Biểu tình tiếp diễn ở Venezuela

Biểu tình tiếp diễn ở Venezuela

Thu năm, 13 tháng 3, 2014

Venezuela đã trong tình trạng hỗn loạn trong một tháng qua

Ba người đã thiệt mạng trong các cuộc biểu tình mới ở Venezuela, lần này là ở thành phố miền Trung Valencia.

Một cảnh sát và hai người đàn ông bị bắn chết trong hai vụ việc riêng rẽ.

Ở thủ đô Caracas, những người ủng hộ và chống đối chính phủ đều xuống đường trong các cuộc biểu tình đối chọi nhau.

Những cuộc tuần hành này đánh dấu một tháng kể từ khi phong trào biểu tình phản đối chính phủ bùng phát hôm 12/2.

Tổng cộng 25 người được cho là đã thiệt mạng.

Nhiều vụ bạo lực

Ông Miguel Cocchiola, thị trưởng Valencia, người thuộc phe đối lập, cho biết thành phố của ông đã chứng kiến một vài vụ bạo lực trong ngày.

Một người đàn ông 42 tuổi đang sơn nhà thì bị các lực lượng dân quân thân chính chính phủ đi xe máy bắn vào đầu, ông Cocchiola nói.

Một sinh viên 20 tuổi cũng bị một nhóm thân chính phủ có tên là ‘colectivos’ bắn chết ở Valencia, vị thị trưởng này cho biết.

“Phải thay đổi chính quyền càng sớm càng tốt: đó là điều chúng tôi đề xuất, rất rõ ràng.”

Maria Corina Machado, nghị sỹ đối lập Venezuela

Nạn nhân còn lại là Đại úy Ernesto Bravo Bracho. Chính phủ Venezuela cáo buộc ông này bị ‘những kẻ khủng bố’ sát hại.

Trong lúc này, phe đối lập đang biểu tình trên đường phố ở đông Caracas – một cứ điểm của lực lượng chống chính phủ. Họ lên án ‘sự tàn bạo của cảnh sát’ và tình trạng khủng hoảng kinh tế.

Họ kêu gọi trả tự do cho hàng chục nhà hoạt động đang bị cầm tù.

Những người biểu tình đã ném gạch đá và bom xăng vào cảnh sát. Cảnh sát đáp trả bằng hơi cay. Một vài người bị thương.

Ngoài ra cũng có biểu tình trên các thành phố khác của Venezuela.

Trong khi đó, hàng người ủng hộ viên của chính quyền đã cùng Tổng thống Nicolas Maduro ‘tuần hành vì hòa bình’ ở thủ đô Caracas.

Trước đó, ông Maduro nói rằng ông đã làm thất bại âm mưu lật đổ chính phủ của cánh hữu.

‘Thay đổi chế độ’

Những người biểu tình phản đối tình trạng khủng hoảng kinh tế ở Venezuela

“Trước thời của Tổng thống Chavez không ai có được những gì mà chúng ta có hiện nay: chăm sóc y tế, giáo dục và thực phẩm,” Marcos Alcayo, một người ủng hộ chính quyền nói với hãng tin Anh Reuters.

Cố Tổng thống Hugo Chavez đã qua đời vì ung thư một năm trước sau hơn 14 năm cầm quyền.

Một cuộc bầu cử tổng thống đã được tổ chức hồi tháng Tư năm ngoái. Người được ông Chavez lựa chọn, phó Tổng thống Maduro đã đánh bại lãnh đạo đối lập Henrique Capriles với chênh lệch sát sao.

Bà Maria Corina Machado, nghị sỹ đối lập và là một trong các lãnh đạo biểu tình, nói với BBC rằng Venezuela đang ngày càng đồng thuận về việc thay đổi chế độ.

“Phải thay đổi chính quyền càng sớm càng tốt: đó là điều chúng tôi đề xuất, rất rõ ràng,” bà Corina nói.

Tuy nhiên bà bác bỏ lập luận cho rằng thay đổi một chính phủ do dần bầu là đồng nghĩa với đảo chính.

“Chúng tôi muốn tiến về phía trước, nhưng trong khuôn khổ Hiến pháp và bằng các biện pháp hòa bình,” bà nói.

Về phần mình, ông Maduro cáo buộc các ‘phần tử cánh hữu’ ở Mỹ, Venezuela và các nước Mỹ Latin khác đứng sau âm mưu đảo chính ông.

Hồi tuần trước, Chính phủ Venezuela đã trục xuất Đại sứ Panama và ba nhà ngoại giao khác với cáo buộc họ âm mưu ‘lật đổ chính phủ’ của ông.

Giáo hội của người nghèo và ưu tiên chọn người nghèo

Giáo hội của người nghèo và ưu tiên chọn người nghèo

Chuacuuthe.com

VRNs (12.03.2014) – Torronto, Canada – Trong cuộc họp báo sau khi đắc cử Giáo Hoàng, Đức Phanxicô giải thích lý do ngài chọn tước hiệu Phanxicô là vì đối với ngài thánh Phanxicô Assisi là con người nghèo khó, con người của hoà bình, là  người đem lại cho chúng ta tinh thần hoà bình và khó nghèo. Cũng trong cuộc họp báo này, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhấn mạnh thêm rằng ngài mong muốn Giáo hội phải là Giáo hội của người nghèo và vì người nghèo.

14031200

Một hình ảnh tương tự về Giáo hội nghèo khó mà Đức Phanxicô thường nhắc đến gần một năm qua, đó là hình ảnh một Giáo hội lấm lem, bầm dập trên đường vì đi với người nghèo. Đặc biệt, trong Tông huấn Niềm vui Phúc Âm, Đức Giáo Hoàng  nhấn đến một Giáo hội “ưu tiên chọn” người nghèo vì “Trái tim Thiên Chúa có một chỗ đặc biệt dành cho người nghèo.” Nhấn đến hình ảnh về một Giáo hội của người nghèo như thế, Đức Giáo Hoàng nhắn nhủ rằng: “Không ai trong chúng ta có thể nghĩ rằng mình được miễn chước việc quan tâm tới người nghèo và tới công bằng xã hội”.

Thực ra, Đức Giáo Hoàng Phanxicô không phải là người đầu tiên sử dụng hình ảnh  “Giáo hội của người nghèo và vì người nghèo” để diễn tả viễn tượng của mình về Giáo hội trong thế giới hôm nay. Người đầu tiên nhắc đến ý niệm “Giáo hội của người nghèo” là Đức cố chân phước Giáo hoàng Gioan XXIII.  Ngày 11 tháng 9 năm 1962, tức là một tháng trước khi khai mạc Công đồng Vaticanô II, Đức Gioan XXIII đã phát biểu trên đài phát thanh rằng: “Trước những thách đố mà các nước kém phát triển đặt ra, Giáo hội tự giới thiệu mình như là một Giáo hội của mọi người, đặc biệt là Giáo hội của người nghèo.”

Ba tháng sau (ngày 6 tháng 12 năm 1962), khi lược đồ đầu tiên Về Giáo hội được đệ trình mà không nhắc gì đến “Giáo hội của người nghèo,” Đức Hồng Y Giacomo Lercaro đã dùng quyền can thiệp của mình (intervention) để nhắc lại viễn tượng của Đức Gioan XXIII về một Giáo hội của người nghèo. Ngài phát biểu rằng “Giáo hội luôn mang nơi mình Mầu nhiệm Chúa Kitô, mà mầu nhiệm Chúa Kitô cụ thể trong thế giới hôm nay là Chúa Kitô ở nơi người nghèo; vì thế như Đức thánh cha Gioan XIII đã nói, Giáo hội hôm nay phải thực sự là Giáo hội của người nghèo.”[i]

Công Đồng Vaticanô II dùng nhiều hình ảnh đa dạng khác nhau để trình bày mầu nhiệm Giáo hội, trong đó Công đồng cũng không quên hình ảnh về một Giáo hội của người nghèo theo viễn tượng của Đức Gioan XXIII. Cụ thể, hàng loạt các văn kiện của Công đồng nhấn mạnh đến khuôn mặt người nghèo trong mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo hội: Hiến chế Tín lý về Giáo hội số 8 và số 23; Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Hiện Đại số 1, 15, 63, 69, 71, 81, 86, 88, 90; Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân số 8; Sắc Lệnh về Mục Vụ trong Giáo Hội số 13 và 30; Sắc Lệnh về Thánh Chức và Đời Sống Linh Mục số 6; Sắc Lệnh về Hoạt Động Tông Đồ của Giáo Hội số 12; Sắc lệnh về Cải Tổ Thích Nghi Đời Sống Tu Trì số 13; và Tuyên Ngôn của Giáo Hội đối với những Tôn Giáo Ngoài Kitô Giáo số 9. Đặc biệt, trong Hiến chế Tín lý về Giáo hội, khi mô tả hình ảnh Giáo hội của người nghèo, Công đồng xác tín: “Như Chúa Kitô đã hoàn tất công trình cứu chuộc trong khó nghèo và bách hại, Giáo Hội cũng được mời gọi đi cùng đường lối ấy hầu thông ban ơn cứu rỗi cho loài người.…Chúa Kitô được Chúa Cha phái đến rao truyền Phúc Âm cho kẻ bần cùng… cứu chữa các tâm hồn đau khổ (Lc 4,18), tìm kiếm và cứu vớt những gì đã hư mất (Lc 19,10). Cũng thế, Giáo Hội trìu mến và ấp ủ tất cả những ai đau khổ vì sự yếu hèn của con người, nhất là nhận biết nơi những kẻ nghèo khó và đau khổ hình ảnh Ðấng Sáng Lập khó nghèo và khổ đau, ra sức giảm bớt nỗi cơ cực của họ và nhằm phụng sự Chúa Kitô trong họ”(LG 8).

Sau Công đồngVaticanô II, chủ đề Giáo hội của người nghèo được Hội đồng Giám mục Châu Mỹ La tinh nhấn mạnh hơn nữa khi xác tín rằng Giáo hội không chỉ là Giáo hội của người nghèo và vì người nghèo, mà hơn thế nữa Giáo hội là Giáo hội nghèo khó (Iglesia Pobre) (Đức Phanxicô cũng đã nhắc đến Giáo hội nghèo khó trong buổi họp báo sau khi ngài đắc cử giáo hoàng). Trong bối cảnh Châu Mỹ La tinh đói nghèo, Hội đồng Giám mục Châu Mỹ La tinh xác tín rằng Giáo hội liên đới với người nghèo và trở nên như người tôi tớ phục vụ mọi người.

Liên Hội đồng Giám mục Á châu nhóm họp tại Philippine ngày 29 tháng 11 năm 1970 cũng bàn đến Giáo hội của người nghèo theo tinh thần của Công đồng Vaticanô II. Liên Hội đồng nhắc đến tình trạng của số đông người nghèo ở Á châu và xác định rằng Giáo hội của người nghèo phải tách mình khỏi những kẻ quyền lực, giàu có và phải có sứ mạng thúc đẩy, bảo vệ quyền sống của những người nghèo khổ, thấp cổ bé miệng.

Bẳng đi một thời gian dài sau đó, dường như hình ảnh “Giáo hội của người nghèo” không được mấy ai ưa thích nhắc đến nữa.Nhưng bây giờ Đức Giáo Hoàng Phanxicô khơi gợi lại.

Thực ra, Đức Giáo Hoàng không nói điều gì mới mẻ hoặc không nói điều gì đi ngược lại dòng suy tư chính thống hay truyền thống của Giáo hội. Viễn tượng về một Giáo hội của người nghèo và vì người nghèo, như nói trên, đã được xác định bởi giáo huấn của Công Đồng Vaticanô II. Tuy nhiên, sự mới mẻ mà Đức đương kim Giáo Hoàng mang lại ấy là cách đặt vấn đề và cách nhấn mạnh của ngài về một Giáo hội như thế.

Nói đúng hơn, trong bối cảnh của thế giới hôm nay, ở đó có những ý thức hệ, những cơ cấu kinh tế – chính trị vùi dập người nghèo, làm cho biết bao người bị vong thân, tha hoá, thì ao ước của Đức Giáo hoàng Phanxicô về một Giáo hội ưu tiên chọn người nghèo, một Giáo hội luôn đi trên đường với người nghèo và chịu lấm lem, bầm dập vì người nghèo, cũng là ao ước, khát vọng của bao tâm hồn bơ vơ, tất bạt.

Nói cách khác, Đức Giáo Hoàng nói thay cho bao tâm hồn đang khát khao một luồng sinh khí mới trong Giáo hội giữa thế giới hôm nay: Giáo hội của người nghèo, ưu tiên chọn lựa người nghèo vì “trái tim Thiên Chúa có một chỗ đặc biệt dành cho người nghèo”.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Dũng, CSsR.

 

Nga chiếm thêm các căn cứ ở Crimea

Nga chiếm thêm các căn cứ ở Crimea

Các xe thiết giáp chở binh sĩ mà người ta tin là binh sĩ Nga trên một con đường gần thành phố cảng Sevastopol trên bán đảo Crimea 10/3/14

Các xe thiết giáp chở binh sĩ mà người ta tin là binh sĩ Nga trên một con đường gần thành phố cảng Sevastopol trên bán đảo Crimea 10/3/14

10.03.2014

Nga, hôm thứ Hai, cáo buộc các nhà hoạt động cực hữu ở Ukraina và chính phủ thân Tây phương ở Kyiv gây ra tình trạng hỗn loạn ở đông Ukraina nơi có dân nói tiếng Nga, trong khi các lực lượng thân Nga tiếp tục chiếm các căn cứ của Ukraina trên bán đảo Crimea.

