NGỘ NHẬN

NGỘ NHẬN

Tác giả: Huệ Minh

Tiễn người bạn thân về nơi an nghỉ cuối cùng.

Nhìn chiếc quan tài dần dần đi xuống để vào lò thiêu tôi cùng bao nhiêu người thân thiết của người quá cố quặn lòng. Mới đó còn ăn, còn uống, còn giận, còn hờn, còn vui … với nhau đó nhưng rồi người bạn phải từ biệt ra đi để lại bao nhiêu người thương nhớ. Cách riêng, người bạn đã để lại những gì mà sau chuỗi đời dài ky cóp.

Tiễn bạn ra đi, tôi lại nghĩ về phận đời, phận người.

Con người sống trong cõi nhân sinh vẫn thường hay ngộ nhận về cuộc đời, về chính bản thân mình. Có những điều con người tưởng rằng rất chắc về danh vọng, về tiền bạc, về quyền lực mà mình đang có nhưng rồi không chắc chút nào cả bởi lẽ sống trong cõi nhân gian này không thể nào tránh được chuyện “vật đổi sao dời”. Có một điều chắc mà con người phải nắm lấy, phải đi đến và không thể nào thoát được đó là cái chết như cái chết của người bạn thân mới ra đi.

Cái chết là cái chắc nhất mà con người phải gặp và khi chết thì coi như tất cả những gì mình có đều để lại nhưng nhiều người đã ngộ nhận rằng mình lột da sống mãi.

Thực tế và rất thực tế trong cuộc sống là có những chuyện mà người ta tưởng chừng là cầm chắc trong tay nhưng không hẳn là như thế.

Cần gửi một ít đồ lạnh về Sài Gòn, gọi điện để nhờ xe khách đi tuyến đường ngang nhà tôi ở về Sài Gòn. Cứ tin chắc rằng khoảng 2 tiếng hay hơn 2 tiếng đồng hồ thì xe sẽ đến Sài Gòn và gia đình ra nhận đồ như những lần đã từng gửi. Hơn 2 giờ đồng hồ không thấy nhà xe điện lại. Sốt ruột vì khá lâu mà không thấy gọi ra nhận đồ. Điện thoại cho tài xế thì biết được rằng xe của anh bị hư ngay trên đường cao tốc. Hành khách đã chuyển xe khác để về nhà cho kịp thời gian. Hàng của tôi dĩ nhiên phải nằm lại trên xe và dù gia đình có muốn ra lấy cũng không ra được vì xe đang nằm trên đoạn đường cao tốc xe gắn máy không vào được. Thế là đành chịu cho đến khi có xe nào đó cùng hãng đi ngang qua chuyển vào Sài Gòn giúp.

Thế đó ! Tưởng chừng hàng sẽ đến nhưng cứ phải sống trong tâm trạng chờ và đến chiều hàng mới đến. Tất cả những gì mình muốn và tưởng chừng nằm chắc trong tay mình nhưng không được như thế.

Nhớ lại ngày xưa đi làm cho một công ty. Thân quen và yêu mến công ty đó đến độ xem công ty cũng như mọi thành viên trong công ty ấy như gia đình thứ hai cạnh gia đình ruột thịt của mình. Có khi vì tình vì nghĩa còn coi trọng những thành viên trong công ty đó còn hơn cả gia đình của mình nữa.

Chuyện công ty ấy vẫn còn in mãi trong tâm trí tôi dẫu rằng giờ tuổi cũng đã cao.

Tưởng chừng dưới cái vỏ bọc êm ả bình an thanh thản làm việc giúp cho đời giúp cho người đó lại là một cuộc thanh trừng nội bộ. Càng ngày càng ngày khi phát hiện ra cuộc thanh trừng gay gắt đó nhân viên quèn như chúng tôi rất buồn và đau nữa nhưng cũng chẳng làm gì được vì mình không có tiếng nói cũng như có nói cũng chẳng ai chịu nghe.

Năm bảy năm qua đi, ban giám đốc mới được thay thế. Tưởng chừng “vết xe đổ” của bộ sậu cũ là bài học quý giá cho ban lãnh đạo mới nhưng rồi nó cũng chẳng khá hơn. Tất cả bộ máy điều hành cũng dùng đến chiêu cách phe cánh để đạt được mục tiêu của nhóm lợi ích mình.

Những thăng trầm trong công ty đó, anh em chúng tôi đã học được bài học ngộ nhận mà nhiều người dường như cũng thấy nhưng hình như không thấy. Chuyện là ban giám đốc cũ cứ nghĩ rằng triều đại của mình viên mãn cho đến ngày tận thế cũng như của cải, quyền lực của nhóm mình vĩnh viễn nhưng kỳ thực nó không phải là như vậy. Giờ đây những người ngộ nhận rằng tất cả những gì mình xây dựng sẽ tồn tại mãi với thời gian. Nhưng, trong cuộc sống có gì tồn tại mãi đâu mà mơ.

“Sóng trước đổ đâu sóng sau đổ đó !” Câu nói thật hay ông bà ta để lại. Tất cả những gì người trước làm thế nào với mọi người trong công ty thì người sau cũng làm thế. Tiếc thay là những người mới đã không sửa lại con đường của những người cũ đã đi. Tất cả những điều đó cho thấy rằng người ta vẫn cố tình và cố gắng xây dựng triều đại của mình theo lợi ích của nhóm mình bằng mọi giá mà người ta quên rằng cái gì cũng có thời có hạn và rồi cái gì cũng qua đi.

Tôi chia sẻ với một đàn anh đi trước tôi rằng chưa nghĩ đến chuyện triều đại, chuyện xây dựng cơ đồ và cứ nghĩ rằng công trình của mình vĩnh viễn thì hãy nhớ đến thời gian và phận người.

Đời người thật vắn ! Mỗi ngày qua đi là mỗi ngày mà con người ta phải gần đất xa trời hơn. Mỗi ngày qua đi là mỗi ngày người ta gần đến cái chết hơn.

Sự thật là ai ai cũng chết chắc !

Chính cái sự thật chết chắc đó khép đời con người lại với biết bao nhiêu mộng vàng.

Chớ gì mỗi người năng nghĩ đến cái sự thật chết chắc của đời mình để bớt đi cái gọi là tham sân si ở đời cũng như hành xử với anh chị em đồng loại cách bao dung hơn, tha thứ hơn. Nghĩ và sống với cái chết kề cạnh bên mình hy vọng sẽ làm cho con người bớt đi cái ngộ nhận tồn tại mãi chế độ của mình, triều đại của mình, danh vọng của mình.

Huệ Minh

ĐÔI ĐIỀU VỀ CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN QUẬN 8

ĐÔI ĐIỀU VỀ CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN QUẬN 8

TRONG QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP

TRƯỜNG TRUNG HỌC CỘNG ĐỒNG QUẬN 8

(SAU NÀY MANG TÊN LƯƠNG VĂN CAN)

Tác giả: Hồ Công Hưng

Chuẩn bị mừng kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trường PTTH LVC

Cách đây đúng 50 năm, Chương trình Phát triển Quận 8 (CTPT) ra đời. Trong phong trào chung tham gia công tác xã hội lúc bây giờ, một nhóm thanh niên, từng có chút kinh nghiêm từ nhiều hội đoàn khác nhau, đã họp lại bàn bạc và đệ trình lên chính phủ một dự án nhằm cải thiện đời sống dân cư ở Quận 8, một quân ven nghèo nhất của thành phố. CTPT bắt đầu hoạt động, chính xác vào ngày 15.8.1965, dưới sự bảo trợ của Bộ Thanh và Tòa Đô Chính (*). Trong tất cả những công tác cải tiến dân sinh như chỉnh trang các khu nhà ổ chuột, tổ chức dịch vụ ý tế lưu động và vệ sinh công cộng, sửa chữa các con hẻm lầy lội v.v…, CTPT đặt ưu tiên hàng đầu cho việc giáo dục như là một bước cơ bản để nâng cao đời sống người dân. Có thể kể một số việc: lập ký nhi viện (nhà trẻ), mở các lớp dạy nghề và giáo dục tráng niên, xây dựng thêm phòng học để giải tỏa lớp ca 3 tại các trường tiểu học… Đặt biệt là phải cấp bách thành lập cho kỳ được một trường trung học dành riêng cho con em Quận 8. Từ đó, Trường Trung học Cộng đồng Quận 8, sau này (1974) mang tên Lương Văn Can, được hình thành. Vì thế, với tư cách là một người trong cuộc, xin được có đôi lời về vai trò của tổ chức này (CTPT) trong quá trình tạo dựng nên ngôi trường thân yếu của chúng ta, như góp phần chuẩn bị cho ngày kỷ niệm 50 năm thành lập trường (1966-2016) vào năm tới.

  1. Thực trạng xã hội và tình hình giáo dục của Quận 8 lúc mới thành lập

Quận 8 được thành lập năm 1959 là một quận ven đô rất nghèo, tách biệt ra khỏi nội thành bởi hai con kênh Tài Hủ và Kinh Đôi. Ngoại trừ Xóm Củi, tiếp giáp với Quận 5, qua cầu Chà Và, gồm đa số người gốc Hoa có đời sống tương đối khá nhờ kinh doanh thương mại, nghề tiểu thủ công gia đình và xí nghiệp nhỏ, tại các phường còn lại (Hưng Phú, Rạch Ông, Chánh Hưng, Bình An), đa số cư dân sống bằng nghề làm công, buôn thúng bán bưng và nông nghiệp. Khi chiến tranh bắt đầu nổ ra, rất nhiều bà con từ các “vùng xôi đậu” Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công…, rời bỏ ruộng đồng, kéo nhau lên làm ăn sinh sống. Có những gia đình đùm đề chất hết trên chiếc ghe nhỏ, chèo lên neo đậu dọc theo các kinh rạch chằng chịt, rồi sau đó ít lâu tấp vào bờ cất các căn chòi lá tạo nên những khu ổ chuột tạm bợ giữa đám dừa nước, sú, vẹt, ô rô cóc kèn…

Về giáo dục, với dân số khoảng 150.000 người, tuy có nhiều trường tiểu học lớn như Xóm Củi, Hưng Phú, Chánh Hưng, Rạch Ông, mỗi năm có hàng ngàn học sinh hết lớp Đệ Thất (lớp Năm bây giờ), nhưng không có một trường trung học công lập nào, chỉ có một vài lớp tư thục thu nhận chừng vài chục học sinh. Đa số các em không thể chen chân vào các trường trung học trong nội thành, lại không đủ tiền theo học trường tư nên đành bỏ học đi lêu lổng, lượm rác hay may lắm thì vào làm các công việc hợp với trẻ con như gói bánh kẹo, giấy vàng mã… trong các xưởng sản xuất gia đình để có chút tiền phụ giúp cha mẹ.

2.     Chuẩn bị mặt bằng thích hợp cho trường trung học tương lai

Quận 8 lúc đó được biết nhiều vì có công ty Heo (dân địa phương quen gọi là công xi hay lò Heo Chánh Hưng) ở phường Hưng Phú (bây giờ là Phường 8), cũng là nơi nhiều học sinh LVC (sau này) sáng sớm trước giờ đi học, đến kiếm thêm thu nhập bằng các công việc vác heo, cạo lông heo hay bán bánh ú, xôi, cà phê dạo cho công nhân làm việc thâu đêm. Vì có trại Tế Bần ở đường Dương Bá Trạc, chuyên giam giữ các thiếu nhi vô gia cư phạm pháp. Và có những bãi chứa rác của thành phố và nghĩa trang vùi lấp sơ sài dân nghèo chết không có tiền mua đất chôn.

CTPT đã chọn một bãi rác và nghĩa trang như thế tại Khóm 4A phường Chánh Hưng (gây giờ là Phường 4) làm nơi xây dựng trường trung học tương lai. Việc đầu tiên là gửi một đoàn cán bộ đến nắm rõ tình hình gia cư, rồi vận động bà con dời ra sống trong khu nhà lá cất tạm bên đường Chánh Hưng (bây giờ là Phạm Hùng), sau đó thông tin trên các báo cho những gia đình đến cải táng mộ thân nhân trong thời hạn hai tháng. Còn lại hơn 500 ngôi mộ vô thừa nhận được hốt cốt đem chôn trong một ngôi mộ chung. Dĩ nhiên bà con cũng phải thực hiện đầy đủ nghi thức cúng kiến để tạ ơn người chết đã nhường đất cho người sống. Sau đó CTPT nhờ một chiếc xáng của Sở Công chánh nạo vét dòng Kinh Đôi lấy đất bùn san lấp toàn diện tích khu nghĩa trang, xong chờ cho đất khô, chỉnh trang phân lô nhà cho dân (CTPT vận động nhiều tổ chức phi chính phủ giúp vật liệu xây dựng), dành được một mặt bằng rộng hơn cả mẫu nằm trên mặt tiền con đường Chánh Hưng chiến lược (theo bản đồ Canh cải của Chính phủ 1960). Vị trí này tuy không phải là trung tâm của quận, nhưng nằm giữa đồng trống không khí trong lành và thuận tiện cho việc đi lại của học sinh ở cả quận ngoại thành là Bình Chánh (thuộc tỉnh Gia Định) kế cận.

