Jennifer Lopez: “Feel the Light” – AMERICAN IDOL XIV

Ban đầu bạn cho rằng đây chỉ là chiếc váy trắng bình thường, hãy chờ đến khi Jennifer Lopez cất tiếng hát…

httpv://www.youtube.com/watch?t=51&v=N0v6ITyTWv4

Jennifer Lopez: “Feel the Light” – AMERICAN IDOL XIV

Trong chương trình American Idol XIV, Jennifer Lopez xuất hiện trên sân khấu cùng chiếc váy trắng tinh khôi. Điều đặc biệt là nó rộng đến 6m, che phủ phần lớn sân khấu. Còn điều bất thường là… nó chỉ có một màu trắng chứ không có hoa văn gì khác, giới showbiz Mỹ đâu có thiếu sáng tạo đến vậy?

Sự tò mò chỉ được trả lời bằng những lời thán phục “wow” khi cô ca sĩ cất tiếng hát và màn trình chiếu ánh sáng bắt đầu.

Ai có thể nghĩ rằng chiếc váy trắng xinh đẹp lại ẩn chứa điều kỳ diệu như thế. Trở thành màn trình chiếu cực đẹp.

Nghe nói chiếc váy được thiết kế bởi Mariel Haenn. Ông đã không làm khán giả thất vọng, dưới ánh đèn sân khấu chiếc váy bỗng trở thành một màn ảnh hình tròn đầy ấn tượng, hòa hợp với bài hát “Feel the light” mà Jennifer biểu diễn.

Những ngày cuối cùng của Tổng Thống Trần Văn Hương

Những ngày cuối cùng của Tổng Thống Trần Văn Hương

Huy Phương/Người Việt

Nhân cuộc phỏng vấn tác giả Trần Văn nhân cuốn sách viết về cựu Trung Tướng Ðặng Văn Quang trên đài SBTN, chúng tôi đã nhận được điện thoại của ông Trần Văn Ðính, thứ nam của Cựu Tổng Thống Trần văn Hương, nhờ chúng tôi viết lại nhiều thông tin trên báo chí chưa rõ hay nói sai, kể lại những ngày cuối cùng của Cụ Trần Văn Hương tại Saigon cũng như câu chuyện liên quan đến Tướng Ðặng Văn Quang. Ông Trần Văn Ðính năm nay đã 87 tuổi, hiện sống tại Nam California, đã là phụ tá đặc biệt cho thân phụ ông trong nhiều năm, từ 1965-1975.

Cụ Trần văn Hương và cháu nội Trần Thủy Vân (1967- 1997)
con gái ông bà Trần Văn Ðính. (Hình gia đình chụp năm 1968)

Hai người con, hai chí hướng

Theo sự trình bày của ông Trần Văn Ðính, ông bà Trần Văn Hương chỉ có hai người con trai.

1. Người con lớn là Trần Văn Dõi, sinh năm 1924 (nhiều người như các ông Hứa Hoành, Huỳnh Văn Lang đã ghi lầm là Trần văn Giỏi – vì Cụ Hương đã có một người em ruột tên Giỏi (1), và nhiều bài khảo cứu dựa theo tài liệu của Mỹ lại không bỏ dấu, mà chỉ ghi là Doi). Khi phong trào kháng chiến nổi lên, đang theo học tại trường “College de Can Tho.” ông Dõi bỏ học theo Việt Minh. Khi phái đoàn Hồ Chí Minh qua Pháp dự Hội Nghị Fontainebleau trở về tới Vũng Tàu, ông Dõi theo ra Bắc. Năm 1948, ông được gửi theo học trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn và đổi tên là Lưu Vĩnh Châu (lấy họ mẹ), sau này tham gia trận Ðiện Biên Phủ với cấp bậc đại úy Công Binh, là đảng viên cộng sản.

Theo tài liệu, ông Dõi sau khi biết thân phụ mình là phó tổng thống VNCH, đã trình sự việc lên ông Ung Văn Khiêm là tổng trưởng Nội Vụ miền Bắc thời đó. Về phần Cụ Hương cũng đã xác nhận với tình báo Hoa Kỳ về chuyện cụ có một đứa con trai bên kia giới tuyến.

Một thời gian lâu sau khi CS vào Saigon, ông mới được phép đem gia đình (vợ tập kết và hai con, một trai một gái) vào gặp cha, và ít lâu sau dọn về ở với Cụ Trần Văn Hương tại số nhà 216 Phan Thanh Giản (sau này đổi lại Ðiện Biên Phủ). Con trai ông Dõi hiện làm việc tại Saigon và cô con gái hiện sống ở Hungary.

Sau khi Cụ Trần Văn Hương qua đời năm 1982, ngôi nhà này được chính quyền “cho phép” bán, chia cho gia đình em gái út Cụ Hương và gia đình ông Dõi. Ông Trần Văn Dõi đã qua đời năm 2011 tại quận Tân Bình, Saigon.

2. Người con thứ nhì, là Trần Văn Ðính, sinh năm 1925, chính là người sống với Cụ Trần Văn Hương, làm phụ tá đặc biệt cho Cụ từ năm 1965 cho đến trước ngày bàn giao chức vụ tổng thống cho ông Dương Văn Minh vào ngày 28 tháng 4, 1975.

Thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, năm 1955, trước khi Cụ Trần văn Hương theo lời mời của TT Ngô Ðình Diệm ra làm Ðô Trưởng Saigon-Chợ Lớn thì ông Trần Văn Ðính đã tự túc xuất ngoại sang Anh Quốc. Ông đã học và làm việc tại Londre 3 năm, Paris (Pháp) 2 năm và Francfurt (Tây Ðức) 5 năm. Cuối năm 1964, khi Cụ Trần Văn Hương lên làm thủ tướng lần thứ nhất, ông đã được gọi về, như một người thân tín, sống gần gũi, giúp thân phụ làm phụ tá đặc biệt. Ông lập gia đình tại Saigon với một người mà ông đã từng gặp tại Paris 6 năm về trước, ông bà có hai người con, trai là Trần Bảo Danh hiện sống tại Oregon và gái là Trần Thủy Vân trong tấm hình chụp với ông nội trên trang báo này.

Ngày 21 tháng 4, 1975, sau khi ông Nguyễn Văn Thiệu bàn giao chức vụ tổng thống lại cho Cụ Trần Văn Hương, trước tình hình căng thẳng tại Saigon, Ông Trần Văn Ðính muốn thu xếp cho vợ con rời Việt Nam và ở lại bên cạnh cha, nhưng cuối cùng Cụ Hương không đồng ý đã hối thúc con trai rời Việt Nam cùng với gia đình.

Năm 2005, ông Trần Văn Ðính có về Việt Nam và có gặp anh là Trần Văn Dõi, nhưng ông cho biết anh em xa nhau đã lâu ngày, lại khác chí hướng, không mấy hứng thú để trò chuyện. Hiện nay ông bà Trần Văn Ðính đều đã già, đang sống cô đơn trong một khu mobil home thuộc thành phố Huntington Beach, vì con trai ở xa và cô con gái đã mất năm 1997 vì chứng ung thư máu.

Ông Trần Văn Ðính, 87 tuổi, thứ nam Cụ Trần văn Hương, chụp tại nhà riêng ở Huntington Beach, California. (Hình: Huy Phương)

Túng quẫn nhưng giữ trọn chí khí

Trong tiểu sử của Cựu Tổng Thống Trần văn Hương, không ai nghe nói đến cụ bà đệ nhất phu nhân cũng như trong suốt thời gian Cụ Hương làm việc trong chính phủ VNCH, không ai biết đến bà Trần Văn Hương làm gì ở đâu? Ông Trần Văn Ðính cho chúng tôi biết hai ông bà sống riêng đã nhiều năm một cách tự nhiên, vì không hợp tính, và phần Cựu Tổng Thống Trần Văn Hương không muốn có đàn bà xen vào việc nước. Chỉ trong thời gian cuối cùng ốm đau, bà Trần Văn Hương mới dọn về ở đường Công Lý và mất vào đầu năm 1975.

Chúng ta cũng đã biết trong những ngày cuối cùng của VNCH, trước khi người Mỹ quyết định bỏ mặc cho VNCH tự chiến đấu chống cộng sản, Ðại Sứ Martin của Hoa Kỳ đã chính thức gặp Tổng Thống Trần Văn Hương và mời tổng thống rời khỏi nước, nhưng Tổng Thống Trần Văn Hương đã khẳng khái trả lời: “Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với dân chúng một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước.”

Cụ Trần Văn Hương đã lui về căn nhà 216 đường Phan Thanh Giản, tại đây cụ sống với vợ chồng người em gái út cho đến lúc qua đời. Theo ông Trần Văn Ðính, đây là căn nhà mà năm 1969, khi rời chức thủ tướng để trao chức vụ này cho ông Trần Thiện Khiêm, không có nhà ở, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã cấp cho ông. Tuy mang số 216, đây là một căn nhà nhỏ hẹp, nằm sâu trong hẻm, sau lưng nhà của ông Trần Ngọc Liễng, loại nhà cấp cho các bộ trưởng nhưng vì nhà đã lâu năm, cũ kỹ, xuống cấp, không ở mặt tiền, bị mọi người chê nên mới còn lại. Chính Cụ Hương đã từ chối lời đề nghị cho sửa sang lại vì sợ tốn công quỹ, do đó, ngôi nhà còn yên, sau 1975, không bị CS chiếm như nhưng căn khác, nhưng báo chí CS cho rằng vì lý do nhân đạo nên ngôi nhà này không bị tịch thu.

Theo nguồn tin của CS thì sau năm 1975, Cụ Trần Văn Hương được trợ cấp tem phiếu hạng E dành cho một “cựu tổng thống Ngụy,” nhưng theo lời ông Trần Văn Ðính thì Cụ Hương không có hộ khẩu vì không làm đơn xin “phục hồi” quyền công dân như cụ đã nói: “Chừng nào những người tập trung ‘cải tạo’ được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi!”

Chính vì thái độ này, mà Cụ bị CS quản chế, không hộ khẩu, làm sao có tem phiếu, ông Ðính nói. Cựu Tổng Thống Trần Văn Hương không bao giờ ra khỏi nhà, ốm đau, không những sống đạm bạc mà còn thiếu thốn. Người chăm sóc tận tình cho Cụ chính là người em rể sống với Cụ. Theo lời một người cháu Cụ kể chuyện với nhà văn Hứa Hoành, đã có lúc Cụ giao cho bà em ra chợ bán một củ sâm Ðại Hàn Cụ còn cất giữ và những bộ đồ vest để lấy tiền mua thức ăn cho cả gia đình. Cụ qua đời vào ngày 27 tháng 1, 1982 (nhằm ngày mồng Ba Tết), hưởng thọ 80 tuổi, hài cốt được hỏa thiêu.

Cụ Trần Văn Hương và một con người khí tiết, yêu nước đã hai lần làm Thủ tướng, phó tổng rồi tổng thống VNCH, đã mất đi trong một hoàn cảnh, gần như bị quên lãng.

