HD-981 : Việt Nam không nên sập bẫy ‘song phương’ và ‘không kiện’ Trung Quốc

HD-981 : Việt Nam không nên sập bẫy ‘song phương’ và ‘không kiện’ Trung Quốc

Nghe (20:24)

RFI

Dàn khoan Hải Dương HD-981 (DR)

Dàn khoan Hải Dương HD-981 (DR)

Trọng Nghĩa

Sau hơn hai tháng cho giàn khoan HD-981 vào hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ngoài Biển Đông, khuấy động quan hệ giữa Bắc Kinh và Hà Nội, ngày 15/07/2014 vừa qua, Trung Quốc đã di chuyển giàn khoan về hướng đảo Hải Nam. Quyết định – được Bắc Kinh loan báo một hôm sau đó – đã làm cho tình hình bớt căng thẳng – nhưng cũng làm dấy lên nhiều câu hỏi về dụng tâm thực sự của Trung Quốc.

Giới chuyên gia đều ghi nhận là việc Bắc Kinh « cho rút » giàn khoan diễn ra ít lâu sau khi Thượng viện Mỹ, trong một cử chỉ hiếm thấy, đã bỏ phiếu nhất trí thông qua một Nghị quyết lên án hành vi khiêu khích của Trung Quốc, và yêu cầu Bắc Kinh trả lại hiện trạng cho khu vực, và sau một cuộc điện đàm giữa Tổng thống Mỹ Barack Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Quyết định rút sớm hơn thời hạn dự trù ban đầu cũng được đưa ra một tháng trước Hội nghị Ngoại trưởng thường niên của Khối ASEAN và các đối tác tại Miến Điện, đặc biệt là hội nghị thường niên của Diễn đàn An ninh Khu vực ASEAN (ARF), trong bối cảnh có tin là Mỹ sẽ nêu bật các hành động của Trung Quốc.

Còn đối với Việt Nam, việc Trung Quốc hạ nhiệt căng thẳng cũng diễn ra vào lúc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam chuẩn bị hội nghị bàn về Biển Đông và cân nhắc khả năng kiện Trung Quốc ra trước quốc tế.

Trong những ngày qua, đã có rất nhiều chuyên gia phân tích về động thái hạ nhiệt của Trung Quốc ngoài Biển Đông. Hôm nay, RFI xin giới thiệu nhận định của Giáo sư Ngô Vĩnh Long, một nhà nghiên cứu kỳ cựu về Biển Đông tại trường Đại Học Maine, Hoa Kỳ.

Đối với Giáo sư Long, tham vọng khống chế toàn bộ Biển Đông của Trung Quốc không thay đổi, và Việt Nam vẫn là đối tượng cần tấn công để thực hiện ý đồ đó. Theo Giáo sư Long, quyết định rút giàn khoan còn nằm trong một âm mưu lôi kéo Việt Nam vào con đường đàm phán song phương để giải quyết căng thẳng do chính Bắc Kinh tạo ra, đồng thời thúc giục Việt Nam từ bỏ ý định kiện Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế về vấn đề Biển Đông.

Đó là những cái bẫy mà Việt Nam không nên rơi vào nếu muốn bảo vệ lợi ích dân tộc.

Mời quý vị nghe toàn văn bài phỏng vấn Giáo sư Ngô Vĩnh Long.

Giáo sư Ngô Vĩnh Long – Đại học Maine (Hoa Kỳ)

 

21/07/2014
by Trọng Nghĩa

 

Nghe (19:59)

 

 

 

Giàn khoan đến và đi đều nhằm mục tiêu chính trị : Uy hiếp Việt Nam

Ngay từ đầu khi Trung Quốc cắm giàn khoan cách đảo Tri Tôn khoảng 18 dặm, và nói rằng nó hoạt động trong vùng biển “không có tranh chấp” của quần đảo Hoàng Sa “của Trung Quốc”, lý do chính là lý do chính trị : Uy hiếp Việt Nam, đặc biệt là chính quyền Việt Nam, cũng như để dò xét phản ứng của các nước trong khu vực và trên thế giới.

Động thái dịch chuyển giàn khoan hiện nay của Trung Quốc cũng là để thử xem phản ứng của Việt Nam và của các nước khác trên thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ, để Trung Quốc quyết định các bước tiếp theo.

Nếu Trung Quốc thực sự rút giàn khoan về đảo Hải Nam, đó cũng là để chứng minh rằng Trung Quốc đã hoặc đang hạ nhiệt, do đó Việt Nam không nên kiện Trung Quốc nữa mà nên đàm phán tay đôi với Trung Quốc.

Hạ nhiệt để “dụ dỗ” Việt Nam đàm phán tay đôi và không kiện Trung Quốc

Tôi nghĩ rằng đây là việc dẫn dụ, dụ dỗ Việt Nam, và tôi cũng hơi lo là vì ngày 16/07, ông Lê Hải Bình, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết là Việt Nam mong muốn thông qua đàm phán hữu nghị để giải quyết các vấn đề tranh chấp, bất đồng ở Biển Đông với Trung Quốc – lẽ dĩ nhiên là trên cơ sở luật pháp quốc tế – và cũng yêu cầu Trung Quốc không đưa giàn khoan HD-981 quay trở lại.

Nhưng nếu Trung Quốc không đưa HD-981 mà đưa bốn, năm cái giàn khoan nhỏ trở lại thì lúc đó Việt Nam làm gì ? Cho nên tôi nghĩ đây là vấn đề Trung Quốc muốn thử xem Việt Nam phản ứng như thế nào.

Nếu Việt Nam đàm phán song phương với Trung Quốc, việc này sẽ giúp cho Trung Quốc biện hộ rằng tranh chấp ở Biển Đông chỉ liên quan đến hai nước Việt Nam và Trung Quốc mà thôi, và không một nước nào khác được can dự vào.

Trung Quốc đã nhiều lần nói công khai với Mỹ là không được xía vào công việc nội bộ của các nước trong khu vực. Cho nên, nếu Việt Nam cho thế giới biết, hay là thế giới nghĩ lầm Việt Nam muốn thông qua đàm phán song phương để giải quyết vấn đề, thì việc đó sẽ làm hỏng cẳng Mỹ và đồng minh, đặc biệt trong vấn đề họ muốn đưa căng thẳng ở Biển Đông ra Diễn đàn An ninh Khu vực ASEAN (ARF), vào tháng tới ở Miến Điện.

Mưu đồ của Trung Quốc : Làm Mỹ hụt chân

Ngoài việc muốn làm hụt cẳng Mỹ tại Diễn đàn ARF vào tháng tới, Trung Quốc cũng muốn làm cho Việt Nam mất đi sự ủng hộ của các nước khác ở trong khu vực nếu đi đàm phán song phương với Trung Quốc, đặc biệt là chia rẽ quan hệ giữa Việt Nam và Philippines.

Ngoài ra, vừa qua, Thượng viện Mỹ đã bỏ phiếu hoàn toàn nhất trí nói rằng Trung Quốc không nên tiếp tục gây hấn và hy vọng rằng Trung Quốc đưa mọi việc trở về vị trí cũ, tức là trước ngày 02/05. Thì Trung Quốc di chuyển giàn khoan như để nói với Thượng viện Mỹ rằng « tôi đã hạ nhiệt rồi, thì các anh không nên tiếp tục làm áp lực trên tôi »….

Nếu Thượng viện Mỹ thấy rằng không cần phải làm áp lực trên Trung Quốc nữa, có thể là chính quyền Obama cũng không làm áp lực trên Trung Quốc nữa. Mà áp lực của Mỹ là quan trọng nhất, Mỹ mà nới tay thì Trung Quốc thấy rằng họ có cớ lấn tới thêm, không những đối với Việt Nam, mà cả đối với Mỹ.

