Hồng y Tauran: Hệ thống Cộng Sản không hoạt động hiệu quả nữa và nó sẽ phải sụp đổ

Hồng y Tauran: Hệ thống Cộng Sản không hoạt động hiệu quả nữa và nó sẽ phải sụp đổ

Chuacuuthe.com

VRNs (13.11.2014) – Sài Gòn –theo  zenit- Hồng y Jean Louis Tauran, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Đối thoại liên tôn, vào ngày 9 tháng 11 vừa qua, nhân kỷ niệm 25 năm ngày bức tường Berlin sụp đổ đã dành cho hãng tin Zenit một cuộc phỏng vấn.

Ngài chia sẻ ký ức về sự kiện đó như sau:

ZENIT: Ngài đã ở đâu và Ngài nhận tin sụp đổ của bức tường Berlin như thế nào?

Hồng y Tauran: Năm đó tôi làm thư ký dưới quyền của Quốc vụ khanh Tòa Thánh; Tôi đã ở vị trí đó từ năm 1988 đến năm 1990. Tôi đang nghỉ hè tại quê nhà ở Bordeaux. Tôi nhớ những gì Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói rằng: mọi người đều biết hệ thống Cộng Sản không hoạt động hiệu quả nữa và nó sẽ phải sụp đổ; tuy nhiên, không ai nghĩ hoặc có thể dự đoán rằng nó sụp đổ quá nhanh mà không cần đổ máu. Khi Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đắc cử, tôi đã nói: “Cộng sản sẽ bị tiêu diệt”

ZENIT: Những ai ra lệnh ám sát Giáo hoàng Gioan Phao lô II chắc đã ước mong tránh được sự sụp đổ của chế độ Sô Viết.

Hồng y Tauran: Điều đó không biết được, mặc dù thông điệp rất rõ ràng: Ngài là vị Giáo hoàng gây ảnh hưởng với tốc độ lan đi nhanh chóng.

Tôi luôn nói rằng điều đó đã được chuẩn bị bởi 3 việc: 1. tiến trình Helsinki đã tạo ra một triết lý mới trong mối quan hệ; 2. với sự ra đời hiệp định Final Act năm 1975; 3. Tổng thống Gorbachew và Giáo hoàng Giao Phaolô II, hai nhân vật gây ảnh hưởng đã gặp gỡ nhau.

ZENIT: Còn chính sách Ostpolitik của Vatican thì sao?

Hồng y Tauran: Chính sách đó làm cho Giáo hội im lặng không dám lên tiếng nói. Mãi cho đến khi Giám mục Krakow đắc cử Giáo Hoàng, sự im lặng mới được khắc phục…

ZENIT: Làm sao GH Gioan Phaolô II biết được điều này?

Hồng y Tauran: Ngài biết được điều này nhờ phương tiện truyền thông; thêm nữa, lúc đó có các Giám mục lưu động, như giám mục Luigi Poggi, đặc biệt phụ trách trong mối quan hệ với Ba Lan, Hungari, Tiệp Khắc, Rumani và Bungari.

ZENIT: GH Gioan Phaolô II đã làm gì khi Ngài nhận được tin?

Hồng y tauran: Ngài chắc chắn đã cầu nguyện. Tôi cũng nhớ rằng khi chuyến viếng thăm của Gorbachew được thông báo, Gioan Phaolô II đã chuẩn bị cả tháng trước đó, hằng ngày Ngài đọc một trang Tin Mừng bằng tiếng Nga. Cuộc gặp mặt giữa hai người không cần thông dịch vì họ hiểu nhau; Ngài nói tiếng Ba Lan và Gorbachew nói tiếng Nga.

ZENIT: Bức Màn Sắt dạy chúng ta điều gì?

Hồng y Tauran: Rằng con người không thể chia rẽ lẫn nhau, chúng ta được tạo ra để sống cùng nhau trong tôn trọng con người và văn hóa của nhau.

ZENIT: Có phải cộng sản rất sợ Kitô hữu Phương tây hơn cả chúng ta sợ Hồi giáo cực đoan ngày nay không?

Hồng y tauran: Phải. Nhưng mỗi nỗi sợ hãi có nét riêng của nó. Nói về châu Âu, tất cả các quốc gia ở Đông Âu có một di sản chung: Thiên chúa giáo. Theo lẽ tự nhiên, một ngày nào đó những đất nước này sẽ chọn nguồn gốc chung của họ.

ZENIT: GH Gioan Phao lô II đã đến Ba Lan lần 2 trong thời gian luật thống chế. Ngài đã ảnh hưởng đến việc đó như thế nào?

Hồng y Tauran: Tôi không có mặt trong chuyến đi đó, nhưng tại Đông Đức, mọi thứ bắt đầu từ các nhà thờ Chính thống giáo, người ta đốt nến diễu hành đến bức tường Berlin yêu cầu tự do. Mọi thứ diễn ra quá nhanh mà không cần đổ máu; hệ thống bị bỏ trống từ bên trong. Và sau đó vào năm 1987 hoặc 1988, khi tôi đang ở Vienna thương thuyết một hội nghị hợp tác, đó là vào tháng 5, trang Sự Thật phỏng vấn vị trưởng Giáo hội chính thống Pimen cùng với hình của ông, với niềm tin, là Kitô hữu gốc Nga, vì thế có gì đó đang chuyển động.

ZENIT: Dân tộc phương Đông cảm nhận Giáo Hoàng Balan như thế nào?

Hồng y tauran: Họ có cảm giác an tâm. Họ biết rằng, Ngài biết Giáo hội từ bên trong; Ngài không phải nhà ngoại giao mà là người lãnh đạo tôn giáo. Họ biết rằng Ngài đại diện cho tiếng nói của tất cả mọi người. Giáo hội không còn im lặng nữa.

ZENIT: Giá trị đạo đức của câu chuyện này là gì?

Hồng y Tauran: Cuối cùng, Sự thật luôn luôn chiến thắng.

Pv. VRNs

Bốn chữ ‘không’ tồi tệ trong giao thông ở Việt Nam

Bốn chữ ‘không’ tồi tệ trong giao thông ở Việt Nam

Nguoi-viet.com

TỔNG HỢP (NV) – Giao thông ở Việt Nam ngày càng tồi tệ không chỉ do nhà cầm quyền tham nhũng, yếu kém, mà còn do văn hóa giao thông “4 không” mất căn bản của người dân…

Phân luồng như thế này không kẹt xe mới là chuyện lạ. (Hình: Tuổi Trẻ)

Với tinh thần “Tưởng nhớ người đi – vì người ở lại,” ngày 9 tháng 11, hàng ngàn người đến dự đại lễ cầu siêu tưởng niệm những người chết bởi tai nạn giao thông được tổ chức tại Sài Gòn.

Đây là đại lễ bày tỏ niềm thương xót những người không may thiệt mạng, đồng thời chia sẻ đau thương, mất mát với những gia đình nạn nhân.

Chuyện giao thông ở các đô thị lớn của Việt Nam hiện nay càng nói, càng bàn, càng rối càng không hiểu nổi.

Gạt bỏ những thứ chung chung, cứ nói đến giao thông là nói đến văn hóa giao thông. Mà văn hóa giao thông cụ thể là gỉ?

Với người dân, chuyện về văn hóa giao thông là 4 chữ “không”: không sợ; không nhường; không xếp hàng và không biết ngại.

“Không sợ” là vấn đề nhận thức. Không sợ nên chạy xe bạt mạng, lạng lách, băng qua đầu xe, quay đầu đột ngột, sang đường bất chợt, uống rượu lái xe…

“Không nhường” là vấn đề thái độ ứng xử. Đường của chung, mạnh ai nấy cứ lấn tới, thấy chỗ nào trống cũng cố dí đầu xe vào dù chỉ để hơn nửa bánh xe, rồi đè đầu xe người khác mà chạy, bất kể lịch sự, bất chấp văn minh.

Không nhường kết hợp với cái “không sợ,” thế là sẵn sàng dí đầu xe gắn máy của mình vào ngay trước đầu xe hơi.

“Không xếp hàng” là vấn đề về hành vi. Việc này diễn ra từ nhà ra phố nên người Việt khi ra đường sẵn sàng tìm cách lấn làn, chèn đầu xe người khác khi chờ đèn đỏ đã trở nên phổ biến. Xe sau chèn xe trước, kiểu cài thế răng lược ở các nút giao thông và rồi kẹt xe. Đường hẹp cũng kẹt mà đường rộng cũng thông.

“Không biết ngại” là vấn đề đạo đức. Trời mưa cứ lao xe vào vũng nước với tốc độ cao, nước bẩn văng tung tóe, ai trúng ráng chịu. Chèn đầu xe lấn làn gây kẹt cho cả đám người, ai nhắc thì quay ra sửng cồ, to tiếng. Đường là của thiên hạ, nên cứ thế mà tạt nước, mà vứt rác… Hành vi sai đã đáng phê, biểu hiện đạo đức còn đáng trách hơn nhiều.

Còn với nhà cầm quyền thì sao? Cũng là chuyện về 4 chữ “không”: không khoa học; không nhất quán; không nghiêm và không đàng hoàng.

“Không khoa học” thì đã rõ, chỉ cần xem cách bố trí đèn giao thông ở Việt Nam cũng đủ biết. Đèn xanh, hai dòng xe ngược chiều cùng xông tới, các làn xe rẽ trái, rẽ phải, đi thẳng cùng nhận lệnh xung phong. Xe nọ đè đầu xe kia, cài qua cài lại đến hết lượt đèn chỉ đi được vài chiếc.

Trong tình cảnh đó, người tham gia giao thông sẵn sàng chơi trò liều mạng không sợ hoặc láu cá bằng mọi cách để qua được nút đèn nhanh nhất. Thế là đè đầu xe người khác để vượt đèn, rồi thì người này chạy xe đàng hoàng nhưng bị kẻ chạy xe ít đàng hoàng hơn chửi…

“Không nhất quán” lại càng rõ. Mỗi chuyện đèn đỏ quẹo phải mà chỗ được phép, chỗ không; lúc được phép lúc không; giờ cao điểm được giờ bình thường thì không. Vậy nên dân tình đi xe quen chơi trò hên xui, còn lực lượng làm nhiệm vụ thì tùy cơ hội thuận tiện mà thổi còi “làm luật.”