Một tuyên bố của Bộ Ngoại giao Nga nêu tên tổ chức cực hữu Right Sector, đồng thời cáo buộc các chính phủ Tây phương làm ngơ trước các vụ bạo động.

Tuyên bố được đưa ra khi Bộ Quốc phòng Ukraina cho biết các tay súng mặc đồng phục bao vây và chiếm một căn cứ hải quân ở Chernomorskoye, và một quân y viện ở Simferopol.

Báo The New York Times cho biết cảnh sát đã cắt ngang cuộc phỏng vấn của phóng viên với một người đàn ông địa phương, đe dọa phóng viên của báo này cũng như tịch thu các ghi chép của họ.

Thứ Tư tới đây thủ tướng lâm thời Ukraina Arseniy Yatsenyuk, sẽ hội kiến với Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tại Tòa Bạch Ốc. Một tuyên bố của Tòa Bạch Ốc đưa ra hôm thứ Hai nói rằng chuyến đến thăm của ông Yatsenyuk sẽ nêu bật sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Hoa Kỳ đối với nhân dân Ukraina, và các cuộc thảo luận sẽ bao gồm vấn đề viện trợ kinh tế và việc chuẩn bị cho các cuộc bầu cử sẽ được tổ chức vào tháng 5 ở Ukraina.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, hôm thứ Hai, kêu gọi Nga chứng minh cho thấy họ sẵn sàng hợp tác với những đề nghị ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra nhằm chấm dứt cuộc khủng hoảng Ukraina. Phát ngôn viên Jen Psaki cũng nói rằng Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ John Kerry có thể sẽ gặp nhân vật đối nhiệm Nga Sergei Lavrov trong tuần này, nêu ông tin rằng Moscow sẵn sàng tham gia các cuộc đàm phán có thực chất.

Một tử tù ở Mỹ được trả tự do sau 3 thập niên chờ bị hành quyết

Một tử tù ở Mỹ được trả tự do sau 3 thập niên chờ bị hành quyết

 

Ông Glenn Ford, 64 tuổi, nói chuyện với các phóng viên khi ông rời khỏi nhà tù ở Angola, Louisiana sau gần 3 thập niên chờ bị hành quyết, ngày 11/3/2014.

Ông Glenn Ford, 64 tuổi, nói chuyện với các phóng viên khi ông rời khỏi nhà tù ở Angola, Louisiana sau gần 3 thập niên chờ bị hành quyết, ngày 11/3/2014.

12.03.2014

Đây là một câu chuyện thuộc loại có thể trở thành truyện phim. Một người đàn ông Mỹ chờ ngày bị thi hành án tử hình trong gần 3 thập niên giờ đã được tự do.

Ông Glenn Ford, tử tội chờ ngày thi hành án trong thời gian lâu nhất tại bang Louisiana, đã được trả tự do sau khi có chứng cớ mới cho thấy ông vô tội về vụ giết người khiến ông bị bỏ tù.

Một thẩm phán tại thành phố Shreveport đã ra lệnh phóng thích ông Ford, năm nay 64 tuổi, sau khi các công tố viên kiến nghị tòa án hãy hủy bỏ kết tội ông về tội cố sát và hủy bản án tử hình.

Ông Ford, một người da đen, bị một bồi thẩm đoàn toàn là người da trắng kết tội đã giết ông Isadore Rozeman, một chủ tiệm nữ trang ở Shreveport hồi năm 1983.

Trước đó, ông Glenn Ford thỉnh thoảng làm vườn cho ông Rozeman.

Nhưng các luật sư bênh vực cho ông Ford nói rằng có chứng cớ mới chứng thực cho lời khai của ông Ford rằng ông không có mặt mà cũng không dính líu gì tới cái chết của ông Rozeman.

Khi rời nhà tù ở tiểu bang Louisiana ở Angola hôm qua, ông Ford nói ông cảm thấy vui sướng được tự do. Được hỏi liệu ông có cảm thấy oán giận về vụ bị bỏ tù oan không, ông trả lời rằng có, bởi vì ông đã bị giam cầm trong gần 30 năm vì một việc mà ông không hề làm.

Ông Glenn Ford nói khi ông vào tù, các con của ông là những đứa trẻ sơ sinh. Giờ đây, họ là những người đàn ông trưởng thành và đã có vợ con.

 

RSF tố cáo Bộ Thông tin Truyền thông Việt Nam là kẻ thù của internet

RSF tố cáo Bộ Thông tin Truyền thông Việt Nam là kẻ thù của internet

Báo cáo năm nay của RSF đã nêu đích danh Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam là kẻ thù của internet. (Ảnh chỉ mang tính minh hoạ)

Báo cáo năm nay của RSF đã nêu đích danh Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam là kẻ thù của internet. (Ảnh chỉ mang tính minh hoạ)

DR

Đức Tâm

RFI

Nhân ngày thế giới chống kiểm duyệt internet, tổ chức Phóng viên không biên giới – RSF- có trụ sở tại Paris, Pháp, ngày hôm nay, 12/03/2014, công bố bản báo cáo « Những kẻ thù của internet ». Trong báo cáo 2014, RSF tố cáo những thủ đoạn kiểm duyệt internet, bưng bít thông tin, của 32 định chế tại nhiều quốc gia, kể cả ở phương Tây.

Đối với Việt Nam, báo cáo năm nay của RSF đã nêu đích danh Bộ Thông tin và Truyền thông, đặc biệt là Cục quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử, trực thuộc Bộ này, là kẻ thù của internet.Theo RSF, để kiểm soát thông tin trên mạng, chính quyền Việt Nam đã sử dụng các phương tiện tư pháp, hành chính và công nghệ, được tập trung vào tay Bộ Thông tin và Truyền thông.

Cho dù chính quyền và tư pháp Việt Nam không ngần ngại lạm dụng các điều khoản 88 và 79 trong Bộ Luật hình sự để bỏ tù những người làm thông tin, Bộ Thông tin và Truyền còn tiến hành chính sách riêng của mình để kiểm duyệt internet một cách khắc nghiệt và tỉ mỉ.

Để làm việc này, Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam đã soạn thảo và đề xuất những văn bản pháp luật cho phép chính quyền dựa vào đó để tiến hành truy tố các blogger và các nhà ly khai sử dụng internet. Nhằm tránh phải trình bầy tại Quốc hội với nguy cơ bị các đại biểu chất vấn hoặc thậm chí bác bỏ các văn bản này, Bộ Thông tin và Truyền thông đã soạn thảo các nghị định và trình Thủ tướng ký.

Đó là trường hợp nghị định 97 được ban hành năm 2009. Tháng 11/2013, Việt Nam công bố nghị định 174, có hiệu lực từ 15/01/2014. Văn bản này đưa ra những biện pháp trừng phạt mới đối với cư dân mạng đăng các bài có nội dung « tuyên truyền chống Nhà nước » hoặc « các tư tưởng phản động » trên mạng xã hội.

RSF nêu ra một văn bản khác : Đó là nghị định 72, có hiệu lực từ 01/09/2013, được đánh giá là một sự vi phạm chưa từng thấy về quyền tự do thông tin tại Việt Nam. Nghị định này hạn chế việc sử dụng các blog và mạng xã hội trong việc « phổ biến » hoặc « chia sẻ » thông tin « cá nhân ». Thậm chí, văn bản này cấm cả việc sử dụng mạng xã hội để chia sẻ thông tin của báo chí.

Do Việt Nam không có báo chí tư nhân, nhiều người phải dùng blog để thể hiện quan điểm của mình về những vấn đề của đất nước. Thế nhưng, hầu như toàn bộ các blog và website, bị coi là có quan điểm trái ngược với chế độ, đã bị phong tỏa và chủ nhân các blog này bị bắt, kết án tù giam.

Theo RSF, các tập đoàn cung cấp dịch vụ internet lớn tại Việt Nam như VNPT hay Viettel đã phong tỏa các website, blog theo yêu cầu của chính quyền. Đồng thời, chính quyền còn áp dụng các biện pháp theo dõi, nghe lén, gây nhiễu, đánh sập các blog, website, câu lưu các blogger, cài virus tin học. Bất chấp các hành động ngăn chặn, trấn áp của chính quyền, RSF nhận định là đã xuất hiện xu hướng quốc tế hóa các hoạt động của blogger Việt Nam.

Ngoài Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam, RSF đặc biệt chú ý đến những kẻ thù của internet khác như Cơ quan quản lý Viễn thông của Pakistan, Cơ quan an ninh liên bang Nga – FSB, Trung tâm khai thác và phân tích thông tin của Belarus, Cơ quan quản lý thông tin điện tử Nhà nước của Trung Quốc hay Cơ quan thông tin khoa học và kỹ thuật trung ương của Bắc Triều Tiên.

Ba định chế tại các quốc gia dân chủ cũng bị RSF coi là kẻ thù của internet, như Cơ quan an ninh quốc gia – NSA – Hoa Kỳ, Cơ quan tình báo điện tử – GCHQ của Anh Quốc và Trung tâm phát triển phần mềm tin học – CDOT – của Ấn Độ.

 

Công an Lấp Vò ép cung nhân chứng như thế nào?

Công an Lấp Vò ép cung nhân chứng như thế nào?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-03-11

702738_001.mp3

 

Chị Dương Thị Tân, Trương Minh Đức, Nguyễn Bắc Truyển, Phạm Chí Dũng Trao Qua Cho Đặng Thị Quỳnh Anh, Là Con Gái Của Bùi Hằng.

Chị Dương Thị Tân, Trương Minh Đức, Nguyễn Bắc Truyển, Phạm Chí Dũng Trao Qua Cho Đặng Thị Quỳnh Anh, Là Con Gái Của Bùi Hằng.

vnwhr.net

Nghe bài này

Công an huyện Lấp Vò đã có biểu hiện ép cung một cách thô bạo để khởi tố bà Bùi Minh Hằng sau khi giam giữ một cách trái phép ba người gồm bà Hằng, anh Nguyễn Văn Minh và blogger Thúy Quỳnh gần một tháng mà không có lệnh của Viện Kiểm Sát. Năm nhân chúng bị ép cung cùng lúc lên tiếng về hành vi này với Mặc Lâm như sau.

Ngày 10 tháng 3 năm 2014, 28 ngày sau khi công an huyện Lấp Vò giam giữ trái pháp luật ba người là Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và Bùi Thị Minh Hằng khi họ đến gia đình anh Nguyễn Bắc Truyển để thăm hỏi tình trạng của anh bị công an Lấp Vò đối xử thô bạo.

Phương cách điều tra mới của công an Lấp Vò

Trong ba người thì bà Bùi thị Minh Hằng được công an xem là đối tượng gây rối và cáo buộc bà tội gây mất trật tự giao thông. Để lấy lời khai của những nhân chứng trong cùng chuyến về Lấp Vò với bà Hằng công an đã triệu tập 5 người đến công an huyện. Năm người ấy gồm: anh Phan Đức Phước, anh Nguyễn Vũ Tâm, ông Tô Văn Mãnh, chị Bùi Thị Diễm Thúy và Đỗ Thị Thùy Trang.

Cả năm người đều tố cáo với chúng tôi rằng nhân viên điều tra có hành động mớm cung và ép cung, tự tiện ghi thêm trên biên bản những điểu mà nhân chứng hoàn toàn không nói tới. Thêm nữa những điều họ chứng kiến, khai ra thì nhân viên điều tra không ghi vào biên bản.

“ Khi em trình bày như thế thì anh công an ảnh suy nghĩ nhưng không ghi như lời em trình bày mà ghi theo cái ý của ảnh. Ảnh ghi là chị Hằng là người gây rối trật tự công cộng, ảnh ghi trong biên bản đó như vậy

anh Phan Đức Phước”

Chúng tôi ghi nhận lời tố cáo của tất cả năm người này để rộng đường dư luận. Thứ nhất là anh Phan Đức Phước, anh cho biết:

-Vào sáng ngày hôm nay tôi đến công an Huyện Lấp Vò như giấy triệu tập. Tôi gặp thiếu tá Nguyễn Hùng Dũng hỏi tôi việc xảy ra vào ngày 11 tháng 2 năm 2014. Tôi có trả lời là khi chạy về Lấp Vò thì chúng tôi chạy theo hàng dọc cách nhau an toàn. Lúc đó có lực lượng công an giao thông và công an xã và khoảng 5-600 người mặc thường phục cầm cây chặn lại đòi xét hành lý. Họ mặc đồ thường phục và không mang bảng tên. Chị Hằng không cho kiểm tra, có một anh tự xưng là công an, mặc đồ thường phục nói rằng nếu không cho thì đè xuống giật, đập bỏ máy và đánh nó.

Khi họ xúm lại giựt đồ thì chị Hằng la lên: chúng mày là bọn ăn cướp chứ công an gì mà ăn cướp của dân?

Khi em trình bày như thế thì anh công an ảnh suy nghĩ nhưng không ghi như lời em trình bày mà ghi theo cái ý của ảnh. Ảnh ghi là chị Hằng là người gây rối trật tự công cộng, ảnh ghi trong biên bản đó như vậy. Còn ghi là lời khai của em hoàn toàn sự thật và em không khai gì thêm và em trách nhiệm lời khai của mình trước pháp luật. Em ghi là đây không phải là lời khai của em nên em không chịu ký.

Người thứ hai là ông Tô Văn Mãnh, ông cho biết:

-Tui nói là công an hình sự nó ra lệnh nó đánh Bùi Thị Minh Hằng tới tấp luôn. Bà Hằng mới la các anh ăn cướp hay là công an vừa đánh mà vừa giật đồ, tôi khai như vậy đó.

