Chiêu trò trục lợi trên dự án metro Bến Thành-Suối Tiên

Chiêu trò trục lợi trên dự án metro Bến Thành-Suối Tiên
October 13, 2014

Nguoiviet.com

SÀI GÒN (NV) Chỉ một dự án metro dài 20km, nhà cầm quyền thành phố Sài Gòn đã thay đổi thiết kế liên tục đến 3 lần với chiều hướng tăng vốn đầu tư xây dựng, nhằm trục lợi “khủng” trên tiền thuế của người dân.

Theo báo Pháp Luật Sài Gòn, nguyên nhân điều chỉnh là do qua nghiên cứu, nếu chỉ xây hai tầng sẽ không đủ bố trí các công trình tiện ích tại ga; không đảm bảo nhu cầu về tĩnh không và không có tầng trệt làm bãi đậu xe cho hành khách…



Thiết kế ban đầu của tuyến Metro Bến Thành-Suối Tiên. (Hình: Tuổi Trẻ)

Bằng cách đưa ra lý do để trục lợi hợp pháp này, nhà cầm quyền Sài Gòn đã có phúc trình gởi chính phủ CSVN cho biết, nhiều hạng mục của dự án xây dựng tuyến đường sắt đô thị số 1 Bến Thành-Suối Tiên sẽ được điều chỉnh thiết kế, quy mô xây dựng so với thiết kế ban đầu.

Theo đó, đối với 11 ga trên cao, ngoài ga bến xe Suối Tiên vẫn giữ thiết kế hai tầng, các ga còn lại sẽ được điều chỉnh từ hai tầng lên ba tầng.

Cụ thể, 10 ga trên cao gồm: Văn Thánh, Thảo Ðiền, Rạch Chiếc, Phước Long, Bình Thái, Thủ Ðức, khu công nghệ cao, Suối Tiên, Tân Cảng và An Phú sẽ được thiết kế tầng trệt dùng làm bãi đậu xe, tầng hai phục vụ hành khách, tầng ba là sân ga.

Bên cạnh đó, đối với cầu trên cao, cầu vượt đường ô tô, cầu vượt sông và cầu vượt các công trình khác cũng có sự thay đổi. Trong đó, cầu vượt trên cao theo thiết kế ban đầu như cầu vượt sông Sài Gòn và Rạch Chiếc từ 393m kéo dài lên 472.5m… (?!).

Cùng với việc điều chỉnh thiết kế, quy mô xây dựng, nhà cầm quyền Sài Gòn cũng cho biết, thời gian xây dựng, hoàn thành các gói thầu sẽ chậm hơn so với dự kiến ban đầu từ 1-2 năm.

Dự án tuyến metro số 1 được khởi công tháng 8, 2012, dự tính đưa vào sử dụng vào năm 2020 (trước đó là 2018), với tổng mức đầu tư ban đầu là $1.09 tỷ bằng vốn vay ODA và vốn ngân sách. Song, sau đó dự án bị điều chỉnh một số hạng mục nhằm nâng tổng mức đầu tư lên $2.07 tỷ. Và nay, nhà cầm quyền lại thay đổi thiết kế chắc chắn kinh phí xây dựng sẽ tăng lên đáng kể. (Tr.N)

Nhân viên y tế LHQ chết vì Ebola ở Đức

Nhân viên y tế LHQ chết vì Ebola ở Đức

Khoa Truyền nhiễm tại bệnh viên St Georg, Leipzig, Đức

Bệnh nhân Ebola được điều trị tại bệnh viện St Georg ở Leipzig, Đức

Một nhân viên Liên Hiệp Quốc (LHQ) bị nhiễm Ebola vừa qua đời tại một bệnh viện ở Đức.

Các bác sĩ tại bệnh viện ở Leipzig cho biết người đàn ông 56 tuổi đã chết vào đầu giờ sáng hôm thứ Ba.

Đợt bùng phát bệnh dịch này đã khiến hơn 4.000 người thiệt mạng kể từ tháng Ba năm nay, phần lớn tại Liberia, Sierra Leone, Guinea và Nigeria.

Tổ chức Y tế Thế giới miêu tả đây là “tình trạng khẩn cấp nghiêm trọng nhất từng có thời hiện đại”. Hoa Kỳ và Anh Quốc là trong số những quốc gia bắt đầu áp dụng việc kiểm tra y tế tại sân bay.

Người đàn ông mới qua đời này là nhân viên y tế của LHQ tại Liberia – một trong những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất trước đợt bùng phát này. Đây cũng là nơi ông bị nhiễm Ebola. Ông tới Đức hôm thứ Năm tuần trước để được điều trị.

“Bất chấp những biện pháp y tế tích cực và những nỗ lực tối đa của toán nhân viên y tế, nhân viên LHQ 56 tuổi đã bị nhiễm bệnh nặng,” một tuyên bố từ bệnh viện St Georg nói.

Ông là bệnh nhân Ebola thứ ba được điều trị virus chết người này tại Đức, theo tờ báo Der Spiegel đưa tin.

Một bệnh nhân khác vẫn đang được điều trị tại bệnh viện Frankfurt trong khi bệnh nhân thứ ba được xuất viện ở Hamburg sau năm tuần điều trị, tờ báo viết thêm.

Trung Đông: Dân Kurds ở giữa 2 kẻ thù và 3 đối thủ

Trung Đông: Dân Kurds ở giữa 2 kẻ thù và 3 đối thủ

HÀ TƯỜNG CÁT/Người Việt

Dân Kurds đứng ở tuyến đầu trong cuộc chiến đấu của quốc tế chống tổ chức quá khích tự xưng là Nhà Nước Hồi Giáo (IS) ở Trung Đông.

Họ cũng còn đứng về phía chống chính quyền Syria và  tuy hiện nay không có xung đột nhưng Kurds vẫn bị Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq, Iran hoài nghi dè chừng về chiều hướng tranh đấu muốn ly khai và phân chia lãnh thổ.

Các nữ chiến binh Pershmerga của Iraq Kurdistan,  một lực lượng có khả năng chiến đấu hiệu quả  chống ISIL  (Hình: Ahmad al-Rubaye-Pool/Getty Images)

Kurds là một dân tộc không tổ quốc đông nhất thế giới với khoảng 35 triệu người, hầu hết sinh sống tại Trung Đông, số còn lại rải rác lưu vong ở nhiều quốc gia trên toàn cầu.

Dân Kurds tập trung trong một vùng diện tích khoảng  gần 400,000 km2, được gọi là Kurdistan, với 65,000 km2 trên lãnh thổ Iraq, 190,000 km2 ở Thổ Nhĩ Kỳ, 125,000 km2 ở Iran, 12,000 km2 ở Syria, còn lại ở các nước miền Nam Nga như Armenia, Azerbaijan,… Kurdistan có quy chế bán tự trị trong Iraq nhưng chưa phải ở các quốc gia khác, và từ lâu người Kurds đã tranh đấu võ trang kháng chiến cho điều này và mục tiêu tối hậu của họ là hình thành một quốc gia độc lập.

Năm 2011 dân chúng Syria nổi dậy theo kiểu phong trào cách mạng Mùa Xuân Á Rập chống chế độ độc tài của Tổng Thống Bashar al-Assad. Nhưng cuộc nội chiến Syria tiếp theo đó đi tới những diễn biến hết sức phức tạp, không nên hiểu chỉ đơn giản là một cuộc đấu tranh  vì tự do dân chủ, mà bao gồm nhiều yếu tố tôn giáo, chủng tộc, phe phái chính tri đặc thù của khu vực Trung Đông.

Dân Kurds sống ở miền Bắc Syria đóng một vai trò quan trọng trong cuộc nội chiến, họ đứng về phía các phe phái võ trang nổi dậy, đánh chiếm các thị xã và làng mạc và dựng cờ của đảng PYD (Liên Hiệp Dân Chủ), một đảng chính trị của dân Kurds.

Một số phân tích gia cho rằng Bashar al-Assad có ý chấp nhận tình trạng ấy như một biện pháp trả đũa Thổ Nhĩ Kỳ vì vùng này nằm sát biên giới và dân Kurds nổi dậy trong nước Thổ từ trước vẫn bị đàn áp quyết liệt.

Thủ Tướng Thổ Recep Tayyip Erdogan tán thành việc lật đổ al-Assad và hỗ trợ lực lượng nổi dậy FSA (Quân Đội Syria Tự Do) là một nhóm ôn hoà được Tây Phương ủng hộ.  Lúc đó FSA  đang nắm thế chủ động trong cuộc nội chiến và giữa FSA với PYD vẫn thường xảy ra xung đột.

Nhưng rồi qua ba năm nội chiến, lực lượng FSA suy yếu dần trước sức tấn công của quân đội chính quyền al-Assad, trong khi những nhóm Hồi Giáo quá khích Mặt Trận Al Nusra, phân bộ của al-Qaeda  và Nhà Nước Hồi Giáo ISIL lại nổi lên lớn mạnh. Từ tháng 6 vừa qua ISIL mở cuộc tổng tấn công quy mô đánh chiếm được nhiều vùng ở Syria và Iraq, đồng thời gây nên sự đe dọa sống còn cho dân Kurds vì sự kỳ thị đối với những chủng tộc bị coi là đi ngược lập trường tôn giáo cực đoan của họ.

Chính sách của Thổ Nhĩ Kỳ đối với Syria và dân Kurds có ảnh hưởng lớn trong tình hình tranh chấp quyết liệt ở Trung Đông. Thủ Tướng Erdogan, bây giờ là Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ, muốn al-Assad phải ra đi nhưng sự kiện ông này vẫn còn tồn tại đã làm lệch lạc những tính toán của Thổ. Các nước NATO, trong đó Hoa Kỳ nắm vai trò quyết định chính, phần nào đồng ý với Nga rằng một nước Syria không có chính quyền sẽ là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của những tổ chức Hồi Giáo quá khích và khủng bố. Vì vậy, năm ngoái Hoa Kỳ đã hủy bỏ kế hoạch can thiệp quân sự vào Syria khi chính quyền nước này dùng đến vũ khí hóa học, thay vào đó chấp thuận để Syria trao nạp phá hủy hết vũ khí hóa học và giải quyết vấn đề chính trị bằng đường lối ngoại giao với áp lực quân sự.