“Không nghiêm” là vì muốn nghiêm cũng không nghiêm nổi. Lúc cao điểm là lúc cần người dân tuân thủ luật lệ nhất, thì lại là lúc gần như người dân được phép lấn làn xe, rướn đèn, chạy ngược chiều…vì cảnh sát giao thông kẹt nhiệm vụ điều khiển, không thể phạt nổi. Thậm chí, có trường hợp người đi đường còn chủ động chỉ cho người chạy xe đi trái luật.

“Không đàng hoàng” là chuyện đạo đức của những người thực thi công vụ. Núp và canh bắt những lỗi sơ suất không đáng của người đi đường để làm luật, trong khi những lỗi nghiêm trọng thì lại hầu như không bắt được. (Tr.N)

Một Ngày Không Thể Quên truyện Phương Lan PPS Vi Sơn

Một Ngày Không Thể Quên truyện Phương Lan PPS Vi Sơn

httpv://www.youtube.com/watch?v=HrJOa4Pk3j4

Một Ngày Không Thể Quên

Hôm nay là ngày quyết định sẽ đưa mẹ vào Viện dưỡng lão.
Cả đêm qua thao thức không ngủ được, Phượng trằn trọc xuốt đêm, nghĩ ngợi lan man hết chuyện này sang chuyện khác, lòng rối như tơ vò. Gần sáng nàng mới mệt mỏi thiếp đi, nhưng vừa chợp mắt được một lát, Phượng bỗng choàng tỉnh dậy vì một mùi khét từ nhà bếp xông lên làm nàng tỉnh hẳn ngủ. “ Thôi chết rồi, mẹ lại quên tắt bếp ” Phượng nói thầm như vậy, rồi không kịp xỏ dép, nàng hốt hoảng chạy thật nhanh xuống nhà dưới. Căn bếp mù những khói, hơi khét từ cái nồi đang nấu trên bếp bay tỏa khắp căn phòng, lửa xanh vẫn liếm quanh đáy nồi. Phượng vội vàng tắt bếp gas, bê cái nồi đặt qua một bên, rồi mở tất cả các cửa cho khói bay ra, may quá, nàng xuống kịp, nếu không cả nhà lại bị một phen hoảng vía.
Từ khi mẹ bị bệnh lú lẫn, Phượng phải khoá ống gas mỗi khi đi làm, nhưng hôm nay nàng ở nhà nên không khóa, vì có dè đâu bà cụ lò mò xuống bếp sớm thế. Phượng đứng im, định thần một lúc cho tim bớt đập, rồi mới chậm rãi bước ra cửa sau.
Nàng gặp mẹ từ ngoài vườn đi vào, tay cầm một nắm lá gì dài dài, xanh xanh. Thấy con gái, bà Trình mỉm cười vui vẻ:
Sáng bảnh mắt rồi, giờ này mới ngủ dậy à? May cho cô, tôi là má ruột, nếu là má chồng, thể nào cô cũng bị rầy.
Phượng nhìn lên bầu trời trắng đục, vừng đông chưa ló dạng, bóng đêm còn lảng vảng, cô khoan khoái hít một hơi thật sâu làn không khí mát mẻ của buổi ban mai, rồi quay sang mẹ, hỏi:
Má ra vườn chi sớm thế?
Má ra hái ít hành ngò để bỏ vô nồi cháo…
Vừa nói bà vừa đưa nắm lá lên khoe, Phượng suýt bật cười, nhận ra đó chỉ là một nhúm cỏ, nàng thở ra một hơi dài:
Má lại quên tắt bếp, mà má định nấu món gì vậy?
Má nấu cháo gà. Lâu lâu cũng nên đổi món, sáng nào cũng ăn bánh mì hoài, khô khan quá.
Phượng nhìn vô trong nồi, chỉ thấy lổn nhổn một ít gạo sống, và hai con gà bằng nhựa, đồ chơi của mấy đứa nhỏ, mẹ nàng đã bỏ tất cả vô một cái nồi với một chút nước, và bật bếp… Bây giờ tất cả đều cháy thành than, nhưng còn nhận diện ra được, Phượng nhăn mặt:
Sao má để lửa lớn thế?
Má muốn nấu cho lẹ để ba ăn xong còn kịp đi làm. Thôi, con lên lầu đánh thức ổng đi, má ở dưới đây pha cho ba ly cà phê.
Thấy Phượng vẫn đứng im, bà dục:
Sao không đi đi, còn đứng đó? trễ giờ rồi.
Phượng đau xót nhìn mẹ:
Má, nhớ lại đi! ba đi xa rồi mà, ba đâu có nhà?
Thiệt à? ba đi xa thiệt à?
Bà nhớ hôm đó không biết là ngày gì mà nhà bà đông người lắm, khách khứa ra vô tấp nập, đủ mặt bà con họ hàng và cả những người bạn bè. Gia đình hai đứa con trai lớn của bà từ hai tiểu bang khác cũng về họp mặt đông đủ. Lũ cháu nội, con của Sơn, Hải hiệp cùng hai đứa cháu ngoại con của vợ chồng Phượng thành một đám giặc, rượt đuổi nhau lung tung khắp nhà, làm bà chóng cả mặt. Nhưng bố mẹ chúng trái lại, rất khẽ khàng, họ chỉ thì thầm bàn tán, người nào cũng có vẻ mặt quan trọng, người nào cũng mặc quần áo trắng lùng thùng, trông chẳng ra làm sao. Phượng cũng đưa cho bà một bộ quần áo trắng bằng vải sô, và biểu bà mặc vô. Bà hỏi chi vậy? nó nói mặc áo vô để đi tiễn ba. A! bà hiểu rồi, đây là lúc tiễn ông lên đường, vì ông sắp phải đi xa…
Bà nhớ mấy hôm trước, bệnh ông có mòi thuyên giảm, không thấy ông rên rỉ, những cơn đau hình như cũng rút lui, không còn hành hạ ông như mọi ngày. Bà ngồi bên giường, canh cho ông ngủ. Ông nằm im lìm, mắt nhắm nghiền, một cái mền mỏng đắp lên tới ngực, che thân hình ốm nhom chỉ còn da bọc xương thấy tội quá, căn bệnh ung thư quái ác đã lấy đi của ông hết da thịt. Ông ngủ không yên, lúc tỉnh, lúc mơ, thỉnh thoảng lại ú ớ… Nhưng đến trưa, thì ông hoàn toàn tỉnh táo, ông cầm tay bà dặn dò:
Tôi sắp phải đi xa, bà đừng khóc nhé? Hãy can đảm lên…
Ông còn nói nhiều nữa, nhưng bà nghe tiếng được, tiếng mất, vì ông nói không rõ, ông chỉ thều thào… Bà tưởng ông nói sảng, chứ đang đau mà đi đâu? vợ chồng chưa bao giờ xa nhau, lần nào đi xa, ông cũng cùng đi với bà, chẳng lẽ cuộc hành trình lần này, ông lại đơn độc một mình? Bà khuyên ông nằm nghỉ, không nên nói nhiều, ông nhìn bà lờ đờ, rồi ông thở ra một hơi dài, nhắm mắt lại. Sau bà, đến lượt các con xúm quanh giường nghe ông dặn dò, đứa nào mắt cũng đỏ hoe. Rồi ông thôi không nói nữa, ông nằm im, từ từ chìm sâu vào giấc ngủ, giấc ngủ cuối cùng của đời người, mắt ông khép kín, nét mặt thanh thản không chút ưu phiền. Các con lặng lẽ rút kui, để mẹ riêng tư với cha. Bà nghĩ chắc ông mệt nên ngủ say lắm, không thấy ông trở mình. Bà sờ thử, thấy tay chân ông lạnh ngắt, bà vội vàng lấy thêm mền đắp cho ông, trời mùa đông rét mướt, những người già thật khổ, nhất là ông lại đang bệnh…
Bà chờ ông tỉnh dậy, để nghe ông xác nhận rằng ông chỉ nói chơi thôi, nhưng ông cứ ngủ hoài. Bà rón rén, không dám cử động mạnh, sợ phá giấc ngủ của chồng, chả mấy khi ông ngủ được yên giấc. Bà muốn ngồi đây hoài, không muốn rời ông, để khi ông tỉnh, trông thấy bà, ông yên tâm. Tội nghiệp, từ dạo đau nặng, ông đổi tánh giống như con nít, hay hốt hoảng, sợ hãi, hơi một tí là giận hờn… Bà ngồi bên ông không biết bao lâu, cho tới khi một đứa con kéo bà đứng lên, nói:
Má ơi! gần tối rồi, má phải đi ăn, từ sáng tới giờ má chưa ăn gì cả.
Bà đâu có thiết ăn? bữa cơm không có ông mới buồn làm sao, bà nói:
Tụi bay và mấy đứa nhỏ cứ ăn trước đi, đừng để phần cho má. Má không thấy đói, má muốn ngồi đây với ba thêm một lúc nữa.
Nhưng chúng nó cương quyết kéo bà ra khỏi phòng, nói ba mệt để cho ba nghỉ. Thằng Sơn còn kéo cái mền phủ kín cả mặt ba nó, cái thằng thiệt vô ý, vô tứ quá, trùm kín thế làm sao ông thở được?
Trời ơi! có bỏ ra không? ba bây ngộp mất thôi.
Bà la lên phản đối, bắt Sơn phải kéo cái mền xuống như cũ, bà mới chịu ra khỏi phòng. Từ lúc đó, tụi nó thay phiên nhau canh gác, không cho bà vô với ông nữa, nói đã có tụi con…
Bà vẫn không tin rằng ông sẽ đi xa, vậy mà ông đi thiệt mới lạ chứ? sự thật mà cứ ngỡ như trong một giấc mơ. Cuộc tiễn đưa khá long trọng, có cả kèn trống. Bà và các con mặc áo trắng tiễn ông đi. Trời mưa sụt sùi, các con đi cạnh bà cũng sụt sùi, bà không bằng lòng, gắt:
Ba không bao giờ bỏ má đâu, ổng đi rồi ổng lại về, tụi bây khóc lóc chi vậy? để ba bây nóng ruột.
Bà kiên nhẫn đợi ông về, chỗ ngồi của ông trên bàn ăn, bữa nào bà cũng bầy chén, đũa, để ông nhớ rằng ông vẫn còn chỗ trong gia đình này. Nhưng sao ông đi đâu mà lâu quá? Bà ngậm ngùi nói với con gái:
Dạo ba con ở nhà, sáng nào ba cũng chở thằng Thái đi học, còn má ở nhà coi con Uyên…
Rồi sực nhớ ra điều gì, bà hối:
Con lên coi tụi nhỏ dậy chưa? bồng con Uyên xuống đây cho má thay tã.
Phượng nhìn mẹ thương xót, Uyên đã chín tuổi rồi, mà sáng nào bà cũng đòi bồng đi thay tã, trí nhớ của bà dừng lại ở ngày ông vĩnh viễn ra đi. Phượng ôm vai mẹ đi vô trong nhà, nàng bật TV lên rồi nói:
Chắc cháu Uyên còn ngủ. Má ngồi đây coi chương trình truyền hình Việt Nam, đừng xuống bếp nữa nghe má? để con lên lầu coi tụi nhỏ ra sao.
Bà Trình gật đầu, vơ lấy cuộn len và cái áo đan dở lên ngắm nghía:
Được, con đi đi! má vừa coi TV vừa đan nốt cái áo cho ba. Mùa đông sắp tới rồi, ba cần có áo ấm, mấy cái kia cũ cả rồi.
