Ngàn Đời Chúa Vẫn Trọn Tình Thương
httpv://www.youtube.com/watch?v=P7rrmwnNe2s
Dâng Mẹ Mùa Xuân – Thùy Dương – Phạm Trung
httpv://www.youtube.com/watch?v=ECNPjBn8jUQ

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
httpv://www.youtube.com/watch?v=P7rrmwnNe2s
httpv://www.youtube.com/watch?v=ECNPjBn8jUQ
VRNs (18.01.2015) – Trong suốt mấy ngày qua, bà con giáo xứ Đăk Jâk rất lo lắng, mất ăn mất ngủ khi công an Xã, Huyện xuống giáo xứ hoạnh họe, đe dọa đòi tháo dỡ ngôi nhà thờ tạm, mà bà con đã dựng lên từ tháng 4.2013 làm nơi thờ phượng Thiên Chúa được tôn nghiêm hơn. Họ cũng đưa ra đòi hỏi vô lý, buộc Cha Đa Minh Trần Văn Vũ, người được Đức Giám Mục Giáo phận cử về chăm sóc đàn chiên, phải dời khỏi Giáo xứ.

Tại VN, các linh mục, tu sỹ truyền giáo cho người Kinh còn gặp nhiều khó khăn, huống chi là bà con Dân tộc với nhiều ngôn ngữ khác nhau và với nhiều nền văn hóa đa dạng, nhưng các linh mục và tu sỹ đã dấn thân hy sinh để có thể giới thiệu Thiên Chúa đến cho bà con trên vùng cao. Nỗ lực của các Ngài luôn bị chặn đứng bởi nhà cầm quyền địa phương, hạn chế và xâm phạm quyền tự do Tôn giáo…
Sau đây, VRNs chúng tôi rất hân hạnh được tiếp chuyện với Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh, Giám mục Giáo phận Kontum về những nỗi khó khăn liên quan đến tình hình của giáo xứ Đăk Jâk, cũng như sự gian truân của các linh mục, tu sỹ khi truyền giáo cho bà con dân tộc thiểu số. Cuộc phỏng vấn được thực hiện vào ngày 17.01.2015
Huyền Trang, VRNs: Kính thưa Đức cha, trước hết, chúng con xin Đức cha cho chúng con được biết một số thông tin về Giáo xứ Đăk Jâk thuộc Giáo phận Kontum ạ?
Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh: Có lẽ phải lấy năm 1972 làm mốc. Xứ Đăk Jâk được thành lập từ 1957, đã có giáo xứ, có nhà thờ và đông đảo giáo dân. Nhưng năm 1972, do chiến tranh, nhà thờ bị phá hủy và dân chúng đã tản mác đi khắp nơi. Sau năm 1975, họ quay trở về, lập nghiệp lại và hiện nay số giáo dân lên gần 6000 người. Nằm ở trong huyện Đăk Glei – nơi đó có một số giáo xứ đã cũ từ trước trong đó có Đăk Jâk. Với con số gần 6000 giáo dân gồm người Xê Đăng, người Deh và các Sắc tộc khác đã và tiếp tục sinh hoạt tôn giáo.
Cách đây 4 năm, tôi gửi cha Đaminh Trần Văn Vũ lên để quản nhiệm và phục vụ anh chị em, vì nhà thờ chưa có nên chúng tôi chấp hành chính sách của Nhà nước là xin phép xây dựng nhà thờ và phục hồi giáo xứ, nhưng xin miết cũng không được. Do nhu cầu tôn giáo đông đảo của bà con mà cứ ngồi ngoài mưa, ngoài nắng suốt bao năm tháng cho nên bà con giáo dân đã tự dựng nên một cái nhà nguyện tạm, trong khi chờ đợi nhà cầm quyền cứu xét cho xây dựng nhà xứ và nhà thờ mới. Nhà cầm quyền yêu cầu gỡ nhà thờ tạm nhưng chúng tôi đã làm phép và dâng cho Chúa rồi. Chúng tôi trao đổi với nhà cầm quyền rằng, nhà thờ tạm sẽ dỡ vì đó là tạm mà, vậy thì xin nhà cầm quyền giải quyết bằng cách đáp ứng cái yêu cầu đã lâu năm là cho xây dựng một nhà thờ mới để thay thế. Nhưng cuối cùng cũng chưa đi đến đâu cả và sự việc kéo dài cho đến hiện nay. Rất tiếc là như vậy!
Huyền Trang, VRNs: Kính thưa Đức cha, chúng con được biết, nhà cầm quyền ra hạn chót cho việc tháo dỡ nhà thờ Đăk Jâk vào ngày 17.01.2015. Kính thưa Đức cha, tình hình hiện nay là ra sao ạ?
Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh: Hiện nay, tôi đang bận đi dự lễ ở Sài Gòn và chuẩn bị ra Hà Nội để đón tiếp Đức Hồng Y Fernando Filoni, Tổng trưởng Bộ truyền giáo, cho các Dân tộc. Cho nên tôi chưa biết tình hình ở đó như thế nào. Nhưng, tôi nghĩ rằng, tình hình cũng ổn thôi vì hai bên đang thảo luận, trao đổi với nhau để giải quyết cho êm đẹp.
Huyền Trang, VRNs: Kính thưa Đức cha, chúng con được biết, Đức cha có cuộc họp với UBND Huyện và buổi tiếp xúc với ông Giám đốc Công an Tỉnh. Kính thưa Đức cha, xin ngài có thể cho chúng con biết một vài thông tin về các buổi gặp này và cách giải quyết bên phía nhà cầm quyền như thế nào ạ?
Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh: Ngày 22.08.2014, phái Đoàn do ông Bí thư của huyện Đăk Glei với bà Chủ tịch Huyện thăm và trao đổi với chúng tôi về vấn đề này. Chúng tôi đi đến một kết luận trong văn thư 145, ngày 22.08.2014, gửi cho UBND Tỉnh và Huyện. Chúng tôi chấp nhận giải pháp do ông Bí thư Huyện đã đề nghị và có sự đồng tình của cả phái Đoàn trong đó có bà Chủ tịch. Thôi sự việc đáng tiếc đã xảy ra rồi, cho nên bây giờ giải quyết bằng hai bước.
Bước thứ nhất, với tư cách Giám mục, chúng tôi lập lại chính thức với nhà cầm quyền bằng một cái đơn xin chính thức công nhận lại giáo xứ Đăk Jâk và cho xây dựng nhà thờ. Bước thứ hai, trong khi UBND Tỉnh cứu xét đơn đó, thì UBND Huyện sẽ cho chúng tôi một cái giấy chính thức để dựng nên một cái nhà thờ tạm, khi có cái giấy đó thì ngay lập tức chúng tôi sẽ gỡ ngôi nhà thờ tạm hiện nay.
Hôm qua, ông Giám đốc Công an Tỉnh Kontum, tức là Thiếu tướng Lê Duy Hải có gọi cho tôi hỏi về tình hình này. Giữa chúng tôi xác định chuyện Đăk Jâk là chuyện nhỏ, từ từ giải quyết với nhau trong ôn hòa. Ông Thiếu tướng rất tiếc là mấy anh em công an trên Huyện, Xã đã đến [giáo xứ], làm cho giáo dân hiểu lầm là gỡ nhà thờ tạm. Ông Thiếu tướng cũng rất tiếc anh phóng viên nào đó đã làm to chuyện ra. Hiện nay, ông ấy không biết anh phóng viên đó chạy đi đâu.
Theo như tôi nghĩ, chúng tôi có kinh nghiệm làm việc với ông Thiếu tướng, tôi cảm thấy, ông rất có cảm tình và rất thông cảm với chúng tôi, và ông luôn luôn tìm mọi cách giải quyết ổn thỏa cho những nhu cầu chính đáng của người giáo dân. Chúng tôi rất biết ơn ông Thiếu tướng đó.
Huyền Trang, VRNs: Kính thưa Đức cha, chúng con xin Đức cha chia sẻ với chúng con về hướng tương lai là làm thế nào để có thể hạn chế những hành vi xâm phạm Quyền tự do Tôn giáo nói chung, và quyền thực hành các hoạt động tôn giáo nói riêng của Cha xứ và bà con giáo dân Đăk Jâk ạ?
Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh: Tôi nghĩ chìa khóa nằm ở chỗ dân, tức là tất cả vì hạnh phúc của người dân trong đó có người dân có Đạo, và nhà cầm quyền cũng như tất cả mọi văn bản pháp luật đều phải chú ý đến điều này. Nhưng rất tiếc trong hiện tình cũng như trong quá khứ, hình như nhà cầm quyền đã quá nặng nề vấn đề về Luật, Luật… Cho nên với vấn đề hệ thống Luật và cách tổ chức như hiện nay, tôi có kinh nghiệm rằng, tất cả các anh em nhân viên ở các địa phương họ rất khổ tâm, họ khổ tâm hơn chúng tôi nữa, họ rất thương chúng tôi nhưng họ không thể giải quyết được vì vượt quyền hạn. Chính vì thế, tôi nghĩ rằng, phải có những điều luật thông thoáng hơn nữa và phải có những con người hiểu những nhu cầu tôn giáo, thì mới có thể giải quyết ổn thỏa, còn nếu không vấn đề nó cứ kéo dài miết như hiện nay.
Huyền Trang, VRNs: Chúng con xin chân thành cám ơn Đức cha và chúng con kính chúc sức khỏe Đức cha.
Đó là những lời chia sẻ của vị chủ chăn với những nỗi vất vả, khó khăn của các vị mục tử khi đến với, ở với và sống với những người đồng bào trên Cao nguyên.
Giáo dân Giáo xứ Đăk Jâk đa phần là bà con dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa -là những người được Nhà nước này quan tâm một cách đặc biệt, thậm chí họ còn lập ra một Ban chỉ đạo Tây Nguyên để giải quyết những vấn nạn đến từ bà con các Dân tộc Tây Nguyên. Trong khi đó, các vị Chức sắc tôn giáo truyền giáo ở các vùng cao đã giúp bà con cải thiện đời sống được tốt hơn, “đem cái chữ” đến cho con em của họ, tạo điều kiện nơi ăn, chốn ở cho các con em người Dân tộc theo học các cơ sở giáo dục của nhà nước, giúp các gia đình biết cách trồng trọt, chăn nuôi… làm ăn phát triển hơn, nhưng nhà cầm quyền lại luôn tìm cách gây khó khăn cho các vị Chức sắc trong việc truyền giáo. Đó là nghịch lý của chủ thuyết vô thần ở VN.
Huyền Trang, VRNs
Thế giới này quả là một nơi tuyệt vời.
Bạn cho đi thứ gì thì sẽ nhận được những điều tốt đẹp đáp lại!
(The world is a wonderful place. What goes around comes around!)
1/- Câu chuyện thứ nhất xin kể về ông Gandhi. Ông là một vị anh hùng của dân tộc Ấn Độ, ông đã chỉ đạo cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân của Đế quốc Anh và giành độc lập cho Ấn Độ với sự ủng hộ nhiệt liệt của hàng triệu người dân. Ông được dân Ấn Độ gọi một cách tôn kính là “Linh hồn lớn”, “Vĩ nhân”, “Đại nhân” hoặc là “Thánh Gandhi”.
Người ta kể chuyện là có thời ông Gandhi đi một chuyến xe lửa. Khi xe bắt đầu chuyển bánh thời ông nhảy vội vã lên tàu khiến cho một chiếc giày của ông rơi xuống đường. Ông không thể nào nhảy xuống để nhặt lại chiếc giày trong khi tàu chạy càng lúc càng nhanh. Ông bèn tháo luôn chiếc giày còn lại trong chân và ném về phía chiếc giày kia ở dưới đường. Hành khách trên tàu tỏ vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy thế và lấy làm lạ về hành động kỳ quặc của ông.
Gandhi mỉm cười và ôn tồn giải thích rằng: “Nếu có một người nghèo nào lượm được chiếc giày thứ nhất thì người đó có thể tìm thấy chiếc thứ hai và như thế là có được đủ đôi giày để đi.”
Chúng ta ít khi nghĩ đến các người khác mà thông thường chỉ nghĩ về chính bản thân mình mà thôi. Khi bị mất mát thì điều đầu tiên chúng ta nghĩ đến là những thiệt thòi và bất hạnh của mình. Kế đó mất thêm nhiều thời gian nữa để nuối tiếc, than thở, rồi sinh ra chán nản. Nhiều khi trở nên bực bội và gắt gỏng nữa.
Gandhi đã có một hành động thật cao quý vì trong khi bản thân mình bị mất mát như thế, ông vẫn để tâm nghĩ đến người khác. Hành động này chứng tỏ việc nghĩ đến người khác đã trở thành một phần trong tâm tưởng và nguyên tắc sống của ông.
Nếu trong những lúc mà chúng ta được sống an bình và thành công mà chúng ta còn không quan tâm tới những kẻ bị bất hạnh hơn mình thì liệu khi gặp gian khó, mất mát, ta có thể làm được điều đó hay không? Trong xã hội, xung quanh chúng ta hàng ngày có biết bao nhiêu người thiếu thốn đang cần sự giúp đỡ. Những gì họ cần đến không nhất thiết phải luôn luôn là vật chất, nhiều khi họ chỉ cần một lời động viên an ủi. Cõi ta bà này sẽ hạnh phúc biết bao nếu mỗi chúng sinh không chỉ chăm lo cho lợi ích riêng mình mà còn chăm lo cho lợi ích của người khác nữa.
2/- Câu chuyện thứ hai liên quan tới vị danh tướng Dwight Eisenhower. Ông là một vị tướng 5 sao trong Lục quân Hoa Kỳ và là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 34 từ năm 1953 đến 1961. Trong thời Đệ nhị Thế chiến, ông phục vụ với tư cách là tư lệnh tối cao các lực lượng đồng minh tại Châu Âu, có trách nhiệm lập kế hoạch và giám sát cuộc tiến công xâm chiếm thành công vào nước Pháp và Đức năm 1944–45 từ mặt trận phía Tây
Vào thời xa xưa đó, một hôm ông Eisenhower cùng với đoàn tùy tùng của ông vội vã lái xe về tổng hành dinh quân đội ở Pháp để tham dự một cuộc họp khẩn cấp. Lúc đó trời đang mùa đông lạnh buốt lại thêm mưa tuyết rơi phủ đầy khắp nơi. Xe đang chạy thì ông bất ngờ để ý nhìn thấy có hai vợ chồng già người Pháp ngồi ở bên lề đường đang run rẩy vì cái lạnh giá buốt. Ông lập tức ra lệnh cho đoàn tùy tùng ngừng lại và muốn phái một thông dịch viên tiếng Pháp tới hỏi thăm cặp vợ chồng này. Một viên tham mưu nhắc nhở ông là nên để cho nhân viên công lực tại địa phương lo chuyện này, phái đoàn phải đi nhanh lên vì sợ trễ cuộc họp. Ông nói nếu đợi cảnh sát địa phương tới thì sợ là quá muộn và hai người này sẽ chết cóng.
Sau khi hỏi thăm, ông Eisenhower biết được là họ đang muốn tới Paris để gặp con trai nhưng xe của họ bị chết máy giữa đường. Ông bảo hai vợ chồng già mau lên xe của ông. Ông không hề quan tâm đến chức phận của ông và không hề tỏ thái độ gì trước hai kẻ đang gặp nạn này. Ông chỉ theo bản tính lương thiện vốn sẵn có của ông là luôn luôn muốn giúp đỡ người hoạn nạn mà thôi. Ông liền ra lệnh thay đổi lộ trình, đưa cặp vợ chồng tới Paris trước, rồi ông và đoàn tùy tùng mới lái xe tới tổng hành dinh để dự cuộc họp.
Không ngờ chính sự chuyển hướng đi thình lình ngoài kế hoạch này đã cứu mạng ông! Quân Quốc Xã có tin tình báo nên biết chính xác hành trình của ông và đã bố trí sẵn các tay súng bắn tỉa nấp rình tại các ngã tư. Nếu ông tới thì sẽ bị hạ sát ngay chỗ đó. Nhưng hóa ra chỉ nhờ vào cái tâm lương thiện, cái lòng từ bi đã giúp ông đổi lộ trình và tránh thoát cuộc mưu sát này. Quả là tự cứu mình bằng cách giúp người khác.

