Bạn Xưa 50 Năm Cũ – Tác giả : Tràm Cà Mau-Truyen ngan HAY

 (Chuyện kể của ông Hai)

 Tác giả : Tràm Cà Mau

Dạo đó, tôi vừa mới trổ mã, bể tiếng, tay chân tự nhiên dài ngoằng ra, áo quần thành ngắn cũn cỡn. Tôi vụng về, ngơ ngác, làm cái gì cũng hư hỏng, má tôi cứ la rầy mãi. La rầy để quở trách mà cũng chan chứa tình yêu thương. Tôi  ăn cái gì cũng ngon, đặt lưng xuống đâu cũng ngủ được say sưa.

Thời này, đệ nhị thế chiến vừa chấm dứt, nước Pháp đem quân trở lại Việt Nam để tái lập nền đô hộ cũ. Toàn dân đứng lên kháng chiến, cầm tầm vông vạt nhọn đánh nhau với Tây. Khí thế đằng đằng. Cũng như mọi thanh niên khác, tôi tham gia kháng chiến. Nói là đánh nhau với Tây, nhưng chạy thì nhiều hơn, vì lồ ô vạt nhọn không cự nổi với súng ống của Tây.

Tôi bị Tây bắt lãng xẹt khi đang ngủ giữa ban ngày. Bị trói ké, đem về giam tại thành phố. Trong trại giam, mỗi ngày phải đi làm lao động vệ sinh, dọn rác, quét lá, lấp các vũng bùn lầy, khai mương. Tôi làm quen được một ông lính kèn, mỗi ngày mượn cái kèn thổi tò te làm khổ lỗ tai mấy ông lính Tây chơi. Không có chi chói tai bằng nghe mấy anh tập kèn cứ ọ ẹ từ giờ này qua giờ kia mãi.

Tập hoài rồi cũng thổi được. Một lần cao hứng tôi thổi khúc kèn báo hiệu tan giờ làm việc, tiếng kèn vang vọng, rõ ràng, làm mấy ông Tây tưởng đã hết giờ, rủ nhau ra về. Tôi bị phạt giam đói, và anh lính kèn cũng bị khiển trách, không cho tôi mượn cây kèn nữa. Nhưng sau đó hai tuần, tôi được cho ra khỏi tù. Họ phát cho tôi áo quần lính, và sung vào đội thổi kèn, ban quân nhạc của Tây. Nhờ có một chút hiểu  biết về âm nhạc Tây Phương, tôi học nhạc cũng khá dễ dàng, không như các ông bạn khác. Khi tập thổi kèn mà chơi, thì tôi cảm thấy vui, ham thích, thú vị, nhưng khi phải tập kèn vì bắt buộc, thì thật là chán nản, mệt nhọc, bực mình. Ông trung sĩ chỉ huy đội quân nhạc không vui, vì đã chọn lầm người. Trước đó, ông tưởng tôi có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, nên đề nghị tuyển dụng. Về sau ông thường nói lời an ủi rằng, thiếu chó thì bắt bất cứ con gì ăn phân cũng được, miễn sao biết ăn phân thì thôi. Nghe ông nói vậy, tôi cũng tự ái, và bực mình. Thường thường, thì đội lính kèn được nhàn hạ. Mỗi ngày, mấy xuất thổi kèn báo hiệu buổi sáng thức dậy, như con gà gáy sáng, báo giờ làm việc, báo giờ nghỉ, giờ tan sở. Báo hiệu thật đúng giờ. Thế thôi. Còn ngoài ra thì chơi cờ, tán dóc, trêu ghẹo nhau, nhưng không được bài bạc. Mỗi sáng tiếng kèn vang vang: “Tọ tè ti tọ tè ti..ti tọ ti tè…” Mà lũ con nít chuyển âm thành: “Một ngàn, ba mươi vạn thằng Tây, xách cái bị, đi ăn mày. Mụ đi đâu tui bắt mụ lại, tui không cho mụ về.” Nghe y hệt tiếng kèn đồng.

Trong đám lính kèn, tôi chơi thân với Tư  Thàn, vì anh cùng tuổi, cũng độc thân và cùng hoàn cảnh như tôi, bị Tây bắt và sung vào đội quân nhạc. Chúng tôi thường rủ nhau đi xem hát ban đêm. Chúng tôi biết và thuộc lòng tên đào kép của các gánh cải lương, hò quảng. Nhiều lần, Tư Thàn thổ lộ ước mơ của anh là được vào làm việc cho gánh cải lương, làm kép độc, nhờ đó, mà anh có thể mùi mẫn với các cô đào đẹp như tiên kia. Anh không có tham vọng được nổi tiếng, chẳng cần được khán giả mến mộ, chỉ mong gần gũi cái nhan sắc của các cô đào thôi. Ngày chủ nhật, chúng tôi về phố Sài gòn đi dạo quanh quanh, cũng chỉ để được nhìn ngắm các cô gái với áo bà ba vải mỏng ôm sát eo ếch, ngực căng phồng có khe hở he hé giữa hai hột nút, và nhìn quần lãnh vải láng ôm sát mông căng. Ði từ phố vào chợ Bến Thành, từ chợ ngược trở lại phố. Nhìn thiên hạ tấp nập tới lui. Chỉ thế thôi, là đủ cho lòng trai đôi mươi phơi phới. Khi mỏi chân, thì về chợ Cũ vào tiệm Tàu ăn hủ tiếu, ăn cơm xào rau thịt. Có khi chỉ mua ổ bánh mì thịt, vừa đi vừa nhai.  Tuổi trẻ, khi đói bụng, ăn cái gì cũng ngon miệng cả. Nhiều khi đi theo một cô gái, hai đứa chúng tôi nói lời chọc ghẹo nhau vu vơ, cố tình để cô nghe, nhưng không dám trực tiếp trêu ghẹo hay gợi chuyện.

Có lần, tôi nhặt được tấm ảnh của một cô gái  nào đó. Hình chụp rất điệu, ngón tay trỏ  tựa má, hai cái núng đồng tiền lún sâu rất duyên, mặt sáng và tươi, mắt ướt rượt. Có lẽ bên ngoài đẹp mê hồn. Tôi đưa tấm ảnh  cho Tư Thàn xem, và bảo rằng đó là con Mười, em gái tôi ở Long Xuyên mới gởi lên. Kể từ khi thấy tấm hình này, Tư Thàn nể nang tôi lắm. Tôi có thể sai Tư Thàn làm những việc mà trước đây anh không bao giờ làm giúp. Tôi mượn tiền anh dễ dàng hơn, mà anh bớt nhăn nhó khó chịu. Tôi lờ mờ biết Tư Thàn mê cô gái trong tấm hình, và hy vọng được lòng tôi, thì sẽ được lòng em tôi. Vốn tính nhút nhát, nên Tư Thàn không bao giờ dám hỏi thẳng về em tôi. Chỉ một lần, anh đánh bạo hỏi tôi khi nào về thăm nhà, và có thể cho anh đi cùng, về chơi có được không. Tôi đáp rằng dĩ nhiên là được, và sẽ mời anh ở lại nhà vài hôm. Nghe vậy, Tư Thàn sướng đến đỏ cả mặt. Sau nầy, tôi cho Tư Thàn tấm ảnh đó, anh cất kỹ trong ví, lâu lâu mở ra xem mà mơ mộng. Buổi sáng, tôi và Tư Thàn thường hay ăn cháo trắng với hột vịt muối của cô Năm Cháo Trắng bán, cô này có nước da ngăm ngăm, duyên dáng. Hàng cháo gánh, ngồi chồm hổm ăn, hoặc ngồi trên các đòn gỗ thấp sát đất. Có nhiều anh lính trêu ghẹo, tán tỉnh cô, nhưng khi nào cô cũng vui vẻ, tươi cười, không làm mất lòng ai. Tôi cũng khoái cô này, thường giả vờ hết tiền, ăn thiếu nợ. Ðến tháng lãnh lương, thì trả, nhưng không trả hết, khi nào cũng xin khất lại một ít. Cứ nợ cô, thì cô phải nhớ đến số tiền nợ. Nhớ đến số tiền nợ, thì phải nhớ đến người mắc nợ, tức là cô phải nghĩ đến mình. Cái mưu kế này, tôi nghe được trong một tiệm hớt tóc mà mấy anh thủy thủ kháo nhau. Tôi có bày mưu này cho Tư Thàn, mà anh không chịu nghe theo, cứ sòng phẳng trả hết tiền, không bao giờ chịu thiếu một xu.

Một hôm tôi rủ Tư Thàn đi xem cải lương, anh viện cớ bận việc, tôi đi một mình. Khi ngồi trong rạp, nhìn xéo qua bên kia, thì tôi thấy Tư Thàn và cô Năm Cháo Trắng đang ngồi bên nhau. Tay Tư Thàn đưa lên chỉ chỏ, như đang giải thích gì đó. À thì ra Tư Thàn đã bí mật phỗng được cô hàng cháo, mà anh em không ai hay biết. Tôi tránh mặt cho Tư Thàn làm ăn được tự nhiên.

Hôm sau, gặp Tư Thàn, tôi làm bộ giận, mà thực ra thì tôi cũng hơi ghen tức. Tôi đặt mưu tính kế, mà chẳng được cơm cháo gì, Tư Thàn cứ tự nhiên, thì vớ được cô hàng cháo. Tôi cứng giọng, nói với Tư Thàn:

“Mày phản bội em tao. Trả tấm hình con Mười lại cho tao. Tưởng mầy đàng hoàng, thì ra…”

“Tao làm gì mà gọi là phản bội?”

“Mày còn giả vờ? Hồi hôm mày đi đâu? Làm gì? Với ai? Có chối được không?”

“Ai nói với mày?”

“Chính mắt tao thấy. Tao để yên cho chúng mày hú hí. Chối tội làm chi?”

Tư Thàn bẽn lẽn móc ví trả tôi tấm hình cô gái có hai cái núng đồng tiền. Anh có vẻ tiếc lắm. Cuối cùng anh nói:

“Em gái mày đẹp như thế này, thì chán chi người dòm kẻ ngó. Tao làm gì mà vói thấu. Trả hình lại cho mày là phải.”

“Mày định bắt cá hai ba tay sao? Con Năm Cháo Trắng cũng có duyên lắm đó chứ!”

“Ừ. Có duyên. Hồi hôm, em thú thật với tao em là ‘đầu gà đít vịt’ Mầy thấy da em ngăm ngăm không?”

Tôi hỏi Tư Thàn làm sao mà câu được em Năm Cháo Trắng? Trong lúc tôi bày mưu tính kế mà không được em đáp ứng. Tư Thàn cho rằng tôi ngu, đàn bà con gái không ưa những người bê bối, mang nợ mắc nần. Sau này về làm chồng quen thói nợ nần, ai mà chịu nổi. Thì ra, tôi nhẹ dạ tin vào mưu kế tào lao của mấy anh thủy thủ gà mờ.

Từ ngày trả lui cho tôi tấm hình cô gái có núng đồng tiền, Tư Thàn không còn nể nang tôi như trước kia nữa. Tôi biết mình ngu, đòi lại tấm hình, chẳng ích gì, nhưng đã lỡ rồi, tiếc cũng không được.

Tôi thường ứng trực thế cho Tư Thàn, để anh có thì giờ đi chơi với cô Năm Cháo Trắng. Bởi vậy, sau này cô thường múc cho tôi những tô vun, cháo muốn tràn ra ngoài. Từ đó, tôi không bao giờ thiếu nợ cô nữa.

Tư Thàn cho biết, cô Năm Cháo Trắng muốn giới thiệu cho tôi một người bà con. Theo Tư Thàn, thì cô Sáu Rau nầy đảm đang lắm, hiện bán rau ở chợ Cầu Ông Lãnh. Tôi mừng hớn hở, và nghĩ rằng từ nay sẽ có một người bạn gái, cùng đi chơi trong những ngày nghỉ, cho bớt cô đơn, đỡ chạy rong rong như chó tháng ba. Chúng tôi hẹn nhau đi xem cải lương. Trước hôm gặp gỡ, tôi bồn chồn, lo lắng, chăm chút lại nhan sắc cho đàng hoàng, ủi lại áo quần cho thẳng nếp, tóc tai hớt cao sáng sủa. Gặp nhau tại rạp hát, tôi thất vọng não nề. Cô gái mà họ giới thiệu, có cái nhan sắc không hạp nhãn tôi. Cô này mặt hơi rỗ, răng cời, cái mông rớt thấp xuống đến đầu gối. Ngồi bên cạnh cô trong rạp hát, mà đầu óc tôi cứ luẩn quẩn nghĩ đến hai cái vé, tiếc tiền mua bao. Hôm nay gánh cải lương diễn tuồng “Hoa rơi cửa Phật” tức là chuyện tình Lan và Ðiệp. Chuyện kể cô Lan thất vọng vì người tình đi lấy vợ, vào chùa cắt tóc đi tu. Cô Sáu cảm động khóc mùi mẫn, hai vai rung rung, và xịt mũi mãi. Cô nắm lưng bàn tay tôi đang tựa trên thành ghế. Bàn tay cô nhám xịt, có lẽ vì nhiều cục da chai trong lòng tay, kết quả của công việc lao động hàng ngày. Tôi để yên. Cô bóp nhẹ tay tôi nhiều lần. Tóc cô thoang thoảng thơm dầu dừa. Có mùi hôi chua, có lẽ cô bị mồ hôi nách. Cái mùi chua đó làm tôi khó thở. Tôi cứ để yên, không dám thụt tay về, sợ cô buồn. Một lúc sau, tôi giả vờ nói:

“Rệp cắn. Rạp nầy nhiều rệp quá”

Ðồng thời , tôi kéo tay về giả vờ gãi.

Tan tuồng, cô Năm Cháo Trắng ép tôi đưa cô Sáu Rau về nhà bằng xích lô máy. Ban đầu tôi từ chối, muốn về riêng, nhưng Tư Thàn cứ bấm tay tôi mãi. Tôi đành lên xe ngồi nhìn thẳng ra phía trước. Xe chạy vùn vụt, gió tốc tóc cô Sáu quất vào mặt, vào cổ  tôi. Những khi xe quành, cả người cô Sáu đổ dồn, như chồm lên tôi. Cô Sáu vòng tay ra ôm chặt lưng tôi, có lẽ cô sợ ngã. Hai tay tôi xuôi ra phía trước, nắm trên đầu gối. Khi cô Sáu xuống xe, cô chào tôi và cười nói: “Lính chi mà hiền quá!”

Cả tuần tiếp theo sau hôm đi xem cải lương về, tôi giận Tư Thàn, giận luôn cả cô Năm Cháo Trắng. Hai người này khinh tôi, giới thiệu cho tôi một cô gái vừa xấu xí, vưa hôi nách. Buổi sáng tôi không ăn cháo trắng nữa. Tôi không nói chuyện với Tư Thàn trong một thời gian lâu. Tư  Thàn thì không biết tôi giận, cứ líu lo nói chuyện này, chuyện kia, mà tôi cứ  phớt lờ.

Một hôm Tư Thàn hốt hoảng nói với tôi:

“Nguy rồi mày ơi. Con Sáu Rau đau nặng, sắp chết, nó muốn gặp mặt mày một lần trước khi về chầu Diêm Vương.”

“Ðừng đùa. Gặp để làm chi? Mà nó đau bệnh gì, mới đó còn khỏe mạnh như trâu. Sao mày biết nó bệnh?”

“Thì con Năm Cháo Trắng nói. Sáu Rau bệnh, không ăn uống được, nằm kêu tên mày suốt ngày đêm. Mày theo tao ra cổng trại gặp con Năm Cháo Trắng, nó đang chờ mày.”

Tôi gạt tay Tư Thàn ra. Anh cứ nắm áo tôi mà kéo đi. Tôi bực mình lắm, định gặp cô Năm Cháo Trắng, thì cho một trận để cô ta biết mặt tôi. Nhưng khi gặp cô Năm Cháo Trắng, thấy cái cười duyên dáng ỏn ẻn của cô, thì bao nhiêu giận hờn đều tan biến đâu mất. Cô cầm lấy tay tôi một cách thân thiết, làm tôi run run, và cảm động. Cô Năm Cháo Trắng ép sát người vào tôi, kéo tôi đi. Tôi ngại Tư Thàn nổi ghen, phang cho tôi thanh củi vào đầu. Tôi nhìn lui phía Tư Thàn, thấy anh không có vẻ gì phản đối cả, tôi yên tâm đi theo. Cô Năm nói:

“Anh giúp em một lần đi. Tất cả lỗi tại em gây ra, giới thiệu anh cho nó. Nó mết anh quá, đau bệnh tương tư, anh không cứu nó, nó chết thì tội nghiệp lắm, mà anh mang tiếng thất đức nữa.”

Cô Năm ngoắt chiếc xích lô máy, đẩy tôi lên xe, cô leo theo, ngồi sát vào tôi. Hai thân mình tựa vào nhau, làm tôi mê mẩn, khờ ra, cô bảo gì cũng nghe cả. Cô nói lớn vì gió tạt mạnh:

“Anh giúp cho em một lần. Ghé thăm con Sáu Rau. Sau này anh muốn cái gì, em cũng chịu. Giúp em, rồi em sẽ trả ơn lại.”

Tôi nghe cô Năm Cháo Trắng nói, giọng thỏ thẻ hứa hẹn, mà mụ cả trí. Tay tôi quàng qua lưng cô Năm, ôm chặt lấy vai cô. Tôi quên mất cô đang là người yêu của Tư Thàn. Tôi nghĩ, không chừng cô này khoái tôi, bày đặt chuyện Sáu Rau đau, để có dịp gần gũi, tạo cơ hội cho tôi tỏ tình. Nhưng có lẽ tôi không nên xớt tay trên của Tư Thàn. Xấu hổ. Bạn bè như vậy, thì làm sao mà còn nhìn mặt nhau nữa. Mà nguy hiểm lắm, anh ta nổi ghen, cho một phát súng, thì đi đời. Nghĩ vậy, tôi lỏng tay ôm cô Năm Cháo Trắng, nhưng không buông hẳn.

Vào nhà cô Sáu Rau, mà tôi còn chưa tỉnh cơn mê vì được ôm cô Năm Cháo Trắng trong vòng tay. Nhà tối tăm, lụp xụp. Tôi thấy cô Sáu Rau nằm đắp chăn trên giường, mặt vàng như bôi nghệ, môi khô có đóng vảy, mắt cô lờ đờ. Cô khóc và đòi nắm tay tôi. Tôi đưa tay ra cho cô nắm. Cô thều thào:

“Em chết rồi, anh đừng quên em héng.”