Tánh bà tham công tiếc việc, chẳng muốn ở không, bà coi việc chăm lo miếng ngon, áo ấm cho chồng, cho con, cháu là bổn phận và cũng là một thú vui của bà. Ông mất đã tám năm, mà ngày nào bà cũng đan áo cho ông, đan gần xong, rồi lại tháo ra đan lại, như vậy cả mấy chục lần.
Phượng lên lầu, vào buồng mẹ, kiểm soát lại một lần chót cái va li lát nữa sẽ đem theo. Va li đựng toàn quần áo và những vật dụng cá nhân của bà Trình. Khi biết chắc không còn quên món gì, Phượng đóng nắp lại, ngồi thừ người rất lâu. Lúc soạn cái va li này, nàng đã không cầm được nước mắt, mỗi món đồ của mẹ đều gợi lại những kỷ niệm. Nhìn chiếc ghế đu mẹ thường ngồi, Phượng tưởng như được nghe tiếng ru của mẹ. Trên cái ghế ấy, bà đã ru cháu, lúc còn bé thơ, Thái và Uyên không chịu ngủ nếu không có tiếng ru của bà. Ngày xưa, cũng những tiếng ru “ ầu ơ, ví dầu ” đó đã đưa Phượng vào giấc ngủ êm đềm, bây giờ thì đến các cháu… Những buổi sáng tinh mơ, khi các con cháu còn nằm trong chăn ấm, bà đã thức dậy, lui cui nấu nướng, lo bữa sáng ngon lành cho cả nhà. Những buổi tối mùa đông rét mướt, bà thức rất khuya, ngồi bên lò sưởi đan áo ấm. Những khi trái nắng, trở trời, bà không quản ngại thức suốt đêm, trông chừng, dỗ cho cháu ngủ yên giấc… Bà đã nuôi con, nuôi cháu lớn lên bằng tất cả tình thương của bà. Tình mẹ bao la như một dòng sông, nước chảy miên man, vô tận. Qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống, mẹ lúc nào cũng sát cánh bên đàn con, tận tụy hy sinh, bảo vệ, che chở, giúp đỡ… Gia đình lúc nào cũng đầm ấm, yên vui, mọi người quây quần đông đủ dưới một mái nhà. Thế mà lúc cuối đời, mẹ lại phải đơn độc một mình. Ôi chặng đường cuối cùng bao giờ cũng là một chặng đường buồn thảm.
Phượng hiểu nỗi cô đơn của mẹ trong những ngày sắp tới, nàng thấy lòng xót xa, nhưng chẳng còn cách nào khác. Ý định đưa mẹ vô viện dưỡng lão thật ra đã manh nha có từ lâu, kể từ khi bà Trình có triệu chứng lú lẫn và có những hành động có thể gây nguy hiểm. Nhưng Phượng còn nấn ná chưa chịu thi hành, tại thương mẹ nên không nỡ. Cho tới mấy tháng gần đây, tình trạng trở nên tồi tệ, khi bà Trình hay mặc quần áo ngủ đi lang thang ra phố một mình và không biết đường về, hàng xóm phải đi tìm dùm. Một lần, bà suýt bị đụng xe lúc băng qua đường, may người tài xế thắng xe lại kịp, bà chỉ bị trầy trụa sơ sài. Bà mỉm cười ngu ngơ lúc được cảnh sát đưa về, mọi người hỏi bà đi đâu? bà nói bà đi đón ông. Tội nghiệp, ngày nào bà cũng đi đón ông, nhiều lần bà thức dậy từ hai, ba giờ sáng, vô phòng đánh thức mấy đứa cháu, biểu sửa soạn đi đón ông ngoại. Từ đó, sợ các con mất ngủ, mỗi buổi tối, sau khi đưa mẹ vô phòng riêng, Phượng phải khoá cửa lại. Có đêm nàng nghe tiếng đập cửa thình thình, mẹ đòi mở cửa cho bà đi chợ…
Bà Trình thích nấu nướng lắm, phải công nhận ngày trước, bà nấu ăn rất ngon, nhưng từ dạo bị mất trí nhớ, bà chẳng bao giờ tắt bếp. Mấy lần, bà suýt làm cháy nhà vì cái tật hay quên đó, vì vậy, trước khi đi làm, Phượng đã phải tắt ống gas và khoá cửa, sợ mẹ ra ngoài rồi gặp nạn. Như vẫn chưa yên tâm, nàng khoá cả ống dẫn nước vì mẹ hay mở vòi nước mà không tắt, làm nước chảy lênh láng khắp nhà, ướt cả thảm, may sao bà chưa trợt chân té ngã. Phượng đi làm mà trong bụng cứ phập phồng, không yên…
Tình trạng này không thể kéo dài, không thể để bà cụ ở nhà một mình được nũa. Một cuộc họp gia đình đã diễn ra giữa Phượng và hai người em trai ở tiểu bang khác. Vì sinh kế, không ai có thể bỏ việc để ở nhà săn sóc mẹ, nên tất cả đều đi đến quyết định là phải cho mẹ vào nhà dưỡng lão, nơi đó bà cụ sẽ được chăm sóc tử tế. Phượng đã đi thăm dò nhiều nơi, sau cùng nàng chọn cho mẹ một nhà dưỡng lão có người Việt Nam để mẹ đỡ cô đơn. Cuộc hẹn đưa mẹ vô viện sẽ là 11 giờ sáng nay.
Phượng vô phòng đánh thức hai đứa con để chúng ăn sáng và sửa soạn đi học, xong nàng bước vô phòng ngủ của hai vợ chồng. Dũng đã thức và đang cạo râu, chàng nhìn vợ qua gương và hỏi:
Nãy giờ em ở dưới nhà à?
Phượng gật đầu, kể cho chồng nghe về nồi cháo, và nói má đòi thay tã cho con Uyên, khiến Dũng bật lên cười. Thường ngày Phượng không bao giờ cảm thấy khó chịu vì những tiếng cười vô tư của chồng khi chứng kiến những hành động ngây ngô, nhiều khi rất con nít của mẹ, nàng biết chồng không có ý châm biếm, chàng cười chỉ vì buồn cười mà thôi. Dũng mồ côi mẹ từ thuở nhỏ, chàng thiếu tình mẫu tử nên rất quí mẹ vợ. Phượng cho là mình may mắn và vẫn thầm cám ơn chồng, nhưng không hiểu sao hôm nay Phượng lại thấy bực mình vì tiếng cười vô tư của chồng mà nàng thấy là không đúng lúc, Phượng có cảm tưởng như chàng là người ngoại cuộc, nàng cau mày trách:
Anh có im đi không? em đang rối ruột đây!
Dũng ngạc nhiên ngó vợ, nhưng rồi chợt nhớ ra hôm nay là ngày gì, chàng lập tức ngưng ngay tiếng cười vô ý thức của mình. Im lặng một lúc, chàng mới nói, giọng băn khoăn:
Hôm nay anh không thể nghỉ làm để đưa má đi được.
Không sao, tự em sẽ đưa má đi, như vậy tốt hơn. Anh đưa hai đứa nhỏ tới trường và đón về dùm em, vì không biết em sẽ phải ở lại với má bao lâu…
Được, được, em cứ thong thả lo cho má. Xong việc, nhớ điện thoại vào sở ngay cho anh, cho biết tình hình ra sao.
Phượng đứng trên đầu cầu thang, nhìn hai đứa nhỏ ôm hôn bà ngoại trước khi đi học, có cảm tưởng như đó là những cái hôn vĩnh biệt, lòng nàng đau như dao cắt.
Đợi cho chồng và hai con đã ra khỏi nhà, Phượng mới xuống bếp sửa soạn bữa ăn sáng cho mẹ. Ý nghĩ đây là bữa ăn cuối cùng của mẹ ở nhà, khiến Phượng thấy tim se lại, nàng nhớ tới một đoạn phim được xem đã lâu, nói về bữa ăn cuối cùng của người tử tội, nàng bỗng thấy lòng rưng rưng. Phượng tự nhủ thôi đừng nghĩ đến chuyện ấy nữa, cứ để việc gì phải tới, sẽ tới. Vừa làm nàng vừa hát nho nhỏ, cố tìm hiểu ý nghĩa của lời ca, nhưng không thể. Dọn bàn xong, nàng mời mẹ ra ăn. Bà Trình nhìn mặt bàn ê hề những thức ăn, hỏi con:
Sao con làm nhiều đồ ăn thế?
Phượng nhìn đi chỗ khác, nói:
Má ăn đi, thay cho bữa trưa luôn thể.
Con cũng cùng ăn với má chứ?
Phượng gật đầu, nàng ngồi vào bàn, nhưng không tài nào nuốt được. Nhìn mẹ ăn ngon lành, nàng có mặc cảm phạm tội vì đang đánh lừa mẹ. Đợi bà ăn xong bữa, Phượng ngập ngừng mãi mới mở miệng nói dối:
Má có muốn đi phố một lúc không? vô phòng thay đồ đi, con chở má đi chơi.
Đi chơi thiệt sao? thích quá.
Mắt bà mẹ sáng lên với vẻ vui mừng, được đi ra ngoài, bà sung suớng lắm. Thường ngày cứ bị nhốt ở nhà, bà thấy bực bội, năm thì mười hoạ mới được con chở đi chơi, những dịp ấy đối với bà vui như một ngày hội. Thấy Phượng xách theo va li, bà hỏi:
Đi du lịch à?
Vừa nói bà vừa nhìn quanh khắp căn nhà như để kiểm soát một lần cuối cùng, theo thói quen trước khi đi xa. Không hiểu sao Phượng có cảm tưởng những tia nhìn của mẹ có vẻ lưu luyến rất tội nghiệp, chắc bà có linh cảm sẽ không được trở về đây nữa? Không muốn kéo dài giây phút đau lòng, nàng vội vã đưa mẹ ra xe. Phượng ngồi vào tay lái, tâm trạng bất an nên Phượng lái xe mà đầu óc để tận đâu đâu, mấy lần bị xe khác bấm còi inh ỏi. Bà mẹ bất chợt lên tiếng:
Dũng lái xe giỏi hơn con, sao không để cho nó lái?
Rồi như chợt nhớ ra điều gì, bà hỏi giọng lo lắng:
Đi du lịch mà sao không có Dũng và hai đứa nhỏ?
Phượng ậm ừ, tránh không trả lời, nàng cho xe ra khỏi xa lộ và tìm hướng vào thành phố. Viện dưỡng lão kia rồi, từ xa đã thấy một toà nhà đồ sộ sơn màu vàng nhạt, trông như một cái bệnh viện. Khi quẹo xe vô cổng, Phượng nhìn đồng hồ, 11 giờ 15, trễ mất mười lăm phút. Nàng hoảng lên, trời! làm thế nào nếu họ không tiếp và cho một cái hẹn khác? chắc nàng không có can đảm…