3/- Câu chuyện thứ ba kể về một cậu bé nhà nghèo tên là Howard Kelly. Quá nghèo nên hàng ngày cậu thường phải đến gõ cửa từng nhà để bán báo trên đường đi tới trường học của mình.
Một hôm cơn đói nổi lên thình lình, cậu thò tay vào túi thì thấy chỉ có một đồng duy nhất cuối cùng. Đồng tiền này cậu định dành lại để mua thức ăn cho mấy đứa em ở nhà. Sau vài giây phút lưỡng lự cậu quyết định đi tới ngôi nhà ở phía trước để xin chút đồ ăn. Nhưng người mở cửa cho cậu lại là một cô bé xinh đẹp và dễ thương. Cậu tỏ ra bối rối và ngại ngần, nên cậu chỉ dám mở miệng xin một cốc nước để uống mà thôi.
Cô bé trông thấy cậu có vẻ nghèo nàn và đang mệt lả đi vì đói nên thay vì mang nước cô lại đem cho cậu một cốc sữa lớn. Cậu từ từ uống một cách ngon lành rồi mới rụt rè khẽ hỏi cô gái: “Tôi nợ cô bao nhiêu?” Cô gái trả lời: “Bạn không nợ nần gì tôi cả. Mẹ tôi đã dạy là không bao giờ làm điều tốt mà còn chờ được trả công.” Cậu cảm động nói: “Tôi thành thực biết ơn cô.”
Sau khi rời khỏi ngôi nhà cô bé tốt bụng đó, cậu Howard Kelly không chỉ cảm thấy cơ thể khỏe khoắn trở lại mà cậu còn có lòng tin tưởng hơn vào từ tâm của con người. Điều này giúp ý chí cậu mạnh mẽ thêm lên và không chịu khuất phục số phận hẩm hiu của mình.
Nhiều năm sau đó, cô gái trẻ nói trên mắc phải một căn bệnh rất hiểm nghèo. Các bác sỹ tại địa phương đã cố gắng nhưng đành bó tay, không thể làm thuyên giảm bệnh. Cuối cùng họ quyết định chuyển cô lên bệnh viện thành phố nơi có nhiều chuyên gia mong chữa khỏi bệnh cho cô.
Trong số các bác sỹ được mời tới hội chẩn có một người tên là Howard Kelly. Khi nghe tới cái tên nơi quê quán của cô gái, một tia sáng chợt lóe lên trong ký ức của Kelly. Kelly vội đứng dậy, chạy xuống phòng cô gái. Bước tới gần giường bệnh ngay lập tức Kelly đã nhận ra đó chính là cô gái cho mình sữa ngày xa xưa. Kelly quay trở lại phòng hội chẩn và đề nghị được là người phụ trách ca bệnh đó.
Kelly làm hết sức mình với một sự quan tâm đặc biệt để chữa bệnh cho cô gái. Sau một thời gian chống chọi bệnh tình cô thuyên giảm và cuối cùng là khỏi bệnh hoàn toàn.
Trước ngày cô gái xuất viện, bác sỹ Kelly đã yêu cầu nhân viên quầy thu ngân chuyển hóa đơn tới bàn giấy của mình. Kelly viết ít chữ lên trên hóa đơn trước khi nó được gởi tới phòng bệnh để trao cho cô gái.
Khi mở ra đọc cô gái thầm nghĩ rằng có lẽ cô sẽ phải ra sức làm việc cả đời mới trả hết món tiền này. Nhưng cô thật sự ngạc nhiên khi đọc thấy trên phần đầu hóa đơn đã ghi sẵn dòng chữ: “Hóa đơn đã được thanh toán bằng một ly sữa”. Và người ký tên là: “Bác Sỹ Howard Kelly.”
4 /- Câu chuyện thứ tư xảy ra tại Đại học Stanford vào năm 1892. Thời đó có một học sinh 18 tuổi gặp khó khăn trong việc trả tiền học. Là một trẻ mồ côi anh ta không biết đi nơi đâu để kiếm ra tiền, anh bèn nảy ra một sáng kiến. Anh cùng một người bạn khác quyết định tổ chức một buổi nhạc hội ngay trong khuôn viên trường để gây quỹ cho việc học.
Họ đến mời Ignacy J Paderewski, một nghệ sĩ dương cầm đại tài. Người quản lý của Paderewski yêu cầu một khoản tiền là $2000 cho buổi biểu diễn. Sau khi họ thỏa thuận xong, hai người sinh viên bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị buổi trình diễn. Ngày ấy cuối cùng đã đến. Paderewski đã tới biểu diễn tại Stanford. Nhưng không may là vé không bán được hết. Sau khi tổng kết số tiền bán vé họ chỉ có được $1600. Họ thất vọng, đến để trình bày hoàn cảnh của mình với Paderewski. Họ đưa cho ông toàn bộ số tiền bán vé, cùng với một check nợ $400 và hứa rằng họ sẽ cố gắng trả số nợ ấy thật sớm.
Không ngờ Paderewski lại xé bỏ tờ check, trả lại số tiền cho hai chàng thanh niên và nói: “Hãy giữ lấy 1600 đô này, sau khi trừ hết tất cả các chi phí cho buổi biểu diễn còn bao nhiêu các cậu cứ giữ lấy cho việc học. Còn dư bao nhiêu nữa thì mới đưa cho tôi.” Hai chàng thanh niên vô cùng bất ngờ, xúc động nói lời cảm ơn…
Đây chỉ là một việc nhỏ, nhưng đã chứng minh được nhân cách tuyệt vời của Paderewski. Ông giúp hai người mà ông ấy không hề quen biết. Trong cuộc sống hầu hết chúng ta đều nghĩ: “Nếu giúp họ, chúng ta sẽ được gì?” Nhưng những người vĩ đại lại nghĩ khác: “Nếu mình không giúp họ, điều gì sẽ xảy ra với những con người đang gặp gian khó này?” Người có từ tâm giúp ai không mong đợi sự đền đáp và chỉ nghĩ đó là việc nên làm mà thôi.
Người nghệ sĩ dương cầm tốt bụng Paderewski nói trên sau này trở thành Thủ Tướng của nước Ba Lan. Ông là một vị lãnh đạo tài năng. Không may chiến tranh thế giới bùng nổ và đất nước của ông bị tàn phá nặng nề. Hơn một triệu rưỡi người dân đang bị chết đói. Chính phủ của ông không còn tiền. Không biết đi đâu để tìm sự giúp đỡ ông bèn đến Cơ Quan Cứu Trợ Lương Thực Hoa Kỳ để nhờ trợ giúp.
Người đứng đầu cơ quan đó chính là Herbert Hoover, người sau này trở thành Tổng Thống thứ 31 của Hoa Kỳ. Ông Hoover đồng ý giúp đỡ và nhanh chóng gửi hàng tấn lương thực để cứu giúp những người Ba Lan đang bị đói khát ấy. Cuối cùng thì thảm họa cũng đã được ngăn chặn.
Thủ Tướng Paderewski lúc bấy giờ mới cảm thấy thoải mái. Ông bèn quyết định đi sang Hoa Kỳ để tự mình cảm ơn ông Hoover. Thế nhưng khi Paderewski chuẩn bị nói câu cảm ơn thì ông Hoover vội cắt ngang và nói: “Ngài không cần phải cảm ơn tôi đâu. Có lẽ ngài không còn nhớ, nhưng vài năm trước, ngài có giúp đỡ hai cậu sinh viên trẻ tuổi ở bên Mỹ được tiếp tục đi học, và tôi là một trong hai chàng sinh viên đó đấy.”
Thế giới này quả là một nơi tuyệt vời. Bạn cho đi thứ gì thì sẽ nhận được những điều tốt đẹp đáp lại! (The world is a wonderful place. What goes around comes around!)
Người ta cũng còn nhớ ông Winston Churchill từng nói đại ý rằng chúng ta sinh sống bằng những gì chúng ta kiếm được, nhưng chúng ta tạo lập đời mình bằng chính những gì mà chúng ta bố thí. Sống trên đời phải có một chút gì cho đi. Một chút đó chính là cái mình cố gắng (We make a living by what we get, but we make a life by what we give.)
Bản chất của Vô Minh & Giác Ngộ (Giác Ngộ “Tự Tánh” trong THIỀN Phật Giáo – Phần 2)

Vô minh thực chất là cái gì? Cảnh giới và nhãn quan của Giác ngộ là như thế nào
GIÁC NGỘ “TỰ TÁNH”
TRONG THIỀN PHẬT GIÁO
(Theo Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ Huệ Năng)
PHẦN 1: Thiền Huệ Năng : Thiền là ”Thấy Tánh”
PHẦN 2
BẢN CHẤT CỦA VÔ MINH & GIÁC NGỘ

