Tản Mạn Về Kiên Giang, Nhà Thơ Minh Hương Việt Hóa

Tản Mạn Về Kiên Giang, Nhà Thơ Minh Hương Việt Hóa

Vietbao.com

Trong văn chương Việt Nam hiện đại có một sự kiện đặc biệt là ba thơ-truyện của ba nhà thơ Bắc Trung Nam nổi tiếng lại xuất hiện rất gần nhau, cuối thập niên 40 và đầu thập niên 50. Cả ba đều đã được phổ nhạc, phổ rất đạt, tiếng nhạc lời ca tuy có tăng gia thêm giá trị cho các bài thơ, đem tác phẩm đến người thưởng thức nhiều hơn, nhưng trên căn bản cả ba bài đều được công nhận là tuyệt tác, đáng nể. Mỗi bài có giá trị riêng nhưng lớp người thưởng thức chung quy chỉ là một nhóm: dễ ngậm ngùi vì sự bi thiết của một tình yêu có người nữ bất hạnh, có chia ly mà không có tái hợp vốn nghịch lại với sở thích truyền thống của người nghe/đọc Việt Nam. Hữu Loan và Kiên Giang với người vợ/người yêu bất hạnh, Vũ Anh Khanh với vùng quê tan tác vì bom đạn – mà ta có thể coi là tượng trưng cho sự tan tác của một cành hoa, một người nữ không may.

Tại sao họ sáng tác ngược lại với sở thích chung lâu đài mà lại được ưa thích? Phải chăng vì cảm quan con người gần đây đã đổi thay? Cũng có thể người nghe đọc thơ-truyện đó thì liên tưởng đến sự bi thương của mình hay người thân, ít ra cũng là sư bi thương của một ai đó sống trong thời đại nầy, cách câu chuyện thiệt của ba tác giả không xa.

Người ta đọc thơ của họ, thấy liền trước mắt hình ảnh từ sự thật, cho nên dễ hóa mình là một phần tử của câu chuyện, hay đi xa hơn một chút, sự kiện đó, bi kịch đó mình đã thấy hoặc đã xảy ra cho mình. Tác giả đem chính đời họ để nói giùm người thưởng thức, vì có sự tương tác và đồng cảm nên tác phẩm được chào đón nhiều.

Hữu Loan kể về người vợ đầu tiên, người vợ ông coi như tình yêu em gái, trong sáng với thương yêu che chở, Kiên Giang với cô Nguyễn thị Nhiều bạn học, từng trao đổi bài vở, buông bắt chuyện không đâu vô đâu với những ánh mắt tha thiết không bao giờ nói và nhất là không hứa gì nhưng là hứa trong tâm tư rất nhiều. Vũ Anh Khanh là chuyến về Trảng Bàng chơi nhà bạn văn đồng tư tưởng, ghé họ đạo Tha La, xúc động trước sự hoang tàn do chiến tranh tác động lên đời sống của dân xóm đạo hiền lành khiến cho hầu hết thanh niên trong xóm tức giận quyết phải lên đường làm một cái gì cho xứ sở, không cần biết sau đó là kết cuộc sẽ như thế nào…

blank

Kiên Giang Hà Huy Hà năm 2008. (Hình trên mạng)
Hữu Loan và Vũ Anh Khanh đã mất từ lâu, một người chết già sau thời gian dài sống đời chua xót vì bài thơ mang đến và vì thái độ phản kháng với chế độ, một người chết trẻ khi quyết lội về vùng đất tự do để được sống và viết phù hợp với đóa tài hoa của mình.

Và mới hai ngày trước đây, chiều 31/10/2014 Kiên Giang đã nằm xuống. Cái chết của thi sĩ chuyên viết thơ-truyện nầy coi như Trời cho một bonus khấm khá, 87 tuổi, sanh năm 1927, chết già, tuy rằng những tháng cuối đời phải buồn bã vì bịnh tật và nghèo khổ. Bịnh tật là do ba tháng trước ông bị xe đụng. Ôi sao những người văn nghệ già của đất nước ta bị tai nạn xe cộ nhiều như vậy! Sơn Nam trước đây, Kiên Giang bây giờ, và còn biết bao nhiêu người nữa mà ta không biết! Người già được Bác Sĩ khuyên cố tránh đừng để té ngã gãy xương, xương già khi gãy khó lành. Ta nói mà không sợ quá lố, hai cái chết nầy là kết quả trực tiếp từ những tai nạn mấy tháng trước ngày mất. Những sáng tác ấp ủ cuối đời của họ không thực hiện được vì những anh nầy ông nọ say xỉn chạy càn, phóng ẩu sau cơn vui…

Thôi! Cứ tạm an ủi nhau để khỏi bi thiết quá độ và trách móc vô ích, ta coi như số của Sơn Nam và Kiên Giang là như vậy. Hết số thì về Trời. Tác phẩm để lại cho Đời bao nhiêu đó đã đủ. Đời chỉ đáng nhận số lượng bấy nhiêu đó từ những người-Trời nầy thôi.

* * *
Tôi giao tình thân mật với Sơn Nam từ trước 75, những năm 69-79 hai người thường nhậu rượu đế ở tệ xá trên đường Chi Lăng; trước 75 thì có chút gì nhè nhẹ rẻ tiền đưa cay, sau 76 thì nhậu khan phần lớn, nhưng chỉ có dịp quen biết với Kiên Giang độ chừng mười năm nay thôi. Mười năm nhưng gặp nhau độ 5, 7 lần, khi thì ở hội quán Nghệ sĩ đường Cô Bắc, khi thì ở quán cóc đường Nguyễn Cư Trinh, hai lần sau cùng nhân đám tang nhà văn Thẩm Thệ Hà. Chúng tôi không còn trẻ nữa nên hai người chỉ nhăm nhi cà phê, Kiên Giang ly đen nhỏ với một món ăn gì đó, người ở xa về ly cà phê sữa thiệt ít cà phê. Chuyện lan man đủ thứ không ra đầu đuôi ngô khoai gì, đụng đâu nói đó. Thỉnh thoảng do thói quen cố hữu, tôi – hay người đi theo – ghi lại vài ba ý đặc biệt hoặc năm ba câu thơ của người mình nói chuyện, nhờ đó giờ đây tôi có được một vài câu thơ- miệng của Kiên Giang. Tôi gọi là thơ-miệng vì ông đọc cho tôi, và thiệt tình không biết ông có đọc cho ai khác hay đã in ở đâu chưa.

Tôi xếp Kiên Giang vô lớp nhà thơ của tình yêu: Tình yêu gái trai không trọn vẹn mà ai cũng biết, tình yêu quê hương âm ỉ, giấu giếm trong lòng, chỉ khi hứng chí tuôn ra chút chút với bạn bè có chút gì liên quan đến chữ nghĩa hay ý kiến về những chuyện xảy ra chung quanh.

Kiên Giang có lối nói chuyện thẳng thừng, gọn, không rào đón, tiếng nói mạnh, thấy trong cách nói sự ngay thẳng của người Nam. Ông thường nhấn mạnh, tôi là người gốc Hoa, có thể gọi là Minh Hương. Nhưng Minh Hương gì nữa? Tôi trở thành người Việt chánh cống lâu rồi hồi nào không biết, có lẽ do chơi thân với toàn là người Việt… rồi mất gốc luôn. Nơi đây là quê hương tôi, quê hương con cháu tôi…

blank

Bìa bản nhạc thơ Kiên Giang do Huỳnh Anh phổ. (Tài liệu từ Internet)
Tôi cảm giác sờ đụng được sự thành thật trong lời nói của người thơ kiêm soạn giả cải lương nầy. Việt Nam đã có nhiều người gốc Hoa bồi đắp cho văn chương Việt bằng tác phẩm có giá trị như Trịnh Hoài Đức, Mạc Thiên Tích, Hồ Dzếnh… có thể là cả Phan Thanh Giản và nhiều nhà thơ sành chữ Hán khác của Miền Nam nữa… Dòng máu cha sanh mẹ tạo hình thành con người sinh học của ta, nhưng chính tâm hồn và cảm thức của ta mới quan trọng, nó được cá nhân ta hoàn thiện từ từ theo thời gian và nhận thức để tạo nên con người thật là ta với bản ngã của ta. Tâm hồn Kiên Giang đáng quí ở chỗ chung thủy với người yêu, cảm thấy mình có lỗi khi không hiểu ý tình của người yêu cho nên ray rứt trường kỳ, sự ray rứt đó tạo nên thơ-truyện buồn Hoa Tím Thôi Cài Lên Mái Tóc. Ray rứt đó khiến ông thay đổi đoạn kết câu chuyện dầu rằng thoại trước đã thành công. Sự công bố câu chuyện tình yêu, công bố hình ảnh người tình quá vãn là sự biểu hiện đáng quí cái tâm hồn chung thủy của ông.

Tôi nhớ lần nào đó mình đã hỏi:

Mối tình đó anh mang trong lòng hoài làm sao chịu nổi, làm sao sống?

Và ông trả lời gần như gằn từng tiếng:

Đâu phải lúc nào cũng nhớ đâu! Nhưng mà tiếc vì mình vô tình, vì mình lo công việc riêng làm mất hụt nhiều thứ. Mình có lỗi nhiều với người ta. Nhắc nầy làm nọ cũng là cách xin lỗi người ta.

Ông chuyển đề tài hỏi tôi có đem theo quyển Lúa Sạ Miền Nam có bút tích của ông mà tôi mua được ở chợ sách cũ như đã hứa trước khi đến không. Tôi đưa ra mấy trang copy bút tích của ông, của Sơn Nam …, ông cám ơn sau khi đã coi lại cẩn thận.

Tôi ngồi nhìn người thơ lớn tuổi, điếu thuốc gắn trên môi, tàn dài chưa rớt, tay lật lật những tờ giấy, ngừng lại hơi lâu ở hình chụp chung hai người trẻ Kiên Giang và Sơn Nam, tôi ngẫm nghĩ về cách ông cẩn thận và trân trọng đối với kỷ niệm trong khi đó cũng như bạn chí cốt của ông trước đây, khi được tặng tiền đã hờ hững bỏ túi không bao giờ đếm hay sành soạn coi ít hay nhiều.

Nói chuyện với ông mấy lần tôi biết được lắm điều thú vị mà trước nay mình không biết. Chẳng hạn nhà thơ Truy Phong sống suốt đời ở quê trên cù lao Dài, quận Vũng Liêm, đã chết cách đây 4 năm. (lúc chúng tôi nói chuyện 2010), chẳng hạn như nhà văn Nguyễn Tử Quang của xứ Sóc Trăng cũng có làm thơ và ông ta ký là Vô Ngã, chẳng hạn như tuồng cải lương Trương Chi Mỵ Nương tuy để tên một mình Hà Huy Hà nhưng có sự góp sức đáng kể của Hà Triều và Hoa Phượng mà vì lý do tế nhị với đoàn hát không thể để tên ba người.

blank

Địa chỉ ông cho tôi trước khi về Long Xuyên năm 2010. Cả hai bây giờ đã trở thành hư ảo, số đt thì càng hư ảo hơn!
Tôi ngạc nhiên nhiều khi ông kiên nhẫn đọc đi đọc lại cho người chép chép bài thơ của thi sĩ Nguyễn Văn Cổn, một bài thơ quê hương nhè nhẹ kiểu thơ của thi sĩ Bàng Bá Lân, thầy tôi:

Tù-và văng vẳng nhớ quê xưa,
Nhớ bóng làng ta khuất lá dừa,
Nhớ ngọn lúa vàng bông phất phới,
Nhớ bần bên rạch ngọn đong đưa… (thơ Nguyễn Văn Cổn)

Phải yêu thắm thiết quê hương nầy mới nhớ được bài thơ ít người biết kia! Càng ngạc nhìên hơn nữa khi ông đọc vài bài thơ-miệng của mình về thời thế với nội dung mà tiếng bên đó bây giờ gọi là nhạy cảm, có vấn đề, nói chơi với nhau thì được viết lên giấy trắng mực đen thiệt là gay.

Tôi thích nhứt ba câu mà Kiên Giang nhấn mạnh trước khi đọc: Tôi làm ba câu thôi, ai muốn hiểu sao thì hiểu, ai muốn làm thêm thì cứ làm, tôi không chịu trách nhiệm:

Đĩ điếm cũng thay khung mặt nạ,
Đổi ngón nghề, lang chạ gian manh.
Hòa Bình tưởng hết chiến tranh… (thơ-miệng Kiên Giang)

Tôi ứng khẩu thêm vô câu cuối theo cái nhìn của người ở ngoài nước…, ông nghe xong chỉ cười cười không nói gì.

Có lần trước khi chia tay ông nhấn mạnh về tình người, tình bạn về cách sống của người lúc lên voi làm sao cho phải đạo và kết luận bằng cặp thơ:

Cho hay hết thảy đều tan biến,
Còn lại ngàn sau chút nghĩa tình. (thơ-miệng Kiên Giang)

Và, ông vừa nói vừa mỉm cười: – ít thấy ở ông. Có hai câu nầy cho Việt Kiều:

Dầu xa cách mấy trùng dương,
Ở đâu cũng có quê hương trong lòng. (thơ-miệng Kiên Giang)

Anh Kiên Giang! Hơi khác với trường hợp anh sanh ra và sống trọn đời ở Việt Nam nên tha thiết với quê hương phong cảnh Việt, trở thành người thuần Việt, không để ý gì đến xứ sở máu thịt Trung Hoa, chúng tôi sanh ở Việt Nam, sống thời gian dài ở nước ngoài hơn sống ở nơi mình sanh ra nên có cái quê hương của tuổi trẻ trong lòng, đồng thời cũng có cái quê hương trung niên trong trí, cái quê hương thứ hai đã bao bọc và che chở chúng tôi khi bị quyền lực trên cái quê hương thứ nhứt làm khó dễ trăm bề…

Vâng, thưa anh Kiên Giang, dẫu xa quê hương cách mấy, trong lòng những người xa xứ chúng tôi cũng canh cánh nhớ về cái quê hương đầu tiên nơi mình được sanh thành. Nhưng cũng từ lòng yêu quê hương thâm sâu đó chúng tôi đau đớn thấy nó bị bóc lột lợi dụng, ngóc đầu lên không nổi, thua kém những đất nước chung quanh….

