Tại sao Thiên Chúa để những gian truân xảy ra?

Tại sao Thiên Chúa để những gian truân xảy ra?

Những gian truân bạn gặp phải có thể làm bạn ngã gục hoặc làm bạn thêm trưởng thành tuỳ thuộc cách bạn phản ứng những gian truân đó.  – R. G. Alexander, Pastor (Why God permits problems)

Những gian truân bạn gặp phải có thể làm bạn ngã gục hoặc làm bạn thêm trưởng thành tuỳ thuộc cách bạn phản ứng những gian truân đó. Thật không may, hầu hết mọi người không nhìn thấy cách Thiên Chúa sử dụng những gian truân bạn gặp là để cho cuộc sống của bạn tốt hơn. Có khi chúng ta phản ứng lại một cách phẫn nộ và dại khờ hơn là tạm dừng lại để xem xét những gian truân đó có mang lại lợi ích cho bạn không? Dưới đây là 5 lý do Thiên Chúa đã cho phép các gian truân xảy đến trong cuộc đời của bạn:

1. Thiên Chúa cho phép những gian truân xảy ra để HƯỚNG DẪN (DIRECT) bạn

Đôi khi Thiên Chúa phải châm lửa vào người bạn để bạn phải thoát khỏi sự thụ động, ươn lười. Các gian truân thường xoay chúng ta qua một chiều hướng mới và thúc đẩy chúng ta thay đổi. Có phải Người muốn tình trạng này xảy ra để làm bạn chú ý? “Vết thương nhức nhối tẩy sạch điều gian ác, và roi vọt thấu đến tận tâm can” (Cn 20,30).

2. Thiên Chúa cho phép những gian truân xảy ra để KIỂM TRA (INSPECT) bạn

Người ta cũng giống như túi trà lọc vậy… nếu bạn muốn biết những gì bên trong, chỉ cần thả chúng vào trong nước nóng! Có phải Thiên Chúa thử nghiệm đức tin của bạn bằng cách cho phép một vài gian truân xảy ra trong cuộc sống của bạn? Các gian truân đó sẽ tiết lộ những gì về bạn? “Thưa anh em, anh em hãy tự cho mình là được chan chứa niềm vui khi gặp thử thách trăm chiều. Vì như anh em biết: đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn” (Gc1,2-3).

3. Thiên Chúa sử dụng những gian truân để SỬA ĐỔI (CORRECT) bạn

Một số bài học chúng ta học được qua sự đau đớn và thất bại. Giống như lúc còn bé, cha mẹ dặn bạn đừng thò tay vào lò bếp nóng, nhưng có lẽ bạn chỉ kinh nghiệm được điều đó khi bạn bị bỏng da. Đôi khi chúng ta chỉ hiểu được giá trị của một cái gì đó như sức khỏe, tiền bạc, một mối quan hệ… khi đã đánh mất chúng. “Đau khổ quả là điều hữu ích, để giúp con học biết thánh chỉ Ngài. Con coi trọng luật Chúa truyền ban, hơn vàng muôn bạc triệu” (Tv 119,71-72).

4. Thiên Chúa cho phép những gian truân xảy ra để BẢO VỆ (PROTECT) bạn

Một gian truân tưởng là hoạ nhưng lại là phúc nếu nó tránh cho bạn khỏi bị tổn hại bởi một cái gì đó nghiêm trọng hơn. Năm ngoái, một người bạn bị sa thải vì từ chối làm điều gì đó vô đạo đức mà ông chủ đã yêu cầu ông làm. Bị thất nghiệp là cả một vấn đề nhưng nó tránh cho ông khỏi bị kết án và bị ở tù vào năm sau đó, khi những hành động của ban quản lý cuối cùng đã được phát hiện. “Các anh định làm điều gian ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt” (St 50,20).

5. Thiên Chúa cho phép những gian truân xảy ra để làm bạn nên HOÀN HẢO (PERFECT)

Những gian truân, khi được đáp ứng cách đúng đắn, sẽ là những chất liệu xây dựng. Thiên Chúa quan tâm nhiều đến đặc điểm của bạn hơn là sự thoải mái của bạn. Mối quan hệ của bạn với Thiên Chúa và đặc điểm của bạn là hai thứ duy nhất mà bạn có thể mang theo vào vĩnh hằng. “Chúng ta còn tự hào khi gặp gian truân, vì biết rằng: ai gặp gian truân thì quen chịu đựng; ai quen chiụ đựng thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận là trung kiên thì có quyền trông cậy” (Rm 5,3-4).

Đúc kết lại một điểm: Thiên Chúa không ngừng hoạt động trong bạn, ngay cả khi bạn không nhận ra hay không hiểu điều đó.Nhưng khi gặp gian truân, bạn sẽ cảm thấy dễ dàng hơn nhiều và sinh lợi cho bạn hơn khi bạn biết cộng tác với Ngài.

Minh Xuân (st)

Một số người tưởng nhớ tử sỹ Hoàng Sa

Một số người tưởng nhớ tử sỹ Hoàng Sa

BBC

Các tử sỹ Hoàng Sa được tưởng nhớ trong ngày 19/1

Tròn 41 năm sau trận hải chiến Hoàng Sa, các tử sỹ trong trận chiến này vẫn được một số người ở trong nước và hải ngoại tưởng nhớ nhưng chính quyền trong nước thì không, một thân nhân tử sỹ Hoàng Sa nói với BBC.

Trong trận hải chiến ngày 19/1 năm 1974, 75 chiến sỹ của Hải quân Việt Nam Cộng hòa đã thiệt mạng để phần mà Sài Gòn kiểm soát ở quần đảo Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc.

‘Bàn thờ đàng hoàng’

Trao đổi với BBC Việt ngữ từ Thành phố Hồ Chí Minh vào đúng ngày 19/1, bà Huỳnh Thị Sinh, quả phụ của Thiếu tá Ngụy Văn Thà, hạm trưởng hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 đã chết trong trận chiến này, cho biết bà đã mua bông và trái cây đặt trên bàn thờ và thắp hương tưởng nhớ ông Thà.

Bà nói có những người ở Hà Nội hay ở Mỹ cũng gọi điện cho bà thăm hỏi và nhờ bà thắp hương cho ông Thà giùm họ.

“Họ nói anh Thà hy sinh rất xứng đáng và khuyên mình đừng có buồn,” bà nói, “Họ còn nói anh Thà là anh hùng mà chúng tôi rất quý trọng.”

” Tới ngày giỗ tới (của ông Thà) là tôi có nhà, có bàn thờ mới của anh Thà với hình ảnh để lên đàng hoàng.

Bà Huỳnh Thị Sinh, quả phụ của ông Ngụy Văn Thà”

Bà Sinh còn cho biết có người ở Washington gọi điện về khuyên bà lên một ngôi chùa ở khu vực Bàn Cờ, Quận 3, để làm lễ cầu siêu cho tất cả những tử sỹ đã hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa.

Bà nói tới ngày 27 tháng Chạp âm lịch, tức đúng ngày giỗ của ông Thà và các tử sỹ, bà sẽ lên chùa cầu siêu cho các ông.

Khi nghĩ về người chồng đã quá cố trong ngày 19/1, bà Sinh nói bà ‘buồn nhưng hãnh diện’.

Bà cho biết sau khi bà chuyển về nhà mới hồi năm ngoái với sự trợ giúp một phần của Quỹ Nhịp cầu Hoàng Sa thì giờ đây ông Thà ‘đã có bàn thờ đàng hoàng’.

“Mỗi lần tôi đi ra đi vô nhìn lên bàn thờ thấy vui vui tại vì lúc trước nhà bị giải tỏa (phải ở trọ) nên không có bàn thờ để thờ. Mấy anh ở nước ngoài về muốn thắp hương mà không có bàn thờ,” bà nói.

Bà Huỳnh Thị Sinh đã mua được nhà

“Tới ngày giỗ tới (của ông Thà) là tôi có nhà, có bàn thờ mới của anh Thà với hình ảnh để lên đàng hoàng,” bà nói thêm và cho biết việc này giúp bà ‘vơi đi nỗi buồn’.

Bà nói bà cũng ‘tủi thân’ khi ông Thà chết ngoài biển khơi không còn lại thi thể hay hài cốt gì cả.

Khi được hỏi chính quyền địa phương nơi bà cư trú có ai đến thăm viếng, ủy lạo nhân ngày kỷ niệm hải chiến Hoàng Sa hay không, bà Sinh nói: “Làm sao có chuyện đó? Họ không có biết gì hết. Mình có phải là người của chế độ mới đâu.”

Trong lúc này, một số hội đoàn ở hải ngoại cũng thông báo họ tổ chức lễ tưởng niệm để ‘thắp hương tri ân các anh hùng Hoàng Sa vị quốc vong thân’.

Chẩn Đoán Nguyên Nhân Đau Bụng Qua Vị Trí Đau

Chẩn Đoán Nguyên Nhân Đau Bụng Qua Vị Trí Đau

Đau bụng là triệu chứng thường gặp, chúng xuất hiện đơn lẻ hoặc đi kèm với nhiều dấu hiệu khác. Bạn có thể chẩn đoán bệnh thông qua vị trí đau ở đâu.

Đau bụng là một danh từ chung chung vì bệnh của bất kỳ một cơ quan nào nằm trong ổ bụng đều có triệu chứng đau. Tuy vậy, tính chất đau bụng đôi khi không hoàn toàn giống nhau mà có đặc thù riêng của từng bệnh.

Danh từ bụng, người ta muốn ám chỉ là ổ bụng. Ổ bụng bao gồm từ mũi ức xuống tận đáy chậu. Bụng gồm có 2 vùng chính là thượng vị (trên rốn) và hạ vị (dưới rốn). Ổ bụng gồm có các tạng cơ bản như dạ dày – tá tràng, gan, lách, tuỵ tạng, hệ thống mật (đường dẫn mật và túi mật), ruột (đại tràng, ruột non, mạc treo, trực tràng, hậu môn), hệ tiết niệu (thận, niệu quản, bàng quang), với phụ nữ còn có tử cung, buồng trứng, vòi trứng, âm đạo.

Đôi khi, các cơn đau là do ăn quá no hoặc ăn quá nhiều một số loại thực phẩm (như thực phầm giàu chất béo, thực phẩm sinh hơi, hoặc người không dung nạp lactose ăn nhiều sản phẩm sữa). Đau bụng thường khỏi trong vài giờ hoặc kéo dài vài ngày. Đây là hiện tượng bình thường không nguy hiểm, nhưng cũng là dấu hiệu cảnh báo bạn cần chú ý đến sức khỏe hơn.

 

Nhưng trong một số trường hợp, đau có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm của một rối loạn nặng hơn, có thể cần điều trị thuốc. Việc xác định nguyên nhân gây đau bụng thường rất phức tạp. Xác định vị trí đau sẽ giúp bác sĩ phát hiện nguyên nhân sâu xa gây nên.

Vì nhiều tạng trong bụng cần cho sự sống và tín hiệu chúng gửi đi khá phức tạp, nên việc xác định nguyên nhân đau bụng có thể rất khó khăn và đôi khi có thể xác định sai. Dưới đây là một số vị trí và nguyên nhân dẫn đến đau bụng:

– Vùng rốn: Đau gần rốn có thể liên quan tới rối loạn ruột non hoặc viêm ruột thừa. Viêm ruột thừa là một cấp cứu ngoại khoa. Nếu không điều trị, ruột thừa bị viêm có thể vỡ và gây viêm phúc mạc. Các dấu hiệu và triệu chứng của viêm ruột thừa bao gồm buồn nôn, nôn, chán ăn, sốt nhẹ, có nhu cầu trung tiện hoặc đại tiện.

