Đường khuynh diệp .(phần 1)

 Đường khuynh diệp (phần 1)

Bút ký công tác của Jenny Đỗ
.
giới thiệu của Giao Chỉ San Jose.

Đêm nay tôi tìm đọc bút ký có tựa đề lạ lùng của nữ luật sư Jenny Đỗ tại San Jose. Tôi hết sức xúc động. Xin viết đôi lời về tác giả.

Tháng 2 năm 1984 chuyến bay Air France từ Phi qua San Francisco chở nhóm gia đình con lai đầu tiên đến Hoa Kỳ. Cô gái lai Đặng Thị Phương Khanh đi cùng bà mẹ và em trai. Ngày hôm đó là ngày sinh nhật của Phương Khanh. 18 tuổi. Cô sinh ra tại Vũng Tàu. Lúc đó người cha Hoa Kỳ chưa hề biết mặt đã ra đi từ mấy tháng trước. Thế giới của cô là bên ngoại. Mẹ và ông bà ngoại. Quê ngoại ở ngoài Bắc xa xôi thuộc miền Nam Định. Họ Đặng cùng với Trường Chinh, một lãnh tụ cộng sản nhưng riêng gia đình cô lại có nhiều người bị “cách mạng” giết. Sau 9 năm sống với Việt nam Cộng Hoà cô bé Phương Khanh khá vất vả vì hoàn cảnh con lai. Sau 75 lại còn cay đắng hơn trong 9 năm vì thuộc thành phần con lai không có hộ khẩu. Cuộc sống hết sức đau thương từ kinh tế mới Túc Trưng cho đến Sài Gòn thời bao cấp. Năm 1984 đi Mỹ là cơ hội cho cô gái lai 18 tuổi chắp cánh bay cao. Hành trang là kinh nghiệm cuộc sống dưới 2 chế độ. Với cộng hòa cô bé học được căn bản đạo đức gia đình và văn hóa miền Nam. Với cộng sản cô trải nghiệm giai đoạn đau thương phải phấn đấu để sinh tồn.Thân phận con lai trở thành tấm vé cho cả gia đình bỏ quê ngoại trở về đất nước của người cha chẳng bao giờ gặp lại. 18 tuổi với 9 năm thuộc nền giáo dục của xã hội chủ nghĩa qua chế độ tem phiếu, khi đến Hoa Kỳ, Phuơng Khanh không có vốn Anh ngữ nên đã phải bắt đầu hoàn toàn từ số không. Cô đi làm, đi học, tốt nghiệp luật sư và đặc biệt thành lập cơ quan bất vụ lợi, tổ chức bạn của Huế ra đời. Phương Khanh trở thành luật sư Jenny Đỗ và là chủ tịch hội đồng quản trị Friends of Hue. Những chi tiết về tổ chức này được gián tiếp giới thiệu trong bút ký cô viết về chuyến thăm viếng năm 2009. Nhưng định mệnh khắt khe đã rung hồi chuông báo tử.