Nguyễn Văn Sâm

(California, ngày 03 tháng 11 năm 2014)

Anh với tôi mộng canh trường

Anh với tôi mộng canh trường

Chuacuuthe.com

Mai Tá lược dịch

VRNs (05.11.2014) – Úc Đại Lợi – Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ 32 mùa Thường niên năm A 09-11-2014

“Anh với tôi mộng canh trường,”

“Giăng kề song cửa, hoa kề gối

“Anh truyện sầu, tôi truyện mến thương”.

(Dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Ga 2: 13-22

Truyện sầu hay truyện mến thương của tôi và anh, đâu chỉ là chuyện của thi ca, và âm nhạc. Truyện như thế, vẫn trải dài ở nhiều nơi, cả ở ngoài đời lẫn trong Đạo.

Rất nhiều người ở đời thường, vẫn hay tỏ bày nỗi ngạc nhiên rất mực, khi khám phá ra rằng: ngay như nhà Đạo, vẫn có chuyện phân biệt giữa đền thánh với nguyện đường, ở địa phương. Điều mà nhiều người thường nghĩ, đó là: đền thánh Phêrô không phải là Nhà Thờ Chánh Toà của Giáo phận La Mã. Thậm chí, có khách hành hương còn đến đây, để tìm cho ra ngai triều của Đức Giáo Hoàng, tức Đức Giám Mục thành Rôma, nhưng không thấy.

Có người lại cứ tưởng chiếc ghế chạm trổ công phu của thánh Phêrô đặt sau bàn thờ trên cao, là ngai-triều chính-hiệu của ngài, nhưng vẫn lầm. Có người lại cứ nghĩ: chiếc ghế di-động mà Đức Giáo Hoàng thường ngồi, là ngai triều của ngài, cũng không đúng.

Thánh đường Latêranô đích-thực là Vương Cung Thánh Đường, của La Mã. Ở nơi đó, có ngai-triều của Đức Giám Mục thành Rôma, rất đúng thực. Từ thế kỷ IV, Giáo hội dùng nơi này để cung-hiến thành chốn thánh dâng lên Chúa.

Nơi đây, mỗi năm Đức Giáo Hoàng vẫn thân-hành đến chủ-trì các nghi lễ phụng-tự, rất long trọng. Và chính tại thánh-đường này, ngài uy-nghi ngồi trên ngai-toà mình ngõ hầu ban huấn-từ, giãi-bày nhiều điều cho dân Chúa biết.

Trong cuộc sống Giáo hội, nhiều giáo hội địa phương cũng dùng việc kỷ-niệm cung-hiến thánh đường trong giáo-phận mình, coi như lễ trọng. Cung-hiến thánh-đường Latêranô, là lễ-hội toàn-cầu, nhằm nhắc ta nhớ mà hiệp-thông với Đức Giáo Hoàng, trên cương-vị ngài là Giám Mục thành La Mã.

Bằng vào cử-chỉ này, ta chứng-tỏ rằng: Giáo-hội mình là Giáo-hội của chung, rất Công giáo. Nhưng, điều đáng buồn, là: đôi khi ta cũng thấy nhiều người nghĩ rằng họ được phép chọn-lựa giữa Giám-mục địa-phận mình với cả Giám-mục thành La Mã nữa. Điều này, thật cũng có ý nghĩa, nhưng đó không phải là tính-cách chung, của Công giáo.

Nói cho cùng, dù ta có lòng mến mộ Đức Giáo Hoàng đặc-biệt thế nào đi nữa, thì tình-cảm riêng-tư của ta vẫn không dẫn đến kết-quả như một hiệp-thông với ngài. Bởi, ta chỉ có thể hiệp-thông với Đức Giáo Hoàng khi có được sự thông-hiệp ngang qua Giám-mục sở tại của mình, mà thôi.

Và, Đức Giám mục địa phận sở tại của ta cũng chủ sự cùng một Tiệc Thánh Thể như và với Đức Giám Mục thành La Mã là Đức Giáo Hoàng.

Trong cuộc sống thường-nhật, nhiều nguời cũng mắc phải sai lầm tựa như thế, cũng là điều dễ hiểu thôi. Nhiều năm qua, Hội-thánh ta vẫn tập-trung vào vai-trò của Đức Giáo Hoàng mạnh đến độ ta sẽ được tha thứ nếu nghĩ rằng Đức Giáo Hoàng chỉ là Cán bộ Cấp Cao của Giáo triều Vaticăng.

Và Đức Giám Mục sở tại lại là Giám-đốc hay Thủ-trưởng, một chi-nhánh của giới cầm-quyền.

Nên, khi Đức Giáo Hoàng ra lệnh “hãy nhảy lên”, thì ta hỏi: “Dạ thưa, cao đến cỡ nào ạ?” Thành thử, vấn-đề này xem ra hơi giống thái-độ của những người “bảo hoàng hơn vua”, luôn có nguồn sử của Hội thánh, cũng tương tự như thế.

Chính vì thế, nên Công Đồng Vatican II đã làm sáng-tỏ vai-trò của Đức Giáo Hoàng trong việc quản cai, giáo-huấn và thực-thi hiến-pháp, trong Giáo hội. Công Đồng Vatican minh định rất thận trọng, là nhằm hồi-phục chức-năng đúng-đắn khi xưa, về cương-vị lãnh-đạo của Đức Giáo Hoàng.

Công Đồng đây cho thấy, việc cai quản, giáo huấn và thi hành giáo-luật luôn chứa-đựng một bối-cảnh, vẫn có từ khi trước. Công Đông vẫn dạy rằng: Đức Giáo Hoàng thực thi cương-vị lãnh-đạo như vị thủ-lĩnh tối cao trong số các Giám mục. Ngài là mục-tử mang tính toàn-cầu. Là, dấu chỉ của sự hiệp-nhất trong Hội thánh.

Và, là người có trọng-trách giáo-huấn, duy-trì và bảo-vệ niềm tin của toàn-thể Hội thánh, ngang qua phương cách mà ngài xác nhận với những người anh em Giám mục có cùng một trọng trách trong giáo hội địa phương của các ngài.

Chính từ đó, nguồn cội của cụm từ “vâng phục” lại có ý nghĩa của sự việc “lắng nghe một cách cẩn trọng”.

Vì thế nên, Tiệc thánh hôm nay là để ta cử-hành sự hiệp-nhất trong đa-dạng, khi ta tập-trung nhấn mạnh đến Mẹ thánh Giáo-hội đối với các giáo-hội Công giáo La Mã, ở địa phương.

Cầu mong sao, từ đó ta lĩnh-hội được điều tốt đẹp để có quyết-tâm với Đức Giám Mục sở tại nơi ta sống. Bởi, ngài cũng là đấng kế-vị của các thánh tông đồ. Và, ngài cũng đáp-ứng với lời kêu gọi của Đức đương kim Giáo Hoàng giúp ngài nghĩ ra các phương-cách khả dĩ thực-hiện công việc phục-vụ Hội thánh. Đó, là “dấu chỉ” lớn lao hơn cho sự hiệp-nhất Đạo của Chúa với thế-giới nhân-trần, trong lai thời.

Cũng cầu mong sao, để mỗi người chúng ta nhớ được rằng: tinh-thần mà Tin Mừng hôm nay muốn tỏ-bày, chính là sự việc Giáo-hội cũng được dựng-xây bằng gạch hồ thật đấy. Thế nhưng, Thân Mình Rất Hiển Vinh của Đức Kitô lại vẫn được đúc-kết bằng những người con biết sống-thực tình yêu thương cứu-độ Ngài ban cho thế-giới, rất hôm nay.

Trong tinh-thần cảm-nghiệm những điều như thế, ta lại sẽ ngâm nga câu hát của nhà thơ ở trên, vẫn hát rằng:

“Anh với tôi mộng canh trường,

Giăng kề song cửa, hoa kề gối

Anh truyện sầu, tôi truyện mến thương.

Anh buồn từ thuở giăng lên núi

Ấy độ tôi về ước lại mong.”

(Đinh Hùng – Cặp Mắt Ngày Xưa)

Nỗi buồn, thuở nào cũng vẫn là buồn một nỗi thời muôn thuở. Miễn anh và tôi, ta cũng chớ buồn vì sự chênh-lệch quyền-bính ở nhà thờ và nhà Đạo, rất hôm nay. Bởi lẽ, quyền-bính với quyền-hành ngày hôm nay, dù ở nơi nào đi nữa, vẫn là vấn-đề muôn thuở của tôi và của anh, rất sáng ngời, đầy bực bõ.

Thế nên, giải quyết được tranh-chấp quyền-hành ở mọi chốn, cũng là giải quyết tận gốc mọi nỗi buồn của người con trong nhà Đạo, suốt mọi thời.

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá lược dịch

Quốc hội California lần đầu tiên có Thượng nghị sĩ gốc Việt

Quốc hội California lần đầu tiên có Thượng nghị sĩ gốc Việt

Nguoi-viet.com

Bầu cử Ðịa Hạt 34: Janet Nguyễn thắng với  62% số phiếu


Linh Nguyễn & Ðỗ Dzũng/Người Việt

SANTA ANA, California (NV) “40 năm rồi cộng đồng chúng ta mới làm nên lịch sử ngày hôm nay,” Giám Sát Viên Janet Nguyễn cảm động tuyên bố, khi kết quả của Cơ Quan Bầu Cử Orange County cho thấy bà dẫn trước đối thủ Jose Solorio 62% so với 38% vào lúc 10 giờ tối Thứ Ba, 4 Tháng Mười Một, tại nhà hàng Azteca Mexican Restaurant, Garden Grove.

Ðây là lần đầu tiên Hoa Kỳ có một thượng nghị sĩ tiểu bang gốc Việt.


Giám Sát Viên Janet Nguyễn (trái) và Luật Sư Andrew Ðỗ cùng mừng chiến thắng. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Bà nói tiếp: “Ðây là cuộc bầu cử gay go nhất trong đời tôi. Ðây là David đối chọi với Goliath, và David đã chiến thắng. Ðây là chiến thắng của cộng đồng Việt Nam chúng ta, không phải của riêng cá nhân tôi. Kết quả cuộc bầu cử này cho thấy cử tri Ðịa Hạt 34 muốn thay đổi tiểu bang California.”

“Chúng ta là tiểu bang lớn nhất Hoa Kỳ, có thu nhập cao nhất, nhưng lại bị đánh thuế nặng nhất. Ðiều này không thể chấp nhận được. Trong vai trò thượng nghị sĩ Ðịa Hạt 34, tôi sẽ tiếp tục bảo vệ Prop. 13, bảo vệ an toàn cho người dân, và bảo đảm con em chúng ta phải được vào đại học, cho dù chủng tộc của họ là gì,” bà Janet Nguyễn nói trong tiếng vỗ tay vang dội của một nhà hàng chật kín người.

Tuy nhiên, đối thủ của bà Janet Nguyễn, ông Jose Solorio, chưa chấp nhận thua cuộc.

Tại nhà hàng Original Mike’s ở Santa Ana, ông nói với nhật báo Người Việt như sau: “Vẫn còn sớm để nói ai thắng. Trong cuộc bầu cử giữa hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ, chúng tôi vẫn có thể thắng. Ðây là một cuộc tranh cử lớn và là một trận thư hùng tầm cỡ nên chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ biết kết quả sau cùng.”

Nhân dịp này, ông Solorio cũng cảm ơn cử tri gốc Việt.

Ông nói: “Tôi muốn cảm ơn người Mỹ gốc Việt ủng hộ cuộc tranh cử Thượng Viện của tôi. Tôi là người lãnh đạo cộng đồng địa phương và sẽ tiếp tục vai trò này lâu dài trong tương lai. Tôi sẽ tiếp tục phục vụ cư dân Orange County lâu dài trong tương lai.”

Ông Jose Solorio từng là nghị viên Santa Ana, rồi sau đó làm dân biểu tiểu bang, và hiện là chủ tịch Hội Ðồng Giáo Dục Ðại Học Rancho Santiago.

Nhân dịp này, bà Janet Nguyễn cũng cảm ơn tất cả mọi người ủng hộ bà, bao gồm gia đình, bạn bè, tình nguyện viên, nhân viên, và đặc biệt đồng hương Việt Nam đã giúp bà thắng cử.

Bà cũng cảm ơn các cơ quan truyền thông Việt ngữ đưa tin, làm cho cử tri gốc Việt hiểu hơn về cuộc bầu cử, và tham gia bầu cử.

“Nếu không có các cử tri gốc Việt, chúng ta sẽ không có chiến thắng ngày hôm nay,” vị giám sát viên Ðịa Hạt 1 của Orange County tuyên bố.

Bà Janet Nguyễn cũng đặc biệt cảm ơn ông Tony Lâm, nghị viên gốc Việt đầu tiên của một thành phố ở Hoa Kỳ.

“Xin cảm ơn chú Tony Lâm. Nhờ chú mở đường mà từng lớp chúng cháu mới có ngày hôm nay,” bà Janet Nguyễn nói.