Khi Tổng Thống Obama cho lệnh mở chiến dịch không quân đánh ISIL, Thổ Nhĩ Kỳ tỏ ra lưỡng lự trong sự tham gia. Là thành viên Hồi Giáo duy nhất trong NATO, Thổ có những điều kiện tế nhị nhất định trong sự đối đầu với ISIL. Giống như nhiều nước  Trung Đông khác, Thổ Nhĩ Kỳ do dự khi phải chống lại một phe phái cùng là Hồi Giáo Sunni dù rằng các hoạt động khủng bố cũng là nguy cơ cho chính mình. Thổ Nhĩ Kỳ cũng lo ngại rằng chống ISIL là giúp cho al-Assad tồn tại và “chiến lược chống ISIL sẽ không thể thành công nếu không tập trung vào mục tiêu thay đổi chế độ Syria.”

Mặt khác, Thổ Nhĩ Kỳ không muốn chấp nhận sự hiện diện của một khu vực dân Kurds tự trị ở Syria ngay cạnh biên giới, sẽ có tác động xấu đối với dân Kurds ở Thổ mà phong trào kháng chiến PKK đã 30 năm chiến đấu đòi tự trị trong lãnh thổ của mình. Điều ấy thể hiện trong cuộc chiến tại Kobani, thành phố do các lực lượng dân Kurds kiểm soát ở Syria từ 2012, đang bị ISIL tấn công vây hãm từ tuần trước và chắc chắn đã thất thủ nếu không có sự can thiệp oanh kích của máy bay Hoa Kỳ. Thổ Nhĩ Kỳ triển khai quân đội và chiến xa đến biên giới nhưng chỉ đứng quan sát mà không trợ giúp can thiệp vào cuộc chiến.

Mùa hè vừa qua, Tổng Thống Massoud Barzani của lãnh thổ tự trị Kurdistan ở Iraq, công khai tuyên bố sẽ vận động tiến tới thành lập một quốc gia độc lập cho dân Kurds. Tiếp đó chiến binh Hồi Giáo ISIL tấn công đánh chiếm nhiều vùng ở Iraq. Lực lượng dân quân Pershmerga của dân Kurds đã kháng cự quyết liệt đẩy lui được ISIL tại nhiều nơi và còn chiếm lại được thành phố  Kirkut và vùng phụ cận mà quân đội Iraq đã tháo lui. Kurdistan và Iraq từ năm 2003 đã tranh chấp gay gắt về sự phân chia  quyền lợi ở khu vực mỏ dầu lửa Kirkut, đồng thời về quy chế của Kurdistan trong liên bang Iraq.

Tuy vẫn không đồng ý cho dân Kurds tự trị ở Syria hay trong nước mình, nhưng Thổ Nhĩ Kỳ gần đây lại tỏ ra ủng hộ Kurdistan tự trị ở Iraq. Do đó, mặc dầu bị đe dọa nguy hiểm vì ISIL, cuộc chiến tranh ở Iraq hiện nay lại chính  là cơ hội bằng vàng cho dân Kurds gia tăng quyền hạn và tiến tới thành một quốc gia độc lập. (HC)

Nợ công VN sắp ‘vượt ngưỡng an toàn’

Nợ công VN sắp ‘vượt ngưỡng an toàn’

Các doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải và xây dựng có tỷ lệ nợ xấu cao

Quốc hội Việt Nam vừa thông báo nợ công sắp vượt trần, trong lúc giới chuyên gia cảnh báo mối nguy tiềm ẩn từ khối doanh nghiệp nhà nước.

Báo điện tử VnExpress hôm 14/10 dẫn lời Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu trước đại diện các doanh nghiệp châu Âu tại Hà Nội cho biết nợ công có khả năng “đạt suýt soát 64% GDP” vào cuối năm 2015.

“Chúng tôi quy định nợ công không vượt quá 65% GDP”, bà nói thêm.

Trước đó, báo cáo được chính phủ Việt Nam đưa ra tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hôm 9/10 cho biết nợ công có thể sẽ đạt tương đương 60,3% GDP vào cuối năm 2014.

Tính đến ngày 14/10, nợ công của Việt Nam, theo Đồng hồ nợ công toàn cầu của tạp chí The Economist, là 84,6 tỷ đôla.

Trả lời BBC hôm 14/10, Tiến sỹ Phạm Thế Anh, giảng viên tại Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, cho rằng tình trạng nợ công gia tăng sẽ làm giảm uy tín của chính phủ trong vấn đề cải cách nền kinh tế.

Ông Thế Anh cũng cảnh báo những rủi ro tiềm ẩn do việc thống kê nợ công hiện nay không bao gồm nợ từ doanh nghiệp nhà nước.

‘Đi ngược lời hứa cải cách’

Nợ của doanh nghiệp nhà nước mới là nguy cơ tiềm ẩn và là rủi ro lớn nhất với an toàn nợ công của Việt Nam hiện nay

Tiến sỹ kinh tế Phạm Thế Anh

BBC: Thưa tiến sỹ, ông có thể cho biết những rủi ro nền kinh tế sẽ phải đối mặt nếu nợ công chạm ngưỡng an toàn?

Tiến sỹ Phạm Thế Anh: Như Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã nói, trong vòng 1-2 năm tới, nợ công của Việt Nam có thể tăng sát trần, đạt tới 64% GDP.

Ở đây là họ đã tính tới một số các dự án mà chính phủ đang xin phép quốc hội phê duyệt để thực hiện ví dụ như dự án sân bay Long Thành và một số dự án lớn khác.

Các dự án này chủ yếu đều dùng vốn đi vay nên nếu được cho phép thực hiện sẽ đẩy mức nợ công của Việt Nam lên sát ngưỡng an toàn.

Việc này có thể tác động đến các nhà đầu tư tài chính, gây tâm lý lo ngại và có thể làm ảnh hưởng đến đánh giá về độ an toàn của nợ công Việt Nam.

Bên cạnh đó, mức vay nợ của Việt Nam hiện nay tương đối là cao. Trong khi đó, chính phủ vẫn tiếp tục tham gia cam kết thực hiện các dự án kinh tế quá lớn, nằm ngoài khả năng cân đối thu chi.

Việc này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực tư nhân, cụ thể là khiến vốn mà lẽ ra khu vực tư nhân có thể tiếp cận bị giảm đi rất nhiều.

Điều này cũng làm giảm giá trị lời cam kết của chính phủ trong việc thực hiện cải cách doanh nghiệp nhà nước, thu hẹp khu vực đầu tư công trong nền kinh tế, bởi vì chỉ số nợ công đang phản ánh điều ngược lại.

Hoạt động của Công ty Quản lý Tài sản (VAMC) đã chậm lại trong thời gian gần đây

Chưa tính doanh nghiệp nhà nước

BBC: Thưa ông, tại Việt Nam, nợ của các doanh nghiệp nhà nước lại không được tính vào nợ công. Điều này dẫn tới những rủi ro nào?

Tiến sỹ Phạm Thế Anh: Nợ công được công bố chính thức của Việt Nam hiện nay là nợ do chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương, không bao gồm nợ của doanh nghiệp nhà nước.

Theo tôi thì nợ của doanh nghiệp nhà nước mới là nguy cơ tiềm ẩn và là rủi ro lớn nhất với an toàn nợ công của Việt Nam hiện nay.

Nếu chúng ta nhìn vào thực tiễn thì có thể thấy có một số khoản nợ không được chính phủ bảo lãnh, nhưng khi làm ăn thua lỗ thì chính phủ vẫn phải đứng ra cam kết trả nợ thay.

Trên thực tế, nợ của doanh nghiệp nhà nước hiện nay mà không được chính phủ bảo lãnh cũng gần tương đương với nợ công chính thức được công bố.

Trong số các doanh nghiệp nhà nước có nợ lớn thì có rất nhiều doanh nghiệp làm ăn khó khăn, không trả được nợ.

Nhiều doanh nghiệp có tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu lên tới 30 lần. Có thể điểm tên một số doanh nghiệp nhà nước đó như Công ty Hàng hải của Vinashin chuyển sang Vinalines, nợ có thể lên tới 70.000 – 80.000 tỷ.

Các doanh nghiệp trong ngành giao thông vận tải và xây dựng cũng có hệ số nợ rất lớn, có thể lên đến hơn 10 lần.

Đây là những mầm mống, nguy cơ đe dọa đến vấn đề an toàn nợ công của Việt Nam.

‘Ngân sách không trả được nợ xấu’

BBC: Vừa rồi Bộ Kế hoạch Đầu tư có đề xuất là sử dụng một phần ngân sách để xử lý nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước. Ông nghĩ gì về điều này?

Tiến sỹ Phạm Thế Anh: Điều đó theo tôi là không khả thi vì ngân sách hiện nay không đủ để trang trải chi tiêu của chính phủ, bao gồm chi thường xuyên và chi đầu tư. Hàng năm, thâm hụt ngân sách lên đến 6 – 7%.

Như vậy nếu nói lấy nguồn thu từ ngân sách nhà nước để trả nợ xấu thì không khả thi vì nếu có lấy thì cũng không đáng kể so với quy mô nợ xấu hiện nay.

VAMC về bản chất không phải là công ty xử lý nợ xấu. Đây chỉ là một công cụ để kéo dài thời gian xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại.

Tiến sỹ kinh tế Phạm Thế Anh

BBC: Ông đánh giá thế nào về mức độ hiệu quả của Công ty Quản lý Tài sản (VAMC) trong vấn đề xử lý nợ xấu hiện nay?

Tiến sỹ Phạm Thế Anh: VAMC về bản chất không phải là công ty xử lý nợ xấu. Đây chỉ là một công cụ để kéo dài thời gian xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại.

Các ngân hàng thương mại hiện nay khi vướn vào nợ xấu thì nguồn vốn của họ bị tắc nghẽn ở khoản nợ xấu đó.

Ngân hàng Nhà nước dùng VAMC để tái cấp vốn cho các ngân hàng đó bằng cách ghi trái phiếu cho các ngân hàng có nợ xấu.

Các ngân hàng này có thể dem trái phiếu thế chấp tại Ngân hàng Nhà nước để lấy tiền dùng vào hoạt động kinh doanh.

Về bản chất, VAMC không phải là công cụ xử lý nợ xấu mà chỉ kéo dài thời gian giúp các ngân hàng thương mại tự giải quyết nợ xấu thông qua tái cấp vốn.

Tôi không nghĩ rằng nó có thể giải quyết được vấn đề nợ xấu hiện nay của Việt Nam.