3.     Chuẩn bị nhân sự cho việc điều hành trường và lập Ban Vận động thành lập trường

Trường Trung học Cộng đồng, theo quan niêm của anh em trong CTPT, cần phải được điều hành bởi một đội ngũ thầy cô giáo có tinh thần cộng đồng, nên đã xin Bộ Giáo dục thuyên chuyển một số thầy giáo từng hoạt động xã hội về Bộ Thanh Niên, rồi Bộ Thanh niên bố trí đến Quận 8 để hòa mình vào sinh hoạt và công tác ở địa phương, đồng thời tìm hiểu về quần chúng sau này sẽ là phụ huynh học sinh của trường. Và chủ yếu là tham gia vào Ban Vận động thành lập Trường Trung học, ở Quận 8 (và kế tiếp là Quận 6). Đó là các thầy Uông Đại Bằng, Nguyễn Phúc Khánh, Dương Văn Long, Hồ Công Hưng, Nguyễn Ngọc Thạch, Trần Bá Phẩm, Nguyễn Đức Tuyên, Võ Văn Bé, hai thầy này lần lượt làm hiệu trưởng Trường Trung học Cộng Đồng Quận 6, ra đời sau đó một năm..

Trong mọi công tác cải tiến dân sinh, dù lớn như chính trang các khu nhà ổ chuột hay nhỏ như tráng xi măng một con hẻm, CTPT đều áp dụng phương thức phát triển cộng đồng. Nghĩa là khơi dậy nơi đồng bào địa phương nhận biết nhu cầu cải thiện đời sống cộng đồng, rồi đề cử một Ủy ban gồm những người có uy tín và qua Ủy ban này, cùng nhau góp sức tham gia thực hiện những công việc có ích lợi chung cho cả cộng đồng. Người cán bộ thiện nguyện (còn gọi là tác viên xã hội) chỉ có vai trò chính yếu là làm chất men, chất xúc tác nhằm gây ý thức cho nhân dân, chứ không hề là người ban cho dân bất cứ điều gì. Trong tinh thần đó, sau nhiều lần tìm hiểu và thảo luận với các thân hào nhân sĩ, các thầy cô giáo cũng như các phụ huynh trong quận, CTPT đã thành lập một tổ chức với danh xưng khiêm tốn là Ban Vận động Thành lập Trường Trung học Quận 8.. Một số thành viên của Ban Vận động, sau khi có con em vào trường, đã tham gia Hội Phụ huynh học sinh để cộng tác với Ban Giám hiệu điều hành trường. Vì thế Hội phụ huynh học sinh của trường sau này mang tên “Hội Phụ huynh và Giáo chức” theo kiểu PTA (Parents and Teachers Association) của nhiều nước trên thế giới, vì có sư phối hợp giữa thầy cô và cha mẹ học sinh.

4. Qui chế Trường Đô Thị và Tỉnh hạt ra đời từ một thỏa hiệp với Bộ Giáo Dục.

Thời đó, ở miền nam, chỉ có ba loại trường trung học: Công lập, Bán công và Tư thục. Ban đầu, Ban Vận động Thành lập trường chỉ nghĩ đơn giản là giao đất cho Bộ Giáo dục để mở một trường trung học công lập, theo tinh thần cộng đồng, để con em trong quận được đi học miến phí hoàn toàn. Với lý do mặt bằng xây dựng là của cộng đồng, CTPT sẽ yêu cầu Bộ Giáo dục cho phép trường chỉ nhận học sinh cư ngụ trong Quận 8 và Bình Chánh (theo Tờ Khai Gia đình, một thứ Hộ khẩu) và bổ nhiệm Hiệu trưởng theo đề nghị của mình. Tuy nhiên khi tiếp xúc với các viên chức Bộ Giáo dục, thì được biết: Bộ chưa có dự trù ngân sách cho việc xây cất ngôi trường nào trong phạm vi thành phố. Vả lại, Bộ vừa mới thành lập Trường Trung học Quận 7 năm học 1965-1966 (tức THP Ngô Gia Tự ở phường 15, Quận 8 bây giờ). Muốn xây dựng một trường mới, cần trải qua thủ tục phức tạp, Bộ Giáo dục phải được Bộ Tài chánh đồng ý cấp cho một ngân khoản cần thiết và sau đó tiến hành xây dựng trường qua thủ tục đấu thầu. Như vậy không biết đến bao giờ mới có trường, trong khi đối với CTPT, đây là vấn đề cấp bách không thể tri hoãn..

Sau nhiều lần trao đổi giữa Bộ Giáo dục và CTPT, hai bên đi đến một thỏa hiệp như sau: Địa phương Quận 8 lo xây dựng cơ sở trường ốc và trang bị bàn ghế dụng cụ học tập và trả lương cho nhân viên, còn Bộ Giáo dục chỉ có trách nhiệm cung ứng đầy đủ số giáo chức cần thiết cho việc điều hành và giảng dạy. Tuy nhiên, Bộ Giáo dục coi thỏa hiệp này là điều quá mới mẻ, nên giao cho Phòng Pháp chế nghiên cứu để đệ trình chính phủ ban hành thành luật. Qui chế Trường Đô thị, Thị xã và Tỉnh hạt ra đời do Sắc lệnh số 168-GD/SL ngày 8.10.1966 và Nghị định số 1297-GD/TC/NĐ ngày 7.6.1967. Nhờ qui chế này mà có thêm rất nhiều trường trung học ở các vùng xa xôi hẻo lánh.

Ngày 20.10.1966, Trường Trung học Cộng đồng Quận 8 khai giảng năm học đầu tiên chỉ do “giấy cho phép” của Bộ Giáo dục. Đến năm sau, khi có qui chế pháp định rồi, Bộ Giáo dục mới thừa nhận Trường. Cũng đầu năm học 1967, Trường còn được Bộ Giáo dục chọn trong số 11 trường trung học toàn miền Nam áp dụng chương trình Tổng hợp (Comprehensive School), nghĩa là được tăng cường thêm các môn kỹ thuật (dành cho nam), kinh doanh (cho nam nữ) và kinh tế gia đình (chỉ cho nữ). Như vậy, cái tên đầy đủ của Trường phải là Trung học Cộng đồng Đô thị Tổng hợp Quận 8.

  1. CTPT tiếp tục giúp trường trong những năm học đầu còn khó khăn.

Trong những năm đầu hoạt động, còn khó khăn về cơ sở vật chất cũng như điều kiện học tập và sinh hoạt, CTPT đã yểm trợ hết mình cho Trường. Dãy nhà ngang gồm 4 phòng học cho 8 lớp (2 lớp đệ Lục và 6 lớp đệ Thất, lớp 7 và 6 ngày nay), văn phòng hiệu trưởng và nhà kho, do thầy Nguyễn Phúc Khánh chỉ đạo xây dựng gấp cho kịp khai giảng năm học đầu tiên, không thể đón nhận 6 lớp mới cho năm học 1967-1968. Vì thế ngay trong năm học đầu, CTPT đã nhờ một kiến trúc sư bạn là Trương Đức Nguyên Trang vẽ qui hoạch tổng thể ngôi trường hoàn chỉnh, để dựa vào đó CTPT vận động tài chánh, cộng với tiền lệ phí hàng tháng của học sinh và do Hội Phụ huynh quản lý, xây dựng dần theo nhu cầu phát triển của trường. Sau Tết Mậu Thân, dãy nhà ngang bị tàn phá, với kinh phí của CTPT, thầy Khánh cũng lo xây cất một nhà chơi (préaud) lớn bằng cột gỗ lợp fibro-ciment trên một phần nền dãy nhà này (bây giờ là nơi làm sân khấu).

Ngoài ra, CTPT còn nhờ một số anh chị du ca xuống trường ngày chủ nhật để tập cho các học sinh ca hát và sinh hoạt tập thể, nhằm mục đích tạo môi trường thân thiện và vui tươi với các em, có thể bù đắp phần nào căn nhà nhỏ hẹp của các em trong những con hẻm sâu tồi tàn. Lâu lâu, nhà trường cần tổ chức cho các lớp đi tham quan hay dã ngoại ở xa, CTPT vận động giúp phương tiện di chuyển và một phần chi phí tổ chức để đở gánh nặng cho phụ huynh. Bởi vì, lúc đó CTPT đã trở nên một tổ chức đủ uy tín để giao dịch với các cơ quan và đoàn thể từ thiện trong nước và nước ngoài, có khả năng giúp đỡ Trường về nhiều phương diện.

Công việc yểm trợ này chấm dứt khi CTPT giải tán vào năm 1971. Năm đó, Trường đã có 38 lớp với trên 1.500 học sinh.

Kết luận: Tinh thần cộng đồng cần được tiếp tục phát huy trong nhà trường

Đầu năm học 1974-1975, Giám đốc Nha Trung học (lúc bấy giờ là ông Phạm Tấn Kiệt) gửi văn bản yêu cầu trường đổi tên Trường, lấy tên một danh nhân với điều kiện không được trùng với tên một trường đã có trước. Hội đồng giáo sư (bây giờ là Hội đồng sư phạm) họp và chọn tên cụ Lương Văn Can trong số các tên khác là Lê Thánh Tôn và Đào Duy Từ. Như vậy, cái tên Trung học Cộng đồng chỉ còn là chuyện của quá khứ, trên 40 năm.

Tuy nhiên, không có quá khứ thì không có hiện tại, lại càng không thể có tương lai. Trong năm 2016 sắp đến, khi mừng kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường, dù muốn hay không, chúng ta cũng nhắc đến quá trình đầy khó khăn để hình thành nên ngôi trường ngày nay, cùng với sự đóng góp của rất nhiều người, gồm cả những kẻ chết đã phải di dời nhường đất xây dựng trường. Quá trình thành lập sẽ luôn là thành phần thiết thân, là những trang đầu trong truyền thống của Trường THPT Lương Văn Can. Nhưng điều quan trọng không phải là kể công nhóm người này hay tổ chức kia mà là xác định lại ý hướng ban đầu khi trường được tai nghén, rồi thành hình. Đó là tạo cho các thế hệ trẻ xuất thân từ mái trường này có tinh thần phục vụ cộng đồng vốn là điều kiện thiết yếu để một cộng đồng, dù nhỏ hay lớn, dù ở thời đại nào, được thăng tiến và phát triển bền vững.

Hồ Công Hưng (tháng 01.2015)

_________________________________

(*) Chỉ xin nhắc ở đây một số chức vụ quan trọng: Bác sĩ Hồ Văn Minh, Quản lý CTPTQ8, luật sư Đoàn Thanh Liêm, phụ trách đối ngoại, thầy Hồ Ngọc Nhuận (nguyên giáo chức tư thục, lúc đó là thiếu úy), Quận trưởng và ông Mai Như Mạnh (tốt nghiện Quốc gia Hành chánh) là Phụ tá hành chánh của Quận trưởng.

Báo tiếng Việt ở Mỹ xin phá sản sau phán quyết 4,5 triệu đôla

Báo tiếng Việt ở Mỹ xin phá sản sau phán quyết 4,5 triệu đôla

Trong bản tin video trên mạng, tờ Người Việt cho biết họ đã thắng kiện tuần báo Sài Gòn Nhỏ 4,5 triệu đôla.

Trong bản tin video trên mạng, tờ Người Việt cho biết họ đã thắng kiện tuần báo Sài Gòn Nhỏ 4,5 triệu đôla.

19.04.2015

Tuần báo Sài Gòn Nhỏ (Little Saigon News) có trụ sở ở thành phố Garden Grove ở tiểu bang California đầu tuần này đã nộp đơn xin phá sản tại Tòa Phá sản Mỹ ở Santa Ana.

Tờ báo được thành lập những năm 80 nộp đơn hôm 13/4, vài tháng sau khi một bồi thẩm đoàn ở quận Cam yêu cầu tuần báo này phải trả 4,5 triệu đôla cho một tờ báo tiếng Việt khác trong vụ kiện về tội vu khống và phỉ báng.

Trong đơn, Sài Gòn Nhỏ cho biết họ có chưa đầy 50 nghìn đôla trị giá tài sản, và nợ khoảng 4,7 triệu đôla mà trong số đó có khoản mà Tòa yêu cầu tờ tuần báo này phải trả cho tờ Người Việt.

Ngoài ra, Sài Gòn Nhỏ nói rằng 4.5 triệu đôla là khoản “tranh cãi”, và đang kháng cáo phán quyết của tòa.

Trong một bài bình luận đăng tải năm 2012, tuần báo Sài Gòn nhỏ cho rằng giám đốc điều hành của tờ Người Việt là một điệp viên cộng sản và làm việc cho Việt Nam.