Ứng cử viên Jose Solorio nói sẽ tiếp tục phục vụ cư dân Orange County. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Có mặt tại nhà hàng, ông Tony Rackauckas, chánh biện lý Orange County, cho rằng bà Janet Nguyễn rất xứng đáng thắng cử và chúc mừng cộng đồng Việt Nam.

“Tôi xin chúc mừng cộng đồng Việt Nam có một vị dân cử ở Thượng Viện. Ðây là một thành công rất đáng tự hào, và tôi nghĩ bà Janet Nguyễn rất xứng đáng với chiến thắng hôm nay,” ông Rackauckas, người chính thức ủng hộ bà Janet Nguyễn trong cuộc bầu cử này, nói với nhật báo Người Việt.

Luật Sư Michael Schroeder, cựu chủ tịch đảng Cộng Hòa California, chia sẻ: “Tôi biết Janet đã làm rất nhiều cho cộng đồng, cho quận hạt, và bà đã được cử tri tin tưởng. Tôi rất vui khi thấy bà thắng cử hôm nay.”

Giám Sát Viên Janet Nguyễn là người gốc Châu Á đầu tiên đắc cử vào Hội Ðồng Giám Sát Orange County, trong một cuộc bầu cử đặc biệt năm 2007, đại diện Ðịa Hạt 1, và lúc đó là giám sát viên trẻ nhất trong lịch sử quận hạt này. Bà tái đắc cử năm 2008. Năm 2010, bà được các đồng viện chọn làm chủ tịch Hội Ðồng Giám Sát. Bà cũng là chủ tịch Ủy Ban Giao Thông Công Cộng, phó chủ tịch Ủy Ban Thông Tin và Lập Pháp, và thành viên Ủy Ban Ðiều Hành, thuộc Cơ Quan Giao Thông Quận Cam (OCTA). Bà đại diện hơn 600,000 cư dân thuộc các thành phố Fountain Valley, Garden Grove, Santa Ana, Westminster và khu vực Midway City. Orange County được xếp hạng là quận hạt đông dân thứ 6 tại Hoa Kỳ và có ngân sách hàng năm lớn hàng thứ 7 toàn quốc.

Cuộc bầu cử hôm Thứ Ba là lần đầu tiên bà ứng cử vào Thượng Viện California.

Kết quả các cuộc bầu cử khác ở Little Saigon

Tại Fountain Valley, có ba chỗ trống trong Hội Ðồng Thành Phố, và có bốn ứng cử viên gốc Việt cùng năm ứng cử viên không phải gốc Việt.

Dẫn đầu là ông Michael Võ, đương kim thị trưởng, với 18% số phiếu. Hai người dẫn đầu kế tiếp hai nghị viên đương nhiệm, không phải là người Việt.

Tại Garden Grove, cuộc đua tranh chức thị trưởng có ba ứng cử viên, trong đó có ông Bruce Broadwater, đương kim thị trưởng, và ông Bảo Nguyễn, ủy viên Học Khu Garden Grove, và ông Abert Ayala. Hiện tại, ông Bảo đang dẫn đầu với 43.2% so với 42.3% số phiếu của ông Broadwater.

Cuộc đua vào hai ghế trống Hội Ðồng Thành Phố Garden Grove có chín ứng cử viên, trong đó có ba người gốc Việt.

Hiện tại, ông Phát Bùi dẫn đầu với 24.8% số phiếu. Hạng nhì là ông Kris Beard, nghị viên đương nhiệm, được 22.1% số phiếu.

Tại Westminster, Thị Trưởng Trí Tạ tái đắc cử dễ dàng.

Trong khi đó, có bốn người tranh hai ghế trống trong Hội Ðồng Thành Phố Westminster, trong đó có hai người gốc Việt.

Hiện tại, ông Tyler Diệp dẫn đầu với 35.4% số phiếu, và bà Margie Rice, đương kim phó thị trưởng, hạng nhì, với 28.5% số phiếu.


Một vị cao niên dặn dò bà Janet Nguyễn, sau khi biết bà thắng cử. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Cử tri Việt Nam đi bầu

Cũng trong ngày Thứ Ba, nhiều người Việt ở Little Saigon sốt sắng đi bầu từ lúc 7 giờ sáng sớm vì có ứng cử viên gốc Việt tranh cử chức vụ quan trọng tại Thượng Viện California. Hầu như bất cứ phòng phiếu nào trong khu vực tập trung người Việt này đều có nhân viên nói tiếng Việt. Phòng phiếu đóng cửa lúc 8 giờ tối cùng ngày.

Tại trường Morningside Elementary School tọa lạc tại góc đường Ward và Bowen ở Garden Grove, chị Hương Nguyễn, một nhân viên tình nguyện làm việc tại phòng phiếu, vui vẻ cho biết: “Chúng tôi có mặt tại đây từ 5 giờ sáng để chuẩn bị các máy bầu cử và danh sách cử tri đã ghi danh trước. Lúc 7 giờ sáng, chúng tôi tiếp một cử tri gốc Việt đầu tiên, ông Giàu Dương, 65 tuổi, và mời ông ký tên trên miếng băng dán thùng phiếu, chứng kiến thùng phiếu trống,” bà Hương nói.

“Năm ngoái người vào phòng phiếu đầu tiên là người Mỹ, năm nay là một người Việt. Hy vọng có tin vui cho người Việt,” chị nói thêm rồi quay ra tiếp một người khác đến bỏ phiếu.

Trước đó chị giới thiệu người trưởng nhóm, bà Maxine Scott, một nhân viên thanh tra phòng phiếu.

“Tôi rất thích làm việc với Hương và Christine vì hai người Việt này rất siêng năng và đáng tin cậy. Tôi đến đây lúc 5 giờ 15 sáng thì họ đã có mặt lúc 5 giờ rồi. Khu này đa sô dân cư là người Việt nên có họ thật là tốt,” người trưởng nhóm chia sẻ.

“Từ sáng số người bỏ phiếu khoảng 95 người và một số khác đem bỏ phiếu bầu khiếm diện chưa kịp gởi trước đây. Hy vọng tối nay con số sẽ lên khoảng 200 người,” bà Scott nói thêm.

Khi ấy tới phiên một thiếu nữ trẻ chờ bỏ phiếu, cô cho biết cảm tưởng khi đi bỏ phiếu.

“Em lần đầu đi bỏ phiếu và đến đây vì có công chuyện ở gần khu này, có bỏ phiếu ở đây được không?” cô Anna Tạ, 18 tuổi, cư dân Westminster, hỏi.

“Em vẫn có thể bỏ phiếu ngay tại đây, nhưng phải điền một bao thư cho lá phiếu tạm (provisional ballot) vì em đã không bầu phiếu tại khu vực gần nhà mình. Ủy ban bầu cử sẽ phải xem xét lại xem em có ghi danh hợp lệ chưa, trước khi đếm lá phiếu của em,” chị Hương, nhân viên phòng phiếu, giải thích.



Một cử tri gốc Việt (trái) đến bỏ phiếu tại Little Saigon. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Ðây là một tình trạng mà nhân viên phòng phiếu cho biết rất thường xảy ra. Nếu cử tri nhận được lá phiếu mẫu thì nên lưu ý chi tiết địa điểm phòng phiếu gần nơi cư ngụ nhất luôn được ghi trên tài liệu đó. Nếu đi bầu ở một nơi khác thì phải điền phiếu xin bầu bằng lá phiếu tạm, nhưng vẫn hợp pháp.

Một người khác, bà Vân Nguyễn, 45 tuổi, cư dân Garden Grove, cùng chồng và một người bạn rủ nhau đi bầu.

“Tôi qua Mỹ năm 1991 và đi bầu lần thứ ba. Lần này tôi đi bầu vì thấy dự luật quan trọng SCA5 ảnh hưởng đến việc học của các con tôi. Tôi bầu cho ai chống dự luật này,” bà Vân nói.

Tại một địa điểm khác, phòng phiếu đặt trong khu Kensington Garden Mobile Home, trên đường Bolsa, gần khu thương mại Catinat và chợ T & K, theo ông Alan Nguyễn, trưởng toán: “Số người đi bầu tại đây, tới 2 giờ chiều là khoảng 30 người.”

“Ðây là năm thứ hai tôi tình nguyện làm việc tại phòng phiếu. Tôi rất vui khi giúp được đồng hương mình,” ông nói thêm.

Cùng nhóm là ông George Nguyễn, 61 tuổi, cư dân Westminster.

“Tôi làm công việc này từ khi ông Lê Khắc Lý còn làm tại Sở Ghi Danh Bầu Cử Orange County. Tôi sẽ bỏ phiếu sau khi làm việc xong. Vợ tôi cũng đi bầu vì việc bỏ phiếu là quan trọng,” ông George nói và cho biết xưa ông phục vụ quân y tâm lý chiến và qua Mỹ năm 1975.

Vừa khi ấy thì có một người đến để bỏ phiếu.

“Tôi không kịp bầu khiếm diện vì năm nay đổi chỗ ở. Tôi phải làm sao?” ông Chung Dương hỏi.

“Không sao. Ông phải điền phiếu bầu tạm. Ðây này. Ông ra bàn ngồi cho thoải mái,” ông Alan nói.

Cũng gần khu Little Saigon, một phòng phiếu từ nhiều năm đặt tại tư gia của ông Ed Remero, 8362 Tulipwood Cir., Westminster, được nhiều người Việt đến bỏ phiếu.

“Chủ nhà đi vắng, nhờ con trai cho văn phòng bầu cử mượn đặt làm phòng phiếu. Chúng tôi có hai người nói tiếng Việt. Chúng tôi từ sáng nhận một số phiếu bầu khiếm diện và theo kinh nghiệm, có lẽ tối nay sẽ đông hơn,” ông John D. Tomlinson, 61 tuổi, trưởng nhóm, nói.

Một vị cao niên hớn hở bước ra sau khi bỏ phiếu, ông tự giới thiệu: “Tôi là Hạnh Nguyễn, tên Mỹ là Brown, 80 tuổi. Cuộc bầu cử năm nay rất quan trọng. Tôi quý những người hy sinh ra ứng cử. Tôi thay mặt bạn bè nhóm Phật tử xin được chuyển lời cám ơn các ứng cử viên. Tôi là người Việt, tôi bầu cho người Việt, nếu họ đắc cử là tôi vui rồi.”

“Tôi đi bầu lần thứ tư và qua Mỹ năm 1984. Tôi bầu cho Giám Sát Viên Janet Nguyễn. Cứ tên Việt Nam là tôi chơi, xấu tốt tính sau!” ông Xa Ðoàn, 75 tuổi, cư dân Westminster, vui vẻ nói.

Tại đây có hai người Việt tình nguyện phục vụ tại phòng phiếu, ông Tâm Nguyễn, 73 tuổi, cựu đại úy phục vụ lục Quân Công Xưởng trước năn 1975, hiện sinh sống ở Westminster và bà Minh Tâm Trần, 64 tuổi. Bà qua Mỹ năm 1986 và làm công việc này từ năm 1996 sau khi thôi công việc làm cho Tiểu Bang.

Một phòng phiếu khác đạt tại nhà thờ The Journey Evangelical Church tọa lạc tại số 14614 Magnolia St., Westminster, gần góc Hazard, cử tri người Việt đến rất đông.

“Tổng cộng tất cả khoảng 500 người, gồm cả người bỏ bao thư phiếu khiếm diện và người đến bầu tại chỗ. Tôi chắc sẽ đông hơn nữa có lẽ vì quen thuộc, tiện đường và có chỗ đậu xe dễ dàng,” ông Nicholas Rodriguez, nhân viên thanh tra, nói với báo Người Việt.

Trong khi đó, bà Kim Yến, một tình nguyện viên, chia sẻ: “Ðây là lần thứ ba tôi làm việc này. Năm nay tôi thấy vui hơn vì có chị Hường, bạn tôi cũng đi theo hôm nay.”

“Giúp được đồng hương là vui rồi. Tôi cầu sao cho người Việt mình đắc cử,” chị Hường nói.

Niềm Rực Rỡ, Niềm Đau, Lòng Tin Kính

Niềm Rực Rỡ, Niềm Đau, Lòng Tin Kính

Tác giả: Cecilia Phạm thị Mỹ Phụng

Khi xếp hàng ra xe bus tại phi trường Prague, tôi đã có cơ hội lượt mắt nhìn quanh để quan sát người dân của thành phố đã từng có thời vàng son trong nền văn minh trung cổ và phục hưng.  Chưa tìm thấy gì khác biệt nơi dòng người qua lại, tôi quay lại với tiếng nói của Cha Thụ về phân chia nhóm, dựa trên những chiếc thẻ treo vào hành lý mà Cha đã làm cho từng người.  Đoàn hành hương chúng tôi là 88 giáo dân, 1 nữ tu và 1 linh mục trưởng đoàn, được chia ra 2 nhóm để đi vào 2 chiếc xe bus lớn.  Khi phái đoàn đã đứng ra làm 2 nhóm rõ rệt, tôi mới thấy có 4 người hướng dẫn viên du lịch nói chuyện cách trân trọng với Cha Thụ.  Thật ấm áp khi nhìn thấy những người Kytô hữu ở xứ lạ có cung cách kính trọng linh mục Việt Nam.  Mọi người trong đoàn đều có vẻ mệt vì đã có hơn 10 giờ trên 2 chuyến bay.  Tuy vậy, lá thư trong sách chương trình mà Cha Thụ đã soạn, và phát ra cho từng người đọc, sau khi đã ký gửi hành lý ở Houston, làm ai cũng có dòng tư tưởng riêng.  Tôi suy nghĩ đến chương trình của Cha Thụ và đã tự hỏi tại sao lại bắt đầu ở Prague, thủ đô nước Tiệp Khắc?  Rồi mới đến nơi sinh trưởng của thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II, thánh Faustina, đến Budapest, thủ đô của xứ Hung Gia Lợi.  Ba quốc gia này có bề dày lịch sử như nhau hay sao?  Đến Roma để được dự buổi yết kiến Đức Thánh Cha Phanxico vào ngày lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, là niềm vinh hạnh và hân hoan của mọi người trong đoàn, nên chắc chắn ai cũng không thắc mắc gì.  Thêm nữa, được đặt chân đến kinh thành tràn đầy di tích của các thánh cách đây trên ngàn năm, cho đến các thánh của thế kỷ 20, là mơ ước của mọi người trong phái đoàn.