– Trên rốn: Ngay trên rốn ở vùng trên-giữa của bụng là vùng thượng vị. Đây là nơi bạn có thể có cảm giác đau liên quan tới a-xít dạ dày. Đau kéo dài ở vùng này có thể báo hiệu rối loạn tá tràng, tụy hoặc túi mật.

– Dưới rốn: Đau dưới rốn và lan sang bên có thể báo hiệu rối loạn đại tràng. Với phụ nữ, nguyên nhân hay gặp của đau vùng này là viêm đường tiết niệu và viêm tiểu khung

– Bụng trên bên trái: Ít khi đau vùng này. Khi bị đau, có thể là rối loạn đại tràng, dạ dày hoặc tụy.

– Bụng trên bên phải: Đau dữ dội bụng trên bên phải thường liên quan tới viêm túi mật. Đau có thể lan ra giữa bụng và xuyên ra sau lưng. Đôi khi, viêm tụy hoặc tá tràng cũng có thể đau vùng này.

– Bụng dưới bên trái: Đau ở đây thường là rối loạn đại tràng xuống, nơi phân được thải ra. Các rối loạn có thể gồm viêm túi thừa hoặc viêm đại tràng – bệnh Crohn hoặc viêm loét tá tràng.

– Bụng dưới bên phải: Viêm đại tràng có thể gây đau bụng dưới bên phải. Một nguyên nhân khác có thể và có lẽ nặng hơn là viêm ruột thừa.

– Đau di chuyển: Một trong những đặc điểm bất thường của đau bụng là khả năng di chuyển dọc theo đường dẫn truyền thần kinh sâu và đau ở các vị trí xa nơi gây bệnh. Thí dụ: đau do viêm túi mật có thể lan lên ngực và dọc vai phải. Đau do rối loạn tụy có thể lan giữa hai vai.

Đối với nữ giới, viêm tử cung, buồng trứng, vòi trứng cũng gây đau bụng dưới, đặc biệt là đau bụng dưới do u nang buồng trứng xoắn hoặc chửa ngoài dạ con vỡ, nếu ở bên hố chậu phải thì rất dễ nhầm với viêm ruột thừa cấp tính. Cũng như đau thượng vị, để chẩn đoán chính xác đau hạ vị rất cần có sự hỗ trợ tích cực của cận lâm sàng. Ngoài đau bụng khu trú ở thượng vị hay hạ vị thì có thể gặp đau bụng không thấy khu trú rõ ràng ở một vùng nào nhất định như xoắn ruột, tắc ruột, viêm phúc mạc…

Khi nào cần khám bệnh?

Mặc dù phần lớn đau bụng không trầm trọng, một số triệu chứng có thể báo hiệu một bệnh nặng. Tuy nhiên, thường không thể chẩn đoán nguyên nhân đau bụng dựa theo triệu chứng hoặc vị trí đau. Hãy đến bệnh viện nếu thấy:

– Đau nặng, tái phát hoặc kéo dài.

– Đau ngày càng nặng hơn.

– Đau kèm theo thở gấp, chóng mặt, xuất huyết, nôn hoặc sốt cao.

– Nhất là đối với trẻ nhỏ khi đau bụng không biết nói nên rất khó chẩn đoán và xác định vị trí đau vì vậy việc đưa đến bênh viên là hết sức cần thiết.

Vebtretho tổng hợp

Anh chị Thụ Mai gởi

Cảm nghĩ của một Ni cô Phật giáo về Đức Giáo Hoàng

Cảm nghĩ của một Ni cô Phật giáo về Đức Giáo Hoàng

Chuacuuthe.com

VRNs (19.01.2015) -Sài Gòn- theo CNA- Một ni cô trong buổi gặp gỡ chung giữa Đức Thánh Cha Phanxicô với các bạn trẻ sinh viên tại Đại Học Giáo Hoàng Thánh Tôma ở Philippines vừa qua đã bày tỏ lòng biết ơn đến ĐTC vì những nỗ lực của ngài cho sự đoàn kết và đối thoại liên tôn.

1

Ni cô Ven. Miao Jing thuộc Giáo hội Phật giáo Fo Guang Shan bày tỏ: “Chúng tôi thấy rằng Đức Giáo Hoàng đã mang lại phúc lành và sự hiệp nhất”.

Ni cô nói với hãng tin CNA trong chuyến thăm của ĐTC đến Philippines rằng “Chúng tôi đến để bảy tỏ sự chân thành trong việc đối thoại”.

Ni cô Miao đã không gặp riêng được Đức Thánh Cha, tuy nhiên, một vị lãnh đạo trong Giáo hội Phật giáo là Sư Ven. Chueh Pei, người Argentina đại diện cho Giáo hội Phật giáo đã gặp ĐTC. Ni cô Miao nói rằng Vatican và Đức Hồng Y Luis Tagle, Tổng Giám mục Manila đã gởi lời mời họ tham dự buổi gặp gỡ liên tu sĩ với Đức Giáo Hoàng.

Ni cô cho biết họ cũng có ý định mời Đức Thánh Cha đến thăm Giáo hội Phật giáo.

Ni cô nói thêm: “Đức Giáo Hoàng đã tông du khắp nơi trên thế giới, đặc biệt trong vài tháng qua, chúng tôi chân thành và khiêm tốn mời Đức Giáo Hoàng ghé thăm chúng tôi. Các Phật tử rất vui mừng nếu gặp được ngài.”

Ni cô Miao ca ngợi và cảm ơn Đức Thánh Cha đã “đem con người xích lại với nhau, đặc biệt là những người người khác biệt về tôn giáo, văn hóa và truyền thống.”

“Chúng ta thấy thế giới đang chuyển động hướng về tương lai, và chúng ta luôn luôn nhìn thấy niềm hy vọng, đặc biệt nơi những người có đức tin.”

Hoàng Minh

Hạnh Phúc Ở Đâu?- Where is my Happiness?

Hạnh Phúc Ở Đâu?- Where is my Happiness?


Một nhóm 50 người đang tham dự một seminar, đột nhiên diễn giả ngừng lại và đề nghị nhóm tham gia một hoạt động, ông ta đưa cho mỗi người một quả bóng bay và yêu cầu từng người viết tên của mình lên quả bóng bay. Sau đó, những quả bóng bay được đưa tới một căn phòng khác.

Những người tham dự bước vào căn phòng có những quả bóng và phải tìm ra quả bóng có tên của họ trong vòng 5 phút. Mọi người đều cố gắng tìm quả bóng có tên của mình, xô đẩy những người khác và đẩy các quả bóng khác sang một bên. Khung cảnh rất hỗn độn.

Sau 5 phút không ai tìm được quả bóng có tên của họ.

Nhóm người đó lại được yêu cầu làm một nhiệm vụ khác, nhặt lên bất kỳ một quả bóng và đưa cho người có tên trên quả bóng đó. Trong vòng một phút, tất cả mọi người đều có quả bóng viết tên của chính họ.


Diễn giả bắt đầu nói –
Đây chính là những gì đang xảy ra trong cuộc sống của chúng ta. Ai ai cũng điên cuồng lùng sục hạnh phúc ở khắp mọi nơi mà không biết nó nằm ở đâu.

Hnh phúc ca mi chúng ta ch có được da trên hnh phúc ca người khác. Hãy cho đi nim hnh phúc, và bn s nhn li phn ca mình. Và đây mi là mc đích ca cuc sống.

* * * * *

There are 50 people who are attending in a special seminar. Suddenly, the instructor asks all members to take 50 balloons and write your name on that. They move to the other room and let the balloons that rise above the ceiling. Then he asks every one to look for your name.

5 minutes late the room becomes chaos and no one can be able to look for their names.

The instructor tells every one to pick up any balloon and give to the one who has name on that balloon.

Finally and quickly ,every one has had her or his balloon.

The instructor has explained that every one looks for her or his own happiness. It is very difficult. When you bring happiness to the others,you make them happy then you will be happy. You have to make other  happy then your happiness would have come.

This is remarkable goal of life. It is so simple and no one pays attention. Why ?

Good luck and be happy …and think about that.

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

 

41 năm trận chiến Hoàng Sa, ai nhớ ai quên?

41 năm trận chiến Hoàng Sa, ai nhớ ai quên?

Blogger Nguyễn Lân Thắng

Blogger Nguyễn Lân Thắng

Trà Mi-VOA

19.01.2015

Ngày 19/1/1974, 75 chiến sĩ của quân lực Việt Nam Cộng hòa đã anh dũng hy sinh trong cuộc hải chiến khốc liệt với Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền ở Hoàng Sa. Chiến hạm HQ10 bị đánh chìm, 3 chiếc còn lại phải rút lui, và từ đó, Trung Quốc chiếm quyền kiểm soát toàn bộ quần đảo này.

Lần đầu tiên vào năm ngoái, chính phủ Hà Nội bật đèn xanh cho truyền thông trong nước công khai nhắc nhớ tới sự kiện lịch sử này, với hàng loạt bài viết kỷ niệm 40 năm trận chiến Hoàng Sa.

Thế nhưng, cuộc chiến oai hùng vốn không được sử sách nhà nước ghi nhớ cũng không được lưu truyền cho thế hệ trẻ qua sách vở nhà trường dường như lại tiếp tục bị lãng quên trong dịp kỷ niệm năm nay. Chính quyền không tổ chức các hoạt động kỷ niệm, báo chí nhà nước không đề cập nhiều, trong khi các hoạt động tưởng niệm đơn lẻ của một số tổ chức xã hội dân sự lại bị quấy rối.

Anh Nguyễn Lân Thắng, một nhà hoạt động xã hội dân sự được nhiều người biết đến, chia sẻ ghi nhận:

“Theo ghi nhận của tôi, mấy ngày nay trên các phương tiện truyền thông nhà nước cũng có một vài bài báo nhắc đến sự kiện Hoàng Sa cách đây 41 năm. Đấy là những hoạt động duy nhất về phía nhà nước. Về phía nhân dân, có một số tổ chức hội nhóm của người dân tự kỷ niệm với nhau nhưng không lớn, đông, và rộng rãi như năm rồi vì tình hình đàn áp các tổ chức xã hội dân sự đang trong thời kỳ khốc liệt. Cho nên các cá nhân tham gia cũng dè dặt, kín đáo hơn và cũng gặp các trường hợp như phá vòng hoa viếng, bị gây hấn, bị chửi bới tại hiện trường. Ví dụ sáng nay có một nhóm anh chị em ở Hà Nội ra tượng đài Lý Thái Tổ ngay trung tâm để tưởng niệm trận đánh Hoàng Sa lịch sử, có một số ‘dư luận viên’ giật vòng hoa và các băng-rôn. Đấy là điều đáng tiếc.”

Về lý do sự kiện lịch sử này năm nay bị truyền thông nhà nước phớt lờ, anh Thắng cho rằng:

“Từ trước tới nay, việc truyền thông nhà nước kiểm duyệt, hạn chế đưa tin về những việc liên quan đến tranh chấp biển đảo giữa Việt Nam với Trung Quốc đã là việc phổ biến. Thế nhưng, đặc biệt trong dịp này, khi đang có đại hội của đảng cộng sản Việt Nam, đây là thời điểm người ta hết sức cân nhắc các vấn đề ‘nhạy cảm chính trị’, tránh động chạm tới Trung Quốc.”

Một trong những sĩ quan trực tiếp chiến đấu và chứng kiến trận hải chiến Hoàng Sa tháng Giêng năm 1974, trung úy Phạm Ngọc Roa phụ tá sĩ quan hải hành, người thường xuyên có mặt trên đài chỉ huy phụ trách khối hàng hải, nói ông hơi ngạc nhiên vì năm ngoái báo chí nhà nước đua nhau đăng bài về sự kiện này nhưng năm nay đột nhiên lại có phần im hơi lặng tiếng trở lại.