 

Nước cờ của Bắc Kinh

Nước cờ của Bắc Kinh

Việt-Long- Tổng hợp tin tức quốc tế
2014-10-14

Việt-Long- Tổng hợp tin tức quốc tế
2014-10-14

hongkong-monday

Xô giựt hàng rào giữa sinh viên với người chống biểu tình

RFA photo

Trắc nghiệm

Cảnh sát hành động bất ngờ lúc sáng thứ hai, dẹp bỏ những rào chắn do sinh viên dựng trên các đại lộ. Sinh viên trực tiếp khiếu nại lên chủ tịch Trung Quốc Tập Cận-Bình, yêu cầu xem xét lại về chức vụ lãnh đạo Hồng Kông, và Trưởng Quan Lương Chấn Anh bác bỏ mọi yêu sách của sinh viên. Đó là diễn tiến cuối tuần qua tại Hồng Kông.

Cảnh sát ra tay trước bình minh hôm thứ hai, như để trắc nghiệm phản ứng của sinh viên, nhưng tuyên bố không giải tán biểu tình, mà chỉ giảm thiểu nguy cơ tai nạn lưu thông.

Có xô xát nhưng không có tin đụng chạm mạnh, trong khi 50 người biểu tình tập trung cản trở cảnh sát dỡ rào cản ở khu Vượng Giác (Mong Kok). Những người khác ngăn cản công nhân khai thông đường rầy trong phố. Một số người biểu tình phát biểu chống đối hành động của cảnh sát.

Chiếm cứ lâu dài

Từ cuối tuần qua mấy chục lều trại đã mọc lên trên những con đường của khu trung tâm Hồng Kông. Sinh viên chuẩn bị thực hiện lời đe “chiếm cứ lâu dài” nếu chính quyền từ chối ngồi vào bàn đàm phán về những đòi hỏi dân chủ, và đòi ông Lương từ chức.

most-beautiful-protest

Cuộc biều tình được mô tả là "đẹp nhất thế giới"- Video capture

Mỗi ngày qua khu vực phản đối chính lại mang thêm vẻ thường xuyên và lâu dài. Ít nhất 1 ngàn người lui tới nơi đó vào lúc 11 giờ đêm chủ nhật. Sinh viên ngồi ở bàn học ngoài đường để học hành, hoặc xem tài liệu về cuộc chống đối trên màn ảnh lớn, hay ngồi xếp bằng, xem điện thoại cầm tay. Chiếu, lều, bạt nối nhau kéo dài tới cuối phố.

Sinh viên nói họ không thể dừng cuộc phản đối nếu chính quyền không nhương bộ chút nào, hay ít nhất cũng phải thông đạt quan điểm của họ cho chính quyền trung ương ở Bắc Kinh.

Không thể kéo dài

Chính quyền Hồng Kông tuyên bố không nhượng bộ, gọi đó là phong trào quần chúng vượt quá giới hạn. Trưởng quan Lương Chấn Anh tin rằng phong trào này không thể kéo dài, từ chối đàm phán trừ phi sinh viên chấm dứt biểu tình và bỏ đòi hỏi dân chủ thực sự cho cuộc bầu cử Trưởng quan Hành chánh Hồng Kông năm 2017. Ông nói sinh viên chỉ “có con số không” cho cơ hội một cuộc đầu phiếu tự do, vì như vậy đảng Cộng sản Trung Hoa sẽ phải thu hồi sắc lệnh tháng 8 đã xếp đặt mọi chi tiết cho cuộc tuyển cử này.  Chính quyền tỏ ra muốn chơi nước cờ “kéo dài cho mòn mỏi”, hy vọng sự ủng hộ chống đối sẽ yếu dần rồi phai tàn khi công chúng ngày càng chồng chất nỗi bực dọc vì cuộc sống thường nhật bị xáo trộn.

Đằng sau hành động chống biểu tình

Sáng thứ hai những người dân sự khác tập trung gần nơi chiếm cứ của sinh viên. Trong nhóm này có những công nhân xây dựng và tài xế taxi, đến để phản đối cuộc biểu tình vì đời sống của họ bị tổn hại. Một người tự xưng tài xế taxi nói anh ủng hộ dân chủ, nhưng thu nhập của anh đã giảm 40% từ mươi hôm nay vì lưu thông bị chặn đứng. Hằng trăm người biểu tình chống biểu tình, mang dải băng màu xanh và khăn xanh để phân biệt với phe sinh viên dùng dải băng và khăn vàng. Phe “băng xanh” mang những biểu ngữ ghi “Yêu Hồng Kông , ủng hộ lực lượng cảnh sát”, gọi các sinh viên lãnh đạo phong trào chống đối là “kẻ thù của nhân dân”, hô khẩu hiệu đòi cưỡng hành luật pháp và dẹp sạch cuộc chống đối. Nhóm băng xanh trông lớn tuổi hơn các sinh viên “băng vàng” nhiều, có cả những người nói tiếng Quan thoại của Hoa lục, không nói tiếng Quảng Đông như người Hồng Kông. Sinh viên coi đó là những côn đồ được thuê mướn và người của Bắc Kinh phái đến để chống biểu tình.

“Chiến thắng của Pyrrhus”

hongkong-protest

Hình ảnh Hồng Kông biểu tình – Video capture

Phía sinh viên cũng nhận thấy công chúng bị phiền nhiễu. Một số lãnh đạo sinh viên đã bàn thảo việc giải tỏa một  hay hai trong số ba khu vực chiếm cứ, hoặc mở thêm đường xung quanh để giảm thiểu sự cản trở lưu thông. Tuy nhiên trong số các sinh viên lãnh đạo vẫn còn có nhiều do dự trong sự nhượng bộ như vậy, trừ phi chính quyền nhượng bộ trước một số đòi hỏi của họ.

Suốt cuộc chống đối, sinh viên tránh chỉ trích trực tiếp chính quyền Bắc Kinh. Hôm thứ bảy, họ phổ biến thư ngỏ gởi chủ tịch Trung Quốc Tập Cận-Bình, kêu gọi ông xem xét việc cải tổ chính trị cho Hồng Kông, và quy trách Trưởng quan Lương Chấn Anh về cuộc biểu tình của họ. Thư viết :”Nếu chính quyền trung ương tự tin, chính quyền không nên sợ phải để người dân Hồng Kông  tự mình bầu cử chức vụ Trưởng quan Hành chánh.”

Trung Quốc có vẻ sẽ không nhượng bộ. Hôm thứ bảy báo Nhân dân viết là phong trào biểu tình đã gây bất ổn. Báo Tin tức Trung Quốc do Nhà nước điều khiển gọi yêu sách của sinh viên là “kiêu ngạo và ngu dốt”. Giới quan sát coi đó là ngôn ngữ chứng tỏ Bắc Kinh bắt đầu mất kiên nhẫn.

Tuy nhiên, giáo sự luật đại học Hồng Kông Michael Davis cho rằng chính quyền Hồng Kông đang đi một nước cờ nguy hiểm nếu họ tin rằng chỉ cần chờ cho cuộc chống đối tự phai tàn.  Vị giáo sư nói làm như vậy có thể đem lại hiệu quả về ngắn hạn, nhưng chẳng khác nào “chiến thắng của Pyrrhus”, vị vua thời Cổ Hy Lạp đã đánh bại quân La Mã ở Asculum vào năm 279 trước công nguyên, nhưng cũng bị tổn thất nặng nề không kém.

Nữ y tá gốc Việt, người đầu tiên nhiễm Ebola trong nội địa Mỹ

Nữ y tá gốc Việt, người đầu tiên nhiễm Ebola trong nội địa Mỹ
Monday, October 13, 2014

Nguoiviet.com

DALLAS, Texas (AP) – Trường hợp bị lây nhiễm Ebola đầu tiên trong nội địa Hoa Kỳ vừa được xác định là một nữ y tá gốc Việt, Nina Phạm, 26 tuổi.

Một số cảnh sát ở Dallas đang đứng trước nhà một người bị tình nghi nhiễm Ebola. (Hình: Getty Images)

Người nhân viên y tế Texas có kết quả xét nghiệm dương tính với Ebola mặc dù cô mặc đồ bảo hộ toàn thân khi săn sóc cho một bệnh nhân có tên Thomas Eric Duncan gốc Tây Phi.

Nina Phạm tốt nghiệp y tá bốn năm trước, tại trường Texas Christian University ở Fort Worth vào năm 2010. Cô hiện làm việc tại bệnh viện Texas Health Presbyterian Hospital ở Dallas, cũng là nơi cô và khoảng 50 nhân viên y tế khác tiếp xúc với bệnh nhân Ebola .

Sau khi bệnh nhân Duncan mất vào Thứ Tư tuần trước, cô Nina Phạm bị cách ly vào Thứ Sáu để xét nghiệm. Kết quả dương tính được công bố vào Chủ Nhật.

Một người thân của Nina Phạm, danh tánh chưa công bố, cũng đang được cách ly để chờ xét nghiệm.

Tom Ha, một người bạn của Nina nói với tờ told the Dallas Morning News  rằng Nina có tính luôn giúp đỡ người khác. “Tôi đoán, với trái tim của cô, cô đã vượt qua những gì phải làm để giúp đỡ người đang cần.”

Hiện tại, trưởng Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh (CDC), Bác Sĩ Thomas Frieden, cho biết tình trạng của Nina Phạm là “ổn định.”

Bệnh viện Texas Health Presbyterian Hospital ở Dallas, nơi Nina Phạm và khoảng 50 nhân viên y tế khác tiếp xúc với bệnh nhân Ebola. (Hình: Getty Images)

Bác Sĩ Frieden trước đó có nói rằng “rõ ràng có sự vi phạm về thủ tục an toàn”, và rằng tất cả những ai săn sóc cho ông Duncan nay được xem đã có nguy cơ tiếp cận với dịch bệnh.

Tuy vậy, ông Frieden xin lỗi nhân viên bệnh viện, và nói “sự vi phạm về thủ tục an toàn” không chứng tỏ sự thiếu cố gắng của các nhân viên và bệnh viện.

“Tôi xin lỗi đã làm mọi người nghĩ rằng tôi chỉ trích bệnh viện,” ông Frieden nói hôm Thứ Hai, “Tôi rất lấy làm tiếc là một nhân viên y tế đã bị nhiễm bệnh khi giúp bệnh nhân Ebola.”

