Tp.HCM: Bị đâm chết khi đang phát cơm từ thiện

Tp.HCM: Bị đâm chết khi đang phát cơm từ thiện

Chuacuuthe.com

VRNs (11.08.2014) – Sài Gòn – Trang Zing.vn cho biết một người đàn ông đang phát cơm từ thiện, bị một nam thanh niên dùng dao đâm hai nhát vào cổ và tử vong trên đường đi cấp cứu. Vụ việc xảy ra lúc 18:45 ngày 10.08 tại vòng xoay giữa giao lộ Lê Quang Sung – Phạm Đình Hổ, phường 2, quận 6, TP.HCM.

Theo người dân có mặt tại nơi xảy ra sự kiện thì vợ chồng một người đàn ông gần 50 tuổi đang đứng phát cơm chay miễn phí cho người có hoàn cảnh khó khăn tại khu vực này. Số cơm từ thiện do một người phụ nữ khá giả bỏ tiền ra làm và nhờ người đàn ông trên phát giúp đã nhiều năm nay.

140810004

Trong lúc phát, một nam thanh niên đến xin cơm và người phát cơm xảy ra mâu thuẫn dẫn đến xô xát. Lúc ấy, nam thanh niên rút trong người ra một con dao Thái Lan cán màu vàng lao đến đâm người phát cơm.

Nam thanh niên đâm trúng hai nhát vào cổ người phát cơm làm gãy cả lưỡi dao. Tại hiện trường, người dân tìm được cán dao mà nam thanh niên dùng gây án.

Người dân xung quanh phát hiện vụ việc chạy đến can ngăn và đưa người phát cơm đi cấp cứu. Nhưng do vết thương quá nặng, nạn nhân đã tử vong. Hung thủ cũng bỏ trốn ngay sau đó.

Theo Zing.vn

Mỹ đi lại được mời về?

Mỹ đi lại được mời về?

Nguyễn Giang

bbcvietnamese.com

Thứ hai, 11 tháng 8, 2014

Câu chuyện về hai điểm nóng đang bùng phát dữ dội, một ở Iraq, một ở Nigeria khiến người ta lại có dịp phàn nàn về Hoa Kỳ.

Người dân Iraq vùng bị quân IS xua đuổi đang chờ cứu trợ quốc tế

Nhưng các đài báo ở Anh và cả Trung Đông và châu Phi lần này không muốn người Mỹ đi, mà lại than phiền sao họ không quay lại hoặc vào cuộc mạnh hơn để ngăn Nhà nước Hồi giáo (IS) và nhóm Boko Haram.

Đài ITV ở Anh còn có vẻ trách cứ Tổng thống Barack Obama sao không ‘hung hăng hơn’ (more aggressive) mà bỏ đi nghỉ hè với gia đình sau khi tuyên bố Mỹ chỉ giúp Iraq không kích quân IS chứ nhất định không đổ bộ trở lại.

Đuổi đi rồi cố gọi về?

Trên truyền hình BBC tối hôm qua, Chủ Nhật, người ta cũng trích lời lực lượng Kurdistan yêu cầu Hoa Kỳ phải giúp bắn phá quân IS hơn nữa.

Chính quyền Mỹ còn bị phê đã không vũ trang cho lực lượng du kích peshmergas của người Kurd để họ đủ sức chống lại các nhóm Hồi giáo cực đoan.

Khổ nỗi, sau cuộc chiến Iraq, chính Hoa Kỳ vì tôn trọng tính thống nhất lãnh thổ của Iraq – gồm ba phần khác nhau rõ rệt, Hồi giáo Sunni, Shia và Kurdistan – nên đã không trao vũ khí hạng nặng cho quân Kurd.

“Hoa Kỳ can thiệp quá thì đương nhiên bị chỉ trích, nhưng muốn tách ra, không dính líu nữa thì lại bị phê là thiếu trách nhiệm”

Hoa Kỳ can thiệp quá thì đương nhiên bị phê, nhưng muốn tách ra, không dính líu nữa (disengagement) thì lại bị chỉ trích là thiếu trách nhiệm.

Thực ra tôi không lạ với giọng văn phê phán Mỹ đã thành truyền thống ở những nước châu Âu như Pháp.

Nhưng có vẻ như ở cả các nước từng muốn Hoa Kỳ đi cho nhanh như Iraq nay lại có ‘trào lưu’ mong họ trở lại.

Philippines cũng từng mời Hoa Kỳ rút khỏi căn cứ ở Subic Bay hồi năm 1991, nhưng gần đây nay lại ký thỏa thuận để thủy quân lục chiến Hoa Kỳ luân chuyển qua, giúp họ luyện quân, bảo vệ biển đảo.

Việt Nam, dù còn khác biệt nhiều về quan niệm nhân quyền và thể chế chính trị, cũng muốn Hoa Kỳ trở lại và có sự hiện diện rõ rệt hơn ở Biển Đông để cân bằng lại với Trung Quốc.

Ông Obama bị phê phán đã không ra tay đánh phe IS mạnh hơn nữa

Quả thật là Hoa Kỳ trong nhiệm kỳ của Tổng thống Obama đã và đang bị phê phán từ nội bộ nước Mỹ vì thiếu quyết đoán, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng.

Một số cây bút như Bấm Steve Hunley cho rằng ngoại giao Mỹ đang ‘thoái lui’, thậm chí ‘gần sụp đổ’ (near collapse), hay gần đây nhất là bà Bấm Hillary Clinton lên tiếng nói ông Obama quá lưỡng lự ở Syria, gửi ra tín hiệu ‘Mỹ yếu’ cho cả thế giới.

Bà nói lời của ông Obama chỉ ‘khuyên bảo đừng làm việc dại dột’ với các nước không thể là chính sách ngoại giao có nguyên tắc cho Mỹ được.

Nhưng đó là chuyện của Hoa Kỳ.

Còn nhìn ra bên ngoài, phê phán Mỹ không đơn thuần là một phản ứng tình thế mà còn có gốc rễ trong lịch sử, khiến cách nhìn mọi hành vi tốt hay xấu của Washington cũng rất đa dạng.

Nhiều kiểu bài Mỹ

Các nước lớn như Nga và Trung Quốc nếu có bài Mỹ cũng là chuyện dễ hiểu vì tầm vóc và vị thế khiến họ là đối thủ cạnh tranh ‘tự nhiên’ của Hoa Kỳ.

Pháp thì từ thời Charles de Gaulle đã luôn phản ứng lại Mỹ vì mặc cảm tự cao văn hóa và vì mất vị thế đế quốc.

Một số giới tại Anh đến nay vẫn không ưa Hoa Kỳ vì cho rằng Anh có truyền thống sâu sắc, tinh tế hơn.

Nhưng đây là một phần chưa hết của nỗi ngậm ngùi mà Anh rơi xuống hàng đồng minh nhỏ hơn Mỹ từ Thế Chiến 2 vì mất hết các thuộc địa.

Nhưng trên bình diện rộng hơn, ý thức hệ và tư duy chính trị của một nước cũng giúp thói bài Mỹ nảy nở.

Không quân của Hải quân Mỹ đã oanh kích trở lại vùng Bắc Iraq, ngăn quân IS

Các đảng cộng sản và thiên tả thường rơi vào bệnh ‘left-wing paranoia’, một chứng hoang tưởng có màu sắc giai cấp và đổ cho giới tư bản Mỹ mọi tội lỗi trên đời này.

Họ tin rằng tư bản Mỹ – từ các tay buôn chứng khoán đến giới sản xuất vũ khí, dầu lửa – luôn có mục tiêu tối thượng là chiếm đoạt thị trường toàn cầu.

Từ đó, người ta tin vào các thuyế́t âm mưu rằng tư bản Mỹ dùng các dạng luật lệ bất chính để kiểm soát vốn liếng, tỷ giá tiền tệ, và chính quyền Hoa Kỳ ra chính sách gì thì cũng để phục vụ cho tư bản Mỹ.

Cũng vì thế, họ thường không trả lời được câu hỏi Hoa Kỳ đầu tư là để giúp một chính quyền ‘xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội’, ‘bảo vệ Hồi giáo’, hay để thúc đẩy nước này giống Mỹ hơn.

Các nước có chế độ độc đoán thiên hữu thì lại dễ dị ứng với ‘văn hóa Mỹ’ vì đầu óc dân tộc chủ nghĩa và vì lý do tôn giáo.

Đôi khi họ ngăn chặn hiện đại hóa vì coi đó là biểu hiện của thói bá quyền văn hóa (cultural hegemony) từ Mỹ.

Họ sẵn sàng nhận viện trợ từ nhưng không phải để mở rộng dân chủ, tự do theo mô hình Mỹ mà để củng cố vị trí ‘khách hàng duy nhất’ của mối quan hệ với Hoa Kỳ.

Điểm chung của lãnh đạo cả phe tả và hữu ở mọi nước là đều muốn giáo dục Mỹ cho thế hệ trẻ của họ và không ai từ chối các thành quả văn minh ‘Made in USA’.

Nếu gộp cả bệnh bài Mỹ của phe tả và phe hữu lại thì ta có thể thấy hiện ra một nghịch lý: cả hai đều cần nước Mỹ nhưng chỉ cần những phần phù hợp với nhu cầu của họ.

Bài Mỹ trở thành một điểm chung cho nhiều quốc gia và thế hệ

Như thế, vấn đề không phải ở chỗ nước Mỹ hay dở ra sao mà là nhu cầu của bạn thế nào.

Người ta cũng nói về ‘khả năng’ chơi với Mỹ, hàm ý Hoa Kỳ vốn thực dụng và điều quan trọng là tầm của bạn đến đâu thì nước Mỹ chơi với bạn đến đó.

