Mặt Trái Của Một Bức Tranh Thêu

Mặt Trái Của Một Bức Tranh Thêu

RFA

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Phen này mẹ con bà Trần Thị Nga chắc chết, chết chắc, là chuyện đã đành. Điều không đành là chả hiểu liệu có người dân Việt nào thoát khỏi cảnh bị “rình rập” hay “truy sát” dưới chế độ hiện hành không?

Nhiều năm trước, báo Quân Đội Nhân Dân có một bài viết thú vị (Bức Tranh Thêu Trong Tù Của Người Phụ Nữ Với “Nụ cười chiến thắng”) của tác giả Nguyễn Thị Nhi:

“Bức tranh ‘Chùa Một Cột’ được thêu trong nhà tù Côn Đảo năm 1972 là của chị Võ Thị Thắng, cựu tù chính trị bị tòa án binh quân sự Mỹ kết án 20 năm tù khổ sai, giam cầm trong các nhà tù: Chí Hòa, Thủ Đức, Tân Hiệp, Hố Nai, Côn Đảo từ năm 1968 – 1974…”

“Về bức thêu ‘Chùa Một Cột’, chị kể: Chị chưa một lần ra miền Bắc, chưa được thăm chùa Một Cột nhưng qua những tấm hình chụp, vẽ về ngôi chùa này chị đã hình dung và thêu bức ‘Chùa Một Cột’ với tấm lòng luôn hướng về miền Bắc, tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Bức thêu ‘Chùa Một Cột’ là tâm huyết của chị trong những năm tháng bị giam cầm. Ở trong tù những lúc không bị tra tấn hoặc lao động cải tạo, chị lại chọn nơi có ánh sáng gần cửa sổ để thêu. Nhiều lúc thiếu ánh sáng chị vẫn cố hình dung từng mũi kim, sợi chỉ. Chị phải giấu bức thêu mỗi khi có cai ngục đi tuần tra, kiểm soát. Bức thêu ‘Chùa Một Cột’ của một người con gái không chịu khuất phục kẻ thù phải mất gần một năm mới hoàn thành, trong một hoàn cảnh đặc biệt.”

Ảnh: QĐND

Tháng 8 năm nay, chị Võ Thị Thắng qua đời. Tang lễ được cử hành vô cùng trọng thể, và tiểu sử của chị Thắng cũng được báo Tin Nhanh Viet Nam ghi lại với nhiều chi tiết:

“Từ sáng 23/8, Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng phía Nam, nơi tổ chức lễ viếng bà Võ Thị Thắng đã liên tục đón tiếp các đoàn khách đến thắp nhang và chia buồn cùng gia đình. Di ảnh nữ đảng viên xứ Long An đặt ở sảnh chính, phía trước nghi ngút khói hương. Không khí trầm mặc trong điệu nhạc buồn và cả tiếng sụt sịt của những người đến viếng. Gần trưa, các đoàn khách từ Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, Tây Ninh vẫn còn lần lượt đăng ký viếng…

Bà Thắng sinh ra tại xã Tân Bửu, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Năm 9 tuổi, bà bắt đầu bước chân vào con đường cách mạng bằng việc tham gia đưa thư, mang cơm cho cán bộ trong hầm bí mật. Năm 13 tuổi, bà thi đậu vào trường công lập Gia Long Sài Gòn (nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai); 16 tuổi là thành viên Mặt trận dân tộc giải phóng huyện Bến Lức – Long An và khi 17 tuổi, được tổ chức điều về Sài Gòn hoạt động trong phong trào thanh niên – sinh viên – học sinh…

Đất nước thống nhất, người phụ nữ với nụ cười chiến thắng năm nào bước sang chính trường khi tham gia công tác tại Thành đoàn, rồi ở Hội Liên hiệp phụ nữ TP HCM, sau đó được giao nhiệm vụ Phó Chủ tịch thường trực Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, được trúng cử vào Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá VIII và Khóa IX; Đại biểu Quốc hội các khóa IX, X và XI, rồi Tổng cục trưởng Du lịch, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cu Ba.”

Bà Võ Thị Thắng trong vai trò đại biểu Quốc hội.

Ảnh và chú thích của vnexpress

Những bức tranh thêu, cũng như những tấm huy chương, đều có mặt trái “sần sùi” của nó. Cuộc đời hoạt động và phụng sự cách mạng của Võ Thị Thắng cũng vậy. Chị còn “có một nụ cười khác” nữa, méo mó hơn, theo như lời kể của một người thân – nhà văn Đào Hiếu:

Rồi cuối cùng chiếc ghế Tổng Cục Trưởng mà người ta trao cho chị cũng bị đặt trên bốn trái mìn nổ chậm được làm bằng lòng đố kỵ, bằng thù oán cá nhân, bằng những mưu đồ ma quỷ.

Người con gái ‘anh hùng’ ngày xưa chợt biến thành nhân viên CIA Mỹ với tập hồ sơ dày cộm.

Đó là những ngày cuối năm 1996. Nhiều nhân vật có tình cảm với Võ Thị Thắng trong Bộ Chính Trị đều rất bàng hoàng. Con chạch lại leo lên đẻ trên ngọn đa! Vậy mà người ta vẫn có đầy đủ những tài liệu về một con chạch như vậy!

Kẻ thù giấu mặt ấy là ai? Chị biết, Bộ chính trị cũng biết nhưng không làm gì được…Nhiều người trong Bộ chính trị không tin những hồ sơ ngụy tạo ấy nhưng cũng không “dám” bác bỏ. Chị gần như đơn độc…

Và đã có lúc chị cầm một sợi dây thòng lọng. Chị cuộn nó lại, giấu trong túi xách, đến soi mặt mình trong gương. Một đêm mất ngủ. Và khóc. Một đêm ngồi trong góc tối của căn phòng nhìn chồng nhìn con và nhìn bức ảnh nổi tiếng của mình. Bức ảnh chụp chị đứng trước tòa án, giữa hai người quân cảnh đeo kính đen. Chị nhìn cái miệng cười của mình. Nước mắt lặng lẽ lăn xuống gò má. Bởi vì giờ đây chị không “được” đứng trước một tòa án để mà cười. Chị đang đứng trước một thế lực vô hình, chị đang bị rình rập, truy sát.

Trường hợp bị “rình rập truy sát” của chị Võ Thị Thắng (ngày trước) không khỏi khiến tôi liên tưởng đến tình cảnh thương tâm tương tự của một phụ nữ Việt Nam  (hiện nay) theo như thông tin của Dân Làm Báo:

“Như đã đưa tin, vào ngày 25/5/2014, chị Trần Thị Nga đã bị 5 tên mật vụ truy sát, đánh vỡ xương chân khi đang trên đường đến bến xe Giáp Bát (Hà Nội). Mặc dù những kẻ thủ ác đeo khẩu trang che nửa mặt, nhưng chị Trần Thị Nga đã nhận ra trong số bọn chúng có những tên là an ninh – mật vụ thường xuyên theo dõi mẹ con chị trước đây.

Video do chị Trần Thị Nga ghi lại cho thấy cảnh một tên mật vụ truy đuổi vào tận cửa hàng bán xe ô tô nhằm tiếp tục ra tay. Trong đoạn phim, chúng ta có thể nghe thấy rõ tiếng kêu cứu thất thanh của chị Nga khi bị bọn chúng truy sát một cách hung tợn.

Kẻ thủ ác chỉ quay lưng bỏ đi sau khi xuất hiện một người đàn ông trong cửa hàng đến can thiệp.

Hình ảnh cắt ra từ clip cho thấy tên mật vụ tấn công chị Nga với hung khí là một ống tuýp bằng thép. Khuôn mặt hung thủ đeo khẩu trang che kín miệng và mũi. Khi thấy chị Nga ghi hình, hắn vội vàng đưa tay che mặt vì sợ bị nhận dạng.

Mẹ con Trần Thị Nga. Ảnh RFA

Sau khi bức ảnh được phổ biến, một số nhân chứng nhận ra hung thủ chính là một thanh niên trong nhóm đeo băng đỏ xuất hiện tại cuộc biểu tình chống Trung Quốc hôm 11/5. Đây là kẻ nhiều lần gây sự, tấn công những người biểu tình yêu nước không theo định hướng của đảng cộng sản.

Đoạn video trên ghi lại diễn biến vụ truy sát sau khi chị Trần Thị Nga bị bọn chúng hành hung lần 1 khiến chị bị gãy tay. Sau đó, bọn chúng tiếp tục quay lại dùng tuýp sắt đánh đập lần 2 và lần 3 một cách hết sức dã man và tàn bạo.

Nghiêm trọng nhất, trong lần quay lại lần 3, bọn chúng đã đánh chị Nga gãy chân nhằm mục đích để chị không thể đi lại được…

Trước đó, nhà riêng của chị Nga tại Hà Nam đã liên tục bị một số kẻ lạ mặt rải truyền đơn với nội dung đe dọa giết người, đốt nhà hết sức nghiêm trọng. Mặc dù đã thông báo đến công an và yêu cầu can thiệp, tuy nhiên phía công an cộng sản thậm chí không có các biện pháp bảo vệ mà còn tiếp tay cho đồng bọn thực hiện cuộc truy sát dã man đối với mẹ con chị vào hôm 25/5 vừa qua.”

Hung thủ truy sát bà Trần Thị Nga. Nguồn ảnh: huynhngocchenh

Thực ra, vào ngày 30 tháng 5 năm 2014, chị Nga đã có gửi “Đơn Trình Báo Bị 5 Tên Côn Đồ Dùng Hung Khí Truy Sát” đến văn phòng công an huyện Thanh Trì – Hà Nội nhưng không nhận được sự hồi đáp nào, dù đã hơn ba tháng trôi qua. Đơn gửi không người nhận là chuyện “thường tình” ở Việt Nam. Có ai bận tâm gì đến  sinh mệnh của  một thường dân (cỡ) bà Nga.

Coi: một vị Ủy Viên Trung Ương Đảng “kiêm” Dân Biểu Quốc Hội như bà Võ Thị Thắng mà còn bị “rình rập truy sát,”  và cả “Bộ chính trị cũng biết nhưng không làm gì được…” cơ mà. Phen này mẹ con bà Nga chắc chết, chết chắc, là chuyện đã đành. Điều không đành là chả hiểu liệu có người dân Việt nào thoát khỏi cảnh bị “rình rập” hay “truy sát” dưới chế độ hiện hành không?

Con đường xưa em đi

“Con đường xưa em đi

người ta kéo dây chì, thế là anh hết đi.

Đưa em về bên tây nguyên,

xích lô nàng không chịu đi, Nàng đòi đi taxi!”

(Hát nhái bài Con Đường Xưa Em đi của Hồ Đình Phương)

(Mt 5: 21-24)

Trần Ngọc Mười Hai

Rõ ràng “Con đường xưa em đi”, là để em cùng anh và mọi người dùng nó mà đi, dù cho người ta có kéo dây chì hoặc làm anh sạch túi, hay sao đó, ta vẫn đi.

Con Đường, là để mọi người được đi, dù anh có hát nhại gì gì đi nữa, cũng sẽ thấy là:

“Em ơi dù tốn bao nhiêu, dù phải hao “tì”

lòng này anh chẳng màng

Nhưng than ôi khi hiểu ra rằng

Em chẳng thương chi thì làm cho anh sạch túi?”

(Hát nhái bài Con Đường Xưa Em đi như đã dẫn)

“Con Đường” như thế là đường đời, dành cho mọi người, ở đời. Còn, “Con Đường” nhà Đạo, thì sao? Câu trả lời, xin dành ưu tiên cho cựu linh mục Nguyễn Ngọc Lan từng có câu để đời như:

“Đạo là đường, Đạo bao giờ mà chẳng là đường. Sao lại còn có thể tự hỏi: Đạo là đường hay là lô-cốt, pháo đài? Vấn-đề thoạt tiên nghe có vẻ kỳ cục. Chúng ta cứ mở bất kỳ một quyển Hán-Việt Tự điển nào mà xem. Đạo là đường. Dĩ nhiên. Thắp đuốc mà tìm cũng không bao giờ thấy Đạo có nghĩa là pháo-đài, lô-cốt cả. Đạo là đường, không thể là gì khác. Thật là giản dị. Đạo là đường như muôn vàn nẻo đường đã in vết chân chúng ta hay đang chờ chúng ta đi đến. Đạo là con đường lớn nhất, dài nhất, xa nhất như cả cuộc đời chúng ta là một con đường.

Riêng tiếng Việt lại sẵn kiểu nói thật là ý-nghĩa: “đi đạo”. Như thế, hiểu đạo là đường chưa đủ, còn cần phải nói cho rõ hơn. Không biết có tiếng nào trên thế giới biết dùng một chữ gì tương đương với kiểu nói “đi đạo” dễ thương như vậy không.

Thế nhưng, vấn-đề có vẻ kỳ cục kia –Đạo là đường hay là pháo đài– vẫn không phải là chuyện thừa. Vì Đạo là đường chỉ là lý đương nhiên trong các quyển tự-điển, theo nguyên tắc, còn trong thực-tế đã chắc gì Đạo vẫn chỉ là con đường. Người mình bảo “đi đạo” nhưng biết đâu trong thực-tế vẫn có nhiều người “giữ đạo” như canh gác lô-cốt hơn là có nhiều người “đi đạo” như còn ở trên con đường dài. Cũng như cái lý đương nhiên của cánh chim là để bay nhảy giữa trời cao đất rộng. Cái lý đương nhiên của loài cá là sông là biển. Thế nhưng, vẫn có cảnh cá chậu chim lồng. Mà bi-đát hơn nữa là chúng ta thường chỉ tiếp xúc với cá chậu chim lồng –chưa kể cá ướp lạnh và chim đã nhổ hết lông– hơn là với cá đang tung-tăng giữa cái lý đương nhiên của nó là sông biển, với chim đang bay nhảy giữa cái lý đương nhiên của nó là trời đất…” (xem Nguyễn Ngọc Lan, Đường Hay Pháo Đài, nxb Trình Bầy 1969 tr. 11-12)

Vâng. Ý của vị “cựu linh mục” đây khi xưa là thế. Có như thế hay không, người đời nay vẫn cứ quan-niệm “Con Đường Xưa Em Đi”, còn hơn thế nữa, khi hát rằng:

“Con đường xưa em đi Giờ đây kéo dây chì thế là anh hết đi.