Ông Friden nói hiện phía điều tra chưa rõ vì sao cô Nina Phạm bị nhiễm khuẩn. Ông khẳng định là các thủ tục về an toàn, như quần áo bảo hộ và mặt nạ, là hoàn toàn bảo vệ được các nhân viên y tế trong hàng thập niên qua.

Toàn bộ sự việc bắt đầu khi bệnh nhân Duncan từ Liberia đến Hoa Kỳ để thăm gia đình vào hôm 20 tháng 9, và năm ngày sau thì đến bệnh viện xin được khám vì lên sốt và đau ở vùng bụng. Tuy ông có nói với y tá rằng ông đến từ Phi Châu nhưng vẫn được cho về nhà.

Ông Duncan trở lại khám vào ngày 28 tháng 9 và bị giữ ở phòng cách ly vì tình nghi bị nhiễm Ebola. Ông qua đời vào hôm Thứ Tư.

Khi mới đặt chân đến Dallas, tuy không tỏ dấu hiệu bị bệnh nào nhưng ông Duncan đã từng tiếp cận với Ebola.

Láng giềng ông ở Liberia tin rằng ông bị lây nhiễm khi giúp đỡ một phụ nữ mang thai cạnh nhà, người sau đó qua đời vì Ebola.

Về việc y tá Nina Phạm bị nhiễm bệnh khi chăm sóc bệnh nhân Ebola, Bác sĩ Thomas Frieden nói: “Việc xảy ra trường hợp nhiễm Ebola đầu tiên tại Mỹ đã thay đổi một số điều và không thay đổi một số điều khác. Nó không thể đổi sự thật về cách thức khuẩn Ebola lây nhiễm. Nó không thể đổi việc khuẩn Ebola có thể được chữa trị một cách an toàn. Nhưng nó rõ ràng thay đổi cách chúng ta tiếp cận nó.”

Đồng thời, hiện có tin cho biết tại một bệnh viện khác có tên Baptist Medical Center, một bệnh nhân cũng đang được giữ trong lúc xác định xem có bị Ebola hay không. ((T.A.)

 

KHI Vợ/Chồng BỊ LÚ LẪN (Bệnh Alzheimer)…

KHI Vợ/Chồng BỊ LÚ LẪN (Bệnh Alzheimer)…

Chúng tôi đã sống với nhau gần 50 năm hạnh phúc. Tuổi đời cách xa nhau khá lớn, 9 năm, tôi là người vợ may mắn được cưng chiều​ và chồng tôi không để tôi thiếu thốn điều gì, từ tình thương đến vật chất

Chúng tôi đã sống với nhau gần 50 năm hạnh phúc. Tuổi đời cách xa nhau khá lớn, 9 năm, tôi là người vợ may mắn được cưng chiều​ và chồng tôi không để tôi thiếu thốn điều gì, từ tình thương đến vật chất. Năm nay tôi bước vào tuổi 70, một người đàn bà còn đủ sức sống, sức khỏe .

Từ ngày hai vợ chồng về hưu, chúng tôi vẫn giữ nếp sống cũ, lui tới với bạn bè, du lịch khắp nơi . Và từ khi các cháu nội ngoại đua nhau ra đời, lại thêm bận rộn chuyện nuôi cháu giúp con. Trong nhà vang tiếng trẻ cười, nhất là dịp cuối tuần, con cháu về đầy nhà, tôi bận túi bụi, đi chợ nấu ăn lo bữa cơm gia đình. Tôi cảm thấy hạnh phúc thật đầy đủ …

Cách đây hơn một năm, các bác sĩ tìm ra nhà tôi bị bệnh Alzheimer ! căn bệnh này xuất hiện từ từ rồi tăng tiến bất ngờ, mau lẹ đến phải lo ngại. Alzheimer, tôi có xa lạ gì với cái tên này đâu ! tôi vẫn thường cười nhạo về sự đãng trí của chồng … quên chìa khóa …lái xe lạc đường về …để cái này qua chổ khác, rồi loay hoay kiếm tìm…

Và tôi cũng đã nghe đến, biết đến từ lâu. Suốt cả cuộc đời nghề nghiệp của tôi trong 40 năm làm việc ở Canada, săn sóc thuốc men cho các bệnh nhân cao tuổi, thường thường là cuối cùng họ cũng phải chịu số phận dọn vào ở trong các viện dưỡng lão dành cho những ông bà già mắc bệnh Alzheimer.

Điều này khiến tôi đôi khi lo sợ lắm, nhưng rồi cuối cùng chúng tôi cũng phải hồi hộp, đau khổ mà chờ đợi, chuẩn bị chấp nhận một kết cuộc đau lòng và tệ hại có thể xảy đến.

Khi nhà tôi nhận được kết quả xác định bệnh Alzheimer, chúng tôi đã ôm lấy nhau và khóc vùi…Khi bình tĩnh lại, chúng tôi cùng lau nước mắt cho nhau và bắt đầu đề cập đến những hệ lụy có thể xảy ra…Cả hai chúng tôi đều là chuyên viên trong ngành y tế, nên sự đề cập, bàn luận đến bệnh tình cũng là điều dễ dàng…Chúng tôi cũng hiểu rõ những gì trong tương lai gần chờ đợi chúng tôi…những ngày sắp tới mà không hoảng hốt, không hoang mang. Chúng tôi cũng chẳng lạ lùng gì với căn bệnh này vì chính trong gia đình, mẹ chồng tôi ngày xưa cũng đã mắc phải căn bệnh này trước khi qua đời vào trước tuổi 90. Phần chồng tôi thì ông không bao giờ muốn nhắc lại những kỷ niệm đau buồn đó.

Từ ngày ấy, chúng tôi vẫn tiếp tục sống bên nhau, giảm bớt dần những giao tế xã hội, bạn bè. Tôi tiếp tục săn sóc chồng cho đến ngày tình thế bắt buộc anh ấy phải nhập viện. Mỗi tuần năm ngày, tôi vào viện thăm chồng, mang theo những thức ăn ngày trước anh ưa thích…Mặc dầu vậy, anh ăn rất ít và trí nhớ dần dần mất đi…bạn bè thân thiết vào thăm, anh không còn nhớ tên, cũng không thể nhận ra người quen.

Tuy vậy, với những thành viên trong gia đình, anh vẫn nhận biết dễ dàng và gọi tên rõ ràng từng đứa cháu, đứa con, nét vui mừng lộ ra mặt mỗi lần tôi đến thăm.

Chúng tôi càng ngày càng ít chuyện trò với nhau, thay vào đó chúng tôi thường cầm tay nhau. Chúng tôi tay trong tay rất lâu, tôi vuốt ve bàn tay của chồng và hôn nhẹ lên vầng trán rộng…

Mỗi ngày, tôi thường đọc cho anh nghe một trang báo hay cùng đi dạo ngoài vườn vào những hôm nắng đẹp. Ông nhà tôi ngồi vững vàng trên xe lăn, tôi đẩy xe đi nhè nhẹ, ông hài lòng ngắm những luống hoa nở rực rỡ hai bên lối đi, hoặc cùng ngước nhìn bầu trời xanh bát ngát, theo dỏi những cánh chim rộn rã bay về sau nhiều tháng ngày dài trốn tuyết ở tận miền Nam…

Có lúc tôi cầm chiếc kéo, cẩn thận cắt xén mái tóc lưa thưa trắng bạc, ông ngồi im lặng, cười rất hiền và lộ vẻ sung sướng, hài lòng…Nhìn ông, thật khó mà tưởng tượng một ngày kia phải rời xa người chồng, người anh, người bạn đời thân yêu này mãi mãi.

Dòng đời vẫn trôi…những buồn vui nối tiếp, con đường trải dài từ nhà đến viện dưỡng lão, những cuốc xe taxi cố định, không thay đổi hướng đi bên những tàng cây xanh, chuyển vàng vào tiết thu, phủ đầy bụi tuyết trong mùa Giáng Sinh…

Xuân, Hạ, Thu, Đông …Từng chu kỳ tuyết trắng… và người chồng thân yêu của tôi chìm dần..chìm dần trong thế giới yên lặng. Còn tôi, một mình chiến đấu với nỗi cô đơn bất lực của chính mình.

Thỉnh thoảng tôi có mặc cảm so sánh, tại sao mình lại còn được sức khỏe hơn chồng … tiếp tục với cuộc sống đơn độc, ngoài hai buổi đi về thăm viếng,  còn được vui với con cháu vây quanh, bạn bè sum họp .

Đôi khi liền sau một cuộc vui tôi cảm thấy mình có lỗi, ích kỷ, chỉ biết vui cho riêng mình mà quên nghĩ đến chồng …Tự hỏi như vậy, tôi có hay không đánh mất tình yêu, đạo đức của người vợ, có chồng đau yếu, bệnh hoạn đang chờ đợi từng phút từng giâyở nơi chốn nào đó trong một viện dưỡng lão của thành phố ?

Nhưng mặt khác, với cuộc sống chung quanh không ngừng nghỉ, tôi thầm nhủ, nên trôi theo dòng đời, phải có sự giao tiếp với đời sống còn lại, có như thế, chỉ có cách đó, tôi mới có thể giữ được nụ cười và nguồn năng lượng ít ỏi, cần thiết để tiếp sức sống cho chồng …

Không muốn, cũng không dám nghĩ xa hơn về những ngày sắp tới…Hiện tại, đối với tôi, cuộc đời không phải là một màu hồng tuyệt đối, nhưng tôi còn có thể chịu đựng được những thăng trầm nhè nhẹ bằng cách chu toàn những nhiệm vụ, bổn phận nho nhỏ mỗi ngày…

Phần riêng cho tôi, thấy cần phải tự chăm sóc mình, giữ sức khỏe tốt và tâm thần thanh thản để vui sống và để đừng làm phiền hà đến những người sống chung quanh mình, nhất là để đủ năng lực chăm sóc người bệnh, người chồng yêu quí của tôi, càng lâu dài càng tốt…

Hy vọng những lời tâm sự này mang lại cho bạn chút vui sống, niềm hy vọng, nếu chẳng may một ngày kia, một người bạn của chúng ta gặp phải chuyện không may như tôi. Xin hãy cố gắng. Cố gắng ….