Chuyện Hoa Kỳ bỏ Nam Việt Nam vẫn đang được nhắc đến trong bối cảnh hậu Afghanistan, Iraq và bài của tác giả Bấm Nguyễn Tiến Hưng ‘Từ Watergate tới sụp đổ Sài Gòn’ vẫn thu hút nhiều bạn đọc Việt Nam trên trang nhà của chúng tôi.

Nhưng tôi chưa thấy ai đặt câu hỏi nếu vào lúc này mà không còn nước Mỹ nữa thì tình hình thế giới sẽ diễn biến ra sao?

Chiều nay, tôi nghe những tàn phai

Chiều nay, tôi nghe những tàn phai

Nguyễn Ngọc Già gửi RFA
2014-08-11

Ca sĩ Khánh Ly

Ca sĩ Khánh Ly

Files photos

Ngót ba mươi năm, sân khấu không còn đọng trong trí nhớ của tôi.

Để tìm chút thư giãn, giữa những bài viết chính trị khô không khốc, youtube trở thành người bạn, gởi lại những tiếng vọng êm đềm và bãng lãng.

Khánh Ly và kỷ niệm

Với túi tiền nho nhỏ, cứ ngỡ, lâu lâu, mình hãy tự cho phép “xài sang” một lúc nào đó, khi Khánh Ly về hát. Ít nhất đối với giọng ca một thời của “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên”. Đợi từ năm kia, tới năm ngoái và rồi năm nay…

Đành mượn lời Nhật Trường – “thôi em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé…” – mà diễn đạt tâm trạng “Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên” – như Trịnh Công Sơn thốt lên. Dù biết “Em” là cho tất cả. “Em” không phải “sở hữu” riêng ai. Nhưng “Em” nói, đến với nhau là cùng tìm về kỷ niệm.

Do đó, sự trở về của Khánh Ly như một hành khách kịp bắt chuyến tàu cuối cùng trên sân ga. Chuyến tàu, nếu không phải mua nhầm vé, chắc người soát vé ngủ gục, nên mặc hành khách lạc tuyến, khi ga đến đầu tiên – sau gần 40 năm xa xứ – không phải Sài Gòn. Cũng không phải Đà Lạt hay Huế, dù tài công tiếp tục đưa người lữ khách rong ruổi lần thứ hai.

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?

Sài Gòn, không còn gợi lên những “chiều nội trú bâng khuâng”. Lâu lắm rồi. “Con đường Duy Tân cây dài bóng mát” đã xa vời vợi. Thay vào đó là những vỉa hè luộm thuộm với quán nhậu và tiệm cafe. Chen lẫn vài ngân hàng cùng hiệu kính và cả tiệm… rửa xe. Ừ, có cả một quán ăn kèm hát với nhau của Cẩm Vân. Con đường “duy cái mới”, bây giờ, thế đó (!).

Những góc phố ngày xưa chỉ còn lại ánh chiều tà ảm đạm, tô đậm ngón tay vàng khói thuốc, cho những ai muốn tìm về dĩ vãng.

Dường như chẳng còn gì hấp dẫn hay quyến rũ và gợi nhớ? Nhưng ngày xưa, Khánh Ly hát cho “Người Già và Em Bé”, cho cả dân “Du Mục” với “đàn bò vào thành phố réo buồn tiếng hạt chuông”, chứ đâu chỉ “chiều nay còn mưa, sao em không lại…” hay ân cần ôm lấy “vai em gầy guộc nhỏ như cánh vạc về chốn xa xôi”? Không, Khánh Ly không chỉ kiêu sa như thế. Không cần đài các như vậy. Giản dị hơn nhiều…

Sài Gòn quen lắm nhưng không còn “Sài Gòn đẹp lắm Sài Gòn ơi!”

Sự trở về của Khánh Ly như một hành khách kịp bắt chuyến tàu cuối cùng trên sân ga. Chuyến tàu, nếu không phải mua nhầm vé, chắc người soát vé ngủ gục, nên mặc hành khách lạc tuyến, khi ga đến đầu tiên – sau gần 40 năm xa xứ – không phải Sài Gòn. Cũng không phải Đà Lạt hay Huế, dù tài công tiếp tục đưa người lữ khách rong ruổi lần thứ hai

Người Sài Gòn, không xứng đáng, dù chỉ được phép mua vé “tàu ghế cứng toa hạng hai” để nghe, để nhìn và để ngẫm ngợi những gì Khánh Ly muốn tìm về kỷ niệm (?). Một chút gì phả ra nhạt nhòa từ ánh màu bạc bẽo! Nó hắt xuống phố Sài Gòn lấp lóa màu đen hắc ín, trong không khí nóng hực của ngày hè.

Người Sài Gòn nhớ Khánh Ly từ những gì mộc mạc mà rướm máu, hơn là những bóng bẩy và chải chuốt như người Hà Nội xem thấy. Một không gian có vẻ sang trọng nhưng khô và giả. Giả mà như…thật, từ những “bông hoa sống đời”, người ta bán ngoài chợ hay trong các shop để trang trí, làm cảnh cho ngày tết, dịp lễ mà không cần mất công nhiều lắm…

Kỷ niệm, khi gọi tên, nó nên khởi đi từ nơi người ta gắn với tột đỉnh vinh quang và cả nỗi niềm ly biệt. Cả êm mượt như nhung và sóng gió dập vùi. Nước mắt hòa trong thảng thốt trên từng bước chân tháo chạy trong rối bời. Và chia lìa những gì sâu lắng tận đáy tim, in đậm trên từng hàng rào dâm bụt loang lổ. Tan nhanh như từng hạt mưa bong bóng, hòa lẫn “muối mặn” chảy từ khóe mắt. Tất cả nối nhau chảy vô…ống cống. Từ ngày đó – 30/4/1975.

Thế là hết. Dù trẻ lắm, dù mơ hồ, những chao đảo trong tâm khảm vẫn còn nguyên với nỗi sợ hãi lớn dần theo ngày tháng của những năm xưa. Hiển hiện, không thể né tránh. Từ đó, ngụp lặn và đào bới trong… “đống bản nhạc” – như một đống rác buộc dọn dẹp. Lén lút và vụng trộm để tìm mọi cách “tẩu tán” tài sản của chính mình, dù trong mắt “người cách mạng”, chúng nó là thứ cặn bã, lai căng và… phản động! Một thời của văn hóa nghệ thuật Sài Gòn bỗng chết… ngắc!

Đấy là một trong những điều người Sài Gòn nhớ nhất, trong ngày tháng rầm rập bước chân các anh “giải phóng quân” dộng ầm ầm trên những con đường Sài Gòn thơ mộng.

Chốc chốc, gió thốc những bản nhạc bay tán loạn rồi đậu lại trên vỉa hè với vẻ u hoài và xơ xác. Nhiều người thẫn thờ “Để Gió Cuốn Đi” từng bản nhạc như mảnh giấy gói bánh mì. Văn hóa Sài Gòn tuyệt diệt. Tôi biết điều đó, khi từng trang giấy với năm dòng kẻ và những hồn thơ trong đó – được trình bày công phu và trân trọng, thẩm mỹ và đậm cá tính nhạc sĩ sáng tác – đầy dấu chân người qua kẻ lại, chấp chới như cánh bướm rách tả tơi.

Khánh Ly ra đi như hàng triệu người rời bỏ Sài Gòn và miền Nam. Người ở lại chỉ biết nhìn. Lầm lũi và co quắp trong những cơn mưa chiều nặng hạt, mơ về “Những Ngày Xưa Thân Ái” hồn nhiên. Tất cả chỉ còn lại “Như Giấc Chiêm Bao” ngọt ngào. Giấc chiêm bao của đời thực. Dường như định mệnh an bài.

Nói cho ngay, “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” trở thành chân lý, khi bóng dáng khập khiễng những lời nhạc đầy ắp chất thơ, còn chỗ nào để bày biện tốt hơn trong nhà hát lớn Hà Nội đầy màu sắc lấp lánh? Với áo quần thơm tho và những bó hoa sặc sỡ. Rỗng. Sáo. Và như những hạt ngọc trai nhân tạo xứng đáng với cái giá của nó.

Thời gian quả khắc nghiệt. Như một viên đá mài, chà xát trên dây thanh đới người ca sĩ. Giọng ca Khánh Ly đục hơn và rè hẳn như dây số 1 guitar, lâu ngày bong tróc dần, sau những miệt mài nâng phím lòng, xoa dịu nỗi đau đời dân Việt “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu/Một trăm năm đô hộ giặc Tây/Hai mươi năm nội chiến từng ngày…

Nhưng kỷ niệm, cứ ngỡ, là nơi không phải chỗ mình bỏ chạy cùng với nước mắt, vào năm 1954, bé xíu. Nó phải là nơi cưu mang, bước ra khỏi “tàu há mồm” với cái thở phào năm xưa? Nó phải là nơi gắn bó, thành danh, làm nên tên tuổi và nuôi nấng giọng hát của mình chứ?

Nếu gọi tên “non nớt” khi “Mơ Về Nơi Xa Lắm”, nó có một chút gì kệch cỡm, bởi e rằng lứa tuổi “gió heo may đã về” trở nên chọc ghẹo giới trẻ mất.

Giọng hát của “Nữ Hoàng Chân Đất” bây giờ thích hợp với đôi giày cao gót – dù chông chênh nhiều.

Thời gian quả khắc nghiệt. Như một viên đá mài, chà xát trên dây thanh đới người ca sĩ. Giọng ca Khánh Ly đục hơn và rè hẳn như dây số 1 guitar, lâu ngày bong tróc dần, sau những miệt mài nâng phím lòng, xoa dịu nỗi đau đời dân Việt “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu/Một trăm năm đô hộ giặc Tây/Hai mươi năm nội chiến từng ngày…”.

