NHỮNG TRỞ NGẠI CHO CON NGƯỜI MUỐN ĐƯỢC CỨU ĐỘ.

NHỮNG TRỞ NGẠI CHO CON NGƯỜI MUỐN ĐƯỢC CỨU ĐỘ.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Hỏi: xin cha nói  rõ những trở ngại mà  con người phải vượt qua  nếu muốn được cứu độ để vào Nước Trời .

Trả lời :

Nói đến cứu độ là nói đến niềm vui được hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng,  sau khi phải chết đi trong thân xác có ngày phải chết đi này.

Được cứu độ có nghiã là được hưởng công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, Đấng đã vui lòng chịu mọi khốn khó, vác thập giá nặng nề và chết đau thương trên đó để hòa giải con người với Thiên Chúa là Cha rất nhân từ, giầu lòng thương xót và hay  tha thứ. Người tạo dựng con người trên trần thế này  chỉ vì yêu thương  và “ muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý.” ( 1 Tm 2: 4), nghĩa là được vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Người trên Nước Trời là chốn  an vui, hạnh phúc bất tận.

Thiên Chúa tuyệt đối không có,  hay không muốn tìm lợi lộc gì mà phải tạo  dựng  và cứu chuộc con người nhờ Chúa Giê su-Kitô, Đấng cũng vì yêu thương  vô vị lợi mà đã vâng phục Chúa Cha để xuống trần gian làm Con Người và hy sinh chịu chết trên trập giá để cho muôn người được cứu độ.( Mt 20: 28)

Như thế đủ cho thấy Thiên Chúa rất mong muốn cho hết  người được cứu độ để vui hưởng hạnh phúc Thiên Đàng với Người mai sau trên cõi vĩnh hằng.

Tuy nhiên ,vì con người là tạo vật có lý trí và  muốn tự do ( intelligent and free will) mà Thiên Chúa đã ban tặng và tôn trọng cho con người xử dụng , để hoặc tự  ý chọn Chúa làm gia nghiệp  và sống theo đường lối của Người để được chúc phúc,  hay  cố  ý khước từ Chúa để sống theo thế gian, theo tính hư nết xấu của bản năng và làm nô lệ  cho ma quỷ , kẻ thù của Thiên Chúa và là trở ngại lớn lao nhất cho  hy vọng được cứu độ của mỗi người  chúng ta. Lý do là  ma quỷ, cha đẻ của mọi tội lỗi và sự dữ,  không bao giờ muốn cho ai được cứu độ để vào Nước Trời , nơi trái nghịch hoàn toàn với hỏa ngục là chốn dành riêng  cho Satan và bè lũ.

Thật vậy,  loài người đã mất ơn nghĩa với Thiên Chúa khi phạm tội bất phuc tòng nên “  tội lỗi và sự chết đã xâm nhập trần gian và lan tràn tới mọi người , vì mọi người đã phạm tội.” (Rm5:12)

Nhưng Thiên Chúa là Cha nhân từ , nên Ngài  có giận , giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương xuốt cả đời. ( Tv  30(29) : 6)

Vì thế, Người đã sai Con Một là Chúa Kitô đến trần gian để đền tội thay cho nhân loại đáng phải phạt vì tội  lỗi.Công nghiệp cứu chuộc này thực vô giá và đủ cho con người được cứu độ để vào Nước Trời vui hưởng hạnh phúc Thiên Đàng. Nhưng tình thương của Chúa Cha và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Con Giêsu Kitô  không đương  nhiên hay tự động  áp dụng cho hết  mọi người sinh ra trong trần thế này mà không cần có điều kiện gì đòi hỏi về phía con người.

Nghĩa là , muốn được hưởng công nghiệp cứu độ này , con người phải tỏ thiện chí muốn được cứu độ bằng quyết tâm bước đi theo Chúa Kitô là con Đường, là sự Thật và là sự Sống” ( Ga 14: 6). Ngoài Chúa Kitô ra,  không có con đường nào khác có thể dẫn đưa con người vào sự sống đời đời với Thiên  Chúa trên cõi vĩnh hằng.

Bước đi theo Chúa Kitô là con Đường , trước hết,  có nghĩa là phải thực tâm xa tránh con đường tội lỗi của thế gian, của ma quỷ là con đường đẫn đến sự hư mất đời đời. Đó là con đường của bọn  gian manh, độc ác, bất công,  bạo tàn, tìm vui thú vô luân vô đạo và tôn thờ tiền của và ham chuộng hư danh trần thế, trong khi dửng dưng trước mọi bất công xã hội và đau khổ của người nghèo khó, nạn nhân của mọi bóc lột và bất công xã hội.

Do đó. buớc đi theo Chúa Kitô là  con Đường, là sự Thật và là sự Sống  đòi hỏi chúng ta phải ý thức xâu xa về  sự có mặt  của ma quỷ và tội lỗi, để không dại dột làm tay sai cho chúng  mà phạm tội mất lòng Chúa là  Đấng trọn tốt trọn lành .

Ma quỉ là kẻ phạm tội từ đầu và ai phạm tội thì là người của ma quỷ.”, như Thánh Gioan Tông đồ đã dạy. ( 1Ga 3: 8) vì thế, Tội chính là cản trở lớn lao nhất cho ta  được đến gần Thiên Chúa là Đấng gớm ghét mọi tội lỗi, vì tội lỗi  xúc phạm đến bản chất tốt lành , công minh và thanh thiện của Người.. Tội lỗi cũng chính là nguyên nhân khiến Chúa Kitô phải vác thập giá và hy sinh chịu chết cho con người được cứu chuộc để vào Nước Trời.

Cho nên, thật khẩn thiết cho ta  phải ý thức đầy đủ về tai họa lớn lao này, nếu ai   thực tâm muốn được lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Kitô.

Thật vậy, ma quỷ và tội  có mặt trong trần gian này dưới những  hình thức sau đây:.

Tội lỗi đức bác ái  hay thương yêu như oán giận, thù ghét, nói xấu làm hại tiếng tốt và đời tư của ai, bỏ vạ cáo gian gây thiệt hai cho người khác, nhất là giết người, giết thai nhi, giết trẻ nữ  ( ở Trung Hoa công sản và Ấn Độ) khủng bố, gây chiến tranh giết hại dân lành.

Tỗi lỗi đức công bằng  như gian tham, bóc lột, trộm cắp, cờ  bạc , làm hàng giả, in tiền giả  để làm giầu phi pháp, pha chế đồ ăn với hóa chất có hai cho sức khỏe của người tiêu dùng  để kiếm nhiều lợi lãi.

Tội lỗi đức trong sạch như dâm ô, mãi dâm, ấu dâm,  ngoại tình ( adultery), thông dâm ( fornification)  thủ dâm ( masturbation), sản xuất sách bào, phim ảnh khiêu dâm, mở nhà điếm, bắt cóc  hay buôn bán phụ nữ và trẻ em để cung cấp cho bọn bất lương hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn ở khắp mọi nơi trên thế giới tục hóa , vô luân hiện nay.

Thánh Phaolô đã liệt kê các tội ô uế như sau :

Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ : đó là dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận , tranh chấp chia rẽ , bè phái , ganh tị, say sưa chè chén và những điều khác giống như vậy. Tôi bảo trước cho mà biết, như tôi đã từng bảo : những kẻ làm những điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa, ( Gl 5: 19-21)

Riêng đối với người Công  giáo, còn có thêm tội phạm thánh ( sacrilege) như rước Mình Thánh Chúa cách bất xứng  (khi  đang có tội trọng,thì  cấm làm lễ ( linh mục ) và rước Mình Thánh Chúa( giáo dân) . giáo luật số 916, Sách Giáo Lý số 1415) làm chuyện dâm ô trong nhà thờ nhà nguyện, lấy Mình Thánh Chúa đem về làm chuyện phù phép , hay ném bỏ Mình Thánh Chúa vào thùng rác ( mắc vạ tuyệt thông tiền kết, giáo luật số 1367)

Lại  nữa, lười biếng trong việc thờ phượng như  bỏ lễ ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc, không cầu nguyện và năng rước Mình Thánh Chúa, và xưng tội ít là mỗi năm một lần, tất cả đều đưa đến hậu quả là nguội lạnh thiêng liêng và suy giảm niềm tin có Chúa.

Tất cả các tội liết kê trên đây đều  là những trở ngại lớn cho hy vọng được cứu độ, nếu người ta không quyết tâm xa tránh bằng mọi giá. Nói rõ hơn, nếu không có quyết tâm xa tránh tội mà cứ đi hàng hai là miệng vẫn nói tin có Chúa, vẫn đi nhà thờ , tham dự Thánh Lễ, nhưng  thực tế cứ đi vào con đường sai trái. Cứ phạm tội  mà không có quyết tâm chừa bỏ  hay xa tránh  tội,  khiến cứ  sa đi ngã lại ,  thì hãy nghe lời cảnh cáo nghiêm khắc sau đây của Chúa Kitô :

“ Ta biết các việc ngươi làm.Người chăng nóng mà cũng chẳng lạnh. Phải chi ngươi nóng hẳn hay  lạnh hẳn đi. Nhưng vì người cứ hâm hâm , chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa người ra khỏi miệng Ta . ( Kh 3: 15-16)

Nói khác đi, dù Thiên Chúa là Cha rất nhân từ, đầy yêu thương và hay tha thứ, dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá và đủ cho con người được cứu độ, nhưng nếu ai không tỏ thiện chí muốn sống theo đường lối của Chúa qua quyết tâm chừa bỏ mọi tội, từ bỏ ma quỷ và mọi cám dỗ của chúng, xa tránh những lôi cuốn của thế gian về  tiền của  và mọi thú vui vô luân vô đạo, thì Chúa không thể cứu  người ấy được. Chắc chắn như vậy.

Lý do là con người còn có tự do để chọn lựa và Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do này của con người như đã nói ở trên.Cụ thể, nếu con người chọn đi trên những con đường rộng rãi thênh thang , nơi có rất nhiều đang đi, nhưng sẽ dẫn đến hư mất đời đời, thì Chúa sẽ không can thiệp để ngăn cấm.. Đó là con đường của những kẻ gian manh,gian ác, bóc lột, giết người, giết thai nhi và lấy các bộ phận của các thai nhi để bán buôn kiếm tiền;  như báo chí và truyền thông Mỹ đâng tố cao bọn điều hành tổ chức Planned Parenthood , tức bọn giúp phụ nữ phá thai hợp pháp ở Mỹ từ bao năm qua.

Thử hỏi những kẻ đang giết thai nhi đã lớn lên trong lòng mẹ từ 3 đến 6 tháng, rồi móc các bộ phận trong cơ thể của các thai nhi này như tim, phổi, thận, mắt..đem bán như  những  món hàng thương mại cho khách hàng cần dùng,  thì làm sao chúng có thể được cứu độ để  vào Nước Trời vui hưởng Thanh Nhan Chúa là cội nguồn của mọi thiện hảo và vinh phúc,  nếu chúng không kíp ăn năn sám hối để từ bỏ việc làm tội lỗi của chúng ?

Lại nữa, bọn quá khích Hồi giáo ( ISIS) đang bắt cóc, chặt đầu các nan nhân ở Trung Đông, bọn khủng bố Al Queda đang giết hại bao đân lành, bắt cóc và hãm hiếp phụ nữ… thì làm sao chúng có thể được cứu độ nếu chúng không mau kíp từ bỏ con đường gian ác , tội lỗi của chúng ?

Đó cũng là con đường của những kẻ tham quyền cố vị, cố duy trì quyền cai trị độc ác của mình để vơ vét của cải làm giầu cho tập đoàn cai trị và dửng dưng trước sự nghèo đói bất công của đa số quần chúng bị tri. Đó  cũng là con đường của bọ tư bản đen và đỏ đang ra sức  bóc lột người dân, thao túng thị trường chứng khoán để  làm giầu cho bọn chúng bất chấp luật  công bình , bác ai và nhân đạo.

Sau hết đó là con đường của bọn bất lương buôn bán ma túy, phụ nữ và trẻ em gái để cung cấp cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn,  gây thương tổn nặng nề cho  tinh thần và thể xác của  các nạn nhân chẳng may sa vào lưới bất lương, tội lỗi của bọn vô lương tâm, vô luân vô đạo nói trên.

Nếu bọn vô luân vô đạo trên đây không kíp ăn năn sám hối mà từ bỏ con đường tội lỗi,  thì chúng sẽ không được cứu độ để vào Nước Trời,  như Chúa Giê su đã cảnh cáo bọn biệt phái xưa kia;  nhân có mấy người đến hỏi Chúa xem có phải những người Ga-li-lê-a bị Tổng Trấn Phi-la-tô giết và 18 người khác bị tháp Si-lô-a đổ xuống đè chết có phải vì họ là những người tội lỗi hơn người khác hay không, Chúa đã trả lời như sau :

Không phải thế đâu, nhưng nếu các ông không sám hối thì  các ông  cũng sẽ chết hết như vậy.” ( Lc  13: 3)

Phải  sám hối để nhìn nhận tội lỗi của mình và xin Chúa tha thứ,  thì Người sẽ hoan hỉ thứ tha. Ngược lại, nếu cứ ngoan  cố làm sự dữ, sống trong tội , tức là quay lưng lại với Thiên Chúa,  thì Chúa không thể cứu ai được,  dù Người là tình thương vô biên và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là quá đủ cho con người được cứu độ.

Tóm lại, tình thương tha thứ của Chúa Cha và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô  không  tự  động áp dụng cho hết mọi người mà không cần đòi hỏi ai phải  đóng góp gì  vào tình thương và công nghiệp ấy. Phải đóng góp bằng thiện chí muốn sống cho phù hợp với tình thương của Chúa và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô qua nổ lực xa tránh tội lỗi , chống lại mọi cám dỗ của ma quỷ, của mọi khuynh hướng xấu của bản năng,  và gương xấu của thế gian, là những trở ngại lớn lao cho sự cứu rỗi của mọi người chúng ta.

Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra. Chân thành cám ơn quí độc giả  đọc bài viết này và các bài viết khác của tác giả.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Hà Văn Thịnh – Khi dối lừa là… sự thật!

Hà Văn Thịnh – Khi dối lừa là… sự thật!

Dân Luận

Hà Văn Thịnh

3-9-2015

Đọc những bản tin về Lễ diễu binh nhân Kỷ niệm 70 năm ngày Quốc khánh (tôi không xem TV), không thể tin ở mắt mình: Một sĩ quan Quân y, đeo quân hàm trung tá (trên ve áo), sinh năm 1993(!), ngực gắn đầy huân, huy chương các loại? Cái tức chỉ mới ở cấp độ… vừa vừa. Thế nhưng, đọc tiếp, thấy ông Trung tướng Võ Văn Tuấn, Phó Tổng tham mưu trưởng, trả lời báo chí rằng, tuy là thiếu úy, nhưng theo quy điịnh, phải đeo hàm trung tá cho… thống nhất (Motthegioi.vn; 09:55, 3.9.2015) thì sự uất nghẹn lên đến tận cùng! Thì ra, để đảm bảo tính THỐNG NHẤT, DUY NHẤT, người ta có thể đạp đổ mọi giá trị?

Chưa bàn đến chuyện cộng đồng mạng đang xôn xao: Thiếu úy Quân y Phạm Trúc Sơn Quỳnh là… sinh viên trường Đại học Thương mại (vì chưa kiểm chứng được); chỉ xin luận về cái việc giả dối luôn được coi là sự thật, nó nguy hại và mang tính “truyền thống” khủng khiếp đến mức nào.

Thứ nhất, xin hỏi ông trung tướng rằng, từ cổ chí kim, ở bất kỳ quốc gia nào (không kể mấy nước XHCN), có chuyện quân hàm, huy chương, được đeo một cách tùy tiện để diễu qua diễu lại trước mắt hàng triệu con người như thế hay không? Ở đây, công khai trước mắt toàn dân tộc mà lại ủ mầm dối trá thì người dân biết tin vào ai? Không lẽ, dối trá, tùy tiện lại trở thành quy định của ta? Làm sao để có quân lệnh như sơn, làm sao việc tôi hay ai đó đeo quân hàm thì bị bắt ngay lập tức mà trong diễu binh lại coi là bình thường?

Những tấm huy chương đó do một cô gái trẻ đeo, chẳng lẽ cũng lại là quy định? Nếu đúng thế thì đó là sự sỉ nhục đối với những người vào sinh ra tử để có được chúng? Xét về tuổi, sinh năm 1993, đeo được quân hàm thì chỉ có thể tốt nghiệp trung cấp y-dược; tức là… y tá hay hộ lý, dược tá vì, chưa thể tốt nghiệp đại học y – dược 6-7 năm. Sự kệch cỡm và trơ tráo là không thể chối cãi. Có lẽ, đây là cách tốt nhất để vả vào mặt hàng loạt sĩ quan cấp tá khác, có phải vậy không?

Thứ hai, báo chí cho biết có 70% trong đội ngũ nữ “quân y” đã có gia đình; vậy, căn cứ vào đâu để đề nghị cấp bằng khen cho một cô gái còn son trẻ? “Động tác” chuẩn, đẹp, tập luyện cả đêm ngày…; chỉ là sự tư biện trắng trợn. Bốn tháng trời tập có mỗi đi đều, vung tay cho đúng thỉ chỉ có ai đó thiểu năng mới không làm được. Còn tập đêm, tập ngày chỉ là do kém mà thôi. Tại sao không đặt ngược câu hỏi rằng 70% của 200 người , tức là trên dưới cả trăm phụ nữ có con mọn không cần tập như thế vẫn đi đúng, đẹp chẳng kém gì? Nói rằng cô thiếu úy – trung tá đẹp hơn về vòng 1 hay gương mặt thì còn khả dĩ, chứ cho rằng đẹp hơn trong một khối 200 người thì quả là sự phỉ báng tư duy: Đẹp hơn có nghĩa là khối đó có hàng trăm người không đẹp bằng – tức là đi đều sai, chào không đúng, cũng đồng nghĩa là khối nữ quân y diễu binh thất bại. Nếu quả là vậy thì “khối trưởng” có gì đáng tặng bằng khen? Một đất nước mà cái gì cũng GIẢ, từ cấp bậc đến huân chương, danh hiệu anh hùng, đẹp, chuẩn…, là phải hiểu sao đây?

Thứ ba, riêng chuyện bố của cô thiếu úy – bà trung tá, là sĩ quan (cao cấp – vì ít khả năng có chuyện con dám đeo quân hàm cao hơn bố, trong khi quy định, thượng tá là cán bộ cao cấp) ở Tổng cục Hậu cần, đủ để biết cái “thị trường” sao – vạch là hình như có vẻ đúng? Biết bao nhiêu phụ nữ (trong số 140 người) trong khối quân y vừa là con dân đen, vừa nuôi con nhỏ xứng đáng hơn mà không được khen? Thì ra, khen hay chê không phải do tài năng, phẩm hạnh mà có phải là CCCC hay không mà thôi. Phải chăng chính ông trung tướng đang ngầm khẳng định cho cái ‘chân lý’ không có ai chịu nổi là vì mục tiêu thống nhất, duy nhất, các vị muốn làm gì thì làm, diễn ra sao thì diễn?

Thứ tư: tôi được biết các tàu bệnh viện, xe cứu thương trên thế giới đều in dấu chữ thập đỏ trên nóc, 4 phía để đối phương không bắn nhầm (quy định quốc tế, xem ảnh chụp tàu bệnh viện Mỹ vừa đến Đà Nẵng). Thế, tại sao bác sĩ, y tá quân đội ta, cô nào cũng cầm AK (trừ chỉ huy là súng ngắn), mặt đằng đằng sát khí? Họ ra trận để cứu người hay bắn người? Nếu họ bắn rồi bị bắn chết thì lấy ai cứu thương binh; hoặc giả, để thương binh… chết luôn?

Trên đây là 3 câu hỏi xin ông trung tướng trả lời. Nếu tôi sai (cầu mong là thế – vì, tôi sai thì đất nước được nhờ), là do kiến thức hạn hẹp, không hiểu hết cái ý thâm, nghĩ ngắn rõ ràng như của các ông. Tuy nhiên, bài này rất tình cờ được viết trong ngày kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh từ giã cõi đời (suốt mấy chục năm trời, thế hệ chúng tôi thắp hương vào ngày… 3.9!), nên có liên tưởng về “truyền thống” dối trá đắng cay. Xin kể ông nghe.

Thuở đó, tôi cũng như nhiều học sinh lớp 7, lớp 8 khác, đã khóc Bác rất chân thành – khóc dàn dụa đến hết nước mắt theo đúng nghĩa đen của từ này. Sau đó, chúng tôi lùng, tìm để học thuộc nhiều bài thơ viết về nỗi đau “tả” cái đau đớn thật sự của hàng triệu con người. Tất nhiên, cũng có bài thơ không hay (thậm chí là phản động) như bài Bác ơi của Tố Hữu. Tố Hữu kể rằng ngày Bác mất, ổng đang bỏ đi chơi đâu đó: Chiều nay con chạy về thăm Bác. Rồi, ổng miêu tả ổng đang lần mò, rình rập nhà bác; không thèm thắp cho người chết một đốm nến tàn: Con lại lần theo lối sỏi quen… Phòng lạnh, rèm buông, tắt ánh đèn…

Tạm không bàn đến những câu thơ dở mà hãy nói đến những câu thơ hay, trong đó có những câu này (tôi quên tên tác giả, nhờ bạn đọc tìm dùm):

Hôm nay, tháng Chín, ngày ba
Bác mất
Từ đó
Những bình minh khổ đau
Những hoàng hôn nước mắt
Lên đường cùng chúng ta…

Lại xin không bàn về cái tài tiên tri của nhà thơ; quả là từ khi đó đến giờ, có không ít khổ đau và nước mắt đã “lên đường”; mà chỉ xin nhấn mạnh rằng, mấy chục năm sau, tôi nghe đính chính rằng thực ra Bác mất ngày 2.9 chứ không phải ngày 3. Thật là đau đớn cho ông nhà thơ nọ vì nếu là ngày 2 thì không thể vần với chữ ta ở câu sau. Thành thử đành phải vất vào sọt rác cái chữ “hay”.

Rồi, tôi còn được biết rằng, Bác viết trong Di chúc là cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa; nhưng Đảng ta đã quyết định xóa bỏ “20 năm”(!)

Tất cả đều nhằm mục đích… thống nhất?

Đến đây thì hẳn là ông trung tướng đã buộc phải đồng ý với tôi rằng, khi người ta có thể sửa cả di chúc, tức là, hoàn toàn có thể dối lừa mọi chuyện?

Bước khởi đầu của dối trá (tạm tính là khởi đầu) tai họa đó, cứ nghĩ là do… chiến tranh, không làm rối loạn lòng dân, nên nghe đôi khi, cũng xuôi xuôi. Bây giờ, tra trốc, mốc trọ rồi tôi lại còn nghe thêm lý ‘trấu’ là do thống nhất, từ ông, thì quả là hết thuốc chữa.

Các ông cứ nghĩ dối trá ‘cho vui’, dân ngu khu đen chẳng biết, chẳng dám nói gì thì quả đúng là khủng khiếp…

Viết bài này, mong các ông đọc và bớt dối trá đi cho người dân đỡ khổ, đỡ đau. Đừng đưa “quy định” ra để lấp liếm: Tôi từng biết có người cấp bậc đại úy làm trưởng phòng CSGT trong khi cấp trung tá là phó phòng (nghe đâu bây giờ sắp thay đổi).

Xin lưu ý các ông là lần diễu binh sau (kỷ niệm 80 năm, nếu có) đừng cho bất kỳ cô bé mặt búng ra sữa nào đeo lon trung tá, bởi như thế là làm tái phát vết thương chiến tranh của hàng triệu cựu chiến binh đang buộc phải lặng im dù bị sỉ vả đắng cay!…

Huế, 3.9.2015

Xác bé trai tị nạn 3 tuổi trôi vào biển Thổ Nhĩ Kỳ làm rúng động thế giới

Xác bé trai tị nạn 3 tuổi trôi vào biển Thổ Nhĩ Kỳ làm rúng động thế giới

Nguoi-viet.com

MUGLA, Thổ Nhĩ Kỳ (NV) – Hình ảnh bé Aylan, 3 tuổi, chết đuối cùng với bà mẹ và nhiều người  khác khi tìm cách vượt biển qua Hy Lạp, trôi vào bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ được phát tán nhanh chóng và rộng rãi trên mạng truyền thông xã hội, tạo một áp lực lớn lên giới lãnh đạo Âu Châu về thái độ thờ ơ với dân tị nạn.

Cảnh sát Thổ Nhĩ Kỳ lập biên bản trước khi mang xác của bé Aylan Kurdi, 3 tuổi, ra khỏi bãi biển nghỉ mát Bodrum. (Hình: AP/DHA)

Galip, 5 tuổi, anh trai của bé Aylan, và bà mẹ Rehan, 35 tuổi, nằm trong số 12 người, bị thiệt mạng khi hai chiếc tàu tị nạn bị lật trong khi tìm cách tiến đến đảo Kos của Hy Lạp.

Người cha đau khổ của hai em bé chết đuối đã nhận diện xác họ hôm Thứ Năm và chuẩn bị đưa cả ba về quê nhà ở Kobani, Syria, theo tin của Reuters.

Ông Abdullah Kurdi khóc òa khi từ nhà xác ở Mugla, Thổ Nhĩ Kỳ, bước ra, nơi thi thể của đứa con trai ba tuổi Aylan của ông tấp vào bờ biển hôm Thứ Tư.

Bức ảnh tấm thân bé nhỏ trong chiếc áo thun màu đỏ, quần cụt xanh, mặt úp xuống, với nước biển liên tục vỗ chung quanh, xuất hiện trên báo chí truyền hình khắp thế giới, gây phẫn nộ lẫn cảm thông trong bối cảnh các nước phát triển không có hành động giúp đỡ nào đối với dân tị nạn.

Gia đình ông Abdullah từng tìm cách xin qua Canada sau khi trốn khỏi thành phố Kobani bị chiến tranh tàn phá, một tiết lộ làm cho chính quyền bảo thủ Canada phải lúng túng.

Ông Abdullah nói, nay Canada đề nghị cho ông vào quốc tịch sau khi chứng kiến những gì xảy ra với gia đình ông, nhưng lần này ông từ chối.

Ông Abdullah có người em gái là Teema Kurdi, cư dân của Vancouver. Hồi Tháng Sáu, khi ở trại tị nạn, gia đình ông có nộp đơn xin được bảo lãnh sang Canada đoàn tụ với người em nhưng bị bác do rắc rối giấy tờ với chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ.

Ông Abdullah cho biết, hai lần ông trả tiền cho chủ ghe để đi qua Hy Lạp nhưng cả hai chuyến đều không thành công.

Sau cùng ông quyết định tìm một chiếc thuyền và tự chèo lấy. Trong chuyến đi, thuyền bị nước vào, mọi người hốt hoảng làm thuyền mất thăng bằng và lật úp.

Ông Abdullah kể: “Tôi chụp lấy tay vợ tôi thì hai đứa con lại vuột khỏi tay tôi. Mọi người kinh hãi la hét trong đêm tối. Tôi không còn nghe được tiếng vợ con tôi nữa.”

