AI HẠ MÌNH XUỐNG SẼ ĐƯỢC TÔN LÊN

AI H MÌNH XUNG S ĐƯC TÔN LÊN

 

Nếu cuộc đời là một bữa tiệc, hẳn có nhiều thực khách đã chọn chỗ nhất mà ngồi. Tôi chọn ngồi chỗ nhất vì tôi thấy mình quan trọng, tôi xứng đáng được hưởng vinh dự đó…

Tiếc thay, không có nhiều chỗ nhất trong bữa tiệc cuộc đời, nên người ta phải tranh giành nhau bằng mọi thủ đoạn để chiếm được và giữ được chỗ nhất cho mình.

Những cuộc tranh giành như thế đâu phải là điều xa lạ.  Chúng vẫn diễn ra nơi gia đình, trong cộng đoàn, trong nhóm, trong giáo xứ, giữa các quốc gia… Nơi nào có hai người ở với nhau là có thể có đụng chạm, vì chỉ có một chỗ nhất.

Giữa một thế giới tự cao tự đại, rồi xâu xé nhau, Đức Giêsu mời gọi chúng ta sống tự khiêm, tự hạ. Nhiều khi chúng ta hiểu sai về khiêm nhường.

–      Khiêm nhường không phải là khinh rẻ bản thân, cũng không phải là thụ động, không dám nhận trách nhiệm, trách nhiệm làm người ở đời và làm con Thiên Chúa.

–      Khiêm nhường lại càng không phải là một mặt nạ để lôi kéo sự chú ý của người khác: tôi hạ mình xuống để được tôn lên.

Abraham là một mẫu gương khiêm nhường.  Ông ý thức mình chỉ là tro bụi (Kn 18,27), nhưng ông đã dám mạnh dạn mặc cả với Đức Chúa về số người công chính, đủ để cứu thành Sôđôma.  Giêrêmia đã từ chối làm ngôn sứ, lấy cớ mình còn trẻ người non dạ (Gr 1,6). Nhưng khi ông dám nhận trách nhiệm Chúa trao, thì ông trở thành khiêm tốn và can đảm.

–      Nhiều người định nghĩa khiêm nhường là chấp nhận sự thật.  Nhưng chấp nhận sự thật là điều khó biết bao, vì sự thật đòi tôi xét lại cách sống.

–      Khiêm nhường là nhận biết thân phận thụ tạo của mình: những gì tôi có và cả con người tôi, đều bởi Chúa.

–      Khiêm nhường là đón nhận đời mình như quà tặng Chúa ban, và dâng lại đời mình cho Chúa như một quà tặng.

–      Khiêm nhường cũng là nhìn nhận sự thật về mình: tôi chưa hoàn hảo, tôi có nhiều giới hạn, tôi cần được tha nhân nâng đỡ, góp ý… Tha nhân ấy không phải chỉ là người trên tôi, mà còn có thể là người kém tôi hay chẳng ưa tôi.

Nơi lời chỉ trích, tôi gặp được khá nhiều sự thật.

Nếu tôi khiêm hạ trước người khác, tôi sẽ thấy được nhiều ưu điểm bất ngờ của họ.  Những ưu điểm này không phải là mối đe dọa cho tôi nhưng là quà tặng làm tôi thêm phong phú.

“Xin cho con biết con, xin cho con biết Chúa.”Càng biết, chúng ta càng khiêm nhường thẳm sâu. Thánh Phanxicô Borgia viết: “Tôi thực tâm muốn đặt mình ở dưới Giuđa, vì tôi đã thấy Đức Giêsu ngồi dưới chân anh ấy.

Nếu chúng ta chọn ngồi ở chỗ cuối, thì chỉ vì đó là chỗ ngồi quen thuộc của Đức Giêsu.

****************************************

Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi nhuận, xin dạy con biết phục vụ âm thầm.

Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt, xin dạy con biết yêu thương tự hiến

Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ, xin dạy con biết cộng tác và đồng trách nhiệm.

Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị, xin dạy con biết coi mọi người như anh em.

Lạy Chúa Ba Ngôi, Ngài là mẫu mực của tình yêu tinh ròng, xin cho các Kitô hữu chúng con trở thành tình yêu cho trái tim khô cằn của thế giới.  Xin dạy chúng con biết yêu như Ngài, biết sống nhờ và sống cho tha nhân, biết quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lãnh.

Lạy Ba Ngôi chí thánh, xin cho chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa ở sâu thẳm lòng chúng con, và trong lòng từng con người bé nhỏ.

Trích từ ‘Manna’

Đức Khiêm Nhường

Đức Khiêm Nhường

Khiêm tốn vẫn được coi là một đức tính tốt ở mỗi người. Điều đó ai cũng hiểu nhưng làm sao để có được đức tính ấy?.

Trên chuyến xe lửa chạy từ ngoại ô vào trung tâm thủ đô Pari. Trong toa xe, có một ông già ngồi bên cạnh một chàng sinh viên trẻ. Khi tàu xe chạy được một đoạn thì ông già từ tốn lấy ra trong túi một chuỗi hạt và chỉ ít phút sau ông đã chìm vào trong sự cầu nguyện. Anh sinh viên liếc nhìn tỏ ra khó chịu. Thời gian trôi đi, anh ta vẫn thấy ông già vẫn im lặng, thành kính, say mê lần hạt. Anh sinh viên khó chịu quá thốt lên: Này ông! Đến bây giờ ông vẫn còn tin vào sự vơ vẩn này ư?
Ông già từ từ nhìn lên và nhè nhẹ gật đầu: Vâng, tôi vẫn tin, nhưng còn anh? Anh sinh viên cười khoái trí và trả lời rằng: hồi nhỏ tôi cũng có tin, nhưng bây giờ làm sao tôi có thể tin được, khi khoa học đã mở mắt cho tôi khám phá ra những chân trời mới và cống hiến cho nhân loại với biết bao nhiêu điều tốt đẹp.
Ông già giơ tay ngắt lời anh sinh viên. Này anh, anh vừa nói là khoa học đã khám phá ra những chân trời mới, vậy anh có thể cho tôi biết chân trời mới ấy là thế nào không?

Anh sinh viên sôi nổi quả quyết: Vâng, nếu ông muốn biết, thì cứ cho tôi biết địa chỉ của ông, tôi sẽ gửi đến cho ông một cuốn sách. Khi đọc xong cuốn sách ấy, ông sẽ tức khắc bỏ những niềm tin vơ vẩn này đi ngay.
Ông già điềm tĩnh lấy ra tấm danh thiếp đưa cho anh sinh viên. Anh sinh viên đọc tấm danh thiếp, thoáng nhìn ông, bỗng ngượng tái mặt lẳng lặng bỏ sang toa khác. Bởi vì trên tấm danh thiếp của ông già chỉ ghi vỏn vẹn có mấy chữ: Louis Pasteur – Viện trưởng Viện Hàn lâm Khoa học Pari.

Mẫu chuyện này có thể mang lại cho chúng ta một triết lý và kinh nghiệm sống. Đồng thời, nó nói lên tính tự mãn của con người khi người ta quá đề cao về thành tụ của khoa học mà thiếu vắng niềm tin nơi Thiên Chúa. Câu ngạn ngữ cổ Hy Lạp viết:“Kiêu căng là đặc quyền của kẻ khờ dại”. Còn trong sách Huấn ca thì dạy rằng: ” Càng làm lớn, con càng phải tự hạ, như thế con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa. Vì quyền năng Đức Chúa thì lớn lao: Người được tôn vinh nơi các kẻ khiêm nhường. Kẻ kiêu ngạo lâm cảnh khốn cùng và vô phương cứu chữa” (Hc 13,18-28).

Nối kết với bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su cũng đưa ra bài học rất thực tế về cách đối nhân xử thế. Ngài dùng dụ ngôn bữa tiệc để khuyên dạy dân chúng cần có thái độ khiêm nhường trong cách quan hệ xã giao. Thái độ này phù hợp với con cái Thiên Chúa trong mọi lãnh vực sinh hoạt. Bởi lẽ, có nhiều kẻ muốn được ngồi trên những hàng ghế vị vọng, muốn được người ta kính trọng, muốn trèo lên những vị trí hàng đầu. Đó cũng là cách thức mà người đời thường đánh giá về nhau qua địa vị, thành tích và ảnh hưởng xã hội về bản thân, họ tự cho mình là quan trọng, là bậc nhất, không ai có thể thay thế được.

Có lẽ, điều Chúa Giê-su nói với dân chúng không chỉ ở cái ghế ngồi, mà đằng sau cái ghế vị vọng đó còn có một ý nghĩa sâu xa hơn, đó là bữa tiệc của Nước Trời. Bữa tiệc mà mọi người được tham dự, thì sẽ không đánh giá qua địa vị và chức tước. Đối với Thiên Chúa, mọi người đều như nhau khi chúng ta ra khỏi đời này về bên Chúa thì sẽ có nhiều điều bất ngờ. Có khi một bà cụ già hiền lành, một kẻ ăn xin vô gia lại được đứng trước những kẻ vị vọng cao sang quyền quý… Điều quan trọng và cần thiết hơn là làm sao chúng ta được bước vào Nước Chúa, thì không còn là địa vị chức tước nữa, mà là thái độ của lòng khiêm nhường để nhận ra chân lý, nhận ra con người đầy khiếm khuyết và tội lỗi của chúng ta, vì Nước Trời không dành cho những kẻ kiêu căng tự phụ. Lời Chúa nói: “Phúc cho ai có lòng khiêm nhường vì Nước Trời là của họ”.

Cho nên, đức khiêm nhường không những được coi là một phẩm đức tốt mà còn là nền tảng của đạo đức, là cả một đạo lý. Với Lão Tử, khiêm tốn được khái quát lên thành cái “Đạo” của con người thông minh, cái đạo không thể thiếu trong xử thế. Lão Tử viết: “Kiêu Ngạo, ham muốn, nộ khí, ý nghĩ lệch lạc quá nhiều, chỉ có hại mà thôi”. Thật vậy, khi sống với người kiêu ngạo tự phụ, chúng ta sẽ thấy kẻ ấy chỉ lo cho bản thân mình, luôn tìm cơ hội để tiến chức, để được tán thưởng của người đời. Họ sợ thất bại, lo lắng sự đời đến chỗ giận dữ thái quá, ghen ghét, hận thù, và tìm cách hạ bệ người khác, cho mình là nhất, là hơn người, đó là một thái độ tự cao, tự đại của kẻ kiêu căng, nó đi ngược lại với đức khiêm nhường. Một thánh nhân đã từng nói: “Kẻ nào giàu có nhân đức mà thiếu đức khiêm tốn thì cũng giống như người cầm nắm cát đứng trước gió”.