*Kỳ Sau: Trần Văn Hương vs. Ðặng Văn Quang

Chú thích:

(1) Người em thứ sáu của Cụ Trần Văn Hương mang họ Lâm, là Lâm Văn Giỏi. Theo lời ông Trần Văn Ðính thì “ông chú này không có khai sinh, nên ông nội lấy khai sinh của người khác cho chú Giỏi đi học.”

Ủy viên BCT VN nghiên cứu cải cách ở Harvard

Ủy viên BCT VN nghiên cứu cải cách ở Harvard

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân từng là Bộ trưởng Lao động Thương binh và Xã hội (ảnh năm 2006)

Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân dẫn phái đoàn đến Đại học Harvard tìm hiểu cải cách thể chế.

Bà Kim Ngân dẫn đầu đoàn gồm 15 lãnh đạo cấp trung ương và địa phương, trải qua năm ngày ở Chương trình Lãnh đạo Quản lý cao cấp của Việt Nam (VELP) tại Đại học Harvard.

Chuyến thăm Mỹ của bà kéo dài từ 11 đến 21/4, ngay sau khi bà vừa tháp tùng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc.

Chương trình VELP được Bộ Ngoại giao Việt Nam, Chương trình Việt Nam ở Trường Harvard Kennedy và cơ quan Liên Hiệp Quốc UNDP đồng tổ chức.

Đây là diễn đàn để các lãnh đạo Việt Nam trao đổi với các học giả, doanh nhân quốc tế.

Đề cương chương trình năm nay của VELP nói trong lúc Việt Nam sắp tiến hành Đại hội Đảng, nước này đối diện nhiều thách thức gần và dài hạn.

“Các nhà hoạch định chính sách chịu sức ép thúc đẩy tăng trưởng và duy trì bình đẳng,” đề cương nói.

“Trong kinh tế, chính phủ xác định nhu cầu tăng tính cạnh tranh cho khu vực tư nhân và tái khẳng định sự cấp thiết cải cách doanh nghiệp nhà nước.”

“Cũng có nhận thức về tầm quan trọng của cải cách tư pháp đối với sự phát triển của Việt Nam.”

“Về chính trị, cả Đảng và Chính phủ đã khẳng định cơ quan lập pháp ở mọi cấp cần tăng cường tính đại diện. Ngoài ra, kinh nghiệm các nước cho thấy quốc hội đóng vai trò quan trọng để phân bổ nguồn lực hiệu quả.”

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân từng là Bí thư tỉnh Hải Dương, Thứ trưởng Bộ Thương mại, Bộ trưởng Lao động Thương binh và Xã hội.

Theo tiểu sử chính thức, bà có bằng Thạc sĩ Kinh tế và Cử nhân Chính trị.

Tại khóa học năm ngày, bà cùng phái đoàn sẽ nghiên cứu các câu hỏi như làm thế nào có hệ thống quản trị hiện đại, làm sao chuyển đổi mà vẫn duy trì ổn định chính trị và xã hội.

Bộ Ngoại giao Việt Nam nói chuyến thăm Mỹ của phó chủ tịch Quốc hội nhằm thúc đẩy mối quan hệ đối tác toàn diện giữa Việt Nam và Mỹ trong bối cảnh hai nước đang kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1995-2015).

Bài viết về Y Tế Mỹ: Hành Trình Đi Về Cõi Chết

Bài viết về Y Tế Mỹ: Hành Trình Đi Về Cõi Chết

Phượng Vũ

“Ôi ! cát bụi phận này
Vết mực nào xóa bỏ không hay..”.

(TCS)

“Không ai muốn chết. Thậm chí cả những người muốn tới thiên đường cũng không muốn phải chết để lên được đó. Và cái chết là điểm đến của tất cả chúng ta, không ai có thể trốn thoát…”. Từ ý tưởng trên của Steve Jobs, tôi chợt nhớ đến lời bài thánh ca :”Khi Chúa thương gọi con về, lòng con hân hoan như trong một giấc mơ” (theo ý thánh kinh) nhưng trên thực tế, người ta đã sửa đùa lại: “Khi Chúa thương gọi con về, ngu sao về, ngu sao về?” Nó nói lên 1 thực tế đứng trước cái chết, bản năng sinh tồn trỗi dậy, con người bỗng cảm thấy “Sao mà yêu quá đời này!” nên ai tự tử nhảy xuống sông mà biết bơi, chắc chắn sẽ lo lội lên bờ liền! Ai cũng biết chết là 1 điều chắc chắn sẽ xảy đến cho mỗi người, không ai thoát được và cái chết có thể đến bất chợt, tình cờ như “vết mực nào xóa bỏ không hay”nhưng nguời ta lại cố tình “giả đò ngó lơ” coi như không quen biết nó. Ngày xưa người ta thường tránh nhắc về cái chết, và sợ nói về nó, nhưng trong xả hội văn minh hiện nay, người ta đang nhắc đến nó với luật trợ tử, an tử (như là 1 tin hot). Người ta đòi hỏi phải có 1 cái chết phẩm chất (quality of death). Tin tức phổ biến mới đây cho thấy ở Đức, người ta vừa thông qua luật An Tử để BS có thể giúp nguời bệnh (nhất là những bệnh nhân ung thư hoặc mắc bệnh nan y bất trị gây đau đớn nhiều) có thể chết từ từ và nhẹ nhàng bằng cách cho tiêm thuốc giảm đau tăng liều dần dần để người bệnh bớt đau, bình an rồi từ từ đưa đến cái chết êm đềm. Riêng ở CA đã có 3 dân biểu đệ trình dự luật An Tử. Trước những sự kiện nóng hổi của thời đại hôm nay, chúng ta nghĩ gì về cái chết? và đã chuẩn bị cho mình một cái chết như thế nào chưa? Xin mời các bạn cùng tham dự buổi nói chuyện về “Hành trình cuối đời” của linh mục Nguyễn Thanh Sơn

Tình trạng y tế :

Tinh trạng y tế của Mỹ nói riêng và của thế giới nói chung mỗi ngày một tiến bộ vượt bực . Những phương pháp chẩn bệnh và dự đoán bệnh càng ngày càng tiến triển nhiều như máy MRI ( giá cả vài triệu đô), nhưng bịnh viện nào cũng có thậm chí có BV còn có vài cái, nên chi phí y tế cũng tăng rất cao. Bây giờ bịnh nhân đến phòng mạch BS khám bệnh sẽ được gửi đi lấy test để hổ trợ BS trong việc chẩn đóan bịnh chính xác hơn. Hiện nay người ta có nhiều phương pháp khác nhau để hổ trợ sức khỏe cho con nguời: Trị bệnh, nén bệnh, ngừa bệnh, giữ sức khỏe, dưỡng sinh nhân tạo…diệt bệnh.

Trong thời đại này, đặc biệt tại Hoa Kỳ, số người được sống và chết tự nhiên trong hoàn cảnh an bình ngày càng hiếm. Phần lớn người ta ra đi dần mòn lỡ loét ở viện dưỡng lảo với các thứ bệnh mãn tính hay trong khu đặc biệt ICU (Intensive Care Unit) của bịnh viện, đang khi hồi sinh nhân tạo, hay trên bàn mổ v. v… Riêng ở Mỹ 10% tổng sản lượng quốc gia đổ vào y tế, nhưng phần lớn chi phí khổng lồ này lại dồn về 30 ngày cuối đời ( nó chiếm 90 % tổng số chi y tế).Điều này cho thấy những ngày cuối đời rất quan trọng và nền y tế càng văn minh, người ta càng chú trọng đến giai đoạn này để chuẩn bị cho người bệnh được phục vụ cao nhất , được có thời gian “êm đềm” nhất, trước khi “chia tay cùng đời sống này”! Nó mang 1 ý nghĩa nhân bản sâu sắc kiểu V.N. thường nói “nghĩa tử là nghĩa tận” Nhưng chênh lệch đáng nói là chỉ có 10 % dân số được hưởng sự phục vụ này.

Tư tưởng sai lầm:

– Nhiều người hiểu lầm phúc âm sự sống nghĩa là làm hết sức mình để kéo dài cuộc sống. Chống lại sự chết bằng bất cứ giá nào, dù là chỉ để nằm trên giường thoi thóp. Kiểu Việt Nam mình thường nói “Còn nước, còn tát”, nhưng tát được cái gì? và mục đích tát để làm gì? Cái chết có lẽ là phát minh tốt nhất của sự Sống. Nó là tác nhân thay đổi của cuộc sống. Nó xóa cái cũ để mở đường cho cái mới. Người sống được hết mình luôn sẵn sàng chết bất cứ lúc nào. ( Mark Twain). Quả vậy, tôi biết có những bịnh nhân ung thư can đảm đối diện với cái chết, chờ đợi nó mà không hề sợ hãi hoăc âm thầm tự đi tìm nó (Ca sĩ Q.D)
–– Khi trong nhà có người bệnh, người ta đi cầu khấn đủ nơi, đủ chổ để xin phép lạ chữa lành để tin rằng mình thánh thiện. Thực ra người đạo đức tốt lành không sợ chết. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II đã kêu gọi mọi người chấp nhận sự chết như là một quy trình tự nhiên “Có sinh có diệt”. Ngài cũng đã từ chối những phương pháp hô hấp và trợ sinh và Ngài đã qua đời an bình tại nhà, không gắn bất cứ ống khí quản hay mổ dưỡng sinh nhân tạo nào. Alfred Adler cũng đã nói: “Cái chết thực sự là lời chúc phúc lớn lao dành cho nhân loại, không có nó không thể có sự tiến bộ. Những người bất tử sẽ không chỉ ngăn trở và làm thối chí người trẻ tuổi, họ còn thiếu đi sự kích thích cần thiết để sáng tạo.” .

Cách nhìn về đau khổ:

– Sống theo nhân phẩm, dùng những ngày cuối đời sống trong an bình, được gặp những người thân yêu. Tâm tình cho hết những điều “không nói được”, những điều làm lòng ta đau đớn, kẻo muộn rồi :

“Có những niềm riêng một đời câm nín
Nên khi xuôi tay còn chút ngậm ngùi.” (LTH)

Bây giờ là lúc tâm tình cho hết để lòng khỏi “ngậm ngùi”, rồi nhẹ nhàng ra đi bình an.