Những cái chết của gia đình của em Aylan nằm trong số hàng triệu cái chết của người tị nạn trên đường trốn chạy sự hủy diệt tàn phá hiện đang diễn ra tại Syria và Iraq. Nhưng, ít nhất là cho đến giờ, hình ảnh thân xác bé nhỏ của  em chết giạt vào bờ, là biểu tượng mạnh mẽ nhất về thảm cảnh của người tị nạn từ khu vực này. (TP)

Nhà báo mất chức ‘vì bài về 2/9’

Nhà báo mất chức ‘vì bài về 2/9’

  • BBC

Image copyright AFP

Một nhân vật cấp lãnh đạo tại một tờ báo lớn của Việt Nam đã bị cách chức và thu hồi thẻ nhà báo.

Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam ngày 4/9 loan báo thu hồi thẻ nhà báo của ông Đỗ Văn Hùng, thường được biết với tên Đỗ Hùng.

Hôm 3/9, báo Thanh Niên đã miễn nhiệm chức vụ Phó Tổng Thư ký tòa soạn Báo điện tử Thanh Niên với ông Hùng.

Quyết định của Bộ Thông tin và Truyền thông không nêu nguyên do, nhưng giới nhà báo trong nước tin rằng nó xuất phát từ một đoạn ngắn trên Facebook cá nhân.

Hôm 2/9, trong lúc Việt Nam đánh dấu 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh, ông Hùng đăng một đoạn trên Facebook nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Giọng văn hài hước của ông Hùng sau đó bị một số người trên mạng lên án là giễu cợt Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Quyết định nhanh chóng của báo Thanh Niên và của Bộ Thông tin và Truyền thông dường như cho thấy giới chức xem đây là vấn đề nghiêm trọng.

Loan báo của Bộ Thông tin và Truyền thông nói báo Thanh Niên phải thu hồi thẻ nhà báo của ông Hùng và nộp về Bộ trước ngày 18/9

CHÚA CHỮA LÀNH BỆNH UNG THƯ NÃO THỜI KỲ CUỐI.

CHÚA CHỮA LÀNH BỆNH UNG THƯ NÃO THỜI KỲ CUỐI.

MARIA NGUYỄN KỲ.

Hôm nay, tôi lại được hân hạnh gặp gỡ quí Bạn và làm chứng cho Chúa thêm một lần nữa.

Có một số trong các Bạn còn nhớ lần chia xẻ đầu của tôi về Lòng Thương Xót bao la của Chúa, Ngài đã ra tay vào tháng 10 năm 2014 cho Ba tôi, Chúa đã chữa cho Ba khỏi đốt xương sống bị trật,  bật ra khỏi khớp sống vì tai nạn xe cộ, vào dịp đó tôi đã có dịp làm chứng ở trang Web này:

http://thanhlinh.net/node/84301

Cũng như Bạn và nhiều người khác, tôi biết là Lòng Thương Xót của Chúa to lớn đến mức vô giới hạn. Lòng Thương Xót vốn đã có từ hơn hai ngàn năm rồi, trong lịch sử nhân loại, Chúa Giê Su luôn chạnh thương và vô cùng xót xa cho nạn nhân, tội nhân

“Các bệnh tật của ta Ngài đã gánh lấy, Ngài đã vác lấy các nỗi đau thương của ta.” (Mát thêu 8, 17).

Tôi biết là ai tìm đến Chúa với tâm tình tín thác đều lãnh nhận sự chữa lành của Chúa cách này hay cách khác sao cho có lợi ích nhất cho người đó. Chính Kinh Thánh đã nói rất rõ rồi phải không?

“Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem lại cho Ngài mọi kẻ ốm đau và những người bị quỉ ám; Tất cả thành tụ họp lại trước cửa và Ngài đã chữa nhiều người ốm đau mắc đủ chứng bệnh; Ngài trừ quỉ cũng nhiều, và cấm quỉ nói năng vì chúng biết Ngài.” (Mác cô 1, 32-34)

Ngay cả trong thời đại chúng ta, Chúa Giê Su vẫn hành xử giống như khi xưa, sự chữa lành của Chúa thật là tuyệt vời. Vào tháng 7 năm 2015 mới đây, Chị Xuân bạn mới quen mà tôi có dịp gặp trong một dich vụ bảo hiểm, chị rất buồn vì hoàn cảnh gia đình mình đang có nhiều trăn trở, số là anh Sang chồng của chị bị ung thư máu thời kỳ cuối, Bác sĩ cho biết Anh phải ghép tuỷ lại lần thứ hai vì lần đầu cách đây một năm, cách điều trị ghép tuỷ có dầu hiệu thất bại, Anh bị sốt cao độ, đau nhức trong đầu, trong xương khớp và tiêu chảy không ngưng, người hoàn toàn suy kiệt tới mức Anh Sang nghĩ rằng lần đi đến bệnh viện này sẽ là lần chót, anh hoàn toàn suy kiệt trong mọi cơ quan của thân thể và anh nghĩ rằng sẽ không bao giờ còn có cơ hội quay về căn nhà của mình thêm một lần nữa. Khi nghe biết hoàn cảnh của chị, tôi đã cảm thấy đau xót và thương cảm như chính mình đang trải qua các đau thương,khó khăn đó, tôi không thể cầm được nươc mắt, tôi cầu nguyện lòng thương  xót Chúa cho anh Sang, tôi ôm lấy tượng thánh giá với các thương tích loang lổ máu trên thân thể Chúa và dâng hoàn cảnh của Chị Xuân cho Lòng thương xót Chúa, Chị là một người mẹ với bốn con,chị nuôi Mẹ già tám mươi lăm tuổi, bịnh nặng, tài chính một tay chị phải xoay xở, chống chọi, anh Sang thì không thể đi làm nữa, sanh mạng Anh đang gần kề huyệt mộ, thậm chí gia đình đã mua xong phần đất để dành đó cho việc mai táng. Tôi cứ khóc và cầu nguyện, tình yêu thương cho Chị Xuân và cho Anh Sang một tân tòng cứ thấm vào trong tim tôi và làm tôi thao thức, Tôi biết là chỉ có Lòng Thương Xót của Chúa mới có thể cứu gia đình chị, những giọt nước mắt của tôi đã nhỏ trên tượng chuộc tội mà tôi ôm trong tay, có giọt nước mắt nào rơi trên những vết thương rỉ máu của Người? Tôi xin Chúa tỏ uy quyền và tình thương xót Chúa trong đời sống của Anh Sang, một người con mới biết sơ sài về Chúa mà thôi, xin Chúa cứu anh là một Tân Tòng… Còn đang cầu nguyện thì từ bệnh viện chị Xuân gọi phôn cho tôi biết ngay vào thời khắc đó Anh Sang đã tự nhiên ngưng sốt, và ngưng tiêu chảy. Các Bác sĩ ngạc nhiên và tiếp tục theo dỏi, hai mươi bảy tiếng đồng hồ sau khi chúng tôi cầu nguyện cho Anh Sang thì Bác sĩ cho phép Anh Sang xuất viện ngay đúng vào 3 giờ chiều, tức là giờ của Lòng Thương Xót Chúa, giờ mà Chúa Giê Su đã hứa cho bất kỳ ai biết tín thác và cầu nguyện với Lòng Thương Xót Chúa vào giờ đó thì sẽ được nhận lời.

Chúng tôi còn đang vui mừng và tiếp tục cầu nguyện cho anh Sang thì vào Chúa Nhật tuần trước, ngày 23 tháng 8, 2015 , Chúa gởi đến cho nhóm cầu nguyện chúng tôi một nhân chứng của Lòng Thương Xót khác thật là tuyệt vời, tôi xin ghi lại lời của Bác gái chứng nhân, khoảng trên sáu mươi tuổi, như sau:

–          Thưa các Bác, các Anh Chị , tôi được hân hạnh đến Nhóm hôm nay để làm chứng về Lòng Thương Xót Chúa, tôi không biết cách cầu nguyện của Nhóm (mãnh liệt) như thế nào , phần tôi thì cảm nhận được sự linh thiêng khi cầu nguyện vào lúc 3 giờ chiều với Lòng Thương Xót Chúa. Cách nay gần hai năm, con gái lớn của tôi hay bị đau đầu, khi không còn chịu đựng nổi, cháu mới chịu đến bệnh viện, khi chụp cộng hưởng từ, MRI rồi chụp cắt lớp CAT Scan thì khám phá ra là trong đầu cháu có đến 4 khối u ung thư. Cháu được điều trị tại trung tâm ung thư hàng đầu của Texas, bệnh viện M D Anderson, thuộc đại học UT. Tuy nhiên căn bệnh ung thư của cháu đã di căn và phát triển đến giai đoạn cuối cùng, các Bác sĩ đã bó tay, họ không dám mổ cũng không dám đặt kim xạ trị, không thể đụng chạm vào các khối u, tình trạng của cháu được kể là hoàn toàn tuyệt vọng và chỉ còn sống được một thời gian ngắn. Trước hung tin của cháu, tôi rất đau khổ và xúc động, điều này không tốt cho căn bệnh tim mạch và cao huyết áp nặng triền miên của tôi. Khi tôi thường xuyên từ nhà vào bệnh viện thăm cháu, thấy tôi xúc động và quá xao xuyến, cháu đã bình tĩnh nói với tôi, “ Con xin Mẹ đừng vào thăm con nữa vì Mẹ đã biết bịnh tình con sẽ như thế nào rồi. Con không muốn bịnh áp huyết của Mẹ ra nặng bất ngờ và Mẹ bị tai biến tim, tai biến mạch máu não (stroke) mà chết trước con thì khổ lắm. Từ nay, xin đừng vào đây thăm con nữa.” …

Làm thế nào đây? Là người Mẹ tôi phải tìm mọi cách để cứu cháu, tôi biết là chỉ còn có một cách duy nhất, đó là đặt trọn tín thác vào Lòng Thương Xót của Chúa, đêm hôm đó trong thao thức tôi cầu nguyện Lòng Thương Xót Chúa nhiều lần, tôi cứ tiếp tục cầu nguyện Lòng Thương Xót, trước bàn thờ, tôi chăm chú ngước lên nhìn ngắm Lòng Thương Xót Chúa với hết tấm lòng cậy trông xin Lòng Thương Xót Chúa chữa lành cho cháu vì Bác sĩ đã chịu thua cuộc và bó tay rồi. Như một em bé trong cơn đắm thuyền, tôi bám víu vào phao nổi là cứu Chúa với Lòng Thương Xót của Ngài. Tôi vững tin vào Chúa Giê Su, vốn là vị Bác sĩ đại tài, không có một bệnh tật nào mà Ngài không thể cứu chữa dù là 4 cục ung thư não di căn vào thời kỳ cuối. Nó chẳng là gì trong quyền năng của Chúa Giê Su, mạnh tin, tôi tiếp tục cầu nguyện liên lỉ với Lòng Thương Xót Chúa… Rồi trời cũng sáng dần, bắt đầu cho một ngày mới, lúc sau, tôi được cháu cho biết là đêm qua nó đã cảm thấy khỏe khoắn, và cảm thấy dường như có điều gì đã xảy ra trong đầu cháu. Về phần Bác sĩ, họ nhận thấy tình trạng bệnh không còn các cơn đau co thắt người cũng như các dấu hiện bệnh tiến triển, trở nặng. Hai ngày sau, Bác sĩ cho cháu chụp hình lại để xác định bệnh, kết quả MRI, CT đều không tìm ra bướu cũng như bất kỳ dấu vết ung thư hay sự thương tổn nào trong não. Chúa không chỉ chữa ung thư mà còn phục hồi các thương tổn trong não bộ do ung thư gây ra.

Đến nay, cháu đã sống khỏe mạnh, đi làm bình thường được gần hai năm rồi. Kỳ công của Chúa thật là ngoài sức tưởng tượng của các Bác sĩ và mọi người.

Thưa bạn, Lòng Thương Xót và quyền năng của Chúa Giê Su là như thế đó.Thật là uổng phí và thiệt thòi cho ta, nếu ta không biết chạy đến với Lòng Thương Xót Chúa và dìm tâm hồn vào trong biển tình bao la của Chúa kính yêu, vì Chúa luôn mong ngóng ta chạy đến với tình yêu mỏi mòn trong chờ đợi của Chúa.

Chúa phán với thánh nữ Faustina:“Cha khao khát lòng tín thác từ các thụ-tạo của Cha. Con hãy khuyên các linh hồn hết lòng Tín-Thác nơi LÒNG THƯƠNG XÓT vô-biên của Cha…Chớ chi các linh hồn tội lỗi và yếu đuối đừng bao giờ sợ đến với Cha, dù tội của họ có hằng hà sa số như cát đại dương đi nữa, thì tất cả những tội lỗi ấy cũng chìm hết trong Vực Thẳm Tình Yêu Thương Xót của Cha” (NK. 1059)

Không biết là từ bao giờ , tôi đã “ghiền” được cầu nguyện với Lòng Thương Xót Chúa, tôi luôn dùng cách thuận tiện là cầu nguyện Lòng thương Xót Chúa qua cell phone, mỗi ngày vào lúc 2 giờ ở Houston, ( tức là 3 giờ ở NewYork,  múi giờ Miền Đông Hoa Kỳ) chúng tôi lại cùng nhau gọi vào số điện thoại 605-562-3140, sau đó khi nghe đáp thì bấm tiếp số 460922#  để được ca ngợi và cầu nguyện với Lòng Thương Xót Chúa. Chương trình cầu nguyện này được Cha Lê Thanh Quang linh hướng và giảng Lời Chúa mỗi ngày. Bạn có thể tìm hiểu thêm chi tiết ở trang liên kết này http://www.longthuongxotchua-memedju.org/

Xin tạm biệt Bạn và hẹn gặp trong các kỳ chia xẻ cho nhau về tình yêu vô biên của Lòng Thương Xót Chúa.

TC Thua Ở Biển Đông

TC Thua Ở Biển Đông

Ván bài Biển Đông của Trung Cộng là ván bài TC thua lớn. Đó là một ván bài phá sản, chẳng những thua ở Biển Đông mà thua trên toàn cầu nữa.