Tờ Người Việt cho rằng những lời tố cáo sai trái này đã ảnh hưởng tới việc kinh doanh của báo vì cộng đồng người Mỹ gốc Việt vẫn còn bị ám ảnh bởi Chiến tranh Việt Nam.

Theo thông cáo của Nhật Báo Người Việt, ngoài bồi thường thiệt hại, bồi thẩm đoàn cũng yêu cầu Báo Sài Gòn Nhỏ đính chính về những câu viết có tính phỉ báng và vu khống được đăng trên tờ này, đồng thời xin lỗi ba nguyên đơn của báo Người Việt.

Sau phiên tòa, bà Hoàng Dược Thảo, chủ báo Sài Gòn Nhỏ, nói rằng “cuộc chiến vẫn chưa kết thúc”.

Bà được trích lời nói rằng bài báo của bà “không có ý phỉ báng, mà chỉ đặt những câu hỏi chính đáng về báo Người Việt”.

Liên quan tới vụ xin phá sản trên, luật sư đại diện cho nhật báo Người Việt, phát biểu rằng “bà Hoàng Dược Thảo khai phá sản vì muốn trì hoãn việc bồi thường”.

“Qua việc Sài Gòn Nhỏ khai phá sản, nhật báo Người Việt giờ đây được bảo vệ chặt chẽ hơn về mặt tài chính,” vị luật sư nói tiếp.

Tờ Người Việt được thành lập năm 1978, và có lượng phát hành hàng ngày là khoảng 14 nghìn tờ.

Trong khi đó, tuần báo Sài Gòn Nhỏ được thành lập tại thành phố Westminster năm 1985 và phát hành trên toàn nước Mỹ.

Theo The Orange County Register, The Wall Street Journal, Người Việt

Harvard, Yale, và sự lựa chọn của Thắng Diệp

Harvard, Yale, và sự lựa chọn của Thắng Diệp

Nguoi-viet.com

Thiên An/Người Việt

RESEDA, California (NV)Harvard hay Yale? Đó là câu hỏi “đau đầu” mà Thắng Diệp, một học sinh lớp 12 sang Mỹ cùng gia đình chưa đến mười năm trước, đang đắn đo suy nghĩ. Trong số các trường đại học đã mời nhập học, Thắng vẫn chưa quyết định được mình sẽ chọn Harvard hay Yale cho những năm sắp tới.

Thắng Diệp và chị gái Châu Diệp. (Hình: gia đình cung cấp)

“Harvard đã cho biết sẽ tặng học bổng toàn phần. Trong khi mình thích Yale hơn vì tính xã hội và cộng đồng của trường, thì trường lại chưa có thông báo về danh sách học bổng…” Giọng nói của anh chàng hay cười này trầm lại phần nào khi được yêu cầu so sánh hai trường đại học hàng đầu Hoa Kỳ mà mình sẽ phải chọn một.

Ngoài Harvard và Yale, Thắng cũng được thư mời học từ tất cả các trường khác mà anh nộp đơn: UC Berkeley, UC Los Angeles, UC Irvine, và UC San Diego.

Gương mặt sáng đằng sau lớp kính cận, giọng nói vui tươi, đặc biệt là sự hồn nhiên lẫn hóm hỉnh liên tục đem lại tiếng cười cho người đối diện, Thắng thuộc loại người dễ dàng được mọi người yêu mến.

Khi gia đình sang Mỹ năm 2006, Thắng bắt đầu học lớp 4. Như nhiều học sinh đến từ ngoại quốc, Thắng phải theo học các lớp đặc biệt cho các em chưa rành Anh ngữ. Nhớ lại, Thắng có thể kể cho bạn nghe những đêm đọc vang giữa nhà hết cuốn sách này đến cuốn sách khác – răng kẹp ngang cây bút chì – để tập phát âm sao cho đủ to để nghe được, và đủ chuẩn để hiểu được.

Chỉ một năm sau đó, được chuyển sang chương trình học bình thường, không những Thắng đạt điểm xuất sắc, mà còn được thầy cho đại diện trường tham gia cuộc thi speeling bee – thi đánh vần từ vựng Anh ngữ.

Harvard…(Hình: gia đình cung cấp)

Thắng nhanh chóng hòa nhập tại trường học. Bằng chứng là những thành tích đáng nể như bằng khen của tổng thống hay các vị trí dẫn đầu lớp.

Tuy vậy, theo lời Thắng, đằng sau những bằng khen là sự cố gắng không ngưng nghỉ. Để có được điểm học 4.7/4.0, mỗi mùa Thắng lấy từ bốn đến sáu lớp AP nâng cao.

“Hồi đó chưa biết tiếng Anh, mình phải bỏ nhiều giờ hơn các bạn rất nhiều để đọc và viết. Giờ tiếng Anh đã giỏi hơn rồi, nhưng vẫn phải cố gắng rất nhiều. Cái gì mình dở thì mình càng phải học. Với mình, các môn toán và khoa học thì dễ hơn là môn văn. Vì vậy mình cố lấy thật nhiều các lớp về luận văn, về triết học, để buộc mình phải đọc, phải viết, phải rèn bản thân,” Thắng chia sẻ.

Một ngày của Thắng bắt đầu từ 6, 7 giờ sáng, đi học đến 5 giờ chiều, về đến nhà là tranh thủ ngủ vài phút và ăn tối, trước khi ngồi vào bàn học đến 2 giờ sáng.

Cuối tuần, ngoài việc tự học, Thắng tìm đến những nơi mình và bạn bè có thể làm việc thiện nguyện: từ dọn dẹp công viên, đến thăm người vô gia cư hay người già tại các viện dưỡng lão.. Thắng cũng chính là người đang giữ chức vụ chủ tịch của câu lạc bộ tình nguyện viên của trường.

….hay Yale? (Hình: gia đình cung cấp)

“Quan trọng nhất có lẽ là phải biết cách sắp xếp thời gian. Mình muốn điểm cao, mình muốn sinh hoạt, làm từ thiện, muốn đi chơi với gia đình, với bạn bè… nhưng thời gian ít khi cho phép mình thực hiện được tất cả. Phải làm những việc quan trọng trước, và hy sinh những điều khác…” Thắng nói.

Với Thắng, lấy nhiều lớp khó và chỉ huy nhóm tình nguyện viên là đồng nghĩa chấp nhận việc ngủ ít đi và không có giờ cho các sở thích khác như xem phim bộ hay học thể thao.

Nhưng với Thắng, sự hy sinh lớn nhất về thời gian vẫn là những lần không thể cùng ba mẹ đi ăn, đi chợ, hay phải bỏ lỡ một buổi gặp mặt của người thân.

“Hồi đó lúc mới qua thì tôi cũng lo không biết tụi nó có tiếp cận được văn hóa và lối sống ở Mỹ không. Nhưng chắc nhờ tụi nó biết ba mẹ đi làm cực, nên đứa nào cũng lo học. Thắng học giỏi cũng có công của chị nó làm gương,” ông Kế Diệp nói về con gái lớn Châu Diệp và con trai Thắng Diệp. “Trong sáu trường cháu xin học, thì hai trường giỏi nhất mà cháu đang băn khoăn chọn lựa lại là hai trường xa nhà nhất. Dù thế, và dù cháu chọn Harvard hay Yale, thì ba mẹ cũng tin tưởng và ủng hộ.”

Vậy thì, Harvard hay Yale?

Dù Thắng Diệp chọn đại học nào đi nữa, Harvard, hay Yale, hay bất kỳ trường nào khác, ý chí mạnh mẽ đằng sau tiếng cười luôn giòn tan của Thắng sẽ là chìa khóa mở ra mọi cánh cửa dẫn đến thành công.

Để có một đời sống vui tươi, hạnh phúc.

Để có một đời sống vui tươi, hạnh phúc.

Tác giả: Phùng văn Phụng

Một người bạn gởi cho tôi: 7 bước đến hạnh phúc, đọc đi đọc lại nhiều lần thấy rất là thắm thía, rất là chí lý, chỉ cần cảm thông nhiều hơn, yêu thương nhiều hơn, thương xót nhiều hơn. Hiểu biết là một chuyện. Thực hành mới là khó. Ai thực hành được thì người đó có hạnh phúc.

7 bước đến hạnh phúc là:

1) Suy nghĩ ít lại, Cảm nhận nhiều hơn!

2) Bớt đi khó chịu, Mỉm cười nhiều hơn!

3) Nói ít lại, Lắng nghe nhiều hơn!

4) Xem ít lại, Hành động nhiều hơn!

5) Phán xét ít lại, Chấp nhận nhiều hơn!

6) Phàn nàn ít lại,Trân trọng nhiều hơn!

7) Sợ hãi ít lại, Yêu thương nhiều hơn!

Ba mươi ba lúc vui của Kim Thánh Thán

Nhà phê bình Trung Hoa ở phái ấn tượng, ở thế kỷ 17,nhân một lúc ngồi buồn trong một ngôi miếu, nhìn mưa rơi liên miên mà nhớ  lại những phút vui trong đời mình .

1) Mùa hè, tháng bảy, mặt trời ngừng ở giữa trời, không có gió mà cũng không có mây, sân trước sân sau hực lên như lửa, không một con chim nào dám bay lại. Mồ hôi đổ khắp mình, chảy như suối. Cơm dọn trước mặt mà ăn không được. Bảo trải chiếu nằm trên đất, nhưng chiếu ướt nhẹp,

ruồi bay lại đậu ở cổ, ở mũi đuổi không đi. Đương lúc không biết làmsao, bỗng mây đen kéo tới, sấm nổ vang như trăm vạn tiếng trống, tiếng kèn của đạo quân. Mái nhà nước xối như thác. Mồ hôi ngưng chảy, đất khô như quét, ruồi bay đi hết, ăn cơm đuợc. Cũng chẳng khoái ư.?

2) Vợ vui vẻ lấy cây trâm vàng để cho chồng đổi rượu đã bạn được ba ngày. Chẳng cũng khoái ư?

3) Đêm ngồi một mình trong thư phòng đương bực mình vì nghe tiếng con chuột sột soạt không biết gậm đồ vật nào hay nhấm cuốn sách nào. Bổng thấy chú mèo dữ, đuôi ngoe nguẩy. Nghe tiếng kêu chít một tiếng, con chuột bỏ đi. Chẳng cũng koái ư?

28) Mở cử sổ cho ong bay ra cũng chẳng khoái ư?

30) Thấy chiếc diều đứt dây cũng chẳng khoái ư?

31) Nhìn cảng đốt đồng, chẳng cũng khoái ư?

32)  Trả hết nợ cũng chẳng khoái ư?

Trích Sách ” Sống Đẹp”  của Lâm Ngữ Đường

Cảm giác hạnh phúc nhiều khi rất đơn giản mà con người của mình làm thành phức tạp, phải không?

Nếu không bị đi “cải tạo” đi tù trong các trại “học tập” của cộng sản, không bị bỏ đói triền miên, không có miếng cơm nào trong bụng lâu dài 9, 10 tháng, 5, 10 năm thì  đâu có cảm giác hạnh phúc, vui tươi khi được ăn cơm với muối rang mà tưởng chừng ăn cơm với đường cát.

Quên:

Quên không phải là việc làm đơn giản. Muốn quên đi cần phải tập luyện. Suy cho cùng nếu ta không quên các lỗi lầm của người khác, tức giận là lấy sai lầm của người khác để trừng phạt chính mình, cứ mãi nhớ và không quên khuyết điểm của người khác thì người bị tổn thương nhiều nhất chính là bản thân mình, bởi lẽ đó để có được niềm vui và cuộc sống thanh thản ta không nên truy cứu lỗi lầm cũ của người khác vì nhớ lỗi lầm của người khác thì thiệt hại nhiều nhất chính là bản thân mình.

Tha thứ:

Thầy giáo yêu cầu mỗi chúng tôi mang một túi nylon sạch và một bao tải khoai lang đến lớp. Sau đó thầy bảo chúng tôi không tha thứ lỗi lầm cho người nào đó thì hãy chọn ra một củ khoai lang viết tên người đó và ngày tháng năm rồi bỏ nó vào túi nylon.

Sau vài ngày có nhiều khoai lang, túi trở nên vô cùng nặng.

Sau đó thầy lại yêu cầu chúng tôi phải luôn mang cái túi theo bên mình, tối ngủ cũng phải để túi bên cạnh. Sự phiền phức phải mang vác cái túi, nhất là về tinh thần lúc nào cũng phải nhớ đến nó.

Qua thời gian, khoai tây bị phân hủy thành một chất lỏng nhầy nhụa. Đây là cái giá mà chúng ta phải trả cho việc khư khư ôm lấy giận hờn trong lòng.

Trong thâm tâm chúng ta thường cho rằng tha thứ là món quà đối với người được tha thứ, như bạn thấy đấy, đây rõ ràng là món quà cho chính chúng ta.

Tin mừng theo thánh Mat-thêu: ” Bấy giờ ông Phê-rô đến gần đức Giê-su mà hỏi rằng: ” Thưa Thầy  nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” Đức Giê-su đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy. (Mt 18 câu 21,22)

Nghĩa là tha thứ mãi mãi.