– Có một số người theo Công Giáo cho rằng chấp nhận đau khổ để “vác thánh giá theo chân Chúa” (ví dụ phải chịu đựng vợ/chồng, con cái. phải chịu đựng ốm đau bệnh tật dày vò…). Không ! điều này không đúng. Ta cần phải tìm cách vượt qua đau khổ, không ai muốn “ôm” thánh giá, “ôm” đau khổ hay đau đớn hết! kể cả Chúa (Ngày xưa ở vườn cây dầu, Chúa cũng đã từng xin Chúa Cha “cho con khỏi uống chén đắng này”).   Tôi hoàn toàn tán đồng quan điểm này: Chúa yêu ta nên mới dựng nên ta, do đó Chúa dựng nên con người để cho con người được sống hạnh phúc chứ đâu phải để chịu đựng khổ đau. Chúng ta đứng ngoài nổi đau đớn nên ta khuyên nhủ dễ dàng vì chúng ta chưa trãi qua những cơn đau đớn, chúng ta chưa “nếm” nó, chưa có kinh nghiệm gì về nó.Nhà thơ N.Du đã từng nói 1 câu vô cùng thấm thía: “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”

Đ.G.H Francis mới đây trong cuộc trả lời phỏng vấn về việc ngài có thể bị ám sát, ngài đã trả lời thành thật:

“Chúa là Đấng coi sóc con. Tuy nhiên, nếu ý Chúa muốn con phải chết và họ gây ra cho con một cái gì đó thì con xin Chúa một hồng ân đó là đừng làm cho con bị đau đớn. Vì con là một con người rất nhát sợ khi bị đớn đau về thể lý”.

– Sự chết chính là đau khổ tột đỉnh, cho nên chịu vác thánh giá là chấp nhận sự chết. Chúa Jesus nói “Chịu vác thánh giá là chết với ta” (Tín lý thần học). Cuộc sống là bí ẩn, sự chết là chắc chắn.”Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ cùng sống với Ngài”. Trong bản tuyên ngôn về “tự kết”, Bộ Giáo Lý Đức Tin không những coi việc khước từ những phương pháp kéo dài sự sống vất vưỡng là đúng lương tâm mà còn khuyến cáo là việc lệ thuộc một số phương pháp chữa trị theo khoa học cũng là vô luân.

Những thắc mắc liên quan đến “Hành trình về cõi chết”:

Khi tim bị ngưng đập, con người lập tức đối diện với cái chết, có 3 cách :

– Đi tự nhiên (AND) và Lệnh không hô hấp (DNR) ( 2 cách này tương tự nhau)

– Lệnh hô hấp (CPR)

+ Khi nào cần hô hấp nhân tạo (CPR) máy trợ thở hay mở đường khí quản ?:

– để cho các phương pháp chửa trị có cơ hội giúp bịnh nhân hồi phục

– để có thời giờ chửa bịnh và dự lượng

– để điều quản người hiến cơ phận ( Organ donors)

– để cho gia đình có thời giờ chuẩn bị hay chờ đợi găp người thân ( mua thời gian)

Ngoài ra không phải bất cứ trường hợp nào tim ngưng đập đều cần CPR, với kinh nghiệm tuyên úy trong bịnh viện, cha cho biết CPR không phải nhẹ nhàng giống như trên tivi biểu diễn. Đôi khi rất đau lòng khi nhìn một ông Mỹ to nặng 200 lbs dẫm đạp lên 1 bà cụ VN gấy yếu nhỏ xíu, vì người ta cần phải dùng tới sức mạnh, có khi cần tới cả điện giật để làm cho trái tim như quả bóng xì hơi phải bật lên để đập lại. Có thể cứu được lúc đó, nhưng sẽ chết vài ngày sau, nhất là đối với các cụ già yếu. Có nên phải trả giá sống thêm vài ngày trong hôn mê hay thoi thóp mà thân thể bầm dập, có khi vỡ hết cả lồng ngực, phổi, da bị tím bầm khắp nơi do vỡ mạch máu ?

Nói tới đây tôi chợt nhớ khi làm volunteer cho TT St Alsem, một buổi sáng mọi người trong phòng đang tập thể dục, bỗng nghe 1 tiếng “rầm” ngoài hành lang, 1 ông cụ 80 tuổi đang đi bỗng nhiên bị té và bất tỉnh (ông cụ là thân sinh của ca sĩ Don Hồ). Lập tức 911 được gọi tới, họ làm CPR rồi đưa ông cụ vào nhà thương. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao những nhân viên đi theo xe cứu thương (để làm CPR) luôn là những người trẻ, khỏe mạnh. Tuần sau tôi đại diện TT đến nhà quàn gửi vòng hoa và chia buồn với gia đình. Khi gặp Don Hồ, tôi hỏi thăm về diễn tiến bệnh tình của ông cụ. Don Hồ cho biết:

– Ba em có tỉnh lại nhưng rất yếu, rồi sau đó lại tiếp tục làm CPR thêm mấy lần nữa. Em rất dau lòng khi nhìn cảnh họ làm CPR cho ba, cuối cùng ba em vẫn đi. Nếu em biết như vậy em đã không để ba phải làm CPR để ba đi nhẹ nhàng và bình an thì tốt hơn

Ngay cả việc dùng máy trợ thở hay mở đường khí quản cũng vẫn có những mặt không tốt của nó, nhất là việc bị nhiễm trùng và những phương pháp này thường gây tốn kém rất lón! ( Đó là điều lý giải tại sao 90% ngân sách y tế khổng lồ lại chui vào đây). Có 1 bà cụ khoe với cha tuyên úy là các con bà đã cho áp dụng đủ mọi cách để cứu bà sống lại (bill gửi về giá cả triệu đô). Bà cụ tự hào mạng sống của mình giá cả triêu đô, để bà cụ sống thêm 5,6 tháng nữa. Đó có phải là cái giá đáng phải trả không? chưa kể là tiền chi phí này có thực do các con cụ trả không ? hay phần chắc là do quỹ Medi- Medi trả. Gây hao tốn quá lớn cho ngân sách y tế quốc gia có phải là điều nên làm, nếu thực sự biết nghĩ tới những thành phần khác trong xả hội cũng đang có nhu cầu về y tế. Có nhiều người xài tiền theo kiểu “Của người Bồ tát, của mình lạt buộc”, nghĩa là xài tiền túi của mình thì cân nhắc tiết kiệm tối đa, còn xài tiền của người khác, của công quỹ thì rộng rãi, từ bi như “bồ tát”, nghĩa là xài thoải mái, vô tội vạ vì mình có bỏ ra đồng xu nào đâu!. Tôi nghĩ đây cũng là 1 việc ‘lỗi đức công bằng” nhất là phải tự hỏi mình đã đóng góp bao nhiêu cho đất nước này mà lại muốn nhận quá nhiều như vậy?

+ Khi nào cần đặt ống dinh dưỡng ở mũi hay ở bụng?

– Không có bệnh nặng bất trị

– Có khả năng tiêu dùng dinh dưỡng ( able to process nutrition), nếu thận không có khả năng lọc, người sẽ bị phù to lên

– Không phải ở thời gian cuối đời

Các cụ già hay bị lộn giữa thở và nuốt, đôi khi bị sặc cũng gây chết người. Ngoài ra đặt đường ống qua mũi cũng dễ gây nhiễm trùng khí quản, thường chỉ 2 tuần, đó là chưa kể việc gây khó chịu, vướng víu cho các cụ.

Còn mổ đặt ở bụng thì các cụ già rồi, cái “mớ bòng bong” trong bụng nhiều khi cũng rối tinh. BS mổ xong không biết tìm chỗ nào cho đúng để bỏ ống dinh dưỡng đúng chổ, có khi vì vậy mà lại sinh ra “tai nạn” chết người. Thống kê (2009 – 2010) cho thấy tỷ lệ người sống lâu trong những ngày cuối đời cao hơn, nếu được để yên.

Nhắc tới vụ đặt ống trợ thở và ống dinh dưỡng, tôi lại nhớ đến trường hợp của má tôi. Má tôi bị bệnh đau ở 2 bàn chân, nó gây cho bà khó chịu và đau đớn rất nhiều. Uống thuốc hoài không hết, BS cho biết chỉ còn cách mổ thôi, nhưng bà bị bệnh tiểu đường nên BS cảnh giác là sau khi mổ, tiểu đường có thể gây biến chứng nguy hiểm đến tánh mạng. Các con cố gắng cản ngăn không cho bà mổ, nhưng bà cứ nằng nặc đòi tôi phải gửi tiền về để bà đi mổ. Tôi phải ĐT về nói chuyện với má :

– Con không tiếc tiền gửi về cho má đi mổ, nhưng BS đã cảnh giác má mổ có thể khỏi, nhưng có thể má sẽ đi luôn, má đã suy nghĩ kỹ chuyện này chưa?

– Con ơi! má suy nghĩ kỷ lắm, má già rồi. Nếu Chúa cho sống thì sống mạnh khỏe, còn sống mà đau đớn như vầy má cũng không ham. Con cứ gửi tiền về cho má đi mổ, nếu Chúa thương cho má bình phục thì tốt. Còn không, nếu có chết má cũng chấp nhận, và không tiếc nuối gì nữa.

Trước đó mấy tháng tôi đã mua vé máy bay để mấy mẹ con về VN thăm ngoại vào dịp hè. Tôi muốn các con tôi gắn bó với quê hương, với nguồn cội bằng thực tế và tiếp xúc chứ không bằng hình ảnh hay nghe nói. Thời đó email chưa phổ biến, ĐT vừa đắt vừa khó khăn. Sau khi má mổ tôi gọi ĐT về theo dõi, hỏi thăm từng ngày, thấy tình hình diễn tiến khả quan tốt đẹp tôi cũng mừng. Nghe chị tôi kể lại, má tôi thấy khỏe còn vui vẻ lên kế hoạch khi nào mấy mẹ con tôi về sẽ làm tiệc lớn ăn mừng má mổ thành công. Nghe vậy tôi yên tâm lo chuẩn bị mua sắm hành trang cho mấy mẹ con về VN. Một buổi chiều tôi từ trường về nhận được tờ điện tín với những ký hiệu không thể đọc được, tôi hốt hoảng chạy ra bưu điện : “Má bị hôn mê, sắp chết”. Tôi bàng hoàng, dù đã biết cảnh giác của BS từ trước, tôi quay quắt không biết có nên tự trách mình đã đồng ý cho má đi mổ không?. Tôi gọi ĐT về nhà và được biết chỉ còn 1 hôm nữa là má xuất viện, bỗng dưng tiểu đường gây biến chứng rồi tình hình xấu đi rất nhanh và má rơi vào hôn mê. BS điều trị bó tay và cho chuyển qua BV khác để có phòng săn sóc đặc biệt: tiếp ống dưỡng khí và ống dinh dưỡng. Nhà cần tiền gấp để lo chi phí ở BV mới, tôi phải vội chạy ra nhà băng rút tiền để gửi về nhà. Cả đêm hôm đó tôi gối đầu trên nước mắt trăn trở không biết tôi đã làm đúng hay sai khi chìu theo ý má để má đi mổ? Tôi đã cẩn thận ĐT nói chuyện trực tiếp với má, nghe má trả lời phân tích có lý có tình nên tôi mới chìu theo ý má để má vui. Tôi quan niệm khi ba má ở tuổi già, còn có thể làm được gì cho ông bà vui lòng, tôi luôn làm tối đa, để sau này khỏi ân hận. Tôi biết người già nhu cầu vật chất không cao, ăn uống cũng chẳng được bao nhiêu, nên nhu cầu niềm vui tinh thần là quan trọng nhất nên tôi luôn cố gắng dành thời gian cho ba má. Tôi về VN làm sinh nhật, làm lễ thượng thọ cho ba má, dẫn ba má đi chơi những nơi ba má thích, sau này thì chỉ còn ngồi ăn cơm chung với ba má,lắng nghe ba má tâm tình kể chuyện buồn vui…Tôi làm những chuyện này thấy ba má vui nên lòng cũng vui , vì biết đó là” niềm vui của tuổi già” chứ không phải như có nguời nói “để sau này con cái bắt chước trả hiếu lại như vậy”. Tôi không kỳ vọng để khỏi bị thất vọng về con cái ở xứ Mỹ ( Don’t expect too much from people, the less you expect, the less disappointed you will be ). Sau này tôi nhớ đã đọc được trên Net câu nói nghe đau lòng nhưng thực tế: “Các bằng hữu ơi, cần phải ghi nhớ là chúng ta đều là những con người của cái thế hệ cuối cùng hiếu thuận với cha mẹ, lại cũng là những con người của cái thế hệ thứ nhất bị con cái bỏ rơi”

