Chuyện Cha Trương Bửu Diệp

Chuyện Cha Trương Bửu Diệp

Đoàn Dự

Thưa quý bạn, Bạc Liêu là một tỉnh nhỏ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng có nhiều chuyện nổi tiếng, như về lúa gạo, về muối, về nhãn, về… Công tử Bạc Liêu (1900-1973) trong thời Pháp thuộc, về vụ án Đồng Nọc Nạn của những năm 1928-1930, và về ngôi nhà thờ họ Tắc Sậy với sự linh ứng của Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, mà gần đây cả trong nước lẫn ngoài nước ai cũng biết.

Tôi không phải là người Công giáo, hơn nữa lại là một giáo viên (ngày trước gọi là giáo sư trung học) có đầu óc khoa học và ưa chuộng thực tế hơn là những sự tin tưởng mang tính siêu hình. Tôi đã từng dạy học tại Bạc Liêu suốt 6 năm trời (1965-1971) và học trò của tôi tại các huyện Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Phước Long, Giá Rai v.v… đông lắm, chúng tôi thường xuống dưới đó chơi. Tôi rất quen thuộc với cái huyện (ngày trước gọi là quận) Giá Rai có ngôi nhà thờ nhỏ tí Tắc Sậy lợp tôn, nằm bên cạnh lộ sau khi đi qua ngôi chợ cũng nhỏ như vậy của thị trấn Hộ Phòng – thị trấn củahuyện Giá Rai – khoảng một cây số.

Bây giờ, trong thời buổi CS này, nhà thờ Tắc Sậy tự nhiên nổi tiếng do sự linh thiêng “ai đến khấn nguyện điều gì đều được” của Cha Diệp. Có điều tôi muốn thưa với quý bạn rằng Nhà thờ Tắc Sậy huyện Giá Rai thuộc tình Bạc Liêu chứ không phải thuộc tỉnh Cà Mau. Tất cả các tài liệu đều ghi Bạc Liêu nhưng dân chúng thường nói Ca Mau bởi vì sau năm 1975, khi Cha Trương Bửu Diệp bắt đầu nổi tiếng thì Bạc Liêu thuộc về Cà Mau, kết hợp với tỉnh Cà Mau thành tỉnh Minh Hải, người ta quen gọi là Cà Mau chứ ít khi gọi là Minh Hải. Ngoài ra, Nhà thờ Tắc Sậy nằm trên đường Bạc Liêu đi Cà Mau, cách Bạc Liêu 37 cây số trong khi chỉ cách Cà Mau có 20 cây số nên mọi người dễ bị lầm.

Quý bạn hỏi vậy thì đối với những chuyện đồn đại, bản thân Đoàn Dự tin hay không tin? Tôi xin trả lời rằng tôi không dám nói tin hay không tin, nhưng theo tôi nghĩ, Nhà thờ Tắc Sậy là một ngôi nhà thờ rất nhỏ – nhỏ không thể nào nhỏ hơn được nữa – lại nằm trong một thị trấn cũng nhỏ, đồng không mông quạnh, ở phần gần như cuối cùng đất nước, cách Sài Gòn tới hơn 300 cây số, vậy mà nay được xây dựng thành một cơ ngơi to lớn, hiện đại, nguyên tiền xây cất đã hơn 59 tỉ đồng, tức gần 3 triệu đô-la, ấy là chưa kể các pho tượng 12 vị thánh tông đồ lớn gấp 2 hay 3 lần người thật, toàn bằng gõ đỏ tức loại gỗ quý hiện nay không còn có ở Việt Nam (nhưng còn có ở Campuchia và Lào) mà theo tôi biết, giá mỗi pho tới vài trăm triệu đồng, vậy thì tiền “nội thất” cũng tới hàng triệu đô-la. Toàn là do khách thập phương, lương cũng như giáo, nhất là Việt Kiều tại các nước gửi tới t ơncả. Phải có cái gì đó thiêng liêng và đầy tin tưởng người ta mới dâng hiến lên Cha như thế! Mặt khác tôi cũng nghĩ, khi bị bắt cùng với 70 người vừa chức sắc vừa giáo dân trong họ đạo, Linh mục Phanxicô Trương Bửu Diệp đã hy sinh tính mạng của mình để cứu họ. Sau khi qua đời, ngài hiển linh ban ơn cho người này người kia, “ai xin thì cũng đều được”. Rồi bây giờ mọi người dâng lễ tạ ơn ngài, biến ngôi nhà thờ nhỏ xíu của ngài thành nơi khang trang, hiện đại. Tất cả những việc đó đều là tình người. Đối với tôi, bất cứ cái gì thuộc về tình người đều đáng ca ngợi.

Quý bạn cũng hỏi những chuyện về Cha Diệp thì ai cũng biết, tại sao tôi còn thuật lại? Xin thưa, tính tôi vẫn thế, không kể thì thôi, đã kể là rất chi tiết. Tôi sợ quý bạn tuy biết nhưng biết từng mảng, không thành hệ thống. Bây giờ tôi xin tường thuật từ đầu đến cuối thật rõ để quý bạn hiểu, xin mời quý bạn xem xét…

* * *

Tiểu sử Linh mục Trương Bửu Diệp

Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp sinh ngày 01-01-1897, một tháng sau được Cha Giuse Sớm rửa tội ngày 02-02-1897 tại họ đạo Cồn Phước, nay thuộc ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Cha ngài là Micae Trương Văn Đặng. Mẹ ngài là Lucia Lê Thị Thanh. Gia đình sinh sống tại họ đạo Cồn Phước tỉnh An Giang.

Năm 1904, lúc ngài 7 tuổi thì mẹ mất. Cha ngài dời gia đình lên Battambang bên Campuchia, sinh sống bằng nghề thợ mộc. Tại đây, thân phụ ngài tục huyền với bà Maria Nguyễn thị Phước, sinh năm 1890, quê gốc tại Mỹ Luông, Chợ Mới, An Giang. Kế mẫu đã sinh cho ngài người em gái tên là Trương thị Thìn (1913), hiện còn sống tại họ đạo Bến Dinh, xã Tân Hòa, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Năm 1909, cha Phêrô Lê Huỳnh Tiền gửi ngài vào Tiểu chủng viện Cù lao Giêng, xã Tấn Mỹ, Chợ Mới tỉnh An Giang. Học xong tại Tiểu chủng viện, ngài lên Đại chủng viện Nam Vang, Campuchia, (lúc đó các họ đạo An Giang, Châu Đốc, Hà Tiên trực thuộc giáo phận Pnom Penh, Campuchia).

Năm 1924, sau thời gian tu học, ngài được thụ phong linh mục tại Nam Vang dưới thời Đức Cha Chabalier người Pháp. Lễ vinh quy và mở tay được tổ chức tại nhà người cô ruột là bà Sáu Nhiều, tại họ đạo Cồn Phước.

Từ năm 1924-1927, ngài được bề trên bổ nhiệm làm Cha phó họ đạo Hố Trư, một họ đạo của người Việt sinh sống tại tỉnh Kandal, Campuchia. Từ năm 1927-1929, ngài về làm giáo sư tại Tiểu chủng viện Cù lao Giêng tỉnh An Giang.

Tháng 03 năm 1930, ngài về trông nom họ đạo Tắc Sậy, quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Trong những năm làm cha sở, ngài quan hệ, giúp đỡ, thành lập nhiều họ đạo khác tại các vùng phụ cận như: Bà Đốc, Cam Bô, An Hải, Đầu Sấu, Chủ Chí, Khúc Tréo, Đồng Gò, Rạch Rắn.

Hoàn cảnh xã hội nhiễu nhương những năm 1945-1946, chiến tranh loạn lạc, bà con nhân dân di tản, Cha Bề Trên địa phận Bạc Liêu là Phêrô Trần Minh Ký và cả các cha người Pháp cũng khuyên ngài lên Bạc Liêu lánh mặt, khi nào tình hình yên ổn thì sẽ trở lại họ đạo Tắc Sậy, nhưng ngài trả lời: “Tôi sống giữa đàn chiên và nếu có chết cũng chết giữa đàn chiên, không đi đâu cả”.

Ngày 12-03-1946, ngài bị bắt cùng với trên 70 chức sắc và giáo dân tại họ đạo Tắc Sậy, bị lùa đi và nhốt tại lẫm lúa nhà ông giáo Sự ở Cây Dừa. Người ta định giết tất cả nhưng ngài nói chính ngài là chủ chăn các con chiên đó, vậy xin chết thay cho các con chiên của ngài. Họ chấp nhận. Mọi người được thả còn ngài thì bị đem đi thủ tiêu.

Những người trong họ đạo kể rằng đêm hôm ấy ngài về báo mộng cho các vị chức sắc trong họ đạo biết chỗ họ ném xác ngài, trong cái ao nhà ông giáo Sự. Các vị đến nơi được báo mộng thì vớt được xác ngài đã b cht đầu với một vết chém ngang cổ chỗ gần mang tai, có ba vết chém khác trên mình. Thân xác ngài không hiểu sao bị lột hết quần áo, trần trụi như Chúa Giêsu trên thập giá, nhưng hai tay vẫn chắp trước ngực như đang cầu nguyện và nét mặt ngài vẫn bình thản, không có vẻ gì sợ hãi.

Các vị chức sắc lén đưa xác ngài về chôn bí mật trong phòng thánh nhà thờ Khúc Tréo (nhà ông giáo Sự thuộc họ đạo Khúc Tréo, làm thế kín đáo hơn đưa về Tắc Sậy). Như vậy ngài đã tử vì đạo vào ngày 12 tháng 03 năm 1946, nhằm ngày mồng 09 tháng 02 năm Bính Tuất.

Hăm ba năm sau, tức năm 1969, hài cốt ngài được cải táng, di dời về Nhà thờ Tắc Sậy, nơi ngài đã làm chủ chăn trong 16 năm và là cha sở thứ nhì của họ đạo Tắc Sậy.

Hai mươi năm sau nữa, tức năm 1989, ngôi mộ của ngài được trùng tu thành một ngôi nhà mộ nho nhỏ lợp tôn ở phía sau Nhà thờ Tắc Sậy cũng nhỏ như vậy và khánh thành vào ngày 04-06-1989.

Đầu năm nay, 2010, một ngôi nhà mộ cực kỳ khang trang và hiện đại đã xây dựng xong, hài cốt ngài được di chuyển vào đó với lễ cải táng rất long trọng do đức Giám Mục địa phận Cần Thơ chứng kiến. Ngày nào cũng có các tín hữu ở khắp mọi nơi trong nước cũng như ngoài nước, bên lương cũng như bên giáo, tới thăm viếng, khấn nguyện và tin tưởng vào sự linh ứng của ngài.

Chuyện một số phép lạ của Cha Bửu Diệp

Hiện nay, tuy Giáo hội Công giáo chưa xét phong Thánh cho Cha Bửu Diệp, nhưng trong lòng nhiều tín hữu Công giáo, kể cả một số người thuộc các tôn giáo khác, đã coi Cha như một vị Thánh, vì rất nhiều người khấn xin với ngài và được ngài ban cho như ý. Tại các nhà thờ Công giáo trong nước, rất nhiều giáo dân xin lễ tạ ơn ngài. Đặc biệt, nhiều người không phải tín đồ Thiên Chúa giáo cũng rất kính mến, tin tưởng ở ngài. Những tấm bảng tạ ơn Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp được gắn trên tường trong căn phòng nguyện tại Nhà thờ Tắc Sậy nhiều không biết bao nhiêu mà kể.