Khi Chúa Giê su bị đóng đinh, bấy giờ Chúa nói: ” Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc.23: 34)

Yêu kẻ thù:

Chúa Giê-su dạy rằng :” Ngươi phải yêu mếm Đức Chúa , Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn điều răn đó. (Mc 12 câu 30-31)

Khi anh em đứng cầu nguyện, nếu anh em có chuyện bất bình với ai, thì hãy tha thứ cho họ, để Cha của anh em là Đấng ngự trên Trời cũng tha lỗi cho anh em,. (Mc 11, câu 25)

Ngài cũng dạy rằng: ” Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” ( 1 Ga 4, câu 8)

Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu người thân cận và ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em, hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.(Mt 5, câu 43-44)

Nếu chúng ta thực hành được ba điều trên QUÊN, THA THỨ và YÊU KẺ THÙ chắc chắn chúng ta sẽ tìm thấy niềm vui và hạnh phúc.

Nhiều khi sức con người có giới hạn. Với sức con người chúng ta không làm được, nhưng nếu chúng ta cầu nguyện cùng Thiên Chúa toàn năng, với sự giúp sức của Thiên Chúa, chúng ta có thể làm được.

Phùng văn Phụng

18 April 2015

Trăn trở của một sinh viên gửi Bộ trưởng Giáo dục

Trăn trở của một sinh viên gửi Bộ trưởng Giáo dục

Tác hại của thiếu hụt tư duy phê phán

Đối với giới trẻ, thứ nhất, việc thiếu đi tư duy phê phán sẽ làm suy giảm khả năng tiếp thu kiến thức. Suy giảm khả năng tiếp thu kiến thức bởi như cháu đã phân tích ở trên, khi không phải đặt câu hỏi hay phản biện, học sinh sẽ cảm thấy ít hứng thú hơn với giờ học vì lúc đó họ chỉ là một cái máy ghi chép, tiếp thu kiến thức một cách rất thụ động.

Thực tế chứng minh rằng những hoạt động mang tính tương tác lúc nào cũng thu hút được sự quan tâm, chú ý của chúng ta hơn những hoạt động khác. Minh chứng rõ ràng cho điều này là không mấy ai mất tập trung khi đang chơi điện tử cả nhưng khi nghe giảng hay xem phim thì khả năng người nghe hay xem mất tập trung cao hơn nhiều.

Thứ hai, kiến thức sẽ không lưu lại lâu trong đầu nếu được thu nạp một cách thụ động. Có hai điểm khác biệt lớn giữa một người học gạo và một người học năng động với tư duy phê phán. Người học gạo thường có khả năng đọc vanh vách mọi chi tiết đã được học còn người kia thì thường chỉ nắm được một lượng nhỏ các chi tiết nhưng nắm rất vững kiến thức cơ bản nên từ đó có thể suy luận rất tốt.

Người học gạo thường quên những thứ mình học rất nhanh còn người kia thì không. Vì sao? Vì người học gạo chỉ cố nhồi nhét mọi thứ để giành được điểm còn người kia vì thật sự đam mê tìm tòi, học hỏi nên họ năng động trong việc thu nạp kiến thức của mình, thậm chí họ phải phản biện lại các ý kiến đối lập để bảo vệ lập trường, quan điểm của mình và những gì mình đã được học. Thế nên không có gì lạ khi những người có tư duy phê phán tốt lại nhớ lâu hơn và vận dụng kiến thức đã được học một cách tốt hơn.

Cuối cùng, tư duy phê phán kém sẽ kìm hãm sự sáng tạo và phát triển. Chẳng phải nhà bác học nổi tiếng Albert Einstein đã nói rằng “một nhà sáng chế đơn giản là một cậu học trò không quá nghiêm túc việc học của mình” hay sao? Nói cách khác, nếu chúng ta không dám phản biện, không dám nghĩ xem liệu những gì mình được học có thật sự đúng hay không, nếu chúng ta không dám thử phá cách và đi con đường riêng của mình thì sẽ chẳng bao giờ có phát minh gì mới cả vì chúng ta đơn giản chỉ đang giẫm lên vết chân của cha anh mà thôi.

ham dự chương trình Họp mô hình Liên Hợp Quốc (Model United Nations) ở Stockholm vào năm 2012 ạ
Ngô Di Lân tham dự chương trình Họp mô hình Liên Hợp Quốc (Model United Nations) ở Stockholm năm 2012. Ảnh: NVCC.

Là những cá nhân đầy tham vọng, chúng ta luôn muốn tiến về phía trước, luôn muốn phát triển và làm được điều gì đó lớn lao. Đây sẽ là điều không thể có được khi thiếu tư duy phê phán hùng biện. Apple thành công là Steve Jobs có tư duy phê phán tốt, ông ta dám nghĩ khác đi và bước trên con đường của riêng mình. Thử hỏi Apple có thành công của ngày hôm nay hay không nếu người lãnh đạo của họ chỉ cố đuổi theo Microsoft mà không có những sáng kiến của riêng mình?

“Tre già, măng mọc”, những người trẻ ngày hôm nay sẽ là trụ cột của xã hội mai sau. Nếu lúc còn trẻ họ không phát triển tư duy phê phán, khó có thể hy vọng họ sẽ phát triển cách tư duy này khi đã trưởng thành, khi họ đã là rường cột của xã hội. Và đối với xã hội, các tác hại của việc thiếu tư duy phê phán còn nguy hiểm hơn nhiều lần.

Khi chúng ta không có thói quen tư duy phê phán và bắt đầu quen chấp nhận mọi thứ mình được dạy là chân lý thì hệ quả tất yếu sẽ là cả một hệ thống ỳ ạch và nặng nề. Sức ỳ của hệ thống có thể sẽ đe doạ sự sống còn của một quốc gia, một xã hội khi đối mặt với những yêu cầu phải cải cách để thích nghi với những chuyển biến đang diễn ra xung quanh. Điều này có thể thấy rõ trong những năm cuối cùng của Đế chế Trung Hoa dưới thời nhà Thanh.

Đối mặt với sự xâm lược của thực dân phương Tây và những chuyển biến trong hệ thống quốc tế, nhà Thanh đối mặt với hai lựa chọn để tồn tại: giữ nguyên hiện trạng hay cải cách theo phương Tây. Cải cách cuối cùng đã không diễn ra đủ nhanh và kịp thời để cứu vãn triều đại này bởi sức ỳ của hệ thống lúc đó đã quá lớn. Những người làm quan từ nhỏ tới lớn chỉ được đọc sách của các đức thánh hiền như Khổng tử mà không được dùng tư duy phê phán nên hệ quả là họ nghiễm nhiên cho rằng những gì mình đã được học là chân lý không thể thay đổi.

Chính vì thế, khi những cải cách thiết yếu mâu thuẫn với Khổng giáo thì họ chấp nhận không cải cách để bảo vệ “chân lý” của mình. Sự bảo thủ và thiếu tư duy phê phán cuối cùng đã dẫn đến cái mà người Trung Quốc thường gọi là “một thế kỷ ô nhục”. Đây là bài học đáng để chúng ta suy nghĩ trong lúc này, khi cải cách về mọi mặt: giao thông, giáo dục, y tế, kinh tế đang hết sức cấp bách.

Có lẽ bức tranh về nền giáo dục Việt Nam cháu vẽ ra tồi tệ hơn so với thực tế. Có lẽ cháu đã nói hơi quá lên và phóng đại những cái xấu lên nhiều lần so với mức thực tế. Và hơn gì hết, cháu mong đó là sự thật bởi như vậy thì vẫn còn chưa quá muộn, chúng ta vẫn còn cơ hội để thay đổi giáo dục. Hơn lúc nào hết, cháu mong Bộ trưởng hãy tìm mọi cách để đẩy mạnh tư duy phê phán trong nhà trường.

Ngô Di Lân (20 tuổi) đang là sinh viên năm thứ 2 ngành Quan hệ quốc tế ở ĐH Maastricht (Hà Lan). Từ lớp 1 đến lớp 8, Lân học ở Việt Nam. Năm lớp 9 em sang Thuỵ Điển học và sau đó nhập học ĐH Maastricht. Học kỳ này Lân đang học ở Mỹ theo chương trình trao đổi và tháng 8 quay về Hà Lan để năm sau thi tốt nghiệp.

Ngô Di Lân

2015: Trật tự thế giới mới

2015: Trật tự thế giới mới

Nguoi-viet.com

Việt Nguyên/Người Việt

Bốn mươi năm trước, Hoa Kỳ không giữ lời hứa với chánh quyền VNCH để Việt Cộng vi phạm hiệp định Paris 1973, kết quả là quân Cộng Sản tiến chiếm Sài Gòn và Miền Nam Việt Nam ngày 30 tháng 4, 1975.

Sau chiến thắng, đảng CSVN huênh hoang: Ðế quốc Mỹ đại bại, chiến tranh Việt Nam báo hiệu ngày tàn của Ðế Quốc Mỹ, chiến lược toàn cầu của Mỹ phải thay đổi, xã hội chủ nghĩa sẽ toàn thắng trên khắp thế giới với chủ thuyết tất thắng Mác Lê Nin.


Sức mạnh quân sự và văn hóa Hoa Kỳ vẫn tiếp tục trấn áp các quốc gia trên thế giới. (Hình: Getty Images)

Hoa Kỳ bỏ đồng minh VNCH năm 1975, tái phối trí để nhắm về khối Xô Viết. Thất bại ở Việt Nam là thất bại tạm thời của Hoa Kỳ. Việt Nam Cộng Hòa bị tư bản Hoa Kỳ bán đi như bán cổ phần của một công ty bị thua lỗ trong thị trường chứng khoán để giữ lại các cổ phần các công ty tốt. Huênh hoang sau chiến thắng, Cộng Sản Việt Miên Lào bị cô lập. Mười bốn năm sau các chính quyền Ðông Âu sụp đổ bắt đầu từ Ðông Ðức với bức tường ô nhục Bá Linh bị giật sập. Hai năm sau Xô Viết tan rã. Mười năm sau, biến cố 11/9 ở Nữu Ước đưa đến chiến tranh A Phú Hãn năm 2001, tiếp theo là chiến tranh Iraq năm 2003. Hoa Kỳ lún sâu ở Trung Ðông năm 2015, Nga với Putin làm lộng ở vùng Hắc Hải, Trung Cộng đang lên với quyền lực quân sự và kinh tế đi dọa các nước làng giềng ở biển Ðông và Nam Thái Bình Dương, một lần nữa thế giới lại đặt vấn đề “Ðế Quốc Mỹ đang giãy chết như Ðế Quốc Anh sau Thế Chiến Thứ Hai.”

Từ sau Thế Chiến Thứ Nhất, hơn 100 năm bộ mặt chánh trị Hoa Kỳ không thay đổi dù chánh quyền dưới sự lãnh đạo của các tổng thống đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa. Từ sau Chiến Tranh Lạnh, Hoa Kỳ vẫn đứng vững dù Xô Viết biến thành Nga hay chiến tranh nóng tiếp diễn trên nhiều phần đất trên thế giới dưới nhiều hình thức tôn giáo, chủng tộc, độc tài, v.v… Hoa Kỳ chỉ bị đứng khựng hay thối lui nhiều lần trong các thập niên 1960, 1970, 1980 ngoài thất bại ở Việt Nam năm 1975. Bước lùi rõ rệt nhất là ở Nam Mỹ từ Nicaragua, Venezuela, Brazil, Ecuador, Bolivia hay Mexico nhưng những bước lùi ấy nặng về chánh trị và ý thức hệ hơn là về kinh tế. Các quốc gia Brazil, Venezuela nghiêng về dân chủ xã hội chủ nghĩa nhưng không đối đầu được với nền kinh tế tư bản của anh Hoa Kỳ khổng lồ ở Bắc Mỹ nói chi là các nước nhỏ như Ecuador hay Bolivia. Ngay đến Mexico một nước lớn cũng không đứng độc lập được với Hoa Kỳ.

Sức mạnh quân sự và văn hóa Hoa Kỳ trấn áp các quốc gia trên thế giới. Giới trẻ yêu chuộng văn hóa Mỹ từ phim ảnh, văn chương cho đến âm nhạc. Hoa Kỳ vẫn giữ các căn cứ quân sự trên toàn thế giới với con số không ai rõ ngay cả đến ông Ron Paul cựu ứng cử viên tổng thống đảng Cộng Hòa chỉ ước tính 900 căn cứ quân sự Hoa Kỳ trên toàn thế giới trong 130 quốc gia ngược với thống kê khác trên 148 quốc gia với hơn 160,000 lính thường trực can thiệp bất cứ lúc nào bất cứ nơi nào khi quyền lợi của Hoa Kỳ bị thách thức, những căn cứ quân sự trong thới chiến tranh lạnh không bị hủy bỏ cũng như quân Hoa Kỳ vẫn chiếm đóng vùng phi quân sự giữa Nam và Bắc Hàn dù hàng không mẫu hạm ở Thái Bình Dương lúc nào cũng sẵn sàng can thiệp vào Bắc Hàn.