Đậu xe xong, Phượng kéo mẹ đi như chạy tới phòng hướng dẫn, nơi đó người ta chỉ cho nàng phải đi lối nào. Viện dưỡng lão có ba dãy nhà bao quanh một khu vườn rộng có trồng hoa, và nhiều cây lớn cho bóng mát. Nơi đây có nhiều cụ già chống gậy đi thơ thẩn một mình, hoặc túm năm tụm ba ngồi trò chuyện trên những băng đá, đó là các cụ tương đối còn mạnh khoẻ. Cũng có những cụ già ngồi trên xe lăn, đang được những người khán hộ đẩy đi quanh vườn để sưởi nắng. Khi hai mẹ con sắp bước tới cái cửa tự động để vô tòa buyn đinh chính giữa, bà mẹ bỗng chùn lại không chịu đi nữa, bà hỏi với một giọng lo lắng:
Đây là đâu? trông không có giống khách sạn tí nào. Má không muốn vô, con đưa má về đi, má không muốn đi du lịch nữa.
Phượng dỗ:
Vô một chút thôi má, vô làm giấy tờ xong rồi về.
Tới phòng nhận bệnh, Phượng trình giấy tờ và được mời vào, cửa được đóng lại ngay sau lưng. Bà y tá người da trắng, trông có vẻ hiền lành tử tế, mời hai mẹ con ngồi, rồi tự giới thiệu:
Tôi là Ingrid, y tá trưởng ở đây. Còn đây là…
Phượng vội đỡ lời:
Bà Nguyễn Thị Trình, mẹ tôi. Xin lỗi cô Ingrid, mẹ tôi không nói được tiếng Anh…
Không sao cả, ở đây có bốn y tá là người Việt và cũng có một số bệnh nhân là Việt Nam, mẹ cô sẽ không cô đơn đâu.
Được vậy tôi rất mừng.
Sau khi chờ cho Phượng điền một lô những giấy tờ liên quan đến bảo hiểm y tế, tên tuổi, tình trạng sức khoẻ, bệnh tật và những thuốc men mẹ nàng đang dùng, cô Ingrid cầm xem sơ qua một lượt rồi nói:
Sáng mai chúng tôi sẽ đưa bà cụ đi khám bác sĩ để lập hồ sơ bệnh lý. Bây giờ tôi cho người đưa bà cụ đi nhận phòng.
Cô Ingrid bấm chuông, và một người tá mới xuất hiện, Phượng gật đầu chào và hỏi:
Tôi đi theo được chứ?
Dĩ nhiên! mời hai người theo tôi.
Cô y tá đi trước dẫn đường, hai mẹ con lúp xúp theo sau, bà mẹ đi sát vào con gái như tìm sự che chở, bà chỉ yên tâm khi có con ở bên cạnh. Họ đi thang máy lên lầu hai, tới trước căn phòng sơn màu xanh, có đề bảng số 204 B, cô y tá dừng lại, gõ nhẹ vào cửa hai tiếng, rồi mở toang cửa phòng:
Đây là phòng của mẹ cô, ở chung với một bà cụ cũng người Việt Nam.
Rồi cô quay đi, sau khi chỉ cho Phượng chỗ để quần áo, cô ghé sát vào tận tai nàng thì thầm:
Hai mẹ con từ giã nhau đi nhé, lát nữa tôi sẽ quay lại.
Phượng thấy tim nhói lên một cái, nàng đưa mắt nhìn mẹ, bà Trình đang nhìn theo cô y tá với một vẻ sợ sệt. Đợi cô ta đi khỏi, Phượng mới đưa mắt quan sát, căn phòng tương đối sáng sủa, tường sơn màu xanh dịu mắt, có một cái cửa sổ trông xuống vườn hoa. Ngoài một cái TV ở chính giữa, treo ở trên cao, và một cái bàn hình vuông có bốn cái ghế kê ở cuối phòng – chắc dùng làm chỗ tiếp khách – những đồ đạc còn lại, thứ nào cũng có hai cái: hai tủ đựng quần áo, hai bàn đêm và hai cái giường, một cái để trống dành cho mẹ nàng, và trên cái giường kia có một bà cụ đang nằm xây mặt vào tường. Thấy có tiếng động, bà ta quay lại, nở một nụ cười méo mó:
Người mới hả? ở đây tụi tui kêu là… con so. Tui tên Năm, ở đây trên ba năm rồi. Không sao đâu bà cụ! vô đây làm bạn với tui cho vui, nằm một mình buồn lắm. Cái giường kia bỏ trống cả tháng nay, người nằm đó chết rồi, chết vì chứng ung thư máu…
Bà Trình rùng mình, kéo tay con gái:
Ở đây toàn người bịnh, sợ quá, má muốn về nhà. Đi về lẹ lên đi con! mình ở đây khá lâu rồi đó, đã tới giờ con đi rước mấy đứa nhỏ, còn má phải sửa soạn bữa cơm chiều…
Phượng thở dài, lòng cô chùng xuống, tội nghiệp mẹ luôn luôn nhớ bữa cơm chiều… Đối với bà, bữa cơm chiều là quan trọng nhất, vì là giờ phút xum họp của tất cả mọi người trong gia đình trở về nhà sau một ngày làm việc mệt nhọc. Bằng tất cả thương yêu, trìu mến, mẹ chăm sóc miếng ngon cho cả nhà, hạnh phúc của mẹ là được nhìn thấy các con cháu sung sướng. Nếu mẹ biết sẽ chẳng bao giờ còn có những bữa cơm gia đình, sẽ chẳng bao giờ mẹ còn được tựa cửa ngóng trông con, cháu trở về? Phượng thấy lòng bất nhẫn quá, nhưng nàng biết sẽ phải cuơng quyết, nếu không, sẽ không còn cơ hội nào nữa. Tim đập nhanh trong lồng ngực, Phượng dìu mẹ ngồi xuống giường…
Đây là giây phút quan trọng nhất, Phượng ngập ngừng mãi, không biết phải mở đầu như thế nào. Sau cùng, nàng hít vô một hơi thật sâu để lấy thêm can đảm, rồi bằng tất cả cố gắng, nàng nắm lấy tay mẹ, giọng run run:
Má nghe con nói! Đây là phòng của má, má hãy ở đây đêm nay, ngày mai con và Dũng sẽ đưa mấy đứa nhỏ vô thăm má…
Ồ không… con ơi! Mẹ nàng kêu lên thảng thốt, vùng ôm chặt lấy con gái như sợ cô chạy mất, má không muốn ở đây, má chỉ thích cái phòng riêng của má, cái giường của má. Má nhớ hai đứa nhỏ, nhớ cái bàn thờ có hình của ba con…
Phượng ứa nước mắt, nàng cũng ôm mẹ thật chặt:
Má hiểu cho con, con cũng đâu có muốn xa má. Nhưng tình thế bắt buộc, má cần người săn sóc, mà con thì không thể… Má ở đây con yên tâm hơn, vì luôn luôn có các bác sĩ, y tá thường trực ngày đêm, chăm lo sức khoẻ cho tất cả mọi người.
Bà mẹ vừa khóc vừa nói:
Má không cần bác sĩ, má chỉ cần các con cháu. Giọng bà bỗng dưng tỉnh táo một cách lạ lùng, má biết dạo này má già cả, lẫn cẫn, không còn giúp ích gì cho mọi người, má vô dụng rồi. Chắc con giận má hay sơ ý, mấy lần suýt làm cháy nhà? Má cũng ân hận lắm, hãy cho má thêm một cơ hội nữa, má hứa sẽ không gây phiền phức cho con nữa đâu. Má hứa sẽ nhớ tắt bếp, má cũng sẽ không đi lang thang ra đường một mình, má sẽ ở nhà suốt ngày đợi con, cháu về…
Tới đây thì Phượng không thể chịu đựng nổi nữa, nàng cũng bật khóc lên thành tiếng, nước mắt chảy ròng ròng:
Ồ không phải vậy đâu má, nhưng mà…
Phượng nghẹn ngào, không biết sẽ phải tiếp tục ra sao, hai mẹ con ôm nhau, cùng nức nở… Bỗng cánh cửa bật mở, cô y tá hồi nãy trở lại, thấy cảnh đó thì thở dài, làm việc ở đây đã lâu, những cảnh này đối với cô quen thuộc quá, nhưng mỗi khi phải chứng kiến, lòng cô không khỏi se lại. Chờ cho hai mẹ con bịn rịn thêm một lúc nữa, cô mới nhẹ nhàng an ủi:
Mới đầu thì ai cũng vậy, nhưng chỉ dăm bữa, nửa tháng nữa thôi, mọi việc rồi sẽ đâu vào đấy cả.
Rồi cô quay qua, nói riêng với Phượng:
Sáng mai sẽ có y tá người Việt Nam, hy vọng bà cụ sẽ thấy thoải mái. Cô yên tâm, chúng tôi sẽ săn sóc mẹ cô tử tế. Bây giờ cô nên về đi, như thế sẽ dễ cho chúng tôi hơn.
Bà cụ nằm giường bên bỗng lên tiếng:
Dùng dằng mãi cũng chỉ đến thế, chẳng ích gì. Cô cứ về đi, không sao đâu, tôi sẽ an ủi mẹ cô dùm cho.
Vâng cháu xin nhờ cụ.
Bà mẹ nghe thấy thế, thì vội vàng níu chặt lấy áo con gái. Phượng nhẹ nhàng gỡ tay mẹ ra, dỗ dành:
Má thấy chưa? bác Năm tốt lắm, các cô y tá cũng vậy, ở đây ai cũng chỉ muốn giúp đỡ má thôi mà. Má yên tâm đi, chẳng việc gì phải sợ hãi cả. Bây giờ con phải về đón mấy đứa nhỏ nghen má.
Thế con có trở lại không?
Có chứ, nếu má đừng gây lộn xộn, chiều mai con sẽ đưa các cháu vô thăm má.
Phượng dịu dàng đặt một cái hôn lên trán mẹ, nàng ôm xiết mẹ một lúc rồi buông ra:
Má! con phải đi, mai con sẽ trở lại.
Con sẽ không bỏ má ở lại đây một mình chứ?
Con sẽ vô thăm má thường xuyên mà. Phượng nói với mẹ mà như một lời nhắc nhở với chính mình, con hứa mỗi cuối tuần sẽ đến đón má về. Thôi bây giờ má đi nghỉ đi, con phải về lo cho các cháu.
Nói xong, Phượng đứng dậy, cô y tá lẹ làng đứng chen vào giữa hai mẹ con, và đẩy nhẹ lưng Phượng:
Cô đi ngay đi, lẹ lên!
Cô ta nắm lấy cánh tay bà mẹ, nhưng bà dằng ra, run rẩy chạy theo con ra cửa:
Con ơi! đừng bỏ má, van con đừng bỏ má!
Phượng ngập ngừng, quay lại, nhưng cánh cửa đã được khép lại sau lưng nàng, như một bức tường ngăn cách giữa hai mẹ con, ngăn cách những con người già nua, bệnh tật khốn khổ ở bên trong với thế giới vui tươi, sinh động ở bên ngoài. Phượng nghe tiếng mẹ gào lớn:
Con ơi! con ơi…
Phượng rùng mình, có cảm tưởng như vừa nghe tiếng kêu cứu của người tử tội trước khi bị lên máy chém. Nàng bịt tai lại, vùng bỏ chạy, nhưng những tiếng gọi của mẹ vẫn đuổi theo. Phượng biết suốt đời nàng sẽ không bao giờ quên được tiếng gọi “ con ơi ” ai oán của mẹ.