Theo chúng tôi được biết, ở bên Mỹ, cụ Joan Baotixita Võ Hữu Hạnh, một nhà văn lớn tuổi, đã sáng lập “Hội những người con của Cha Trương Bửu Diệp”. Theo cụ, Cha Trương Bửu Diệp đã ban phép lạ cho nhiều người, cả lương cũng như giáo. Sau đây là một số chuyện về các phép lạ đó, bởi vậy tiếng tăm về ngài ngày càng lừng lẫy.

Chuyện gia đình ông Lâm ở Lâm Đồng, Đà Lạt:

Ông bà Lâm không phải tín đồ Thiên chúa giáo và chuyện này đã diễn ra năm 1977, do chính ông Lâm kể cho ông Ngọc Quang nghe, ông Ngọc Quang ghi lại trên tập san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, do cụ Võ Hữu Hạnh chủ trương.

“Bà Lâm bị bệnh viêm ruột và đau dạ dày từ lâu, bệnh đã trở thành vô phương cứu chữa. Bác sĩ tại các bệnh viện ở Sài Gòn đều bó tay. Ông Lâm đành đưa vợ từ Sài Gòn về Lâm Đồng để bà sống những ngày cuối cùng của mình.

Giữa lúc gia đình vừa đưa bà Lâm về tới nhà thì có một vị khách đi đường xa, xe bị hư, trong khi chờ tài xế sửa, ghé vào thăm. Khách là một người cao lớn, khỏe mạnh, gương mặt chữ điền, hàm râu cánh én, vẻ người phúc hậu với bộ áo dài đen của linh mục.

Ông Lâm vốn tính tình hiền lành, thường rất tôn trọng các vị tu hành, dù lương hay giáo. Mặc dầu nhà đang bận rộn vì vợ bệnh nặng nhưng ông cũng lịch sự tiếp đón khách. Vị linh mục tinh ý hỏi tại sao nét mặt gia chủ có vẻ buồn rầu. Ông Lâm nói thật là vợ bệnh nặng, mới đưa từ Sài Gòn về nhà chờ chết. Vị linh mục nói rằng lúc trước mình cũng bị bệnh nặng như vậy, nhờ một ông bác sĩ tên Hữu cho uống loại thuốc này khỏi bệnh, bây giờ còn dư lại mấy viên. Cha lấy trong túi áo ra ba viên thuốc trao cho ông Lâm và dặn chiều cho bà uống một viên, tối lúc 10 giờ một viên và sáng hôm sau một viên nữa, thế nào cũng khỏi. Ông Lâm tuy không tin lắm nhưng trong lúc tuyệt vọng, ai bảo sao cũng đành nghe vậy. Giữa lúc ấy người tài xế vào thưa xe đã sửa xong, vị linh mục bèn từ giã chủ nhà ra đi. Chủ nhà cảm ơn Cha và hỏi cho biết Cha ở đâu, vị linh mục nói mình trông coi xứ đo Tắc Sy? tỉnh Bc Liêu.

Sau khi uống viên thuốc thứ nhất vài giờ, bà Lâm cảm thấy bớt đau, trong mình dễ chịu, biết đói và thèm ăn, ngủ ngon. Buổi tối, khoảng chừng 10 giờ, tự nhiên bà thức giấc và nhớ lời Cha dặn, bèn uống thêm viên thuốc thứ hai. Sáng hôm sau thức dậy, bà thấy trong người khỏe khoắn, không còn mệt mỏi và đau đớn như trước. Bà sung sướng báo tin cho chồng hay. Ông Lâm mừng quá bèn đem viên thuốc còn lại đến các tiệm để làm mẫu, mua thêm cho chắc ăn. Nhưng ông đi khắp nơi, kể cả các tiệm thuốc Tây lẫn thuốc Bắc, song chẳng ai biết đó là thuốc gì. Ông đành trở về, cho bà uống nốt viên còn lại và định có dịp sẽ xuống Minh Hải (năm 1977, hai tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau bị sáp nhập lại với nhau thành tỉnh Minh Hải) thăm Cha và nhờ Cha nói với ông “bác sĩ Hữu” bán thêm giúp.

Muốn đi từ Lâm Đồng xuống Cà Mau thì phải về Sài Gòn, xuống Cần Thơ, qua Sóc Trăng rồi mới tới Bạc Liêu, và Hộ Phòng là thị trấn của huyện Giá Rai tỉnh Bạc Liêu, cách thị xã Bạc Liêu 37 cây số, nơi có Nhà thờ Tắc Sậy. Việc giao thông lúc ấy rất khó khăn, phải xếp hàng từ khuya ở Bến Xe Miền Tây để mua vé xe, có khi xếp hàng cũng không mua được vé, đường đi lại lồi lõm, hết sức cực khổ. Bà Lâm mới khỏi bệnh, khó chịu đựng nổi với những chiếc xe cà rịch cà tàng, cổ lỗ đó. Đang lúc ông Lâm lo âu thì có người cháu làm trong cơ quan nhà nước đến chơi, cho biết anh ta sắp đi công tác tại Minh Hải để giao dịch mua lương thực cho tỉnh. Ông Lâm mừng quá, bèn nói với cháu cho đi nhờ xe xuống Tắc Sậy, tiền xăng ông chịu. Người cháu nhận lời vì Nhà thờ Tắc Sậy nằm ngay trên đường Bạc Liêu đi Cà Mau và cách thị xã Cà Mau khoảng 20 cây số, anh ta chở chú thím tới Tắc Sậy rồi xuống Cà Mau không có gì khó.

Khi qua Bạc Liêu, xuống tới thị trấn Hộ Phòng, Nhà thờ Tắc Sậy nằm cách chợ Hộ Phòng khoảng một cây số, ở phía bên trái. Ông bà Lâm không thể ngờ được nơi ở của vị cha sứ ân nhân lại nhỏ như vậy. Đó là ngôi nhà thờ mái lợp tôn, vách ván, xiêu vẹo trông rất tiêu điều. Đất nhà thờ rộng mênh mông nhưng chung quanh toàn đồng ruộng, dân cư thưa thớt.

Chiếc sân đất của nhà thờ không có cổng. Vợ chồng ông Lâm xuống xe, đi vô. Một ông lão bộc (thường gọi là ông Từ) đang quét trên sân. Trông thấy khách lạ, ông Từ có vẻ ngạc nhiên vì ít khi có khách phương xa đến thăm ngôi nhà thờ này. Ông Lâm nói muốn gặp cha sở, ông Từ mời vào bên trong rồi vào mời cha.

Một lát sau, vị linh mục ra, ngài cho biết ngài là Linh mục Phêrô Nguyễn Ngọc Tỏ, cha sở họ đạo Tắc Sậy. Ông bà Lâm rất ngạc nhiên, vị linh mục này trông không giống vị linh mục đã cho thuốc một chút nào hết mà sao hai vị đều tự nhận mình là cha sở họ đạo Tắc Sậy? Ông Lâm bày tỏ sự tình và kể mình đã gặp một vị linh mục cao lớn, tóc ngắn, gương mặt chữ điền, hàm râu cá chốt. Cha Tỏ mỉm cười, không lấy gì làm lạ, bèn dẫn vợ chồng ông Lâm qua phía bên hông nhà thờ, tới ngôi mộ của Cha Diệp. Vừa nhìn thấy tấm hình trên bia mộ, tự nhiên ông Lâm quỳ phục xuống và quả quyết đây chính là vị ân nhân đã cho thuốc, cứu bà Lâm khỏi bệnh. Bà Lâm cũng quỳ xuống tạ ơn ngài. Ông bà là người bên lương, không biết làm dấu Thánh giá.

Lúc ra về, ông bà Lâm gửi Cha sở một số tiền nho nhỏ để giúp nhà thờ vì lúc ấy ai cũng nghèo, ông bà không có nhiều. Có lẽ ông bà Lâm là những người đầu tiên đã giúp nhà thờ từ năm 1977”.

Chuyện bức ảnh đẫm máu:

Sau đây là nguyên văn bức thư của GS Trần Anh Linh gởi cho cụ Võ Hữu Hạnh, nói về bức ảnh đẫm máu. Xin ghi chú thêm rằng chuyện này xảy ra cách đây khoảng chừng 2 năm (2008) và hiện nay Linh mục Gioan Minh vẫn còn ở tại Nhà thờ Hiển Linh đường Ngô Tất Tố (Dương Công Trừng cũ) thuộc giáo phận Thị Nghè. Ngài nổi tiếng về việc khấn nguyện Đức Mẹ giùm những người bệnh tật kết quả rất tốt. Hằng ngày mọi người ở khắp các nơi đến nhờ ngài khấn rất đông nhưng chính quyền địa phương đã ra lệnh cấm vì không muốn có sự tụ tập đông đúc.

Sau đây là bức thư của GS Trần Anh Linh:

“Anh Hạnh thân mến,

Tôi xin gửi tặng anh món quà quí giá mà Cha Diệp đã ban cho tôi qua Cha Gioan Minh: Cha Diệp đã thực hiện một phép lạ nhãn tiền là dùng chính tấm ảnh mà chúng ta đã cho họa sĩ Đại Hàn ở khu Phúc Lộc Thọ vẽ rồi in ra nhiều ấn bản, vừa làm thành sách, vừa in thành ảnh gởi tặng và bán khắp nơi.

Tấm ảnh đó đã đổ máu đào lênh láng từ vết chém bằng đao kiếm đứt cổ, máu Cha đã đổ ra thấm ướt làm mờ hàng chữ Trương Bửu Diệp bên dưới.

Câu chuyện xảy ra như sau:

Cha Gioan Minh (cựu Tuyên Úy), sau 12 năm học tập cải tạo, đã được cho về và sống ở nhà thờ Chúa Hiển Linh tại Thị Nghè nơi xưa kia Cha Dụ đã thành lập. Cha Minh ở lại Việt Nam, không xin ra nước ngoài theo diện HO dù cha có tới 12 năm ở tù.

Một hôm cha vào Nhà sách Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở đường Kỳ Đồng và chọn mua một tấm ảnh của Cha Diệp mà cha đã nghe có nhiều phép lạ. Cô bán hàng dùng giấy báo gói bức ảnh có đóng khung sẵn trao cho cha Minh. Cha Minh về đến nhà, tính mở ra để treo lên tường thì một ơn lạ đã xảy ra, là máu tươi từ cổ bức ảnh tuôn trào ra thấm ướt cả tờ báo gói bức tranh.

Cha Minh kinh ngạc bèn cho đó là một dấu chỉ quan trọng, nên đã gói lại cẩn thận và lặng lẽ đem lên Tòa Tổng Giám Mục Saigon trình với Đức Cha Phạm Minh Mẫn. Theo cha Minh cho biết thì tấm ảnh thấm máu này đã được gởi qua để Tòa Thánh xét nghiệm, hy vọng rằng đã đến lúc Tòa Thánh cho lập Ban Điều Tra, tìm hiểu về các ơn lành Cha Diệp đã làm mà việc lạ lùng làm cho máu đào từ vết cổ đổ ra sẽ là một trong những chứng cớ để Tòa Thánh có thể tôn phong Chân Phước cho Cha.