Làn hơi ngày nào gây nghiện cho khán giả, giờ đã ám đầy khói. Những sợi khói bay lên từ “Tàn Tro” năm cũ. Đứt quãng và mệt nhọc. Đuối sức không chỉ từ thần thời gian cản bước mà còn thiếu hẳn sự tự nhiên trong cách ngắt câu và kiểu lấy hơi nặng nề như “người phu quét đường” thở dốc với chiếc xe kéo, cùng một chút khò khè từ buồng phổi nhiều năm không thể thiếu thuốc lá? Âu cũng là lẽ thường.

Giọng ca tái tê và rạn vỡ, bây giờ không còn. Không chỉ là rì rầm như “đại bác đêm đêm dội về thành phố” mà Khánh Ly nì non “Hát Trên Những Xác Người” thay cho những bà mẹ, những người cha hóa điên bên xác con thơ của trận Mậu Thân năm nào… Nhiều lắm…

“Tình cũ không rủ cũng tới”, bây giờ sai mất rồi. Một chút hoài niệm chen lẫn bối rối, khó diễn tả cùng tâm trạng… cụt hứng, khi chờ một kỷ niệm tìm về. Vả chăng, nếu có, người Sài Gòn cũng không thích ngắm nghía giọng ca Khánh Ly với vẻ sang trọng nhưng cứng đơ và đạo mạo, được khoác lên khá khiêng cưỡng như tại Hà Nội. Vốn dĩ người Sài Gòn cũ, dù sành điệu nhưng không sính ngoại với “đặc danh”: “diva”.

Sài Gòn và cả Việt Nam, bây giờ có thứ gì mà không cần đến tiền? Giờ, lộ thiên chơ vơ, trái tim như cục than đen xì bất động; khe khẽ đập và hổn hển thở theo… hai trăm triệu của Phó Đức Phương. “Áo Lụa Hà Đông” bị xé rách toạc trước mắt người… làm văn hóa. Văn hóa gì đây? À! Văn hóa từ “tâm hồn treo ngược ở cành cây” của Sóng Hồng đây mà!

Đó không thể gọi là “đền đài” [1], bởi nó chỉ xứng với tên gọi trang trí như những phông màn làm buổi diễn cho những thanh âm rè đục như “Nghe Những Tàn Phai” cất lên trong lòng chế độ. Sao lại chọn Khánh Ly vào lúc này – như một sự giễu cợt cuối cùng mà người cộng sản vốn thích đùa dai?

Biết đâu, chuyến trở về thứ hai, với Sài Gòn là bến đợi, chiếc áo dài vàng hoa cúc, không bị phết những nhát cọ “một màu đen đen, một màu trắng trắng, chiều hoang vắng chiếc xe tang đi thật vội vàng”! Trên chuyến xe đó, bên “quần tang áo chế”, người ca sĩ năm nào lê bước chầm chậm để hát nốt những ca từ “Cuối Cùng Cho Một Tình Yêu”.

Nghe những tàn phai

Khi nhắc về “đền đài âm nhạc”, dù quý phái hay bình dân; dù thính phòng hay nhạc nhẹ; dù chắt lọc ngôn từ hay bình dị câu hát, nó vẫn phải dành hết cho thân phận con người – Con Người Việt Nam hôm nay.

Đó không thể gọi là “đền đài” [1], bởi nó chỉ xứng với tên gọi trang trí như những phông màn làm buổi diễn cho những thanh âm rè đục như “Nghe Những Tàn Phai” cất lên trong lòng chế độ. Sao lại chọn Khánh Ly vào lúc này – như một sự giễu cợt cuối cùng mà người cộng sản vốn thích đùa dai?

Bất kỳ giá trị nào được làm từ dĩ vãng đều trở nên vô nghĩa, nếu người ta không biết hiện tại xuất phát từ đó đang ra sao và làm sao xoay xở nó trong tương lai – tương lai rất gần, đang đến. Một nỗi bế tắc mang bóng dáng “âm nhạc”, khi cầu viện đến cái tên “Khánh Ly”. Tựa như chiếc vợt cũ rách, cố vớt tạm lòng dân – đang rã mục. Thế thôi. Bởi dòng nhạc Trịnh Công Sơn đã là dĩ vãng, không còn được giới trẻ quan tâm nhiều lắm.

“Đồ cổ” chỉ có giá trị khi mang tính lịch sử và truyền lại tinh thần văn hóa vô giá cho con cháu đời sau. Chỉ tiếc, chính tư tưởng thực dụng đến bẽ bàng của người cộng sản gieo rắc bao năm qua, làm cho giới trẻ không khoái… “đồ cổ”!

Vả lại “môi trường văn hóa” Việt Nam ô nhiễm đến mức ngột ngạt, người ta làm sao có thể ngồi ngân nga hay ngẫm ngợi những câu hát đậm “chất thiền” và đầy tính bao dung của Trịnh Công Sơn nữa?

Người cộng sản hãy cố xoa tay và hít sâu lồng ngực với một cái thở mạnh, hắt ra cho buồng phổi thêm chút oxygen mà tiếp tục sống và hy vọng…

Dù sao, những phút cuối dọn dẹp mặt bằng sân khấu, hạ màn đang đến. Và ở đó, thấp thoáng nhiều “cặp mắt đỏ quạch” dáo dác tìm bằng được “visa EB-5” [2] cho cuộc tháo chạy an toàn, đến Mỹ. Sắp đến rồi…

Bình minh chuẩn bị ló dạng. Chắc chắn là như thế, cho người dân Việt Nam, không phải cho ai khác.

Nguyễn Ngọc Già

Ghi chú: Những chữ viết hoa, in nghiêng và trong ngoặc kép là các nhạc phẩm của các nhạc sĩ.

[1] http://motthegioi.vn/chuyen-hang-ngay/giua-bai-hoang-ngo-ve-den-dai-61469.html

[2] http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/nhieu-dai-gia-viet-quan-tam-dau-tu-dinh-cu-my-3026544.html

 

THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY (2)

THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY (2)

Đôi lời về một não trạng mới 

Thời Pháp thuộc, nhà tôi ở thuê trong xóm công chức nghèo ngõ Đức Khánh, phố Hàm Long (vì thế hai em gái tôi có tên là Khánh và Đức) và đi học không xa nhà. Tuy biết rằng không thể bị lạc, nhưng bao giờ bố tôi cũng dặn “hễ chú bị lạc, chú nhờ Police đưa về”.

Xin hỏi thực lòng với quý vị công dân Việt Nam thời nay: Có vị nào thời nay dặn con mình hễ gặp rắc rối thì nhờ Công an, Cảnh sát, Dân phòng, An ninh… giúp đỡ không?

Có một não trạng thời nay là “đừng dây vào với CHÚNG NÓ”. Không phải bỗng dưng mà người dân tự lánh xa những người “bạn dân” ấy. Vì não trạng của những người bạn dân đó có vấn đề. Họ không còn coi dân là bạn nữa rồi. Dính vào họ chỉ có thiệt.

Làm gì đến nỗi quên đội cái mũ bảo hiểm đầy tính hình thức trong một cuộc sống không có người biết tổ chức cả một hệ thống giao thông, mà Police cùng cả hệ thống áo đen, áo cỏ úa, áo vàng, và áo thường phục sẵn sàng “phẫn nộ” hộ các lực lượng chức năng, có thể đánh đến chết người vi phạm giao thông?

Những nhà lãnh đạo đất nước cần chú ý xem xét cái não trạng mới làm Police bị đẩy xa khỏi Dân: bắt đầu từ chỗ có quá nhiều quyền hành, dẫn đến việc cần có quá đông Lực lượng chức năng, đến chỗ phải để cho “chúng nó” tự kiếm sống… và cuối cùng là hình thành một não trạng thấy đâu đâu cũng đầy những kẻ đối lập, và dại gì mà phía bên kia, phía Dân, chẳng coi các anh thành “chúng nó”?

Hãy nghĩ lại đi trước khi quá muộn.

Phạm Toàn

DÂN BIỂU TÌNH VÌ CẢNH SÁT GIAO THÔNG ĐÁNH CHẾT NGƯỜI

TUYÊN QUANG (NV) Hàng chục người dân biểu tình lên án, nhưng phe cảnh sát giao thông (CSGT) huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, chối rằng không có chuyện người của họ đánh chết người dân.

Theo bản tin của tờ Sức Khỏe Cộng Ðồng dựa theo lời của ông Nguyễn Văn L. (cư dân xã Văn Phú, huyện Sơn Dương) thì nạn nhân của vụ việc là Nguyễn Văn Tuấn 39 tuổi, dân tộc thiểu số Cao Lan, chạy xe không đội “mũ bảo hiểm” sáng ngày 5 tháng 8, 2014.

clip_image001

Nạn nhân đã được đưa về và khám nghiệm tử thi tại nhà. (Hình: SKCÐ)

Khi Nguyễn Văn Tuấn chạy xe máy ở một khu vực tại thôn Khe Thuyền, xã Văn Phú, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang, “một cảnh sát giao thông đã ra hiệu dừng xe để kiểm tra hành chính. Tuy nhiên, do nạn nhân cố tình bỏ chạy, vị cảnh sát đã ‘vô tình đánh dùi cui’ vào gáy nạn nhân. Nạn nhân đi được khoảng 20 mét thì ngã xe và gục xuống đường”, nguồn tin trên kể.

Nguyễn Văn Tuấn đã được đưa đi cấp cứu ở bệnh viện đa khoa Kim Xuyên tại huyện Sơn Dương. Vì tình trạng nguy cấp, ông được chuyển đi cấp cứu ở bệnh viện tuyến tỉnh nhưng “đã tử vong trên đường đi cấp cứu”.