Lạy Chúa, xin cho con đủ khiêm tốn để biết nhận ra con người thật của mình một cách chân thành và trung thực, đừng chạy theo sự giã dối và tự lừa dối mình. Xin cho con khiêm tốn đủ để đón nhận những điều tốt đẹp của người khác, cũng như những yếu đuối tội lỗi của mình. Nhất là bỏ đi tính kiêu căng tự phụ để trở nên con người hiền từ và khiêm nhường trước mặt Chúa và anh chị em con. Amen.

 

 

Đoạn kết buồn của một mối tình Ucraina – Việt Nam

Đoạn kết buồn của một mối tình Ucraina – Việt Nam

Tôi và anh quen nhau tại Kiev. Chúng tôi lấy nhau và sinh được hai đứa con tuyệt vời – con trai Andrei và con gái Maia. Lúc đầu, mẹ tôi phản đối kịch liệt quyết định lấy chồng của tôi. Thứ nhất, vì chồng tôi – Hà – là người Việt Nam bán hàng ngoài chợ. Thứ hai, vì anh hơn tôi đến 16 tuổi đời. Nhưng mặc cho những linh cảm của mẹ, chúng tôi đã cùng chung sống với nhau suốt 8 năm trời hòa hợp và hạnh phúc. Hầu như chúng tôi chưa bao giờ có những bất đồng lớn. Chồng tôi rất yêu lũ trẻ và sẵn sàng giúp tôi làm mọi việc trong nhà, từ nấu nướng đến dọn dẹp nhà cửa. Cuộc sống tưởng đâu cứ mãi như vậy. Cho đến một ngày, Hà nhận được tin bố ốm nặng, có thể không qua khỏi. Anh lập tức bay về Việt Nam. Một thời gian sau, anh gọi điện sang và bảo mẹ con tôi sang Việt Nam với anh. Thực tâm tôi không muốn đi cho lắm, vì đường xa mà hai con còn nhỏ – con trai tôi sáu tuổi, còn con gái mới có một năm bốn tháng. Nhưng Hà động viên tôi rất nhiều và nói chỉ ở Việt Nam vài tháng là cùng. Chủ yếu là anh muốn giới thiệu mẹ con tôi với gia đình, họ hàng bên nội. Thế là tôi quyết định lên đường, mang theo hai con mà lòng không hề nghĩ có những gì đang chờ đợi mình ở phía trước.

Ấn tượng về làng quê Việt Nam
Mẹ con tôi sang Việt Nam khi bố chồng tôi đã mồ yên mả đẹp. Ngày đầu ở nhà chồng, chúng tôi đã đưa hai con đi thăm mộ ông nội. Nghĩa địa nằm ngay gần nhà, nhưng thực sự mà nói, nó khác xa với hình ảnh quen thuộc của những nghĩa trang ở Ucraina. Người Việt Nam có một phong tục rất đặc biệt: ba năm sau khi chôn cất người quá cố, họ lại đào lên, lấy xương mang đi chôn lại(!) Lần thứ hai này mới là lần chôn cất vĩnh viễn.
Quê chồng tôi là một ngôi làng gồm khoảng 400 nóc nhà, nằm không xa thủ đô Hà Nội. Tuy nhiên, ở đó không hề có đường ống khí đốt. Mọi người chủ yếu nấu thức ăn bằng bếp rạ. Chỉ có một số gia đình khá giả mới dám nấu ăn bằng bình gas, vì đó là một điều xa xỉ đối với những người nông dân. Dân làng nghèo đến nỗi, khi ai đó mua sắm bất kỳ vật gì cũng đều trở thành sự kiện của cả làng. Làng mạc ở Việt Nam cũng có nhiều điểm giống với làng quê ở Ucraina, chỉ có điều đường xá không trải nhựa, mà đổ bằng bê tông. Có lẽ bê tông chịu nóng tốt hơn so với nhựa đường. Xung quanh mỗi ngôi nhà đều có rãnh thoát nước. Lúc đầu, tôi không hiểu tại sao phải làm như vậy. Sau đó, tôi đã hiểu – vì vào mùa mưa, dù có rãnh thoát nước nhưng nhiều lúc vẫn phải lội nước đến tận đầu gối! Khó chịu nhất là áo quần giặt xong phơi cả tuần cũng chẳng chịu khô cho.

Món bánh xoài
Ngày thứ hai ở nhà chồng, Hà đột ngột tuyên bố rằng chúng tôi sẽ ở lại Việt Nam vĩnh viễn. Hành động của anh làm tôi hết sức ngỡ ngàng, vì anh đã tự quyết định mà không hề bàn với tôi lấy một tiếng. Tôi không thể ngờ rằng người chồng đã từng chung sống suốt tám năm trời lại có thể xử sự với tôi như vậy! Ở Việt Nam, anh đã trở thành một con người khác hẳn: anh hầu như không âu yếm, chuyện trò với tôi bao giờ, và thường tự quyết định mọi việc, kể cả những việc có liên quan trực tiếp đến tôi và các con.
Dù rất buồn trước sự thay đổi của Hà, nhưng trong một giai đoạn nào đó, tôi đã buộc mình phải chấp nhận điều đó… Vì dù không muốn, tôi cũng chẳng có con đường nào khác, tiền quay về cũng không có luôn. Nhưng dù sao, trong thâm tâm tôi vẫn luôn hy vọng sẽ thuyết phục được chồng cho mẹ con tôi trở lại Ucraina.
Thật ra, không thể nói là mọi người đối xử không tốt với tôi, nhưng có quá nhiều khác biệt trong cách sống của người Việt Nam và người Ucraina. Chẳng hạn, tôi không thể hiểu tại sao người Việt Nam có thể sống được mà không cần đến các sản phẩm sữa? Bò ở Việt Nam nuôi chỉ để lấy thịt, vì vậy thậm chí mọi người chẳng hề có khái niệm về bơ, sữa hay phó mát gì cả. Con gái Maia của tôi vẫn quen ăn cháo sữa, vì vậy tôi đã phải mua sữa đặc có đường, có lúc cả sữa đậu nành, để nấu cháo cho con. Mẹ chồng tôi không thể hiểu nổi khi thấy tôi cho sữa vào cháo. Có lẽ đối với họ, đó là một món ăn hổ lốn đáng sợ?!
Còn với tôi, có lẽ đáng sợ nhất là nhà trẻ ở quê chồng. Lịch làm việc ở đó đã rất đặc biệt: sáng 5 giờ đưa trẻ con đến (trước khi đến phải cho ăn sáng ở nhà), đến 10 giờ phải đón về cho ngủ trưa ở nhà! Các lớp được phân chia không theo lứa tuổi, mà theo nguyên tắc “ai đăng ký trước vào trước”. Vì vậy trong một lớp có thể có cả trẻ sơ sinh mới mấy tháng trời, cùng những cháu đã 5-6 tuổi. Cửa sổ các phòng không đóng bao giờ, cánh cửa ra vào cũng không có luôn. Trẻ nhỏ nằm trên chiếu trải dưới nền nhà, còn lũ lớn hơn thì chạy lăng quăng xung quanh. Nói chung, có người trông hộ trẻ con để bố mẹ đi làm đồng là tốt lắm rồi!
Thời gian đầu, mọi người định dạy tôi làm ruộng, nhưng tôi phải thú thật là chẳng hề có khái niệm gì về công việc đó cả. Tôi cũng đã từng cùng mọi người trong gia đình nhà chồng lội ruộng cấy lúa, nhưng đến khi biết rằng dưới làn nước bùn đỏ quạch đó còn có cả những con rắn nữa, thì tôi phát hoảng. Mọi người thông cảm, không bắt tôi lội ruộng nữa, mà bảo tôi học sử dụng máy tuốt lúa. Nhưng tôi làm chẳng ra hồn, khiến cho mọi người phát chán. Nhiều người trong gia đình, họ hàng nhà chồng tôi tỏ rõ vẻ thất vọng vì sự lóng ngóng trong công việc đồng áng của tôi.
Bù lại thì sự hiện diện của tôi cũng phần nào làm phong phú thêm đời sống dân làng. Nhất là trong công việc bếp núc. Người Việt Nam chỉ quen ăn khoai tây nấu canh, vì vậy, mọi người rất ngạc nhiên trước món khoai tây nghiền do tôi làm ra, khi nếm thử ai cũng khen ngon. Món bánh xèo truyền thống của người Ucraina cũng được đón nhận nhiệt tình (mọi người gọi đó là món bánh mì ngọt). Tôi đã dạy cho mọi người làm một số món ăn như món bít tết và thịt băm viên. Món bánh xèo nhân xoài do tôi “sáng tạo” ra thật sự ngon miệng và hợp khẩu vị nên ai cũng thích.