PHƯƠNG – LAN

Gọi vốn qua IPO kiểu VN ‘chẳng giống ai’

Gọi vốn qua IPO kiểu VN ‘chẳng giống ai’

Vietnam Airlines đã nhiều lần định cổ phần hóa nhưng không thành.

Vietnam Airlines theo dự kiến sẽ có đợt bán cổ phần ra công chúng lần đầu tiên (IPO) vào ngày 14/11.

Để tìm hiểu về đợt IPO này nói riêng và nỗ lực tư nhân hóa nền kinh tế tại Việt Nam, BBC tiếng Việt đã phỏng vấn ông Kevin Snowball, giám đốc điều hành Quỹ Tài sản PXP Vietnam.

Ông Snowball cho rằng cách huy động vốn tư nhân qua IPO cho doanh nghiệp nhà nước không có kết quả và chính phủ Việt Nam thiếu rõ ràng về cách phát triển thị trường chứng khoán.

BBC: Dường như ông có vẻ không mấy hào hứng trước đợt IPO này, tại sao vậy?

“98% số cổ phiếu sẽ được bán cho hai ngân hàng trong nước mà chúng tôi hiểu rằng họ là Techcombank và Vietcombank mặc dù thông tin này chưa được xác nhận”

Kevin Snowball, CEO PXP Vietnam

Về cơ bản thì cầu vượt quá cung một chút. Tức là nhu cầu muốn mua nhiều hơn số cổ phiếu sẽ được chào bán ra 1.70 lần. 98% số cổ phiếu sẽ được bán cho hai ngân hàng trong nước mà chúng tôi hiểu rằng họ là Techcombank và Vietcombank mặc dù thông tin này chưa được xác nhận. Nhà đầu tư nước ngoài tham gia rất ít, có vẻ như 28 cá nhân từ giới đầu tư nước ngoài chia nhau mua khoảng 100.000 USD trị giá cổ phiếu.

Có một số lý do khiến chúng tôi không tham gia mua. Tức là về cơ bản là IPO tại Việt Nam hiện có một số vấn đề. Thứ nhất là giá cổ phiếu là quá đắt. Thông tin cũng không thật đầy đủ và rõ ràng, nói cách khác đi là thiếu minh bạch. Đây là IPO nhưng lại không có ngày cụ thể cho việc khi nào trong tương lai mới niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Tức là đó không phải là cách người ta thực hiện IPO như bình thường.

BBC: Vậy IPO có ý nghĩa gì đối với Vietnam Airlines (VNA)?

Họ dự kiến huy động dưới 50 triệu USD, là việc gọi vốn nhỏ. VNA muốn tìm nhà đầu tư chiến lược. Chúng tôi nghe nói có nhà đầu tư muốn mua 20% cổ phần VNA nhưng cho tới nay thì không có thông tin rằng nhà đầu tư đó là ai. Do đó đợt IPO này chỉ là việc bán ra cổ phần rất nhỏ cho một vài nhà đầu tư nội địa, do đó chẳng có chút hào hứng nào cả.

BBC: Nhìn rộng ra về nỗ lực cổ phần hóa của Chính phủ Việt Nam, ông đánh giá thế nào?

Tôi cho là mọi việc diễn ra không được suôn sẻ. Trong năm nay đã có hàng chục IPO, tôi chỉ thấy có một trường hợp có thể tạm coi là thành công là trường hợp Vinatex. Chúng ta thấy là tuần trước Việt Nam bán 1 tỉ đôla trái phiếu để huy động vốn từ thị trường tài chính quốc tế và cầu gấp 10 lần cung. Đó là bởi giá bán là hợp lý, ấn định giá đúng thì bán cái gì cũng được.

Đối với nhà đầu tư nước ngoài thì để có thể tham gia vào IPO thì hẳn phải có triển vọng thực sự là họ sẽ kiếm được tiền từ đó. Đó là một trong những đặc điểm của thị trường chứng khoán. Còn nếu bán cổ phiếu ra để giới đầu tư trông đợi 100 năm nữa mới có lãi thì khả năng để người ta huy động được vốn là rất ít. Tức là trong trường hợp này thị trường nói với chính phủ là giới đầu tư không thích kiểu thực hiện IPO này của VNA.

BBC: Nhà nước vẫn nắm cổ phần chính của Vietnam Airlines và phải chăng đó là chỉ dấu cho thấy nhà nước chưa sẵn sàng có những thay đổi thực sự tại VNA nói riêng và nền kinh tế mà quốc doanh nắm vai trò chủ đạo nói chung?

” Rồi sẽ đến lúc người ta sẽ hỏi rằng liệu có cần phải có thị trường chứng khoán không và làm gì với nó”

Hiện nhà nước vẫn nắm 96.5% cổ phần của Vietnam Airlines. Họ chưa bán 20% cổ phần. Có việc đồn đoán là có thể có nhà đầu tư Nhật nào đó sẽ mua nhưng hiện chưa thấy chỉ dấu nào từ phía Nhật là họ muốn thực hiện điều đó. Có một số nhỏ cổ đông nắm 3.5% cổ phần của VNA nhưng họ không biết sẽ buôn bán các cổ phần này ở đâu.

Thực tế rằng Việt Nam giới hạn mức sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài ở mức tối đa là 49% cho thấy là Việt Nam chưa sẵn sàng để cho thị trường chứng khoán vận hành theo cách mà đáng ra phải vận hành như tại những nơi khác. Có nhiều công ty được niêm yết trên sàn giao dịch tại Việt Nam nhưng đa số vẫn thuộc quyền sở hữu thuộc về nhà nước.

Tôi nghĩ là có vấn đề mang tính tổng quát hơn đối với thị trường chứng khoán và cách vận hành cũng như vấn đề về chủ trương. IPO là bước đi cốt để cung cấp nguồn tiền mặt thì dường như đã và đang không có mấy kết quả. Chúng ta đang đối diện rủi ro là cứ để tình trạng này càng kéo dài bao lâu thì nó chỉ càng thêm tiêu cực. Rồi sẽ đến lúc người ta sẽ hỏi rằng liệu có cần phải có thị trường chứng khoán không và làm gì với nó. Tức là chính phủ Việt Nam không có chính sách rõ ràng việc họ muốn phát triển thị trường chứng khoán tại Việt Nam như thế nào.

Sài Gòn: Đi siêu âm, nữ bệnh nhân bị trộm mất quần!

Sài Gòn: Đi siêu âm, nữ bệnh nhân bị trộm mất quần!
November 11, 2014

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN ( NV) – Trong lúc thay váy của bệnh viện để siêu âm, nữ bệnh nhân đã bị trộm mất chiếc quần cùng số tài sản để ngay dưới chân bác sĩ tại một bệnh viện nổi tiếng ở Sài Gòn.

Nơi bà V. đi siêu âm bị mất trộm quần và tài sản ( Hình: Người Lao Động)

Theo báo Tuổi Trẻ, ngày 13 tháng 10, bà N.T.T.V. ở quận 10 đến Bệnh Viện Đại Học Y Dược Sài Gòn khám bệnh, thì được bác sĩ chỉ định siêu âm phụ khoa ở phòng 21.