Nguyễn Mộng Khôi chuyển

Nói cho sướng miệng

Nói cho sướng miệng

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2014-10-10

RFA

IMG0017-622.jpg

Diễn đàn Kinh tế Mùa thu tổ chức tại Ninh Bình ngày 27 tháng 9 năm 2014.

Courtesy Vneconomy

Kinh tế thị trường là tinh hoa của nhân loại?

“Kinh tế thị trường là tinh hoa của nhân loại và thể chế kinh tế của Việt Nam phải là thể chế kinh tế thị trường.” Đây là quan điểm của Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh được báo điện tử Thời báo Kinh tế Việt Nam trích thuật, khi đưa tin về Diễn đàn Kinh tế Mùa thu tổ chức tại Ninh Bình vào cuối tháng 9/2014 vừa qua.

Theo Vneconomy.vn, tại Diễn đàn này ông Trương Đình Tuyển nguyên bộ trưởng Thương mại, cố vấn cao cấp của Chính phủ về đàm phán hội nhập quốc tế, một lần nữa đề cập đến nhu cầu xây dựng thể chế kinh tế thị trường hiện đại cho Việt Nam. Thể chế đó bao gồm ba trụ cột là thị trường, Nhà nước và xã hội dân sự.

Nhận định về những phát biểu đầy ấn tượng tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2014, TS Nguyễn Quang A nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS, một tổ chức tư nhân ở Hà Nội đã tự giải thể khi chính phủ ra nghị định ngăn trở tính hoạt động độc lập của IDS, phát biểu:

“Tôi nghĩ những tiếng nói như thế đã được cất lên rất nhiều lần và được cất lên rất là may mắn, bây giờ không phải là những người như là tôi cách đây mười năm chẳng hạn. Mà bây giờ chính từ miệng những người đang gọi là cố vấn hoặc là để hoạch định chính sách cho những nhà lãnh đạo và như thế có nghĩa rằng thực sự họ là những người ảnh hưởng rất mạnh đến quyết định. Còn bản thân những người sử dụng các cố vấn, những người tư vấn như thế, họ có nghe hay không, vì lý do này hay lý do kia, thì lại là một chuyện khác. Tôi e rằng các ông ấy cũng nói như thế để cho nó sướng mồm và cũng là để làm cảnh mà thôi. Bởi vì nhìn những việc làm của những người có trách nhiệm trong khoảng 10 năm trở lại đây mà họ nắm quyền quyết định về kinh tế, thì tôi nghĩ rằng họ đã hủy hoại nền kinh tế này một cách rất là nhất quán và tôi khó có thể tin được đây là những tiếng nói sẽ được lắng nghe.”

” Những người sử dụng các cố vấn, những người tư vấn như thế, họ có nghe hay không, vì lý do này hay lý do kia, thì lại là một chuyện khác. Tôi e rằng các ông ấy cũng nói như thế để cho nó sướng mồm và cũng là để làm cảnh mà thôi.
-TS Nguyễn Quang A”

Trong giới khoa bảng của Việt Nam không phải ai cũng đồng ý kinh tế thị trường là tinh hoa nhân loại như quan điểm của Bộ trưởng Bùi Quang Vinh. Theo Vneconomy.vn, Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) trình bày trước Diễn đàn với ý kiến khác biệt. Theo lời ông, kinh tế thị trường không phải là phương thuốc vạn năng để chữa tất cả các căn bệnh của nền kinh tế Việt Nam. Ông Sơn nhắc lại lịch sử kinh tế thế giới với sự thất bại của thị trường hay nhà nước hoặc cả hai bên đều thất bại như thời kỳ đại suy thoái 1929-1933,  trì trệ kinh tế 1980, khủng hoảng kinh tế Đông Á 1997 hay khủng hoảng tài chánh ở Hoa Kỳ 2008-2010.

Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn trình bày quan niệm của ông mà nhiều người cho rằng sẽ làm giới bảo thủ hài lòng, vì sẽ không có cải cách triệt để mà chỉ có điều chỉnh từng phần. Theo đó Việt Nam “cần có thể chế phù hợp cho hoạt động của nền kinh tế thị trường. Và thể chế này bao gồm các vấn đề liên quan đến sở hữu, đến luật cạnh tranh và độc quyền và sau hết là cơ chế giải quyết tranh chấp một loạt các thứ khác.”

Theo VnEconomy, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương Nguyễn Đình Cung không giấu được sự giận dữ khi trao đổi với PGSTS Nguyễn Hồng Sơn. Cựu Bộ trưởng Trương Đình Tuyển góp ý là chính vì thị trường và nhà nước đều có thể thất bại cho nên rất cần có sự hiện diện của xã hội dân sự.

Đáp câu hỏi của chúng tôi là Việt Nam vừa ban hành Hiến pháp 2013 (sửa đổi) nay để áp dụng kinh tế thị trường đúng nghĩa sẽ lại phải sửa Hiến pháp một lần nữa. Chuyên gia tài chánh Bùi Kiến Thành từ Hà Nội nhận định:

“Kinh tế Việt Nam là kinh tế nhiều thành phần vận hành theo kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước. Việc này từ thời 1985-1986 đó là bước đầu chập chững bước vào kinh tế thị trường, bây giờ các vị lãnh đạo đi cùng khắp thế giới qua bên Mỹ qua bên pháp gặp Tổng thống Pháp, Tổng thống Mỹ yêu cầu công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường…Có nghĩa là những tư duy cổ lỗ sỉ mấy chục năm trước dần dần phải tiêu pha đi thôi và nếu phải sửa đổi Hiến pháp để quyết liệt đi vào kinh tế thị trường, nếu cần đổi Hiến pháp thì phải đổi thôi cho đúng với thời đại, đó là lẽ tất nhiên. Tôi không thấy có gì trở ngại.”

0-b8680-400.jpg

Nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu tổ chức tại Ninh Bình ngày 27 tháng 9 năm 2014. Courtesy Vneconomy.

Đối với quan điểm của nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển về việc Việt Nam cần xây dựng thể chế kinh tế thị trường bao gồm ba trụ cột là thị trường, Nhà nước và xã hội dân sự. Chuyên gia Bùi Kiến Thành nhận định:

“Nếu chưa có thì sẽ phải có thôi, tương lai gần chưa có thì xa xa một chút cũng phải làm. Đó là lẽ tất nhiên, ông Tuyển nói rất đúng và lần lần chúng ta sẽ phải đi đến bước xa hơn nữa. Chẳng những là kinh tế với ba trụ cột ấy mà nhà nước pháp quyền cũng phải có ba trụ cột của nó, tức là Hành pháp Lập pháp và Tư pháp. Việc ấy lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chưa có quán triệt được những nhu cầu của một nền dân chủ pháp trị và nền kinh tế thị trường thực sự. Rồi từ từ chúng ta sẽ phải đi đến thôi đó là lẽ tất yếu của một nền kinh tế thị trường và của một nhà nước pháp quyền. Bao giờ sẽ đi đến đích là còn tùy theo sự quán triệt hiểu biết và sự quyết tâm của các nhà lãnh đạo Việt Nam mà thôi.”

Xã hội dân sự

Theo những gì báo chí đưa lên mạng, Nhà nước Việt Nam chưa biểu lộ sự ủng hộ việc thiết lập xã hội dân sự một cách độc lập ở Việt Nam. Vneconomy.vn trích lời ông Trương Đình Tuyển cố vấn cao cấp của Chính phủ về đàm phán hội nhập quốc tế tại Diễn Đàn Kinh tế Mùa thu 2014. Theo lời ông, khi tham gia đàm phán gia nhập các hiệp định TPP và FTA “có một từ đang khiến các nhà đàm phán đau đầu tìm từ thay thế. Đó là sự tham gia của ‘xã hội dân sự’ vào hoạch định chính sách cũng như vào quá trình xử lý tranh chấp.” Ông Tuyển nhấn mạnh, nhà nước chúng ta không cho dùng từ “xã hội dân sự” trên các văn bản công khai nên các nhà đàm phán phải đau đầu.

Theo LS Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội hiện cư trú ở Hà Nội, việc thiết lập các tổ chức xã hội dân sự cần được điều chỉnh bằng luật cơ bản là Luật Lập hội qui định trong Hiến pháp. Tuy vậy Quốc hội dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trì hoãn vấn đề này. Ông nói:

” Bây giờ có một số anh em đứng lên thực hiện mười mấy tổ chức xã hội dân sự nhưng tôi thấy còn mỏng lắm và cũng không có những gương mặt sáng giá.
-LS Trần Quốc Thuận “

“Bây giờ có một số anh em đứng lên thực hiện mười mấy tổ chức xã hội dân sự nhưng tôi thấy còn mỏng lắm và cũng không có những gương mặt sáng giá. Dĩ nhiên khởi xướng của anh em rất là đáng khuyến khích hoan nghêh nhưng mà để đảm bảo những tổ chức đó hoạt động chính là cơ sở pháp luật, nếu không có Luật Lập hội thì làm sao những tổ chức đó có cơ sở để phát triển được. Chính quyền muốn dẹp lúc nào thì dẹp.”

Theo trang mạng Infonet, tham luận của chuyên gia kinh tế TS Lê Đăng Doanh tại Diễn Đàn Kinh tế Mùa thu 2014 đã phác họa lên một bức tranh kinh tế Việt Nam đầy thách thức. Vấn đề nợ xấu, sự nhận diện cơ cấu nợ xấu, sở hữu chéo và xử lý nợ xấu qua Công ty mua bán nợ VAMC thực chất chưa khai thông nợ xấu. Ông Doanh nhận định “không có tiền tươi thóc thật “cục máu đông” nợ xấu vẫn còn cản trở quá trình lưu thông của tín dụng trong nền kinh tế. Theo kinh tế gia Lê Đăng Doanh tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước thời gian qua chủ yếu tập trung vào cổ phần hoá tuy nhiên tiến độ cổ phần hóa vẫn rất chậm chạp, tỷ lệ vốn huy động thấp. Ông Lê Đăng Doanh cho rằng bên cạnh tái cơ cấu khu vực kinh tế nhà nước, cần có đề án tái cơ cấu khu vực kinh tế dân doanh, động lực quan trọng của nền kinh tế và là khu vực tạo ra nhiều việc làm nhất cho xã hội. Khu vực này gặp khó khăn rất nhiều và không được nhà nước hỗ trợ, theo thống kê có tới 200.000 doanh nghiệp tuyên bố phá sản trong năm 2013.