Bài học cho Việt Nam : Trung Quốc mềm nắm rắn buông

Bài học đầu tiên là Trung Quốc thường “mềm nắn rắn buông”. Trung Quốc hiện tỏ thái độ « buông » trước hết là vì phản ứng của người dân Việt Nam. Tôi nghĩ là Trung Quốc biết phản ứng của các lãnh đạo Việt Nam như thế nào, nhưng họ không ngờ rằng phản ứng của người dân Việt Nam mạnh như thế.

Thành ra lúc này Trung Quốc hạ nhiệt chút xíu để cho giới lãnh đạo Việt Nam, đặc biệt là thành phần thiên về Trung Quốc – đang trong thế yếu – có tiếng nói mạnh hơn.

Ngoài ra, Việt Nam sắp có Hội nghị Trung ương để bàn riêng về tình hình Biển Đông và về việc có nên kiện Trung Quốc ra Tòa án Quốc tế hay không. Trung Quốc hạ nhiệt để chính quyền Việt Nam và Hội nghị Trung ương thôi không bàn đến chuyện kiện Trung Quốc nữa, và như vậy, Trung Quốc có thể tiếp tục ép Việt Nam.

Bài học là Việt Nam mà yên lặng hơn, thì Trung Quốc sẽ đẩy tới hơn. Và nếu chính phủ Mỹ, Quốc hội Mỹ và các nước khác Nhật, Úc cũng thấy là vấn đề đã tạm yên rồi thì họ có thể cứ để cho yên và Trung Quốc trước sau gì cũng sẽ quay trở lại, và lần sau sẽ làm mạnh hơn một chút.

Xu hướng thân Bắc Kinh trong giới lãnh đạo Việt Nam

Việc cắm giàn khoan trong thềm lục địa Việt Nam là một chính sách uy hiếp giới lãnh đạo Việt Nam, đặc biệt là Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam.

Bộ Chính trị chia thành ba nhóm, số đông thân Trung Quốc, số « trung lập » không biết nghiêng về ai, và số ít hơn thì muốn kiện Trung Quốc. Cho nên khi cắm giàn khoan, Trung Quốc muốn thử xem phản ứng của Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam như thế nào…

Phản ứng của Việt Nam cho thấy là Bộ Chính trị chưa có một chính sách đàng hoàng để kiện Trung Quốc.

Đó là trong lúc tình hình đang căng thẳng. Còn bây giờ Trung Quốc hạ nhiệt và làm giảm sự căng thẳng đi, thì có thể là Việt Nam sẽ không quyết định kiện Trung Quốc ra tòa án trọng tài theo phụ lục 7 của UNCLOS, chung với Philippines hay là riêng rẽ.

Nguy cơ mất đi hậu thuẫn của người dân Việt Nam và của quốc tế

Nếu như vậy, Chính quyền Việt Nam không những mất đi sự ủng hộ của dân chúng trong nước, mà cũng sẽ mất sự ủng hộ của các nước trong khu vực và của nhân dân trên thế giới. Việc đó sẽ làm suy yếu các lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng, và Nhà nước Việt Nam nói chung.

Và nếu như vậy thì Trung Quốc đã kéo thêm được Việt Nam sâu thêm vào quỹ đạo của Trung Quốc, và nếu mọi người đều nghĩ rằng Việt Nam đã bị  kéo sâu thêm vào trong quỹ đạo của Trung Quốc, thì có thể là họ sẽ từ bỏ Việt Nam và đi đêm với Trung Quốc…

Vấn đề kiện Trung Quốc không phải là vấn đề thắng hay là thua, mà là vấn đề vận động chính trị. Nếu Việt Nam không kiện Trung Quốc, tức là Việt Nam đã chứng minh cho thế giới là Việt Nam chịu thua Trung Quốc, và nếu như vậy thì những nước khác sẽ suy nghĩ lại và có chính sách riêng của họ…

 

BỆNH VÔ CẢM

BỆNH VÔ CẢM

BÀI VĂN 9,5 ÐIỂM VỀ “BỆNH VÔ CẢM”

Những câu văn của em Phan Hoàng Yến , học sinh lớp 9A2 trường trung học Chu Văn An, Hà Nội đã gây ấn tượng mạnh với người đọc không chỉ bởi đề tài em lựa chọn mà còn bởi cách hành văn rất tinh tế và sắc sảo. Bài văn được cô giáo cho 9,5 điểm với nhận xét :”Em có những phát hiện và suy nghĩ sâu sắc về hiện tượng đáng buồn này. Một người có trái tim nhân hậu, đa cảm và tư duy sắc sảo như em thật đáng quý.”

—————————————–

ÐỀ BÀI :

TRÌNH BÀY SUY NGHĨ CỦA EM VỀ MỘT SỰ VIỆC HOẶC HIỆN TƯỢNG Ở ÐỊA PHƯƠNG HOẶC TRƯỜNG, LỚP (ÐẶT NHAN ÐỀ CHO BÀI VIẾT)

BỆNH VÔ CẢM

Có được một xã hội văn minh, hiện đại ngày nay một phần lớn cũng là do những phát minh vĩ đại của con người. Một trong số đó chính là sự sáng chế ra rô-bốt, và càng ngày, rô-bốt càng được cải tiến cao hơn, tỉ mỉ hơn làm sao cho thật giống con người để giúp con người được nhiều hơn trong các công việc khó nhọc, bộn bề của cuộc sống.

Chỉ lạ một điều: Ðó là trong khi các nhà khoa học đang “vò đầu bứt tóc” không biết làm sao có thể tạo ra một con chip “tình cảm” để khiến “những cỗ máy vô tình” biết yêu, biết ghét, biết thương, biết giận thì dường như con người lại đi ngược lại, càng ngày càng vô tình, thờ ơ với mọi sự xung quanh. Ðó chính là căn bệnh nan y đang hoành hành rộng lớn không những chỉ dừng lại ở một cá nhân mà đang len lỏi vào mọi tầng lớp xã hội – bệnh vô cảm.

Nhìn thấy cái xấu, cái ác mà không thấy bất bình, không căm tức, không phẫn nộ. Nhìn thấy cái đẹp mà không ngưỡng mộ, không say mê, không thích thú. Thấy cảnh tượng bi thương lại thờ ơ, không động lòng chua xót, không rung động tâm can. Vậy đó còn là con người không hay chỉ là cái xác khô của một cỗ máy?

Trước hết là về cái đẹp, bây giờ ra ngoài đường, hiếm ai có thể bắt gặp một người đàn ông đạp xe ung dung dạo mát, thưởng ngoạn cái không khí trong lành, tươi mát dưới những hàng cây cổ thụ vàm bóng quanh bờ hồ; một người con gái dịu hiền, yêu kiều trong chiếc váy thanh thoát tản bộ trên những con đường hoa sấu, hoa sữa đầy mộng mơ mà hầu hết là những dòng người tấp nập, vội vã, chen lấn xô đẩy trên đường, xe buýt.

Lúc ấy cũng chính là lúc mà con người ta mất một phần tâm hồn đẹp đẽ đã bị chôn vùi dưới lớp cát. Phải chăng cũng vì như thế mà họ càng lúc càng khép chặt cánh cửa trái tim mình lại, không còn biết hưởng thụ cái đẹp mà chỉ nghĩ đến tiền, đến công việc ngày mai?

Vô cảm với cái đẹp mới chỉ là bước đầu.