Tôi là bạn thân của cha Minh, nên cha đã tặng tôi một tấm. Tôi sao lại và gởi tặng anh, đây là tài liệu mới nhất về Cha Diệp, anh nên ghi chú vào tập sách Các Ơn Lành của Cha”.

Trần Anh Linh.

Chuyện ông chủ thầu vật liệu xây dựng:

Từ những năm thuộc thập niên 1980 trở về sau, hằng năm cứ vào các ngày 11-12 tháng 03 dương lịch, dòng người lương, giáo từ các nơi lại đổ về Tắc Sậy. Trên những chiếc xe đò chở khách, người ta có thể thấy hình một vị linh mục mặt vuông chữ điền rất dễ mến. Họ xuống để dự lễ giỗ của Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp.

Ông Phước, người trông coi phần mộ của Cha Diệp tại Nhà thờ Tắc Sậy, kể lại câu chuyện sau đây vào một buổi trưa tháng 04-2010 như sau:

“Vào khoảng những năm đầu thập niên 1980, bờ kinh cạnh khu nhà thờ này còn là một bãi đất trống, làm nơi ghe và xe cộ dừng lại đổ hàng. Nửa đêm, có một ông chủ ghe chở đầy vật liệu xây dựng như gạch, cát, xi-măng… đậu bên bờ kinh. Ông bỗng trông thấy một vị khách mặc áo dài đen theo kiểu nhà dòng từ trên bờ bước xuống. Vị khách tự xưng mình là cha xứ Nhà thờ Tắc Sậy, muốn mua hết các vật liệu trên ghe để xây lại nhà thờ. Giá cả xong xuôi, chủ ghe đồng ý bán và hẹn hôm sau sẽ cho công nhân đem hàng lên xong ông sẽ nhận tiền.

Sáng hôm sau, trước khi giao hàng, chủ ghe lên nhà thờ, định gặp cha xứ để biết chỗ cho công nhân xếp hàng. Đến khi gặp linh mục Phêrô Nguyễn Ngọc Tỏ, ông rất ngạc nhiên, từ giọng nói cho tới gương mặt, thân hình, vị linh mục này trông không giống với vị khách có ria mép hôm trước một chút nào cả. Cha Tỏ nói: “Tôi hiểu, đó chính là linh hồn cha sở Phanxicô Trương Bửu Diệp đấy. Ý ngài muốn xây lại nhà thờ nên hiện ra như vậy”. Cha kể cho ông chủ thầu nghe các chuyện linh ứng của Cha Bửu Diệp rồi nói: “Ý tôi cũng muốn xây lại ngôi nhà thờ cho đàng hoàng nhưng họ đạo nghèo, chưa đủ tiền. Thôi thì đành cáo lỗi với ông và hẹn khi khác”. Ông chủ thầu nói: “Cha Diệp đã linh ứng như vậy thì con không dám lấy tiền. Mặc dầu con là người bên lương nhưng con xin hiến tất cả các vật liệu trên ghe để nhà thờ xây sửa lại, không nhận một đồng nào cả”. Ông chủ thầu lập tức cho người khuân gạch, cát, xi-măng từ dưới ghe lên rồi đi, ngay cả tiền công bốc xếp của các công nhân ông cũng tự trả, không để nhà thờ phải trả.

Không ngờ từ đấy ông chủ ghe buôn bán ngày càng phát đạt. Ông cho rằng mình được Cha Diệp phò hộ nên mỗi lần đi qua Hộ Phòng ông thường quay lại Nhà thờ Tắc Sậy để tạ ơn Cha.

Cũng theo ông Phước, những chuyện linh ứng của Cha Diệp ngày một lan rộng. Từ đó về sau, khách thập phương kéo về nườm nượp để cầu xin Cha ban ơn lành. Nhất là các nghệ sĩ cải lương nổi tiếng, rất nhiều người xuống, họ cầu xin Cha chuyện này chuyện khác, và ai cũng được toại nguyện. Lời nguyện đắc thành, họ đến đền ơn Cha, người thì ghế đá, người thì vật dụng dùng cho nhà thờ, người thì tiền bạc…, nhiều không sao kể xiết. Cứ thế, vào những này cuối tuần hoặc trong dịp lễ giỗ Cha (12 tháng 03 dương lịch), khách thập phương kể cả trong nước lẫn ngoài nước về kính viếng Cha đông như trẩy hội. Có nhiều người đem theo cả những chai nước La Vie đến để bên cạnh mộ, cầu nguyện trước khi mang về cho người trong gia đình. Nhưng cũng có những người tin tưởng đến độ cầu nguyện trong nhà thờ, trước mộ của Cha chưa đủ, họ còn hỏi thăm, tìm đến chiếc ao nhỏ của gia đình ông giáo Sự ngày xưa để chiêm ngưỡng nơi Cha đã bị sát hại.

Điều lạ lùng hơn nữa là theo như lời của vị cha xứ hiện nay là Linh mục Phaolô Nguyễn Thanh Bình, thì có tới 70% khách thập phương xuống Giá Rai kính ngưỡng Cha Diệp là người ngoại đạo hoặc Việt Kiều từ nước ngoài về. Có những người chưa về nhưng đã “nghe nói” tới sự linh ứng của Cha nên đã gửi tiền về giúp nhà thờ xây dựng được một cơ ngơi lớn lao như ngày nay, khả dĩ có thể đón tiếp bất cứ các nhóm hành hương nào dù đông bao nhiêu, họ đều có chỗ nghỉ ngơi đàng hoàng mà không cần phải đóng góp gì cả.

Để kết luận bài này, tôi xin thưa với quý vị độc giả thân mến rằng tôi không phải là người Công giáo, nhưng tôi biết trong Thánh kinh Công giáo có câu nói của Đức chúa Giêsu: “Phúc cho ai không thấy mà tin”. Vậy nay tôi xin dùng câu nói này để cầu Chúa và Cha Diệp ban ơn cho quý vị. Amen.

Cha Trương Bửu Diệp – Thánh đường Tắc Sậy.

httpv://www.youtube.com/watch?v=5DufAXdqKdU

Việt Nam: Du Khách Phàn Nàn Có Quá nhiều Tệ Nạn

Việt Nam: Du Khách Phàn Nàn Có Quá nhiều Tệ Nạn

Vietbao.com

SAIGON — Nạn chặt chém khi mua sắm, vệ sinh an toàn thực phẩm kém, ăn xin đầy đường, giao thông kinh khủng… ở Việt Nam luôn là những tệ nạn khiến du khách rất phàn nàn. Vấn đề này được chia sẻ trên các diễn đàn nước ngoài càng khiến một số du khách quay lưng hẳn với Việt Nam, theo trang dulich.vnexpress.net.

Trong đó, tệ hại hàng đầu là bị moi tiền…

Du khách nước ngoài đến Việt Nam luôn là “miếng mồi béo bở” bị nhiều người nhòm ngó. Những người bán hàng luôn tìm cách lôi kéo họ mua đồ với cái giá đắt gấp đôi, thậm chí gấp ba so với mức người bản địa phải trả. Ngay cả khi chỉ chụp một tấm hình, họ cũng bị vòi vĩnh đưa tiền. Trang Empty Rucksack Travelers thậm chí còn cảnh báo du khách rằng đến Việt Nam nên chuẩn bị sẵn tinh thần vì người dân sẽ cố gắng lấy càng nhiều tiền của bạn càng tốt.

Trên diễn đàn của Lonely Planet, một du khách tên Nathalie chia sẻ: “Tôi đến Việt Nam được hai lần. Tôi thật sự rất yêu thích thiên nhiên, bãi biển, đồ ăn và lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, ở lần thứ hai, tôi không muốn quay lại đây nữa. Tôi không thích họ nghĩ rằng tôi ngu xuẩn và vì tôi là khách du lịch nên phải trả tiền gấp 10 lần cho một chai nước suối”.

blank

Du khách phải luôn luôn cảnh giác, lo lắng khi đi ngoài đường.

Tệ hại thứ nhì là hiểm họa giao thông.

Đèn đỏ, khách tây vừa bước xuống vạch trắng qua đường, định bước tới thì hoảng hốt giật lùi vì có xe trờ tới…, đó là hình ảnh mà với nhiều người Việt thì buồn cười, nhưng thực tế với người nước ngoài, lưu thông trên đường phố Việt Nam như thế giống như đang chơi trò tử thần. Mọi luật lệ đều bị phá vỡ, xe nào cũng sẵn sàng vượt đèn đỏ, xe 2 bánh lạng lách, xe taxi phóng bừa để giành khách… đều khiến họ sợ hãi.

Du khách Johnny Vagabond trên trang cá nhân của mình thì cảm thán: “Giao thông kinh khủng lắm! Tôi biết nơi nào cũng có kẹt xe, nhưng ở đây tệ hơn rất nhiều. Tài xế xe buýt hoặc xe tải lái ẩu, chẳng ngần ngại hất bạn ngã. Lưu thông trên đường là những giờ phút căng thẳng nhất tôi từng phải trải qua khi lái xe máy”.

blank

Tệ hại thứ ba là cảnh ăn xin đáng thương nhưng gây khó chịu.
Người vô gia cư ở nước ngoài thường biểu diễn đàn hát trên đường phố để xin chút tiền lẻ từ du khách và người ta sẵn lòng bỏ ra những số tiền nho nhỏ vì cảm phục nhiều hơn là thương xót. Tại Việt Nam thì khác, người ăn xin thường chèo kéo du khách, cố tình lộ rõ những vết thương của mình, quỳ lạy, ẵm trẻ nhỏ ngủ thiếp trên tay ngồi giữa nắng hay giả bộ lê lết trên đường để xin tiền. Những điều đó thường ám ảnh du khách, phần nhiều họ đều cho tiền nhưng đều ngao ngán.

Tệ hại thứ tư là môi trường ô nhiễm:

Tình trạng ô nhiễm ở các thành phố lớn hiện đã đến mức báo động. Khói bụi từ xe cộ nhả ra dày đặc, vào giờ cao điểm bạn còn có thể thấy những tòa nhà cao tầng chìm trong lớp bụi. Du khách còn hứng chịu thêm loại ô nhiễm khác là tiếng ồn, tiếng bầm còi xe vô lối…Các loại rác rến vương vãi khắp nơi, nhiều ngóc ngách đầy mùi khai ngấy. Vào mùa mưa thỉ tái diễn mãi tình trạng ngập nước.

Và nhiều chuyện tệ haạ khác, theo nhận định của du khách Tây, trong đó có thái độ phục vụ tồi tệ… và vệ sinh thực phẩm kém.

Blogger Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh lại bị an ninh Khánh Hòa chặn bắt

Blogger Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh lại bị an ninh Khánh Hòa chặn bắt

Danlambao – Một trong những thành viên sáng lập Mạng Lưới Blogger Việt Nam (MLBVN), blogger Mẹ Nấm lại bị chặn bắt vào sáng nay 7 tháng 12 năm 2014. Nơi đang giữ cô Quỳnh là trụ sở công an xã Vĩnh Thạnh, Nha Trang. Số điện thoại của đồn công an này là 05 838 90879. Cô bị chặn bắt cùng 3 người bạn khác là Võ Trường Thiện, Facebooker Nha Trang Holiday, Trương Hoàng Anh.