Khi được hỏi về các hoạt động tri ân của chính quyền địa phương như tổ chức thăm viếng hay quyên góp hỗ trợ những người lính chiến đấu trong trận chiến đẫm máu Hoàng Sa 1974, trung úy Roa cười buồn:

“Cái này thì không bao giờ có đâu.”

Không những thế, trung úy Roa cho biết, ông còn bị chính quyền địa phương gây khó dễ khi có báo chí hay các tổ chức xã hội dân sự tới thăm hỏi:

“Bên nhà nước gọi tôi lên trách rằng ‘Người ta nói chuyện với anh, chưa được phép của nhà nước. Những ai muốn liên lạc với anh, anh phải trình báo với nhà nước để nhà nước tránh trường hợp anh bị mua chuộc, bị những thành phần phản động lôi kéo. Năm ngoái, tôi cũng bị rầy rà khi phóng viên báo Tuổi Trẻ, đài Lâm Đồng, và nhóm NO-U ở Sài Gòn tới nhà. Họ về rồi một hai ngày sau tôi bị chính quyền xã mời lên, gặp công an xã trên đó. Họ bắt tôi làm kiểm điểm với lý do như vậy.”

Một sự kiện lịch sử quan trọng không được nhà nước tưởng niệm, những anh hùng hy sinh xương máu để bảo vệ biển đảo Tổ quốc không được vinh danh xứng đáng, nhưng những nhân chứng lịch sử ấy, những người trực tiếp tham gia chiến đấu như trung úy Roa không buồn tủi trước sự bất công này:

“Tôi cũng chẳng buồn gì cả. Coi như mình chấp nhận số phận nó như vậy thôi.”

Nhưng ông bày tỏ mong ước:

“Ai cũng mong muốn những người đã đổ máu, những người đã chết hay những người hiện giờ còn sống, hồi xưa tuy họ là ở miền Nam, nhưng họ chiến đấu cho Tổ quốc Việt Nam lúc đó và mãi mãi. Bất cứ một chính quyền nào đó có thể thay đổi, nhưng Tổ quốc Việt Nam là một. Một người lính đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ai cũng muốn được nhà nước chiếu cố về vấn đề này hay vấn đề kia chứ, là con người mà.”

Hà Nội lâu nay cẩn trọng không muốn làm phật lòng nước láng giềng cộng sản anh em Trung Quốc và cũng tìm cách không để chủ nghĩa dân tộc làm ảnh hưởng tới mối quan hệ Việt-Trung.

Họ không còn sợ hãi

Họ không còn sợ hãi

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-01-16

maclam01162015.mp3

toi_khong_so_hai-622.jpg

Hình minh họa chụp từ bìa Cuốn tiểu thuyết Tôi không sợ hãi của tác giả Niccolò Ammaniti.

Photo courtesy of NXBPN

Your browser does not support the audio element.

Mặc dù chính quyền đàn áp tiếng nói của người dân bằng mọi cách nhưng người tranh đấu mỗi ngày lại nghĩ ra một phương pháp mới để tiếng nói của họ vượt ra khỏi sự cấm đoán, bưng bít của chế độ. Điều gì đã thúc đẩy họ vượt qua nỗi sợ hãi này.

Bị dồn tới tận cùng của uất ức

Khi người ta bị dồn tới tận cùng của uất ức thì nỗi sợ hãi sẽ bị đẩy ra xa. Điều này đang thể hiện rất rõ trên những người đang theo đuổi mục tiêu lên tiếng cho toàn xã hội biết những sai trái, bóp nghẹt công luận hay vận động cho một phong trào mà tự nó có thể giải thích tất cả bản chất của sự việc.

Các vụ giật băng tang ghi tên, tổ chức người phúng điếu nếu tên hay tổ chức ấy có vấn đề với nhà nước đang gây phẫn nộ trong dư luận khắp nơi. Điều này động chạm tới truyển thống đạo đức văn hóa của dân tộc và người ta không thể im lặng khi thấy cách hành xử vượt mọi chuẩn mực này.

” Những thằng sĩ quan trẻ chúng nó chưa biết cái gì, chúng nó chưa trải nghiệm cuộc đời nên chưa hiểu nỗi đau, nỗi mất mát của người ta. Nó chưa thấm đạo lý của cha ông.
-Blogger Nguyễn Chí Tuyến”

Vụ mới nhất xảy ra trong đám tang thân mẫu anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, kẻ được nhận diện là một đại tá công an đã lớn tuổi và người phản ứng công khai trên công luận là blogger Nguyễn Chí Tuyến, tức Anh Chí với status nhấn mạnh tới sự thiếu nhân cách này. Anh Nguyễn Chí Tuyến cho biết phản ứng của mình trong việc giật băng tang:

“Những thằng sĩ quan trẻ chúng nó chưa biết cái gì, chúng nó chưa trải nghiệm cuộc đời nên chưa hiểu nỗi đau, nỗi mất mát của người ta. Nó chưa thấm đạo lý của cha ông còn ông đại tá này không thể như những thằng khốn nạn còn trẻ nên tôi không chửi mà ở đây tôi tâm sự thật với ông ấy bởi có thể ngày mai ông ấy sẽ chết. Tầm tuổi của ông ấy thì có thể ngày mai ông ấy sẽ gặp ung thư hay gặp một tai nạn và sẽ chết cho nên tôi nói ra quan điểm có thực chứ không sai một tí nào.”

Khi được hỏi việc nói trực tiếp tới một đại tá công an có tên họ chức vụ hẳn hoi như vậy anh có sợ hậu quả hay không, anh Tuyến cho biết:

Các Bạn trẻ hưởng ứng Phong trào: Tôi không thích đảng cộng sản Việt Nam. Citizen photo.

“Đối với cá nhân tôi tôi đâu có gì phải sợ họ? Tôi không sợ họ từ rất lâu rồi chứ không phải đến bây giờ. Tại sao tôi phải sợ họ? Tôi và các anh em khác đang đấu tranh cho một xã hội tốt đẹp hơn. Bởi vì xã hội này dưới sự lãnh đạo toàn diện của đảng cộng sản Việt Nam mấy chục năm nay nó quá khốn nạn phải có những người quét nhửng rác rưỡi ấy đi. Hành động của chúng tôi là đem ánh sáng ra cho người dân người ta biết. Nhân dân Việt Nam vốn dĩ mù lòa có mắt như mù có tai như điếc có mồm như câm. Chúng tôi đã nhìn thấy và phải nói cho họ biết vượt qua nỗi sợ, còn đối với những người như chúng tôi có gì phải sợ?

Chúng tôi sẵn sàng lấy cái chết của chúng tôi ra để nếu như chế độ cộng sản này nó sụp đổ thì tôi sẵn sàng lấy thân mình cho nhân dân con cháu chúng tôi cũng như con cháu của những người đang thụ hưởng của chế độ này được có cuộc sống mai sau không bị chà đạp, không chém giết nahu để mà sống mà tồn tại như những con sinh vật, những con vật chứ không xứng đáng như con người. Chúng tôi có gì nghĩ cho cá nhân mà phải sợ?”

Miễn nhiễm sợ hãi

Cái sợ tuy dễ lây nhưng cũng có những con người miễn nhiễm nếu va chạm nỗi sợ hãi hàng ngày nhất là sự va chạm ấy nảy sinh từ việc làm hướng thiện. Anh Huỳnh Công Thuận, một blogger đóng góp rất nhiều trong chương trình giúp đỡ thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa do nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế tại Sài gòn tổ chức. Anh kể lại những chặng đường của mình:

“Trước đó khi đưa ra những phong trào này chúng tôi chịu bầm dập rất nhiều rồi nhưng riết rồi nó cũng quen đi. Thứ hai nữa người ta muốn làm gì mình như muốn bắt, muốn nhốt, muốn ghép bất cứ tội gì thì người ta đều gán cho mình được hết vì vậy bây giờ mình có sợ có tránh có né cũng có được đâu? Đó là sự thật tôi nói thẳng với mấy người công an rồi, muốn bắt, muốn nhốt, muốn bắn là quyền của mấy anh tôi không thay đổi cái đầu của anh được tôi làm đúng với lương tâm thôi nhất là đúng với luật pháp của mấy anh thì tôi cứ làm. Mấy ngày đó họ chận cửa chặn nẻo tụi tôi phải tránh né đi chỗ khác chứ không phải dễ đâu anh.”

” Từ trước đến nay khi đi tất cả mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam chỗ nào khi chúng tôi ngồi hàn huyên hiện tình đất nước thì hầu như người ta không chấp nhận chế độc độc tài toàn trị này.
-Anh Trương Văn Dũng”

Một người khác nữa là anh Trương Văn Dũng, anh nổi tiếng bị công an, côn đồ nhiều lần tấn công nhất trong tất cả những người theo đuổi công việc đấu tranh giúp đỡ dân oan. Anh bị đánh, bị bắt, bị mang vào nhà thương nhiều lần với những vết thương trầm trọng vậy mà vẫn liên tục tham gia bất cứ một phong trào nào nhằm chống lại bất công, chống lại cái ác, bạo lực trên đất nước. Nói về phong trào mới nhất mang tên: “Tôi ghét đảng cộng sản” đang rầm rộ khắp nơi hiện nay anh Trương Văn Dũng chia sẻ:

“Từ trước đến nay khi đi tất cả mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam chỗ nào khi chúng tôi ngồi hàn huyên hiện tình đất nước thì hầu như người ta không chấp nhận chế độc độc tài toàn trị này. Người dân ở đâu bất kể từ Nam ra Bắc ngay cả vùng sâu vùng xa họ đều có quan điểm như vậy nên vì thế chúng tôi mới có chương trình gọi là “Tôi không thích đảng cộng sản”. Đây là mình muốn nói cho toàn dân để người ta hưởng ứng chương trình này, dậy lên phong trào cho mọi người ta thấy thực chất chế độ độc tài toàn trị này, nhất là thời gian rơi vào chuẩn bị đại hội đảng.

Chúng tôi làm việc này khởi đầu vì những người bị đàn áp, bị bóc lột. Những người dân oan bị cướp đất họ rất đồng lòng, hưởng ứng. Tôi hy vọng từ việc làm nhỏ bé của chúng tôi sẽ có sự lan tỏa rộng lớn hơn.”

Anh Nguyễn Chí Tuyến chia sẻ quan điểm của anh về phong trào này:

“Cái phong trào “Tôi không thích đảng cộng sản Việt Nam” thì ngay pháp luật ở Việt Nam mà người ta gọi là củ chuối thì nó cũng không có điều khoản nào nó quy định rằng người dân Việt Nam sinh ra là phải yêu cộng sản Việt Nam cả. Tôi có quyền yêu có quyền ghét có quyền thích ai hay không thích. Chúng tôi muốn dùng cái phong trào này để người dân biết và hiểu rằng ngay cả pháp luật này cũng không có quy định người ta sinh ra phải yêu đảng cộng sản cả.”

Cũng có người chưa bao giờ xuất hiện trước đám đông nhưng lại công bố thư ngỏ với chính quyền trên mạng lề trái vạch trần những sai trái của chế độ. Những khuyết tật ấy phơi ra trước công luận như một cách phản ứng sự trì trệ và làm ngơ trước sự đấu tranh của quần chúng.