Một khi người ta đã không biết ngưỡng mộ, không biết say mê, rung động trước những điều đẹp đẽ thì trái tim cũng dần chai sạn rồi đến đóng băng. Khi ấy, không chỉ là cái đẹp mà đứng trước những hành động ác độc, vô lương tâm, con người ta cũng cảm thấy bình thường, không oán trách cũng không cảm thông, động lòng với những nạn nhân bị hại.

Một tháng trước, tôi đọc được một bài báo trên mạng có đưa tin về vụ một đứa bé Trung Quốc hai tuổi bị xe tải cán. Thương xót, đau lòng làm sao khi nhìn cô bé đau đớn nằm trên vũng máu mà không một người nào qua đường để ý, cuống cuồng gọi cấp cứu. Họ nhìn thấy rồi đấy nhưng họ lại cố tình như không thấy, đi vòng qua cô bé để tiếp tục con đường nhạt thếch, sáo mòn của mình.

Càng chua xót, đau lòng, phẫn nộ hơn khi chiếc xe tải tiếp theo nhìn thấy cô bé nằm đó, vẫn thoi thóp thở, bám víu lấy cuộc đời lại vô tình chẹt cả bốn bánh xe nặng trịch đi qua người cô bé, thản nhiên đi tiếp. Người qua đường vẫn thế, vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra. Cô bé xấu số chỉ được cấp cứu khi một người phụ nữ nhặt rác đi qua, thấy cảm thông, đau lòng nên đã bế cô đi bệnh viện.

Có những con người ích kỷ, vô tâm, tàn nhẫn như vậy đấy.

Không những thế, bây giờ ra đường gặp người bị cướp, bị trấn lột, bị đuổi chém nhưng lại không thấy anh hùng nào ra can ngăn, cứu giúp hay chỉ một việc nhỏ nhoi thôi là báo công an. Ðó là những con người “không dại gì” và cũng chính “nhờ” những người “không dại gì” đó mà xã hội ngày càng ác độc, hỗn loạn. Chính lẽ đó mà căn bệnh vô cảm càng được thể truyền nhiễm, lây lan. Vô cảm còn là con đường trực tiếp dẫn đến những cái xấu, cái ác.

Nó là một căn bệnh lâm sàng (sơ khởi) mà trong đó, não của người bệnh vẫn hoạt động nhưng trái tim lại hoàn toàn băng giá. Người ta đã vô cảm thì làm sao có thể thấu hiểu được nỗi đau, tình cảm của người khác. người ta chỉ nghĩ đến mình và lợi ích của riêng mình mà thôi. Nếu không vô cảm, tại sao các cô giáo ở trường mầm non lại nhẫn tâm giật tóc, đánh đập, bịt miệng các cháu bé còn ngây thơ, nhỏ tuổi?

Tại sao một người còn chưa qua tuổi trưởng thành lại vô tư chém giết cả nhà người ta để lấy của cải? Xa hơn nữa là các công chức bình thản ăn tiền ủng hộ, trợ giúp những số phận đau thương, bất hạnh của người dân để kiếm lợi cho riêng mình. Và còn nhiều, còn nhiều hành động xấu xa hơn nữa. Tất cả những điều vô lương tâm ấy đều xuất phát từ căn bệnh vô cảm mà ra.

Chúng ta biết bệnh vô cảm vô cùng nguy hiểm nhưng lại đặt ra câu hỏi: Rốt cuộc thì nguyên nhân tại sao? Suy cho cùng, tình cảm là điều chi phối tất cả. Những người vô cảm là những người bị thiếu hụt tình yêu thương. Chính vì không cảm nhận được tình yêu thương mà người ta ngày càng lạnh giá. Một phần nữa cũng là do xã hội hiện đại quá bận rộn và đòi hỏi con người phải làm việc, làm việc và làm việc mà bỏ quên thời gian để trao nhau hơi ấm của tình thương, để ươm mầm cảm xúc.

Tình cảm như những hạt mưa, hạt mưa càng to, càng nặng thì càng dập tắt được những ngọn lửa của lòng thù hận, ghen ghét, bi ai và nó cũng như một ngọn lửa thổi bùng cháy mãnh liệt trong tâm hồn để nuôi dưỡng tiếp nguồn sống cho chúng ta. Vì vậy, điều duy nhất chúng ta có thể làm để cho căn bệnh vô cảm “không còn đất sống” là hãy biết mở cửa trái tim để biết cảm nhận, biết yêu ghét, thương giận và chia sẻ những điều tinh túy đó cho những người xung quanh mình.

“Con người ta không phải là cái đồng hồ và trái tim ta cũng không phải là cái lò xo”- một giáo sư người Anh đã nói như thế.

Tóm lại, ta nhận thấy rằng căn bệnh vô cảm đang lan tràn ngày càng rộng lớn và trở nên vô cùng nguy hiểm, biến con người thành một cỗ máy vô tri chỉ biết vận động. Ðừng để điều đó xảy ra mà hãy đấu tranh để giành lại phần “người”, giành lại “trái tim” mà Thượng Ðế, mà tạo hóa đã ban cho chúng ta, đào thải căn bệnh vô tình quái ác ra khỏi xã hội.

Hòa Lan đòi sớm đưa xác nạn nhân MH17 về nơi an toàn

Hòa Lan đòi sớm đưa xác nạn nhân MH17 về nơi an toàn
Monday, July 21, 2014

Nguoi-viet.com

HRABOVE, Ukraine (AP) – Các chuyên viên giảo nghiệm Hòa Lan hôm Thứ Hai yêu cầu thành phần nổi dậy thân Nga hãy để cho các toa xe lửa chứa đầy xác của các nạn nhân trong vụ bắn rơi phi cơ hàng không Malaysia được đưa về nơi an toàn. Các chuyên viên Hòa Lan có trách nhiệm thu hồi và nhận dạng tử thi cũng yêu cầu phía nổi dậy niêm phong các toa xe lửa đông lạnh này, hiện đậu trong thị trấn Torez do phiến quân kiểm soát.

Hoa tưởng niệm đặt trước cửa Tòa Ðại Sứ Hòa Lan tại Hoa Kỳ, 21 Tháng Bảy. (Hình: AP Photo/Manuel Balce Ceneta)

Bốn ngày sau khi chiếc phi cơ hàng không dân sự Malaysia bị bắn rơi, các điều tra viên quốc tế vẫn tiếp tục gặp khó khăn khi vào hiện trường, vì bị các tay súng nổi dậy thân Nga ngăn cản.

Sự giận dữ về các trì trệ này và khả năng có việc xóa bỏ chứng cớ ở hiện trường đang gia tăng trên khắp thế giới, nhất là ở Hòa Lan, nơi 192 trong số 298 nạn nhân trên phi cơ là người gốc Hòa Lan, và một người khác song tịch Hòa Lan-Mỹ.

Các phóng viên ngoại quốc cho hay mùi hôi thối rất nặng nề ở nhà ga xe lửa Torez hôm Thứ Hai. Trước đó, một nhân viên hỏa xa Ukraine nói rằng hệ thống điện trên các toa xe đông lạnh gặp trở ngại mấy tiếng đồng hồ trong đêm nhưng sau đó được tái lập vào sáng sớm ngày Thứ Hai.

Ông Peter Van Vilet, người đứng đầu cơ quan thu hồi và nhận diện tử thi (LTFO) của chính phủ Hòa Lan, cho hay việc chứa các xác chết được coi là tốt đẹp nhưng muốn các toa xe đông lạnh này được di chuyển về thành phố Kharkiv, nơi do chính phủ Ukraine kiểm soát, càng sớm càng tốt.