đưa em về bên Tây nguyên Xich lô nàng không chịu đi Nàng đòi đi Taxi.

Em ơi! dù tốn bao nhiêu dù phải hao tì, Lòng này anh chẳng màng

Nhưng than ôi khi hiểu ra rằng Em chẳng thương chi thì làm cho anh sạch túi.”

(Hát nhái bài Con Đường Xưa Em đi như đã dẫn)

Thật ra thì, có sạch túi/hao “tì”/hao hụt rất nhiều tiền đi chăng nữa, thì anh và em vẫn cứ phom phom ra đi trên con đường đời đầy chông gai, hoặc giây chì, giây kẽm hay gì gì đi nữa, cũng không ngại. Chỉ ngại mỗi điều, là: người em và người-anh-của-tôi, hôm nay lại thấy mệt vì chuyện khác chứ không phải chuyện đi/đứng.

Đời người “đi Đạo” cũng thế. Đi đạo, lại là và vẫn là: phom phom đi trên con “Đường” rất Đạo để giữ đạo chứ không “hành” Đạo, thế mới hay.

Trong sống đời “đi Đạo” và “giữ Đạo”, lại có rất nhiều tình-huống cũng khiến người nhà Đạo đôi lúc cũng hao-tổn thần-lực và thần-tính, nhưng vẫn đi và cứ đi. Nếu hỏi rằng, sao lại như thế, thì: hôm nay đây, bần đạo bầy tôi xin mời bạn và mời tôi, ta cứ thế “phom phom” tìm hiểu ý-nghĩa và lý-chứng về chuyện “đi Đạo” và “sống Đạo” ngang qua ý-kiến của một số vị thuộc bậc thày đã “đi” trước và vẫn “đi” dù có điều gì xảy đến trong quá-khứ, hiện-tại hoặc mai ngày.

Trước hết xin mời bạn và mời tôi, ta hãy về lại với ý-kiến của vị cựu linh mục vừa trích ở trên xem sao. Ý-kiến của bậc thày/đàn anh bần đạo khi xưa cũng rất dài. Nay, xin ghi lại chỉ đôi ba ý chính, rất như sau:

“Vấn-đề quan-trọng vì càng ngày càng đông-đảo những con người –nhất là trong giới trẻ –không thể chấp-nhận mãi việc “giữ Đạo” theo cha ông như giữ một miếng đất, một mảnh vườn hay tệ hơn nữa như một lá bùa. Chưa hẳn vì họ trở thành vô đạo. Mà có thể, chính vì cha ông họ chưa hề thực sự “đi đạo”. Phủ-nhận một nề nếp đạo đức nào đó đối với họ thật ra không đáng kể gì hơn thế-hệ cha ông của họ đã đoạn-tuyệt với khăn đóng áo the thâm. Hay đúng hơn, họ đang làm một chuyện cần-thiết hơn, đáng làm hơn: cách này hay cách khác họ đang tỏ ra muốn là những con người có tự-do và ý-thức, và muốn đạo không thể chỉ là lồng chim và chậu cá. Họ càng không thể chấp-nhận sự-kiện người ta cứ tiếp tục biến đạo thành pháo đài hay lô-cốt để thúc thủ trong chủ quan và ích kỷ rồi chèn ép, chém giết nhau vì những quyền lợi không chút dính dấp gì đến đạo. Chưa hẳn họ đã coi rẻ ý-nghĩa của Đạo trong kiếp sống của mình. Họ chỉ từ-bỏ một thứ Đạo nào đó thôi. Và họ có quyền thắc mắc: Đạo như đã được “giữ” trước họ có thật đã giúp cho loài người xích lại gần nhau, yêu thương nhau, thông cảm với nhau cho bằng đã khiến loài người nghi kỵ lẫn nhau, chống đối nhau, xa cách nhau, dựng lên giữa nhau không biết là mấy lớp Vạn Lý Trường Thành, hay màn sắt, màn tre?

Đạo, là pháo đài hay là đường?

Một vấn đề đáng ám ảnh chúng ta khi còn muốn chú ý đến chuyện tôn giáo, còn muốn nhìn nhận Đạo như một hiện tượng liên hệ sâu xa đến nếp sống của mình, đến tương quan giữa mình với người, đến thân phận chung của loài người.

Đạo là pháo đài hay là đường?

Trong thực tế, cứ thử nhắm mắt lại mà xem. Nhiều thực-tại vẫn cần phải nhắm mắt lại mới thấy rõ hơn là mở mắt trân trân. Nhắm mắt lại mà xem chúng ta thấy gì khi nghĩ đến “đạo”? Chữ “đạo” có tự nhiên gợi lên trong tâm-tư chúng ta hình ảnh một con đường rộng thênh thang, dài vun vút?

Trên con đường đó, người ta tha hồ đi, có kẻ đã đặt một chuẩn-đích phía trước mặt, có kẻ chỉ hướng về một chuẩn đích chưa rõ rệt và có lẽ chẳng bao giờ rõ rệt, có kẻ mãi mãi lang thang tìm kiếm. Nhưng ai cũng đi, người này bên cạnh người kia, không phải dẫm chân lên nhau, không ai dừng lại mà dựng lô-cốt để yên nghỉ ngay giữa đường, chận bước tiến của kẻ khác, không ai đem giây thép gai rào dọc ngang. Mọi người vừa đi vừa gặp nhau trong cùng một nỗi khắc-khoải của lòng mình, trong sự thu hút của chân trời đằng trước mặt”… (xem thêm Nguyễn Ngọc Lan, sđd tr. 13-15)

Trích dẫn những lời như thế, ở đây/hôm nay, lại là trích và dẫn về những khắc-khoải còn tiếp tục với người đi đạo và sống đạo thời bây giờ, tức thế-kỷ thứ 21 chứ không chỉ mỗi thế-kỷ của bậc thày/đàn anh từng sống và đã sống.

Thế kỷ 21, nay còn thấy và vẫn thấy những “khắc-khoải” đặt ra cho mình và cho người, giống như thế. Khắc-khoải, là những ưu-tư/thắc-mắc đặt ra cho đời. Khắc-khoải, là những thời-khắc rất ưu-tư/ngại ngùng kéo dài rất nhiều ngày trong đời, mọi người.

Khắc-khoải và quan-ngại, ở chỗ: có những lời dạy-dỗ của bậc thánh-hiền từ ngàn xưa vẫn vang vọng đến bây giờ, qua bao thế kỷ, thế-hệ và thế-sự đà đổi thay. Khắc khoải và quan-ngại, lại là lời vọng có giá trị đến bây giờ, vì đó là sự thật. Khắc-khoải và quan-ngại, là những điều từng thúc-giục mọi người, như sau:

“Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng:

Chớ giết người; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà.

Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà.

Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng.

Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt.

Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình.” (Mt 5: 21-24)

Luật yêu thương theo Con Đường Chúa dạy, lại dẫn đến Sự Thật và Sự Sống, tức chính Chúa. Phải chăng “Con Đường Xưa Em Đi” hoặc “Đạo, là Đường hay Pháo Đài?”, lại chính là đường-hướng, đường-lối hoặc đường đường một cung-cách của Tin Vui An Bình, Chúa từng bảo:

“Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy,

để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.

Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su: Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu,

làm sao chúng con biết được đường? Đức Giê-su đáp: “Chính Thầy là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Không ai đến được với Chúa Cha, mà không qua Thầy. Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người.”

(Ga 14: 2-7)

“Thầy là Con Đường”, chứ không là pháo đài! Điều này bậc thày/đàn anh lại đã ghi thêm:

“Đối với lòng tin của người Kitô-hữu, Đức Yêsu trước tiên là cả Con Đường đưa từ thân thế Thiên Chúa đời đời của Ngài đến thân phận làm người trong thời gian (Ph 2: 6-8)

Tất cả những gì chính yếu nhất trong lòng tin đó đều có thể quy về một quả quyết: Kẻ không yêu thương tất đã không biết Thiên-Chúa, vì Thiên Chúa là lòng yêu thương. Điều này đã chứng-tỏ lòng yêu thương của Thiên Chúa đối với chúng ta: là Thiên Chúa đã cho Con Một Người đến trong thế gian, ngõ hầu chúng ta được sống nhờ Người” (1Yn 4: 8-9)

Nhưng ngoài ra, cứ nhìn vào cuộc đời của Ngài như một hiện tượng, và cứ nhìn như các tiểu sử chính thống -thường được gọi là Tin Mừng hay Phúc Âm- đã trình bày, có thể nói ngay là Đức Yêsu đã sống chết ở ngoài đường, ở trên đường.” (x. Nguyễn Ngọc Lan, sđd tr. 75)

Quả thật là như thế. Đường, lại chính là Sự Thật và là Sự Sống của Đức Giêsu. Bằng vào Con Đường này, Đức Giêsu đi đến với Thiên-Chúa-là-Cha. Và, Ngài dẫn dắt mọi người trong thiên-hạ, vẫn làm thế. Trong thiên-hạ, nhiều nghệ-sĩ cũng nhận ra được “Con Đường Tình” của mọi người và tình “Đường” của riêng ai như ý/lời được diễn-tả theo cách khác:

“Con đường nào ta đi Với bàn chân nhỏ bé

Con đường chiều thu đổ Con đường bụi mờ Con đường tuổi măng tre

Nắng vàng thu đẹp đẽ Bóng người dài trên hè Con đường tình ta đi.”

(Phạm Duy – Con Đường Tình Ta Đi)

Cứ như người nghệ-sĩ hát, thì: Con Đường mình đi, bao giờ cũng là và phải là “Đường Tình”, là “Tình” ta có với ai đó. Con Đường “tình ở đời” còn mang thêm ý-nghĩa khi anh và em, ta hát tiếp:

“Thế rồi cuộc đời là Những cuộc tình chia xa Đi lạc vào những phía con đường về

Đứng ở ngoài đầu rừng Đứng ở đầu con sông

Nhớ về con đường cũ mênh mông, mênh mông.

Hỡi người tình học trò Hỡi người tình năm xưa Bóng người từng in dấu, trên đường mờ.

Có thuộc vạn nẻo đường Có ngại ngùng nên quên Nhớ hoài con đường cũ không tên.

(Phạm Duy – Con Đường Tình Ta Đi)

Với Đức Giêsu là Sự Sống của người đi Đạo và giữ Đạo, tức giữ “Con Đường Tình” mình đi, chính là Đạo của Đức Kitô Giêsu, là Đức Chúa. Về điểm này, bậc thày/đàn anh còn ghi tiếp bằng những “cụm từ” đứt khúc, như sau:

“Kitô-giáo: Đạo mở đường!!

Khi Đạo đích-thực là Đạo Tình Thương và tình thương chỉ có con đường vô hạn đằng trước mặt.

Kitô-giáo: Đạo cho người ngoài đường!

Ngài đã sinh ra ngoài đường và khi ấy cũng chỉ có những người ở ngoài đường có mặt xung quanh Ngài. Từ bao thế hệ, đạo Do Thái đã hãnh diện với sứ mệnh cốt yếu là chờ đợi để đón tiếp Vị Cứu Tinh phải xuất hiện tự dân tộc mình. Thế mà lời tường thuật của Luca và Matthêu tuyệt nhiên không cho thấy bong dáng những đại diện tiêu biểu của Đạo xung quanh Máng Cỏ. Chỉ có những người ở bên lề hay ở ngoài xã hội Do thái mới đến đó. Ngay đêm Giáng Sinh là những người chăn cừu trong vùng (Lc 1: 8tt): đám nguời này có là Do thái cũng như không: họ đã nghèo mà lại còn bị liệt vào thành phần bất hảo: ai có vườn xanh cỏ tốt đều phải canh chừng…”

Trong mà ngoài, ngoài mà trong hay là câu chuyện đứa con đi hoang.

Các chuyên viên giữ đạo tự phụ là “có” Đạo đã nắm chắc Thiên Chúa cho mình như ngày nay người ta nắm chắc một số lương hưu bổng. Họ tưởng đã chính-trực hôm qua là chính trực mãi mãi, đã tội lỗi hôm qua là chung thân tội lỗi. Cho nên họ xếp hạng loài người thật dễ dàng. Nhưng Đạo không bao giờ chỉ là ngày hôm qua, cho dẫu ngày hôm qua vàng son đến đâu chăng nữa.

Đạo, là đoạn đường ngày hôm nay. Đạo, là chân trời ngày mai. Dừng chân yên nghỉ, thụ hưởng quãng đường quá khứ là hết Đạo. Đạo, không phải là những công đức đã cô đọng thành hào quang chung quanh đầu con người. Đạo, là ngày hôm nay đây, giờ phút hiện tại đây, con người gật đầu hay không gật đầu đáp lại tiếng gọi xa hơn mình, cao hơn mình. Đạo, không ở những vết chân để lại, mà Đạo ở cả nơi bước chân mình đang cất lên hướng về đâu. Như thế, Đạo là đòi hỏi không ngừng, nhưng nhờ đó Đạo cũng là năng-lực giải-phóng con người khỏi bị đóng đinh vào những vết chân quá khứ…” (x. Nguyễn Ngọc Lan, sđd tr. 149)

Kitô-giáo: Đạo ngoài đường!