Ðược biết, anh Tuấn ra đi để lại người vợ và 3 con nhỏ, một con mắc bệnh tim và một con mắc bệnh máu trắng. Theo tờ Sức Khỏe Cộng Ðồng, “Người dân quá bức xúc, nên dù chiều nay (5 tháng 8) trời mưa cũng vẫn đến biểu tình rất đông tại trụ sở xã Văn Phú”.

clip_image002

Người dân đang tụ họp biểu tình rất đông tại trụ sở xã Văn Phú . (Hình: SKCÐ)

Tuy có người nhìn thấy sự việc, ngày 6 tháng 8, 2014, phóng viên báo Ðất Việt nói chuyện với ông Quí – Phó đội trưởng đội CSGT, công an huyện Sơn Dương, ông này chối rằng: “Cái đấy không phải đánh, anh em đang đi làm thì nhìn thấy đối tượng không đội MBH nên dừng để kiểm tra. Nhưng đối tượng đã chạy, vừa chạy vừa ngoái lại nhìn xem có bị CSGT đuổi không. Khi tới ngã ba thì đối tượng đâm vào bảng tin rồi lại đứng dậy đi tiếp. Vị trí đối tượng bị ngã cách CSGT khoảng 100 m. Nhưng ngã xong đối tượng đứng dậy đi tiếp, một lúc sau thì bị ngã và tử vong. Ngay sau đó người dân có xúm lại và nghĩ là CSGT đánh người vì thời điểm lúc đấy trên xe có một chiếc gậy gãy”.

Ngày 25 tháng 6, 2014, Nguyễn Văn Chín, 44 tuổi, ngụ tại quận Gò Vấp, đã chết vì bị một nhóm người mặc thường phục đánh, đồng bọn của nhóm CSGT ở quận Tân Bình, Sài Gòn. Ông Chín chạy xe máy, bị chận lại đo nồng độ cồn rồi sau đó, cự cãi và bị đánh, bị đá tới xỉu đi. Khi tỉnh lại phải bò lết, tự gọi taxi đi cấp cứu.

Cuối tháng 2 năm 2011, một trung tá công an tên Nguyễn Văn Ninh đã dùng dùi cui đánh ông Trịnh Xuân Tùng ở bến xe Giáp Bát, Hà Nội, tới gục xuống đường, vì cự cãi số tiền phạt “không đội mũ bảo hiểm”. Ông chết mấy ngày sau đó ở bệnh viện vì chấn thương cột sống ở cổ quá nặng.

Ông Nguyễn Văn Tuấn ở tỉnh Tuyên Quang là nạn nhân thứ 14 chết trong tay công an CSVN từ đầu năm đến nay. Hầu hết đều chết khi bị công an bắt giam, tra tấn ép cung đến chết, rồi đổ cho người ta “tự tử,” “sốc may túy,” hay những lý do khác, dù trên thi thể các nạn nhân đầy dấu vết, thương tích của nhục hình như vỡ sọ, gãy xương sườn xuông sống, giập nội tạng. (TN)

NGHĨ SAO VỀ NHỮNG GIÀN HD-98…x KHÔNG GÂY ỒN ÀO TRÊN LÃNH THỔ VÀ LÃNH HẢI VIỆT NAM

NGHĨ SAO VỀ NHỮNG GIÀN HD-98…x KHÔNG GÂY ỒN ÀO TRÊN LÃNH THỔ VÀ LÃNH HẢI VIỆT NAM

Hà Giang

Sau khi Tàu Cộng đặt cái gọi là giàn HD-981, công luận ồn ào hẳn lên, không chỉ báo chí lề trái, mà cả báo chí lề phải cũng vào cuộc, cáo buộc rằng Tàu Cộng vi phạm này vi phạm nọ, dân chúng bất bình sôi sục, nhiều người lên tiếng đấu tranh đòi phải kiện Tàu Cộng ra các tòa án quốc tế, vân vân và vân vân.

Còn Đảng ta thì nín thinh.

Tôi thấy tức cười về sự ồn ào đó.

Vì tôi ngẫm nghĩ, có những chỗ rộng … mênh mông bể sở, lớn gấp hàng tỷ lần cái giàn HD-981, nằm chềnh ềnh giữa những cứ điểm chiến lược hiểm yếu trên đất nước ta đang tồn tại êm thấm… Chẳng thấy ai nói gì…

Công luận lên án cái giàn HD-981 là “bất hợp pháp”. Vậy những chỗ bọn Tàu Cộng đã và đang cắm chốt … “rất hợp pháp” thì sao?

Tôi nảy ra sáng kiến lẳng lặng làm thân với các vị đương kim tỉnh ủy viên, thường vụ tỉnh ủy phụ trách ngạch tuyên huấn, vì nghe tin các vị này có đặc quyền ra vào những nơi tôi tạm gọi là “Tô giới” của Tàu Cộng. Đó là những vùng rừng đầu nguồn cho Tàu Cộng thuê 50 năm. Đó là những công trình Tàu Cộng thắng thầu. Đó là những cảng biển nước sâu mà Đảng ta đã cho Tàu Cộng thuê 50 năm, 70 năm. Tất cả đang là những công trường vĩ đại, đang được chúng xây dựng những doanh nghiệp khổng lồ, mà ai đến đây cũng đinh ninh một cảm giác, là chúng đang chuẩn bị cho một cuộc “an cư” và “lạc nghiệp” vĩnh viễn trên đất nước này.

Tôi đã thành công. Tôi được ngồi xe cùng các vị tỉnh ủy viên, rồi thường vụ tỉnh ủy dẫn đạo ra vào thoải mái những nơi mà hạng người Việt “phó thường dân” như tôi không bao giờ được lân la tới. Tôi được tận mắt nhìn, được hỏi, được xem những gì bọn xâm lược Tàu Cộng đang mặc sức tung hoành trên đất nước thấm đầy máu thịt của cha ông chúng ta.

Tôi phải gọi đó là những “Tô giới”. Vì đó là những vùng có thể gọi chính xác là “nhượng địa”, được các nhà lãnh đạo Đảng thỏa thuận cho thuê 50 năm, 70 năm, Tàu Cộng tự do tung hoành mà người Việt không được bén mảng, trừ trường hợp như tôi, có “sáng kiến” tìm cách bám đuôi được các vị có hàm vị cao trong Đảng.

Tôi nói “Lãnh đạo Đảng thỏa thuận”, là vì đây là câu hỏi tôi đặt ra ở tất cả những nơi tôi đến. Câu hỏi của tôi với các đồng chí tỉnh ủy, rất thẳng thắn, là “Báo chí lề trái, lề phải lên án các đồng chí ăn tiền của nước ngoài, rồi tự tiện cho thuê đất, thuê rừng, thuê biển, … Có đúng thực như thế không? Hay là các đồng chí được Bộ Chính trị cho phép”.

Câu trả lời nhất quán mà tôi thường xuyên nhận được là: “Chúng tôi đâu dám lộng quyền! Đều được phép của Bộ Chính trị. Các dự án đều được các đồng chí ấy phê chuẩn cả đấy”.

Ảnh chỉ có tính chất minh hoạ. Nguồn ảnh: http://clbnbtd.blogspot.com/2009/04/bauxite-tan-rai-gioi-tau-tren-cao.html

Thì ra tất cả những tô giới của Tàu Cộng mà tôi được đến trên đất nước chúng ta đều được quyết định từ Bộ Chính trị. Những nơi tôi chưa đến được thì tôi không có thông tin, không dám nói. Còn Bộ Chính trị cụ thể là ai, thì tôi thấy cũng không cần hỏi sâu thêm nữa. Vả lại, tôi tự thấy đến đây là đủ, vì tôi suy luận: Đảng có nguyên tắc tổ chức rất nghiêm ngặt về tập trung dân chủ. Như vậy, người quyết định cuối cùng phải là tổng bí thư, mà tổng bí thư nhiệm kỳ này là ông Nguyễn Phú Trọng. Như vậy ông Nguyễn Phú Trọng chắc là người gánh chịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc về những thỏa thuận các tô giới, các nhượng địa với quân xâm lược Tàu Cộng.

Tôi tự thấy mình nghĩ như thế là đúng, bởi vì tôi nhớ lại, hồi mới nổi lên cái vụ ông tổng bí thư Nông Đức Mạnh ba lần ký trao Tây Nguyên cho Tàu Cộng, báo chí lên án Chính phủ đã chấp nhận những dự án đầu tư của Tàu Cộng vào Tây Nguyên, … và họ phỏng vấn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, thì được ông Dũng nhiều lần khẳng định rất dứt khoát: “Đây là chủ trương lớn của Đảng ta”. Thủ tướng khôn thật. Quy hết trách nhiệm cho Đảng. Mà ông quy như vậy đâu có sai. Ông thủ tướng đúng đấy: Ký kết các nhượng địa cho Tàu Cộng là chủ trương lớn của Đảng ta.

Đến đây tôi thật sự lúng túng. Trong các hội nghị chi bộ tất cả các đảng viên đều được “đả thông tư tưởng” là phải tin tưởng tuyệt đối vào các chủ trương của Đảng. Vì vậy, chúng ta chỉ còn biết tin tưởng vào chủ trương trao các tô giới và các vùng nhượng địa cho bọn xâm lược Tàu Cộng của Đảng ta!

Tôi thành thật bộc bệch tâm tư lo ngại vẩn vơ về việc quân xâm lược Tàu Cộng ngày càng lấn tới … với các đồng chí tỉnh ủy viên và thường vụ tỉnh ủy mà tôi được may mắn bám đuôi, tôi nhận ra những điều thú vị nữa, mà tôi muốn chia sẻ với các bạn bè gần xa.