Khối Liên Hiệp Âu Châu với 28 thành viên tạo được một hệ thống liên quốc gia với các cơ sở tài chánh và chánh quyền như Hội Ðồng Liên Hiệp Âu Châu, Tòa Án Âu Châu, Ngân Hàng Trung Ương từ năm 1993 có cả công dân Âu Châu với đồng Âu Châu vẫn không độc lập với Hoa Kỳ. Chủ quyền của các nước Âu Châu chỉ đứng trên bề mặt. Sau Chiến Tranh Lạnh, Ðức trở thành quốc gia hùng mạnh nhất Châu Âu về mặt kinh tế và chiến lược với bà Angela Merkel làm thủ tướng vẫn bị Hoa Kỳ chi phối trên nhiều lãnh vực nhất là lãnh vực quân sự. Bà Angela Merkel đã nhũn nhặn từ chối lãnh đạo liên hiệp Âu Châu dù Ðức đang dẫn đầu Châu Âu về kinh tế. Bà đứng trung gian hòa giải giữa Hoa Kỳ và Nga, một phần bà học bài học của Hilter hồi Thế Chiến Thứ Hai một phần vì sức mạnh quân sự của Ðức đứng dưới cả Nam Hàn.

Anh vẫn tự hào độc lập với Hoa Kỳ, là đồng minh xuyên Ðại Tây Dương, nhưng qua các trận chiến ở A Phú Hãn và Iraq, thủ tướng Tony Blair đi theo sự lãnh đạo của Hoa Kỳ như một nước chư hầu.

Khối Âu Châu với đồng Euro tùy thuộc Hoa Kỳ khi cơn khủng hoảng tiền tệ xảy đến cho Hy Lạp. Trong hồi ký mới năm 2014, cựu Bộ Trưởng Tài Chánh Hoa Kỳ Timothy Geithner đã tiết lộ là các nhà lãnh đạo Âu Châu đưa giải pháp cứu Hy Lạp với số tiền rất nhỏ, Hoa Kỳ phải ra lệnh Âu Châu “bơm” 500 tỷ Euros vào kinh tế Hy Lạp. Với cơn khủng hoảng mới ở Hy Lạp của chánh quyền Syriza, liên hiệp Âu Châu tiếp tục làm theo những gì Hoa Kỳ yêu cầu.

Chiến tranh A Phú Hãn và Iraq, được gọi là chiến tranh chống khủng bố từ thời T. T. George W. Bush. Chiến tranh ấy cho thấy Hoa Kỳ lún sâu ở Trung Ðông. Chương trình xây dựng quốc gia A Phú Hãn và Iraq của Hoa Kỳ thất bại ngay từ bước đầu khi Hoa Kỳ giải tán quân đội Iraq sớm. Các nền tảng xã hội căn bản bị phá vỡ. Giống như ở Việt Nam trước 1975, chánh phủ Hoa Kỳ kết tội chánh quyền A Phú Hãn tham nhũng. Hoa Kỳ không thành công trong việc xây dựng quốc gia dân chủ tự do nhưng Hoa Kỳ đã thành công chia rẽ thế giới Hồi Giáo và Á Rập, chấm dứt tinh thần quốc gia của của khối Á Rập.

Chiến tranh chống khủng bố thất bại. Bin Laden bị giết nhưng nhóm quốc gia quá khích khủng bố Hồi Giáo ISIS xuất hiện lớn mạnh. Quốc gia Hồi Giáo Iraq (Islamic State of Iraq, ISI) sau thêm Syria vào thành ISIS đôi khi gọi là ISIL (Levant, bao gồm rộng hơn gồm cả Thổ Nhĩ Kỳ, Jordan, Do Thái, bán đảo Á Rập và Lebanon) cầm đầu bởi Abu Musab al – Zarqawi người Jordan phụ tá cho Bin Laden, khối Hồi Giáo Sunni chủ trương giết hết Hồi Giáo Shia. Zarqawi muốn thành lập quốc gia Hồi Giáo thay cho đế quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ) từ khi đế quốc nay sụp năm 1912. Ða số Hồi Giáo muốn có quốc gia Hồi Giáo kể cả Nam Dương (62% ủng hộ). ISIS đã kiểm soát được diện tích vùng Tây Iraq và Bắc Syria lớn hơn cả nước Anh, quân đội gia tăng dù Hoa Kỳ tăng gia đánh bom. Từ 15 tháng sáu, ISIS kiểm soát thành phố Mosul lớn thứ hai sau thành phố Baghdad, Iraq. ISIS cai trị bằng chánh sách đàn áp, công an trị cùng các biện pháp dã man như Cộng Sản vào thời kỳ quá độ Mao, Stalin, Hồ Chí Minh. Dân Iraq thích ISIS vì thuế đánh nhẹ 2.5%, không còn thấy hỗn loạn và tham nhũng như chánh quyền Iraq.

Trung Ðông tan vỡ từ sau Thế Chiến Thứ Nhất lại tan vỡ hơn từ khi Hoa Kỳ can thiệp vào Iraq. Cách Mạng Mùa Xuân Á Rập bây giờ đã vào quá khứ. Syria có thể chia 3, Iraq cũng có thể thành 2 hay 3 quốc gia. Hoa Kỳ ủng hộ Hồi Giáo Shia ở Iraq chia rẽ Sunni. Xem Iran (đa số Hồi Giáo Shia) là quỷ chỉ có hại cho Hoa Kỳ vì không có sự ủng hộ của Iran Hoa Kỳ không cai trị được Iraq, chỉ có Iran ra lệnh cho lãnh tụ Shia Muqtada al – Sadr cộng tác với Sunni, không có sự cộng tác của Iran Hoa Kỳ không ổn định được A Phú Hãn và Iraq. Hiệp ước về nguyên tử với Iran ngày 2 tháng 4, 2015, có nhiều điều khoản khó thực hành nhưng hiệp ước phá vỡ chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Iran trong 36 năm. Chấm dứt chiến tranh lạnh với Iran, Hoa Kỳ bớt lệ thuộc vào dầu hỏa của Saudi Arabia và nội chiến Syria và Yemen ở Trung Ðông có thể kết thúc. Hoa Kỳ từ trước đến nay vẫn giữ tiêu chuẩn kép ở Trung Ðông, với hiệp ước nguyên tử Israel không độc quyền vũ khí nguyên tử, một vũ khí quốc gia nào cũng muốn nhưng có rồi không ai dám xài! Hoa Kỳ gây rối ở Trung Ðông mở cánh cửa cho Trung Cộng. Trong khi Putin đã bớt áp lực quân sự ở Ukraine vì giá dầu xuống và vì áp lực của Âu Châu, Trung Cộng thừa nước đục thả câu nhảy vào Trung Ðông. Sau khi TT Obama gia tăng thời hạn rút quân ở A Phú Hãn, TT Ghani qua Bắc Kinh được Tập Cận Bình gọi “Ghani là bạn cũ của Dân Trung Hoa,” thời đại cộng tác mới bắt đầu với 327 triệu Mỹ Kim viện trợ cho A Phú Hãn đến năm 2017. Công ty đồng (China Corporation Copper) ký khế ước 4.4 tỷ trong khi 70 công ty Mỹ chỉ có khế ước 75 triệu Mỹ kim. Trung Cộng biểu diễn quyền lực mềm với sức mạnh kinh tế gây lo ngại cho các quốc gia láng giềng đang phát triển nhưng cái họa da vàng Trung Quốc còn xa. Kinh tế Hoa Kỳ và Trung Cộng tùy thuộc lẫn nhau, giới lao động làm việc cho tư bản Mỹ nằm ở Trung Hoa. Tất cả con số về kinh tế cho thấy Trung Cộng vẫn thua xa Hoa Kỳ. Hoa Kỳ vẫn đứng đầu trên các lãnh vực dược phòng, không gian, điện toán, dụng cụ y khoa. 100 đại công ty trên thế giới không có tên công ty Trung Hoa. Công ty xuất cảng hàng đầu của TH do ngoại quốc làm chủ. Ở Hoa Kỳ số triệu phú là 42.5%, Nhật 10.6%, Trung Hoa 9.4%, Anh 3.7%, Thụy Sĩ 2.9%, Ðức 2.7%, Ðài Loan 2.3%, Ý 2%, Pháp 1.9%. Sức mạnh mềm thua Hoa Kỳ còn tiềm lực quân sự của Trung Cộng chỉ dọa các nước láng giềng như Việt Nam, chưa so được với tiềm lực quân sự của Hoa Kỳ.

“Trong cái mạnh, có cái yếu.” Trung Cộng đang lên nhưng Tập Cận Bình trong bụng đã có mối lo. Nền kinh tế lớn nhất thế giới là nền kinh tế đang có chiều đi xuống. Trong quí chót năm 2014, có nhiều hãng xưởng đã không trả tiền cho công nhân, biểu tình chống đối đình công 3 lần nhiều hơn so với cùng thời kỳ năm 2013. Kinh tế Trung Hoa có thể đi xuống nhanh hơn dự tính mặc dù hãng xưởng sản xuất vẩn đứng đầu thế giới, công nhân già nhanh kém sản xuất vì chính sách một con, nhiên liệu nguyên liệu ít dần mặc dù chánh quyền Trung Cộng khai thác tài nguyên ở Phi Châu. Tiền vay của các hãng lên cao hơn lợi tức trong khi Tập Cận Bình thành lập ngân hàng phát triển, quỹ xây dựng hạ tầng đường lụa, (Silk Road) ngân hàng xây dựng hạ tầng Á Châu tổng cộng 240 tỷ Mỹ Kim, với sự cổ võ của Henry Kissinger, để thay thế ngân hàng và quỹ tiền tệ thế giới.

Cầm đầu đảng Cộng Sản với hơn 80 triệu đảng viên, Tập Cận Bình được gọi là Tập Ðại Ðại, như đại ca của Mafia, giữ hơn 10 chức vụ từ chủ tịch nhà nước, tổng bí thư Ðảng, chủ tịch ủy ban quân quản, chủ tịch ủy ban ngoại giao, kinh tế, an ninh, quốc phòng, công an nhân dân, mạng thông tin. Sự rối loạn đến từ trong nội bộ. Như Người hùng của họ Tập là Tống Giang trong truyện Thủy Hử, có tinh thần cầm đầu đảng cướp Tập Cận Bình chống dân chủ hóa như Hoa Kỳ. Trong hai lần họp với phó Tổng Thống Joe Biden năm 2011 và 2012 Tập Cận Bình đã tuyên bố không chấp nhận giá trị dân chủ Tây Phương và nhân quyền. Thanh trừng nội bộ đảng, họ Tập nhà độc tài nhất từ sau Mao Trạch Ðông đã điều tra trên 10,000 cán bộ, trong năm 2014 hơn 100,000 đảng viên cao cấp mất chức vì tội tham nhũng nhưng thật sự tham nhũng chỉ là cớ để loại chân tay bè đảng không trung thành.

Trong nội bộ chủ tịch Tập Cận Bình cảnh cáo “Mỹ đang toa rập lật đổ chế độ CSTQ qua diễn tiến hòa bình” nên từ đầu năm 2015 Tập Cận Bình đã cho thấy bàn tay sắt, đóng mạng lưới chống đối nhiều hơn năm 2014, đối lập không có chỗ đứng trong “xã hội hài hòa.” Các cơ quan vô vị lợi NGO bị xem là tay chân của bọn Mỹ, các hãng Microsoft, Cisco, Intel là “chiến sĩ của chánh quyền Hoa Kỳ,” CIA và cơ quan dân chủ NED đứng đằng sau các cuộc biểu tình đòi Dân Chủ ở Hồng Kông (cách mạng Dù) và ở Ðài Loan. Tập Cận Bình độc tài đứng một mình vì “Xô Viết đã sụp đổ năm 1991 là vì không có kẻ nào mạnh đứng đối đầu chống lại bọn phản động.”

Ðối ngoại, với các nước láng giềng Tập Cận Bình như bọn cướp Lương Sơn Bạc. Cộng tác với Nga nhưng từ từ bỏ Putin sau khi Nga gây chiến tranh ở Ukraine, trục lợi qua chánh sách cô lập kinh tế của Putin, Tập Cận Bình quay mặt về Hoa Kỳ yêu cầu TT Obama “lập quan hệ song phương bình đẳng mới” nhưng TT Obama đã từ chối không chấp nhận chánh sách của Trung Cộng chiếm những hòn đảo và tranh chấp biển Ðông. Chánh sách cướp dần từ không phận, hải phận, xây giếng dầu, xây phi trường trên các đảo Hoàng Sa, Trường Sa, các đảo trên vùng Nam Thái Bình Dương, đã bị TT Obama chánh thức phản đối.