Thiên Chúa là Tình Thương, chỉ tình thương mới có tính cách quyết định trên con đường đi đến với Ngài. Tình thương định đoạt giá trị của công-thức trong mỗi hoàn cảnh sống cụ thể chứ không phải công thức định đoạt tình thương.“Thờ phượng là thờ phượng trong Thần Khí và sự thật”. (Yn 4: 5-24) Đưa ý thức tôn giáo ra ngoài đường, Đức Yêsu giải phóng hành động con người đã đành, nhưng còn hơn thế nữa, Ngài giải-phóng chính Thiên Chúa khỏi mọi định kiến cho dầu là thánh thiêng đến đâu đi nữa của con người. Con Đường Ngài mở ra, không phải là con đường để trượt tuyết. Đành rồi. Nó cam go, dốc dác. Nhưng, nó lại không là ngõ hẻm, ngõ cụt. Nó rộng thênh-thang và tha hồ đi mãi…

Từ lời dạy rõ và hùng hồn (ở Tin Mừng), chúng ta có thể rút ra vài nét chính yếu:

1) Đạo vẫn là Đạo Yêu thương. Nhưng trong thực-tế của cuộc sống, không còn có thể phân tách hai mặt của tình thương yêu ấy nữa. Không còn chỗ cho con đường đi đến với Thiên Chúa khác với con đường đi đến với tha nhân. Đối diện với tha nhân cũng là đối diện với Thiên Chúa. Bất cứ thái độ nào đụng chạm đến con người là đụng chạm đến Thiên Chúa. Và, ai cũng có thể được thẩm định cách dứt khoát và toàn diện mà chỉ cần là thái độ của họ đối với tha nhân được đưa ra ánh sáng cuối cùng.

2) Khi đã có sự đồng hoá kỳ lạ đó, Đạo cho dẫu là đường đi đến với Thiên Chúa vẫn không cho phép người ta biến thành thuốc phiện. Đức Kitô muốn người ta theo Ngài, tìm Thiên Chúa mà vẫn phải giáp mặt không ngừng với thực tại con người ở ngay xung quanh. Không có quyền tìm Thiên Chúa trên một từng mây xa vời nào nữa!

3) Một lối lập luận nghịch thường nào đó trong Tin Mừng theo thánh Yoan; cũng như trong Thư Thứ Nhất của Yoan, thành tự nhiên với đường hướng trên. Mỗi khi quả quyết tình thương yêu của Thiên Chúa hay của Đức Yêsu đối với con nguời, Yoan lại không trực tiếp kêu gọi con người yêu mến Thiên Chúa để đền đáp mà chỉ kêu gọi người ta yêu thương nhau. (1Yn 4: 11) hay một cách thiết thực hơn cũng vậy: “Chính do điều này mà chúng ta nhận ra được lòng yêu thương: là Ngài đã thí thân vì chúng ta. Nên chúng ta cũng phải thí thân vì anh em.” (1Yn 3: 16).

4) Đạo không còn chỉ giới hạn trong những ‘cấm giới’ như đừng giết người, đừng dâm ô, đừng trộm cướp, đừng vu khống vv.. Đạo không còn phải chỉ là Đạo “đừng-đừng-đừng”… Đạo chỉ là đạo-đừng thì mới tiện giữ được bên trong một pháo đài, ở trên một tháp ngà. Trong đó, trên đó, chúng ta “chẳng động gì tới ai”…là trọn đạo.

Đạo là đạo làm, anh-làm-được-gì-cho-tôi, tôi-làm-được-gì-cho-anh. Cho ăn, cho uống, cho mặc, tiếp đón, thăm viếng, gặp gỡ. Hay làm tất cả những gì không thể định trước được để đáp ứng những nhu cầu bất ngờ nhất trên đường đời, giữa cuộc sống… Như thế, đạo-làm vừa bắt buộc ra khỏi mọi thứ pháo đài, tháp ngà, mu rùa mới có cơ hội gặp được tha nhân mà hiện thực được, vừa không cho phép ngừng lại ở mức độ nào nữa cả. Nên chỉ là đạo-đừng thì tôi chẳng động gì đến ai, chẳng làm hại ai là đủ. Nhưng thế nào là đủ được cho đạo-làm, thế nào là đủ cho tình thương yêu? Đạo vẫn là con đường vô hạn mở ra cho hành động yêu thương của con người.

5) Còn hơn nữa, Đạo Đức Kitô là đạo-anh-với-tôi-cùng-làm-gì-cho-kẻ-khác. Không phải là vấn đề ý thức không quan hệ. Riêng Kitô-giáo tự bản-chất muốn là một Tin Mừng. Tin, là đón nhận Tin Mừng đó. Nhưng vấn đề là không cần phải đợi lúc anh với tôi cùng chia xẻ một niềm tin chúng ta mới cùng đi với nhau một con đường. Đạo lý Đức Yêsu như trên kia rõ rệt lắm: cùng một lòng tin là quan hệ nhưng chưa phải là chuyện có tính cách quyết định. Chỉ có tính cách quyết định là anh với tôi cùng làm gì cho tha nhân, và có cùng là đồng loại của tha nhân hay không?

Trong ý thức, anh có thể đang đi một con đường, tôi đi một con đường, nhưng trong thực-tại sống, chỉ có một con đường duy nhất: con đường đưa chúng ta đi gặp gỡ con người, cùng phục vụ con người, cùng sống cho tình thương yêu đồng loại, chúng ta lại cũng đã gặp gỡ nhau.

Khi đã hiểu như thế, chuyện cấp bách đối với tôi, người tin ở Đức Kitô, vẫn chưa phải là làm sao cho anh cùng tin với tôi – gặp gỡ chính Ngài – mà chính là: làm sao cho chúng ta cùng mở mắt trước những khổ đau của con người, những bất công của xã hội, để cùng nhau chúng ta làm gì để để xoa dịu những khổ đau kia, chận bớt, chấm dứt những bất công này.

Con đường thương yêu – với niềm tin hay không với niềm tin – vẫn đi qua người đồng loại. Con đường đó vừa xa tắp vừa cho phép mọi người gần nhau, gặp gỡ nhau…

Đạo, là Đường, Sự Thật, Sự Sống!

Đức Yêsu trước tiên muốn nhấn mạnh ở điểm Ngài là Đường. Ngài còn là Sự Thật và Sự Sống, nhưng đối với kẻ theo Ngài, hai thực tại ấy vẫn không tách rời được thực tại Ngài là Đường.

Đường, là để đi vào, đi theo. Con đường đây lại không phải là một nét mực đỏ vẽ sẵn trên một bản đồ bỏ túi mà là thực thể sống động. Đã vậy, “Sự Sống”, “Sự Thật” đều không phải là những vật để bỏ túi. Cũng không phải để cất gọn vào tủ sắt được… Không thể bỏ túi, cất tủ sắt chính Đức Yêsu. Không ai “có đạo” như có một cái xe máy dầu Nhật. Mà, chỉ có những người “đi Đạo”.

Đạo chỉ là pháo đài khi người ta mang thái độ chủ-nhân-ông đối với chân lý. Riêng đối với người tin Đức Kitô, đó là khi lầm lẫn tưởng rằng theo Ngài đã là bỏ túi được Ngài. Tin Ngài là Sự Thật rồi cũng tưởng là mình bỏ túi được Sự Thật mà quên rằng Ngài vẫn là Đường! Nghĩa là cho dẫu gần gũi Ngài đến mức nào đi, cho dẫu là “ở trong Ngài”, để nói theo ngôn ngữ Kinh Thánh (Yn 14: 20), thì người ta vẫn chẳng bao giờ là chủ thầu con đường mà mãi mãi chỉ là kẻ hành hương…

Đức Yêsu có là Sự Thật cho tín đồ của Ngài thì vẫn có cả một khoảng cách không bao giờ lấp được giữa Sư-Thật-là-Ngài với sự-thật-như-được-đón-nhận-trong-tâm-tư-họ. Kinh thánh không quan niệm Sự Thật một cách trừu-tượng. Sự Thật đây là như tâm sự của Thiên Chúa được ngỏ cho nhân loại bằng cách đầy đủ nhất là hiện thân trong Đức Kitô, Con Thiên Chúa làm người.

Đức Yêsu đã có một thái độ không kém tiêu biểu tuy ở vào hoàn cảnh trái ngược hẳn với bụi cây rực lửa huy hoàng. Đó là khi Ngài phải đứng trước mặt Philat như một kẻ tử tù. Cũng như Ngài đã tâm sự với đồ đệ rằng Ngài là “Đường, Sự Thật và Sự Sống”, thì ở đây Ngài ngang nhiên quả quyết với Philat, vị quan toà đại diện cho đế quốc La Mã: Tôi có đến trong thế gian cũng vì để làm chứng cho Sự Thật. Ai thuộc về Sự Thật thì nghe tiếng tôi.” Nhưng khi Philat hỏi lại Ngài: “Sự Thật là cái gì?” thì Đức Yêsu đã không trả lời câu hỏi đó.

Sự Thật không là “cái gì” cả. Sự Thật không phải là “cái gì” gói gọn được trong một định-nghĩa, trong một khái niệm, trong tất cả ngôn ngữ loài người. Nếu tôi không lầm thì toàn bộ Kinh Thánh, chẳng có chỗ nào cho một định-nghĩa trừu tượng về chân lý. Ngài đứng yên đó, Không trả lời. Nhưng “Ngài là Ngài”. Sự Thật vẫn còn là Sự Sống và là Đường”. (x. Nguyễn Ngọc Lan, sđd, tr.235)

Thật sự thì, trên đường đời cuộc sống, người nào cũng đi chứ không đứng. Có người đi mãi mà không ngừng. Đi càng nhiều trên con đường đời càng rút được nhiều kinh nghiệm về Sự Thật của Sự Sống. Có người từng ghi lại kinh nghiệm qúi báu của một chuyến đi, hoặc còn gọi là hành-trình trên đường đã ghi lại những giòng chảy như sau:

“Đừng bao giờ trách móc bất kỳ ai khi cùng rong ruổi trên đường đời cuộc sống của bạn.

Người tốt, sẽ cho bạn Hạnh Phúc. Người xấu, sẽ cho bạn kinh nghiệm.

Người tồi tệ nhất, cho bạn bài học… Và, tuyệt vời nhất sẽ ban cho bạn Kỷ niệm.

Đừng hứa khi đang vui. Đừng trả lời khi đang…nóng giận.

Đừng quyết định khi đang… buồn! Đừng cười khi người khác …không vui!

Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ. Ba năm học nói, một đời học lắng nghe.

Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng một bước đi. Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta.

Được! Được!

Sống một kiếp Bình An là được

2 bánh 4 bánh, đi được là được.

Tiền ít tiền nhiều, đủ ăn là được.

Người xấu người đẹp, dễ coi là được.

Người già người trẻ miễn khoẻ là được.

Nhà giàu nhà nghèo, hoà thuận là được.

Ông xã về trễ, miễn về là được.

Bà xã càu nhàu, chăm lo là được.

Khi con còn nhỏ, dạy dỗ thật nghiêm.

Tiến sĩ cũng được, bán rau cũng xong.

Sau khi trưởng-thành, ngoan ngoãn là được.

Nhà to nhà bé, có chỗ ở là được.

Hàng hiệu hay không, mặc được là được.

Tất cả phiền não, biết xả là được.

Kiên trì cố chấp, biết bỏ xuống là được.

Sống một kiếp người, an lạc là được.

Không phải có tiền, muốn gì cũng được.

Tâm tốt việc tốt, có thể thay đổi số mệnh.

Ai đúng ai sai, trời biết là được.

Tu phúc tu thân, kiếp sau càng tốt.

Thiên địa vạn vật, tùy duyên là tốt.

Có rất nhiều việc, nhìn xa trông rộng.

Mọi người đều tốt, ngày ngày đều tốt.

Anh tốt tôi tốt, thế giới sẽ biết.

Nói tóm lại, tri thức là quan trọng nhất.

Nói nhiều như vậy, hiểu được là tốt.

Vẫn còn chưa hiểu, xem lại là được.” (trích điện thư vừa mới nhận cũng … là được.)

 

Đúng rất đúng. Bần đạo đây thấy rất “tâm đắc” về nhiều khía cạnh được kể ở trên. Khiá-cạnh thực tế khi đi trên con đường của cuộc sống, có Sự thật, mọi người đều đã đi và ít nhiều cũng có đôi ba cảm-nghiệm. Nhưng, có những cảm-nghiệm mà một số bạn giống như bần đạo đây, nhiều lần vẫn quên đi. Quên, hát bài hát của người nghệ sĩ ngoài Đạo vẫn từng đi trên con đường độc Đạo của cuộc sống, lại vẫn hát những lời rất nghe quen tai, đầy khích lệ mọi người cùng đi hãy cùng hát.

Hôm nay, đề cập đến “Con đường Tình Ta Đi”, bần đạo đề-nghị ta quay về với giới nghệ sĩ ở đời để cùng hát câu sau đây làm kết luận cho bài viết khá dài này, rằng:

“Dù đến rồi đi tôi cũng xin tạ ơn người tạ ơn đời, Tạ ơn ai đã đưa em về chốn này
tôi xây mãi cuộc vui. Dù đến rồi đi tôi cũng xin tạ ơn người
tạ ơn đời, tạ ơn ai đã cho tôi Còn thấy những ngày ngồi mơ ước cùng người.”

(Trịnh Công Sơn – Tạ Ơn)

Vâng. Chính thế. Dù có đi hay đứng thế nào đi nữa, trong đường đời, vẫn xin người và xin tôi, ta cứ “Tạ ơn Người”, tạ ơn đời, suốt đời người.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn còn đi nốt con đường đời

Những 70 năm

Vẫn xin tạ ơn đời,

Tạ ơn hết mọi Người.

Trên đời.

 

Anh buồn tự thuở giăng lên núi,

“Anh buồn tự thuở giăng lên núi,”

Ấy độ tôi hoài ước lại mong”.

(Dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Mt 20: 1-16

Nơi đời người, rất nhiều người cứ thấy buồn “tự thuở giăng lên núi”, giống nhà thơ. Trong nhà Chúa, chẳng ai còn thấy buồn đến độ như thế. Nhưng vẫn vui hoài, “những ước và mong”.

Trình thuật hôm nay thánh-sử Mát-thêu ghi lại dụ ngôn thợ làm vườn nho người kẻ sau gia-nhập nhóm làm vườn, như mọi người. Nhưng, lại cũng có người buồn nhiều hơn vui, vì nhiều thứ. Thứ dễ thấy nhất là cảm thấy như chủ vườn đối xử không đồng đều, nên mới buồn.