Tại Kharkiv, một toán chuyên gia quốc tế khác cũng vừa tới nơi, gồm có 23 người Hòa Lan, 3 Úc, 2 Ðức, 2 Mỹ và một người Anh.

Ở nơi rớt phi cơ tại làng Hrabove, các nhân viên cứu nạn thu hồi thêm 21 xác hôm Thứ Hai, nâng tổng số xác thu được lên 272, theo thủ tướng Ukraine, ông Arseniy Yatsenyuk.

Giao tranh tiếp diễn hôm Thứ Hai giữa quân nổi dậy và quân chính phủ ở thành phố Donetsk, cách đó chỉ vào khoảng 50 km về hướng Tây. Giới chức thành phố nói rằng các cuộc chạm súng diễn ra gần phi trường.

Chính phủ Úc trong khi đó kêu gọi có một nghị quyết của Liên Hiệp Quốc yêu cầu không cản trở việc điều tra ở nơi rớt phi cơ và đòi hỏi sự hợp tác của mọi quốc gia liên hệ, kể cả Nga.

Tại Anh, Thủ Tướng David Cameron nói rằng ông hy vọng Nga sẽ ủng hộ nghị quyết của Hội Ðồng Bảo An về việc này.

Chính phủ Mỹ mới đây cũng cung cấp các “chứng cớ mạnh mẽ” cho thấy phía nổi dậy bắn rơi chiếc phi cơ Boeing 777 với hỏa tiễn địa không Buk do Nga chế tạo. Các chứng cớ đó gồm hình ảnh video về giàn phóng, thiếu mất một hỏa tiễn trên giàn phóng được đưa ra khỏi nơi nghi ngờ là địa điểm phóng, hình ảnh việc phóng hỏa tiễn, các đoạn băng ghi âm nói chuyện khoe khoang việc bắn rơi phi cơ và sau đó là thảo luận cách che dấu việc này sau khi biết là đã bắn lầm phi cơ dân sự. (V.Giang)

 

Đi cùng Thánh Giá sang phía Tự Do – Kỷ Niệm 60 Năm Di Cư

Đi cùng Thánh Giá sang phía Tự Do – Kỷ Niệm 60 Năm Di Cư

Hà Giang (tổng hợp)

Ngày 21 Tháng Bảy, 1954, nhật báo The Los Angeles Times đi tin lớn: “Armistice signed ending fighting in Indo-China, Vietnam to be split in 2 Zones” (Hiệp định đình chiến được ký kết, chấm dứt chiến tranh Ðông Dương, Việt Nam bị chia đôi).

Trang đầu nhật báo The Los Angeles Times số ra ngày 21 Tháng Bảy, 1954, với bản tin lớn nhất có tựa đề: “Armistice signed ending fighting in Indo-China, Vietnam to be split in 2 Zones.” (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Nhật báo The New York Times cũng đi tin lớn: “Indochina armistice is signed; Vietnam split at 17th parallel; US finds it can “respect” pact” (Hiệp Ðịnh Ðình Chiến đã được ký kết, Việt Nam chia đôi ở vĩ tuyến 17, Hoa Kỳ tôn trọng thỏa thuận.)

Tại Pháp, đài phát thanh Hirondelle của quân đội Pháp vang lên lời loan báo: “Hiệp Ðịnh Ðình Chiến đã được ký kết.” Tờ báo của quân đội Pháp cũng đăng nguyên câu ấy trên trang nhất bằng chữ lớn.

Mọi người bàng hoàng dù biết trước thế nào việc này cũng sẽ đến.

Thôi, thế là không còn gì để phải băn khoăn về tình hình đất nước!

Giờ đây, điều khẩn cấp nhất mà nhiều người cần quyết định là ở lại đất Bắc hay đưa gia đình vào Nam. Và nếu đi, thì phải làm gì cho kịp thời hạn. Hà Nội có 80 ngày, Hải Dương có 100 ngày, còn Hải Phòng thì có 300 ngày cho mọi người di tản.

Người muốn di cư vào Nam thường là vì lý do chính trị, kinh tế, hay những kinh nghiệm đau thương từng có với Việt Minh – tức Cộng Sản. Họ thuộc nhiều thành phần khác nhau trong xã hội.

Hãm hại người Công Giáo muốn ra đi

Giới tư sản lo gia tài của họ có nguy cơ bị tịch thu. Thành phần trí thức không thích Chủ Nghĩa Cộng Sản. Người theo đạo Công Giáo thấy rằng không thể tiếp tục sống nơi họ không được thờ phượng Chúa.

Cũng có người từng là nạn nhân trực tiếp, hay có người thân bị đấu tố, tài sản bị tước hết trong cuộc cải cách ruộng đất từ năm 1953. Cả những đồng bào Thượng ở vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, trước đây theo quân đội Pháp chống Việt Minh cũng tràn về Hà Nội để tìm đường vào Nam lánh nạn.

Ký giả Gertrude Samuels, trong bài “Passage to Freedom in Vietnam,” đăng trên ấn bản Tháng Sáu, 1955 của The National Geographic, viết về trường hợp của ông Ngô Văn Hội, một người mà ông mô tả là “còm cõi trong chiếc áo rách nát và quần cụt đen,” như sau: “Gia đình tôi có nhiều người bị giết, cả vì bom của Pháp lẫn vì bị Việt Minh sát hại. Chúng tôi còn bị cộng sản cấm đi nhà thờ.”

Và kết luận: “Ðó là lý do tại sao ông Hộ mang vợ và 7 con đến nhà thờ Hưng Yên, nơi ông cùng nhiều người khác trong cùng xứ đạo, bắt đầu cuộc hành trình hơn 1,600 cây số đi tìm tự do.”

Theo ghi chép của ông Ðức Khương, trong tài liệu “Người Công Giáo di cư, khúc quanh lịch sử,” Giáo Phận Thái Bình có 80,000 giáo dân cùng hơn 60 linh mục đi theo làn sóng di cư.

Trong khi đó, cũng trong tài liệu này, sổ tay của ông ÐÐK, một người Công Giáo Thái Bình, sau này định cư tại Hố Nai, ghi lại: “Sáng ngày 27 Tháng Bảy 1954, cha Chánh Xứ Ðaminh Ðỗ Ðức Thụ cùng toàn thể dân xứ hiệp dâng Thánh lễ cuối cùng tại nhà thờ nhà xứ Lai Ổn để xin ơn bình an cho cuộc lữ hành. Sau Thánh lễ, cha xứ bùi ngùi lên tiếng từ giã thầy xứ và những giáo dân ở lại, từ giã ngôi thánh đường thân yêu, giã từ quê hương yêu dấu là nơi tổ tiên đang an nghỉ, làm nhiều người mủi lòng và khóc nức nở.”

“Ðúng 13 giờ cùng ngày, cha xứ dẫn đoàn chiên lên đường, đoàn người lũ lượt theo nhau, tay xách, nách mang ra đi trong thinh lặng buồn bã. Họ bỏ lại sau lưng tất cả nhà cửa, trâu bò, ruộng vườn, mồ mả tổ tiên. Hành trang quý nhất họ mang theo là một “niềm tin.” Thỉnh thoảng, người ta ngoảnh đầu lại ngắm nhìn làng xã thân yêu mỗi lúc một xa dần, rồi mất hút. Sau ba cây số, qua sông Luộc rồi họ nghỉ đêm tại Phụ Dực. Sáng ngày, một đoàn xe đến chở dân xứ sang An Thổ, nghỉ lại đây một đêm, cha xứ cho giết con ngựa quý của mình đãi giáo dân một bữa tiệc.”