Đi bộ trên 2 chiếc cầu cũ xưa, mang màu đen của bụi bám, có mang tên chiếc cầu Charles và chiếc cầu Prague dẫn du khách vào phố xưa và phố tân thời, tôi bất chợt cảm thấy mình như được bay cao lên giữa 2 màu thời gian.  Được biết Kytô giáo đã vào nước Tiệp Khắc này từ năm 900.  Quốc gia Ba Lan và Hung Gia Lợi cũng có bề dày thời gian của lịch sử Kytô giáo như vậy.  Như thế đã có biết bao câu chuyện đã xảy ra trong không gian này, dưới dòng sông Vlata, và trên hai chiếc cầu vẫn còn nguyên vẹn các pho tượng cao hơn 2 thước của những nhân vật lịch sử, kể cả các đường nét tỉ mỉ trên những gương mặt uy nghiêm và suy tư.  Phái đoàn chúng tôi say sưa nghe Cha Thụ thông dịch về câu chuyện của 1 vị linh mục vì đã giữ kín tội của 1 nữ hoàng đã xưng, nên đã bị vua giết chết.  Sau đó ít lâu, dân trong thành phố rất kính phục nên đã cải táng vị linh mục đó để đem vể nhà thờ St. Vitus và đã thấy cái lưỡi của vị linh mục này vẫn còn nguyên trong thân xác đang tan rã.  Tôi nhận thức được rằng luật của Giáo Hội trong tòa giải tội, thật đã được Thiên Chúa toàn năng bảo vệ.

Các lâu đài nguy nga với lối kiến trúc của thời trung cổ và phục hưng cách thời nay hơn 600 năm vẫn còn sắc sảo tuyệt đẹp.  Chắc chắn, những thế hệ sau của các vị vua lỗi lạc trong xứ này, đã có nhiều người hiểu tường tận về nghệ thuật Gothic và Byzantine theo như cô hướng dẫn viên người Czech đã kể.  Họ đã giữ gìn thật đáng khen di sản phong phú của tổ tiên họ.  Tôi đã ngắm nhìn và tưởng tượng đươc thời huy hoàng của các vị vua và hoàng hậu Tiệp Khắc, đã từng cai trị 3 lãnh thổ, qua các tranh vẻ trên gỗ thật sống động.   Tiệp Khắc, Ba Lan, và Hung Gia Lợi đã có nhiều trăm năm bình yên sống bên nhau dưới quyền cai trị của những vị vua anh minh hay độc tài.

Sau khi đi viếng toà lâu đài Prague lớn nhất Châu Âu từ thế kỷ thứ 9, phái đoàn hành hương đi đến nhà thờ Đức Mẹ Khải Hoàn có tượng Chúa Giêsu Hài Đồng thật xinh tươi, làm mọi người trong đoàn đều chiêm ngưỡng tận tình.  Cho dù mang nghệ thuật của nhiều màu sắc kết cấu trong trang phục, khác với nghệ thuật nhẹ nhàng ở Châu Âu, tiếng tăm của Đức Mẹ và Chúa Giêsu trong thánh đường này, cũng đã thu hút Đức Thánh Cha Danh Dự Biển Đức XVI đến viếng, sau vài năm nhậm chức Giáo Hoàng.  Tôi dường như đã nhận ra được ý của Cha Thụ khi đưa phái đoàn đặt chân đến đây trước, vì để cho chúng tôi cảm giác được lịch sử rực rỡ của vùng trung âu.   Nền văn minh lâu dài ở nơi đây, cách nào đó đã ảnh hưởng đến khí chất của thánh Gioan Phaolo II.

Đến thành phố Wadowice của xứ Ba Lan bằng xe bus, đoàn 90 người hành hương này ai cũng có suy tư riêng vì đoạn đường trường 7 giờ lái xe.  Lidia và Isabella là 2 hướng dẫn viên du lịch người Ba Lan thật là đáng mến.  Hai cô gái này đã toát lên 1 sức sống vừa năng động, vừa đạo đức, vừa trí thức, và vừa dí dỏm làm ai cũng đầy hiếu kỳ trong những buổi ăn trưa và tối mà các cô đã dẫn đến.  Thật là sang trọng và đầy nét đặc biệt của dân tộc Ba Lan.  Trong khi trong đoàn hành hương gần một nửa là trên 55 tuổi, sự mệt mỏi tỏ lộ ra nhanh nhưng cũng mau chóng đượm được nét sinh động như những hướng dẫn viên du lịch này.

Đến viếng nơi sinh trưởng của thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II là nơi làm trái tim tôi đập mạnh theo từng lời kể của 1 nữ tu làm việc trong giáo họ Wadowice.  Cô tu sĩ này cũng trông coi luôn ngôi nhà mà thân phụ và thân mẫu của thánh Giáo Hoàng đã thuê cách đây hơn 80 năm, bây giờ là viện bảo tàng.  Người Ba Lan xem đây là Đất Thánh Giêrusalem của họ.  Cha Thụ đã thông dịch câu này trong âm sắc của lòng ngưỡng mộ.  Tôi như đang ngồi trong căn nhà của thánh Gioan Phaolo II, chứng kiến buổi cơm gia đình đầm ấm, giờ đọc kinh chung trang nghiêm, giờ cầu nguyện riêng của thân phụ thánh Gioan Phaolo II, và nếp sống ngăn nắp giản dị.   Gia đình này đã luôn bên nhau trong sinh hoạt thường nhật, nên khi chị, Mẹ, và anh, của thánh Giáo Hoàng qua đời, ngài đã thật là buồn, và thường tìm đến Đức Mẹ để đọc kinh Mân Côi với lòng sốt mến khi còn ở tuổi thiếu niên.  Thật khó có đủ lời để diễn tả cảm xúc của chúng tôi, vì ai cũng rất là yên lặng đi bên nhau để lắng nghe Cha Thụ thông dịch rất rõ ràng bên tai.

Đến quảng trường của Lâu Đài Hoàng Gia ở Krakow có từ thế kỷ 16, tôi nghe được mùi vị thanh thản nên thơ trong gió, đến từng hàng cây, tường lá được trồng rất nghệ thuật, và trên những chiếc ghế đá dưới trời mưa phùn.  Chắc thánh Gioan Phaolo II cũng đã từng đến đây đọc sách vì rất gần với trường đại học cổ kính, có từ thế kỷ 14, mà ngài đã theo học.   Hang Mỏ Muối cũng làm phái đoàn chúng tôi hiếu kỳ lắm, vì đã có in dấu chân của thánh Giáo Hoàng vào đệ nhị thế chiến.  Hơn 300 nấc thang đã xây vào năm 1978,  cho du khách đi xuống và đi vào Mỏ Muối lớn nhất Châu Âu, có từ năm 700.  Những người lớn tuổi trong đoàn đã được xử dụng thang máy, cấu trúc rất lạ, để đi xuống.  Phái đoàn của chúng tôi đã được chụp chung 1 tấm hình kỷ niệm trong ngôi nhà nguyện của Mỏ Muối.  Tấm lòng kính mến thánh Giáo Hoàng khi còn sinh tiền của những người thợ trong Mỏ Muối đã được biểu lộ xuất thần, qua những hình khắc trên vách Muối về những câu chuyện trong Kinh Thánh.  Những tác phẩm Muối điêu khắc này thật sắc sảo dù đã hơn 40 năm.  Tôi không có đủ ngôn ngữ để tả hết lời ca khen tài năng không chuyên của 3 ngườI thợ này.

Đi viếng trại tập trung Auschwitz 1, thật là niềm đau không thể nào quên! Tội ác của Đức Quốc xã làm cho người Ba Lan thời nay cũng còn giữ khoảng cách với họ.  Dù đã gia nhập khối Liên Âu, nhưng Ba Lan vẫn không xử dụng tiền Euro chung với khối này, vì có người Đức.  Đoàn hành hương chúng tôi xếp hàng đi vào tận ngỏ ngách của lò sát nhân như là 75 năm trước hàng trăm ngàn người Do Thái và Ba Lan đã xếp hàng đi vào.  Thật nhiều hành trang chồng chất lên nhau đã được gom lại trong vài phòng kiến lớn.  Tên tuổi của họ vẫn còn rõ ràng để đọc, kể cả các đồ vật của trẻ sơ sinh.  Họ là những người Chúa đã cho sự sống, họ sinh hoạt và làm việc bình thường, và đã bị bức tử cách khoa học và man rợ bởi Đức quốc xã.   Tôi nghe lời thông dịch của Cha Thụ về cuộc đời bị bức bách của họ mà không ngăn được nước mắt tuôn trào.  Sau khi ra khỏi trại tập trung Auschwitz đoàn người trong xe bus số 2 đã lần chuỗi Kính Lòng Thương Xót Chúa cho các linh hồn trong đó đã ra đi 75 năm trước, hầu để trấn an tâm hồn của chúng tôi đang tức tưởi dùm cho họ.  Chúng tôi cũng đã cầu nguyện cho cả những kẻ thi hành bản án ghê rợn đó.

Từ sau chuyến hành hương Đất Thánh, tôi rất chú ý đến phép lành trong mỗi cuối thánh lễ, vì đời sống Kytô hữu của tôi lấy giờ khắc ấy làm hành trang và bước đi về phía trước.  Buổi Tiệc Thánh kết thúc, tôi trở về đời thường nhật, từng chút một, tôi xin Thiên Chúa Ba Ngôi cho tôi biết suy xét từng bước đã làm tôi vấp ngã.  Đặc biệt trong thánh lễ tại tu viện Jasna Gora, của các Cha Dòng Thánh Phaolo, có ảnh Đức Mẹ Đen mang vết gươm cắt trên mặt khiến ai trong phái đoàn đều rất cảm xúc.  Được nghe kể rằng Đức Mẹ đã gìn giữ nước Ba Lan này trong phong ba bão táp từ thế kỷ 14.  Nhất là thánh Gioan Phaolo II đã yêu mến cách đặc biệt Đức Mẹ Đen.  Phép lành cho chúng tôi sau thánh lễ trong ngôi nhà nguyện này thật cần thiết, vì chúng tôi không kèm chế được tư tưởng hạ bệ người Đức.  Chúng tôi thật đã mang cảm giác đau lòng xót xa sau vài giờ nghe kể về Auschwitz 2 [Birkanau] nơi đã bỏ đói các phụ nữ và trẻ em vào những năm 1942-1944.

Tôi trân trọng và ghi khắc thánh lễ Chúa Nhật 26 thường niên trong ngôi thánh đường Lòng Chúa Thương Xót ở Ba Lan.   Vì các bài sách thánh thật thích hợp với tâm tình hành hương của chúng tôi, và vì không gian bàn thờ thật thánh thiện, đơn sơ, sốt sắng và trang nghiêm.  Cha Thụ đã tráng chén xong mà Cha vẫn còn ở trong phút ngây ngất của Mình Máu Thánh Chúa đang ngự trong lòng.  Tâm tình này đã theo tôi đến Roma và còn lưu lại đến phút này khi viết đến đây.  Quang cảnh yết kiến Đức Thánh Cha Phanxico và bài giảng ngắn của ngài về thơ của Thánh Phaolo gởi tín hữu Corinto, làm tôi suy tư nhiều về ơn gọi khác nhau của nhiều người mà tôi đã quen biết.  Theo thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu, tôi được thêm can đảm sống bổn phận thường nhật của mình trong lòng Giáo Hội. Thêm nữa, Phép lành Toà Thánh mà Cha Thụ đã xin cho từng người trong đoàn, thật là món quà bất ngờ vô giá!  Chúng tôi đã không biết nói thế nào đối với tấm lòng chu đáo và rộng rãi của Cha.

Tất cả 90 người đã về nhà bình yên, sau khi đi qua 5 quốc gia, Tiệp Khắc, Ba Lan, Slovakia, Hung Gia Lợi và Roma.  Tôi thầm thán phục khí chất bình tĩnh của Cha Thụ.  Chúng tôi có 89 tư tưởng đôi khi đồng phát biểu, Cha vẫn có cách làm cho trật tự.  Chúng tôi có 89 đôi chân thỉnh thoảng bước đi xa đoàn,  Cha vẫn có cách thấy và gọi chúng tôi về nhanh.  Chúng tôi có 89 tâm tình diễn tả khác nhau, Cha vẫn có cách làm chúng tôi cùng nhìn một hướng.  Chúng tối có 89 vấn đề, Cha vẫn có cách nghe và tìm cách giúp đỡ.  Chúng tôi có 3 trục trặc ngoài ý muốn ở phi trường.  Cha cũng nhẹ nhàng giải quyết làm tôi thấy chuyện nào cũng bị nhỏ lại, khi đến tay của Cha.  Tạ ơn Chúa đã ban cho Cha 1 nhóm người giúp đỡ rất đắc lực.  Đi theo nhóm nhỏ mà Cha đã phân chia là thượng sách để khỏi bị lạc, nhất là khi đi bộ trên thành phố người, cũng như khi di chuyễn qua nhiều chuyến bay, và xe bus.