Chuyện người đời, phim ảnh cũng kể lại những tình-huống buồn vui vì người đời đối xử rất khác nhau như câu truyện về người anh hùng ở cuộc chiến có tên là Forrest Gump, rất oái oăm.

“Phim truyện Forrest Gump có lúc được kể là ‘niềm hân hoan của người tham chiến’. Vào một lúc nào đó, truyện phim nói về sự việc: “sao người chót hết lại có thể về trước nhất”. Câu chuyện này, rút từ những điều mà cuốn phim đã để lại trong đầu, của người xem.

Forrest Gump rồi cũng chết. Và, cũng lên thiên đàng. Vừa tới nơi, đã thấy thánh Phêrô đưa ra 3 câu hỏi bắt buộc anh phải giải mã trước khi vào cửa. Ba câu ấy, là: -1) Ngày nào trong tuần bắt đầu bằng chữ T? -2) Một năm gồm bao nhiêu giây? -3) Tên gọi của Thiên Chúa là gì?

Forrest trả lời ngay lập tức: ‘Thưa, 2 ngày trong tuần bắt đầu chữ T là: hôm nay và ngày mai. Thánh Phêrô nói: Ta không nghĩ thế, nhưng con vẫn có điểm. Thế câu tiếp là gì? – Con nghĩ, câu trả lời độc nhất là 12. -12 ư? –Thưa, đó là ngày 2 tháng Giêng, 2 tháng Hai… – Khoan, Ta biết là con đang cò cưa với câu này. Thế còn câu hỏi cuối? – Vâng, đó là Andy! – Andy à? Thôi được, cứ coi như 2 câu đầu con cũng biết cách trả lời rồi. Nhưng sao lại đặt tên gọi cho Chúa là Andy? –Thưa, đó là câu trả lời dễ nhất. Con học điều đó trong bài ca vịnh…ANDY đi với tôi, ANDY tới với tôi, ANDY bảo tôi thuộc về Ngài’  Nghe thế, thánh Phêrô bèn mở cửa ngọc và hối: “Vào đi Forrest, vào lẹ đi!”

Tin Mừng hôm nay, cũng kể về người thợ đến đầu giờ cũng được trả lương y như người đến sau buổi xế. Như thế, thì đàn chim ban sớm cũng đã không nhận ra là chúng có thể đến trễ và cũng được bấy nhiêu đồ ăn. Bằng giọng điệu cay cú, ta có thể dùng danh xưng gọi các tay thợ làm vườn đến vào buổi xế là “Giô-ni đi tàn tàn”. Và, sự thể là: nếu ta buộc phải đối đầu với tình huống tương tự, ta cũng sẽ là người ngồi đó mà càm ràm.

Với Hội thánh tiên khởi, câu chuyện hôm nay mang tính quan trọng, là vì người Do thái, qua bao thế hệ, vẫn cứ mỏi mòn ngồi chờ Đấng Mê-sia sẽ đến. Và, tựa như người thợ đến từ đầu giờ, cộng đoàn khi xưa là các nhà tiên phong đáp ứng lời mời của Đức Giêsu Chúa đã lao động cho hiện trường Vương Quốc của Đức Chúa. Dưới mắt người Do thái đi theo Chúa vào thời đầu, kể cả thánh Phêrô, ai cũng ngỡ ngàng khi thấy Đức Chúa đã mời gọi cả người ngoài luồng đến để sống và phục vụ cho Vương Quốc của Ngài.

Với đầu óc giàu tưởng tượng, ta thấy ngay là: một số đàn chim ban sớm vẫn mang nặng cảm giác dày vò cay cú, khi thấy đám “Giôni đi tàn tàn” lại được trao cho trọng trách trông nom sứ vụ truyền giáo rất rộng. Điều này hẳn đã vượt ngoài sức tưởng tượng, của nhiều người. Vì thế, vẫn có người thắc mắc hỏi rằng: sao lại xảy ra như thế được!

Tìm hiểu kỹ, ta thấy truyện kể hôm nay cho thấy tính khí thất thường nơi con người chúng ta. May cho ta, Chúa vẫn rất mực độ lượng. Ngài có lòng khoan dung, đại độ không ai sánh tày. Trong khi đó, nhìn lại mình, nhìn người khác, vẫn chỉ thấp thoáng một vài gương lành, do đã bắt chước cách hành xử cao quý của Đức Kitô thật đấy, nhưng vẫn chưa đậm nét. Nơi Đức Chúa là cả sự sung mãn, tràn đầy.Tràn đầy yêu thương. Ngập tràn tha thứ. Đầy ắp những xót xa. Những sung mãn về sự công chính.

Tự thân, Chúa vượt quá tầm tay với mà ta có thể kêu cầu, đòi hỏi hoặc mơ ước. Nên, ta vẫn không hết bỡ ngỡ đứng trước các hành xử đảo ngược lòng ao ước đợi trông. Đảo ngược tính sợ hãi vẩn vơ. Đảo, cả những đồn đoán khó tin của người phàm. Chúng ta vẫn không ngừng tìm kiếm Đức Chúa vĩ đại đầy ấn tượng. Tựa như khoa học giả tưởng do ta sáng chế. Trong khi đó, Chúa đến với ta chỉ như kẻ bần hàn, đói rét. Ngài đến, rất trần trụi. Lạnh căm. Lạnh căm, như người ốm o gầy mòn, mang hình hài thân phận của người tù, ốm đói. Nhưng, Chúa tỏ lộ chân lý của Ngài ngang qua những người làm ta kinh ngạc. Vào thời điểm dễ làm ta sửng sốt.

Đó còn là lý do tại sao nhiều người cứ mải quyết đoán: Đức Chúa chỉ hoạt động theo cách thân quen tại nơi chốn, qua con người, hoặc vào thời điểm ở thể chế rất dễ nhận. Việc Ngài làm, thường kết thúc ở cuối đường ranh khôn ngoan, tin tưởng. Tin vào Đạo. Tin vào Lời.

Trong cuốn “Những thứ bạn kiếm được mà không phải trả tiền”, tác giả Michael McGirr đã biện luận: thế giới hôm nay đang có khủng hoảng về niềm tin. Đây không là phương thức ta thường nghĩ. Trong bối cảnh lật lại bàn cờ, McGirr khẳng định là: khủng hoảng niềm tin nằm ở chỗ: người ở ngoài truyền thống vẫn cảm nghiệm được tình thương yêu của Đức Chúa. Quả thật, Chúa luôn yêu thương, dẫn dắt Hội thánh. Nhưng, Ngài không bị ràng buộc bởi Giáo Hội. Ngài bận tâm lo toan để đoan chắc rằng: ai người chậm chạp, đến trễ, vẫn có cơ-hội được ngang bằng với người đến sớm. Vẫn nhận được món hời hệt như đàn chim ban sớm.

Dẫu thế nào, ta hãy nên, thay vì phẫn nộ về cái-gọi-là sự bất công này, hãy chăm lo mà cảm tạ Chúa vì nhờ vào Ngài ta mới trở nên lớn lao, cao trọng. Cảm tạ Ngài, đã tỏ ra công minh, chính trực với thần dân. Cũng chẳng nên hỏi: khi nào và làm sao ta nắm được Lời. Bởi vì, Lời không “gớm ghiếc” và cũng chẳng “bất công”. Lời chẳng “thấy Tôi tốt bụng mà đâm ghen tức”. Duy có điều, là: vì ta chưa hiểu thế thái nhân tình, nên chưa hiểu rõ được Lời.

Cảm-nghiệm những điều vừa kể, tưởng cũng nên ngâm lại lời thơ còn bỏ dở ở trên, nay tiếp tục:

“Anh buồn tự thuở giăng lên núi,”

Ấy độ tôi hoài ước lại mong.

Ai biết lòng anh thương nhớ đâu?

Gần nhau không nói, nói không sầu.

Cầm tay hỏi mộng, buồn như tủi,

Thầm hiểu anh thôi, lặng cúi đầu.”

(Đinh Hùng – Cặp Mắt Ngày Xưa)

Cuối cùng thì, cứ gần nhau đi dù không nói. Nói làm gì, khi anh đã “thầm hiểu” nên hãy cứ “lặng cúi đầu” mà suy-nghĩ về dụ ngôn Chúa Kể, để coi đó như bí kíp sống ở đời. Bí kíp, dựa nhiều trên chọn lựa của mỗi người, tùy tình thân thương đối xử với nhau mà thôi.

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá lược dịch.

8 CÂU NÓI TUYỆT VỜI


8 CÂU NÓI TUYỆT VỜI

Photo : 8 CÂU NÓI TUYỆT VỜI NHẤT TRÊN THẾ GIỚI (NÊN ĐỌC).  --------------------------------------------------------------------------- 1.

1. “Đừng bao giờ đùa giỡn với cảm xúc của người khác, bởi vì bạn có thể giành chiến thắng, nhưng hậu quả là bạn chắc chắn sẽ mất đi người đó trong suốt cuộc đời của bạn.” – (Shakespeare).

2. “Thế giới phải chìm đắm trong đau khổ không phải vì tội ác của những kẻ xấu, mà là vì sự im lặng của những người tốt”. – (Napoleon).

3. “Tôi rất biết ơn tất cả những người đã nói KHÔNG với tôi. Nhờ vậy mà tôi biết cách tự mình giải quyết sự việc.” – (Einstein).

4. “Nếu tình bạn là điểm yếu lớn nhất của bạn, thì bạn chính là người mạnh mẽ nhất trên thế giới.” – (Abraham Lincoln).

5. “Một người tươi cười không có nghĩa là họ không có nỗi buồn. Điều đó có nghĩa là họ có khả năng đối phó với nỗi buồn đó.” – (Shakespeare).

6. “Cơ hội giống như bình minh, nếu bạn chờ đợi quá lâu, bạn có thể bỏ lỡ nó”. – (William Arthur).

7. “Khi bạn ở ngoài sáng, tất cả mọi thứ đều theo bạn, nhưng khi bạn bước vào bóng tối, ngay cả cái bóng của bạn cũng không đi theo bạn nữa.” – (Hitler).

8. “Đồng tiền luôn phát ra âm thanh. Nhưng tờ tiền thì luôn im lặng. Vì vậy, khi giá trị của bạn tăng lên, thì hãy luôn luôn giữ yên lặng.” – – (Shakespeare).

Kristie Phan & Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

CUỘC ĐỜI PHÙ DU

CUỘC ĐỜI PHÙ DU

Tuyết Mai

Ai sống có ơn Chúa dù một chút ít đều hiểu được điều này. Để sống được trong ơn nghĩa Chúa, giữ lòng trung thành, mà nếu có ai lại được giống một phần tốt lành của thánh Phanxicô khó nghèo thì thật người ấy đã tìm thấy hạnh phúc đích thực ở nơi trần gian này rồi!. Vì ngài thánh Phanxicô đã được Thiên Chúa mạc khải cho hiểu biết thế nào là hạnh phúc được sống bên Chúa nên ngài đã nghe Lời Chúa Giêsu mà về bán hết của cải đem cho người nghèo rồi quyết định bỏ cha mẹ để được đi theo Chúa; để được Nước Trời như Chúa Giêsu đã hứa với tất cả môn đệ xưa của Ngài. Cũng bởi do ý muốn được sống trong tinh thần khó nghèo mà trong chúng ta có rất nhiều người yêu vị thánh Phanxicô khó nghèo này lắm lắm!.

Thật sự thì sự giầu có nó không có tội nhưng chính con người là nguyên do làm cho nó nên tội từ cách sống vô tâm, vô cảm của người giầu có trong cách đối xử của họ với anh chị em khổ nghèo chung quanh … Như câu chuyện “Anh nhà giầu và anh nhà nghèo ghẻ chốc Lazarô” mà anh nhà giầu bị Thiên Chúa giáng phạt linh hồn anh ta phải xuống Hỏa Ngục muôn đời chỉ vì cái tội anh đã làm ngơ trước những người cùng khổ. Chưa kể một lô tội mà vì người giầu có lòng tham vô đáy đã gây ra. Vì họ đã giầu có mà lại còn muốn vơ vét thêm của người nghèo để tha cho đầy vào kho lẫm của mình.

Muốn có quyền hành để lên làm vua một cõi thiên hạ bằng cách giết hại người hiền lành vô tội. Đi đến đâu cũng muốn người người dở nón cúi đầu chào, run rẩy sợ sệt khi phải đứng trước mặt ông chủ bất nhân, v.v… Thì sự giầu có đó có bảo đảm gì cho ai để được vào Nước Trời hay không? Hay được cả và Thế Gian mà mất linh hồn đời đời thì có ích gì?.

Chúng con cảm tạ Thiên Chúa vì Người là Đấng nhân lành và luôn yêu thương con người, đã tuyển chọn cho chúng con có được một Đức Giáo Hoàng Phanxicô rất thánh thiện, rất khiêm nhường và rất yêu thương đàn chiên tội lỗi đang sống ở khắp cùng mọi nơi. Và có được 10 nhà tỷ phú có tấm lòng vàng đã làm gương sống tốt lành, đã cố gắng giúp bao nhiêu người nghèo khổ trên toàn thế giới.

Để chúng con học bắt chước và noi theo nhất là ở vào thời đại mà chúng quỷ hoành hành ở khắp mọi ngả mọi nơi. Ở thời điểm mà con người càng ngày càng lâm vào cảnh khó khăn hơn, có nhiều nghịch cảnh rất đáng thương hơn vì họ quá nghèo khổ. Có những chứng dịch bệnh lạ mới giết chết nhiều người vì không có thuốc chữa; nhiều người chết vì thiên tai. Tan nhà nát cửa, xác chết đầu lìa khỏi thân mình vì chiến tranh tôn giáo không một ngày ngừng nghỉ, cùng những nước Cộng Sản chúng càng ngày càng kềm kẹp người dân không có được chút tự do, thiếu miếng ăn và thiếu sự giáo dục có chuẩn mực.