Đến bất cứ khu nhượng địa nào, tôi đều nhận ra có rất nhiều dự án đầu tư, không chỉ của các nhà đầu tư Tàu Cộng, mà có cả các nhà đầu tư Hàn Quốc, Đài Loan và một số nước khác. Hỏi sâu vào các dự án, chúng ta còn được biết, các chủ đầu tư này có rất nhiều đối tác từ Úc, Malaysia, Singapore, vân vân và vân vân… Rồi công nhân nước ngoài chỉ chiếm 5%, còn lại là người Việt Nam hết… Thế là các đồng chí tuyên huấn được dịp trấn an tôi: “Đấy nhá! Ông thấy chưa? Bạn làm ăn nghiêm túc, và 95% công nhân là người Việt mà, … có như người ta làm ồn ào trên công luận đâu!”

Nhưng mà … có một điều tôi không thấy vị nào nói đến, là những nơi Tàu Cộng cắm chốt đều rất hiểm yếu về địa quân sự. Khi chúng tạo ra sự biến ở đâu đó thì xe tăng và chiến hạm của chúng tự do hoành hành như đi vào chỗ không người… Vì những nơi đó đang thuộc quyền kiểm soát của chúng.

Còn một điều nữa, mà một kẻ ngây thơ nhất về tình báo cũng có thể nghĩ đến: Bao nhiêu phần trăm các nhà đầu tư mang nhãn Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, … là người do tình báo Hoa Nam cài cắm? Không biết được!

Ảnh chỉ có tính chất minh hoạ. Nguồn ảnh: http://clbnbtd.blogspot.com/2009/04/bauxite-tan-rai-gioi-tau-tren-cao.html

Rồi còn một điều tôi không cũng thấy một công ty “bạn” nào nói đến, như ở Tây Nguyên, hiện đã có mặt trên một số lượng lớn những tên “bạn” tráng đinh Tàu Cộng, trong đó chỉ một ngàn tên là lao động có phép. Tất cả các khu nhượng địa khác đều chịu chung số phận. Trong tất cả các cuộc tiếp xúc mà các đồng chí tỉnh ủy dẫn tôi đến, không thấy ở đâu nói về đạo quân vô phép này. Chúng đang quậy phá khắp nơi trên đất nước chúng ta, chúng còn gieo rắc bừa bãi cái … ADN Hán chủng vào bụng các cô gái nghèo Việt Nam. Chỉ cần chưa đến một trăm ngàn là chúng gieo được một mầm Hán Tặc trên cơ thể các cô gái Việt… Chúng đang chuẩn bị cho một cuộc trưng cầu ý dân vào vài mươi năm sau, để những đứa con hoang đàng trở về với tổ quốc Đại Hán vĩ đại, như ở Crưm người Đại Nga đã làm, … để thôn tính dần đất nước này vào tay Tàu Cộng, như lời ông quan Thiên triều Dương Khiết Trì xấc xược lên mặt răn dạy những đứa con hoang đàng trong bè lũ Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống đang cắt dần đất, biển, rừng và hiến dâng các cỗ máy sinh thêm nòi giống cho bọn xâm lăng.

H.G.

Việt Nam cải thiện nhân quyền để được hợp tác quân sự và thương mại với Mỹ?

Việt Nam cải thiện nhân quyền để được hợp tác quân sự và thương mại với Mỹ?

Chuacuuthe.com

VRNs (10.08.2014) – Sài Gòn – Thượng Nghị Sĩ (TNS) John McCain (Cộng Hoà, Arizona) và TNS Sĩ Sheldon Whitehouse (Dân Chủ, Rhode Island) tới Việt Nam từ ngày 07 đến ngày 10 tháng 8 năm 2014. Chuyến viếng thăm này liền ngay sau ông Phạm Quang Nghị, bí thư thành ủy Hà Nội, thay mặc đảng CSVN đi thăm Hoa Kỳ, khiến nhiều người ngạc nhiên.

Lý giải cho thời điểm hai vị TNS của lưỡng đảng có mặt tại Việt Nam, tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, trên trang Mạch Sống cho rằng: “Các thượng nghị sĩ chỉ có mấy tuần để công du vì Quốc Hội vừa bãi khoá và sẽ trở lại làm việc tuần thứ 2 của tháng 9. Chờ đến kỳ bãi khoá kế, vào cuối tháng 9, thì e quá trễ vì từ đó đến đầu tháng 11 là cao điểm của mùa tranh cử – các dân biểu và thượng nghị sĩ không còn tâm trí đâu để quan tâm đến những gì khác”.

14081000

Điều nhà nước Việt Nam muốn hai vị TNS can thiệp với lập pháp và hành pháp Hoa Kỳ là giải tỏa cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam và chấp thuận cho Việt Nam tham gia Hiệp ước đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Phát biểu tại Hà Nội, cả hai vị TNS đều cho rằng đã đến lúc xem xét lại lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, nhưng không phải là tháo cởi hết ngay trong lúc này. Việc dỡ bỏ lệnh cấm vận này theo hai ông không liên quan gì đến việc cộng sản Hoa Lục hạt đặt giàn khoan trên Biển Đông. Trong khi đó thì không một thông tin nào về TPP được nhắc đến.

Giới quan sát tình hình chính trị Việt Nam cho biết “phe đảng” đang thắng trong thời gian vừa qua. Họ đã thuyết phục được Hoa Lục rút giàn khoan, đã cử người của mình là Ông bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị thay Bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh đi Mỹ gặp Bộ ngoại giao Hoa Kỳ. “Phe đảng” lại triển khai thanh tra ông Lê Hòang Quân trong vòng 70 ngày cách đột xuất.

Nhà báo Phạm Thành, từ Hà Nội cho biết: “Người Mỹ dường như bắt đầu cảm nhận rằng, bắt tay với đối thủ [phe đảng] của Thủ tướng thì những yêu cầu cụ thể của Mỹ, đặc biệt là vấn đề nhân quyền được dễ dàng và nhanh chóng được đáp ứng hơn là quan hệ với Thủ tướng. Năm tù nhân lương tâm được thả (Vi Đức Hồi, Đinh Đăng Định, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Tiến Trung, Nguyễn Thị Minh Hạnh…) là một ví dụ về sự đáp ứng mau lẹ sau chuyến sang Mỹ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang”.

Một thông tin mới được gởi đến gia đình blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải hôm 08.08 vừa qua là Giấy Mời đóng án phí cho hai phiên xử sơ thẩm và phúc thẩm của blogger này đã diễn ra tại Sài Gòn vào tháng 09 và tháng 12 năm 2012. Đặc biệt nội dung văn bản này nói rõ việc đóng án phí để “đủ điều kiện xem xét giảm án đặc xá” cho ông Nguyễn Văn Hải.

Thông tin này đến trước đợt đặc xá hàng năm vào ngày 02.09 ba tuần, nên nhiều người cho rằng việc blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn hải được trả tự do sẽ xảy ra trong dịp này.

Báo chí nhà nước dẫn nguồn từ Tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội cho biết: “Hai ông McCain và Whitehouse sẽ gặp gỡ các lãnh đạo Việt Nam nhằm trao đổi các vấn đề an ninh, thương mại và nhân quyền”.

Một nguồn tin độc lập cho biết, yêu cầu công nhận hoạt động của công đoàn ngoài hệ thống đảng cầm quyền là điều kiện bắt buộc, cùng với một chút cải thiện nhân quyền để có thể đưa Việt Nam vào danh sách các nước đồng sáng lập TPP.

Việt Nam cải thiện nhân quyền để được hợp tác quân sự và thương mại với Mỹ là mơ ước của đại đa số người dân Việt Nam quốc nội, nhưng liệu đó có là sự thật?

PV. VRNs

Kỷ niệm 35 năm Tàu Cap Anamur ra khơi cứu người vượt biển

Kỷ niệm 35 năm Tàu Cap Anamur ra khơi cứu người vượt biển

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2014-08-08

thanhtruc_08082014.mp3

capanamur4-305.jpg

Tàu Cap Anamur.

File photo

Đại Hội 35 Năm Cap Anamur, kỷ niệm ngày tàu Cap Anamur bắt đầu ra khơi cứu người vượt biển Việt Nam 35 năm trước, sẽ diễn ra trưa thứ Bảy ngày 9 tháng Tám, giờ địa phương tại cảng Hamburg thuộc thành phố Hamburg Cộng Hòa Liên Bang Đức.

Cảm ơn ông Neudeck và dân tộc Đức

Thành phố Hamburg rộng thứ nhì nước Đức có nhiều người Việt sinh sống, có hai tượng đài thuyền nhân Việt Nam, một trong nghĩa trang thành phố từ năm 2006 và một tại cảng Hamburg từ năm 2009. Cảng Hamburg là nơi 35 năm trước tàu Cap Anamur bắt đầu ra khơi để thực hiện công tác nhân đạo tìm kiếm và vớt người vượt biên Việt Nam:

“Ngày 9 tháng Tám năm 1979 con tàu Cap Anamur bắt đầu khởi hành từ Hamburg, chuyến cuối cùng thì tàu cũng cập cảng Hamburg tháng Tám năm 1986. Ngày 9 tháng Tám năm 2014 kỷ niệm 35 tàu Cap Anamur cứu vớt thuyền nhân được làm ở tại Hamburg. Cộng đồng người Việt tị nạn toàn nước Đức nói chung và ở tại Hamburg nói riêng chân thành cảm ơn ông Neudeck và dân tộc Đức đã mở lòng nhân đạo, cứu vớt và nhận cho thuyền nhân Việt Nam được cư ngụ tại nước Đức.”

” Cap Anamur là con tàu của tình thương, đã vớt tổng cộng 11.300 người tất cả. Và không chỉ đơn giản 11.300 người này mà 11.300 người này sau đó còn bảo lãnh thân nhân từ Việt Nam sang.
-Lê Ngọc Tùng”

Đó là lời ông Nguyễn Đình Phúc, một thành viên trong ban tổ chức Đại Hội 35 năm Cap Anamur, có người anh cả được tàu Anamur vớt hồi năm 1980.