Với ý muốn đem niềm vui và dành thời gian nhiều cho ba má ở tuổi già, nên thời đó tôi về VN “như đi chợ” (có lẽ tôi bị nghèo vì khoản này), nhất là những lúc ba má ốm đau. Bây giờ phải chi má còn tỉnh, tôi sẽ rán bay về! Tôi không thể xin phép nghỉ đi VN bây giờ rồi tháng tới lại đi với các con . Nếu tôi không đi, chúng sẽ bỏ vé máy bay không đi luôn. Tôi ứa nước mắt nhủ thầm : ‘Má ơi, con sắp đem mấy đứa cháu ngoại về thăm má, sao má không chịu đợi tụi con hả má?” nhưng rồi nghĩ lại tôi cũng thấy lòng được an ủi khi nhớ lại lời ba má thường nói với tôi :”Ba má cám ơn con gái đã quan tâm và làm cho ba má vui thỏa hết các nguyện vọng của tuổi già. Bây giờ ba má có chết cũng vui lòng không có gì luyến tiếc. Nếu sau này vì ở xa mà không gặp ba má lúc ra đi thì con cũng không nên áy náy làm gì, ba má hiểu lòng con”. Tối nào tôi cũng ôm ĐT goi về VN nói chuyện với ba, tôi thương ba quá, vì sau khi má đi rồi ba sẽ cô đơn nhiều hơn trong lúc tuổi già xế bóng. Sau hơn 1 tuần tiếp dưỡng khí và dinh dưỡng tình hình má mỗi lúc một tệ hơn, ba tôi kể:

-Tội ngiệp má lắm con ơi! nguời chằng chịt những dây nhợ kim chích khắp nơi, bây giờ lại còn bị phù to lên nữa. Ba còn xót ruột vì mỗi ngày phải tiêu tốn biết là bao nhiêu tiền của con vô trong vụ này

– Ba đừng xót ruột vì tiền, nếu cứu được má con rất sẳn lòng dù có phải đi vay nợ. Ba nhắc chị X hỏi BS kỹ lại xem těnh trạng của má có cňn chút hy vọng gě không?

Hôm sau chị tôi cho biết tình trạng bệnh má, BS chịu thua rồi, rút ống ra thì vài tiếng sau bà sẽ đi. Còn để ống thì không biết đến bao giờ? Có thể bà sẽ ra đi bất chợt lúc nào không biết.

Tôi đau lòng trước tình trạng hiện nay của má, tôi nhớ má đã nói với tôi :”Má chấp nhận chết, không tiếc nuối gì cả”, chắc má không muốn nằm chờ chết dai dẵng khổ sở kiểu này. Đôi khi cần phải tỉnh táo để quyết định, tôi cầu nguyện, suy nghĩ và hôm sau gọi ĐT nói chuyện với ba:

-Ba ơi, tình trạng của má không còn hy vọng gì nữa. Con đề nghị rút ống ra, đem má về nhà, con cháu tụ họp tâm tình nói chuyện với má, đọc kinh cầu nguyện cho má để má ra đi bình an ở nhà, ba thấy sao?

– Ừ ba thấy con nói hợp lý, chứ để má như vầy hoài ba thấy tội quá! bây giờ tay chân má có vài chỗ bị phù, nứt rướm máu.

Nhưng không ngờ đề nghị “rút ống” của tôi bị cô em phản đối quyết liệt : “Như vậy là chị ấy muốn giết má. Chị ấy tiếc tiền nên muốn giết má cho sớm. Giết người là lỗi luật Chúa, là phạm tội…người ta nói “còn nước, còn tát”…” Trời ơi ! tôi nghe kể lại mà tim nhói đau như có ai bóp nghẹt, khi bị gán cho cái tội “muốn giết má” Chúa ơi, nghe sao mà “lòng đau, rạn vỡ”! Ba tôi và chị tôi nghe phạm tội “giết người” thì sợ quá, không dám có ý kiến. Tôi không hề sợ phạm tội giết người, tôi tin Chúa nhân từ thấu hiểu lòng tôi : Tôi không muốn má ra đi bất chợt trong phòng bịnh viện cô đơn lạnh lẽo,với đủ thứ giây nhợ, kim chích chằng chịch, máy móc chung quanh. Ai cũng sợ cái chết, nhưng chết trong khi thân xác mình bị hành hạ và tâm hồn không được bình an thì lại càng đáng sợ hơn. Tôi muốn má được về ngôi nhà thân yêu của mình, nằm nhẹ nhàng bình yên đó nghe con cháu vây quanh nói lời từ biệt, tôi sẽ gọi ĐT về nói chuyện với má, tôi tin má sẽ nghe được lời tôi nói ( có 1 mối giây linh thiêng để người dù hôn mê vẫn nghe được người thân yêu nói với mình, tôi đã có kinh nghiệm này), rồi mọi người cầu nguyện cho má để má ra đi nhẹ nhàng bình an. Nhưng bây giờ tôi không được quyền có ý kiến, tôi chỉ biết im lặng nhẫn nhịn và cầu nguyện.

Vài hôm sau có một Soeur, bạn của cô em đến thăm, nhìn thấy tình trạng của má tôi, bèn nói với cô em: “Sao Chúa đã muốn gọi bà về, không để cho bà ra đi nhẹ nhàng mà còn rán “níu kéo” chi để bà phải chịu đựng khổ sở như vầy! Tội cho bà quá!”. Lúc đó cô em tôi mới ngộ ra và chịu cho rút ống.

Tôi kể lại chuyện này vì có nhiều người đức tin chưa trưởng thành hiếu sai lệch, cứ tưởng là sự sống Chúa ban càng kéo dài càng tốt và chống lại cái chết cho tới cùng. Cha giảng thuyết đã nhấn mạnh : “Tất cả những gì trái với tự nhiên để cắt ngắn sự sống hay để kéo dài sự sống đều là trái với tín lý giáo hội” Bạn thân tôi theo đạo Phật cho rằng nếu đã tới giờ ra đi, mà không đi được thì linh hồn sẽ rất đau khổ, như bị “đọa”, tôi chỉ nhìn thân xác với đủ loại kim, ống, dây nhợ, rồi lỡ loét cũng đủ thấy quá khổ đau rồi.Ngày nay vì lý do nhân đạo và luân lý người ta khuyên không nên kéo dài sự sống, hãy để người bệnh ra đi thuận theo tự nhiên là tốt nhất

Khi nào từ chối những phương pháp trị liệu?

– Khi quá nặng nề, người bệnh bị công kích nhiều, hay bất cân xứng ( tốn quá nhiều tiền)

– Khi cần giảm bớt các triệu chứng đau đớn, khó chịu

– Binh viện làm gì khi sự chết gần kề? – Làm giảm đau và bớt áp lực tâm lý. Hiện nay các trường đại học y khoa ở Mỹ, các BS chuyên khoa về những ngày cuối đời được đào tạo riêng để họ rành về tâm lý, an sinh

+ Khi nào dùng chuyên khoa An Trị (when is Palliative care approriate?).

Khi không còn chữa bệnh được nữa, An Trị trở nên một tiến trình giúp bệnh nhân ra đi một cách an bình và tự nhiên, giúp xoa dịu nỗi đau của bịnh nhân. Chuyên khoa này mới có ở Mỹ khoảng 10 năm nay : Cho bịnh nhân có quyền chọn cách an trị, chọn ưu tiên cho cơ thể và tâm trí thoải mái hơn là chữa bịnh:

– Lúc đầu mới nhập viện: Chữa bịnh – An Trị ; Lúc sau thì ưu tiên đảo ngược : An trị – Chữa bịnh

– Khi sự chết gần kề An trị càng được nâng cao (kill the pain not kill the patient)

+ Khi nào cư trị? (When is hospice approriate?)

Trong vòng 6 tháng của thời kỳ cuối đời tạo một không gian êm đềm giúp bệnh nhân thoải mái tối đa, không sợ hãi, luôn trông cậy. Đây là lúc quan trọng của vai trò tôn giáo để giúp bệnh nhân yên lòng ra đi về thế giới mới. Mục vụ bịnh nhân (Pastoral Care) là “Trung tâm điểm của giáo hội Công Giáo” nhưng còn quá nhiều thiếu sót, nên cần sắp đặt lại ưu tiên cho người bệnh, kẻo đi ngược lại với truyền thống giáo hội. Ngày xưa giờ chót của Chúa, ngài cũng kêu gọi môn đệ hãy thức tỉnh với ngài, hãy ở cùng ta vì lòng ta buồn sầu đau đớn. Đây là lúc nguời bệnh cần sự ủi an và nâng đỡ tinh thần nhiều nhất về phương diện tâm linh.

Người thân có đồng hành với bệnh nhân không? Đây là giai đoạn quan trọng trong đời, người bệnh cần đến sự có mặt, cần đến tình thương của những người thân yêu ở cận kề bên để người bệnh cảm thấy ấm áp với tình thân chung quanh, chứ không phải đợi chết xong rồi lo làm ma chay đình đám, khóc lóc thương tiếc.

Bạn đã để lại “Di chúc y tế” chưa?

Theo thống kê chỉ có 5% dân Mỹ để lại “Di chúc Y Tế”, Việt Nam thì chắc còn ít hơn nữa 1%?

Ai cần để lại “Di chúc y tế?’ Thưa tất cả mọi người, vì không ai biết mình sẽ ra đi lúc nào? ngay cả người trẻ tuổi, cha cho biết hiện nay bịnh viện UCI có tới 8 unit ICU (hơn 1/3 bịnh viện) Những người vào ICU rồi, đa số đều “ra đi không trở lại” và tỷ lệ người trẻ chiếm hơn 70%, cỡ khoảng 50 tuổi là nhiều nhất. Cha cho biết dạo này người trẻ bịnh chết nhiều lắm. Vậy “Di chúc y tế” không phải chỉ cho người già mà cả người trẻ vừa và rất trẻ cũng đều cần như nhau.