Blogger Mẹ Nấm đã bị công an bắt giữ khi đang trên đường tới một điểm hẹn đã được công khai báo trước cùng bạn bè để gặp mặt thảo luận về Nhân Quyền. Được biết, buổi thảo luận này là một trong những hoạt động của Mạng Lưới Blogger Việt Nam nhằm kỷ niệm ngày Quốc Tế Nhân Quyền và 1 năm thành lập MLBVN.

Thời gian gần đây, Blogger Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh liên tục bị công an vô cớ sách nhiễu, chặn bắt giữa đường, bị tịch thu tài sản cá nhân như hộ chiếu, chứng minh nhân dân, điện thoại… Hồi tháng 11, cô liên tục bị cơ quan an ninh điều tra tỉnh Khánh Hòa triệu tập làm việc về các phát biểu, các bài viết trên Blog và trang Facebook cá nhân của cô.

Cũng trong thời gian qua, cùng với những thành viên khác của MLBVN, blogger Mẹ Nấm đã có những hoạt động tích cực trong việc liên lạc, tiếp xúc gặp gỡ với các Đại sứ quán Hoa Kỳ, Hòa Lan, Đức, Thụy Điển… để vận động sự hỗ trợ quốc tế cho những cải thiện về nhân quyền tại Việt Nam.

Hôm thứ Bảy, 6.12.2014, Blogger Mẹ Nấm cũng đã soạn thảo bức thư bày tỏ sự ủng hộ đối với Luật sư Võ An Đôn vì những nỗ lực đem lại công bằng cho nạn nhân Ngô Thanh Kiều – người bị công an Thành phố Tuy Hòa sử dụng nhục hình cho đến chết trong khi bị tạm giữ. Lá thư của Mẹ Nấm đã và đang nhận được sự ủng hộ công khai của hai mươi người đầu tiên. Bức thư nhấn mạnh: “chúng tôi tuyên bố công khai ủng hộ Luật sư Võ An Đôn và yêu cầu chấm dứt các hình thức sách nhiễu nhằm hạn chế, tước đoạt quyền bào chữa của luật sư”. Phải chăng lá thư công khai ủng hộ luật sư Võ An Đôn là nguyên nhân dẫn đến hành vi bắt giữ người tuỳ tiện này của an ninh?

Một số bạn bè của Quỳnh cho biết hiện vẫn không thể liên lạc qua điện thoại được với cô.

DLB cũng ghi nhận ngoài Blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, một số thành viên khác của MLBVN như cô Phạm Thanh Nghiên, Blogger Annam Dương Lâm… sáng nay cũng bị công an sách nhiễu.

Danlambao

danlambaovn.blogspot.com

Ủng hộ Ls Võ Văn Đôn, người bảo vệ người bị đánh chết tại công an Tuy Hòa

Ủng hộ Ls Võ Văn Đôn, người bảo vệ người bị đánh chết tại công an Tuy Hòa

Chuacuuthe.com

VRNs (07.12.2014) – Nha Trang – Mới đây, Công an, Viện Kiểm Sát và Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên vừa có công văn liên ngành, đòi tước thẻ hành nghề của luật sư Võ An Đôn (đoàn ls tỉnh Phú Yên, bảo vệ bên bị hại trong vụ án 5 công an Tuy Hòa đánh chết anh Ngô Thanh Kiều. Chỉ vì các quan chức ở đây cay cú công lý việc người dân thấp cổ bé họng đã (hiếm hoi) thắng trong phiên tòa. Tại Tòa, ls Võ An Đôn đã đề nghị khởi tố Viện trưởng VKS Phú Yên vì để lọt tội phạm là ông  Hoàn – Phó C.A TP Tuy Hòa (sau này ông Hoàn đã bị khởi tố), đề nghị giám đốc C.A Phú Yên từ chức vì để hàng loạt nhân viên dưới quyền phạm tội… Ba ngành trên quy chụp ls Đôn xúc phạm họ.

Nhiều công dân khắp cả nước tỏ ra bất bình với việc làm của các cơ quan công lực và tư pháp tỉnh Phú Yên, nên đã đồng ký tên gởi đến các cơ quan chức năng trong tỉnh Phú Yên và thành phố Tuy Hòa để ngăn lại việc làm sai trái của họ.

141207003

Thư ủng hộ luật sư Võ Văn Đôn viết:

“Chúng tôi, những công dân Việt Nam ký tên dưới đây, bày tỏ sự ủng hộ đối với Luật sư Võ An Đôn vì những nỗ lực đem lại công bằng cho nạn nhân Ngô Thanh Kiều – người bị công an Thành phố Tuy Hoà sử dụng nhục hình cho đến chết trong khi bị tạm giữ.

Chúng tôi, phản đối việc liên ngành tư pháp Phú Yên kiến nghị tước đoạt thẻ hành nghề luật sư và những áp lực sách nhiễu nhằm vào Luật sư Võ An Đôn vì vi phạm điểm g, i khoản 1 Điều 9 Luật LS.

Xét trên thực tế, hành động của Luật sư Đôn đã thực hiện trọn vẹn sứ mệnh bảo vệ công lý, được quy định tại quy tắc 2, 3 – Bộ quy tắc về đạo đức hành nghề luật sư.

Quy tắc 2. Độc lập, trung thực và khách quan

Luật sư độc lập, trung thực và tận tuỵ trong hành nghề; không vì bất kỳ lợi ích vật chất, tinh thần hoặc áp lực nào khác mà làm sai lệch sự thật, trái pháp luật trong hoạt động nghề nghiệp.

Quy tắc 3. Văn hoá ứng xử trong hành nghề và lối sống

Luật sư ứng xử đúng mực, có văn hoá trong hành nghề và trong lối sống để luôn tạo được sự tin cậy và tôn trọng của xã hội đối với luật sư và nghề luật sư.

Hành vi của Luật sư Võ An Đôn lẽ ra phải được khen thưởng bởi công lý nếu có được thực thi thì bắt đầu từ chính sự can đảm đương đầu với những sai trái trong công tác điều tra, thiếu trách nhiệm quản lý trong ngành công an dẫn đến việc công dân bị tước đoạt mạng sống trước khi qua xét xử của những người như Luật sư Đôn.

Vì vậy, bằng lá thư này, chúng tôi tuyên bố công khai ủng hộ Luật sư Võ An Đôn và yêu cầu chấm dứt các hình thức sách nhiễu nhằm hạn chế, tước đoạt quyền bào chữa của luật sư”.

Một lần nữa cho thấy, các cơ quan công quyền không những không thượng tôn pháp luật, là chấp nhận sai, sửa lỗi, để những sự việc như chết người trong đồn công an không thể xảy ra nữa, thì họ lại tìm cách toa rập với nhau để hại người bảo vệ công lý. Một lần nữa cho thấy cộng đồng các công dân Việt Nam đã không còn thờ ơ, mặc kệ những sai trái của các cơ quan công quyền, mà bắt đầu lên tiếng để bảo vệ lẽ phải.

PV. VRNs

Bắt ‘bọ Lập’ để ‘dằn mặt’ những người viết Blog

Bắt ‘bọ Lập’ để ‘dằn mặt’ những người viết Blog

Nguoi-viet.com

WESTMINSTER (NV) – Từ California, hai blogger Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải) và blogger Đoan Trang nhận định về việc công an Sài Gòn bắt giữ nhà văn Nguyễn Quang Lập, tức ‘bọ Lập,’ chủ trang blog Quê Choa vào chiều 6 tháng 12.

Nhà văn Nguyễn Quang Lập, qua trang blog của ông, đã lôi cuốn được nhiều người trẻ tuổi. (Hình: Đất Việt)

* Blogger Điếu Cày

Hành động bắt ông Nguyễn Quang Lập có vẻ như nhà cầm quyền Việt Nam khởi sự bắt hàng loạt những người viết blogs lề trái khi vừa mới bắt blogger Người Lót Gạch (Hồng Lê Thọ) mới tuần trước. Việc bắt này như để dằn mặt những người viết blog hay facebook.

Tại sao lại bắt chủ blog Quê Choa mà không phải người khác?

Ông Nguyễn Quang Lập cũng như rất nhiều người viết blogs nổi tiếng khác có những bài viết chỉ trích phê bình lôi cuốn rất nhiều người đọc nên “đều nằm trong tầm ngắm” của Công An. Đảng CSVN đang chuẩn bị cho Đại hội đảng sắp tới, mà như những kỳ đại hội trước cũng đều có hàng loạt vụ đàn áp, bắt bớ.

Các nhà văn, nhà báo độc lập và ngay cả người dân thường chỉ có thể dùng blog hay facebook nói lên tiếng nói của mình.

Ông Lập là một nhà văn, nhà biên kịch nổi tiếng. Blog Quê Choa của ông có hàng chục ngàn người đọc. Số người truy cập blog của ông thường xuyên rất cao nên có thể người ta sợ ảnh hưởng quan điểm của ông đến đám đông quần chúng trong nước.

* Blogger  Đoan Trang

‘Đây là hành động leo thang đàn áp của nhà cầm quyền để cho người ta sợ trong chủ trương muốn dập tắt khả năng liên kết độc giả với nhau trên mạng. Blog Quê Choa có rất nhiều độc giả. Quê Choa cũng là nơi ông Nguyễn Quang Lập khuyến khích một số người viết trẻ. Họ liên kết với nhau thành một thứ cộng đồng ảo, thân thiết với nhau.

Sự kết nối mọi người hình thành một thứ cộng đồng thì người ta muốn dập tắt. (TN)

Người Việt đầu tiên được bầu làm chủ tịch điều hành nghiệp đoàn độc lập ở Úc

Người Việt đầu tiên được bầu làm chủ tịch điều hành nghiệp đoàn độc lập ở Úc

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2014-12-07

RFA

12072014-vn-elct-austr.mp3

Khu chợ Bến Thành được người Việt xây dựng ở Úc tấp nập người mua bán trong ngày Lễ (ảnh minh họa)

Khu chợ Bến Thành được người Việt xây dựng ở Úc tấp nập người mua bán trong ngày Lễ (ảnh minh họa)

Files photos

Thứ Năm 4 tháng 12 vừa qua, một người Úc gốc Việt là ông Nguyễn Đình Hùng chính thức trở thành chủ tịch Nghiệp Đoàn May Mặc, Tơ Sợi Và Giày Dép của tiểu bang New South Wales, trở thành người Việt đầu tiên được bầu vào chức vụ điều hành nghiệp đoàn độc lập của một tiểu bang.

Qua bài trao đổi với Thanh Trúc, ông Nguyễn Đình Hùng cho biết ngoài quá trình hơn 20 năm làm việc trong nghiệp đoàn Úc, ông còn là phó chủ tịch tổ chức Lao Động Việt chuyên bênh vực quyền lợi công nhân trong cũng như ngoài nước:

Chức chủ tịch của Nghiệp Đoàn May Mặc, Tơ Sợi, Giày Dép của tiểu bang New South Wales được bầu bởi những thanh viên trong nghiệp đoàn cho một nhiệm kỳ 4 năm .