“Ngày hôm sau, đoàn xe lại đến chở dân xứ ra Xuân Sơn (Kiến An), nghỉ lại đây 25 ngày tại giáo xứ Liễu Dinh để chờ đón những người trong xứ đi sau. Ở đây, tất cả mọi người đều được chích ngừa và chủng đậu. Ngày thứ 25, xe lại đến chuyển dân xứ ra Hải Phòng tá túc qua đêm. Sáng sớm hôm sau, dưới cơn mưa dầm, đoàn xe tiếp tục chuyển bánh ra bờ biển, sau đó mọi người được hướng dẫn xuống tàu ‘há mồm.'”

Ký giả Gertrude Samuels, theo sát cuộc di cư kéo dài gần một năm, cho biết, ở nhiều nơi, cả làng kéo nhau đi, và câu hỏi chung của ông với nhiều người “tại sao lại bỏ hết để đi vào Nam,” đã được đáp lại bằng những câu trả lời tương tự:

“Vì chúng tôi muốn sống tự do.”

“Vì chúng tôi sợ chủ nghĩa Cộng Sản!”

“Vì muốn con cái chúng tôi được tự do theo Ðạo.”

“Vì chúng tôi bị bắt phải bỏ Ðạo.”

Nhiều tài liệu, tuy đưa ra những con số khác nhau, đều cho rằng việc cấm Ðạo là nguyên nhân khiến phần lớn người Bắc di cư vào Nam là tín đồ Công Giáo.

Trang đầu nhật báo The New York Times số ra ngày 21 Tháng Bảy, 1954 nói về Hiệp Ðịnh Geneva: “Indochina armistice is signed; Vietnam split at 17th parallel; US finds it can “respect” pact.” (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Bác Sĩ Tom Dooley, viết về thời gian phục vụ trên chiến hạm USS Montague trong công tác đưa người di cư vào Nam trong cuốn “Deliver Us From Evil” (Xin Cứu Chúng Con Khỏi Mọi Sự Dữ), xuất bản năm 1961, kể lại một chuyện đàn áp tôn giáo hãi hùng. Ông viết: “Một hôm người ta đưa đến trại tị nạn (ở Hải Phòng) bảy em trai bị thương ở hai tai, máu chảy lênh láng, và một người đàn ông miệng bê bết máu đã ngất xỉu, để xin cấp cứu.”

“Tôi đã dùng thuốc trụ sinh, và mọi phương tiện khó khăn lúc đó, để cứu sống những nạn nhân này, nhưng họ vẫn bị tàn tật suốt đời.”

“Một người được chứng kiến câu chuyện, sau đó kể cho chúng tôi biết là, hôm đó Việt Minh kéo vào làng, họ đến ngôi trường mà một thầy giáo bị tố cáo là đã lén lút tổ chức những lớp học giáo lý vào buổi tối.”

“Bảy học sinh và thầy giáo bị lôi ra khỏi lớp. Tất cả bị bắt ngồi xuống đất và hai tay bị trói ra đằng sau.”

“Hai người công an đi đến từng đứa trẻ. Một người dùng hai tay nắm chặt lấy đầu đứa bé. Người kia lấy một chiếc đũa bằng tre chọc mạnh sâu vào cả hai đôi tai, máu các em chảy ròng ròng, và cả làng có thể nghe thấy tiếng kêu hét kinh hoàng của những nạn nhân khốn khổ.”

“Sau khi đã phải chứng kiến cảnh từng học trò của mình bị chọc hỏng tai, thầy giáo bị trừng phạt bằng một hình phạt nặng nề hơn. Một công an nắm chặt đầu ông, còn người kia banh miệng ông ra, dùng kéo cắt đi chiếc lưỡi đã dám rao giảng những giáo điều đi ngược với chính sách của đảng. Những em học trò này từ nay không thể nghe được lời rao giảng nào nữa, và thầy giáo bị câm thì không còn bao giờ nói được những điều bị cấm.”

Bác Sĩ Tom Dooley tâm sự: “Lúc đó tôi mới chỉ là một bác sĩ giải phẫu còn non tay nghề, nhưng đã phải đối phó với nhiều trường hợp mà sách vở nhà trường chưa bao giờ nói đến: chẳng hạn phải làm gì cho trẻ em đã bị chọc đũa vào lỗ tai, cho các bà cụ mà xương cổ vốn đã xốp còn bị đập giập vì báng súng, và cho một linh mục bị đóng đinh vào đầu, vì bị Việt Minh chế nhạo việc chúa Giê Su bị đội vòng gai trên đầu khi chịu chết trên Thánh Giá.”

Lập thành trì chống Cộng tại miền Nam

Có nhiều con số khác nhau liên quan đến số người Công Giáo di cư từ Bắc vào Nam.

Theo bản tường trình 14 trang về tình hình người tị nạn ở Bắc Việt của Giám Mục Phạm Ngọc Chi (địa phận Bùi Chu), gửi Bộ Truyền Giáo Roma, tháng 10, 1955, thì trong tổng số 860,206 người di cư vào Nam, có 676,348 giáo dân.

Tác giả Jean Marvier trong cuốn “Les combattants de Dieu” cho rằng 100% người di cư là người Công Giáo.

Theo tác giả Piero Ghedo, trong cuốn “Catholiques et bouddhistes au VietNam,” xuất bản năm 1970, thì thống kê của Giám Ðốc Ủy Ban Tị Nạn Sài Gòn cho rằng có tổng số 928,152 người di cư, trong đó 794, 876 là người Công Giáo.

Tác giả Chester Cooper trong “The lost crusade, America in VietNam,” đưa ra con số 85% người Bắc di cư là người Công Giáo.

Hai tác giả J. Buttinger trong “VietNam, a dragon embattled,” và Bernard Fall trong “Les deux VietNam,” cùng đưa ra con số là 65% hay khoảng 650,000 trong 1 triệu người di cư là người Công Giáo.

Dù con số là bao nhiêu, 65%, 78% hay 85%, không ai có thể phủ nhận vai trò quan trọng của người Công Giáo trong cuộc di cư của gần 1 triệu người Bắc vào Nam cách đây 60 năm.

Và khẳng định mạnh mẽ nhất vai trò then chốt này của người Công Giáo trong việc di cư, không ai khác hơn, lại chính là Việt Minh, thông qua thực tế là họ tìm đủ mọi cách ngăn cản người Công Giáo đồng loạt theo nhau vào Nam vào thời gian ấy.

Tập tài liệu lưu trữ tại Bộ Ngoại Giao Ba Lan, có tên “Tường trình về hoạt động của phái đoàn Công Giáo tại Việt Nam từ ngày 13 Tháng Tư đến ngày 30 Tháng Năm, 1955, Hà Nội,” mang chữ ký của Wojciech Ketrzynski, cho chúng ta thêm nhiều chứng cớ về tầm quan trọng của việc người Công Giáo di cư, đối với Việt Minh.

Tập tài liệu nói trên do Tiến Sĩ Trần Thị Liên, tiến sĩ sử học tại Pháp, dịch và phổ biến năm 2005. Ngay từ đầu, tài liệu đã hé lộ cho thấy ngay sau khi Hiệp Ðịnh Genève được ký kết, nước Cộng Hòa Nhân Dân Ba Lan đã được phía Việt Minh yêu cầu giúp giải quyết vấn đề người Công Giáo ồ ạt di cư vào Nam.

Là một thành viên phái đoàn Công Giáo Ba Lan được Việt Nam mời qua thăm vào mùa Xuân 1955, ông Wojciech Ketrzynski kết luận bản tường trình nói trên bằng câu: “Trong tổng thể các vấn đề chính trị của Việt Nam, yếu tố Công Giáo tuy không giữ vai trò quan yếu nhất, nhưng vì là nhóm tôn giáo có tổ chức, thuần nhất và lớn mạnh nhất, Công Giáo có một trọng lượng nhất định trong cán cân quyền lực chung.”