Ước muốn trở về
Hà tìm được việc làm ở Hà Nội. Anh bỗng dưng sinh ra nghiện cờ bạc, bao nhiêu tiền làm ra đều nướng hết vào trò chơi đỏ đen. Hồi ở Ucraina, tôi chưa bao giờ thấy anh như vậy. Mẹ chồng tôi không biết về điều này, nên sinh ra nghi ngờ tôi giữ hết tiền lương của anh. Từ sự nghi ngờ đó, bà bắt đầu soi mói tôi từng ly từng tý – từ việc tôi mua gói băng vệ sinh, cho đến cái kẹo cho trẻ con, đều bị bà để ý và cự nự vì tốn tiền vô ích. Càng ngày, cuộc sống càng trở nên tồi tệ đến mức ngột ngạt.
Con trai của tôi dù mới 6 tuổi đầu nhưng đã phần nào hiểu được những gì đang diễn ra xung quanh, có lần nó bảo mẹ dành tiền để về Ucraina. Tôi chỉ còn biết thở dài thương con, vì vé máy bay quay về cho ba mẹ con ít nhất cũng phải hai nghìn đô la, trong khi trong tay tôi không có nổi lấy một trăm! Andrei hứa sẽ giúp tôi kiếm tiền. Những ngày sau đó, con trai tôi đã tự động làm mọi cách, từ câu cá, hái quả mang đi bán, cho đến thu nhặt vỏ chai… để mong kiếm được chút tiền đưa về cho mẹ.
Tôi không có đủ can đảm để tâm sự thật hoàn cảnh của mình với mẹ tôi. Nhưng có một lần, khi đã không thể chịu nổi, tôi viết một bức thư cho bạn gái ở Ucraina, và cô bạn Tania đã kể lại mọi việc cho mẹ tôi. Người nhà và bạn bè tôi bắt đầu tìm mọi biện pháp để giúp mẹ con tôi trở về, thậm chí đã nhờ Bộ Ngoại giao can thiệp qua Đại sứ quán Việt Nam ở Kiev.
Vào một ngày, có một người công an đến nhà và nói có thông tin cần kiểm tra. Tất nhiên, anh ta không nói được tiếng Nga, còn tôi thì chưa đủ vốn tiếng Việt để giải thích cặn kẽ mọi việc. Chồng tôi đã lợi dụng ngay tình thế đó để nói tất cả những gì có lợi cho bản thân anh ta.
Một lần, tôi đã quyết định bỏ trốn. Mang theo hai con cùng một số quần áo, tôi bỏ chạy khỏi nhà mà chẳng biết sẽ đi đâu. Cuối cùng thì chồng tôi đuổi kịp và đưa ba mẹ con lên xe tắc xi. Đến trung tâm Hà Nội, anh ta cho mẹ con tôi xuống xe và bảo: đấy, muốn đi đâu thì cứ đi! Giữa lúc bơ vơ, tôi gặp một người đàn ông tốt bụng, sau khi hỏi han tình cảnh, biết tôi là người Ucraina (người dân Việt Nam rất quý những người từ các nước thuộc Liên Xô cũ), đã cho ba mẹ con tôi ăn và đưa đến đồn công an trình báo. Chồng tôi buộc phải đến đón chúng tôi về, kèm theo lời cảnh cáo của chính quyền: sẽ không để yên, nếu còn xảy ra sự việc tương tự. Sau lần đó, Hà không chỉ lạnh nhạt với tôi, mà cả với các con cũng vậy. Có lúc, cả nhà ăn cơm mà chẳng gọi mẹ con tôi.. Một người chị em của chồng tôi thấy vậy, thương chúng tôi nên đã mang đồ ăn đến cho chúng tôi ăn.
Cuối cùng thì dịp may cũng đến. Ông trưởng phòng lãnh sự Đại sứ quán Ucraina tại Việt Nam đã đến tận nhà thăm mẹ con tôi. Được dịp, tôi đã kể hết với ông về tình cảnh của mình, kể cả việc bị đay nghiến vì mua một tuýp thuốc đánh răng mới, cả việc mẹ chồng tôi giấu kỹ bột giặt, chỉ cấp cho tôi mỗi lần một thìa con! Đến giờ, tôi đã quên mất họ tên của ông, nhưng luôn nghĩ đến ông với lòng kính trọng và biết ơn đặc biệt, vì ông đã quan tâm rất nhiều đến chúng tôi. Ông nói, Đại sứ quán hiện không có tiền để giúp mẹ con tôi, nhưng hứa sẽ giúp đỡ bằng mọi cách. Lần sau đến, ông mang cho chúng tôi rất nhiều thứ, từ bột giặt cho tôi, chiếc xe đạp cho con trai tôi, đến các loại đồ chơi, bánh kẹo, nước ngọt… Thậm chí ông còn cho tôi tiền nữa. Chỉ có điều, sau khi ông về, tôi lại cảm thấy cay đắng hơn bao giờ hết – tôi không phải là một đứa ăn mày, vậy mà đã phải ngửa tay nhận của một người không quen biết từ gói bột giặt trở đi…
Cuộc trở về của Maia
Ông trưởng phòng lãnh sự đã tổ chức một chiến dịch vận động quyên góp tiền trong cộng đồng người Ucraina đang có mặt ở Việt Nam để giúp đỡ ba mẹ con chúng tôi. Ở Kiev, gia đình tôi cũng tìm mọi cách để dồn tiền để gửi sang cho tôi. Cuối cùng, nhờ sự giúp đỡ của mọi người, chúng tôi đã có đủ tiền để mua vé máy bay về Ucraina.
Gia đình chồng tôi tỏ ra khá hờ hững với việc mẹ con chúng tôi quay về. Có thể, họ thậm chí đã vui mừng vì thoát được một cô con dâu vô dụng như tôi. Tôi đã trở về Ucraina sau 11 tháng trời sống ở Việt Nam như vậy đó.
Tôi và con trai Andrei bay về Kiev, còn con gái Maia phải để lại cho chồng nuôi theo quyết định của tòa. Điều đó làm cho tôi day dứt khôn nguôi. Thậm chí, tôi không biết có khi nào được gặp lại con gái bé bỏng của mình không nữa…
Sự dằn vặt đeo đuổi tôi suốt ba năm trời. Tôi biết, gia đình chồng tôi sẽ không ngược đãi cháu, nhưng dù sao con sống xa mẹ cũng là một điều bất hạnh.
Một lần, Hà gọi điện cho tôi. Anh ta báo tin sắp cưới vợ mới, và vợ sắp cưới của anh ta đang mang thai. Anh ta nói cho phép tôi đón Maia về, nhưng với một điều kiện: phải đưa cho anh ta 3 nghìn đô la! Mặc dù đã từ lâu tôi không còn chút tình cảm nào đối với người đàn ông này nữa, nhưng vẫn hết sức bất ngờ, vì không bao giờ nghĩ anh ta có thể trở nên ích kỷ đến như vậy.
Thế là tôi lại phải đi xin tiền khắp họ hàng, bạn bè một lần nữa. Mỗi người cho tôi từng nào có thể cho được, nhưng gia đình tôi thuộc dạng nhà nghèo, nên cũng chẳng có người quen nào giàu có cả. Kết quả là tôi chỉ có đủ tiền để mua vé máy bay đi và về. Tuy nhiên, tôi không hề tiết lộ với Hà điều này, mà vẫn hứa là sẽ nộp đủ 3 nghìn đô la như anh ta đòi hỏi.
…Khi tôi vừa bước vào nhà, mẹ chồng tôi gần như đổ gục xuống chân tôi mà xin lỗi. Nước mắt bà chảy lã chã trên khuôn mặt già nua. Sau khi tôi rời Việt Nam, bà đã hiểu ra rằng người có lỗi không phải là tôi, mà là Hà. Người con dâu mới không giúp gì được mẹ chồng, thậm chí bà còn phải san xẻ cả số tiền lương hưu ít ỏi của mình cho con trai và con dâu. Mọi việc trong nhà bà vẫn phải tự mình làm hết, mặc dù đã gần 90 tuổi. Mẹ chồng tôi hiểu rằng giữa chúng tôi và bà chỉ có những khác biệt về văn hóa. Giá như không có sự thay đổi của chồng tôi, biết đâu tôi và bà đã trở thành những người thân thật sự trong cùng một nhà, như trong những gia đình bình thường khác?
Hà, chồng tôi, tất nhiên chỉ quan tâm đến tiền. Tôi buộc phải nói dối rằng không tin tưởng vào sự trung thực của anh ta, nên sẽ chỉ giao tiền ở sân bay, khi đã chắc chắn một trăm phần trăm là con gái tôi sẽ cùng tôi quay về Ucraina.
Đến ngày lên đường. Trong xe tắc xi ra sân bay, chồng tôi lại hỏi tiền. Tôi lại hứa sẽ đưa tiền cho anh ta khi tới sân bay. Đến khi hai mẹ con tôi đã vào trong vùng kiểm soát an ninh, Hà còn gọi với theo: “Lena, thế tiền đâu?” Tôi quay lại và… vẫy tay chào từ biệt!
Bây giờ tôi đã thực sự hạnh phúc bên hai đứa con mình. Andrei rất ham bóng đá. Còn Maia đã quen với nhà trẻ mới và dần dần học lại tiếng mẹ đẻ. Chẳng mấy người biết rằng tôi đã từng trải qua một cuộc hôn nhân đặc biệt như vậy.

Elena Elovikova

Chiếc nhẫn cưới

Chiếc nhẫn cưới

ngulãonhân

Cần Thơ – Cô Lệ là hoa khôi của Trường Trung học Russey Keo, tại Phnom Penh, thủ đô của đất nước Chùa Tháp. Một lần đi học về, cô đang chạy chiếc velo solex đổ dốc trên cầu Chroy Changvar (bây giờ là cầu hữu nghị Miên Nhật), thì xe của cô bị nổ lốp. Cùng lúc ấy, phải tránh một chiếc xe ben chạy ngược chiều, cô không làm chủ được tay lái, đụng thẳng vào sau lưng một người thanh niên đi bộ. Anh chàng ngã sấp mặt xuống đất, còn cô chỉ thấy một cú va chạm mạnh, đầu óc choáng váng, trời đất tối sầm lại. Cô không biết gì nữa… Lúc tỉnh lại, cô biết mình đang nằm trong nhà thương. Chăm sóc cô là một anh chàng lạ hoắc. Hỏi thăm mãi, cô mới biết đó chính là người cô đụng phải trên dốc cầu Chroy Changvar.

Họ quen trong hoàn cảnh éo le như vậy. Rồi họ yêu nhau. Cả hai người đều gốc gác ở Cù Lao Giêng, đều là bổn đạo gốc. Cuối năm ấy, họ trao ban bí tích hôn nhân cho nhau tại nhà thờ Russey Keo. Chỉ một năm sau nữa, họ có đứa con trai đầu lòng.

Người chồng cô Lệ là một ngư phủ, đầm đậm người, có nước da bánh mật, tay chân cuồn cuộn những đường gân và bắp thịt. Thân hình anh rắn chắc, đẹp đến nỗi nhìn anh cởi trần kéo lưới cùng đám dân chài, người ta thường nghĩ ngay đến pho tượng David của Michel Ange. Anh cùng đám vạn chài ngược xuôi, ngang dọc, rong ruổi đuổi theo những đàn cá nhiều không kể xiết, trên khắp biển hồ Tonlê Sap. Anh đã từng uống nước thốt nốt lên men tự nhiên đến say ngất ngưởng ở Kampong Thom, đi săn hươu, nai, heo rừng, đến cả voi, cọp với đám thợ săn người bản địa mãi trên Siem Reap, lang thang suốt ngày dưới bóng râm tĩnh lặng nơi đền Angkor Thom, Angkor Wat, ngồi hàng giờ trong những quán bar ngắm nhìn những cô gái người Khmer tóc đen môi đỏ ở Kampong Chhnang… Niềm đam mê của anh là chiếc tàu đánh cá 100 mã lực, được trang bị tân tiến nhất lúc bấy giờ. Nó làm anh tự hào. Nhưng anh còn tự hào hơn về người vợ đẹp người, đẹp nết, hết lòng thương yêu anh, và nhất là về thằng Duyên, đứa con trai của anh, bây giờ đã hơn hai tuổi, tóc hoe vàng, đôi mắt trong vắt như pha lê, long lanh như ánh sao đêm. Anh đặt tên con là Nguyễn Vũ Lương Duyên vừa để nhắc nhớ đến mối tình đối với anh, là đẹp nhất trần gian của hai vợ chồng anh, vừa để tạ Ơn Trên đã ban cho họ mối duyên lành. Mỗi lần thằng bé gọi anh: “Ba! Ba!…” rồi ôm chầm lấy anh, đưa tay xoa xoa hàm râu lởm chởm của anh là anh quên hết mệt nhọc sau một chuyến đánh cá lâu ngày. Khi nó khanh khách cười, tiếng cười của nó như một cơn gió mát lau khô hết mồ hôi trên người anh. Nó có đôi mắt rất giống mẹ, ấy thế mà ai cũng bảo nó giống ông nội nó như hai giọt nước, làm lòng anh rộn rã niềm vui. Nhưng vui nhất, phải là những ngày Chúa Nhật, anh chở vợ con đi nhà thờ, bằng chiếc xe Honda SS 50 cc đời 67, đen bóng, sang trọng, thanh lịch không tả nổi, anh mua bằng giá cả chục lượng vàng.