Thấy một người con gái thương mình đến đau bệnh tương tư, thì tôi cũng có phần cảm động. Nhưng nhìn cái dung nhan xấu xí, tiều tụy, vàng vọt của cô, thì tôi nghĩ thầm, thà tôi chịu chết, chứ không thể lấy một người vợ xấu xí như vậy. Tôi nghĩ thêm, chuyện đau bệnh tương tư, chỉ có trong cải lương, và trong báo chí mà thôi. Tôi không tin trong đời, có kẻ đau bệnh tương tư. Lo cơm hàng ngày còn đỏ con mắt ra, đổ mồ hôi cực nhọc kiếm miếng ăn chưa đủ, không ai có thì giờ mà đau tương tư. Cô Sáu Rau nói lảm nhảm y hệt như  những câu trong tuồng cải lương kỳ trước, làm tôi nghe mà phát ngượng.

Sau nầy, tôi được Tư Thàn tiết lộ rằng, cô Sáu Rau muốn bắt cổ tôi, nên giả vờ đau bệnh tương tư, bôi nghệ cho vàng mặt, nhịn ăn, bớt uống hai hôm, làm cho ra vẻ hốc hác, để tôi cảm động, và thấy trách nhiệm về cái chết của cô, mà phải chịu phép. Nhưng cô Sáu tính sai, vì giả vờ bệnh, làm mặt mày càng thêm xấu xí, hốc hác, thì tôi càng sợ, và càng cao chạy xa bay cho sớm hơn nữa.

Cô Sáu Rau còn nhắn rằng, nếu tôi không chịu mối tình, thì cô sẽ vào chùa, xuống tóc đi tu. Tôi đâu có khờ dại, mà sợ cô dọa. Tôi nói với cô Năm Cháo Trắng rằng, đi tu được, là có phước. Ði tu có thập phương nuôi, khỏi phải bôn ba nắng mưa ngoài chợ. Tôi nghĩ là cô Sáu Rau bắt chước tuồng cải lương mà nói, chứ không chắc đi tu đâu.

Thường thường, Tư Phàn và tôi trốn trại đi xem đá gà ở xóm trong. Thiên hạ đánh cá ồn ào. Chúng tôi cũng thường bắt độ, khi ăn khi thua, mà thua thì nhiều hơn ăn. Những khi ăn tiền cá độ, chúng tôi dắt nhau đi nhậu vui vẻ,  nhậu thâm cả tiền túi. Khi thua, thì hai đứa lủi thủi ra về, phải vay mượn tiền bạn bè để gỡ gạc. Có hai lần bị cảnh sát bố ráp, cả phường đá gà bỏ chạy, chúng tôi cũng sợ bị bắt, chạy trốn, cho nên mất luôn tiền cá độ. Từ đó, chúng tôi tìm ra một cách đánh cá khác, mà chủ cá độ không móc được của chúng tôi một xu. Hai đứa tôi đánh cá riêng với nhau, đứa này được, thì đứa kia thua. Chúng tôi gọi là lọt sàng xuống nia. Và sau cuộc đá gà nào, chúng tôi cũng có buổi ăn nhậu, vì một trong hai đứa thắng cuộc. Thời trước Tư Thàn có nuôi gà đá, nên nhiều kinh nghiệm, cứ nhìn vóc dáng bên ngoài, là biết ngay con gà có phong độ hay không. Tôi cứ nợ Tư Thàn mãi, và một hôm, tôi bắt cá lớn, hy vọng trừ nguyên món nợ đang thiếu. Con gà tôi bắt độ, lớn hơn con gà của Tư Thàn cỡ một mười, một bảy, và cựa của nó dài hơn chừng nửa phân. Tôi chắc ăn. Tư Thàn nói con gà kia nhỏ, nhưng xương giò lớn, cựa năm khến, và sức lực dồi dào hơn. Theo Tư Thàn, nếu trong khoảng năm phút đầu, mà  cầm cự được, thì nó sẽ thắng. Hai con gà đá nhau túi bụi. Cứ mỗi cú đá là địch thủ lăn ngửa ra. Máu me đổ lênh láng trên sân đất. Con gà Tư Thàn bắt cá, bị té ngửa nhiều lần, và bỏ chạy hai lần, nhưng quay lại chiến đấu tiếp. Con gà lớn của tôi bị hai cú đá đau điếng, luồn đầu vào cánh địch thủ mà tránh đòn. Con gà nhỏ quay đầu lại, cắn vào mồng con gà lớn, dùng hết sức lực đá ngược lên, làm gãy cánh con gà lớn. Nó nằm lăn quay xà mòng trên mặt đất, cái mồm há ra hấp hối. Tôi bị thua cá độ. Thế là nợ Tư Thàn một số tiền bằng nguyên cả tháng lương. Nợ ít ít, thì còn nghĩ đến chuyện thanh toán, nợ nhiều quá, không còn muốn trả nữa. Tôi cứ khất mãi, và đến tháng lãnh lương cũng không trả bớt nợ cho Tư Thàn. Từ đó, giữa tôi và Tư Thàn có cái gì lấn cấn, tình bạn không còn như trước nữa. Tôi không dám ăn tiêu khi có mặt Tư Thàn, sợ bị hỏi nợ. Không phải tôi muốn giựt nợ, nhưng tôi tự bảo lòng, khi nào tiền bạc dư dả, thong thả mới trả. Tư Thàn thì cố làm theo lời cô Năm Cháo Trắng, muốn kéo tôi gần vào cô Sáu Rau, cứ có dịp là nhắc đến cô Sáu.

Một lần, Tư Thàn thấy tôi nói chuyện thân mật, cười nói với một cô nữ quân nhân. Giữa chỗ đông người, Tư Thàn hướng về tôi mà nói lớn:

“Sao mày nợ tao một tháng lương, lâu quá mà chưa trả? Phải vay mượn mà trả chứ?”

Tôi bị mất mặt trước đám đông, phát cáu, giận đỏ mặt. Tôi nghiến răng trả lời:

“Mày còn đòi tiền nợ, thì tao đánh cho bể đầu. Tao không nói đùa đâu.”

Tư Thàn lảng đi nơi khác, mà tôi thì cũng không hết giận, định đi theo gây sự thêm. Vì một món nợ đá gà, mà chúng tôi mất tình bạn.

Sau năm 1954, Tây rút về nước, chế độ Cộng Hòa được thành lập tại miền Nam. Chúng tôi được giải ngũ, về đời sống dân sự. Tư Thàn đem vợ là cô Năm Cháo Trắng về quê làm ăn. Tôi ở lại thành phố, làm đủ thứ việc, từ thợ nhà in, lái xe chuyển vận hàng hóa, thơ ký cho hội thánh Tin Lành và nhiều nghề khác. Cũng tạm đủ sống qua ngày, nhưng vì con đông, cho nên khi nào cũng thấy thiếu thốn. Thời gian làm việc cho hội thánh, tôi học được một ít tiếng Anh, nên sau này hữu dụng. Mười mấy năm sau khi giải ngũ, một hôm tôi lái xe chuyển kinh sách cho hội Thánh Tin Lành về miệt Long Xuyên, trên đường trở về, chiếc xe làm nư, chết máy giữa đường, không biết làm sao mà sửa. Tôi ngồi bên vệ đường, dưới bóng cây nhỏ. Ðầu óc suy nghĩ, tính kế không ra. Tôi định bắt xe đò về tỉnh lỵ, rước thợ ra sửa xe. Chờ hoài mà không có xe qua.  Phía dưới ruộng khô, có một nông dân đang cày đất với hai con trâu. Nắng cháy, cổ khát. Tôi thấy anh nông dân ngưng cày, lên bờ lấy bầu uống nước. Túng quá, tôi đánh liều kêu lớn:

“Này anh ơi, khát quá, cho tôi uống nước với.”

Người nông phu mang áo đen, quần xà lỏn, chậm chạp băng ruộng, đem cái bầu nước đến cho tôi. Khi đến gần, thì anh reo lên:

“Mày đó phải không Quài. Sao biết tao cày ruộng ở đây mà ghé lại thăm?”

Tôi mừng quá, hét lớn:

“Tư Thàn! Mày! Ð. M. mày. Thằng quỷ. Mày ở đây hả? Chiếc xe nó biết có mày ở đây, nên chết máy, để cho tao gặp mày.”

Tư Thàn và tôi xoắn lấy nhau, nhắc chuyện mười mấy năm trước. Ðủ thứ chuyện. Nói cho nhau biết tin tức gia đình mỗi người. Tư Thàn có hai thằng con trai. Ðời sống của gia đình thong thả, nhờ cô Năm Cháo Trắng buôn bán thêm ngoài chợ quận. Gạo cơm đủ ăn. Mười mấy năm, Tư Thàn chưa về lại Sài Gòn lần nào, vì cũng không có chuyện gì, mà chẳng còn ai để thăm viếng.

Tư Thàn bỏ dở luôn buổi cày ruộng. Tôi cũng bỏ kệ cho chiếc xe nằm ụ bên đường, đến đâu thì đến, theo Tư Thàn đi vào làng. Nhà Tư  Thàn trống trải, đơn sơ như tất cả mọi nhà nghèo miền quê.

Tư Thàn lấy cái nơm làm bẫy,  rải lúa cho gà ăn, và bắt được một con gà trống thiến lớn. Sau khi chọc tiết, moi lòng. Tôi phụ Tư Thàn nhồi đất sét ướt bên ngoài, và thả con gà trong đống rơm mà nổi lửa. Lửa cháy bừng bừng, mùi thịt thơm bốc lên làm tôi chảy nước miếng. Tư Thàn đem ra hai lít đế trong veo. Thèm quá, tôi rót một ly nhỏ, uống trước. Rượu thơm lừng nồng lên hốc mũi, và nóng như có lửa cháy trong cổ họng. Khi gà chín,  tôi đập cái vỏ đất sét, để cả con gà lên chõng tre có lát sẵn mấy tàu lá chuối tươi, mà Tư Thàn đã rửa sạch. Chúng tôi bốc tay mà ăn, cầm đùi gà nhai, rượu vào đều đều, cạn chai này, qua chai kia. Chúng tôi cùng nhắc chuyện xưa, chuyện không đầu, không đuôi, chuyện này lẫn qua chuyện khác. Hai đứa nhỏ con Tư Thàn đi học về, cũng nhào vào xâu xé con gà. Tôi ép thằng lớn hớp một ngụm đế, nó nhăn mặt phun ra. Tư Thàn và tôi cùng cười vang. Khi trời xế chiều, thì cô Năm Cháo Trắng cũng gánh hàng về. Cô nhận ra tôi, kêu thét lên vui thú, và phát vào vai tôi nhiều lần đau điếng. Cô mắng:

“Cái ông khỉ này, tưởng chết rấp đâu rồi chớ. Làm sao biết tụi tui ở đây mà ghé chơi? Vui quá xá.”

Ðêm đó, cô Năm Cháo Trắng nấu cháo vịt, mượn hàng xóm thêm  mấy lít đế, chúng tôi ngồi ăn nhậu dưới trăng cho đến khuya. Ăn uống no say. Tôi chợt nhớ tới món tiền mà tôi nợ Tư Thàn, trị giá bằng một tháng lương vào thời gian mười mấy năm trước, mà chưa trả, và cũng chưa hề toan tính thanh toán cho sòng phẳng. Cũng vì món nợ đó, mà cái tình bạn thân thiết giữa chúng tôi có một thời lấn cấn, mất đi cái mặn nồng, không còn như trước. Tôi chậm rãi nói lè nhè trong hơi men:

“Tao bậy quá, còn mắc nợ mày mà chưa có dịp trả. Công việc làm ăn, cũng không khá, mà con cái đông đúc, có cơm no bụng từng ngày là may lắm. Tiền không có dư…”

Tư Thàn cười hiền hòa, giọng ấm áp nói:

“ Thôi, quên chuyện xưa đi. Nợ nần cái khỉ gì? Chuyện cờ bạc thời trai trẻ dại dột, để tâm làm chi? Bạn bè gặp lại nhau, là quý rồi.”

Có lẽ vì rượu đã ngấm nhiều, mà nghe lời nói chí tình của bạn, mắt tôi cay xè. May mà tối trời không ai thấy. Tôi xịt mũi. Ðêm đó, tôi ngủ lại nhà Tư Thàn, và nói chuyện rầm rì trong bóng tối  cho đến khuya.

Sáng hôm sau tôi ra chỗ xe nằm ụ, thì thấy chiếc xe chỉ còn là một đống sắt cháy nham nhở. Thì ra đêm qua, du kích đặt mìn phá, mà ngủ mê quá, chúng tôi từ làng trong, không nghe biết. Tôi lấy xe dò về Sài gòn, và bị đuổi việc. Nhưng may mắn, không bị hội thánh bắt bồi thường. Có lẽ họ biết, tôi đưa mạng cùi ra, có bắt đền cũng không moi được một xu, thì tha làm phước. Vã lại thời buổi chiến tranh, không ai dự liệu trước được chuyện bom mìn.

Nhờ có thời làm việc cho hội Từ Thiện, tôi quen biết một số người, nên tháng tư năm 1975 chạy kịp ra khỏi nước. Tôi đem gia đình chạy, chưa biết sẽ chạy đi đâu, về đâu, và làm sao mà sinh sống sau này. Cứ chạy đã. Vì tôi sợ phải đi tù như một số bạn tôi, họ đã trở về miền Bắc vào năm 1954, và nghe đâu một số đã chết trong tù, một số còn bị giam giữ hơn hai mươi năm chưa được thả. Ðó là tin tức chính xác đi quành từ miền Bắc qua Pháp, và từ Pháp về miền Nam. Tôi được nước Mỹ cho vào cư trú, đi làm đủ thứ nghề tay chân. Cuối cùng vào làm y tá cho một trung tâm dưỡng lão của quận hạt. Làm việc cho đến khi về hưu. Hai mươi mấy năm đời sống yên lành, no ấm, hạnh phúc.

Năm 2001, sau hai mươi sáu năm xa quê hương, tôi về lại Việt Nam một mình, lần thứ nhất, để sắp đặt việc cưới vợ cho đứa con trai út. Khi đang ở Sài gòn, tôi nghe tin bọn khủng bố đánh sập tòa nhà đôi chọc trời ở New York. Ban đầu tôi không tin, và nghĩ rằng mấy ông Vẹm hay nói dối, đặt chuyện xạo tuyên truyền, nói xấu đế quốc Mỹ. Nhưng sau đó, xem truyền hình, tôi sửng sốt, bàng hoàng. Lòng tôi đau nhói, và nhận ra rằng, quê hương mới là nước Mỹ, cũng muôn vàn yêu mến, thắm thiết không thua gì quê hương cũ Việt Nam. Tất cả mọi chuyến bay đều bị hủy bỏ, việc vào ra nước Mỹ cũng tạm ngưng. Tôi chưa thể trở về lại Mỹ được, và trong lòng cũng tràn đầy lo ngại, không biết có thể về lại Mỹ được không. Hay là kẹt lại ở Việt nam mãi, cho hết cuối đời. Bảy mươi mấy tuổi rồi. Một đêm mất ngủ, tôi ra đứng ở hành lang khách sạn. Từ trên cao nhìn xuống phố phường bên dưới, tôi chợt nhớ, hơn năm mươi năm trước, nơi đây còn lau sậy um tùm, đất thấp ngập nước, hoang vu. Từ bên trong phòng vọng ra tiếng ngâm thơ khuya qua cái radio  nhỏ, giọng khàn đục buồn não nề:

“Sông kia rày đã nên đồng

Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai

Ðêm nghe tiếng ếch bên tai

Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò..”(*)

Lòng tôi chùng xuống, và chợt nghĩ hơn nửa thế kỷ trôi qua, vèo mau như mộng. Mới ngày nào đó, tôi bị Tây bắt đi tù, sung vào đội lính kèn. Bao nhiêu là đổi thay, bao nhiêu bãi biển đã biến thành nương dâu, bao nhiêu trũng hoang đã trở thành phố thị. Những thế hệ trước tôi và đồng thời với tôi, có lẽ đa số đã về với lòng đất. Yên bề. Những người còn sống sót như tôi, bây giờ ở đâu, làm gì. Bỗng tôi chợt nhớ đến Tư Thàn. Nhớ tha thiết. Nhớ đến món nợ ngày xưa mà chưa trả được, lòng buồn rưng rưng. Tôi quyết định ngay, mong cho trời mau sáng, để thuê xe đi tìm thăm Tư Thàn.

Chiếc xe thuê riêng, chở tôi chạy về miền Tây, đi tìm Tư Thàn. Anh tài xế nghe tôi nói đi tìm một người bạn cũ, gặp nhau lần cuối đã hơn ba mươi năm trước, anh lắc đầu, có lẽ anh cho tôi là một ông già khùng lẩm cẩm. Xe từ Sài gòn, về qua Tiền Giang, đi hướng về phía Long Xuyên, dọc theo kinh đào. Tôi chỉ nhớ mang máng cái nơi mà chiếc xe tôi lái bị đặt mìn hơn ba chục năm trước. Tìm ba nơi không có, tôi qua nơi thứ tư, cái tên làng nghe mơ hồ quen quen trong trí nhớ. Tôi vào làng hỏi, xem ai có biết Tư Thàn, nay chừng trên bảy mươi tuổi,  hồi xưa làm lính kèn ở Bộ Tổng Tham Mưu. Gặp ai tôi cũng chèo kéo, hỏi thăm, nói luôn tên cô Năm Cháo Trắng “đầu gà đít vịt”. Mọi người đều lắc đầu, ngơ ngác. Tôi nghĩ là đến lầm nơi. Nhưng vẫn nhớ mang máng đâu khoảng này. Tôi cố moi trí nhớ, càng cố nhớ, thì trí óc như cứ mụ ra, mơ hồ thêm. Tuổi già thành lẩm  cẩm. Tôi đi  lang thang quanh làng, và hy vọng, còn có người biết Tư Thàn ở đâu. Khi tôi chán nản trở lại đường cái, ngồi trong cái chòi bán nước bên vệ đường, thì  gặp một bà già. Tôi chận lại hỏi. Bà nhíu mày một hồi, suy nghĩ lung lắm. Bỗng bà la lên:

“Tôi nhớ ra rồi, từ lâu không ai gọi ổng là Tư Thàn nữa. Mà ông là ai, tìm Tư Thàn có chuyện chi không?”

“Tôi là bạn lính kèn với Tư Thàn khoảng hơn  năm mươi năm trước. Bây giờ, nhớ bạn, ghé tìm thăm.”

“Trời đất! Năm mươi năm làm chi mà không thăm nhau, giờ mới trổ chứng đi tìm!”

