Người sắc tộc thiểu số tại vùng cao nguyên miền Nam

Chuyện  xưa  chuyện  nay (14)

Người sắc tộc thiểu số tại vùng cao nguyên miền Nam

Đòan Thanh Liêm

Tôi chỉ mới đi tới Đà lạt mấy lần, kể cả sau năm 1975, chứ chưa bao giờ được đặt chân đến vùng Ban mê thuật, Pleiku, Kontum… Nên phải thú thật là mình chưa thực sự sinh sống tại vùng cao nguyên, để mà có kinh nghiệm thực tế cụ thể với người thuộc các sắc dân thiểu số vốn đã lâu đời định cư tại vùng đó.

Tuy nhiên, do sự gặp gỡ với một số người có quan tâm mật thiết tới số phận của các sắc dân thiểu số, cũng như được đọc nhiều sách báo viết về họ, nên tôi cũng để tâm theo dõi những vấn đề nan giải tại vùng này, đặc biệt là kể từ khi chuyện khai thác quặng beauxite đã và đang gây ra sự phản ứng sôi nổi trong dư luận ở trong cũng như ở ngòai nước trong mấy năm gần đây. Tôi xin lần lượt kể lại một ít điều tôi được biết liên quan đến vấn đề này.

*  1 -Trước hết là cuộc gặp gỡ với Linh mục Jacques Dournes tại Paris vào cuối năm 1970. Linh mục này thuộc Dòng Thừa sai ngọai quốc ở Paris, thường được biết đến với tên gọi quen thuộc là : “Missions Étrangères de Paris” ( MEP). Ông sinh năm 1922 và mất năm 1993 tại Pháp. Trong hơn 20 năm sinh sống với người dân thiểu số tại vùng cao nguyên miền Nam Việt nam từ cuối thập niên 1940 đến năm 1968, ông chú trọng nhiều đến việc tìm hiểu về ngôn ngữ, phong tục, văn hóa của các sắc dân này, đặc biệt là của sắc dân Jarai và có lòng yêu mến cùng tìm mọi cách bảo vệ họ trước cảnh khai thác bất công và xâm lấn của đa số người Kinh tại vùng đất rừng núi hẻo lành này. Trong bộ áo chùng thâm, trông ông có vẻ khắc khổ, nghiêm trang với đôi mắt đày vẻ nhiệt thành.

Trong một bữa ăn trưa tại một nhà dòng của các nữ tu Phan Sinh  (Franciscaines) trong quận 14, gần với khu Đại học xá (Cité universitaire), tôi đã có cả một buổi chuyện trò trao đổi với vị linh mục này. Ngay từ mấy phút đầu tiên gặp gỡ, ông đã tới tấp trút lên người tôi những lời lẽ thật là nặng nề, lên án những bất công tệ hại do người Kinh là sắc dân đa số gây ra đối với các sắc dân thiểu số ở vùng cao nguyên. Ông thuật lại những sự việc hết sức tồi tệ tiêu cực, mà bản thân ông đã chứng kiến sau nhiều năm tháng sinh sống và truyền giáo tại đó.

Sau khi ông đã bớt cơn giận dữ, tôi mới từ tốn thưa lại với ông là tôi sinh trưởng tại miền đồng bằng ngòai Bắc, rồi vào sinh sống tại Saigon từ năm 1954, nên không được biết gì về vùng cao nguyên, nói gì đến chuyện của các sắc dân ở đó. Nhưng là một luật sư, thì tôi có nhiệm vụ phải bênh vực những nạn nhân của các vụ bóc lột, đàn áp bất công ở xã hội. Tôi sẵn sàng tiếp thu những điều cáo buộc của ông và sẽ cố gắng trong khả năng hạn hẹp của mình để tìm cách góp phần làm giảm thiểu được những điều tệ hại đó. Và cuộc trao đổi giữa chúng tôi đã trở nên thân mật, cởi mở với sự thông cảm về cả hai phía. Đại cương, tôi có thể ghi lại cái ấn tượng sâu sắc mà vị linh mục này đã đem lại cho tôi, đó là cần phải chú ý đến thân phận của những sắc dân đang là nạn nhân khốn khổ không những của chiến tranh, mà còn của sự bành trướng thế lực của kẻ mạnh là người Kinh như tôi, khiến gây ra những sự thiệt thòi quá đáng của các người thiểu số vốn ngây thơ chậm chạp mà đã định cư tại địa phương từ bao nhiêu thế hệ trước đây.

* 2 – Vào hồi những năm 1965 – 66 trở đi, thì tôi lại có dịp tiếp súc với những người ngọai quốc làm việc trong tổ chức chuyên môn có tên là “Viện Ngôn ngữ Mùa Hè” (Summer Institute of Linguistics = SIL), có trụ sở trên đường Nguyễn Minh Chiếu – Phú Nhuận gần với doanh trại của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Đây là các chuyên gia về ngữ học hay các nhà truyền giáo thuộc các quốc gia nói tiếng Anh như Mỹ, Canada, Úc, Tân Tây Lan. Họ chuyên sống tại những bản làng của người thiểu số để nghiên cứu về ngôn ngữ khác lạ và tìm cách ghi thành chữ viết theo mẫu tự La tinh (phonetic transcription), rồi từ đó dịch bản Kinh thánh ra nhằm sử dụng cho việc truyền giáo. Thành ra đây là sự cộng tác giữa các nhà ngữ học (linguists) và các nhà truyền giáo (missionaries), mà kết quả là điều có ích lợi cho cả việc phổ biến ngôn ngữ và văn hóa của các sắc dân thiểu số trước kia ít người bên ngòai biết đến được. Dĩ nhiên là các vị trong viện này có thiện cảm với người thiểu số mà họ có dịp tiếp cận và sinh sống lâu năm chung nhau tại các bản làng hẻo lánh ở vùng cao nguyên. Họ cho tôi một số sách báo trình bày về những kết quả của việc nghiên cứu kiên trì về ngôn ngữ và văn hóa của các sắc dân thiểu số tại Việt nam.

Trong các tác giả nghiên cứu về vấn đề này, tôi chú ý đến ông Gerald Hickey là chuyên gia về dân tộc học và nhân chủng học. Sau khi làm việc ít lâu ở Việt nam cho tổ chức nghiên cứu RAND Corporation, ông Hickey trở về Mỹ và làm công việc giảng dậy và nghiên cứu tại các Đại học Chicago và Cornell. Ông mới qua đời năm 2010 ở tuổi 85. Cuốn sách “Sons of the Mountains” của ông xuất bản năm 1982  viết về người sắc tộc vùng cao nguyên được nhiều người chú ý và đánh giá cao.

* 3 – Sau năm 1975, thì có nhiều đợt di dân từ ngòai Bắc vào các tỉnh miền cao nguyên. Trong số người di dân này, thì có khá nhiều bà con từ vùng quê tỉnh Hà Nam Ninh xưa kia của tôi, vốn là nơi “đất hẹp người đông”. Họ là dân thường, nhưng cũng có người là bộ đội giải ngũ hay cựu viên chức của chính quyền ở ngòai Bắc, do vậy mà dễ được chính quyền địa phương hỗ trợ trong việc khai thác đất đai rộng mênh mông ở cao nguyên. Sự việc này gây thêm sự bất mãn của người dân thiểu số tại chỗ, đến nỗi gây ra những mâu thuẫn xung đột giữa các sắc dân tại đây.

Vào các năm 1992 trở đi, khi ở trại tù Hàm Tân, thì tôi có nghe nói là đã có nhiều người thiểu số bị giam giữ tại đây, sau những vụ “bạo lọan nổi dậy lẻ tẻ ở vùng cao nguyên” vào cuối thập niên 1970 qua đầu thập niên 1980. Tôi hiểu được phản ứng của họ trước việc bị mất đất đai canh tác như vậy, nhưng rõ ràng đây là những cuộc chiến đấu tuyệt vọng, kiểu như “lấy trứng chọi đá” vậy. Làm sao mà các nhóm dân lẻ tẻ lại có thể đối chọi cho được với cái guồng máy quân sự và an ninh đồ sộ của chính quyền cộng sản Hanoi vốn triệt để áp dụng sách lược “vô sản chuyên chính”?

Và kể từ khi ra đến hải ngọai từ năm 1996, thì tôi đã dễ dàng tìm hiểu thêm về tình hình thật đáng thương tâm của bà con người thiểu số tại vùng cao nguyên này. Cụ thể là Trung tá Nguyễn Văn Nghiêm, người đã gắn bó lâu năm với cơ quan thuộc Bộ Phát triển Sắc tộc thời chính quyền của Việt nam Cộng hòa trước năm 1975. Ông đã viết nhiều bài báo cũng như diễn thuyết trình bày về vấn đề gai góc này. Cũng như tổ chức Human Rights Watch trong mấy năm gần đây cũng đã liên tục phổ biến nhiều tài liệu nói về sự đàn áp của chính quyền cộng sản đối với các sắc dân thiểu số ở vùng cao nguyên, đến nỗi nhiều người đã phải trốn thóat sang nước láng giềng Cambodia. Những người tỵ nạn mới này tố cáo về thảm trang bị cán bộ chiếm hết đất đai của họ, rồi còn ngăn cản họ không được sinh họat tôn giáo, đặc biệt là theo đạo Tin lành trong các nhà thờ nhóm họp tại các tư gia (House Churches).

* 4 – Tại trong nước, thì nhà văn Nguyên Ngọc từ lâu nay đã lên tiếng rất mạnh mẽ, tố cáo chính sách tàn phá nặng nề đến môi sinh tại vùng rừng núi cao nguyên, khiến cho các sắc dân thiểu số tại đây phải lâm vào cảnh khốn đốn cùng cực không làm sao có thể cứu vãn được nữa. Và đặc biệt từ ngày chính quyền Hanoi để cho người Trung quốc vào khai thác quặng beauxite tại cao nguyên, thì đã gây ra những phản ứng rất mãnh liệt của giới trí thức chuyên gia nêu ra các phản biện chống lại dự án có thể gây ra những thiệt hại khủng khiếp đối với môi trường và cuộc sống của bao nhiêu con người hiện đang sinh sống trong vùng này. Trang web Beauxite Việt nam hiện đang được rất nhiều người dân trong nước, cũng như ngòai nước theo dõi tham gia và gây ra một phản ứng chống đối cực kỳ mạnh mẽ trong công luận.