Xin thánh thần Thiên Chúa ban cho chúng con thêm lòng dũng cảm để sống cả cuộc đời trung thành với Chúa. Ban cho chúng con có khả năng để đóng góp một bàn tay xoa dịu những nỗi khổ của muôn người đang sống rất thiếu tình thương ở chung quanh chúng con.

Xin Thiên Chúa đừng để chúng con trở thành người giầu có vô cảm!. Đừng để chúng con ngu khờ như 5 cô thiếu nữ sống dửng dưng, vô tình và thiếu sự chuẩn bị để Đón Rước Chàng Rể khi đèn dầu họ để cho cạn queo và đừng để chúng con đem đi chôn một nén bạc Chúa cho mà không dùng nó để sinh hoa lợi trong khả năng rất có giới hạn. Và đừng để cho chúng con sống luôn so sánh với người có nhiều nén bạc hơn mình vì phải hiểu rằng Chúa trao cho ai nhiều thì Chúa sẽ đòi lại ở người đó nhiều.

Quả cuộc đời con người ta có sống được đến 100 năm cũng là phù du thôi!. Giầu thì cũng chết mà nghèo thì cũng chết như nhau. Cũng hai bàn tay trắng không ai mang theo được một thứ gì. Quan trọng và cần thiết hơn cả là ai cũng ao ước sau cuộc sống ở đời này chúng ta sẽ được tới Nơi mà chúng ta muốn được Tới; Nơi mà sẽ cho chúng ta có hạnh phúc muôn đời được sống bên cạnh ba ngôi Thiên Chúa là Cha, là Con, và là Thánh Thần cùng sống bên cạnh Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Thiên Chúa. Amen.

** Xin bấm vào hình để nghe và hát:
httpv://www.youtube.com/watch?v=h4U8bNPymUs&index=16
(Nhờ Chúa Con Đổi Đời)

Y Tá của Chúa,
Tuyết Mai
09-10-14
—————————————–
Nhờ Chúa Con Đổi Đời

Con quỳ giang tay hướng Trời
Dâng Người kinh nguyện cùng lời cảm ơn
Cảm tạ được Người ban ơn
Sớm hôm no đủ còn hơn con cầu

Cảm ơn Người ngay phút đầu
Con mở con mắt của đầu ngày sau
Chúa yêu con thật thẳm sâu
Nhưng con yêu Chúa chỉ mầu mè thôi!

Hẳn Chúa biết tội con rồi!?
Bê tha làm biếng cái Tôi vụng về
Ai làm gì con cũng chê
Cũng không tránh được cái mê hại người

Vì tội con xa lánh Người
Con sống ích kỷ lại lười dâng kinh
Cả đời con sống cho mình
Chẳng thương chẳng xớt chút tình cho ai

Lắm khi con sống phân hai
Bên nào cũng Chúa có ai than phiền?
Chúa nào mà hay cho tiền
Thì con cũng bái cũng liền thọ ơn

Chúa biết con sợ Chúa hơn!
Vì con vẫn biết Chúa luôn trông chờ
Chúa yêu con vô bến bờ
Sao con yêu Chúa ơ hờ Chúa ơi!

Có thể nào Chúa thổi hơi?
Ban con thần khí và Lời quyền năng
Để con biết sống thanh bần
Để con tin có vĩnh hằng đời sau

Để con chấp nhận khổ đau
Nhìn trên Thập Giá niềm đau khốn cùng
Vì con Chúa đem Tin Mừng
Vì con Chúa chịu đóng từng lỗ đinh

Vì con Chúa chịu cực hình
Không lời than trách dốc tình vì con
Chúa ơi! Tội con nay còn
Nhưng xin đấm ngực và con xin chừa

Từ nay con xin được thưa!
Lậy Chúa con đã chịu thua giã từ
Cuộc sống bê bối quá khứ
Hoàn toàn thay đổi ngay từ hôm nay

Xin Chúa thêm sức tháng ngày
Tình yêu tuôn đổ của Ngài trên con
Ôi tình Chúa như cao sơn!
Dạt dào như biển thái dương ngập tràn

Có Chúa con quyết đánh tan
Mưu đồ mưu kế kẻ gian rập rình
Vì Chúa con sẽ thức tỉnh
Vì Chúa con sẽ luyện mình quyết tâm

Yêu Chúa con sống âm thầm
Chỉ con và Chúa thì thầm nhau nghe
Lời Chúa văng vẳng con vè:
“Yêu người, kính Chúa, về Quê An Bình”.

Y Tá Của Chúa,
Tuyết Mai

*** Để cảm tạ, ngợi khen, và tôn vinh Thiên Chúa là Cha chung của tất cả chúng ta, tôi chân thành mời anh chị em hãy dùng những bài hát của tôi để hát, đem đến tận phương trời xa, để làm Sáng Danh Thiê

Chọc Cải Cách ra mà ngửi

Chọc Cải Cách ra mà ngửi
September 10, 2014
Ngô Nhân Dụng

Nghe tin có cuộc triển lãm về Cải Cách Ruộng Đất tại Hà Nội, tôi đã tìm đọc mấy bài tường thuật trên các báo trong nước và các mạng thông tin. Cảm tưởng chung: Đây chỉ là một trò tuyên truyền rất vụng về, mạo xưng là “lịch sử;” mà nó lại nhạt phèo, chẳng có gì mới mẻ đáng coi. Người ta trưng bày những sập gụ, tủ chè, bát đĩa dùng trong nhà địa chủ; bên cạnh cảnh sống bần hàn của những nông dân. Những người tổ chức cuộc triển lãm chắc hy vọng mọi người xem xong sẽ kết luận: Xã hội thời xưa thật lắm cảnh bất công. Nếu có bát công tức là có bóc lột, đó là cách suy nghĩ đơn giản, dễ khiến người ta tin.

Nhưng người biết suy nghĩ sẽ nhận ra điều này: Thời nay cũng nhiều cảnh bất công không khác gì 60 năm trước. Chỉ cần nhìn vào ngôi nhà của một ông Bí Thư Huỳnh Đức Hòa, tỉnh ủy Lâm Đồng, người ta cũng có thể thấy ông giàu có gấp ngàn lần các địa chủ thời 1946-1957. Trong khi đó thì bao nhiêu người lao động đang sống trong các ổ chuột ở thành phố vẫn chạy ăn từng bữa. Và cảnh sống của đồng bào nghèo tại các vùng nông thôn xa; nếu so sánh nhà cửa của họ với ngôi nhà tồi tàn của người nông dân nghèo khổ, của các bần cố nông thời cải cách ruộng đất, chắc cũng như nhau. Nếu khá hơn cũng chỉ hơn đến gấp đôi, gấp ba là cùng. Hố cách biệt giàu nghèo ngày nay tăng lên gấp trăm, gấp ngàn lần so với thời 1950! Nếu có bất công tức là có bóc lột, thì ngày nay ai bóc lột ai?

Do đó, cuộc triển lãm về Cải Cách Ruộng Đất sẽ gây tác dụng ngược. Thay vì “gây căm thù” đối với các địa chủ ngày xưa, cuộc triển lãm sẽ khiến người đi coi nghĩ tới các đại địa chủ thời nay. Một điều hiển nhiên ai cũng thấy: Sau khi Đảng Cộng Sản cướp ruộng đất từ tay các địa chủ, thì nông dân Việt Nam bây giờ có được làm chủ ruộng đất hay không? Câu trả lời là: Không! Ngày nay tất cả ruộng đất thuộc quyền của “nhà nước.” Nhà nước là tay đại địa chủ, nắm quyền cho dân “cấy rẽ,” cho ai thì người ấy được “quyền sử dụng,” chỉ là quyền sử dụng chứ không phải quyền sở hữu. Nhà nước là một bộ máy khổng lồ vô hình, nhưng đại diện của nó là các quan chức, cán bộ từ tỉnh xuống huyện, xuống xã. Họ nắm toàn quyền, ban bố quyền sử dụng cho đám dân đen. Họ có thể lấy lại quyền sử dụng của nông dân để ban phát cho các nhà tư bản đỏ, bồi thường dân một đồng thì thu lời hàng trăm đồng. Cả bộ máy nhà nước này nằm gọn trong tay Đảng Cộng Sản. Đảng là tay đại địa chủ thời nay. Đảng đưa ra khẩu hiệu “Người cầy có ruộng,” nhưng cuối cùng chỉ có đảng là có ruộng, nông dân Việt Nam vẫn đóng vay tá điền. Thay vì các địa chủ thu tô, ngày nay nông dân sống dưới chế độ đảng thu thuế. Báo chí trong nước vừa so sánh số thuế má, dưới nhiều hình thức, tại một tỉnh Thanh Hóa ngày nay còn nhiều hơn các món thuế nông dân phải đóng trong thời thuộc Pháp.

Một phản ứng ngược khác, là người đi xem triển lãm sẽ bất mãn thêm khi thấy đây chỉ là một trò tuyên truyền cũ kỹ, hoàn toàn không phải là lịch sử, dù được trưng bày tại Viện Bảo Tàng Lịch Sử Quốc Gia. Người biết suy nghĩ sẽ thấy, như Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, tại sao một cuộc triển lãm tự xưng là lịch sử mà lại không được trung thực. Ông nói, “… những sai lầm – tội ác do chính quyền gây ra thời đó không được đưa ra, những việc phá tan chùa, đình, miếu, làng, xã…làm phá vỡ những truyền thống đạo lý – văn hóa tốt đẹp của con người Việt Nam qua ngàn năm …” cũng không được trưng bày ra.

Nhưng việc phá tan những miếu mạo, đình chùa cũng không phải là tội ác văn hóa lớn nhất của Đảng Cộng Sản. Ông Nguyễn Tường Thụy, một người làm blog riêng có tiếng ở Hà Nội đã nhắc đến tội ác khác về văn hóa, là cuộc Cải Cách Ruộng Đất “nó tàn phá luân lý đạo đức lúc bấy giờ” với những cảnh “cha tố con, con tố cha, vợ tố chồng, anh em tố nhau …” Và ông nhấn mạnh rằng, “Cải cách ruộng đất là do người Trung Quốc, các chuyên gia Trung Quốc chỉ đạo và cố vấn…” Một blogger khác, J.B Nguyễn Hữu Vinh đã đi xem triển lãm, kể lại, “Đi bên cạnh, cô thuyết minh viên áo đỏ (nói) liên tục: ‘Cải cách ruộng đất xóa bỏ chế độ người bóc lột người, là cách mạng về quan hệ sản xuất và nông dân đổi đời…’ Tôi quay lại nói, ‘Quan chức Cộng Sản ngày nay thì đất đai, nhà cửa, ăn chơi còn gấp trăm lần địa chủ phong kiến trước đây. Mà tất cả là từ tiền tham nhũng của dân, còn địa chủ phong kiến ngày xưa có ăn chơi cũng là tiền của họ. Bây giờ có ông quan hàng trăm ha đất như chủ tịch Bình Dương thì bọn địa chủ sao so được nhỉ?’”

Nguyễn Hữu Vinh trông thấy một nhiếp ảnh gia đi chụp các vật trưng bày trong phòng triển lãm, khi chụp hình xong, anh ta kết luận, “Thôi, cái hay, là chúng nó đưa ra để dân biết rằng cái giai cấp địa chủ, phong kiến ngày xưa chẳng là cái đ. gì so với bọn quan Cộng Sản tham nhũng hôm nay.” Một di họa văn hóa của thời Cải Cách Ruộng Đất vẫn để lại bóng đen lảng vảng trong xã hội Việt Nam: “Cái gọi là ‘thành phần’ xuất hiện trong thời đó, cho đến nay tròn 60 năm sau vẫn ám ảnh trong từng tờ hồ sơ, lý lịch của các em nhỏ đến trường, dù chúng chẳng hiểu “thành phần” nghĩa là cái gì và từ đâu ra.”

Cuối cùng, chỉ vì Đảng Cộng Sản tổ chức cuộc triển lãm tuyên truyền vô duyên này, những người như các ông J.B Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Xuân Diện có cơ hội bày tỏ những suy nghĩ thật của người dân Việt thời nay. Rõ là chỉ làm cho rách việc thêm!

Tại sao Đảng Cộng Sản lại bày ra một trò tuyên truyền gây phản ứng ngược nhiều như vậy? Có thể chỉ vì các cán bộ trong Viện Bảo Tàng Lịch Sử chẳng có việc gì làm cho qua thời giờ, cho nên họ mới bày vẽ ra cái cuộc triển lãm này. Hay là quý ông bà trong ban văn hóa tư tưởng của đảng đang lo khi chế độ sụp đổ thì mình thất nghiệp, nên cố gắng tô thêm son phấn lên mặt đảng một lần chót? Hoặc có thể đưa ra một giả thuyết táo bạo, rằng có người đã xúi giục họ tổ chức triển lãm để khiêu khích tất cả nông dân miền Bắc, những người đã đi biểu tình đòi ruộng, đòi đất trong những năm qua và bị ông đại địa chủ thời nay đàn áp dã man. Đặc biệt, họ muốn khiêu khích tất cả giới thanh niên, trí thức miền Bắc và đặc biệt là dân Hà Nội, xem có ai dám đứng ra “lật mặt nạ” của Đảng Cộng Sản hay không?

Mà việc lột mặt nạ thì không khó gì cả. Người ta không thể tổ chức một cuộc “phản triển lãm” về những tội ác của Đảng Cộng Sản trong vụ Cải Cách Ruộng Đất. Không thể trưng bày cảnh những người bị gán cho danh hiệu địa chủ bị chôn sống, thò đầu trên mặt đất để nhìn thấy lưỡi cầy kéo qua đầu mình cho tới khi chết. Cảnh này đã có thi sĩ Hữu Loan làm chứng, ông đã kể lại cho con cháu khỏi quên chuyện một địa chủ đã cấp gạo cho trung đoàn của ông trong thời kháng chiến bị hành hạ như vậy. Sau đó, tác giả Màu Tím Hoa Sim đã cưới cô con gái nhà địa chủ này, để đền ơn công cha mẹ cô nuôi dưỡng cả trung đoàn.