Hiểm họa độc tài của Tập Cận Bình đã khiến các đảng viên CSTQ trung kiên lo sợ, theo chu kỳ Trung Hoa sẽ có một cuộc cách mạng đẫm máu. Họ chủ trương thay vì đóng cửa với thế giới bên ngoài và đe dọa các nước láng giềng, Trung Hoa cần thay đổi chế độ bằng phương pháp hòa bình biến đảng CSTQ thành đảng xã hội cánh tả như các đảng xã hội ở các nước Tây Phương. Giai cấp trung lưu đang lên ở Trung Hoa không phải là đối tác đáng tin cậy cho đảng CS.

Thế giới cố dự đoán “Ðế quốc Mỹ đang giãy chết” nhưng như Frederick Hayek, kinh tế gia giải Nobel, nhận định: “kinh tế chỉ huy luôn luôn thất bại.” Con đường kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa của TC đang giẫy chết trước khi đế quốc Mỹ giẫy chết.

Cuộc tái định cư của cựu tù nhân chính trị

Cuộc tái định cư của cựu tù nhân chính trị

Nguoi-viet.com
Nhìn lại quãng đường tị nạn và hội nhập


Huy Phương & Võ Hương-An

(Chân Dung H.O. & Những Cuộc Ðổi Ðời)

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Cộng Sản Bắc Việt, tức nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, núp dưới ngụy danh Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, đã cưỡng chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa và cai trị đến nay vừa đúng 40 năm (1975-2015).

Trong 40 năm độc tài toàn trị, Cộng Sản Việt Nam (CSVN) đã lập nên nhiều “thành tích” đáng xấu hổ trong lịch sử dân tộc cũng như trước mắt quốc tế, trong đó có hai “thành tích” lớn tới mức đánh động lương tâm dân tộc các nước dân chủ văn minh, khiến họ phải ra tay can thiệp. Ðó là việc bỏ tù hàng trăm ngàn người thua cuộc trong các nhà tù khổ sai, ngụy danh là trại cải tạo, mà không xét xử; và tạo nên một xã hội áp bức trong đói kém, bần cùng, khiến cả triệu người phải bỏ nước ra đi để tìm tự do, bất kể hiểm nguy đến tính mạng.

Gia đình H.O. Phan Cảnh Cho và H.O. Hoàng Văn Ngọ được nhân viên
thiện nguyện Hội Tương Trợ Cựu Tù Nhân Chính Trị Nam Cali đón tiếp
ngày 20 tháng 7, 1993 tại phi trường John Wayne. Chú ý đến chiếc
rương sắt (X) phía dưới, vật dụng lên đường quen thuộc của nhiều
gia đình H.O. (Ảnh tài liệu do Huy Phương cung cấp)

Chưa có một nước nào trên thế giới mà sau một biến động quân sự và chính trị lại đưa tới những làn sóng di dân tị nạn ào ạt lên đến hàng triệu người như Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản, khiến thế giới phải phát sinh ra những từ ngữ mới để nói lên thực trạng bi thảm đó. Họ gọi những người liều chết ra biển lớn tìm tự do trên những con thuyền mỏng manh bất chấp sóng gió, hải tặc, là những boat people (thuyền nhân) và thời đại này của Việt Nam là the age of uprooting (thời đại trốc rễ). [1] Họ học được những từ ngữ mới, như trại tù khổ sai thì Cộng Sản gọi là trại học tập cải tạo, re-education camps và tù nhân được gọi là học viên! Thật là mỉa mai chữ nghĩa!

Lịch sử tị nạn Việt Nam hoặc lịch sử cộng đồng người Việt hải ngoại vào hậu bán thế kỷ XX là một đề tài lớn, đòi hỏi sự nghiên cứu lâu dài và rộng rãi. Cuộc tái định cư của cựu tù nhân chính trị (ex-political prisoners) hay cựu tù cải tạo (ex-reeducation camp detainees) và gia đình, thường được gọi một cách dung dị là “đi H.O.” (đọc: hát-ô).

“Tại sao và từ bao giờ chúng ta có mặt trên nước Mỹ?” Tại Hoa Kỳ, sau tháng 4 năm 1975, mới chỉ có khoảng 125,000 người Việt, là số tị nạn đầu tiên do Hoa Kỳ giúp di tản hoặc tự tìm đường thoát thân khi Sài Gòn hấp hối; đến năm 1980, con số này lên 231,000 người; và đến năm 2012, cộng đồng Việt Nam tại Mỹ lên đến gần 1.3 triệu, trở thành di dân Châu Á đông vào hàng thứ 4 của nước Mỹ, chỉ sau Ấn Ðộ, Philippines và Trung Quốc. Cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ chiếm hơn một nửa tổng số người Việt có mặt trên thế giới và 72% trong số này đã mang quốc tịch Hoa Kỳ.[2]

Thành phần tạo nên cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ gồm có:

– Thuyền nhân (vượt biên, vượt biển);

– Ðoàn tụ gia đình;

– Con lai;

– Cựu nhân viên chính phủ Mỹ, cựu nhân viên sở Mỹ;

– Cựu tù nhân chính trị (cựu tù cải tạo), thường được gọi là thành phần H.O.

Có thể nói rằng nước Mỹ là xứ sở của di dân và tị nạn. Ðầu thập thập niên 1990, sự nhập cư của lớp cựu tù chính trị và gia đình đã đẩy số người Việt di dân lên cao rõ rệt, và sau vài năm bở ngỡ, lúng túng ban đầu trong việc điều chỉnh cuộc sống mới trên đất mới, những gia đình H.O. bắt đầu đi vào ổn định nơi ăn chốn ở, học hành và công ăn việc làm. Lần hồi, bước vào thế kỷ 21, di dân tị nạn H.O. bắt đầu vươn vai đứng dậy, có những đóng góp cho quê hương mới cả về vật chất cũng như trí tuệ, khi lớp con cái H.O. được trang bị kiến thức đầy đủ ngang tầm cở bản xứ, đã hội nhập một cách tự tin và bình đẳng.

Mỗi một tù cải tạo là một số phận. Ðến khi được trở thành một H.O. và cùng gia đình đi tái định cư tại Hoa Kỳ cũng là mỗi H.O. một số phận. Có thể nói cuộc đời của mỗi H.O. mang dấu ấn hai lần “cải tạo” với ý nghĩa hoàn toàn trái ngược nhau.

Lần đầu, CSVN “cải tạo” trong ý đồ tiêu diệt bằng cách đầy đọa tù nhân cho chết dần chết mòn trong tù để khỏi mang tiếng tàn bạo, dã man, đối với thế giới. Nếu người tù may mắn sống sót trở về với gia đình thì ý chí tự do, quật cường cũng đã bị thui chột để chỉ còn là một kiếp sống thừa; thêm vào đó, chính sách cải tạo cũng gián tiếp bần cùng hóa gia đình tù cải tạo bằng sự phân biệt đối xử ngoài xã hội.

Lần “cải tạo” thứ hai, do Hoa Kỳ chủ trương, nhằm giúp đở tái tạo người cựu tù chính trị và gia đình, tái lập một cuộc đời mới, đầy đủ nhân cách và phẩm giá, với mọi điều kiện thuận lợi trong xã hội mới để khả dĩ vươn lên.

Trong khi cùng chịu chung một chính sách ngục tù nhưng mỗi một tù nhân là một số phận, mỗi một trại cải tạo là một thế giới, thậm chí, cái thế giới bé nhỏ đó khi thay đổi người điều hành hay thay đổi nơi chốn, cũng có thể trở thành là địa ngục trần gian hay một nơi giam giữ còn tính người, có thể sống qua ngày, nghĩa là có đa dạng tù đày.


Chú thích:

[1]: Hataipreuk Rkasnuam and Jeanne Batalova, Vietnamese Immigrants in the United States, http://www.migrationpolicy.org/article/vietnamese– immigrants- united- states

[2]: http://www.vietnam.ttu.edu/resources/vietnamese– american.php

Trăng đang nằm trên sóng cỏ,

“Trăng đang nằm trên sóng cỏ,”

Cỏ đùa trăng đến bên ao,

Trăng lại đẫm mình xuống nước,

Trăng nước đều lặng nhìn nhau.

Đôi ta bắt chước thì sao?””

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mai Tá lược dịch

Bắt chước thì sao”? Mấy năm về trước, tôi có dịp cũng đi xem nghệ sĩ bi hài thuộc Dòng Tên, là Michael Moynahan trình diễn vở kịch câm mang tựa đề “Bi hài và nỗi thống khổ”, kể về giờ phút cuối của Đức Kitô ở trần thế. Vào kịch, là sự xuất hiện của một anh hề với nụ cười quên tắt trên môi. Anh biểu diễn các màn tung bóng ngay trước mặt khán giả, rất đẹp mắt.

Tiếp đó, là cảnh đám quân binh bước đến, dẫn Đức Kitô ra trình diện bá quan thiên hạ; để rồi, bọn họ đóng đinh Ngài lên cây khổ giá hình chữ thập. Tay hề chứng kiến cảnh tượng đầy kịch tính ấy với nỗi niềm sao xuyến, hãi sợ. Khi thấy Đức Kitô thực sự đã chết, đám quân binh ra về, không đợi gì thêm.

Nhưng, tay hề vẫn nán lại, ngồi bệt xuống dưới chân khổ giá. Anh bắt đầu gỡ bỏ các dấu đinh còn sót nơi tay và chân Chúa. Xong, đặt thi hài Ngài nằm sõng lên đùi anh, hệt như bức la Pietà nổi tiếng của nhà điêu khắc Mi-Kê-Lăng-Gê-lô.

Tay hề xót xa, rơi nước mắt khi phải chứng kiến cái cảnh Đấng Công Chính bị đóng đinh trên khổ giá, hình chữ thập. Cùng lúc ấy, đám quân binh quay lại, thấy tay hề còn ngồi đó thẫn thờ khóc cho thân phận của Đức-Chúa-làm-người. Chúng vực xốc anh dậy, đóng đinh anh lên cây thập tự thay cho Chúa. Tay hề đau đớn, chịu đựng được một lúc, rồi cũng trút hơi cuối cùng trên thập tự bằng gỗ cứng. Sần sùi.

Khi quân binh đi rồi, Đức Chúa trỗi dậy, Ngài trở về với sự sống khác thường. Ngài hướng mắt nhìn tay hề đã cùng chịu cũng một thân phận khổ ải như Ngài, bèn đến gỡ bỏ các đinh khoen đóng xác, đỡ anh xuống. Ôm gọn anh vào lòng, cứ để như thế mãi chốn thiên thu, miên trường.

Xem trình diễn vở kịch câm hôm ấy, tôi thấy như có tiếng thở dài rơi lệ, ở đâu đó nơi người dự khán. Chẳng có ai trong họ, lại cứng lòng đến độ trơ như đá; hoặc, không nhỏ giọt lệ ướt mi, trước bi hài kịch đầy xót thương. Ai oán.

Thật ra, chữ “xót thương” là cụm từ lấy từ tiếng “Compati” của La ngữ, mang ý nghĩa chịu đựng. Khổ ải. Tuyệt nhiên, cụm từ này không mang ý nghĩa thương hại, đồng cảm; hoặc sớt chia nỗi buồn bực, gì hết. Cũng vậy, cụm từ “buồn bã”, “xót xa” bên tiếng Việt lại bao hàm lập trường xa cách.

Đứng ở ngoài. Chẳng có liên hệ mảy may nào dính dự đến kinh nghiệm bản thân; hoặc, những cảm xúc hướng vào bên trong. Cụm từ ‘xót thương’, mang nặng một ‘cảm xúc’ của những người đồng cam đồng chịu, cũng một thân phận. Thân phận, mà Vị Mục Tử Nhân Hiền đã tự gánh lấy cho Ngài. Và, đây cũng là ý nghĩa đích thực của mùa Phục Sinh, rất hôm nay.

Giả như, ta xứng đáng để trở thành những người dám dấn bước, theo chân Đức Kitô, hẳn là ta cũng sẻ san cùng một tâm trạng, ngày Thứ Sáu Chịu nạn. Tuy thế, Chúa Nhật Phục Sinh, nay mang ý nghĩa thật rõ nét. Đó là: Chúa Cha đã trung tín với Con Một Ngài thế nào, thì Ngài cũng một lòng chung thủy đối với ta, hệt như thế.

Những năm tháng gần đây, nhiều vị Giám mục, vẫn được gọi là Mục tử nhân hiền ở giáo hội địa phương. Các ngài cũng bị chĩa mũi dùi, nhìn xoi mói khía cạnh đời sống tu đức của mỗi vị. Việc bị quan tâm/lưu ý như thế, cũng chẳng có gì là lạ. Bởi, tất cả chúng ta, dù ở cương vị nào đi nữa, vẫn đang sống cuộc đời của đạo-hữu chân-chính dõi bước chân mềm, đi theo Chúa.

Theo Chúa, còn có nghĩa là: nhận lãnh trách nhiệm, về những gì mình đã làm, và cả những gì mình không chịu làm. Xét như thế, các mục tử ở giáo hội địa phương, cũng không nằm trường hợp ngọai lệ.