Vẫn theo trang mạng Infonet, kinh tế gia Lê Đăng Doanh vạch ra hai nhược điểm trong tái cơ cấu nền kinh tế. Thứ nhất là vai trò của khoa học-công nghệ hầu như chưa được đề cập đến như một nhiệm vụ hàng đầu để thúc đẩy hiệu quả, năng lực cạnh tranh. Thứ hai là, tái cơ cấu nền kinh tế Việt nam chưa xét đến các yếu tố hội nhập quốc tế. Ông Doanh cho rằng Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với thế giới, như chuẩn bị tham gia AEC Hội đồng kinh tế ASEAN và TPP Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương…Nền kinh tế và doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp những thách thức rất lớn như các yêu cầu về hợp tác, liên kết, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, hợp tác với các tập đoàn lớn của nước ngoài, đáp ứng các yêu cầu sở hữu trí tuệ, vệ sinh an toàn thực phẩm, đón nhận những thay đổi về thị trường lao động.

Kể từ Diễn đàn Kinh tế mùa Xuân 2012 tổ chức tại Đà Nẵng cho đến Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2014 ở Ninh Bình, các kinh tế gia, nhà hoạch định chính sách, chuyên gia đầu ngành của Chính phủ đã tham gia tổng cộng 6 lần Diễn đàn Kinh tế do Ủy ban Kinh tế Quốc hội phối hợp tổ chức cùng Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam.

Nói theo ngôn ngữ dân gian kế đã được hiến rất nhiều nhưng sự lắng nghe, điều chỉnh cải cách của nhà nước thì chẳng được bao nhiêu. Chẳng lẽ lại đúng như lời TS Nguyễn Quang A: “Các ông ấy nói cho sướng miệng” còn lãnh đạo có lắng nghe hay không lại là một chuyện khác.

Người Việt ít cần ‘món ăn tinh thần’?

Người Việt ít cần ‘món ăn tinh thần’?

Trần Trọng Linh Gửi tới BBC từ Geneva, Thụy Sĩ

Văn hoá nghệ thuật nói chung luôn được coi là đỉnh cao của trí tuệ và văn minh nhân loại.

Mục đích của chính của nghệ thuật là giúp cho con người hướng tới những giá trị cao đẹp: Chân, thiện, mỹ.

Trong văn hoá đương đại ngày hôm nay nghệ thuật còn đưa đến cho chúng ta những không gian trải nghiệm thực tế và những định nghĩa nghệ thuật mới. Mục đích cuối cùng là đem đến những suy ngẫm, sẵn sàng đón nhận sự khác biệt và tự vấn chính bản thân.

Trong một khoảng thời gian quan sát và nghiên cứu tôi nhận thấy trong các bảo tàng nghệ thuật hay những nơi diễn ra các sự kiện văn hoá nghệ thuật: thơ ca, âm nhạc, biennale nghệ thuật đương đại, festival âm nhạc, múa… rất ít người Việt Nam có nhu cầu quan tâm đến văn hoá nghệ thuật.

‘Người Việt và nhu cầu văn hóa’

Vậy lý do ở đây là gì khi mà đối với những người phương tây thì văn hoá như một thứ nhu cầu không thể thiếu được hàng ngày đối với mỗi người?

Phần lớn người Việt không biết địa chỉ của bảo tàng quốc gia nằm ở đâu, hay bỏ ra 2 đô la mỗi năm để mua một đầu sách.

Phải chăng người Việt Nam ít có nhu cầu hưởng thụ đời sống văn hoá tinh thần hay có thể nói người Việt ít có nhu cầu tự vấn bản thân?

Việt Nam sau hơn hai thập niên mở cửa kinh tế cũng đã cải thiện đáng kể, thậm chí còn nổi hẳn lên một thế hệ người giàu.

Họ sẵn sàng bỏ ra cả triệu đô để được làm chủ một chiếc xe hơi hay bỏ ra cả vài chục ngàn đô để có một chiếc túi xách.

Còn đối với tầng lớp bình dân hay trung lưu, họ cũng sẵn sàng bỏ ra cả ngàn đô để có được một sản phẩm công nghệ đời mới nhất được.

Trong khi đó phần lớn người Việt không biết địa chỉ của bảo tàng quốc gia nằm ở đâu, hay bỏ ra 2 đô la mỗi năm để mua một đầu sách.

Ảnh hưởng từ văn hóa tuyên truyền?

Cũng không khó để lý giải những hiện tượng tâm lý trên.

Trong khi suốt một quá trình dài người Việt chịu một sự ảnh hưởng không nhỏ từ hậu quả chiến tranh và chủ nghĩa cộng sản, cái tôi cá nhân bị loại bỏ triệt để.

“Bầy cừu” ngoan ngoãn đón nhận tất cả những cái gì mà chủ nghĩa cộng sản “bú mớm” qua hệ thống truyền thông.

Những loại hình văn hoá dân gian truyền thống ẩn chứa những giá trị đạo đức cơ bản như Tuồng, Chèo, Cải Lương, Ca Trù, Chầu Văn… dần bị xoá sổ.

Bù vào những khoảng trống văn hoá thì đã có bộ máy truyền thông khổng lồ của chủ nghĩa cộng sản.

Những serie phim tài liệu được lặp lại liên tục trên các kênh truyền hình quốc gia, tung hô những vị lãnh tụ chính trị với quá khứ hào hùng được nhuộm đỏ bằng máu của người dân.

Để giảm áp lực “tẩy não” và “nhồi sọ” thì đã có những Game Show giải trí truyền hình được xen kẽ khéo léo vào nội dung chương trình phát sóng.

‘Tri thức, văn hóa và nhu cầu sinh tồn’

Tri thức và văn hoá là những thứ khó nắm bắt và cần phải có nhiều thời gian tích luỹ, hơn nữa tri thức cũng khó để đem ra cho mọi người thấy rằng “trí khôn của ta đây”.

Để khẳng định sự tồn tại của mình trước sự “im lặng” chết chóc của “bầy cừu”, họ chọn cách thể hiện đẳng cấp xã hội bằng cách trang trí lên mình những giá trị vật chất để phủ lấp cái thiếu thốn, tự ti và nghèo nàn tri thức của mình.

Sẽ chẳng có vấn đề gì khi mỗi người có quyền sử dụng đồng tiền theo ý thích của mỗi người và không ai có quyền phán xét họ.

Mâu thuẫn ở đây là khi phần lớn người Việt có mức thu nhập dưới 5 đô la một ngày thì sự “rũ bùn đứng dậy sáng loà” của một bộ phận nhỏ của tầng lớp mới giầu đã tạo nên một khoảng cách quá lớn về giàu nghèo.

Tri thức và văn hoá là những thứ khó nắm bắt và cần phải có nhiều thời gian tích luỹ

Mâu thuẫn phát sinh nhưng người Việt thiếu tri thức để xử lý tình huống hơn nữa những giá trị truyền thống cơ bản không còn được coi trọng.

Kết quả là mâu thuẫn được giải quyết bằng xung đột bạo lực giữa các tầng lớp xã hội.

Không thể loại bỏ một yếu tố rất lớn ảnh hưởng không nhỏ đến sự tiếp cận của người dân đối với văn hoá nghệ thuật, đó là áp lực tâm lý giải quyết nhu cầu sống tối thiểu hàng ngày luôn là mục đích được ưu tiên hàng đầu.

Sự ám ảnh tâm lý của chiến tranh, mối đe doạ chiến tranh rình rập của người anh em cộng sản phương bắc. Những áp lực tâm lý trên đẩy con người ta vào một vòng quay sinh tồn mang tính bản năng: Kiếm ăn và tồn tại.

Vai trò của giới trí thức

Đối với tầng lớp nghệ sỹ trí thức, vụ án “Nhân văn Giai phẩm” từ đầu năm 1955 và bị dập tắt tháng 06/1958 do ba nhà văn hoá trí thức lớn khởi xướng, Trần Dần, Lê Đạt và Hoàng Cầm, với đòi hỏi của họ là tự do sáng tác và tự do tư tưởng.

Từ sự khởi xướng này, với sự góp mặt của nhiều tầng lớp trí thức Việt Nam, tờ báo mang tên “Nhân văn” và các tập “Giai Phẩm” mang nội dung chính trị ngày càng rõ rệt.

“Những loại hình văn hoá dân gian truyền thống ẩn chứa những giá trị đạo đức cơ bản như Tuồng, Chèo, Cải Lương, Ca Trù, Chầu Văn… dần bị xoá sổ.”

Mục đích của những tri thức này là hướng đến một xã hội tự do dân chủ.

Nội dung này đáp ứng được nguyện vọng của quần chúng nhưng lại đánh vào tử huyệt của chế độ. Chính vì thế đảng cộng sản Việt Nam đã phát động một chiến dịch xóa sổ Nhân văn Giai phẩm.

Kết quả là những ai dính dáng đến Nhân văn Giai phẩm đều nhận được sự trừng phạt từ chế độ.

Thành phần chủ chốt thì bị tù đày, văn nghệ sỹ thì bị cải tạo lao động. Giáo sư trí thức thì bị cách chức, mất việc. Tất cả phải sống nốt phần đời còn lại trong đói nghèo im lặng và bị cách ly với XH.

Bài học kinh nghiệm xương máu này chính nỗi kinh hoàng sợ hãi cho nhiều thế hệ trí thức nghệ sỹ sau này.

Kết quả là các trí thức nghệ sỹ áp dụng chung một phương pháp “3 không”: Không nghe, không thấy và không làm.

“Những hệ luỵ của chủ nghĩa cộng sản thực chất chỉ là những bề nổi của một tảng băng, bên cạnh thói quen nhẫn nhịn và thụ động của một nền văn minh canh nông cùng ý thức và hệ tư tưởng vẫn còn mang đậm Nho Giáo”

Sau này cũng có một vài nghệ sỹ đề cập đến những vấn đề chính trị xã hội nhưng cũng chưa tạo ra được những ảnh hưởng lớn với XH; phần nhiều là những nghệ sỹ dùng câu chuyện chính trị để trang trí cho mình trước những con mắt của những người bảo trợ nghệ thuật đến từ các nước phương tây.

Những hệ luỵ của chủ nghĩa cộng sản thực chất chỉ là những bề nổi của một tảng băng, bên cạnh thói quen nhẫn nhịn và thụ động của một nền văn minh canh nông cùng ý thức và hệ tư tưởng vẫn còn mang đậm Nho Giáo.