Ở Á châu Thái Bình Dương, TC trở thành một nước cô đơn vì hành động ngang ngược, thô bạo lấn chiếm biển đảo của các nước trong vùng. Đến đỗi, TC bỏ ra 400 tỷ Đô la mua khí đốt 30 năm để cứu Nga khi Nga bị Mỹ và Liên Âu trừng phạt vì Nga thôn tinh Crimea và xâm lấn Ukraine, mà Nga không lên tiếng giúp một lời cho TC khi TC bị thế giới phản đối vì năm ngoái đưa giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của VN.

VNCS là chế độ cùng CS với TQ, thân tiết lâu đời với TC, mà vì bất bình vấn đề TC lấn chiếm biển đảo, càng ngày càng xích lại gần Mỹ. Chuyến đi Mỹ của Tổng Bí Thư Đảng CSVN Nguyễn phú Trọng, được TT Obama đặc cách tiếp rước trong phòng Bầu Dục cho thấy tiến trình phát triển đối tác chiến lược giữa Washington và Hà nội càng ngày càng chặt.

Quậy đục nước biển, ngập đảo ở Biển Đông, TC vô tình tạo cơ hội cho Mỹ trở về Á châu, bao vây TC với chiến lược chuyển trục quân sự, tái cân bằng lưc lượng và bao vây kinh tế TC với chủ trương thành lập TPP, gồm 12 nước của đôi bờ Thái Bình Dương, có VNCS mà không có TQCS.

Nếu tính tốn kém công của, TC tốn kém hơn Mỹ quá nhiều. Nào phải đưa đủ loại tàu, máy bay, giàn khoan, liên tục ra để chứng tỏ sự hiện diện trên các vùng biển, đảo mà TC giành giựt của các nước, nhưng chưa chiếm được một đảo mới nào. Trừ Hoàng sa và Trường sa của VN, TC đã lấy vào thời Chiến Tranh Lạnh.

Nhung nếu tính tổn thất ngoại giao, giao thương trong vùng Á châu Thái Bình Dương và trên thế giới nữa, thì TC tổn thất vô số kể. Xuất cảng giảm 7 tới 8% khá lâu, thị trường chứng khoán tuộc dốc liên tục, hầu hết các nguyên thủ quốc gia Tây Âu, Bắc Mỹ không dự cuộc diễn binh lớn nhứt mà TC muốn giương oai diệu võ trở thành đại siêu cường quân sự, là những dấu chỉ hiện tiền TC thất bại kinh tế, chánh trị ngoại giao.

VNCS là một đồng minh, đồng chí của TC mà vẫn không chịu nổi TC, đang tìm đủ mọi cách để phát triển hợp tác toàn diện với Mỹ. Nói theo kiểu bình dân của phó thường dân Nam bộ, thì TC làm mọi cho Mỹ hưởng. Nói theo lẽ được thua, lợi hại của chánh trị ngoại giao thì TC làm hùm, làm hổ vô tình lùa các nước Á châu Thái Bình Dương vào vòng ảnh hưởng của Mỹ, tạo thêm uy thế, uy lực cho Mỹ như lá chắn che chở các nước, tạo thời cơ thuận lợi cho Mỹ chuyển trực quân sự sang Á châu Thái Bình Dương, được Nhựt, Úc phần nào chia xẻ công tác và quân phí.

Bên cạnh đó để ngăn chận TC bành trướng, với sự yểm trợ của Mỹ nhiều liên minh phòng chống TC đã thành hình: Mỹ, Nhựt, Úc, Ấn; Nhựt, Phi, Việt, Mã.

Các nước trong ASEAN, TC viện trợ hào phóng như Miên, Lào, cũng không mạnh dạn phò tá TC trong hội nghị ASEAN.

Đứng trên phương diện bành trướng, mở rộng, chiếm cứ đất đai, biển đảo, TC tranh giành biển đảo của Nhựt, Phi, Việt nhưng đâu có hoàn toàn chiếm đóng được. Những nước này cũng còn một số đồn bót, cơ sở song song với TC. TC cũng chưa khai thác tài nguyên gì được. Nhưng TC tốn kém rất nhiểu để lắp biển, bồi đảo, xây cất công trình để chứng tỏ chủ quyền nhưng chẳng có nước nào thừa nhận.

Và quan trọng nhứt TC, cũng chưa có thể kiểm soát Biển Đông dù sau khi quân sự hoá, lập đảo nhân tạo, phi đạo ở quần đảo Trường sa. Mỹ đã nhơn danh bảo vệ tụ do hàng hải, hàng không vùng Biển Đông, cho tàu và máy bay tuần tra, TC không thể nào kiểm soát được con đường hàng hải huyết mạch mà Biển Đông là hành lang của nó.

Xét về như cầu chiến lược, TC cần tự do hành hải, cần hoà bình ổn đinh của Biển Đông trước đây hơn sau khi TC mưu toan bành trướng kiểm soát. TC cần an ninh đối với các tuyến hàng hải ở Biển Đông, và phụ thuộc vào chúng nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác.

Dù đây là con đường hàng hải 70% hàng hoá sản xuất của thế giới qua đây, dù mỗi năm 5.000 tỷ Mỹ kim hàng hoá Mỹ qua lại đây. Nhưng nền kinh tế sống còn của TC, nhập cảng nguyên liệu, xuất cảng hàng hoá, đánh bắt cá của TC, một nước mà TC tự hào là công xưởng của thế giới cần thiết và lệ thuộc con đường hàng hải huyết mạch nay hơn bất cứ nước nào.

TC quậy nhưng không thể nào chiếm lấy được con đường hàng hải này. Có xung đột, TC là nước chết trước vi bị Mỹ, Nhựt, Úc, Ấn phong toả, kinh tế TC sẽ suy sụp trong vòng 2 tháng nếu bị phong toả. Một minh Mỹ thừa sức phong toả vì hải lực của TC chỉ bằng ¼ của Mỹ.

Ngay khi TC khống chế được Biển Đông, thì các quốc gia khác, ngoại trừ Trung Quốc, vẫn còn có một con đường khác để vận chuyển; đó là những tuyến đường xung quanh sườn phía nam Indonesia. Cụ thể là eo biển Lombok, eo biển Ombai, eo biển Makassar và biển Philippines – chỉ tốn kém thơi gian và nhiên liệu hơn thôi.

Trong khi đó, Trung Quốc hoàn toàn phụ thuộc Biển Đông vì mô hình phát triển kinh tế của nước này dựa vào các ngành công kỹ nghệ sản xuất hàng rẻ để xuất cảng nằm theo bờ biển và ở miền Nam TQ, như các hải cảng đặt tại Hồng Kông, Thẩm Quyến và Quảng Châu. 40% GDP của TC đến từ xuất cảng; bất an, lộn xộn ở Biển Đông sẽ bóp nghẹt nền kinh tế Trung Quốc.

TC làm lợi cho Nhựt, là kỳ phùng địch thủ kinh tế, quân sự của TC trong lịch sử và hiện kim. Vì TC bành trướng Mỹ để cho Nhựt gián tiếp tu chỉnh hiến pháp chủ hoà, được tăng cường, hiện đại hóa quân đội và có quyển viện trợ các nước và đưa quân ra ngoại quốc qua đạo luật gọi là “phòng vệ tập thể.” Hạ Viện đã thông qua và Thượng Viện cũng thế vì Đảng của Thủ Tướng Abe đều đa số ở lưỡng viện. Mỹ còn yểm trợ Nhựt làm đầu máy kéo thúc đẩy, viện trợ cho các liên minh chống TC trong vấn đề biển đảo ở Á châu và Úc Châu Thái Bình Dương nữa.

Trên phương diện tâm lý chánh trị toàn thế giới, vì vấn đề Biển Đông, TC trở thành nước bị “thiên hạ” ghét nhứt.

Mới đây Trung tâm nghiên cứu Mỹ Pew Research Center, một trung tâm điều tra có uy tín, đã thăm dò dư luận ở 44 nước trên thế giới, trong thời gian từ 18/4 đến 8/5/, công bố kết quả ngày 14/07/2014, cho thấy tổn hại của TC và lợi lộc của Mỹ, liên quan đến hành động của TC dùng sức mạnh, ngang ngược giành giựt biển đảo của các nước Á châu Thái Bình Dương. Việt Nam, Nhật Bản và Philippines là ba quốc gia dân chúng coi TC là mối đe dọa lớn nhất, và Mỹ là đồng minh đáng tin cậy nhất. 74% người Việt ở VN, 68% người Nhựt và 58% Phi luật tân coi TC là chế độ nguy hiểm nhứt. Hàn Quốc 83%, và Ấn Độ 72% cũng lo ngại TC. Trung tâm Pew đặc biệt ghi nhận lo ngại về nguy cơ chiến tranh có thể xảy ra vì TC. Tỉ lệ lo ngại này cao nhất ở Philippines 93%, Nhật 85%, Việt Nam 84% và Hàn Quốc 83%. Hai phần ba người Mỹ được hỏi (67%) cũng lo lắng chiến tranh có thể xảy ra vì mâu thuẫn lãnh thổ giữa Trung Quốc và các nước.

Mấy tháng trước đây, tổ chức PEW có tổ chức một cuộc thăm dò, kết quả cho thấy đại đa số cho TC là một siêu cường, nhưng bị ghét nhứt thế giới. Ghét TC nhứt là dân Mỹ, kế là Đức, Hàn Quốc, Philippines và Nhật Bổn.. Mỹ đệ nhứt siêu cường thế giới thì coi TC là kẻ thù số 1, theo thăm dò của Viện Gallup.

Thành ra không những TC thua Mỹ ở Biển Đông mà thua trên toàn cầu. TC càng quậy nữa thì càng lún, càng chìm./.(Vi Anh).

2 tháng 9 – Hãy thôi kèn trống nhộn nhạo ăn mừng!

2 tháng 9 – Hãy thôi kèn trống nhộn nhạo ăn mừng!

Song Chi

RFA

000_Hkg10206358-622.jpg

Nhà cầm quyền VN tưng bừng kỷ niệm 70 năm VN tuyên bố độc lập.

AFP

Vào ngày 9.8.2015 vừa qua Singapore đã long trọng kỷ niệm 50 năm ngày độc lập của đảo quốc này. Thực sự, chính phủ và người dân Singapore hoàn toàn có thể tự hào, vui sướng vì những gì mà họ đã đạt được. Chỉ sau 50 năm đối với một quốc gia nhỏ bé, thuộc địa cũ của Anh quốc, nay Singapore đã phát triển nhanh chóng trở thành một trong những quốc gia giàu có nhất thế giới, với những thành tựu nổi bật về kinh tế, giáo dục, y tế. Và mặc dù vẫn còn bị chỉ trích là một chính phủ độc tài, cũng như sự thiếu vắng về tự do ngôn luận và chính trị, nhưng ít nhất người dân Singapore đã và đang được sống trong một xã hội ấm no, thịnh vượng, thượng tôn pháp luật, chính phủ minh bạch. Đất nước này nhận được sự ngưỡng mộ của các nước, là một trong những biểu tượng hóa rồng nhanh chóng của khu vực và thế giới.

Sắp tới, có lẽ người Đức sẽ kỷ niệm 25 năm thống nhất đất nước (3.10.1990-3.10.2015) và họ cũng hoàn toàn có thể tự hào, hạnh phúc vì đã thống nhất không đổ máu, và vì Tây Đức không bị Đông Đức quyết tâm “giải phóng” bằng mọi giá nên khi cần thiết, người dân cả hai miền có cơ hội để so sánh và lựa chọn một thể chế tốt đẹp hơn. Sau 25 năm, người Đức đã nỗ lực rất nhiều để san bằng khoảng cách giữa hai miền Đông-Tây và nước Đức hiện nay là đầu tàu về kinh tế cũng như trong nhiều lĩnh vực khác ở châu Âu.

Đừng quên, Đức là nước đại bại trong chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Một quốc gia khác cũng bị đại bại và phải chịu sự chiếm đóng của nước ngoài là Nhật Bản, nhưng từ sau chiến tranh, Nhật tập trung phát triển kinh tế, và chỉ đến cuối thập niên 60 của thế kỷ XX Nhật Bản đã hoàn thành công cuộc công nghiệp hóa, trở thành một nước tư bản phát triển. Nhắc đến Nhật là nhắc đến những thành tựu về kinh tế, đặc biệt về công nghiệp điện tử, kim khí, máy móc, xe hơi, hàng tiêu dùng… với những thương hiệu hàng đầu thế giới và đảm bảo uy tín về chất lượng; là nhắc đến những giá trị Nhật Bản không chỉ trong kinh tế mà cả về văn hóa, con người.

Kỷ niệm 70 năm chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, và sự thất bại của chủ nghĩa phát xít (9.1945-9.2015), vào thời điểm này, người Nhật có thể nhẹ nhàng, không mặc cảm khi nhìn lại quá khứ, không những thế, họ có quyền tự hào vì đã thay đổi hướng đi và đã từ đống tro tàn vươn mình đứng dậy.

Và còn nữa, những ví dụ khác của thế giới…

Chỉ mình đảng “tự sướng”?

Ngày 2.9 năm nay nhà cầm quyền VN cũng tưng bừng kỷ niệm 70 năm VN tuyên bố độc lập và được lãnh đạo bởi đảng cộng sản. Một chương trình kỷ niệm hoàng tráng và tốn kém đã được chuẩn bị tử trước đó mấy tháng. Tất nhiên, truyền thông nhà nước sẽ được chạy hết công suất để ca ngợi công ơn đảng và nhà nước, để nhắc đến những thành tựu của “thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử, thời đại Hồ Chí Mính” v.v và v.v…

000_Hkg10206480-400.jpg

Nhà cầm quyền VN tưng bừng kỷ niệm 70 năm VN tuyên bố độc lập. AFP PHOTO.

Thế nhưng có thật 90 triệu người dân cảm thấy tự hào, vui sướng hay chỉ mình đảng “tự sướng”?