Trước cuộc di cư, dân số miền Bắc khoảng 12 triệu người, so với dân số khoảng 11 triệu người ở miền Nam. Con số 1 triệu người di cư vào Nam, với Việt Minh, vừa là một sự mất mặt, vừa là một đe dọa lớn.

Một mặt họ đàn áp người Công Giáo, vì chống đối họ, mặt khác lại tìm đủ mọi cách để đe dọa, ngăn cản, thậm chí hãm hại người Công Giáo tìm cách di cư vào Nam, vì không thể đứng yên nhìn cán cân quyền lực nghiêng về phía đối phương.

Người Công Giáo di cư còn đóng vai trò lớn vì họ không chỉ đi từng người, từng nhà, mà là đi từng làng một. Việc họ đi theo các vị linh mục, lãnh đạo tinh thần, và chăm lo cho cả đời sống xã hội của họ, là một điều hết sức tự nhiên. Thái độ tôn kính và vâng lời gần như tuyệt đối của con chiên với các cha, các giám mục của cộng đồng người Công Giáo miền Bắc cũng gây một ảnh hưởng lớn trong việc tái định cư và hòa nhập của người Bắc di cư vào xã hội miền Nam.

Nhiều thống kê cho thấy, ngoại trừ Hà Nội là một trong 2 điểm tập trung cho quá trình di cư, giáo phận nào có giám mục chọn ra đi thì số linh mục và giáo dân cũng ra đi đông đảo; ngược lại giáo phận nào mà giám mục chọn ở lại thì số ra đi cũng ít hơn.

Khi đã vào Nam rồi, người Công Giáo lại tiếp tục sống quây quần sinh hoạt với nhau trong những giáo xứ, giáo phận, tạo thành một cộng đồng có bản sắc riêng, và tạo nên những thành trì chống Cộng vững chắc cho miền Nam. (H.G.)

Giàu có trong nỗi bồn chồn: Tiền bạc và đạo lý của giới đại gia mới nổi tại Trung Quốc

Giàu có trong nỗi bồn chồn: Tiền bạc và đạo lý của giới đại gia mới nổi tại Trung Quốc

Andrew J. Nathan, Foreign Affairs, số tháng Năm/ tháng Sáu, 2014

Trần Ngọc Cư dịch

Một bài điểm sách cực ngắn xuất hiện trên Foreign Affairs, cho chúng ta vài nét chấm phá về của cải và đạo lý tiêu biểu cho giới đại gia mới nổi tại Trung Quốc. Và ở Việt Nam chắc cũng chẳng khác gì.

Người dịch

clip_image002

Tham nhũng tại Trung Quốc cần lắm công phu. Osburg, một nhà nhân học Mỹ, đã dành nhiều thì giờ để tiếp xúc và quan sát giới doanh nhân Trung Quốc tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên. Những người này gần như dành hết thì giờ để vun xới quan hệ với các quan chức chính phủ và các đầu nậu băng đảng tại các trà đình tửu điếm, các phòng ca nhạc karaoke, và các câu lạc bộ của giới ăn nhậu. Họ thể hiện các cung cách gắn bó giữa nam giới với nhau, việc này đòi hỏi phải chơi trội trong việc sử dụng các loại xe đắt tiền, các đồ ăn thức uống ngoại lai, và các dịch vụ tính dục. Những hoạt động qua lại này đang biến các quan hệ có giá trị công cụ thành tình bạn, các món hối lộ thành quà tặng, và các phạm nhân hình sự thành những kẻ tình nguyện giúp cảnh sát duy trì trật tự xã hội. Phụ nữ có chức năng làm người chiêu đãi, làm đối tác tính dục được trả tiền, làm biểu tượng địa vị, và đôi khi làm người đồng lõa trong các âm mưu của đàn ông. Những đại gia mới nổi, đối tượng nghiên cứu của Osburg, đang bị bóp nghẹt giữa nỗi sợ hãi là các địch thủ của mình có quan hệ với giới chức quyền thế hơn và cái cảm thức là mình đang gắn bó với một hệ thống chính trị đang trên đường đi đến sụp đổ. Họ cảm thấy mình bị kẹt vào trong một lối sống làm kiệt sức và lắm lúc chán phè, mặc dù phần còn lại của xã hội coi họ là những tấm gương thành công. Cách ứng xử của họ đang làm gia tăng một cảm thức phổ biến về tình trạng suy đồi đạo lý trong xã hội Trung Quốc đương đại.

A. J. N.

Bài học từ Hiệp định Geneva 1954

Bài học từ Hiệp định Geneva 1954

Gia Minh, PGĐ Ban Việt ngữ RFA
2014-07-19

giaminh_07192014.mp3

geneva1954-305.jpg

Ông Tạ Quang Bửu, trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại buổi ký Hiệp định Genève 1954.

Photo courtesy of wikipedia

Hiệp định Geneva năm 1954 được ký kết nhằm giúp chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam và cả Đông Dương. Thế nhưng mục tiêu đó đã không đạt được; trái lại chiến tranh lại diễn ra suốt trong mấy mươi năm sau đó, ngăn chặn sự phát triển của Việt Nam về mọi mặt.

TQ nhượng bộ Pháp và miền Nam?

Gia Minh hỏi chuyện sử gia Phạm Cao Dương hiện ngụ tại California, Hoa Kỳ về những điểm đáng chú ý của Hiệp định Geneva 1954 và bài học cần rút ra. Trước hết ông cho biết:

Phạm Cao Dương: Trước hết Hội nghị Geneva năm 1954 không phải được nhóm họp sau ngày sự kiện Điện Biên Phủ chấm dứt, mà nó đã được triệu tập từ trước rồi (từ ngày 26 tháng 4). Mục tiêu của hội nghị ban đầu không phải bàn về Việt Nam mà bàn về chiến tranh Cao Ly (Triều Tiên). Việc bàn về Việt Nam vào ngày 8 tháng 5 mới bắt đầu và không phải là chính. Nhưng vì tình hình tại Việt Nam thay đổi: biến cố, trận chiến Điện Biên Phủ chấm dứt nên người ta họp vào ngày đó.

Thứ hai, sách trong nước thường ca ngợi đó là chiến thắng của phía Việt Minh. Điều đó không hoàn toàn đúng, vì nếu chúng ta theo dõi những gì xảy ra trước đó khi ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp sang họp với Chu Ân Lai ở Liễu Châu, người ta thấy phía Việt Minh tức tối lắm. Sau này ông Võ Nguyên Giáp có nói rằng khi ông thuyết trình thì bản đồ đưa ra ‘đỏ’ hết tất cả; nhưng đến khi Chu Ân Lai thuyết trình thì theo lời ông Võ Nguyên Giáp ‘Bác và tôi rất ngỡ ngàng’ vì sự nhượng bộ mà Chu Ân Lai dành cho phía Pháp và miền Nam.