Anh bằng lòng, thậm chí hài lòng với cuộc sống. Với anh, thế là đủ, quá đủ… Nhưng rồi chiến tranh lan rộng, tràn tới như một cơn bão tàn phá hết mọi thứ. Cũng như mọi người, anh chỉ như một chiếc lá nhỏ nhoi bị cuốn đi, nhấn chìm trong cơn bão lửa. Rồi Lon Nol, Sirick Matak làm đảo chính khi quốc trưởng Norodom Shihanouk đang công cán nước ngoài. Rồi nạn cáp Duồn. Cô Lệ không sao quên được cái đêm kinh hoàng, khủng khiếp ấy. Giữa đêm, họ phá cửa vào nhà, cướp sạch, phá sạch, đốt sạch…, lôi cổ anh đi. Cô bế con lén chạy theo. Họ bắt những người dân vô tội, không một tấc sắt trong tay, lùa đến một bãi cỏ ở một cánh rừng ven sông. Dưới ánh đèn manchon vàng vọt, cô tìm thấy anh. Thằng bé Duyên thét lên: “Ba! Ba!…”. Anh buột miệng: “Con”. Chỉ có thế cũng đủ tố cáo anh là người Việt, là Duồn. Anh nhận bản án tử hình. Bản án được thi hành ngay tức khắc. Tên lính Miên gầy như một bộ xương khô, cặp môi đỏ tái như hai miếng thịt trâu ôi, hàm răng trắng ởn, da đen như quỷ hỏa ngục, lấy hết sức mình dùng cái cuốc nhà binh có in trên cán hàng chữ Made in USA, bổ thẳng xuống, lưỡi cuốc ngập vào đầu anh. Anh chỉ kịp kêu lên một tiếng “Giêsu” rồi đổ xuống, máu phun ra như vòi nước máy. Cô Lệ không sao quên được cảnh tượng chồng mình giãy giụa trong vũng máu. Cả khi anh coi như đã chết rồi, mười ngón tay vẫn còn cựa quậy theo một phản xạ tự nhiên của cơ thể, như cầu cứu, như thay lời nói vĩnh biệt cô… Cô như người mất trí, nhưng rồi cô nghe thấy tiếng máy bay trực thăng phành phạch trên đầu, cùng với tiếng súng nổ như bắp rang từ phía bờ sông. Bọn lính Miên dáo dác rồi bỏ chạy. Đám dân vô tội được cứu sống. Cô thoát chết, nhưng cô đã bỏ lại căn nhà cháy, bỏ lại xác người chồng không được chôn cất, bỏ lại tất cả. Trong một đêm, cô mất hết, không còn bất kỳ một chút của cải nào, ngoài bộ quần áo trên người, một chiếc nhẫn cưới 5 phân vàng 18 carat, một đứa con thơ và một cõi lòng tan nát. Lúc ấy là đầu năm 1970. Sau đó, cô trải qua hết trại tỵ nạn này tới trại tỵ nạn khác, hầu hết là ở các trường Tiểu học Cộng đồng và những túp lều dã chiến bằng vải bạt dựng lên sơ sài ở các sân vận động. Cuối năm, cô là một trong những người của 170 gia đình Công giáo Việt kiều Campuchea hồi hương, được chính quyền lúc bấy giờ do bác sĩ Phan Quang Đán khi đó là Quốc Vụ Khanh đặc trách khẩn hoang, lập ấp đưa đến địa bàn ấp Mỹ Thạnh, xã Mỹ Xuân định cư. Cha Gioan Baotixita Nguyễn Văn Đạo, cũng là Việt kiều hồi hương, gốc giáo phận Phnôm Penh, được lệnh Tòa Khâm Sứ đến đây, thành lập giáo xứ Thanh Phong (bây giờ thuộc giáo phận Bà Rịa).

Mỗi gia đình trong giáo xứ được chia cho một nền nhà 5 x 25 m. Sau cơn hoạn nạn, người ta sống hết lòng với nhau. Mỗi người một tay, họ giúp đỡ nhau, chặt cây rừng, cắt cỏ tranh, dựng những mái nhà tạm bợ nhưng ở được. Lúc đầu, nhờ có cứu trợ, rồi nhờ trồng khoai sắn, họ sống được qua ngày. Cuộc sống, đã có muôn vàn khó khăn thì đến biến cố 30/4, càng khó khăn hơn. Cô Lệ dắt con đi bán vé số, mua ve chai lông vịt, đi cưa củi, vác cây búa 6 kg cùng đám thanh niên đi đập bê tông lấy sắt vụn đem bán… Tất cả đều vượt quá sức lực, quá khả năng chịu đựng của một người phụ nữ chân yếu tay mềm. Cô phải “ăn bữa trưa, lo bữa tối”, phải “vắt mũi bỏ miệng”, những hai cái miệng.

Cô bị cái chết của chồng ám ảnh. Chẳng mấy đêm cô không mơ thấy anh. Chẳng trong giấc mơ nào mà anh không nhìn cô với đôi mắt buồn buồn, nhưng chan chứa yêu thương. Cô biết rằng cùng với cái chết kinh hoàng của chồng, trái tim cô cũng đã chết. Cô không thể yêu được bất cứ một người đàn ông nào nữa… Nhưng cuộc vật lộn với miếng cơm manh áo làm cô kiệt sức. Đã có lúc, cô nghĩ: “Nói cho cùng, muốn hay không thì mình cũng chỉ là một con người, một người đàn bà. Mà người đàn bà nào không cần có một bờ vai để tựa đầu, một vòng tay để chia sẻ buồn vui?! Cũng lại nói cho cùng, thử hỏi có tâm hồn nào không cần đến một tâm hồn, có trái tim nào không kêu gọi và đáp trả một trái tim? Người chết đã chết, đành phận người chết; người sống vẫn phải sống”. Khi ấy, cô đã yếu lòng, toan đầu hàng số phận, nghĩ tới chuyện đi bước nữa. Nhưng những giấc cô mơ, với cái nhìn buồn buồn nhưng chan chứa yêu thương của chồng, cùng với lời kinh cầu hàng đêm, với chiếc nhẫn cưới trên tay, và với Ơn Chúa, cô đã trụ được. Mấy mươi năm trời, cô ở vậy, “thờ chồng nuôi con”. Thờ chồng, đó không những là nén hương thơm thắp lên từng buổi tối, những lời kinh sớm chiều, những thương nhớ khôn nguôi, mà còn là một tấm lòng trung trinh son sắt… Nuôi con, không chỉ là thắt lưng buộc bụng cho ăn cho mặc, cho học cho hành, mà còn dạy dỗ nên người, lại là người Kitô. Cô những hy vọng thằng con của cô sẽ là chiếc gối êm ái cho cô kê lưng dựa đầu khi tuổi đời xế bóng. Nhưng không ngờ (ai ngờ được Ý Chúa?!), sau khi tốt nghiệp cao đẳng, thằng Duyên dự thi, rồi được Bề Trên tuyển chọn vào Đại Chủng Viện. Tám năm sau, thầy Duyên thụ phong linh mục.

“Năm ngắn, ngày dài”. Một ngày lam lũ, vất vả trôi đi dài lê thê, nhưng ngó đi, chưa kịp ngó lại đã hết một năm, rồi nhiều năm, rồi một đời người. Cô hoa khôi của Trường Trung học Russey Keo ngày xưa, nay đã già, đã:

“Gánh đời mẹ nặng oằn vai,

Tháng năm bạc tóc, run tay, lưng còng”.

Bà Lệ đã là bà cố. Ngày con trai mình về quê dâng Thánh Lễ Tạ Ơn, bà run run xỏ vào ngón tay út của cha Duyên chiếc nhẫn cưới của bà (phải xỏ vào ngón tay út vì chiếc nhẫn chật quá). Bà nói phều phào qua hàm răng rụng quá nửa:

-Quà của cha con. Mẹ chẳng có gì đáng giá tặng cho tân linh mục của mẹ…

Cha Duyên ôm chầm bà cố:

-Mẹ ơi! Mẹ đã cho con cả cuộc đời rồi còn gì?!

Người ta thấy cả bà cố Lệ và cha Duyên cùng rưng rưng nước mắt.

ngulãonhân

Anh Nguyễn v Thập gởi

NGOẠI ÐẠO

NGOẠI ÐẠO

Lm Nguyễn Tầm Thường SJ

nguồn: Đài phát Thanh Chân Lý Á Châu

Lạy Chúa, con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự trên cao.

Là người ngoại đạo sao lại tin có Chúa ngự trên cao? Ðã tin Chúa ngự trên cao là có đạo rồi. Nếu tin Chúa ngự trên cao mà vẫn ngoại đạo chỉ có nghĩa là có đạo mà không vào đạo thôi.

Nhiều người có đạo nhưng không vào đạo. Cũng như nhiều người vào đạo nhưng không có đạo. Thơ Nguyên Sa bảo rằng nắng Saigon tôi đi mà chợt mát vì em mặc áo lụa Hà Ðông. Cũng nắng Saigon tôi đi, nhưng sẽ chẳng chợt mát khi lòng tôi không có áo-lụa-em bay. Áo lụa cũng phơi bên sân hiền nhà ai. Dưới ngõ trúc cũng là áo lụa ai đi về. Cũng là áo lụa đó, nhưng vẫn là khác. Phải là áo-lụa-em bay lòng anh mới chợt mát.

Như thế, xem ra, cái gần gũi không gian có là gần mà vẫn là xa. Cái lòng mình chợt mát phải là cái gì thiêng liêng hơn, nó ở trong hồn ta chứ không ở ngoài ta. Nếu nó ở ngoài ta thì bất cứ áo lụa nào lòng tôi cũng chợt mát, bất cứ nắng nào cũng được chứ không phải nắng Saigon. Cái nắng Saigon, con đường Duy Tân lá đổ, hàng me già công viên, tự nó chỉ là me, là nắng, là lá đổ mà thôi cho những ai đi giữa Saigon mà không có Saigon với áo-lụa-em trong hồn mình. Còn ai có áo-lụa-em thì nắng là chợt mát, lá đổ là muôn chiều dư âm. Ðạo cũng thế, chỉ khi nào đạo ở trong tôi mới là có đạo, mới là “chợt mát”, là ơn cứu độ.