Về phần mình, thì từ đầu năm 2000 tôi đã viết một bài báo nhan đề là : “Lẽ công bằng đối với người thiểu số ở Việt nam”, bài này đã được đăng tải trên nhiều tờ báo, đặc biệt là tạp chí Thế kỷ XXI phát hành tại California. Rồi trong nhiều cuộc hội thảo quốc tế được tổ chức tại các trường đại học ở các tiểu bang Virginia, Tennessee, Indiana…, tôi đã có dịp nêu ra những sự bất công đàn áp bóc lột đối với các sắc dân thiểu số ở Việt nam hiện nay. Cử tọa phần đông là các sinh viên trẻ tuổi từ nhiều quốc gia đến tham dự, và họ đã bày tỏ sự thông cảm đối với những nỗi khó khăn thiệt thòi của lớp người dân thiểu số này.

Là một luật gia, tôi phải đứng về phía những nạn nhân yếu đuối thân cô thế cô, chứ không bao giờ lại đồng lõa tiếp sức cho giới cầm quyền chuyên môn áp bức đè nén những người dân thấp cổ bé miệng, đặc biệt là các người thuộc sắc tộc thiểu số, như đã được ghi rõ chi tiết trong bài viết này vậy./

California, tháng Chín năm 2011

Đòan Thanh Liêm

Sức khoẻ của lãnh đạo và hệ thống

Sức khoẻ của lãnh đạo và hệ thống

Nguyễn Giang bbcvietnamese.com

Hai ông Putin và Bush: dư luận luôn chú ý đến sức khoẻ của lãnh đạo

Bệnh tình của Đại tướng Phùng Quang Thanh đang là đề tài số một thu hút dư luận Việt Nam và gợi lại cả vấn đề muôn thuở rằng sức khoẻ của quan chức cao cấp đôi khi còn phản ánh nhịp tim của quốc gia.

Hồi 2002, Tổng thống Hoa Kỳ khi đó, ông George W Bush ngất vài giây khi bị hóc miếng bánh vòng (pretzel) lúc đang xem thể thao một mình trong phòng.

Nhà Trắng chỉ mất 2 tiếng 30 phút sau đã có thông cáo giải thích với dư luận mọi chi tiết của vụ việc, trích lời các bác sỹ.

Nhưng chính quyền vẫn không làm được gì khi báo Mỹ chạy đầy các bài với tựa đề như ‘Choking on Pretzel, Bush Faints Briefly’, tạm dịch là ‘Nghẹn vì nuốt bánh Bush đã chợt bất tỉnh’.

Sức khoẻ và chính trị

Trước đó, các đài truyền hình Mỹ cho ông Bush điểm cao về độ tín nhiệm của dân, có lúc lên tới 90% vào tháng 11/2001.

Và không hiểu vì sao từ năm 2002 thì ‘điểm’ của ông tụt dần đều.

Đến hết nhiệm kỳ đầu ông chỉ còn được chừng 50% dân Mỹ ủng hộ, vẫn đủ để thắng cử nhưng hết nhiệm kỳ 2 vào năm 2008 thì chỉ còn 20% dân Mỹ mến mộ ông.

Miếng bánh ‘nghẹn cổ’ có thể chỉ là một sự cố nhưng chuyện ngồi ăn bánh cũng ngã và ngất hẳn không giúp cho hình ảnh của vị tổng thống ‘cường quốc số một’.

Ngược lại, người ta cũng có thể nói bộ máy của Hoa Kỳ về cơ bản là mạnh khoẻ vì luôn có một phó tổng thống sẵn sàng thế chỗ cho nhân vật số một nếu xảy ra chuyện gì.

Nhưng tại Liên Xô cũng thì lại khác.

Sử sách nhắc lại ‘kỷ nguyên trì trệ Brezhnev’ để nói về Liên Xô suy thoái.

null

Tranh biếm họa của Sergei Yelkin về ông Brezhnev nhìn 5 vòng tròn Olympics đọc thành 5 chữ O.

Năm 1975, ông Leonid Brezhnev, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô (69 tuổi) bị một cú đột quỵ, báo hiệu thời kỳ đau yếu kéo dài.

Nhưng Liên Xô không có cơ chế thay ông và chỉ có thể trao bớt quyền cho hai ủy viên Bộ Chính trị khác, Mikhail Suslov và Andrey Kirilenko.

Đến năm 1978 thì ông Brezhnev còn yếu hơn nữa và quyền lực được chuyển dần cho người mà ông tin cẩn là Konstantin Chernenko.

Một cuộc tranh giành quyền lực bùng nổ với Cựu lãnh đạo KGB Yuriy Andropov tìm cách hạ uy tín của cả Brezhnev và Suslov.

Năm 1982, ông Brezhnev bị đột quỵ một lần nữa và ông Suslov qua đời, khiến ông Andropov gần như nắm trọn quyền lực.

Nhưng phải đợi đến lúc ông Brezhnev mất vào tháng 11/1982, ông Andropov mới lên thay.

Tất cả diễn ra sau bức tường Điện Kremlin và báo chí Liên Xô không được phép nói gì vì sức khoẻ lãnh tụ là ‘bí mật quốc gia’.

Nhưng các bản cáo phó liên tiếp đưa ra cũng khiến giới quan sát quốc tế đặt câu hỏi về sự lão hóa của hệ thống.

Ông Andropov lên cầm quyền vào tháng 6/1983 thì đến tháng 2/1984 đã chết.

Ông Chernenko lên kế nhiệm ngay để rồi đến ngày 10/3/1985 cũng qua đời.

Vì thế ở Đông Âu từng có tiếu lâm nói Đài Tiếng nói Moskva đưa tin ‘Dù sức khoẻ chưa thật tốt, sau khi phẫu thuật và vẫn còn hôn mê, đồng chí tổng bí thư vẫn chủ trì cuộc họp của Bộ Chính trị”.

Các khách nước ngoài kể lại những cuộc gặp mà lãnh đạo Liên Xô được đẩy trên xe lăn ra gật đầu chào mấy câu rồi quay vào bệnh viện.

Người kế tục trẻ tuổi là Michail Gorbachev đã chuyển hẳn hướng đi của chính trị Liên Xô nhưng văn hóa chính trị Nga thì vẫn luôn có một truyền thống đầy sức sống về những đồn đoán liên quan tới sức khoẻ lãnh đạo.

Lý do là vận mệnh quốc gia ở đó thường gắn liền với sức khoẻ quan chức.

Gần đây nhất, tháng 3/2015, Tổng thống Vladimir Putin vắng mặt một số ngày, làm nổ ra nhiều đồn đại, khiến Điện Kremlin phải họp báo giải thích.

null

Ông Putin luôn tỏ ra ‘cường tráng’ hơn bình thường

Người ta quan tâm vì ông Putin luôn tỏ ra ‘rất cường tráng’ với các màn cởi trần cưỡi ngựa, lái phản lực được tuyên truyền rộng rãi.

Còn tại Trung Quốc, nhiều nhân vật trong bộ máy Đảng Cộng sản và Quân Giải phóng vào thời Cách mạng Văn hóa đã bị hạ bệ, xét xử, thậm chí để cho chết, báo hiệu một thời đại loạn.

Nguyên soái Hạ Long (1896-1969), nhân vật số hai trong Quân ủy Trung ương và từng làm Phó Thủ tướng, chỉ vì muốn bảo vệ Bành Đức Hoài mà bị Giang Thanh quy kết là ‘đầu sỏ hữu phái’.

Báo chí Trung Quốc hùa theo và gọi ông là kẻ phản Đảng.

Năm 1966 ông bị hạ bệ và giam tại gia cho tới lúc qua đời năm 1969 vì ngã bệnh nhưng chính quyền cắt điện nước vào nhà và không cho chạy chữa.

Nhu cầu thông tin

Những trường hợp kinh khủng như trên ở Trung Quốc xảy ra đã lâu nhưng ngày nay, quy luật sinh lão bệnh tử vẫn xảy ra với mọi con người, kể cả họ là chính trị gia.

null

Không thấy thông tin chính thức ai tạm thay Tướng Thanh khi ông ra nước ngoài chữa bệnh

Điều quan trọng là tin về bệnh tật của quan chức có được thông báo công khai, đồng thời tôn trọng quyền riêng tư của bệnh nhân và gia đình họ hay không.

Mới hồi tháng 2/2015, Thủ tướng Lý Hiển Long của Singapore phải phẫu thuật khối u tiền liệt tuyến.

Chính phủ thông báo rõ trong một tuần ông vắng mặt chữa bệnh (medical leave), Phó Thủ tướng Teo Chee Hean sẽ tạm điều hành nội các Singapore.

Ở Việt Nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh đã “ở Pháp chữa bệnh” nhiều tuần liền mà chưa thấy thông tin ai tạm thay ông nếu ta đọc Cổng Thông tin Điện tử Bộ Quốc phòng.

Dư luận ở đâu cũng có nhu cầu chính đáng cần được thông tin về quan chức cao cấp.

Đồn đoán, bình phẩm là thứ không tránh khỏi nhưng các thủ tục rõ ràng về quyền nghỉ ốm và cơ chế kiêm nhiệm chức vụ sẽ giúp làm giảm bớt lời đồn thổi và tạo được niềm tin là quan chức ốm nhưng hệ thống vẫn vận hành mạnh khoẻ.

Tướng Phùng Quang Thanh còn sống hay đã chết?

Tướng Phùng Quang Thanh còn sống hay đã chết?

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-07-20

07202015-abt-ne-of-vn-defens-minister-died.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

 

Hình chụp trang bìa tờ báo online DPA-International, trong tin có phần ghi: Một báo cáo trước đây của DPA cho biết ông tướng đã qua đời hôm Chủ Nhật sau khi được điều trị tại bệnh viện, dựa theo một nguồn tin tại bệnh viện.

Hình chụp trang bìa tờ báo online DPA-International, trong tin có phần ghi: Một báo cáo trước đây của DPA cho biết ông tướng đã qua đời hôm Chủ Nhật sau khi được điều trị tại bệnh viện, dựa theo một nguồn tin tại bệnh viện.(ngày 20 tháng 7, 2015)

Screenshot

<

Hãng tin DPA của Đức vào ngày 19 tháng 7 loan tin ông bộ trưởng quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh qua đời trong cùng ngày tại một bệnh viện ở Pháp, nơi ông này đang chữa bệnh ung thư phổi.

Vào ngày 20 tháng 7, truyền thông trong nước loan đi phát biểu của phó tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, trung tướng Võ Văn Tuấn là sức khỏe của ông bộ trưởng vẫn ổn định và sẽ về nước trong vài ngày tới. Bên cạnh đó là tin bộ trưởng quốc phòng họ Phùng gửi thư chúc mừng hai đơn vị quân đội nhân ngày truyền thống.