Tôi cũng làm việc trong nghiệp đoàn này được hơn 20 năm, cũng quen việc và được tín nhiệm để điều hành một nghiệp đoàn theo những chính sách được chính phủ qui định, bảo đảm tài chánh của nghiệp đoàn được sử dụng theo đúng quyền lợi của thành viên. Theo tôi được biết thì cũng có một số người Việt Nam làm việc trong nghiệp đoàn nhưng có lẽ tôi là người đầu tiên được bầu làm chủ tịch Ban Điều Hành của một Nghiệp Đoàn tại Úc.

Thanh Trúc: Xin ông cho biết thể thức bầu cử người chủ tịch Ban Điều Hành của một Nghiệp Đoàn ở tiểu bang như thế nào?

Ông Nguyễn Đình Hùng: Theo hệ thống của nghiệp đoàn ở đây là phải có một liên danh và liên danh đó ra ứng cử theo đúng luật của nước Úc vì ứng cử và bầu cử phải có sự giám sát của chính phủ. Tôn chỉ của liên danh chúng tôi là bảo đảm sự điều hành của nghiệp đoàn là sự quản trị đúng đắn theo đúng điều luật chính phủ Úc cũng như những điều lệ của nghiệp đoàn, bảo đảm tài chánh phải được thực hiện đúng luật, đem lại những dịch vụ giúp đỡ và tranh đấu cho những quyền lợi của công nhân trong ngành May Mặc, Giày Dép Và Tơ Sợi.

Thanh Trúc: Thưa ông phải chăng nghề may mặc đã từng và đang là một nghề quen thuộc đối với người Việt đến định cư tại Australia nói chung cũng như New South Wales nói riêng

Ông Nguyễn Đình Hùng: Ngành may mặc ở nước Úc này rất quan trọng đặc biệt đối với người Việt chúng ta. Hầu hết đồng hương đến Úc, đa số là phụ nữ, chưa rành tiếng Anh và hoàn cảnh con nhỏ hay vì phương tiện đi lại không được nhiều. Ngành may mặc lại rất dễ làm, dễ vào, dễ thực hiện bằng cách lấy hàng về nhà may, nó đáp ứng đúng nhu cầu là thời gian du di nếu làm được nhiều. Vì vậy rất đông phụ nữ Việt Nam làm trong ngành may này.

Và ngành may này nói chung không phải chỉ cộng đồng Việt Nam mà các cộng đồng di dân khác có công an việc làm khi mới đến.

” Tôn chỉ của liên danh chúng tôi là bảo đảm sự điều hành của nghiệp đoàn là sự quản trị đúng đắn theo đúng điều luật chính phủ Úc cũng như những điều lệ của nghiệp đoàn, bảo đảm tài chánh phải được thực hiện đúng luật, đem lại những dịch vụ giúp đỡ và tranh đấu cho những quyền lợi của công nhân trong ngành May Mặc, Giày Dép Và Tơ Sợi

Ông Nguyễn Đình Hùng”

Thanh Trúc: Thế thì với quá trình hơn 20 năm phục vụ trong Nghiệp Đoàn May Mặc, Tơ Sợi Và Giày Dép ở Bang New South Wales cho tới khi được bàu làm chủ tịch nghiệp đoàn này, ông đã làm được những gì để giúp đồng hương Việt Nam?

Ông Nguyễn Đình Hùng: Trong thời gian năm 1980 lúc đó luật lệ cho những người may mặc tại nhà chưa được rõ ràng lắm, họ không được hưởng quyền lợi theo đúng luật của công nhân may trong hãng. Rất nhiều người may tại nhà đã bị quỵt tiền bởi vì chủ nhân không liên lạc không cho biết hãng của họ là ở đâu, và những người khi bị giựt tiền như vậy thì không biết đi đâu để để đòi lại.

Nhiều người may tại nhà thì cũng rất sợ lên tiếng vì sợ mất công ăn việc làm. Lúc đó, bắt đầu thời gian 1994, tôi được vào Nghiệp Đoàn để bắt đầu chiến dịch tranh đấu cho những người may tại nhà, tranh đấu cho chính phủ Úc thay đổi những đạo luật để giúp đỡ, để bảo đàm cho những người may tại nhà được hưởng những quyền lợi giống như công nhân may tại hãng, đồng thời khuyến khích, đặc biệt là đồng hương Việt Nam may tại nhà, có tiếng nói cũng như mạnh dạn đứng lên đòi hỏi quyền lợi của mình.

Cho đến giờ thì những người may tại nhà đã có những quyền lợi rõ ràng và được qui định như người trong hãng. Thí dụ may bao nhiêu phải được lãnh lương bằng ngang với người trong hãng, được qui chế nghĩ phép thường niên, thâm niên . Khi bị thương tật thì cũng được chủ hãng mua bảo hiểm cho họ. Người may tại nhà không những phụ nữ Việt Nam không mà cộng đồng sắc tộc khác cũng rất mạnh dạn, thường xuyên lên tiếng đòi hỏi chính phủ phải ra những đạo luật để quyền lợi của họ càng ngày càng được cải thiện hơn.

” Bắt đầu thời gian 1994, tôi được vào Nghiệp Đoàn để bắt đầu chiến dịch tranh đấu cho những người may tại nhà, tranh đấu cho chính phủ Úc thay đổi những đạo luật để giúp đỡ, để bảo đàm cho những người may tại nhà được hưởng những quyền lợi giống như công nhân may tại hãng

Ông Nguyễn Đình Hùng”

Thanh Trúc: Xin phép được hỏi thêm cho rõ là khi đề cập đến những người Việt chuyên lãnh hàng may mặc về gia công tại nhà thì họ có phải là công nhân trực tiếp của một hãng xưởng hay không, họ lãnh tiền mặt hay ngân phiếu và nhất là họ có đóng thuế hay không để gọi là được bảo vệ quyền lợi lao động như ông vừa trình bày?

Ông Nguyễn Đình Hùng: Theo luật trong ngành may hiện thời, chủ hãng muốn đưa hàng cho công nhân may tại nhà thì phải đăng ký một danh sách những người may tại nhà như là công nhân trong hãng, phải gởi danh sách đó lên cho nghiệp đoàn, đồng thời phải gởi lên Ủy Ban Lao Động. Đạo luật thứ hai là phải ghi tên những người công nhân may tại nhà đó vào sổ lương và phải đăng ký lấy số thuê cho người công nhân đó.

Nếu chủ nhân không làm những việc đó là họ vi phạm luật lao động của nước Úc. Người công nhân may tại nhà đồng thời cũng có bổn phận phải khai thuế lợi tức hàng năm của mình. Đó là trách nhiệm của người công nhân may tại nhà. Nếu không làm như vậy mà tiếp tục lãnh hàng về, lấy tiền mặt và không khai thuế thì chủ nhân phải có trách nhiệm.

Thanh Trúc: Ông cũng là một nhà hoạt động trong tổ chức Lao Động Việt chuyên bảo vệ quyền lợi cho công nhân ở trong nước và lao động Việt đi sang nước ngoài. Ông nghĩ Việt Nam cần thiết phải có những nghiệp đoàn hay công đoàn độc lập như Nghiệp Đoàn May Mặc, Tơ Sợi Và Giày Dép mà ông đang điều hành ở New South Wales này không?

Ông Nguyễn Đình Hùng: Nghiệp đoàn của Úc và nghiệp đoàn của Việt Nam hoàn toàn khác nhau. Nghiệp đoàn bên Úc là nghiệp đoàn độc lập do công nhân bầu ra và điều hành, đem lại những dịch vụ bảo vệ cho công nhân trong ngành. Nghiệp đoàn ở Việt Nam thì không độc lập mà do sự chỉ định của nhà nước, không đứng về phía công nhân.

Trong thời gian qua có một thuận lợi tôi cũng là phó chủ tịch của Lao Động Việt cho nên trong thời gian qua chúng tôi tranh đấu cho Việt Nam có một nghiệp đoàn độc lập. Hiện Lao Động Việt đang tranh đấu sự ủng hộ của Nghiệp Đoàn Quốc Tế để đòi hỏi Việt Nam, nếu muốn vào TPP, thì phải công nhận quyền thành lập nghiệp đoàn độc lập. Nếu không có nghiệp đoàn độc lập tại Việt Nam thì công nhân hoàn toàn không có sự bảo vệ, không có tiếng nói cho những quyền lợi của mình.

” Nghiệp đoàn của Úc và nghiệp đoàn của Việt Nam hoàn toàn khác nhau. Nghiệp đoàn bên Úc là nghiệp đoàn độc lập do công nhân bầu ra và điều hành, đem lại những dịch vụ bảo vệ cho công nhân trong ngành. Nghiệp đoàn ở Việt Nam thì không độc lập mà do sự chỉ định của nhà nước, không đứng về phía công nhân

Ông Nguyễn Đình Hùng”

Thanh Trúc: Việt Nam cũng đã xuất khẩu lao động sang các nước, Lao Động Việt ở Australia đã làm gì để giúp đỡ cũng như bảo vệ quyền lợi cho họ khi họ chẳng may gặp trường hợp bị chủ sử dụng bản xứ ngược đãi hoặc bóc lột chẳng hạn?

Ông Nguyễn Đình Hùng: Một thí dụ cụ thể là năm 2008 có sự cầu cứu của công nhân may quần áo thể thao hiệu Nike bên Malaysia. Khi Lao Động Việt qua bên đó cùng với phóng viên đài truyền hình số 7 của Úc đã quay và phòng vấn những công nhân ở đó thì mới biết cả 400 công nhân ăn ở trong một nơi gọi là kho hàng, phải nằm trên đất vì không có giường. Bốn trăm người đều chung như vậy hết.

Chúng tôi đưa vấn đề lên công ty Nike bên Mỹ, sau đó đài truyền hình số 7 cũng đưa lên, thì họ phải buộc chủ nhân bên Malaysia thay đổi bằng cách đưa hết 400 người đó vào những căn hộ với điều kiện ăn ở căn bản, đồng thời trả lại cho họ 2.000 đô la đã lấy của họ từ Việt Nam trước khi đi qua lao động tại Malaysia. Thứ ba nữa là trả lương theo mức lương qui định cũng như có những bảo hiểm sức khỏe đàng hoàng cho hơn hai ngàn công nhân làm việc cho hãng Nike tại Malaysia.

Đồng thời, nhiều ngàn công nhân đình công tại Việt Nam thì Lao Động Việt đã có người đến giúp đỡ cho họ, cũng như can thiệp với những công ty chính ở nước ngoài hợp đồng sản xuất tại Việt Nam. Những trường hợp như vậy thì Lao Động Việt cũng giúp rất nhiều.

Xin cảm ơn ông Nguyễn Đình Hùng, một lần nữa xin chúc mừng ông trong chức vụ tân chủ tịch Nghiệp Đoàn May Mặc, Tơ Sợi Và Giày Dép của tiểu bang New South Wales, Australia.

TIỀN GIÀ & TÌNH GIÀ

TIỀN GIÀ & TÌNH GIÀ

Với 12 bài viết trong năm, cho thấy một sức viết mạnh mẽ, tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2014. Định cư tại Mỹ từ 26 tháng Ba 1992, hiện là cư dân Cherry Hill, New Jersy, bà vui vẻ tự sơ lược tiểu sử “22 năm dạy học trong nước, 22 năm làm culi job trên đất Mỹ”. Bài mới được tác giả coi là một tạp ghi, tạm gọi là món quà cỏn con gởi đến quý bạn với lớp tuổi không còn trẻ nữa.