Thủa xưa cũng đã có một chuyện tình. Ngày đó, sau khi phạm tội, Ađam cùng Evà đi “trong địa đàng” nhưng vẫn là rũ úa giữa địa đàng. Như thế, “tôi ở trong địa đàng” vẫn là thống khổ, chỉ khi “địa đàng ở trong tôi”, lúc đó tôi mới “có địa đàng”, bấy giờ mới là gió lụa, mới là nắng hoa, mới là lòng mình chợt mát.

Nói về có đạovào đạo thì Phúc Âm có nhiều biến cố tường thuật về những người ngoại đạo nhưng lòng họ thì lại có đạo.

Một người ngoại đạo

Kết thúc cuộc đời rao giảng của Chúa là khúc đường vác thập giá lên Núi Sọ. Nếu Chúa vác không nổi mà chết trên đường đi thì hành trình cứu chuộc có dang dở không? Ðó là câu hỏi giả sử mà thôi. Thực tế, hành trình cứu chuộc đã không dang dở. Chúa đã không kiệt sức mà chết trên đường đi vì đã có người vác đỡ. Kẻ vác đỡ thánh giá là ông Simon, người xứ Kyrênê, ông là một người ngoại giáo (Lc. 23:26).

Một người ngoại giáo nữa

Trong quãng đời mục vụ của Chúa, Tin Mừng thánh Matthêu có kể câu chuyện đức tin của một người như thế này:

Khi Ngài vào Carphanaum, thì một viên bách quản đến gặp Ngài, van xin: “Thưa Ngài, tên hầu của tôi nằm liệt bất toại ở nhà, phải đau đớn dữ dằn.” Ngài nói: “Ta phải đến chữa nó?” Viên bách quản thưa lại: “Thưa Ngài, tôi không đáng được Ngài vào mái nhà tôi. Song Ngài hãy phán một lời mà thôi, thì tên hầu tôi sẽ khỏi, vì tôi đây tuy là thuộc hạ, thế mà có lính tráng dưới quyền tôi, tôi bảo người này: “Ði đi!” là nó đi; và bảo người khác: “Ðến!” là nó đến; tôi bảo tôi tớ của tôi: “Làm cái này” là nó làm”. Nghe vậy Ðức Kitô ngạc nhiên và nói với các kẻ theo Ngài: “Quả thật, Ta bảo các ngươi, ta chưa hề gặp được lòng tin lớn như thế nơi một người nào trong Israel” (Mt. 8:5-10).

Lại một người ngoại giáo nữa

Câu chuyện trên là chứng nhân của niềm tin. Câu chuyện dưới đây nói về tâm tình biết ơn, cũng lại là một người ngoài.

Nhằm lúc Ngài vào một làng kia, thì mười người phung hủi đón gặp Ngài. Ðứng đàng xa, họ gióng tiếng lên mà rằng: “Lạy Thầy Yêsu, xin thương xót chúng tôi!” Thấy vậy, Ngài bảo họ: “Hãy đi trình diện với hàng tư tế.” Và xẩy ra là trong lúc họ đi, thì họ đã được sạch. Một người trong bọn thấy mình được lành thì quay lại lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa, và sấp mặt dưới chân Ngài mà tạ ơn. Người ấy là một người Samari. Ðức Yêsu cất tiếng nói: “Không phải là cả mười người được sạch cả sao? Chín người kia đâu? Không thấy họ quay lại mà chúc vinh Thiên Chúa, trừ có người ngoại bang này?” (Lc. 17:11-18).

Rồi lại một người nữa ngoại giáo

Thánh Luca thuật lại câu chuyện như sau: “Một người ở thành Yêrusalem xuống Jêrico, giữa đường bị kẻ cướp bóc lột hết và đánh nhừ tử, đoạn chúng bỏ người ấy nửa sống nửa chết mà đi. Tình cờ một trưởng tế đi qua đấy, ông thấy người ấy song tránh một bên mà đi. Lại có một thầy Lêvi cũng qua lối ấy, thầy thấy người ấy song cũng tránh một bên mà đi. Một người Samari nọ, nhân đi đường, cũng đến nơi ấy, thấy thế thì chạnh lòng thương, tiến lại đổ dầu và rượu, ràng buộc thương tích người ấy, đoạn vực người ấy lên lừa của mình mà đưa đến quán trọ, và săn sóc người ấy (Lc. 10:29-37).

Thầy tư tế và Lêvi chẳng những là người trong đạo mà còn hơn nữa, họ là kẻ giảng về đạo. Họ ở trong đạo nhưng lại không có đạo. Kẻ sống đạo lại là người ngoại đạo.

Rồi những người ngoại giáo nữa

Vào đêm Chúa sinh ra, trên bầu trời Belem năm ấy có một vì sao lạ. Cả triều đình và bao nhiêu pho Kinh Thánh, với những kinh sư chuyên môn cắt nghĩa ngôn sứ, mà họ chẳng biết gì, họ phải đợi cho tới khi những kẻ ngoại giáo từ phương xa tới hỏi: Ðấng Cứu Thế đã sinh ra ở đâu? (Mt. 2:1-12). Trên bầu trời Belem năm ấy, vâng: Con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên cao.

* * *

Lạy Chúa,

Nói về niềm tin thì các môn đệ khẳng định Thầy đâu có sống lại (Mc. 16:11, Yn. 20:25). Trong khi người có niềm tin mà tìm hết dòng dõi nhà Israel cũng không thấy lại là một người bên ngoài.

Kẻ vác đỡ thánh giá cho Chúa trên những bước chân xiêu té cuối đời cũng lại là người ngoại.

Nói về lòng biết ơn thì ít quá. Trong cái ít ỏi ấy lại cũng là một người bên ngoài.

Nói về lòng bác ái thương người thì cũng không phải là tư tế hay các vị chức sắc trong đạo mà lại là người Samari, một kẻ ngoại giáo.

Băn khoăn một chút thế nào là “người bên ngoài”, thế nào là “người bên trong”, thế nào là “ngoại đạo” và “có đạo”, con thấy một lần Chúa nói: “Ta bảo các ngươi, nhiều kẻ tự phương Ðông, phương Tây mà đến và được dự tiệc với Abraham, Isaac và Yacob trong Nước Trời, còn chính con dân trong Nước lại sẽ bị đuổi ra bên ngoài tối tăm” (Mt. 8:11-12).

Con không muốn là con dân trong Nước nhưng bị loại ra ngoài. Làm kẻ từ mười phương mà được Nước Trời thì vẫn tốt hơn. Nếu thế thì con phải hiểu ÐẠO là gì. Con phải băn khoăn thế nào là “vào đạo” và thế nào là “có đạo”. Trời chiều nay rộng quá, mênh mông như ÐẠO không bến bờ. ÐẠO mênh mông lắm, làm sao con có thể đem ÐẠO vào một định nghĩa chật hẹp được. Làm sao con có thể nhốt ÐẠO vào nhà thờ, vẽ chân dung ÐẠO bằng tờ giấy rửa tội. Ðã nhiều lần con loại bỏ những ai không cùng tôn giáo với con là người “ngoại đạo”.

Bỏ cái chật hẹp của lòng mình, con thấy ý nghĩa lời kinh kia quá đỗi thênh thang. Nếu những giải mây ngang đời trôi về vùng trời bao la không biết đâu là bờ bến thì ý nghĩa của lời kinh ấy cũng mênh mông không biết đâu là bến bờ. Lời kinh đó là:

Lạy Chúa, con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự trên cao.

Lm Nguyễn Tầm Thường SJ
(Trích tập Con Biết Con Cần Chúa)

HT Thích Quảng Độ từ chức lãnh đạo GH Phật giáo VN Thống nhất

HT Thích Quảng Độ từ chức lãnh đạo GH Phật giáo VN Thống nhất

Hòa thượng Thích Quảng Độ (AFP).

Hòa thượng Thích Quảng Độ (AFP).

Thanh Phương

RFI

Trong một cáo bạch đề ngày 30/08/2013, gởi đi từ Thanh Minh Thiền Viện, Sài Gòn, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Tăng Thống, tức lãnh đạo Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất loan báo từ nhiệm khỏi Hội đồng Lưỡng viện của giáo hội này.

Trong cáo bạch, Hòa thượng Thích Quảng Độ giải thích lý do của quyết định từ nhiệm là do các lãnh đạo khác của giáo hội vẫn nhất quyết giữ lại Hoà thượng Thích Chánh Lạc, Chủ tịch Văn phòng 2 Viện Hóa Đạo, ở chức vụ này, mặc dù trước đó Hòa thượng Quảng Độ với cương vị Tăng Thống, đã ra quyết định đình chỉ mọi chức vụ đối với Hòa thượng Chánh Lạc, một chức sắc bị xem là đã vi phạm nghiêm trọng giáo luật của đạo Phật.

Cuối bản cáo bạch, Hòa thượng Quảng Độ tuyên bố kể từ nay « xin lui về tịnh tu để trưởng dưỡng thân tâm, cầu nguyện cho thế giới hòa bình, Đạo Pháp trường tồn và lãnh thổ toàn vẹn. ».

Hòa thượng cũng tri ân những tổ chức, đoàn thể, người Việt hay quốc tế, cũng như các chức sắc , tăng ni, Phật tử trong và ngoài nước đã hậu thuẫn và sát cánh cùng Hòa thượng trong công cuộc đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam.

Là Viện trưởng Viện Hóa Đạo từ năm 1999, Hòa thượng Thích Quảng Độ đã chính thức nhận chức Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ( bị cấm hoạt động) từ năm 2011, thay thế Hòa thượng Thích Huyền Quang, viên tịch năm 2008.

Hòa thượng Quảng Độ là một trong những nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng ở Việt Nam và quốc tế. Ngài đã được trao giải nhân quyền Rafto của Na Uy vào năm 2006 và đã nhiều lần được đề cử cho giải Nobel Hòa bình.

Hòa thượng Thích Quảng Độ từ nhiệm(BBC)

Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ từ chức (RFA)

Chết trong ngục tù cộng sản, một linh mục Rumani được phong chân phước

Chết trong ngục tù cộng sản, một linh mục Rumani được phong chân phước

Linh mục Vladimir Ghika (1873-1954) được phong chân phước tại Bucarest ngày 31/08/2013.

Linh mục Vladimir Ghika (1873-1954) được phong chân phước tại Bucarest ngày 31/08/2013.

DR

Thụy My

Linh mục người Rumani Vladimir Ghika thuộc dòng dõi hoàng tộc, là nạn nhân bị chế độ cộng sản Đông Âu đàn áp trong thập niên 50, hôm qua 31/08/2013 đã được phong chân phước tại Bucarest.

Khoảng 8.000 tín đồ người Rumani và từ các nước đã tham dự buổi lễ, có cả Hồng y Pháp André Vingt-Trois.