Cần phải để ý là Trung Quốc trong thời điểm đó mới làm chủ được lục địa Trung Hoa và chưa có vai trò quốc tế nào nên họ muốn vai trò nào đó, và Hội nghị Geneva là cơ hội để họ đóng vai trò đó.
-Sử gia Phạm Cao Dương

Lý do hai ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp không vừa ý vì hai ông tin tưởng được nhiều lợi thế hơn những gì mà phía Chu Ân Lai và Molotov (ngoại trưởng Nga lúc đó) buộc phía Việt Minh phải chấp nhận. Trước hết là sự hiện diện của bộ đội Việt Minh ở Miên và Lào. Chủ trương của Việt Minh hồi đó là muốn nâng đỡ hai tổ chức cộng sản bên Miên và Lào (Pathet Lào và Khmer Issarak). Phía đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa luôn phủ nhận không có sự hiện diện của bộ đội bên hai nước đó, nhưng cuối cùng Chu Ân Lai và Molotov ép buộc Việt Minh phải phần nào chấp nhận điều đó, và sau đó chấp nhận luôn. Có nghĩa chấp nhận đã rút rồi nhưng vẫn còn một phần ở lại bên Miên và Lào. Do vậy Pháp và phía Miên, Lào không chấp nhận nên cuối cùng chấp nhận ‘nếu còn sẽ rút đi’.

Điểm nữa về phân chia lãnh thổ. Khi có sự chia đôi, bên phía người Pháp đề nghị vĩ tuyến 19 và phía Việt Minh muốn vĩ tuyến 13 hay ít ra là vĩ tuyến 16; nhưng cuối cùng cũng hai ông Chu Ân Lai, Molotov và phía người Pháp – Mendes France, thỏa thuận vĩ tuyến 17.

Đến chuyện ngày bầu cử thống nhất, đầu tiên Phạm Văn Đồng muốn 6 tháng, nhưng sau đó lên 1 năm và 2 năm. Quyết định cuối cùng là năm 1956, tức 2 năm sau.

Cần phải để ý là Trung Quốc trong thời điểm đó mới làm chủ được lục địa Trung Hoa và chưa có vai trò quốc tế nào nên họ muốn vai trò nào đó, và Hội nghị Geneva là cơ hội để họ đóng vai trò đó.

Gia Minh: Việc tuyển cử như ông nói được thống nhất vào năm 1956, sau đó Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa có đề nghị với phía miền Nam, nhưng miền Nam từ chối. Lý do vì sao thưa ông?

Phạm Cao Dương: Thực ra phía miền Nam mà buổi đầu là Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại và sau này là Việt Nam Cộng Hòa của ông Ngô Đình Diệm, không chấp nhận bản Tuyên bố Cuối cùng. Chúng ta nên nhớ sự thỏa thuận ở Geneva gồm hai phần: phần thứ nhất là đình chiến và phần thứ hai là chính trị. Phần đình chiến được ký kết hẳn hoi, có nhiều bản thỏa ước; còn phần chính trị không có bản thỏa ước được ký kết mà chỉ là Bản Tuyên bố Cuối cùng được các bên chấp nhận bằng miệng mà thôi.

Phía Quốc gia Việt Nam lúc đó và sau này là Việt Nam Cộng Hòa thì không chấp nhận Bản Tuyên bố Cuối cùng đó. Phía Mỹ cũng không chấp nhận. Nên nếu không chấp nhận thi hành cuộc bầu cử đó chẳng qua vì họ không bị ràng buộc về phương diện pháp lý.

Thứ hai nữa, nếu có bầu cử phải cần những điều kiện tối thiểu để có sự công bằng. Đằng này chưa chắc có sự công bằng đó, thành ra miền Nam không chấp nhận cũng có lý của họ.

Bài học kinh nghiệm

Trong những hoạt động bang giao quốc tế, các quốc gia luôn đặt quyền lợi của mình lên trên, kể cả đồng minh cũng đứng hàng thứ không quan trọng.
-Sử gia Phạm Cao Dương

Gia Minh: Sau 60 năm rồi, ông thấy có những bài học gì?

Phạm Cao Dương: Trong những hoạt động bang giao quốc tế, các quốc gia luôn đặt quyền lợi của mình lên trên, kể cả đồng minh cũng đứng hàng thứ không quan trọng. Nếu bên Trung Quốc vì quyền lợi riêng mà hy sinh đồng minh là Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa thì đó cũng là điều tự nhiên mà thôi. Nhưng Hà Nội không thấy điều đó!

Thứ hai nếu nhìn vào thế giới trong thời gian đó và những năm tiếp theo, không phải chỉ có Việt Nam bị chia đôi. Còn nhiều nước khác bị chia đôi nữa nhưng không có nước nào dùng võ lực để tiến chiếm nước kia. Còn Việt Nam thì chuyện đó đã xảy ra.

Nhưng hậu quả là Hà Nội không có đủ thực lực để tự mình đánh xuống miền Nam nên phải dựa vào thế của Trung Quốc; Hà Nội và cả miền Nam đều không nhận ra điều, không biết đánh lá bài của Trung Quốc. Vì hồi đó Trung Quốc không muốn người Mỹ vào miền Nam và hiện diện tại miền Nam, họ muốn dùng người Pháp để giữ không cho Mỹ can thiệp vào Việt Nam.

Gia Minh: Cám ơn sử gia Phạm Cao Dương.

Nghiện internet

Nghiện internet

Chuacuuthe.com

VRNs (22.07.2014) – Sài Gòn – Cái gì cũng có thể gây nghiện: Nghiện đường, nghiện ma túy, nghiện cờ bạc, nghiện tình dục, nghiện phim (dù trắng hay đen), nghiện rượu, nghiện thuốc lá,… Thời @ có điều lưu ý khác: Hãy coi chừng chứng nghiện Internet!

Nếu bạn là game thủ hoặc nghiện game, bạn sẽ không thích bản tường trình tại cuộc họp thường niên của Hội Tâm Lý Hoa Kỳ năm 2014. Bản tường trình cho biết rằng những người nghiện Internet bị chứng rối loạn nghiện Internet (IAD – Internet Addiction Disorder), nhất là những người nghiện game, và bị chứng não bất thường.

Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy rằng những người nghiện Internet dễ bị trầm cảm, tự tử, rối loạn ăn uống, rối loạn ám ảnh, và các chứng khác. Giới trẻ Mỹ nghiện Internet (26.3%) hơn nghiện ma túy và rượu. Các thiếu niên nghiện Internet có nguy cơ cao bị trầm cảm và tự tử.

140721005

Đây là bốn phát hiện về chứng nghiện Internet:

LƯỢNG MÁU

Việc nghiện Internet liên quan việc thay đổi lượng máu trong não. Khi hưng phấn, lượng máu TĂNG xung quanh trung tâm não, nhưng lượng máu GIẢM xung quanh vùng xử lý thính thị (nghe và nhìn).

DOPAMINE

Việc nghiện Internet liên quan mức dopamine thay đổi trong não. Mê Internet có thể làm giảm mức chuyển đổi dopamine, một trạng thái xảy ra ở những người nghiện.

MƠ HỒ

Mê Internet cũng có thể khiến mất cảm giác về cơ thể và trạng thái mơ hồ.

LÃNH CẢM

Mê Internet có thể khiến bạn cảm thấy hờ hững với cách cư xử của người khác, và bạn còn cảm thấy “nuối tiếc” vì tốn tiền tốn bạc do mê game.

Cần nghiên cứu thêm để biết chính xác về chứng nghiện Internet, nhưng thực tế đã và đang cho chúng ta thấy các hậu quả của Internet, dù Internet vẫn có những giá trị tích cực. Chứng nghiện làm teo não, vì thế mà các “con nghiện” không bỏ được loại hình mà họ mê đắm – dù đó là chứng nghiện gì!