* * *

I- Trong bữa cơm tối, Chúc Minh nhìn lên tờ lịch trên tường, nói lớn:

– Ô, tuần sau là sinh nhật của tui đó nha, quý vị chuẩn bị quà cáp đi là vừa…

Hiển, chồng nàng từ trong bếp nói vọng ra:

– Trời đất, gần ăn tiền già rồi còn đòi quà sinh nhật.

Cả nhà cười vang vì sự chế giễu của Hiển. Chúc Minh xịu mặt. Hai đứa này chỉ hơn 40, không còn trẻ nữa, nhưng chưa phải là già. Mọi người biết rằng Hiển chọc ghẹo Chúc Minh cho vui thôi chứ anh chàng này nổi tiếng là nịnh vợ: Năm nào sinh nhật cô nàng anh cũng bày tiệc linh đình vì anh ta là chef cook của một nhà hàng Mỹ danh tiếng ở vùng San Diego này.

Tôi thoáng nghĩ ngợi về chuyện “ăn tiền già” qua câu nói của Hiển, thằng cháu rể rất dễ thương của vợ chồng tôi. Tiếng Việt thật lạ lùng, cái gì biểu hiện phúc lợi lập tức có chữ “ăn” đi kèm. Từ “ăn đám cưới, ăn đám giỗ, ăn tiệc, ăn chơi…” bây giờ ở Mỹ có thêm cụm từ “ăn tiền già, ăn tiền bệnh, ăn tiền thất nghiệp, ăn tiền SSI…”

Những người đi làm như chúng tôi khi về hưu sẽ không dùng từ “ăn tiền già” hay “ăn tiền trợ cấp” mà được gọi bằng “hưởng tiền hưu bổng”, tức là tiền mình đóng thuế trong thời gian làm việc, tùy theo mức lương cao hay thấp và thời gian làm việc ngắn hay dài.

Tự nhiên tôi cảm thấy cụm từ “ăn tiền già” mang ý nghĩa ngồ ngộ, đặc biệt cho thấy sự đãi ngộ người già, dĩ nhiên, chỉ có ở những quốc gia văn minh, giàu có. Điều này cho thấy rõ nhất sự quý trọng con người, đặc biệt sự quan tâm của xã hội khi biết rằng cuộc sống của họ đã đi gần đến chỗ “the end”. Bản thân tôi cũng đang nghĩ ngợi đến ngày nghỉ hưu, lúc đó hai đứa tôi sẽ trở thành hai con khỉ già ngồi chong ngóc thu lu trong nhà nhìn lá rụng.

Tự nhiên tôi lại có chút buồn khi nghĩ đến lúc về hưu, nghĩa là đoạn cuối của cuộc đời mình trước khi xuôi tay yên nghĩ. Tiền già tức là số tiền trợ cấp nhỏ cho người già trên 65 tuổi mà trước đó không cần có làm việc hay không, với điều kiện phải có quốc tịch Mỹ. Được biết số tiền này sẽ chênh lệch ít nhiều tùy theo tiểu bang mình cư ngụ và sẽ được đi kèm theo bảo hiểm y tế gọi là Medicare hay Medicaid. Một cặp vợ chồng già mỗi tháng sẽ có $1,440 ($720/người) và vài trăm tiền foodstamp để mua thức ăn.

Trước đây foodstamp in trên giấy đóng từng tập nhỏ cỡ tờ vé số, bây giờ chính phủ bỏ vô thẻ, người sử dụng sẽ “quẹt” như quẹt credit card. Số tiền này sẽ giúp cặp vợ chồng già sống ung dung đầy đủ, có thể đi chơi đây đó đôi lần trong năm nếu không phải trả tiền nhà và sức khỏe tốt không đau bệnh chi nặng nề.

Trường hợp thứ nhất tôi được biết về khoản tiền già này đối với vợ chồng người bạn ở San Jose là họ chỉ giữ lại $300 cho mỗi người, số còn lại phải phụ với con trả tiền mortgage. Nếu không ở chung với con mướn nhà ở thì hơi vất vả vì mướn apartment một phòng ngủ phải trên dưới $1,000/tháng. Nếu cặp vợ chồng già bạn tôi xin được housing của chính phủ thì tuyệt vì chỉ trả tiền nhà vài ba trăm một tháng.

Trong một bài viết về nước Mỹ tôi đọc đã lâu rồi, câu chuyện viết về bà mẹ già ở một mình nhưng quanh năm con cháu chia phiên nhau nghỉ phép về ở với bà, cho nên tuổi già của bà quá đỗi yên vui, vô vàn hạnh phúc! Cụ bà ấy phải được gọi là người hạnh phúc nhất trên đời này. Nếu người ta gọi tuổi trẻ là tuổi hồng, tuổi ngọc, thì bà cụ này phải được gọi là “tuổi hột xoàn” vì được con cháu trân quý, săn sóc chu đáo quá.

Trong tháng Tám, viết về nước Mỹ liên tiếp đăng tải hai bài nói về người Mẹ làm tôi xúc động bồi hồi. Đó là bài “Bà mẹ quê” của Philato và “Người Mẹ cô đơn” của Phan.

Bài trước là tình cảm của tác giả khi nói về mẹ mình một đời vất vả vì con, đến lúc “ra đi” con không gặp được Mẹ vì còn đang bôn ba “cải tạo”. Tác giả nghĩ đến kỷ niệm ấu thơ của mình khi sáu tuổi, nửa đêm thức giấc vì đói được mẹ mình cho củ khoai vùi bếp lửa thơm lừng mà theo ông không có bữa ăn nào trong đời ông ngon bằng. Thú thật khi đọc đến đoạn văn đó, tôi cũng cảm thấy trái tim mình thổn thức trước tình yêu mẹ con mà bóng của họ in hẳn lên phên vách nứa bếp lửa bập bùng. Đó là hình ảnh của bà mẹ trong nước không có tiền già.

Hình ảnh “Người Mẹ cô đơn” của Phan phải nhờ người dưng (là tác giả Phan) chở dùm đến chỗ trọ mới trong khi các con của bà bỏ lơ bỏ mặc. Bà mẹ này ở Mỹ có tiền già trợ cấp của chính phủ nhưng không có tình cảm mẹ con. Tự nhiên tôi lại nghĩa đến thân phận mình khi về hưu, khi bóng xế đầu non, khi vạt nắng cuối cùng của một ngày vội tắt.

Trường hợp thứ nhì tôi được biết về mảng đời thực của một người già ở Little Saigon lần thăm Cali hè vừa qua, làm tim tôi thêm một lần trật nhịp.

Buổi sáng hôm ấy, dậy sớm hơn mọi người tôi ra sân quơ vài động tác thể dục. Bỗng tôi thoáng thấy chiếc nón lá trồi lên hụp xuống ở khu vực chứa rác của khu nhà townhouse. Ở miền Đông Bắc mấy chục năm tôi có bao giờ thấy được chiếc nón lá? Tò mò, tôi bước lại gần. Một bà cụ già, già lắm, chắc phải gần tám mươi, bước ra khỏi khu vực thùng rác. Tôi chào. Bà cụ chào lại tôi. Cả hai không nói thêm lời nào. Tôi chợt hiểu khi nhận thấy dưới chỗ chân bà vừa bước ra, lổn nhổn vỏ chai coca, chai bia, nước suối… trong túi nhựa nylon. Bà cụ giở nón ra quạt cho mát. Mái tóc trắng bù xù và nụ cười dúm dó. Bà cho biết bà đang hưởng tiền già, nhặt thêm vỏ chai kiếm thêm chút đỉnh gởi về bên nhà cho đám cháu con nghèo khổ. Tôi choáng váng vì xúc động, thương cảm cho bà mẹ già, chân tôi như bị ai đóng đinh không bước đi được và nghe tim mình như bị ai trói chặt. Trời ơi, người mẹ Việt Nam nơi xứ người khổ sở đến thế hay sao?

Có lẽ cũng vài phút trôi qua, bà khách hỏi tôi:

– Cô à, cô có sao không vậy?

Tôi vùng thoát khỏi cơn mê, gượng gạo trả lời:

– Không sao, thưa bà, tôi từ xa đến chưa quen giờ giấc, thiếu ngủ nên thấy chóng mặt…

Người mẹ già băng qua đường với bao nylon đựng đầy vỏ chai trên tay. Tôi vẫn đứng yên, nhìn bóng bà xa dần, tay chân lóng ngóng.

II- Chúng tôi không thể ở lại San Diego để mừng sinh nhật Chúc Minh tuần tới vì đã hết ngày phép. Con nhỏ có vẻ không vui. Tôi nói với nó mai mốt về hưu có thể chúng tôi về Cali ở với chúng nó. Nó mừng rơn, gặng hỏi tôi: Thiệt hông dì? Thế rồi nó nói dì dượng xuống đây, con chừa cái Master bedroom cho hai ông bà, bao ăn ở chỉ charge $500 thôi. Tôi nói ô kê với điều kiện là sáng ăn tôm hùm chiều cháo bào ngư tối đi coi văn nghệ, vợ chồng nó cười ha hả.

Đến phi trường L.A. chân tôi tê cứng không bước xuống xe được, ông xã mới vịn tay tôi đỡ xuống xe. Vợ chồng Chúc Minh được dịp la bài hãi:

– Trời ơi hai ông bà già tình tứ quá!

Tôi cười:

– Già thì có tình già chứ, gừng càng già càng cay, mấy đứa bay không nghe người đời nói vậy sao?

Suốt 6 giờ đồng hồ từ L.A về đến N.J tôi cứ nghĩ ngợi về chữ “tình già”, tựa đề bài thơ mới đầu tiên của Phan Khôi xuất hiện trên báo năm 1932:

Hai mươi bốn năm xưa

Một đêm vừa gió lại vừa mưa…

.. Ôi tình nghĩa đôi ta thì rất nặng

Mà lấy nhau ắt là không đặng…

Lời thơ ngây ngô như lời nói, đầy đủ “thì, là, mà” nhưng gây sóng gió không nhỏ trong buổi đầu hình thành thơ mới. Người đời thường cho rằng vợ chồng về già chữ tình không còn, sống với nhau về nghĩa. Tôi không biết đúng sai, có điều tôi nhận thấy vợ chồng già tình cảm không còn sôi nổi, bộp chộp như hồi trẻ mà thấm đẫm hơn, sâu lắng hơn. Chắc vì lý do đó ca dao có câu:

Con cá làm ra con mắm

Vợ chồng già thương lắm mình ơi

Người xưa không sai chút nào khi dùng chữ “thương lắm”. Ủa, vậy người trẻ không “thương lắm” hay sao? Không hẳn là vậy, vợ chồng trẻ yêu nhau đắm đuối say mê nữa là đằng khác, nửa bước không rời. Nhưng chữ “thương lắm” dùng cho vợ chồng già mang một ý nghĩa dài lâu hơn, nghĩa là họ đã trải qua mấy chục năm dài lận đận với nhau, xẻ ngọt chia bùi. Theo tôi, câu hát trên nói về tình nghĩa vợ chồng lúc về già còn mang ý nghĩa cần thiết nữa. Qua rồi tuổi thanh xuân khi con cái đã đủ lông đủ cánh bay khỏi tổ ấm gia đình, chúng nó có vợ có chồng, có con cái, có nhà riêng, thì chỉ còn lại hai vợ chồng già trong cái mà người Mỹ gọi là “Empty nest”. Bây giờ ông nhìn bà, bà nhìn ông, cả hai mái đầu đều bạc, nay nóng lạnh, mai nhức đầu… Nếu không dựa vào nhau thì còn biết trông cậy vào ai

Trong tháng 7/2014, bài viết của tác giả Philato “70, chán mớ đời” khiến tôi đọc đến mấy lần vì thấy mình trong đó. Thực là chán quá chừng ở cái tuổi trên dưới 70, nghĩa là tuổi già lãng đãng khi nhớ khi quên, bước cao bước thấp, bệnh hoạn hà rầm…

III- – Bộ bà không biết đến thì giờ sao? Sáng đi làm, giờ này gần 12 giờ đêm còn đọc sách?