1. Vô minh – Vô Niệm
a. Bản chất Vô minh
Trong Kinh Bảo Đàn, Vô minh hay được gọi là Hư Vọng là điều mà Huệ Năng cho là nguồn mạch của đau khổ, phiền não trong tâm con người nên cần phải giải trừ Vô minh thì mới hy vọng thấy Tánh. Vô minh có nghĩa là sự dấy lên của một ý nghĩ (tâm) trong ý thức gọi là Vọng Niệm. Vô minh cũng có nghĩa là không sáng, là không được ánh sáng của Tự Tánh chiếu rọi nên dễ rơi vào mê lầm ảo tưởng.[1]
Huệ Năng thường ví “Trí như mặt trời, huệ như mặt trăng, trí huệ thường sáng; vì chấp cảnh bên ngoài, nên bị vọng niệm mây đen che khuất, Tự tánh chẳng được sáng tỏ.”[2] Tánh vốn là “cái Một tuyệt đối, thuần nhất, bình đẳng như nhau ở kẻ trí cũng như người ngu” [3]. Cái nhiều là cái phân hóa ra từ điên đảo Vô minh trong tâm thức của ta. Việc làm thiết yếu nhất của việc ngộ đạo Phật Giáo là vận dụng tất cả khí lực bình sinh để giải quyết vấn đề Vô minh, làm sao để kiến chiếu muôn vật trong “Một niệm[4]”.[5]
Vô minh thực chất là cái gì? Rõ hơn, Vô minh thật ra chẳng là cái gì cả, bản chất của nó chỉ là một ý niệm do lý trí phân biệt nảy sinh ra trong tâm thức của con người. Cũng như Giác ngộ, Vô minh không có giới hạn về thời gian vì nó không thuộc về thời gian mà là thuộc về Ý chí. Nhưng Vô minh thì ngược hẳn Giác Ngộ, trong khi Giác Ngộ là trở về với “Cái Một” tuyệt đối của Ý chí thì Vô minh là cái thể của Ý chí phân làm đôi khi nẩy ra một cái muốn là “muốn tự biết nó”. Từ đây nảy sinh ra một Ý thức gọi là động niệm phân hóa thành “Chủ” và “Khách”. Với tư cách là “Chủ” (Ý Chí nơi Tự Tánh) vốn đã tự đủ nên muốn thoát tất cả những gì ràng buộc trong mọi ước vọng hiểu biết. Trong khi đó với tính cách là “Khách” (Ý thức) vẫn luôn có cái gì đó không thể biết được, do đó luôn ở trong trạng thái cầu hiểu biết. Cuộc xung đột giữa “Chủ” và “Khách” vì thế là không thể tránh khỏi và cách nào đó Vô minh theo liền kiến thức luận lý như “bóng với hình”. Vì thế, Vô minh ở đây không có nghĩa là thiếu kiến thức hay chưa am tường một lý thuyết nhưng có nghĩa là không nắm được những yếu tố cốt yếu của cuộc sống biểu hiện ra từ Ý chí. [6]
Ở đây, chúng ta cần phân biệt bản chất khác nhau về “cái biết của Ý chí nơi Tự Tánh” (Chủ) và “cái biết của Ý thức nơi lý trí thuần túy” (Khách). Ý Thức (Khách) luôn tiếp xúc với thế giới bên ngoài một cách trực tiếp qua các giác năng, cái biết của Ý thức ở đây chủ yếu là cái biết mang tính kiến thức đơn thuần. Cái biết của Ý thức vì thế là cái biết của Vô minh, cái biết bị tách rời giữa người biết và điều được biết, ngoại giới biệt lập với nội tâm do đó luôn có những cặp mâu thuẫn đối lập nhau xuất hiện. Khi ta tưởng mình biết việc gì thì đồng thời cảm thấy vẫn có việc gì khác mà ta không biết, vì cái không biết luôn nằm sau cái biết dẫn đến là không bao giờ cảm thấy thỏa mãn. Do vậy, cần phải soi lại vào Tự tánh để vượt qua những mâu thuẫn về mặt nhận thức như trên. Không qua khỏi ngưỡng cửa ấy thì tâm ta không bao giờ yên, đời sống trở thành một cực hình không chịu nổi. [7] Huệ Năng cũng từng nhắc đến việc loại trừ ý niệm Chủ (Năng) – Khách (Sở) này: “Ngươi hễ tâm như hư không, chẳng chấp vào Không, ứng dụng vô ngại, động tịnh vô tâm (chẳng tác ý), Thánh phàm đều quên, Năng Sở đều diệt, Tánh tướng như như, thì không lúc nào chẳng phải Định vậy”.[8]
Thật ra, Ý thức thì vẫn là cái có đó, chúng ta không thể phủ nhận vai trò của nó. Ý thức có tài giải quyết những vấn đề thực dụng khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài và có sứ mạng cũng thật xác đáng là chiếu sáng Ý chí trong việc tiếp xúc với ngoại cảnh. Nhưng điểm yếu của Ý thức ở chỗ là thay vì chiếu sáng Ý chí thì nó lại đeo dính thế giới bên ngoài. Các hiện tượng, khái niệm, đối tượng khao khát tìm hiểu vẫn chính là chủ thể cho chính Ý thức. Vô minh là ở việc Ý thức quá dính bén với cảnh trần để thỏa mãn cho chính mình, không còn tin tưởng vào cái biết của Ý Chí nơi Tự Tánh. Ý thức do vậy không thể tự mình quét sạch được Vô minh là thể chất cố hữu của Ý thức, cũng như “gươm thì không thể chặt được gươm”. Vì thế, cần nhấn mạnh rằng, để vượt được bức tường Vô minh không phải là hành vi tri thức của cái biết thuần túy nhưng phải là sự tự ngộ lại Tự Tánh là bản chất đích thật của mình, một sự tâm chứng hiện thực, ngoài tất cả khuôn phép của luận lý. [9]
Ngược lại, khi Ý thức không tự giải thoát được chính mình thì Ý chí với tư cách là Chủ chỉ còn cách là vận dụng hết “khí lực bình sinh” để tự chiếu sáng chính mình. Đó là cái biết từ bên trong của Trí Huệ. Trong Ý chí thật ra ngoài “cái biết” còn có “cái thấy”. Ý chí tự do, tự chủ do đó thấy là “tự thấy”, biết là “tự biết”. Cái biết này vì không còn phân chia Chủ-Khách nên cái biết cũng không còn phân biệt đâu là người biết và điều được biết nữa. Đó mới thật là “cái biết” theo nghĩa cốt yếu nhất. Hễ Ý chí còn bị đánh lừa những gì do nó tạo ra thì Vô minh vẫn còn chiếm ưu thế, vẫn còn phân biệt giữa người biết và điều được biết. [10] Do vậy, vấn đề không phải là diệt trừ Ý thức nhưng ở chỗ là làm sao Ý thức và Ý chí hoạt động trong cùng một thể đến nỗi không còn phân biệt đâu là Ý Chí, đâu là Ý thức nữa. Một khi Ý thức cứ thích tách riêng không tin vào “cái biết tự đủ” nơi Ý chí để tìm thỏa mãn “cái biết” của mình nơi sự vật bên ngoài thì sẽ xảy ra sự xung đột mâu thuẫn nội tại không thoát ra được.
Hiện tượng Ý chí phân đôi như trên được nhắc đến rất nhiều trong Triết lý Ấn Giáo cũng như trong Tâm lý theo bình diện là “Cái Tâm, Cái Ngã hay Cái Tôi phân đôi”. Đây là hiện tượng phân tâm “Tâm thượng sanh Tâm” nghĩa là trên cái Tâm này thêm một cái Tâm nữa. Cái Tâm sau là “niệm” hoặc “tư tưởng”, đó là cái “Tâm thừa” hay “Cái Tôi tâm lý” nên sinh ra mê và khổ. Ở triết Ấn, điều này được diễn tả bằng hình ảnh một “con chim không ăn” (Tự tâm) đứng nhìn “con chim ăn” (Tâm thừa). “Con chim không ăn” là cái “Ngã Tự Tánh” đặc quánh, tự đủ do vậy không cần phải thỏa mãn mình nơi bất cứ cái gì khác nữa. Trong khi “con chim ăn” là cái “Ngã giả” tự tìm thỏa mãn cho mình ở thế giới bên ngoài.[11] Phật Giáo sở dĩ chủ tâm Vô Ngã là muốn xóa đi “cái ngã giả” đó, để chỉ còn lại cái ngã Tự Tánh thôi. Khi đó thì Ngã không còn phân biệt đâu là Ngã hay Vô Ngã nữa. Nếu còn phân biệt như thế thì vẫn còn trong Vô minh vậy.
Cũng thế, sở dĩ Phật Giáo chủ trương diệt dục, diệt ham muốn là diệt đi ham muốn được thỏa mãn của “cái ngã giả” chứ không phải hiểu theo nghĩa tiêu cực là diệt cái Tự Ngã. Diệt đi ham muốn cái Ngã giả vì đó chỉ là những thỏa mãn nơi Vô minh không thực, hậu quả dẫn đến chỉ là đau khổ và thất vọng, vì tất cả chỉ là ảo ảnh nên cũng mau qua, chóng tàn. Cái Tự Ngã vốn tinh tuyền và thật nên không gì có thể đụng chạm đến nó. [12] Thật ra, cuộc chiến để loại trừ cái Tâm giả cũng là trên bình diện tâm tưởng của ta mà thôi, Cái Ngã thật hay giả vốn chỉ là một trong tâm tưởng của ta, vì ta cứ thích phân ra cho rạch ròi nên Vô minh tăm tối là chỗ đó.
Nói cho cùng, Vô minh tự nó không có tội, cũng không là nguồn gốc của tội lỗi. Thế nhưng, nếu ta không thông suốt Vô minh là gì và ý nghĩa của nó là gì trong cuộc sống thì mọi tội lỗi sẽ tiếp nối nhau chằng chịt và tham ái là đầu mối tội lỗi. Ta chỉ có thể chế ngự được khi lý Vô minh được quán chiếu đến tận cùng bằng tâm tưởng của ta nơi diệu lý “Vô Niệm”. [13]
b. Từ Vô Ngã đến Vô Niệm, Vô Trụ, Vô Tướng
Giáo lý Phật Giáo Đại Thừa có vẻ nhấn mạnh đến vấn đề Vô Ngã nhưng nơi Thiền Môn vấn đề Vô Ngã được thu hẹp lại nơi phạm trù Vô Niệm. “Niệm” là một tư tưởng phát xuất từ thâm tâm mà cũng là một thời gian ngắn nhất (satna). Nhiều người thường nghĩ rằng Vô Ngã là phải xóa đi cái Ngã; không chỉ xóa đi cái Ngã giả mà cái Tự Ngã cũng phải diệt luôn thì mới đạt được trạng thái Niết Bàn[14]. Cũng vậy, ở khái niệm Vô Niệm, họ cũng cho rằng là phải làm sao để tâm trí ta không còn một khởi niệm nào nữa, theo nghĩa của họ thì phải để tâm ta vào hư không vô định… Tất cả những điều này, Thiền môn phủ nhận hoàn toàn và còn cho rằng đây là một sai lầm trầm trọng đưa đến sự ảo vọng và bệnh hoạn, hơn là đưa đến lý Giác Ngộ Niết Bàn. Như ở trên đã bàn về vấn đề Vô Ngã, ở đây chỉ chú ý đến hơn ở vấn đề Vô Niệm.
Theo Huệ Năng, sư giảng rất nhiều lần về điều này:
Sao gọi là VÔ NIỆM? Nếu thấy tất cả pháp tâm không nhiễm trước gọi là VÔ NIỆM, dùng thì khắp nơi, cũng chẳng dính mắc ở khắp nơi, hễ sạch được bổn tâm, khiến lục thức ra cửa lục căn[15], đối với lục trần[16] mà chẳng nhiễm chẳng trước, đi lại tự do, ứng dụng vô ngại tức là BÁT NHÃ TAM MUỘI[17], tự tại giải thoát gọi là hạnh VÔ NIỆM.[18]
Đối với Thiền môn, ý hướng hay ý tưởng từ bên trong là vô cùng quan trọng vì nó sẽ quyết định và chịu trách nhiệm cho tất cả các hành vi và cả vận mệnh ta sau đó. Chắc chắn đã là con người có lý trí thì ta luôn có những ý tưởng trong mình trước một sự việc xảy ra. Ý tưởng đó có thể là xấu hay tốt, cho dù ý tưởng không rõ ràng nhưng cái thâm ý đã bao hàm một cách rõ ràng mà chỉ tự mỗi người mới ý thức cái thâm ý của mình bên trong.
Thông thường, chúng ta được dạy là phải có ý hướng tốt, đừng có ý hướng xấu trước một sự việc gì. Tuy vậy, đối với quan niệm của Thiền môn thì bao lâu ta vẫn còn “tác ý” dù tốt hay xấu thì ta vẫn còn sinh ra “Nghiệp” (Karma nghĩa là tác ý hay Ý chí) dù là nghiệp tốt hay xấu [19]. “Có ý muốn làm mới có hành động, bằng thân khẩu hay ý”. Mà đã tác Nghiệp thì chắc chắn phải có “Báo ứng” (sự đáp trả lại). Điều này giống như ta tác động một lực bằng tay vào tường thì luôn có một lực đồng thời phản lại làm cho tay ta đau.
Ở đây thiền nhấn mạnh không chỉ là tác động bằng hành động nhưng khi ta tác động chỉ bằng một Ý lực thì ta biết chắc sẽ có phản hồi lại một ý lực tương tự sau đó. Vì lẽ đó, nếu còn “nghiệp báo” thì ta vẫn còn luẩn quẩn trong sự “vay trả, trả vay” của vòng Luân hồi nghiệp quả, ta vẫn chưa thật sự thanh thoát và chứng quả Giác Ngộ. Cửa Giác Ngộ của Thiền là phải đạt đến Vô Niệm. Nghĩa là không còn tác ý nữa, dù đó là ý tốt. Việc tốt ta làm là làm điều phải làm thôi, do Tự Tánh thúc đẩy từ bên trong chứ chẳng phải có ý tốt để mưu cầu điều gì cả, mà cũng chẳng cho đó là tốt. Ta cứ ung dung tự tại làm việc của ta vì đó là bổn phận phải làm!
Như thế, ta có thể thấy rằng, Vô Niệm không là đi vào cái hư không trống rỗng vô vị nhưng là trở lại với Tự tánh để hòa làm một với “Một niệm” ở nơi Tự Tánh. Kinh Phổ Diệu có nói: “Bỗng chốc trong Một niệm, bằng Trí Bát Nhã, Phật chứng Vô Thượng Bồ Đề”[20]. Mặc dù, nói là “Một niệm” là không đi vào các thế đối đãi nhị nguyên nhưng cho rằng mọi sự là Một mà thôi thì hiểu là “tất cả là một, và một là tất cả”[21]. Nhưng thật ra, cái ý niệm “Một” đó cũng không được nghĩ hay nói ra mà cũng không phải là cái hư không. Huệ Năng luôn nhắc nhở môn đệ của mình ở điểm này:
Chớ nên nghe ta nói “KHÔNG” mà liền chấp “KHÔNG”. Trước nhất chớ chấp “KHÔNG”, nếu để tâm “KHÔNG” tĩnh tọa là lọt vào “VÔ KÝ KHÔNG” [22]. Ở nơi khác sư còn nói mạnh hơn: “để tâm không mà tĩnh tọa, trăm điều chẳng nghĩ, tự xưng là đại, với bọn người này không thể nói gì được vì họ bị rơi vào tà kiến”[23].
Vì thế, “Một niệm” hay “Vô Niệm” nghĩa là chỉ có “hiểu” và “thấy” mọi sự như nó là, không nghĩ ngợi gì thêm, không cho tốt-xấu, hay-dở gì cả, tất cả chỉ là “Một Tuyệt Đối”. Sự việc dù có xảy ra như thế nào thì cứ chấp nhận nó như thế ấy không vội phán quyết là tốt-xấu, thiện-ác. Phán quyết của ta dù như thế nào cũng chỉ là phiến diện, một cứ nơi Tự Tánh thì sẽ được tự do tự tại. Chính điều này mà Thiền không chú trọng nhiều đến lý luận nhưng đề cao sự thinh lặng để chiêm ngắm thôi, cũng không đề cao việc ngồi thiền[24] cho bằng việc giữ tâm mình được thanh tịnh ở Vô Niệm. Đây là điều mà Lão-Trang có nhắc đến là “Vô Vi” hay “Khí hạo nhiên” hay phương Tây thường nói là “Let it be” (hãy để như nó là). Không bàn không nói, cứ để tâm thể thanh tịnh rồi tự nơi mỗi người sẽ tự chứng nghiệm lấy sự đơn sơ tự nhiên của diệu lý Vô Niệm đó.
Từ Vô Niệm sẽ dẫn đến Vô Trụ và Vô Tướng. Huệ Năng chỉ rõ rằng:
Thiền lấy “VÔ NIỆM làm tông, VÔ TƯỚNG làm thể, VÔ TRỤ làm gốc. VÔ TƯỚNG là ở nơi tướng mà lìa tướng. VÔ NIỆM là ở nơi niệm mà chẳng niệm. VÔ TRỤ là bản tánh của con người đối với tất cả sự vật, thiện ác, tốt xấu, kẻ thù, người thân trên thế gian, cho đến lúc bị người nói xấu, khi dễ, đều cho là không, chẳng nghĩ trả thù, niệm niệm chẳng nghĩ ngoại cảnh.[25]… Không ở nơi cảnh mà sinh tà kiến, nhưng ở niệm phải sinh ở Tự tánh. Niệm của Tự tánh là Vô niệm, tức là đều cho là không. Vô niệm thì khác với niệm tuyệt, tức là không nghĩ gì cả chỉ nhìn vào hư không.” [26]
Vô Niệm tức không khởi niệm phân biệt thì sẽ dẫn đến Vô Trụ. Vô Trụ là không bám dính vào bất cứ gì cả ngay cả ở nơi một ý niệm được gọi là “Không”, một chỉ ở nơi Tự Tánh mà hành động một cách tự do tự tại. Chính ở điều này mà Huệ Năng đã đạt “Đại Ngộ” được Tự Tánh khi nghe Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn giảng về Kinh Kim Cương ở câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” [27].
Vô trụ trong Thiền là trạng thái tự do tuyệt đối, tự do ngay cả đối với ý niệm về Thượng Đế (Vô Trụ Xứ). Nhiều người có vẻ ngạc nhiên về điều này, nhưng thật ra Thiền “không mưu toan bại hoại phá Thánh, bài Thần. Thiền cũng không cốt thấy Thượng Đế hay Chúa y như thực”. Thiền cũng nêu cao ý chỉ là “nhìn vào tạo vật không hỏi đến Đấng Hóa Công. Có thể trong khi hành Thiền người ta bắt gặp Chúa đang đắp nắn vũ trụ nhưng việc ai nấy làm. Thiền vẫn tiếp tục theo đường riêng, Thiền không ỷ lại vào chỗ dựa ấy. Vì thật ra, còn ý niệm thần bí về Chúa là còn có một đối tượng để nắm bắt. Hễ có được Chúa là phải loại trừ những gì chẳng là Chúa. Đó là tự mình đặt giới hạn cho mình, Thiền muốn tự do tuyệt đối.” [28]
Như trên đã nói, Huệ Năng nhấn mạnh đến việc nhận ra “Tự Tánh Siêu Việt” (Chúa) nơi chính mình trước nghĩa là phải bắt đầu từ trong thâm tâm mình đã, nếu không như thế thì việc ta tìm Chúa hay Phật bên ngoài: nơi sự vật, nơi việc cầu nguyện chỉ bằng miệng hay nơi các ý niệm dù là “Cao Vời Siêu Việt” của tư tưởng lý trí, thì chưa hẳn là “Chúa” thật. Nếu ta quá ỷ lại nơi ý niệm của ta về “Chúa” thì cũng chỉ là ảo tưởng nơi việc thờ kính của ta mà thôi.
Quả vậy, nếu Đấng Tuyệt Đối là tuyệt đối thì hơn hẳn với những gì ta nghĩ trong tâm tưởng của mình, vì tư tưởng ta không thể bao quát hết Đấng đó. Chúa mà ta cho là có đó bên ngoài là một Chúa nào giới hạn trong ý nghĩ ta mà thôi. Ý tưởng câu nói mà Thiền hay nhắc đến là “gặp Phật giết Phật” hay “Phật tại Tâm” là như thế, nghĩa là bao lâu chưa nhận ra “Phật Tánh” trong ta thì Phật bên ngoài nhiều lúc chỉ là ngẫu tượng. Vấn đề cốt yếu là ta phải chứng ngộ được Tự Tánh, khi đó ta cứ ở nơi Tự Tánh để thể nghiệm được thực tại cuộc sống của ta là gì, chỉ im lặng trong cái thực tại diệu kỳ không cần phải bàn luận, vì càng bàn luận về Thực tại Siêu hình thì càng mắc kẹt trong thế mâu thuẫn của Vô Minh, lòng ta lại càng thêm khắc khoải, ưu tư. Tự do ngay cả đối với ý niệm về “Đấng Tuyệt đối”, đó là sự “can đảm đến cùng” của Thiền vậy!
Vô Tướng cũng thế, nghĩa là không chấp vào sắc tướng bên ngoài mà nảy sinh những phán đoán đối lập nghịch với Tự Tánh. Dù có thấy điều dữ điều lành rành rành trước mắt thì cũng “chẳng lấy chẳng bỏ”, “chẳng chấp chẳng nhiễm”. Tâm sở dĩ loạn là vì quá chấp tướng, chấp cảnh bên ngoài. Cứ ở nơi Tự Tánh thì bên ngoài “ở nơi tướng lìa tướng, trong thì nơi không lìa không”. Vì nếu chấp vào tướng sẽ gây nên tà kiến còn nếu chấp vào tính “không” thì lại trở vào Vô minh. Đây có lẽ là cái thế gọng kìm thật khó thoát ra được nếu không chứng ngộ được bản chất của Tự Tánh, tức phải dùng Ánh Sáng của Tự Tánh để chiếu rọi Vô minh. [29] Nhìn chung, các tiến trình từ phá bỏ Vô minh đến đạt Vô Niệm, Vô Trụ, Vô Chấp đều có liên hệ mật thiết với nhau và đều phải phát xuất từ việc Thấy Tánh và chứng ngộ Tự Tánh. Chúng ta sẽ hiểu hơn về thực tại Tự Tánh khi đi sâu tìm hiểu thêm về Bản Chất của Giác Ngộ Tự Tánh trong Thiền.
2. Bản chất của Giác Ngộ Tự Tánh
Giác Ngộ là một điều tối quan trọng và tinh yếu nhất của Thiền. Đã gọi là Thiền là phải có Ngộ. Không Thiền thì không có Ngộ, không Ngộ thì chẳng phải Thiền. Thiền không Ngộ thì cũng như “mặt trời không có ánh sáng và nắng ấm”, như “tiêu không cay” vậy. Ngộ cũng là lý do tồn tại của Phật Giáo. Yếu chỉ Phật Giáo không gì khác hơn là nội dung của Giác ngộ. Để từ đó ta “sống thân thiết với cảnh giới tự chứng của Người mở đạo”, nhờ tự chứng như thế thì “Phật mới là Phật”. Do vậy, Thiền đi liền với việc tìm sự “Giác Ngộ Tối Cao”, chính đây là trụ cột chống đỡ cho sự tồn tại của Phật Giáo. Thiền được Phật Thích Ca “Tâm truyền” cho Ca Diếp qua câu chuyện “Niêm Hoa vi tiếu”: khi Phật đưa lên một cành hoa trước hội trường, một cử chỉ mà riêng chỉ có Ca Diếp[30] mới nhận ra thâm ý và đáp lại Thầy bằng một cái mỉm cười. Đó là khởi điểm của Đạo Thiền. [31]
a. Cảnh giới của Giác Ngộ
Cảnh giới của Tự Giác thường được diễn tả bằng các từ ngữ sau: Trí, Huệ (Bát Nhã), Chứng, Ngộ, Thành, Giác, Kiến (Thấy). [32]
Giác (Budhi) hay Bồ Đề là trạng thái tuyệt đối của Tâm, dứt bặt hết phân biệt vọng tưởng hoặc Kiến chấp (cái thấy bị bóp méo do chấp trước theo định kiến). Phật (Budha) nghĩa là người Giác. Giác là thể nghiệm trạng thái kiến chiếu muôn vật trong “Một niệm”. Chỉ có trong “Một niệm” mới có Giác. Để có “Một Niệm” là việc làm thiết yếu của Phật Giáo khi dùng hết khí lực bình sinh để giải quyết vấn đề Vô Minh như trên đã bàn. [33] Niết Bàn (Nirvana) chỉ về trạng thái tâm bặt hết phiền não đồng một thể với Giác nhưng Giác mang sắc thái trí thức hơn. [34] Niết Bàn không nên được hiểu tiêu cực là sự tận diệt cả hồn lẫn xác, Phật không bao giờ ngụ ý Niết bàn nên hiểu như vậy. Niết bàn vẫn mãi mãi gắn liền vào tư tưởng Giác Ngộ. [35]
Trí Bát Nhã là một sự hiểu biết đạt đến tầng cao hơn kiến thức bình thường. Đó là một năng khiếu gồm cả trí và tâm, là một sự kiến chiếu trong Một niệm, không phân biệt chủ thể khách thể gồm thâu trong một Tâm, và Giác là kết quả của nó. [36] Ngộ có nghĩa là tự chứng lấy bằng trực giác một điều rất hiển nhiên ngoài giới hạn không gian thời gian.[37] Giác Ngộ gồm thâu cả Ý chí lẫn Trí thức, là một hành vi trực giác phát sinh từ Ý chí. Ý chí muốn biết nó y như thực (đúng bản chất). Phật Thích Ca ban đầu cũng luẩn quẩn nơi vòng sinh tử và Vô minh không sao thoát ra được trong sự vô vọng. Đó là sự vô vọng tuyệt đối của con đường dụng trí. Sau đó, với tất cả đại hùng lực của Ý chí Ngài đi ngay vào việc đập vào Vô Minh thì cửa mở ra, Ngài đã tự chứng tự ngộ.[38]
b. Nhãn quan Giác Ngộ
Tinh yếu của Giác Ngộ nơi Thiền còn là mở ra một nhãn quang mới phóng vào cuộc sống và vũ trụ. “Nhãn quang này đòi ta phải vứt bỏ đi nếp nghĩ thông thường, ta nhận ra đâu là lối nhận định khác hơn. Ta thử xem lối nhận định thường có đủ đáp ứng trọn vẹn và rốt ráo những đòi hỏi của tâm hồn ta không? Ta cũng thử tìm xem cái gì hay điều gì khiến ta bị vướng mắc, thiếu tự do để từ đó có tự do hơn, có được cảm giác ổn định và thoải mái hơn. Thiền đề nghị ta làm việc ấy. Đoan chắc có được cái nhìn mới ấy thì cuộc đời sẽ diễn ra trong một khuôn mặt tươi mát hơn, thâm trầm hơn và thỏa đáng hơn. Đó thực sự là một đại biến cố của cuộc đời không dễ gì đạt tới vì đó là một cuộc ‘rửa tội trong lửa’, phải dấn qua vô số thử thách.” [39]
Giác Ngộ nghiêng về “trí hơn là tình, đó là một trực giác phóng thẳng vào bản thể muôn vật, khác với hiểu biết bằng phân tích lý luận”. Đó là “một khám phá ra một thế giới mới, muôn vật sẽ hiện ra dưới một quan điểm hoàn toàn mới lạ, chẳng ngờ. Thế giới sau khi ngộ không còn là thế giới cũ ngày nào, thế giới không bao giờ mê trở lại như xưa. Tất cả tâm thức cũ tưởng chừng như sụp đỗ, mọi mâu thuẫn dị biệt đều dung thông trong cái toàn thể thân thiết và nhịp nhàng”. Giác Ngộ giống như “một cuộc cách mạng đánh thẳng vào toàn diện cuộc sống tái thiết lại toàn thể đời người, đặt lại nền móng cho mọi nhận định liên quan đến cuộc sống. Từ đây, có sự thức tỉnh của một giác quan mới nên ta sẽ xét mọi giá trị cũ đều dưới một quan điểm hoàn toàn mới. Đặc biệt Giác Ngộ tác động mạnh đến đời sống đạo đức và tâm linh, làm đẹp ra, phấn khởi lên, trong sạch lại…”[40] Nhìn chung, Giác Ngộ là kinh nghiệm riêng tư, thân thiết của cá nhân không thể “nói hết bằng lời, tả bằng bút”. Những diễn tả của các Thiền Sư chỉ là thử khơi gợi lên, chỉ cho thấy mà thôi.
Nhìn chung, “nội dung của Giác ngộ thật ra giản dị vô cùng ở bản thể Tự tánh nhưng có sức chấn động kinh khủng đến toàn thể con người. Xét về mặt trí Giác ngộ giúp ta vượt qua những mâu thuẫn, đó là thế kẹt thuộc phạm vi ngôn ngữ văn tự và nhận thức thông thường. Về mặt tâm thức ta chú ý hướng đến việc tái thiết lại phẩm cách con người mình, chú ý đến hơn sự tự do của tâm hồn.”[41] Dầu vậy, hiểu nội dung Giác Ngộ thì chưa hẳn là đã đạt được sự Giác Ngộ. Vượt qua bức tường Vô Minh để đạt được Giác Ngộ Tự Tánh không phải là chuyện dễ dàng ngày một ngày hai như mọi người từng nghĩ về pháp giáo Đốn ngộ. Cái khó là vết hằn của Vô Minh nơi những tham sân si của mỗi người đã bén rễ quá sâu dường như không lay chuyển nổi. Làm sao để bứng bỏ vết hằn đó để con người có hy vọng Giác Ngộ Tự Tánh? Đó là công việc của Đạo Thiền nhắm đến.
Lửa Mới
4/2014
Xin xem tiếp phần 3 vào kỳ tới:
Làm sao để Giác ngộ Tự Tánh?
httpv://www.youtube.com/watch?v=63jClO8W1LM&list=PLosRt-84-9uQpGtGu3wlbuDX2YT8JetLq
Đức Ông Philippe Lê Xuân Thượng_Houston, Texas