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ Internet Addiction Changes the Brain)

 

Phe ly khai trao chiếc hộp đen chuyến bay MH17 cho Malaysia

Phe ly khai trao chiếc hộp đen chuyến bay MH17 cho Malaysia

Một người của nhóm nổi dậy đặt chiếc hộp đen của chiếc máy bay bị bắn rơi lên bàn để giao cho các đại diện của Malaysia, 22/7/14

Một người của nhóm nổi dậy đặt chiếc hộp đen của chiếc máy bay bị bắn rơi lên bàn để giao cho các đại diện của Malaysia, 22/7/14

21.07.2014

Nhóm thân Nga nổi dậy ở miền đông Ukraine đã trao cho các chuyên viên Malaysia thiết bị ghi dữ liệu của chiếc máy bay của hãng hàng không Malaysia Airlines bị bắn rơi

Việc chuyển giao diễn ra vào tối thứ Hai tại một cuộc họp ở thành phố Donets, miền đông Ukraine, chỉ vài giờ sau khi Thủ tướng Malaysia Najib Razak nói chuyện qua điện thoại với thủ lãnh nhóm nổi dậy Alexander Borodai.

Đại tá Malaysia Mohamed Sakri nói rằng các chiếc hộp bị một vài hư hại, tuy nhiên còn nguyên vẹn và trong tình trạng tốt.

Trước đó, hôm thứ Hai Hội đồng Bảo an đã nhất trí thông qua nghị quyết lên án vụ bắn hạ chiếc phi cơ. Nghị quyết cũng yêu cầu phe ly khai thân Nga đang kiểm soát địa điểm phi cơ bị rơi để cho các nhà điều tra tự do đi lại nơi này.

Các giới chức Ukraine, Hoa Kỳ, Liên hiệp châu Âu nói rằng phi cơ bị trúng một phi đạn địa đối không trong khi bay qua miền đông Ukraine hôm thứ Nam 17 tháng 7 với 298 người trên chuyến bay.

VN khó cấm bán rượu bia sau 10 giờ tối?

VN khó cấm bán rượu bia sau 10 giờ tối?

Thứ hai, 21 tháng 7, 2014

Những cảnh này rất thường gặp ở khắp nơi ở Việt Nam

Đề xuất cấm bán bia rượu sau 10h tối ở Việt Nam hiện đang nhận được nhiều ý kiến trái chiều, trong đó phần đông cho rằng lệnh cấm này sẽ không khả thi.

Một nhà xã hội học trong nước nói với BBC rằng chính quyền nên thúc đẩy việc tuyên truyền nhằm thay đổi ý thức của người dân hơn là cấm đoán.

Theo báo chí trong nước thì mới đây Bộ Y tế đang soạn thảo một dự luật về phòng chống tác hại của việc lạm dụng rượu bia trong đó có quy định các nơi phải dừng việc bán rượu bia sau 10h tối.

‘Có thể làm được’

Nói với BBC, Tiến sỹ Nguyễn Đức Truyền thuộc Viện Xã hội học, Đại học Khoa học Xã hội nhân văn Hà Nội, tỏ vẻ nghi ngờ tính khả thi của điều luật này ở Việt Nam mặc dù ông cho rằng ‘vẫn có thể làm được’.

“Người dân cũng có thể dễ chấp nhận như cấm đốt pháo chẳng hạn,” ông nói, “Dù là truyền thống lâu đời nhưng vẫn cấm được.”

“Tuy nhiên đốt pháo chỉ tập trung trong vòng mấy ngày Tết,” ông nói thêm.

“Ở những chỗ tập trung đông người thì dễ làm (cấm bán rượu bia), còn những chỗ khác không kiểm soát được thì khó.”

“Có thể họ vẫn cứ bán như thường nhưng có thể che đậy bề ngoài đi,” ông giải thích.

Theo Tiến sỹ Truyền thì việc ăn uống là sinh hoạt ‘cũng mang tính chất cộng đồng của người Việt Nam’.

“Nếu không ngồi được với nhau, không uống được chén rượu cốc bia với nhau thì quan hệ sẽ hời hợt lắm.”

Tiến sỹ Nguyễn Đức Truyền, Viện Xã hội học VIệt Nam

“Nếu không ngồi được với nhau, không uống được chén rượu cốc bia với nhau thì quan hệ sẽ hời hợt lắm,” ông nói.

Ông Truyền nhận định mặc dù việc bia rượu là phổ biến ở nhiều nước trên thế giới nhưng ở Việt Nam tình trạng bia rượu có phần vượt xa các nước khác là do hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam.

“Ở đất nước chưa trải qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa, tổ chức xã hội chưa mang tính chất định chế hóa mà chỉ dựa trên phong tục tập quán hay sinh hoạt cộng đồng,” ông giải thích.

“Ở các nước văn minh họ phát triển rồi nên định chế hóa bằng những ràng buộc.”

Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam, theo ông Truyền, để hạn chế tác hại của rượu bia mấu chốt không phải là ban hành lệnh cấm mà ‘phải tuyên truyền’.

“Khi người hiểu được thì không cần phải cấm,” ông nói và cho biết bản thân ông ủng hộ điều luật mà Bộ Y tế đang cân nhắc để ‘tránh xảy ra sự quá đà’.

Không khả thi?

Trên diễn đàn của BBC Việt ngữ, một số bạn đọc đã bày tỏ sự ủng hộ đối với lệnh cấm này.

“Đồng ý với quyết định cấm bán bia sau 10h tối. Còn ai muốn uống cho đã thì về nhà uống. Để xã hội bớt tệ nạn vì rượu bia. Cái gì mà vui cũng nhậu đã đành, mà buồn cũng nhậu, đủ lý do để nhậu,” Nguyễn Văn Toàn viết.

Một bạn khác có tên là Thùy Dương Vũ bình luận: “Ủng hộ nhiệt tình. Vì rượu bia mà bao nhiêu thảm cảnh đã xảy ra.”

““Cấm được mới sợ,” ”

Ngọc Thụ Lâm Phong viết trên Facebook của BBC Việt ngữ

Tuy nhiên, rất nhiều độc giả BBC cho rằng lệnh cấm này sẽ không thể đi vào đời sống được.

“Biết là tốt, nhưng nhưng đối với một quốc gia luôn lấy hai chữ ‘xã giao’ lên hàng đầu thì dự luật này coi vẻ xem ra không khả thi lắm,” Võ Điện chia sẻ.

“Cấm được mới sợ,” Ngọc Thụ Lâm Phong nghi ngờ.

Còn bạn Sakura Suri thì yêu cầu ‘phải có chế tài nghiêm chỉnh may ra dẹp được chứ đừng thực hiện nửa vời’.

Cũng có người chỉ trích ý tưởng này một cách thẳng thừng.

“Ngày làm vất vả tối xả stress thì lại cấm. Không hợp lý hợp tình,” một bạn có tên là Hien Phuong PT viết.

“Những người hay uống đồ cồn họ có thể mua trước 10h rồi uống sau. Có chăng luật này ra để những cửa hàng nào chưa nắm được luật thì bị phạt hoặc hối lộ cho lực lượng chức năng địa phương thôi. Rõ là trò trẻ con, bắt cóc bỏ đĩa,” Truy Mộng chỉ trích.

Đức tin và việc làm

Đức tin và việc làm

Một chiếc đồng hồ bằng vàng mà không chỉ đúng giờ thì vô ích.

Một cây xum xuê cành lá mà không có trái thì cũng vô ích.

Một chiếc đèn cẩn đầy kim cương mà không cháy sáng được thì cũng vô ích.

Cho nên Thánh Giacôbê nói: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết”.

Linh Đạo Người Tông Đồ:

Hoa trái của thinh lặng là cầu nguyện

Hoa trái của cầu nguyện là đức tin

Hoa trái của đức tin là tình yêu

Hoa trái của tình yêu là phục vụ

Hoa trái của phục vụ là bình an

Hoa trái của bình an là bác ái.

Mẹ Têrêsa Calcutta

Sưu tầm.