Ông Nguyễn Tiến Dân, một viên chức giáo dục bình thường đã có bức thư gửi Chủ tịch nước với lời lẽ không chút sợ hãi. Nói với chúng tôi ông cho biết cũng lo lắng cho bản thân lằm nhưng lo lắng cho vận mệnh đất nước mạnh hơn khiến ông không còn sợ hãi nữa:

“Tôi suy nghĩ rất nhiều cái điều ấy và tôi cũng như nhiều người khác là chúng tôi trăn trở với tình hình đất nước hiện nay. Tôi biết hệ quả nó đến có thể rất nặng nề với tôi thế nhưng tôi cũng như những người khác buộc phải lên tiếng, buộc phải nói những sự thực đắng cay này. Những sự thực mà bây giờ ông Bộ trưởng Quốc phòng, ủy viên Bộ chính trị công khai nói là “ý đảng tức là lòng dân” thì như vậy cay đắng vô cùng cho đảng cộng sản và cho cả dân tộc này nữa.”

Từ xưa tới nay, người trẻ tuổi trong nước ít theo đuổi việc đấu tranh chống bất công vì gánh nặng học hành và miếng cơm manh áo. Nếu sinh viên trong nước lo một thì sinh viên du học lại lo mười. Họ không còn thời gian suy nghĩ bất cứ điều gì khác khi sách vở và tiền ăn học đè nặng tâm trí họ. Nhưng đối với Nguyễn Vũ Sơn, một du học sinh đang theo học tại Oklahoma lại khác, anh công khai sáng tác ca khúc chống lại đảng cộng sản và viết thư gửi cho Đảng và người dân Việt Nam tuyên bố mục tiêu của mình. Anh có sợ không và tại sao lại vượt qua được nỗi sợ hãi ấy? anh Nguyễn Vũ Sơn tức Na Sơn, bút danh của một Rapper chia sẻ:

“Sau khi đắn đo thì em nghĩ là nếu bây giờ mình không làm thì không ai làm hết, không có ai làm chuyện này hết thành ra bây giờ mình làm mà có được thì mừng còn nếu mà không được thì coi như mình đã cố gắng rồi còn nếu chưa cố gắng thì làm sao biết được hay không? Thành tra em cứ làm thôi, ba mẹ có nói thì em cũng rất buồn, phải nói là em rất buồn nhưng mà biết sao được? Nhiều người thân của em, bạn gái em, gia đình bạn gái em, bạn bè em những người rất thân từ bảy tám năm cũng quay lưng với mình.

Một khi đã làm thì chấp nhận hậu quả, em nghĩ như vậy. Nếu như những du học sinh khác cứ cái kiểu sợ không về được thì nó sẽ không đi tới đâu hết. Em cảm thấy là mình cũng có chút tiếng nói trong giới trẻ vì nhiều bạn trẻ nghe nhạc của em thì em nghĩ rằng mình nên dựa vào điều đó để làm gì đấy tốt hơn chứ nếu suốt ngày cũng chỉ lo học rồi về đi chơi hay làm nhạc linh tinh thì nó phí hoài tuổi trẻ và chút tên tuổi của mình.”

Mỗi người một gánh nặng sợ hãi ẩn dấu trong tiềm thức tuy nhiên điều đáng quý ở họ và hàng ngàn người khác là gánh nặng đất nước vẫn đáng gánh vác hơn, có lẽ do vậy mà họ không còn sợ hãi nữa.

Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh: Hướng giải quyết cho giáo xứ Đăk Jâk

Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh: Hướng giải quyết cho giáo xứ Đăk Jâk

Chuacuuthe.com

VRNs (18.01.2015) – Trong suốt mấy ngày qua, bà con giáo xứ Đăk Jâk rất lo lắng, mất ăn mất ngủ khi công an Xã, Huyện xuống giáo xứ hoạnh họe, đe dọa đòi tháo dỡ ngôi nhà thờ tạm, mà bà con đã dựng lên từ tháng 4.2013 làm nơi thờ phượng Thiên Chúa được tôn nghiêm hơn. Họ cũng đưa ra đòi hỏi vô lý, buộc Cha Đa Minh Trần Văn Vũ, người được Đức Giám Mục Giáo phận cử về chăm sóc đàn chiên, phải dời khỏi Giáo xứ.

835

Tại VN, các linh mục, tu sỹ truyền giáo cho người Kinh còn gặp nhiều khó khăn, huống chi là bà con Dân tộc với nhiều ngôn ngữ khác nhau và với nhiều nền văn hóa đa dạng, nhưng các linh mục và tu sỹ đã dấn thân hy sinh để có thể giới thiệu Thiên Chúa đến cho bà con trên vùng cao. Nỗ lực của các Ngài luôn bị chặn đứng bởi nhà cầm quyền địa phương, hạn chế và xâm phạm quyền tự do Tôn giáo…

Sau đây, VRNs chúng tôi rất hân hạnh được tiếp chuyện với Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh, Giám mục Giáo phận Kontum về những nỗi khó khăn liên quan đến tình hình của giáo xứ Đăk Jâk, cũng như sự gian truân của các linh mục, tu sỹ khi truyền giáo cho bà con dân tộc thiểu số. Cuộc phỏng vấn được thực hiện vào ngày 17.01.2015

Huyền Trang, VRNs: Kính thưa Đức cha, trước hết, chúng con xin Đức cha cho chúng con được biết một số thông tin về Giáo xứ Đăk Jâk thuộc Giáo phận Kontum ạ?

Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh: Có lẽ phải lấy năm 1972 làm mốc. Xứ Đăk Jâk được thành lập từ 1957, đã có giáo xứ, có nhà thờ và đông đảo giáo dân. Nhưng năm 1972, do chiến tranh, nhà thờ bị phá hủy và dân chúng đã tản mác đi khắp nơi. Sau năm 1975, họ quay trở về, lập nghiệp lại và hiện nay số giáo dân lên gần 6000 người. Nằm ở trong huyện Đăk Glei – nơi đó có một số giáo xứ đã cũ từ trước trong đó có Đăk Jâk. Với con số gần 6000 giáo dân gồm người Xê Đăng, người Deh và các Sắc tộc khác đã và tiếp tục sinh hoạt tôn giáo.

Cách đây 4 năm, tôi gửi cha Đaminh Trần Văn Vũ lên để quản nhiệm và phục vụ anh chị em, vì nhà thờ chưa có nên chúng tôi chấp hành chính sách của Nhà nước là xin phép xây dựng nhà thờ và phục hồi giáo xứ, nhưng xin miết cũng không được. Do nhu cầu tôn giáo đông đảo của bà con mà cứ ngồi ngoài mưa, ngoài nắng suốt bao năm tháng cho nên bà con giáo dân đã tự dựng nên một cái nhà nguyện tạm, trong khi chờ đợi nhà cầm quyền cứu xét cho xây dựng nhà xứ và nhà thờ mới. Nhà cầm quyền yêu cầu gỡ nhà thờ tạm nhưng chúng tôi đã làm phép và dâng cho Chúa rồi. Chúng tôi trao đổi với nhà cầm quyền rằng, nhà thờ tạm sẽ dỡ vì đó là tạm mà, vậy thì xin nhà cầm quyền giải quyết bằng cách đáp ứng cái yêu cầu đã lâu năm là cho xây dựng một nhà thờ mới để thay thế. Nhưng cuối cùng cũng chưa đi đến đâu cả và sự việc kéo dài cho đến hiện nay. Rất tiếc là như vậy!

Huyền Trang, VRNs: Kính thưa Đức cha, chúng con được biết, nhà cầm quyền ra hạn chót cho việc tháo dỡ nhà thờ Đăk Jâk vào ngày 17.01.2015. Kính thưa Đức cha, tình hình hiện nay là ra sao ạ?

Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh: Hiện nay, tôi đang bận đi dự lễ ở Sài Gòn và chuẩn bị ra Hà Nội để đón tiếp Đức Hồng Y Fernando Filoni, Tổng trưởng Bộ truyền giáo, cho các Dân tộc. Cho nên tôi chưa biết tình hình ở đó như thế nào. Nhưng, tôi nghĩ rằng, tình hình cũng ổn thôi vì hai bên đang thảo luận, trao đổi với nhau để giải quyết cho êm đẹp.

Huyền Trang, VRNs: Kính thưa Đức cha, chúng con được biết, Đức cha có cuộc họp với UBND Huyện và buổi tiếp xúc với ông Giám đốc Công an Tỉnh. Kính thưa Đức cha, xin ngài có thể cho chúng con biết một vài thông tin về các buổi gặp này và cách giải quyết bên phía nhà cầm quyền như thế nào ạ?

Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh: Ngày 22.08.2014, phái Đoàn do ông Bí thư của huyện Đăk Glei với bà Chủ tịch Huyện thăm và trao đổi với chúng tôi về vấn đề này. Chúng tôi đi đến một kết luận trong văn thư 145, ngày 22.08.2014, gửi cho UBND Tỉnh và Huyện. Chúng tôi chấp nhận giải pháp do ông Bí thư Huyện đã đề nghị và có sự đồng tình của cả phái Đoàn trong đó có bà Chủ tịch. Thôi sự việc đáng tiếc đã xảy ra rồi, cho nên bây giờ giải quyết bằng hai bước.

Bước thứ nhất, với tư cách Giám mục, chúng tôi lập lại chính thức với nhà cầm quyền bằng một cái đơn xin chính thức công nhận lại giáo xứ Đăk Jâk và cho xây dựng nhà thờ. Bước thứ hai, trong khi UBND Tỉnh cứu xét đơn đó, thì UBND Huyện sẽ cho chúng tôi một cái giấy chính thức để dựng nên một cái nhà thờ tạm, khi có cái giấy đó thì ngay lập tức chúng tôi sẽ gỡ ngôi nhà thờ tạm hiện nay.

Hôm qua, ông Giám đốc Công an Tỉnh Kontum, tức là Thiếu tướng Lê Duy Hải có gọi cho tôi hỏi về tình hình này. Giữa chúng tôi xác định chuyện Đăk Jâk là chuyện nhỏ, từ từ giải quyết với nhau trong ôn hòa. Ông Thiếu tướng rất tiếc là mấy anh em công an trên Huyện, Xã đã đến [giáo xứ], làm cho giáo dân hiểu lầm là gỡ nhà thờ tạm. Ông Thiếu tướng cũng rất tiếc anh phóng viên nào đó đã làm to chuyện ra. Hiện nay, ông ấy không biết anh phóng viên đó chạy đi đâu.

Theo như tôi nghĩ, chúng tôi có kinh nghiệm làm việc với ông Thiếu tướng, tôi cảm thấy, ông rất có cảm tình và rất thông cảm với chúng tôi, và ông luôn luôn tìm mọi cách giải quyết ổn thỏa cho những nhu cầu chính đáng của người giáo dân. Chúng tôi rất biết ơn ông Thiếu tướng đó.

Huyền Trang, VRNs: Kính thưa Đức cha, chúng con xin Đức cha chia sẻ với chúng con về hướng tương lai là làm thế nào để có thể hạn chế những hành vi xâm phạm Quyền tự do Tôn giáo nói chung, và quyền thực hành các hoạt động tôn giáo nói riêng của Cha xứ và bà con giáo dân Đăk Jâk ạ?

Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh: Tôi nghĩ chìa khóa nằm ở chỗ dân, tức là tất cả vì hạnh phúc của người dân trong đó có người dân có Đạo, và nhà cầm quyền cũng như tất cả mọi văn bản pháp luật đều phải chú ý đến điều này. Nhưng rất tiếc trong hiện tình cũng như trong quá khứ, hình như nhà cầm quyền đã quá nặng nề vấn đề về Luật, Luật… Cho nên với vấn đề hệ thống Luật và cách tổ chức như hiện nay, tôi có kinh nghiệm rằng, tất cả các anh em nhân viên ở các địa phương họ rất khổ tâm, họ khổ tâm hơn chúng tôi nữa, họ rất thương chúng tôi nhưng họ không thể giải quyết được vì vượt quyền hạn. Chính vì thế, tôi nghĩ rằng, phải có những điều luật thông thoáng hơn nữa và phải có những con người hiểu những nhu cầu tôn giáo, thì mới có thể giải quyết ổn thỏa, còn nếu không vấn đề nó cứ kéo dài miết như hiện nay.