Quả thật, các mục tử nhân hiền ở địa phương đã phải trải qua nhiều thời kỳ cam go, buốt óc. Đàn chiên dân Chúa, nay được huấn luyện theo tiêu chuẩn khá cao. Chẳng ai còn chịu để cho đấng chăn dắt mình, bắt phải rập khuôn, duy trì não trạng của thú đàn, vô tri giác. Không. Ai trong chúng ta cũng muốn biết về vị mục tử chăn dắt mình. Ai cũng muốn nghe tiếng mời gọi thân thương của các vị đang chăn dắt.

Thân thương, là tình thân biểu lộ ra ngoài lòng thương yêu, ta cần có. Biết quan tâm phấn đấu, đòi thực hiện cho bằng được sự chính đáng, công bình đến với các nạn nhân, ở khắp nơi. Đặc biệt hơn, là: nạn nhân đang bị chính Giáo hội mình làm cho thương tật.

Hẳn là, ai cũng muốn cam kết rằng: những gì vị mục tử nhân hiền ở địa phương phán quyết hoặc hành xử, nhất nhất đều phải rập khuôn lời lẽ và cử chỉ hiền hậu của Đức Chúa, tức Vị Mục Tử Nhân Hiền rất đích thực.

Những năm về trước, hẳn chúng ta có cảm giác choáng váng, thất vọng khi thấy một số –cũng may còn rất ít -các vị mục tử ở địa phương lợi dụng danh thơm tiếng tốt của Giáo hội, đã nhân danh quyền lực và vị thế xã hội của Đạo mình, đã lấy đi gương lành đạo đức lẫn nghĩa vụ pháp lý, tài chánh để rồi đã khiến cho thành viên trong đàn chiên bé nhỏ, đang bị thương tổn.

Tin Mừng hôm nay, thánh Gioan nhắc nhớ ta về vai trò và bản chất cần có của các vị lãnh đạo trong Hội thánh Chúa. Đức Giêsu không so sánh các vị lãnh đạo ấy như ông hoàng bà chúa nơi cung điện cao sang, quyền quý hoặc như thống đốc, quan toàn quyền ở tiểu bang. Hình ảnh Chúa đưa ra hôm nay, là: vị mục tử thân thương, nhân hiền.

Mục tử, chính là người chăn dắt rất tận tình, thật dễ thương. Các vị này, dám ngủ lại với đàn chiên nhỏ bé của mình, cả vào chốn đồng hoang trống vắng, rất hiểm nguy. Mục Tử Nhân hiền mà Đức Ktiô ám chỉ, là người biết rất rõ chiên đàn của mình. Rõ đến độ, Ngài dám hy sinh cuộc sống của mình, cho bầy đàn mình chăn dắt.

Tham dự Tiệc thánh hôm nay, ta cầu cho chiên đàn mình có lãnh đạo xứng đáng với lòng ngưỡng mong. Cầu mong sao, các vị lãnh đạo có lòng nhân thân thương trong sáng, biết khơi dậy nơi ta cũng một tình cảm, như các ngài đã ứng xử với chiên đàn bé nhỏ, của mình. Có như thế, các ngài mới đích thực là Mục tử thân thương, nhân hiền.

Có như thế, mới là lãnh đạo “chính chuyên”. Công chính. Biết ân cần phục vụ. Phục vụ, để đàn chiên mình luôn vui sống. Sống an vui, hiền hoà. Ân cần, trước mọi nhu cầu thiết thực của đàn chiên bé nhỏ. Nhất là lúc này, khi bầy lang sói vẫn rình rập, ở đâu đó. Thứ sói lang mang hình thù, mã số rất thời thượng, những Dan Brown, Tom Hanks ở sân khấu-cuộc đời, đầy nhiễu nhương.

Lm Richard Leonard sj –

Mai Tá lược dịch

Ngồi, dưới trăng lắng im nghe lòng ta,

“Ngồi, dưới trăng lắng im nghe lòng ta”,

Thổn thức bao chuyện ngày qua… sầu đau

Hỡi người dấu yêu, sao đành nỡ quên…

Sao đành tình ta vỡ tan, như cánh chim lìa bay?

(Breakfast at Tiffany’s Moon River – Phạm Duy: Dưới Trăng)

(2Cor 13: 5-10)

Trần Ngọc Mười Hai

Thật ra thì, có “ngồi dưới trăng lắng im nghe lòng ta” cách mấy đi chăng nữa, đã chắc gì mình thấy lại được hồn mình đang “thổn thức bao chuyện ngày qua…sầu đau”, đâu chứ!

“Sầu đau” không, vẫn là chuyện của người viết khi ông lại đã hát thêm, rằng:

“Lòng, đắm say những khi ta gần nhau,

Ngồi dưới ánh trăng dịu êm ….cùng mơ.

(Dưới Trăng – bđd)

Ấy đấy, là vấn đề. Sầu đau hay buồn vương, chán chường vẫn là chuyện thời đại, của nhiều người. Những chuyện như thế, nay len lỏi vào tâm tư các vị xưa nay từng sống với quyền-cao-chức-trọng, cũng hệt thế.

Sầu đau hôm nay, có thể là chuyện vẫn xảy đến với nhà Đạo, khi nhiều vị ở đó vẫn quan-tâm đến chuyện phù-phiếm, chóng qua như so-sánh chuyện nổi-danh/nổi-tiếng hoặc nổi cộm được toàn thế-giới hâm-mộ, như hôm rồi nhà báo Úc, viết những giòng như sau:

“Sau 2 năm vẫn ‘trụ’ ở cương vị giáo-chủ cả một đạo, Đức Phanxicô nay đạt tỷ-lệ nổi tiếng/mến-mộ đến 90%, vượt xa Đức Bênêđíchtô 16 và coi là đấng được nhiều người ưu-chuộng nhất hành-tinh.

Đức Phanxicô dự-định ghé thăm thủ-đô Washington, New York và Philadelphia vào tháng 9 năm 2015, nên tin này đã làm người Mỹ tìm cách lập khảo-sát nhằm thu-thập số phiếu bầu ngài là “vị Giáo-hoàng được lòng người Mỹ nhất” lên đến 57% số phiếu bầu.

Theo hãng thăm dò dư-luận Pew Research Centre, thì tiếng-tăm của Đức Phanxicô nay gia-tăng rất nhiều nội hai năm qua. Từ ngày khởi-đầu triều-đại Giáo-hoàng, ngài khởi-phát chỉ mới 58% vào độ tháng 9/2013 nhưng đến năm 2014, tỷ-lệ này lên đến 66% và năm 2015 đạt 70%, ngay ngày đầu. Với người Công-giáo đi lễ đều đặn, thì các vị lại bầu cho Đức Phanxicô một tỷ-lệ đến 95% số phiếu tuyên-dương ngài là chủ chăn được người ưa-chuộng nhiều nhất. Và, trong số các người này, nhiều vị lại hoàn-toàn đồng-ý với ngài, trong mọi chuyện…

Theo nghiên-cứu/khảo-sát do công-ty Pew Research Centre thực-hiện từ ngày 18 đến 22 tháng Hai 2015 trên điện-thoại nhà và di-động đã chuyển đến 1504 người lớn tuổi trên toàn quốc đã nắm được con số trên.” (tin trên The Catholic Weekly 22/3/2015, tr. 15)

Bàn về chuyện người người rất ưa-thích Đức Phanxicô như thế quả quá đúng. Và ở đây, ta cũng không có gì để bàn cãi với tranh-luận. Thế nhưng, nếu cứ theo tin tức và bảng điểm do báo/đài truyền-thông Mỹ loan đi, thì chỉ như thế thôi.

Thế thôi, nghĩa là chỉ mỗi con số và con số nói lên cũng chỉ chút ít thực-tại, trong khi đó sự thật rất thực có thể lại rất khác. Thực-tại đích-thật khác, là ở chỗ: không thấy báo/đài nào chấm điểm hoặc so-sánh tính khiêm-nhu/lành-thánh của ‘đấng bậc’ ở chốn trời-cao-mây-trắng-toát-rất-tít-mù là Giáo hội Công-giáo của mình, hết.

Bởi, có làm thế cũng bằng thừa, vì: vào những tháng ngày gần đây, người đi đạo cũng nghe/biết nhiều về tình-hình phong thánh các đấng bậc lại đã gia-tăng nhiều đến độ có người gọi đó là “Lạm phát chất thánh”…

Gia-tăng như thế, nghĩ cũng phải, vì các ngài tuy chưa quá vãng hoặc đã xa lìa cõi thế-trần này những cũng được người đời gọi bằng danh xưng thật rất thánh quá mức đến nỗi các vị, khi được bầu làm giáo-chủ một đạo, là đạt ngay danh hiệu quí-hiếm: Đức “thánh” Cha, ngay thôi. Thế nghĩa là: các ngài dù chưa hoạt-động gì bao lăm cũng đã là thánh rồi, để rồi khi chết lại cũng trở-thành ‘thánh’, gấp đôi mà thôi.

Thôi thì, có gọi các ngài là Đức “thánh” Cha hay không, cũng đâu là chuyện quan-trọng. Điều quan-trọng với Giáo-hội hôm nay, là: Giáo-hội ta có còn đặt nặng khía-cạnh “quyền-lực” vào vị-thế của các đấng bậc đứng đầu một Giáo-hội hay không, mà thôi!

Bàn việc này, cũng nên tạt qua ý/lời của đấng bậc vi vọng cỡ bậc thầy thần-học ở chốn miền khá thấp nhưng lại là bậc thày của 4 đại học Công giáo ở Hoa-Kỳ đến 40 năm tròn, là Lm Kevin O’Shea CSsR, như sau:

“Bài Thương Khó do thánh Máccô ghi, khi nói Đức Giêsu bị giới quyền cao chức trọng người La Mã hạch-hỏi xem Ngài có đích-thực là Vua-dân-Do-thái, tức là người có quyền chức tương-đương nơi dân Ngài, không. Sở dĩ Philatô hỏi thế, là vì ông bị đám Do thái có quyền-chức là các thượng-tế trong đạo cứ bủa vây, xúi giục ông làm những việc như vậy. Thế nhưng, Đức Giêsu vẫn lặng-thinh không nói lời nào, là bởi như ngôn-từ của Trình-thuật Tin Mừng cho thấy: Ngài không trả lời theo hướng họ đưa ra, vì Ngài không thuộc hệ-thống cầm-quyền như họ.

Đức Giêsu muốn giải-thoát nhân-loại không vì mục-đích đưa nhân-loại ra khỏi chốn “lỗi tội” mà còn đưa ra khỏi mạng-lưới quyền-lực vốn dĩ muốn gài bẫy những người cùng một vai-trò, ở trong đó. Điều này cho thấy: có nhận-thức đích-thực từ ảnh-hưởng của cơ-chế xã-hội trong mọi quyết-định về chính-trị.

Đặc quyền/đặc lợi, là cha đẻ ra quyền-lực, mà quyền-lực lại đẻ ra bức-bách, bức bách đẻ ra sức mạnh. Đương nhiên cùng một lúc, hệ-thống quyền-bính không buộc phải trở-thành một thứ “dê tế-thần” cốt bào-chữa cho các hành-xử của người có vai-trò lãnh-đạo, ở cấp cao. Nhưng, chính họ là người có bổn-phận đứng lên chống lại áp-lực của xã-hội như thế, trước mặt mọi cơ-chế bất công.

Thành-ngữ do thánh Máccô sử-dụng cốt để mai-mỉa/phản-bác lối khuynh-loát, cũng là ngôn-từ để nói rằng: thủ-lãnh cấp cao nơi công-quyền lại cũng là nô-lệ của nhiều thứ. Chương 10 câu 44-45 còn thấy đầy những ngôn-từ chính-trị mang tính hạt-nhân ban đầu, mà tiếng Hy-Lạp gọi là “protos”, vẫn ở cạnh chữ “nô-lệ”, tức “doulos”“diakonen”, tức “phục vụ”. Ngay chữ đầu đã có nghĩa trở-thành “nô-lệ” rồi. Quan-điểm này, thật triệt-để; do cụm từ “doulos” không chỉ nói về giai-tầng thấp ở cơ-cấu quyền-lực mà thôi, nhưng còn diễn-tả như sự trượt-vuột khỏi cơ-cấu nắm quyền và có uy-lực đầy mình. Từ-vựng ấy, cũng không diễn-tả giai-tầng cao xa nhất, hoặc giai-tầng thuộc loại thứ-yếu hoặc chót hết, hiểu theo nghĩa cơ-cấu quyền-lực. Đó, là thứ gì trái-nghịch hẳn. Là mặt trái, tức: thông-điệp đầy mỉa-mai/châm-biếm vốn dĩ nằm bên trong cơ-cấu quyền-lực rồi. Nói cách khác, đây thực sự là những người biến thành nô-lệ cho quyền-lực. Họ cần được giao cho đám thiếu quyền-lực nhất…” (x. Lm Kevin O’Shea, CSsR, Ơn Cứu Chuộc Nơi Ngài chan-chứa, Chương 2 phần 4, nxb Hồng Đức sẽ phát hành vào hạ tuần 4/2015)

Đề-cập đến vấn-đề Giáo-hội và quyền-lực, vẫn luôn là chuyện nóng bỏng, rất khó lòng. Khó, là bởi khi ai đó đã ở bên trong guồng máy có quyền và có lực rồi, thường sẽ có khuynh-hướng hỗ-trợ cả hai bên, tất tần tật. Nói thế, tức diễn tả cách nào đó để bảo rằng: đôi bên đều như nhau và ngang nhau.