Tin hai lề

Sau khi thông tin trên mạng loan tải về sự vắng mặt của người đứng đầu ngành quốc phòng tại những sự kiện quan trọng của quân đội trong thời gian gần đây; truyền thông chính thống Nhà nước Việt Nam vào đầu tháng 7 mới trích dẫn phát biểu của một thành viên trong Ban Chăm sóc Sức khỏe cho cán bộ cấp trung ương, giáo sư Phạm Gia Khải, xác nhận là ông bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh đang hồi phục sau phẩu thuật khối u lành tính trong phổi.

Báo mạng DPA nhắc lại tuyên bố của giáo sư Phạm Gia Khải nói rằng ông Phùng Quang Thanh sẽ về nước trong vòng hai tuần lễ nữa. Tuy nhiên, hơn hai tuần lễ sau khi có tuyên bố này thì DPA loan tin ông Thanh từ trần theo một nguồn từ chối không nêu tên vì không được phép cho báo giới biết.

Quan tâm về bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn ngay sau khi đọc tin của DPA cũng có một bài viết ngắn đưa lên mạng với tựa (Tin dè dặt ) Phùng Quang Thanh qua đời.

Ông cho biết quan tâm của ông đối với người đứng đầu ngành quốc phòng Việt Nam hiện nay:

“ Tôi cũng như nhiều người khác ở nước ngoài quan tâm đến ông bộ trưởng quốc phòng vì ông ấy có những quan điểm nói thẳng ra là thân với bên Tàu. Điều đó hình như bên Tàu họ cũng không có giấu diếm gì cả, họ cũng nói thẳng như thế.

Và như tất cả chúng ta đều biết gần đây kết của của một điều tra xã hội do Trung tâm PEW công bố cho thấy rằng đa số, gần 80%, người Việt xem Tàu là một mối đe dọa và không có thiện cảm. Điều đó trong công chúng, trong người dân thành ra người ta quan tâm; kể cả tôi nữa đến ông bộ trưởng vì có vẻ ông có một quan điểm rất khác với người dân nên người ta quan tâm rất sát sao đến sức khỏe của ông ấy.

” Ở trong nước người ta không công bố, chắc cũng có lý do, về tình hình sức khỏe của ông bộ trưởng…. Nhưng một tin quan trọng như thế thì khó mà nói phía bên Việt Nam không công bố được, thành ra tôi xem tin đó rất dè dặt chứ không xem tin đó là một tin chính xác

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn”

Nhưng ở trong nước người ta không công bố, chắc cũng có lý do, về tình hình sức khỏe của ông bộ trưởng…. Nhưng một tin quan trọng như thế thì khó mà nói phía bên Việt Nam không công bố được, thành ra tôi xem tin đó rất dè dặt chứ không xem tin đó là một tin chính xác. Quan điểm của tôi là vậy.”

Hình chụp trang bìa tờ báo online DPA-International, trong tin có phần ghi: Một báo cáo trước đây của DPA cho biết ông tướng đã qua đời hôm Chủ Nhật sau khi được điều trị tại bệnh viện, dựa theo một nguồn tin tại bệnh viện.

Hình chụp trang bìa tờ báo online DPA-International, trong tin có phần ghi: Một báo cáo trước đây của DPA cho biết ông tướng đã qua đời hôm Chủ Nhật sau khi được điều trị tại bệnh viện, dựa theo một nguồn tin tại bệnh viện.

Nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng có những đánh giá cụ thể về ông bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh như sau:

“ Với Phùng Quang Thanh tôi nghĩ ông ta gắn liền với việc ‘Phùng Quang Thanh- Phùng Quang Hải với hơn 100 héc ta đất của Gia Lâm, của Tân Sơn Nhất. Tôi quan tâm đến chuyện ấy.

Đấy là một ông võ biền chứ không phải một nhà chính trị. Một nhà chính trị với cương vị bộ trưởng Bộ Quốc phòng thì không thể nói năng như thế được. Tất cả những nói năng như thế chứng tỏ là một ông võ biền, quan điểm thiển cận và chỉ biết lợi ích cá nhân cục bộ chứ không biết lợi ích đất nước. Trung Quốc đe dọa xâm lược Việt Nam và cả dân tộc Việt Nam từ lớn đến nhỏ đều căm phẫn lên án Trung Quốc; thì ông ấy lại lo lắng tâm lý ghét Trung Quốc nguy hiểm cho dân tộc. Nói như thế thì ông chưa đủ tư cách là người Việt Nam chứ chưa nói đến một ông bộ trưởng quốc phòng có trách nhiệm giữ nước. Tức không phải một chính khách, một nhà chính trị.

Ông ấy nói thế vì Trung Quốc có vai trò rất quan trọng đến ‘số phận, vị trí’ chính trường Việt Nam. Trước đại hội 12 ông ấy nói thế để lấy lòng Trung Quốc nhằm có được vị trí thèm muốn của ông trên chính trường, chứ không phải vì lợi ích của đất nước.”

Kỳ vọng về một bộ trưởng quốc phòng cũng như lớp lãnh đạo sắp đến.

Tin tức chính thức cho biết vào đầu sang năm Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành đại hội 12 và dịp này sẽ quyết định lớp nhân sự lãnh đạo trong nhiệm kỳ 5 năm sắp đến.

DPA nhắc lại rằng ông Phùng Quang Thanh 66 tuổi trước khi đi chữa bệnh được xem là một ngôi sao đang lên trong Đảng Cộng sản Việt Nam, là một ứng viên cho chức vụ chủ tịch nước tại kỳ đại hội đảng 12 sắp đến.

” Nhưng ít ra đứng trước tình trạng ngư dân của mình bị ức hiếp và thậm chí có thể dùng chữ rất thẳng thừng là bị bên phía Tàu ăn cướp; thì đáng lẽ quân đội của mình phải có mặt đâu đó để cho người ta thấy rằng mình cũng có quan tâm đến ngư dân của mình. Còn ở VN trong những ngày tháng gần đây thì ngư dân chúng ta bị ức hiếp, bị ăn cướp, thậm chí bị tông chìm tàu suýt chết; nhưng không có sự can thiệp của quân đội mặc dù là gián tiếp thôi

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn”

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn bày tỏ kỳ vọng về một vị bộ trưởng quốc phòng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:

“ Tôi nghĩ rằng Việt Nam không muốn bạo lực hay chiến tranh với nước láng giềng. Đó là nguyên tắc đương nhiên. Nhưng ít ra đứng trước tình trạng ngư dân của mình bị ức hiếp và thậm chí có thể dùng chữ rất thẳng thừng là bị bên phía Tàu ăn cướp; thì đáng lẽ quân đội của mình ( Việt Nam) phải có mặt đâu đó để cho người ta thấy rằng mình cũng có quan tâm đến ngư dân của mình. Còn ở Việt Nam trong những ngày tháng gần đây thì ngư dân chúng ta bị ức hiếp, bị ăn cướp, thậm chí bị tông chìm tàu suýt chết; nhưng không có sự can thiệp của quân đội mặc dù là gián tiếp thôi. Thậm chí không có phát biểu nào từ mấy người trong Bộ Quốc phòng liên quan đến chuyện ngư dân mình bị ức hiếp.

Thành ra tôi nghĩ rằng, là người dân chỉ ở ngoài thôi, một ông bộ trưởng quốc phòng cũng phải có tiếng nói nào đó, một phát biểu nào đó để làm cho người dân cảm thấy an tâm coi như vẫn có một lực lượng đứng đàng sau mình, bảo vệ  mình. Đàng này điều đó không xảy ra nên tôi nghĩ đó là điều đáng tiếc!”

Nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng tỏ ra không mấy lạc quan về một vị bộ trưởng quốc phòng mới cũng như cả lớp lãnh đạo mới tại Việt Nam trong thời gian tới:

“ Hiện nay tôi cũng chưa rõ những người mới đó như thế nào bởi vì những phái đoàn tướng công an, tướng quân đội nối nhau, thay nhau đi Trung Quốc tập huấn ở Tây An. Tức sang Trung Quốc chỉ để nhồi nhét về chính trị, về giai cấp thôi chứ không phải dân tộc. Mà mấy chục năm, gần cả thế kỷ, chúng ta đã đặt giai cấp lên trên dân tộc và đã dẫn đến tình trạng như ngày nay rồi; thì với những tướng, tá của quân đội và công an sang chỉ để ( được) giáo dục về giai cấp về đảng thôi; đó là điểu chả chờ đợi gì cả! Vừa rồi đưa lên đầu những người xuất phát từ lợi ích của Đảng tức trung thành với Đảng nên khó có những người ở lập trường quốc gia, đất nước. Thứ hai có thể có nhưng người ta không dám xuất hiện, không dám bộc lộ vì bộc lộ thì sẽ bị chặn đứng ngay.”

Tuy nhiên, nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng nói rằng ông lạc quan về xu thế dân chủ không thể đảo ngược tại Việt Nam.

Và theo lẽ tự nhiên, trước một xu thế tất yếu như thế những vị lãnh đạo nếu thức thời bao giờ cũng phải thuận theo.

Hành trình cuộc đời: 30, 40,…và 70

Hành trình cuộc đời: 30, 40,…và 70

Hàn Mai

Hành trình của mỗi đời người có lẽ nhiều lắm là 100 năm, họa hoằn lắm mới được hơn con số này, nhưng ai cũng sẽ như nhau, sinh lão bệnh tử, một đời người trôi qua như thế, ngắn ngủi chóng vánh. Thôi thì hãy cứ làm tròn trách nhiệm của bản thân mỗi khi chạm mốc thời gian trên đường đời.

Khi chúng ta 30

Khi 30 tuổi, bạn đã có thể tùy theo bản lĩnh của mình mà chịu trách nhiệm cho những sự việc mình phải đảm đương, cũng như đã có thể tự mình xác định mục tiêu trong cuộc sống và phương hướng phát triển. Nói đơn giản, ở cái tuổi 30, bạn đã có thể thản nhiên mà đối mặt với hết thảy mọi thứ. Ba phương diện khái quát mà một người 30 tuổi đã có thể tạo lập cho chính mình, đó là lập thân, lập nghiệp và lập gia.

Lập thân hay chính là xác định phẩm cách và sự tu dưỡng bản thân, bao gồm ba phương diện: tu dưỡng tư tưởng, hàm dưỡng đạo đức và bồi dưỡng năng lực.