Khi được đưa vào bịnh viện câu hỏi đầu tiên là bạn đã có “Di chúc sức khỏe” (Advance Health Care Directive) chưa? Nếu có rồi thì moi việc sẽ tuân theo ý kiến của bạn trong đó mà thi hành ( vì đây là luật) Ở Mỹ mọi thứ đều phải ghi xuống giấy, ký tên rõ ràng chứ không thể nói bằng miệng được. Nếu không có nó bạn sẽ gặp nhiều rắc rối mà bạn không ngờ tới: trước những quyết định quan trọng về điều trị, không biết ai là người có thẩm quyền chính, nhiều phiền phức tranh chấp có thể xảy ra. Ngoài ra bạn còn có thể bị “dụ dỗ” với những cách điều trị mà bạn không hề thich trước đó, hay có thể bạn sẽ bị “cư xử” với những điều mà bạn không hề muốn như trường hợp : con gái duy nhất của danh ca Whitney Houston mới 22 tuổi vừa nhận được gia tài của mẹ để lại khoảng vài chục triệu đô chưa được bao lâu thì cô bị stroke, hôn mê, cô không để lại di chúc y tế, nên tình trạng sức khỏe của cô không ai thay cô quyết định được hết ( kể cả thân nhân của cô ). Vậy bạn hãy khôn ngoan chuẩn bị cho mình một kế hoạch để đến một noi mà chắc chắn bạn sẽ đến và phải đến như một “hẹn hò lần cuối” không từ khước được

Bạn có thể lên http://www.agingwithdiginity.org để order “Five Wishes” (5 nguyện vọng), có bản tiếng Việt và điền vào ngay hôm nay. Năm nguyện vọng là một dụng cụ truyền thông tốt cho bạn và gia đình, bạn bè và bác sĩ để nói về mong muốn của bạn. Nó bảo vệ người thân tránh sự lựa chọn khó khăn khi không biết mong muốn của bạn. Ngoài ra bạn có thể hiến tặng bất kỳ cơ phận thân thể mình như một kỷ niệm để lại cho đời, sau khi bạn đã “chia tay với đời sống này”. Nó độc đáo ở chỗ cho phép bạn nói với những người thân yêu của bạn những điều mà bạn khó nói bằng lời, và giúp cho bạn bày tỏ ý kiến bạn muốn được ghi nhớ hay lễ tưởng niệm ra sao? bạn muốn mặc bộ áo nào ? hoặc bạn có thể nêu tên 1 bài hát, 1 bài thơ… mà bạn yêu thích đặc biệt và muốn được nghe nó trong buổi tiển đưa bạn…vì đây là buổi “hẹn hò lần cuối” của bạn với cuộc đời, hãy để nó diễn ra như ý bạn thích. Lúc này đây bạn có thể tự do bộc lộ tình yêu chất chứa trong tim bạn vì “Tình yêu là thứ duy nhất chúng ta có thể mang theo mình khi ra đi, và nó khiến kết thúc trở thành dễ dàng”

Cầu chúc bạn có một “hẹn hò lần cuối” đẹp như mơ, êm đềm, như ý và lãng mạn :

“Xin vĩnh biệt mọi người.
Tôi ra đi lần cuối không bao giờ trở lại.

Tôi đã choàng vào vòng hoa tươi.
Đã khoác vào chiếc áo tân hôn.
Đây là giờ tôi đến với Người.
Mang theo chỉ có mỗi con tim.”

(T.C. phỏng theo thơ Tagore)

Phượng Vũ

( Buổi nói chuyện của L.M. Nguyễn Thanh Sơn)

Giảng sư trường Y khoa Đại Học UCI, Tiến sĩ Thần Học Luân Lý

Linh mục Trưởng Phòng Tuyên Úy Bịnh viện UCI

GẶP GỠ ĐỨC KITÔ PHỤC SINH

GẶP GỠ ĐỨC KITÔ PHC SINH

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Trong suốt tuần Bát Nhật, từ đêm vọng Phục sinh tới hôm nay, Chúa nhật II Phục sinh, các bài đọc đã trình bày cho ta nhiều lần Đức Kitô phục sinh hiện ra.  Từ những lần thấy Đức Kitô phục sinh hiện ra ấy, các môn đệ đã có những cảm nghiệm sau đây:

1. Cảm nghiệm đầu tiên là, Đức Kitô đồng hành với họ trên mọi nẻo đường.

Đức Kitô phục sinh không còn bị giới hạn trong không gian.  Người có thể cùng lúc xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau.  Người xuất hiện trong vườn, gần mồ chôn Người.  Người xuất hiện bên bờ hồ, nơi các môn đệ đang chài lưới.  Người xuất hiện ở làng Emmau, cách Giêrusalem một quãng đường dài.  Người xuất hiện trong phòng đóng kín cửa, nơi các môn đệ tụ họp.  Sau này, Người còn xuất hiện ở mãi tận Damas, bên nước Syrira, nơi Phaolô lùng bắt người theo đạo.  Không gian xa xôi không làm chậm bước Ngài.  Không gian khép kín không ngăn được bước Ngài.  Đức Kitô phục sinh ra khỏi mồ có mặt trên mọi nẻo đường của cuộc sống.

Đức Kitô phục sinh cũng không bị giới hạn trong thời gian.  Người xuất hiện với Maria khi trời còn đẫm sương khuya.  Người xuất hiện bên bờ hồ với các môn đệ khi bình minh vừa ló rạng.  Người xuất hiện trong phòng tiệc ly ngay giữa ban ngày.  Người xuất hiện ở Emmau khi trời sụp tối.  Trong mọi lúc của cuộc đời, Đức Kitô luôn có mặt.  Không có thời gian nào Người không ở bên ta.

Đức Kitô phục sinh không còn bị giới hạn, trong một cảnh ngộ cuộc sống nhất định.  Trong vườn, Người xuất hiện như người làm vườn.  Bên những người chài lưới, Người xuất hiện như một bạn chài chuyên nghiệp, rành rẽ đường đi của đàn cá.  Trên đường Emmau, Người xuất hiện như một khách hành hương, đồng hành với hai linh hồn buồn bã, e ngại đường xa.  Người xuất hiện để khích lệ các môn đệ đang lo buồn sợ hãi.  Người xuất hiện để soi chiếu niềm nghi ngờ tăm tối của Tôma.

2. Cảm nghiệm thứ hai là, Đức Kitô phục sinh khơi dậy niềm bình an, tin tưởng.

Biết các môn đệ đang buồn sầu, bối rối, bấn loạn sau cái chết của Thầy, Đức Kitô phục sinh mỗi lần hiện ra, đều chúc các ông: “Bình an cho các con.”  Người còn thổi hơi vào các ông và nói: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần.”

Cử chỉ thổi hơi nhắc cho ta nhớ lại việc sáng tạo.  Khi ấy vũ trụ còn là một khối hỗn mang, vô định hình.  Rồi Thần Linh Chúa bay là là trên mặt nước.  Nhờ đó mọi vật dần dần có hình hài vóc dáng, đi vào trật tự, ổn định.

Sau cuộc khổ nạn của Đức Kitô, tâm hồn các môn đệ cũng tan nát như một khối hỗn mang, vô định hình.  Đức Kitô thổi hơi ban Thánh Thần trong một tạo dựng mới, đem lại trật tự ổn định, uốn nắn các môn đệ thành những con người mới, tràn đầy bình an của Chúa Thánh Thần.  Sau khi gặp Đức Kitô phục sinh, Maria buồn bã trở nên vui tươi, hai môn đệ Emmau u sầu tuyệt vọng trở nên phấn khởi, các môn đệ chài lưới mệt mỏi rã rời được hồi phục sức lực, các môn đệ sợ sệt bối rối ẩn núp trong phòng được bình an, Tôma nghi nan bối rối được vững niềm tin mến.  Đức Kitô phục sinh chính là niềm bình an cho các ông.

3. Cảm nghiệm thứ ba, cũng là cảm nghiệm quan trọng nhất, Đức Giêsu phục sinh làm cho cuộc đời có ý nghĩa.

Sau khi Đức Kitô bị hành hình, cả một bầu trời sụp đổ.  Các môn đệ tuyệt vọng.  Họ sống trong lo sợ, buồn bã, chán chường.  Không, họ không còn sống nữa vì cuộc đời đối với họ chẳng còn ý nghĩa gì. Họ như đã chết với Thầy.  Chỉ còn nỗi lo sợ, nỗi buồn, niềm tuyệt vọng sống trong họ thôi.  Đức Kitô là linh hồn của họ.  Linh hồn đã ra đi.  Xác sống sao được.

Khi Đức Kitô phục sinh trở lại, những xác chết bỗng hồi sinh, những bộ xương khô bỗng chỗi dậy, mặc lấy da thịt, trở lại kiếp người, những trái tim nguội lạnh trở lại nhịp đập, ánh mắt nụ cười lại rạng rỡ tươi vui, vì cuộc sống từ nay có một linh hồn, cuộc sống từ nay có một ý nghĩa.

4. Cảm nghiệm cuối cùng là Đức Kitô phục sinh sai họ đi loan báo Tin Mừng Phục sinh.

Đức Giêsu Phục sinh đã biến đổi toàn bộ cuộc đời các môn đệ.  Đức Kitô phục sinh là Tin Mừng lớn lao trọng đại đem lại ý nghĩa cho cuộc đời.  Nên các môn đệ không thể không loan báo Tin Mừng lớn lao đó.  Maria lập tức chạy về loan tin cho các môn đệ, mời Phêrô và Gioan đến xem ngôi mộ trống.  Hai môn đệ Emmau lập tức trở về Giêrusalem bất chấp trời đã tối đen.  Phêrô chạy bay ra mồ dù còn sáng sớm và còn bị nỗi sợ người Do Thái ám ảnh.  Và sau này, Phaolô, sau khi ngã ngựa, đã trở thành một người loan báo Tin Mừng không biết mệt mỏi.

Hôm nay chính Đức Kitô Phục Sinh nói với các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con.”

Tất cả những người đã thấy Đức Giêsu Phục Sinh đều trở thành những sứ giả loan báo Tin Mừng Phục Sinh.  Tất cả các môn đệ đều đã lấy máu mình mà làm chứng cho lời rao giảng.  Vì Đức Kitô phục sinh là một Tin Mừng không thể không chia sẻ.  Vì lệnh sai đi của Đức Kitô là một lệnh truyền không thể chống cưỡng.  Như Thánh Phaolô sau này đã nói: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng.”

Hôm nay Đức Giêsu Phục Sinh cũng đang hiện diện bên ta.  Người luôn ở bên ta trong mọi thời gian. Từ buổi bình minh khi ta mới chào đời cho đến lúc mặt trời chói lọi của tuổi thanh niên.  Từ lúc xế chiều của đời xế bóng cho đến lúc bóng đêm tuổi già phủ xuống đời ta.

Người vẫn ở bên ta trong mọi không gian: trong nhà thờ, nơi trường học, ở sở làm, nơi giải trí, trong gia đình, trong chòm xóm.