– Nhớ đóng cửa sổ lại, đêm nay chỉ có 42 độ, bà dễ ngươi là bệnh đó nghe!

– Nếu bà thấy mệt quá xin nghỉ hưu trước đi, một mình tôi làm gói ghém cũng đủ qua ngày mà…

Đó là những lời ông đã nói với bà cho thấy sự quan tâm âu yếm, nhưng bà chỉ ừ hử cho qua chuyện. Ông lớn tuổi hơn bà, người nghỉ hưu trước phải là ông mới đúng chứ?

Thời gian trôi nhanh hơn mình tưởng. Chúng ta chưa kịp hưởng tuổi thanh xuân của mình thì tuổi già hấp tấp đến gần. Tuổi bảy mươi còn toan tính gì được nữa đâu, chỉ mong còn chút vui bên con cháu, Thu đã sang thì mấy chốc Đông tàn?

Trước Noel đúng một tuần, năm nay, là 40 năm tình chồng vợ của hai đứa tôi. Tôi thấy lòng một chút bâng khuâng. Ôi tình yêu là hơi thở một đời và tình già rộng mở những bao dung cho một thời tàn lụi. Chúng tôi muốn gởi trao đến bạn đọc tất cả sự nồng nàn của tình già vì chúng ta làm sao biết được bao ngắn bao dài thời gian chúng ta còn ở bên nhau đâu?

Buổi tối ông thấy khó thở vì tim đập nhanh. Bà hơi lo cứ thức giấc canh chừng ông.

– Ông uống thuốc chưa? Uống nước cam không tôi pha cho.

– Bà ngủ đi, tôi uống thuốc rồi, chút là khỏi thôi.

– Nếu không được khỏe, mai tôi nấu cháo gà với sâm, kỷ tử cho ông ăn nha. Đừng ăn cơm khó tiêu. Nhớ đắp mền cho ấm người…

Tình già vậy đó. Nhưng không phải lúc nào cũng cơm lành canh ngọt. Cũng có lúc cãi cọ, khích bác, chế giễu lẫn nhau.

– Trời ơi sao ông lụi đụi quá vậy ông già?

– Bộ bà không già sao?

Có những lúc vì áp lực công việc ở sở, vì những gút mắc vụn vặt của gia đình, vợ chồng già cũng hục hặc với nhau, giận hờn nhau. Nhưng “giận thì giận mà thương thì thương” nên dễ dàng “huề vốn” với nhau lắm.

Sở dĩ tình già bền bỉ, theo thiển ý của chúng tôi, là ngoài tình yêu còn có sự quý trọng và bao dung, trên hơn hết là sự nhường nhịn nhẫn nại. Có phải người Việt Nam, đặc biệt là người phụ nữ Việt Nam lớp trước (như tuổi già của chúng ta hiện nay) ít muốn thay đổi, không thích mạo hiểm trong tình trường?

Để kết thúc bài viết tôi xin gời đến quý bạn đọc câu ca dao:

Anh buồn còn chốn thở than

Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya.

Nhang đã tàn lại được thắp giữa khuya cho thấy sự lạnh lẽo cô đơn biết là chừng nào. Tình già đôi lúc cũng như thế. Tình già, có thể là tình vợ chồng dài lâu ân nghĩa, cũng thể là tình bạn thâm giao, chúng ta hãy cố gắng giữ gìn, sưởi ấm tình nhau.

Song Lam

Chuyện từ Đất lên Trời 100

Chuyện từ Đất lên Trời 100

Điều quan trọng chẳng phải là tuổi tác, mà là sức sống trong con người bạn, là sự can đảm chấp nhận thử thách, dám dấn thân vào những chuyến phiêu lưu trong hành trình vô tận của cuộc sống.

Điều quan trọng không phải là cuộc sống của bạn luôn luôn bằng phẳng, rằng bạn chưa bao giờ phải nếm trải nỗi đau, mà chính là tinh thần bất khuất, là con tim ngoan cường không chịu đầu hàng nghịch cảnh của bạn. Liệu bạn sẽ đối mặt với những khó khăn, thử thách của mình như thế nào? Liệu bạn có dám dấn thân, thử sức mình thêm một lần sau khi thất bại, hay lại run rẩy, thu mình lại vì sợ sẽ lại bị tổn thương? Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào bạn, vào bản lĩnh của bạn, và đó mới chính là điều quan trọng của cuộc sống.

Điều quan trọng không phải là bạn đặt ra cho mình bao nhiêu quy tắc sống, cũng không phải bạn đã tuân theo chúng nghiêm chỉnh như thế nào? Mà chính là thái độ của bạn với cuộc sống. Liệu bạn có dám yêu hết lòng, có dám thể hiện cảm xúc một cách tự nhiên thay vì kìm nén chúng vì những chuẩn mực nào đó mà mình đã đặt ra?

Điều quan trọng không phải bạn là người cứng rắn đến thế nào? Cũng không phải việc bạn chưa từng để người khác thấy những giọt nước mắt yếu đuối của mình, mà chính là khả năng vững vàng khi bị mọi người buộc tội chỉ vì đã dám sống thật với lòng mình và chính là sự tự tin ngay cả khi không ai trao niềm tin nơi bạn.

Điều quan trọng không phải bạn là người xinh đẹp ra sao? Không phải bạn sở hữu một làn da trắng ngần, một vóc dáng đáng mơ ước, mà chính là tâm hồn của bạn có thật sự nhạy cảm với nỗi đau đồng loại, có nhận ra vẻ đẹp cuộc sống, có biết tận hưởng từng ngày mà mình đang may mắn có được.

Điều quan trọng không phải là số của cải bạn đang sở hữu, cũng không nằm ở ngôi nhà lộng lẫy, chiếc xe sang trọng… mà chính là việc những vật chất đó có thực sự làm cho bạn hạnh phúc, có là phương tiện giúp bạn đạt đến mục đích cao đẹp của mình, hay là ông chủ mà suốt đời bạn phụ thuộc, tôn thờ?

Điều quan trọng không nằm ở việc bạn bè của bạn có quyền cao chức trọng không? Mà chính là tình cảm họ dành cho bạn, là lòng sẵn sàng sát cánh cùng bạn trong hoàn cảnh khó khăn.

Điều quan trọng không phải là bạn có bao nhiêu tấm bằng danh giá trong tay, không phải bạn đã học được những gì, với ai và ở nơi đâu, mà chính là cách bạn vận dụng chúng trong cuộc sống này, và ở việc chúng có thể giúp bạn vững vàng hơn, trưởng thành hơn hay không?
(Trích Hạt giống Tâm hồn)
httpv://www.youtube.com/watch?v=JBEt6l4aW7E&list=UU8Z8xvp0-Qwkhlsfcll6Zqg

VƯỢT QUA HẬN THÙ: TRƯỜNG HỢP CỦA NƯỚC PHÁP VÀ ĐỨC (SAU THẾ CHIẾN THỨ HAI)

VƯỢT QUA HẬN THÙ: TRƯỜNG HỢP CỦA NƯỚC PHÁP VÀ ĐỨC (SAU THẾ CHIẾN THỨ HAI)

Image result for Irène Laure (1898 – 1987)

Irène Laure (1898 – 1987).

Bài viết của  :   Đoàn Thanh Liêm

Trich Bán Nguyệt San Giáo Sĩ Việt Nam số 237

Giữa hai dân tộc nước Pháp và nước Đức đã từng có một sự hận thù nặng nề ghê gớm kéo dài trong nhiều thế hệ, phát sinh từ ba cuộc chiến tranh liên tục, bắt đầu từ năm 1870 với cuộc chiến tranh Pháp – Phổ (franco-prussian war), rồi đến đệ nhất thế chiến 1914 – 1918, và sau cùng là đệ nhị thế chiến 1939 – 1945. Nhưng kể từ giữa thập niên 1950, hai nước này đã vượt qua được sự thù hận ân oán lâu đời đó, để mà cùng hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm góp phần cực kỳ quan trọng vào việc xây dựng được một khối thị trường chung Âu châu (European Common Market). Và rồi tiến tới thêm một bước kỳ diệu nữa, đó là thiết lập được một thực thể chính trị kinh tế quan trọng bậc nhất trong thế giới hiện đại, tức là tổ chức Liên Hiệp Âu châu (European Union EU), mà hiện gồm có 27 quốc gia thành viên, với dân số tổng cộng là 500 triệu người, với đơn vị tiền tệ chung gọi là đồng euro, và tổng sản lượng quốc gia GDP lên đến 20 ngàn tỷ dollar (20 trillion).

Sự hòa giải và hợp tác giữa hai quốc gia cựu thù này có thể được coi là một sự kiện nổi bật nhất trong lịch sử của Âu châu nói riêng, cũng như của cả thế giới nói chung, trong thời cận đại kể từ khi thế chiến thứ hai chấm dứt vào năm 1945, cho đến đầu thế kỷ XXI của chúng ta ngày nay. Cái thành tựu vĩ đại và ngoạn mục như thế là do sự đóng góp về cả trí tuệ và về cả tâm hồn của biết bao nhiêu nhân vật xuất chúng từ phía cả hai dân tộc Pháp và Đức. Và bài viết này xin được ghi lại cái quá trình phục hồi và xây dựng hết sức tích cực của một số nhân vật kiệt xuất đó.

Để bạn đọc dễ dàng theo dõi câu chuyện, người viết xin trình bày sơ lược về bối cảnh lịch sử tại khu vực Tây Âu, trước khi mô tả chi tiết về tiến trình hòa giải và hợp tác của hai nước Pháp và Đức trong nửa sau của thế kỷ XX.

I – Bối cảnh lịch sử cận đại tại Tây Âu.

