khi gặp anh tức là chồng chị đã chết. Nghiệt ngã thật.. Chị bật khóc, vì thương cho chồng thì ít, mà lại thương anh nhiều hơn. Sống một đời tù tội, lao khổ, bị gia đình bỏ rơi. Dù sao chồng nằm xuống cũng đã lâu, nước mắt của chị đã bao năm khóc cho chồng, bây giờ đã khô cạn. Gặp anh trong một hoàn cảnh thật bi thương, sống giữa một trại tù vô cùng cực khổ, không tin tức gia đình vợ con. Anh đang chơi vơi giữa tận cùng khổ đau, dày xéo trên thân thể những vết hằn tủi nhục. Nước mắt của chị trào ra, khi ngước mắt trông thấy một con người thân thể vừa tiều tụy, vừa đờ đẫn, đang đứng đối diện…
Đêm nay anh nằm đây, nghĩ lại cái cảnh chị lầm lũi bước lên tàu trở về Sài Gòn. Con tàu chạy vùn vụt trong đêm tối. Chỉ còn một mình chị thức, nhìn ra bên ngoài với sự trống vắng. Chị ôm một nỗi buồn sâu lắng. Đất nước đang trải qua một cơn sốt kinh khủng, đày đọa biết bao người lâm vào cảnh khốn cùng. Chị nghĩ sao về anh? Chị có còn giữ liên lạc với anh không?… Dù sau nầy thế nào, dù có giữ liên lạc hay cắt đứt, ơn nầy với anh suốt đời không quên được. Anh hứa với lòng mình, sau khi được trở về, anh sẽ tìm thăm chị. Sẽ nói với chị thật nhiều, cám ơn chị thật nhiều.
Thay cho lần gặp gỡ trong trại không nói được.
Anh thấy trên con tàu trở về kia, chỉ có mỗi một mình chị. Còn tất cả đều nhạt nhòa. Một mình chị thôi, chứa trên đó nỗi đoạn trường, bất hạnh của một đời người. Nhưng thật vô cùng quý báu của một tấm lòng. Tội nghiệp chị, con tàu đang chở chị lao vào màn đêm, xé tan bóng tối và lạnh lẽo.
CON TÀU CHỈ CÓ MỘT NGƯỜI
Tác giả : Phan Xuân Sinh