1943-2015
Trong niềm tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh, và trong nỗi đau buồn vô hạn của người trần thế, chúng tôi cáo phó:
Đức Ông Philippe Lê Xuân Thượng
Chánh Xứ Giáo Xứ Đức Kitô Ngôi Lời Nhập Thể

Đã được Chúa gọi về diện kiến Nhan Thánh của Ngài sáng hôm nay, thứ Sáu, ngày 16 tháng 1, năm 2015. Xin quý ông bà anh chị em hợp lời cầu nguyện với chúng tôi và giáo xứ trong cuộc hành trình này.
Thánh lễ tiễn đưa linh hồn Đức Ông vào lúc 7:30 tối thứ Sáu, ngày 16 tháng 1, năm 2015 tại Giáo Xứ Đức Kitô Ngôi Lời Nhập Thể.
Thay mặt Hội Đồng Mục Vụ và Tài Chánh Giáo Xứ Đức Kitô Ngôi Lời Nhập Thể:
Chủ Tịch Hội Đồng Mục Vụ,
VMH
*****

Hiện giờ linh cửu Đức Ông được giữ tại nhà quàn Vĩnh Phước, có thánh lễ đưa chân lúc 7.30 PM tối 16-01-2015, tuy nhiên Linh cửu sẽ được đem tới nhà thờ NLNT bắt đầu từ thứ hai 19 January, cầu nguyện từ 5 PM, tiếp theo là thánh lễ cầu nguyện, từ thứ hai tới thứ năm, sau đó thánh lễ an táng dự trù vào 10 AM ngày thứ sáu 23 January 2015 tại nhà thờ NLNT, sau Thánh Lễ linh cữu Đức Ông Philippe Lê Xuân Thượng sẽ được an nghĩ tại nghĩa trang FOREST PARK WESTHEIMER 12800 Westheimer Rd Houston TX 77077

Đức Ông mất đi để lại rất nhiều sự thương mến trong lòng người giáo dân NLNT, một đời chỉ biết phụng vụ Thiên Chúa và mở mang nước Chúa.

Đức Ông bị ngã trong phòng tắm, gọi 911 tới, CPR không cứu được ngài. Ngài mất đi, hưởng thọ 71 tuổi.. Xin ACE tới tham dự các thánh lễ cầu nguyện cho Đức Ông Phillipe .
phh
Dear Fathers,
The funeral arrangements for Monsignor Philippe Le-Xuan-Thuong are as follows:
All Masses and Wake Service will be held at:
Christ, the Incarnate Word Parish
8503 South Kirkwood Road
Houston, Texas 77099
Schedule of masses for Msgr. Philippe:
January 19, 2015 (Mon) – 7:30 PM Mass
Liturgy prepared by Vietnamese Martyrs Parishioners
January 20, 2015 (Tues) – 7:30 PM Mass
Liturgy prepared by Co-Cathedral of the Sacred Heart
January 21, 2015 (Wed) – 7:30 PM Wake
Service – Bishop George Sheltz
January 22, 2015 (Thurs) – 7:30 PM Memorial Mass
Archbishop Joseph Fiorenza
January 23, 2015 (Fri) – 10:00 AM Funeral Mass
Cardinal Daniel DiNardo
Followed by burial in Forest Park Cemetery Westheimer
12800 Westheimer Road, Houston, 77077
If you have any questions, please contact Father Thu Ngoc Nguyen at 713-659-1561.
Please keep the Le-Xuan family in your prayer.
In Christ,
Sister Gina Ladanza, msc
Archdiocese of Galveston-Houston
1700 San Jacinto Houston, TX 77002
2403 Holcombe Blvd. Houston, TX 77021
www.archgh.org
*****
Visit link: http://baomai.blogspot.com/2015/01/rip-uc-ong-philippe-le-xuan.html
*****
Cuộc Hành Trình

Đức Ông Philippe Lê Xuân Thượng, S.Th.L.,JCD
Sinh ngày: 6/10/43 tại Tấn Tài, Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận, VN
Thân Phụ: Micae Lê Nhạc
Thân Mẫu: Lucia Bùi Thị Tâm

1952: Tiểu Chủng Viện tại Nha Trang, VN
1963: Đại Chủng Viện-Giáo Hoàng Học Viện Piô X, Đà Lạt, VN

28/11/1970: Thụ phong Linh Mục tại Manila, Phi Luật Tân
1971: Cử Nhân Thần Học, Đà Lạt, VN
1971-1975: Trường Ngoại Giao Tòa Thánh, Roma
1975: Tốt nghiệp Trường Ngọai Giao
Tiến sĩ Giáo Luật tại Đại Học Gregorian, ROMA
1975-1978: Bí thư Tòa Khâm Sứ Tòa Thánh tại Dacca, Bangladesh
1978-1981: Bí thư Tòa Khâm Sứ Tòa Thánh tại Port Morestby, Papua New Guinea

1981-1983: Bí thư Tòa Khâm Sứ Tòa Thánh tại Santiago, Chile
1983-1986: Phó Xứ giáo xứ St. Jerome, giáo phận Galveston-Houston, USA
1986-1989: Đại Diện Đức Giám Mục đặc trách giáo dân Việt Nam tại giáo phận Galveston-Houston USA
1986-1987: Chánh Xứ giáo xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, Galveston-Houston
1987-1989: Phó xứ giáo xứ Chánh Tòa Thánh Tâm, giáo phận Galveston-Houston
1990-1998: Chánh Xứ giáo xứ Chánh Tòa Thánh Tâm giáo phận Galveston-Houston
1998-1999: Chánh Xứ Notre Dame giáo phận Galveston-Houston

1999-tới nay: Chánh Xứ giáo xứ Đức Kitô Ngôi Lời Nhập Thể giáo phận Galveston-Houston
Từ một chàng trai hư hỏng, cờ bạc, ma túy đến một phạm nhân, rồi thành đan sĩ linh mục, giờ đây chính Lm P.X. Trần An lại hoán cải cuộc đời cho nhiều người giúp họ sống lương thiện, có ích.
Phóng viên Báo điện tử Gia đình Việt Nam đã tới Đan Viện Thiên An ở Huế và gặp Đan sĩ, Linh mục Phanxicô Xaviê Trần Văn An. Cuộc đời linh mục là một hành trình đầy thử thách, gian nan; đầy sự phấn đấu, lòng nhân từ và hồng ân.