Có gì đáng để vui mừng cho 70 năm của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN nếu nhìn sang những thành tựu của nhiều nước khác, với thời gian ngắn ngủi hơn?

VN hôm nay có thật là một quốc gia độc lập, tự do, hạnh phúc như câu nói luôn luôn xuất hiện trong mọi văn bản, giấy tờ của nhà nước?

Ngay từ đầu, đảng cộng sản đã chọn con đường giành độc lập bằng hình thức bạo lực cách mạng, sau này lại lựa chọn thống nhất đất nước bằng chiến tranh, giữ chính quyền bằng bạo lực và sự cai trị, bất chấp nhân tâm, sự lựa chọn đó đã dẫn đến quá nhiều đau thương, mất mát. Cuộc nội chiến 20 năm với hơn 3 triệu người đã ngã xuống, lẽ ra hoàn toàn có thể tránh được, tiếp đó lại chiến tranh biên giới với Trung Cộng, cuộc chiến với Campuchia…đã tàn phá đất nước, hủy hoại sinh lực của dân tộc VN. Bên cạnh đó là vô số những chính sách sai lầm về kinh tế, quản lý đất nước, sử dụng con người, đẩy đất nước thục lùi hàng chục, hàng trăm năm về nhiều mặt, hàng triệu người bỏ nước ra đi trong đó gần một nửa vĩnh viễn nằm lại dưới biển sâu, tạo nên một trong những cuộc di dân lớn nhất trong lịch sử VN và cả thế giới trong thế kỷ XX.

Cho đến tận hôm nay, VN vẫn bị kìm hãm không thể phát triển vì những cải cách nửa vời không triệt để, vì tầm nhìn hạn hẹp, vị kỷ, chỉ muốn bám chặt lấy quyền lực bằng mọi giá của đảng và nhà nước cộng sản.

Hậu quả VN ngày nay đứng ở đâu trên thế giới, đã đạt được những thành tựu gì, đóng góp được gì cho nhân loại, vị thế của VN và ngay cả của người Việt trong mắt bạn bè thế giới như thế nào… Đó là những câu hỏi không khó để trả lời.

Nhà nước cộng sản VN đã tự sướng, đã ngất ngây với những thành tích chiến thắng quá đủ và quá lâu rồi. Giờ là lúc hãy nhìn thẳng vào sự thật, để biết đau biết nhục vì sự thua kém về nhiều mặt của đất nước so với các nước khác, vì người dân mình đa số vẫn còn nghèo quá, khổ quá, vẫn còn phải chạy vạy kiếm ăn từng bữa và hàng triệu người khác đang tha hương tứ xứ đi làm thuê khắp thế giới trong lúc hàng chục, hàng trăm ngàn người khác nữa vẫn đang tiếp tục tìm mọi cách bỏ nước ra đi…

Dù ở thế kỷ XXI, những khái niệm về tự do, dân chủ, những quyền con người căn bản vẫn còn là xa xỉ với người Việt.

Cần sám hối thay vì dửng dưng trước thời cuộc

Chưa bao giờ nhà nước này biết sám hối, biết nói một câu hay có một hành động tỏ sự hối tiếc, ân hận cho những sai lầm, những tội ác mà họ đã gây ra cho đất nước này, dân tộc này.

Và không chỉ riêng đảng và nhà nước cộng sản VN phải sám hối.

Tất cả chúng ta, hơn 90 triệu người VN trong và ngoài nước cũng cần cảm thấy nhục, đau thay vì vui mừng, cần sám hối thay vì dửng dưng trước thời cuộc.

Tất cả những người dân miền Bắc thuộc thế hệ U90 cho tới U50 đã từng tin vào những lởi đảng cộng sản nói, đã từng góp phần vào xây dựng nên chế độ này, hãy sám hối, như những người đã nhận ra sự thật. Như tướng Trần Độ, nhà báo Bùi Tín, nhà văn Vũ Thư Hiên, nhà văn Dương Thu Hương, cựu lãnh sự VN tại Geneva Đặng Xương Hùng, nhà báo Lê Hiếu Đằng và nhiều, rất nhiều những người khác, như những lời tâm sự chân thành của hai anh em đảng viên đảng cộng sản Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn trong bài “Phỏng vấn Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn-Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài”, do tác giả Phạm Hồng Sơn thực hiện, đăng trên Talawas từ tháng 4.2012:

“…Phạm Hồng Sơn: Nếu được sống lại thời tuổi trẻ một lần nữa, các ông có tiếp tục ủng hộ và đi theo Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam hay ĐCSVN?

Huỳnh Nhật Hải: Không, không bao giờ.

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi sẽ phải bình tĩnh hơn, tìm hiểu xem họ có ủng hộ và có tư tưởng dân chủ thực sự không, chứ không thể chỉ căn cứ vào lời nói và tuyên truyền của họ. Theo tôi, vấn đề dân chủ phải được đặt cao hơn vấn đề dân tộc vì chỉ có dân chủ mới giúp cho dân tộc được tự do đúng nghĩa và khi đó đất nước mới có nền độc lập bền vững.

….

Phạm Hồng Sơn: Nếu bây giờ vô tình hai ông gặp lại một người là cựu viên chức cũ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và người đó chính là “kẻ thù” của ông trước 1975, điều trước tiên hai ông muốn nói là gì?

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay. Và nếu xét về những căn bản để bảo đảm tự do cho nhân dân và độc lập cho dân tộc thì tôi cũng đã vô tình góp công sức đưa những người mang danh là “cách mạng” nhưng thực chất là vì quyền lực tới phá bỏ một chế độ đã được xây dựng trên những căn bản về tự do, dân chủ và nhân bản tại miền Nam Việt Nam.

Huỳnh Nhật Hải: Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc.”

Không chỉ những thế hệ trước, tất cả những ai còn đang hưởng lợi lộc từ chế độ này nên quyết tâm bảo vệ chế độ đến cùng bất chấp lợi ích của đất nước, nhân dân. Những ai đến giờ này vẫn lợi dụng những kẻ hở của chế độ để đục khoét, vơ vét tài sản của đất nước, tiền thuế của nhân dân, làm giàu từ tham nhũng, từ những cung cách làm ăn bất chính, bất chấp những hậu quả thiệt hại nặng nề mà họ gây ra. Những ai cho đến giờ này vẫn ra sức bảo vệ, bưng bô chế độ, tiếp tục nói dối để lừa mị nhân dân.

Từ những công an viên, cánh tay đắc lực bảo vệ đảng, dựa vào đảng, vào nhà cầm quyền để tác yêu tác quái, xách nhiễu, hành hạ dân chúng, thậm chí bạo hành dân đến chết trong trại tạm giam, những dư luận viên ngày đêm ném đá, bôi nhọ, vu khống những người dám nói lên sự thật cho tới những “bồi bút”, “văn nô” ngày đêm sơn phết, tụng ca chế độ bất chấp lương tâm và lòng xấu hổ, những trí thức mũ ni che tai, trùm chăn với thời cuộc, tự cho mình là khôn ngoan, hoặc còn đang mải mê kiếm thêm danh lợi…

Vả phía bên thua cuộc, không chỉ những người tham gia vào cuộc chiến hay lớn lên ở miền Nam trước 1975 cần sám hối vì đã không thể giữ được miền Nam, dù biết rằng do những điều kiện khách quan, do bàn cờ thế cuộc được sắp xếp giữa các nước lớn, nhưng giá như hồi đó người miền Nam tỉnh táo hơn, quyết liệt hơn, thậm chí thủ đoạn hơn, cộng sản có lẽ đã không thể thắng. Và những con người vì ngây thơ chính trị hay vì nhẹ dạ, từng “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”, góp phần dẫn đến sư sụp đổ của VNCH…

Không chỉ họ, thế hệ hôm nay trong và ngoài nước, trong đó có tôi, có chúng ta, cần phải sám hối bởi vì dựng nên chế độ là trách nhiệm của các thế hệ trước, nhưng giúp cho chế độ tồn tại là trách nhiệm của thế hệ hôm nay. Chúng ta đã quá giỏi chịu đựng nên chế độ này mới tồn tại lâu đến thế.

Sám hối để quặn lòng đau cho đất nước, để xót thương cho dân mình, cũng là thương chính mình và con cháu mình.

VN còn là một “quốc gia khó phát triển, không chịu phát triển” cho đến bao giờ?

Song Chi

Thật kỳ lạ

Thật kỳ lạ

Thật kỳ lạ khi thấy một tờ giấy bạc có giá trị quá lớn khi bỏ vào giỏ nhà thờ, nhưng lại quá nhỏ khi đi chợ mua sắm!

Thật kỳ lạ khi thấy một tiếng đồng hồ ở trong Nhà Chúa sao mà lâu thế, nhưng nếu mà đi xem xi-nê thì lại quá lẹ !

Thật kỳ lạ khi cầu nguyện thì chẳng biết nói gì, nhưng khi nói chuyện với bạn bè thì lại chẳng hết chuyện cà kê dê ngỗng để nói!

Thật kỳ lạ vì chúng ta thấy rất hồi hộp khi trận đá bóng phải kéo dài thêm mấy phút phụ trội, nhưng lại cầm ràm khi một bài giảng Thánh Lễ có vẻ dài hơn mọi khi!

Thật kỳ lạ vì chúng ta thấy khó khăn khi phải đọc một đoạn Kinh Thánh, nhưng lại rất dễ dàng đọc hàng trăm trang tiểu thuyết liên tu bất tận !

Thật kỳ lạ khi thấy nhiều người thích ngồi những hàng ghế đầu khi đi dự những buổi đại nhạc hội hay các trận đấu bóng, nhưng lại cứ tìm chỗ ngồi ở những hàng ghế cuối trong thánh đường!

Thật kỳ lạ khi chúng ta cần phải mất đến hai,ba tuần lễ trước để sắp xếp thời giờ cho những công việc của Nhà Chúa, nhưng lại dễ dàng thích ứng thời giờ cho những chương trình khác trong chớp nhoáng vào phút chót!

Thật kỳ lạ sao thấy quá khó khăn để nhớ một đoạn Kinh Thánh hầu có thể thuật lại cho người khác, nhưng lại rất dễ dàng để hiểu và nhớ những lời đàm tiếu gièm pha để kể cho người khác nghe!

Thật kỳ lạ sao chúng ta rất dễ tin những gì báo chí đăng tải, nhưng lại tỏ ra nghi ngờ, đặt vấn đề này kia về vấn đề Kinh Thánh dậy!

Thật kỳ lạ sao ai cũng muốn được lên Thiên Đàng mà lại không phải tin, không phải suy nghĩ, không phải nói hay làm gì cho đàng hoàng cả!

Thật kỳ lạ khi có thể gởi các câu chuyện bù khú tiếu lâm qua e-mail và nó sẽ được chuyển đi thật nhanh, nhưng khi gởi những gì liên quan đến Thiên Chúa thì người ta lại suy nghĩ cẩn thận xem có nên gởi đi chia sẻ với người khác hay không?

————————————————————————————

Học cả đời cũng chưa chắc làm được?

Một người nghèo hỏi Đức Phật: “Tại sao con nghèo như thế?”

Phật nói: “Vì con chưa học được cách bố thí cho người khác.”

Người ấy nói: “Con không có thứ gì cả, thì lấy gì con bố thí.”

Đức Phật dạy: “Cho dù con hoàn toàn không có cái gì, con vẫn có thể thực hiện bố thí 7 điều này:

1. – Bố thí nụ cười,

2. – Bố thí ái ngữ, nói lời hay.

3. – Bố thí tâm hòa ái, lòng biết ơn.

4. – Bố thí ánh mắt nhìn thẳng hiền từ.

5. – Bố thí hành động nhân ái.

6. – Bố thí nhường chỗ cho người cần.

7. – Bố thí lòng bao dung

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Tại sao Kitô Giáo phát triển nhanh tại Trung Hoa Cộng Sản?

Tại sao Kitô Giáo phát triển nhanh tại Trung Hoa Cộng Sản?

Vũ Văn An

(Viết theo “A Star in the East: The Rise of Christianity in China”)

Kitô giáo đang phát triển rất nhanh tại Trung Hoa Cộng Sản. Nguyên nhân rất có thể là vì đức tin phù hợp với kỹ thuật khoa học hiện đại.

Theo nhà xã hội học Rodney Stark, con số Kitô hữu tại Trung Hoa đang gia tăng ở mức 7% mỗi năm.

Rodney Stark và Xiuhua Wang là tác giả một cuốn sách xuất bản năm 2915 tựa là “A Star in the East: The Rise of Christianity in China” (Ngôi Sao Phương Đông: Sự Gia Tăng Kitô Giáo tại Trung Hoa). Stark tự coi mình là nhà sử học xã hội và hiện là đồng giám đốc của Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo tại ĐH Baylor.

Hai tác giả trên ước tính rằng năm 1980, tại Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, chỉ có 10 triệu Kitô hữu, nhưng đến năm 2007, con số ấy là 60 triệu người, nghĩa là tính trung bình, mỗi năm sự gia tăng lên tới 7%. Như thế có nghĩa năm 2014, tổng số Kitô hữu tại Cộng Hòa này lên tới 100 triệu người.

Họ cho rằng sự gia tăng đáng kể trên do sự trở lại của những người được học hành nhiều hơn. Đây là lớp người đang cảm nghiệm một thứ bất tương hợp nào đó giữa nền văn hóa Á Châu cổ truyền và tính hiện đại trong lãnh vực khoa học kỹ thuật, một bất tương hợp đang tạo ra lỗ hổng tâm linh mà chỉ có Kitô Giáo mới lấp đầy.

Stark nói với hãng tin CNA ngày 14 tháng Tám vừa qua rằng các nhà trí thức Trung Hoa xác tín cao độ rằng họ phải hướng về Tây Phương mới có thể hiểu được thế giới họ đang sống… và họ xác tín rằng các tôn giáo Đông Phương không tương hợp với thế giới hiện đại, do đó họ cần hướng về Tây Phương để tìm triết lý và tôn giáo.