Không thể tổ chức triển lãm, nhưng giới thanh niên, trí thức Hà Nội có thể làm một cuộc triển lãm trên mạng. Một cuộc “phản triển lãm” đã xuất hiện trên các mạng ở Việt Nam. Blogger Lê Dũng đã chụp lại các bức ảnh trong phòng triển lãm rồi nêu ra những sai lầm, gian dối. Thí dụ, mấy ông già 60 nhận xét thời 1950 “Đũa nhựa và thìa phíp trắng chưa có!” Hoặc nhìn cái áo của “địa chủ” được trưng bày, có người thấy, “Áo trưng bày này là hàng fake [giả] 100 %. Vì “May bằng máy công nghiệp, viền cứng và thô, thời đó không có máy khâu đó. Đặc biệt áo dài thời đó hoàn toàn khâu tay, mũi khéo và mềm mại.” Đến một bức ảnh, “Bần cố nông làm gì có nồi đồng, có chiếu trải ra hè ăn cơm vậy?” một độc giả của Blog Lê Dũng góp ý “thời đó đã làm gì có modern áo đuôi tôm hả mấy ông giời con?” Một độc giả giấu tên khác nói thẳng: “Nói dối mà không biết ngượng sao, hỡi những kẻ lấy tay che mặt trời? Nạn nhân Cải Cách Ruộng Đất vẫn còn đầy rẫy, hoặc con cháu họ sẽ lên tiếng. Hay đợi đấy!” Một độc giả ký tên Mượt viết, “Chết thật, dối lừa mãi thế sao?”

Lê Dũng kết luận, “Tóm lại tay nào sắp đặt cái ảnh này là dân vớ vẩn, không có tí kiến thức gì về lịch sử, am hiểu về đồ vật.” Và anh viết thêm, “Dù sao thì tôi vẫn nói với mọi người cùng xem rằng: việc có cái triển lãm này cũng hay, bọn trẻ sẽ tìm nốt nửa còn lại qua gúc gồ, thế thôi vì một nửa sự thật không phải là sự thật.”

Nửa thứ hai của sự thật đã được trình bày từ lâu. Bao nhiêu tác giả đã viết về cuộc Cải Cách Ruộng Đất. Những tác phẩm mô tả tai họa Cải Cách sớm nhất là “Những thiên đường mù” của Dương Thu Hương, “Ác mộng” của Ngô Ngọc Bội. Tiếp theo có “Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên, tiểu thuyết “Ba người khác” của Tô Hoài. Đặc biệt, cuốn “Đèn cù” của Trần Đĩnh gần đây nhất đã cho thấy vai trò của Hồ Chí Minh trong vụ giết bà Nguyễn Thị Năm, chính ông Hồ đã viết bài đăng báo buộc tội bà. Có thể đăng lại những đoạn văn của các tác giả trên, để “triển lãm cho mọi người được thấy sự thật về tội ác của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Nhưng trên các mạng đã xuất hiện những câu chuyện thực đau lòng hơn cả những cảnh trong tiểu thuyết. Một độc giả ký tên Lê Tri Điền kể trong Blog Lê Dũng những chuyện xảy ra thời kỳ Cải Cách Ruộng Đất tại xã Định Công, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; chúng tôi trích vài chuyện: “Có một bà tên Chấn, không hiểu bùa phép nào của đội cải cách mà lên trước ‘ tòa án nhân dân’ nắm râu bố đẻ mà vặt rồi rít lên: Thằng Thể (tên bố bà Chấn)…mày là….mày là…” (bà Chấn sau này ân hận vì tội lỗi với người cha thân yêu của mình nên trở thành người trầm cảm, bà chết vào khoảng năm 1989 trong đói nghèo cô độc). Một chị con gái kể: Tôi thương cha tôi lắm, hắn bắt cha tôi, thúc vô rọ lợn rồi chúc ngược cha tôi đầu cắm xuống đất, tôi lén đem cơm cho cha thấy mặt cha đỏ tím tụ máu sưng tròn như chấy bưởi, cha tôi nói con đi đi! Không du kích biết thì khổ, cha không ăn được cấy chi mô, tôi còn nhỏ quá, chả biết cha có tội chi, thương cha quá mà không dám khóc…” Cuộc phản triển lãm vẫn còn tiếp tục. Dân Hà Nội không để cho người ta khinh thường, bày trò tuyên truyền rẻ tiền trước mắt mình mãi như vậy.

Một người bạn tôi mới trò chuyện với một bà chị lớn tuổi ở Hà Nội qua điện thoại, nhân tiện hỏi, “Chị đi xem cuộc triển lãm về Cải Cách Ruộng Đất tại Bảo Tàng Lịch Sử chưa?” Bà chị trả lời, “Xem làm cái gì? Chúng nó hết khôn dồn ra dại hay sao mà lại đi chọc “c…” ra mà ngửi với nhau như thế hở!”

Đúng là hết khôn dồn ra dại cho nên mới đi chọc Cải Cách ra mà ngửi. Khi một chế độ lâm vào bước đường cùng thì nó mới sinh ra những trò dồ dại, ngớ ngẩn, lung tung beng như vậy.

Triển lãm Cải cách ruộng đất: Làm sao bây giờ?

Triển lãm Cải cách ruộng đất: Làm sao bây giờ?

Nguyễn Tường Thụy/ Blog RFA

Chẳng hiểu ai xui khiến thế nào mà Bảo tàng lịch sử quốc gia tự nhiên đi tổ chức phòng trưng bày về cuộc Cải cách ruộng đất “long trời lở đất” cách đây sáu chục năm, mở cửa vào ngày 8/9/2014.

Phàm những gì họ làm đều có mục đích cả, chứ không phải bày ra để chơi.

Vâng, mục đích là đây: theo Ông Nguyễn Văn Cường, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia thì “Bảo tàng muốn hướng tới là những thành tựu của cuộc cải cách ruộng đất đã mang lại cho nhà nước mới được thành lập, cho người dân Việt Nam nghèo khổ đang từ phận nô lệ mất nước được hưởng thành quả cách mạng đó”.

Tuy nhiên, mới qua mấy ngày đầu, mục đích của Bảo tàng có vẻ như không đạt được. Dấu ấn kinh hoàng của Cải cách ruộng đất ở miền Bắc đã ghi quá sâu vào ký ức những người dân Việt Nam. Hẳn là không nhiều người tìm đến phòng trưng bày để xem nông dân Việt Nam được hưởng thành quả của Cải cách ra sao. Có vẻ như người ta không hào hứng về việc này khi chuyện chia ruộng thì ai cũng biết và ai cũng biết sau đó, ruộng đất lại được gom vào HTX. Khi mô hình HTX thất bại, ruộng đất được chia lại để rồi lại tập trung vào quan chức nhà nước và những người giàu có. Người ta đến triển lãm còn vì tò mò, muốn biết xem thái độ của nhà cầm quyền đối với CCRĐ ra sao, họ nhìn nhận thế nào hay hướng người xem nhìn nhận thế nào?

Người xem nhận ra ngay ý đồ của Ban tổ chức (BTC) khi nhìn vào cách sắp xếp hiện vật và số lượng hiện vật cho mỗi khời kỳ. Theo Thanh niên online, trong tổng số 133 hiện vật thì dành cho phần đời sống của nông dân trước cải cách là 45 hiện vật, tức là chiếm 1/3. Điều này cho thấy, bảo tàng muốn nhấn mạnh sự so sánh cuộc sống của nông dân với địa chủ.

Phần đấu tố địa chủ có lẽ là phần khách quan tâm nhất thì Ban tổ chức giấu nhẹm. Được hỏi về cách sắp xếp có chủ ý, ông Cường trả lời đại rằng “Không nhất thiết phải phơi bày toàn bộ những sai lầm của lịch sử” làm cho nhiều phóng viên tỏ ý không hài lòng. Ông đã làm đúng đường lối tuyên truyền của Đảng, nhưng xem ra, lần tuyên truyền này lợi bất cập hại.

Có một điều thú vị là, phần giấu giếm của ban tổ chức đã được báo Vnexpress tìm cách bù đắp bằng bài “Khoảng lặng bên trong triển lãm Cải cách ruộng đất“với việc phỏng vấn khách thăm là những nhân chứng, kể về giai đoạn đau thương ấy và họ “chưa thỏa mãn với những thông tin, hình ảnh, ánh sáng và cách trưng bày. Rất tiếc khi có cơ hội lại không được cung cấp thêm những hiểu biết chân thực về lịch sử, một giai đoạn đau buồn của dân tộc”.

Bài báo cũng dẫn lời nhà sử học Dương Trung Quốc “Với những vấn đề này, chúng ta không nên né tránh để ít nhất nhân dân không nghi ngờ về quá khứ”,

Trên mạng internet, tràn ngập những bài viết kể về một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử dân tộc, khơi dậy những đau thương mà người ta kìm nén sáu chục năm nay, nay có dịp bùng lên. Phần đấu tố địa chủ – nội dung mà ban tổ chức cố tình ém nhẹm, với lý do như ông Cường đã nói là không cần thiết lại là đề tài bàn luận sôi nổi nhất. Hàng chục bài viết về chủ đề này được đưa lên mạng mỗi ngày. Riêng phần điểm tin sáng trên trang Ba Sàm hôm nay (12/9) đã có tới 34 bài nói về CCRĐ. Blog Tễu còn kỳ công tập hợp đường dẫn tất cả những bài viết về CCRĐ để hầu bạn đọc Những người có cha mẹ ông bà bị đấu tố, bị bắn trong CCRĐ, nỗi uất ức kìm nén bấy lâu nay được dịp bùng lên. Họ kể về nỗi đau mất mát của gia đình, dòng họ, hệ lụy sau đó và không ngần ngại bày tỏ luôn cả lòng căm thù.

Đấu tố, xử tử địa chủ ở Miền Bắc

Có người phát hiện ra có những hình ảnh trưng bày được diễn hoặc đóng lại. Nhiều người tinh quái, tìm ngay ra những hình ảnh tương phản để vô hiệu việc tuyên truyền trong phòng trưng bày. Họ đặt bữa cơm của nông dân hồi ấy cạnh bữa ăn của nông dân hiện nay để cho thấy sáu chục năm qua, đời sống của nông dân hóa ra là… thụt lùi. Trưng bày về ngôi nhà lụp xụp của nông dân so với nhà địa chủ thì họ đưa ra hình ảnh nhà nông dân VN bây giờ cũng lụp xụp không kém và nhà quan chức thì nguy nga tráng lệ gấp nghìn lần nhà địa chủ ngày xưa. Những cảnh đấu tố, bắn giết được đưa lên cùng con số hàng trăm nghìn người bị tố oan, hàng vạn người bị giết để minh chứng cho sự “thành công” của CCRĐ. Nói về thành quả chia ruộng đất cho bần cố nông, thì bị phỏng vấn những câu hóc hiểm, như “ông nghĩ gì về việc ruộng đất hiện nay lại tập trung vào tay quan chức nhà nước và đảng cộng sản”, khiến cho người được phỏng vấn chỉ còn cách lảng.

Bữa ăn của nông dân sau cải cách và hiện nay

Tai hại hơn, nhiều người còn đem cải cách điền địa ở Miền Nam ra so sánh để cho rằng, cải cách điền địa ở miền Nam vẫn là mục tiêu người cày có ruộng nhưng không có cảnh tước đoạt, bắn giết. Nhà nước mua ruộng của địa chủ chia cho nông dân. “Nhiều quan sát viên quốc tế đã cho chương trình “Người Cày Có Ruộng” là một trong những chương trình cải cách điền địa thành công nhất ở các nước hậu tiến. Nó là điểm vàng son của nền Đệ nhị Cộng hòa”. Chương trình này đã tạo ra một tầng lớp tiểu nông đông đảo, thúc đẩy kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp phát triển. Nông dân hăng hái sản xuất và năng suất lao động trong sản xuất lúa gạo tăng lên nhanh chóng. Đời sống của nông dân được cải thiện”

Trái phiếu thu mua đất của địa chủ để cấp cho nông dân trong cải cách điền địa ở miền Nam

Cũng là mục tiêu người cầy có ruộng nhưng công hay tội thành công hay thất bại là ở cách làm. Tại sao nông dân vẫn có ruộng nhưng ở Miền Bắc phải cướp đoạt, phải bắn giết, gieo rắc hận thù, làm đảo lộn gia phong còn ở Miền Nam thì không?

Bất ngờ, ngày 12/9, gần trăm dân oan Dương Nội trong đồng phục dân oan kéo nhau đến đòi xem triển lãm. BTC đối phó bằng cách bắt cởi áo dân oan rồi mới được vào. Ai dè họ cũng cởi phắt ra luôn nhưng cũng không vào được vì BTC thông báo tạm thời đóng cửa do sự cố …ánh sáng.

Được biết, phòng trưng bày sẽ mở cửa đến 31/12/2014, nghĩa là tới 4 tháng lận. Thế nhưng mới mở cửa được mấy ngày đã xảy ra sự cố ánh sáng. Không biết thực hư thế nào nhưng nhiều ý kiến cho rằng chẳng qua BTC tìm cách đối phó mà thôi.


Mới chỉ có mấy hôm mà những thông tin về hiệu ứng của triển lãm xem ra theo xu hướng bất lợi so với mục đích ban đầu. Còn những ba tháng rưỡi nữa, không biết rồi sẽ xảy ra những chuyện gì? Kéo dài đến hết năm có vẻ thật là khó. Còn đóng cửa ư? Giải thích với công luận thế nào đây? Lý do về sự cố ánh sáng, điện đóm không thể đưa ra mãi. Dân oan Dương Nội còn “dọa” sẽ tìm cách vào phòng triển lãm cho bằng được.

Hình như khi triển khai dự án này, Ban tổ chức không lường trước được hệ quả. Hướng tới cho người dân về thành quả của CCRĐ đâu không biết, chỉ thấy những phản ứng bất bình.

Rất khó hiểu về cuộc triển lãm này. Thực sự người ta không hiểu nổi họ tính toán ra sao để cho mục đích đạt được. Trao đổi với tôi về việc này, tiến sĩ Nguyễn Văn Khải cho rằng, có gì đâu, nó bày ra để lấy tiền dự án thôi mà. Nhưng cũng có người nói tay nào thầy dùi tổ chức triển lãm này nếu không ngu thì cũng là thằng đểu.