Mấy đứa trẻ con chạy ra ruộng kêu Tư Thàn về, người ta nói anh đang cuốc đất thuê. Tôi nghĩ không phải là Tư Thàn bạn tôi, hơn bảy mươi tuổi, còn sức đâu mà đi cuốc thuê. Lũ trẻ đưa về một ông già ở trần, xương sườn đếm được, tay chân khẳng khiu, chỉ mặc cái xà lỏn ngắn, đi chân đất. Da nhăn nheo, khô khốc, đen đúa, gầy gò, hai má hóp, miệng móm xọm, chỉ còn hai cái răng, một cái của hàm trên, một cái của hàm dưới, rất là thiếu mỹ thuật. Không có một nét nào của Tư Thàn cả, có lẽ tuổi ông này già hơn nhiều. Tôi nheo mắt nói:

“Tôi tìm Tư Thàn, hồi xưa làm lính kèn ở bộ Tổng Tham Mưu, có vợ là chị Năm Cháo Trắng.”

Ông lão phều phào:

“Ông là ai? Tìm tui có việc gì không?”

“Tôi tìm Tư Thàn. Tôi là bạn cũ.”

“Ông là bạn cũ của tui? Chắc ông tìm lầm người rồi.”

“Ông biết Cô Năm Cháo Trắng ?”

“Vợ tui, má thằng Ðộ, thằng Rề.”

Bây giờ thì tôi chắc chắn ông lão ngồi trước mặt tôi chính là Tư Thàn, không ai khác. Tôi còn mơ hồ thấy vài nét hao hao của thuở nào. Bố thằng Ðộ, Thằng Rề, hai thằng này tôi đã gặp hồi xưa. Ngày trước, Tư Thàn mong sinh được bảy đứa con đặt tên là Ðộ, Rề, Mi, Pha, Xôn, La, Xi,  nhưng mới có Ðộ, Rề, thì bà vợ tịt ngòi. Tư Thàn ngồi co một chân lên ghế dài, rất tự nhiên, cái quần xà lỏn kéo nhăn nhúm lên cao, để lòi nguyên bộ phận kín ra ngoài, một khúc đen điu, nhăn nhúm, nằm tựa trên một đùm bao da lưa thưa lông bạc trắng. Tôi mừng quá, nắm lấy hai vai Tư Thàn mà lắc:

“Mày không nhớ ra tao là ai hả Tư Thàn!”

“Không. Ông có lầm tui với ai khác không? Ông là ai?”

“Thế thì mày không phải là Tư Thàn, lính kèn ở bộ

Tổng Tham Mưu hả?”

“Tui, Tư Thàn lính kèn đây.”

Tôi làm bộ buồn bã đổi giọng:

“Có lẽ ông không phải là Tư Thàn tôi quen, mà là người khác trùng tên chăng?”

“Lính kèn, ở bộ Tổng Tham Mưu, trước năm  năm mươi tư. Chỉ có Tư Thàn này thôi.”

Tôi nắm chắc hai vai Tư Thàn mà lắc, và hét lên:

“Ð.M. mày không nhớ ra tao là ai, thật không? Hay mày giả bộ.”

Tôi đưa tay lên miệng, với dáng điệu như đang thổi kèn và ca: “Một ngàn, ba mươi vạn thằng Tây, xách cái bị, đi ăn mày. Mụ đi đâu, tui bắt mụ lại, tui không cho mụ về.”

Nghe tiếng chửi thề và điệu kèn Tây của  tôi, Tư Thàn nhào đến ôm lấy tôi mà thét lên:

“Ð. M. mày, chỉ có mày mới nói cái giọng này. Thằng chó chết, thằng dịch vật. Thằng Quài, mày, Quài. Mà mày sang trọng, và trẻ quá, ai ngờ, ai mà nhìn ra.”

Ðám trẻ con đứng xem cười ầm lên khi thấy hai ông già văng tục và gọi nhau bằng mày tao.  Tư Thàn cảm động quá, cái miệng móm méo xẹo, và khóc thành tiếng hu hu, làm tôi cũng khóc theo. Tư Thàn nghẹn ngào:

“Mày còn nhớ đến tao, tìm thăm. Ðồ dịch vật.  Lâu nay mày chết rấp nơi nào?”

Tư Thàn nhìn tôi từ đầu xuống chân, nói nho nhỏ:

“Tóc tai cũng còn, răng cỏ hai hàm còn nguyên, mặt mày có da có thịt, áo bỏ vào quần, đi giày đàng hoàng. Có phải mày là Việt Kiều về thăm quê hương không? Bây giờ mày ở đâu? Làm gì?”

Tôi sợ Tư Thàn buồn, nói dối:

“Việt kiều cái con khỉ. Tao ở Sài gòn, nhờ có mấy đứa con vượt biên ra nước ngoài, và mấy đứa ở nhà, buôn bán, ăn nên làm ra. Giờ già rồi, về hưu, không làm gì nữa cả.”

Tôi hỏi thăm gia cảnh, Tư Thàn cho biết hai đứa con trai đều đã chết. Thằng Ðộ đi lính quốc gia, đã đền nợ nước, thằng Rề “hy sinh” cho “cách mạng”. Cô Năm Cháo Trắng chết bệnh. Tư Thàn không có ai để nương tựa, phải đi cuốc đất thuê kiếm ăn qua ngày. Tôi nhìn cái thân thể xương xẩu của Tư Thàn, không biết anh lấy đâu ra sức mà đi làm lao động chân tay. Tôi nói:

“Thôi, mày đưa tao về nhà, thay áo quần, rồi cùng qua Long Xuyên, lu bù một bữa, anh em hàn huyên chơi, bỏ mấy mươi năm xa cách.”

Tư Thàn ngự trong căn chòi nhỏ, bốn bề che lá đơn sơ. Không bàn, không giường, chỉ có cái võng treo xéo. Trên bếp có cái nồi đen điu, méo mó. Tôi giở nồi ra xem, thấy còn có miếng cơm cháy. Tôi bốc ăn, mà cứng quá, răng già không nhai nổi. Thế mà Tư Thàn không còn răng, ăn cách nào đây?

Khi xe vào tỉnh lỵ Long Xuyên, tôi nhờ anh tài xế tìm cho một quán ăn ngon. Anh đưa chúng tôi vào quán nướng Nam Bộ. Tư Thàn gạt đi, không chịu vào, và nói:

“Kiếm chai đế và vài ba con khô cá sặc là đủ vui rồi. Ðừng hoang phí tiền bạc. Vào làm chi những nơi sang trọng này cho chúng chém.  Gặp nhau là vui rồi. Ăn uống là phụ.”

Tôi ép mãi mà Tư Thàn không chịu. Cuối cùng, chúng tôi ra chợ, ngồi trên ghế thấp ở quán lộ thiên, ăn nhậu và nói cười vui vẻ, tự nhiên. Tôi uống rượu thay nước, vì sợ đau bụng. Anh tài xế cùng ăn, mà tôi không cho anh nhậu rượu, anh tỏ vẻ khó chịu, vùng vằng.

Ðưa Tư Thàn về lại tận nhà, tôi móc trong cặp một gói bao, bằng giấy báo đưa tặng. Tư Thàn mở ra xem, và giật mình, xô gói quà ra về phía tôi:

“Cái gì đây? Tiền đâu mà nhiều thế này? Tôi không lấy đâu. Ðừng bày đặt.”

“Có bao nhiêu đâu. Ngày xưa, tao nợ mầy chưa trả được, bây giờ trả lại cả vốn lẫn lời. Tao tính rồi, mầy nhận đi cho tao vui, bỏ công tao lặn lội đi tìm.”

“Không. Nợ nần cái khỉ gì. Ăn thua đá gà, chuyện tào lao thời trẻ dại. Tao đã bảo mày quên đi từ lâu.  Bày đặt. Lấy tiền làm chi? Không có chỗ cất, bọn trộm cắp nó lấy đi, uổng lắm. Tao không lấy đâu.”

Thấy bộ Tư Thàn cương quyết quá, tôi xuống giọng, giả vờ nói:

“Mày mà không nhận, tao có chết nhắm mắt cũng không yên tâm. Chưa trả hết nợ, thì sau này phải đầu thai làm trâu cày cho mầy. Khổ lắm. Thương tao, mày cứ cầm đi.  Ðể mua gạo. Ðể khi đau yếu có chút thuốc thang. Nếu không có nơi cất, thì đem gởi bà con.”

Ðôi mắt già của Tư Thàn chớp chớp, và nói giọng run run như sắp khóc:

“Ð.M, tao già đến thế này, mà mày cũng còn định gạt tao như hồi xưa nữa sao? Thằng chó chết. Cái tình bạn của mày, còn quý gấp trăm ngàn lần gói tiền này. Ừ, tao nhận cho mày vui. Tao sẽ làm mâm cơm cúng bà Năm Cháo Trắng, nói cho bà biết cái tình bạn của mày. Dưới suối vàng, chắc bà cảm động lắm.”.

Tràm Cà Mau

(*) Thơ Trần Tế Xương

From: Tu-Phung 


 

THUỘC VỀ AI? – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Mình phải làm gì đây?”.

Tại một vùng châu Phi, những người cải đạo rất yêu thích cầu nguyện. Trên thực tế, mỗi tín đồ có một ‘phòng cầu nguyện’ đặc biệt bên ngoài bản làng; họ đến đó bằng một lối mòn riêng. Vậy khi cỏ bắt đầu mọc trên những lối mòn, rõ ràng, ai đó đã không còn đi cầu nguyện. Một phong tục độc đáo xuất hiện! Khi thấy cỏ mọc nhiều trên lối mòn của ai đó, người ta sẽ đi tìm chủ của nó và trìu mến cảnh báo, “Cỏ đã mọc nhiều trên lối mòn của bạn. Bạn ơi, bạn ‘thuộc về ai?’”; và người ấy đáp, “Mình phải làm gì đây?”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Mình phải làm gì đây?”. Đó cũng là câu hỏi người phú hộ trong Tin Mừng hôm nay đặt cho mình! Tiếc thay, câu trả lời tự anh không đúng! Bởi lẽ, anh không biết anh ‘thuộc về ai?’. Thánh Vịnh đáp ca thật ý tứ, “Chính Chúa dựng nên ta, và ta thuộc về Người!”.

Tin Mừng cho biết, vụ mùa năm ấy, anh bội thu! Vận may đến, đôi khi, làm cho nhiều người lúng túng, “Mình phải làm gì đây?”. Anh quyết định phá các lẫm cũ, xây những lẫm lớn hơn. Tuy nhiên, giải pháp của anh khá nghèo nàn! Anh chỉ nghĩ đến bản thân; ý tưởng chia sẻ ngay cả những gì ‘thặng dư’ cho ai đó xem ra không bao giờ thoáng qua trong suy nghĩ của anh. ‘Bài phát biểu tự nhủ lòng’ của anh chứa đầy những từ cỏn con, cụt ngủn: “mình” và “của mình”, “lúa thóc của mình”, “mình bây giờ ê hề của cải”; và thậm chí, “linh hồn của mình!”. Vậy mà, một điều quan trọng anh không biết là linh hồn anh, thân xác anh, những gì anh sở hữu ‘thuộc về ai?’. Chúng thuộc về Chúa!

Và kìa, Chúa gọi anh! Sự nghèo nàn bên trong anh phơi trần. Anh đã không làm gì với vận may vốn là món quà của Chúa; để từ đó, anh có thể chia sẻ, cho đi. Anh tích trữ cho bản thân và không làm giàu cho mình trước mặt Chúa. Trong thư Êphêsô hôm nay, Phaolô nói đến lòng nhân từ của Thiên Chúa, Đấng ban tặng chúng ta bao ân sủng dẫy đầy trong Con Một. Chúa Kitô, Đấng khiến chúng ta – theo cách nói của Phaolô ở đây – trở nên “tác phẩm của Thiên Chúa”. Ngài làm cho cuộc sống chúng ta nên phong phú; và qua chúng ta, làm phong phú cuộc sống những người khác. Vì thế, khi đặt câu hỏi, “Mình phải làm gì đây?”, bạn và tôi tìm cho mình câu trả lời đầy gợi hứng trong Chúa Kitô, Đấng “đã trở nên nghèo khó để chúng ta giàu có!” và ra sức bắt chước để nên giống Ngài!

Anh Chị em,

“Mình phải làm gì đây?”. Hãy chiêm ngắm Chúa Kitô! Ngài là Con Thiên Chúa xuống thế làm người, hoàn toàn đầu phục Chúa Cha. Rong ruổi trên các nẻo đường Palestina, những lối mòn đến ‘phòng cầu nguyện’ của Ngài không có lấy một đọt cỏ, nhưng ngày càng rộng thêm. Nhờ đó, những câu hỏi thường xuyên của Ngài, “Con phải làm gì đây?” luôn luôn có những câu trả lời thích hợp. Chớ gì – trong bất cứ đấng bậc nào – đó cũng là câu hỏi bạn và tôi ‘lúc này, ở đây’ luôn đặt ra cho mình. Từ đó, mỗi người chúng ta trở nên “tác phẩm của Thiên Chúa”, tạo nên một sự khác biệt, làm phong phú cuộc sống của những người khác, bắt đầu từ những người trong gia đình, trong cộng đoàn mình cho đến trong Giáo Hội, trong thế giới. Và như thế, Thiên Chúa được vinh quang!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, chớ gì ‘lối mòn’ đến với Chúa Thánh Thể của con ngày càng rộng hơn. Nhờ đó, ‘tác phẩm của Chúa’ biết mình ‘thuộc về ai’, biết Chúa muốn con làm gì!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

******************************************

Thứ Hai Tuần XXIX – Mùa Thường Niên

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

13 Khi ấy, có người trong đám đông nói với Đức Giê-su rằng: “Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi.” 14 Người đáp: “Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh?” 15 Và Người nói với họ: “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu.”

16 Sau đó Người nói với họ dụ ngôn này: “Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, 17 mới nghĩ bụng rằng: ‘Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu!’ 18 Rồi ông ta tự bảo: ‘Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. 19 Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!’ 20 Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: ‘Đồ ngốc ! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?’ 21 Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó.”


 

Người & Rác – Tưởng Năng Tiến/SGN

Tưởng Năng Tiến/SGN

Ba’o Nguoi-Viet

October 20, 2024

Trong Chuyện Kể Năm 2000 – tập II – của Bùi Ngọc Tấn, tôi “nhặt” được câu danh ngôn đắt giá như sau: “Đồng chí Tổng Bí Thư nói nếu nhìn một phụ nữ đẩy xe bò mà lòng không xúc động thì không còn là người cộng sản nữa.”

Tôi hỏi tác giả:

-TBT nào đã phát biểu một câu để đời như thế?

Công cười nụ:

-Ông TBT nào mà chả nói y như thế.

Ah! Thì ra thế. Tuy thế, mọi người đều biết rằng mấy ổng nói vậy thôi chớ hổng phải vậy đâu. Bởi vậy nên những phụ nữ đẩy xe bò hay xe rác lềnh khênh, khắp mọi nẻo đường, từ hơn hai phần ba thế kỷ qua mà chả thấy có đồng chí nào xúc động (hay xúc cảm) gì ráo trọi. Cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam chỉ mang lại một thay đổi duy nhất cho giới người này là họ được đổi tên từ “phu quét đường” thành “công nhân vệ sinh đường phố” thôi.

(Hình: tác giả cung cấp)

Làm phu quét rác thì vô tư nhưng khi đã trở thành công nhân (lực lượng tiên tiến và tiên phong của Đảng) lại được Mặt Trận Tổ Quốc giao thêm rất nhiều trọng trách: “là lực lượng quan trọng, là tai mắt đường phố, có thể góp phần giữ vững an ninh chính trị, phòng chống, phát hiện các đối tượng tệ nạn xã hội… được công an quận tập huấn một số kỹ năng như: hướng dẫn nắm bắt vụ việc, nhận diện hiện tượng, con người liên quan đến an ninh chính trị; về hoạt động băng nhóm hoặc nghi vấn đối tượng trộm cắp, cướp giật tài sản cũng như công tác bảo vệ hiện trường.”

Vừa thôi chớ!

Họ vừa phải đẩy xe rác làm vệ sinh đường phố, lại vừa kiêm nhiệm luôn công việc của ngành an ninh tình báo, và bảo vệ hiện trường nữa nên (lắm lúc) không tránh được tai nạn giao thông thảm khốc – theo tin loan của trang Tin Tức Việt Nam:

“Trên địa bàn Hà Nội, một chiếc ô tô Hyundai từ phố Vĩnh Hồ đi về đường Láng, hướng Cầu Giấy đã đâm liên hoàn nhiều phương tiện khiến chị Lê Thị Thu Hà (42 tuổi, Đặng Văn Ngữ, Hà Nội) đang là công nhân quét rác thuộc Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hà Nội – Chi nhánh Đống Đa tử vong…

Hoàn cảnh của chị Lê Thị Thu Hà rất đáng thương. Ly thân chồng, chị phải một mình nuôi hai con còn đang ăn học và mẹ già bị bệnh nặng. Gia đình bốn người sống trong căn nhà cấp 4 lụp xụp, lợp ngói dột nát, tường nhà toàn bộ bong tróc, nứt toác. Khi còn sống, chị Hà mong ước có thể sửa sang lại căn nhà cho mẹ và các con nhưng lại ngặt nỗi chẳng có tiền.

Tiền lương từ nghề vệ sinh môi trường không đủ để lo cho các con ăn học nên chị phải làm cả việc khác để kiếm thêm tiền. Hàng ngày, chị đi quét rác đến 2-3h sáng mới về. Chợp mắt được vài tiếng, chị gắng dậy, chạy xe ôm Grab…

Sự việc của chị Lê Thị Thu Hà như một hồi chuông cảnh báo xã hội cần quan tâm hơn nữa đến những công nhân vệ sinh môi trường. Để cho cuộc sống chúng ta sạch đẹp, họ phải đối mặt với nhiều nguy hiểm khi ngày ngày ra giữa đường phố quét rác. Chị Hà không phải người lao công đầu tiên gặp tai nạn giao thông.

(Hình: tác giả cung cấp)

Đã có rất nhiều trường hợp tương tự xảy ra khi các công nhân môi trường ra đường lao động để mang lại mỹ quan đô thị cho người dân. Đấy là chưa kể đến những mối tiềm tàng bệnh tật do hàng ngày đối mặt với rác thải độc hại.”

Úy Trời/Đất/Quỉ/Thần ơi! Cái xã hội này có ai dòm ngó gì đến đám phu quét đường bao giờ đâu mà nói “cần quan tâm hơn nữa đến những công nhân vệ sinh môi trường,” cha nội? Ngoài việc “đối mặt với rác thải độc hại” – hằng ngày – họ còn phải gánh chịu biết bao là nỗi tủi nhục và đắng cay khác nữa. Ký giả  Đào Thanh Tuy tường thuật:

“Có lần tận mắt chứng kiến một chiếc ô tô đẹp đi trong ngõ, ngang qua xe phu rác đang đẩy. Xe chậm lại, từ trong xe, một ả hạ kính rồi lẳng ngay chiếc bỉm vàng khè vào xe rác. Bởi xe không dừng hẳn nên cú ném ấy không trúng đích mà trúng đầu phu rác. Uất ức, phu rác chửi. Xe dừng, thằng chồng phi xuống vớ ngay cái xô rác ở gần đó vụt tới tấp vào đầu phu rác. Phu rác chỉ biết thụp xuống ôm mặt khóc.”