Theo Stark, các tôn giáo Đông Phương như Lão Giáo, Khổng Giáo và cả Phật Giáo nữa, đều phản tiến bộ; tất cả đều cho rằng thế giới đang đi xuống so với dĩ vãng vàng son, nên ta phải nhìn lại đàng sau, chứ không nhìn về đàng trước. Không tôn giáo nào trong số này thừa nhận rằng ta có khả năng hiểu được bất cứ điều gì đó về vũ trụ: vũ trụ này là một điều để ta chiêm niệm, chứ không phải là một điều để chúng ta thử nghiệm và lên lý thuyết về, vốn là việc thông thường của các nhà vật lý và hóa học. Quan điểm ấy không phù hợp với thế giới mà Trung Hoa hiện đại đang cảm nghiệm.

Stark tin rằng xã hội kỹ nghệ không có chỗ đứng thích hợp trong các quan điểm tôn giáo như trên. Và đây là động lực chính của việc Kitô giáo hóa Trung Hoa. Nó giải thích tại sao những người Trung Hoa có học nhất đã hăng say nhất trong việc gia nhập tôn giáo này.

Ông cũng cho rằng việc phát triển Kitô Giáo tại Trung Hoa sở dĩ đã diễn ra ngay cả thời kỳ bách hại dữ dằn nhất thời Cách Mạng Văn Hóa của Mao Trạch Đông, là vì “diễn trình trở lại này là một diễn trình vô hình; chính phủ không thể nhìn thấy nó”.

Theo Stark, việc trở lại đạo chủ yếu diễn ra nhờ các mạng lưới xã hội, nên nó vô hình đối với chính phủ. Ông cho rằng người Trung Hoa sống tại các khu vực nông thôn trở lại Kitô Giáo nhiều hơn người thị thành vì các nối kết xã hội của họ mạnh mẽ hơn, và nhờ thế, Kitô Giáo được truyền ở đó dễ dàng hơn.

Những cuộc gặp gỡ theo kiểu dựng lều của phong trào phục hưng (Revivalist tent meetings) không phải là cách ở đây, vì ở đây, người ta tụ tập cách thân mật hơn, âm thầm hơn.

Các nhà truyền giáo Công Giáo đã từng có mặt ở Trung Hoa từ thế kỷ 16, và tới năm 1949, khi Cộng Sản kiểm soát toàn bộ đất liền, số người Công Giáo là gần 3.3 triệu với hơn 5 nghìn nhà truyền giáo ngoại quốc. Nay con số ấy khoảng trên dưới 13 triệu người.

Chính phủ Cộng Sản trục xuất tất cả các nhà truyền giáo ngoại quốc và lập ra Hội Công Giáo Ái Quốc Trung Hoa, một thứ Giáo Hội Công Giáo do chính phủ kiểm soát. Giáo Hội này hiện hữu đối nghịch với Giáo Hội hầm trú hiệp thông với Tòa Thánh. Giáo Hội hầm trú này bị bách hại nặng nề và việc đề cử giám mục thường không được nhà cầm quyền Trung Hoa nhìn nhận.

Tuy nhiên, theo Stark, việc tấn phong giám mục phụ tá Joseph Zhang Yinlin ngày 4 tháng Tám vừa qua là tin quan trọng nhất, theo viễn tượng Công Giáo, phát xuất từ Trung Hoa trong nhiều năm qua.

Đức Cha Zhang được cả chính phủ Trung Hoa lẫn Tòa Thánh công nhận, một việc rất đáng chú ý, vì việc đề cử giám mục từng là phạm vi tranh chấp nổi bật nhất giữa đôi bên trong suốt 60 năm qua.

Stark cho rằng đây là một thỏa thuận rất lớn vì suốt từ năm 1950, nhà cầm quyền Trung Hoa vẫn bác bỏ sự dính líu của bất cứ tôn giáo nào có mối liên kết với ngoại bang. Ông cũng cho rằng người Thệ Phản dễ dàng chấp nhận chính sách này, nhưng người Công Giáo thì không. Đối với họ, không có chuyện bác bỏ Rôma được.

Stark nhắc lại vụ tấn phong giám mục đầy sóng gió cho Đức Cha Thaddeus Ma Daqin năm 2012: ngài vốn thuộc Hội Công Giáo Ái Quốc nhưng khi được tấn phong, đã long trọng tuyên bố từ bỏ Hội này, khiến bị giam tại nhà cho tới nay.

Dựa vào trường hợp trên, Stark cho rằng vì đã có sự thoả thuận giữa Bắc Kinh và Vatican về việc cử nhiệm Đức Cha Zhang, nên không còn lý do gì khiến người Công Giáo cứ tiếp tục hầm trú nữa. Ông cho rằng phần lớn người Công Giáo Trung Hoa, kể cả những người Công Giáo Ái Quốc, đều là những người Công Giáo đích thực, họ chỉ giả vờ “ái quốc” mà thôi.

Sự thay đổi trong ba năm nay, từ ngày tấn phong Đức Cha Ma tới ngày tấn phong Đức Cha Zhang, quả là lớn lao: “Tôi hết sức ngạc nhiên trước sự thay đổi này”.

Stark có phần thái quá khi cho rằng tại nhiều ngôi làng, các lãnh tụ Cộng Sản địa phương công khai tuyên xưng đức tin Kitô Giáo của mình bằng cách đặt Thánh Giá ở cửa ra vào, trên tường nhà. Ông cũng cho hay, tại các thành phố, Kitô hữu kín đáo hơn, nhưng rất đông con cái nam nữ của các viên chức Cộng Sản trở lại Kitô Giáo. Và nếu tới khuôn viên các đại học ưu tú, bạn sẽ hết sức ngạc nhiên trước hiện tượng các Kitô hữu cảm thấy như ở nhà, theo cách mà “bạn không thấy tại các cao đẳng Kitô giáo Hoa Kỳ”.

Thậm chí ông cho rằng có rất nhiều giáo sư Kitô Giáo, và Kitô Giáo mạnh nhất tại các đại học nơi các đảng viên tương lai của Đảng Cộng Sản theo học. Đây có thể là thành phần của điều đang xẩy ra ở hậu trường: càng ngày người ta càng cảm thấy khó chịu khi phải đẩy lui Kitô Giáo.

Tiếp tục triệt hạ thánh giá

Nhiều người nhắc tới sự kiện mới đây: Đài Truyền Hình Trung Hoa, hôm thứ Bẩy, 15 tháng Tám vừa qua, đã dành một chương trình đặc biệt về Đức Phanxicô khi tường thuật lời lẽ hiệp thông của ngài đối với thảm họa nổ hóa chất tại Thiên Tân khiến hơn 100 người chết và rất nhiều người bị thương.

Chương trình truyền hình trên cộng với việc tấn phong Đức Cha Zhang mới đây được nhiều người chào đón như một dấu chỉ tích cực. Tuy nhiên, không ai quên được sự kiện này: Chủ Tịch Trung Hoa, Xi Jinping, tiếp tục chính sách bài Kitô Giáo của ông ta: các lực lượng an ninh nhà nước đục bỏ thánh giá khỏi các tháp cao, vòng cung, mái nhà của gần 4,000 ngôi nhà thờ ở tỉnh Zhejiang.

Thành thử nhà báo John Allen cho rằng cần phải thận trọng trước sự cởi mở của Trung Hoa đối với Đức Phanxicô, không nên giải thích quá lạc quan đối với một câu truyện đã kéo dài cả 60 năm nay. Allen ngầm cho hiểu: đây có thể chỉ là chiến lược “lùi một bước tiến hai bước” cũ mèm của Trung Hoa.

Về việc Đài Truyền Hình Trung Hoa dành chương trình đặc biệt nói về Đức Phanxicô một cách có thiện cảm, theo Allen, chỉ là để phục vụ mục tiêu chính trị ngắn hạn chứ không hẳn để khai quang nẻo đường tiến tới bang giao trọn vẹn.

Mục tiêu ấy là cố gắng của Chủ Tịch Jinping trong việc làm tịt ngòi các chỉ trích nội bộ cho rằng vụ nổ là do luật lệ an toàn kỹ nghệ không thỏa đáng. Trong bối cảnh này, việc làm nổi lời hiệp thông đáng kính của các nhà lãnh đạo thế giới, nhất là của giáo hoàng, sẽ làm dân Trung Hoa tin rằng đây là việc làm của Ông Trời, chứ không hẳn do sơ xuất của con người.

Allen cho biết thêm rằng việc tấn phong Đức Cha Zhang cũng nhằm mục tiêu chính trị ngắn hạn, tức làm dịu sự chống đối của người Công Giáo tại Tỉnh Zhejiang trước việc các lực lượng an ninh chính phủ được huy động triệt hạ các thánh giá khỏi gần 4,000 nhà thờ.

Chứ nếu nới rộng gọng kìm kiểm soát tôn giáo, tại sao họ không trả tự do cho Đức Cha Ma Daqin bị giam đã hơn 3 năm qua?

Cho tới nay, vẫn còn ít nhất 2 vị giám mục Công Giáo khác và 6 vị linh mục đang ngồi tù tại Trung Hoa từ năm 1997. Mới tháng Hai vừa qua, thân nhân của Đức Cha Cosmas Shi Enxiang, 94 tuổi, được nhà cầm quyền thông báo là ngài đã qua đời. Đó là tin tức đầu tiên về vị giám mục này kể từ ngày ngài bị bắt cách nay 14 năm, đúng vào Thứ Sáu Tuần Thánh năm 2001; hết phân nửa thời gian này, ngài phải lao động khổ sai ở tuổi trên 80!

Chính vì thế, các chuyên gia lâu đời về tự do tôn giáo khó có thể vội kết luận rằng các dấu hiệu cởi mở trên có tính quyết định.

Riêng đối với Vatican, phương thức lâu nay vẫn là hướng về hòa giải với Bắc Kinh qua việc nhấn mạnh rằng: người ta có thể vừa là người Công Giáo tốt vừa là một công dân Trung Hoa hết dạ trung thành. Điều này có nghĩa tránh né bất cứ tuyên bố hay cử chỉ công khai nào xem ra khiêu khích và tìm đủ dịp để chứng tỏ thiện chí. Phương thức này có thể được coi như một phán đoán tốt, nhưng cũng có thể bị coi như một thiếu gân cốt, tùy theo quan điểm từng người. Dù sao, theo Allen, không nên vội vã ngả theo một trong hai suy đoán vừa kể.

Stark cũng tường trình về vụ triệt hạ thánh giá tại tỉnh Zhejiang nhưng lại cho rằng thứ bách hại có tính địa phương hóa này có thể vì người đứng đầu tỉnh ấy tỏ ra phẫn nộ trước việc nới lỏng tại các nơi khác.

Vũ Văn An

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

 

Tôn giáo và các Lớp Dậy Nghề Tại các Quận 6, 7, 8 Sài Gòn

Tôn  giáo  và  các  Lớp  Dậy  Nghề Tại  các  Quận  6,  7,  8  Sài  Gòn

Bài 2:

Hồi tưởng của Đoàn Thanh Liêm

*      *     *

Ngòai việc mở thêm 2 trường trung học cộng đồng ở quận 6 và 8, chúng tôi còn tìm cách giúp mở thêm nhiều lớp dậy nghề trong cả 3 quận 6,7 và 8. Các lớp dậy nghề này hầu hết là được tổ chức tại các chùa hay nhà thờ và do các vị tu sĩ và tín đồ chịu trách nhiệm chính yếu. Xin lần lượt ghi ra các địa điểm có tổ chức các lớp dậy nghề đó như sau.

1 – Tại Chùa Huê Lâm ở Khu Bùng Binh Cây Gõ – Quận 6

Ngôi chùa Huê Lâm tọa lạc tại góc đường Lục Tỉnh và đường Minh Phụng là một cơ sở tôn giáo rất nổi tiếng tại vùng Chợ Lớn. Sư Bà Thích Như Thanh là người rất có uy tín, nên được nhiều Phật tử khắp nơi đến theo học với Bà, tôn vinh Bà là vị Thày hướng dẫn cho mình về các mặt tu đức và hành đạo.

Tại đây, còn có ngôi trường Tiểu học lấy tên là Kiều Đàm dành cho con em các gia đình bình dân lao động trong khu vực. Và đặc biệt có những lớp dậy thêu đan dành cho các thiếu nữ. Tất cả các lớp học này đều miễn phí, học viên không phải trả tiền cho nhà trường.

Có vài lần, theo yêu cầu của Sư Cô Như Châu là người trực tiếp phụ trách các cơ sở giáo dục và huấn nghệ này, thì Chương Trình chúng tôi đi gõ cửa nơi cơ quan CARE để xin họ giúp cho lớp học vài máy thêu đan và máy may. Ban Giám đốc cơ quan này gửi người đến tận nơi xem xét và cuối cùng họ đã vui vẻ cấp phát máy móc đúng theo lời yêu cầu của nhà chùa.

Sư Bà Như Thanh đã viên tịch từ lâu. Và hiện tại, theo chỗ tôi biết, thì Sư Cô Như Châu là người kế vị Sư Bà tại ngôi chùa danh tiếng này.

2 – Tại nhà thờ Bình Đông, phường Rạch Cát, Quận 7.

Nhà thờ này tọa lạc trong một khu đất rộng nằm sát cây cầu hình chữ U bác qua Kinh Ngang số 3 từ phường Bình Đông qua phường Rạch Cát. Giáo xứ này chỉ có chừng vài ba trăm gia đình công giáo và do Linh mục Nguyễn Huy Chương phụ trách cai quản.

Tuy sức khỏe yếu kém, nhưng linh mục Chương cũng cố gắng mời được các chuyên viên kỹ sư từ Sài gòn đến giúp dậy về kỹ thuật sửa chữa radio/tv cho các học viên ở địa phương. Và do sự giao tế khôn khéo, ông đã đi xin được nhiều dụng cụ và máy móc cũ để cho các học viên thực tập. Vì thế, mà Chương Trình Phát Triển chúng tôi cũng không phải bận tâm lo lắng gì cho các lớp dậy nghề tại đây.