Sau 10 ngày sống hành hương vùng Trung Âu, chúng tôi đã ăn và uống theo những người dân địa phương, chắc chắn không thoải mái như tại nhà mình.  Nhưng thật là thú vị!  Tôi đã gần như hoàn toàn bị cuốn theo chuyện kể của họ, nếm thữ thực phẩm theo nền văn hoá rực rỡ lâu đời của họ.  Đáng giá nhất là tôi đã đi viếng những nơi mà thánh nữ Faustina, thánh Maximilian Kolbe, thánh Gioan XXIII, và thánh Gioan Phaolo II đã từng cư ngụ và nên thánh.  Niềm đau của các vị thánh này chúng tôi cũng đã được nghe Cha Thụ thông dịch, khi đi viếng những vùng đất đã từng in những dấu chân thánh thiện.  Lòng Tin Kính vào Giáo Hội tại thế càng thêm củng cố, vì Hội Thánh này luôn dựa vào Chúa Giêsu Thánh Thể và Chúa Thánh Thần, “Vị khách kín đáo” của từng Kytô hữu.

Cecilia Phạm thị Mỹ Phụng

Giáo xứ St. Francis de Sales, Houston, Texas

Ngày 7 tháng 10 năm 2014

Dự án Long Thành có chính đáng?

Dự án Long Thành có chính đáng?

Nguyễn Đình Ấm

Tiền trảm, hậu tấu

Trước năm 1975, sân bay Tân Sơn Nhất (TSN) có diện tích 3.600 ha, nhưng đến nay chỉ còn 1.150 ha, do chính quyền TP HCM để cho dân tự do lấn chiếm, các đơn vị quân đội, hàng không dân dụng phân, chia cho CBNV xây nhà cửa, công trình vào quỹ đất sân bay. Đây là hậu quả của những bộ óc thiển cận hoặc tham nhũng, có thể họ cho là sân bay chỉ cần những chỗ đang sử dụng mà không biết hoặc cố tình không biết rằng sân bay phát triển theo từng giai đoạn thị trường yêu cầu, phải có quỹ đất để dành cho nó. Thêm vào đó hiện tượng quản lý đô thị “phạt cho tồn tại” làm đầy túi quan chức và dẫn đến sân bay bị nhà cửa thu hẹp.

Sau năm 1975, nhà nước giao TSN cho không quân và dân dụng dùng chung, trong khi hàng không dân dụng phát triển hai con số thì chỉ được sử dụng 205 ha, họat động HK quân sự ngày càng teo tóp chỉ có ít máy bay hoạt động, lại có cả sân bay Biên Hòa gần đó thì chiếm tới 545 ha ở TSN (400 ha dùng chung), dẫn đến nhiều diện tích đất bên quân sự bỏ hoang, biến thành đất ở, cho thuê kiếm lợi cục bộ…

Mặc dù chỉ còn quỹ đất tối thiểu chuyên phục vụ an ninh quốc phòng, nhưng từ những năm 2004, 2005, khi giá đất sốt, các đại gia quân đội đã âm thầm thực hiện dự án sân golf, nhà hàng, khách sạn, khu biệt thự thương mại ở TSN với diện tích 157,6 ha. Đến nay tổ hợp công trình khổng lồ ấy đã gần xong.

Để “yên thân” dự án sân glof mãi mãi, tất nhiên người ta phải làm sao có chỗ thay thế TSN, nghĩa là cần xúc tiến dự án Long Thành (LT). Dự án quy hoạch LT được tiến hành gần như song song với dự án sân golf TSN. Từ nhiều năm nay các đại gia đất ở đây đã chia lô “bán đất gần sân bay Long Thành” đợt 2, đợt 3… Thế là, khi mọi việc đã đâu vào đấy, đến nay họ mới trình quốc hội về dự án Long Thành. Kỳ họp này các đại biểu “của dân, vì dân” mới bàn có thực hiện dự án LT thay TSN hay không. Họ không biết ngượng khi nói TSN chật hẹp (chật hẹp nhưng có 157,6 ha làm sân golf)! Họ không trả lời được câu hỏi: tại sao sân bay Check Lap Kok của Hongkong diện tích xấp xỉ TSN mà người ta làm được sân bay 45-80 triệu khách còn TSN lại không?

Họ đã coi quốc hội là cái gì? Rất may, quốc hội kia có những 500 bộ mặt nên sự thẹn thùng (nếu có) chia đều cũng chẳng đáng là bao!

Mọi “véc tơ” đều theo một hướng

Để thuyết phục dư luận phải xây LT, chủ đầu tư, những “dư luận viên” vệ tinh, cơ quan truyền thông “lề phải”… trổ hết tài năng để định hướng ủng hộ đại gia sân golf.

Đầu tiên họ thổi phồng mức tăng trưởng khách của TSN liên tục “hai con số” đến cả những năm 2050 nên TSN có đến 100 triệu khách/ năm để “dồn” quốc hội đến “chân tường”. Họ bịp dư luận, vì sân bay lúc đầu phát triển bao giờ tốc độ tăng trưởng khách cũng cao nhưng sau giảm dần do thị trường bão hòa, đồng thời có sự san sẻ, cạnh tranh của các sân bay khác, phương tiện khác như tàu hỏa, ô tô cao tốc… Đặc biệt, TP HCM có các sân bay quốc tế xung quanh như Cần Thơ, Phú Quốc…

Sân bay có gần trăm năm phát triển đông khách nhất thế giới hiện nay của nước giàu, nhộn nhịp nhất thế giới (Mỹ) là Hartsfield-Jackson-Atlanta cũng chỉ có 89,3 triệu khách/năm và hàng chục năm nay không tăng nữa. Long Thành ở một đất nước độc tài, nghèo rớt, tham nhũng nhất nhì thế giới, khách du lịch quốc tế đến VN 8 tháng năm 2014 chỉ có 5,4 triệu… lấy đâu ra 100 triệu khách/năm mà phục vụ, cạnh tranh với các cảng HK khác như Bangkok, Singapore, Check Lap Kok, Subang…?

Một lãnh đạo DN sân golf còn trơ trẽn phát biểu “ở các nước sân bay cách thành phố phải trăm km…”. Thực tế không có sân bay nào trên thế giới xa thành phố đến 100 km. Nằm xa TP nhất là sân bay Incheon (Hàn Quốc) cách seoul 70 km vì người ta không tìm đâu ra khu đất bằng đủ làm sân bay ở xứ xở toàn đồi núi… Rồi năm ngoái nhằm đúng dịp Hội đồng nhân dân TP HCM họp thì diễn ra cảnh tốc mái nhà dân để VTV phát phóng sự om sòm ám chỉ TSN không an toàn. Sau đó ngành HKVN vạch trần sự vô lý này, và từ đó không nhà nào bị “tốc mái” nữa (?). Họ tận dụng cả những cá nhân không có “trọng lượng” là bao nhưng kê kích lên để tăng “cường độ” ủng hộ.

Ông Lương Hoài Nam học thương mại HK ở Liên Xô cũ (thời mà nền kinh tế bao cấp vẫn ngự trị nước này) về VN làm trong ban kế hoạch thị trường rồi sang công ty Pacific Airlines. Tại đây ông cùng Bộ Tài chính hy sinh lợi ích công ty HKVN cho chiến lược quảng bá thương hiệu “xuyên châu Á” của Quantas (Úc) là Jetstar (công ty con của Quantas) rồi hãng HKVN mang tên nước ngoài này lỗ 1.300 tỷ VNĐ. Sau đó ông Nam được “dàn xếp” cho đi nghỉ ngơi ở trại giam mấy tháng rồi về làm giám đốc hãng HK Mekong Air. Sau khi Mekong Air phá sản ông lại làm giám đốc cho công ty bay trực thăng Hải Âu mới thành lập… Ông Nam không có nghiệp vụ gì ghê gớm về sân bay nhưng được nhất loạt tôn làm “chuyên gia hàng không” dự các cuộc họp phát biểu ủng hộ nhiệt liệt dự án LT. Rồi ông Lã Ngọc Khuê nguyên thứ trưởng Bộ GTVN phát biểu ủng hộ LT với những thông tin từ những năm 1960… Đặc biệt hơn, ngày 14/10/2014 lãnh đạo tỉnh Đồng Nai còn thông báo một thông tin thuộc cỡ “kinh ngạc” nhất: “99,9% những hộ dân bị ảnh hưởng dự án Long Thành ủng hộ dự án”! Có lẽ nhà nước nên cấp kinh phí để chở dân oan mất đất khắp cả nước về Đồng Nai mà học tinh thần “cách mạng” của dân nơi đây.

Sát ngày quốc hội họp, lãnh đạo Bộ GTVT lại công bố “tập đoàn Nhật tài trợ 2 tỷ đô làm Long Thành”. Có thể họ tưởng nói tiếng Việt thì người Nhật, người Pháp không hiểu, nhưng chỉ sau mấy giờ Nhật đã bác bỏ thẳng thừng thông tin “khôn vặt” kia, rồi lại thông tin đoàn ADPi gì đó của Pháp tài trợ 2 tỷ đô nữa cũng không có nốt! Khi cụt đường về nguồn vốn, các ông xoay đủ ngón như huy động tư nhân nước ngoài đầu tư vì triển vọng có lãi. Nếu dự án LT có triển vọng lãi tốt thì các ông không cần kêu gọi, các đại gia đang xây dự án sân golf, khách sạn, nhà thương mại ngay tại TSN sẽ tiên phong đầu tư để “yên thân” dự án sân golf của họ rồi!

Nếu một việc mà chính đáng thì cần gì phải “ diễn” vở dài và công phu như thế?

N.Đ.A.

Đảng Cộng hòa và ứng viên gốc Việt

Đảng Cộng hòa và ứng viên gốc Việt

Bùi Văn Phú Gửi cho BBC Việt ngữ từ California

Janet Nguyễn, đương kim giám sát viên Quận Cam, đã làm nên lịch sử khi được bầu chọn vào thượng viện tiểu bang California

Kết quả bầu cử 4/11 là một chiến thắng lớn cho Đảng Cộng hòa. Đó cũng là tiếng nói không tán đồng của dân Mỹ đối với chính sách của Tổng thống Barack Obama.

8.30 tối ở California, tức gần nửa đêm bầu cử, khi các nơi bỏ phiếu ở miền đông đã đếm phiếu được hơn ba giờ, các cơ quan truyền thông đưa tin Đảng Cộng hòa đạt 51 ghế tại Thượng viện để nắm đa số và quyền kiểm soát nghị trình trong hai năm tới.

Với 435 dân biểu được bầu lại, Đảng Cộng hòa cũng vẫn tiếp tục nắm đa số tại Hạ viện Hoa Kỳ.

Hai năm chót của Tổng thống Barack Obama chắc chắn sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn, trừ khi ông tìm sự đồng thuận với đảng đối lập trong việc đưa ra những chính sách mới.

Tính đến khuya ngày bầu cử, Cộng hòa đạt con số 52/100 nghị sĩ và 226/435 dân biểu Quốc hội.

Luật chăm sóc y tế Obamacare sẽ được quốc hội với cộng hòa nắm đa số đưa ra tu sửa.

Các chính sách về người nhập cư, năng lượng và phát triển thương mại với châu Âu và châu Á sẽ được Đảng Cộng hòa quan tâm trong hai năm tới và xa hơn nữa nếu đảng này đưa được người vào Bạch Ốc năm 2016.

Riêng về phát triển thương mại, với Đảng Cộng hòa nắm đa số sẽ thuận lợi hơn cho việc Hoa Kỳ hoàn tất thương thảo với các nước để ký kết hiệp định TPP.

Ứng viên gốc Việt ở Quận Cam

Bà Janet Nguyễn, đương kim giám sát viên Quận Cam, đã làm nên lịch sử khi được bầu chọn vào thượng viện tiểu bang sau một cuộc tranh cử gay cấn và ồn ào nhất từ trước đến nay trong cộng đồng người Việt ở Little Saigon, Quận Cam.

Bà là người Đảng Cộng hòa, đánh bại ứng viên Đảng Dân chủ gốc Mễ là Jose Solorio với tỉ số 60/40.

Trong cuộc đua tại Garden Grove, đương kim thị trưởng Bruce Broadwater in truyền đơn với hình cờ đỏ sao vàng với lời cáo buộc đối thủ Bảo Nguyễn là thân cộng

Như thế tại cơ quan lập pháp cao nhất của tiểu bang California sẽ có dân cử gốc Việt trong bốn năm tới.

Thành phố Westminster, được coi là thủ phủ của người Việt vì chiếm đến nửa số cư dân, ông Trí Tạ tái đắc cử với trên 85% số phiếu. Tyler Diệp trúng cử vào hội đồng thành phố. Khanh Nguyễn vào hội đồng giáo dục.

Bên cạnh là Garden Grove, có mật độ cư dân Việt cao thứ nhì sau Westminster, đương kim thị trưởng Bruce Broadwater chỉ hơn Bảo Nguyễn chưa đến 2%. Cuộc tranh cử tại đây sôi nổi vì ông Bruce đã in truyền đơn với hình cờ đỏ sao vàng với những lời cáo buộc đối thủ Bảo Nguyễn là thân cộng, làm lợi cho cộng sản.