Không bao lâu sau, báo Pháp Luật loan tin :

“Một đoạn video xuất hiện trên mạng xã hội, được cho là quay tại Quảng Trị. Theo đó, khi chủ một shop quần áo vứt rác ra đường thì bị một công nhân vệ sinh nhắc nhở, sau đó chủ shop trên đã lao vào hành hung và mắng chửi người công nhân vệ sinh.”

Chả hiểu khi bị “hành hung và mắng chửi” hay bị ném “chiếc bỉm vàng khè vào đầu” (giữa phố đông người) đám phụ nữ đẩy xe rác có ai nghĩ đến lời khuyên của ông cựu Bí Thư Thành Ủy Nguyễn Thiện Nhân không: “Những lúc khó, cực, lúc không hài lòng với công việc, hãy nghĩ tới Bác.”

Bác chính là vị Tổng Bí Thư đầu tiên của ĐCSVN và là tác giả Hồ Chí Minh Toàn Tập. Trong tác phẩm này (bản in lần thứ ba, do nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia tái bản năm 2011) nơi trang 12 có câu: “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa.”

Cố TBT Nguyễn Phú Trọng cũng đã từng cập nhật “tình hình” (không mấy lạc quan) như sau: “Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa” nữa” Chuyện giải phóng phụ nữ ở Việt Nam, như thế, đành phải đợi đến… cuối thế kỷ sau vậy!


 

 Doris Day: Danh Vọng, Tình Yêu & Định Mệnh-Vương Trùng Dương/SGN

Ba’o Nguoi-Viet

October 20, 2024

Vương Trùng Dương/SGN

“Chữ tài chữ mệnh khéo mà ghét nhau” (Kiều – Nguyễn Du)

Nhắc đến danh ca, minh tinh Doris Day, khán thính giả trên thế giới liên tưởng đến ca khúc Que Sera, Sera ((Whatever Will Be, Will Be) trong phim The Man Who Knew Too Much đã gắn liền với tên tuổi của bà.

Phim The Man Who Knew Too Much của hãng Paramount do đạo diễn Alfred Hitchcock với tài tử James Stewart và minh tinh Doris Day. Ca khúc Que Sera, Sera với điệu Valse của Jay Livingston & Ray Evans do Doris Day trình bày với giọng ca mềm mại du dương, thánh thót trong phim được nhận giải Oscar nhạc phim hay nhất năm 1956. Ca khúc nầy với lời Việt của nhạc sĩ Phạm Duy tựa đề Biết Ra Sao Ngày Sau rất phổ biến ở miền Nam Việt Nam.

Theo Hartman thì “Que sera sera” không bắt nguồn từ tiếng Tây Ban Nha, tiếng Italia, tiếng Pháp là câu tục ngữ tiếng Anh khi đề cập đến tương lai. Câu tiếng Anh của lời nói “Whatever is destined to happen will happen, do what you may to prevent it” hay câu tiếng Pháp là “Tout ce qui doit arriver arrivera, quels que soient vos efforts pour l’éviter” với ý nghĩa “Ðiều gì phải đến sẽ đến, dù cho bạn có cố làm gì để ngăn chặn nó” về định mệnh con người.

“Que sera, sera. The future’s not ours, to see. Que sera, sera…” rất quen thuộc của thời tuổi trẻ thời đó của chúng tôi trả lời trong hoàn cảnh chiến tranh.

*

Doris Mary Ann Kappelhoff sinh năm 1922 ở tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ trong gia đình bố mẹ là người Đức nhập cư. Bà có năng khiếu âm nhạc, nghệ thuật từ nhỏ, năm 1939 xuất hiện dòng nhạc Big Band (loại nhạc Jazz) mang tên Sentimental Journey với danh xưng Doris Day rồi trở nên nổi tiếng. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, năm 1945, bà trở thành giọng ca chính của nhóm Les Brown and His Band of Renown và nhanh chóng nổi tiếng qua nhiều ca khúc.

Ngoài ra, nhóm có một số ca khúc khác đứng đầu bảng xếp hạng Billboard như: My Dreams Are Getting Better All the Time, Tain’t Me, Till The End of Time, You Won’t Be Satisfied (Until You Break My Heart), The Whole World is Singing My Song, I Got the Sun in the Morning.

Năm 1947, Doris Day rời nhóm để hát solo. Trong 20 năm, bà ra mắt hơn 600 tác phẩm, trong đó nhiều ca khúc được phổ biến khắp nơi trên thế giới.

Doris Day còn nổi tiếng cho những ca khúc trong phim và từ thập niên 1960 đóng phim, trở thành minh tinh điện ảnh. Doris Day có vẻ đẹp tự nhiên rực rỡ với tóc vàng, trong hình ảnh “Tóc vàng sợi nhỏ. Mong em chín đỏ trái sầu” (thơ Cung Trầm Tưởng).

Doris Day trở thành thần tượng của khán thính giả trong âm nhạc và điện ảnh trong suốt những thập niên, danh vọng tỏa sáng nhưng trải qua bốn cuộc tình cay nghiệt!

Doris Day kết hôn lần đầu năm 1941 với nghệ sĩ kèn trombone Al Jorden. Hai người gặp nhau khi cùng tham gia biểu diễn tại một chương trình ca nhạc ở thành phố Cincinnati, tiểu bang Ohio năm bà 16 tuổi. Khi kết hôn, bà chỉ mong cuộc sống yên bình bên chồng.

Sau những tháng ngày hạnh phúc, vợ chồng bà thường xuyên cãi vã vì ghen tuông. Bà từng chia sẻ bị chồng cũ đánh đập. Al Jorden thường bỏ Doris ở nhà và dẫn theo người tình trong những chuyến lưu diễn. Cuộc hôn nhân diễn ra gần hai năm. Hai người ly dị vào Tháng Ba, 1943 khi bà mới 21 tuổi.

Doris Day có với Al Jorden một con trai, cũng là con duy nhất của bà – Terry Melcher (sinh năm 1942). Al Jorden từng có ý định giết Doris vì không chịu phá thai. Bà không thể nào ngờ sự nhẫn tâm của người chồng độc ác như vậy!

Năm 2004, Terry qua đời sau nhiều năm chống chọi các căn bệnh tuổi già. Khi còn sống, Terry là ca sĩ và nhà sản xuất âm nhạc thành công. Đây là vết thương lòng đau nhất trong cuộc đời bà ở tuổi già 80.

Năm 1946, Doris Day kết hôn lần hai với George Weidler, nhạc công kèn saxophone. Bà bước vào điện ảnh trong giai đoạn này. Doris tham gia bộ phim đầu tiên, Romance on the High Seas, năm 1948.

Bà đề nghị chồng cùng đến Los Angeles sống để phát triển công việc. Tuy nhiên, George ghen tuông, không hứng thú với sự nghiệp của vợ. Hai người mâu thuẫn và ly thân. Bà chuyển đến New York và theo đuổi diễn xuất. George đổ lỗi cho Doris Day bỏ bê gia đình và đòi ly dị vào năm 1949. Sau đó, bà trở thành diễn viên nổi tiếng tại Hollywood. Bà được công chúng đón nhận với những bộ phim như My Dream Is Yours (năm 1949), Love Me or Leave Me (năm 1955).

Năm 1951, Doris kết hôn lần thứ ba đúng sinh nhật tuổi 29. Chồng mới của bà là Martin Melcher, nhà sản xuất phim nổi tiếng. Ông hỗ trợ nhiều bộ phim thành công của Doris Day trong giai đoạn này. Martin cũng là người nuôi dưỡng và hướng Terry Melcher trở thành ca sĩ, vì vậy bà cả tin tấm lòng của người chồng.

Sống với Martin cho đến khi ông qua đời vào năm 1968, cũng là cuộc hôn nhân dài nhất của Doris. Tuy nhiên, sau khi Martin mất, bà phát hiện chồng và đồng nghiệp mưu toan chiếm đoạt các khoản tiền cát-xê của bà trong suốt 17 năm chung sống.

Lúc Martin còn sống, ông đầu tư làm ăn thất bại nhưng không cho vợ hay biết, ông cũng không nộp thuế thu nhập dù là nhà quản lý chính thức, do vậy Doris Day vào năm 45 tuổi lại lâm vào cảnh nợ nần chồng chất. Bà buộc phải đóng phim truyền hình nhiều tập The Doris Day Show từ năm 1968 đến năm 1973, cho dù bà chưa bao giờ ký hợp đồng với các đài truyền hình, rốt cuộc bao nhiêu tiền thù lao cũng chỉ để trả nợ. Doris Day rơi vào tình cảnh nợ nần và gần như phá sản. Năm 1979, bà mới nhận lại được khoản tiền sau khi thắng kiện.

(Hình: tác giả cung cấp)

Sau thời kỳ khó khăn này, Doris Day quyết định giải nghệ. Bà lui về sống ẩn dật tại thị trấn Carmel by the Sea, tiểu bang California, nơi đây có bãi biển Carmel Sunset đẹp tuyệt vời. Vào năm 1975, Doris Day phát hành quyển hồi ký “Doris Day: Her Own Story” cho thấy sự nghiệp và cuộc đời của bà không phải là một dòng sông phẳng lặng êm ả như người ta thường nói.

Cuốn tự truyện viết rất thật, ghi lại quãng đời Doris Day từ thời thơ ấu với những khó khăn phải trải qua trong gia đình và những đam mê âm nhạc từ nhỏ. Sự nghiệp điện ảnh khi bước vào lãnh vực nầy có lúc gập ghềnh, có khi may mắn với những đồng nghiệp và đạo diễn nổi tiếng mang đến danh vọng trong nghệ thuật thứ bảy.

Trong cuộc sống cá nhân không suông sẻ trong tình trường với ba cuộc hôn nhân và những mất mát trong cuộc đời, và cuối cùng tình yêu động vật.

Năm 1973, Doris Day giải nghệ, bà dành thời giờ cho công tác bảo vệ động vật thông qua việc thành lập tổ chức phi chính phủ mang tên Doris Day Animal Foundation – quỹ động vật mang tên bà – một tổ chức phi lợi nhuận nhằm mục đích giúp đỡ động vật trên khắp nước Mỹ.

Năm 1976, Doris Day kết hôn với Barry Comden. Hai người quen nhau vì thường tới nhà hàng do Barry làm quản lý. Cuộc hôn nhân kéo dài trong sáu năm. Hai người ly dị Tháng Tư 1982. Barry chia sẻ lý do chia tay là Doris chỉ quan tâm chăm sóc lũ thú cưng thay vì lo lắng cho chồng. (Có giai thoại cho rằng khi bà ngán ngẩm tình đời, bà nuôi thú cưng trong nhà, có lần con chó cưng chết, bà cắt đứt mọi liên lạc trong suốt ba tháng vì thương xót).

Sau bốn đời chồng: Al Jorden (1941-1943), George Weidler (1946-1949), Martin Melcher (1951-1968), Barry Comden (1976-1981), Doris Day tiếp tục sự nghiệp âm nhạc. Tuy ở tuổi 60 còn trẻ đẹp nhưng bà ngán ngẩm với hôn nhân, sống trong khu đất rộng khoảng 10 mẫu, thỉnh thoảng bước đi trên phố với hàng đàn chó, mèo lạc vây quanh. Trang phục giản dị khác hẳn hình ảnh huyền thoại màn bạc và trên sân khấu.

Minh tinh Pháp Brigitte Bardot và Doris Day là hai hình ảnh tiêu biểu cho quyền bảo vệ động vật. Năm 1986, Brigitte Bardot thành lập Quỹ Brigitte Bardot nhằm chăm sóc và bảo vệ động vật. BB đã lên án những nước Á châu còn “man rợ” ăn thú cưng trong nhà như chó, mèo… Ở Mỹ, hành hạ thú cưng trong nhà cũng bị phạm luật đừng nói gì đến giết hại, làm thịt.

Vào tuổi 90, Doris Day nhận được vinh dự trở lại vào năm 2011, khi tuyển tập chọn lọc của bà My Heart được lọt vào Top Ten thị trường Anh quốc, đĩa hát này chọn lọc những bài hát từng được Doris Day ghi âm vào những năm 1980. Album My Heart gồm 13 ca khúc: Hurry, It’s Lovely Up Here, Daydream, The Way I Dreamed It, Heaven Tonight, My One and Only Love, My Heart, You Are So Beautiful, Life Is Just a Bowl of Cherries, Disney Girls, Stewball, My Buddy, Happy Endings, Ohio.

Tối ngày 13 Tháng năm, 2019, Doris Day qua đời ở tuổi 97 tại Carmel Valley, California. Bà siêng tập thể dục nên sức khỏe tốt cho đến khi bị viêm phổi trầm trọng.

Doris Day khởi đầu sự nghiệp điện ảnh trong vai diễn đầu tiên của phim Romance on the High Seas và những thập niên tiếp theo khoảng 30 phim.

My Dream Is Yours (1949) phim âm nhạc, trong đó Doris Day thủ vai một ca sĩ đang tìm cách khởi nghiệp. Tea for Two” (1950), On Moonlight Bay (1951), By the Light of the Silvery Moon (1953), April in Paris (1952). Phim âm nhạc Calamity Jane (1953) với ca khúc Secret Love trong phim đã giành giải Oscar. Love Me or Leave Me (1955), The Man Who Knew Too Much (1956) vừa diễn viên và ca sĩ trở thành “biểu tượng” gắn liền với bà. Pillow Talk (1959), Please Don’t Eat the Daisie (1960), Lover Come Back (1961), The Thrill of It All (1963), Send Me No Flowers (1964), That Touch of Mink (1962), Do Not Disturb (1965), Caprice” (1967), The Ballad of Josie (1967), With Six You Get Eggroll (1968) phim cuối cùng của Doris Day trước khi giải nghệ… Trong đó, một số cuốn phim nầy với tiếng hát của diễn viên kiêm ca sĩ Doris Day.

Nguồn thu nhập về điện ảnh không bằng âm nhạc, Doris Day cùng hát với nam danh ca Frank Sinatra, người có thu nhập cao nhất cao nhất trong những thập niên đó.

Vào giữa thập niên 1950’ và 1970’ Sài Gòn nhập phim ngoại quốc nhập từ Pháp. Vì vậy phim Mỹ lại nói tiếng Pháp, đôi khi nói tiếng Anh và có phụ đề (sous-titre) Việt ngữ, tờ flyer giới thiệu các diễn viên và tóm lược nội dung… để khán giả có thể theo dõi.

Trong những cuốn phim đề cập trên có vài phim được trình chiếu và những ca khúc do Doris Day hát cũng được phổ biến nên tên tuổi bà rất quen thuộc.

Tôi viết về Doris Day, không thuần túy về văn học nghệ thuật mà đề cập đến nhân vật tài danh trên đỉnh cao danh vọng được mọi người ái mộ nhưng định mệnh lại khắt khe “Chữ tài liền với chữ tai một vần” và “Đã mang lấy nghiệp vào thân. Thì đừng trách lẫn trời gần đất xa” như lời thơ thi hào Nguyễn Du.

Đó là lẽ thường tình của cuộc đời trên thế gian. Với thuyết tài mệnh tương đối không chừa bất cứ ai, ngay cả Doris Day, danh vọng, tình yêu & định mệnh với nỗi đau qua bốn cuộc tình, không thể nào ngờ. Trong đỉnh cao danh vọng, cả danh và lợi, nhưng không mang lại hạnh phúc trong tình yêu!

Que Sera Sera

“… When I was just a little girl

I asked my mother, what will I be

Will I be pretty, will I be rich

Here’s what she said to me

Que sera, sera, whatever will be, will be…”.

“Nào ai biết ngày sau, đời ta sẽ về đâu…”

Khi Doris Day qua đời, tất cả tài sản của bà hiến cho quỹ từ thiện The Doris Day Animal Foundation (DDAF), thể hiện tình yêu thương của bà với động vật.

Little Saigon, October 2024


 

50 năm nhìn lại những ngày mất Sài Gòn (I)-Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

Mẹ trẻ ôm con thơ trên chiếc trưc thăng chạy khỏi Tuy Hòa, 22 Tha’ng 3, 1975 Nguồn: AP Photo/ Nick Ut.

Trong dip kỷ niệm 50 năm này, hy vọng bài sau đây sẽ giúp mọi người Việt di tản nhớ lại mình, nhớ lại những đồng đội, nhớ lại cả một quá khứ vinh quang cũng như tủi nhục.

LỜI MỞ ĐẦU

Thật ra mới chỉ là 49 năm. Nhưng tính cho tròn số nên chọn là 50 năm. Có nhiều cách để ghi lại những ngày chót trước khi mất Sài gòn. Có tác giả ghi lại qua các tài liệu sách vở, hoặc người khác qua trải nghiệm sống của mỗi người. Mỗi cách ghi lại có cái hay và hữu ích của nó.

Riêng bài viết sau đây phần lớn dựa trên những bản tin, bài bình luận của các phóng viên, các tác giả ngoại quốc có mặt ở Việt Nam đã viết trong khoảng thời gian hơn một tháng khi mất Sài Gòn. Những bản tin này thường vắn, gọn cô đọng mang tính thông tin nhiều hơn. Nhưng khi viết thành một bài viết dựa theo thứ tự thời gian, người đọc có thể hiểu tận tường diễn tiến các biến cố ấy đã được diễn ra thực sự trên đất nước của mình như thế nào.

Nó có thể thiếu mức độ rung động tình cảm như thương, ghét, giận, buồn. Nhưng bù lại nó khá trung thực và có thể giúp người đọc gạt bỏ được những nhận thức quá khứ nhiều khi do nghe nói.

Trong dip kỷ niệm 50 năm này, hy vọng bài sau đây sẽ giúp mọi người Việt di tản nhớ lại mình, nhớ lại những diễn tiến thời sự như một chuỗi biến cố nối tiếp nhau dồn dập, như một chuỗi giây chuyền, nhớ lại hoàn cảnh bi kịch của những đồng đội, nhớ lại cả một quá khứ vinh quang cũng như tủi nhục.

Thoạt đầu, dẫn đầu đoàn tuần hành chống chiến tranh Việt Nam có bác sĩ Benjamin Spock, cao lớn, người đàn ông tóc bạc trắng, và Tiến sĩ Martin Luther King Jr., thứ ba từ bên phải, trong một cuộc diễn hành trên đường State ở Chicago, Ill., March 25, 1967. Bác sĩ Spock là đồng chủ tịch của Ủy ban Quốc gia về chính sách hạt nhân đúng mực. (AP Photo)

  • Câu chuyện mở đầu từ nước láng giềng Cambodia

Thật sự thì người Việt Nam nói chung ít quan tâm đến tình hình của nước láng giềng Cambodia lắm. Từ Sài gòn sang Cambodia, đường bộ chỉ hơn trăm cây số mà mấy người đã đi qua thăm láng giềng. Quan hệ buôn bán làm ăn, quan hệ du lịch, quan hệ liên quan đến an ninh, đến chiến tranh cũng ít ai quan tâm cho đủ.