Đề-cập chuyện thế-quyền và thần-quyền, là ta đi vào những chuyện nóng bỏng, càn dễ “cháy” hơn nữa. Cháy, cả trong lẫn ngoài. Cháy, từ trên xuống dưới, mà ngôn-ngữ đời thường vẫn bảo đụng vào sẽ “từ chết đến bị thương, thôi.”

Thật ra thì, đề-cập đến sự nổi tiếng khi nắm gọn vai trò chóp bu ở thế-quyền hay thần-quyền cũng đừng quên lời Đấng Thánh-hiền còn đó, vẫn gọi mọi người hãy đọc đi rồi tự xét, như sau:

“Anh em hãy tự xét xem

mình có còn sống trong đức tin hay không.

Hãy tự kiểm điểm.

Anh em chẳng nhận thấy là

có Đức Giêsu Kitô ở trong anh em sao?

Trừ phi anh em đã thua trong cuộc kiểm điểm này.

Tôi hy vọng rằng anh em sẽ nhận thấy

là chúng tôi đây không bị thua.

Chúng tôi cầu xin Thiên Chúa

cho anh em đừng làm điều gì trái,

không phải để tỏ ra chúng tôi thắng,

nhưng để anh em làm điều thiện,

cho dù chúng tôi như bị thua.

Vì chúng tôi không thể làm gì chống lại sự thật,

nhưng chúng tôi chỉ có thể hoạt động cho sự thật.”

(2Cor 13: 5-8)

Nhắc nhớ lời thánh-hiền xưa căn-dặn, hẳn cũng thừa. Thừa hơn nữa, là khi lời nhắn ấy lại gửi đến đấng-bậc vị-vọng trong giáo-hội rất thánh của Đức Chúa. Nhắc nhở đôi điều gửi đến những ai còn có tham-vọng “làm lớn” hoặc nổi-tiếng như cồn ở đâu đó, có lẽ cũng chỉ nên nhắc và nhở bằng truyện kể hoặc tin tức…mình, ở đời thôi.

Nhưng trước khi cứu xét những sự việc như thế, tưởng cũng nên trở về với lời ca mà người nghệ-sĩ ở nhà từng dịch ra lời Việt và hát thêm, rằng:

“Ngồi dưới trăng lắng im nghe lòng ta

Thổn thức bao chuyện ngày qua… sầu đau

Hỡi người dấu yêu, sao đành nỡ quên…

Sao đành tình ta vỡ tan như cánh chim lìa bay?

Lòng đắm say những khi ta gần nhau,

Ngồi dưới ánh trăng dịu êm cùng mơ…

Con thuyền trôi về đâu dưới trăng vàng?

Cớ sao một mình ta ngồi dưới ánh trăng lẻ loi,

buồn vấn vương… chán chường…”

(Dưới Trăng – bđd)

“Buồn vấn-vương, chán-chường” có là tâm-trạng của người đời ở đời, sau khi đứng ‘trụ’ chốn cao trong phong-trào nào đó, tức ‘tiếng tăm’ của mình đã nổi đình/nổi đám suốt một thời, nhiều năm tháng như cặp đôi “đồng tính” ở địa-hạt thời-trang, nay có vấn-đề như sau:

“Chuyện đạo-đức trong sinh-hóa tuần vừa qua, lại xảy đến từ sàn diễn thời-trang ở Milan, nuớc Ý cho tới buổi phỏng-vấn tập-san Panorama ở đây nói về cặp bài trùng tạo mẫu thời trang là Stefano Gabbana và Domenico Dolce đã đả-kích hôn-nhân đồng tính luyến ái, thụ thai ống-nghiệm IVF và chuyện thay mẹ đẻ để sinh-sôi nảy nở…

Dolce và Gabbana từng chung sống như cặp tình nhân đồng-tính đến 20 năm, nhưng đã chia tay cách nhẹ nhàng vào năm 2005, dù đạt thành-công như người chung-phần đối-tác trong thương-vụ. Khi được hỏi, quý vị có muốn làm cha theo cung-cách nào đó không, thì Dolce trả lời ngay rằng:

“Tôi là người đồng-tính luyến-ái, nên không thể có con được… chúng ta sinh ra có cha có mẹ, hoặc ít ra là như thế, còn các trẻ không có cha có mẹ theo nghĩa tự-nhiên như thế, thì tôi gọi là “trẻ con sinh tự phòng dược, hoặc trẻ chế-biến tổng-hợp, sinh từ buồng trứng thuê mướn, do chọn tinh-trùng từ danh-mục hàng-hoá…”

Không những thế, nhà tạo mẫu Domenico Dolce, 57 tuổi lâu nay tự nhận là người Công-giáo vẫn còn đi nhà thờ khá đều-đặn, lại nói:

“Không thể tính chuyện sinh con theo cách thuê mướn tử-cung hoặc dùng hoá-chất mà tạo thành được. Cuộc sống, là giòng chảy tự-nhiên có những điều trong đời, ta không được phép thay đổi nó, mới đúng. Nếu quý vị sinh ra từ cung lòng người mẹ và do tinh-trùng của người cha đích-thực hoặc ít ra phải như thế. Làm khác đi, thì đó chỉ là đứa con từ phòng dược, tức trẻ được chế-biến theo cách tơ sợi tổng-hợp, thuê mướn tử-cung của ai khác, hoặc tinh-trùng được chọn từ tập danh-mục thương-mại, mà thôi.”

Trong khi đó Stefano Gabbana lại bảo:

“Gia đình không là ‘mốt’ thời-trang. Gia-đình phải có nghĩa siêu-nhiên gần gũi thân-thương của người nhà…” Vào lúc đó, Dolce lại đã thêm ý của Gabbana: “Đồng-công kiến-tạo là động-thái của tình yêu. Ngay các chuyên-gia tâm-thần cũng đang phải đối đầu với ảnh-hưởng của cuộc thực-nghiệm do mình tạo ra, nữa.”

Chuyện xảy ra là, khi nghe biết câu chuyện như thế, thì thần-tượng đồng-tính luyến-ái người Anh là ngài Elton John, tức cha của hai đứa trẻ sinh từ bà-mẹ-thuê-mướn thay cho mẹ ruột đã phản-ứng một cách rất nóng-giận và bảo rằng: sao các anh lại dám qui về các đứa con thân-yêu tuyệt-vời của tôi, rồi đặt tên cho chúng là trẻ bé sinh từ tơ sợi tổng-hợp? Các anh thật đáng xấu hổ chỉ biết chĩa tay vào ống nghiệm IVF thôi. Tư-duy của các anh nay lỗi thời rồi, hệt như thời-trang do các anh tạo ra nay không còn ăn khách nữa. Từ nay, tôi sẽ không thèm mua đồ Dolce & Gabbana tạo mẫu về mặc đâu..” (X. Michael Cook, Dolce & Gabbana spark internet frenzy over IVF, BioEdge 21/3/2015)

Xem thế thì, chuyện nổi đình/nổi đám đầy tiếng tăm suốt nhiều năm, đã trở-thành vấn-đề với nhiều người, những hỏi rằng: được thế đến bao lâu. Nổi cồn như thế, có làm cho bản-thân người nổi tiếng thêm được chút hạnh phúc nào không? Hoặc, có giúp người nổi tiếng trở-thành lành/thánh lâu năm không?

Trả lời câu hỏi gay-go/hiểm hóc này, thật cũng khó. Khó, là bởi những người như bạn và tôi, có lẻ ta chưa bao giờ được thế. Nên, thay vì trả lời cho đích-đáng, có lẽ cũng nên đi vào vùng trời truyện kể, để xem: có thể may ra cũng có trường hợp tương-tự.

Quyết thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta đọc thử truyện kể sau đây, rồi sẽ thấy:

“Truyện rằng:

Ngày xưa, có một họa sĩ tên là Ranga, một người siêu việt, vẽ được rất nhiều kiệt tác đáng ghi nhớ khiến ai cũng dều khen ngợi.

Ông mở một lớp học mỹ thuật để dạy nghề cho mọi người và cũng để tìm đệ tử nối nghiệp. Ông không mấy khi khen ngợi ai, cũng không bao giờ đề cập đến thời gian của khóa hoặc. Ông nói, một học trò chỉ có thể thành công khi ông hài lòng với kỹ năng và hiểu biết của người đó. Ông truyền cho học trò những phương pháp đánh giá, ước định của ông, và chúng cũng độc đáo như những tác phẩm của ông vậy. Ông không bao giờ thổi phồng tầm quan trọng của những bức tranh hay sự nổi tiếng, mà ông luôn nhấn mạnh đến cách xử sự, thái độ với cuộc sống của học trò.

Trong một số lượng lớn học trò, Rajeev là một người có tài nhất, chăm chỉ, sáng tạo,nên anh ta tiếp thu nhanh hơn nhiều so với các bạn đồng môn. Ông Ranga rất hài lòng về Rajeev.

Một ngày kia, sau bao nhiêu cố gắng, Rajeev được ông Ranga gọi đến và bảo:
-Ta rất tự hào về những tiến bộ mà con đã đạt được. Bây giờ là thời điểm con làm bài thi cuối cùng trước khi ta công nhận con thực sự là một họa sĩ tài năng. Ta muốn con vẽ một bức tranh mà ai cũng phải thấy đẹp, phải khen ngợi.

Rajeev làm việc ngày đêm, trong rất nhiều ngày và đem đến trình thầy Ranga một bức tranh tuyệt diệu. Thầy Ranga xem qua rồi bảo:

-Con hãy đem bức tranh này ra đặt ở quảng trường chính, để tất cả mọi người có thể chiêm ngưỡng.

Hãy viết bên dưới bức tranh là tác giả sẽ rất biết ơn nếu bất kỳ ai có thể chỉ ra bất kỳ sơ suất nào trên bức tranh và đánh một dấu X vào chỗ lỗi đó. Rajeev làm theo lời thầy: đặt bức tranh ở quảng trường lớn với một thông điệp đề nghị mọi người chỉ ra những sơ suất.

Sau hai ngày, Ranga đề nghị Rajeev lấy bức tranh về. Rajeev rất thất vọng khi bức tranh của mình đầy dấu X. Nhưng Ranga tỏ ra bình tĩnh và khuyên Rajeev đừng thất vọng, cố gắng lần nữa. Rajeev vẽ một kiệt tác khác, nhưng thầy Ranga bảo phải thay đổi thông điệp dưới bức tranh. Thầy Ranga nói phải để màu vẽ và bút ngay cạnh bức tranh ở quảng trường và đề nghị mọi người tìm những chỗ sai trong bức tranh và sửa chúng lại bằng những dụng cụ để vẽ ấy.

Hai ngày sau, khi lấy tranh về, Rajeev rất vui mừng khi thấy bức tranh không bị sửa gì hết và tự tin đem đến chỗ Ranga. Ranga nói:

-Con đã thành công vào ngày hôm nay. Bởi vì nếu chỉ thành thạo về mỹ thuật thôi thì chưa đủ, mà con còn phải biết rằng con người bao giờ cũng đánh giá bừa bãi ngay khi có cơ hội đầu tiên, cho dù họ chẳng biết gì về điều đó cả. Nếu con luôn để cả thế giới đánh giá mình, con sẽ luôn thất vọng. Con người thích đánh giá người khác mà không nghĩ đến trách-nhiệm hay nghiêm-túc gì cả. Mọi người đánh những dấu X lên bức tranh đầu tiên của con vì họ không có trách nhiệm gì mà lại cho đó là việc không cần động não. Nhưng khi con đề nghị họ sửa những sơ suất thì không ai làm nữa, vì họ sợ bộc lộ hiểu biết – những thứ mà họ có thể không có. Nên họ quyết định tránh đi là hơn. Cho nên, những thứ mà con phải vất vả để làm ra được, đừng dễ dàng bị ảnh hưởng bởi đánh giá của người khác. Hãy tự đánh giá mình. Và tất nhiên, cũng đừng bao giờ đánh giá người khác quá dễ dàng.” (truyện kể do St sưu-tầm gửi lên mạng)

Kể thế rồi, nay mời tôi và mời bạn, ta cứ đi vào giòng chảy những nghĩ suy để rồi tự mình rút ra bài học để đời cho mình, cho người, và cả đấng bậc trên cũng như dưới, rất Nước Trời.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những ngày

Nhiều nghĩ suy

Về những tiếng tăm

nổi cộm một thời

rồi cũng xẹp

trong âm-thầm.