Chi Bùi thị Minh Hằng và bà con Phật Giáo Hoà Hảo trước khi bị công an đánh và bắt

Chi Bùi thị Minh Hằng và bà con Phật Giáo Hoà Hảo trước khi bị công an đánh và bắt. binhtrung.org

 

“ Có những người ở trong lùm cây hai bên đường ẩn nấp ở đâu sẵn rồi ùa ra đánh những người đi đường túi bụi luôn. Con nói vậy thì cái ông điều tra viên ổng không chịu ghi theo em mà lại ghi theo ý ổng không à

Đỗ Thị Thùy Trang”

Nó kêu tui ký giấy tui nói muốn tui ký thì phải cho tui hai cái biên bản tui một cái và một cái cho cán bộ. Nhưng tôi phải đem ra cho cháu tui coi hai cái biên bản đó giống hay không rồi tôi mới ký. Họ ép tôi phải ký, tôi nói “không”.

Người thứ ba là chị Đỗ Thị Thùy Trang:

-Có những người ở trong lùm cây hai bên đường ẩn nấp ở đâu sẵn rồi ùa ra đánh những người đi đường túi bụi luôn. Còn giựt chìa khóa xe tôi nữa. Trong khi đó thì công an mặc thường phục chỉ huy những người cũng mặc thường phục đánh người đi đường. Con nói vậy thì cái ông điều tra viên ổng không chịu ghi theo ổng mà lại ghi theo ý ổng không à.

Mục đích ổng hỏi là có tụ tập đi chung với nhau không, cái quảng đường đó có bị ách tắc giao thông hay không? Con nói là con không biết. Họ ghi là tập trung đông người, có một số người tập trung trên đường la ó rồi có hành vi muốn đánh công an, con nói là con không thấy. Điều tra viên không ghi lời khai của con nên con không ký.

Người thứ tư là anh Nguyễn Vũ Tâm:

-Cái chỗ nó chận đường nó đánh mình thì nó không ghi chỗ đó mà nó chỉ biểu ghi chỗ chị Hằng không à. Em mới nói công an chận đường đánh đập như vậy thì nó hỏi công an nào đánh? Anh có thấy mấy người này đánh công an hay không? Em mới hỏi nó có khi nào mà người dân đánh công an không? Họ kêu em ký em không ký tại vì trong biên bản không đúng với lời mình khai, họ ghi theo ý họ không. Họ ghi theo ý buộc tội cô Hằng chứ không phải cái ý mình khai là trên đường đi bị công an chận đánh đập như vậy.

“ Họ kêu em ký em không ký tại vì trong biên bản không đúng với lời mình khai, họ ghi theo ý họ không. Họ ghi theo ý buộc tội cô Hằng chứ không phải cái ý mình khai là trên đường đi bị công an chận đánh đập như vậy

anh Nguyễn Vũ Tâm”

Người thứ năm là chị Bùi Thị Kim Phượng, vợ của anh Nguyễn Văn Minh hiện đang bị giam chung với bà Bùi Thị Minh Hằng, chị Phượng kể:

-Lúc đầu nó ghi lời khai thì giống như lời con nói nhưng đến lúc cuối nó ghi là ùn tắt giao thông nên con không ký vì lời khai này không đúng của tôi nên tôi không ký. Tôi không nói ùn tắc giao thông gì hết. Nó nói đây là quyển lợi của chị thì chị ký hay không ký tùy chị. Nói chung là nó muốn ép cung cho cô Hằng chứ thật sự không có gì hết.

Trước những biểu hiện sai phạm pháp luật rõ ràng này chúng tôi xin ý kiến của luật sư Trần Thu Nam người được gia đình bà Bùi Thị Minh Hằng ủy nhiệm để bảo vệ quyến lợi của bà, luật sư Trần Thu Nam cho biết:

-Tôi nghĩ rằng làm như vậy là vi phạm pháp luật. Bộ luật hình sự Việt Nam cấm mớm cung, ép cung và ngoài việc vi phạm pháp luật ra nó còn thể hiện cái âm mưu gì đó không tốt cho những bị can bị cáo.

Chúng tôi cũng đã lường trước những sự việc này rồi và may mắn là họ không ký vào biên bản lấy lời khai đó. Đây là khó khăn cho quá trình bào chữa cho bà Bùi Thị Minh Hằng. Nếu không ký tên thì không có chứng cứ trong hồ sơ nhưng nếu ký thì sẽ bất lợi. Đây là khó khăn mà chúng tôi đang nghĩ để tìm cách giải quyết nó. Đây là một thử thách rất lớn.

Phải nói rằng pháp luật Việt Nam nó có một số hạn chế cho nên nếu có sự ép cung, mớm cung đó thì sẽ tiến hành việc tố cáo người điều tra trong vụ án này trước pháp luật. Sẽ làm đơn tố cáo các điều tra viên lên các cơ quan cao hơn để giải quyết.

Khi chúng tôi tỏ ra quan ngại cho sức khỏe của cả ba người đã bị giam giữ đến ngày thứ 29 nhưng họ vẫn tiếp tục tuyện thực, làm cách nào can thiệp kịp thời để không đi đến chuyện đáng tiếc xảy ra, luật sư Nam cho biết:

-Tôi chưa được cấp giấy bào chữa cho bà Hằng nên chưa thể biết được tình trạng của bà Hằng như thế nào được.

Viện Kiểm sát Tối cao không thể bỏ qua những lời khai cùng một lúc của cả năm nhân chứng về sự xem thường pháp luật của nhân viên điều tra huyện Lấp Vò. Người dân huyện Lấp Vò nói riêng và cả nước cũng như quốc tế nói chung đều rất chú tâm đến vần đề nghiêm trọng này nhất là khi Việt Nam đã là một thành viên của Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.

DẤU CHÂN XƯA

DẤU CHÂN XƯA

Tìm dấu chân xưa là tìm dấu chân không còn.  Trở về biển nhớ, nghìn dấu chân đã đi qua.  Sóng xô bờ đã bao lần xoá thật kĩ.  Trở về làng cũ, tàu cau đã chết thủa nào.  Năm tháng cũ nhạt hương không còn ấn tích.  Mưa nắng quanh năm giặt bạc màu ký ức.  Đổi thay trong đời như những lớp phù sa đã bao lần cày sâu xuống, lấp kín lên.  Tìm dấu chân xưa là tìm dấu chân đã mất.

Không còn dấu chân cũ mà vẫn cứ tìm vì dấu chân ấy có nhiều thương nhớ.  Bến ga chiều nay mưa phùn bay, nhưng người ta trở về tìm dấu chân cũ vì ảnh xưa thì đẹp và hình xưa là hạnh phúc.  Tìm vết chân cũ, vì ở tình yêu ấy, đã bao lần ngọt ngào cùng nhau quấn quýt bước chân đi.  Không gian thay đổi nhưng hồn quá khứ không muốn đổi thay.  Thế giới ấy đi bằng những bước chân đẹp nên nó trong ngắt.  Bụi chỉ xoá dấu chân trên đường còn thế giới trong ngắt của linh hồn nó đẹp mãi.  Và, vì thế, nhiều người cứ muốn đi tìm.

Đi tìm dấu chân xưa, vì về ngõ hồn quá khứ có khi dễ hơn lách lối tương lai đi tới.  Đời người có khi tương lai khép kín mà quá khứ mở rộng ngõ.  Lắm lúc càng đi về phía trước mà lại chỉ thấy đẹp ở phía sau.  Vì thế, hôm qua, hôm nay và mãi về sau vẫn sẽ có nhiều kẻ muốn đi tìm kỷ niệm của dấu chân xưa.

Dấu chân không gian đã mờ nhạt, bụi cát bôi rồi.  Đi tìm dấu chân xưa là dấu chân trong hồn mà thôi. Có nhiều bước chân.  Có bước chân lên đồi.  Có bước chân vào hoàng hôn.  Có bước chân ra bình minh.  Đi tìm dấu chân xưa là tìm riêng kỷ niệm đẹp.  Nhưng khi quá khứ mở ngõ là mở rộng cả đôi cánh.  Vì thế, có những dấu chân không đẹp, chẳng muốn tìm mà vẫn gặp.  Có dấu chân muốn quên mà cứ nhớ.

Lạy Chúa, trong hành trình đời sống, Chúa đã nói với con về những bước chân:

Đừng dõi theo đường phường gian ác

Đừng tiến tới trong đường lũ ác nhân

Hãy tránh đi, đừng đi qua đó

Hãy quay lại và đi đi. (Cách Ngôn 4:14-15)

 

Ta dạy con trong đường khôn ngoan

Và Ta đã hướng dẫn con đi đường ngay chính

Khi con đi bước chân con sẽ thênh thang

Và nếu con chạy, con sẽ chẳng vấp ngã. (Cách Ngôn 1:11-12)

Dấu chân của một mình ta thôi mà đã là những dấu chân xưa muốn đi tìm rồi.  Huống chi, những dấu chân của hai người đi bên nhau chắc hẳn sẽ còn lưu luyến, bởi, vết chân của người này mở ý cho vết chân của người kia đi về.  Con tim mình thổn thức vì nó dâng hai nhịp đập của một chiều sóng.  Vết chân hôn nhân và vết chân của Đức Kitô với các môn đệ là những vết chân này.

Dấu Chân Thiêng Liêng

Trong dấu chân xưa của những chuyện tình, chuyện thuỷ chung, còn một thứ dấu chân của thập giá. Đó là dấu chân theo Chúa ở biển hồ Galilêa khi nghe tiếng gọi: Hãy theo Ta (Mt 4:19).  Theo Chúa trong hành trình truyền giáo: Ngài sai từng hai người một (Mc 6:7).  Theo Chúa lên cuộc tử nạn: Hãy vác thập giá hằng ngày (Lc 9:23).  Những dấu chân thiêng liêng này không sao xóa nhoà được.  Những bước chân này đã một lần in dấu là kỷ niệm thiên thu.  Bởi, Thiên Chúa quý kỷ niệm.  Ngài không bao giờ quên những bước chân ân tình.  Một lần gọi là một lần muốn có trang thiên tình sử.  Một bước chân đi bên nhau là hy vọng có kẻ mang Tin Mừng.

Khi chết rồi Đức Kitô vẫn về Galilêa, vẫn muốn đến biển hồ.  Gặp gỡ Thây trò ở khúc đường Emmaus không phải là đi tìm dấu chân xưa hay sao.  Nhưng dấu chân xác thân không còn.  Chỉ còn là dấu chân xưa trong hồn mà thôi.  Đó là dấu chân thiêng liêng.

Cửa tương lai sẽ đóng lại.  Thí dụ, ngày Đức Kitô chết.  Vết chân trên cát của Ngài chấm dứt.  Mỗi bước chân nhân thế cũng vậy.  Ngày xuôi tay là bước chân sau cùng chào vĩnh biệt đường trần.  Sự chết đến như con đường cụt.  Tôi không còn bước nữa.  Bây giờ tôi chỉ còn quay lại tìm dấu chân xưa. Và bây giờ dấu chân xưa trở thành vô cùng huyền nhiệm linh thiêng.  Tất cả định mệnh hạnh phúc hay đau khổ của tôi trong cõi sống vĩnh hằng hệ tại những dấu chân xưa này.  Tôi đã bước đi trong quá khứ thế nào, thì bây giờ bước chân ấy cũng dẫn tôi vào tương lai như vây.  Bước chân ngang trái sẽ dẫn tôi tới ngang trái.  Bước chân chính trực, chính trực sẽ đem tôi tới đại lộ.  Cái huyền nhiệm của dấu chân xưa thiêng liêng là không tìm, tôi cũng sẽ gặp, cũng phải gặp, như lời Kinh Thánh sau đây:

“Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự trên ngai vinh hiển của Người.  Các dân thiên hạ sẽ được tập họp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê.  Người cho chiên đứng bên phải Người còn dê đứng bên trái…Bấy giờ đức Vua phán cùng những người ở bên phải rằng: Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc đã dọn sẵn cho các ngươi từ thủa tạo thiên lập địa… Rồi Đức Vua phán cùng những người ở bên trái rằng: Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành cho tên Ác Quỷ và các thần của nó.” (Mt 25:31-46)

Giờ này, dấu chân xưa thiêng liêng có sức mạnh thần thánh đưa tôi về trời cao hay xuống vực sâu.

Ai cũng có kinh nghiệm dấu chân xưa trong đời sống trần thế.  Ngày thơ tuổi nhỏ.  Tấm hình năm cũ.  Nó đưa ta về những vùng ký ức xa mờ.  Dấu chân xưa oan trái sẽ làm ngày tháng hôm nay của ta ảm đạm.  Dấu chân xưa đẹp thì hôm nay cho ta hạnh phúc ngọt ngào.

Trở lại một bến ga bụi sương, dù năm tháng mù mịt rồi, người xưa đã khuất mà lòng ta cứ gần.  Ghé lại bến đò cũ, dòng sông gợi cho ta bao nhớ nhung.  Dấu chân xưa trong chuyện mình lúc còn sống là thế. Nhưng không ai biết thao thức của người chết đi tìm dấu chân xưa như thế nào.  Đơn giản, là không có ai từ cõi chết về kể chuyện cho ta nghe cả.  Phúc Âm có kể chuyện một người chết đi tìm dấu chân xưa như sau:

Xưa có một nguời giàu, ăn mặc những gấm tía, và hàng mịn; ngày ngày yến tiệc linh đình.  Lại có người ăn mày tên là Lazarô, người ta vứt bỏ bên cổng nhà ông, mình đầy lở lói, ước ao có được miếng thừa dưới bàn ông nhà giàu mà ngốn cho no, lại còn bầy chó hoang liếm các ung nhọt người ấy.  Nhưng xẩy ra là người ăn mày chết, và được các thiên thần đem lên dự tiệc ngay lòng Abraham.  Còn ông nhà giàu cũng chết và được tống táng.