Nhưng nay câu chuyện có thể khác. Những gì đang xảy ra, sắp xảy ra ở bên Cambodia cũng là những điềm dự báo thời cuộc cho Việt Nam.

Time is running out | Ngày 7/3/1975

Time is running out, Đại sứ quán Mỹ cảm thấy sẽ mất Campuchia. By SYDNEY H. SCHANBERG New York Times Service PHNOM PENH

Đây là một bản tin của hãng AP gửi đi từ Hoa Thạnh Đốn cảnh báo tình hình ở Cambodia xem ra hết sức bi quan. Phóng viên đăng tải tin này với hàng tít Time is running out.

Đó là tựa đề nhạy cảm về tình hình nước bạn láng giềng. Người bi quan nghĩ rằng vận may có vẻ không còn nữa. Tổng thống Ford được coi là càng ngày càng bị lẻ loi, bất lực vì không hy vọng giàn xếp để có được tối thiểu 220 triệu đô la để giúp cho nước Cambodia có thể cầm cự được.

Tổng thống Ford vào tối thứ ba cảnh cáo tuần này, tức ngày 7 tháng 3 rằng nếu không có số tiền đó thì nội trong 10 ngày sắp tới, Cambodia sẽ rơi vào tay cộng sản.

Cảnh cáo như thế mà xem ra Quốc Hội Hoa Kỳ hầu như có vẻ không quan tâm gì.

Cũng theo thông tin của phóng viên Sydney H.Schanberg của tờ New York Times tại Cambodia thì tòa đại sứ Mỹ ở đây đang cố gắng hết sức mình để sau cuộc đầu hàng có thể giải cứu được một số người ra đi một cách an toàn và nhân đạo.

Ông đại sứ Mỹ tại Cambodia, John Gunther Dean, xem ra hết hy vọng vào lời hứa cứu trợ cấp tốc 220 triệu đô la! Không có số tiền đó cũng là một cách chấm dứt chuyện người Mỹ có mặt trong 5 năm cuộc chiến tranh với bọn phiến loạn (bọn Khmer rouge – Khmer đỏ).

Một bên ngay tại nước Mỹ ông Tổng thống Mỹ lo có tiền để cứu trợ khẩn cấp, một bên tòa đại sứ Mỹ tại Cambodia lại lo tính chuyện di tản. Mà như thể hai cái lo đó chẳng dính dáng gì đến nhau cả? Tính tình người Mỹ cũng có cái lạ, họ làm tới cùng cho đến khi không còn chút hy vọng gì!

  • Cái lo của Cambodia cũng là cái lo của các cấp lãnh đạo miền Nam như Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Cái lo ấy ông Thiệu cũng đã tìm đủ mọi cách xoay sở. Ông Thiệu cũng đã gửi tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng sang Mỹ vận động, tìm nguồn tài trợ từ Ngân hàng Thế giới, từ Paris cựu thực dân ở Việt Nam, từ Nhật Bản.

Và từ vua dầu lửa Arabia bằng cách gửi đại sứ Vương Văn Bắc đi vay tiền các nước Ả Rập.

Và cái lo cuối cùng không biết làm thế nào, ông tính thế chấp 16 tấn vàng để có tiền mua vũ khí đạn dược! Ông cũng nghĩ xa gần đến việc khai thác dầu hỏa ở Vũng Tàu.

Nghĩ lại trong suốt 21 năm cầm cự với cộng sản, đây là thời gian gay go nhất cho chính thể Đệ II Cộng hòa. Gay go không phải tại người, tại kém trí, tại thiếu can đảm mà chỉ tại không có tiền mua súng đạn.

Nếu cứ theo phúc trinh của ông thượng nghĩ sĩ đảng cộng hòa Paul Norton “Pete” McCloskey, Jr. thì:

Theo Ngũ giác đài thì quân đội VNCH có số quân bằng 3 so với 1 của phía quân đội miền Bắc.

Trong tài khóa 1973-1975, ngay sau khi ký thỏa ước đình chiến Ba Lê, Sài Gòn nhận được 3,98 tỉ tiền viện trợ từ phía Mỹ. Hà Nội chỉ nhận được 1,48 từ phía Tầu cộng và Nga Xô cộng lại.

Xét về mặt hỏa lực, ‘firepower superiority ratio’, cũng kể từ sau Hiệp Định Ba Lê, là 7 so với 1 của phía bên kia. Đấy là chưa kể đến khả năng của không quân Việt Nam.

Vậy thì xem bảng so sánh trên, chả có lý do gì Việt Nam lại thua cuộc. Ông nghị đảng Cộng hòa Mỹ đưa ra những lý do tinh thần xem ra chẳng thuyết phục được ai cả.

Đó là vì cộng quân dù thua vì ‘outgunned’, ‘outnumbered” nhưng lại hơn về aggressiveness, will và sense of purpose.

Riêng người Việt chúng ta ngày hôm nay cũng nên suy xét về điều này để hiểu rõ ta và địch.

Chúng ta đi giầy để đánh cộng sản. Họ đi chân đất. Rồi có lúc thằng đi chân đất chạy nhanh hơn thằng đi giầy.

Xem ra tiền không giải quyết được mọi chuyện, nhất là chuyện chiến tranh! Chuyện chiến tranh đôi khi không hẳn là chuyện võ khí mà cần thêm yếu tố con người nữa.

Ngày 5/3/1975. Tin AP Tinh Hình Cambodia trở nên nguy kịch

Theo tin Thông Tấn Xã AP, tình hình chính trị bên Cambodia càng bất ổn và ít hy vọng. Để trả lời cho niềm hy vọng của tuyệt vọng của ông đại sứ Mỹ, bọn phiến loạn tiếp tục pháo kích liên tục vào phi trường và thủ đô Phom Penh.

Trong khi đó, theo John Burns, đặc phái viên của tờ The Journal tại Bắc Kinh, Ieng Sary, một nhân vật cộng sản cao cấp làm trung gian giữa Khmer đỏ và thái tử Sihanouk từng bảo đảm rằng trừ một thiểu sổ nhóm người lãnh đạo của Thống chế Lon Nol, tất cả những người còn lại đều được đối xử một cách nhân đạo.

Vì thế, thái tử Sihanouk nói:

Khmer đỏ long trọng tuyên bố với toàn thể thế giới rằng họ sẽ không có cảnh tắm máu khi họ vào Phnom Penh, trừ khi bọn chống cộng có sự kháng cự bằng vũ khí. Còn lại, Khmer đỏ sẵn sàng tha thứ cho mọi người, trừ 7 người.

(The Khmer rouge have declared very solemnly before the whole world that they will not make any blood-bath when they enter Phnom Penh unless the anti-communist there resist with weapon. Otherwise, The Khmer rouge are ready to pardon everybody, except seven people.)”

Tin cuối cùng, cũng theo hãng AP, Tổng thống Lon Nol đã yêu cầu Thủ tướng Long Boret giải tán chính phủ. Trung tướng Sosthène Fernandez, Tham mưu trưởng quân đội Cambodia trước tình hình vô phương cứu vãn đã xin từ nhiệm. Nhiều nguồn tin cho hay là chính người Mỹ yêu cầu ông Lon Nol làm điều này.

Sau đó Thủ tướng Long Boret đã tuyên bố là chính phủ của ông đã không thể nào điều hành được nữa. Nhiều vị tỉnh trưởng đã thay đổi người mà không có sự đồng ý của Thủ tướng. Nhiều lính Cambodia đã đà ngũ. Và sau khi ông Long Boret xin từ chức thì Tổng thống Lon Nol tức khắc lại chỉ định ông Long Boret lập chính phủ mới.

Diễn tiến câu chuyện của nước láng giềng

Thủ tướng Long Boret bị Khmer Đỏ bắt và xử tử hình ngày 17 tháng Tư, 1975. Nguồn: executedtoday.com

Diễn tiến câu chuyện của nước láng giềng Cambodia xem ra sẽ xảy ra tại Việt Nam không mấy khác chăng?

Hồi chuông báo tử của Cambodia cũng là hồi chuông báo tử cho Việt Nam không bao lâu sau? Lời hứa xạo của bọn Khmer đỏ có khác chi lời hứa của cộng sản Bắc Việt sau này.

Phần tôi, tôi không dám nghĩ tiếp. Tôi vẫn tin tưởng, Việt Nam không phải Cambodia. Bên Cambodia, chính phủ bắt lính ngay cả những trẻ em 13, 14 tuổi. Tình trạng ấy đã không xảy ra như thế ở Việt Nam. Các sĩ quan quân đội VNCH đều được huấn luyện kỹ càng và bài bản.

Từ trước đến nay, binh sĩ VNCH luôn có mấy khi thua! Được thì nhiều, thua thì ít. Tỉ lệ tử vong là một đổi ba, có khi lên đến một đổi năm và đến một đổi mười. Luôn gặt hái được những chiến thắng trong nhiều trận đánh. Các sĩ quan về thành phố nghỉ phép trong thái độ hiên ngang, nhiều khi đến ngang tàng!

Cái oai hùng như thế, cả một thời cuốn hút theo nhiều thế hệ thanh niên.

Cá nhân người viết, nhiều khi đi với bạn bè sĩ quan không khỏi hãnh diện. Họ làm nên giới trẻ một thời.

  • Ngày 10-3, 1975 | Nay thì đến lượt Việt Nam

Cuộc tấn công chiếm Trại Mai Hắc Đế ở thị xã Buôn Ma Thuột trong chiến dịch Tây Nguyên, tháng Ba năm 1975. Một ảnh từ Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam.

Hôm nay ngày 10 tháng ba, 1975, một ngày đáng ghi nhớ, một ngày mở đầu cho những nỗi bất hạnh đổ xụp xuống miền Nam.

Cộng sản Bắc Việt với xe tăng và đại pháo đã tấn công Ban Mê Thuột, một tỉnh ở Cao Nguyên Trung Phần. Cộng sản đã rót 10.000 đại pháo vào quận lỵ Đức Lập cách Ban Mê Thuột 30 dặm về phía Bắc và các căn cứ quân sự của tỉnh.

Bản tin của AP chỉ cho biết vắn tắt như thế và cho biết thêm có 8 vị truyền giáo người Mỹ còn bị kẹt ở lại. Và số phận họ được bảo đảm an toàn.

Nghĩ bụng 8 vị truyền giáo dù mạng sống họ cũng quan trọng, nhưng so với số phận con dân miền Nam thì có nghĩa gì?

Nếu ti’nh từ khi ký hiệp định Ba Lê thì Đức Lập được kể là quận lỵ thứ 13 bị rơi vào tay cộng sản.

  • Viện trợ và chiến tranh

Chiến tranh thì có gì liên quan đến viện trợ? Vậy mà nay chúng ta mới hiểu một cách chua chát là Viện trợ và Chiến tranh đi đôi với nhau như nước với lửa. Bản tin này cho phép nổi lên trong tôi một thắc mắc, giả dụ không có tiền thì không đánh nhau chăng? Và nếu bớt tiền thì bớt đánh? Bớt nữa thì cho bớt luôn chăng? Có nghĩa là quăng súng, không đánh nữa, muốn ra sao thì ra chăng?

Có cái giá nào cho biết là bao nhiêu thì tiếp tục đánh? Giả dụ nếu không có giá thì ta có thể liệu cơm gắm mắm được chăng? Cha ông ta đã đánh giặc như thế nào? Có bao nhiêu ta đánh bấy nhiêu chăng?

Kèm theo tin này, hãng tin AP cũng cho biết viện trợ Mỹ cho ngoại quốc kể từ khi thế chiến hai chấm dứt đến nay là 164 tỉ đô la! Trong khi đó, CIA phúc trình cho James R. Schlesinger là nếu không có quân viện lập từc thì quân đội VNCH chỉ có thể cầm cự trong vòng một tháng nữa. Tổng thống Ford trong buổi họp Hội Đồng An ninh Quốc Gia yêu cầu Quốc Hội Hoa Kỳ chuẩn chi 722 triệu đô la, số tiền cần thiết để duy trì cuộc chiến này.

VNCH đang đứng trên bờ vực thẳm về sự thất bại quân sự.

Nhưng ai cũng có thể khẳng định là quân đội miền Nam đang chiến đấu một cách kiên cường với những gì họ có được. Số tiền 722 triệu là để cung cấp 744 đại bác, 466 xe tăng và thiết giáp, 100 ngàn súng cá nhân và 5 ngàn súng đại liên, 11 ngàn súng phóng lựu M. 79, 12 ngàn xe chuyên chở và 120 ngàn tấn bom, đạn đủ loại.

Con số vũ khí viện trợ coi như là lớn lắm! Nhưng nghĩ cho cùng, tiềm năng quân sự của nước Mỹ có thể làm nhiều hơn thế nữa. Người ta còn nhớ khi Mỹ quyết định tham dự thế chiến thư hai, Mỹ lúc đó chỉ có 1800 máy bay. Roosevelt đã quyết định đưa con số ít ỏi 1200 thành 50.000 máy bay một năm. Khi nói Mỹ ở đây là nói tới hai nhân tố, ông Tổng thống Mỹ và Quốc Hội Mỹ.

Việc từ chối viện trợ cho Việt Nam không phải từ ông Tổng thống mà đến từ phía Quốc Hội với những người như bà dân biểu Bella Abzug.

  • Phái đoàn Thượng nghị sĩ có bà Abzug sang Việt Nam

Từ trái, Bella Abzug, Gloria Steinem, và Mike Nichols trong một cuộc diến hành ở Manhattan, May 10, 1975.

Bà có tên đầy đủ là Bella Abzug là dân biểu đại diện cho bang Manhattan cùng với Paul Norton “Pete” McCloskey, Jr. Bà và ông “Pete” đều có tiếng là chống chiến tranh Việt Nam. Sự có mặt của bà ở Việt Nam lúc này là một điều bất lợi cho Việt Nam. Chúng ta vẫn muốn chiến đấu. Bà nói không.

Tiếng nói không của bà và đồng viện trị giá 722 triệu đô la.

Chúng ta bắt đầu thua từ tòa nhà Quốc Hội Mỹ. Nói thế cũng không sai đâu.

Bà sang Việt Nam chẳng đem lại một tin tưởng gì cho ông Thiệu và chính phủ Nam Việt Nam. Sau đó bà và phái đoàn Thượng Viện Hoa Kỳ vào trại Davis gặp phái đoàn cộng sản, bàn về số tù binh Mỹ còn bị Bắc Việt giam giữ, 1.300 người. Phái đoàn cộng sản đã triệu tập 76 nhà báo do họ mời đến. Con số áp đảo với phía nhà báo Mỹ. Buổi họp giữa hai bên lạnh nhạt và đã hẳn chẳng thu được kết quả gì.

Cũng theo nguồn tin của UPI, ông thượng nghị sĩ Hubert Horatio Humphrey Jr. cho hay rằng viện trợ Mỹ chi ra như thế, nhưng Mỹ cũng đã bán ra một số vũ khí cho 69 quốc gia trên thế giới. Số tiền lên đến 8 tỉ, 300 triệu đô la trong tài khóa năm nay.

Bà Abzug về hôm trước hôm sau thì cộng quân tấn công Ban Mê Thuột

  • Bài diễn văn của Tổng thống Mỹ với những mỹ từ trống rỗng

Theo nguồn tin cũng của AP, Tổng thống Ford sẽ đọc một bài diễn văn ở Đại Học Notre Dame – một đại học mà người ta ghi nhận số sinh viên ngoại quốc gồm hơn 60 quốc tịch khác nhau theo học ở đây – trong đó ông tin tưởng và thúc dục dân chúng Mỹ là nước Mỹ vẫn có khả năng giải quyết những vấn đề nội bộ của nước Mỹ mà không cần quay lưng với thế giới bên ngoài.

Bài diễn văn là nhắn gửi đến Việt Nam hay muốn trấn an và thoa dịu những đồng minh của Mỹ trên thế giới?

Ford khẳng định chắc chắn là vẫn có thể viện trợ quân sự cho Cambodia và Việt Nam.

Bài diễn văn này được đọc với những mỹ từ văn hoa, cao đẹp nhất của một Tổng thống Mỹ dành cho các dân tộc trên thế giới!

Ngày 16- 3, 1975. Another Dunkirk?(1)

Đó là nhan đề một bài báo của ký giả bình luận gia James M. Markham của tờ New York Times. Bài báo ví von một cách ác độc coi như hình ảnh thảm khốc của trận rút quân ở Dunkirt. Làm sao một quân đội hùng mạnh như thế, đã từng chiến thắng trong nhiều trận, đã từng chiến đấu dũng cảm trong 21 năm rút cuộc lại có thể thua trong vài tuần lễ.

Đó là câu hỏi mà nhiều người đã đặt ra và tìm câu trả lời. Làm sao lại có thể rút lui và thua một cách dễ dàng như vậy? Ai trách nhiệm sự thua trận và rút lui này?

Nếu nói xa một chút thì nay Hoa Kỳ, hay nói trắng ra là Kissinger đang dồn mọi nỗ lực cho Trung Đông. Kissinger đã cam đoan là sẽ giải quyết được xung đột giữa Israel-Ả Rập.

 Và những số tiền rút ra từ viện trợ cho Việt Nam thì nay viện trợ cho Do Thái. Một tỷ rưỡi đô la đã được rót thêm cho Do Thái với số dân chưa tới 6 triệu người?

Người ta cho rằng, ‘There is the possibility that Kissinger might make a new Middle- East peace bid before the mandate – of the Un peacekeeping forces expires on april 25 in the Sinai and at the end of may on the Golan Heights.’

Chọn lựa ưu tiên giữa chiến tranh Việt Nam và cuộc xung đột Trung Đông, Mỹ Kissinger rõ ràng nghiêng về phía một giải pháp cho hòa bình ở Trung Đông.

Phải chăng Kissinger là người bán đứng Việt Nam cho cộng sản Bắc Việt trong tháng Tư sắp tới?

  • Tổng thống Thiệu và trách nhiệm rút quân khỏi Tây Nguyên

Tăng T-54 của Cộng quân tiến vào Ban Mê Thuột. Nguồn: wikiwand.com

Sau khi cộng quân tấn công vào Ban Mê Thuột, người ta nói rằng Tổng thống Thiệu đã có dự định trong đầu về một cuộc tái phối trí. Nay Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đứng trước hai chọn lựa không dễ chọn.

Một, Tổng thống Thiệu muốn duy trì bằng mọi giá, dù là đắt giá (risky move), phải tái chiếm lại Ban Mê Thuột. Nhưng cho đến chiều thứ sáu thì quyết định này xem như bị loại bỏ.