12/9/2014

Đức Thánh Cha Phanxicô chào đón người đàn ông bị liệt đã bất chấp mọi sự để nhìn thấy ngài

Đức Thánh Cha Phanxicô chào đón người đàn ông bị liệt đã bất chấp mọi sự để nhìn thấy ngài

Chuacuuthe.com

VRNs (13.09.2014) – Một người đàn ông bị liệt từ cổ trở xuống đã tham dự buổi tiếp kiến chung của Đức Thánh Cha Phanxicô, nói rằng ông đã di chuyển một cách cực kỳ nguy hiểm vì muốn tự trải nghiệm tính độc đáo của Giáo hoàng.

Salvatore D’Argento nói với CNA ngày 10 tháng 9 rằng ông đến với buổi tiếp kiến chung vì “nhân cách của Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Ngài không phải là một giáo hoàng bình thường. “

Bị nằm trên giường từ khi 24 tuổi do một tai nạn trong khi tập judo, người đàn ông Ý năm nay 42 tuổi này là người đầu tiên được Đức Giáo Hoàng Phanxicô chào đón khi ngài xuất hiện từ cửa Vatican đón khách hành hương.

ĐTC đã ra khỏi xe để xuống chúc lành cho D’Argento nằm liệt giường, Đức Thánh Cha Phanxicô đến gần anh, ngài nhẹ nhàng đặt tay trên đầu anh và trao đổi vài lời với anh ta trước khi chào hỏi mẹ của anh và ban phép lành cho họ.

140912-DTC

Đức Thánh Cha Phanxicô chào đón anh Salvatore D’argento hôm 10/9/2014. Credit: Alan Holdren/CNA.

D’Argento chỉ nhấp nháy môi mà không phát ra âm thanh. Mẹ của anh giải thích rằng “không có lời nào thích hợp để diễn tả” khi được gặp gỡ Đức Giáo Hoàng Phanxicô. “Ngài là một người cần phải gặp. Một con người hiệp nhất.”

D’Argento sống ở nhà tại Chieti, Ý từ năm 1995 và chỉ rời khỏi phòng của anh hai lần kể từ sau vụ tai nạn vì việc đó rất nguy hiểm đối với anh. Đây là lần thứ hai anh đến để được gặp Đức Giáo hoàng Phanxicô.

Ông Achille Cavallo, bác sĩ cấp cứu của anh cũng có mặt với anh tại Quảng trường Thánh Phêrô, giải thích với CNA rằng: “Tôi biết anh ta từ vụ tai nạn. Việc quan trọng của anh ta ở đây là để được nói. “

Bác sĩ giải thích rằng họ thức dậy lúc 3:30 sáng và đến đây bằng xe cứu thương. Vị bác sĩ nói: “Rất nguy hiểm khi đưa anh ta ra ngoài … (nhưng) việc này thật chính đáng.”

Achille nói khi lần đầu tiên D’Argento bày tỏ mong muốn gặp Đức Thánh Cha, ông rất lo lắng vì những khó khăn liên quan đến việc di chuyển của anh ta.

Bác sĩ Achille cho biết trước khi bị tai nạn, d’Argento đang theo học công nghệ thông tin.

Mặc dù đời sống của anh hiện nay bị giới hạn trong phòng, nhưng d’Argento lại là một lập trình viên bằng Linux với “một khối óc tuyệt vời.”

Hiếu Minh

Nhà văn Phạm Viết Đào được tự do sau khi mãn hạn tù

Nhà văn Phạm Viết Đào được tự do sau khi mãn hạn tù

Phiên xử nhà văn Phạm Việt Đào tại Hà Nội ngày 19/03/2014 - @RSF

Phiên xử nhà văn Phạm Việt Đào tại Hà Nội ngày 19/03/2014 – @RSF

Thanh Phương

Nhà văn Phạm Viết Đoàn, bị tuyên án tù với tội danh « lợi dụng các quyền tự do dân chủ », đã được tự do hôm nay, 13/09/2014, sau khi mãn hạn tù 15 tháng. Ông Phạm Viết Đào đã bị công an Hà Nội bắt ngày 13/06/2013 và đã bị đưa ra tòa ngày 19/03 vừa qua, với tội danh « lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân », chiếu theo điều 258, bộ Luật Hình sự Việt Nam.

Lý do là vì ông Phạm Viết Đào đã lập ra ba trang để viết và đăng tải những bài có nội dung bị xem là « nói xấu, xuyên tạc, bôi nhọ, công kích Đảng, Nhà nước, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. »

Với tội danh nói trên, nhà văn Phạm Viết Đào đã bị kết án 15 tháng tù giam, thời hạn thi hành án tính từ lúc bị bắt, tức là từ ngày 13/06 năm ngoái và hôm nay là đúng ngày mãn hạn tù.

Trong một thông cáo đề ngày 19/03/2014, tức là ngay sau phiên xử, tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF), trụ sở tại Paris, đã chỉ trích bản án 15 tháng tù dành cho blogger Phạm Viết Đào. Theo Phóng viên không biên giới, bản án này cho thấy Việt Nam « dấn sâu vào chế độ độc tài ».

Theo một nguồn tin từ Hà Nội, khác với những tù nhân khác bị giam tù vì những tội liên quan đến an ninh, công an không đưa nhà văn Phạm Viết Đào về giao lại cho địa phương quản lý, mà để cho gia đình lên tận trại giam ở Phủ Lý, Hà Nam để đón ông về. Trên nguyên tắc, ông sẽ về đến Hà Nội tối nay 13/09/2014.

Thứ năm vừa qua, ngày 11/09/2014, một nhà văn khác là Nguyễn Xuân Nghĩa cũng vừa mãn hạn tù và được tự do, sau 6 năm bị giam cầm vì tội « tuyên truyền chống Nhà nước ». Ông bị bắt giữ cùng nhiều nhà hoạt động khác trong đợt đàn áp vào tháng 09/2008.

 

Phát triển kinh tế tư nhân: khẩu hiệu suông

Phát triển kinh tế tư nhân: khẩu hiệu suông

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2014-09-13

namnguyen09132014.mp3

000_Hkg10094608.jpg

Một cửa hàng bán sỉ bia và nước giải khát tại Hà Nội hôm 8/9/2014.

AFP PHOTO/HOANG DINH Nam

Những đứa con bị hắt hủi?

Nhà nước Việt Nam vẫn chưa nhận thức đúng vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân, do vậy mọi nguồn lực vẫn ưu tiên cho doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp tư nhân được ví von là phải chịu số phận của những đứa con bị hắt hủi.

Những số liệu về tổng số doanh nghiệp ở Việt Nam khá mù mờ. Theo Bộ Kế hoạch đầu tư tính đến cuối năm 2013, khoảng 650.000 doanh nghiệp có đăng ký thành lập trên cả nước. Tuy vậy có thể chỉ còn khoảng 360.000 doanh nghiệp hoặc ít hơn đang thực sự còn hoạt động.  Theo Tổng Thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Phạm Thị Thu Hằng phát biểu tại cuộc Hội thảo ngày 9/9/2014 tại Hà Nội, doanh nghiệp tư nhân chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp ở Việt Nam tính đến năm 2012. Nhưng toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân chỉ chiếm 42% tổng nguồn vốn. Tuy bà Hằng không nói ra, nhưng có thể hiểu rằng doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI chỉ chiếm khoảng 2%-3% tổng lượng doanh nghiệp nhưng lại sử dụng phần vốn lớn hơn của nền kinh tế. Thật không ngạc nhiên khi tường thuật cuộc Hội thảo, SaigonTimes Online đã ví von “Khu vực kinh tế tư nhân vẫn chỉ là đứa con bị hắt hủi, cho dù Nhà nước đã có một số chính sách hỗ trợ.”

Sự phân bổ nguồn lực của Việt Nam rất kém hiệu quả và không hợp lý. Khối kinh tế Nhà nước thì thu hút tới 65% tổng tín dụng, nhưng chỉ sản xuất ra được 28% tổng sản phẩm xã hội.
-TS Lê Đăng Doanh

TS Lê Đăng Doanh chuyên gia kinh tế độc lập ở Hà Nội từng có nhận định:

“Một trong những chức năng cơ bản của Nhà nước là phân bố nguồn lực một cách hợp lý, để bảo đảm sự phát triển xã hội và tăng trưởng của nền kinh tế. Nhưng nhìn lại thì thấy sự phân bổ nguồn lực của Việt Nam rất kém hiệu quả và không hợp lý. Khối kinh tế Nhà nước thì thu hút tới 65% tổng tín dụng, nhưng chỉ sản xuất ra được 28% tổng sản phẩm xã hội.”

Trong tư liệu của chúng tôi, TS Lê Đăng Doanh cho rằng, số liệu của Tổng Cục Thống Kê ghi nhận khối kinh tế nhà nước đóng góp tới 34% tổng sản phẩm xã hội là đã gộp luôn cả đóng góp của quốc phòng, của bộ máy hành chính, của thể dục thể thao…

Được biết các số liệu thống kê của cơ quan nhà nước Việt Nam công bố thường có sai biệt lớn với các nguồn độc lập.

Về vấn đề doanh nghiệp tư nhân gặp quá nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh, phải đóng của hàng loạt trong khi nhà nước vẫn chú trọng ưu tiên khu vực doanh nghiệp nhà nước, hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành từ Hà Nội nhận định:

“Hiện trạng bây giờ những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ không có hiệu quả kinh tế. Chỉ số ICOR tỷ lệ đầu tư đưa ra sản xuất rất là tệ, nhưng mà chúng ta vẫn nói đó là chủ đạo thì làm sao được. Vì vậy tư duy của lãnh đạo nhà nước là phải xem lại quan niệm của mình, trách nhiệm của mình đối với nền kinh tế là gì. Trong khi đó phần dân doanh tuy gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng lại thể hiện hơn 50% tổng sản phẩm quốc nội. Bằng chứng là doanh nghiệp dân doanh đã tạo ra bao nhiêu công việc làm mà nhà nước không làm được…”

000_Hkg9758500-400.jpg

Một chi nhánh Ngân hàng Quân đội (MB Bank) ở Hà Nội hôm 25/4/2014. AFP PHOTO / HOANG DINH Nam.

Ông Bùi Kiến Thành cho rằng khu vực kinh tế tư nhân tự bơi một mình, sự tiếp cận tín dụng ngân hàng là cực kỳ khó khăn. Ông nói:

“Chúng tôi cho là không có chính sách ủng hộ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp dân doanh phát triển. Thậm chí có những chuyện hết sức đơn giản, chính sách tiền tệ để tạo nguồn tín dụng cần thiết cho cả nền kinh tế hoạt động chúng ta cũng chưa nắm được…chưa nắm được thể chế cơ bản của chính sách tiền tệ là cái gì… Ngân hàng Nhà nước hiện đương làm gì, có phải là một Ngân hàng Trung ương hay không… Nhà nước có phận sự cung cấp tín dụng đầy đủ cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững, dân doanh cũng như quốc doanh không thể nào mà để cho ruộng khô lúa cháy được, cũng không thể nào khi ruộng đang khô như thế mà anh tưới nước nóng vào cho nó chết thêm với lại những loại lãi suất trời ơi đất hỡi… ”

Đối xử không bình đẳng

Trở lại cuộc hội thảo do Bộ Kế hoạch Đầu tư tổ chức tại Hà Nội ngày 9/9/2014, Tổng Thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Phạm Thị Thu Hằng được SaigonTimes Online trích lời đã nhìn nhận: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ dân doanh chưa thực sự được đối xử bình đẳng với khối doanh nghiệp nhà nước và đầu tư nước ngoài… nhiều doanh nghiệp tư nhân không có cơ hội phát triển khi gần đây đã xuất hiện chủ nghĩa thân hữu. Hơn nữa thủ tục hành chính phiền hà vẫn cản trở đối với khu vực kinh tế này…”

Tổng Thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam không giải thích cũng không đưa ra các ví dụ về chủ nghĩa thân hữu cản trở sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân.

Chủ nghĩa thân hữu là bạn bè thân quen thì anh được sự ưu đãi, anh không bạn bè thì tôi quên anh đi. Bạn bè là cái gì, bạn bè là anh có phong bao phong bì cho tôi hay không.
-Bùi Kiến Thành

Có thể hiểu sự tác động của chủ nghĩa thân hữu như thế nào? Chuyên gia Bùi Kiến Thành phân tích:

“Chủ nghĩa thân hữu là bạn bè thân quen thì anh được sự ưu đãi, anh không bạn bè thì tôi quên anh đi. Bạn bè là cái gì, bạn bè là anh có phong bao phong bì cho tôi hay không, chứ không phải bạn bè ngồi đó nói chuyện chơi với nhau được. Nói chung dùng cái từ ngữ để nói chế độ này nó đương ở trong tình trạng tham nhũng nghiêm trọng. Từ thành thị tới thôn quê từ cấp cao nhất tới cấp thấp nhất của vấn đề quản lý nhà nước. Việc này Nghị quyết Trung ương 4 đã nói rõ từ hai năm nay rồi, vấn đề này nó ảnh hưởng sự sống còn tồn vong của Đảng và của chế độ này. Nghị quyết Trung ương của Bộ Chính trị nói rõ như thế mà chúng ta không làm gì cả, đấy là trách nhiệm của người quản lý nhà nước và quản lý chính trị của đất nước Việt Nam này.”

Theo Ngân hàng Thế giới, khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam chưa được phát triển theo mức cần phải có và hoạt động với nhiều rào cản. Dù vậy hiện nay doanh nghiệp tư nhân sử dụng vốn có hiệu quả hơn hẳn doanh nghiệp nhà nước. Thí dụ mỗi một đơn vị vốn bổ sung thì khu vực doanh nghiệp tư nhân tạo ra doanh thu bổ sung nhiều gấp ba lần so với doanh nghiệp nhà nước.