Xuất thân từ một gia đình hoàng tộc Rumani theo Chính thống giáo, Vladimir Ghika sang Pháp du học và cải đạo sang Thiên chúa giáo vào năm 1902, thụ phong linh mục tại Paris năm 1923, ở tuổi 50.

Là nhà ngoại giao của Vatican, ông đã chu du nhiều nước trên thế giới, được Hoàng đế Nhật Bản, Đức Giáo hoàng Phêrô 11 tiếp kiến, giao du với nhiều nhà văn tên tuổi. Giáo hoàng Phêrô 11 gọi ông là “vị tông đồ lãng du vĩ đại”.

Vladimir Ghika đã lập ra bệnh viện miễn phí đầu tiên tại Rumani, tham gia vào việc mở cửa thiền viện đầu tiên tại Nhật Bản năm 1933. Ông cũng là người thành lập một bệnh viện miễn phí tại Villejuif, vùng ngoại ô nghèo nàn của Paris năm 1927. Vladimir Ghika chăm sóc các bệnh nhân lao tại Roma. Đến khi Đệ nhị Thế chiến bùng nổ, ông ở lại Bucarest để giúp đỡ những người tị nạn Ba Lan đi trốn bọn quốc xã và cuộc tiến quân của Hồng quân Liên Xô.

Bị an ninh cộng sản bắt năm 1952, Vladimir Ghika bị tra tấn, đánh đập và qua đời trong nhà tù Jilava năm 1954. Phút lâm chung, ở cạnh ông có một người Do Thái, một người Hồi giáo và một người Chính thống giáo. Cho đến hơi thở cuối cùng, ông vẫn cố gắng kết hợp các giáo hội với nhau. Theo Vatican, việc Vladimir Ghika được phong chân phúc cần được xem là một tín hiệu của hòa bình và hòa giải.

NGUYÊN NHÂN KHIẾM THỊ MÙ LÒA

NGUYÊN NHÂN KHIẾM THỊ MÙ LÒA

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức.

Trích Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam số 204

Ta có câu nói, “Hai mắt là ngọc, hai tay là vàng”.

Về giá trị thị trường, vàng là kim loại trang sức cũng như trao đổi thương mại quý giá, nhưng ngọc lại quý giá gấp bội. Vì hiếm, vì vẻ đẹp thanh cao. Bàn tay giúp con người làm cả trăm thứ việc nhưng chẳng may khiếm khuyết thì còn có thể nhờ vả, triết ghép bộ phận nhân tạo. Chứ hai mắt mà khiếm thị thì nhiều người coi cuộc đời ảm đạm tối tăm, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, vì không sao thay ghép ngoại trừ ghép giác mạc. Nhưng, có nhiều người nghĩ rằng, “Bị mù chưa đến nỗi khốn khổ, không thích nghi với sự mù lòa mới bất hạnh”. Vì vô số người mù lòa, vẫn thành danh, vẫn làm được những việc có ích cho nhân quần xã hội. Như người khiếm thị Louis Braille đã sáng chế cách “đọc” chữ viết bằng ngón tay cho cả triệu người cùng cảnh ngộ; như cha đẻ của khoa học hiện đại  người Ý Galileo Galilei; như Master Chef Christine Hà Việt Nam; như Joseph Pulitzer sáng lập Pulitzer Price về văn chương, âm nhạc, báo chí…

Mắt được coi như một bộ phận nối dài của não và ánh sáng vào mắt đã được những tế bào đặc biệt chuyển thành những tín hiệu thần kinh đưa lên não bộ. Nơi đây, não phân tích những tín hiệu đó thành hình ảnh của sự vật mà mắt ta nhìn thấy được. Thị giác là một trong những chức năng tối cần thiết của con người. Nhờ thị giác mà con người mới phấn đấu để sống sót cũng như nhờ có thị giác mà con người mới thích nghi hòa hợp được với môi trường và đồng loại xung quanh. Cho nên mọi người nên bảo vệ cái khả năng quý giá này. Mà muốn bảo vệ, cần biết những nguyên nhân gây ra mù lòa, khiếm thị.

Xin cùng tìm hiểu.

Mù là mất khả năng nhìn ra sự vật. Có 4 mức độ của thị giác:

Thị lực bình thường, khiếm khuyết nhẹ, khiếm khuyết trầm trọng và mù.

Hiện nay có khoảng 285 triệu người có rối loạn thị lực ở trên thế giới, với 39 triệu người mù hợp pháp và 246 triệu người giảm thị lực. Đa số những người này là cư dân của các quốc gia đang trên đường phát triển về kinh tế, xã hội. Người trên 50 tuổi và trẻ em dưới 15 tuổi là nhóm dễ dàng bị khiếm khuyết thị giác. Về nguyên nhân gây ra khiếm khuyết thị lực, thì, theo Cơ quan Y tế Thế giới, 43% do không điều chỉnh sai lầm về khúc xạ ánh sáng như trong bệnh đục thủy tinh thể, mờ giác mạc; 33% do đục thủy tinh thể, 2% do cao áp suất trong mắt.

1- Bệnh đục thủy tinh thể, Cataract.

Bệnh thường thấy ở lớp người tuổi cao do sự hóa già hoặc do thương tích của thủy tinh thể, viêm nhiễm  và một số bệnh khác như tiểu đường, giảm calcium trong máu, tác dụng lâu dài của tia hồng ngoại. Đôi khi trẻ em mới sanh ra cũng bị bệnh.

Khi cườm còn ở mức độ nhẹ thì chưa làm suy yếu thị lực. Khi đã đục thì giải phẫu lấy cườm ra và thay thế bằng thủy tinh thể nhân tạo, có độ bền lâu dài. Thủy tinh thể nhân tạo được làm với các chất không gây phản ứng và có mức độ phản xạ ánh sáng như thủy tinh thể thiên nhiên cho nên có thể chữa cả cận thị lẫn viễn thị. Có hai loại: Monofocal lenses chỉ xa hoặc gần chứ không cả hai và multifocal lenses cung cấp nhìn rõ cả xa lẫn gần. Với monofocal lense, có thể ghép một bên mắt lense để nhìn xa và bên kia với lense để đọc sách, coi computer.

Đục thủy tinh thể có thể phòng ngừa với giảm hút thuốc lá, chưa bệnh tiểu đường, tránh mắt tiếp xúc với tia cực tím quá lâu…

2- Bệnh đau mắt hột, trachoma.

Đây là bệnh nhiễm trùng mắt do vi khuẩn Chlamydia Trachomatis gây ra.Vi khuẩn có nhiều trong dử mắt bệnh nhân và lây lan do dùng chung khan rửa mặt, thicu61 nức sạch tắm rửa, kém vệ sinh cá nhân và ở chung đông đúc. Khi bị nhiễm lâu, mặt trong mi mắt bị tổn thương, thành sẹo, mi  mắt lộn ngược cọ vào giác mạc thành sẹo rồi đưa tới mù lòa. Bệnh thừng thấy ở trẻ em, tuổi trước khi đi học. Mẹ hay lây vì chăm sóc con. Phòng ngừa bằng cải thiện vệ sinh cá nhân, môi trường, loại bỏ loại ruồi mang mầm bệnh từ người bệnh sang người lành.

3- Bệnh do ký sinh trùng Onchocerciasis

Ký sinh trùng này có nhiều ở một số địa phương nhiệt đới bên châu Phi, gần sông rạch cho nên còn được gọi là River Blind. Một loại ruồi đen truyền ký sinh trùng sang da của người. Ấu trùng di chuyển lên mắt, gây mù.

4- Bệnh mù trẻ thơ

Bệnh mù trẻ thơ gây ra do một số bệnh ở trẻ em mà không được điều trị, đưa tới mù lòa.

Với các quốc gia phát triển, thương tích của dây thần kinh mắt optic nerve là nguyên nhân chính. Tại các quốc gia đang phát triển thì giác mạc tổn thương thành sẹo vì bệnh bệnh sởi, thiếu vitamin A, nhỏ mắt với thuốc gia truyền có hại là nguyên nhân chính. Ngoài ra còn bệnh mắt bẩm sinh như đục thủy tinh thể, cao áp nhãn, bệnh võng mạc cũng gây ra mù ở lớp trẻ thơ này.

5- Bệnh rối loạn khúc xạ

Như cận thị, viễn thị, loạn thị

Trong cận thị, tia sáng từ sự vật hiện ở trước võng mạc vì thủy tinh thể lớn ra, vật mờ đi, nhìn không rõ, và phải điều chỉnh bằng mang kính lõm.

Viễn thị khi tia sáng từ sự vật hội tụ phía sau võng mạc và điều chỉnh được bằng mang kính lồi.

Loạn thị trong đó hình ảnh của sự vật bị méo đi, một vài phần mờ, một vài phần rõ cho nên hình ảnh bị biến dạng. Điều chỉnh bằng kính hình trụ. Kính gây ra độ méo ngược lại, như vậy hủy bỏ được độ méo do mắt gây ra.

6- Bệnh võng mạc do tiểu đường

Đây là biến chứng của bệnh tiểu đường lên mắt, gây tổn thương cho võng mạc, nơi tiếp nhận ánh sáng của sự vật bên ngoài. Bệnh xảy ra ở cả hai loại tiểu đường 1 và 2. Tiểu đường càng lâu mà không được kiểm soát thì võng mạc càng bị tổn thương, gây ra mù lòa.

Để tránh bệnh này, hãy điều trị bệnh tiểu đường tới nơi tới chốn và khám mắt hàng năm.

7- Cao áp suất mắt Glaucoma

Cao áp suất trong mắt đưa tới thương tích cho dây thần kinh mắt optic nerve. Đây là dây thần kinh đưa các tín hiệu ánh sáng về sự vật lên não để đươc nhận diện ra hình ảnh sự vật.

Cao áp suất mắt là do trở ngại lưu thông dung dịch chất lỏng trong ổ mắt. Bình thường, dung dịch này do mắt tạo ra được đưa ra ngoài qua một lổ nhỏ trên nhãn cầu. Chất lỏng có thể ứ đọng trong mắt, gây ra cáo áp nhãn, ép vào dây thần kinh mắt, đưa tới mù lòa.

Chưa có cách phòng ngừa bệnh nhưng bệnh có thể điều trị được với thuốc nhỏ mắt, thuốc uống hoặc giải phẫu để khai thông ống tắc hoặc đặt ống thoát chất lỏng.

Nên khám mắt mỗi 3 năm khi ở tuổi tứ tuần. Trên lục tuần, khám mắt mỗi năm để sớm tìm ra bệnh và điều trị.