Huyền Trang, VRNs: Chúng con xin chân thành cám ơn Đức cha và chúng con kính chúc sức khỏe Đức cha.

Đó là những lời chia sẻ của vị chủ chăn với những nỗi vất vả, khó khăn của các vị mục tử khi đến với, ở với và sống với những người đồng bào trên Cao nguyên.

Giáo dân Giáo xứ Đăk Jâk đa phần là bà con dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa -là những người được Nhà nước này quan tâm một cách đặc biệt, thậm chí họ còn lập ra một Ban chỉ đạo Tây Nguyên để giải quyết những vấn nạn đến từ bà con các Dân tộc Tây Nguyên. Trong khi đó, các vị Chức sắc tôn giáo truyền giáo ở các vùng cao đã giúp bà con cải thiện đời sống được tốt hơn, “đem cái chữ” đến cho con em của họ, tạo điều kiện nơi ăn, chốn ở cho các con em người Dân tộc theo học các cơ sở giáo dục của nhà nước, giúp các gia đình biết cách trồng trọt, chăn nuôi… làm ăn phát triển hơn, nhưng nhà cầm quyền lại luôn tìm cách gây khó khăn cho các vị Chức sắc trong việc truyền giáo. Đó là nghịch lý của chủ thuyết vô thần ở VN.

Huyền Trang, VRNs

Thế giới này quả là một nơi tuyệt vời.

Thế giới này quả là một nơi tuyệt vời.

Bạn cho đi thứ gì thì sẽ nhận được những điều tốt đẹp đáp lại!

(The world is a wonderful place. What goes around comes around!)

1/- Câu chuyện thứ nhất xin kể về ông Gandhi. Ông là một vị anh hùng của dân tộc Ấn Độ, ông đã chỉ đạo cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân của Đế quốc Anh và giành độc lập cho Ấn Độ với sự ủng hộ nhiệt liệt của hàng triệu người dân. Ông được dân Ấn Độ gọi một cách tôn kính là “Linh hồn lớn”, “Vĩ nhân”, “Đại nhân” hoặc là “Thánh Gandhi”.
Người ta kể chuyện là có thời ông Gandhi đi một chuyến xe lửa. Khi xe bắt đầu chuyển bánh thời ông nhảy vội vã lên tàu khiến cho một chiếc giày của ông rơi xuống đường. Ông không thể nào nhảy xuống để nhặt lại chiếc giày trong khi tàu chạy càng lúc càng nhanh. Ông bèn tháo luôn chiếc giày còn lại trong chân và ném về phía chiếc giày kia ở dưới đường. Hành khách trên tàu tỏ vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy thế và lấy làm lạ về hành động kỳ quặc của ông.
Gandhi mỉm cười và ôn tồn giải thích rằng: “Nếu có một người nghèo nào lượm được chiếc giày thứ nhất thì người đó có thể tìm thấy chiếc thứ hai và như thế là có được đủ đôi giày để đi.”
Chúng ta ít khi nghĩ đến các người khác mà thông thường chỉ nghĩ về chính bản thân mình mà thôi. Khi bị mất mát thì điều đầu tiên chúng ta nghĩ đến là những thiệt thòi và bất hạnh của mình. Kế đó mất thêm nhiều thời gian nữa để nuối tiếc, than thở, rồi sinh ra chán nản. Nhiều khi trở nên bực bội và gắt gỏng nữa.
Gandhi đã có một hành động thật cao quý vì trong khi bản thân mình bị mất mát như thế, ông vẫn để tâm nghĩ đến người khác. Hành động này chứng tỏ việc nghĩ đến người khác đã trở thành một phần trong tâm tưởng và nguyên tắc sống của ông.
Nếu trong những lúc mà chúng ta được sống an bình và thành công mà chúng ta còn không quan tâm tới những kẻ bị bất hạnh hơn mình thì liệu khi gặp gian khó, mất mát, ta có thể làm được điều đó hay không? Trong xã hội, xung quanh chúng ta hàng ngày có biết bao nhiêu người thiếu thốn đang cần sự giúp đỡ. Những gì họ cần đến không nhất thiết phải luôn luôn là vật chất, nhiều khi họ chỉ cần một lời động viên an ủi. Cõi ta bà này sẽ hạnh phúc biết bao nếu mỗi chúng sinh không chỉ chăm lo cho lợi ích riêng mình mà còn chăm lo cho lợi ích của người khác nữa.

2/- Câu chuyện thứ hai liên quan tới vị danh tướng Dwight Eisenhower. Ông  là một vị tướng 5 sao trong Lục quân Hoa Kỳ và là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 34 từ năm 1953 đến 1961. Trong thời Đệ nhị Thế chiến, ông phục vụ với tư cách là tư lệnh tối cao các lực lượng đồng minh tại Châu Âu, có trách nhiệm lập kế hoạch và giám sát cuộc tiến công xâm chiếm thành công vào nước Pháp và Đức năm 1944–45 từ mặt trận phía Tây
Vào thời xa xưa đó, một hôm ông Eisenhower cùng với đoàn tùy tùng của ông vội vã lái xe về tổng hành dinh quân đội ở Pháp để tham dự một cuộc họp khẩn cấp. Lúc đó trời đang mùa đông lạnh buốt lại thêm mưa tuyết rơi phủ đầy khắp nơi. Xe đang chạy thì ông bất ngờ để ý nhìn thấy có hai vợ chồng già người Pháp ngồi ở bên lề đường đang run rẩy vì cái lạnh giá buốt. Ông lập tức ra lệnh cho đoàn tùy tùng ngừng lại và muốn phái một thông dịch viên tiếng Pháp tới hỏi thăm cặp vợ chồng này. Một viên tham mưu nhắc nhở ông là nên để cho nhân viên công lực tại địa phương lo chuyện này, phái đoàn phải đi nhanh lên vì sợ trễ cuộc họp. Ông nói nếu đợi cảnh sát địa phương tới thì sợ là quá muộn và hai người này sẽ chết cóng.
Sau khi hỏi thăm, ông Eisenhower biết được là họ đang muốn tới Paris để gặp con trai nhưng xe của họ bị chết máy giữa đường. Ông bảo hai vợ chồng già mau lên xe của ông. Ông không hề quan tâm đến chức phận của ông và không hề tỏ thái độ gì trước hai kẻ đang gặp nạn này. Ông chỉ theo bản tính lương thiện vốn sẵn có của ông là luôn luôn muốn giúp đỡ người hoạn nạn mà thôi. Ông liền ra lệnh thay đổi lộ trình, đưa cặp vợ chồng tới Paris trước, rồi ông và đoàn tùy tùng mới lái xe tới tổng hành dinh để dự cuộc họp.
Không ngờ chính sự chuyển hướng đi thình lình ngoài kế hoạch này đã cứu mạng ông! Quân Quốc Xã có tin tình báo nên biết chính xác hành trình của ông và đã bố trí sẵn các tay súng bắn tỉa nấp rình tại các ngã tư. Nếu ông tới thì sẽ bị hạ sát ngay chỗ đó. Nhưng hóa ra chỉ nhờ vào cái tâm  lương thiện, cái lòng từ bi đã giúp ông đổi lộ trình và tránh thoát cuộc mưu sát này. Quả là tự cứu mình bằng cách giúp người khác.

3/- Câu chuyện thứ ba kể về một cậu bé nhà nghèo tên là Howard Kelly. Quá nghèo nên hàng ngày cậu thường phải đến gõ cửa từng nhà để bán báo trên đường đi tới trường học của mình.
Một hôm cơn đói nổi lên thình lình, cậu thò tay vào túi thì thấy chỉ có một đồng duy nhất cuối cùng. Đồng tiền này cậu định dành lại để mua thức ăn cho mấy đứa em ở nhà. Sau vài giây phút lưỡng lự cậu quyết định đi tới ngôi nhà ở phía trước để xin chút đồ ăn. Nhưng người mở cửa cho cậu lại là một cô bé xinh đẹp và dễ thương. Cậu tỏ ra bối rối và ngại ngần, nên cậu chỉ dám mở miệng xin một cốc nước để uống mà thôi.
Cô bé trông thấy cậu có vẻ nghèo nàn và đang mệt lả đi vì đói nên thay vì mang nước cô lại đem cho cậu một cốc sữa lớn. Cậu từ từ uống một cách ngon lành rồi mới rụt rè khẽ hỏi cô gái: “Tôi nợ cô bao nhiêu?” Cô gái trả lời: “Bạn không nợ nần gì tôi cả. Mẹ tôi đã dạy là không bao giờ làm điều tốt mà còn chờ được trả công.” Cậu cảm động nói: “Tôi thành thực biết ơn cô.”
Sau khi rời khỏi ngôi nhà cô bé tốt bụng đó, cậu Howard Kelly không chỉ cảm thấy cơ thể khỏe khoắn trở lại mà cậu còn có lòng tin tưởng hơn vào từ tâm của con người. Điều này giúp ý chí cậu mạnh mẽ thêm lên và không chịu khuất phục số phận hẩm hiu của mình.
Nhiều năm sau đó, cô gái trẻ nói trên mắc phải một căn bệnh rất hiểm nghèo. Các bác sỹ tại địa phương đã cố gắng nhưng đành bó tay, không thể làm thuyên giảm bệnh. Cuối cùng họ quyết định chuyển cô lên bệnh viện thành phố nơi có nhiều chuyên gia mong chữa khỏi bệnh cho cô.
Trong số các bác sỹ được mời tới hội chẩn có một người tên là Howard Kelly. Khi nghe tới cái tên nơi quê quán của cô gái, một tia sáng chợt lóe lên trong ký ức của Kelly. Kelly vội đứng dậy, chạy xuống phòng cô gái. Bước tới gần giường bệnh ngay lập tức Kelly đã nhận ra đó chính là cô gái cho mình sữa ngày xa xưa. Kelly quay trở lại phòng hội chẩn và đề nghị được là người phụ trách ca bệnh đó.
Kelly làm hết sức mình với một sự quan tâm đặc biệt để chữa bệnh cho cô gái. Sau một thời gian chống chọi bệnh tình cô thuyên giảm và cuối cùng là khỏi bệnh hoàn toàn.
Trước ngày cô gái xuất viện, bác sỹ Kelly đã yêu cầu nhân viên quầy thu ngân chuyển hóa đơn tới bàn giấy của mình. Kelly viết ít chữ lên trên hóa đơn trước khi nó được gởi tới phòng bệnh để trao cho cô gái.
Khi mở ra đọc cô gái thầm nghĩ rằng có lẽ cô sẽ phải ra sức làm việc cả đời mới trả hết món tiền này. Nhưng cô thật sự ngạc nhiên khi đọc thấy trên phần đầu hóa đơn đã ghi sẵn dòng chữ: “Hóa đơn đã được thanh toán bằng một ly sữa”. Và người ký tên là: “Bác Sỹ Howard Kelly.”

4 /- Câu chuyện thứ tư xảy ra tại Đại học Stanford vào năm 1892. Thời đó có một học sinh 18 tuổi gặp khó khăn trong việc trả tiền học. Là một trẻ mồ côi anh ta không biết đi nơi đâu để kiếm ra tiền, anh bèn nảy ra một sáng kiến. Anh cùng một người bạn khác quyết định tổ chức một buổi nhạc hội ngay trong khuôn viên trường để gây quỹ cho việc học.