Tự mình biết vươn lên chính là căn bản của đạo lập thân, chớ vì để thỏa mãn nhu cầu của bản thân mà trông nhờ vào sự giúp đỡ của cha mẹ, cũng đừng trông mong chạy vạy ở người khác, vì đó chẳng khác nào biểu hiện của sự mềm yếu nhu nhược. Lập thân đối với mỗi cá nhân thì yêu cầu tối thiểu nhất chính là đặt chân trong xã hội.

Lập nghiệp chính là tự mình xác lập sự nghiệp của bản thân. Người 30 tuổi ít nhất cũng đã phải có được công ăn việc làm tương đối ổn định. Lập nghiệp không những là phương thức mưu sinh mà còn là chuẩn bị hoàn thành trách nhiệm đối với xã hội.

Lập gia chính là xây dựng gia đình của riêng mình. Cạnh tranh trong xã hội hiện nay đang rất kịch liệt, nên các thanh niên thường hay trì hoãn chuyện hôn nhân gia đình. Tuy nhiên, khi đã bước vào tuổi 30, việc kết hôn không còn là sớm nữa. Còn chuyện lập gia trước lập nghiệp sau hay lập gia sau lập nghiệp trước, đều là tùy thuộc vào bản thân mỗi người, cũng không quan trọng chuyện trước sau. Người thanh niên tất yếu phải có khả năng đảm đương trách nhiệm gia đình lẫn xã hội, thế nên hoàn thành sớm hẳn là tốt hơn.

Đối với người trẻ tuổi, tam thập nhi lập chính là yêu cầu tối thiểu. Tuy nhiên, giữa  thực tế và kỳ vọng của bản thân chúng ta thường có khoảng cách rất lớn. Điều này là tất nhiên đối với trẻ em nước ta vốn luôn được cưng chiều khi gặp phải áp lực trong công việc. Đây là chuyện vốn rất thường tình.

40, cái tuổi chững chạc và hiểu chuyện

“Tứ thập nhi bất hoặc”, tức người 40 tuổi đã rất chững chạc. Người đến 40 tuổi biết nghiền ngẫm cái gió mưa nóng lạnh của đường đời, cảm hoài sự vô tình của thời gian, nhìn lại những chuyện đã qua, 40 năm như một cái búng tay, thăng trầm nếm trải bao ngờ vực, boăn khoăn, phấn chấn, lúc náo nhiệt khi trầm tư, rồi bỗng nhiên bừng tỉnh. Mất đi những cảm xúc mãnh liệt, nên bình ổn hơn, bớt đi sự vô tâm, để có trách nhiệm hơn, buông bỏ nhiều phiền não nên cũng thêm lý trí, chẳng còn cái sôi nổi thuở nào nên cũng trầm tĩnh hơn, cũng không còn mù quáng nên đã biết trông cậy vào chính mình. Người 40 tuổi đã trọn vẹn sự thanh tỉnh và lý trí; đối ngoại, họ biết hiểu về xã hội; đối nội, họ hiểu bản thân mình; đối với bản thân, họ hiểu về trách nhiệm.

40 tuổi, ta bước vào thời kì huy hoàng nhất của cuộc đời, cũng là thời kì ta cống hiến nhiều nhất cho gia đình và xã hội.

50, “ngũ thập nhi tri thiên mệnh”, ở cái tuổi 50 bạn đã thấu hiểu nhân tình thế thái

Triết học cổ đại coi Trời là Thần, Trời có thể định đoạt vận mệnh con người. Học thuyết của Khổng Tử vẫn bảo lưu quan điểm về “Thiên mệnh” này. Ông nói, “Năm mươi tuổi biết thiên mệnh”. Thiên mệnh chính là chúng ta hôm nay nói về “nhân quả báo ứng”, trong mệnh đã có thì nhất định có, trong mệnh đã không có thì cưỡng cầu cũng vô ích, chấp nhận số mệnh bởi cưỡng cầu cũng không thể có được. Người 50 tuổi hiểu rất rõ đạo lý này, hiểu rất tường tận.

Hiểu rõ vận mệnh đường đời, nên cũng không oán trời. Người 30 tuổi đa phần đều có đường đời quanh co, đứng trên mặt đất nhưng luôn muốn được bay nhảy, người 40 tuổi có đường đời đã bước vào đỉnh cao, 50 tuổi đường đời tương đối vững vàng. Nếu không có chuyện gì đặc biệt thì người 50 tuổi cũng rất khó gặp phải biến động lớn trong đường đời. Người 50 tuổi, đã bước qua hết nửa đời người và đang thời kì thanh tỉnh nhất của cuộc đời. Người ấy nhất định không một lời oán thán ông trời bất công, mà tĩnh lặng đón nhận hiện thực. Hơn nữa, họ còn tuyệt đối thanh tỉnh đoán định được tương lai của mình, cũng như tuyệt đối bình tĩnh trong mọi công tác và đời sống xã hội.

Người 50 tuổi hiểu rõ những trách nhiệm mà bản thân chưa hoàn thành, nên không hề giải đãi. 50 tuổi chưa phải tuổi về hưu nhưng cách thời điểm ấy cũng không còn xa lắm. Khi ấy vẫn nghĩ đến việc tiếp tục sự nghiệp 10 năm tiếp theo, cũng là hoàn thành trọn vẹn trách nhiệm đối với xã hội. Người 50 tuổi thì cha mẹ hẳn đều đã già, nên cũng thường xuyên chu toàn những việc vặt vãnh cho người già, bởi họ cũng muốn làm tròn trách nhiệm đối với gia đình.

Người 50 tuổi, con cái đang ở độ tuổi đi học, cũng sắp bước vào ngưỡng cửa lập nghiệp, tiền đồ của con trẻ cũng là điều mà cha mẹ quan tâm nhất, đồng thời họ cũng mong muốn trở thành người cha người mẹ mẫu mực. Người 50 tuổi, mỗi khi nghĩ về trách nhiệm, đều tự nhiên sinh ra cái cảm giác không hề nghĩ cho bản thân, cũng không hề dễ giải, kiên trì không ngừng nỗ lực, hoàn thành trọn vẹn trách nhiệm của mình.

Người 50 tuổi đã là bước vào giai đoạn thành thục nhất của đời người, thành công, huy hoàng, sung túc đều đồng thời tồn tại, đôi khi có chút áp lực, nhưng họ đều thản nhiên mà đối mặt, bởi họ đã quá hiểu xã hội, cũng đã quá am hiểu chính bản thân mình.

60 nhĩ thuận, nhìn thấu mọi thứ

Người bước vào tuổi 60, người đời dẫu nói lời hay hoặc lời không tốt đều chẳng nói lại, lời có thể vẫn lọt tai nhưng tâm chẳng hề động, dẫu có chuyện không vui nhưng lòng vẫn bình ổn. Hồ Thích từng nói: “Nhĩ thuận nghĩa là dễ dàng bỏ qua cho những lời nói khó nghe”, lời nói dẫu có “trái tai” cũng không hề thấy khó nghe. Họ coi trọng việc thấu hiểu, người ở độ tuổi này chẳng quan tâm đến thị phi, dẫu gặp phải chuyện trớ trêu rối rắm, cũng có thể làm cho tâm mình không bị xáo động, mà bình tĩnh tự mình suy xét, để nỗi lo âu của bản thân thuận theo hoàn cảnh khách quan và quy luật vận động của vạn vật. Họ cũng biết rằng bản thân không được bộp chộp, nổi giận hay bi thương, không chùn bước, cũng không để tâm vào hơn thua được mất, từ đầu đến cuối chỉ biểu hiện duy nhất một tâm thái.

Ta biết người 60 tuổi là người đã tu dưỡng đạt đến cảnh giới cao nhất, đã có thể khống chế và kiểm soát bản thân thật vững vàng. Có thể nói, người 60 tuổi có thể nhìn thấu đời người, sinh mệnh và danh lợi.

Người 60 tuổi đã được trui luyện theo năm tháng, nếm trải bao khó khăn trắc trở của cuộc đời, những thứ lưu lại chẳng qua chỉ là dấu chân nhân sinh, thành tựu đời người cũng chính là sự phong phú của những trải nghiệm. Bước vào tuổi 60 cũng là bước vào mùa thu đời người, cuộc sống chậm chạp trôi, nhưng qua đó mà thưởng thức nhân sinh một cách tinh tế, chiêm nghiệm đủ loại cảnh sắc của hành trình cuộc đời, thụ hưởng thành tựu xã hội vốn đã phải vất vả gầy dựng, tận hưởng cuộc sống dễ dàng không lo âu muộn phiền, cười cười khóc khóc với những ngọt bùi đắng cay từng nếm trải trong đời, rồi nhìn chúng với một cảm giác thật mới mẻ. 60 tuổi quả thực là tuổi đã vào thu, nhưng chỉ vào độ tuổi này họ mới có được phong thái không nhầm lẫn với bất kì ai.

70 tuổi tùy ý, muốn làm gì thì làm nấy

70 tuổi tùy tâm sở dục, thuận theo ý nghĩ của chính mình, muốn làm gì thì làm đó. Nói là tùy ý nhưng vẫn là rất xem trọng việc “không vượt quá khuôn phép”, tức không được làm gì trái với quy củ, thế nên dẫu có làm gì cũng đều là tùy thích nhưng vẫn phải thuận theo tự nhiên, tùy ý nhưng cũng phải ngó xem tình cảnh hiện tại, muốn làm gì thì làm nhưng đều không vượt ngoài khuôn phép.

Có người nói, người 60 tuổi làm quan hay không làm quan cũng như nhau, còn người 70 tuổi có tiền hay không có tiền cũng chẳng khác chi mấy. Khi đã bước vào tuổi 70 ai ai cũng như nhau, đều cầu mong thân thể khỏe mạnh, thân thể khỏe mạnh mới là điều cơ bản cần để đảm bảo chất lượng cuộc sống, cũng chẳng mong được trường thọ, chỉ hết lòng mong sinh mệnh được thăng hoa, ấy mới là cuộc đời hoàn mỹ.

70 tuổi bất quá cũng chỉ là một đoạn trong hành trình cuộc đời, đối với người ở độ tuổi này, 70 năm đã trôi qua, 70 năm tiếp nữa sẽ đến, và mọi thứ như khởi động lại từ đầu. Người 70 tuổi nếu có thể luôn xem bản thân như đang ở giữa hành trình đời người, vậy thì sẽ cảm thấy bản thân còn rất nhiều thời gian, nhờ đó mà không than vãn trước tuổi già suy yếu, tương lai khổ sở, mỗi ngày trôi qua đều thấy vui vẻ, hướng về phía trước mà cảm thấy cuộc sống sẽ luôn có điều mới mẻ, lòng ngập tràn vui sướng. Rồi họ sẽ thấy được một phần mong nguyện của sinh mệnh, ghi nhớ sự mỹ hảo đường đời phía trước.