Người vẫn ở bên ta trong mọi cảnh ngộ vui buồn của cuộc đời.  Người ở bên em bé mồ côi đang khóc đòi vú mẹ.  Người ở bên em học sinh đang miệt mài đèn sách.  Người ở bên cô thiếu nữ đau buồn vì bị tình phụ.  Người ở bên chàng thanh niên lạc hướng giữa ngã ba đường.  Người ở bên những cuộc đời bế tắc không lối thoát.

Chỉ cần quay đầu, dừng bước là gặp được Người.  Hãy khao khát đón chờ Người.  Hãy tỉnh thức lắng nghe tiếng bước chân Người.  Bước chân Người rất nhẹ nhàng, không ồn ào.  Đừng bỏ lỡ cơ hội gặp Người.

Gặp được Người, lòng ta sẽ bình an, linh hồn ta sẽ hồi sinh, cuộc đời ta sẽ sống, sống mãnh liệt, sống phong phú, sống dồi dào.

Lạy Đức Kitô Phục Sinh, con đang chìm trong cái chết dần mòn. Xin hãy đến và cho con được Phục Sinh với Người.

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Mẹ Nấm được trao giải Người Bảo Vệ Quyền Dân Sự

Mẹ Nấm được trao giải Người Bảo Vệ Quyền Dân Sự

2015-04-10

menam-622.jpg

Blogger Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh.

Photo: RFA

Blogger Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là nhân vật được tổ chức Civil Rights Defender trao giải Người Bảo vệ Quyền Dân sự năm nay.

Tổ chức này công bố như vừa nêu vào hôm qua 10/04/2015.

Theo Civil Rights Defenders Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là một điều hợp viên của Mạng Lưới Blogger Việt Nam. Bản thân cô được nhiều người trong nước biết đến qua hoạt động sử dụng các công cụ mạng xã hội để tố cáo bất công, nhũng lạm cũng như tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam.

Tôi không muốn con cái tôi phải tranh đấu và làm những điều mà tôi đang phải làm hiện nay.
Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh

Blogger Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được Civil Rights Defender đánh giá là bất chấp nguy hiểm cho bản thân, cô dấn thân ra ngay tuyến đầu hoạt động nhân quyền tại Việt Nam. Sự sáng tạo và cởi mở của bản thân cô khi khai sinh ra căn cứ mới cho quyền tự do bày tỏ và nói thay cho những người không thể lên tiếng đã tạo ra một nguồn động lực.

Câu nói được chú ý của cô là ‘tôi không muốn con cái tôi phải tranh đấu và làm những điều mà tôi đang phải làm hiện nay’.

Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh hiện đang là một trong những bloggers của Đài Á Châu Tự Do.

Ai giải phóng ai?: Những đóng góp của Đế chế Pháp, Mỹ Ngụy và Đảng Cộng Sản cho Việt Nam

Ai giải phóng ai?: Những đóng góp của Đế chế Pháp, Mỹ Ngụy và Đảng Cộng Sản cho Việt Nam

THĐP

Ku Búa

08-04-2015

Ảnh: Leon_Ting

32 thứ đế chế Pháp đã đóng góp cho Việt Nam

Chúng ta đã được dạy rằng Đế Chế Pháp đã xâm lược và đô hộ Việt Nam. Họ đã bốc lột đất nước và người dân Việt Nam để làm giàu cho nước họ. Họ không cho chúng ta tự do ngôn luận và cai trị với phương pháp ngu dân. Đó là lý do tại sao Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã ra đi tìm đường cứu nước. Để giải phóng đất nước và dân tộc khỏi sự cai trị ngu đần và bốc lột của Đế Chế thực dân Pháp.

Nhưng trong bài viết này, với tư cách là một người đang được thừa hưởng sự hòa bình, tôi xin nêu ra những gì mà Đế Chế Pháp đã đóng góp cho Việt Nam. Theo phân tích của tôi, Đế Chế Pháp đã khai sáng đất nước Việt Nam từ 4000 năm đen tối trong 1 thế kỷ mà họ đã cai trị ở đây. Dĩ nhiên, chế độ nào cũng có mặt tích cực và tiêu cực, nhưng nếu chúng ta chỉ coi Pháp là một đế chế xâm lược mà phủ nhận những gì họ đã đóng góp cho Việt Nam, đó là một sự thiếu hiểu biết và ngạo mạn. Sau đây là 32 điều và thứ mà Đế Chế Pháp đã đóng góp cho Việt Nam và sẽ bắt đầu với thứ quan trọng nhất.

  1. Quốc Ngữ (Latin hóa quốc ngữ Việt Nam) – hãy tưởng tượng người Việt Nam sẽ như thế nào nếu giờ vẫn sử dụng chữ Hán và Nôm. Đó là một điều mà không ai muốn xảy ra.
  2. Hạt cà phê – Hiện tại Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 trên thế giới, chỉ sau Brazil. Cà phê đóng góp tầm 3% cho kinh tế Việt Nam.
  3. Phin cà phê – Một biểu tưởng độc đáo của Việt Nam.
  4. Cà phê đá – Một loại nước uống gần như không thế thiếu vào buổi sáng. Một trong những biểu tượng ẩm thực của Việt Nam.
  5. Cà phê sữa đá – Tương tự. Cũng là 1 thứ tui phải uống vào mỗi buổi sáng. Có khi 2-3 ly 1 ngày.
  6. Văn hóa cà phê – Việt Nam tìm thêm sức sống trong những giọt cà phê là cũng nhờ Đế Chế Pháp giới thiệu.
  7. Đường rầy xe lửa xuyên Việt. Nhờ Đế Chế Pháp mà Việt Nam đã được kết nối từ nam ra bắc, hiện giờ vẫn là một trong những phương tiện vận chuyển.
  8. Quốc Lộ 1A – Khởi hành bởi thực dân Pháp. Hiện tại thì là con đường chính kết nối ba miền bắc trung nam của Việt Nam.
  9. Điện.
  10. Xe đạp.
  11. Xe máy.
  12. Xe hơi.
  13. Cao su.
  14. Bánh mì – Một biểu tượng ẩm thực và văn hóa.
  15. Nhà thờ Đức Bà – Một trong những biểu tưởng của Việt Nam, nhưng lại là một sản phẩm của Đế Chế Pháp.
  16. Thành Phố Đà Lạt – Một trong những thành phố thơ mộng nhất thế giới, được khám phá và xây dựng bởi người Pháp.
  17. Nhà Thờ Con Gà (Đà Lạt) – Khánh thành 1942. Một trong những biểu tượng của Đà Lạt.
  18. Cao Đẳng Sư Phạm Đà Lạt (tên cũ: Trường Grand Lycée Yersin) – Thành lập năm 1927, thiết kế bởi kiến trúc sư Moncet. Một trong 1000 công trình xây dựng độc đáo trong thế kỷ 20. Một trong nhưng biểu tượng của Đà Lạt và du lịch Việt Nam.
  19. Khách Sạn Dalat Palace – Một trong những khách sạn 5 sao ở Đà lạt. Xây năm 1916, hoàn thành năm 1922.
  20. Thành Phố Sa Pa – Một thành phố du lịch thơ mộng của Việt Nam.
  21. Thành Phố Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông.
  22. Bến Nhà Rồng (Bảo Tàng TP Hồ Chí Minh) – Hoàn tất năm 1863. Cũng tại nơi đây, một chàng thanh niên Việt Nam tên Nguyễn Tất Thành đã bắt đầu cuộc hành trình xa quê hương để tìm đường cứu nước (làm phản động thời bấy giờ).
  23. Nhà hát lớn thành phố Hồ Chí Minh – Mở cửa năm 1990. Một trong những biểu tưởng của Sài Gòn.
  24. Bưu điện trung tâm Sài Gòn – Một trong những công trình kiến trúc vĩ đại ở Việt Nam.
  25. Thành Phố Vũng Tàu – Một thành phố biển thơ mộng và là một nơi người Sài Gòn đến nhiều nhất nhờ vị trí địa lý.
  26. Bạch Dinh (Vũng Tàu) – Xây dựng thời Pháp từ 1898 tới 1916. Một trong nhưng biểu tượng cảu thành phố Vũng Tàu.
  27. Trường Petrus Ký Sài Gòn (hiện này là trường chuyên Lê Hồng Phong – TPHCM).
  28. Cầu Trường Tiền (Huế) – Một biểu tưởng của Huế.
  29. Khách Sạn Metropole Hà Nội (hiện này là Sofitel Legend Metropole Hanoi).
  30. Cầu Long Biên Hà Nội. Một trong những biểu tưởng của Hà Nội.
  31. Sự khởi nghiệp của Hồ Chí Minh – Trong thời đế chế Pháp, Pháp đã cho ông lên thuyền đi qua Pháp. Pháp đã đón nhận ông trong âm thầm và cho phép ông làm phản động trong âm thầm. Để ông có bước khởi nghiệp vững chắc vì không bị ai quy cho cái tội phản động. Sau khi về nước, một lần nữa Pháp lại cho ông làm phản động để sau này các cháu ngoan của ông lại bắt bỏ tù những đứa phản động giống ông ngày xữa. Có điều gì đó ông đúng.
  32. Âm nhạc tây phương.

Những đóng góp của Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) cho Việt Nam

Chế Độ VNCH không hoàn hảo và đã phải trải qua thời gia đình trị dưới sự cầm quyền của Ngô Đình Diệm. Nhưng nếu xét về tự do ngôn luận và phát triển kinh tế thì chế độ VNCH đã góp phần không thua kém Đế Chế Pháp trong việc hiện đại hóa Việt Nam.

  1. Tự do ngôn luận là một điều bất khả xâm phạm. Các thành viên của các tổ chức chính trị có thể lên tiếng phản đối chính quyền công khai mà không bị bắt.
  2. Hệ thống chính trị tam quyền phân lập (Đệ Nhị Cộng Hòa 1967-1975). Khái niệm dân chủ theo cơ sở tam quyền phân lập thời đó rất xa lạ, VNCH là một ví dụ hiếm hoi.
  3. Đường lộ ở Tây Nam, tới bây giờ vẫn còn. Và nhiều đường lộ khác nữa.
  4. Giáo dục cao học đa ngôn ngữ và được quốc tế công nhận. Rất nhiều tri thức Việt Nam tốt nghiệp trong thời VNCH sau 1975 di dân vẫn được các nước khác ông nhận bằng cấp. Nhưng nếu tốt nghiệp dưới thời hậu VNCH thì không.
  5. Những bài nhạc cổ điển, chữ tình, nhạc “sến”, tới bây giờ vẫn còn được hát như nhạc Trịnh Công Sơn. Một điều khó xảy ra nếu những nhạc sĩ đó sống ở miền Bắc Việt Nam.
  6. Xe hơi La Dalat. Dưới thời VNCH Việt Nam đã sản xuất được xe hơi. Công Ty Xe Hơi Sài Gòn đã thành công trong việc nội địa hóa công nghệ và vật chất hơn 40% để sản xuất hơn 5,000 chiếc xe hơi La Dalat từ 1970 tới 1975. Đây là điều không tưởng trong một đất nước vẫn còn chiến tranh. Tới bây giờ ngành công nghiệp xe hơi Việt Nam đã thua cả Campuchia.