Trong âm phủ giữa những cực hình, ông nhà giàu ấy ngẩng mặt lên, thấy đằng xa Abraham cùng Lazarô nơi lòng ông.  Người ấy mới kêu lên và nói: “Lạy cha Abraham, xin thương xót tôi, và sai Lazarô nhúng đầu ngón tay một chút nước mà thấm dịu lưỡi tôi, vì tôi quằn quại đây trong ngọn lửa này.” Nhưng Abraham nói: “Hỡi con, hãy nhớ lại: suốt đời con đã lãnh cả sự lành phần con, còn Lazarô cũng lãnh, nhưng chỉ là tai với họa.  Bây giờ Lazarô được an ủi nơi đây, và con phải quằn quại đau đớn.  Vả chăng giữa chúng ta và các ngươi, đã cắt ngang định sẵn một vực thẳm, khiến cho tự bên này, ai muốn cũng không thể qua bên các ngươi, và tự bên ấy, người ta không thể quá giang đến được với chúng ta. “ Ông nhà giàu lại nói: “Vậy thì, lạy tổ phụ, xin tổ phụ sai Lazarô đến nhà con, vì con có năm anh em, ngõ hầu Lazarô làm chứng răn dạy chúng, kẻo chúng cũng phải sa vào chốn cực hình này.” Abraham nói: “Chúng đã có Maisen và các tiên tri, chúng hãy nghe lời các ngài.” Người ấy đáp: “Thưa tổ phụ Abraham, không đâu!  Song có ai từ cõi chết mà nói với chúng, tất chúng sẽ hối cải.” Nhưng Abraham bảo người ấy: “Nếu chúng không nghe Maisen và các tiên tri, thì cho dẫu có ai sống lại từ cõi chết, chúng cũng chẳng nghe đâu.” (Lc 16:19-31).

Hai người trong câu chuyện, Lazarô và nhà phú hộ đều bước những dấu chân trong đời.  Bây giờ dấu chân ấy đưa họ đi mỗi người mỗi ngã.  Dấu chân xưa của người nghèo Lazarô đưa ông về Nước Trời với Abraham.  Dấu chân xưa của người giàu đưa ông về cõi vắng mênh mông.

Trong cuộc sống này, ta tìm kỷ niệm dấu chân xưa mà nhiều khi không gặp.  Khi chết rồi vào giờ phán xét, những dấu chân xưa thiêng liêng ấy sẽ tự ý đi tìm ta.  Và, dấu chân này sẽ đưa ta về cõi hệ trọng vô biên.  Hạnh phúc hay gian nan.  Bởi đó, mỗi dấu chân linh hồn đi hôm nay trong cõi đời sẽ là dấu chân thiêng liêng cho ngày mai.

Khi nhớ về kỷ niệm là ta đi tìm dấu chân xưa.  Dấu chân đó có thể là những bước chân trên bến đò, trên con đường nhỏ.  Những dấu chân này là dấu chân trong tình cảm, nó sẽ chấm dứt khi ta chết.  Còn dấu chân xưa thiêng liêng là đời sống thánh thiện hay tội lỗi, công bình hay gian tham, độ lượng hay hẹp hòi, thì khi cuộc đời chấm dứt, những bước chân này mới khởi đầu.

Lạy Chúa, khi con đi tìm kỷ niệm cũ, tìm dấu chân xưa trong tình cảm, thì xin Chúa nhắc nhở con đến dấu chân thiêng liêng, để hôm nay con biết đi những bước chân thật đẹp, hầu bước chân này chuẩn bị cho con bước vào hạnh phúc trong Nước Chúa mai sau.

LM Nguyễn Tầm Thường, S.J.

From: langthangchieutim & Anh chị Thụ Mai gởi

Lịch sử phải là những câu chuyện có thật

Lịch sử phải là những câu chuyện có thật

Kính Hòa, phóng viên RFA
2014-03-11

03112014-hist-shld-real-stor.mp3

Các mũi tấn công của quân đội Trung Quốc trong chiến tranh biên giới 1979

Các mũi tấn công của quân đội Trung Quốc trong chiến tranh biên giới 1979

Files photos

Nghe bài này

Cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Trung quốc thường được nói tránh đi trong các văn bảng chính thức, trong các bài giáo khoa lịch sử. Lịch sử có nên được trình bày bằng cách thức như vậy để tránh xung đột hay không?

Sự tế nhị mang tên Trung quốc

Các dân tộc cổ xưa sống cạnh nhau không tránh khỏi những mối hiềm khích. Những hiềm khích ấy vẫn còn là những xung đột, lúc ngấm ngầm lúc công khai giữa thời buổi của công nghệ thông tin mà nhiều người tin rằng nhân loại đang đi đến một thế giới phẳng. Người Nga và Ukraine đang thượng cẳng chân hạ cẳng tay với nhau. Người Nhật và người Trung quốc lời qua tiếng lại suốt hai năm nay. Và ở chiều ngược lại, những cảm xúc dân tộc chủ nghĩa đó ở Việt Nam lại đang được dồn nén lại, dồn nén tới mức tên của quốc gia gây ra cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 là Trung quốc không được nêu lên.

Một hội thảo tại Hà nội mang tên “Bảo tồn và phát huy những giá trị lịch sử của các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, hải đảo và chủ quyền quốc gia thời hiện đại” có vẻ muốn làm một điều gì đó đột phá trong cách thức mà những kiến thức lịch sử được truyền tải trong xã hội hiện nay. Trong lời phát biểu kết thức cuộc hội thảo của Giáo sư Phan Huy Lê được TS Nguyễn Xuân Diện ghi lại trên blog của ông như sau: SGK đã đọc lại hết từ phổ thông, riêng về chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc là có, nhưng rất ngắn. Đến mức tôi đọc cũng không hiểu nổi. Vậy các học sinh sẽ học như thế nào. Còn riêng với Hoàng Sa – Trường Sa  không có chữ nào về chủ quyền.

” SGK đã đọc lại hết từ phổ thông, riêng về chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc là có, nhưng rất ngắn. Đến mức tôi đọc cũng không hiểu nổi. Vậy các học sinh sẽ học như thế nào. Còn riêng với HS-TS không có chữ nào về chủ quyền

(blog Nguyễn Xuân Diện)”

Các cuộc chiến tranh mà cuộc hội thảo trên nêu ra đều có liên quan đến Trung quốc. Và lịch sử nói về những cuộc chiến tranh này không được thực hiện như bản thân môn lịch sử phải có là kể lại trung thực những câu chuyện đã xảy ra. Có vẻ như sự thể lại rắc rối hơn khi hai quốc gia láng giềng có lịch sử xung đột với nhau là Trung quốc và Việt nam lại có cùng một mô hình chính trị xã hội là chế độ cộng sản.

Sự rắc rối này thể hiện ở từ tế nhị mà GS Vũ Dương Ninh dùng trong phát biểu với biên tập viên Mặc Lâm của đài Á châu tự do,

Bộ đội Việt Nam bị Trung Quốc bắt năm 1979

Bộ đội Việt Nam bị Trung Quốc bắt năm 1979. files photos

Có một cái sự tế nhị vô hình nào đó luôn ngăn cản việc này. Chúng tôi cho là đơn giản, lịch sử là lịch sử ta cứ đưa vào, nhưng không đơn giản như vậy. Cuối cùng thì thôi ta phải đưa vào nhưng có lẻ mức độ thôi. Mức độ là thế nào? Lúc đầu viết 3 trang 4 trang sau coi đi coi lại mãi cuối cùng được 12 dòng! Khi trả lời nhà báo tôi nói đây là sự cố gắng rất lớn nhưng có lẻ họ không thể hiểu được cố gắng ấy như thế nào.

Có phần chắc là sự tế nhị đó nằm trong sự tương đồng về thể chế chính trị “anh em” của hai nước, vì sự tế nhị tương tự không hề được nêu lên trong những bài học lịch sử có liên quan đến cuộc can thiệp quân sự của người Mỹ vào Việt nam trước đây. Nhưng sự tế nhị đó không tránh được các cuộc biểu tình chống Trung quốc nổ ra mỗi khi có ngư dân trên biển Đông bị lực lượng hải giám Trung quốc đánh đập, không ngăn được lời phát biểu chống ảnh hưởng của Trung quốc của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi khi ông được hỏi về việc thành lập Khổng tử học viện tại Việt Nam,

“Đối với sự xâm lấn về tư tưởng về văn hóa của người Tàu đã trở thành máu, tôi không cho rằng những cái gì người Tàu làm là tốt.”

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi”

“Đối với sự xâm lấn về tư tưởng về văn hóa của người Tàu đã trở thành máu, tôi không cho rằng những cái gì người Tàu làm là tốt.”

Mặc dù với tư cách một chuyên gia trong lĩnh vực Hán Nôm, ông rất tường tận về sự ảnh hưởng của văn hóa Hán trong xã hội Việt nam.

Sách lịch sử Việt Nam. Files photos

Sách lịch sử Việt Nam. Files photos

Lịch sử dưới mái trường xã hội chủ nghĩa

Lịch sử được giảng dạy dưới mái trường xã hội chủ nghĩa do những người cộng sản điều hành không đơn giản là là những câu chuyện xưa được kể lại một cách trung thực, mà theo những người cộng sản thì nó phải mang tính giai cấp. Tức là nó phải mang quan điểm của giai cấp lãnh đạo mà cụ thể là đảng cộng sản. Do vậy lịch sử dưới mái trường xã hội chủ nghĩa mang tính chính trị rất cao, và thời lượng được tập trung rất nhiều vào giai đoạn từ khi đảng cộng sản ra đời, 1930, trở về sau, tức là vỏn vẹn chưa đầy 100 năm trên hơn 2000 năm của lịch sử dân tộc nếu kể từ khi có những văn bản ghi chép đầu tiên.

Cũng chính vì học thuyết giai cấp ấy trong môn lịch sử mà rất ít học sinh Việt Nam biết về cuộc xâm lăng miền Đông Ba Lan của Liên Xô đầu thế chiến thứ hai, hay là những cuộc nổi dậy Budapest tại Hungary năm 1956, Prague tại Tiệp Khắc năm 1968.

Môn lịch sử-chính trị ấy đang bị các học sinh Việt nam từ chối học, như một tin được đưa trên báo Thanh niên gần đây là tỉ lệ học sinh của một ngôi trường trung học tại thủ đô Hà nội chọn môn lịch sử để thi là…không có em nào cả

Trong những bài học lịch sử mang tính chính trị, thế giới cộng sản được hình dung là các nước anh em, vào thời hoàng kim của nó gồm 13 nước, chống lại hệ thống tư bản bóc lột phía bên kia. Những bài học lịch sử chính trị ấy không làm tránh được những cuộc chiến tranh đẫm máu Xô Viết-Trung quốc năm 1969, và Trung quốc –Việt nam mười năm sau đó. Và trong chừng mực nào đấy là những cuộc chiến dân tộc chủ nghĩa trong không gian hậu Xô Viết khi đế chế Liên xô sụp đổ.

” Môn lịch sử-chính trị ấy đang bị các học sinh Việt nam từ chối học, như một tin được đưa trên báo Thanh niên gần đây là tỉ lệ học sinh của một ngôi trường trung học tại thủ đô Hà nội chọn môn lịch sử để thi là …không có em nào cả.”

Liệu sự tế nhị mà giáo sư Ninh đề cập có tránh được chiến tranh như nó từng xảy ra giữa các quốc gia cộng sản “anh em”? Hay là phải hóa giải những xung đột dân tộc bằng những phương cách khác với sự che dấu (tế nhị) những gì đã thực sự diễn ra?

Và sau cùng sự tế nhị ấy có làm cho học sinh Việt nam trở lại với môn lịch sử? Hay nó chỉ làm những gười Việt biểu tình bên bờ hồ Hoàn Kiếm thêm bực bội vì ngày 17/3 vì tế nhị mà nhường bước cho buổi nhảy đầm dưới chân tượng đài vua Lý? Đây dường như là câu hỏi lớn mà cuộc hội thảo vừa qua cũng chưa cho thấy câu trả lời như lo ngại của nhà báo Nguyễn Hữu Vinh khi kết thúc buổi hội thảo rằng nó sẽ dừng lại ở đâu đó mà không tiến triển gì thêm.

Giáo xứ Cồn Dầu sắp bị xóa sổ

Giáo xứ Cồn Dầu sắp bị xóa sổ

Thanh Quang, phóng viên RFA
2014-03-10

14-huynhngocchenh.jpg

Người dân trong một lần tập trung khiếu kiện về đất đai.

Courtesy of huynhngocchenh

Giáo xứ Cồn Dầu ở Đà Nẵng, hiện chỉ còn lại khỏang 100 hộ, xem chừng như sắp sửa bị “xóa sổ” theo biên bản của một phiên họp hồi tuần rồi giữa quan chức Đà Nẵng và đại diện của dân oan Cồn Dầu.

Hôm mùng 7 tháng Ba vừa rồi, chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Văn Hữu Chiến chủ trì buổi họp bao gồm 16 quan chức hàng đầu các ban ngành địa phương và 12 đại diện cho khỏang 100 hộ giáo dân còn ở lại Giáo Xứ Cồn Dầu.