Hội đồng thành phố Garden Grove cũng sẽ có nghị viên Phát Bùi, về nhất trong số 9 ứng viên tranh cử để dân chọn 2. Nghị viên Michael Võ tái đắc cử ở thành phố Fountain Valley.

Sự kiện có nhiều ứng viên gốc Việt được bầu chọn vào các hội đồng giáo dục cho thấy sự quan tâm của người Việt đến các sinh hoạt nhà trường các cấp, từ cấp một lên đến cao đẳng.

Dina Nguyễn, cựu nghị viên Garden Grove, trúng cử Đặc khu Thủy lợi Quận Cam.

Thung lũng điện tử San Jose

Trên San Jose, với 10% là gốc Việt trong số một triệu cư dân, luật sư Tâm Nguyễn đánh bại ủy viên giáo dục Maya Esparza để giành ghế đại diện cho Khu vực 7 trong hội đồng thành phố. Đây cũng là cuộc tranh cử cam go giữa một ứng viên gốc Việt và một gốc Mễ, như cuộc tranh cử của Janet Nguyễn với Jose Solorio ở Quận Cam.

Trong lãnh vực giáo dục, Scott Hưng Phạm và Hương H Nguyễn trúng cử vào Hội đồng Giáo dục Cao đẳng San Jose – Evergreen. Vân Lê tái đắc cử ủy viên giáo dục East Side Union. Thanh Trần vào học khu Franklin-McKinley. Khánh Trần vào học khu Alum Rock.

Tại Hoa Kỳ, tranh cử vào hội đồng giáo dục cũng là bước khởi đầu cho những ai muốn dấn thân vào con đường hoạt động chính trị.

Tại California, nơi có đông người Việt sinh sống nhất tại hải ngoại, hiện có khoảng 20 dân cử gốc Việt các cấp, đa số là ủy viên giáo dục và nghị viên hội đồng thành phố.

Với kết quả bầu chọn hôm 4/11, bà Janet Nguyễn sẽ là thượng nghị sĩ tiểu bang và là dân cử cao cấp nhất của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ.

Xem thêm:

Janet Nguyễn thắng chức Thượng nghị sĩ tiểu bang California (RFA)

Khi người đàn bà bước vào nhà thờ

Khi người đàn bà bước vào nhà thờ

Tác giả: Đinh Lâm Thanh

‘Linh mục lấy vợ’ là một vấn đề đang được thảo luận trong giáo hội công giáo. Vậy chuyện gì sẽ xảy ra một khi giới linh mục được phép lập gia đình ? Vẫn biết rằng Vatican đã biết trước những hậu quả không mấy tốt đẹp một khi người đàn bà xuất hiện trong đời sống của linh mục. Nhưng tôi nghĩ rằng, những đề nghị đóng góp từ phía giáo dân đối với việc thay đổi quan trọng trong đời sống linh mục sẽ hữu ích phần nào trước khi tòa thánh có quyết định cuối cùng. Bởi lẽ đó, trong phạm vi một Kytô hữu, tôi xin góp ý : giáo hội công giáo không phải chỉ một khối lãnh đạo độc nhất của Vatican, tòa giám mục và nhà thờ, mà chính là cả một tập thể lớn, được kết hợp và hoạt động chặt chẽ giữa con chiên và chủ chăn, tức là giữa giáo dân với linh mục. Vì lý do nầy, và trong giai đoạn Vatican đang nghiên cứu việc cho phép linh mục lấy vợ, tôi xin trình bày quan điểm của một giáo dân về những chuyện có thể xảy ra, nếu…

Trước hết, xin khẳng định rằng đây là một bài viết xây dựng mà cá nhân người viết cũng nhìn thấy trước phần nào những gì không mấy tốt đẹp sẽ xảy đến cho linh mục cũng như họ đạo một khi người đàn bà thực sự bước vào đời sống của nhà thờ.

Theo nhật báo New York Times, trong chương trình đổi mới của Giáo Hội Công Giáo, đương kim Đức Giáo Hoàng đã đồng ý đưa nhiều vấn đề thời sự ra thảo luận, trong đó có đề tài linh mục sẽ được lấy vợ. Đây là một tin quan trọng đối với các vị lãnh đạo tinh thần cũng như người công giáo trên toàn thế giới.

Trước khi vào bài, xin minh định rằng, người viết kính trọng tất cả các vị tu hành của bất cứ tôn giáo nào, nơi đâu và thời buổi nào, vì theo tôi, những người tu hành là những vị có một đời sống hơn hẳn người phàm tục về tất cả mọi phương diện. Đúng vậy, kẻ tu hành là những người đã dứt khoát từ bỏ được ba cái tầm thường ‘tham sân si’ để hiến đời mình cho lý tưởng. Họ vui lòng chấp nhận một cuộc sống gian khổ, ăn uống đạm bạc, không màng đến danh lợi của cải vật chất, và nhất là, tự kềm chế mình trước những đòi hỏi của xác thịt. Hơn nữa, những người tu hành luôn tu luyện bản thân để suốt đờì phục vụ tín hữu từ trách nhiệm tinh thần cho đến sinh hoạt xã hội. Nhưng thật buồn, một số nhỏ linh mục đã lên tiếng đòi được phép lập gia đình, trong đó có nhiều vị phạm phải giới răn thứ sáu cũng như lạm dụng tình trạng ấu dâm để phải ra tòa và gây tổn thương lớn cho giáo hội, nhất là tại Mỹ. Có thể vì những yêu cầu của số linh mục nầy hoặc nhằm giải quyết sự dồn ép sinh lý trong cơ thể của giới linh mục mà Đức Thánh Cha đã đồng ý đưa vào chương trình thảo luận việc cho phép linh mục lấy vợ.

Linh mục công giáo được đào tạo bởi các giáo phận theo phạm vi vùng (địa phận) hoặc các cơ sở trực thuộc giáo hội trung ương để phục vụ các giáo xứ (họ đạo), gọi là linh mục triều. Ngoài ra còn nhiều nhà dòng đào tạo linh mục để phục vụ theo chiều hướng phụng vụ riêng, như đã có ở VN trước đây và hiện giờ vẫn còn một số dòng tu. Nhưng dù linh mục dòng hay triều, việc đào tạo linh mục đều tương đối giống nhau về thời gian, chương trình giáo huấn và phải đủ điều kiện tinh thần cần thiết đúng theo tiêu chuẩn của giáo hội mới được thụ phong linh mục.

Các linh mục dòng thường sống trong khuôn khổ tập thể, đọc kinh cầu nguyện và làm việc theo luật riêng của từng dòng tu. Nói chung, các linh mục dòng đều sống khổ hạnh (Vinh Sơn, Phanxico) và hoạt động trong các lãnh vực bác ái (Phanxico), truyền thông (DCCT) văn hóa (Jésus) cũng như giáo dục (Jésus, DomBosco, Đa Minh….). Ngược lại, linh mục triều, sau khi được truyền chức thánh thì được bổ nhiệm về phục vụ tại các họ đạo. Do đó đời sống của các linh mục triều được cởi mở rất nhiều từ giờ giấc, dinh dưỡng đến chương trình phụng vụ cũng như tự do tiếp xúc với giáo dân. Đó là nguyên nhân linh mục triều thường vấp phải một số lỗi lầm như vi phạm điều răn thứ sáu, và thời gian gần đây, đã đi đến việc yêu cầu được lấy vợ. Có thể nói rằng những cái cám dỗ nầy đều bắt nguồn từ môi trường nầy.

Đào tạo một linh mục công giáo không phải là một chuyện dễ dàng và nhanh chóng. Ví dụ đối với giới linh mục triều, sau khi xong bậc tiểu học, nếu thí sinh được chọn thì phải mất trên 13 năm học tập cũng như thử thách qua hai trường đào tạo tiểu chủng viện và đại chủng viện.. Chương trình học tại hai trường tu nầy tương đương với trung và đại học ngoài đời. Trước khi trở thành linh mục, mỗi đại chủng sinh tối thiểu cũng đạt đến trình độ tiến sĩ thần học. Nếu có khả năng, linh mục sẽ được tiếp tục theo các chương trình hậu đại học trên thế giới hay tại các học viện trực thuộc giáo hội công giáo tại Vatican. Người viết hơi dài dòng một chút vì cảm thấy tiếc cho những linh mục đã quên lời khấn hứa của mình, ngoài việc vi phạm những điều cấm về nhục dục (điều răn thứ sáu) đối với một người đã chịu chức thánh mà còn đòi hỏi được lập gia đình như một giáo dân bình thường !

Vậy khi người đàn bà xuất hiện trong đời sống của linh mục, nhà thờ cũng như họ đạo thì những tệ hại nào sẽ xảy ra ?

Xin đơn cử vài ba ví dụ :

1. Người đàn bà sẽ chi phối đời sống thánh thiện và chương trình phụng vụ của một linh mục.

Linh mục giữ một vai trò tối quan trọng đối với họ đạo, không những trách nhiệm tinh thần người tín hữu mà còn có bổn phận xã hội với con chiên trong giáo xứ. Bù lại, với quan niệm của giáo dân, cha sở họ đạo là người thay mặt Chúa, là người vượt trên tất cả những cái tầm thường của người đời, do đó linh mục được tất cả con chiên kính trọng và tùng phục. Nhưng nếu mai kia đời sống của linh mục có một người vợ và đàn con bên cạnh, liệu chủ chăn có còn thời gian rỗi rãnh cũng như sức lực thể xác, sự bình an tâm hồn như một người độc thân ? Hay suốt ngày phải bận rộn về cuộc sống gia đình, từ đưa vợ vào nhà thương, dẫn con đến trường học đến việc đi chợ mua thức ăn hoặc mua sắm cho vợ con…Từ những hình ảnh nầy con chiên sẽ mất dần cảm tình một chủ chăn qua những cái tầm thường của một người đàn ông ngoài đời. Thử nghĩ xem, một linh mục có vợ có con, đêm mệt mỏi thể xác, ngày toan tính tiền bạc thì khi dâng lễ có còn hùng biện để rao giảng phúc âm cho giáo dân tránh tội lỗi và sống một cuộc đời thánh thiện ? Ngoài ra, người đàn bà sống bên cạnh linh mục thì trước sau gì cũng nắm phần tài chánh gia đình và dĩ nhiên sẽ nhúng tay vào việc đóng góp của nhà thờ ! Sự kiện quan trọng nầy làm cho linh mục luôn lo nghĩ và bận rộn về tiền bạc, vậy linh mục có đủ cam đảm để rao giảng về đề tài : ‘được cả thế gian mà mất linh hồn thì có ích gì’ trong các buổi lễ cho con chiên họ đạo không ?

Có thể nói rằng khi người đàn bà đến với một người đàn ông thì sẽ mang hạnh phúc hoặc đau khổ cho người đó. Riêng với linh mục, tôi chắc chắn sự hiện diện của người vợ sẽ đem lại sự khổ tâm hơn là an lành. Tôi cho như vậy vì linh mục trước đây độc thân, không bị ai dằn vật trong cuộc sống hằng ngày từ tiền bạc đến ghen tương, đêm ngủ ngon giấc, ngày lo việc đạo và tự do cởi mở với con chiên tín hữu trong giáo xứ. Hơn nữa, bản tính người linh mục hiền hòa, chân chất, dễ tin và nhất là chưa kinh nghiệm bề mặt trái của tình cảm cũng như cuộc sống lứa đôi nên dễ bị người đàn bà lấn áp và chỉ huy.Và một khi đã có vợ con thì linh mục phải đèo thêm nhiều gánh nặng gia đình và nhiều vấn đề ngang trái khác của cuộc sống tình cảm. Người chủ chăn không còn sáng suốt cũng như nhiều thời gian để suy gẫm kinh sách, chuẩn bị bài giảng và làm việc phụng sự tông đồ. Hơn nữa, khi một người đàn ông đã có vợ mà còn được phái nữ ái mộ thì, dù là linh mục, cũng chắc chắn có nhiều thứ tình cảm khác nẩy sinh theo ngày tháng, rồi sẽ có chuyện so sánh, đèo bồng để đi đến tình trạng mèo chuột, ghen tương, đổ vỡ và ly dị. Vậy còn đâu hình ảnh tốt đẹp của một linh mục để cho giáo dân kính phục !

2. Sự tôn nghiêm và nếp sống đạo đức của nhà thờ sẽ bị ảnh hưởng vì sự xuất hiện của một người đàn bà.

Đây là điều dĩ nhiên, người đàn bà sẽ nhúng tay vào công việc nhà thờ. Với vai trò người vợ trong gia đình, người đàn bà là phụ tá riêng cho linh mục trong giao tế, hành chánh…rồi dần dần sẽ tiến đến việc kiểm soát tài chánh và nhúng tay vào tài sản giáo hội cũng như quỹ của nhà thờ. Linh mục cũng là một con người, nhất là đang hạnh phúc với mái ấm gia đình, thì liệu linh mục có thể cấm cản người vợ yêu quý của mình những vấn đề liên quan đến nhà thờ ? Hay linh mục sẽ tìm mọi cách nhắc khéo giáo dân đóng góp tiền bạc thêm cho nhà thờ qua các buổi giảng đạo hoặc những dịp giao tế thăm viếng con chiên ?

Một vấn đề nữa sẽ xảy đến, đó là việc ghen tương trong nhà thờ và giáo xứ. Đúng vậy, người vợ nào lại không muốn bảo vệ người chồng cho riêng mình trong lúc linh mục cai quản họ đạo là cái đích của theo đuổi của các bà các cô trong giáo xứ. Từ lý do nầy, linh mục bị vợ theo dõi và kiểm soát từ tư tưởng đến hành động, nhất là những lần linh mục ngồi tòa giải tội cho giáo hữu thuộc phái nữ.