8. Thoái hóa võng mạc do hóa già

Đây là trường hợp điểm vàng macula trên võng mạc bị thoái hóa, tổn thương. Điểm vàng cho ta hình ảnh tinh tế của sự vật, còn phần còn lại của võng mạc cho hình ảnh một cách tổng quát. Nhờ điểm vàng, ta có thể xỏ một sợi chỉ qua lỗ kim khâu, đọc những hàng chữ nhỏ, phân biệt dấu hiệu chỉ đường…Khi điểm vàng thoái hóa, ta chỉ nhìn được phần ngoài của mặt đồng hồ chứ không nhìn được ở giữa nơi có các kim đồng hồ chỉ giờ… Nhiều người không biết là mình có bệnh cho tới khi thấy thị lực giảm hoặc khi được bác sĩ khám mắt.

Thoái hóa võng mạc thường là do rối loạn tuần hoàn máu. Hiện nay, chưa có điều trị hữu hiệu nào cho bệnh này. Một số phương thức có tính cách hỗ trợ được áp dụng như dùng các chất chống oxy hóa, tia laser hoặc giải phẫu. Kỹ thuật ghép tế bào mầm võng mạc đang được thử nghiệm với kết quả rất khích lệ.

9. Giác mạc mờ đục

Vì giác mạc mờ đục, ánh sáng không vào trong mắt được, và gây ra mù.

Nguyên nhân gây ra bệnh của giác mạc khá nhiều, như là: nhiễm trùng, viêm mắt, chấn thương giác mạc, thiếu vitamin A, hậu quả của sởi measle, vật lạ đáo vào mắt, mang contact lense ngày đêm…

Điều trị hữu hiệu nhất là ghép giác mạc do người mãn phần tặng nhưng tốn kém và chưa được phổ biến vì hiếm người cho giác mạc.

Kết luận

Tại các quốc gia phát triển, có nền y tế cao, nguyên nhân gây mù lòa thường thấy nhất thứ tự là bệnh võng mạc do tiểu đường, bệnh cao áp nhãn và thoái hóa võng mạc do hóa già.  Rủi ro khiếm thị đang có chiều hướng nhiều hơn ở các quốc gia này là khiếm thị do bệnh khúc xạ mắt mà không được điều trị. Riêng tại các quốc gia đang phát triển, các bệnh đau mắt hột và Mù Mắt Dòng Sông River Blind do ký sinh trùng gây ra vẫn còn hoành hành.

Cơ quan Y tế Thế giới đang cùng giới chức y tế mỗi quốc gia đang sát cánh cùng nhau giảm thiểu các nạn mù lòa khiếm thị này.

Mong rằng họ sẽ thành công.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức.

www.bsnguyenyduc.com

NHÂN ĐỨC ĐẦU TIÊN

NHÂN ĐỨC ĐẦU TIÊN

(Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR)

 

Khi có người hỏi Thánh Augustinô: “Nhân đức đầu tiên con phải tập là nhân đức nào?” Thánh nhân trả lời: “Đó đức khiêm nhường!” Người ấy hỏi tiếp: “Nhân đức thứ hai là nhân đức nào?” Thánh nhân lập lại: “Đức khiêm nhường!” “Còn nhân đức thứ ba?” Thánh nhân vẫn nói: “Đức khiêm nhường!” Rồi ngài thêm: “Nếu anh tiếp tục hỏi về nhân đức ngàn lần, tôi vẫn cứ trả lời như thế. Vì khiêm nhường là sự thật, mà Thiên Chúa là sự thật nên ai thực sự có đức khiêm nhường là có Thiên Chúa ở cùng và có mọi nhân đức khác!” Nơi khác, thánh nhân quả quyết: “Không ai buớc vào Thiên Đường được nếu không nhờ đức khiêm nhường!”

Đức khiêm nhường, nhân đức đầu tiên và là mẹ mọi nhân đức mà Thánh Augustinô ân cần khuyên dạy chúng ta phải có để được cứu độ và nên thánh, là một trong những chủ đề dễ nhận thấy trong Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay. Thật vậy, ngay trong bài đọc một, tác giả sách Huấn Ca đã ân cần khuyên nhủ mọi người, nhất là những ai làm lớn, phải có đức khiêm nhường và tránh tội kiêu ngạo, để được đẹp lòng Thiên Chúa và được Người chúc phúc: “Hỡi con, con hãy thi hành công việc con cách hiền hòa, thì con sẽ được người đẹp lòng Chúa quý trọng. Càng làm lớn, con càng phải hạ mình trong mọi sự, thì con sẽ được đẹp lòng Chúa, vì chỉ có một mình Thiên Chúa có quyền năng cao cả, và mọi kẻ khiêm nhường phải tôn vinh Chúa. Tai họa dành cho kẻ kiêu căng thì vô phương cứu chữa, vì mầm mống tội lỗi đã ăn sâu vào lòng chúng mà chúng không biết. Người thông minh suy ngắm trong lòng lời dụ ngôn, chăm chỉ nghe là kỳ vọng của người khôn ngoan” (Hc 3:19-21,30-31).

Rồi trong Tin Mừng hôm nay, khi dự tiệc tại nhà một vị thủ lãnh và nhận thấy những thực khách chọn chỗ nhất, Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn về cách tham dự tiệc cưới và khuyên dạy mọi người: “Khi có ai mời ngươi dự tiệc cưới, ngươi đừng ngồi vào chỗ nhất, kẻo có người trọng hơn ngươi cũng được mời dự tiệc với ngươi, và chủ tiệc đã mời ngươi và người ấy, đến nói với ngươi rằng: ‘Xin ông nhường chỗ cho người này’. Bấy giờ ngươi sẽ phải xấu hổ đi ngồi vào chỗ rốt hết. Nhưng khi ngươi được mời, hãy đi ngồi vào chỗ rốt hết, để khi người mời ngươi đến, nói với ngươi rằng: ‘Hỡi bạn, xin mời bạn lên trên’. Bấy giờ ngươi sẽ được danh dự trước mặt những người dự tiệc. Vì hễ ai nhắc mình lên, sẽ phải hạ xuống, và ai hạ mình xuống sẽ được nhắc lên” (Lc 14: 8-11).

Một tác giả dựa vào Tin Mừng hôm nay ghi lại câu truyện sau: Có một người ghi nhớ lời Chúa Giêsu dạy trong Tin Mừng hôm nay và quyết tâm thực hành. Một hôm, anh được mời tham dự một bữa tiệc mà chính Chúa Giêsu là Vị Thuợng Khách. Khi vào phòng tiệc, anh tìm ngồi vào chỗ cuối rốt. Các khách mời lần lượt bước vào. Anh hồi hộp chờ mong, nhưng chẳng ai mời anh lên chỗ cao hơn cả. Cuối cùng Chúa Giêsu đã đến. Có một chỗ danh dự ở trên dành cho Người. Nhưng lạ thay, Người không ngồi vào chỗ ấy, nhưng Người tiến về phía anh. Anh ngỡ rằng Chúa sẽ mời anh lên chỗ gần Người. Nhưng không phải thế! Chúa Giêsu đến và chọn ngồi vào chỗ bên cạnh anh. Và anh đã hiểu: Chỗ rốt hết là chỗ Chúa Giêsu chọn cho chính Người, vì Người chính là Hiện Thân của Sự Thật và của Đức Khiêm Nhường!

Linh mục Cajetan Mary da Bergamo (1672-1753) đã bắt đầu tác phẩm Khiêm Nhường Trong Lòng của ngài với nhận xét sau: “Trong Thiên Đàng có nhiều vị Thánh không bao giờ làm việc bố thí, vì các ngài quá nghèo. Có nhiều vị Thánh không hề hãm mình phạt xác bằng ăn chay, vì cơ thể các ngài quá yếu đuối bệnh tật. Có nhiều vị Thánh không đồng trinh, vì các ngài ở bậc kết hôn. Nhưng trong Thiên Đàng không có vị Thánh nào mà không khiêm nhường cả. Thiên Chúa đuổi các thiên thần ra khỏi Thiên Đàng vì kiêu ngạo; vậy nên làm sao chúng ta có thể đòi vào đó mà không lo giữ đức khiêm nhường?” Đây cũng là điều đã được Thánh Augustinô xác định khi người nhận xét:  Kiêu ngạo biến thiên thần thành ma quỷ, và khiêm nhường biến con người thành thiên thần!”

Cha Bergamo viết thêm: “Chúa Kitô mời gọi chúng ta vào trường học của Người, không phải để học làm phép lạ, cũng không phải để học làm cho thế giới phải ngỡ ngàng bằng những việc kỳ diệu, nhưng để học trở nên khiêm nhường trong lòng như chính Người đã phán Các ngươi hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhường trong lòng’ (Mt 11:29)”. Đây cũng chính là những lời của Chúa Giêsu mà Hội Thánh muốn chúng ta ghi nhớ khi cho lập lại trong phần tung hô Alleluia trong Phụng Vụ hôm nay.

Trong Kinh Magnificat, Đức Mẹ Maria cũng đã tuyên dương sự tuyệt đối cần thíêt và cao trọng của đức khiêm nhường khi Mẹ nói: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường(Lc 1:52). Sự cần thiết và quan trọng của đức khiêm nhường còn được Đức Mẹ khẳng định khi Mẹ hiện ra với Thánh Faustina-Tông Đồ của Lòng Thương Xót Chúa- và dạy Chị rằng: “Nếu con muốn làm con gái hai lần của Mẹ, con phải có ba nhân đức: khiêm nhường, khiêm nhường, khiêm nhường, trong sạch và kính mến Chúa”.

Ghi nhớ lời dạy của Chúa Kitô, Thánh Phêrô-Vị Giáo Hoàng tiên khởi của Hội Thánh cũng đã ân cần khuyên nhủ những tín hữu đầu tiên phải thực hành đức khiêm nhường như sau: “Anh em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn hco kẻ khiêm nhường. Vậy anh em hãy tự khiêm tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, để Người cất nhắc anh em khi đến thời Người đã định” (1Pr 5:5b-6).

Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII, trong Tâm Hồn Nhật Ký của ngài, cũng từng ghi nhận: “Tôi cần khiêm nhường và mến yêu. Nhưng có lẽ tôi cần khiêm nhường hơn, vì không thể có mến yêu thực sự ngoài sự khiêm nhường”. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Vị Thánh Sư của “đường thơ ấu thiêng liêng”, viết: “Tôi không biết mình có khiêm nhường không, nhưng tôi nhìn thấy sự thật trong mọi việc”.

Vì khiêm nhường là nhận biết và sống theo sự thật, nên chúng ta có thể noi gương Thánh Augustinô tập đức khiêm nhường bằng việc năng thưa cùng Chúa: “Xin cho con biết Chúa, xin cho con biết con.” Biết Chúa là Đấng tốt lành vô cùng, quyền năng và nhân hậu vô cùng, để ta yêu mến Chúa và theo Chúa. Biết mình chỉ là hư vô và hơn nữa còn là tội nhân để ta bỏ mình và sửa mình. Một lời nguyện tất rất quý giá và đẹp lòng Chúa giúp chúng ta ghi nhớ và thực hành đức khiêm nhường và gia tăng lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu là: “Lạy Đức Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa”.