Đúc kết phiên họp, phía quan chức khẳng định, đại ý, rằng việc thu hồi đất của các hộ còn lại này để gọi là triển khai dự án khu đô thị sinh thái Hòa Xuân được thực hiện theo “đúng quy hoạch”, “đúng quy định của pháp luật”; cho rằng yêu cầu của giáo dân được tái định cư tại nơi giải tỏa là “không có cơ sở giải quyết”; và đề nghị “các hộ phải bàn giao mặt bằng trước ngày 15 tháng Tư năm 2014” này.

Nhưng hầu như tất cả đại diện phía giáo dân vừa nói “không đồng ý với sự giải quyết”, “không đồng ý buổi họp”, hay “chưa thỏa đáng”.

Tôi bức xúc lắm. Bởi vì gia đình tôi hiện có mẹ già, 3 con thì còn quá nhỏ. Cho nên tôi không biết gia đình sẽ ở đâu!
– Anh Trần Nhất Huy

Theo kế họach của giới cầm quyền thì trước mắt, họ cưỡng chế  3 gia đình vào thứ Ba ngày 11 tháng này. Gia đình giáo dân Trần Nhất Huy thuộc trong 3 hộ ấy. Anh Huy lên tiếng:

Tôi bức xúc lắm. Bởi vì gia đình tôi hiện có mẹ già, 3 con thì còn quá nhỏ. Cho nên tôi không biết gia đình sẽ ở đâu! Tôi nói thiệt chớ gia đình rất bức xúc trong tình cảnh một mẹ già và 3 đứa con thơ !

Giáo dân Ngô Thị Liên, từng là nạn nhân của hai lần bị cưỡng chế, cho biết:

Giáo dân hiện rất lo sợ. Còn khỏang 100 hộ ở lại Giáo xứ Cồn Dầu. Nhưng giờ chính quyền quyết liệt bắt đầu lại cưỡng chế, mà trước mắt là 3 gia đình, vào thứ Ba 11 tháng Ba này. Nhưng mình chẳng làm chi được. Mọi việc đều do bên chính quyền hết trơn. Giáo dân đi tới TP thì chính quyền cũng không giải quyết. Rồi bây giờ TP Đà nẵng lại ra quyết định cưỡng chế toàn bộ giáo dân vốn đang bám trụ ở Giáo xứ Cồn Dầu. Bây giờ giáo dân đang hoang mang, không biết sẽ đi đâu !

Khi đề cập tới hành động tiếp tục cưỡng chế của giới cầm quyền, một giáo dân khác lưu ý:

Giáo dân chấp nhận bị cưỡng chế chứ họ không chịu đi. Trước đây, cấp phường với quận cưỡng chế, còn bây giờ có thêm TP nhúng tay vào cuộc cưỡng chế này.

Nguyện vọng của giáo dân

Nói chung, số giáo dân hiện còn lại ở Giáo Xứ Cồn Dầu mơ ước chính quyền giải quyết cho họ được ở lại gần Nhà Thờ. Họ cho biết là “bức xúc lắm”, bởi vì nếu như đi thì giáo dân đã đi rồi. Cho đến bây giờ, giáo dân nghĩ rằng đất của tổ tiên, ông bà để lại cho họ lâu nay rồi, nên họ mong được tiếp tục ở lại trên đất của cha, ông. Nhưng nhà nước không chấp nhận và “lúc nào cũng cưỡng chế”. Giáo dân Ngô Thị Liên bày tỏ nỗi niềm này:

Nguyện vọng giáo dân chúng tôi muốn được tiếp tục ở bên cạnh Nhà Thờ, ở trên mảnh đất của mình do ông bà để lại. Đất của mình mà họ kêu bán cho người khác, để người khác được ở mà giáo dân thì không được ở. Giáo dân muốn ở lại quê hương, trên đất của mình, bên cạnh Nhà Thờ để sớm hôm đi lễ, nguyện cầu. Nguyện vọng chừng đó thôi mà cũng không được. Chính quyền đang ra sức cưỡng chế, mà trước mặt là 3 gia đình. Và trong tháng Tư này, họ nói số còn lại phải “trả mặt bằng”, phải giao mặt bằng cho họ, nếu không, họ sẽ cưỡng chế tòan bộ.

Chị Ngô Thị Liên vừa tâm sự đó có lẽ là một trong số giáo dân lâm cảnh oan khuất nhất vì gia đình chị bị cưỡng chế tới hai lần trong khi người chồng thương yêu cũng vừa qua đời. Chị Liên than rằng:

Giáo dân chấp nhận bị cưỡng chế chứ họ không chịu đi. Trước đây, cấp phường với quận cưỡng chế, còn bây giờ có thêm TP nhúng tay vào cuộc cưỡng chế này.
– Một giáo dân

Chính gia đình tôi, chồng tôi vừa mới qua đời mấy ngày. Tôi rất bức xúc. Ảnh cứ lo âu là không có nhà có cửa. Rồi gia đình chúng tôi, sau khi nhà bị cưỡng chế, đang thuê được nhà trong xóm thì họ vô cưỡng chế tiếp. Mình con cái rồi không nhà không cửa. Chồng tôi lo nghĩ quá rồi bị lên máu, bị xuất huyết não. Chứ ảnh thì không có bệnh họan chi hết. Tôi rất là bức xúc, chẳng biết nói làm sao hết. Hiện mẹ con tôi đang bơ vơ đây ! Lỡ mà mai mốt họ lại cưỡng chế nữa thì tôi không còn đường nào mà chạy nữa (khóc) !

Phản ứng trước cảnh nhiễu nhương như vậy, một giáo dân Cồn Dầu không dằn được cơn tức giận:

Hành động này là quá gian ác, tàn bạo. Không phải chỉ chính quyền Đà Nẵng, mà hầu như toàn thể bộ máy chính quyền độc đảng VN quyết làm việc gì là họ không còn nghĩ đến lương tâm nữa. Muốn làm việc gì thì họ làm cho bằng được, bằng mọi giá. Họ muốn nói thế nào là họ nói. Bây giờ TQ đã chiếm Hòang Sa, nhưng mình lên tiếng thì họ bắt nhốt. Bởi vì, mình nghĩ, chính quyền này quá tàn bạo…

Từ cuối năm 2013, dân oan Cồn Dầu đã 3 lần ra Hà Nội để khiếu kiện, mỗi lần đều được chính quyền trung ương cấp giấy đề nghị chính quyền địa phương “giải quyết thỏa đáng” cho yêu cầu tái định cư của giáo dân. Nhưng các quan chức địa phương cố tình “đổ qua đổ lại”, “đùn đẩy cho nhau” để rồi không bao giờ giải quyết cho nguyện vọng chính đáng của dân oan. Và cho đến hôm nay, giới cầm quyền Đà Nẵng mới chính thức tuyên bố không giải quyết theo yêu cầu của giáo dân Cồn Dầu.

Từ North Carolina, Hoa Kỳ, ông Trần Thanh Tùng, đại diện Giáo dân Côn Dầu Hải ngọai, cho biết vào đầu tuần tới, dân oan Cồn Dầu sẽ ra Hà Nội để khiếu kiện và cung cấp những giấy tờ văn bản rõ ràng của chính quyền Đà Nẵng, qua đó cho thấy giấy tờ dự án khu sinh thái Hòa Xuân trình lên chính quyền trung ương chỉ có 110 hecta, vậy 300 hecta còn lại là dự án ‘chui’ để các quan chức địa phương “chia chác nhau”.

 

Người Mỹ gốc Việt hồi hương ???..!!!

Người Mỹ gốc Việt hồi hương ???..!!!