Hai, quyết định rút lui khỏi các vùng Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột, Darlac – một quyết định không kém can đảm – và trong cuộc rút lui này, mang theo vũ khí được chừng nào hay chừng nấy.(2)

Cuộc rút quân khỏi Pleiku ngày 16 tháng này, chỉ sau cuộc tấn công của cộng quân vào Ban Mê Thuột một tuần đã để lại nhiều câu hỏi và nhiều nghi vấn?

Có người cho đây là màn tháu cáy người Mỹ của ông Thiệu.

Tôi không tin như vậy. Không thể mang sự sống chết của binh lính để tháu cáy chính trị. Ông Thiệu vốn là một quân nhân không thể nghĩ hạn hẹp như vậy được.

Có thể ông nghĩ là không có viện trợ thì không thể tiếp tục chiến tranh. Các vị chỉ huy VNCH đã chọn con đường số 7B, một con đường đã bỏ hoang từ sau thời Pháp nên nhiều chỗ như cầu cống, đường xá cần có công binh đi trước để dọn đường, làm cầu. Thế rồi công binh, pháo binh, thiết vận xa, hàng ngàn xe camion chở binh lính, súng ống đạn dược, các lực lượng đặc biệt quân đội các binh chủng, gia đình các quân nhân này và cả dân chúng nữa ước định khoảng 100.000 đến 200.000 người chen lấn nhau mà đi.

Tưởng Ngô Quang Trưởng có viết bài Tại sao tôi bỏ quân đoàn I. Ông cho đó là trách nhiệm của riêng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Tướng Phú muốn tạo sự bất ngờ cho cộng sản, nhưng đó là một tính toán sai lầm; vì dân chúng được tin quân đội rút quân đã vội vã chạy ùa theo. Tình cảnh này làm cho cuộc rút quân thêm chậm trễ và khó khăn.

Yếu tố bất ngờ không còn nữa.

  • Bình luận của nhà báo Drew Middleton, “President Thieu. Is he fit to lead?”

Trong một bài bình luận của Drew Middleton, bình luận gia của tờ N.Y. Times cho rằng, mặc dầu tinh thần binh sĩ có xuống. Nhưng chỉ trong vòng ba ngày tấn công Ban Mê Thuột, các phóng viên nhận thấy mặc dầu có sự tấn công vũ bão của cộng quân, nhưng người ta không thấy một sự đáp trả đúng mức của các đơn vị quân đội trong khu vực.

Không có dấu hiệu có sự chống cự và chỉ cho thấy sự rút lui một cách hoảng loạn. Các sĩ quan chỉ huy đã bỏ trốn và binh đội còn sót lại thì đầu hàng.

Chắc hẳn việc Ban Mê Thuột mất vào tay cộng sản chỉ sau một ngày giao tranh của binh sĩ VNCH tại Ban Mê Thuột ảnh hưởng tới những quyết định của ông Thiệu một cách sâu xa. Gần như thể, ông ta bị cô lập bởi các phụ tá và cố vấn. Và rồi ông đã tự mình đưa ra những quyết định mà không tham khảo với ai cả (Cho dù có tham khảo tướng Cao Văn Viên và hai tướng thuộc vùng I, vùng II, nhưng ông là người quyết định một mình) và cũng không đưa ra một lời giải thích cũng không đề xướng ra một cuộc rút quân có chuẩn bị kỹ càng.

Người ta tự hỏi ông Thiệu có còn thích hợp để lãnh đạo nữa hay không? Đó là nhan đề bài báo President Thieu, Is he fit to lead?

Trong một buổi họp ở Nha Trang gồm có Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ tướng Khiêm, tướng Cao Văn Viên, các tướng Tư lệnh vùng như Ngô Quang Trưởng, vùng I, Nguyễn Văn Phú, vùng II. Sau khi nghe tướng Phú thuyết trình về tình trạng Ban Mê Thuột và xin thêm quân. Cả ông Thiệu và ông Khiêm từ chối tăng viện binh vì không có người.(3)

Theo tướng Cao Văn Viên sau này tiết lộ thì đã có đến ba đề nghị rút quân nếu không có viện trợ.(4)

Một thắc mắc nữa không kém quan trọng là ông Nguyễn Văn Thiệu có hỏi ý kiến người Mỹ khi rút quân ra khỏi Tây Nguyên không?

Theo Frank Snepp, ký giả chuyên viên phân tích của CIA ở Saigon, sau này cho biết thì ông Thiệu đã tự ý quyết định một mình mà không hỏi ý kiến người Mỹ.

Cũng theo Frank Snepp cho thấy là tinh thần binh sĩ quân đội miền Nam sa sút trầm trong. (Morale in the army was on the verge of collapse).(5)

Việc rút quân như thế cho thấy một thái độ tuyệt vọng của ông Thiệu vào thiện chí của người Mỹ.

Một thái độ tự tử chính trị của một người lãnh đạo quốc gia miền Nam.

Ngay đại sứ Graham Martin cũng ngạc nhiên về quyết định của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Trong bài viết của ông, The attack on Ban Me Thuot and Thieu’s decision to withdraw from the central highland came as a complete surprise to me. […] I don’t know who convinced him of this. But throughout all of this he didn’t tell us any thing.(6)

  • Sense of doom engulfs Saigon

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, tháng 4, 1975. Nguồn: © Bettmann/CORBIS

Chính việc Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho rút quân đoàn I và đã tạo cái cảnh tượng mà trong một bài viết nhan đề Sense of doom engulfs Saigon, trong đó phóng viên tờ N.Y. Times News Services mô tả tình trạng: The army is mad with fear and panic. It’s all collapsing before our eyes’. ( Quân đội rơi vào tình trạn điên loạn sợ hãi và sụp đổ trước mắt chúng tôi.)

Binh sĩ có làm loạn vì hoảng sợ thì đó không phải là lỗi của họ. Lỗi là cấp chỉ huy, các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp đã không làm tròn trách nhiệm của mình. Mỗi một sĩ quan cao cấp trong ngày 30 tháng Tư phải tự hỏi mình về trách nhiệm trước binh lính, quân đội.

Câu hỏi quan trọng nhất vẫn là tìm hiểu xem Tổng thống Thiệu ra lệnh rút quân mà không tham khảo với người Mỹ!

Theo Frank Snepp tiết lộ, tình báo Mỹ không biết tin về cuộc triệt thoái này. Ngay cả Đại sứ Martin là người có đủ thẩm quyền để được tham khảo về quyết định quan trọng này cũng không hề biết.

Việc rút quân này xem ra có những khuyến điểm sau đây:

  • Việc rút quân quá vội vã thiếu chuẩn bị. Nếu cần cho công binh đi trước vài ngay san sửa đường, đặt cầu.
  • Thứ hai, không có kế hoạch để di tản gia đình binh sĩ đi theo. Đến khi họ biết thì dân chúng hốt hoảng chạy theo binh lính, gây trở ngại và làm chậm trễ cuộc rút quân. Tại Phủ Lý, Nam Định, khi người Pháp tính rút quân. Họ đã chuẩn bị cho gia đình các quân nhân đi trước bằng xe camion, sau đó mới đến lượt các quân nhân đi theo. Cuộc rút quân êm thắm vào lúc gần sáng và không bị Việt Minh tấn công, cản đường. Đây đúng là lỗi lầm của tướng Nguyễn Văn Phú.
  • Ngày 17 tháng ba, 1975. Những giây phút cuối cùng của sự có mặt của người Mỹ ở Phnom Penh

Theo tin AP, ngày 17 tháng ba, tòa đại sứ Mỹ tại Phnom Penh đã cho nhân viên đốt tất cả các tài liệu và chuẩn bị đưa những người Mỹ cuối cùng ra khỏi Cambodia. Và mặc dầu bị pháo kích vào phi trường bằng nhiều quả pháo kích.

Theo nguồn tin của UPI trong một nhan đề bài báo: Airlift resumes to Phnom Penh, foreigners flee cũng viết lại tương tự như hãng AP.

  • Ngày 20 tháng ba, 1975: South Viet Nam continues to Shrink

Hôm nay là ngày 20 tháng 3, năm 1975, nguồn tin của hãng thông tấn AP với tựa đề S. Vietnam continues to Shrink cho thấy tình trạng miền Nam càng thêm bi quan và có nguy cơ sụp đổ. Ngoài các tỉnh cao nguyên Trung phần đến lượt Huế Quảng Trị, nay có thêm tỉnh Bình Long, chỉ cách phía Bắc, Sài gòn có 60 dặm. Cạnh đó, Phước Long đã bị tràn ngập bởi cộng sản từ hồi tháng giêng. 17.000 dậm vuông đã rơi vào tay cộng sản với số dân là 1.700.000 dân, một phần 10 dân số miền Nam.

Sai Gòn nay phải nuôi thêm số dân cả nửa triệu người từ các nơi kéo về. Thực phẩm khan hiếm kéo vật giá leo thang. Và nhiều nhà đã bắt đầu lo tích trữ gạo, cá khô. Những người có thân nhân hoặc có tiền thì cũng tạm ổn. Còn những người không có thân nhân ở Sài Gòn thì chắc phải tạm trú ở những nơi công cộng.

Gia đình chúng tôi cũng có thêm anh em chạy từ Nhatrang về. Một số bạn bè từ Huế, Nha Trang, Phan Thiết, Quy Nhơn, lâu lắm không có dịp gặp nhau, nay có dịp họp mặt đông đủ.

Nhưng tôi còn nhớ rõ cái cảm giác lúc bấy giờ. Lo thì có lo nhưng vẫn có lý do chủ quan là Sài Gòn không thể nào mất được. Quân đội VNCH còn mạnh lắm.

Cái niềm tin tưởng biến thành cái mà Lewis gọi là thần thoại. Đó là điều mà ký giả Anthony Lewis đã viết một bài nhan đề Myth and Reality.

Mấy học trò cũ ở Nha Trang về vẫn rủ nhau đi ciné, vẫn đi ăn nhậu với mấy người bạn từ xa về.

Mất ở đâu thì mất, Sài Gòn không mất được!

Tôi vẫn ngây ngô tin tưởng rằng không bao giờ Mỹ bỏ rơi Việt Nam. Tin tưởng vào những lời tuyên bố trấn an của Tổng thống Ford như thuốc an thần, tin tưởng vào phái đoàn quân sự do tướng Frederick Carlton Weyand với những lời trấn an, tin tưởng vào những tin tức thế giới như, U.S. Aid decision soon. những trận đánh oai húng trong quá khứ như trận Quảng Trị 1972, Tết Mậu Thân 1968.

Mỹ đã bỏ ra 150 tỉ đô la và 50.000 xác người Mỹ tử trận ở đây lại không thể có một cố gắng cuối cùng sao?

  • Thiệu trước công chúng Sài gòn

Nếu có một cuộc thăm dò dư luận về ông Thiệu. Chắc ông chỉ nhận được một lá phiếu ủng hộ ông thì đó là lá phiếu của bà Thiệu.

Kể từ sau quyết định triệt thoái khỏi Tây Nguyên. Dân chúng oán ghét ông không ít.

Sợ bị ám toán, với bản tính đa nghi, ông phải đổi chỗ ở luôn.

Trong buổi nói chuyện với dân chúng Sài gòn vỏn vẹn trong vòng 5 phút, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho rằng lực lượng quân số của Bắc Việt đông gấp 4 lần quân số của VNCH. Hà Nội đã gửi vào Nam 5 binh đoàn trong số 8 binh đoàn trừ bị.

Sau 5 phút vắn vỏi nói với dân chúng, ông Thiệu vội vàng rời dinh độc lập chui vào chiếc xe Limousine chống đạn (bullet proof limousine) xe hướng về một chỗ ẩn náu riêng, kín đáo của ông gần Hotel Majestic.

Tại nơi đây, ông lo ngại về việc ông Kỳ có thể nổi loạn chống lại ông. Bởi vì sáng nay, Kỳ đã công khai yêu cầu ông Thiệu phải từ chức. Sau đó cảnh sát đã bắt vài người trong nhóm của ông Kỳ cùng với ba nhà báo. Nhưng những thành phần thân cận nhất của ông Kỳ thì vẫn không bị đụng tới.

Xem ra việc bắt bớ này chỉ là một đòn cảnh cáo.

Phải nhìn nhận là miền Nam sắp bị chìm, nhưng các vị lãnh đạo xem ra chỉ lo cho bản thân mình.

  • Sài Gòn có nguy cơ rối loạn như Đà Nẵng

Để bảo đảm trật tự an ninh cho thành phố Sài Gòn, lệnh giới nghiêm là từ 10 giờ đêm thay vì 12 giờ đêm, vì ’because of the present emergency situation and security requirements’. Tin của AP đã loan báo như thế.

Nguồn tin của UPI cho hay, tòa đại sứ Anh tại xứ ‘Chùa Tháp’ đã đóng cửa và quyết định di chuyển toàn bộ nhân viên sứ quan về Sài Gòn.

Quyết định này chẳng biết là một quyết định khôn ngoan hay có tính giai đoạn?

UPI với tựa đề một bản tin ngày 20-3: Lon Nol won’t quit. Mặc dầu có nhiều áp lực đòi ông từ chức để may ra tình trạng có thể khá hơn không? Nhưng nguồn tin trên cho hay Lon Nol nhất định ngồi lại để đối phó với tình hình.

Mặc dầu nói mạnh miệng như vậy, nguồn tin ngoại giao cho hay, ông Lon Nol sẽ chuẩn bị rời Cambodia trong thời gian không bao lâu nữa.

Việc ra đi của ông coi như dấu hiệu sự đầu hàng cộng sản giống hệt trường hợp TT. Nguyễn Văn Thiệu.

Thật vậy, 85 phần trăm lãnh thổ Cambodia nay ở dưới quyền kiểm soát của quân phiến loạn cộng sản.

Với tình hình không mấy sáng sủa gì, bị bao vây bởi cộng sản, Phnom Penh phải đầu hàng. Chỉ còn con đường dẫn sang Saigòn, dọc sông Mé Kông là tương đối còn an toàn.

Nhiểu người việt sinh sống tại Cambodia cũng đã tìm cách chạy trốn về Sài Gòn. Nhiều già đình Việt Nam làm ăn khá giả ở Cambodia nay tìm cách chạy sang Việt Nam. Một nơi mà cho đến lúc này được coi là còn an toàn.

Mẹ trẻ ôm con thơ trên chiếc trưc thăng chạy khỏi Tuy Hòa, 22 Thàng 3, 1975 Nguồn: AP Photo/ Nick Ut.

  • Indochina, Light goes out

Trong một bài bình luận tổng quát của UPI về tình hình miền Nam: Indochina: Light goes out . Phóng viên cho hay, nếu tính toàn Đông Dương thì nay 75% đất đai đã thuộc về cộng sản và ánh sáng đang đứng về phía họ. Nay thì 50 % các tỉnh miền Trung và Cao Nguyên đã rơi vào tay cộng sản. Người ta còn nhớ vào năm 1968, quân đội VNCH đả truy đuổi những tên cộng sản cuối cùng ra khỏi Huế. Pleiku cũng là nơi mà McNamara đã cho cộng quân biết thế nào là sức mạnh của vũ khí Mỹ. Quảng Trị ngày nào cũng là nơi chôn vùi không biết bao nhiêu bộ đội cộng sản, vào bao nhiêu chết bấy nhiêu.

Vậy mà nay tình trạng hầu như đã đổi khác, vai trò đã đổi.

  • Ngày 25, tháng ba. Huế thất thủ: Mass execution reported in Hue

Sáng ngày 25, chính quyền loan báo Huế thất thủ.

Quân đội Nam Việt lấp đầy mọi không gian có sẵn trên một con tàu di tản họ từ biển Thuận An, gần Huế, Đà Nẵng như Cộng quân tiến vào tháng Ba, 1975. (AP Photo / Cung)

Thuân An cách Huế chừng 10 dặm, kể từ chiều thứ hai, hàng ngàn người bằng đủ phương tiện đã tìm đến cửa Thuận An. Lính của quân đoàn một chạy cùng với gia đình nhốn nháo không biết thuộc đơn vị nào. Mạnh ai nấy chạy.

Phóng viên Peter Arnett nói đến một biển người ( an ocean of people) đang chờ đợi để được bốc đi khỏi Huế. Có một chiếc tầu đậu ngoài xa cách bờ biển khoảng 500 mét. Nhiều người đã cởi bỏ quần áo tìm cách bơi ra tàu.

Hàng ngàn xe cộ, súng ống đủ loại còn để lại chung quanh Huế, làm thế nào có thể chở di hết được? Chắc là sẽ bỏ lại hết để rơi vào tay cộng quân?

Hầu như có một sự bỏ rơi của cấp chính quyền và quân đội trong giờ phút này. Plei ku dã thế, nay Huế cũng vậy. Không thấy có một giới chức cao cấp nào có mặt để chỉ đạo các cuộc trốn chạy này.

Sau này, một số người chạy đến được bãi biển Đà Nẵng, cách Huế 50 dặm. Họ kêu gào, khóc lóc thảm thiết vì lạc mất người thân. Một số lính tráng bơi được ra tầu thủy thì nay không có quần áo, giầy bốt. Phần lớn không có súng.

Đến buổi chiều thứ hai thì có khoảng 3000 người tới Đà Nãng và người ta hy vọng đến đêm và sáng mai thì sẽ có thêm nhiều người hơn

Chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ sau khi tuyên bố Huế thất thủ, vậy mà cờ của Mặt trận giải phóng miền Nam được kéo lên.

Trước đây cờ này cũng đã được kéo lên một lần trong vòng hai tháng. 7 năm sau nó lại được kéo lên một lần nữa . Và lần này chắc không phải chỉ hai tháng!

Xa hơn nữa về phía Nam, Chu Lai và và Quảng Ngãi tự động bỏ ngỏ, rút lui.

Sau này, khi được tin Huế thất thủ, phía bên kia cho hay Văn Tiến Dũng đã không kìm giữ được xúc động. khóc và ông đã viết: Tôi đã đốt một điếu thuốc lá mà từ lâu tôi đã bỏ không hút.

Và Văn Tiến Dũng chắc còn phải khóc và hút thuốc nhiều lần nữa. Khóc đến không kịp khóc nữa.

Theo tin của thông tấn xã UPI khi Cộng quân chiếm thị xã Huế. Chúng đả xâm nhập một bót cảnh sát ở ngoại ô thành phố về phía Đông.

Theo lời một nhân chứng sau này vào được Saì gòn, ông cũng là một cảnh sát viên và đã chứng kiến 5 sĩ quan cảnh sát cùng một thiếu niên 18 tuổi bị chặn bắt trên bãi biển. Chúng bắt họ xếp hàng và sau đó đã hành quyết tửng người một như giết một con chó.