Khi khám định kỳ Jenny phát giác ra bệnh ung thư vú. Sau thời gian hóa trị có kết quả tại San Jose, hy vọng bình phục, Jenny lạc quan tiếp tục đi công tác vào năm 2009. Bút ký Đường Khuynh Diệp ghi lại chuyến đi 6 năm trước. Niềm vui lớn lao là ngày nay tổ chức đã xây dựng hoàn tất một trung tâm cộng đồng tại Huế. Biết bao nhiêu kỷ niệm đấu tranh với công an Thừa Thiên khi từ chối treo hình Hồ chí Minh và cờ đỏ trong trung tâm. Friends of Hue nuôi các trẻ em ăn học để trở thành một lớp công dân hữu dụng tương lai. Tất cả các em đều có phía sau cả một câu chuyện đau thương bi đát. Trở lại San Jose, Jenny năm nay 49 tuổi quyết định ra tranh cử tại khu 4 với một ước vọng chính là xây dựng cho người Việt San Jose một trung tâm sinh hoạt cộng đồng. Nhiều bạn bè hứa hẹn yểm trợ, tinh thần rất mạnh mẽ và phấn khởi hướng về cuộc tranh cử năm 2016. Nhưng niềm vui đã nằm trong thiên tai. Tuần trước đi khám định kỳ, bà bác sĩ tuyên án bất ngờ. Bệnh ung thư tái phát cấp thời mạnh mẽ và thời gian còn lại của Jenny chỉ đếm được hàng tháng. Hai hay 3 tháng. Chúng tôi hỏi thăm tin dữ và tối thứ ba vừa qua luật sư Đỗ Quý Dân và Jenny Đỗ ghé đến nhà chúng tôi để kể chuyện về công tác thiện nguyện tại quê nhà và dự án trung tâm cộng đồng như một giấc mơ mới hình thành tại San Jose. Cô sẽ không còn sức khỏe để ra tranh cử và cũng không có ngày giờ để bàn chuyện lâu dài. Sẽ chuẩn bị công bố về hoàn cảnh cá nhân và trình bày cho bằng hữu về giấc mộng sau cùng. Jenny bình tĩnh ngồi tâm sự suốt 4 giờ đồng hồ. Thể hiện một ý chí vô cũng mạnh mẽ, sẽ tiếp tục đấu tranh với Ung Thư trong hoàn cảnh tuyệt vọng. Cô cho biết tâm sự và văn chương qua bút ký công tác xin bác tìm đọc Đuờng Khuynh Diệp. Vào lúc 2 giờ sáng qua tôi tìm thấy bài văn lạ lùng này trên thế giới ảo.Trong số các bài văn thuộc loại thăm dân cho biết sự tình, tôi nghĩ rằng tác phẩm này có thể được coi là xuất sắc nhất. Tấm lòng của tác giả giãi bày trên từng trang giấy. Nhưng trong chuyện buồn cũng còn có lúc hết sức vui. Chuyện buồn là những đứa bé gái Việt lên 10 chưa có ngực phải làm điếm bên Cam Bốt. Người phụ nữ Việt ngày đêm bị nhốt trần truồng trong phòng kín. Những con chim tội nghiệp bán ở cửa đền khi phóng sinh bay không được chết chìm dưới nước. Cô gái bán tôm trên bãi cát, bóc từng con cho khách ăn để rồi nhìn ra biển tâm sự rằng lo cho chồng một ngày ra khơi đánh cá sẽ không trở về. Phương Khanh mang thân phận con lai, 18 tuổi trở về quê cha Hoa Kỳ gọi là Coming Home, nhưng một đời sống trong cửa chùa còn nhớ mãi mùi khuynh diệp quê nhà. Hơn 20 năm sau, cô luật sư Jenny trở về tìm mùi hương quá khứ. Không thấy khuynh diệp kỷ niệm bên Cam Bốt. Không có ở Hà Nội, ở Huế chỉ có chuyện nước lụt và đàn con chịu rét. Không có ở bãi biển Hàm Tân. Sau cùng cô tìm thấy múi hương quá khứ ngay bên đường. Cây khuynh diệp còn gọi là bạch đàn mang hương vị thuốc, y khoa gọi là Eucalyptus. Nhưng khuynh diệp trong tâm tư cô gái lai tìm về cội nguồn không phải là tìm vị thuốc, cô chỉ tìm lại mùi hương trong nhang khói kỷ niệm nơi cửa Phật. Khuynh diệp của cô chính là lá Diêu Bông của Phạm Duy…
.
Hàng triệu người Việt đã ra đi và hàng triệu chuyến trở về của du khách trên quê hương cũ.  Tôi đã nghe kể lại chuyện khốn cùng thời kỳ 80. Chuyện đổi mới thời 90 và người về khoe khoang những hình ảnh rực rỡ của quê nhà khi bước vào thế kỷ 21. Không một ai đem lại cho chúng ta mùi hương của Đường Khuynh Diệp. Rồi mai đây, những đứa con của sông Huơng trưởng thành trong tình thương của người bạn Huế. Giấc mơ cuả Jenny về một trung tâm Việt Nam ở San Jose có thành hay không, Đường Khuynh Diệp sẽ còn mãi trong lòng độc giả để ghi dấu tấm lòng tác giả với quê hương.

Người phụ nữ can trường 49 tuổi đang chiến đấu những ngày tháng cuối cùng với định mệnh. Ba người phụ nữ tại Mỹ gặp ung thư thì 1 người chết. Jenny biết rằng cô chính là người đó. Cô nói trong tiếng cười rằng việc riêng đã thu xếp xong. Việc chung cần thêm chút thời gian.
Ung thư ơi, Chào mi. Ta cất đầu thật cao. Không một lời than thở…
Xin các bạn cùng tôi theo chân Jenny đi tìm mùi hương khuynh diệp.

blank

Luật sư Jenny Đỗ trả lời Dân Sinh Media tại VietMuseum.    