Tất cả những nguyên nhân trên tạo ra một bức tranh ảm đạm của một xã hội thiếu tính nhân văn và thay vào đó là hình ảnh bạo lực, thù hằn và niềm tin giữa con người bị đổ vỡ.

Rõ ràng văn hoá nghệ thuật ở đây đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong bất cứ một xã hội nào.

Để thay đổi được ý thức hệ tư tưởng của cả một dân tộc là điều không tưởng nhưng chúng ta có thể bắt đầu từ mỗi cá nhân.

Chìa khoá tri thức, văn hoá nghệ thuật tôi cho rằng là một lời giải không tồi để mở cánh cửa đến với nền văn minh nhân loại.

Hãy bắt đầu từ ngày hôm nay nếu bạn không muốn cuộc đấu tranh thách thức những hiện trạng xã hội chuyền lại cho đời sau.

Đây là trách nhiệm của chính thế hệ chúng ta. Hỡi các bạn trẻ hãy vượt qua nỗi sợ hãi trong mỗi chúng ta, chỉ có những trái tim tuổi trẻ mới đủ lãng mạn và nhiệt huyết để mơ ước đến một xã hội tươi sáng hơn cho Việt Nam.

SỰ GÌ THIÊN CHÚA ĐÃ PHỐI HỢP, LOÀI NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC PHÂN LY!

SỰ GÌ THIÊN CHÚA ĐÃ PHỐI HỢP, LOÀI NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC PHÂN LY!

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Tín hữu Công Giáo ly dị rồi tái hôn là một vấn đề nhức-nhối gây tranh cãi và gieo hiểu lầm đối với biện pháp của Giáo Hội Công Giáo. Thật thế, các cặp vợ chồng sống trong hoàn cảnh này thường đau đớn đặt vấn nạn:

– Tại sao Giáo Hội lại cấm các đôi ly dị tái hôn không được lãnh các bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể???

Rất nhiều tín hữu cảm thấy bị đối xử bất công và bị ruồng-rẫy, trong khi đáng lý ra, trong hoàn cảnh thất bại đắng cay như thế, họ phải được chính Giáo Hội tiếp nhận và cảm thông mới đúng!!!

Sau đây là lời giải thích của Đức Ông Massimo Cassani – Đại Diện Đức Giám Mục – phụ trách Ủy Ban Gia Đình và Sự Sống của Tổng Giáo Phận Bologna ở miền Trung Bắc nước Ý. Lời giải thích có thể xóa tan hiểu lầm và thành kiến đối với giáo huấn và kỷ luật của Giáo Hội Công Giáo. Lời giải thích cũng mở ra những chân trời hy vọng.

Các đôi vợ chồng Công Giáo ly dị rồi tái hôn, mặc dầu bị trục xuất khỏi các bí tích, nhưng không bị vạ tuyệt thông: họ vẫn tiếp tục là thành phần của Giáo Hội, một Giáo Hội luôn đặc biệt quan tâm chăm sóc họ.

Việc trục xuất này không do nơi sự kiện họ tội lỗi hơn những người khác. Không phải thế, vì đây không phải là một xét xử luân lý. Nhưng lý do là như thế này:

– Các bí tích là dấu chỉ tình yêu trung tín và bất khả phân ly của Đức Chúa GIÊSU KITÔ với Hội Thánh. Trong khi đó thì tình trạng khách quan của các cặp ly dị rồi tái hôn diễn tả ngược lại dấu chứng Tình Yêu của Đức Chúa GIÊSU KITÔ!

Nếu Giáo Hội Công Giáo xin các cặp ly dị tái hôn không được rước Mình Thánh Chúa thì cùng lúc Giáo Hội khuyên họ nên kết hiệp với Đức Chúa GIÊSU KITÔ bằng lòng ước ao rước Mình Thánh Chúa. Ơn thánh nhận được qua các bí tích vẫn nhận được qua con tim khao khát THIÊN CHÚA. Hơn nữa, nỗi đau khổ vì không thể rước lễ – khi được khiêm tốn chấp nhận vì vâng lời Hội Thánh – sẽ được kết kiệp mật thiết với cuộc khổ nạn của Đức Chúa GIÊSU KITÔ và với Tình Yêu của Ngài.

Các tín hữu Công Giáo ly dị tái hôn được mời gọi tiếp tục cuộc hành trình Đức Tin tiến đến việc nên thánh nhờ tham dự Thánh Lễ – mặc dầu không được rước lễ – nhờ việc cầu nguyện và thực thi đức bác ái v.v.

Cũng còn có giải pháp là kiểm xem hôn nhân thứ nhất có giá trị không, hầu có thể xin giải hôn phối. Mỗi Giáo Phận đều có tòa án dành riêng cho các vấn đề này.

Nếu không thể lìa bỏ người bạn đời thứ hai của cuộc hôn nhân thứ hai vì những lý do chính đáng thì khuyên nên chọn giải pháp là:

tránh các giao hợp tính dục, bởi vì đây là hành vi đặc thù của bậc vợ chồng. Chỉ khi đó, đôi ly dị tái hôn mới được phép lãnh các bí tích. Nhiều tín hữu Công Giáo ly dị tái hôn đã chọn con đường này, với sự trợ giúp của ơn thánh. Và họ đã khám phá ra rằng Đức Tin và tình yêu của họ đã lớn mạnh.

Nếu trước khi thành hôn, đôi bạn trẻ chuẩn bị kỹ lưỡng thì bí tích hôn phối sẽ giúp cuộc sống vợ chồng rất nhiều trên cả hai bình diện nhân bản và tôn giáo.

Trong khi đó, nếu đôi ly dị tái hôn được hướng dẫn và giúp đỡ trên hành trình Đức Tin, thì họ cũng sẽ vượt thắng được nhiều khó khăn và tiến bước trong đời sống thiêng liêng đạo đức. Hiện nay tại nhiều giáo phận trong nhiều giáo xứ có các Nhóm thành hình từ các cặp vợ chồng Công Giáo ly dị tái hôn. Họ tổ chức các buổi Gặp Gỡ để cầu nguyện chung, lập lại lời tuyên xưng Đức Tin và trao đổi các thông tin đúng đắn của Hội Thánh. Đây cũng còn là dịp tốt để các đôi vợ chồng có thể giải bày các khó khăn, các chờ mong, và đôi khi cả các giận dữ nữa! Các buổi gặp gỡ này thường giúp các đôi vợ chồng tìm lại sự thanh thản khi đối diện với kỷ luật nghiêm nhặt và giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo.

Chúng ta nên luôn luôn ghi nhớ rằng: Trong mọi hoàn cảnh, dù đau thương đến đâu đi nữa, THIÊN CHÚA vẫn có thể can thiệp đúng thời đúng lúc với ơn thánh và lòng nhân hậu của Ngài.  Bất cứ ai, dẫu tội lỗi tràn bờ, vẫn nuôi hy vọng có thể gặp được khuôn mặt chí thánh chí ái của Đức Chúa GIÊSU KITÔ, Đấng Cứu Độ loài người.  Vậy thì ngay từ hôm nay, hỡi các đôi vợ chồng Công Giáo ly dị tái hôn thân mến, hãy can đảm kiên trì bước đi trên con đường đưa tới bàn tiệc Thánh Thể, dấu hiệu của tiệc cưới Nước Trời giữa Đức Chúa GIÊSU KITÔ và Giáo Hội của Ngài.

… Có mấy người Pharisêu đến gần Đức Chúa GIÊSU để thử Người. Họ nói: ”Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không?” Đức Chúa GIÊSU đáp: ”Các ông không đọc thấy điều này sao: ”Thưở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ” và Đấng Tạo Hóa đã phán: ”Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt”. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì THIÊN CHÚA đã phối hợp, loài người không được phân ly”.

Họ thưa với Người: ”Thế sao ông Môsê lại truyền dạy cấp giấy ly dị mà rẫy vợ?” Người bảo họ: ”Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thưở ban đầu, không có thế đâu. Tôi nói cho các ông biết: Ngoại trừ trường hợp bất hợp pháp, ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình” (Mátthêô 19,3-9).

(”SPES NOSTRA – Notre Espérance”, l’Enfant-Dieu nous réunit, Octobre – Novembre – Décembre 2010, Missionnaire de l’Immaculée – Père Kolbe, trang 4)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

KittyThiênKim & Nguyễn Kim Bằng gởi

 

Hồ Chí Minh quay trong Ðèn Cù

Hồ Chí Minh quay trong Ðèn Cù

Ngô Nhân Dụng

Nguoiviet.com

Ðèn Cù của Trần Ðĩnh được bán ở Hà Nội với giá 600 ngàn đồng mỗi cuốn; tương đương 25 đô la là giá bản in bán ở Mỹ. Một blogger nổi tiếng kể chuyện chính cô đi mua được một cuốn Ðèn Cù bên lề đường, và được bớt, chỉ phải trả 400 ngàn. Hai cuốn Bên Thắng Cuộc của Huy Ðức cũng được in chui và dân Việt Nam nô nức tìm mua. Vô tình, các ông Huy Ðức và Trần Ðĩnh đã giúp cho nhiều người thêm công việc làm và gia tăng lợi tức. Trong đó chắc phải có nhiều anh chị em công an; vì những vụ làm ăn chui, từ ngành in sách lậu đến buôn bán ma túy, nếu không được công an bảo kê thì ai làm ăn gì được?

Hiện tượng Ðèn Cù cho thấy người dân Việt vẫn khao khát muốn thêm biết thêm sự thật. Ðảng Cộng Sản Việt Nam không muốn dân đọc Ðèn Cù, nhưng họ vẫn cho cán bộ văn hóa mở chiến dịch chỉ trích, quảng cáo cho cuốn sách.