Hàn Mai, Meizi, dịch từ Sound of hope

Nhiều người Cuba có thể bị trục xuất khi Hoa Kỳ-Cuba tái lập ngoại giao

Nhiều người Cuba có thể bị trục xuất khi Hoa Kỳ-Cuba tái lập ngoại giao

Nguoi-viet.com

MIAMI, Hoa Kỳ (AP) – Với việc Hoa Kỳ và Cuba đang tiến gần đến việc hoàn toàn tái lập quan hệ ngoại giao, kể cả việc mở lại tòa đại sứ sau 54 năm gián đoạn, số phận của hàng chục ngàn người Cuba đang bị lệnh trục xuất của Sở Di Trú Hoa Kỳ đang ngày càng bất định hơn.

Báo giới xúm đông tường trình sự kiện cột cờ của Cuba tại tòa nhà Cuban Interest Section ở Hoa Thịnh Đốn, vào trung tuần Tháng Sáu, 2015, để chuẩn bị cho việc hai nước Hoa Kỳ-Cuba tái lập quan hệ ngoại giao. (Hình: AP Photo/Pablo Martinez Monsivais, File)

Hiện có tới 25,000 người Cuba đang sống ở Hoa Kỳ đã bị lệnh trục xuất, theo cơ quan thi hành chính sách Di Trú và Quan Thuế (ICE).

Họ gồm những người bị coi là mối đe dọa cho an ninh quốc gia hay có tiền án hình sự trầm trọng và được coi là thành phần ưu tiên trục xuất.

Dù rằng phía Hoa Kỳ rất muốn đưa trả họ về Cuba, những người này cho đến nay vẫn còn ở đây vì chính quyền Cuba của Chủ Tịch Raul Castro chưa cho phép họ trở về. Hiện chưa rõ là chính sách của Cuba về vấn đề này sẽ có thay đổi hay không.

Từ nhiều thập niên nay, việc trục xuất về lại Cuba đã gặp khó khăn vì không có quan hệ ngoại giao và vì chính quyền Cuba không cung cấp giấy chiếu khán cho phần lớn những người bị trục xuất.

Thỏa thuận trục xuất năm 1984 gồm có 2,746 người từng đến Hoa Kỳ năm 1980 trong chiến dịch ào ạt ra đi Mariel Boatlift. Năm đó, Chủ Tịch Nhà Nước Cuba Fidel Castro, nhằm tạo khó khăn cho Washington, bất ngờ loan báo sẽ cho phép bất cứ ai muốn rời khỏi quốc gia này được tự do lên thuyền ra đi.

Có khoảng 125,000 người Cuba đến Florida trong thời gian từ Tháng Tư tới Tháng Mười năm 1980.

Hồ sơ ICE cho thấy có 1,999 người trong danh sách này đã bị trả về Cuba, với khoảng 1,093 người kể từ năm 2001 tới nay. ICE là cơ quan có nhiệm vụ truy tìm và bắt giữ người ở Hoa Kỳ bất hợp pháp cũng như những người được lệnh phải ra khỏi nước.

Tính tới cuối Tháng Ba, có hơn 35,000 người Cuba có lệnh trục xuất và có thêm 2,300 người Cuba khác đang chờ đợi phải ra tòa di trú và có thể bị trục xuất. ICE cho hay trong số này, có khoảng 25,000 người bị coi là có ưu tiên trục xuất vì có hành vi phạm pháp. (V.Giang)

Lần đầu tiên có hai phụ nữ tranh cử tổng thống ở Đài Loan

Lần đầu tiên có hai phụ nữ tranh cử tổng thống ở Đài Loan

Nguoi-viet.com

ĐÀI BẮC, Đài Loan (AP) – Hai đảng lớn nhất ở Đài Loan đã đều đề cử một phụ nữ đại diện họ ra tranh cử tổng thống trong kỳ bầu cử năm 2016, một hành động lịch sử cho thấy sự chấp nhận khả năng lãnh đạo của phụ nữ ở quốc gia này.

Bà Hung Hsiu-chu, một cựu nhà giáo và hiện là phó chủ tịch Quốc Hội, vẫy cờ
sau khi bà được Đảng Quốc Dân Đảng Đài Loan đề nghị ra tranh cử tổng thống.
(Hình: AP Photo/Chiang Ying-ying)

Quốc Dân Đảng Đài Loan, hiện đang là đảng cầm quyền, hôm Chủ Nhật đề cử bà Hung Hsiu-chu, một cựu nhà giáo và hiện là phó chủ tịch Quốc Hội, đại diện họ ra tranh cử tổng thống. Bà Hung, người ủng hộ có quan hệ thân thiện với lục địa Trung Quốc, sẽ đối đầu với bà Tsai Ing-wen, chủ tịch đảng đối lập Dân Chủ Cấp Tiến (DDP), với lập trường dè dặt hơn trong quan hệ với Bắc Kinh. Bà Tsai hiện được coi là có thế thượng phong theo các cuộc thăm dò dư luận trước ngày bầu cử vào Tháng Giêng năm 2016.

Mối quan hệ với Trung Quốc hiện đang ngày càng trở thành một vấn đề quan trọng trong cuộc bầu cử tới. Cử tri Đài Loan cho đến nay chưa hề bỏ phiếu cho phụ nữ lên làm tổng thống hay có cơ hội chọn lựa hai phụ nữ đại diện cho cả hai đảng lớn tại quốc gia này.

Bà Joana Lei, giám đốc điều hành cơ quan nghiên cứu Chunghua 21st Century Think Tank ở Đài Loan, nói rằng một số phụ nữ trẻ hơn vẫn còn gặp khó khăn khi vào vai trò lãnh đạo ở Đài Loan, nhưng xã hội này chấp nhận các phụ nữ lớn tuổi hơn, từ 50 trở lên, vì truyền thống lịch sử đã có từ ở lục địa.

Phụ nữ này điều hành 10 bộ chính quyền cũng như một số công ty hàng đầu ở Đài Loan. Có tới 1/3 dân biểu quốc hội Đài Loan là phụ nữ, so với 13% ở Nhật và 16% ở Nam Hàn, theo lời ông Sean King, phó chủ tịch công ty Park Strategies, một công ty tư vấn có trụ sở đặt tại New York.

Ở các quốc gia khác tại Á Châu, bà Park Geun-hye đắc cử tổng thống Nam Hàn hai năm trước đây và bà Sheikh Hasian hiện là thủ tướng Bangladesh. Philippines đã từng có hai tổng thống là phụ nữ.

Quốc Dân Đảng của bà Hung bị mất 9 ghế thị trưởng và quận hạt trong kỳ bầu cử địa phương hồi Tháng Mười Một vừa qua vì cử tri cáo buộc chính phủ của Tổng Thống Mã Anh Cửu quá thân thiện với chính quyền lục địa trong khi không quan tâm đến khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn trong nước. Ông Mã không được tái tranh cử lần tới vì đã ở hai nhiệm kỳ. (V.Giang)

Thông tấn xã Đức: Đại Tướng Phùng Quang Thanh qua đời

Thông tấn xã Đức: Đại Tướng Phùng Quang Thanh qua đời

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Đại Tướng Phùng Quang Thanh, ủy viên Bộ Chính Trị Đảng CSVN kiêm bộ trưởng Quốc Phòng, vừa qua đời tại Pháp hôm Chủ Nhật, 19 Tháng Bảy, hãng thông tấn DPA của Đức trích lời một giới chức quân sự cho biết như vậy.

Đại Tướng Phùng Quang Thanh. (Hình: commons.wikimedia.org)

Trong khi đó, tại Việt Nam, chưa thấy một cơ quan truyền thông nào đưa tin về vụ này.

Ông Thanh, 66 tuổi, qua đời tại bệnh viện Georges Pompidou ở Pháp, sau khi được chữa trị bệnh ung thư phổi, DPA trích nguồn tin quân sự nói, nhưng không cho biết danh tánh nguồn, vì người này không được phép nói với truyền thông.

Trước khi bị bệnh, ông Thanh, cũng là phó bí thư Quân Ủy Trung Ương, được coi là một ngôi sao sáng trong Đảng CSVN, theo DPA.

Trong thời gian qua, có nhiều tin đồn về sức khỏe của ông Thanh, sau khi ông đột ngột vắng mặt tại một số sự kiện quan trọng, ví dụ như cuộc họp của chính phủ và đại hội toàn quân.

Lần cuối cùng ông Thanh xuất hiện trước công chúng là vào ngày 19 Tháng Sáu, lúc được ông Jean-Yves Le Drian, bộ trưởng Quốc Phòng Pháp, tiếp đón tại Paris.

Hôm 9 Tháng Bảy, Giáo Sư Phạm Gia Khải, thành viên Ban Bảo Vệ, Chăm Sóc Sức Khỏe Trung Ương, nói với BBC rằng ông Thanh “đã được xuất viện sau khi được giải phẫu một khối u trong phổi, nhưng ông vẫn tiếp tục ở lại Pháp để đợi được kiểm tra.”

Trong cuộc phỏng vấn trước đó với BBC ngày 2 Tháng Bảy, Giáo Sư Khải cho biết ông Thanh được chuyển sang Pháp từ ngày 24 Tháng Sáu để giải phẫu khối u trong phổi.

Theo dự trù, ông Thanh có thể được đưa lên nắm chức chủ tịch nước sau Đại Hội Đảng CSVN lần thứ 12 được tổ chức vào năm tới, DPA trích nguồn tin quân sự cho biết như vậy. (Đ.D.)

Bản tin được đăng tại đây: http://www.dpa-international.com/news/asia/vietnam-defence-minister-dies-in-france-after-cancer-treatment-a-46003499.html

Chúng ta không còn là lọai người ở tỉnh lẻ nữa.

Chúng ta không còn là lọai người ở tỉnh lẻ nữa.

( We are no longer provincial )

Đòan Thanh Liêm

Vào đầu năm 1916, Tổng Thống Woodrow Wilson đã bắt đầu công việc vận động thuyết phục Quốc Hội là nước Mỹ cần phải tham gia giúp đỡ Liên minh Anh Pháp trong cuộc Đệ nhất chiến tranh thế giới khởi sự từ năm 1914. Ông phát biểu một câu đã thành nổi danh như sau : “Chúng ta không thể còn là một dân tộc ở tỉnh lẻ nữa” (nguyên văn tiếng Anh : “We can no longer be a provincial nation” ).Tức là ông muốn xác nhận rằng nước Mỹ đã là một cường quốc với trách nhiệm trong công cuộc bảo vệ tự do và hòa bình trên khắp thế giới, chứ không còn là một quốc gia nhỏ bé, mà tự cô lập khỏi cộng đồng nhân lọai được nữa.