Những đóng góp của Đảng Cộng Sản cho Việt Nam

  1. Tượng mẹ Việt Nam Anh Hùng ở Quảng Nam, tốn 411 tỷ, đây là một công trình Mount Rushmore của Việt Nam.
  2. 50,000 tiến sĩ và 100,000 thạc sĩ các ngành nghề.
  3. Giá bất động sản cao nhất khu vực và có thể trên thế giới khi tính theo thu nhập đầu người. Một người Việt Nam bình thường phải đi làm 30-40 năm mới có đủ tiền để mua một căn nhà.
  4. Văn hóa xe máy, Việt Nam là nước có xe máy nhiều nhất với số lượng đăng ký trên dưới 30 triệu. Cứ 3 người Việt Nam thì có 1 chiếc xe máy.
  5. Số người chết vì tai nạn giao thông nhiều nhất, trung bình mỗi năm có 9,000-10,000 người chết vì tai nạn giao thông.
  6. Đồng tiền có nhiều con số “không” nhất hiện tại, chỉ sau Zimbabwe. $1 Đô La Mỹ đổi lấy hơn 21,000 Việt Nam Đồng.
  7. Giá xe hơi cao nhất về giá thị trường và dựa theo thu nhập bình quân. Trung bình 1 người Việt Nam phải đi làm 30 năm để có được một chiếc xe hơi. Giá xe hơi ở Việt Nam thường cao hơn giá thị trường thế giới gấp 3 lần vì thuế nhập khẩu cũng như chi phí vận chuyển và lợi nhuận.
  8. Việt Nam hiện tại có thể nói đã trở thành một dân tộc thiểu số lớn nhất nhì ở Đài Loan và Hàn Quốc. Hàn Quốc có hơn 60,000 phụ nữ Việt lấy chồng Hàn và Đài Loan có hơn 100,000 phụ nữ Việt lấy chồng Đài Loan. Nếu cộng thêm số lượng con cái từ những hôn nhân đó và số lượng lao động Việt Nam đang làm việc ở xứ sở tại, dân tộc Việt Nam là thiểu số đông nhất.
  9. Giá thuốc lá và bia rượu rẻ nhất thế giới.
  10. Xin các bạn đọc bài “23 điều vô lý chỉ có ở Việt Nam”.

Vậy theo các bạn, ai đã giải phóng ai?

Mỹ lo Trung Quốc ỷ mạnh hiếp yếu ở Biển Đông

Mỹ lo Trung Quốc ỷ mạnh hiếp yếu ở Biển Đông

Một tàu hải giám Trung Quốc truy đuổi một tàu của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam năm 2014.

Một tàu hải giám Trung Quốc truy đuổi một tàu của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam năm 2014.

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tuyên bố Washington lo ngại việc Trung Quốc đang dùng sức mạnh và tầm vóc của mình để gạt ra các nước nhỏ hơn cùng có tuyên bố chủ quyền các khu vực ở Biển Đông.

Phát biểu tại một buổi họp công nhân chuyến thăm Jamaica hôm qua, ông Obama nhấn mạnh Washington quan ngại rằng Bắc Kinh không nhất thiết tuân thủ các quy định và chuẩn mực của quốc tế, buộc các nước phải chịu dưới thế của Trung Quốc.

Những dự án của Trung Quốc khẩn trương bồi đắp, cải tạo đất xung quanh các bãi đá ở quần đảo Trường Sa trên Biển Đông khiến các nước khác cũng có tuyên bố chủ quyền tại đây như Việt Nam và Philippines báo động.

Ông Obama nói: “Chúng tôi cho rằng việc này có thể được giải quyết qua con đường ngoại giao, nhưng chỉ vì Philippines hay Việt Nam không lớn như Trung Quốc không có nghĩa là những nước này có thể bị hất qua một bên.”

Tổng thống Obama nhấn mạnh Hoa Kỳ không có quan điểm riêng biệt về các tranh chấp chủ quyền, chỉ mong muốn tất cả các bên sử dụng các cơ chế sẵn có trên quốc tế để giải quyết tranh chấp.

Trung Quốc bênh vực việc họ cải tạo đất đai tại các đảo có tranh chấp, nói rằng chỉ thực hiện công tác ‘xây dựng và bảo trì.’

Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Hoa Xuân Oánh, tuyên bố: “Hoạt động xây dựng và bảo trì của chính phủ Trung Quốc tại một số nơi ở quần đảo Trường Sa chỉ chủ yếu nhằm cải thiện những chức năng liên hệ của các đảo, cải thiện tiêu chuẩn sinh sống và làm việc của đội ngũ nhân sự trú đóng tại đây, đảm bảo tốt hơn chủ quyền hàng hải và lãnh thổ của Trung Quốc, giúp hoàn thành tốt hơn công tác tìm kiếm-cứu hộ, ngăn ngừa thảm họa, cứu trợ, nghiên cứu khoa học biển, theo dõi khí tượng, bảo vệ môi trường, an ninh hàng hải, các dịch vụ sản xuất đánh bắt, và những trách nhiệm-nghĩa vụ quốc tế mà chúng tôi đang thực hiện. Hoạt động xây cất liên hệ là vấn đề hoàn toàn nằm trong phạm vi chủ quyền của Trung Quốc, công bằng, hợp lý, hợp pháp, không ảnh hưởng và cũng không nhắm mục tiêu chống lại bất kỳ quốc gia nào, không thể chê trách vào đâu được.”

Phát biểu với báo giới hôm qua, người phát ngôn Bộ Ngoại giao  Mỹ, Jeff Rathke, cho biết giới chức hoa Kỳ lo rằng Trung Quốc có thể tiến hành quân sự hóa các đảo mà họ bồi đắp nhằm củng cố tuyên bố chủ quyền của họ tại những vùng có tranh chấp.

Tổng thống Obama nói bất chấp những tranh chấp với Bắc Kinh, sức mạnh kinh tế của Trung Quốc đóng một vai trò tích cực trên thế giới và rằng Hoa Kỳ hoan nghênh các khoản đầu tư hỗ trợ của Bắc Kinh trên toàn cầu.

Các hình ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc có phần chắc đang xây dựng các đường băng tại những nơi từng là khu vực có cây cối rậm rạp, xây cảng cùng các nhà kho dự trữ nhiên liệu.

Vì Chúa đã phục sinh

Lạy Chúa phục sinh,
vì Chúa đã phục sinh
nên con thấy mình chẳng còn gì phải sợ.

Vì Chúa đã phục sinh
nên con được tự do bay cao,
không bị nỗi sợ hãi của phận người chi phối,
sợ thất bại, sợ khổ đau,
sợ nhục nhã và cái chết lúc tuổi đời dang dở.

Vì Chúa đã phục sinh
nên con hiểu cái liều của người Kitô hữu
là cái liều chín chắn và có cơ sở.
Cái liều của những nữ tu phục vụ ở trại phong.
Cái liều của cha Kolbê chết thay cho người khác.
Cái liều của bậc cha ông đã hiến mình vì Đạo.

Sự Phục Sinh của Chúa là một lời mời gọi
mang một sức thu hút mãnh liệt
khiến con đổi cái nhìn về cuộc đời :
nhìn tất cả từ trên cao
để nhận ra giá trị thực sự của từng thụ tạo.

Sự Phục Sinh của Chúa
giúp con dám sống tận tình hơn
với Chúa và với mọi người.
Và con hiểu mình chẳng mất gì,
nhưng lại được tất cả.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

http://dongten.net

7 câu chuyện khó tin nhưng có thật

7 câu chuyện khó tin nhưng có thật

Nguoi-viet.com
Có những trùng hợp khó mà giải thích được bằng lý luận thường tình, mà chỉ có thể mượn hai chữ “số mệnh”. Sau đây là 7 câu chuyện “nghe mà rùng mình” chứng minh điều này.

Bạn có tin vào số mệnh? (Hình minh họa: Getty Images)

1. Đi tảo mộ, cả gia đình bảy người chết đuối

Một gia đình đi tảo mộ thân nhân trong dịp lễ Thanh Minh ở vùng Nam Trung Quốc đã bị chết đuối khi một cô gái 17 tuổi trong nhà rơi xuống hồ nước trong khi rửa tay sau lễ bên phần mộ tổ tiên trong ngày lễ Thanh Minh. Sáu người thân trong nhà nhảy xuống tìm cách cứu cô, chết theo. Chính quyền thành phố cho hay rằng không ai trong số các thân nhân là người bơi giỏi nhưng họ cố tìm cách cứu cô. Cô gái và cả cha mẹ cùng các em, tuổi từ 13 đến 15, đều thiệt mạng.

2. Xe lao xuống sông, mẹ chết, cảnh sát nghe tiếng kêu cứu bí ẩn quanh bé 18 tháng tuổi

Hai mẹ con tới thăm ông bà ngoại ở thành phố Salem và gặp tai nạn trên đường trở về nhà. Chiếc xe chở mẹ con nạn nhân lao vào rào chắn bê tông rồi chệch khỏi cây cầu và lao xuống sông. Người mẹ chết tại chỗ. Chiếc xe lật ngược, bé gái 18 tháng tuổi trong ghế an toàn không chết đuối trong nước. Một ngư dân phát hiện ra chiếc xe và gọi cấp cứu. Cảnh sát cho hay đứa trẻ được tìm thấy trong tư thế treo ngược, khi nước chảy qua xe. Chiếc xe không bị cuốn đi vì nước đã tràn vào bên trong. Sông lạnh tới nỗi ba cảnh sát và bốn nhân viên cứu hộ bị giảm thân nhiệt. Vậy mà bé vẫn sống sót trong nhiệt độ này sau hơn 14 tiếng đồng hồ. Cả bốn nhân viên cứu hộ đều khai rằng họ nghe tiếng một người lớn phát ra từ trong xe, cầu cứu “Help Me!”, dù người mẹ đã chết nhiều giờ trước đó và không có ai khác ở hiện trường.

3. Chết ba con nhỏ, lại sinh ba tương tự

Em Kyle đang trên đường mừng sinh nhật thứ 5 của mình cùng gia đình và hai em gái, bốn tuổi và hai tuổi. Trên đường về, một xe tải tông vào, khiến cả ba trẻ ngồi phía sau chết tại chỗ. Đau khổ, cả cha và mẹ không dám ở gần bất kỳ trẻ em nào vì sợ nghĩ đến những đứa con xấu số. Ba tháng sau, hai vợ chồng quyết định vượt qua quá khứ để hướng về tương lai. Họ thụ tinh nhân tạo. Kết quả hiện lên trong sự bất ngờ: có ba trứng kết tinh thành công, gồm một trai và hai gái. Hai vợ chồng chia sẻ: “Ashley, Elie và Jake không thay thế Kyle, Emma, và Katie. Gia đình chúng tôi luôn nhớ đến và mãi thương yêu Kyle, Emma, và Katie.”