Từ những yếu tố trên, có thể tạm nghĩ rằng tòa giảng sẽ bị lạm dụng cho việc xin tiền theo nhu cầu của gia đình linh mục và tòa giải tội cũng có thể biến thành nơi hẹn hò thầm kín. Linh mục không còn là thần thánh nữa, cha xứ có vợ con tức là đã trở thành một người phàm tục thì có thể yêu bất cứ ai và cũng không ngăn cấm được đàn bà con gái trong họ đạo yêu cha. Như vậy có thể nghĩ rằng, tòa giải tội là nơi kín đáo và hợp lý nhất để biến thành chỗ hẹn hò, tỏ tình, yêu đương và ghen tương !

3. Trật tự cũng như tinh thần đoàn kết của họ đạo sẽ xáo trộn.

Khi linh mục cưới một người đàn bà trong giáo xứ thì chắc chắn sẽ xảy ra một vài biến cố về việc đổi ngôi vị và cách xưng hô tại họ đạo. Ví dụ một gia đình bình thường nào đó, trong phạm vi quản lý của cha xứ, trở thành thông gia với linh mục thì dĩ nhiên gia đình nầy biến thành cha mẹ vợ của cha xứ. Việc trước tiên phải đổi cách xưng hô. Một người con gái hay phụ nữ bình thường nào đó trước khi nay trở thành vợ cha xứ thì giáo dân trong họ đạo phải thưa trình thế nào cho hợp với vai trò vợ của linh mục quản xứ ? Không lẽ phải ‘lạy mẹ’ hay ‘thưa mẹ’ mỗi khi gặp nhau ngoài đường ! Ngoài ra gia đình thông gia với linh mục cũng trở thành kẻ ăn trên ngồi trước và có một ngôi vị trong họ đạo. Vấn đề nầy sẽ tạo nên khoảng cách và những cảm giác khó chịu cho toàn bộ giáo dân, nhất là giới phụ nữ lắm chuyện. Và từ đây, có thể sinh ra mầm chia rẽ trong những họ đạo, là đơn vị căn bản của giáo hội.

Tôi xin mạn phép đề nghị :

– Vatican cần cứng rắn để giữ nề nếp tốt của giáo hội công giáo và phải có biện pháp với những linh mục phạm lỗi. Giáo hội trung ương và tòa tổng giám mục địa phương có trách nhiệm với hàng linh mục dưới quyền thì không nên im lặng hoặc bao che và chạy tội cho những linh mục phạm phải các tội lớn. Hình phạt ‘treo chén’ và ‘hủy thiên chức linh mục’ là những biện pháp thích đáng nên áp dụng để làm sạch giáo hội.

– Vị linh mục nào muốn lập gia đình lấy vợ sinh con đẻ cái thì tự tình nguyện trở về đời sống bình thường của một giáo dân. Công việc quá đơn giản, dĩ nhiên sẽ được mọi người chấp thuận và hoan nghênh. Được như vậy, linh mục sẽ tạo được hạnh phúc gia đình và vẫn giữ được vai trò con chiên của giáo hội.

Xin tạm kết bài viết :

Đừng đem việc lấy vợ sinh con đối của các vị lãnh đạo tinh thần từ các tôn giáo khác để bênh vực cho việc lập gia đình của linh mục công giáo. Mỗi tôn giáo đều có giáo luật và truyền thống riêng, nhất là giới linh mục công giáo, thì nên bảo vệ lấy hình ảnh tốt đẹp của một người đã chịu chức thánh. Hơn nữa, mong rằng các vị lãnh đạo giáo hội đừng làm mất thêm niềm tin của giáo dân đối với giáo hội. Một sự thật cần nói ra, ngày nay nhiều người công giáo đã lơ là với đạo thì giáo hội không nên cho phép tạo thêm những hình ảnh xấu của vị chủ chăn để tín hữu, vì lý do nầy, mà ít đến hoặc xa lánh nhà thờ !

Đinh Lâm Thanh

Paris, Tháng 10 năm 2014

Sống và yêu

Sống và yêu

Trầm Thiên Thu

Chị Brittany Maynard, 29 tuổi, được chẩn đoán có khối u ác tính trong não ở giai đoạn 4 từ hồi tháng 4-2014, và bác sĩ nói chị chỉ còn sống thêm trong vòng 6 tháng.

Ngày 1-11-2014, chị sẽ kết thúc cuộc đời với sự trợ tử của bác sĩ bằng phương pháp “an tử” (làm cho chết êm ái). Chị cho biết rằng chị không muốn chị và gia đình chịu nỗi đau khổ vì chứng ung thư não của chị. Chắc chắn đây là tình cảm tốt đẹp khi người ta không muốn những người thân chịu đau khổ, nhưng đó không phải là cách yêu thương!

Các phương tiện truyền thông hết lời ca tụng quyết định của Brittany là can đảm. Thật mắc cười khi các phương tiện truyền thông khen chị dám chết vì không muốn gia đình đau khổ, và kêu gọi những người khác hủy hoại sự sống mà không cần bác sĩ trợ tử. Nhưng các phương tiện truyền thông ca tụng một phụ nữ trẻ mới kết hôn mà lại muốn chết chứ không muốn sống. Các phương tiện truyền thông ca tụng sự chết, dù đó là phá thai, an tử, hoặc trợ tử, họ gọi đó là sự chọn lựa, sự tự do, hoặc sự can đảm. Tuy nhiên, Thiên Chúa cấm chúng ta nghĩ rằng chúng ta có thể là gánh nặng cho người khác vì sức khỏe giảm sút hoặc cần được chăm sóc về y tế.

Sợ hãi là động lực có thật: Sợ những gì ở phía trước, sợ đau khổ, sợ không thể kiềm chế,… Các phương tiện truyền thông và xã hội muốn chúng ta sống trong nỗi lo sợ vì nỗi lo sợ khiến chúng ta phải kiểm soát. Nỗi lo sợ biến chúng ta thành nô lệ dưới chiêu bài của sự tự do, sự can đảm, và sự tự tha thứ cho mình. Nỗi lo sợ xoay chúng ta hướng vào bên trong (tự hướng nội) và làm cho chúng ta tin rằng mình đáng bị thu nhỏ lại.

Chân phước Chiara Luce Badano đã không sống trong nỗi lo sợ mặc dù Chị chịu đau khổ và chết vì chứng ung thư xương rất đau nhức khi còn ở độ tuổi thiếu niên. Thay vì đầu hàng nỗi đau đớn thể lý, Chị đã chịu đựng đau khổ và nhìn cha mẹ thấy Chị chống chọi với bệnh tật. Chị dùng đau khổ để thánh hóa chính mình và những người khác. Chị dùng đau khổ làm phương tiện để hy vọng.

Ngược lại, chị Brittany Maynard lại dùng đau khổ làm phương tiện để tuyệt vọng! Buồn biết bao khi Brittany cho phép bóng tối làm tiêu tan chính mình. Chân phước Chiara được một người bạn đặt cho biệt danh Luce khi Chị gia nhập phong trào Focolare, vì Chị là ánh sáng cho người khác. Chị như ánh đuốc soi sáng trong bóng đêm của cuộc sống này để đi tới Chúa Giêsu và sự sống đời đời.

Các phương tiện truyền thông chẳng bao giờ ca tụng những loại ánh sáng này của con người. Bạn sẽ không bao giờ nghe nói về những con người thầm lặng chịu đau khổ trên đời này, hoặc thời gian kỳ diệu mà họ cố gắng sống tốt, và hôm nay họ vẫn sống vô thường dù ngày mai họ sẽ chết, họ sống như thể là bất tử. Những con người này là những ánh đuốc sáng thực sự trong thế giới này, họ đối diện với bóng tối và tuyên bố: “Mi cứ làm điều tồi tệ nhất! Tôi sẽ không bị hủy diệt”. Những người này sống trọn vẹn tình yêu thương, hoàn toàn biết từ bỏ mình, ngay cả khi họ phải đối diện với tử thần, họ không bao giờ chịu thua sự cám dỗ của nỗi thất vọng, vì họ biết rằng SỰ SỐNG và TÌNH YÊU đáng tận hưởng. Dù sao thì cuộc đời cũng vẫn đáng sống, không đáng chấm dứt.

Bạn sẽ chẳng bao giờ nghe nói về những con người như Ginnie Levin. Chị được chẩn đoán bị ung thư vú, mặc dù cắt cả hai vú và các khối u, chứng ung thư vẫn di căn tới nhiều bộ phận khác trên cơ thể. Chỉ còn ít thời gian ngắn ngủi trên thế gian này, chị muốn dành tất cả cho gia đình. Người bà và người mẹ của chị đã chết vì ung thư, người cha của chị cũng đang phải điều trị ung thư. Ginnie muốn tới thế giới của Walt Disney với gia đình một lần nữa, tạo ký ức vui mừng một lần cuối. Xin mọi người hãy cầu nguyện nhiều cho chị Gennie Levin!

Trong một thế giới ca tụng việc hủy hoại sự sống, chúng ta hãy ca tụng Sự sống. Hãy tạo sự khác biệt trong cách sống của chúng ta hôm nay!

Thánh nữ Teresa Margaret Thánh Tâm Chúa (Dòng Kín Chân Đất, 1747-1770) nói: “Không có gì phải than phiền, tôi sẽ chịu đựng mọi thứ vì yêu mến Chúa, tôi không có gì phải lo sợ”. Chân phước Chiara Luce được an táng với chiếc áo cưới vì Chị sẽ đi gặp Đức Lang Quân là Chúa Giêsu trong cõi trường sinh. Chết lúc mới 19 tuổi vì bệnh trầm kha, nhưng chân phước Chiara Luce vẫn khả dĩ nói: “Tôi không còn lại gì, nhưng tôi vẫn còn trái tim, và tôi có thể yêu thương bằng trái tim đó”.

Chị Chiara Luce Badano sinh ngày 29-10-1971 tại ngôi làng nhỏ Sassello ở Ý quốc, qua đời ngày 7-10-1990 sau một năm đau đớn vì chứng ung thư xương. Chị được Giáo hội tôn phong chân phước ngày 25-9-2010.

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)

From: ngocnga_12 & Anh chị Thụ Mai gởi

Sức mạnh của sự tha thứ

Sức mạnh của sự tha thứ

TRẦM THIÊN THU

Một trong các khía cạnh tuyệt vời nhất của sự tha thứ là hệ quả tẩy rửa và cao quý, tạo nên tính cách của người tha thứ. Rõ ràng, người ta không chịu tha thứ vì chưa hiểu giá trị cao quý của lòng tha thứ. Người ta ít khi đạt tới đỉnh cao của sức mạnh và sự cao thượng nên khó loại bỏ cơn oán giận, khó tha thứ sai lầm của người khác.

Chắc chắn sự trả thù không thể chấp nhận khi giải quyết xung khắc. Trong Bài Giảng Trên Núi, Chúa Giêsu đưa ra phương pháp tốt nhất mà không cần phải trả thù: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5:7).

Thánh Phaolô cũng khuyên: “Hãy chúc lành cho những người bắt bớ anh em, chúc lành chứ đừng nguyền rủa: vui với người vui, khóc với người khóc. Hãy đồng tâm nhất trí với nhau, đừng tự cao tự đại, nhưng ham thích những gì hèn mọn. Anh em đừng cho mình là khôn ngoan, đừng lấy ác báo ác, hãy chú tâm vào những điều mọi người cho là tốt. Hãy làm tất cả những gì anh em có thể làm được, để sống hoà thuận với mọi người. Anh em thân mến, đừng tự mình báo oán, nhưng hãy để cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa làm việc đó, vì có lời chép: Đức Chúa phán: Chính Ta sẽ báo oán, chính Ta sẽ đáp trả. Trái lại, kẻ thù ngươi có đói, hãy cho nó ăn; có khát, hãy cho nó uống; làm như vậy, ngươi sẽ chất than hồng lên đầu nó. Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác” (Rm 12:14-21). Thế nhưng nhiều người lại cho rằng đời sống thực tế phức tạp hơn nhiều, khó có thể yêu thương và tha thứ cho mọi người.

Tuy nhiên, hãy cân nhắc các vụ khủng bố thường xuyên xảy ra và giết người bừa bãi ngày nay, đó là hậu quả của các cuộ xung đột giữa các quốc gia, sự tha thứ là khí cụ rất cần thiết để chữa lành các vết thương của thế giới đầy những thứ rắc rối này. Tha thứ là thách đố lớn vì hòa bình thế giới, tha thứ là điều cấp bách và không thể coi thường. Xã hội luôn cần có hòa bình và tha thứ. Các gia đình, các giáo xứ, các cộng đoàn tu trì, các hội đoàn, các nhóm, các tổ chức, các quốc gia, và cả cộng đồng quốc tế luôn rất cần sự tha thứ để phục hồi các hệ lụy đã bị rạn nứt hoặc bị tách rời.

Cựu Ước giới thiệu Thiên Chúa là Đấng “có lòng thương xót và hay tha thứ” (Đn 9:9). Đức Chúa là Thiên Chúa của ân sủng, thương xót không ngừng, và sẵn sàng tha thứ, mặc dù chúng ta “cứng đầu cứng cổ không vâng lệnh Chúa truyền, giả điếc làm ngơ, cũng chẳng thèm ghi nhớ những kỳ công Chúa làm” (Nkm 9:16). Trong Tân Ước, lòng tha thứ được thể hiện bởi Thánh Stêphanô và Thánh Phaolô, nhưng đỉnh cao và kiểu mẫu của sự tha thứ được diễn tả nơi Đức Giêsu Kitô. Trái tim tha thứ là biểu tượng của sự vĩ đại. Chúng ta có mẫu gương về sự chịu đựng, sự tử tế, lòng bác ái và lòng tha thứ mà Thiên Chúa đã tạo ra hoàn hảo nơi Chúa Giêsu, và chúng ta phải nỗ lực noi gương.