Câu nói này cũng có thể áp dụng cho người Việt đang sinh sống ở trên 60 quốc gia tiến bộ khắp thế giới hiện nay. Nhất là đối với lớp người trẻ là con em chúng ta đang vào lớp tuổi 30-40 đã trưởng thành chững chạc rồi, mà lại tiếp thu được một nền giáo dục văn minh với trình độ khoa học kỹ thuật phát triển cao độ tại các nước Âu Mỹ, thì rõ rệt là các em đã có một nhãn quan rộng rãi, thông thóang rất nhiều so sánh với thế hệ cha bác của mình.Đó là điều làm chúng ta thật vui mừng, vì như người xưa vẫn thường nói : “Hậu sinh khả úy”, và “Con hơn cha, nhà có phúc” vậy.

Vì được sinh sống trong một môi trường văn hóa xã hội tiền tiến như vậy, nên chúng ta dễ hấp thụ được những cái hay, cái đẹp của thế giới hiện đại. Nhờ vậy, mà số trên 3 triệu người Việt hải ngọai có thể đóng góp phần trí tuệ này vào công cuộc xây dựng và phát triển cho quê hương đất nước Việt nam của mình. Chứ không phải chỉ có sự chi viện kinh tế vật chất cho bà con ruột thịt ở quê nhà, như là đóng vai trò của một thứ “con bò sữa”. Cụ thể mà nói, thì chúng ta cần phải có được cái suy nghĩ tòan cuộc, cái viễn kiến sâu xa (global thinking/global vision) về tình hình các sự việc của tòan bộ thế giới ngày nay, cũng như của nước Việt nam nhỏ bé của mình trong khuôn khổ của cái thế giới ấy. Đúng như lời của Tổng Thống De Gaulle vào năm 1964-65 đã nhắn nhủ thanh niên sinh viên nước Pháp là : “Các bạn cần phải có một tầm nhìn vũ trụ (vision cosmique)”. Và còn hơn thế nữa, chúng ta lại có thể mời gọi, thuyết phục được các bạn bè quốc tế rất đông đảo, hùng hậu của mình, để cùng nhập cuộc liên đới với chúng ta trong sự nghiệp tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền của Việt nam, trong tinh thần ôn hòa, bất bạo động vốn là xu thế thời đại trong thế giới văn minh hiện nay.

Với ý hướng đó, trong bài viết này, tôi xin được trình bày về kinh nghiệm cụ thể rằng: “Phát triển Xã hội Dân sự chính là phương cách hiệu quả nhất để đi tới được một nền Dân chủ Tham gia” (Participatory Democracy). Như ta đã biết, XHDS là một trong ba khu vực cấu tạo thành cái không gian xã hội mà mỗi người chúng ta sinh sống trong một miền địa lý nhất định. Định nghĩa này có thể ghi vắn tắt thành một công thức như sau:

Không gian xã hội  =  Nhà nước + Thị trường kinh tế + Xã hội Dân sự.

( The Social Space   =  The State   + The Marketplace   + The Civil Society).

Cả ba khu vực này đều tồn tại song hành với nhau trong tư thế của sự cộng đồng sinh tồn (Coexistence), tức là không một khu vực nào lại tìm cách thay thế hay lọai trừ đơn vị kia.

Thông thường, thì ta có XHDS trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, hay trong một đơn vị hành chánh nhất định. Nhưng với xu thế tòan cầu hóa ngày nay, thì đã có nhiều tác giả đề cập đến các khía cạnh của một thực thể lớn rộng hơn nữa, đó là “Xã hội Dân sự Tòan cầu” (Global Civil Society), mà thành phần đơn vị cụ thể là các Hội Hồng Thập Tự, Hội Hướng Đạo, Phong Trào Green Peace (Bảo vệ Môi sinh), Tổ chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International), các Tổ chức Nhân đạo như Ford, Rockefeller, Bill Gates Foundation  v.v… Cũng tương tự như tổ chức Liên Hiệp Quốc (The United Nations = UN ), được khai sinh từ sau thế chiến thứ hai, thì cũng được coi như là một thực thể chính trị bao gồm mọi quốc gia trên thế giới ngày nay. Ta sẽ bàn chi tiết về XHDS Tòan cầu trong một dịp khác, vì bài này tập chú vào hiện tình XHDS tại Việt nam trong bối cảnh của phong trào phát triển về Dân chủ và Nhân quyền của thế giới ngày nay.

Trong vòng 30-40 năm nay, ý niệm về XHDS đã được phát triển phổ biến khắp nơi trên thế giới, qua môi trường hàn lâm đại học, cũng như qua các phương tiện truyền thông báo chí, và nhất là thông qua sự lớn mạnh của hàng triệu các tổ chức phi chánh phủ (NGO = Non-Governmental Organisations), các tổ chức từ thiện nhân đạo, các nhóm họat động xã hội dựa trên cơ sở một niềm tin tôn giáo (Faith-based social action groups) v.v… nhan nhản tại khắp các quốc gia trên thế giới, thì vai trò của XHDS lại càng được chú ý và được đề cao, cổ võ. Đặc biệt, kể từ khi chế độc độc tài tòan trị cộng sản bị xụp đổ tại Đông Âu và tại chính Liên Xô kể từ 20 năm nay, thì vấn đề “Phục hồi và Xây dựng lại XHDS tại các quốc gia cựu cộng sản này” lại càng được đặt ra một cách sôi nổi cấp thiết.

Xu thế chung tại các quốc gia “hậu cộng sản” này là : Quần chúng nhân dân dành lại được cái quyền chủ động của mình trong mọi lãnh vực chính trị, xã hội, kinh tế cũng như về mặt văn hóa, tâm linh. Cụ thể là các hội thiện nguyện về nhân đạo từ thiện cũng như về y tế, giáo dục và tôn giáo v.v… đã được phục hồi để cho các tư nhân được thỏai mái tham gia sáng kiến và hành động, mà không còn bị quyền lực của Nhà nước o ép, kiềm chế gắt gao như dưới chế độ cộng sản nữa. Và đây mới chính là sự thể hiện cái “Quyền Tự quyết, Quyền Tự Làm chủ” của người dân đối với xã hội và đất nước của mình. Kết quả là tại hạ tầng cơ sở của các xóm làng, các khu phố, người dân đã nô nức, phấn khởi hợp tác với nhau để tham gia vào công việc cụ thể và thiết thực, nhằm cải tiến môi trường sinh họat tại địa phương nhỏ bé của chính mình. Và xuyên qua những công tác cải tiến dân sinh cụ thể như thế, người dân càng thêm gắn bó thân mật với nhau và nhờ vậy mà xã hội được phát triển trong tình thân ái, tương trợ và liên đới giữa các thành viên với nhau hơn mãi. Tình trạng “Gắn bó xã hội” (Social Cohesion) này lại càng làm phong phú thêm cái nguồn” Vốn Xã hội” (Social Capital) của tòan thể cộng đồng. Nói cho gọn lại, thì XHDS trong giai đọan hậu cộng sản này đang đóng trọn vẹn cái vai trò làm “Đối tác với Nhà nước” (Counterpart) trong công cuộc xây dựng và phát triển xã hội ngay từ cấp hạ tầng cơ sở tại nông thôn cũng như tại môi trường đô thị.

Mặt khác, vì có tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do nghiệp đòan… là những nhân quyền căn bản như đã được ghi rõ trong Bộ Luật Quốc Tế về Nhân Quyền (The International Bill of Human Rights), nên XHDS đã có thể đóng trọn vẹn một vai trò khác nữa, đó là vai trò làm “Đối trọng” (Counterbalance) đối với Nhà nước, khiến cho chánh quyền không thể vượt quá giới hạn, lạm dụng quyền hành, tự tung tự tác, như dưới thời cộng sản chuyên chế độc tài được nữa. Tại Đông Âu hiện nay, giới sĩ phu trí thức, giới hàn lâm đại học, giới văn nghệ sĩ, cũng như giới lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo, thì đều có điều kiện thỏai mái để góp phần phê phán, sửa sai đối với chánh quyền. Tiếng nói của họ được coi như “Tiếng nói Lương tâm” (The voice of conscience) của cả một dân tộc. Nhờ vậy, mà xã hội có thể tránh được bao nhiêu điều sai lầm tệ hại, thất nhân thất đức như đã xảy ra đầy rẫy dưới thời cộng sản, hay dưới thời độc tài phát xít Đức quốc xã trước đây. Kinh nghiệm này rất có ích cho quê hương chúng ta.

Tại Việt nam gần đây, tiếng nói phản biện về chuyện Nhà nước cộng sản đã để cho Trung quốc sang khai thác quặng bâu-xít ở miền cao nguyên, hiện đang gây một tiếng vang lớn trong dư luận quần chúng khắp nơi, cả ở trong cũng như ở ngòai nước. Đó là một dấu hiệu đáng mừng là giới sĩ phu trí thức đã mạnh dạn dấn thân nhập cuộc với tòan thể dân tộc trong việc bảo vệ môi sinh, bảo vệ lẽ sống còn của các sắc tộc thiểu số vốn xưa nay vẫn sinh sống tại miền rừng núi, với sắc thái văn hóa riêng biệt, đặc trưng của mình. Cũng như việc các thanh niên sinh viên đã dũng cảm chống lại việc Trung quốc xâm lấn Hòang Sa, Trường Sa và phần đất ở biên giới phía bắc của Tổ quốc ta. Mặc dầu bị chính quyền Hanoi đã thẳng tay đàn áp thô bạo, giới thanh niên này vẫn kiên trì theo đuổi công cuộc tranh đấu nhằm bảo vệ sự tòan vẹn của lãnh thổ Việt nam. Đây chính là điều rất tích cực góp phần tạo ra khí thế lạc quan, phấn khởi cho việc xây dựng tương lai của xứ sở. Và người ở hải ngọai như chúng ta cần phải hết lòng yểm trợ thật hiệu quả cho sự nghiệp tranh đấu và xây dựng trường kỳ như thế.