Từ tình yêu thương bao la của mẹ
Sinh ra trong gia đình giàu có ở giáo xứ Cầu Rầm (Vinh, Nghệ An), chàng trai Trần Văn An ngày ấy rất khôi ngô và hào hoa.
17 tuổi, Trần Văn An bắt đầu con đường ăn chơi, sa đọa. Học hết cấp 3, cha mẹ cho theo nghề kim hoàn, Trần Văn An trở nên giàu có nhờ buôn bán vàng và đồ cổ. Nhưng chẳng mấy chốc, anh tiêu sạch tiền và sa vào cờ bạc, rượu chè, ma túy.
Hết tiền, Trần Văn An quay sang ăn cắp tiền của gia đình và nhiều người, tham gia băng nhóm xã hội đen, đánh lộn, ăn cắp và hút chích để rồi sa chân vào vòng lao lý, bắt đầu những tháng ngày tù tội khổ đau.
Từ một thanh niên có tương lai tốt đẹp, thành người ăn chơi sa đọa rồi một tù nhân, Trần Văn An còn bị thêm cú sốc khi người yêu “sang ngang”. Tuyệt vọng đến tận cùng, được tha về, anh vẫn chứng nào tật nấy, ngựa theo đường cũ, chẳng bao lâu lại dính vào nghiện ngập.
Chúng tôi hỏi cơ duyên nào khiến Trần Văn An quyết tâm từ bỏ con đường nghiện ngập và trở nên công chính, linh mục trả lời, rằng từ tình thương bao la của mẹ lay động lòng trời.
Khi đang lén lút hút thuốc phiện tại nhà, Trần Văn An bị mẹ phát hiện. Ngước mắt nhìn người mẹ yêu dấu khổ đau, sốc đến tận cùng, anh như bị sét đánh. Từ nội tâm như bật lên tiếng nói, thúc giục anh trở về với mẹ, phải sống tốt để tạ ơn mẹ. Cũng từ đó, trong anh có một quyết tâm lớn là làm lại cuộc đời, anh chạy đến Thánh Địa La Vang (Quảng Trị) nguyện cầu với Mẹ Maria, cầu nguyện Chúa cho anh đủ sức vượt qua cám dỗ của ma túy.
Năm 1992, chính bố ruột gửi Trần Văn An đến ở cùng một cha xứ. Hai năm sau, Trần Văn An gia nhập Đan Viện Thiên An và trở thành Đan sĩ dòng Biển Đức của đạo Thiên Chúa Giáo. Kể từ đó, Trần Văn An dành cả cuộc đời linh mục, đan sĩ của mình để cầu nguyện, giúp đỡ, chia sẻ và mang niềm hy vọng cho biết bao nhiêu người lầm lỡ muốn trở về con đường thiện. Vị linh mục nói: “Chúa đã yêu thương tôi và cứu chữa tôi. Vì thế tôi cố gắng làm một việc gì đó hữu ích cho người nghèo, bệnh nhân và người tội lỗi”.
Tôi hỏi: viết rõ quá khứ như vậy liệu có gì phiền không? Linh mục cười, nói rằng đây là sự thật và khi nói về sự thật cuộc đời mình thì mình đang hòa giải với chính mình đã; mình thấy thanh thản và cũng là để cảm tạ những ơn lành Chúa ban cho mình.
Hơn nữa nếu sự thật này mà chia sẻ được với bao thanh niên lỡ lầm cùng cảnh ngộ với thời trai trẻ của mình thì nên nói, vì câu chuyện này thêm sức mạnh, thêm niềm tin và hy vọng cho họ.
Dự án phát huy sức mạnh nội tâm…
Có một thanh niên tên Q, quê ở Hà Tĩnh, là người đã sống ngoài vòng pháp luật hơn 10 năm chỉ vì trong một bữa tiệc lời qua tiếng lại, dùng dao đâm chết bạn đồng hương rồi bỏ trốn. Người thanh niên này đã đến nhờ linh mục Trần Văn An giúp. Trước thái độ ăn năn của Q, linh mục đã chia sẻ, giúp đỡ, hướng dẫn Q tĩnh tâm, thống hối để nhận ra lỗi lầm của mình và khuyên Q ra đầu thú để nhận được khoan hồng của pháp luật.
Trong bức thư gửi Linh Mục Trần An, Q tâm sự “Thưa Cha, con cám ơn Cha nhiều lắm, nhờ Cha mà giờ đây con sắp được vào tù. Con cảm thấy bình an hạnh phúc lắm, bởi tuy thân xác con ở tù nhưng lương tâm con lại được tự do giải phóng”
Còn rất nhiều, rất nhiều người khác nữa từ thanh niên đến người lớn tuổi, từ người công giáo đến người ngoài công giáo đã nhận được sự giúp đỡ tận tâm của Linh mục Trần An.
Thấy phương pháp dưỡng tâm, hướng dẫn người nghiện ma túy tĩnh tâm bằng cầu nguyện để tìm ra ý nghĩa đích thực của sự sống, của cuộc đời mình có kết quả rất tốt, tôi hỏi Linh mục Trần An sao không nhân rộng ra. Linh mục cho biết đã vận động được một số bà con giúp đỡ và đang xin chính quyền các cấp cho phép mở “Ngôi nhà tĩnh tâm, hướng thiện”.
Đây là dự án từ thiện về giáo dục hướng thiện, giúp đỡ, dạy nghề cho người nghiện ma túy, giúp họ tìm ra sức mạnh nội tâm để chiến thắng ma túy.
LÊ THÀNH
Thủ tướng VN bật đèn xanh casino Phú Quốc
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chấp thuận “chủ trương đầu tư” một dự án có casino tại huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Ông Dũng được truyền thông trong nước dẫn lời giao cho một bộ chủ trì và phối hợp với UBND tỉnh Kiên Giang và các cơ quan liên quan “nghiên cứu, tiếp thu, giải trình và báo cáo Thủ tướng xem xét sau khi Chính phủ ban hành nghị định về kinh doanh casino”.
Hiện tại Việt Nam chưa có luật liên quan đến hoạt động casino và mới chỉ có dự thảo nghị định do Bộ Tài chính trình Chính phủ từ tháng 8/2014.
Dự thảo nghị định khi đó yêu cầu chủ đầu tư dự án casino phải cam kết từ 4 tỷ USD trở lên mới Thủ tướng cấp phép và rằng Thủ tướng sẽ quyết định điều chỉnh mức vốn cam kết đầu tư tối thiểu “theo từng thời kỳ, phù hợp với sự phát triển của thị trường.”
Thời báo Kinh tế Việt Nam cho biết “tờ trình đề án thành lập đặc khu kinh tế Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang nói casino được xây dựng trên diện tích 30.000 m2 với 200 – 400 bàn đánh bạc, 2.000 máy chơi bạc, ngoài ra còn có trung tâm hội nghị, hội thảo quốc tế và khách sạn 5 sao 3.000 phòng…
“Tháng 9/2014, Thủ tướng cũng đã có quyết định công nhận huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang là đô thị loại 2. Mục tiêu của Chính phủ là đưa Phú Quốc thành một đặc khu kinh tế và trở thành trung tâm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí cao cấp quốc gia và quốc tế, trung tâm tài chính tầm cỡ khu vực”, báo này nói thêm.
Tại Kiên Giang, ông Dũng từng làm bí thư Huyện Hà Tiên, sau thăng chức làm phó bí thư rồi bí thư Tỉnh ủy. Ông cũng từng là chủ tịch tỉnh Kiên Giang. Nơi đây được cho là có nhiều thành phần ủng hộ ông Dũng.
Ông Nguyễn Thanh Nghị, con trai đầu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hồi tháng Ba năm ngoái được Bộ Chính trị luân chuyển về tỉnh Kiên Giang làm phó bí thư Tỉnh ủy.
Việc luân chuyển 19 thứ trưởng, trong đó có ông Nghị, từ trung ương về địa phương này được mô tả là nhằm ‘chuẩn bị một bước về nhân sự lãnh đạo cấp ủy địa phương’ và ‘đào tạo, rèn luyện cán bộ trẻ’, theo một công văn của Bộ Chính trị hồi cuối tháng Hai.
Trước khi nhận nhiệm sở mới, ông Nghị từng là thứ trưởng Bộ Xây dựng và là ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng.
Hiện chỉ có người ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài là hai đối tượng được phép chơi tại các casino trên lãnh thổ Việt Nam.
Tại phiên họp thường vụ Quốc hội hồi tháng Tư năm ngoái, dự thảo Nghị định được Bộ trưởng Tài chính trình bày vẫn giữ nguyên quan điểm hạn chế người Việt
Hiện có một bộ phận không nhỏ người Việt Nam vẫn mang tiền đi chơi casino tại nước ngoài và đã có nhiều đề xuất cho rằng nên bổ sung đối tượng tham gia chơi casino là người Việt Nam để quản lý và hạn chế việc “chảy máu” ngoại tệ, truyền thông Việt Nam đưa tin bấy lâu nay.
Đánh bạc là hành vi bị coi là bất hợp pháp tại Việt Nam, được qui thành tội danh trong Bộ Luật Hình sự.
Ngoài phạt tiền và cải tạo không giam giữ, người bị coi là phạm tội đánh bạc có thể bị xử tù tới tối đa bảy năm (Điều 248/BLHS).
Hiện không có thống kê chính thức nhưng nhiều người cho rằng có hàng ngàn người vượt biên giới Việt Nam sang đánh bạc tại Campuchia mỗi ngày.
Hiện có 7 doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh casino trên toàn Việt Nam, trong đó có 5 dự án casino được mô tả là “quy mô nhỏ” tại Hải Phòng, Lào Cai, Đà Nẵng, Quảng Ninh và hai dự án “quy mô lớn” tại Quảng Nam và Bà Rịa – Vũng Tàu.
Được biết Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản đã chấp thuận về chủ trương đầu tư dự án phát triển khu du lịch tổng hợp casino Phú Quốc và dự án khu du lịch tổng hợp có casino Vân Đồn, Quảng Ninh.
“Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn,”
đời tôi cô đơn nên yêu ai cung không thành.
đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng dở dang,
yêu ai cũng lỡ làng dù rằng tôi chẳng lỗi chi.
(Vinh Sử – Đời tôi cô đơn)
(1Cor 7: 30-32)
Trần Ngọc Mười Hai
Là nghệ sĩ, có thể anh chị vẫn hát những câu như thế. Chứ còn, linh mục bọn tôi, hỏi rằng hát vậy có nên không?
Nên hay không, xin bạn và tôi, ta cứ nghe thêm một đoạn nữa rồi ắt biết:
“Đời tôi cô đơn nên yêu em chẳng bao lâu
ngày mai đây em lên xe hoa bước theo chồng.
đời tôi quen cô đơn nên tôi chẳng trách em.
tôi quen rồi những chuyện dang dở từ khi mới yêu.
tôi quen tôi đã quen rồi em,
dang dở khi tình yêu tôi không xây trên bạc vàng.
tôi quen tôi đã quen rồi em
em khóc làm gi nữa bận lòng gi kẻ trắng tay.
tôi xin xin chúc em ngày mai hoa gấm ngọc ngà
luôn vây quanh em cả cuộc đời.
riêng tôi duyên kiếp luôn dở dang
nên suốt đời tôi vẫn yêu cô đơn như tình nhân.
(Vinh Sử – bđd)
Chẳng biết sao chứ bần đạo đây mới được đọc một bài tâm sự do đấng bậc nọ sống ở Úc từng viết về tâm-trạng của chính mình khi ông chọn suộc sống tông-đồ mục-vụ ở quê miền rất Úc Đại Lợi, lại có những giòng chảy như sau:
“Lâu nay, ngay từ ngày thụ-phong linh-mục ở Ballarat và thực-thi công-cuộc thừa-tác mục vụ ở Warrnambool, Koroit và Hamilton, tôi vẫn tự coi mình như linh-mục đồng quê, bởi cư dân ngụ ở nơi đó cũng tự gọi như thế. Và tôi cũng nghĩ là như thế, đã từ lâu…
Sống ở xứ đạo miền quê, tôi nay quen dần với cuộc sống ‘vò võ’ chỉ có mỗi một mình. Nhìn vào quá khứ tôi thấy mình cũng học được nhiều thứ. Bản thân mình, tôi là người anh cả trong gia đình có 9 người. Xem thế thì, tôi đã lớn lên trong khung cảnh gia đình đầy những người. Lên đại học, tôi lại là sinh-viên nội-trú san sẻ chốn ngụ cư với không ít sinh viên khác. Và khi bước chân vào đại-chủng-viện, lại cũng ở chung với nhiều bạn đồng cảnh, đồng-nghiệp. Nay sống ở vùng xa xôi thuộc tiểu bang Victoria, nước Úc, đáng lý ra tôi sẽ sinh sống cùng với gia đình nhỏ; nhưng chốn tôi ăn ở tại xứ họ này, lại không phải là gia đình nhỏ, mà chỉ mình tôi phải xoay xở đủ mọi thứ, cũng một mình.
Đáng lý ra, thật dễ sống trong khung cảnh nhà xứ với 3 phòng: gồm một nhà bếp, một phòng học/làm việc và một phòng ngủ, các nơi khác còn lại của nhà xứ đều không bàn ghế tủ giường và bỏ lơ là, trống rỗng. Tôi chống lại sự việc này nên đang cố gắng tạo dựng một cơ ngơi mang tính gia đình hơn, là: ăn ở phòng ăn, đọc sách tại phòng khách; nên, phòng ốc được trang-bị ngày càng thêm nhiều bàn ghế/tủ giả hơn và cứ từ từ tôi biến phòng ốc thành khu đông người ở bằng các tranh ảnh và bản in trên giấy dán khắp tường.
Làm như thế, cũng không có gì là lớn lao cho lắm. Nhưng phòng ốc tôi sinh sống nay được bày biện như nhà xứ với đồ đạc từ thế kỷ 19 có ghế bành, đồ đạc thuộc thập niên 90, và cứ thế giúp tôi có cảm giác như đang ở với gia đình vậy.
Lý do cho mọi chuyện, lại cũng đơn giản chỉ vì tôi không là người đơn độc ở một mình, nên không việc gì phải sống như những người đó. Linh mục độc thân nhưng lại được mọi người gọi bằng tiếng “cha”. Theo tôi thì, đây có sự khác biệt ‘một trời một vực’ giữa những người sống một thân một mình với cuộc sống độc-thân trong thánh-hiến. Trên lĩnh-vực thực-tế, thì một giáo xứ mang tính gia-đình sẽ giúp tôi cưỡng lại vị-thế thương-hại/thương xót chính mình và cả đến sự đơn độc nữa.
Cụ-thể hơn, thì thế này: khi tôi suy-tư và học hỏi mọi sự đều thấy hài lòng và vui thích, như hiện tại, thì trong tôi tràn đầy sự cảm-kích với những vật liệu lành-thánh ở quanh tôi. Giả như tôi có lang thang trong khu vực quanh nhà xứ lớn rộng và trống rỗng như thế, có cảm-giác sự đơn độc rất day dứt, thì chỉ cần liếc nhìn vào các ảnh hình ở quanh mình có Chúa hiện diện là tôi đã thấy mình không còn đơn chiếc nữa. Và ngay khi ấy, tôi dâng hiến cái cảm-giác đơn độc trong phút chốc ấy như một động-tác thương yêu, là xong ngay.
Ngoài ra, tôi đang vui hưởng tính hiếu-khách của giáo-dân miền quê. Các vị này vẫn mời chào tôi đến với mỗi người trong nhà của họ và tôi đặc biệt rất quí các bữa ăn với các gia đình còn son trẻ. Khi ấy mới thấy quí tình thân thương đại lượng của các bậc cha mẹ son trẻ, là các người đồng đạo, đồng thuyền với tôi, đã cho đi rất nhiều qua vị-thế của đời sống vợ chồng. Điều đó khiến tôi học đòi bắt chước tính chân phương đại độ của họ trong cuộc sống theo ơn gọi của riêng tôi.
Tắt một lời, sống một mình ở xứ đạo quê mùa, dân-dã, tôi học được nhiều bài học về thương yêu giùm giúp khiến tôi lên tinh-thần hơn trước”. (x. Lm John Corrigan, Diary of a country Priest: A solitary life? No. I’m never really alone, The Catholic Weekly 16/11/14, tr. 33)
Nhà Đạo mình thì như thế. Khi đã yêu rồi, thì không còn biết và cũng chẳng cần hiểu là mình có đơn độc hoặc đơn chiếc nữa không. Trong khi đó, người đời ở phố chợ đông đúc dù đang yêu và vẫn yêu, nhưng miệng họ lại cứ hát những câu như sau:
“Đời tôi cô đơn bao năm qua vẫn cô đơn.
dù ai đẹp đôi nhưng riêng tôi vẫn lạnh lùng.
Trời cho tôi cô đơn bao nhiêu lần nữa đây,
tôi không hề trách đời hay giận đời mau đổi thay.”
(Vinh Sử – bđd)
Thế mới biết, cô đơn, lạnh lùng ở cuộc đời vẫn còn tùy. Tùy người. Tùy tâm tính và quyết-tâm tạo cuộc sống cho mình, thôi. Còn nhớ, khi xưa các cụ thường có câu: “Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!. Và nếu ta cứ diễn đạt theo chiều hướng này, ắt cũng có thể bảo: cảnh có đông/vui, đâu làm cho người đơn độc thấy được niềm vui ở cuối đường, được!
Thế mới hay, rằng: cuộc sống con người dù ở ngoài đời hay trong Đạo, vẫn không cho những người đã sống và đang sống cuộc đời qua nhiều điều, để rồi người đời lại cứ dựa vào đó mà suy tư, đành hanh, tị nạnh.
Thế mới hiểu, như nhận định của người viết nọ từng minh định trên mạng, sau đây:
“Ở một đất nước giàu có của Châu Âu, có một cô ca sĩ rất nổi tiếng. Tuy mới chỉ 30 tuổi nhưng danh tiếng cô đã vang dội khắp nơi, hơn nữa cô có một người chồng như ý và một gia đình hạnh phúc mỹ mãn. Một lần, sau khi tổ chức thành công một đêm diễn, cô ca sĩ cùng chồng và con trai bị đám đông người hâm hộ cuồng nhiệt bao quanh. Mọi người tranh nhau chuyện trò với cô. Những lời lẽ tán tụng khen ngợi tràn ngập cả sân khấu.
Có người khen cô tuổi nhỏ chí lớn, vừa tốt nghiệp đại học đã bước chân vào nhà hát tầm cỡ quốc gia và trở thành nữ ca sĩ trụ cột của nhà hát. Có người tán tụng rằng mới có 25 tuổi mà cô đã được lựa chọn là một trong 10 nữ ca sĩ có giọng háy opera xuất sắc nhất thế giới. Có người lại ngưỡng mộ cô có người chồng tuyệt vời, một cậu con trai kháu khỉnh, dễ thương.