Họ đến mời Ignacy J Paderewski, một nghệ sĩ dương cầm đại tài. Người quản lý của Paderewski yêu cầu một khoản tiền là $2000 cho buổi biểu diễn. Sau khi họ thỏa thuận xong, hai người sinh viên bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị buổi trình diễn. Ngày ấy cuối cùng đã đến. Paderewski đã tới biểu diễn tại Stanford. Nhưng không may là vé không bán được hết. Sau khi tổng kết số tiền bán vé họ chỉ có được $1600. Họ thất vọng, đến để trình bày hoàn cảnh của mình với Paderewski. Họ đưa cho ông toàn bộ số tiền bán vé, cùng với một check nợ $400 và hứa rằng họ sẽ cố gắng trả số nợ ấy thật sớm.
Không ngờ Paderewski lại xé bỏ tờ check, trả lại số tiền cho hai chàng thanh niên và nói: “Hãy giữ lấy 1600 đô này, sau khi trừ hết tất cả các chi phí cho buổi biểu diễn còn bao nhiêu các cậu cứ giữ lấy cho việc học. Còn dư bao nhiêu nữa thì mới đưa cho tôi.” Hai chàng thanh niên vô cùng bất ngờ, xúc động nói lời cảm ơn…
Đây chỉ là một việc nhỏ, nhưng đã chứng minh được nhân cách tuyệt vời của Paderewski. Ông giúp hai người mà ông ấy không hề quen biết. Trong cuộc sống hầu hết chúng ta đều nghĩ: “Nếu giúp họ, chúng ta sẽ được gì?” Nhưng những người vĩ đại lại nghĩ khác: “Nếu mình không giúp họ, điều gì sẽ xảy ra với những con người đang gặp gian khó này?” Người có từ tâm giúp ai không mong đợi sự đền đáp và chỉ nghĩ đó là việc nên làm mà thôi.
Người nghệ sĩ dương cầm tốt bụng Paderewski nói trên sau này trở thành Thủ Tướng của nước Ba Lan. Ông là một vị lãnh đạo tài năng. Không may chiến tranh thế giới bùng nổ và đất nước của ông bị tàn phá nặng nề. Hơn một triệu rưỡi người dân đang bị chết đói. Chính phủ của ông không còn tiền. Không biết đi đâu để tìm sự giúp đỡ ông bèn đến Cơ Quan Cứu Trợ Lương Thực Hoa Kỳ để nhờ trợ giúp.

Người đứng đầu cơ quan đó chính là Herbert Hoover, người sau này trở thành Tổng Thống thứ 31 của Hoa Kỳ. Ông Hoover đồng ý giúp đỡ và nhanh chóng gửi hàng tấn lương thực để cứu giúp những người Ba Lan đang bị đói khát ấy. Cuối cùng thì thảm họa cũng đã được ngăn chặn.
Thủ Tướng Paderewski lúc bấy giờ mới cảm thấy thoải mái. Ông bèn quyết định đi sang Hoa Kỳ để tự mình cảm ơn ông Hoover. Thế nhưng khi Paderewski chuẩn bị nói câu cảm ơn thì ông Hoover vội cắt ngang và nói: “Ngài không cần phải cảm ơn tôi đâu. Có lẽ ngài không còn nhớ, nhưng vài năm trước, ngài có giúp đỡ hai cậu sinh viên trẻ tuổi ở bên Mỹ được tiếp tục đi học, và tôi là một trong hai chàng sinh viên đó đấy.”
Thế giới này quả là một nơi tuyệt vời. Bạn cho đi thứ gì thì sẽ nhận được những điều tốt đẹp đáp lại! (The world is a wonderful place. What goes around comes around!)
Người ta cũng còn nhớ ông Winston Churchill từng nói đại ý rằng chúng ta sinh sống bằng những gì chúng ta kiếm được, nhưng chúng ta tạo lập đời mình bằng chính những gì mà chúng ta bố thí. Sống trên đời phải có một chút gì cho đi. Một chút đó chính là cái mình cố gắng (We make a living by what we get, but we make a life by what we give.)

Bản chất của Vô Minh & Giác Ngộ (Giác Ngộ “Tự Tánh” trong THIỀN Phật Giáo – Phần 2)

Bản chất của Vô Minh & Giác Ngộ (Giác Ngộ “Tự Tánh” trong THIỀN Phật Giáo – Phần 2)

Giác Ngộ “Tự Tánh” Trong Thiền (33)

Vô minh thực chất là cái gì? Cảnh giới và nhãn quan của Giác ngộ là như thế nào

GIÁC NGỘ “TỰ TÁNH”
TRONG THIỀN  PHẬT GIÁO

(Theo Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ Huệ Năng)

PHẦN 1: Thiền Huệ Năng : Thiền là ”Thấy Tánh”

PHẦN 2

BẢN CHẤT CỦA VÔ MINH & GIÁC NGỘ

Giác Ngộ “Tự Tánh” Trong Thiền (6)

1.      Vô minh – Vô Niệm

a.      Bản chất Vô minh

Trong Kinh Bảo Đàn, Vô minh hay được gọi là Hư Vọng là điều mà Huệ Năng cho là nguồn mạch của đau khổ, phiền não trong tâm con người nên cần phải giải trừ Vô minh thì mới hy vọng thấy Tánh. Vô minh có nghĩa là sự dấy lên của một ý nghĩ (tâm) trong ý thức gọi là Vọng Niệm. Vô minh cũng có nghĩa là không sáng, là không được ánh sáng của Tự Tánh chiếu rọi nên dễ rơi vào mê lầm ảo tưởng.[1]

Huệ Năng thường ví “Trí như mặt trời, huệ như mặt trăng, trí huệ thường sáng; vì chấp cảnh bên ngoài, nên bị vọng niệm mây đen che khuất, Tự tánh chẳng được sáng tỏ.”[2] Tánh vốn là “cái Một tuyệt đối, thuần nhất, bình đẳng như nhau ở kẻ trí cũng như người ngu” [3]. Cái nhiều là cái phân hóa ra từ điên đảo Vô minh trong tâm thức của ta. Việc làm thiết yếu nhất của việc ngộ đạo Phật Giáo là vận dụng tất cả khí lực bình sinh để giải quyết vấn đề Vô minh, làm sao để kiến chiếu muôn vật trong “Một niệm[4]”.[5]

Vô minh thực chất là cái gì? Rõ hơn, Vô minh thật ra chẳng là cái gì cả, bản chất của nó chỉ là một ý niệm do lý trí phân biệt nảy sinh ra trong tâm thức của con người. Cũng như Giác ngộ, Vô minh không có giới hạn về thời gian vì nó không thuộc về thời gian mà là thuộc về Ý chí. Nhưng Vô minh thì ngược hẳn Giác Ngộ, trong khi Giác Ngộ là trở về với “Cái Một” tuyệt đối của Ý chí thì Vô minh là cái thể của Ý chí phân làm đôi khi nẩy ra một cái muốn là “muốn tự biết nó”. Từ đây nảy sinh ra một Ý thức gọi là động niệm phân hóa thành “Chủ” và “Khách”. Với tư cách là “Chủ” (Ý Chí nơi Tự Tánh) vốn đã tự đủ nên muốn thoát tất cả những gì ràng buộc trong mọi ước vọng hiểu biết. Trong khi đó với tính cách là “Khách” (Ý thức) vẫn luôn có cái gì đó không thể biết được, do đó luôn ở trong trạng thái cầu hiểu biết. Cuộc xung đột giữa “Chủ” và “Khách” vì thế là không thể tránh khỏi và cách nào đó Vô minh theo liền kiến thức luận lý như “bóng với hình”. Vì thế, Vô minh ở đây không có nghĩa là thiếu kiến thức hay chưa am tường một lý thuyết nhưng có nghĩa là không nắm được những yếu tố cốt yếu của cuộc sống biểu hiện ra từ Ý chí. [6]

Ở đây, chúng ta cần phân biệt bản chất khác nhau về “cái biết của Ý chí nơi Tự Tánh” (Chủ) và “cái biết của Ý thức nơi lý trí thuần túy” (Khách). Ý Thức (Khách) luôn tiếp xúc với thế giới bên ngoài một cách trực tiếp qua các giác năng, cái biết của Ý thức ở đây chủ yếu là cái biết mang tính kiến thức đơn thuần. Cái biết của Ý thức vì thế là cái biết của Vô minh, cái biết bị tách rời giữa người biết và điều được biết, ngoại giới biệt lập với nội tâm do đó luôn có những cặp mâu thuẫn đối lập nhau xuất hiện. Khi ta tưởng mình biết việc gì thì đồng thời cảm thấy vẫn có việc gì khác mà ta không biết, vì cái không biết luôn nằm sau cái biết dẫn đến là không bao giờ cảm thấy thỏa mãn. Do vậy, cần phải soi lại vào Tự tánh để vượt qua những mâu thuẫn về mặt nhận thức như trên. Không qua khỏi ngưỡng cửa ấy thì tâm ta không bao giờ yên, đời sống trở thành một cực hình không chịu nổi. [7] Huệ Năng cũng từng nhắc đến việc loại trừ ý niệm Chủ (Năng) – Khách (Sở) này: “Ngươi hễ tâm như hư không, chẳng chấp vào Không, ứng dụng vô ngại, động tịnh vô tâm (chẳng tác ý), Thánh phàm đều quên, Năng Sở đều diệt, Tánh tướng như như, thì không lúc nào chẳng phải Định vậy”.[8]

Thật ra, Ý thức thì vẫn là cái có đó, chúng ta không thể phủ nhận vai trò của nó. Ý thức có tài giải quyết những vấn đề thực dụng khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài và có sứ mạng cũng thật xác đáng là chiếu sáng Ý chí trong việc tiếp xúc với ngoại cảnh. Nhưng điểm yếu của Ý thức ở chỗ là thay vì chiếu sáng Ý chí thì nó lại đeo dính thế giới bên ngoài. Các hiện tượng, khái niệm, đối tượng khao khát tìm hiểu vẫn chính là chủ thể cho chính Ý thức. Vô minh là ở việc Ý thức quá dính bén với cảnh trần để thỏa mãn cho chính mình, không còn tin tưởng vào cái biết của Ý Chí nơi Tự Tánh. Ý thức do vậy không thể tự mình quét sạch được Vô minh là thể chất cố hữu của Ý thức, cũng như “gươm thì không thể chặt được gươm”. Vì thế, cần nhấn mạnh rằng, để vượt được bức tường Vô minh không phải là hành vi tri thức của cái biết thuần túy nhưng phải là sự tự ngộ lại Tự Tánh là bản chất đích thật của mình, một sự tâm chứng hiện thực, ngoài tất cả khuôn phép của luận lý. [9]

Ngược lại, khi Ý thức không tự giải thoát được chính mình thì Ý chí với tư cách là Chủ chỉ còn cách là vận dụng hết “khí lực bình sinh” để tự chiếu sáng chính mình. Đó là cái biết từ bên trong của Trí Huệ. Trong Ý chí thật ra ngoài “cái biết” còn có “cái thấy”. Ý chí tự do, tự chủ do đó thấy là “tự thấy”, biết là “tự biết”. Cái biết này vì không còn phân chia Chủ-Khách nên cái biết cũng không còn phân biệt đâu là người biết và điều được biết nữa. Đó mới thật là “cái biết” theo nghĩa cốt yếu nhất. Hễ Ý chí còn bị đánh lừa những gì do nó tạo ra thì Vô minh vẫn còn chiếm ưu thế, vẫn còn phân biệt giữa người biết và điều được biết. [10] Do vậy, vấn đề không phải là diệt trừ Ý thức nhưng ở chỗ là làm sao Ý thức và Ý chí hoạt động trong cùng một thể đến nỗi không còn phân biệt đâu là Ý Chí, đâu là Ý thức nữa. Một khi Ý thức cứ thích tách riêng không tin vào “cái biết tự đủ” nơi Ý chí để tìm thỏa mãn “cái biết” của mình nơi sự vật bên ngoài thì sẽ xảy ra sự xung đột mâu thuẫn nội tại không thoát ra được.