Nói vắn tắt lại, chúng ta cần phải chuyển giao cho thế hệ trẻ cái ngọn lửa nồng nàn của tình yêu thương chân thật và liên đới với đồng bào ruột thịt của mình, nêu cao tinh thần bảo vệ Nhân phẩm và Nhân quyền của người dân. Tình yêu thương đó phải được diễn tả cụ thể bằng hành động thiết thực, như tìm cách chấm dứt tệ nạn buôn người (Human Trafficking), đòi hỏi công bằng xã hội cho hàng triệu dân oan hiện đang bị mất nhà, mất đất tại khắp các miền nông thôn hẻo lánh, hỗ trợ cho các nhà tranh đấu cho Dân chủ, Nhân quyền mà đang bị chính quyền cộng sản sách nhiễu, bắt bớ giam cầm trong các nhà tù… Chúng ta cũng phải tận tâm chăm sóc cho các nạn nhân của thiên tai bão lụt, của bệnh tật ngặt nghèo như bênh phong cùi, bệnh HIV/ Aids…, góp phần nâng đỡ các học sinh, sinh viên thuộc các gia đình nghèo túng để các em có điều kiện tiếp tục việc học v.v…Các lọai việc này hòan tòan nằm trong phạm vi tầm tay của chúng ta, trong lãnh vực xã hội dân sự. Có ra  tay nhập cuộc cụ thể và tích cực như thế, thì ta mới thực sự góp phần vào việc tạo ra được một sự chuyển biến rõ rệt trong xã hội được. Như người Mỹ thường nói : That makes a difference, a change. ( Điều đó tạo ra sự khác biệt,sự chuyển biến).

Bài viết này được thành hình là nhờ ghi lại chi tiết câu chuyện tại bữa tiệc Mừng Xuân Kỷ sửu của Hội Luật gia Việt nam, được tổ chức vào ngày Chủ nhật 8 Tháng Ba 2009, nhằm đúng vào Ngày Quốc tế Phụ nữ, tại thành phố Milpitas, gần San Jose California. Tác giả xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến Thẩm phán Phan Quang Tuệ, Luật sư Ngô Văn Quang trong Ban Chấp Hành Hội Luật gia là hai vị đã gợi ý ra đề tài cho buổi nói chuyện này. Và như đã thưa ở trên, người viết xin hẹn sẽ khai triển chi tiết hơn về đề tài Xã hội Dân sự Tòan cầu trong một dịp khác nữa, bởi lẽ bài viết này đến đây thì đã quá dài rồi./

California, Mùa Xuân Kỷ sửu 2009.

Đòan Thanh Liêm

Mục sư Rick Warren và sự Nhập cuộc của tín đồ tôn giáo.

Mục sư Rick Warren và sự Nhập cuộc của tín đồ tôn giáo.

Bài của  :  Đoàn Thanh Liêm

Tại nước Mỹ kể từ sau khi thế chiến thứ hai chấm dứt, thì có nhiều vị mục sư nổi danh với ảnh hưởng rất lớn lôi cuốn được số đông quần chúng khắp nước Mỹ và cả ở ngoại quốc nữa. Trong số này, phải kể đến mục sư Billy Graham, mục sư Martin Luther King và mục sư Rick Warren.

Billy Graham sinh năm 1918 là một vị giảng thuyết lôi cuốn đến hàng trăm triệu người khắp nước Mỹ và cả trên thế giới. Luther King là vị lãnh đạo kiệt xuất của phong trào tranh đấu dân quyền  (civil rights movement) của người Mỹ gốc Phi châu trong các thập niên 1950-60. Rick Warren là một tác giả cuốn sách “The Purpose Driven Life” (Cuộc sống có mục đích) bán chạy nhất, đến trên 30 triệu cuốn trong vòng có 6-7 năm.

Trong bài này, tôi xin viết về mục sư Rick Warren là người trẻ tuổi nhất, sinh năm 1954 tại San Jose và là người sáng lập nhà thờ Saddleback Valley Community Church tọa lạc tại thành phố Lake Forest trong Quận Cam, miền Nam California liền sát với khu Little Saigon của người Việt chúng ta. Trong bài sau, tôi sẽ viết riêng về mục sư Billy Graham. Còn về mục sư Luther King, thì đã có quá nhiều người biết đến rồi, nên tôi thiết nghĩ khỏi cần viết gì thêm về ông nữa.

1 / Tóm lược tiểu sử của Rick Warren.

Rick Warren là con của một vị mục sư và chính bản thân ông cũng đã hiến dâng trọn cuộc đời mình cho việc rao giảng Tin Mừng của Chúa Cứu thế theo truyền thống của phái Tin Lành Southern Baptist. Ông tốt nghiệp bậc cử nhân tại California Baptist University ở Riverside, bậc cao học về Thần học tại Southwestern Baptist Theological Seminary ở Fort Worth, Texas và bậc tiến sĩ về mục vụ tại Fuller Theological Seminary ở Pasadena, California.

Ông thừa nhận mục sư Billy Graham, giáo sư Peter Drucker và mục sư Jimmy Warren người cha của ông là những vị trong số những cố vấn đáng tin cậy nhất của mình (mentor).

Năm 1975, sau khi được truyền chức mục sư, Rick Warren làm lễ thành hôn với Kay Lewis sinh trưởng ở San Diego trong một gia đình có người cha cũng là một vị mục sư. Hai ông bà có 3 người con hiện đều đã trưởng thành và 4 cháu nội ngoại. Cả hai người cùng hợp tác trong việc truyền đạo và phát triển cộng đoàn tín hữu từ con số vài trăm người lúc mới thành lập tại Saddeback trong thành phố Lake Forest vào năm 1980 lên đến con số trên 20,000 tín hữu vào năm 2005. Với số tín đồ thường xuyên tham dự thánh lễ và các sinh họat rất đa dạng hàng tuần đông đảo như vậy, Saddleback Valley Community Church đã trở thành một “Megachurch” đứng hàng thứ 8 trong số trên 1,200 “đại giáo đoàn” của toàn nước Mỹ hiện nay. Megachurch là một hiện tượng tiêu biểu cho phong trào phát triển tôn giáo rất mạnh mẽ, lôi cuốn được hàng triệu tín đồ của các giáo hội Tin lành trong vòng 50 năm qua tại nước Mỹ và cả tại Đại Hàn.

Song song với việc phát triển cơ sở mục vụ này, Rick còn đóng góp rất tích cực vào việc đào tạo, hướng dẫn cho trên 400,000 mục sư và giới chức lãnh đạo hội thánh trên toàn thế giới, dựa theo tinh thần đã được phác họa trong cuốn sách xuất bản lần đầu năm 1995, được bán rất chạy, với nhan đề là “The Purpose Driven Church”.

Rick Warren lại còn nổi danh hơn nữa với cuốn sách được xếp vào loại bán chạy nhất (bestseller), mà hiện đã lên đến 30 triệu cuốn, đó là cuốn sách có nhan đề “The Purpose Driven Life”. Người viết sẽ giới thiệu chi tiết hơn về hai cuốn sách này trong một dịp khác.

Với số lợi tức thu nhập thật lớn lao do việc bán sách, vào năm 2005 Rick Warren đã hoàn lại cho nhà thờ toàn bộ số lương bổng  ông nhận được trong 25 năm với cương vị một mục sư. Và còn hơn thế nữa, ông tiếp tục đóng góp cho nhà thờ 90% số lợi tức thâu nhập của mình, thay vì số 10% mà người tín đồ thường đóng góp vào công quỹ của hội thánh, được gọi là “tithe” (thập phân).Và ông bà tiếp tục sống thanh đạm trong căn nhà nhỏ bé, với cái xe cũ kỹ, chứ không hề có một biểu hiện xa hoa nào của một gia đình triệu phú thường tình.

Nhưng điều đáng ghi nhận hơn cả về vị mục sư danh tiếng này, chính là việc ông đã tổ chức cho các tín đồ và các bạn hữu thân tín của mình tham gia dấn thân nhập cuộc với các dự án hết sức lớn lao về xã hội, y tế, giáo dục và phát triển có tầm vóc toàn cầu. Ta sẽ xem xét công việc này trong các mục tiếp theo đây.

2 / Sự gắn bó với Phi châu : Khởi sự ở Rwanda.

Sau mấy năm chuẩn bị, Rick Warren đã bắt đầu một loạt chương trình hành động của “đại giáo đoàn Saddenback” được mệnh danh là PEACE plan tại nước Rwanda là nơi có cuộc diệt chủng kinh hoàng vào năm 1994, tàn sát đến gấn một triệu sinh mạng trong một quốc gia với dân số chỉ có 9 triệu người. Chữ PEACE này ngoài ý nghĩa là Hòa bình, lại chính là chữ viết tắt của khẩu hiệu gồm 5 mục : Promote Reconciliation, Equip servant-leaders, Assist the poor, Care for the sick, Educate the next generation (Phát triển công cuộc Hòa giải, Trang bị cho người lãnh đạo-phục vụ, Giúp đỡ người nghèo khó, Chăm sóc người bệnh tật, Giáo dục thế hệ tương lai).

Vào năm 2005, tức là 11 năm sau vụ diệt chủng, Rwanda vẫn còn là một quốc gia vào loại nghèo nhất trên thế giới với 90% dân chúng có thu nhập chưa tới 2 dollars mỗi ngày. Ngay từ lúc đặt chân tới đây, Warren liền phát động ngay một chương trình hành động cấp thời gồm nhiều phương diện y tế, xã hội, giáo dục và nhất là cả kinh tế. Ông dẫn các giám đốc xí nghiệp, các doanh gia từ trong số các thành viên của cộng đoàn Saddenback đến tiếp súc và làm việc với giới doanh nghiệp và nhân viên chánh phủ Rwanda để tìm cách xây dựng nền kinh tế của xứ sở này. Họ chú trọng vào công việc đào tạo huấn luyện cho các nhà doanh nghiệp nhỏ tại các làng quê hẻo lánh, cho đến cả việc yểm trợ các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở rất lớn lên đến nhiều triệu dollar. Điển hình như  dự án xây dựng đường sắt dài 720 miles nối liền Rwanda với Tanzania và Burundi, chi phí lên đến 2.5 tỷ mỹ kim vừa do 3 nước đó ký kết vào tháng Tư năm 2009.

Rick Warren rõ ràng là có tầm nhìn xa và có uy tín để kết hợp được cả giới lãnh đạo chánh quyền, giới doanh nghiệp tư nhân, cũng như giới lãnh đạo tôn giáo ở hạ tầng cơ sở tại những xóm làng hẻo lành, để cùng nhau thực hiện được rất nhiều dự án cụ thể về y tế đại chúng, từ việc lo chăm sóc cho hàng vạn người mắc bệnh HIV/AIDS, cho bao nhiêu trẻ mồ côi cha mẹ đã chết vì căn bệnh hiểm nghèo này, cho đến việc cấp vốn cho các gia đình nghèo túng để giúp họ phương tiện tự lực mưu sinh, để khỏi phải lệ thuộc mãi vào sự bố thí của người khác.