“Khi tôi thay váy của bệnh viện để siêu âm, do trong phòng không có móc treo quần áo nên tôi để dưới chân bác sĩ. Lúc này, trong phòng chỉ có một bác sĩ, một điều dưỡng tên D. và một bệnh nhân mới được siêu âm trước đó.

Khi siêu âm xong, tôi lấy quần áo để mặc thì phát hiện chiếc quần của tôi biến mất cùng 15 triệu đồng và một chiếc điện thoại iPhone 4S trong túi quần,” bà V. cho biết.

Sau khi phát hiện bị mất đồ, bà V. nghi ngờ bệnh nhân trước đó đã lấy đồ của mình, nên đề nghị điều dưỡng D. cho thông tin bệnh nhân, song bà D. đã không cho, thậm chí “Khi tôi kiểm tra đồ xung quanh đó xem quần tôi có lẫn ở đâu không, cô D. còn lớn tiếng với tôi, ‘Tưởng tôi lấy đồ của bà hả?’”

“Trên người tôi lúc này chỉ có cái váy của bệnh viện. Tôi mếu máo ra ngoài mượn điện thoại gọi cho người thân thì lúc này mới được sự hỗ trợ của cô y tá trưởng,” bà V. uất ức kể lại.

Sau khi hỏi chuyện, y tá trưởng đã báo công an và đề nghị bà V. làm bản tường trình vụ việc. “Tôi nghĩ, nếu được sự hỗ trợ của nhân viên bệnh viện sớm hơn, tôi đã tìm được đồ của mình,” bà V. tiếc nuối.

Ông Trần Văn Hùng, phó trưởng phòng hành chính Bệnh Viện Đại Học Y Dược Sài Gòn cho biết, “Sau khi sự việc xảy ra, điều dưỡng trưởng đã mời bảo vệ tiếp nhận sự việc, đồng thời trình báo công an phường. Đây chuyện đáng tiếc xảy ra ngoài dự kiến.”

Theo ông Hùng, việc điều dưỡng D. không cung cấp thông tin cá nhân của người bệnh siêu âm trước đó cho bà V. là do bệnh viện phải giữ thông tin bí mật của bệnh nhân. Tuy nhiên, sau đó bệnh viện đã cung cấp cho cơ quan công an để phục vụ công tác điều tra.

Liên quan đến việc này, điều dưỡng D. chỉ bị viết bản tường trình, bệnh viện đề xuất hình thức kỷ luật nhưng không cho biết cụ thể và tạm đình chỉ công việc…hai tuần.

Thật ra đây chỉ là giọt nước làm tràn ly về việc mất cắp tài sản tương tự đã từng xảy ra ở bệnh viện này, cũng như nhiều bệnh viện khác ở Việt Nam.

Chuyện mất đồ của bà V. là một cảnh báo cho nhiều người rằng, dù ở bất cứ địa điểm đông người nào ở Việt Nam cũng phải cố gắng tự giữ gìn, bảo quản tài sản của mình để tránh rơi vào tình huống “dở khóc, dở cười” như trên. (Tr.N)

“Nhân đức anh hùng” của cậu thiếu niên12 tuổi được ĐTC Phanxicô công nhận

“Nhân đức anh hùng” của cậu thiếu niên12 tuổi được ĐTC Phanxicô công nhận

Chuacuuthe.com

VRNs (11.11.2014) – Sự ra đi của cậu trai 12 tuổi vào năm 1970 cùng với 7 người đàn ông và phụ nữ khác đã bước gần hơn tới việc tuyên thánh vì ĐTC Phanxicô đã công nhận nhân đức anh hùng của cậu. Thông báo này đã được ĐHY Angelo Amato trường Thánh bộ Phong Thánh công bố hôm 7 tháng 11.

ĐTC đã ủy quyền để Thánh bộ Phong thánh tuyên bố 8 trường hợp được tôn phong lên Bậc đáng Kính, gồm có giáo dân, linh mục và các tu sĩ, trong số này cũng có trường hợp của cậu Silvio Dissegna.

Sinh ngày 1 tháng 7 năm 1967 ở tỉnh Turin của Moncalieri, Italia – cậu Dissegna đã được chuẩn đoán bị ung thư xương hồi đầu năm 1978.

Theo thông tin trên website dành riêng về trường hợp của cậu (www.silviodissegna.org) cho biết, cậu đã trải qua thời gian đau bệnh trong việc cầu nguyện và đặc biệt là lòng sùng ái mãnh liệt đối với Kinh Mân côi. Cậu đã hiến dâng sự đau khổ cùng với lời cầu nguyện cho ĐGH, cho các nhà truyền giáo, những hối nhân trong số các ý nguyện của mình. Cậu đã chết vào ngày 24 tháng 9 năm 1979 ở Poirino của Ý.

Marthe Louise Robin, một giáo dân nữ người Pháp và là nhà sáng lập của tổ chức cứu trợ Foyers cũng đã được công nhận nhân đức anh hùng, bà Robin được cho là một nhà huyền bí và bị bêu xấu. Bà mất vào ngày 6 tháng 2, 1981.

Một người Pháp khác là bà Jeanne Mance là người sáng lập của bệnh viện  Hotel-Dieu (Hotel-Dieu hospital) ở Montréal, Canada. Bà mất ở Montréal  ngày 18 tháng 6, 1963.

ĐTC Phanxicô cũng đã thông qua những bước tiến mới trong trường hợp của cha John Sullivan, một linh mục dòng tên người Ailen. Cha mất ở Dublin 1933.

Một số Bậc đánh Kính mới khác có trong danh sách gồm có, Linh mục người Đức, cha Pelagius Sauter; tu sỹ Phanxicô người Chile, Francesco Massimiano Valdes Subercaseaux; Bề trên và là người sáng lập dòng Các chị em bảo trì gương mặt Thánh của Chúa Giê-su (Sisters of the Reparation of the Holy Face of Jesus), nữ tu Ildebrando Gregori người Ý; và linh mục người Ý Raimondo Calcagno của Nhà nguyện thánh Philip Neri.

Việc công nhận một người là “Đấng đáng kính” là một bước trong quá trình dẫn đến việc tuyên thánh. Để chuyển sang bước tiếp theo – là giai đoạn tuyên phong chân phước – phải có ít nhất một phép lạ được chuyển cầu từ người đó, nếu người đó không phải là một vị tử đạo. Và theo thông lệ, nếu một phép lạ thứ hai được xác nhận thì người đó sẽ được tuyên bố là một vị thánh, mặc dù yêu cầu này có thể được miễn bởi ĐTC.

Pv. VRNs

ĐTC: cá nhân chủ nghĩa sẽ không bao giờ đạt được hòa bình và công lý

ĐTC: cá nhân chủ nghĩa sẽ không bao giờ đạt được hòa bình và công lý

Chuacuuthe.com

VRNs (12.11.2014) -theo zenit- Trong một bức thư ký ngày 06.11 vừa gửi đến Thủ tướng Australia, ông Tony Abbott, Đức Thánh Cha Phanxicô cảnh giác rằng một “suy nghĩ mang tính cá nhân chủ nghĩa kết cục sẽ bị sa thải và không bao giờ đạt được công lý và hòa bình.”

0

Lá thư vừa được gửi đi nhân dịp hội nghị thượng đỉnh G20 sắp tới, sẽ diễn ra vào cuối tuần này tại Brisbane, Australia. Đức Thánh Cha nói rằng cuộc họp sẽ mang đến một cơ hội cho cả thế giới để “góp phần đáng kể cho Châu Đại Dương trong việc quản lý giao thương trên thế giới.”

Đức Thánh Cha nói rằng cuộc họp sắp tới diễn ra vào thời điểm quyết định khi đòi hỏi của công ăn việc làm cần phải được đáp ứng bằng cách đánh thuế công bằng và minh bạch trong lĩnh vực tài chính. Ngài cũng kêu gọi người đứng đầu nhà nước và chính phủ “đừng quên rằng đằng sau các cuộc thảo luận chính trị sẽ có những mảnh đời bị đe dọa.”

Đức Thánh Cha đã viết trong bức thư như sau: “Các nước G20 thừa nhận rằng, trên khắp thế giới, còn có quá nhiều trẻ em bị suy dinh dưỡng nghiêm trọng; gia tăng số lượng người thất nghiệp; một tỷ lệ rất cao của những người trẻ không có việc làm và tệ nạn xã ​​hội gia tăng có thể dẫn đến nguy cơ phạm tội và thậm chí những kẻ khủng bố còn thông báo tuyển dụng người.”

“Ngoài ra, môi trường tự nhiên bị tấn công do hậu quả của chủ nghĩa tiêu thụ không vô độ, và điều này sẽ gây nên tình trạng đáng lo ngại cho nền kinh tế thế giới.”

Khi nhận đình về tình hình hiện tại của an ninh toàn cầu và hòa bình, đặc biệt là ở Trung Đông, Đức Thánh Cha bày tỏ niềm hy vọng về một sự đồng thuận có thể khơi lên ở đây. Ngài cũng kêu gọi một sự thỏa thuận rộng lớn hơn nữa giữa các quốc gia, thông qua hệ thống pháp lý của Liên Hợp Quốc, để chấm dứt việc xâm lược, bách hại các tôn giáo và dân tộc thiểu số.

Về thỏa thuận này, ngài viết: “nên loại bỏ hẳn tận gốc rễ các nguyên nhân đưa đến chủ nghĩa khủng bố, mà cho đến nay nó đã bành trướng không thể tưởng tượng nổi. Chủ nghĩa này đã gây nên bao nghèo đói, kém phát triển và loại trừ.”

ĐTC cũng nói rằng cần phát triển giáo dục và tôn giáo không thể sử dụng để biện minh cho hành vi bạo lực.

Ngài viết như sau: “Tình hình ở Trung Đông đã khơi lên một cuộc tranh luận về trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ các cá nhân và các dân tộc thiểu số. Các hành vi bạo lực này tấn công vào nhân quyền và bất chấp pháp luật.”

“Cộng đồng quốc tế, và đặc biệt là các nước thành viên G20, nên đưa ra suy nghĩ về việc cần thiết phải bảo vệ công dân của tất cả các nước tránh mọi hình thức xâm lược.”