Hồi hương…!!!
Kể từ sau năm 1975, vì biến cố chính trị, số người Việt Nam lưu vong sống trên các đất nước tự do có thể tính bằng con số triệu. Có mọc rễ hay không trên xứ người nhưng phần đông Việt kiều trong thâm tâm luôn nhớ về quê hương nơi chôn nhau cắt rún, nơi chứa nhiều kỷ niệm từ nhỏ cho đến lớn, nơi có đồng bào cùng màu da, cùng tiếng nói. Nhất là những người lớn tuổi về hưu, con cái đã trưởng thành, đã nên người thay thế cha mẹ ra đóng góp cho xã hội thì họ lại thường cảm thấy cô đơn lạc lõng bên xứ người và muốn trở về để gởi nắm xương tàn trên quê hương mình mặc kệ những bất đồng chính kiến, mặc kệ ngày nào đã bất kể sống chết, bỏ lại tất cả để ra đi tìm tự do.
Ông Tâm là một trong số người muốn trở về cố hương đó. Ông là sĩ quan cấp tá của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Sau năm 1975, dĩ nhiên cũng như các sĩ quan khác ông cũng phải đi học tập cải tạo một thời gian dài, nhà cửa bị tịch thu, con cái không được học đến nơi đến chốn vì lý lịch xấu. Ngày ông còn trong tù thì vợ ông đã mất vì quá lao lực, và suy dinh dưỡng. Ra tù ông lại phải sống thấp tha thấp thỏm lo sợ không biết một ngày đẹp trời nào đó bọn ác ôn bắt bỏ tù trở lại; rồi gia đình bị bắt đi kinh tế mới; cuộc sống dưới chế độ mới thiếu thốn, khổ cực trăm bề nên ông cố sống cố chết tìm cách đưa con cái vượt biển. Cũng may nhờ bạn tù giúp đỡ nên chuyến vượt biển thành công. Sau một thời gian ở trại tị nạn gia đình ông được sang định cư ở Hoa Kỳ.
Ông Tâm qua được xứ sở tự do thì ngã bịnh mất khả năng lao động nên được hưởng tiền bịnh do tiểu bang cấp cho. Bốn người con đứa đi học nghề, đứa ra làm việc và từ từ đều lập gia đình có cuộc sống ổn định bên xứ người. Nhưng vì công việc nên mỗi đứa con lại ở một tiểu bang, chỉ thi thoảng mới gặp nhau. Còn cô gái lớn thì ở cùng một tiểu bang với cha.
Ông Tâm ở riêng một mình. Ông không muốn làm phiền đứa con nào vì tính ông độc lập lâu nay, cứ ngại làm mất tự do và đời sống riêng tư của con cái, và ông cũng thích sống một mình cho thoải mái. Ông mua một cái mobile home giá rẻ, cho một hai người thuê phòng ở chung để có thu nhập trả tiền đất, và nhờ bạn bè làm mai giới thiệu cho ông một bà góa để đỡ phòng không chiếc bóng.
Bà góa này tên Tình, coi xấu người mà đẹp tính. Bà Tình hiền lành, dễ tính, biết chịu đựng, biết im lặng nghe ông nói mà không tranh cãi gì cả. Ông chỉ con chó mà nói là con gà thì bà cũng ừ cho đó là con gà; ông bắt bà im thì bà không dám hó hé lấy một tiếng mà nín thinh cả mấy ngày trời cho tới khi ông cho nói bà mới dám mở miệng… Con cái của ông đều quí mến bà mẹ kế này và nhiều khi còn binh bà để phản đối ông quá ăn hiếp:
– Sao cô hiền quá vậy? Ba con nói ngang nói ngược mà cô không cãi cứ để ổng ăn hiếp hoài.
Bà Tình cười hiền lành:
– Thì cô coi như cha, cãi làm chi với cha cho mệt.
Bà Tình làm ở nursing home săn sóc chiều chuộng người già, người bịnh cũng quen nên mới có thể ở chung với ông Tâm được. Tính tình hai người khác nhau như hai thái cực nên có lẽ ở với nhau để bù đắp cho nhau. Bà Tình dễ tính bao nhiêu thì ông Tâm khó bấy nhiêu. Ngày xưa sống trong quân kỷ quen, ông dùng kỷ luật sắt trị lính và trị cả gia đình. Con cái phạm lỗi là ông đét đít không tha. Ði thưa về trình, đúng giờ đúng giấc không được sai một phút. Chiều tối là cửa đóng then cài, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Ra vào cửa phải đóng, quên là bị phạt mở ra đóng lại 100 lần cho quen. Ở xứ Mỹ, bạn bè con cái có bất thình lình ghé ngang nhà thăm ông mà không gọi điện báo trước chớ hòng ông mở cửa tiếp. Có ông bạn thân sẵn đi câu về ghé tặng ông ít cá tươi, gọi cửa hoài ông không mở, chỉ đứng trong nhà ngó ra nên người bạn phải treo bị cá trước cửa rồi bỏ đi. Nhiều, nhiều kỷ luật và nội qui được đặt ra lắm nên đám con không gần gũi cha cho mấy, đứa nào cũng sợ ông như sợ cọp. Bạn bè ai cũng lắc đầu, bảo ông là chướng.
Vậy mà bà Tình cũng hay, sống với ông được đến 4 năm mới chia tay vì có một ngày ông cấm không cho bà về thăm lo cho con cái và cháu ngoại riêng nữa. Lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng bà phản đối, chống lại ông. Ông Tâm muốn gì bà cũng chiều ngoài việc này. Tấm lòng người mẹ bao la như biển, lúc nào cũng lo lắng, bảo bọc, và hy sinh cho con thì ông Tâm chẳng thể nào mà chia cách được. Ông Tâm lâu nay quen ra lệnh và bà Tình thì quen tuân theo nên lần này nghe bà phân trần ông đã nổi giận mất khôn mà quát lên:
– Ở trong nhà này phải giữ kỷ luật, phải đi về cho đúng giờ giấc. Mấy hôm nay cứ tối mịt mới về nhà, cứ lấy cớ là về thăm cháu bịnh. Cháu bịnh thì có mẹ nó lo. Bà dẹp đi. Bà đi với thằng nào? Từ nay không có đi thăm cháu chiếc gì nữa. Còn không thì bà đi luôn đi. Nhà này không chứa đàn bà vô kỷ luật, thúi tha, mất dạy.
Bà Tình mở lớn mắt nhìn ông Tâm. Còn gì để nói nữa. Ðã biết rằng khi nổi giận thì ăn nói hồ đồ, nhưng bà không ngờ ông Tâm lại thốt những lời khó nghe và không tôn trọng bà như thế. Bà Tình lẳng lặng vào phòng thu xếp hành lý bỏ gọn trong cái va ly nhỏ. Không nói thêm một tiếng để chào từ giã ông Tâm đang mặt hầm hầm, bà xách va ly ra xe nổ máy chạy đi và không quên gọi cho đứa con gái của ông để báo cho nó biết:
– Chào con, cô chia tay với ba con rồi và sẽ không trở lại nữa đâu. Con nhớ ghé lại săn sóc cho ổng nhen.
– Cô đi luôn à? Con cũng lo sẽ có ngày này vì tính Ba nóng quá. Cô ơi, có gì cô bỏ qua cho vì con biết Ba thương cô lắm.
Cô Tình bùi ngùi nói:
– Cô biết Ba con tính nóng nên lâu nay nhịn và chiều ổng cho xong. Già rồi sống nương tựa với nhau cho vui. Con cái khôn lớn tách riêng thì mình lại càng phải dựa vào nhau để sống và an ủi cho nhau. Có điều Ba con không cho cô về thăm con cháu là không được. Lại còn ghen tuông nói bậy và không tôn trọng cô nữa nên cô buồn lắm. Thôi để tách nhau một thời gian xem sao.
– Cô ơi! Cô ráng giữ sức khỏe nhé. Mai con sẽ qua thăm Ba và khuyên ổng làm hòa lại với cô.
Hôm sau cô con gái đến thăm và khuyên cha:
– Cô Tình hiền và được quá mà sao Ba để cho cổ đi vậy? Ba làm hòa với cổ đi.
Ông Tâm sửng cồ:
– Hiền cái gì mà hiền. Bây giờ dám mở miệng cãi lại rồi còn bỏ đi nữa. Ba không cần thứ bà chằn đó. Ba chỉ thích loại đàn bà nghe lời ba 100 phần trăm, không được cãi mà nói gì cũng phải nghe.
Cô con gái bất mãn nghĩ thầm chứ không dám nói ra:
– Vậy thì ba đi kiếm người câm mà lấy đi. Mà phải vừa câm vừa điếc chứ nghe chửi mà không cãi được chắc họ đánh lại thôi.
Cô Tình bỏ đi không trở lại. Ông Tâm tự ái không làm hòa xin lỗi. Ông lại lủi thủi một mình sống kiếp độc thân góa vợ. Bạn bè cũng giúp ông đánh tiếng mai mối nữa nhưng không bà nào chịu đèn sống chung với ông được đến một tuần. Sức khỏe của ông lại chẳng được tốt cho lắm, bị cao máu, cao mỡ, phải thông tim, phải cắt túi mật, mà lại phải tự lo chợ búa nấu nướng một mình thật mệt mỏi và buồn chán. Cô con gái mỗi tuần chỉ ghé qua thăm cha chớp nhoáng được 1 vài lần vì còn phải đi làm, phải lo cho gia đình con cái. Nhiều khi ông ngồi đó, nỗi cô đơn gặm nhắm, nghĩ đến một ngày thình lình từ giã cõi đời mà con cái không hay để đến khi sình thối lên lối xóm mới biết. Rồi nghĩ đến quê hương bà con bạn bè đông đúc, ra ngõ là có hàng quán cơm tiệm khỏi lo miếng ăn nấu nướng hàng ngày, vui biết bao nhiêu. Ông nghĩ đến một ngày về quê hương, kiếm một miếng đất trồng cây ăn trái, trồng bông hoa cây kiểng, vui thú điền viên sống cho qua tuổi già, có gì chết chôn cạnh mộ bà vợ hiền cũng đỡ lạnh lẽo. Ông chỉ sợ tụi công an đỏ làm khó dễ, nhưng rồi lại tự an ủi mình hy vọng già rồi chắc tụi nó cũng để yên.
Lâu nay ông Tâm cũng thỉnh thoảng liên lạc với một ông bạn thân ở quê nhà tên Phan. Ông Phan có nhà đất ở vùng ngoại ô xa xôi, làm nghề thầy lang vườn, tính tình thuần hậu, chân chất. Ngày trước 75, ông Phan phá đất núi làm rẫy nên ngày nay ông có nhiều đất trên núi lắm. Ông Tâm ngày trước đã giúp đỡ ông Phan rất nhiều và thương tính tình ông Phan nên thường xuyên lui tới thăm nhau. Nay nghe ông Tâm than buồn và có ý trở về sống ở quê hương, ông Phan hăng hái bảo:
– Anh về đi, tôi sẽ tặng anh một mẫu đất sát cạnh nhà tôi để xây nhà ở cạnh nhau sớm hôm hủ hỉ cho vui.
Ông Tâm cảm động:
– Cám ơn anh nhiều. Nhưng tôi biết anh giờ cũng không khá giả gì mấy, tôi không dám nhận đâu. Cho tôi gởi tiền mua lại miếng đất đó để anh có tiền mà lo cho gia đình. Tôi về ở cạnh anh cuối đời anh em có nhau là vui rồi. Chỉ sợ về đó cộng sản làm khó dễ thôi.
Ông Phan đoan chắc:
– Chỗ tôi ở xa làng xa xóm, công an khu vực quen biết thân tình, dễ chịu lắm. Anh về đi không sao đâu. Với lại lớn tuổi rồi tụi nó không để ý làm khó dễ nữa đâu đừng lo. Thỉnh thoảng anh cho nó gói thuốc lá ba số 5 là nó cảm ơn anh lắm lắm, sai gì cũng được.
Bên đòi tặng, bên đòi mua, tình nghĩa tràn trề thật cảm động ứa nước mắt. Cuối cùng ông Phan cũng tặc lưỡi thở dài mà nhận tiền ông Tâm gởi về trả tiền mua miếng đất và xây nhà sẵn giùm để ông Tâm về có nhà ở ngay.
Cô con gái ông Tâm nghe cha đòi về Việt Nam ở thì phản đối:
– Ba à, về đó làm sao sống được với Cộng sản. Tụi nó gian manh thấy Việt kiều có tiền không để yên cho Ba đâu. Ba đã liều thân ra đi mà trở về làm gì.
– Tụi con không hiểu đâu. Ai cũng có cội có nguồn, ba đã già rồi, sống nay chết mai. Ba muốn trở về bỏ nắm xương tàn trên quê hương chứ chết bờ chết bụi ở đây buồn lắm. Ba về ở cạnh bác Phan, có bạn có bè hủ hỉ với nhau đỡ buồn. Ba đã gởi tiền về mua đất xây nhà ở cạnh nhà bác Phan rồi. Bác Phan bảo công an khu vực ở đó dễ lắm mà dân tình cũng hiền lành.
Cô con gái cãi:
– Thì bác ấy muốn ba về ở cạnh nên nói sao cũng được mà. Tụi con đều ở bên đây, Ba về đó lấy ai coi chừng?
Ông Tâm cay đắng:
– Ba ở bên này các con cũng đâu thường xuyên tới thăm được. Con cái ở mỗi đứa một phương mỗi năm họa hoằn về thăm Ba được 1 lần. Còn con thì bận bịu, tất bật suốt ngày. Ba về đó có gia đình bác Phan sát vách, bác bảo sẽ chăm sóc cho Ba. Bác Phan tốt lắm, cho Ba miếng đất để xây nhà mà Ba không lấy đó.
– Ðiều này con không biết. Phải ở lâu mới biết lòng người. Ba về đó lỡ bịnh hoạn đi bác sĩ bệnh viện cũng khó khăn. Nhà bác Phan con nhớ là ở tuốt trên núi khô khan nóng nực, đường đất cheo leo, nhất là không có điện phải xài đèn dầu leo lét, và lại xa thành phố vừa buồn vừa bất tiện. Ba ở đó không tốt đâu.
Ông Tâm cãi:
– Hồi Ba chở tụi con lên nhà bác Phan đến nay cũng hơn chục năm rồi. Càng ngày càng thay đổi tiến bộ chứ. Nghe bác Phan nói đã có điện rồi, dân cư cũng đông đúc hơn nhiều, đã có đường cho xe hơi chạy tới tận nhà.
Cô con gái hỏi nhắc lại:
– Rồi đêm hôm lỡ lên cơn đau tim làm sao đi cấp cứu? Kêu được xe chở được đến nhà thương chắc cũng đã xong đời rồi. Ba bây giờ đâu còn khỏe nữa, ở đây được một nền y khoa tốt gần như là nhất thế giới phục vụ, chăm sóc thường xuyên không tốt hơn sao.
Ông Tâm nghe con gái cản đầu cản đuôi nêu đủ lý do đã không nghe ra mà lại đâm bực. Ông nghĩ chắc lũ con sợ mình về Việt Nam không còn được lãnh tiền già tiền bịnh nữa và sợ phải gởi tiền nuôi cha nên cứ ngăn cản thế kia. Ông bực bội nói:
– Ba đã quyết định rồi. Con đừng cản nữa. Ba về đó tự lo được không cần mấy đứa con phải gởi tiền về giúp mà cứ nói ra nói vào.
Thấy cha bực mình, cô con gái im lặng không cãi nữa. Cô biết tính cha ngang bướng ít khi chịu nghe lời ai khuyên nhất là lời khuyên của con cái mà ông lúc nào cũng nghĩ là con nít con nôi hỉ mũi chưa sạch. Cô hỏi giọng quan tâm:
– Ba tính khi nào thì đi? Ba có muốn con giúp đăng báo bán căn nhà này và đồ đạc không?
Một tuần sau ông Tâm bán được căn mobile home với giá gấp đôi ông đã mua 7 năm về trước. Nhờ đã trả off nên nay ông ôm trọn gói. Ông lại còn “được” hai lần tai nạn xe cộ vào mấy năm trước, chỉ ê ẩm và hư xe sơ sơ nhưng nhờ mua bảo hiểm hai chiều nên được bồi thường vài chục ngàn đô. Tổng cộng được một số tiền cũng khá. Ðã gởi ông Phan tiền mua đất và xây giùm cái nhà gần bằng tiền bán mobile home, vị chi ông còn được tiền đền bảo hiểm xe vài chục ngàn đô. Thời điểm bấy giờ ở Việt Nam tiền đô có giá trị, vật giá cũng rẻ nên theo ông Phan tính toán mỗi tháng ông Tâm chỉ cần tiêu 100 đô là đủ sống. Tằn tiện một chút ông tiêu đến nhắm mắt xuôi tay là vừa. Vậy là bán nhà xong, thu dọn đồ đạc cần dùng vào 2 thùng lớn, ông Tâm Việt kiều bái bai đất nước tự do Hiệp Chủng Quốc đàng hoàng lên máy bay hồi hương, chả bù ngày nào trốn chui trốn nhủi ra đi.
Cả nhà ông Phan gồm vợ con, dâu rể, cháu nội cháu ngoại gần 20 người thuê xe vào Sài Gòn đón bạn vàng hồi hương. Ai nấy cũng tươi như hoa, cười đón Việt kiều thật niềm nở, thân tình. Bà con xa không bằng láng giềng gần, từ nay có gì chạy qua chạy lại đỡ đần nhau cũng vui đấy chứ, hai bên cùng có lợi.
Xe chạy xuyên đêm đến trưa thì về tới quê ông Tâm ở Ninh hòa. Thị trấn giờ tấp nập hơn hồi ông ra đi nhiều. Ông Tâm nhìn lại một số cảnh vật quen thuộc mà lòng bổi hổi bồi hồi nhớ lại những tháng ngày xa xưa với bao thăng trầm vinh nhục. Ngày bỏ quê hương ra đi ông đã thề với lòng chỉ trở về khi không còn Cộng sản, nhưng nay nào có đâu ngờ tự mình lại thất hứa phá bỏ lời thề. Ông như con cá hồi ngược dòng cố sống cố chết vượt bao gian nan bơi về nơi nó sinh ra. Ông đã từ bỏ nơi chốn bình yên có gia đình, sự tiện nghi và nhất là sự tự do để tìm về một chốn mà ông biết trước là địa ngục trần gian chỉ vì nỗi nhớ quê hương trong ông thật tha thiết, mãnh liệt, và nỗi ao ước muốn sau này được yên nghỉ trong lòng đất mẹ hiền.
Ðúng như lời ông Phan nói trước, chiếc xe trung 20 chỗ ngồi cũng len lỏi trên con đường đất gập ghềnh chạy đến tận ngõ nhà mới của ông Tâm. Căn nhà mới quét vôi xanh, mái tôn xám, trông gọn nhỏ và xinh xắn y như trong hình của ông Phan gởi qua. Nhưng xung quanh đất đai có vẻ khô rốc đầy sỏi đá, cây cối lưa thưa và còi cọc, trông thảm thiết như cây cối mọc ở sa mạc.
Ông Phan nói giọng phân bua:
– Cả tháng nay trời không mưa nên cây cối như vậy đấy. Anh dặn tôi mua ít cây ăn trái về trồng nhưng với thời tiết này ngó mòi mấy cây này khó lên nổi.
Ông Tâm an ủi bạn:
– Từ từ rồi tính. Trời không mưa chắc phải làm vòi tưới.
Ông Phan lắc đầu tỏ ý như chuyện này chắc khó rồi ông bảo tài xế đậu xe trước cửa nhà mới của ông Tâm để dỡ hành lý xuống. Vừa bước xuống xe, cái nóng hầm hập cháy bỏng của vùng núi táp vào người cộng thêm sự mệt mỏi của chuyến hành trình vượt đại dương làm ông Tâm choáng váng lảo đảo đứng không vững. Ông Phan vội đỡ ông Tâm bước lên thềm và sai thằng con lấy chìa khóa mở cửa ngay. Một lúc sau ông Tâm mới định thần lại và ngắm căn nhà mới của mình. Nhà chỉ có một phòng khách nhỏ, một phòng ngủ nhỏ đặt vừa cái giường 2 người nằm, một gian bếp nhỏ xíu cỡ 3 mét vuông và một phòng vệ sinh cũng nhỏ xíu. Tổng cộng cả căn nhà chắc khoảng 20 mét vuông. Ðồ đạc sơ sài mới chỉ có bộ bàn ghế gỗ cũ kỹ và cái giường gỗ trải chiếu hoa chắc ông Phan đem từ nhà ông ấy qua.
Ông Phan nói:
– Anh nằm nghỉ ngơi một chút, tôi biểu sắp nhỏ về bưng cái quạt máy qua cho anh và nấu cơm rồi mời anh qua xơi.
Mấy ngày đầu gặp nhau vui vẻ vô cùng. Quà cáp từ bên Mỹ mang về cái gì cũng lạ, đẹp, thơm, và giá trị. Gia đình ông Phan mọi người từ lớn tới nhỏ cứ rảnh ra là tìm tới ông Tâm để nghe kể chuyện hấp dẫn của cuộc sống bên Mỹ. Từ sớm đến tối rộn ràng vui lắm. Ông Tâm bắt đầu mua sắm thêm đồ đạc cần thiết bày biện cho căn nhà của mình. Ông cũng mua tặng bạn mình bộ sofa, cái bếp ga, và cái tủ lạnh. Gia đình ông Phan rất mừng cảm ơn rối rít và càng ân cần coi ông Tâm như thần tài trên trời rơi xuống. Coi vậy mà cũng không tốn kém chi lắm, từ cái lớn tới cái nhỏ, mua đủ thứ mà chỉ tốn xấp xỉ 1200 đô vì đồng đô la lúc này có giá lắm.
Người xưa có câu ca dao:
Thức lâu mới biết đêm dài,
Ở lâu mới biết lòng người thực hư.
Sau tuần lễ đầu tiên vui vẻ, ân cần là những phiền phức, khó chịu dần dần kéo tới. Vợ và con ông Phan thường qua mượn đồ không trả, bọn nhóc thường hay vô tư cầm nhầm món này món nọ nên đồ đạc trong nhà không cánh mà từ từ bay mất. Ông Tâm bực mình lắm nhưng ngại không nói ra. Tính ông cái gì ra cái đó. Xin thì ông cho mà mượn thì phải trả dù là một xu.
Thêm nữa ở lâu ông Tâm dần dần biết được giá cả, vật liệu xây dựng và trị giá đất thời điểm bấy giờ mới hay cái nhà của ông trị giá thật sự chỉ bằng một nửa số tiền ông đã chi. Vậy mà phải mang ơn nghĩa với người ta mới đau. Theo ông thấy ông Phan vẫn là con người đơn thuần, có lòng tốt với bạn bè nhưng vợ con dâu rể của ông thì trái ngược, thích lợi dụng, xin xỏ và có lòng tham không đáy.
Căn nhà mới là do đứa con lớn của ông Phan lo liệu việc xây cất và có lẽ nó đã bỏ túi số tiền chênh lệch khi mua toàn vật liệu xấu và xây quá đơn giản, thiếu tiện nghi. Phòng vệ sinh với loại cầu tiêu trệt ngồi chồm hổm phải múc nước dội. Không có bồn rửa mặt và nhất là không có hệ thống nước máy. Nước dùng để nấu ăn, vệ sinh tắm rửa phải chứa trong hai thùng nhựa lớn mà mấy đứa con nhà ông Phan gánh đổ hàng ngày từ giếng nhà bên ấy. Thấy bất tiện quá nên ông Tâm lại bỏ tiền ra xây hồ chứa nước, bắt máy bơm để bơm thẳng vào nhà và dĩ nhiên là ông phải làm cho cả hai nhà. Ðã không biết đủ rồi chứ, vợ con ông Phan còn xin xỏ ông Tâm giúp đỡ sửa sang đủ thứ cho nhà của họ làm như ông Tâm mang nợ từ kiếp trước không bằng.
Ông Tâm không phải hạng người tính toán keo kiệt. Nhưng cái gì cũng có giới hạn, đâu phải ông là triệu phú và dễ bị dụ. Ông thấy rõ mình bị lợi dụng, bòn rút từng ngày từng ngày một cách trắng trợn. Nơi ông ở hơi vắng vẻ đìu hiu xa thị trấn, lỡ đêm hôm khuya khoắt bịnh hoạn thì phải nhờ hàng xóm láng giềng nên ông bấm bụng chịu đựng tạm thời. Ông đánh tiếng bà con ở thị trấn nhờ thuê một người giúp việc lo dọn dẹp nhà cửa cơm nước riêng cho ông để khỏi phải nhờ vả lệ thuộc nhà ông Phan nữa.
Cô con gái bên Mỹ biết được tình cảnh của ông Tâm thì nhắc cha:
– Ba liên lạc kêu cô Xuân ra ở với Ba để săn sóc cho Ba đi. Con biết cô Xuân vẫn chưa có chồng. Con nghĩ có cổ sẽ an tâm tin cẩn hơn và Ba sẽ có người hủ hỉ đỡ buồn.
Cô Xuân là… bồ nhí của ông Tâm thời ông còn ở trong quân đội phải đi biệt phái xa nhà tận miền Tây. Hai người dây dưa dan díu với nhau gần 2 năm thì ông được phân công tác trở về quê nhà, chia tay với nàng. Rồi nước mất nhà tan ông phải đi học tập cải tạo một thời gian dài. Cô Xuân vẫn chưa lấy chồng, thỉnh thoảng gởi thơ vào tù thăm ông. Sau khi vợ ông mất, cô đến nhà lạy bàn thờ xin lỗi ngày xưa đã phá hoại hạnh phúc của gia đình và xin phép mấy người con được thỉnh thoảng thăm nuôi ông trong tù. Con của ông tư tưởng cũng thoáng nên bây giờ đã gợi ý cho cha liên lạc với cô Xuân để nối lại tình xưa an ủi nhau lúc tuổi già.
Thật ra chẳng đợi con nhắc, ông Tâm cũng đã có ý định đó khi trở lại quê nhà. Cô Xuân thua ông đến 20 tuổi. Ngày ông quen cô thì cô mới 22 tuổi, không đẹp nhưng hiền lành. Cô là con nhà gia giáo nhưng chắc vì duyên nợ từ kiếp trước nên đã phải lòng và yêu ông dù biết ông đã có gia đình. Ðến lúc chia tay với nhau cô vẫn ở vậy không lấy chồng và nghe nói đến nay vẫn còn ở căn nhà cũ với gia đình người em.
Nhà cửa sắm sửa tạm ổn xong, ông Tâm viết thơ liên lạc mời cô Xuân đến ở với ông và cô bằng lòng ngay. Cô Xuân không muốn ông Tâm thuê người làm mà tự mình đảm nhiệm chợ búa, cơm nước và dọn dẹp nhà cửa. Sau hơn 20 năm xa cách cô mới được cơ hội ở chung với người yêu nên vui mừng lắm và tự nhủ sẽ hết lòng săn sóc chàng.
Vậy là gia đình ông Phan mất đi một nguồn thu nhập là lo ăn uống và coi sóc nhà cửa cho ông bạn vàng. Ðến khi ông Tâm từ chối không cho đứa con dâu ông Phan mượn tiền làm vốn đi buôn; không cho thằng Ba của ông Phan mượn tiền mua cái xe cúp đời mới; rồi còn thay ổ khóa và yêu cầu người của nhà ông Phan đừng tùy tiện vào ra nhà của ông mà không gõ cửa thì chiến tranh bắt đầu.
Mấy người đàn bà nguýt háy khi thấy bóng ông Tâm ra vườn:
– Già mà không nên nết! Vài bữa nó dụ hết tiền là sáng mắt.
Hoặc:
– Tưởng Việt kiều là ngon lắm.
Ðúng là ở đời, trâu buộc thường ghét trâu ăn. Bạn bè anh em ai giàu sang ai cùng khổ cứ ở cách xa tít mù chẳng thấy mặt nhau thì thôi, nhưng nếu cái giàu và cái nghèo mà ở sát cạnh nhau thì trước sau cũng sinh ra rắc rối, đố kỵ, tị hiềm. Ông Phan mỗi ngày bị vợ con tác động, nói xấu ông bạn vàng nên cũng bị ảnh hưởng dần. Lại thêm thái độ ông Tâm khi bực dọc thường tỏ ra nét mặt lạnh lùng băng giá nên ông Phan cũng tự ái. Thế là chiến tranh giữa hai nhà càng ngày càng gây cấn. Láng giềng tốt ngày xưa giờ không cho nhà ông Tâm bơm nước giếng để xài, đóng cái cổng chung không cho dùng, phá cây không cho sống… Ðủ thứ cản trở… và cuối cùng đưa nhau ra tòa mới chỉ sau một năm hân hoan đón Việt kiều về nước tay bắt mặt mừng.
Ông Phan kiện đòi lấy nhà đất lại với lý do ông Tâm chiếm đoạt đất xây nhà trái phép. Nhưng cũng may từ khi nhờ vả ông Phan xây nhà, ông Tâm có lần viết thơ hỏi đã gởi tất cả bao nhiêu tiền và ông Phan đã viết thơ trả lời. Có bằng chứng giấy trắng mực đen và có cả thủ tục “đầu tiên” (tiền đâu) nên khi ra tòa ông Tâm đã thắng là ông không chiếm đoạt đất xây nhà trái phép. Nhưng ông Tâm là Việt kiều, đâu được phép mua nhà đất và cũng không được phép ở lâu thường trú trên đất nước Việt Nam. Ông có quốc tịch Mỹ, có visa về Việt Nam nhưng chỉ có thể ở Việt Nam trong vòng 2 năm thôi. Căn nhà này ông không được chủ quyền đứng tên làm chủ. Cuối cùng ông thỏa thuận sang tay để rẻ lại cho bà con của tòa án với giá trị tương đương 5 ngàn đô la Mỹ. Tính ra lỗ hơn hơn chục ngàn đô cho căn nhà và quan trọng nhất là lỗ mất trắng tình bạn.
Ông Tâm mua một căn nhà khác cũng ở xa thị trấn và nhờ cô Xuân đứng tên. Từ ngày về nước ông đã biết được cách chi tiền cho công an khu vực để mua hai chữ yên thân. Cứ mỗi tuần, họ tới thăm và mời “chú Ba” ra nhậu với tụi cháu. Dĩ nhiên chú Ba phải chi cho độ nhậu dù có tham dự hay không. Rồi Tết nhất, rồi mỗi dịp lễ lộc hoặc có chuyện gì trong gia đình họ ông cũng lì xì chút đỉnh. Thành thử ông không cần phải ra khỏi nước để làm lại visa nhập cảnh mà họ cũng không hỏi han làm khó dễ gì cả.
Ðủ thứ chi tiêu chứ không phải như trước kia ông dự trù chỉ cần mỗi tháng một trăm đô. Ăn uống chẳng bao nhiêu nhưng còn những khoản chi không tên mà ông không dự trù trước. Về sống ở đây, không những ông phải chi tốn cho công an mà còn chi cho bạn bè đàn em. Một vài người lính ngày xưa làm việc dưới quyền ông nay gặp lại đều có cuộc sống khó khăn nên nhờ ông giúp đỡ và ông không nỡ chối từ. Một số người nịnh hót nâng ông lên tận mây xanh rồi mượn tiền và hứa chắc như đinh đóng cột sẽ trả nhưng rồi lại trốn mất. Ông như con mồi béo bở, cứ gặp 10 người là đến 9 người xin tiền, mượn tiền nên sau một thời gian ông tránh ra đường sợ gặp người quen mất công từ chối.
Ra đường thì nghi ngại, phải tránh gặp mặt người quen. Ở nhà hoài thì bực mình, dễ gây nhau. Cô Xuân giờ đây không nhu mì hiền lành như ngày xưa nữa. Cô hay mỉa mai, cãi lại. Cô còn hay đi về không đúng giờ giấc, hay lê la nhà hàng xóm, hay giận hờn, và cũng hay xin tiền gởi về giúp đỡ các em của cô có vốn làm ăn. Ông sinh ra nghi ngờ không biết cô đến với ông vì tình hay vì tiền nữa.
Ðúng là “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở. Lấy nhau rồi… chán quá cỡ người ơi.” Về phần cô Xuân thì ngày xưa chỉ nhìn thấy một ông Tâm oai hùng, đẹp trai, uy quyền hét ra lửa. Chàng dịu dàng, chiều chuộng nàng ra phết mỗi khi hẹn hò gặp nhau. Bây giờ thì là một ông lão hết xí quách, hom hem, nhăn nhó, cau có, lại còn khó chịu, độc tài, dễ nổi đóa, ngang như cua và chỉ coi cô như một bà quản gia kiêm đủ thứ hầm bà lằng. Người yêu của cô thay đổi nhiều quá, chẳng giống ngày xưa tí nào cả. Cô bất mãn, cãi lại thì bị ông mắng nhiếc đuổi đi. Cô về quê thì các em lại khuyên cô trở lại với “chồng.” Dầu gì cô cũng đã là một bà cô già, may phước lấy được Việt kiều mỗi tháng có tiền gởi về giúp đỡ gia đình thì đừng dại gì mà bỏ.
Hai người cứ làm hòa rồi lại giận nhau. Cô khăn gói về quê được mấy lần thì đi luôn. Kể ra hai người cũng ở với nhau được hơn 2 năm dài đủ để hát bài “Hai năm tình lận đận, hai đứa cùng xanh xao. Hai năm trời mùa lạnh, cùng thở dài như nhau. Hai năm tình lận đận, hai đứa cùng hư hao. Hai năm tình lận đận, hai đứa đành xa nhau…”*
Ông Tâm hết tình và tiền cũng không còn nhiều. Cũng may ông còn được mấy người con có hiếu, mỗi năm rủ nhau đóng góp gởi về cha già tiêu xài. Ông vẫn cương quyết không về lại Mỹ, không chấp nhận cái sai của mình. Ông tự đánh lừa mình vẫn không nhờ vả con cái khi ghi nợ số tiền các con gởi về coi như mượn tạm để sinh sống vì ngày xưa khi đòi về lại Việt Nam sống ông đã tuyên bố không cần các con gởi tiền về giúp đỡ. Ông cho là căn nhà ông đang ở lên giá gấp 10, khi ông mất con cái bán mà trừ nợ.
Ông Tâm bây giờ phải chi tiêu nhiều lắm. Ngoài tiền ngoại giao với con số không ít còn phải chi cho sức khỏe rất nhiều. Ngày còn ở Mỹ, ông mang đủ chứng bịnh trong người nhưng nhờ y tế của Mỹ rất tốt, lại miễn phí cho người già và bịnh nên ông đi bác sĩ và thuốc men thường xuyên. Nhờ vậy bịnh cao huyết áp, cao mỡ của ông không gì đáng lo ngại. Trở về Việt Nam, ông sống xa thị trấn, bác sĩ nông thôn chẳng có năng lực bao nhiêu, thuốc men không đầy đủ lại thêm ăn uống nhậu nhẹt không kiêng cữ nên sức khỏe của ông giảm sút hẳn. Ông phải nhờ người quen giới thiệu một bác sĩ giỏi ở thị trấn và bao tất cả chi phí để vị bác sĩ kia đến tận nhà khám cho thuốc khi ông trở bịnh. Tiền bác sĩ, tiền thuốc men, và cả tiền quà cáp cho bác sĩ ngốn của ông mỗi tháng rất cao mà bịnh thì chỉ khống chế được giai đoạn ngắn rồi tái đi tái lại. Ðau nhức vẫn hoàn đau nhức, đau tim vẫn hoàn đau tim, và… khó chịu vẫn hoàn khó chịu có khi còn nặng hơn xưa.
Phải, ông Tâm càng ngày càng khó tính. Từ ngày cô Xuân bỏ đi không trở lại, ông nhờ giới thiệu người làm tới nhà lo việc nội trợ và để phòng khi ông bị lên cơn tim bất thình lình thì kêu bác sĩ hoặc đưa đi cấp cứu nhưng không ai có thể ở với ông được hơn tuần. Ông cấm họ không được ra khỏi nhà ngoại trừ thời gian giới hạn cho đi chợ, dễ nỗi giận la mắng ầm ĩ và làm tình làm tội đủ điều nên không ai ở được. Cũng may ông thuê được người nấu ăn mang đến nhà hàng ngày và dọn dẹp sơ nhà cửa. Nhưng cũng vì vậy mà ông càng ở riệt trong nhà và càng ngày càng thu mình trong căn nhà nhỏ, chỉ khi nào rất cần thiết mới ra ngoài.
Con cái về thăm khuyên cha:
– Ba qua lại Mỹ sống với tụi con đi. Ba ở đây mà cứ ru rú trong nhà như vậy thì dễ bịnh lắm.
Ông bảo:
– Sức khỏe của Ba giờ không đi xa được đâu. Ba ở nhà quen rồi, buồn thì ra vườn chăm ngó mấy cây xoài, cây mít cũng vui.
– Nhưng Ba ở có một mình lỡ có chuyện gì bịnh hoạn bất tử ai biết mà cứu?
– Có chị đưa cơm mỗi ngày 2 lần ghé qua đưa cơm nước mà. Với lại Ba có thuê chồng của chỉ mỗi ngày qua nhổ cỏ làm vườn giùm. Không sao đâu, Ba có chuyện gì họ biết liền.
Cô con khuyên:
– Ba chịu khó đi đây đi đó cho thoải mái chứ cấm cung mãi như vầy à?
Ông Tâm lắc đầu:
– Ba ra đường mà cứ sợ gặp người lợi dụng mình thì càng không thoải mái hơn.
Nhưng đâu phải không ra đường cứ ru rú ẩn mình trong nhà là yên. Cứ mỗi tháng vài lần, công an khu vực lại tới hỏi thăm “chú Ba” một cách thân tình:
– Chú Ba ơi, có khỏe không ra quán nhậu vài chai bia với tụi cháu cho vui.
Lâu lâu bọn chúng nài nỉ quá ông Tâm phải ra quán uống 1 ly bia rồi lấy cớ sức khỏe yếu bỏ về, không quên trả trước tiền độ nhậu. Còn thì ông hay móc túi dúi cho chúng vài trăm ngàn cho yên:
– Chú hôm nay bị đau dạ dày. Cầm ít tiền ra đó uống giùm chú vài ly.
Nhiều khi bọn chúng đang nhậu ngoài quán cũng nhớ đến chú Ba gọi phone mời ra tham dự. Dĩ nhiên chú Ba không thể đến nhưng cũng phải biết ý cháu chắt mà hứa sẽ… tiền đi thay người. Vậy mà ông còn khoe với con gái:
– Chút ít tiền chi ra mà Ba sai gì tụi nó cũng làm.
Nói chữ sai là nổ cho vui vậy thôi chứ lâu lâu có rắc rối bên làng xóm cãi cọ ồn ào hoặc bọn lưu manh ở đâu tới phá làng phá xóm ông gọi phone kêu công an khu vực tới can thiệp. Có chú Ba chịu chi thưởng tiền đi nhậu nên khi chú Ba gọi phone là bọn chúng tới giải quyết ngay làm hàng xóm cũng nể nang ông lắm. Rồi có lần con chó cưng của ông chạy ra đường bị thất lạc cũng nhờ mấy cháu kiếm lại giùm. Dĩ nhiên cũng phải hậu tạ.
Chỉ một năm sau khi ông Tâm khoe với con gái về đám “cháu hờ dễ sai” của mình, chuyện xấu xảy ra. Ông nhận được giấy của sở nhà đất thông báo có đơn kiện ông chiếm dụng nhà ở trái phép của cô Trần Thị Xuân và đòi ông phải bàn giao nhà cho cô ta 10 ngày sau. Thơ đến trễ nên 10 ngày sau trong thơ tức là ngày mai. Ông Tâm giật mình nghĩ lại căn nhà mình đang ở ngày đó mua đứng tên cô Xuân chủ quyền vì cô là công dân của nước Việt Nam. Cô bỏ ra đi đã mấy năm nay, mỗi tháng ông đều gởi tiền cho cô sinh sống đã không biết ơn rồi chớ nay lại trở ngược kiện cáo đòi chiếm nhà.
Ông Tâm gọi điện thoại ngay cho cô Xuân nhưng phone reng không ai trả lời. Ông cố gắng gọi liên lạc với 1, 2 người em của cô Xuân nhưng mọi người hình như tránh mặt, không thể nào liên lạc được. Họ tránh mặt là phải vì đã thông đồng ép cô Xuân kiện sở nhà đất đòi lấy căn nhà ông Tâm đang ở để có tiền bù việc làm ăn thua lỗ. Và họ đã đi đêm với sở nhà đất, với công an khu vực nên ngay ngày hôm sau ông Tâm bị đám cháu hờ công an khu vực với những gương mặt lạnh lùng vô cảm cùng với nhân viên nhà đất trục xuất ra khỏi căn nhà ông đang trú ngụ.
Muốn được yên thân gởi nắm xương tàn trên quê hương đâu dễ với tình hình đất nước nhiễu nhương bất ổn, với bọn lãnh đạo bất lương thích đi đêm như hiện nay chuyên xài luật rừng.
Ông Tâm đang trên máy bay trở về Mỹ sau khi được Việt Nam phẫu thuật mổ cho sáng mắt để biết rằng, dùng tiền đi mua lòng người mà nhất là bọn gian tham sẽ không được bền vững trước sau cũng bị phản bội. Và lâu nay cũng chính vì đồng tiền ông đã mất đi bạn bè, người yêu và nhất là sự tự do trên quê hương mình