Hiện tượng Ý chí phân đôi như trên được nhắc đến rất nhiều trong Triết lý Ấn Giáo cũng như trong Tâm lý theo bình diện là “Cái Tâm, Cái Ngã hay Cái Tôi phân đôi”. Đây là hiện tượng phân tâm “Tâm thượng sanh Tâm” nghĩa là trên cái Tâm này thêm một cái Tâm nữa. Cái Tâm sau là “niệm” hoặc “tư tưởng”, đó là cái “Tâm thừa” hay “Cái Tôi tâm lý” nên sinh ra mê và khổ. Ở triết Ấn, điều này được diễn tả bằng hình ảnh một “con chim không ăn” (Tự tâm) đứng nhìn “con chim ăn” (Tâm thừa). “Con chim không ăn” là cái “Ngã Tự Tánh” đặc quánh, tự đủ do vậy không cần phải thỏa mãn mình nơi bất cứ cái gì khác nữa. Trong khi “con chim ăn” là cái “Ngã giả” tự tìm thỏa mãn cho mình ở thế giới bên ngoài.[11] Phật Giáo sở dĩ chủ tâm Vô Ngã là muốn xóa đi “cái ngã giả” đó, để chỉ còn lại cái ngã Tự Tánh thôi. Khi đó thì Ngã không còn phân biệt đâu là Ngã hay Vô Ngã nữa. Nếu còn phân biệt như thế thì vẫn còn trong Vô minh vậy.

Cũng thế, sở dĩ Phật Giáo chủ trương diệt dục, diệt ham muốn là diệt đi ham muốn được thỏa mãn của “cái ngã giả” chứ không phải hiểu theo nghĩa tiêu cực là diệt cái Tự Ngã. Diệt đi ham muốn cái Ngã giả vì đó chỉ là những thỏa mãn nơi Vô minh không thực, hậu quả dẫn đến chỉ là đau khổ và thất vọng, vì tất cả chỉ là ảo ảnh nên cũng mau qua, chóng tàn. Cái Tự Ngã vốn tinh tuyền và thật nên không gì có thể đụng chạm đến nó. [12] Thật ra, cuộc chiến để loại trừ cái Tâm giả cũng là trên bình diện tâm tưởng của ta mà thôi, Cái Ngã thật hay giả vốn chỉ là một trong tâm tưởng của ta, vì ta cứ thích phân ra cho rạch ròi nên Vô minh tăm tối là chỗ đó.

Nói cho cùng, Vô minh tự nó không có tội, cũng không là nguồn gốc của tội lỗi. Thế nhưng, nếu ta không thông suốt Vô minh là gì và ý nghĩa của nó là gì trong cuộc sống thì mọi tội lỗi sẽ tiếp nối nhau chằng chịt và tham ái là đầu mối tội lỗi. Ta chỉ có thể chế ngự được khi lý Vô minh được quán chiếu đến tận cùng bằng tâm tưởng của ta nơi diệu lý “Vô Niệm”. [13]

b.      Từ Vô Ngã đến Vô Niệm, Vô Trụ, Vô Tướng

Giáo lý Phật Giáo Đại Thừa có vẻ nhấn mạnh đến vấn đề Vô Ngã nhưng nơi Thiền Môn vấn đề Vô Ngã được thu hẹp lại nơi phạm trù Vô Niệm. “Niệm” là một tư tưởng phát xuất từ thâm tâm mà cũng là một thời gian ngắn nhất (satna). Nhiều người thường nghĩ rằng Vô Ngã là phải xóa đi cái Ngã; không chỉ xóa đi cái Ngã giả mà cái Tự Ngã cũng phải diệt luôn thì mới đạt được trạng thái Niết Bàn[14]. Cũng vậy, ở khái niệm Vô Niệm, họ cũng cho rằng là phải làm sao để tâm trí ta không còn một khởi niệm nào nữa, theo nghĩa của họ thì phải để tâm ta vào hư không vô định… Tất cả những điều này, Thiền môn phủ nhận hoàn toàn và còn cho rằng đây là một sai lầm trầm trọng đưa đến sự ảo vọng và bệnh hoạn, hơn là đưa đến lý Giác Ngộ Niết Bàn. Như ở trên đã bàn về vấn đề Vô Ngã, ở đây chỉ chú ý đến hơn ở vấn đề Vô Niệm.

Theo Huệ Năng, sư giảng rất nhiều lần về điều này:

Sao gọi là VÔ NIỆM? Nếu thấy tất cả pháp tâm không nhiễm trước gọi là VÔ NIỆM, dùng thì khắp nơi, cũng chẳng dính mắc ở khắp nơi, hễ sạch được bổn tâm, khiến lục thức ra cửa lục căn[15], đối với lục trần[16] mà chẳng nhiễm chẳng trước, đi lại tự do, ứng dụng vô ngại tức là BÁT NHÃ TAM MUỘI[17], tự tại giải thoát gọi là hạnh VÔ NIỆM.[18]

Đối với Thiền môn, ý hướng hay ý tưởng từ bên trong là vô cùng quan trọng vì nó sẽ quyết định và chịu trách nhiệm cho tất cả các hành vi và cả vận mệnh ta sau đó. Chắc chắn đã là con người có lý trí thì ta luôn có những ý tưởng trong mình trước một sự việc xảy ra. Ý tưởng đó có thể là xấu hay tốt, cho dù ý tưởng không rõ ràng nhưng cái thâm ý đã bao hàm một cách rõ ràng mà chỉ tự mỗi người mới ý thức cái thâm ý của mình bên trong.

Thông thường, chúng ta được dạy là phải có ý hướng tốt, đừng có ý hướng xấu trước một sự việc gì. Tuy vậy, đối với quan niệm của Thiền môn thì bao lâu ta vẫn còn “tác ý” dù tốt hay xấu thì ta vẫn còn sinh ra “Nghiệp” (Karma nghĩa là tác ý hay Ý chí) dù là nghiệp tốt hay xấu [19]. “Có ý muốn làm mới có hành động, bằng thân khẩu hay ý”. Mà đã tác Nghiệp thì chắc chắn phải có “Báo ứng” (sự đáp trả lại). Điều này giống như ta tác động một lực bằng tay vào tường thì luôn có một lực đồng thời phản lại làm cho tay ta đau.

Ở đây thiền nhấn mạnh không chỉ là tác động bằng hành động nhưng khi ta tác động chỉ bằng một Ý lực thì ta biết chắc sẽ có phản hồi lại một ý lực tương tự sau đó. Vì lẽ đó, nếu còn “nghiệp báo” thì ta vẫn còn luẩn quẩn trong sự “vay trả, trả vay” của vòng Luân hồi nghiệp quả, ta vẫn chưa thật sự thanh thoát và chứng quả Giác Ngộ. Cửa Giác Ngộ của Thiền là phải đạt đến Vô Niệm. Nghĩa là không còn tác ý nữa, dù đó là ý tốt. Việc tốt ta làm là làm điều phải làm thôi, do Tự Tánh thúc đẩy từ bên trong chứ chẳng phải có ý tốt để mưu cầu điều gì cả, mà cũng chẳng cho đó là tốt. Ta cứ ung dung tự tại làm việc của ta vì đó là bổn phận phải làm!

Như thế, ta có thể thấy rằng, Vô Niệm không là đi vào cái hư không trống rỗng vô vị nhưng là trở lại với Tự tánh để hòa làm một với “Một niệm” ở nơi Tự Tánh. Kinh Phổ Diệu có nói: “Bỗng chốc trong Một niệm, bằng Trí Bát Nhã, Phật chứng Vô Thượng Bồ Đề”[20]. Mặc dù, nói là “Một niệm” là không đi vào các thế đối đãi nhị nguyên nhưng cho rằng mọi sự là Một mà thôi thì hiểu là “tất cả là một, và một là tất cả”[21]. Nhưng thật ra, cái ý niệm “Một” đó cũng không được nghĩ hay nói ra mà cũng không phải là cái hư không. Huệ Năng luôn nhắc nhở môn đệ của mình ở điểm này:

Chớ nên nghe ta nói “KHÔNG” mà liền chấp “KHÔNG”. Trước nhất chớ chấp “KHÔNG”, nếu để tâm “KHÔNG” tĩnh tọa là lọt vào “VÔ KÝ KHÔNG” [22]. Ở nơi khác sư còn nói mạnh hơn: “để tâm không mà tĩnh tọa, trăm điều chẳng nghĩ, tự xưng là đại, với bọn người này không thể nói gì được vì họ bị rơi vào tà kiến”[23].

Vì thế, “Một niệm” hay “Vô Niệm” nghĩa là chỉ có “hiểu” và “thấy” mọi sự như nó là, không nghĩ ngợi gì thêm, không cho tốt-xấu, hay-dở gì cả, tất cả chỉ là “Một Tuyệt Đối”. Sự việc dù có xảy ra như thế nào thì cứ chấp nhận nó như thế ấy không vội phán quyết là tốt-xấu, thiện-ác. Phán quyết của ta dù như thế nào cũng chỉ là phiến diện, một cứ nơi Tự Tánh thì sẽ được tự do tự tại. Chính điều này mà Thiền không chú trọng nhiều đến lý luận nhưng đề cao sự thinh lặng để chiêm ngắm thôi, cũng không đề cao việc ngồi thiền[24] cho bằng việc giữ tâm mình được thanh tịnh ở Vô Niệm. Đây là điều mà Lão-Trang có nhắc đến là “Vô Vi” hay “Khí hạo nhiên” hay phương Tây thường nói là “Let it be” (hãy để như nó là). Không bàn không nói, cứ để tâm thể thanh tịnh rồi tự nơi mỗi người sẽ tự chứng nghiệm lấy sự đơn sơ tự nhiên của diệu lý Vô Niệm đó.

Từ Vô Niệm sẽ dẫn đến Vô Trụ và Vô Tướng. Huệ Năng chỉ rõ rằng:

Thiền lấy “VÔ NIỆM làm tông, VÔ TƯỚNG làm thể, VÔ TRỤ làm gốc. VÔ TƯỚNG là ở nơi tướng mà lìa tướng. VÔ NIỆM là ở nơi niệm mà chẳng niệm. VÔ TRỤ là bản tánh của con người đối với tất cả sự vật, thiện ác, tốt xấu, kẻ thù, người thân trên thế gian, cho đến lúc bị người nói xấu, khi dễ, đều cho là không, chẳng nghĩ trả thù, niệm niệm chẳng nghĩ ngoại cảnh.[25]… Không ở nơi cảnh mà sinh tà kiến, nhưng ở niệm phải sinh ở Tự tánh. Niệm của Tự tánh là Vô niệm, tức là đều cho là không. Vô niệm thì khác với niệm tuyệt, tức là không nghĩ gì cả chỉ nhìn vào hư không.” [26]

Vô Niệm tức không khởi niệm phân biệt thì sẽ dẫn đến Vô Trụ. Vô Trụ là không bám dính vào bất cứ gì cả ngay cả ở nơi một ý niệm được gọi là “Không”, một chỉ ở nơi Tự Tánh mà hành động một cách tự do tự tại. Chính ở điều này mà Huệ Năng đã đạt “Đại Ngộ” được Tự Tánh khi nghe Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn giảng về Kinh Kim Cương ở câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” [27].