Đức Thánh Cha cũng đề cập đến điều gọi là “lạm dụng trong hệ thống tài chính” đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Ngài cảnh báo chủ nghĩa cá nhân sẽ làm người ta ném đi mọi thứ, “sẽ không bao giờ đạt được hòa bình và công lý.”

ĐTC khẳng định: “Trách nhiệm đối với người nghèo và bị áp bức phải là một yếu tố thiết yếu của bất kỳ quyết định chính trị nào, cho dù ở cấp quốc gia hay toàn cầu”.

Kết thúc lá thư, ĐTC bày tỏ sự đánh giá cao đối với công việc của Thủ tướng Abbot và chuyển lời  “cầu nguyện khích lệ” của ngài đến các tham dự viên Hội nghị thượng đỉnh G20.

Hoàng Minh

Dân Việt làm gì có quyền bầu cử

Dân Việt làm gì có quyền bầu cử

Hoàng Long Gửi tới BBC từ Hà Nội

Ông Nguyễn Minh Thuyết trong buổi tọa đàm trực tuyến qua Hangouts-on-Air của BBC Tiếng Việt nói: “Nếu hỏi vì sao chúng ta lại có một Quốc hội mà người dân không hài lòng như vậy, thì tôi cho là chính người dân cũng phải tự trách mình.”

Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết mới đây cho rằng khi có một Quốc hội mà người dân không hài lòng như vậy thì “chính người dân phải tự trách mình” và nếu “chọn lọc cẩn thận thì lúc ấy mình sẽ có Quốc hội như ý”.

Cảm ơn giáo sư đã thẳng thắn nói rằng Quốc hội bây giờ chưa tốt, nhưng có lẽ giáo sư chưa bao giờ đi thị sát một cách đầy đủ các điểm bỏ phiếu ở địa phương.

“Trò bầu cử”

Người dân bao năm qua vẫn thắc mắc rằng: mình không bầu cho ông này, người xung quanh cũng không ai bầu, vì chẳng ai (trừ số ít người quen họ hàng ứng viên) muốn ông ấy làm thêm nhiệm kỳ nữa, thế mà ông ta vẫn tái đắc cử như thường.

Cũng chỉ thắc mắc đến thế chứ không ai nhọc công mạo hiểm tìm tòi thêm, may mà nhà tôi có người quen được ở trong Ban kiểm phiếu: “Ôi ăn gian lắm em ơi, chỉ những vị trí cấp thấp thì may ra…”.

Thế là từ đó tôi đã biết nguồn gốc của từ “trò bầu cử”.

Ngay cả ở vị trí thấp nhất người dân còn chẳng bầu được thì lấy đâu ra tác động được tới vị trí Đại biểu Quốc hội, và đương nhiên lên đến những lãnh đạo cấp cao nhất thì không có quyền rồi, đến đây thì đã là luật.

“Phổ thông đầu phiếu” và “bầu cử trực tiếp” chỉ là hình thức, mà có cho bầu trực tiếp tất cả các vị trí đi chăng nữa thì cũng không có nhiều ý nghĩa, vì các ứng cử viên đều được cơ cấu sẵn.

Với hình thức bầu cử hiện nay cũng chẳng ai biết các ứng viên đã làm hoặc sẽ làm được những gì, đó là chuyện nội bộ của các quan chức với nhau.

“Đảng phân công”

Các quan chức ở địa phương làm được một thời gian là tìm cách chạy lên Trung ương, nói cách khác là chuyển ra Hà Nội nắm giữ các chức vụ do “Đảng phân công”.

Ví dụ như bí thư hay chủ tịch thì sang làm bộ trưởng hoặc trưởng ban, phó bí thư hay phó chủ tịch thì làm phó ban hay thứ trưởng, miễn là chức tương đương bất chấp vị trí chuyên môn có phù hợp hay không.

Ở Việt Nam ai nghe đến “ngoại giao” là cũng nể lắm, vì thường dân ngoại giao được đi nước ngoài, nói ngoại ngữ như gió… nhưng thực tế có khi người đứng đầu ngành ngoại giao lại mù tịt về ngoại giao và ngoại ngữ.

Tất nhiên cấp dưới phải giỏi các thứ tiếng để đi tháp tùng rồi, những người ấy sẽ lo mọi việc cho lãnh đạo. Nhưng cơ hội cho những người đi lên bằng con đường học hành để nắm những vị trí quan trọng nhất thì không nhiều.

Lý do là việc luân chuyển, đề bạt cán bộ cao cấp cũng không liên quan đến thành tích tại nơi làm việc ban đầu. Lãnh đạo của những tỉnh yếu kém bậc nhất vẫn ra Trung ương, nắm giữ những vị trí chóp bu phải là họ, phải là “Đảng phân công”.

Có nhiều người rất giỏi làm ở một cơ quan cả đời chẳng lên được sếp; trong khi có những anh khôn ngoan hơn, tìm cách chuyển sang nơi ít danh giá nhưng ở đó có thể lên làm lãnh đạo rồi cuối cùng lại được “luân chuyển” về làm sếp của cơ quan cũ mà ngày xưa mình chẳng là gì cả.

Rõ ràng năng lực chỉ là chuyện nhỏ, “không thoái thác nhiệm vụ Đảng phân công” mới là chuyện lớn.

Người dân không quan tâm đến bầu cử?

Khi mà người dân đứng ngoài gần như mọi cuộc bầu cử, tại sao họ phải quan tâm đến những cuộc “bầu bán”? Bầu cho ai mà chẳng thế, rồi đâu lại vào đấy cả thôi.

Còn về chuyện nhà nước có mở rộng quyền ứng cử và bầu cử cho người dân hay không, đừng hy vọng hão!

Bầu cử “khép kín” hiện tại là một trong những điều kiện để duy trì quyền lực, bởi nếu dân chúng được tự do bầu cử, họ sẽ không ngại ngần mà chọn con đường khác cho đất nước.

Đến lúc ấy thì người dân chắc chắc sẽ quan tâm đến bầu cử lắm.

Người ta sẽ thấy không phải dân Việt Nam “không quan tâm đến chính trị” đâu, họ không được phép quan tâm thì đúng hơn.

Lãnh đạo là người ra những chính sách tác động trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của họ thì làm sao mà không quan tâm cho được.

Đến kỳ bầu cử người ta sẽ nô nức đi bỏ phiếu và bàn tán xôn xao xem nên bỏ cho ai – điều không thấy ở xã hội hiện tại (có chăng là bàn tán ông nào sẽ mất chức, ông nào sẽ “lên” theo một kết quả nội bộ có thể biết trước từ nhiều tháng).

NGƯỜI VIỆT DỄ GHÉT

NGƯỜI VIỆT DỄ GHÉT

Từ trước đến nay, một cách công khai, trên sách báo cũng như trên các diễn đàn, hình như ai cũng nói người Việt…đáng yêu. Đó cũng là nhan đề cuốn sách do Doãn Quốc Sỹ viết và xuất bản tại Sài Gòn trước năm 1975. Xuất phát từ một lập trường và động cơ chính trị hoàn toàn ngược lại với Doãn Quốc Sỹ, Vũ Hạnh, giả danh một người Ý (Pazzi), cũng vội vã viết cuốn “Người Việt cao quý”, trong đó, nội dung chính của khái niệm “cao quý” cũng là…sự đáng yêu.

Mà không phải chỉ có người Việt Nam mới nói thế. Tôi có khá nhiều sinh viên Úc hoặc người các nước khác thường đi Việt Nam. Nhiều người không ngớt khen là người Việt Nam đáng yêu. Cách đây mấy năm, có một sinh viên người Na Uy sang Úc du học. Trên đường từ Na Uy sang Úc, anh ghé Việt Nam chơi hai tuần. Lý do ghé Việt Nam chỉ có tính chất thực dụng: vật giá rẻ. Vậy thôi. Nhưng hai tuần ở Việt Nam đã làm thay đổi hẳn kế hoạch học tập của anh. Mê Việt Nam trong thời gian hai tuần ấy, sang Úc, anh quyết định chọn Tiếng Việt làm một trong hai môn học chính trong chương trình Cử nhân. Hỏi: Mê nhất ở Việt Nam là điều gì? Anh đáp: Con người. Và nói thêm: “Người Việt rất đáng yêu”.

Cách đây mấy ngày, tôi cũng lại gặp một sinh viên khác, cũng mê Việt Nam như thế. Sau khi học xong trung học, thay vì vào đại học ngay, cô quyết định nghỉ một năm để đi làm và đi du lịch. Sau khi qua nhiều nước, cô ghé Việt Nam. Cũng chỉ là một quyết định tình cờ. Thoạt đầu, định ở vài ba tuần. Nhưng rồi cô lại đâm mê Việt Nam. Bèn quyết định ở lại thêm vài tháng. Trong vài tháng ấy, cô xin dạy học trong một trung tâm sinh ngữ tại Sài Gòn. Cô càng mê hơn nữa. Về lại Úc, cô bèn quyết định học tiếng Việt để sau này có cơ hội quay sang làm việc lâu dài tại Việt Nam. Hỏi lý do, cô cũng đáp như anh sinh viên người Na Uy kể trên: “Người Việt đáng yêu”.

Người Việt đáng yêu như thế nào? Tôi chưa bao giờ có ý định làm một cuộc điều tra thật đàng hoàng về đề tài này. Nhưng từ những gì tôi nghe từ các sinh viên cũng như bạn bè, đồng nghiệp của tôi, những nét đáng yêu nhất của người Việt Nam thường được nêu lên là: vui vẻ, cởi mở và thân thiện.

Tuy nhiên, tất cả những điều kể trên chỉ là một khía cạnh. Có một khía cạnh khác, vì lịch sự, người khác ít nói; và vì tự ái, chúng ta cũng ít khi đề cập: Có vô số người chê người Việt là cục cằn, thô lỗ, ích kỷ, tham lam vặt, hay nói dối vặt, thiếu kỷ luật, thiếu lịch sự, nói chung, là…dễ ghét. Ngay chính những người được xem là “mê” Việt Nam cũng thấy điều đó. Và dĩ nhiên, với tư cách là người Việt Nam, chúng ta cũng thừa biết điều đó.