Trong khi mọi người thi nhau bà luận, cô ca sĩ này chỉ im lặng lắng nghe, không thể hiện thái độ gì. Khi mọi người nói xong cô chậm rãi nói: “Trước tiên, tôi cảm ơn những lời ngợi khen của mọi người dành cho tôi và những người trong gia đình tôi. Tôi hy vọng có thể chia sẻ niềm vui này với mọi người. Nhưng các bạn chỉ nhìn thấy một số mặt trong cuộc sống của tôi còn một số mặt khác, các bạn vẫn chưa nhìn thấy. Cậu con trai của tôi mà mọi người khen là bé kháu khỉnh, đáng yêu, thật bất hạnh, nó là 1 đứa trẻ bị câm. Ngoài ra, nó còn có một người chị tâm thần và thường xuyên bị nhốt ở nhà.”
Mọi người đều ngơ ngác, sửng sốt nhìn nhau, dường như rất khó chấp nhận một sự thật như thế. Lúc này, cô ca sĩ mới điềm tĩnh nói với mọi người: “Tất cả những chuyện này nói lên điều gì? Có lẽ chúng nói lên một triết lý, đó là, Thượng đế rất công bằng, ngài không cho ai quá nhiều thứ bao giờ.”
Thượng đế rất công bằng, ngài không cho ai quá ít, cũng không cho ai quá nhiều. Vì thế, đừng nên chỉ nhìn thấy hoặc ngưỡng mộ những thứ người khác có, mà nên nghĩ và trân trọng những thứ bạn đang có, cho dù đó không phải là những vinh quang tột đỉnh.
Vậy nên, nếu ai hỏi bạn “Bạn có hạnh phúc không?”
Bạn hãy trả lời rằng: “Mình hạnh phúc.
Hạnh phúc theo cách mình sống và những gì mình đang có trên đời này”.
(trích dẫn bài viết của tác giả ký tên là ST trên Internet)
Thế mới lạ, câu hỏi cuối cùng cứ lởn vởn trong đầu mọi người, vẫn cứ là: “Bạn có hạnh phúc không?” Hạnh phúc hiểu theo nghĩa thường, bất kể hoàn cảnh của đời mình có sống cô đơn, một mình ở chốn “khỉ ho cò gáy”, như linh mục tên John Corrigan ở “miệt dưới” nước Úc.
Hạnh phúc hiểu theo nghĩa đích đáng của đấng bậc ở “miệt trên cao” xứ Đạo toàn cầu, bên đó có giòng chảy đầy những chữ như sau:
“1. Hãy sống thật với chính bản thân mình
Nhà thơ Mỹ Jay Parini cho rằng trước đó giáo hoàng Francis đã nhắn gửi thông điệp này khi khẳng định ông không đủ tư cách để đánh giá người đồng tính. Giáo hoàng nói: “Hãy bước về phía trước và để cho mọi người khác làm như vậy”.
Hãy sống thật với bản thân như Đức Giáo Hoàng. Ngài giản dị, gần gũi, vui tính, tràn đầy yêu thương, bao dung và bác ái. Khoảnh khắc hài hước của Đức Giáo Hoàng khi chủ trì hôn phối cho cặp đôi trẻ tại quảng trường Thánh Phêrô.
2. Hãy sống vì người khác
Đó là hãy đóng góp thời gian và tiền bạc của bản thân mình cho những người cần đến chúng. Đừng nên sống thụ động, trơ lì. Giáo hoàng Francis cho rằng mọi người cần cởi mở, vị tha và hào phóng với người khác. Ngài khiêm nhường quỳ xuống hôn chân giáo dân trong một nghi lễ. Ngài còn là người gần gũi với tất cả mọi người và đặc biệt rất yêu thương trẻ em.
3. Hãy sống một cách điềm đạm và lặng lẽ
Giáo hoàng dẫn lời nhà văn Argentina Ricardo Guiraldes mô tả một người thời trẻ “giống như một dòng chảy mạnh qua tất cả”, nhưng khi trưởng thành thì nên trở thành “một dòng sông tĩnh lặng, thanh bình”. Đức Giáo Hoàng luôn giản dị trong đời sống thường nhật, khiêm cung và lặng lẽ.
4. Hãy tận hưởng những khoảnh khắc thư thái
Giáo hoàng cho rằng chủ nghĩa tiêu thụ quá mức đã gây những nỗi lo âu vô cớ đối với nhiều người. Do đó mọi người cần dành thời gian nghỉ ngơi, chơi đùa với con cái. Các gia đình khi ăn cơm nên tắt tivi để có thể nói chuyện với nhau nhiều hơn. Ngài cũng luôn dành thời giờ để tận hưởng khoảnh khắc thư thái. Bóng đá và điệu Tango là sở thích của Ngài
5. Hãy dành chủ nhật cho gia đình
Giáo hoàng cho biết đây là một trong những điều răn trong Kinh thánh và đó là cách sống lành mạnh.
6. Hãy tìm việc làm cho người trẻ
“Chúng ta phải sáng tạo trong tìm việc cho người trẻ. Nếu họ không có cơ hội có việc làm, họ sẽ rơi vào các tệ nạn như ma túy” – giáo hoàng nhấn mạnh. Ông cho rằng không cần phải giàu có, nhiều tiền, chỉ cần tìm thấy niềm vui trong công việc là đủ.
Ngài cũng luôn hết sức gần gũi với giới trẻ.
7. Hãy tôn trọng tự nhiên
Theo giáo hoàng, suy thoái môi trường là một trong những thách thức lớn nhất đối với con người. “Câu hỏi mà chúng ta cần hỏi bản thân là phải chăng loài người đang tìm cách tự sát khi đối xử với tự nhiên một cách bừa bãi và bạo ngược như vậy” – giáo hoàng nói.
8. Hãy ngừng những suy nghĩ tiêu cực
Giáo hoàng cho rằng việc suốt ngày than thở về cái xấu và sự tiêu cực của người khác cho thấy sự thiếu tự tin của chính bản thân mình. Hãy để cho những điều tiêu cực trôi nhanh.
9. Hãy tôn trọng tín ngưỡng của người khác
Theo giáo hoàng, mỗi người đều có quyền nhìn thế giới theo cách riêng của họ và chúng ta phải tôn trọng điều đó. Theo Đức Giáo Hoàng Phanxicô, thì: “Mỗi người đều có quyền nhìn thế giới theo cách riêng của họ và chúng ta phải tôn trọng điều đó”.
10. Hãy làm việc vì hòa bình
Giáo hoàng khẳng định chúng ta đang sống trong một thời kỳ có nhiều xung đột và cần phải kêu gọi hòa bình. Trên thực tế giáo hoàng từng đến Trung Đông để kêu gọi người Israel và Palestine đối thoại với nhau. Ông từng nhấn mạnh hậu quả lớn nhất của chiến tranh chính là những đứa trẻ thiệt mạng, bị tật nguyền hoặc trở thành mồ côi.” (x. Tạp chí Argentina Viva, Đức giáo hoàng Francis tiết lộ danh sách 10 bí quyết để sống hạnh phúc mà ông muốn gửi gắm tới tất cả mọi người.)
Nhắc đến đấng bậc nhà Đạo “ở trên cao”, nói đến hạnh phúc những 10 điều, cũng nên nhắc nhớ và nhắc nhở câu an ủi của đấng bậc lành thánh khác, ở Tin Mừng, như sau:
“Thưa anh em,
tôi xin nói với anh em điều này:
thời gian chẳng còn bao lâu.
Vậy từ nay những người có vợ hãy sống như không có;
ai khóc lóc, hãy làm như không khóc;
ai vui mừng, như chẳng mừng vui;
ai mua sắm, hãy làm như không có gì cả;
kẻ vui hưởng của cải đời này, hãy làm như chẳng hưởng.
Vì bộ mặt thế gian này đang biến đi.
Tôi muốn anh chị em không phải bận tâm lo lắng điều gì hết.”
(1Cor 7: 30-32)
Thế mới biết, cuộc đời này, nếu cứ nói năng, tranh-luận về hạnh-phúc/sướng vui, cũng tùy người/tùy việc. Nay, xem thế thì bạn và tôi, ta cũng nên cảm-nghiệm chuyện vui/buồn ở đời người theo nhiều cách, nhiều khíá cạnh, rất khác nhau.
Có một cách và cũng là khía cạnh cho thấy người người đều thấy vui và hạnh phúc, khi mãn nguyện với việc mình làm rất đúng hướng, đúng điệu và đúng cách. Những hướng, những điệu và cách thức, tương tự ý-nghĩa của chuyện kể cũng rất phiếm được dùng làm đoạn kết kết cho bài phiếm nhẹ, rất như sau:
“Trong lần phỏng-vấn tìm việc có lời hỏi/đáp rất ngắn gọn, như sau:
-Được gọi đến phỏng vấn tìm việc như thế này, anh có thấy hạnh phúc không?
-Thưa ông, rất TT.
-Có thể nào anh nói rõ rất TT là nghĩa gì không? Hay chỉ có nghĩa “tê tê”, thẫn thờ?
-Thích thú, mới đúng nghĩa.
-Thế, tên anh là gì để tôi còn vào sổ?
-Dạ thưa, TT.
-Một lần nữa xin nói cho đủ chữ.
-Trần Trường, ạ.
-Thế tên cha là gì?
-Dạ, TT.
-Như thế là gì?
-Dạ, Trần Tình.
-Nơi sinh?
-Dạ, TT.
-Lại TT là nghĩa gì?
-Dạ, Thừa Thiên ạ.
-Văn bằng anh tạo được là do đâu?
-TT ạ.
-Xin lỗi, nếu tôi không được trầm tĩnh, thì chữ đó có nghĩa gì?
-Dạ, do “thủ thuật” ạ.
-Vậy thì, tại sao anh muốn có việc làm?
-Dạ, vì TT ạ.
-Lại nữa, TT đây là cái gì thế?
-Dạ, Túng Thiếu ạ.
-Thế anh thấy nhân cách của anh thế nào?
-Dạ, TT.
-Nghĩa là gì, xin nói cho đầy đủ chữ?
-Dạ, tuyệt trần ạ!
-Thôi được rồi, tôi sẽ gọi anh để cho biết kết quả.
-Thưa ông thấy TT, à quên tư thế của tôi thế nào, sau vụ này?
-Tôi nghĩ anh đang TT đấy!
-Dạ thưa, TT ông nói có nghĩa gì vậy?
-Có nghĩa là anh như người bị Tâm Thần, vậy thôi…”
(trích truyện cười trên trang mạng của Úc, do bạn bè gửi)
Nói cho cùng, có Tê Tê hay Zet zét, cũng chỉ là tư thế của những người đang đi tìm niềm vui trong cuộc sống có Tê Tê, nhiều tự truyện. Thế nhưng Tê Tê cuộc đời không chỉ mỗi tê tê, hay bê bê bối bối cũng chẳng sao. Miễn là bạn đi đâu, ở đâu cũng thấy hạnh phúc sướng vui là được. Chí ít, là sống đời đi Đạo, ở giữa đời.
Tắt một lời, cuộc đời người đâu chỉ mãi như câu hát ở bên dưới, mà rằng:
“Đời tôi cô đơn bao năm qua vẫn cô đơn.
dù ai đẹp đôi nhưng riêng tôi vẫn lạnh lùng.
Trời cho tôi cô đơn bao nhiêu lần nữa đây,
tôi không hề trách đời hay giận đời mau đổi thay.”
(Vinh Sử – bđd)
Tắt một lời, dù có “Tê Tê” buồn buồn như truyện kể, hoặc “cô đơn/lẻ bóng như câu hát, thì bạn và tôi, ta hãy cứ hiên ngang mà sống. Sống, theo lời khuyên bảo của đấng thánh-hiền nhà Đạo vẫn căn dặn rằng:
“kẻ vui hưởng của cải đời này,
hãy làm như chẳng hưởng.
Vì bộ mặt thế gian này đang biến đi.”
(1Cor 7: 30-32)
Tắt một lời, dù cho bộ mặt “thế gian” lan man với thế giới này vẫn không biến đi như lời thánh-hiền tiên đoán, thì bạn và tôi hãy cứ sống vui sống mạnh, sống xứng một đời đi Đạo, trong đời người. Rất ở huyện.
Trần Ngọc Mười Hai
Và những quyết-tâm
đại loại như thế.
“Gió thổi hôm nay lá rụng nhiều,”
“Cây em đan hộ tấm tình yêu
Để về mang ủ lòng anh lạnh,
Cho khoảng đêm trường đỡ quạnh hiu.”
(Dẫn từ thơ Lưu Trọng Lư)
Mc 1: 14-20
Mai Tá lược dịch.
Nhà thơ ưu tư nhiều, về người em đan áo lạnh. Đan áo cho đêm trường khỏi quạnh hiu. Nhà Đạo ít bận tâm, về đáp ứng lời gọi mời, vẫn từ lâu.
Trình thuật hôm nay, thánh Máccô kể về lời Chúa gọi mời, có thử thách. Về, cả những đáp ứng của muôn dân thiên hạ, đã dửng dưng. Tin Mừng nay được viết, ngay sau khi Đức Chúa chịu thanh tẩy bên bờ sông Gióc-đan. Thanh Tẩy Chúa, có Ngôi Cha hỗ trợ. Có cả, Thần Linh Chúa ở cùng với Đức Giê-su.
Thánh Gio-an Tẩy Giả đã bị bọn xấu bắt giữ, nên thánh nhân đã “trao ban – phó nộp” vào lúc Đức Giê-su đi đến gặp ông. Đúng theo ngôn từ ta sử dụng trong thánh lễ, lúc vị chủ tế dâng Mình Thánh: “Này là Mình Ta, sẽ bị nộp vì các con.” Trao ban – phó nộp, mang ý nghĩa Chúa khởi đầu cuộc đời công khai rao giảng, cho người đời.
Cuộc đời Ngài, tóm gọn vào hai giòng chữ, rất rõ ràng: “Thời buổi đã mãn, và Nước Thiên Chúa đã gần bên! Hãy hối cải và tin vào Tin Mừng” (Mc 1: 15). Quả thật, toàn bộ tín thư Tin Mừng tóm gọn ở hai mệnh đề này. Đó, chính là mục tiêu Chúa đến với nhân trần. Và, ta đáp ứng việc ấy ra sao.
Thời buổi đã mãn, là Đấng Mêsia, Vua Cứu Độ, nay đã đến. Cũng thế, Vương Quốc Nước Trời, như Triều đại/ngai vàng của Chúa nay gần kề. “Vương quốc” Ngài, không là nơi chốn địa dư không gian, mà là mạng lưới tương quan. Và, ai tuỳ thuộc “mạng”, là người chấp nhận thị kiến sống do Đức Giê-su ban bố, cho mọi người. Tức, cuộc sống của những ai đặt căn bản trên thị kiến ấy. Chẳng cần biết người ấy là ai; họ ở đâu. Mạng tương quan, đang hiện hữu ở đây. Lúc này. Vương quốc của Ngài rộng hơn Hội thánh. Vẫn được gọi, là bảng hiệu chỉ rõ Vương Quốc Đức Chúa, hiện diện ở gian trần.
Làm cách nào vào được Vương quốc ấy? “Hãy hối cải và tin vào Tin Mừng”. Ở bài đọc 1, tiên tri Giôna rao giảng về việc sám hối, chuyển đến dân chúng chốn thị thành ở Ninivê. Trái hẳn điều ông kỳ vọng, dân ngoại ở đây “đã biết tin vào Đức Chúa” và “họ đã bỏ đường gian ác mà trở về”.
Ở đây, cụm từ “sám hối” mang ý nghĩa còn mạnh hơn cả việc hối hận những lỗi phạm thời đã qua. Nó đòi hỏi một chuyển đổi tận thâm căn (người Hy Lạp gọi là Metanoia). Thay đổi định hướng. Đổi thay mọi ưu tiên trong đời mình. Thay, là thay cái cũ, để đi tới cái mới.
Điều thay đổi, là TIN VÀO Tin Mừng. Là, không chỉ chấp nhận rằng: những điều Chúa dạy bảo hoặc Giáo hội nhủ khuyên, đều đúng thật, thôi. TIN VÀO, còn đòi phải có quyết tâm, rất trọn vẹn. Quyết, rũ bỏ nhiều điều của chính mình như hai người thề hứa lúc kết hôn: quyết ở với nhau cả khi hạnh phúc cùng lúc gian nan. Cả, điều xấu lẫn cái tốt.
Phần hai của trình thuật, trưng dẫn đáp ứng đầu tiên với lời mời và gọi. Có 4 vị chài lưới, đã được bảo: “Hãy theo Tôi, Tôi sẽ làm cho các anh thành kẻ lưới người như lưới cá.” Ngay lúc ấy, Phêrô, Anrê bỏ chài bỏ lưới (tức bỏ cuộc sống cũ xưa) lập tức đi theo Ngài. Cũng thế, bỏ cha đẻ của mình ở lại, hai anh em nhà Zêbêđê là: Gioan và Gia-cô-bê đã ra đi, theo chân Chúa.
Theo chân Chúa, là trọn vẹn đặt tin tưởng và trao ban chính con người mình, cho Chúa. Thật ra, các vị thuộc lớp dân chài này, chỉ nghe thoe tiếng mời gọi, chứ đâu biết mình sẽ đi đâu. Cũng chẳng biết tương lai của mình, sẽ ra sao. Đấy, chính là sự tin tưởng lớn lao vào Con Người, đến từ mây xanh. Lại, đã đi vào cuộc đời mình. Đã đổi thay chính mình, để mình bỏ lại đằng sau tất cả sự an toàn, bỏ tất cả. Thật sự, thì quý vị ấy cũng đã ngang qua nhiều kinh nghiệm, vui cũng có. Khổ, cũng có.
Các anh sẽ thành những kẻ lưới người, là tiếp tục hành động cao cả, mà Thầy đem đến cho mọi người. Cao cả, là đường lối mới để sống. Sống chân thật. Sống trong tin yêu, tự do và công chính. Và, các ngài đã tạo cho mình nhiều kinh nghiệm thăng hoa mọi ước ao, mình vẫn có.
Lời gọi mời Chúa đưa ra, vẫn tiếp tục được gửi đến với mỗi người, trong chúng ta. Ta có sẵn sàng đáp trả? Có bước theo chân Ngài hay không, đó chính là vấn đề. Và, vấn đề còn đó, là hỏi rằng mạng lưới nào đang bủa rộng/giam giữ chúng ta? Lưới nào, hạn chế tự do có quyết tâm, của chính ta? Tương quan nào đang làm cản trở đường ta đang đi? Lo âu nào khiến ta khắc khoải? Tham vọng? Vị kỷ?
Bài đọc 2, thánh Phao-lô hôm nay nhắn nhủ giáo đoàn Corinthô hãy sống hoàn toàn tự do, và rũ bỏ. Rũ bỏ, là bởi những gì ta sở hữu, dù là vật chất hay của riêng ta dính bén, đều không mang tính trường cửu. Vẫn có thể, biến mất trong nháy mắt, chẳng báo trước. Cuộc sống dù đẹp, dù chỉ lan man tàn tàn, cũng chẳng tổn tại, lâu dài. Trừ phi, đó là giá trị căn bản của sự thật. Của tình yêu đích thực, của tự do và công lý. Giá trị chăng, chẳng phải do cái mình có. Mà là, bản chất của chính mình.
Bởi thế nên, hôm nay bà con ta hãy cầu và mong sao mình nghe được lời gọi mời, rất rõ. Mong và cầu, để mình có sự do, mà theo Ngài. Tự do, để nghe theo tiếng gọi mời, âu yếm ấy. Nghe, để lúc nào cũng sẵn sàng ra đi. Đi đến bất cứ nơi nào Chúa mời mình, đặt chân đến.
Trong tư thế sẵn sàng lắng nghe, ta cứ hân hoan lên, mà vui hát. Hát rằng:
“Này người yêu anh ơi!
Cho anh nồng ấm cuộc đời
Hoa thơm có ánh mặt trời
Ôi núi mừng – vì mây đến rồi!
Này người yêu, người yêu anh hỡi!
Yêu nhau mình đưa nhau tới
Bước nhẹ – và nói bên môi
Nói cho vừa … mình anh nghe thôi!”
(Nguyễn Đức Quang – Bên kia sông)
Nồng ấm cuộc đời, Ngài vẫn gọi. Gọi và nghe, là tư thế của cuộc đời. Một đời, có gió thổi. Có, mây trôi nhiều lá rụng. Một đời, có “em đan hộ tấm tình yêu, để về mang ủ lòng anh lạnh”. Một đời, quyết nghe theo Lời Chúa, để “đêm trường đỡ quạnh hiu.”
Lm Frank Doyle sj
Mai Tá lược dịch.