Tuần này, một nhà báo mới từ Anh quốc gọi phỏng vấn tôi về cuốn Ðèn Cù. Nhờ ông là một nhà báo giỏi theo dõi sát, biết rõ dư luận ở Việt Nam hơn, nên nghe ông đặt câu hỏi tôi được nghe mấy thắc mắc của độc giả trong nước về cuốn sách. Thí dụ, có người phê bình rằng Trần Ðĩnh nhớ nhầm về năm, tháng diễn ra trận đánh ở Núi Hồng. Tác giả có thể nhớ nhầm lắm. Một nhà văn ngoài 70 tuổi mới bắt đầu viết kể chuyện đời mình; đến lúc gần 85 tuổi mới cho in, chắc phải có lúc nhớ lẫn lộn. Chính tôi viết mục này, cũng có khi ghép ngày tháng nọ vào một biến cố kia, hoặc nghĩ đén tên người này mà đánh máy thành tên người khác. Ðáng lẽ ra một tác giả như Trần Ðĩnh phải có hai ba thư ký, mỗi người phụ trách tìm tài liệu kiểm soát lại xem trí nhớ của mình có chính xác không. Khi soạn cuốn Ðứng Vững Ngàn Năm, tôi cứ ước mình là một giáo sư đang dạy môn lịch sử. Giáo sư có thể mướn sinh viên tra cứu tài liệu giúp mình! Các em chỉ cần theo lời giáo sư chỉ dẫn mà đi tìm trong thư viện, coi cái gì ông thầy nói đúng, cái gì không chắc chắn. Sẽ tránh được khối chỗ lầm. Ngoài tiền công được nhà trường trả, cuối năm thầy còn cho thêm điểm. Vì ngay việc tìm tòi tài liệu cũng giúp cho các em hiểu biết thêm về nghề nghiên cứu.

Cho nên, nếu trong Ðèn Cù có những chi tiết không đúng, hoặc không chắc chắn, thì chúng ta cứ chờ có người dẫn ra các chứng cớ xác thực hoặc các nguồn đáng tin hơn.

Nhưng ông Trần Ðĩnh không viết lịch sử. Ðóng góp quan trọng của ông không phải là những chứng liệu sử học, mà là kinh nghiệm sống, của một cá nhân đã quan sát và ghi lại những gì thấy chung quanh mình. Nhờ thế mà người đọc bây giờ cũng như các thế hệ sau được biết thêm, hiểu thêm về lịch sử nước ta trong hơn nửa thế kỷ. Tác giả có thể nhớ nhầm vài chi tiết, không quan trọng; vì độc giả biết còn nhiều người sẽ viết về cũng những năm tháng đã qua.

Chẳng hạn, Trần Ðĩnh kể chuyện ông Hồ Chí Minh đã cải trang, tới coi cuộc đấu tố bà Nguyễn Thị Năm, một địa chủ có nhiều công nuôi các cán bộ chủ chốt của đảng Cộng Sản trong nhiều năm, trước khi bị Cộng Sản gán tội địa chủ và đem giết một cách tàn nhẫn. Có người trong nước, chuyên nghiên cứu lịch sử đảng Cộng Sản, nói rằng Trần Ðĩnh viết không đúng. Vì ông ta không bao giờ thấy một tài liệu nào trong lịch sử đảng ghi về sự kiện này.

Nghe xong, tôi phải cố nhịn không bật cười, vì kính trọng cuộc phỏng vấn nghiêm trang của một đồng nghiệp. Nếu ông bạn không gọi sang từ London sang, mà gặp riêng nhau ở chỗ khác, thì nghe kể có người nêu nghi vấn trên chắc tôi đã hỏi ngay, cho cả hai cùng cười: Phán như thế, tức là ông ta muốn nói chỉ những gì do ban nghiên cứu lịch sử đảng Cộng Sản viết thì mới là sự thật, đảng không nói gì tức là bịa, phải không? Nhưng nhịn được cười, tôi đã trả lời rằng: Chuyện ông Hồ có đến xem cuộc đấu tố bà Nguyễn Thị Năm hay không, điều đó không quan trọng lắm. Ðối với lịch sử, điều quan trọng là: “Giết hay Không Giết?”

Nếu chỉ căn cứ vào lịch sử chính thức của đảng Cộng Sản Việt Nam thì trong đời tư của Hồ Chí Minh không hề có nhân vật nào tên là Nông Thị Xuân, Ngay cả bà vợ Tăng Tuyết Minh cưới nhau ở Quảng Châu cũng không được phép hiện diện trên trái đất, như ký giả Kim Hạnh làm chứng. Cô chỉ đụng tới chuyện đó là bị cách chức ngay. Nhưng các chi tiết trong cuộc đời Hồ Chí Minh, như chuyện ông đã đổi tên bao nhiêu lần; ông bị Stalin nghi là không thật sự cộng sản; hoặc đời sống tình dục của ông thế nào, ông người Nghệ An thật hay là một người gốc Hẹ, vân vân; những chi tiết đó cũng không cần bàn nhiều quá. Ðối với nhân vật lịch sử này, điều quan trọng nhất là ông ta đã làm gì để cho nước Việt Nam bây giờ phải sống trong một xã hội đạo lý suy đồi, tham nhũng nhơ bẩn, kinh tế lạc hậu, thua kém các nước chung quanh?

Ông Ðoàn Duy Thành, nguyên phó thủ tướng chính phủ Hà Nội, khi bàn về những sai lầm của cuộc “Cải Cách Ruộng Ðất,” đã kết luận rằng nó “đã để lại hậu quả lâu dài cho dân tộc, cho đất nước, là sự hận thù, sự lừa dối, xảo trá, vu khống như: tố điêu, ép cung, bịa chuyện… gây tai họa cho bao gia đình, làm nát đi những truyền thống tốt đẹp về gia đình, họ hàng, làng xóm, mà cha ông ta đã dày công xây dựng hàng nghìn năm.” Với thành tích phá ruỗng nền tảng đạo đức của ông cha, thì chuyện đời tư ông Hồ ra sao, ông có mấy vợ hay nhân tình, đều chỉ là chuyện nhỏ.

Bên cạnh tội phá hủy di sản tinh thần dân tộc, ông Hồ còn dựng lên một guồng máy chuyên chế, dành độc quyền kinh tế và chính trị riêng cho đảng mình; chính bộ máy đó gây nên tình trạng chậm tiến cho dân tộc. Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn nhận xét: “Khi cầm quyền, cụ Hồ đã để cho chính phủ của cụ tạo ra nhiều tiền lệ cầm quyền độc đoán, nhẫn tâm, phi dân chủ hay dân chủ giả hiệu, có thể nói lớn đến mức mà vết hằn sâu của nó đến nay vẫn còn hiện rõ trong cả hệ thống chính quyền hiện thời.” Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn không cần phải kể chi tiết. Riêng cảnh bao người dân lương thiện bị bắt vào trong đòn công an rồi chết cũng đủ thấy di sản của chế độ do Hồ Chí Minh dựng lên kinh hoàng thế nào.

Trước những tội lớn trong cuộc Cải Cách Ruộng Ðất, chúng ta thấy những chi tiết, như Hồ Chí Minh có đi xem cuộc đấu tố bà Nguyễn Thị Năm hay không, chẳng còn quan trọng nữa! Ðiều quan trọng là: “Giết hay Không Giết?” Về những cuộc đấu tố giết oan mấy trăm ngàn “địa chủ,” cựu Ðại Tá Phạm Quế Dương nhận xét: “Cụ Hồ… kêu gọi ‘Tuần Lễ Vàng’ để lấy tiền. Ðáng lẽ, ông phải cảm ơn người ta mà ông quay lại đánh người ta. Chuyện đó đáng để lịch sử lên án.” Ðảng Cộng Sản bây giờ vẫn hô hào “học tập đạo đức cách mạng” của của Hồ Chí Minh, chắc họ không nhớ ông Hồ giải nghĩa đạo đức cách mạng là gì. Ông nêu đức tính duy nhất cho các đảng viên học tập, là phải hoàn toàn theo lệnh đảng, đảng bảo làm gì thì cứ thế làm theo. Chế độ độc tài gây ra bao tai họa cho dân tộc. Trong thế giới loài người bây giờ còn ai muốn trẻ em học thứ đạo đức đó hay không?

Nghĩ lại, thì vị nào trong ban nghiên cứu lịch sử đảng đã nêu ra nghi vấn trên chắc chỉ nói cho xong bổn phận của mình thôi, chưa chắc ông ta đã nghĩ kỹ trước khi lên tiếng. Khi biết Ðèn Cù mới xuất bản, chắc ông Tô Huy Rứa đã ra lệnh cấp dưới phải mở ngay một cuộc càn quét để tiêu diệt uy tín của cuốn sách và tác giả. Những vị “ăn cơm chúa múa tối ngày” bèn làm theo chỉ thị. Thế là, mỗi ông mỗi bà được phát Ðèn Cù đem về đọc, bới lông tìm vết thấy chỗ nào đánh được thì đánh. Viết xong, nộp bài cho đủ chỉ tiêu; sau đó mới ngồi đọc lại, cười khúc khích với nhau. Làm việc như vậy cho nên mới có người đưa ra thứ lý luận “chuyện này ban nghiên cứu lịch sử đảng không nói gì cả, tức là nó không có thật.” Nói như vậy, mà không cần biết người dân nghe sẽ bật cười như thế nào! Họ biết dân sẽ cười bể bụng, nhưng không quan tâm. Vì đằng nào cũng vậy, lâu nay dân Việt Nam còn tin những gì họ viết đâu mà mình phải cố gắng tìm tòi, suy nghĩ, hại sức khỏe?

Ðó cũng là cách suy nghĩ và làm việc của quý vị đã mở cuộc triển lãm về“Cải Cách Ruộng Ðất,” rồi phải đóng cửa ngay. Ðó cũng là tác phong của mấy ông bà làm cuốn phim lịch sử chỉ có hai ba người mua vé vào coi. Hôm qua, thành phố Hà Nội mới tổ chức kỷ niệm 60 năm “Ngày Giải phóng Thủ đô” với hơn 3500 quan chức đại biểu tham dự tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia. Một bạn đọc từ trong nước cho tôi biết hơn 30 chỗ bắn pháo hoa tưng bừng. Trước đó mấy ngày, mấy ông bà “lãnh đạo” đã cải chính về tin hủy bỏ bắn pháo hoa vì dân than phiền tốn tiền vô ích. Ðã lỡ mua pháo rồi, tiền hối lộ của nhà bán pháo đã bỏ túi rồi, làm sao hủy bỏ được? Dân Hà Nội có một đêm coi pháo bông thỏa thích, vừa coi vừa chửi. Nhưng quý vị “lãnh đạo” đâu cần biết thằng dân nó nói cái gì!

Tại sao họ hành động như vậy? Vì họ biết ngày tan hàng rã ngũ đang tới gần, ngày càng gần hơn. Tiếp tục “múa tối ngày” như trong cái đèn cù, còn được ngày nào hay ngày đó.