Như ta đã biết vào năm 1870, nước Pháp do Napoleon III lãnh đạo đã bị thất trận nhục nhã trước đội quân tinh nhuệ của nước Phổ (Prussia) dưới thời cầm đầu của thủ tướng Bismarck. Việc thất trận này đưa đến sự thóai vị của Hòang Đế Napoleon III và sự giải thể của nền Đệ nhị Đế chế ( the Second Empire) và sự ra đời cùa nền Đệ Tam Cộng Hòa ( the Third Republic) của nước Pháp. Nhưng nước Pháp lại còn mất cả vùng đất Alsace-Lorraine ở phía đông bị chuyển vào tay người Đức – (do nước Phổ sáp nhập hợp thành nước Đức thống nhất vào đầu thập niên 1870)-. Đây là cả một nỗi cay đắng hận thù sâu đậm của dân Pháp đối với người Đức. Chỉ cần đọc bài viết “ Buổi học cuối cùng” (La derniere classe) của nhà văn Alphonse Daudet, ta cũng đủ thấm thía cái nỗi niềm tủi nhục uất hận của người dân Pháp trong vùng đất bị tước đọat này.

Tiếp theo vào năm 1914 – 18, lại xảy ra cuộc thế chiến thứ nhất giữa phe Đức – Áo và phe Đồng Minh do Pháp – Anh đứng đầu. Cuộc chiến tranh này gây thiệt hại rất nặng cho cả hai nước Đức và Pháp. Vì Đức cuối cùng bị thua trận, nên vùng đất Alsace-Lorraine lại trở về với Pháp. Nhưng vì nước Đức bại trận bị đối xử quá khắc nghiệt, nên người Đức thật bất mãn, hận thù phe Đồng Minh, đặc biệt đối với dân tộc láng giềng là Pháp.

Cho nên, đến năm 1939 lại xảy ra thế chiến thứ hai rất tàn bạo khủng khiếp, mà bắt đầu vào năm 1940 nước Pháp thua trận và bị quân đội Đức quốc xã của Hitler chiếm đóng với sự đàn áp hết sức tàn bạo khốc liệt. Vì thế mà mối hận thù giữa hai dân tộc Pháp-Đức lại càng thêm nặng nề bi đát. Rốt cuộc, năm 1945 nước Đức lại thua trận nữa, và cả Âu châu bị tàn phá kiệt quệ với hàng chục triệu nhân mạng bị tiêu vong.

Như vậy là chỉ trong vòng 70 năm từ năm 1870 đến năm 1940, giữa hai dân tộc Pháp và Đức đã xảy ra 3 cuộc chiến tranh đẫm máu với bao nhiêu triệu người bị giết và tàn phế, bao nhiêu tài sản bị hủy họai, và nhất là sự căm thù giận ghét mỗi ngày lại càng thêm chồng chất tích lũy giữa hai bên.

II – Quá trình Hòa giải và Hợp tác Pháp – Đức sau năm 1945.

Sau khi cuộc chiến tàn bạo dã man kết thúc, người dân hai nước bàng hòang trước sự đổ nát hoang tàn và kiệt quệ về mọi mặt. Rồi tiếp liền theo là cuộc chiến tranh lạnh gay go căng thẳng giữa hai phe cộng sản do Liên Xô lãnh đạo và phe tư bản do Mỹ dẫn đầu. Nhằm lôi kéo khu vực Tây Âu về phía mình, kể từ năm 1948 nước Mỹ đã hào phóng viện trợ đến trên 13 tỉ dollar cho các quốc gia đồng minh tại đây thông qua một chương trình tái thiết Âu châu, mà thường được gọi là kế hoạch Marshall.

Nhưng vai trò chủ yếu trong công cuộc phục hồi, tái thiết và hòa giải ở Tây Âu là do các nhà lãnh đạo chính trị có tầm vóc đặc biệt lớn lao, điển hình như thủ tướng Konrad Adenauer của Tây Đức, ngọai trưởng Robert Schuman của Pháp, và đặc biệt là kế hoạch gia đại tài với viễn kiến sâu sắc Jean Monnet người Pháp. Đã có quá nhiều sách báo viết về sự đóng góp đồ sộ làm nền móng vững chắc cho sự tiến bộ của Âu châu từ trên 65 năm nay của những nhân vật chính trị kiệt xuất này, cho nên tôi thấy không cần phải trình bày dài dòng chi tiết thêm nữa về họ.

Mà đúng theo với nhan đề của bài này, tôi muốn viết về một nhân vật tiêu biểu của Xã hội Dân sự ở Âu châu, mà có sự đóng góp thật vĩ đại vào tiến trình hòa giải của hai dân tộc Pháp và Đức trong mấy thập niên gần đây. Nhân vật lỗi lạc đó chính là bà Irène Laure người Pháp, mà tôi xin dành được đề cập đến với nhiều chi tiết hơn trong phần tiếp theo liền sau đây.

III – Câu chuyện của Irène Laure ( 1898 – 1987).

Irene Laure xuất thân là một cán sự điều dưỡng và đã từng giữ nhiệm vụ quản lý bệnh viện.  Victor người chồng của bà là một thủy thủ và là môn đệ của nhà lãnh đạo cộng sản Pháp Marcel Cachin. Trong thế chiến thứ hai, Irène tranh đấu trong hàng ngũ kháng chiến tại vùng hải cảng Marseille chống lại quân Đức quốc xã. Bà có người con trai bị mật vụ Gestapo tra tấn tàn bạo, nên đã có sự căm thù tột cùng đến độ mong cho mọi người dân Đức phải chết hết, và “ quốc gia này phải bị xóa bỏ khỏi bản đồ của Âu châu”. Sau khi chiến tranh kết thúc, Irène được bầu vào Quốc hội Lập hiến và làm Tổng thư ký của tổ chức “Phụ nữ Xã hội Pháp” với số đòan viên lên tới 3 triệu người.

Tháng chín năm 1947, Irène đến tham dự một hội nghị quốc tế tại thành phố Caux Thụy sĩ, cùng với nhiều đại biểu từ các nước Âu châu. Hội nghị này là do tổ chức Moral Re-Armament MRA (Tái Võ trang Tinh thần) đảm trách, nhằm quy tụ nhiều nhân vật văn hóa xã hội, tôn giáo để cùng nhau trao đổi về vấn đề tái thiết Âu châu. Sẵn có sự căm thù đối với người Đức, Irène đã chuẩn bị rời bỏ Hội nghị khi được biết là có một số người dân Đức cũng tham dự cuôc gặp mặt này. Nhưng bà đã ngưng chuyện bỏ về, khi được một người trong Ban Tổ chức nói với Irène rằng : “ Bà là một người theo khuynh hướng quốc tế xã hội, làm sao mà bà lại có thể tái thiết được Âu châu, nếu bà loại trừ cả một dân tộc Đức?”

Dẫu vậy, khi được mời ăn bữa trưa với một phụ nữ Đức, thì Irène đã bị “xốc rất nặng”, đến nỗi phải nằm lì trong phòng suốt hai ngày đêm liền, không ăn không ngủ. Bà bị dằn vặt trăn trở với lửa hận thù còn ngùn ngụt nóng chảy trong tâm can, và cầu xin ơn trên hướng dẫn soi sáng cho mình. Sau cuộc tranh đấu nội tâm gay go căng thẳng này, Irène đã lấy lại được sự bình tĩnh và chấp nhận đến gặp người phụ nữ Đức như đã được giới thiệu cách đó mấy bữa.

Trong bữa ăn này, Irene không hề động đến món nào, mà lại xổ ra tất cả những gì đã chất chứa trong mình sau khi đã trải qua bao nhiêu sự tàn bạo của quân đội Đức quốc xã. Rồi bà nói với người đối diện : “ Tôi phải nói ra tất cả chuyện này, vì tôi muốn được giải thoát khỏi nỗi giận ghét này “ (I want to be free of this hate).

Một sự im lặng kéo dài. Thế rôi người phụ nữ Đức mới lên tiếng, chia sẻ với Irène về những gì bản thân mình đã trải qua trong thời chiến tranh. Bà này tên là Clarita von Trott có chồng tên là Adam vốn là một người chủ chốt trong vụ âm mưu ám sát Hitler vào ngày 20 tháng Bảy năm 1944. Âm mưu thất bại và Adam bị tử hình, để cho một mình Clarita phải nuôi nấng hai đứa con. Clarita tâm sự với Irène : “Người Đức chúng tôi đã không chống đối đủ, đã không chống lại chế độ quốc xã sớm hơn và với quy mô đủ lớn, và chúng tôi đã đem lại cho chị và cho chính mình và cho cả thế giới những đau khổ đầy đọa dằn vặt không sao kể cho xiết được. Tôi muốn nói lời xin lỗi với chị “ (I want to say I am sorry).

Sau bữa ăn này, hai bà phụ nữ cùng các thông dịch viên đã yên lặng ngồi trên gác thượng nhìn xuống hồ Geneva. Rồi Irène lên tiếng nói vời người bạn mới người Đức rằng bà tin tưởng là nếu cả hai người cùng cầu nguyện, thì Thiên chúa sẽ giúp họ. Irène cầu kinh trước, xin cho mình được giải thoát khỏi lòng hận thù để có thể còn xây dựng được tương lai. Và rồi đến lượt Clarita cầu nguyện bằng tiếng Pháp. Irène bất giác đặt tay trên đầu gối của kẻ thù địch trước đây của mình. Sau này, Irène tâm sự : “Từ lúc đó, cây cầu bác ngang qua sông Rhin đã được xây dựng, và cây cầu đó đã đứng vững mãi, không bao giờ gẫy đổ được.” (And that bridge always held, never broke)- (Ghi chú : Sông Rhin là biên giới giữa hai nước Pháp và Đức).

Cuối cùng Irène đã phát biểu trong một phiên họp khoáng đại của Hội nghị trước sự hiện diện của 600 tham dự viên. Bà nói : “ Tôi đã ghét nước Đức đến độ muốn thấy nước này bị xóa bỏ khỏi bản đồ châu Âu. Nhưng tại đây, tôi thấy sự hận thù của mình là điều sai lầm. Tôi xin lỗi và tôi mong được xin tất cả các bạn người Đức có mặt nơi đây tha thứ cho tôi…” Liền sau đó, một phụ nữ Đức bước lên và nắm tay bà Irène. Sau này Irène thuật lại : “ Lúc đó, tôi biết rằng tôi sẽ dành hết cuộc đời còn lại của mình để đem cái thông điệp của sự tha thứ và hòa giải này đến khắp thế giới.”

Và quả thật vào năm sau 1948, Irène cùng chồng là Victor đã qua bên nước Đức suốt 3 tháng , đi khắp nơi để tham dự 200 phiên họp và phát biểu tại Quốc hội của 10 tỉnh bang của xứ này. Ở đâu, bà cũng nói lời xin lỗi của mình. Và đổi lại, thì cũng có rất nhiều vị tướng lãnh và sĩ quan, cùng các chính khách người Đức cũng đều lên tiếng xin lỗi với bà.

Và đó là bước khởi đầu cho cả một quá trình lâu dài của sự hòa giải và hàn gắn giữa hai dân tộc Pháp và Đức, ngay từ hạ tầng cơ sở của quảng đại quần chúng nhân dân tại hai nước. Có thể nói là cái “phong trào quần chúng tự phát này” đã có tác động mãnh liệt thúc đảy cho tầng lớp lãnh đạo chính trị tại hai quốc gia này thực hiện mau chóng sự Hòa giải và Hợp tác Hội nhập giữa hai dân tộc và góp phần chủ yếu vào công cuộc xây dựng thành công cho Liên Hiệp Âu châu như ta thấy ngày nay ở thế kỷ XXI vậy./

California, Tháng Hai 2011

Đoàn Thanh Liêm