Ngân hàng Thế giới từng kêu gọi Việt Nam xóa bỏ độc quyền tạo sân chơi bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế. Nếu được như vậy thì khu vực tư nhân sẽ phát triển mạnh và tạo ra nhiều công việc làm hơn nữa góp phần phát triển đất nước.

Dù Hiến pháp 2013 của Việt Nam tiếp tục nhìn nhận sự chủ đạo của kinh tế nhà nước. Nhưng việc Việt Nam hội nhập sâu với thế giới, tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do, lại chính là động lực buộc nhà nước cải cách sâu rộng hơn về pháp luật kinh doanh và đầu tư và chịu nhiều áp lực hơn về xóa bỏ độc quyền, đặc quyền, đặc lợi của tổng công ty doanh nghiệp nhà nước.

Triển lãm CCRĐ: Khoét thêm vết thương để bao che tội ác? – Phần I

Triển lãm CCRĐ: Khoét thêm vết thương để bao che tội ác? – Phần I

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Tôi sinh ra sau khi cuộc “Cải cách ruộng đất” (CCRĐ) được thực hiện xong. Khi tôi có chút hiểu biết thì những sự kiện đã xảy ra trước đó cả chục năm vẫn hàng ngày, hàng giờ được nhắc lại như một nỗi kinh hoàng. Nỗi kinh hoàng đó không phải là bom rơi, đạn lạc, người chết hay lũ lụt… mà nó hiển hiện và tồn tại trong từng công việc, từng cách nghĩ, việc làm của người dân Việt Nam đã chịu ảnh hưởng từ “cuộc cách mạng long trời lở đất” trước đó được gọi là CCRĐ.

clip_image001

“Long” và “lở”

Ở cuộc cách mạng đó, điều duy nhất đạt được thành công rõ nét nhất, chính là sự phá hủy nhanh chóng một nền văn hóa Việt Nam được xây dựng qua cả ngàn năm và thường xuyên được coi là nền văn hiến quý báu từ lâu đời.

Cuộc CCRĐ với khẩu hiệu rất đơn giản, hiền lành “Người cày có ruộng” đã nhanh chóng đưa cả xã hội Việt Nam với con số nông dân chiếm tuyệt đối lao vào một cơn cuồng nộ cướp, phá, giết… bất chấp tất cả những nguyên tắc xã hội xưa nay là bảo vệ sự công bằng, bác ái và nhân hậu, trật tự và luân lý. Ở cuộc CCRĐ đó, những giá trị tinh thần bị hủy hoại rất thành công. Những hiện tượng con đấu cha, vợ tố chồng vốn là điều tối kỵ trong truyền thống văn hóa Việt Nam từ ngàn đời không hề được dung dưỡng, này được dịp tha hồ thể hiện để “lập công”.

Có thể nói, cuộc CCRĐ đã thật sự làm “long” và “lở” không chỉ là trời đất, mà thực sự đã làm long, lở và sụp đổ, tan rã một hệ thống đạo đức, văn hiến tự ngàn đời. Nhà văn Dương Thu Hương có viết, đại ý rằng: Đất nước Việt Nam đã qua lịch sử cả ngàn năm, trải qua bao nhiêu chế độ. Nhưng, chưa có một chế độ nào có thể làm cho con đấu cha, vợ tố chồng, con gái, con dâu vu cáo cha đẻ, bố chồng cưỡng hiếp mình. Chỉ có chế độ Cộng sản làm được điều “vĩ đại” đó mà thôi.

Và cứ thế, xã hội đi vào cơn trầm luân của chủ nghĩa vô thần, vô luân, vô luật pháp. Kể từ đó, cái gọi là “vô sản”, cái sự “nghèo” được coi là môt phẩm chất tốt đẹp nhất để tiến thân trong xã hội cộng sản. Sự phân tầng xã hội căn cứ vào mức độ “nghèo” của cá nhân đạt đến mức nào. Có thể nói rằng: Trừ giai đoạn những người Cộng sản lộ nguyên hình là các tư bản đỏ, phần trước đó, sự nghèo khó là tấm áo khoác của hầu như toàn bộ bộ máy lãnh đạo, là nấc thang, là tiêu chuẩn cho việc thăng quan, tiến chức và cầm quyền trong xã hội Việt Nam.

Câu khẩu hiệu “Trí, Phú, Địa, Hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” của Trần Phú Tổng bí thư Đảng CS được dùng như một câu Kinh Thánh trong mọi hành động xã hội, đã nhanh chóng đưa Việt Nam vượt ra khỏi ranh giới xã hội loài người. Cái gọi là “thành phần” xuất hiện trong CCRĐ thời đó, cho đến nay tròn 60 năm sau vẫn ám ảnh trong từng tờ hồ sơ, lý lịch của các em nhỏ đến trường, dù chúng chẳng hiểu “thành phần” nghĩa là cái gì và từ đâu ra.

Dần dần theo với thời gian, với những lo toan của cuộc sống đầy gian nan vì kinh tế, giá cả, độc hại, môi trường… người ta nguôi ngoai dần với những tội ác mà cái gọi là CCRĐ đã gây ra cho dân tộc. Cả xã hội, cả đất nước gồng mình lên qua bao cuộc chiến tranh và cố quên đi những nhức nhối, lở loét, hận thù âm ỉ trong lòng người nông dân xuất phát từ cuộc CCRĐ đã qua.

Bỗng nhiên, hôm nay nhà nước mở “Triển lãm về Cải cách ruộng đất tại Hà Nội”.

Ngay từ khi nghe tin có cuộc triển lãm về Cải cách ruộng đất tại Hà Nội, nhiều người đã tỏ ý nghi ngờ về mục đích và nội dung của nó. Nhiều câu hỏi được đặt ra: Tại sao sau 60 năm, giờ nhà nước Cộng sản mới nói đến CCRĐ? Phải chăng, họ muốn thật sự nhìn nhận lại những sai lầm, những hậu quả để rút kinh nghiệm? Phải chăng, đã đến lúc nhà cầm quyền CSVN hiểu rằng không thể có điều gì giấu kín mãi được. Khi mà sự bưng bít đang được thực hiện, thì những tác phẩm như Ba người khác của Tô Hoài, Đêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên và mới đây là Đèn Cù của Trần Đĩnh sẽ còn hấp dẫn bạn đọc trong và ngoài nước.

Và để hóa giải những điều đó, đảng đã dám “nhìn thẳng vào sự thật” như lời đảng tuyên bố cách đây… 30 năm?

Những câu hỏi đó, thôi thúc chúng tôi đến khai mạc “Trưng bày chuyên đề về Cải cách ruộng đất 1946-1957″ tại 25 Tôn Đản, Hà Nội.

Triển lãm hay cuộc đấu tố mới?

Khi chúng tôi đến, thủ tục khai trương Triển lãm đã bắt đầu. Theo như Ban tổ chức, thì việc triển lãm là nhằm để “cho thế hệ sau hiểu hơn về CCRĐ”. Thế nhưng, nhìn vào đám người tập trung khoảng vài ba chục ở buổi khai trương, người ta mới cảm nhận được rằng: Sau mấy chục năm dưới sự lãnh đạo của đảng, thế hệ trẻ ngày nay cho rằng sự quan tâm đến những vấn đề ngoài bản thân mình là điều xa xỉ. Tập trung xem triển lãm, chủ yếu là mấy ông già hoặc công an, cán bộ, một số các cháu gái phục vụ với áo dài đỏ lăng xăng đi lại cầm băng đỏ và kéo. hàng loạt các phóng viên truyền hình, quay phim tua tủa. Chỉ có vậy.

clip_image002

clip_image003

Ông Nguyễn Văn Cường, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia lên phát biểu: “Cải cách ruộng đất là một cuộc cách mạng dân chủ ‘long trời lở đất’, mang lại những giá trị to lớn của một xã hội mới, một chế độ mới, một cuộc sống mới cho người dân Việt Nam”.

Chưa rõ cái “dân chủ” cái “giá trị to lớn” của CCRĐ ở đâu, người ta chỉ biết rằng đó là một cuộc cướp bóc trắng trợn và được cả xã hội tiến hành dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản. Hậu quả của nó là hàng trăm ngàn con người bị cướp bóc, ảnh hưởng, hàng loạt người bị giết chết bằng nhiều cách. Thậm chí là ngay cả những người là ân nhân của Đảng cũng không thoát bày tay của đảng đưa sang thế giới bên kia mà miệng vẫn hô vang “bác” và đảng muôn năm(!).

Thế rồi, tất cả vào khu gian trưng bày hiện vật triển lãm. Không gian của Triển lãm trong một căn phòng khá rộng, hơn 200 mét vuông.

Cũng không có gì lạ khi nhìn hình thức bài trí của Triển lãm này. Nếu như, người ta kinh hoàng đến tận ngày nay các buổi đấu tố địa chủ khi xưa, thì bây giờ vào xem lại Triển lãm này, người ta sẽ thấy rõ tư duy đấu tố đang được lặp lại dưới hình thức “Trưng bày hiện vật”.

Đó là khu vực tố cáo đời sống “sung sướng, giàu có bọn địa chủ”, nào là cái điếu hút thuốc, đôi giày thêu, chiếc ấm đồng, cái sập gụ… tất cả đều được đưa ra ghép vào tội ác của bọn địa chủ, phong kiến.

Một vị nhìn phương phi, mặc chiếc áo xám có hình cờ Việt Nam như các đại biểu Quốc hội vẫn đeo đi cùng với vài quan chức của nhà bảo tàng. đám báo chí chĩa máy quay, máy ảnh vào đó đi từng bước. Tôi đi bên cạnh một vòng theo chiều kim đồng hồ bám dọc tường. Lời cô thuyết minh viên leo lẻo: “Nhữn hiện vật này chứng minh rằng bọn địa chủ bóc lột nhân dân ta thậm tệ”. Thế nhưng, có lẽ chính cô ta không hiểu từ “bóc lột” nó có nghĩa như thế nào và trong những thứ được trưng bày ở đây, thứ nào là bóc, thứ nào được lột và từ đâu.

Đi bên cạnh, cô thuyết minh viên áo đỏ liên tục: “CCRĐ xóa bỏ chế độ người bóc lột người, là cách mạng về quan hệ sản xuất và nông dân đổi đời…” và rất nhiều ngôn từ như xưa nay đảng vẫn nói.

clip_image004

Tôi quay lại nói với vị này: “Quan chức Cộng sản ngày nay thì đất đai, nhà cửa, ăn chơi còn gấp trăm lần địa chủ phong kiến trước đây. Mà tất cả là từ tiền tham nhũng của dân, còn địa chủ phong kiến ngày xưa có ăn chơi cũng là tiền của họ. Bây giờ có ông quan hàng trăm ha đất như Chủ tịch Bình Dương thì bọn địa chủ sao so được anh nhỉ?”

Qua chỗ hai người kéo cày, tôi bảo: “Bây giờ khác xưa rồi, bây giờ có tận bốn đứa học sinh kéo bừa cơ”. Mọi người cười ồ, ông quan này cũng gật đầu đồng tình làm mình thấy lạ là một ông quan có thái độ vui thế. Đi một đoạn, ông hỏi: Ở huyện nào đấy? Không hiểu ông định hỏi quê quán hay nơi ở nhưng không tiện hỏi lại, nên tôi trả lời: Tôi ở ngay HN đây thôi. Và cứ thắc mắc không biết ông này là ai.

clip_image005

Cho đến khi về nhà mới biết đó là ông Lê Như Tiến – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên, Nhi đồng của Quốc hội. Chính ông này đòi phải ra nghị quyết về Biển Đông hôm trước.

Có thể nói, những hiện vật trưng bày trong cái gọi là Triển lãm này là một mô hình đấu tố mới, nhằm lấp liếm, bào chữa cho những tội ác đối với ngay cả những đồng bào của mình, đối với những người có đầu óc và tri thức làm giàu cho quê hương đất nước. Bỗng dưng một ngày đẹp trời họ được hưởng nhờ thành quả Mác – Lenin xếp họ vào “giai cấp bóc lột”. Và họ bị cướp đoạt, bị tra tấn, bị bắn, bị giết và “CCRĐ hoàn thành thắng lợi”.

Cố thuyết minh viên chỉ vào hai chiếc áo rách mà rằng:“Đây là hai chiếc áo của nông dân, bị bọn địa chủ bóc lột thậm tệ. Nhưng không phải tất cả các địa chủ đều xấu, mà vẫn có những địa chủ tốt”. Khi hết buổi thuyết minh, tôi nói với cô ta: “Cô thuộc bài, nhưng nói có những địa chủ tốt là sai”. Cô ta hỏi lại: “Sai chỗ nào ạ”. Tôi đáp:“Cô có hiểu Trần Phú đã viết Trí, Phú, Địa, Hào đào tận gốc, trốc tận rễ” hay không mà bảo có địa chủ tốt? Tốt sao phải đào?”. Cô ta ấp úng: “Nhưng mà những điều đó đã qua hơn 50 năm rồi ạ”. Tôi hỏi lại: “Vậy sao chiếc áo rách này hơn 50 năm vẫn còn giữ?”. Cả phòng triễn lãm cười vang.

Thật ra, tranh luận với cô ta thì chẳng có mấy tác dụng. Nhưng điều thú vị, là chính những người tham gia vào xem triển lãm lại là những người luôn có những cái thở dài và lắc đầu ngán ngẩm mà không dám phản ứng khi bên cạnh, bên ngoài là hàng loạt công an. Một người chụp ảnh liên tục các hiện vật lầm bầm trong miệng: “Đ.M, cứ tưởng là chúng nó phục thiện, biết nhận lỗi, ai ngờ lại bày trò lưu manh này ra”.

Và khi chụp hình xong, anh ta kết luận: “Thôi, cái hay hôm nay, là chúng nó đưa ra để dân biết rằng cái giai cấp địa chủ, phong kiến ngày xưa chẳng là cái đ. gì so với bọn quan cộng sản tham nhũng hôm nay”.

clip_image006

clip_image007

clip_image008

(Còn tiếp)

Hà Nội, Ngày 9/9/2014