4. Mạng đổi mạng, dù sớm hay muộn

Khi ông Henry Ziegland chia tay người bạn gái, cô này đau buồn và tự vẫn. Anh trai cô giận dữ, tìm đến ông Ziegland và bắn ông trước khi tự vẫn. Không ngờ, ông Ziegland chỉ bị thương nặng và được cứu sống. Viên đạn chỉ xướt qua mặt ông, sau đó bay ghim vào một cây cổ thụ gần đó. Nhiều năm sau đó, ông Ziegland vì một lý do nào đó đã quyết định phải cưa đổ cây này. Cây quá vững chắc, không thể dùng sức người chặt được, ông Ziegland đặt một lượng thuốc nổ nhỏ để phá hủy cây. Đáng tiếc, khi cây nổ, viên đạn cũ văng ra, bắn vào đầu ông Ziegland. Ông chết tại chỗ.

5. Sự trùng hợp kỳ lạ của cặp song sinh

Nhiều cặp song sinh thường có nhiều điểm trùng hợp trong cuộc sống, nhưng với hai anh em ông James, sự trùng hợp này đạt đến mức kinh ngạc. Người mẹ của cặp song sinh không nuôi nổi con, đồng ý cho hai gia đình khác nhận nuôi. Từ đó, giữa hai anh em không hề có bất kỳ liên hệ gì. Cho đến một hôm, một trong hai anh em được ba mẹ nuôi cho biết là có song sinh khi ra đời. Anh James khi đó hơn 40 tuổi, đi tìm người còn lại, và kết quả là: người còn lại cũng được đặt tên là James, cũng theo nghề cảnh sát, cũng giỏi nghề vẽ và làm mộc, cũng cưới vợ có tên Linda, cũng có hai con trai và đặt tên là Allan và Alan, cũng ly dị vợ và cưới vợ mới tên là Betty, cũng nuôi một con chó tên là Toy/

6. Khi sự thật từng là tiểu thuyết

Vào thế kỷ 19, nhà văn nổi tiếng chuyên viết truyện kinh dị Egdar Allan Poe viết một cuốn sách có tên “Tự truyện của Arthur Gordon Pym”. Sách tả về chuyến đi của một chiếc thuyền bị tai nạn nhiều ngày, chỉ còn bốn người sống sót cuối cùng. Ba người quyết định giết và ăn thịt người thủy thủ trẻ có tên Richard Parker. Nhiều năm sau đó, vào 1884, một chiếc thuyền có tên Mignonette bị nạn và được phát hiện với bốn người sống sót cuối cùng. Ba người thủy thủ lớn tuổi hơn đã quyết định giết và ăn thịt người thủy thủ trẻ nhất. Người nạn nhân có tên Richard Parker.

7. Sự kỳ lạ sau bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ

Benjamin Franklin, John Adams, Roger Sherman, Robert Livingston và Thomas Jefferson là năm người có công biên soạn bản tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ. Ông Jefferson viết bản nháp, đưa cho ông Adams là người đầu tiên xem qua. Hoa Kỳ tuyên bố độc lập vào ngày 4 Tháng Bảy năm 1776. Cả hai ông Jefferson và Adams cùng qua đời 50 năm sau, vào đúng ngày 4 Tháng Bảy năm 1826.

(T.A.)

Phim VietnAmerica – Câu chuyện của tập thể người Việt tị nạn

Phim VietnAmerica – Câu chuyện của tập thể người Việt tị nạn

Ngọc Lan/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Phim tài liệu VietnAmerica, tiếng nói từ kinh nghiệm đầy máu và nước mắt của những người Mỹ gốc Việt, dựa vào công trình nghiên cứu trên 10 năm của 20 nhà nghiên cứu và hàng ngàn thiện nguyện viên, sẽ chính thức ra mắt lần đầu tiên tại Hoa Kỳ vào lúc 3 giờ chiều Chủ Nhật, 17 Tháng Năm, 2015 tại Saigon Performing Art Center, 16149 Brookhurst St. Fountain Valley, CA 92708.

VietnAmerica dài 90 phút, được hình thành từ chương trình “500 Lịch Sử Truyền Khẩu” (500 Oral Histories Project) do hội Bảo Tồn Lịch Sử và Văn Hóa Người Mỹ Gốc Việt (VAHF) thực hiện với người đứng đầu là ký giả Triều Giang.

Vietnamerica được thực hiện bởi đạo diễn Scott Edwards và do Hội Bảo Tồn Lịch Sử và Văn Hóa Người Mỹ Gốc Việt sản xuất dưới sự điều hành của nhà sản xuất Nancy Bùi, tức nhà báo Triều Giang.

Nhà sản xuất Nancy Bùi, tức nhà báo Triều Giang, cùng poster quảng cáo phim VietnAmerica. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

****

Về lý do đưa đến quyết định thực hiện cuốn phim tài liệu này, bà Nancy cho biết:

“Trong quá trình thực hiện chương trình phỏng vấn 500 nhân vật trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, để tìm hiểu những dữ kiện lịch sử, vẽ lại chân dung người Mỹ gốc Việt, cũng như những kinh nghiệm cá nhân của người được phỏng vấn về cuộc chiến Việt Nam, về hành trình đi tìm tự do, những nỗ lực và đóng góp của họ vào đất nước Hoa Kỳ, chúng tôi có được những video clip nhỏ 5-10 phút và kết quả mang lại từ những clip này rất khả quan, nó đưa được đến với cộng đồng nhiều hơn là bằng sách vở. Nhất là với các cuộc phỏng vấn không chỉ có người trong cuộc khóc, người được phỏng vấn khóc, người phỏng vấn khóc mà cả các em quay phim cũng khóc, vì những câu chuyện quá xúc động.”

“Thế nên chúng tôi nghĩ đến chuyện phải làm phim vì thời buổi này các phương tiện truyền thông phim ảnh quá hiệu quả mình không thể bỏ qua được. Chúng tôi mất gần 2 năm để hoàn tất cuốn phim này, nhân dịp 40 năm người Việt Nam tị nạn đến đây. Riêng phim ‘Lễ Cầu Siêu của Võ Sư Hóa’ (Master Hoa’s Requiem) thì hoàn thành từ Mùa Thu năm ngoái.” Bà Nancy nói thêm.

“Lễ Cầu Siêu của Võ Sư Hóa” dài 18 phút, là một phần của phim VietnAmerica, được thực hiện nhằm mục đích đưa vào chương trình giáo dục ở các trường học trung học, đại học tại Hoa Kỳ.

Cũng theo lời bà Nancy, “Phim ngắn ‘Lễ Cầu Siêu của Võ Sư Hóa’ được gửi đến 18 đại hội điện ảnh và được 11 nơi chọn chiếu, thắng được 2 giải Phim Tài Liệu HayNhất tại Đại hội Điện ảnh Asian On Film và Mùa Thu 2014 và giải Remi Award tại Đại hội Điện ảnh Quốc tế WorldFest ở Houston. Đây là điều chúng tôi không hề mong đợi khi bắt tay làm phim.”

“Lễ Cầu Siêu của Võ Sư Hóa” cũng sẽ được chiếu tại Đại Hội Điện Ảnh Viet Film Festival 2015, ngày Thứ Sáu, 17 Tháng Tư, lúc 2 giờ trưa.

Với VietnAmerica, người xem sẽ bắt gặp từ trong lòng chiếc phi cơ di tản vội vã, đến chiếc thuyền rách nát, đầy chết chóc trên biển cả, từ chiếc trường đầy máu lửa tại khu rừng Cambodia, đến trại tù đói khổ, nhục nhằn đầy thù hận và tuyệt vọng, những nhân vật trong Vietnamerica, bao gồm Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, kỹ sư Dương Nguyệt Ánh, võ sư Nguyễn Tiến Hóa, ông Trần Tú Thanh, nhạc sĩ Trúc Hồ, nhà văn Dương Thu Hương, bà Khúc Minh Thơ, sẽ chia sẻ những câu chuyện chưa bao giờ được kể lại. Các nhân vật chính này cũng chính là những người được tuyển lựa từ chương trình “500 Lịch Sử Truyền Khẩu” nói trên.

Cũng trong tâm tình của một người luôn suy tư về vấn đề “Nếu chúng ta không kể về lịch sử của chúng ta, thì ai sẽ kể đây?’, bà Nancy nêu ra những khó khăn trong quá trình thực hiện VietnAmerica khi mà các hãng phim đều tấm tắc cho rằng đây là kịch bản hay nhưng “họ bảo chúng tôi đừng đùa, phải về kiếm tiền trước đã rồi mới làm phim được.”

Sau cùng, với sự giúp đỡ của hãng phim Edwards Media, nơi toàn những người trẻ, họ đã có thể thực hiện cuốn phim với chi phí $350,000 và “vừa làm vừa gây quỹ.”

“Nhưng trong 2 năm chúng tôi làm tất cả chỉ kiếm được $200,000. Cuối cùng một người bạn đồng ý cho vay $150,000 để hoàn thành cuốn phim tài liệu này. Chúng tôi rất mong nhận được sự ủng hộ, tiếp sức thêm của mọi người vào công việc xây dựng và bảo tồn văn hóa người Mỹ gốc Việt.” Ký giả Triều Giang nhắn gửi.

Chia sẻ cảm nghĩ cá nhân về cuốn phim Vietnamerica sắp ra mắt, bà Nancy cho rằng, “Những tưởng mình làm việc quá lâu với những tài liệu này thì tình cảm sẽ trở nên bình thường, không còn nhiều cảm xúc. Vậy mà khi xem phim, tôi cũng không ngăn được xúc động. Hy vọng khán giả cũng cùng niềm cảm thông như tôi, để hiểu về lịch sử của những người từng chịu bao đau thương, khốn khổ, mất hết gia đình, người thân, của cải, ruộng vườn, mất cả đất nước, sang đây bắt đầu cuộc đời bằng những cảnh đầy nước mắt nhưng 40 năm sau cộng đồng của chúng ta đã không muối mặt để có thể nhìn thẳng vào người bản xứ mà nói rằng sự đóng góp của người tị nạn Việt Nam cũng rất đáng tự hào.”

Do Little Saigon tại Quận Cam được xem là thủ phủ người tị nạn Việt Nam, nên VietnAmerica được chọn trình chiếu đầu tiên tại nơi này vào lúc 3 giờ chiều Chủ Nhật, 17 Tháng Năm, 2015 tại Saigon Performing Art Center.

Muốn biết thêm chi tiết, quý vị có thể liên lạc với Mỹ Hương (714) 754-0911, (714) 492-9672.

Liên lạc tác giả: NgocLan@nguoi-viet.com

Lời Chúa để suy ngẫm

Khi Đức Giê-su bị đóng đinh vào thập giá.

Bấy giờ Đức Giê-su nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”

(Lc 23:34)