Chúa Giêsu bị hành hạ, bị sỉ nhục, bị đội vòng gai, bị mỉa mai,… Nhưng Ngài vẫn chịu đựng mọi nhục hình mà con người áp đặt. Khi bị treo trên Thập Giá, Ngài đã nhìn những người lính Rôma bằng ánh mắt nhân từ và bênh vực họ trước mặt Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34).

Chúa Giêsu đã tha thứ cho chúng ta đến giọt máu cuối cùng, vô điều kiện, thế thì chúng ta không thể không thương xót và không tha thứ cho nhau!

TRẦM THIÊN THU

(Viết theo DivineMercy.org)

From: ngocnga_12 & Anh chị Thụ Mai gởi

NHỮNG DỰ ÁN HUỶ DIỆT ĐẤT NƯỚC

NHỮNG DỰ ÁN HUỶ DIỆT ĐẤT NƯỚC

Lê Phú Khải

Dư luận cả nước đang xôn xao về dự án sân bay Long Thành với chi phí xây dựng gần hai chục tỷ đô la Mỹ với một nền kinh tế quốc dân đang chới với công nợ, của một đất nước đang nghèo xác xơ như nước ta. Truyền hình quốc gia vừa đưa hình ảnh đồng bào miền núi phải qua suối rộng bằng cáp treo để vận chuyển hàng hoá và đã có chết người vì phương tiện giao thông hoang dã tự chế này.

Xem trên truyền hình thấy các ông nghị trong Quốc hội phát biểu tán đồng dự án sân bay Long Thành, người ta không thể không liên tưởng đến dự án làm đường xe lửa cao tốc cách đây mấy năm. Lúc đó ông Nguyễn Sinh Hùng đã tuyên bố trên chủ tịch đoàn: Phải làm tàu cao tốc!

Sau đó Quốc hội đã bỏ phiếu bác bỏ dự án khủng khiếp này.

Thoát được cái dự án khủng khiếp làm tàu cao tốc một phần là nhờ Tiến sĩ Tô Văn Trường, một trí thức tâm huyết và thẳng thắn. Anh Tô Văn Trường từng là chuyên gia nhiều năm cho các tổ chức khoa học trên thế giới, anh đi rất nhiều nước, quen biết nhiều nhà khoa học hàng đầu trên thế giới, vì thế, anh biết rõ mười mươi là tàu cao tốc ở các nước đang thất bại. Nếu cần nhanh thì người ta đi máy bay, không đi tàu cao tốc. Các hãng làm tàu cao tốc đang ế ẩm, đang muốn xuất khẩu kỹ nghệ này và đưa các kỹ sư, công nhân làm tàu cao tốc đang thất nghiệp của mình đi kiếm ăn ở các nước lạc hậu.

Anh Trường đã viết hàng chục bài, chứng minh có số liệu, có căn cứ khoa học về sự thảm hại của tàu cao tốc ở các nước. Và anh đã dồn dập gởi các bài viết của anh qua thư điện tử đến hàng chục đại biểu quốc hội trước ngày thông qua dự án tàu cao tốc. Vì thế, đã góp phần chặn đứng thảm họa tàu cao tốc ở một nước nghèo nàn lạc hậu như nước ta.

Nay lại đến dự án khủng sân bay Long Thành. Cũng may là có người biết rõ mười mươi những sự quái đản ở ngành hàng không Việt Nam, đặc biệt là những quái chiêu về các sân bay ở Việt Nam do các đại gia, các nhóm lợi ích đỏ trong quân đội thao túng. Người đó là nhà báo Nguyễn Đình Ấm, người đã làm việc cả đời trong ngành hàng không Việt Nam. Khi còn làm việc ở tạp chí của ngành hàng không Việt Nam, anh đã tố cáo trước dư luận nhiều chuyện tiêu cực, tham nhũng trong ngành theo lời kêu gọi của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh về “Những việc cần làm ngay” một thời.

Vì ngay thẳng, nhà báo Nguyễn Đình Ấm đã bị bầm dập nhiều năm. Anh bị đình chỉ viết báo và phải đi bán báo của ngành hàng không nhiều năm. Do đi lang thang bán báo khắp cả nước, khắp ngành hàng không nên anh càng nắm được nhiều thông tin về các sân bay. Anh đã lên tiếng kịp thời về sân bay Long Thành trong bài viết “Sân golf đuổi sân bay”.

Khi bị kỷ luật thôi không được viết ở tờ tạp chí của ngành, anh Ấm còn “may mắn” được đi theo các chuyến bay quốc tế để làm các công việc lặt vặt. Với lòng yêu nghề, thiết tha với lợi ích của ngành hàng không quốc gia, với nghiệp vụ của một phóng viên, nhà báo Nguyễn Đình Ấm đã điều tra được các số liệu quan trọng ở các sân bay quốc tế các nước. Anh đã công bố các số liệu này trong bài viết “Sân golf đuổi sân bay”, đã vạch rõ những nhận định hoang đường về số lượng khách sẽ có ở sân bay Long Thành trong… 40 năm sau!

Về con người am tường các sân bay Việt Nam và quốc tế Nguyễn Đình Ấm, tôi có một kỷ niệm thật khó quên. Cách đây vừa tròn 20 năm, tôi bỗng nhận được một lá thư viết tay đề ngày 15/10/94 của Nguyễn Đình Ấm, một người tôi chưa từng quen biết. Lá thư gửi qua tay phi công Mai Trọng Tuấn, một người rất nổi tiếng trong ngành hàng không Việt Nam. Trong thư anh Ấm tâm sự với tôi về những lần anh đã “… can ngăn, đòi ông Nhị (tổng cục trưởng – LPK) phải ngăn chặn các vụ việc tiêu cực, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, cục bộ địa phương bè cánh của các tay chân và bản thân ông…” “dùng tiền bạc, lợi ích của nhà nước một cách vô tội vạ”, v.v.

Viết thư cho tôi, anh Ấm hy vọng những nhà báo lâu niên như tôi và các đồng nghiệp của tôi ở TP HCM – nơi báo chí sôi động – có thể hiểu và giúp đỡ anh về dư luận trong công cuộc đấu tranh chống tiêu cực ở ngành hàng không Việt Nam mà anh cho rằng “mặc dù khó khăn, gian khổ và nguy hiểm nhưng tôi vẫn quyết tâm giữ lấy phẩm giá của mình”.

16 năm sau, trong một lần ra Hà Nội tôi mới có dịp gặp Nguyễn Đình Ấm, người viết cho tôi lá thư đề ngày 15/10/94 mà trước đó tôi chưa một lần quen biết. Lá thư ấy tôi vẫn còn giữ đến hôm nay.

clip_image002

Vì thế, tôi không hề ngạc nhiên khi Nguyễn Đình Ấm xuất hiện trong bài viết “Sân golf đuổi sân bay” đầy sức thuyết phục, đầy tâm huyết, khi người ta định đưa ra Quốc hội để thông qua dự án sân bay Long Thành đầy hiểm hoạ cho đất nước.

Viết đến đây tôi lại nhớ những lời tiên tri của bác Nguyễn Khắc Viện. Đại hội VI (1986) vừa xong, bác vỗ vai tôi nói ngay: Đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị thì bọn tư bản nó sướng lắm! Nó sẽ được đầu tư vào một nước mà ở đó xí nghiệp, nhà máy của nó không phải bảo vệ môi trường, không có công đoàn độc lập để bảo vệ người lao động, không có báo chí tự do để tố cáo tội ác của các ông chủ tư bản, nhất là ông chủ tư bản ở các nước tư bản châu Á mới ngoi lên. Nó tha hồ vơ vét. Mà đã là tư bản thì càng lời càng tốt, càng vơ vét nhiều càng tốt. Đút lót các quan tham ở nước sở tại là xong hết. Thiên nhiên ở nước ta sẽ bị tàn phá tối đa. Các công trình rất “hoành tráng” (tàu cao tốc, sân bay khủng – LPK), các resort cao cấp sẽ mọc lên, bãi biển đẹp sẽ được cho thuê, tất cả chỉ để phục vụ bọn giàu có và man rợ, dân chúng thì càng ngày càng nghèo đói và bị đuổi đi để chúng chiếm đất… Tư bản ở chính nước nó thì nó không làm được những điều đó, vì có thiết chế dân chủ kìm chân…

Những lời bác Viện văng vẳng bên tai tôi… Hình ảnh đồng bào qua suối bằng cáp treo tự chế hiện ra trước mắt tôi…

Liệu các đại biểu của dân có thông qua dự án khủng sân bay Long Thành không? Hãy chờ xem!!!

L.P.K

ĐTC: Phục sinh là nền tảng đức tin của chúng ta

ĐTC: Phục sinh là nền tảng đức tin của chúng ta

Chuacuuthe.com

1

VRNs (04.11.2014) -Sài Gòn- theo news.va- Hôm qua, thứ hai 3.11, sau thánh lễ sáng tại nguyện đường Santa Marta, vào khoảng gần trưa, Đức Thánh Cha đã cử hành Thánh Lễ thứ hai tưởng nhớ đến tất cả các Hồng Y và Giám Mục đã qua đời trong năm qua.

Thánh Lễ, được tổ chức tại Đền Thờ Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha nhắc nhở chúng ta rằng nhờ sự phục sinh của Chúa Giêsu, đức tin của chúng ta được tràn đầy niềm vui chân lý và sự sống đời đời.


ĐTC suy gẫm dựa trên bài đọc thứ II trích từ sách Maccabê nói về vị lãnh đạo người Do Thái đã quyên được khoảng hai ngàn quan tiền, để xin dâng lễ đền tội cho những chiến binh đã ngã xuống vì tin rằng người chết sẽ sống lại (2 Mac 12, 43-46 ). Đức Thánh Cha nói chúng ta phải cảm tạ Lời Chúa vì nhờ lời Ngài này đã soi sáng đức tin của chúng ta vào mầu nhiệm phục sinh.

Toàn bộ Mặc Khải Thần Linh là kết quả của cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân Ngài và đức tin của chúng ta gắn kết với cuộc đối thoại này trong suốt dòng lịch sử.

Không khỏi ngạc nhiên về điều vĩ đại, quan trọng và mầu nhiệm siêu phàm như mầu nhiệm Phục Sinh đòi hỏi một cuộc hành trình dài như vậy trong lịch sử cho đến khi Chúa Giêsu Kitô xuất hiện.

Chúa Giêsu có thể nói: “Ta là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11, 25) bởi vì nơi Ngài mầu nhiệm này không chỉ được mạc khải hoàn toàn, nhưng qua Ngài, lần đầu tiên, nó trở thành hiện thực.

Nhắc lại đoạn Tin Mừng theo Thánh Máccô tường thuật về cái chết của Chúa Giêsu và ngôi mộ trống, ĐTC chỉ ra rằng biến cố này đạt đỉnh điểm của hành trình cứu độ trong lịch sử: biến cố Phục Sinh đáp ứng khát vọng của dân Chúa, của mỗi con người và của toàn thể nhân loại.

Mỗi người chúng ta được mời gọi dự phần vào biến cố này. Chúng ta được mời gọi để đứng dưới chân Thập Giá của Chúa Giêsu, như Đức Maria, như những phụ nữ, như viên đội trưởng quân La Mã để nghe tiếng kêu của Ngài, cho đến hơi thở cuối cùng và sau đó là sự im lặng đè nặng suốt ngày Thứ Bảy Tuần Thánh. Và rồi chúng ta được mời gọi đến ngôi mộ để thấy rằng tảng đá lớn đã được lăn sang một bên và để nghe tin vui: “Người đã sống lại, không còn ở đây nữa” (Mc 16: 6). Đó là nơi nhân loại tìm thấy câu trả lời, đó là nơi là nền tảng, là đá. Sẽ không có trong “những từ khôn ngoan và có sức thuyết phục” nhưng trong Lời hằng sống của Thập Giá và trong mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Kitô.

Những gì Thánh Phaolô Tông Đồ rao giảng sự Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Nếu Ngài đã chẳng sống lại, đức tin của chúng ta trở nên trống rỗng và chúng ta là những kẻ đáng thương. Nhưng Ngài đã sống lại, Ngài là sự sống lại, nên đức tin của chúng ta được tràn niềm vui chân lý và sự sống đời đời.

Vì vậy, hôm nay chúng ta lặp lại truyền thống dâng lễ hy sinh đền tạ cho các anh em Hồng Y và Giám Mục, những người đã ra đi trước chúng ta trong thời gian mười hai tháng qua. Lời cầu nguyện của chúng ta được phong phú bởi những cảm thức, những kỷ niệm, và lòng biết ơn đối với chứng tá của những người chúng ta được quen biết, những người mà cùng với họ chúng ta chia sẻ sự phục vụ trong Giáo Hội. Nhiều gương mặt của các vị đang ở trước mặt chúng ta, và tất cả các vị đang được Cha trên trời của chúng ta nhìn đến với ánh mắt yêu thương và thương xót.

Và khẩn khoản nài xin sự chuyển cầu của Đức Mẹ Maria cho những người con yêu quý của Mẹ là các Hồng Y và Giám Mục được hưởng niềm vui nơi thành Giêrusalem mới, hiệp cùng với tất cả các tín hữu mà các ngài đã phục vụ trên dương thế.

Hoàng Minh