17.01.2015
Một công dân Việt sắp bị đưa ra pháp trường tại quốc gia cùng thuộc khối ASEAN sau khi bị kết án tử hình về tội buôn lậu ma túy.
Bà Trần Thị Bích Hạnh vẫn sẽ bị xử bắn vào ngày mai, 18/1, cùng với 4 người nước ngoài khác và một phụ nữ Indonesia, dù Tổng thống Brazil và chính phủ Hà Lan đã lên tiếng kêu gọi chính quyền địa phương tha mạng cho các công dân nước mình vào phút chót.
Không rõ là chính quyền Việt Nam có ngỏ lời với phía Indonesia hay không.
Ngoại trưởng Hà Lan cho biết đã liên hệ với tất cả các quốc gia có công dân bị đem ra bắn ở Indonesia.
Các phạm nhân hôm nay đã bị đưa vào buồng cách ly, và hai người một sẽ bị xử bắn cùng lúc.
Tất cả các tử tù bị kết án buôn lậu ma túy trong khoảng thời gian từ năm 2000 – 2011.
Tổng thống Indonesia Joko Widodo đã bác đơn xin ân xá của các tử tù tháng 12 năm ngoái.
Một giới chức Indonesia được trích lời nói rằng nước ông “chỉ tìm cách bảo vệ đất nước khỏi mối nguy hại của ma túy”.
Indonesia áp dụng các luật lệ nghiêm khắc đối với tội trạng buôn lậu ma túy.
Hơn 138 người hiện là tử tù, và phần lớn trong số đó là có liên quan tới tội buôn lậu ma túy. Một phần ba trong số đó là công dân nước ngoài.
Nguồn: AP, Reuters
ĐTC: Chúa Kitô không để các con ngã quỵ