Kimtrong Lam gởi

THA THỨ.

THA THỨ.

Một thiền sinh hỏi: “Thưa sư phụ, con đau khổ vì cha mẹ tàn nhẫn, người yêu con ruồng bỏ, anh em phản bội, bạn bè phá hoại… Con phải làm sao để hết oán hờn và thù ghét đây?”
Vị sư phụ đáp: “Con ngồi xuống tịnh tâm, tha thứ hết cho họ.”
Vài hôm sau, người đệ tử trở lại: “Con đã học được tha thứ cho họ sư phụ ạ. Thật nhẹ cả người! Coi như xong!”
Sư phụ đáp: “Chưa xong, con về tịnh tâm, mở hết lòng ra thương yêu họ.”
Người đệ tử gải đầu: “Tha thứ thôi cũng đã quá khó, lại phải thương yêu họ thì… Thôi được, con sẽ làm”
Một tuần sau, người đệ tử trở lại, mặt vui vẻ hẳn, khoe với sư phụ là đã làm được việc thương những người mà trước đây đã từng đối xử tệ bạc với mình.
Sư phụ gật gù bảo: “Tốt! Bây giờ con về tịnh tâm, ghi ơn họ. Nếu không có họ đóng những vai trò đó thì con đâu có cơ hội tiến hóa tâm linh như vậy.”
Người đệ tử trở lại, lần nầy tin tưởng rằng mình đã học xong bài vở. Anh tuyên bố: “Con đã học được và ghi ơn hết mọi người đã cho con cơ hội học được sự tha thứ!”
Sư phụ cười: “Vậy thì con về tịnh tâm lại đi nhé. Họ đã đóng đúng vai trò của họ chứ họ có lầm lỗi gì mà con tha thứ hay không tha thứ.”

SUY NGHĨ :

Câu chuyện thật ý nghĩa, chúng ta có thể nhận ra rằng tha thứ giúp cho chúng ta đóng lại những đau thương, bất công trong quá khứ và nhìn nhận các sự việc rõ ràng để buông xuống. Tha thứ giúp cho chúng ta mở rộng lòng yêu thương, giúp cho ta nhìn lại chính mình đã làm hao phí năng lượng khi đánh mất lòng khoan dung.
Tha thứ chính là một tiến trình tiến hóa tích cực của nội tâm, khi chúng ta thật sự đối diện và buông xuống những đau thương, mất mát, bất công… chúng ta sẽ không còn mang lòng oán hận, giận dữ… từ đó giúp cho chúng ta không nuôi dưỡng những niềm cay đắng, phẫn uất, trả thù… để rồi tạo thêm những điều bất thiện ở hiện tại và tương lai lại phải nhận sự khổ đau.
Qua đó, chúng ta nhận rõ tha thứ giúp cho chúng ta sống an ổn hiện tại và tương lai. Vì vậy, có thể nói rằng “tha thứ cho người khác chính là tha thứ cho chính mình”, vì khi chúng ta buông bỏ lòng thù hận, sẽ giúp cho tâm mình luôn bình an. Tâm bình an sẽ là chất liệu để tạo dựng nên lòng yêu thương từ bi cho mình và cho tất cả.
Đọc và suy ngẫm câu chuyện một lần nữa, chúng ta thấy rõ như một trình tự khi bạn biết tha thứ , bạn sẽ có lại tình thương với những đối tượng đã gây cho mình đau khổ mà bấy lâu mình đánh mất vì thiếu lòng khoan dung , hiện khởi Tâm Từ Bi rộng lớn, nhớ ơn tất cả đã cho chúng ta sự thành tựu này và chợt nhận ra rằng “vạn pháp vốn bình đẳng”.
Trên bước đường tu tập của người con Phật, chúng ta phải cảm ơn những bậc thiện hữu tri thức đã đưa đến cho mình nghịch duyên để chúng ta có cơ hội nâng cao đời sống tâm linh của chính mình. Nghịch tăng thượng duyên là vậy! Thật vậy, nếu lúc nào cũng thuận duyên, cũng đều được quí mến thì ta dễ dàng bị ru ngủ trong niềm tự hào, hãnh diện , ta đang biến mình thành nô lệ cho sự cống cao ngã mạn… tự đánh mất chính mình lúc nào không hay. Vì vậy, vị Sư đã dạy người học trò của mình phải biết ghi ơn những người đã đem đến cho mình những phiền não, oan uổng….để chúng ta có cơ hội nhìn lại chính mình, thực hành và chuyển hóa nội tâm, để nhận chân sự thật “chẳng có ai là người tha thứ và được tha thứ cả!”
Với tôi, việc học cách tha thứ và hành theo những lời dạy của Chư Phật, Chư Tổ không phải đơn giản và dễ dàng nhưng cũng không phải là quá khó nếu mình muốn và tôi đã bắt đầu cho những sự việc nhỏ nhất từ trong cuộc sống của chính mình với mọi người xung quanh…để có được sự bình an hạnh phúc chân thật!

Cổ Đức có câu này: “ Càng buông bỏ dưới chân này.
Ấy là chỗ đứng càng ngày càng cao ”

Từ Nguyễn Kim Bằng gởi