Ave Maria, xin Mẹ dạy chúng con biết nỗ lực noi gương Chúa Giêsu Con Mẹ sống khiêm nhường để trở nên những người con yêu dấu của Mẹ. Amen.

From: hnkimnga &

Anh chị Thụ & Mai gởi

Thành phố Madison, Wisconsin tuyên bố thứ sáu là ngày John ‘Vietnam’ Nguyen

Thành phố Madison, Wisconsin tuyên bố thứ sáu là ngày John ‘Vietnam’ Nguyen

Thị trưởng Thành phố Madison Paul Soglin.

Thị trưởng Thành phố Madison Paul Soglin.

30.08.2013

Một sinh viên người Mỹ gốc Việt 19 tuổi, cũng là một nghệ sĩ nhạc hip-hop tài hoa, và một nhà hoạt động tích cực cho công bằng xã hội, đã được thành phố Madison ở Wisconsin vinh danh qua tuyên bố Thứ Sáu là Ngày John “Vietnam” Nguyen, một năm sau ngày giỗ đầu của anh.

Báo Wisconsin State Journal tường thuật rằng Thị trưởng Thành phố Madison, ông Paul Soglin đã ra tuyên bố này hôm qua ngay trước bức tượng của nhà tranh đấu dân quyền nổi tiếng của Mỹ, là Mục sư Luther King Jr., tại tiền đình Tòa Thị Chính thành phố Madison, Wisconsin.

John Nguyen chết đuối tại Hồ Mendota đúng một năm về trước, để lại bao thương tiếc cho đông đảo người hâm mộ anh, vì tài năng cũng như vì các hoạt động xã hội của anh.

John Nguyen là một sinh viên thuộc chương trình First Wave và một nghệ sĩ hip hop có tài, chuyên cổ vũ cho công bằng xã hội, chủ nghĩa đa văn hóa, và sự dấn thân của công dân. Anh đi khắp nơi lưu diễn và trong những dịp này, luôn luôn gây ấn tượng đẹp và gợi cảm hứng cho những người đến xem, bằng những bản nhạc có lời lẽ và ý tưởng mới lạ và phong cách trình diễn độc đáo. John cũng thường xuất hiện tại các buổi hội thảo và chứng tỏ khả năng thuyết phục công chúng trong các bài đọc và tham khảo của anh.

Báo Wisconsin State Journal trích lời ông Willie Ney, Giám đốc Điều hành của Văn Phòng Nghệ Thuật Đa văn hóa – OMAI, nói rằng “John Nguyễn có một cá tính lớn hơn đời thường. John là biểu tượng của các nhà khoa bảng First Wave, vì anh vừa là một nghệ sĩ tài năng, một nhà hoạt động lại vừa là một nhà khoa bảng.”

Một số sự kiện cho “Ngày John Vietnam Nguyen” trùng hợp với chương trình “Nhìn lại Quá khứ, Hoạch định Tương lai”, nhân Lễ Kỷ niệm 50 năm cuộc tuần hành đòi dân quyền tại Hoa Kỳ.

Khi có cha là tỷ phú

Khi có cha là tỷ phú

Warren-Buffett

Là con trai thứ hai của nhà tỷ phú huyền thoại Warren Buffett, nhưng nói tới Peter Andrew Buffett người ta nhớ tới ngay một nhạc sĩ kiêm nhà soạn nhạc nổi tiếng. Dấu ấn duy nhất nhà tỷ phú này khắc lên con đường trở thành người nổi tiếng của con mình chỉ là sự tin tưởng…

Năm 19 tuổi, Peter nhận được số tiền thừa kế… 90,000 Mỹ kim. Gần 100,000 đô, “not bad” nếu như bạn xuất thân trong một gia đình bình thường. Nhưng nếu có cha là tỷ phú có khối tài sản hàng chục tỷ đô thì bạn nghĩ sao?

Và đây là tài sản thừa kế duy nhất của anh em nhà Buffett nhận được từ người cha nổi tiếng của họ.

Số tiền $90.000 mà ông Warren cho họ là tiền bán một trang trại của gia đình, họ cũng chẳng được nhận tiền mặt. Tiền được đổi thành cổ phiếu của công ty Berkshire Hathaway mà tỷ phú Warren làm chủ tịch và Peter được cha trao cho kèm với lời dặn dò: “Hãy thận trọng với món quà này. Vì con sẽ không bao giờ nhận được thêm gì nữa”.

Và con của nhà Buffett quả là con nhà tông. Trong cuốn hồi ký mới của mình Life Is What You Make It, Peter giải thích rằng ông may mắn vì cha mình đã không để lại tài sản cho con cái một cách dễ dàng. Để trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng với giải thưởng Emmy, điều Peter cần là những hỗ trợ tinh thần chứ không phải tiền bạc.

Sau đó Peter đã bán cổ phiếu lại cho cha mình để lấy tiền mặt chi xài trong thời gian học tại Đại học Stanford và bắt đầu sự nghiệp sáng tác nhạc.

Để thành danh trong lĩnh vực nghệ thuật không phải chuyện một sớm một chiều và đòi hỏi sự đầu tư tiền bạc khá lớn. Vậy mà ngoài số tiền thừa kế, tỷ phú Warren đã nói thì như đinh đóng cột, nhất quyết không cho con thêm bất cứ thứ gì nữa, kể cả cổ phiếu trong công ty của ông.

Một lần khi 20 tuổi, Peter hỏi vay cha tiền nhưng bị từ chối. Điều này khiến anh thấy tổn thương và cha con họ không liên lạc với nhau một thời gian dài. Chỉ tới khi gặt hái được thành công, Peter mới hiểu rằng quyết định của cha lúc ấy là hoàn toàn đúng đắn. “Nếu tôi có một đống tiền từ cha tôi thì có lẽ cuộc sống của tôi đã không có ý nghĩa như ngày hôm nay. Tôi tin rằng những gì cha tôi làm xuất phát từ tình yêu thương. Ông đã từng nói với tôi rằng: Cha tin con vì con là con trai của cha. Con sẽ vẫn thành công mà không cần sự giúp đỡ của bất kỳ ai”.

Cách dạy con của ông tỷ phú càng đáng nể hơn nếu biết $90.000 là tài sản thừa kế duy nhất mà Peter Buffett cũng như anh chị em của ông nhận được, nhưng bù lại, họ được cha trao cho khoảng 1 tỷ đô để làm từ thiện. Peter và vợ ông đã dành nhiều năm để nghĩ cách làm từ thiện sao cho hiệu quả nhất.

Cuối cùng, họ đã thành lập Novo Foundation – một tổ chức phi lợi nhuận dành cho phụ nữ và trẻ em trên toàn thế giới. Hai người con còn lại của tỷ phú Warren cũng có những đóng góp đáng kể trong hoạt động từ thiện. Howard Buffett thành lập tổ chức giúp đỡ những nông dân nghèo khó tại các quốc gia kém phát triển với mục tiêu tăng cường sản xuất lương thực ngăn ngừa nạn đói. Susie Buffett thì thành lập quỹ hỗ trợ hoạt động giáo dục cho trẻ em và thúc đẩy việc tuyên truyền phòng chống mang thai ở trẻ vị thành niên.

Warren Buffett là cổ đông lớn nhất, kiêm Chủ tịch Tập đoàn Berkshire Hathaway và đứng trong top 3 những người giàu nhất thế giới do tạp chí Forbes bình chọn. Những gì các con ông đạt được cho thấy, điều ông dạy họ không phải là tiền bạc và cách kiếm tiền mà đơn giản chỉ là cách sống. Peter tin rằng mình đã được cha “đầu tư” đúng mực với cách giáo dục tốt nhất mà nhiều người ước ao. Ông hóm hỉnh: “Điều mà tôi ngưỡng mộ nhất ở cha tôi là sự tin cậy. Sự tin cậy là điều quan trọng nhất”.

Warren rất ít khi nói chuyện với các con về chuyện làm ăn. Ông quan tâm tới những triết lý của cuộc sống, chẳng hạn như: “Các con không cần phải thử sức trên tất cả các lĩnh vực. Khi con đã sẵn sàng để đầu tư (ví dụ như nhà đầu tư cổ phiếu), con chỉ cần tưởng tượng nó giống một quả bóng tròn đang di chuyển từ từ”.

Đối với Warren, việc tìm cho các con một công việc ở Wall Street hay công ty Berkshire Hathaway của ông để duy trì đế chế của gia đình Buffett hoàn toàn đơn giản. Vậy mà ông lại chứng tỏ mình là một người cha tuyệt vời khi để các con trưởng thành theo cách riêng.

Peter Buffett nói rằng món quà lớn nhất có thể tặng cho cha là đi theo bước chân của ông, bằng cách tin tưởng vào chính mình. Năm 1977, khi Peter còn nhỏ, Berkshire Hathaway của Warren Buffett đã mua lại tờ The Buffalo Evening News bất chấp thực trạng ngành báo in đang điêu đứng, lượng phát hành và quảng cáo đã giảm nghiêm trọng. Giờ thì tờ báo này đã là The Buffalo News bề thế.

Đối với Warren Buffett thì những thứ cũ, lỗi thời cũng không làm ông lay chuyển lối sống. Peter vẫn đến thăm cha tại Omaha, Nebraska. Cha ông vẫn sống trong ngôi nhà mà Peter từng lớn lên, bất chấp sự giàu có vô biên của ông.

Cũng chính nhờ bài học lớn của người cha về niềm tin mà Peter đã có những quyết định sáng suốt cho cuộc sống của mình. Sau khi soạn nhạc cho Dances with Wolves (Khiêu vũ với bầy sói), phim đoạt giải Oscar, ông nhận được khá nhiều lời mời từ các hãng phim của Hollywood. Họ sẵn lòng mời gia đình ông chuyển từ Milwaukee đến Los Angeles nếu ông muốn trở thành một nhà soạn nhạc phim lừng danh.

Peter từ chối, vì “Tôi đã nghĩ về cha mình. Tại sao cha tôi không chuyển đến New York, để gần Wall Street hơn? Khi xem lại cách thức cha tôi làm việc trong những năm qua, tôi nhận ra rằng không nên chọn một công việc nào đó chỉ bởi vì việc đó nhìn hấp dẫn hơn”.

Giờ đây, các con của tỷ phú Warren Buffett hiểu rằng “nếu tin cha sẽ ra tay cứu giúp mỗi khi mình gặp rắc rối về tài chính thì bất cứ thành công nào đạt được không còn giá trị nữa”. Và đến bây giờ, mọi người đều biết rằng, những gì con cái nhà Warren có được chẳng hề liên quan đến sự giàu có của cha họ.

Phạm Hoàng (Theo Yes Magazine, DNSG)