Những người dân Huế chắc không thể nào quên được cuộc thảm sát ở Huế. Nhưng mãi 18 tháng sau , vào mùa thu 1969, vụ thảm sát Huế mới nổ bùng ra và kết quả cho thấy không phải hàng ngàn mà hàng vài ngàn dân Huế đã bị thảm sát bởi cộng sản.

Huế đối với tôi vẫn là miền đất bất hạnh. Sinh ra ở đâu cũng được nhưng đừng sinh ra ở Huế.

  • Ngày 26 tháng 3, 1975 Disordely retreat..một cuộc rút quân hỗn loạn

Nay Đà Nẵng trở thành bị cô lập!!

Theo thông tấn xã AP thì đây là một cuộc rút quân hỗn loạn. (Disordely retreat)

Trong một cuộc tháo chạy hỗn loạn thì ai là người anh hùng, ai là kẻ hèn nhát. Thật khó để đưa ra một lời phê phán.

Trước cái chết gần kề, phản ứng của con người có thể là anh hùng và cũng có thể là ngược lại.Vì thế, có một bản tin khác cũng của AP do ký giả Peter O’Loughlin bình luận từ Tuy Hòa như sau:

Heroism, Cowardice, Bitter refugees.

Trước cái sống và cái chết. Ai cũng chọn cái sống còn. Ai cũng muốn chạy thoát thân. Đó phải chăng là trường hợp dành cho đại tá Lữ Đoàn trưởng, và trung tá Lữ đoàn phó Thủy quân lục chiến mà dưới quyền họ có khoảng 4000 thủy quân lục chiến, đã đào ngũ khi đối diện với quân địch? Tòa án quân sự nào sẽ xử tử hình theo quân luật? Đó là nỗi nhục nào chỉ riêng cho đại tá Lữ đoàn trưởng Thủy Quân lục chiến? Nếu biết rằng sống chết không tùy thuộc vào khả năng của mình thì sẽ phải hành xử như thế nào? Và người ta sẽ dựa vào đâu để sống? Sống hèn hay chết can đảm? Chỗ nào là tình người? Chỗ nào là tình chiến hữu?

Đã có nhiều người bất lực trước những chọn lựa khó khăn đó. Nhưng cũng đã có những người đã chọn lựa thành anh hùng và cũng đã có người chọn lựa sống hèn?

Hay là kết luận cuối cùng vẫn là những người tỵ nạn nếm mùi cay đắng!

Có thể khi rút quân, tướng lãnh miền Nam cũng lo sợ rơi vào tình trạng hỗn loạn mà kinh nghiệm về quân sử còn để lại cho họ. Nhưng không một ai muốn tiên đoán trước về một thảm họa như thế.

Ai anh hùng, ai hèn nhát? Nay không phải là lúc mở hồ sơ để kết tội?

  • Thiệu abandoned us

Có lẽ trong cuộc tháo chạy này, kẻ bị oán ghét nhiều nhất không ai khác là ông Nguyễn Văn Thiệu. Nhiều người đã ghét ông trong vai trò tổng thống. Kissinger là người lãnh đạo cao cấp của Mỹ cũng ghét cay, ghét đắng ông Thiệu. Nhưng có lẽ sự thù ghét này chỉ thực sự oán ngút trời đối với tất cả những ai rơi vào hoàn cảnh người dân chạy cộng sản từ lúc thoát chạy khỏi Tây Nguyên.

Theo ký giả Peter O’Loughlin hàng ngàn người tỵ nạn chạy trốn đã sống sót sau cuộc truy đuổi của cộng quân. Nhiều người trong số họ đã lớn tiếng chửi bới Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: Thieu abandoned us. Một người đàn bà đã nói như thế.

Và có thể nhiều người khác cũng nói như thế. Ông Thiệu, ông Khiêm đều là những ngưới quá khôn ngoan nên biết tham sống mà sợ chết.

Và có thể mọi người dân khốn khổ chạy trên truyến đường 7B hướng về phía Tuy Hòa đều có tâm trạng như người đàn bà này. Tâm trạng cảm thấy bị đem con bỏ chợ, giữa rừng núi, giữa các con đường mà đôi khi cấu cống chưa sửa chữa, rơi vào thế kẹt. Đi không được, lui cũng không được.

Và rồi các binh lính trên các xe thiết vận xa đã thiếu kiên nhẫn, tức tối cán bừa lên bất cứ trở ngại nào đang cản đường họ để tiến về phía trước. Xe cộ, xác người bị cán. Bất kể. Cán hết. Tiến về phía trước.

  • Disordely retreat

Trước khi Đà Nẵng thất thủ thì số dân nay phồng lên đến 2 triệu người. Dưới quyền tướng Trưởng nay chỉ còn 25 ngàn quân. Đà Nẵng có lợi thế hơn Huế vì có hải cảng và việc quân xem ra thuận lợi hơn nhiều. Và nhờ thế có thể giảm áp lực của số dân tỵ nạn khi cần rút lui. Nhưng trong việc rút quân này, cộng sản rút kinh nghiệm ở Huế cũng dùng áp lực dân chúng sợ hãi gây thêm gánh nặng cho chính quyền và quân đội Quốc Gia.

Thời gian nay là yếu tố quan trọng nhất của thành công hay thảm bại của cuộc lui quân. Đại tướng Smith đã gửi ra Đà Nẵng vào ngày 25 tháng ba 5 tàu kéo, 6 sà lan và ba tàu thủy. Phần Air America cho biết không có đủ phương tiện máy bay để ra Đà nẵng.

Con số tàu như thế khéo lắm chỉ đủ chuyên chở người Mỹ và nhân viên phụ cận là cùng. Số còn lại hàng nửa triệu người dân muốn được di tán là một bài toán không có đáp số.

Ngày 26 thì tướng Trưởng chỉ kịp cho vợ con cùng với vợ con lãnh sự Mỹ và Philip Custer  (bí danh của Trưởng cơ sở CIA ở Đà Nẵng), với Terry Tull được đi trên một chuyến bay đặc biệt của DAO.

Xem tiếp phần II, III

1) Tác giả gợi lại hình ảnh trận chiến rút lui của liên quân Anh và Pháp bị sa lầy ở bãi biển Dunquerque từ 21 tháng 5 đến 4 tháng sáu năm 1940.
(2) Xem báo Đi Tới, số 32, năm 2000, trang 12. Tướng Ngô Quang Trưởng sau này có tiết lộ trong bài Tại sao tôi bỏ quân đoàn 1. Ông cho biết ngay từ ngày 13 tháng ba, năm 1975, ông được lệnh Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gọi vào trình diện ở Sài Gòn và ra lệnh: ‘Phải rút khỏi Quân Đoàn I càng sớm càng tốt. Lệnh phải rút về Phú Yên, ngày 14-3 lấy Quốc lộ 22 làm ranh giới.’ Lệnh này chỉ có Tổng thống, Thủ tướng, Đại tướng Cao Văn Viên, tôi (Tư lệnh Quân Đoàn I và tư lệnh quân đoàn II, tướng Phạm Văn Phú biết mà thôi. Đến ngày 18-3, tướng Cao Văn Viên theo chỉ thị Tổng thống ra lệnh bỏ Huế.
(3) Tướng Lê Quang Lưỡng, tư lệnh sư đoàn Dù, trước 1975 trong một bài viết, Thiệu xé rách sư đoàn Dù làm gì? Trong đó tướng Lưởng nhận lệnh trực tiếp của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Đưa sư đoàn Dù về Sài gon. Trích báo Đi Tới, số 32, 2000.
(4) Cao Văn Viên, Những ngày cuối của VNCH, trang 130. Đề nghị của tướng Đồng Văn Khuyên, tổng cục tiếp vận đề nghị co cụm lại cho tương xứng với sự cắt giảm viện trợ. Đề nghị thứ hai của tướng John Murray một sơ đồ tương tự như của tướng Khuyên. Đề nghị thứ ba của tướng Ted Sarong, Úc Dại Lợi một kế hoạch tương tự.
(5) Frank Snepp, Decent Interval, trang, 149.
(6) Larry Engelmann, Tears before the rain, trang 53

Nguyễn Văn Lục


 

SUY NIỆM PHÚC ÂM CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Mc 10,35-45)

35  Hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến gần Đức Giê-su và nói: “Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây.” 36  Người hỏi: “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?” 37  Các ông thưa: “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.” 38  Đức Giê-su bảo: “Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” 39  Các ông đáp: “Thưa được.” Đức Giê-su bảo: “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. 40  Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được.”  41  Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an. 42 Đức Giê-su gọi các ông lại và nói: “Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. 43  Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm
lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; 44  ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. 45  Va` Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.”

BÀI 1: ANH EM KHÔNG NHƯ THẾ
Suy Niệm
Xem ra Nhóm Mười Hai, nhóm môn đệ nòng cốt, lại là những người có nhiều tham vọng về quyền lực. Sau khi Thầy Giêsu loan báo cuộc Khổ nạn lần thứ hai, họ đã tranh cãi xem ai là người lớn nhất (Mc 9,33-34).
Sau khi Thầy loan báo cuộc Khổ nạn lần thứ ba, họ lại bất hòa về chuyện ghế ngồi (Mc 10,35-41).
Thầy Giêsu không dạy học trong lớp, với phấn và bảng. Thầy dạy từ những chuyện xảy ra hàng ngày trong nhóm.
Từ những chuyện không vui, Thầy uốn nắn các môn đệ với một sự tinh tế lạ lùng và một sự kiên nhẫn đáng thán phục.
Giacôbê và Gioan là hai môn đệ được Thầy ưu ái. Cùng với Phêrô, họ làm nên một bộ ba đặc biệt. Chỉ họ có mặt khi Thầy hoàn sinh con ông Gia-ia, và khi Thầy biến hình trên núi (Mc 5,37; 9,2).
Sau này chỉ họ được theo sát Thầy ở Vườn Dầu (Mc 14,33).
Phải chăng vì thế mà họ muốn vận động để xin Thầy những chỗ ngồi cao hơn anh em? Có vẻ họ theo Thầy vì mong Thầy lên làm vua, để được Thầy chia sẻ vinh quang và quyền lực. Rõ ràng họ xa lạ với con đường hẹp mà Thầy sắp đi. Họ còn đứng ngoài, chưa vào được thế giới của Thầy. Tuy buồn, nhưng Thầy vẫn điềm đạm khi hỏi: “Các anh muốn Thầy làm cho các anh điều gì?”
Thầy vẫn tự chủ và bao dung khi trách mắng: “Các anh không biết các anh xin gì?”
Thầy không đáp lại ngay lời xin ngồi hai bên tả hữu, nhưng lại đưa ra một thách đố cho hai ông:
“Các anh có dám uống chung một chén với Thầy, và chịu chung một phép rửa với Thầy không?”
Chén ấy là chén đắng của khổ nhục và cái chết khiến Thầy hãi hùng xao xuyến (Mc 14,36).
Chén ấy là chén máu Thầy trên bàn Tiệc Ly, khi Thầy trao cho các môn đệ cùng uống (Mc 14,23-24).
Phép rửa là cuộc Khổ nạn Thầy sắp chịu. Thầy Giêsu mời hai ông cùng chịu phép rửa với Thầy, cùng Thầy được dìm mình xuống nước, nghĩa là cùng Thầy trải qua cái chết khổ đau. Hai môn đệ mơ chỗ cao khi Thầy làm vua ở trần gian.
Nhưng Thầy Giêsu chẳng bao giờ làm vua ở đời này. Vào ngày tận thế, Ngài sẽ ngự đến như một vị Vua ngự trên ngai vinh quang trong Nước Thiên Chúa. Lúc đó nhóm Mười Hai là những kẻ theo Ngài cũng sẽ ngự trên ngai do Chúa Cha chuẩn bị (Mt 19,28).
Thầy Giêsu chẳng những dạy Giacôbê và Gioan, Thầy còn dạy cho cả Nhóm Mười Hai cách lãnh đạo. Có cách lãnh đạo của các người làm lớn ngoài đời. Họ dùng uy, dùng quyền mà thống trị và cai quản dân. “Nhưng giữa anh em, thì không như vậy !”
Có một kiểu lãnh đạo khác trong cộng đoàn tín hữu, lãnh đạo kiểu phục vụ cho anh chị em.
Người làm lớn, làm đầu thì phải là đầy tớ cho mọi người. Như thế Thầy Giêsu đã cho ta thấy hình ảnh của Hội thánh mà chúng ta cần xây dựng. Nơi đây trẻ em được đón tiếp, phụ nữ được tôn trọng. Nơi đây không có tham vọng về quyền lực, chức tước,
vì biết rằng tất cả chỉ là phương tiện để phục vụ. Nơi đây có những mục tử tận tụy, và dám hiến mạng sống mình cho đàn chiên. Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh tính hiệp hành. Ngài mời mọi thành phần dân Chúa cùng nhau lắng nghe, đối thoại, cầu nguyện và phân định, can đảm để nói, khiêm tốn để nghe, vượt qua mọi thành kiến. Nhờ đó Hội Thánh có được sự hiệp nhất và niềm vui, lôi kéo được nhiều người đến gia nhập.

Cầu Nguyện
Lạy Thiên Chúa,
nơi con có biết bao ước mơ,
bao khát vọng mong chờ.
Có những ước mơ đã thành hiện thực.
Cũng có những ước mơ mãi chưa tròn.
Nhưng dù được toại nguyện hay không,
con vẫn luôn hy vọng nơi Chúa.
Con biết rằng Chúa chẳng bao giờ để con một mình,
và thế nào Chúa cũng vuông tròn những điều Chúa hứa.
Ngay cả khi mọi chuyện có vẻ không đi theo đường của con,
con tin chúng vẫn đi theo đường của Chúa,
và rốt cuộc đường của Chúa là đường tốt nhất cho con.
Lạy Chúa, xin củng cố niềm hy vọng nơi con,
nhất là khi những ước mơ của con không thành hiện thực.
Xin cho con đừng quên rằng
Tên của Chúa là Tình Yêu. Amen.
(Henry Nouwen)

BÀI 2: ĐẦY TỚ VÀ NÔ LỆ
Suy Niệm
Ghế tượng trưng cho địa vị, quyền lực và quyền lợi, nên ghế là nỗi ám ảnh của nhiều người. Ghế trưởng phòng, ghế giám đốc, ghế đại biểu… Tất cả nỗ lực dồn vào việc có một ghế, sau đó là giữ ghế, hay tìm cách lên ghế cao hơn. Ngay cả những người đã bỏ mọi sự để theo Chúa cũng bị ám ảnh bởi những chiếc ghế danh dự. Chính lúc Ðức Giêsu nói đến cái chết gần kề của mình, thì Gioan và Giacôbê lại xin được ngồi hai bên tả hữu. Có vẻ họ không bắt được tần số của Thầy!
Thanh tẩy mình khỏi tội lỗi không khó lắm. Nhưng thanh tẩy mình khỏi nhân đức và công trạng của mình thì khó hơn bội phần.
Hai môn đệ đã từ bỏ những điều rất cao quý, nhưng bây giờ lại muốn kiếm chút lợi lộc từ chính sự từ bỏ và phục vụ của mình.
Họ dám lên tiếng đòi hỏi Ðức Giêsu:
Chúng con muốn Thầy làm cho chúng con điều chúng con xin.;
Thái độ bực tức của mười môn đệ còn lại có thể bắt nguồn từ một sự ganh tỵ ngấm ngầm. Nhiều môn đệ cũng ước mơ hai ghế tả hữu.
Ðức Giêsu kéo hai ông ra khỏi tham vọng và đam mê để đưa họ trở về với thực tại gai góc sắp đến. Họ muốn được chung phần với Ngài trong vinh quang, nhưng liệu họ có dám thông phần với Ngài trong đau khổ? Uống chung chén đắng Thầy sắp uống,
chịu chung phép Rửa Thầy sắp chịu là chấp nhận bị dìm sâu xuống dòng nước khổ đau. Thật ra được ngồi hai bên tả hữu Thầy trong vinh quang đâu phải là phần thưởng để trả công cho người bền chí. Trung tín theo Chúa đến cùng đã là phần thưởng rồi.
Chúng ta không giữ đạo để đòi một chỗ thật cao, nhưng mong được ban một chỗ thật gần bên Chúa.
Người đứng đầu, người làm lớn, người có quyền thường dễ có thái độ thống tri, áp đặt, hống hách. Chức vụ và quyền lực trở thành phương tiện phục vụ bản thân. Ðó là lối lãnh đạo dễ thấy nơi người đời. Ðức Giêsu không chấp nhận chuyện đó nơi Hội Thánh:
“Nơi anh em thì không như vậy.”;
Ngài đề xướng một lối lãnh đạo mới. Ai muốn làm lớn, làm đầu trong Hội Thánh phải trở nên đầy tớ và nô lệ cho mọi người.
Ðức Giêsu mời chúng ta làm một cuộc cách mạng lớn, không phải chỉ là đổi ngôi, mà là đổi lòng. Tận diệt trong tim những tham vọng ăn trên ngồi trước. Ðức Giêsu không ủng hộ một xã hội hay Giáo Hội vô tổ chức, nhưng Ngài coi lãnh đạo là khiêm nhường phục vụ. Phục vụ là động từ tóm kết toàn bộ đời Ðức Giêsu. Ngài đến trần gian để phuc vụ, sống như người phục vụ,
và chết như dấu chứng lớn nhất của phục vụ trong yêu thương.

Gợi Ý Chia Sẻ
1. Ðức Giêsu chết để chuộc ta khỏi cảnh nô lệ. Ngài tự nguyện trở nên nô lệ để giải phóng ta. Theo bạn, con người hôm nay vẫn nô lệ cho những điều gì? Ðâu là những hình thức nô lệ mới của thế kỷ 21?
2. “Lãnh đạo là phục vụ”. Câu này khá quen thuộc với chúng ta. Bạn nghĩ sống khẩu hiệu này có khó không? Tại sao?

Cầu Nguyện
Lạy Thầy Giêsu,
Thầy không gọi chúng con là tôi tớ,
Thầy cũng không chỉ coi chúng con là môn đệ.
Thầy còn coi chúng con như bạn hữu của Thầy,
vì Thầy đã thổ lộ cho chúng con
những điều riêng tư thầm kín nhất
trong tương quan giữa Thầy với Cha.
Hơn nữa, sau phục sinh,
Thầy đã gọi các môn đệ là anh em.
Mặc nhiên Thầy tự nhận mình là Anh Trưởng
đứng đầu một đoàn em đông đúc.
Xin cho chúng con
luôn thi hành ý muốn của Cha
để trở nên những người em
cùng huyết nhục với Thầy.
Lạy Thầy Giêsu, Thầy đã nâng chúng con lên
làm môn đệ, làm bạn, làm anh em của Thầy.
Còn Thầy lại hạ mình xuống
phục vụ chúng con như người tôi tớ
rửa chân cho chúng con như một nô lệ
và chết thay cho chúng con trên thập giá.
Xin cho chúng con hiểu được tấm lòng của Thầy

và sống yêu thương mọi người như anh em. Amen.