Phái đòan do Rick Warren hướng dẫn đã được chính Tổng thống Rwanda là Paul Kagame và tòan thể chánh phủ tín nhiệm và hợp tác rất chặt chẽ; nhờ vậy mà sau mấy năm làm việc chung với nhau, thì quốc gia này đã gặt hái được những thành quả rất đáng khích lệ về nhiều mặt kinh tế, xã hội cũng như văn hóa, ngọai giao.

3 / Quần chúng tín đồ các tôn giáo là một nguồn tiềm năng vô biên.

Trong nhiều dịp được mời tham gia các diễn đàn quốc tế như ở New York, Washington DC, ở Davos Thụy sĩ v.v…, Rick Warren đã luôn luôn trình bày rất thẳng thắn đại để như thế này :  “Trên thế giới ngày nay, chúng ta có đến trên 2 tỷ người tín đồ Thiên chúa giáo gồm Công giáo, Tin lành, Chính thống giáo, trên 1.5 tỷ người tín đồ Ấn độ giáo và Phật giáo và trên 1 tỷ người tín đồ Hồi giáo. Khối quần chúng tín đồ lớn lao như thế đó là một nguồn tài nguyên vô biên, mà cho đến nay chưa được mấy ai trong các tổ chức quốc tế chú trọng đúng mức để động viên thuyết phục họ cùng bắt tay dấn thân vào việc giải quyết những khó khăn bế tắc trầm trọng có tầm vóc tòan cầu. Riêng cá nhân tôi là một mục sư Thiên chúa giáo, thì với khả năng hạn hẹp của mình, tôi đã cùng với các tín đồ của nhà thờ Saddenback phát động kế hoạch PEACE để góp phần vào công cuộc phục vụ bà con đang gặp khó khăn ở nhiều nơi, cụ thể như ở Rwanda. Và tôi cũng ước mong quý vị tất cả nên chú ý đến cái khối tiềm năng vĩ đại này, hầu đề ra được những giải pháp tốt đẹp cho thế giới chúng ta đang gặp bao nhiêu bế tắc khủng hỏang ngày nay…”

Dịp khác, ông còn gợi ra hình ảnh tôn giáo là cái chân thứ ba để cùng hợp với khu vực nhà nước và khu vực tư nhân để tạo được thế đứng vững chắc cho tòan bộ chiếc ghế của thế giới ngày nay. Với uy tín sẵn có, Warren có dịp thường xuyên trao đổi và hợp tác với các nhân vật có tầm vóc họat động rộng rãi tòan cầu, điển hình như cựu Tổng thống Bill Clinton, cựu Thủ tướng Tony Blair …

Trong mùa tranh cử Tổng thống Mỹ năm 2008, Warren đã mời được cả hai ứng cử viên John McCain và Barak Obama cùng đến Saddenback để trình bày với cử tri về lập trường của mỗi người trước những vấn đề hệ trọng của đất nước. Và mục sư Warren lại còn được mời đọc lời kinh cầu nguyện trong buổi lễ nhậm chức của Tổng thống Obama tại thủ đô Washington vào đầu năm 2009.

Tạp chí US News and World Report xếp hạng Rick Warren là một trong “25 vị lãnh đạo hàng đầu của nước Mỹ” vào năm 2005. Tạp chí Time thì gọi ông là một trong “15 nhà lãnh đạo thế giới đáng kể nhất trong năm 2004” và cũng là một trong “100 nhân vật có ảnh hưởng nhất trên thế giới” vào năm 2005. Còn báo Newsweek trong năm 2006, thì gọi ông là một trong “15 nhân vật đã làm cho nước Mỹ trở thành vĩ đại”.

Tuy được tung hô khen tặng như vậy, Warren vẫn luôn giữ được sự khiêm cung đạo hạnh của một tu sĩ. Ông thường xuyên cầu nguyện và bày tỏ sự tin tưởng tuyệt đối vào sự dẫn dắt của Thiên chúa trên bước đường phục vụ tha nhân. Niềm xác tín và lòng nhiệt thành của ông đối với sứ mệnh rao giảng lời Chúa như vậy đã lôi cuốn, thuyết phục được hàng triệu tín đồ cũng như các mục sư khác cùng nhau dấn thân nhập cuộc vào những chương trình cụ thể, thiết thực nhằm chống lại nạn nghèo đói và bệnh tật, mở mang về giáo dục cho lớp người bị gạt ra ngòai lề xã hội và bảo vệ môi sinh trên phạm vi tòan cầu.

Tư tưởng cũng như hành động của mục sư Rick Warren quả thật là rất gần gũi với lập trường của Hội đồng Giám mục Công giáo Châu Mỹ La tinh (CELAM) đã được xác định từ lâu, đó là “Sự Chọn lựa của Giáo hội đối với Người Nghèo khổ” ( Church’s Option for the Poor) vậy./

California đầu tháng Mười 2010

Đòan Thanh Liêm

ĐỜI SỐNG CẦN CÓ CHÚA

ĐỜI SỐNG CẦN CÓ CHÚA

Cố Lm. GB. HỒNG PHÚC ( 1921 – 1999 )

Sau Ngôn Sứ Amos, xuất thân từ một người chăn chiên hiền lành biến thành một con sư tử “gầm thét” tội ác của các nhà lãnh đạo Dân Chúa, nay đến Ngôn Sứ Giêrêmia lên tiếng: “Khốn cho các mục tử làm tản mác và xâu xé đàn chiên”.

Họ đã làm cho nước mất nhà tan, hàng ngàn người chết, hàng vạn người phải lưu đầy qua Babylone, trong số đó chính vị Ngôn Sứ là nạn nhân. Những nhà lãnh đạo Israel phải là kẻ đem lại hòa bình và hiệp nhất cho Dân Chúa, trung thành với giao ước Sinai, vậy mà nay họ lại phản lại Thiên Chúa, gây khốn khổ cho Israel. Nhưng Thiên Chúa là Đấng trung thành, vị Ngôn Sứ nhìn thấy ở chân trời, một Đấng Mục Tử xuất hiện từ chi tộc Đavít. Ngài sẽ đem lại hòa bình và công chính. Tuy nhiên, với điều kiện là đoàn chiên biết nghe lời Ngài. Lịch sử Do Thái là hình ảnh lịch sử nhân loại.

Thánh Phaolô, trong thư gởi giáo đoàn Êphêsô, cho chúng ta thấy Đấng đã làm “cho đôi bên nên một, phá đổ bức tường ngăn cách, tiêu diệt hận thù”, chính là Chúa Giêsu. Ngài đến loan báo Tin Mừng bình an. Ngài đến hiệp nhất chúng ta lại. Chúng ta hãy nhìn lên Thập Giá, Ngài chịu treo lên, như gạch nối giữa đất và trời, hai tay giang ra như để ôm chầm cả nhân loại.

Qua bài Phúc Âm, chúng ta thấy Marcô mô tả việc Chúa Giêsu và các môn đệ sau những ngày làm việc mệt nhọc, đã để ra một vài ngày nghỉ ngơi trong yên tĩnh. Quần chúng bao quanh đến nỗi “Ngài không có cả thì giờ để ăn”. Một thời gian để tĩnh dưỡng cho mình và các môn đệ là điều hợp lý.

Và chúng ta thấy Chúa Giêsu biết chọn những chỗ thích hợp, như “trên một ngọn núi cao, xa vắng” ( 9, 2 ), trên bức thành đá ven bờ hồ Tibêriađê ( 5, 1 ), bờ biển Phênicia ( 7, 24-31 ) hay gần nguồn sông Giođan dưới chân núi Hermon ( 8, 27 ). Đây là một cuộc tĩnh tâm của Thầy và các môn đệ, vừa nghỉ ngơi vừa huấn luyện. Các Tông Đồ thuật lại cho Thầy nghe các kinh nghiệm Tông Đồ của mình ( 6, 30 ), Thầy thông cảm với các cộng sự của mình: “Sáng sớm tinh sương, Ngài trỗi dậy, ra khỏi nhà, đi đến một nơi thanh vắng và cầu nguyện ở đó” ( 1, 35 ). Như vậy, khi trở về gặp lại dân chúng, lời giảng pha lẫn với lời kinh của Chúa và của môn đệ hứa hẹn một mùa gặt tốt.

Nhưng Chúa Giêsu và môn đệ không thể tĩnh dưỡng lâu, xa quần chúng. Vì Ngài đến vì dân chúng và dân chúng cũng cảm thấy không thể thiếu Ngài. Họ đi tìm Chúa, “họ như bầy chiên không có kẻ chăn”. Họ cần có Chúa.

Tất cả chúng ta đều cảm thấy cần có Chúa, thiếu Chúa đời ta thiếu tất cả, bơ vơ và lạc lõng. Thánh Augustinô kêu lên: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, và tâm hồn con sẽ không bình yên khi nó không an nghỉ trong Chúa”.

Chúng ta thấy Chúa Giêsu tỏ ra rất thương yêu và am tường các nhu cầu vật chất và tinh thần của các môn đệ. Đời sống Tông Đồ là một đời sống tận hiến tất cả, đầy gian lao và xả thân, nhưng phải luôn luôn trở về nguồn. Phải để ra những ngày nghỉ ngơi, im lặng và cầu nguyện, những ngày sống thân mật với Chúa, chuẩn bị cho những ngày xuất quân mới, đầy nghị lực và tình thương.

Đức Gioan XVIII được gọi là vị Giáo Hoàng năng tĩnh tâm. Mặc dù công việc Giáo Hội bề bộn, với bao nhiêu vấn đề phải suy tư giải quyết. Ngài hằng “trở về nguồn”. Đặc biệt, ngài rất năng tĩnh tâm, tạm dẹp công việc lại một bên, để dành cho Chúa một thời gian. Ngài dọn một phòng riêng ở Vatican, để sống những giờ âm thầm bên Chúa hoặc nghe lời giảng day… Trước khi khai mạc Công ĐồNG Vaticanô II, ngài đã tĩnh tâm một thời gian rồi đi hành hương ở Loretto, nơi lưu giữ ngôi nhà của Đức Mẹ, để xin cho Công Đồng được kết quả.

“Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi…

Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi,

Người hướng dẫn tôi, tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng”.

Cố Lm. GB. HỒNG PHÚC ( 1921 – 1999 )