Sau năm 1975, linh mục Chương bị bắt giam và vào năm 1983 – 84, ông đã chết tại nhà tù có số hiệu là A20 ở Xuân Phước Tuy Hòa. Nhà báo Vũ Ánh cũng bị giam giữ tại đây khá lâu và có tường thuật lại vụ các tù nhân chính trị bỏ xác tại trại giam được gọi là Thung Lũng Tử Thần này.

3 – Tại chùa Đông Phước, Phường Bình Đông, Quận 7.

Chùa Đông Phước tọa lạc ở phía giữa cù lao Bình Đông, là một ngôi chùa lâu đời nhất tại vùng Chợ lớn. Nhìn qua mấy ngôi mộ sát bên hông chùa, ta có thể suy đóan được ngôi chùa này được tạo dựng đã trên 100 năm dưới thời Vua Tự Đức. Vì tình hình lọan lạc, nên rất đông bà con đã tụ tập về nơi đây từ lâu và cất nhà la liệt ngay trong khuôn viên nhà chùa – đến nỗi mà không còn cả cái hàng rào để ngăn cách ngôi chùa với khu nhà của dân chúng lân cận nữa. Thật đúng là chuyện “Cửa chùa rộng mở vậy”.

Vị sư trụ trì hồi thập niên 1960 – 80 là Thượng Tọa Thích Tắc Thành. Thày là người vui vẻ xởi lởi, nên được nhiều Phật tử yêu mến kính trọng, họ thường gọi ông bằng cái tên thân mật là Thày Mười.

Bắt đầu từ năm 1969 – 70, Thày Mười cho mở thêm một phòng phát thuốc và mấy lớp dạy may cắt cho các thiếu nữ tại địa phương. Cả hai cơ sở này đều được Nhóm Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội cung cấp thuốc men và máy móc, cho nên nhà chùa chỉ phải tìm chuyên viên may cắt đến chỉ dẫn cho các học viên mà thôi.

Sau năm 1975, thì tất cả mọi lớp huấn nghệ của các tổ chức tôn giáo như ở đây đều phải ngưng họat động. Và nhà nước cho cán bộ đến chở hết các máy móc thiết bị đi nơi khác.

Vào các năm 1985 – 86 trở đi, tôi hay có dịp đến thăm Thày Mười và lần nào Thày cũng đích thân pha một bình trà ngon ra để đãi tôi. Có lần Thày lại giữ tôi lại dùng cơm chay chung với Thày nữa. Thày nói : “Gần đây tại khu vực Chơ lớn, nhà nước cho mở nhiều nhà máy chuyên may quần áo để xuất khẩu. Nhờ vậy mà các học viên xưa kia theo học may cắt ở đây, thì bây giờ đều kiếm được việc làm tươm tất trong các xí nghiệp may xuất khẩu gần nhà. Thật là điều đáng mừng cho bà con ở xung quanh đây vậy đó…”

4 – Tại nhà thờ Bình An, Quận 8.

Nhà thờ Bình An tọa lạc trên bến Phạm Thế Hiển dọc theo con sông Kinh Đôi, phía bên kia cầu Nhị Thiên Đường. Đây là một giáo xứ với cả ngàn gia đình giáo dân do vị linh mục nổi danh là Hòang Quỳnh đưa dân di cư từ miền Bắc vào hồi 1954.

Vào năm 1969, chúng tôi xin với một cơ quan xã hội quốc tế để cấp cho giáo dân tại đây một dãy nhà tiền chế khung sắt, mái lợp tôle dài đến 30 mét để dùng làm một Trung Tâm Xã Hội. Người phụ trách điều khiển cơ sở này là linh mục Đinh Công Hùynh hồi đó mới có chừng 30 tuổi. Ông là người phụ tá cho linh mục Chánh Xứ Hòang Quỳnh đã ở vào tuổi 70. Sau 1975, cha Quỳnh bị bắt giam và đã chết tại nhà tù Chí Hòa.

Trung tâm này còn có cả một ký nhi viện và rất nhiều lớp dậy nghề. Các lớp dậy nghề ở đây phần lớn là nhằm dậy về cắt may, dậy cắm hoa dành riêng cho các thiếu nữ. Nhưng cũng có vài lớp dậy về đánh máy chữ, dậy tập võ và đặc biệt còn có lớp hướng dẫn dành riêng cho các em “bụi đời” nữa. Nhưng sau 1975, thì Trung Tâm bị đóng cửa.

Vào cuối thập niên 1970, vì lý do gặp nhiều phiền phức với nhà cầm quyền cộng sản, nên linh mục Hùynh đã phải tìm cách xuống tàu vượt biên và hiện đang là cha xứ coi sóc một họ đạo có nhiều giáo dân người Việt tại thành phố Philadelphia.

5 – Các lớp nữ công gia chánh lưu động ở Quận 6 và 8.

Ngòai các lớp dậy nghề tại các chùa, các nhà thờ như đã ghi trên đây, thì chúng tôi còn mở các lớp gia chánh lưu động tại Quận 6 và Quận 8. Các lớp này lại cũng được các giảng viên do Nữ tu Nicole trong tu viện Regina Pacis giới thiệu đến giảng dậy. Vì lớp học được tổ chức vào ban tối tại các trường học ở địa phương, nên chương trình chúng tôi phải kiếm xe lam để đưa đón các cô giáo đến giảng dậy mỗi ngày trong tuần. Thành ra, dù lớp học do chúng tôi tổ chức, thì rút cục vẫn phải nhờ cậy đến vị nữ tu công giáo này mới có thể duy trì lâu dài trong nhiều khóa học được.

Nhân tiện, tôi cũng xin nói qua về vài lớp học chuyên hướng dẫn về kỹ thuật sửa mày thủy động cơ do chúng tôi tổ chức tại Quận 8 vào năm 1966. Các lớp này do kỹ sư người Nhật từ đại lý hãng Kubota gửi đến giúp đỡ chúng tôi – lý do là vì bà con ở địa phương hay dùng các lọai máy chạy tàu, chạy ghe, nhất là máy đuôi tôm, nên đã yêu cầu chương trình phát triển làm sao mở được các lớp đặc biệt như vậy.

6 – Để tóm tắt lại.

Trong mấy năm họat động tại địa phương các quận 6,7 và 8 Sài gòn, chương trình phát triển chúng tôi đã có dịp hợp tác với các tổ chức tôn giáo để góp phần xây dựng cộng đồng về nhiều phương diện. Và đặc biệt trong lãnh vực huấn nghệ để đào tạo những công nhân có tay nghề vững chắc, đủ khả năng đảm nhận một công việc chuyên môn trong các công ty xí nghiệp – thì tại các chùa, các nhà thờ, giới tu sĩ và tín đồ đều tham gia hết sức phấn khởi tận tình trong việc tổ chức và điều hành những lớp học nghề – như đã ghi chi tiết ở trên.

Sự kiện đó chứng tỏ rằng : “Tôn giáo ở nước ta vẫn còn có thể đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc phục vụ xã hội ngay tại các cơ sở hạ tầng (at the grassroots)”.

Rất tiếc rằng, từ khi nắm giữ được chính quyền trong tay, người cộng sản quá khích cuồng tín đã dẹp bỏ tòan thể những cơ sở y tế, xã hội, giáo dục và văn hóa do các tôn giáo tự nguyện hy sinh đảm trách. Quả thật, đó là một sự phí phạm quá lớn lao về tiềm năng chung của dân tộc và cũng là điều thiệt thòi không có gì bù đắp nổi cho các tầng lớp nhân dân sinh sống tại những khu vực nghèo túng nữa vậy./

Costa Mesa California, Tháng Chín 2015

Đoàn Thanh Liêm

Do đâu tiền Đồng liên tục mất giá?

Do đâu tiền Đồng liên tục mất giá?

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-09-01

09012015-y-vn-curren-to-be-devalua-forever.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Nhân viên ngân hàng chuẩn bị tiền cho khách hàng

Nhân viên ngân hàng chuẩn bị tiền cho khách hàng

AFP

Đồng tiền Việt Nam mất giá liên tục trong ba thập niên qua và chưa bao giờ lên giá trở lại so với đồng đô la, cũng như các ngoại tệ mạnh khác. Sự mất giá không ngừng này mang ý nghĩa gì và lý giải như thế nào.

Kinh tế chưa ổn định

Trong vòng 7 năm từ 2008 đến nay đồng tiền Việt Nam mất giá 30% so với đồng đô la Mỹ, đó là khoảng thời gian gần đây nhất. Xa hơn trong quá khứ, ngày 15/9/1985 một ngày sau khi Nhà nước thực hiện đổi tiền lần thứ 6, tỷ giá chính thức 1 USD đổi được 15 đồng Việt Nam. Nhưng tiền đồng rớt giá rất nhanh, chỉ một năm sau, năm 1986 tỷ giá tăng 10 lần lên 150 đồng/USD; năm 1987 là 550đ/USD; đến 1990 là 7.500đ/USD.  Nếu tính từ ngày 15/9/1985 đến ngày 31/8/2015 thì trong vòng 30 năm tiền đồng Việt Nam mất giá khủng khiếp, từ mức 15 đồng ăn 1 USD đã tăng lên 22.500 đồng/1 USD.

Thái Lan là nước láng giềng của Việt Nam cũng có đồng Baht có lúc bị mất giá, tuy vậy sau giai đoạn khủng hoảng đồng Baht lại có giá trở lại và ổn định. Thí dụ vào tháng 1/1998 khi cuộc khủng hoảng tài chính lên tới cao độ, 1 USD đổi được 55 baht, nhưng hiện nay đồng Baht Thái xê xích trong khoảng từ 32 tới 35 Baht đổi một USD.

Giải thích về tình trạng đồng tiền Việt Nam cứ liên tục mất giá chứ chưa bao giờ tăng giá trở lại, TS Lê Xuân Nghĩa nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia từ Hà Nội phát biểu:

“Thật ra nếu Việt Nam cũng làm như Thái Lan nghĩa là thả nổi đồng tiền thì chắc là có lúc lên có lúc xuống. Nhưng chúng ta chưa thả nổi tiền tệ và có khuynh hướng là đồng tiền cứ mất giá dần. Thứ hai nữa lạm phát của Thái Lan thấp hơn Việt Nam rất nhiều. Việt Nam thỉnh thoảng lại gặp một cú sốc lạm phát rất là lớn, cuối cùng đồng tiền Việt Nam mất giá rất là xa so với những đồng tiền mạnh khác. Cái này nó phải có một thời kỳ ổn định kinh tế vĩ mô tương đối dài hạn thì mới tránh được chuyện đồng tiền của mình lúc nào cũng giảm giá so với các đồng tiền lớn.”

“ Nguyên nhân xuất phát của nó là tình trạng kinh tế, là vì kinh tế VN chưa ổn định, các nhu cầu đầu tư là rất lớn cho nên thu nhập quốc dân không nhiều. Sau đó là tình hình vay nợ rất cao. Nợ công rất là lớn mà trong tình trạng thu không đủ chi…

Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa”

Trả lời chúng tôi vào tối 31/8/2015, Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa phó Hiệu trưởng Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội trình bày cách nhìn của ông đối với việc đồng tiền Việt Nam cứ liên tục đi xuống mãi.

“ Nguyên nhân xuất phát của nó là tình trạng kinh tế, là vì kinh tế Việt Nam chưa ổn định, các nhu cầu đầu tư là rất lớn cho nên thu nhập quốc dân không nhiều. Sau đó là tình hình vay nợ rất cao. Nợ công rất là lớn mà trong tình trạng thu không đủ chi, tình hình Việt Nam trong thời gian vừa qua bấp bênh như vậy cho nên nó thể hiện ra bên ngoài bằng cái giá cả tiền tệ. Về thực chất thì vẫn là thu chi tài chính thôi.”

Ảnh chụp vào ngày 27 Tháng 6 năm 2015 một người nông dân ở một cánh đồng lúa ở Hội An, Quảng Nam một tỉnh miền trung của Việt Nam.

Ảnh chụp vào ngày 27 Tháng 6 năm 2015 một người nông dân ở một cánh đồng lúa ở Hội An, Quảng Nam một tỉnh miền trung của Việt Nam.

Đồng tiền Việt Nam được định giá dựa trên cơ sở nào khi mà thực lực nền kinh tế rất yếu, dự trữ ngoại tệ không bao nhiêu. Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa tiếp lời:

“ Bất cứ một nước nào thì đồng tiền đều phải được định giá bằng cơ sở kinh tế của nước đó, thu nhập quốc dân của nó là bao nhiêu và cân đối với số lượng tiền phát hành. Thế thì thu nhập quốc dân của Việt Nam trên dưới 100 tỷ đô một năm, rất là thấp trong khi lượng tiền phát hành ra ngày một gia tăng. Cái đó là định giá căn bản về kinh tế, định giá của nó là cơ sở thấp mà khối lượng tiền tệ cao thì giá trị tiền tệ phải giảm. Đó là nguyên lý thông thường…”

Đáp câu hỏi, phải chăng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mang hàm ý không có nền kinh tế thị trường thực chất, chính là một rào cản phát triển đối với Việt Nam mà đồng tiền mất giá liên tục là hệ quả. Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa nhận định:

“Mặc dù 70% dân số sống trong khu vực nông thôn, nhưng nền nông nghiệp lạc hậu không thể cạnh tranh với các nước như Thái Lan chẳng hạn. Phải có một cuộc cải cách với cái đích, nông nghiệp phát bền vững với năng suất cao và có những sản phẩm độc đáo ở trên thị trường”

“Bây giờ cứ nói định hướng xã hội chủ nghĩa chứ thực ra nó không có cái định hướng nào cả, nó là câu nói cửa miệng quen rồi. Định hướng xã hội chủ nghĩa thì nó phải có cái đích của nó chứ, định hướng như thế nào. Tất cả những vấn đề đó tôi cho rằng cần phải xem xét, cần phải sửa đổi lại.”