Cap Anamur là kết quả vận động của một nhà hảo tâm người Đức, tiến sĩ Rupert Neudeck, sau khi nghe thấy tin tức và những hình ảnh thương tâm về thuyền nhân vượt thoát khỏi Việt Nam bằng cách ra biển trên những chiếc ghe mong manh nhỏ bé.

Từ năm 1979 cho đến 1987, những chiếc tàu của Ủy Ban Cap Anamur, đã vớt tổng cộng 11.300 thuyền nhânViệt rồi đưa họ về bến an toàn. Trong mắt thuyền nhân Việt Nam tại Cộng Hòa Liên Bang Đức nói riêng cũng như trên thế giới nói chung, tàu Cap Anamur, tiến sĩ Rubert Neudeck, Ủy Ban Cap Anamur là những vị cứu tinh, những tên tuổi gắn liền với giòng lịch sử vượt biên gian nan của người Việt sau 1975.

Theo ông Lê Ngọc Tùng, cựu thuyền nhân, hiện là hội trưởng Hội Người Việt Tị Nạn Cộng Sản tại Hamburg, nếu không có những chiếc tàu Cap Anamur đi vớt người vượt biên từ 1979 đến 1987 thì:

“Thống kê cho biết khoảng hai trăm ngàn người Việt Nam đi tìm tự do đã chết giữa biển. Nếu không có con tàu Cap Anamur thí chắc chắn số người chết giữa biển vì gặp hải tặc, bị sóng cuốn, bị thiếu lương thực vân vân sẽ rất là nhiều. Cap Anamur là con tàu của tình thương, đã vớt tổng cộng 11.300 người tất cả. Và không chỉ đơn giản 11.300 người này mà 11.300 người này sau đó còn bảo lãnh thân nhân từ Việt Nam sang nữa để có một cuộc sống tự do.”

capanamour-250.jpg

Nhà hảo tâm người Đức, tiến sĩ Rupert Neudeck. File photo.

Chính vì thế năm 2009 thêm một tượng đài tri ân chính phủ và người dân Đức được dựng lên tại cảng Hamburg. Đại Hội 35 năm Cap Anamur hôm nay cũng được tổ chức tại cảng này.

Một cư dân Hamburg trong Ủy Ban Cap Anamur, ông Nguyễn Hữu Huấn, từng được tàu Cap Anamur vớt, sau trở lại làm việc trên những chuyến tàu ra khơi cứu người này, kể lại:

“Năm 1980 tôi đi vượt biên lần thứ ba, ghe của tôi bị hải tặc cưới hai lần. Khi ghe lênh đênh ngoài biển và không còn dầu nhớt nữa, máy đã bị hư, thì chúng tôi được tàu Cap Anamur cứu.

Lúc đó trên tàu Cap Anamur có chiếc trực thăng, thấy được ghe của tụi tôi và tàu đã đến cứu, đó là khoảng tháng Ba năm 1980. Lúc đó cảm giác như là được sống lại, nhìn thấy con tàu đồ sộ, cái ghe của mình quá nhỏ nà con tàu thì quá to thì chúng tôi rất bàng hoàng, có thể nói là được một lần nữa tái sinh.

Thật tình mới đầu chúng tôi không biết đó là tàu của người Đức, nhưng sau khi biết chắc chắn đó là tàu của Tây Đức thì chúng tôi rất mừng. Tôi đã ôm chầm những người thủy thủ và tôi rớt nước mắt. Một số các em nhỏ thì chúng tôi phải bê lên từng người bởi vì đã bị say sóng hoặc là bị bọn hải tặc hiếp. Những người còn khỏe mạnh cũng vậy, trong ghe có một bà cụ lúc đó đã quì lạy từng người một. Cho đến ngày hôm nay những người được tàu Đức vớt, cũng như cá nhân tôi, đều biết ơn chính phủ Đức và những người đã tạo ra Ủy Ban Cap Anamur cứu sống cả đời chúng tôi.”

Hoàn tất sứ mạng cứu người

Thực tế, vì được tài trợ bởi chính phủ và người dân Tây Đức lúc bấy giờ, Ủy Ban Cap Anamur do tiến sĩ Rupert Neudeck thành lập đã có được 4 chiếc tàu trang bị như một bệnh xá di động. Cả 4 tàu Cap Anamur đều hoàn tất ngoạn mục sứ mạng vớt người trên biển cho đến khi chấm dứt năm 1987. Vẫn lời ông Nguyễn Hữu Huấn:

” Ủy Ban Cap Anamur lấy mỗi con tàu đều là tên Cap Anamur hết. Bốn con tàu đi liên tiếp nhau chứ không phải đi vớt một lần bốn chiếc.
-Nguyễn Hữu Huấn “

“Ủy Ban Cap Anamur lấy mỗi con tàu đều là tên Cap Anamur hết. Bốn con tàu đi liên tiếp nhau chứ không phải đi vớt một lần bốn chiếc. Tôi được chuyến Cap Anamur số 1 vớt. Tàu Cap Anamur số 1 đi vớt người từ 1979 đến 1982, chia thành 29 chuyến thì đã vớt được 199 chiếc ghe. Tôi được chính phủ của tiểu bang Hamburg cho đi học tiếng Đức trong vòng 11 tháng. Cuối năm 81 tôi bắt đầu trở thành thành viên của Ủy Ban Cap Anamur, lên tàu đi vớt người ta tiếp và tôi đã đi liên tục trong 5 năm rưỡi. Cho đến khi chấm dứt vào năm 1987 thì chính thức ra năm 87 là tàu Cap Anamur số 4.

Rồi sau khi các trại tị nạn đã đóng cửa tất cả rồi, nghĩa là không được vớt người nữa và các nước không nhận người nữa thì những con tàu về sau là Năm và Sáu không vớt người mà chỉ dẫn dắt và cứu hộ trên con đường vượt biển, tìm cách đưa họ vào trại tị nạn thôi.”

Được biết những năm trước thì lễ kỷ niệm tàu Cap Anamur vẫn diễn ra tại thành phố Troisdorf mà tiến sĩ Rupert Neudeck đang sinh sống, cũng là nơi một chiếc ghe của người vượt biển được kéo về và trưng bày ở đó. Lý do Đại Hội 35 Năm Cap Anamur lần này được tổ chức tại cảng Hamburg là vì:

“Đây là lần đầu tiên tổ chức tại Hamburg, thứ nhất tại cảng Hamburg cách đây 5 năm đã có một bia biểu tượng tị nạn được đặt ngay tại cảng của Hamburg, đánh dấu nơi phát xuất và trở về của tất cả các con tàu Cap Anamur.

Lý do thứ hai, cũng là yêu cầu của tiến sĩ Rupert Neudeck người sáng lập Ủy Ban Cap Anamur hiện tại đã 75 tuổi và rất yếu, nói rằng đây có thể là lần cuối cùngthì ông mong muốn tổ chức ngày kỷ niệm 35 năm tại cảng đó.”

Ban tổ chức Đại Hội 35 năm Cap Anamur ước lượng khoảng một nghìn người Việt khắp nơi cũng như ở Hamburg về tham dự sự kiện đặc biệt này. Buổi lễ chính sẽ bắt đầu lúc 1 giờ rưỡi trưa ngày 9/8, giờ địa phương, với sự hiện diện của cựu phó thủ tướng Muetefering và đương kim phó thủ tướng người Đức gốc Việt Philipp Roesler, bên cạnh một số viên chức chính phủ liên bang hoặc tiểu bang trước kia cũng như hiện nay. Ngoài ra còn có vị tổng giám mục của tiểu bang Hamburg trong dịp này.

Đại Hội Cap Anamur lần thứ 35 sẽ kết thúc bằng một chương trình văn nghệ ca nhạc vào buổi chiểu, đánh dấu sự tri ân và dịp hội ngộ của những thuyền nhân may mắn được những chiếc tàu Cap Anamur cứu thoát từ đại dương mênh mông.

Đạp trên mọi danh vọng

Đạp trên mọi danh vọng

Chuacuuthe.com

M. Hoàng Thị Thùy Trang.

VRNs (10.08.2014) – Từ tạo thiên lập địa, con người đã phải đối diện với những thách đố của cuộc sống. Nỗi sợ hãi không ngừng vây quanh cuộc sống của họ. Tự bản thân, chẳng ai có thể chống trả được với những thế lực của sự dữ và bóng tối. Nếu không cậy dựa vào Thiên Chúa, con người hoàn toàn buông xuôi trước sức mạnh của quyền lực ác thần.

Câu chuyện trong bài Tin mừng hôm nay là một bằng chứng sống động về quyền năng Thiên Chúa. Chỉ cần có Ngài bên mình, chỉ cần tin vào sức mạnh của Ngài, thì không một quyền lực nào có thể đánh gục, ngay cả việc thể hiện được phép lạ ngoài sức bản thân. Vấn đề không do Thiên Chúa nhưng là con người. Chỉ tại thế giới không chịu tin vào Ngài, không chịu nhìn nhận quyền năng của Ngài, cho nên con người khước từ Thiên Chúa. Nếu như ai đó cũng có thể nghe được chính lời Thiên Chúa nói với mình: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ.” (Mt 14, 27) thì cuộc sống có lẽ sẽ khác hơn. Việc Đức Giêsu đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ hôm nay không chỉ là phép lạ Đức Giêsu tỏ lộ quyền năng của Ngài cho các tông đồ nhưng còn là một mặc khải cho chúng ta về tình yêu Thiên Chúa.