VRNs (17.01.2015) -Philippines- Đức Thánh Cha vừa kết thúc thánh lễ tại phi trường Tacloban. Từ đây ngài về tòa Giám mục địa phận Tacloban và dùng cơm trưa với 30 người đại diện là những nạn nhân sống sót sau cơn bão Hải Yến hồi năm ngoái. Trên quảng đường về tòa Giám mục, người dân hai bên đường vỗ tay reo hò từng chặng khi xe chở ngài tiến qua.
Sau đây là nguyên văn nội dung bài giảng của ĐTC trong thánh lễ tại Phi trường Tacloban.
Hôm nay cha muốn giảng bằng Tiếng Tây Ban Nha vì cha đã có một thông dịch viên tuyệt vời!
Chúng ta có vị linh mục cao cả có khả năng cảm thông những yếu đuối của chúng ta. Chúa Giêsu giống như chúng ta, sống như chúng ta và giống ta mọi đàng ngoại trừ tội lỗi vì Ngài không phải là một tội nhân. Nhưng để giống chúng ta hơn, Ngài mang lấy tất cả mọi khốn khổ và tội lỗi của chúng ta. Chính Ngài chấp nhận đi vào trong tội. Đây là điều mà thánh Phaolô Tông đồ nói với chúng ta.
Chúa Giêsu luôn luôn đi trước chúng ta và khi chúng ta trải qua một kinh nghiệm, một thập giá thì Ngài đã trải qua trước chúng ta. Sự hiện diện của chúng ta hôm nay tại đây, sau 14 tháng hứng chịu cơn bão Hải Yến là vì chúng ta không đánh mất niềm tin vào Chúa Giêsu vì chính Ngài đã ở đây trước chúng ta.
Trong cuộc khổ nạn của Ngài, Chúa Giêsu đã mang lấy tất cả nỗi đau của chúng ta. Vì thế Ngài có khả năng thấu hiểu chúng ta như chúng ta đã nghe trong bài đọc I.
Cha muốn nói với các con một vài điều từ sâu thẳm cõi lòng của cha. Khi cha còn ở Rôma, cha chứng kiến thảm họa các con phải chịu cha nghĩ rằng cha phải ở đây với các con. Và trong những ngày đó, cha đã quyết định phải đến đây. Cha ở đây hơi trễ nhưng lúc này cha đang ở đây. Cha đến để nói với các con rằng, Chúa Giêsu chính là Chúa. Và Ngài không bao giờ để chúng ta phải quỵ ngã. Các con có thể nói với cha rằng, cha ơi con đã bị quỵ ngã vì con đã mất quá nhiều thứ: nhà cửa, cuộc sống. Điều đó đúng nếu các con nói như thế và cha tôn trọng cảm nghĩ này của các con. Nhưng Chúa Giêsu đã ở đó, chịu đóng đinh trên thập giá và từ thập giá Ngài không để chúng ta bị quỵ ngã. Ngài đã được thánh hiến cho Thiên Chúa trên thập giá và ở đó Ngài đã kinh nghiệm tất cả những tai ương mà chúng ta đã trải nghiệm. Chúa Giêsu là Chúa. Và từ trên thập giá Ngài thấu hiểu tất cả chúng ta. Và trong mọi thứ Ngài giống như chúng ta. Đó là điều tại sao chúng ta có một Vị Thiên Chúa đã khóc với chúng ta và đi với chúng ta trong những giây phút đau khổ nhất của cuộc sống.
Vì thế nhiều người trong các con đã mất mọi thứ. Cha không biết phải nói như thế nào với các con. Nhưng Thiên Chúa biết những gì phải nói với các con. Một số trong các con đã mất một số thành viên trong gia đình. Nhưng điều cha có thể làm là giữ thinh lặng và đi với các con bằng con tim thinh lặng của cha. Nhiều người trong các con đã trách Chúa tại sao lại xảy ra như thế và mỗi các con trong tận cõi lòng mình đã nghe tiếp trả lời của Đức Kitô. Từ trên thánh giá, Ngài đã trả lời cho các con. Cha không cần nói thêm lời nào nữa. Chúng ta hãy nhìn lên Chúa Kitô. Ngài là Chúa. Ngài hiểu chúng ta vì Ngài trải qua tất cả những thử thách mà chúng ta đã kinh nghiệm.
Và bên cạnh thập giá là Mẹ của Ngài. Chúng ta giống như trẻ nhỏ trong những giây phút mà chúng ta có quá nhiều đau khổ và không còn hiểu điều gì cả. Tất cả chúng ta có thể làm là nắm chặt lấy tay Mẹ và nói “Mẹ ơi!” Giống như trẻ thơ nói như thế khi nó sợ hãi. Có lẽ lời duy nhất cha có thể nói trong thời khắc khó khăn là: “Mẹ ơi!”
Chúng ta hãy thinh lặng một phút với nhau và nhìn lên Đức Kitô trên thập giá. Ngài hiểu chúng ta vì Ngài đã chịu đựng tất cả mọi thứ. Chúng ta hãy nhìn lên Mẹ Maria và giống như trẻ thơ chúng ta hãy nắm lấy tà áo của Mẹ và với một con tim thành tâm nói rằng: “Mẹ ơi!”
Trong thinh lặng hãy nói với Mẹ những gì các con đang cảm nhận trong lòng. Chúng ta biết rằng chúng ta có một người Mẹ là Mẹ Maria và có Một Người Anh tuyệt vời là Chúa Giêsu. Chúng ta không cô đơn. Chúng ta cũng có rất nhiều anh em, những người trong những lúc khó khăn đã giúp đỡ chúng ta. Và vì thế chúng ta cũng cảm nhận chúng ta là anh chị em của nhau.
Đó là những gì xuất phát từ cõi lòng của cha. Hãy thứ lỗi cho cha nếu như cha không có đủ lời để diễn tả. Xin hãy biết rằng Chúa Giêsu không bao giờ để các con phải quỵ ngã. Hãy biết rằng với sự dịu dàng của Mẹ sẽ không để các con phải quỵ ngã và hãy nắm lấy tà áo của Mẹ. Và với sức mạnh đến từ tình yêu của Chúa Giêsu trên thập giá, chúng ta hãy đứng dậy và cùng bước đi như những anh chị em trong Chúa Kitô.
Pv. VRNs tại Philippines (dịch)