Nông nghiệp lạc hậu

Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa đề cập tới nhu cầu cải cách rất lớn ở Việt Nam, theo lời ông mặc dù 70% dân số sống trong khu vực nông thôn, nhưng nền nông nghiệp lạc hậu không thể cạnh tranh với các nước như Thái Lan chẳng hạn. Phải có một cuộc cải cách với cái đích, nông nghiệp phát bền vững với năng suất cao và có những sản phẩm độc đáo ở trên thị trường.

Đối với ngành công nghiệp dệt may, da giày là những ngành xuất khẩu quan trọng, theo GSTS Vũ Văn Hóa hiện nay đứng trên tổng gía trị hàng hóa xuất khẩu thì là lớn, nhưng tiền lãi trong đó thì không cao và đây là thực tế đáng buồn của Việt Nam. Bởi vì công nghiệp phụ trợ chưa có gì, xuất khẩu rất nhiều nhưng chỉ gia công là chính, từ cây kim sợi chỉ cũng phải nhập của nước ngoài.

Khi nêu ra những nhược điểm của nền kinh tế Việt Nam, GSTS Vũ Văn Hóa đã dẫn chứng tình trạng thực lực nền kinh tế yếu kém, là nguyên nhân chính của việc đồng tiền Việt Nam mất giá từ năm này qua năm khác.

Vũng Lầy Giáo Dục

Vũng Lầy Giáo Dục

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Với một nền giáo dục quá thừa phong bì nhưng lại thiếu phong cách, quá thừa nhà quản lý, nhà tiến sĩ nhưng lại thiếu một nhà liêm sỉ. Điều đó quả thực đáng lo ngại đối với bậc làm cha làm mẹ luôn đau đáu về tương lai của con mình.

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam

Lá vẫn còn xanh. Hè vẫn còn nấn ná. Trời vẫn chưa muốn vào thu mà (không dưng) sáng nay California chợt thoáng chút âm u, và lấm tấm vài hạt mưa nho nhỏ. Mưa chưa ướt đất nhưng cũng đủ làm cho tôi hơi thấy ngại ngần khi nghĩ đến chuyện phải ra khỏi nhà chỉ vì một ly cà phê nóng.

Thôi thì bắt chước cổ nhân thắp vài cây nến nhỏ, châm một bình trà, rồi ngồi nhẩn nha đọc lại vài bức thư xưa. Lá thư cũ nhất mà tôi còn giữ được, đề ngày 3 tháng 9 năm 1945, là “Thư Gửi Các Cháu Học Sinh” của Chủ Tịch Hồ Chí Minh:

Ngày hôm nay là ngày khai trường đầu tiên ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bác đã tưởng tượng thấy trước mắt cái cảnh nhộn nhịp tưng bừng của ngày tựu trường ở khắp các nơi. Các cháu hết thảy đều vui vẻ vì sau mấy tháng trời nghỉ học, sau bao nhiêu cuộc chuyển biến khác thường, các cháu lại được gặp thầy gặp bạn. Nhưng sung sướng hơn nữa, từ giờ phút này trở đi các cháu bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam.

Viễn ảnh về một ngày tựu trường “nhộn nhịp tưng bừng … ở khắp các nơi” và một “nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam” dễ khiến cho nhiều người phấn trấn:

“Chúng tôi thường tự hào đây là một nền giáo dục riêng của người Việt, một nền giáo dục không có dây dưa gì nhiều với nền giáo dục mà thế kỷ trước, người Pháp đã mang lại.” (Vương Trí Nhàn. “Mấy Cảm Nhận Về Sự Khác Biệt Giữa Giáo Dục Miền Nam Và Giáo Dục Miền Bắc”).

Niềm tự hào này, tiếc thay, không kéo dài lâu. Khi có cơ hội so chiếu, tác giả bài viết thượng dẫn đã nhìn ra ngay sự bất toàn:

“Cái mà ta gọi là giáo dục miền Bắc chỉ là sự kéo dài của lối phát triển giáo dục trong chiến tranh… Giáo dục chiến tranh, do dó, luôn luôn là một nền giáo dục dở dang chắp vá, mà lại vẫn phải khoác cho mình cái chức danh lớn lao của một nền giáo dục mới mẻ, cách mạng…

Nói quá lên thì có thể bảo, như một cơ thể, GDMB thuộc loại tiên thiên bất túc, tức sinh ra đã không đủ các bộ phận cần thiết, sinh ra đã bất thành nhân dạng. Phương châm ở đây là làm lấy được, tức là chưa đủ điều kiện, nhưng thấy cần, vẫn cứ làm —  rồi để yên lòng nhau, sẽ viện ra đủ lý lẽ để chống chế, để lấp liếm và xa hơn nữa, sẵn sàng tự ca tụng…”

Hệ quả, tất nhiên, là thảm hoạ – vẫn theo như nhận định của  Vương Trí Nhàn:

“Mươi năm gần đây, tình hình có chút đổi khác, nhưng là chỉ đổi khác trên bề mặt. Cựa quậy mấy thì nền giáo dục này cũng không khác được so với chính mình. Nó đã cạn kiệt năng lực tự cải hóa. Ngay cả những người trong bộ máy quyền lực cũng đều tính chuyện cho con em mình qua nhiểu nước phương Tây, nhất là sang Mỹ để học.

Nhưng họ chỉ lo được cho gia đình riêng của họ thôi. Ở trong nước, những bài bản của miền Bắc cũ được tân trang lại chút ít vẫn ngự trị trong toàn bộ nền giáo dục, và trong thâm tâm, nhiều người đã bắt đầu nghĩ rằng hình như có một bãi lầy đã được tạo ra và chúng ta không bao giờ ra thoát.”

Cậu bé Vũ Thạch Tường Minh – 14 tuổi, học sinh trường Hà Nội –

Amsterdam phát biểu tại buổi ra mắt sách của nhóm Cánh Buồm.

Ảnh và chú thích: RFA

Đối với những thế hệ đến sau (những kẻ sinh trưởng ngay giữa “bãi lầy”) thì vấn đề không còn gì để mà bàn cãi nữa. Vũ Thạch Tường Minh, một học sinh lớp 8, đã khẳng định như vậy:

“Bây giờ giáo dục Việt Nam con thấy là, con không có tính từ nào khác nên con phải dùng tính từ này, là giáo dục Việt Nam bây giờ con thấy là quá ‘thối nát’ rồi. Mà suốt bao năm qua các vị cải đi, cải lại, cải tiến, cải lùi mà nó vẫn không thay đổi được kết quả gì cả.”

Khoảng cách giữa nhà nghiên cứu văn học Vương Trí Nhàn và cháu Vũ Thạch Tường Minh là ba thế hệ người. Tuy vậy, cả hai đều “nhất trí” là nền giáo dục hiện nay của nước CHXHCNVN (đã) hết thuốc chữa rồi!

Để minh chứng, xin xem qua một “trường hợp thú vị” – ở một vùng quê, thuộc tỉnh Rạch Giá – theo như nguyên văn lời của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn:

“Một em gốc Khmer học giỏi, thi đậu vào 3 trường đại học (2 đại học ở Sài Gòn và 1 ở ĐH Cần Thơ), nhưng cuối cùng thì giấc mơ đại học cũng đành phải bỏ. Ba má em ấy lí giải rằng: học để làm gì, nhìn quanh số sinh viên tốt nghiệp đại học thất nghiệp tùm lum cả, mà ngay cả xin được việc thì cũng cần đến 500 triệu đồng đút lót thì làm sao nhà có khả năng lo nổi. Tôi kinh ngạc về con số 500 triệu đồng (tức là 25000 đôla), nên phải hỏi lại cho chắc ăn, thì bà con đều khẳng định đó là con số tiêu biểu, có trường hợp thấp hơn nhưng cũng có trường hợp cao hơn. Tình trạng mua chức đâu phải chỉ ở ngoài Bắc, mà đang lan về nông thôn miền Tây rồi đấy.”

Mọi tệ trạng vừa nêu đang được Đảng và Nhà Nước “đối phó” hay “giải quyết” bằng … chỉ thị! Báo Nhân Dân loan tin: Ngày 24-3-2015, Ban Bí Thư T.Ư Ðảng ra Chỉ thị số 42-CT/TW (Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Ðảng Đối Với Công Tác Giáo Dục Lý Tưởng Cách Mạng, Đạo Đức, Lối Sống Văn Hóa Cho Thế Hệ Trẻ Giai Đoạn 2015 – 2030) với những nhận định và “đề xuất rất cụ thể” như:

“Vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong chăm lo, giáo dục thế hệ trẻ chưa được như mong muốn, chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay. Một bộ phận giới trẻ giảm sút niềm tin, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, thiếu lý tưởng, xa rời truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Một số ít thanh niên bị các thế lực thù địch lôi kéo, kích động chống sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta. Tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong giới trẻ diễn biến phức tạp.

Chỉ thị của Ban Bí thư đưa ra 5 nhiệm vụ và giải pháp, trong đó xác định việc giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức và lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài và cần đầu tư thích đáng. Đảng  kêu gọi việc thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống trong một bộ phận đảng viên để làm gương cho giới trẻ…”

Sự thực thì thiên hạ không còn ai kỳ vọng hoặc quan tâm gì ráo vào bất cứ lời “kêu gọi” (hay “chỉ thị ”) nào của Đảng tự lâu rồi. Người dân tìm cách tự cứu qua nhiều nỗ lực rất đáng trân trọng, dù gặp không ít khó khăn, ngăn trở và sách nhiễu.

Từ Bangkok, biên tập viên Gia Minh có bài tường thuật (“Nhóm Cánh Buồm Ra Mắt Sách Giáo Khoa Mới”) khá bất ngờ và thú vị. Xin trích dẫn một vài đoạn ngắn:

Nhóm soạn sách giáo khoa Cánh Buồm do nhà giáo Phạm Toàn chủ xướng vào ngày 12 tháng 8 vừa qua giới thiệu bộ sách Văn và Tiếng Việt lớp sáu tại Trung tâm Văn Hóa Pháp ở Hà Nội.

Việc ra mắt sách mới của Nhóm Cánh Buồm không thuộc Bộ Giáo Dục như thế được cho là một dấu chỉ tích cực trong tình hình giáo dục Việt Nam hiện nay….

Một buổi tọa đàm về sách giáo khoa tại Trung tâm Văn hoá Pháp (Hà Nội). Từ trái sang: nhà giáo Phạm Toàn, Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Hải, nhà giáo Vũ Thế Khôi, điều khiển phần thảo luận và TS Chu Hảo, GĐ NXB Tri thức, nơi xuất bản SGK Cánh Buồm. Ảnh var chú thích: RFA

Một nhà giáo công khai đấu tranh chống những tiêu cực trong ngành giáo dục Việt Nam lâu nay, thầy Đỗ Việt Khoa cũng tỏ rõ sự ủng hộ đối với sách giáo khoa do Nhóm Cánh Buồn soạn thảo:

“Đây là nhóm khá tâm huyết đang soạn bộ sách giáo khoa cho liên cấp từ tiểu học trở lên. Theo quan điểm của tôi làm được một bộ sách giáo khoa như vậy là công sức cực kỳ lớn, rất tốt. Sẽ có những chỗ chưa được, có người sẽ đánh giá khiếm khuyết… nhưng sửa dần không sao cả…”

Ngoài việc biên soạn bộ sách giáo khoa mới để giảng dạy, Nhóm Cánh Buồm còn có chủ trương về một hình thái nhà trường mới như trình bày của nhà giáo Phạm Toàn:

“Tôi muốn sau này mình sẽ phục vụ cho một hệ thống trường của trẻ em Việt Nam mà chúng tôi gọi là ‘trường ba không’: không hộ khẩu- muốn học đâu thì học; không học phí- tức không phải nộp một xu nào ( không như các trường tư phải nộp nhiều tiền lắm, mình phải chịu); thứ ba là không ‘bắt nạt’- tức không thi cử, không kiểm tra, không đánh số, làm các thứ bắt chẹt các em, bởi vì hệ thống của chúng tôi là tìm ra cơ chế tự học cho các em, mà đã là tự học thì tự đánh giá thì suốt tiểu học là tự học và tự đánh giá, lên đến lớp 6 chúng tôi đề xuất hoàn toàn tự học.

Cùng vào thời điểm này, một công dân Việt Nam khác (ông Hoàng Thành , 25 tuổi) đã đến trước cổng trụ sở Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, cầm ảnh của chính mình – với poster in hình con chuột bạch đang bị tiêm thuốc – cùng dòng chữ: “Học sinh, sinh viên không phải là CHUỘT BẠCH.”

Khi được hỏi về “ý nghĩa” của việc làm này, ông cho biết như sau:.

“Bức ảnh của tôi đơn thuần là một hình thức thực hiện quyền biểu đạt ý kiến của mình. Tôi chỉ muốn nhắn tới các bậc cha mẹ và các em học sinh … rằng: Hãy thể hiện quan điểm của mình trước các vấn đề xã hội, thay vì chỉ biết kêu than, vì đó không những là quyền của chúng ta, mà còn là cách chúng ta giúp chính quyền hiểu được nhu cầu của dân chúng và hoàn thiện chính sách sao cho hợp lý nhất…”

Ảnh: Dân Luận

Ở bình diện cá nhân, cũng như tập thể – rõ ràng – đang có những nỗ lực đáng kể của rất nhiều người để vượt ra khỏi cái “vũng lầy giáo dục” hiện nay. Với ý thức và quyết tâm, chắc chắn, chúng ta sẽ “thoát” bất chấp sự ngăn trở (cùng sức ì) của chế độ hiện hành – một chế độ mà mọi người đều biết là sinh mệnh của nó đang được đo đếm từng ngày.