Vô trụ trong Thiền là trạng thái tự do tuyệt đối, tự do ngay cả đối với ý niệm về Thượng Đế (Vô Trụ Xứ). Nhiều người có vẻ ngạc nhiên về điều này, nhưng thật ra Thiền “không mưu toan bại hoại phá Thánh, bài Thần. Thiền cũng không cốt thấy Thượng Đế hay Chúa y như thực”. Thiền cũng nêu cao ý chỉ là “nhìn vào tạo vật không hỏi đến Đấng Hóa Công. Có thể trong khi hành Thiền người ta bắt gặp Chúa đang đắp nắn vũ trụ nhưng việc ai nấy làm. Thiền vẫn tiếp tục theo đường riêng, Thiền không ỷ lại vào chỗ dựa ấy. Vì thật ra, còn ý niệm thần bí về Chúa là còn có một đối tượng để nắm bắt. Hễ có được Chúa là phải loại trừ những gì chẳng là Chúa. Đó là tự mình đặt giới hạn cho mình, Thiền muốn tự do tuyệt đối.” [28]

Như trên đã nói, Huệ Năng nhấn mạnh đến việc nhận ra “Tự Tánh Siêu Việt” (Chúa) nơi chính mình trước nghĩa là phải bắt đầu từ trong thâm tâm mình đã, nếu không như thế thì việc ta tìm Chúa hay Phật bên ngoài: nơi sự vật, nơi việc cầu nguyện chỉ bằng miệng hay nơi các ý niệm dù là “Cao Vời Siêu Việt” của tư tưởng lý trí, thì chưa hẳn là “Chúa” thật. Nếu ta quá ỷ lại nơi ý niệm của ta về “Chúa” thì cũng chỉ là ảo tưởng nơi việc thờ kính của ta mà thôi.

Quả vậy, nếu Đấng Tuyệt Đối là tuyệt đối thì hơn hẳn với những gì ta nghĩ trong tâm tưởng của mình, vì tư tưởng ta không thể bao quát hết Đấng đó. Chúa mà ta cho là có đó bên ngoài là một Chúa nào giới hạn trong ý nghĩ ta mà thôi. Ý tưởng câu nói mà Thiền hay nhắc đến là “gặp Phật giết Phật” hay “Phật tại Tâm” là như thế, nghĩa là bao lâu chưa nhận ra “Phật Tánh” trong ta thì Phật bên ngoài nhiều lúc chỉ là ngẫu tượng. Vấn đề cốt yếu là ta phải chứng ngộ được Tự Tánh, khi đó ta cứ ở nơi Tự Tánh để thể nghiệm được thực tại cuộc sống của ta là gì, chỉ im lặng trong cái thực tại diệu kỳ không cần phải bàn luận, vì càng bàn luận về Thực tại Siêu hình thì càng mắc kẹt trong thế mâu thuẫn của Vô Minh, lòng ta lại càng thêm khắc khoải, ưu tư. Tự do ngay cả đối với ý niệm về “Đấng Tuyệt đối”, đó là sự “can đảm đến cùng” của Thiền vậy!

Vô Tướng cũng thế, nghĩa là không chấp vào sắc tướng bên ngoài mà nảy sinh những phán đoán đối lập nghịch với Tự Tánh. Dù có thấy điều dữ điều lành rành rành trước mắt thì cũng “chẳng lấy chẳng bỏ”, “chẳng chấp chẳng nhiễm”. Tâm sở dĩ loạn là vì quá chấp tướng, chấp cảnh bên ngoài. Cứ ở nơi Tự Tánh thì bên ngoài “ở nơi tướng lìa tướng, trong thì nơi không lìa không”. Vì nếu chấp vào tướng sẽ gây nên tà kiến còn nếu chấp vào tính “không” thì lại trở vào Vô minh. Đây có lẽ là cái thế gọng kìm thật khó thoát ra được nếu không chứng ngộ được bản chất của Tự Tánh, tức phải dùng Ánh Sáng của Tự Tánh để chiếu rọi Vô minh. [29] Nhìn chung, các tiến trình từ phá bỏ Vô minh đến đạt Vô Niệm, Vô Trụ, Vô Chấp đều có liên hệ mật thiết với nhau và đều phải phát xuất từ việc Thấy Tánh và chứng ngộ Tự Tánh. Chúng ta sẽ hiểu hơn về thực tại Tự Tánh khi đi sâu tìm hiểu thêm về Bản Chất của Giác Ngộ Tự Tánh trong Thiền.

2.      Bản chất của Giác Ngộ Tự Tánh

Giác Ngộ là một điều tối quan trọng và tinh yếu nhất của Thiền. Đã gọi là Thiền là phải có Ngộ. Không Thiền thì không có Ngộ, không Ngộ thì chẳng phải Thiền. Thiền không Ngộ thì cũng như “mặt trời không có ánh sáng và nắng ấm”, như “tiêu không cay” vậy. Ngộ cũng là lý do tồn tại của Phật Giáo. Yếu chỉ Phật Giáo không gì khác hơn là nội dung của Giác ngộ. Để từ đó ta “sống thân thiết với cảnh giới tự chứng của Người mở đạo”, nhờ tự chứng như thế thì “Phật mới là Phật”. Do vậy, Thiền đi liền với việc tìm sự “Giác Ngộ Tối Cao”, chính đây là trụ cột chống đỡ cho sự tồn tại của Phật Giáo. Thiền được Phật Thích Ca “Tâm truyền” cho Ca Diếp qua câu chuyện “Niêm Hoa vi tiếu”: khi Phật đưa lên một cành hoa trước hội trường, một cử chỉ mà riêng chỉ có Ca Diếp[30] mới nhận ra thâm ý và đáp lại Thầy bằng một cái mỉm cười. Đó là khởi điểm của Đạo Thiền. [31]

a.      Cảnh giới của Giác Ngộ

Cảnh giới của Tự Giác thường được diễn tả bằng các từ ngữ sau: Trí, Huệ (Bát Nhã), Chứng, Ngộ, Thành, Giác, Kiến (Thấy). [32]

Giác (Budhi) hay Bồ Đề là trạng thái tuyệt đối của Tâm, dứt bặt hết phân biệt vọng tưởng hoặc Kiến chấp (cái thấy bị bóp méo do chấp trước theo định kiến). Phật (Budha) nghĩa là người Giác. Giác là thể nghiệm trạng thái kiến chiếu muôn vật trong “Một niệm”. Chỉ có trong “Một niệm” mới có Giác. Để có “Một Niệm” là việc làm thiết yếu của Phật Giáo khi dùng hết khí lực bình sinh để giải quyết vấn đề Vô Minh như trên đã bàn. [33] Niết Bàn (Nirvana) chỉ về trạng thái tâm bặt hết phiền não đồng một thể với Giác nhưng Giác mang sắc thái trí thức hơn. [34] Niết Bàn không nên được hiểu tiêu cực là sự tận diệt cả hồn lẫn xác, Phật không bao giờ ngụ ý Niết bàn nên hiểu như vậy. Niết bàn vẫn mãi mãi gắn liền vào tư tưởng Giác Ngộ. [35]

Trí Bát Nhã là một sự hiểu biết đạt đến tầng cao hơn kiến thức bình thường. Đó là một năng khiếu gồm cả trí và tâm, là một sự kiến chiếu trong Một niệm, không phân biệt chủ thể khách thể gồm thâu trong một Tâm, và Giác là kết quả của nó. [36] Ngộ có nghĩa là tự chứng lấy bằng trực giác một điều rất hiển nhiên ngoài giới hạn không gian thời gian.[37] Giác Ngộ gồm thâu cả Ý chí lẫn Trí thức, là một hành vi trực giác phát sinh từ Ý chí. Ý chí muốn biết nó y như thực (đúng bản chất). Phật Thích Ca ban đầu cũng luẩn quẩn nơi vòng sinh tử và Vô minh không sao thoát ra được trong sự vô vọng. Đó là sự vô vọng tuyệt đối của con đường dụng trí. Sau đó, với tất cả đại hùng lực của Ý chí Ngài đi ngay vào việc đập vào Vô Minh thì cửa mở ra, Ngài đã tự chứng tự ngộ.[38]

b.      Nhãn quan Giác Ngộ

Tinh yếu của Giác Ngộ nơi Thiền còn là mở ra một nhãn quang mới phóng vào cuộc sống và vũ trụ. “Nhãn quang này đòi ta phải vứt bỏ đi nếp nghĩ thông thường, ta nhận ra đâu là lối nhận định khác hơn. Ta thử xem lối nhận định thường có đủ đáp ứng trọn vẹn và rốt ráo những đòi hỏi của tâm hồn ta không? Ta cũng thử tìm xem cái gì hay điều gì khiến ta bị vướng mắc, thiếu tự do để từ đó có tự do hơn, có được cảm giác ổn định và thoải mái hơn. Thiền đề nghị ta làm việc ấy. Đoan chắc có được cái nhìn mới ấy thì cuộc đời sẽ diễn ra trong một khuôn mặt tươi mát hơn, thâm trầm hơn và thỏa đáng hơn. Đó thực sự là một đại biến cố của cuộc đời không dễ gì đạt tới vì đó là một cuộc ‘rửa tội trong lửa’, phải dấn qua vô số thử thách.” [39]

Giác Ngộ nghiêng về “trí hơn là tình, đó là một trực giác phóng thẳng vào bản thể muôn vật, khác với hiểu biết bằng phân tích lý luận”. Đó là “một khám phá ra một thế giới mới, muôn vật sẽ hiện ra dưới một quan điểm hoàn toàn mới lạ, chẳng ngờ. Thế giới sau khi ngộ không còn là thế giới cũ ngày nào, thế giới không bao giờ mê trở lại như xưa. Tất cả tâm thức cũ tưởng chừng như sụp đỗ, mọi mâu thuẫn dị biệt đều dung thông trong cái toàn thể thân thiết và nhịp nhàng”. Giác Ngộ giống như “một cuộc cách mạng đánh thẳng vào toàn diện cuộc sống tái thiết lại toàn thể đời người, đặt lại nền móng cho mọi nhận định liên quan đến cuộc sống. Từ đây, có sự thức tỉnh của một giác quan mới nên ta sẽ xét mọi giá trị cũ đều dưới một quan điểm hoàn toàn mới. Đặc biệt Giác Ngộ tác động mạnh đến đời sống đạo đức và tâm linh, làm đẹp ra, phấn khởi lên, trong sạch lại…”[40] Nhìn chung, Giác Ngộ là kinh nghiệm riêng tư, thân thiết của cá nhân không thể “nói hết bằng lời, tả bằng bút”. Những diễn tả của các Thiền Sư chỉ là thử khơi gợi lên, chỉ cho thấy mà thôi.

Nhìn chung, “nội dung của Giác ngộ thật ra giản dị vô cùng ở bản thể Tự tánh nhưng có sức chấn động kinh khủng đến toàn thể con người. Xét về mặt trí Giác ngộ giúp ta vượt qua những mâu thuẫn, đó là thế kẹt thuộc phạm vi ngôn ngữ văn tự và nhận thức thông thường. Về mặt tâm thức ta chú ý hướng đến việc tái thiết lại phẩm cách con người mình, chú ý đến hơn sự tự do của tâm hồn.”[41] Dầu vậy, hiểu nội dung Giác Ngộ thì chưa hẳn là đã đạt được sự Giác Ngộ. Vượt qua bức tường Vô Minh để đạt được Giác Ngộ Tự Tánh không phải là chuyện dễ dàng ngày một ngày hai như mọi người từng nghĩ về pháp giáo Đốn ngộ. Cái khó là vết hằn của Vô Minh nơi những tham sân si của mỗi người đã bén rễ quá sâu dường như không lay chuyển nổi. Làm sao để bứng bỏ vết hằn đó để con người có hy vọng Giác Ngộ Tự Tánh? Đó là công việc của Đạo Thiền nhắm đến.

Lửa Mới

4/2014

Xin xem tiếp phần 3 vào kỳ tới:
Làm sao để Giác ngộ Tự Tánh?