Thật ra, ở quốc gia nào cũng có những người đáng yêu và những người dễ ghét. Đó là chuyện bình thường. Tuyệt đối không có gì đáng ngạc nhiên cả. Chỉ có vấn đề là: ở những nơi khác, nét đáng yêu và đáng ghét ở con người chủ yếu là do cá tính, hay nói cách khác, do Trời sinh; còn ở Việt Nam, chủ yếu do văn hoá, hay nói cách khác, do xã hội, đặc biệt, do chế độ sinh. Ở những nơi khác, sự phân bố của những người được xem là đáng yêu và những người bị xem là đáng ghét hoàn toàn có tính ngẫu nhiên; ở Việt Nam thì khác: nó có tính quy luật để theo đó, người ta có thể vẽ lên được một “bản đồ” đáng yêu / đáng ghét của người Việt một cách khá chính xác.

Đại khái “bản đồ” ấy như thế này:

Người Việt rất đáng yêu trong quan hệ cá nhân và ở những nơi quan hệ cá nhân đóng vai trò chủ đạo: gia đình, bàn tiệc, quán nhậu, và hàng xóm. Ở những nơi đó, người Việt, nói chung, rất nhiều tình cảm và tình nghĩa. Và cũng ở những nơi đó, ít ai phàn nàn về người Việt.

Nhưng vượt ra ngoài quan hệ cá nhân thì khác. Bước vào không gian công cộng ở Việt Nam, nhất là không gian công cộng thuộc quyền nhà nước, từ uỷ ban nhân dân đến công an phường, quận, thành phố; từ bưu điện đến bệnh viện; từ bàn hải quan đến văn phòng xuất nhập cảnh, v.v…ở đâu người Việt Nam cũng dễ ghét.

Cái dễ ghét ấy có thể được nhìn thấy ngay trên các chuyến bay về Việt Nam: Theo nhận định của nhiều người vốn đi nhiều, ít có tiếp viên hàng không nào dễ ghét như tiếp viên hãng Hàng Không Việt Nam; ít có công an cửa khẩu và nhân viên hải quan nào dễ ghét như những người làm việc tại các sân bay quốc tế tại Việt Nam. Một sinh viên của tôi, người Úc, rất mê Việt Nam, và vì mê Việt Nam, cuối cùng, lấy vợ Việt Nam.

Chính trong thời gian làm đám cưới, phải chạy vạy làm đủ các loại giấy tờ, từ hôn thú đến bảo lãnh vợ sang Úc, anh phờ phạc cả người.

Quay về Úc, anh than: Chưa bao giờ anh thấy nhân viên hành chính ở đâu dễ ghét bằng các nhân viên hành chính ở Việt Nam.

Một người bạn khác của tôi, về Việt Nam thăm thân nhân bị bệnh, phải nằm bệnh viện, than:

Chưa bao giờ thấy bác sĩ và y tá ở đâu lại dễ ghét như ở Việt Nam. Mặt mày ai cũng hầm hầm hay lạnh tanh. Người ta hỏi gì cũng quát, nạt. Họ chỉ dịu giọng được một lát khi nhận tiền lót tay.

Một người bạn khác rất có thiện chí giúp đỡ Việt Nam, nhiều lần tổ chức quyên góp từ quần áo, sách vở đến máy vi tính ở Úc để chuyển về tặng cho người Việt; nhưng sau đó, đâm nản, cuối cùng, bỏ cuộc. Anh nói: “Mình mang quà về giúp, nhưng ở đâu cũng bị làm khó dễ.” Và kết luận: “Người Việt thật dễ ghét!”

Xin lưu ý: những nhân viên các loại và các cấp bị xem là dễ ghét trong công sở ấy có thể trở thành cực kỳ dễ thương với bạn bè, người thân hoặc người quen. Một viên công an mặt mày lúc nào cũng lạnh như tiền và lăm lăm đòi móc túi những người dân đến xin chứng nhận một thứ giấy tờ gì đó có thể là một người cởi mở, hào hiệp và hào phóng khi ngồi vào bàn nhậu với bạn bè. Nhưng trong quan hệ công cộng thì họ lại biến thành một người khác hẳn.

Có thể nói gọn lại thế này: Trong quan hệ cá nhân, người Việt thường đáng yêu; nhưng trong quan hệ công cộng, nhất là ở công sở, người Việt thường rất dễ ghét.

Cũng có thể nói một cách khái quát hơn: ở Việt Nam, cứ hễ có chút quyền lực, bất kể là quyền lực gì, người ta liền biến ngay thành người dễ ghét. Bản tính dễ thương đến mấy cũng thành dễ ghét. Nếu không dễ ghét vì sự hách dịch, quan liêu hay tham lam thì cũng dễ ghét vì sự chậm chạp, cẩu thả, lười biếng và vô trách nhiệm. Bởi vậy, nhiều người nhận xét: Chơi với người Việt thì vui, nhưng làm việc với người Việt thì đúng là một cực hình. Trên bàn nhậu, ai cũng thông minh, biết điều, cởi mở; nhưng quay lại bàn giấy thì người ta lại lề mề, khó khăn, tắc trách, rất ít đáng tin cậy.

Do đó, vấn đề không phải là bản tính mà là văn hoá. Mà văn hoá, nhất là văn hoá hành chính, lại gắn liền với chế độ.

Bạn có nghĩ vậy không?

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

‘ Đam mê của tôi không được khuyến khích ở VN’

‘ Đam mê của tôi không được khuyến khích ở VN’

Xe bọc thép mà cha con ông Trần Quốc Hải đóng mới cho quân đội Campuchia

Một nhà sáng chế ở tỉnh Tây Ninh vừa được Campuchia phong tặng Huy chương Đại tướng quân vì đã giúp sửa chữa xe bọc thép cho quân đội nước này.

Ông Trần Quốc Hải, ở tỉnh Tây Ninh, và con trai là Trần Quốc Thanh đã được Nhà nước Campuchia vinh danh.

Ông Hải cũng là người từng chế tạo máy bay trực thăng và nhiều máy móc công nghiệp mà báo chí Việt Nam từng phản ánh. Tuy nhiên ông nói ở Việt Nam, đam mê của ông không được khuyến khích.

Ông Trần Quốc Hải: Xe bọc thép ở các nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia) thì đại đa số là dùng xe của Liên Xô cũ, nhiều xe đã trong tình trạng hỏng hóc.

Những xe này cũng không phù hợp với địa hình và điều kiện địa phương nên các tướng lĩnh Campuchia họ muốn có một loại xe phù hợp hơn.

Người Campuchia họ biết là tôi có năng lực, chế tạo máy bay rồi máy móc công nghiệp nên họ mời tôi sang, Trước hết là sửa máy nông nghiệp, sau đó thấy xe bọc thép Liên Xô chế tạo hỏng rất nhiều họ yêu cầu mình khắc phục.

Khắc phục được 11 chiếc thì họ biết mình có năng lực rồi nên họ bàn làm sao chế tạo xe bọc thép mới để không phụ thuộc vào nước ngoài.

Tới nay thì tôi cũng mới chỉ bắt đầu chế tạo hoàn toàn một chiếc xe bọc thép phù hợp với điều kiện Đông Dương.

Campuchia họ đang muốn xây dựng nhà máy để chế tạo 100 chiếc, thay thế cho loại xe của Liên Xô đã không còn phù hợp nữa.

Hiện tôi mới chỉ chế loại xe sáu bánh, họ yêu cầu chế xe tám bánh.

BBC: Thế ở Việt Nam, giới chức quân đội họ có tiếp cận ông và đề nghị ông làm việc cho họ không ạ?

Ông Trần Quốc Hải: Chưa nghe thấy ai đề nghị gì cả.

BBC: Trước kia ông đã từng chế tạo cả trực thăng, rồi máy móc, báo chí cũng đã viết nhiều về ông. Vậy mà chính quyền tỉnh và trung ương không tiếp cận ạ?

Ông Trần Quốc Hải: Cũng có tiếp cận, rồi thưởng bằng khen. Thế nhưng cơ chế của Việt Nam nó rất là ngộ.

Họ [giới chức Việt Nam] nói: “Anh chế (tạo) rất giỏi, nhưng thôi đừng chế nữa”

Ông Trần Quốc Hải

Ở Campuchia, nếu anh làm được một công trình nào đó, đánh giá xong họ công nhận anh là nhà khoa học.

Ở Việt Nam, người làm được thì họ không công nhận, người chưa làm được gì thì công nhận.

Khi làm trực thăng thì họ nói thế này: thứ nhất là không phù hợp. Thứ hai là Việt Nam không có đủ trình độ để chế tạo máy bay. Tôi cũng tranh luận với họ, nhưng họ cũng không muốn tranh luận ra ngô ra khoai.

Tôi nói ở châu Âu người ta làm máy bay từ cách đây cả trăm năm, Việt Nam không lẽ thua họ? Tôi tự hào là người Việt Nam chứ.

Họ cũng im lặng không tranh luận, nhưng về họ viết văn bản. Họ nói: “Anh chế rất là là giỏi, nhưng thôi đừng chế nữa”.

BBC: Như vậy, ông không có dự án gì ở Việt Nam ạ?

Ông Trần Quốc Hải: Các dự án lớn thì cần quy hoạch của chính phủ. Không có kế hoạch của chính phủ, một mình mình thì không làm gì được.

BBC: Vừa rồi, ông được Campuchia vinh danh phải không ạ?

Ông Trần Quốc Hải: Họ tặng tôi huy chương Đại tướng quân, do Quốc vương Sihamoni ký lệnh và Thủ tướng Hun Sen trao tặng. Họ cũng đối xử với tôi như cấp tướng. Sống, sinh hoạt bên Campuchia họ cho tôi hưởng tiêu chuẩn cấp tướng.

BBC: Ông có ý định sống và làm việc bên Campuchia không ạ?

Ông Trần Quốc Hải: Chuyển sang sống hẳn bên đó thì tôi chưa có ý định, nhưng người Campuchia rất thân thiện và tạo điều kiện cho tôi thực hiện những đam mê của tôi nên tới đây chắc tôi sẽ tiếp tục hợp tác với họ.

Khoa học không có biên giới, nơi nào họ cần mình, họ coi trọng mình thì mình đến phục vụ cho họ. Đơn giản thế thôi.