Khổ nỗi, mỗi khi gặp khó khăn, thất bại, gian truân hay thử thách, nhân loại lại tìm đến bói toán, đến cầu cơ hoặc những thế lực của đồng tiền, của ác thần. Loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời mình là điều ngu muội nhất trong thế giới này. Ngày nay, người ta hầu như đã không còn đặt niềm tin vào Thiên Chúa nữa rồi. Phải chăng vì Ngài quá im lặng, những tiếng im lặng quá kì diệu khiến con người không đủ khả năng nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa? Hay vì sức mạnh của đồng tiền đã làm đảo lộn mọi trật tự tâm linh, xã hội?

Hoài nghi, ngờ vực là khó khăn lớn nhất của nhân loại. Chỉ vì kém tin, gặp chút thất bại, thua thiệt là bỏ cuộc… còn đâu kín múc được sức mạnh từ Thiên Chúa. Ở với Thiên Chúa bao lâu, kề cận thân tín với Ngài thế nào, mà ngay cả các môn đệ vẫn không thể nhận ra sự hiện diện của Ngài trong cuộc đời mình: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.” (Mt 14, 28)

Thách thức Thiên Chúa cũng là một cám dỗ lớn của con người chúng ta. Đặt điều kiện với Thiên Chúa, ra đòi hỏi với Ngài là một trong những tật xấu lớn của nhân loại. Thiên Chúa luôn luôn bao dung, không hà khắc, tính toán với nhân loại, Ngài đã dùng mọi cách để chỉ muốn cho con người nhận biết Thiên Chúa và tin vào Ngài mà thôi. “Cứ đến” (Mt 14, 29). Đang khi đang đi trên mặt nước mà đến với Đức Giêsu như yêu cầu thì môn đệ Phêrô lại ngã lòng, ngờ vực. Khi thấy sóng to, gió lớn thì ông lại hoảng sợ, bắt đầu chìm: “Thưa Ngài, xin cứu con với.” (Mt 14, 30)

Kinh nghiệm của môn đệ Phêrô cũng chính là kinh nghiệm của mỗi người chúng ta, mỗi khi không đặt niềm tin trọn vẹn vào Thiên Chúa. Mỗi khi nắm lấy tay Ngài rồi mà lại vẫn buông ra khi gặp thử thách, gian truân. Con người cứ mãi kêu gào Thiên Chúa ở đâu trong khi Ngài luôn ở bên cạnh mình, cho ta hơi thở, cho ta sự sống.

Lạy Chúa, không tin vào quyền năng Thiên Chúa là một tội lớn, tin mà còn hoài nghi lại là tội lớn lao hơn. Xin giúp con nếu đã tin, thì tin một lần cho đủ, cho trọn và cho dứt khoát. Đừng dùng dằng hoài nghi hay ngờ vực mà mất cả cuộc đời. Xin giúp con hiểu rằng nếu thế giới này đầy dẫy bóng tối và sự dữ, thì quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa cũng luôn hằng mãi ở bên mình. Chỉ cần đừng kém tin, đừng hoài nghi, đừng ngờ vực. Nhân loại cho nhau gian dối, còn Thiên Chúa có thất tín bao giờ. Nếu đã từng khao khát được bảo bọc, chở che cho thoát khỏi quyền lực ác thần, thì chẳng phải con đang thủ đắc nguồn sức mạnh vô song bên mình mãi sao. “Cứ yên tâm, đừng sợ”, xin giúp con luôn mãi an tâm và đừng sợ, chỉ cần tín thác tuyệt đối vào tình thương và lòng nhân hậu của Thiên Chúa, chí ít sẽ có một phép lạ biến đổi hoàn toàn cuộc đời con, không đi trên mặt nước thì cũng đạp trên mọi danh vọng mà đến với tha nhân.

M. Hoàng Thị Thùy Trang.

Chuẩn bị cho Đại hội La Vang lần thứ 30

Chuẩn bị cho Đại hội La Vang lần thứ 30

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-08-10

08102014-30th-lavang-mari-day.mp3

Lễ khai mạc Tháng Hoa (1/05/2014) tại Linh đài Mẹ La Vang

Lễ khai mạc Tháng Hoa (1/05/2014) tại Linh đài Mẹ La Vang

melavang.info

Đại hội La Vang lần thứ 30 sẽ diễn ra trong 3 ngày 13, 14 và 15 tháng 8 này. Kỳ đại hội ba năm một lần như thế là một sinh hoạt lớn, quan trọng đối với hầu hết các tín hữu Công giáo La Mã tại Việt Nam.

Chuẩn bị và phối hợp

La Vang là vùng đất linh thiêng đối với người Công giáo La Mã tại Việt Nam. Theo họ Đức Maria, mẹ Chúa Giê su, từng hiện ra tại đó hồi tháng 8 năm 1798. Lúc ấy là thời điểm mà vua Cảnh Thịnh, triều Tây Sơn ban hành lệnh bách hại người theo Công giáo gắt gao khiến nhiều người phải trốn vào rừng để trốn. Họ đã nguyện cầu và được Đức Mẹ hiện ra che chở.

Riêng vào những dịp đại hội ba năm một lần số tín hữu hành hương về La Vang khá đông, trung bình chừng nửa triệu người. Do đó công tác chuẩn bị để dung nạp một lượng người như thế, tại một khu hoang vắng, khô hạn, thiếu nước.. là một việc làm không dễ dàng gì.

Linh mục Gia cô bê Lê Sĩ Hiền, chánh xứ La Vang, cho biết việc chuẩn bị cho kỳ đại hội lần thứ 30 này như sau:

” Chúng tôi cũng theo khả năng và điều kiện cũng cố gắng hết sức nơi ăn chốn ở cho bà con giáo dân: các lán trại, lều bạt, các nhà tiền chế tạm thời như thế. Bà con giáo dân họ cũng thông cảm điều kiện khó khăn, nhà cửa không có đủ

Linh mục Gia cô bê Lê Sĩ Hiền”

Chúng tôi cũng theo khả năng và điều kiện cũng cố gắng hết sức nơi ăn chốn ở cho bà con giáo dân: các lán trại, lều bạt, các nhà tiền chế tạm thời như thế. Bà con giáo dân họ cũng thông cảm điều kiện khó khăn, nhà cửa không có đủ.

Năm nay chúng tôi cũng tiến hành đại hội nhằm việc Hội đồng Giám mục Việt Nam đang khởi công xây dựng Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ La Vang ở phần sau của đất La Vang. Việc khởi công được gần hai năm rồi. Xây xong móng và lên tầng hầm rồi; nên vừa lo tổ chức đại hội, đón rước, vừa lo công việc xây dựng Vương cung Thánh đường đang còn tiếp tục, chúng tôi khá vất vả.

Mấy ngày hôm nay trời cũng hạn hán, nên nước trong lòng đất cũng cạn đi nhưng chúng tôi cũng cố gắng hết sức khoan thêm giếng, xây thêm những bể lớn để lấy nước từ trên núi về. Nhưng năm nào cũng thiếu thốn về nước.  Cố gắng hết sức thôi!

Một nữ tu Dòng Mến Thánh Giá tại khu vực La Vang cho biết công tác của những người như bà vào dịp đại hội như thế:

Lu bu luôn: phải lo phụng vụ bên Nhà Thờ và phải lo phục vụ mọi người.

Ông Vũ Văn Hòa, trưởng ban Tuyên Huấn, Dân tộc và Tôn giáo thuộc Mặt trận Tổ quốc tỉnh Quảng trị cho biết việc hổ trợ từ phia chính quyền cho kỳ đại hội La Vang hằng năm cũng như năm nay:

” Chính quyền luôn có sự hợp tác chặt chẽ giữa Ban giám đốc Trung tâm Hành hương với địa phương. Những hoạt động này luôn làm thường xuyên và đảm bảo.

Ông Vũ Văn Hòa”

Địa phương các cấp, đặc biệt các ngành liên quan bao giờ cũng có sự hỗ trợ thật tốt sau khi có đề xuất của Trung tâm Hành Hương La Vang. Ví dụ chính quyền tạo điều kiện tốt từ các khâu đảm bảo an toàn giao thông, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, vệ sinh môi trường, phòng chống chữa cháy, cung cấp các dịch vụ như điện, nước, các hệ thống phục vụ ăn, ngủ nghỉ.

Chính quyền luôn có sự hợp tác chặt chẽ giữa Ban giám đốc Trung tâm Hành hương với địa phương. Những hoạt động này luôn làm thường xuyên và đảm bảo.

Cản trở thành phần phản kháng

Theo những người từng tham gia công tác phục vụ khách đến La Vang vào những dịp đại hội hay những kỳ hành hương thường niên, thì mỗi lúc việc hành hương càng trở nên dễ dàng hơn vì phía cơ quan chức năng không còn gây khó khăn như những năm đầu sau thời điểm 1975.

Một giáo dân Công giáo cho biết lại thời kỳ mà chuyện đi hành hương La Vang không phải là chuyện dễ dàng, nhưng rồi mọi người vẫn quyết tâm thực hành cho được những cuộc hành hương như thế:

Trước đây hành hương La Vang rất khó vì thời đó chính quyền họ hay ngăn chặn. Lúc đó tôi còn nhỏ, vào những năm 82, 84, 85 khó quá nên cha mẹ đâu có cho đi. Nhưng những người trong xứ như cha me, anh chị tôi cũng đi đến La Vang.

Họ cũng bị chặn xe làm khó. Có những linh mục đi nhưng phải trốn tránh bằng cách đi bằng xe đạp để tới nơi. Có những linh mục đi xe đò với con chiên cũng bị chặn lại. Chắc mọi người còn nhớ một năm nào đó cha Nguyễn Văn Lý cùng đoàn giáo dân của ngài bị chặn lại tại cầu Mỹ Chánh và ngày quì xuống đọc kinh, hướng về La Vang cầu nguyện.