From: sieu nguyen & Kim Bang Nguyen

 KHÔNG BIẾT MÌNH XIN GÌ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các anh không biết các anh xin gì!”.

Ở những đất nước mà “trí tuệ” đứng sau “hậu duệ” và “tiền tệ”, thì “quan hệ” đóng một vai trò quan trọng đối với người chạy chức, chạy quyền và chạy việc! Ở Tàu, người ta nói đến “guanxi”; đọc trại một chút ra tiếng Việt, “quan hệ”, đúng với ngữ nghĩa của nó!

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay bất ngờ tiết lộ việc hai môn đệ thân tín tận dụng “guanxi” để cầu cạnh Thầy mình – Giacôbê và Gioan; và bất ngờ hơn, câu trả lời của Chúa Giêsu, “Các anh không biết các anh xin gì!”. ‘Không biết mình xin gì’, chúng ta cùng suy nghĩ!

Đến với Chúa Giêsu, Giacôbê và Gioan mạnh dạn, “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang!”. Sở dĩ, họ táo bạo đến thế, vì đã nghe Ngài nói về sự đau khổ, cái chết và sự sống mới của Ngài; và ít nhiều, họ công nhận Ngài là Messia, Vua Israel; và thi thoảng, nghe Ngài nói đến Vương Quốc. Tuy nhiên, thỉnh cầu của họ cho thấy họ không hiểu gì về bối cảnh ‘lên Giêrusalem’. Chúa Giêsu không dễ mắc lừa. Ngài nói, “Các anh không biết các anh xin gì!”. Đoạn Ngài trả lời cho họ bằng một câu hỏi khác, “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?”. Họ lấp lửng, “Thưa được!”.

Giacôbê và Gioan không hề hiểu chiến thuật mà Vua Giêsu của họ sẽ toàn thắng. Ngài sẽ trút bỏ bản thân đến cấp độ thấp nhất của loài người; và chỉ sau đó, mới tiến vào Vương Quốc. Thiên Chúa sẽ để cho Tôi Tớ Đau Khổ của Ngài bị nghiền nát tột cùng hầu “thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn” – bài đọc một. Đó là con đường Giacôbê và Gioan sẽ đi, chén đắng họ sẽ uống, phép rửa họ sẽ chịu. Họ sẽ chìm đắm trong sự tự hiến hoàn toàn của Thầy. Và lạ lùng thay, đó là những gì họ đã làm! Giacôbê sẽ là vị tử đạo sớm nhất của Giáo Hội; họ sẽ đồng hiển trị vinh quang với Thầy, nhưng sẽ cùng Thầy đi trên con đường thập giá chứ không bằng bất kỳ ‘guanxi’ hay ‘cửa sau’ nào!

Tin Mừng cho biết, nghe vậy, mười môn đệ kia tỏ ra tức giận với hai anh em. Thái độ của họ lại tiết lộ sự hiểu biết của họ về Thầy mình cũng không tốt hơn chút nào! Tập hợp họ, Chúa Giêsu chỉ cho họ con đường dẫn đến vĩ đại: đường phục vụ, cúi xuống, đường thập giá. Nó không bao gồm việc ngồi trên ngai. Sự vĩ đại không là những gì tôi có hay tôi nhận được, nhưng là tất cả những gì tôi có thể cho đi! Thư Do Thái thật thâm trầm, “Chúng ta có một Thượng Tế cao cả – bài đọc hai. Ngài cao cả khi trở nên tư tế trần truồng treo lủng lẳng trên thập giá, lúc đám đông bên dưới chế nhạo và nộp rủa!

Anh Chị em,

Trong “Một Điều Gì Đó Thật Đẹp Cho Thiên Chúa”, “Something Beautiful for God”, Muggeridge viết về Mẹ Têrêxa, “Sự vĩ đại của mẹ không nằm ở danh tiếng hay thậm chí danh thơm về sự thánh thiện của mẹ; mà là ở tinh thần phục vụ đối với những ai bị bỏ rơi và túng thiếu nhất!”. Đừng trở thành những người ‘không biết mình xin gì!’. Bạn và tôi hãy xin cho mình bớt vô tâm, biết đặt mình vào hoàn cảnh người nghèo, hầu xoa dịu và chữa lành ngần nào có thể bao vết thương của những ai dễ bị tổn thương nhất!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con chạy theo áo mão, chức quyền mà đánh mất chính mình. Cho con giống Chúa qua đường thập giá, phục vụ; dám uống chén Chúa trao mỗi ngày”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

*********************************************

Chúa Nhật Tuần XXIX – Mùa Thường Niên

Bài trích thư gửi tín hữu Híp-ri.

14 Thưa anh em, chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giê-su, Con Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin. 15 Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. 16 Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

35 Khi ấy, hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến gần Đức Giê-su và nói: “Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây.” 36 Người hỏi: “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?” 37 Các ông thưa: “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.” 38 Đức Giê-su bảo: “Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” 39 Các ông đáp: “Thưa được.” Đức Giê-su bảo: “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. 40 Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được.”

41 Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an. 42 Đức Giê-su gọi các ông lại và nói: “Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. 43 Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; 44 ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. 45 Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.”


 

AI DẠY AI.-Truyen ngan HAY

Mới 42 tuổi, hắn đã có tất cả :công danh, tiền tài, địa vị… Một ngôi nhà khang trang, một cô vợ xinh đẹp và giỏi giang.

Ấy vậy mà không biết sao hôm nay, hắn thấy buồn bã, cảm thấy đời thật vô vị…

Vợ chồng hắn vừa “chiến tranh lạnh “tối hôm qua. Vì một nguyên nhân rất vớ vẩn… Dạo này hắn hay về muộn vì quá bận việc ở cơ quan.

Cảm thấy thật bế tắc, hết giờ ở sở, hắn quyết định không về nhà.

Hắn muốn một mình, và thật say!

Tạt vào một quán nướng vỉa hè, có rượu ngon… Hắn ngồi “hưởng sự đời “.

Mới ngà ngà vài li, chợt một người hành khất chìa bàn tay đen đủi trước mặt hắn, và không nói một lời nào.

Thoạt đầu, hắn không nghĩ đây là một người ăn xin, vì trông ông ta không tới nỗi quá tiều tụy.

Sau thấy bàn tay đó cứ mãi chìa trước mặt, hắn hiểu và rút ví.

Một phần, hắn vốn là người tốt bụng, phần nữa, cũng do đã ngà ngà say… Hắn móc cả một tệp tiền ra ấn vào tay người hành khất.

Một lần nữa, hắn lại trợn tròn mắt khi thấy người đó chỉ nhón lấy một tờ 50 ngàn.Còn thì đưa lại tất cả, kèm theo một lời cảm ơn mà hắn không bao giờ nghĩ đến!

_Cảm ơn người tốt bụng. Ngần này là đã đủ cho tôi sống tới trưa mai rồi.

Hắn ngắc ngứ trong họng :

_Tôi cho bác tất mà, bác cứ lấy mà dùng…

_Ăn mày, ăn xin chúng tôi, tích trữ tiền làm gì… Đêm ngủ, lưu manh nó cũng sờ nắn móc hết cả thôi.

Hắn chợt hiểu ra vấn đề.

_Thế bác ngồi uống với tôi li rượu nhé!

_Dạ, cảm ơn… Tôi cũng tới giờ “về “rồi.

Hắn hỏi một cách vô thức :

_Bác… Về đâu?

Người ăn xin nhỏ nhẹ :

_Về với bà ấy, và đứa con tật nguyền, em ạ. Về mái ấm của mình!

Bao nhiêu rượu đã uống, hình như trôi tuột ra khỏi bao tử của hắn.

Về nhà thôi chứ nhỉ, về với người vợ đang đợi hắn làm lành, đang âu lo vì đã muộn mà chưa thấy hắn về ăn cơm tối…

“Ai cũng có một tổ ấm của mình, chú em ạ “!

Sưu tầm


 

Vài suy nghĩ về giải Nobel- Trịnh Khả Nguyên

Ba’o Tieng Dan

19/10/2024

Trịnh Khả Nguyên

Giải Nobel và chính sách giáo dục

Hằng năm, cứ vào khoảng tháng 10 thì bên Thụy Điển, Na Uy công bố tên các vị được nhận giải Nobel về y học, hóa học, vật lý, kinh tế, văn chương, hòa bình của năm đó.

Đây là một tin vui cho các vị được nhận cái giải cao quý kia và cho các nước liên quan đã đành, mà nó còn là tin vui cho cả thế giới nữa. Nhiều nước cũng bắt chước, đã lập và trao một số loại giải thưởng, nhưng chỉ một thời gian thì các giải này tự động chết mòn, hoặc chẳng ai mặn mà gì. Những người được trao loại ấy cũng chẳng có danh tiếng gì. Còn giải Nobel, dù do một cá nhân, một nhà khoa học, ông Alfred Nobel lập ra, nhưng đó là giải thưởng có uy tín, danh giá, có thể là danh giá nhất trên thế giới, trong các lĩnh vực đã kể.

Chỉ một việc giải Nobel được tôn vinh hơn một trăm năm qua, đủ chứng minh điều ấy. Hầu hết những người đoạt giải là những nhân tài, họ là những “đỉnh cao trí tuệ” của loài người. Đó là nhận xét chung, tuy nhiên trong quá khứ cũng có một vài tranh cãi, tai tiếng khi đề cử, chấm chọn, đặc biêt ở hai lĩnh vực văn chương và hòa bình, ví dụ như giải Nobel văn chương trao cho ông Jean-Paul Sartre năm 1964 và giải Nobel Hòa Bình năm 1973 cho một nhân vật ở Việt Nam, gây tranh cãi.

Thông thường một giải thưởng có hai chiều. Giải Nobel cũng thế, nó vinh danh một hay nhiều cá nhân. Ngược lại, những người đoạt giải, với tài năng, sự đóng góp của mình cũng làm cho giải có uy tín và có giá trị hơn. Còn những loại giải chẳng ra gì thì cũng chẳng làm cho người nhận được thêm tí hãnh diện nào, hoặc những người chẳng ra gì mà được phát một giải nào đấy thì cái giải kia cũng chẳng ra gì cả.

Giải Nobel mang lại danh dự cho một cá nhân và đất nước. Chính vì thế, nước nào cũng mong có người của mình đoạt Nobel. Nhìn lại bảng danh sách những người đến từ các nước đoạt giải Nobel, từ khi giải này được thành lập đến nay, có thể thấy rằng họ đã đóng góp nhiều phát minh, sáng kiến cho thế giới. Nếu không có họ thì thế giới hôm nay như thế nào? Như thế nào thì không biết, nhưng chắc không như thế nầy, nghĩa là thế giới cần đến những con người kia, chứ không phải có hay không những vị đó thì cũng chẳng “chết ai”, kiểu “không mợ chợ cũng đông”. Tương tự như bên thể thao, nếu không có các danh thủ, các “cường quốc thể thao” thì World Cup, Euro Cup… chắc buồn lắm.

Cũng có một số người, một số nước muốn có giải Nobel để có “danh gì với núi sông”, kể cả danh hảo để họ huênh hoang, để tự sướng. Thậm chí, họ chỉ mong được đề cử thôi, cũng đã hãnh diện lắm rồi.

Các nước có người đoạt giải Nobel tất nhiên là các nước đó có nhân tài. Nhưng người tài ở đâu ra? Có sẵn trong nước hay du nhập vào? Các nước đó có cách thu hút người giỏi. Họ có một nền giáo dục tốt, có tự do dân chủ cho người ta thoải mái làm việc, bày tỏ chính kiến. Họ không đầu tư mở trường chuyên, lớp chọn, không có các trại sáng tác, trung tâm luyện “gà đá” để đi thi. Ngoài việc có được người đoạt giải danh giá như giải Nobel, cần có một nền giáo dục tốt, một môi trường sống tốt là yếu tố để phát triển đất nước.

Giải Nobel Văn chương và Hòa bình

Giải Nobel về các lĩnh vực vật lý, hóa học, y học, kinh tế thì cao sâu, chuyên biệt nên khó hiểu đối với đại đa số, nhưng giải Nobel về văn chương và hòa bình là tương đối phổ thông. Trước năm 1975, ở miền Nam có những cuốn sách được dịch ra từ các tác phẩm hay, nếu sách đó được giải Nobel, thì chúng thường được quấn quanh bởi một cái ruy băng có câu “Giải Nobel năm …”, để “câu” người đọc.

Còn nhớ, giải Nobel văn chương năm 1964 định trao cho nhà văn, triết gia hiện sinh Jean-Paul Sartre, nhưng bị ông ta từ chối. Trong thập niên 1960, triết gia, nhà văn Sartre có một thời thiên tả. Có lẽ đây là lý do ông từ chối nhận giải Nobel năm 1964 và việc từ chối này cũng là một cách tự đề cao mình (hơn cả giải Nobel). Vào những năm đó, ông cùng với nhiều nhân vật thiên tả ở châu Âu chống chiến tranh Việt Nam. Họ được gọi là những người yêu chuộng hòa bình, là “loài người tiến bộ” đại diện cho “lương tâm của nhân loại, lương tri của thời đại”. Nhưng sau năm 1975 thì các vị này đổi thái độ. Ngay tại miền Nam Việt Nam vào những năm đó cũng có phong trào tranh thủ hòa bình.

Giải Nobel hòa bình không lạ với người Việt chúng ta; năm 1973 đã có người Việt Nam được đề cử cùng nhận giải này với một người khác, nhưng người Việt đó từ chối, không phải là vì lý do “cùng nhận”, mà vì lý do riêng. “Cùng nhận” là chuyện xảy ra bình thường đối với các vị nhận giải Nobel. Trớ trêu thay, năm 1973 giải Nobel hòa bình cho Việt Nam chỉ có ở Thụy Điển; còn ở Việt Nam lúc đó chẳng có hòa bình, mà ngược lại, chiến tranh còn ác liệt hơn. Phải chăng nhân vật này biết rằng, ông ta đang cùng với lãnh đạo của mình chuẩn bị gây chiến thêm, thay vì kết thúc, cho nên đã từ chối giải thưởng kia?

Cách hơn chục năm, Trung Quốc cũng đã dựng lên giải Nobel Hòa bình Khổng Tử để đối trọng với giải Nobel hòa bình thế giới. Không biết giải hòa bình mang tên vị hiền triết kia phát được mấy lần, tồn tại được bao nhiêu năm và trao cho những ai, nhưng năm 2011 họ đã trao cho Putin, nhân vật đã và đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Ukraine gần 3 năm qua, gây bất ổn trong khu vực châu Âu.

Về giải Nobel Hòa bình Khổng Tử, điều mỉa mai là, trước đó tư tưởng của Khổng Tử bị đánh cho lên bờ xuống ruộng, bị phê đến không còn chỗ phê, cái tượng của ông ở quê nhà cũng bị đập phá. Thế mà khi cần, tên ông lại mang ra đặt cho giải thưởng hòa bình.

Giải Nobel Hòa bình năm nay được trao cho tập thể Nihon Hidankyo của Nhật Bản hôm 11/10/2024. Nihon Hidankyo là tổ chức những người Nhật Bản sống sót sau các vụ Mỹ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki hồi Đệ Nhị Thế Chiến. Hiện có người còn sống, còn chịu thương tật nặng nề. Chính vì thế, họ rất sợ vũ khí hạt nhân và họ đang kêu gọi cho một thế giới không sử dụng loại vũ khí nầy. Nguy hiểm đang chực chờ không phải Hiroshima và Nagashaki đã qua, mà là do hiện nay có người mang vũ khí hạt nhân ra hù dọa về thế chiến thứ ba.

Ông Toshiyuki Mimaki, chủ tịch tổ chức Nihon Hidankyo, chủ nhân giải Nobel Hòa bình 2024. Ảnh trên mạng

Ngày 6/8/1945 Mỹ thả một quả bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima, ba ngày sau, ngày 9/8/1945 Mỹ lại thả quả thứ hai xuống Nagasaki. Số người chết và bị thương rất lớn, ước chừng 140.000 người, cả quân nhân và dân thường, nhưng đến nay vẫn chưa thống nhất về con số nạn nhân vì nhiều lý do. Hằng năm, đến ngày 6/8 nước Nhật tổ chức lễ tưởng niệm các nạn nhân kia. Các buổi lễ đều diễn ra ôn hòa, nhằm mục đích kêu gọi không sử dụng vũ khí hạt nhân, chứ không phải mang tính kích động thù hận “đến tận xương tủy”.

Người đại diện cho phía ném bom, Tổng thống Mỹ, cũng đã có lần đến viếng nơi ấy. Ngày 27/5/2016, tại Công viên Tưởng niệm Hòa bình Hiroshima, Nhật Bản, Tổng thống Obama đã đặt vòng hoa trước đài tưởng niệm và nhắm mắt, cúi đầu dành một phút mặc niệm, tưởng nhớ những nạn nhân thiệt mạng sau khi Mỹ thả quả bom nguyên tử thứ nhất xuống Hiroshima vào ngày 6-8-1945. Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cũng đến đặt vòng hoa tưởng niệm tại đây.

Và mới đây, ngày 20/5/2023 các nước G7 (dĩ nhiên có Mỹ và Nhật) đã chọn Hiroshima để họp bàn về hợp tác toàn cầu, kêu gọi hòa bình, không để chiến tranh hạt nhân xảy ra. Hai “cựu thù” Mỹ – Nhật đều xem sự việc Hiroshima và Nagashaki là “quá vãng nhi bất thuyết”, bây giờ là lúc cần hợp tác “hòa giải, hòa hợp để cùng tiến bộ, nhằm tránh điều đáng tiếc đã xảy ra. Trong khi đó, dư luận tại một số nước thì hành xử ngược lại, hằng năm cứ đến ngày 6/8 họ nhắc lại sự kiện Hiroshima để khoét sâu nỗi đau của người dân Nhật.

Hiện nay, vài nước trên thế giới đang chịu đựng chiến tranh xâm chiếm do sự hiếu chiến, tham vọng phục hồi đế chế của một số lãnh đạo độc tài; các lãnh đạo này đem vũ khí hạt nhân ra hù dọa. Dù chỉ là hù, nhưng thế giới cũng cảm thấy bất an và cảnh giác. Trong bối cảnh đó, giải Nobel hòa bình năm nay vinh danh tổ chức Nihon Hidankyo, nạn nhân của bom nguyên tử năm 1945, thật có ý nghĩa.

Việc làm này không nhằm mục đích nhắc lại chuyện cũ để gây hận thù, chia rẽ, mà là kêu gọi cho một thế giới không dùng vũ khí hạt nhân và cũng là một cách trả lời cho những lời đe dọa dùng bom nguyên tử một cách vô trách nhiệm của một số lãnh đạo độc tài ở một số nước trên thế giới.