” Trước đây hành hương La Vang rất khó vì thời đó chính quyền họ hay ngăn chặn. Lúc đó tôi còn nhỏ, vào những năm 82, 84, 85 khó quá nên cha mẹ đâu có cho đi. Nhưng những người trong xứ như cha me, anh chị tôi cũng đi đến La Vang.

Một giáo dân Công giáo”

Một số giáo dân Công giáo gần đây tham gia công khai lên tiếng đấu tranh đối với những bất công mà nhà cầm quyền Hà Nội gây ra đối với người giáo dân Công giáo cũng như nhiều đồng báo khác. Họ bị an ninh, công an theo dõi thường xuyên. Ngay cả khi đến hành hương La Vang, một lần họ đã nêu lên ý nguyện của họ:

Thực tình vào đầu năm 2011 khi bế mạc Năm Thánh, chúng tôi có mặc những chiếc áo để có ý cầu nguyện cho những nơi bị bách hại như Thái Hà, Đồng Chiêm, Tam Tòa, Cồn Dầu, đặc biệt giáo xứ Loan Lý nơi chúng tôi ở; nhưng lực lượng an ninh đã sách nhiễu chúng tôi trong những ngày lễ đó. Từ đó mỗi lần chúng tôi đến với La Vang đều bị lực lượng an ninh đeo bám rất kỹ.

Dấu tích tử đạo bị xóa

Lịch sử cho thấy không chỉ dưới triều vua Cảnh Thịnh, Tây Sơn mà sang đến đời các vua nhà Nguyễn như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức việc bách hại đạo Công giáo La Mã tiếp tục được tiến hành.

Những người Công giáo kiên vững với niềm tin của họ không chịu bỏ đạo theo yêu cầu của triều đình đã chịu những khổ hình cho đến chết hay bị xử tử bởi không chịu bỏ đạo. Họ trở thành những vị tử đạo làm chứng cho niềm tin tại Việt Nam.

Vết tích của những nơi giam cầm và xử tử những người Công giáo như thế còn lại rất ít. Tuy nhiên, số ít ỏi đó cũng bị thời gian và ý đồ của nhà cầm quyền xóa đi.

Tại Huế, trước đây có một cây cầu nơi mà nhiều người Công giáo bị mang đến để xử chém vì không chịu bỏ đạo; mục đích nhằm đe dọa, làm gương cho dân chúng không được theo đạo Thiên Chúa. Tại đó trước đây có bảng nói lại điều đó nhưng gần đây nhà cầm quyền địa phương đã cho tháo dỡ như một giáo dân địa phương cho biết:

Ở Huế có một cầu gọi là Cầu Cổng Chém. Nơi đó tất cả những ai không bỏ đạo bị đưa ra đó chém. Những năm gần đây, Nhà Nước dở bảng đó ra không để Cầu Cổng Chém nữa.

Từ chỗ không được khuyến khích, nay các đại hội và kỳ hành hương La Vang được diễn ra theo định kỳ.Vào năm 2008, tỉnh Quảng Trị cấp lại cho La Vang 21 héc ta trong số 23 héc ta mà giáo xứ này sở hữu trước năm 1975, để phục vụ hoạt động tín ngưỡng- tôn giáo. Hội đồng Giám mục Việt Nam có quyết định xây lại khu vực linh địa La vang với những đề án lớn.

THÁNH CLARA ĐỒNG TRINH

THÁNH CLARA ĐỒNG TRINH

Thánh Clara sinh năm 1193 tại Assisi miền Umbria, thuộc dòng họ danh giá Offreducciô.  Người ta nói thánh nữ sinh ra với nụ cười trên môi và không bao giờ thấy Ngài khóc. Ngài dành nước mắt để tưới chân Chúa Giêsu chịu đóng đinh.  Khi nghe biết một thanh niên giàu có đã trở nên người nghèo thành Assisi, người thiếu nữ danh giá cảm kích trước mẫu gương của thánh nhân – thánh Phanxicô Assisi.  Trong khi gia đình nhắm cưới gả cho nàng, thì nàng chỉ nhắm đến cuộc sống sám hối khiêm hạ.  Sau khi nghe bài giảng của thánh nhân, Ngài đã đi tới quyết định dâng hiến đời mình cho Chúa.

Khi ấy thánh Clara 18 tuổi.  Vào ngày Lễ Lá, 18 tháng 3 năm 1212, thánh nữ ăn mặc sang trọng tới nhà thờ chính tòa dự lễ.  Theo thói quen, các bà tiến lên nhận lá từ tay Đức Giám mục.  Hôm ấy Clara quá xúc động, khiến chính Đức Giám mục phải rời ghế đưa lá đến cho Ngài.  Chiều về, Ngài đã cùng với một người bạn lén bỏ nhà theo lối cửa hậu rồi theo ánh đuốc tới gặp thánh Phanxicô tại Porsiuncula…  Giai thoại thật cảm động, một cô gái 18 sang trọng đã bỏ tất cả những gì là quen thuộc và an toàn để đi theo Đấng vô hình, còn Phaxicô 30 tuổi không có lấy một xu dính túi đã nhận lấy trách nhiệm về cả tinh thần lẫn vật chất đối với cô.  Giữa đêm xuân trong rừng cây và dưới ánh đuốc của đoàn anh em, Clara buông xõa mái tóc huyền trên bàn thờ cho Phanxicô cắt bỏ.  Hành động hoàn toàn ngoại lệ và không một chút quyền hạn theo giáo luật.  Phanxicô đã lãnh bản ly biệt của Clara đối với thế gian, rồi gởi cô vào một nữ tu viện Beneđictô gần đó.

Biến cố nổ lớn làm cả thành phố xúc động.  Thế gian kết án Clara.  Ông Monaldo, cậu của thánh nữ đến nhà dòng bắt thánh nữ về, nhưng Ngài ôm cứng chân bàn thờ quyết chọn Chúa mà thôi.  Phanxicô dẫn thánh nữ tới một nữ tu, tu viện Bênêdictô khác, cùng với em của mình là Anê.  Sau cùng Phanxicô thiết lập cộng đoàn cho Clara.  Một tu viện tại San Đamianô, nơi đây bà Ortolanta, mẹ của thánh nữ cũng nhập dòng.  Trong một thời gian cộng đoàn độc lập như những người hành khất đầu tiên. Phanxicô viết cho cộng đoàn một bản luật sống vắn gọn, đòi kỷ luật gắt gao và chay tịnh khắc khổ. Năm 1215 Phanxicô đặt Clara làm tu viện trưởng và có lẽ đã trao cho Ngài một bản luật dòng thánh Bênêđictô.

Vào những năm cuối đời thánh Phanxicô, mọi liên hệ với San Đamianô bị gián đoạn.  Câu chuyện hay về bữa ăn tối với Clara không được chính xác lắm.  Nhưng cơn đau cuối cùng Phanxicô đã được Clara cho trú ngụ trong một mái chòi bằng lá cây ở cổng tu viện Đamianô, nơi Phanxicô trước tác bài ca mặt trời.  Ngài ban phép lành cuối cho Clara rồi về Porsiuncula và qua đời tại đó.  Ngài cũng xin anh em đưa xác về Assisi qua ngả San Đamianô.  Thánh Clara và chị em tiếp rước và có dịp chiêm ngưỡng các vết thương ở tay và chân Ngài.

Clara thực hiện đúng lý tưởng của người nghèo thành Assisi.  Đức Innôcentê III đã đích thân ban phép cho Ngài được giữ đức nghèo khó tuyệt đối.  Nhưng Đức Grêgôriô IX nguyên là hồng y Ugôlinô đã muốn cải sửa luật cho phép nhà dòng có đất đai nhà cửa.  Clara cưỡng lại và năm 1228 đã được hưởng đặc ân như sở nguyện.  Ngài đã thưa với Đức Grêgôriô:

– Thưa Đức Cha, xin tha tội cho chúng con, nhưng đừng tha cho con khỏi theo Lời Chúa.

Năm 1247, một lần nữa Đức Innocentê IV kiểm soát lại luật thánh Phanxicô, muốn sống đời khó nghèo tuyệt đối.  Luật này được Đức Innocentê chấp thuận vội vã, hai ngày trước khi thánh nữ qua đời.  Năm 1893 người ta tìm thấy sắc chỉ nguyên thủy trong mộ thánh nữ.

Trong cơn bệnh của Ngài, Đức hồng y Rainalđô, tức là Đức Giáo hoàng Alexandrô sau này, đã đến trao mình Thánh Chúa và khuyên nhủ thánh nữ, thánh nữ trả lời:

– Từ khi nếm thử chén đắng và cuộc tử nạn của Chúa, con thấy không còn gì làm con đau đớn nữa.

Sau khi chúc lành cho các nữ tu đến thăm, Ngài nói với chính mình:

– Hãy an tâm, ngươi đã theo đúng đường, cứ tin tưởng vì Chúa tạo thành đã thánh hiến và không ngừng gìn giữ ngươi, đã yêu ngươi với tình mẹ thương con, ôi lạy Chúa xin chúc tụng Chúa vì đã dựng nên con.

Thánh nữ qua đời ngày 11 tháng 8 năm 1253 và năm 1255 được tôn phong hiển thánh.

Thánh nữ Clara đã vì Chúa mà bất chấp tất cả những khó khăn, những cản ngăn…để được toại nguyện với ơn gọi dâng hiến. Ước gì mỗi chúng ta cũng biết noi gương thánh nữ sống trọn vẹn cho tình yêu Chúa Kitô bằng việc mau mắn đáp lại lời mời gọi của Ngài.

Sưu tầm

From: ngocnga_12 & Anh chị Thụ Mai gởi