        Đôi lời thưa với cộng đồng Việt San Jose, các bạn con Lai, các đồng bệnh ung thư và  cô vĩnh biệt các con Friends of Hue tại trung tâm sinh hoạt Thừa Thiên.
Xuân này cô không về, các con cố gắng sống cho cô hãnh diện, sống để giúp cho các bạn không đau khổ như các con…
​

         Monday, March 30, 2009. Bút ký của Jenny Đỗ.

       ĐƯỜNG KHUYNH DIỆP     

     Mặn.
Hàm Tân biển không người. Đêm rằm tháng Giêng trăng sáng đến màu nhiệm. Nơi đây, đất của vùng tù đày ngày xưa, cũng là điểm cuối trong cuộc hành trình tìm thuốc của tôi. Đêm lộng lẫy hi hữu khi đất trời có trăng cao hoan hỷ, biển óng ánh ngút ngàn, và hạnh phúc nhỏ của tôi. Rung động trước sự hài hòa của nước trời, tôi quỳ trong biển, dang tay đón nhận sóng, và van xin trăng cho thêm những ngày sống để có ích cho người. Còn bao nhiêu việc cần phải làm, còn bao nhiêu người đang trầm luân.
Khởi bước hành trình, tôi từ Hoa Kỳ về Châu Á với hai mục đích, trước là để dưỡng bệnh và sau là để thăm 40 đứa trẻ mồ côi do hội Friends of Huế Foundation đang nuôi dưỡng tại Huế. Tất cả cần phải làm xong trước khi tôi trở về lao đầu vào công việc luật pháp, sau bao tháng nghỉ ngơi để điều trị bệnh ung thư vú. Các thân chủ tôi đã khuyên nhủ: “Luật sư cần phải về Việt Nam chữa trị,…hốt thuốc tam thất, hốt lá đu đủ, uống cỏ…gặp thầy lang 90 tuổi, v.v.” Những lời thật chân tình. Mặc dầu tôi không mấy tin tưởng về những phương pháp này, thay đổi không khí, giải tỏa tâm trí, tìm thêm sức sống là chuyện tôi nên làm.
.
Một trong những hương vị mà tôi nhớ và thèm tìm lại được là mùi hương lá khuynh diệp ở Việt Nam. Ngày còn bé sống trong chùa, tôi thường ngâm lá khuynh diệp để làm thuốc hay rượu cho Thầy trụ trì. Vì nghịch ngợm, tôi hay vò lá cho xanh cả tay và hít hà hơi nồng thơm của khuynh diệp. Mỗi lần như vậy, tôi hình dung là đã tận hưởng sức sống với mùi ngai ngái của lá, và cảm thấy người mình như tăng thêm năng lực. Trong những tháng yếu ớt vì hóa trị (chemotherapy), tôi đã ước mong được trầm mình trong hương vò của lá. Bạn có thể thắc mắc là tại sao tôi lại phải quay về Việt Nam để tìm khuynh diệp khi những cây này mọc đầy rẫy tại California, như những hàng cây bạn thấy chạy dọc theo các đường lộ ở Santa Rosa hay tỏa bóng mát trong sân trường đại học Stanford? Tôi đã từng hái lá khuynh diệp ở những nơi này nhưng hương vị không đậm đà bằng lá khuynh diệp trong trí nhớ của tôi, và cảm giác được gia tăng năng lực thì hoàn toàn không có. Vì khác khí hậu chăng? Mùi vị húng quế của California cũng thế, không được thơm như húng quế ở Việt Nam. Trang bị đầy đủ lý do, tôi lên đường.
.
Phnom Penh
Trước khi về đất Mẹ, tôi tự nhủ phải nên ghé thăm đất thánh thần Kampuchea. Biết đâu khuynh diệp nơi này còn tốt hơn ở quê nhà Âu Lạc. Phnom Penh tiếp nhận tôi lặng lẽ như thiếu lòng chào đón. Có một cái gì đó quen thuộc nhưng xa lạ. Một thành phố hỗn tạp, đầy rẫy những xe lam đủ màu gọi là “tuk tuk”. Đất khô bụi đỏ nằm phơi dưới ánh nắng cháy da, người dân đen lam lũ. Không một bóng cây khuynh diệp.
       Rồi tôi phạm một lỗi lầm lớn. Tôi ghé thăm bảo tàng viện Diệt Chủng Toul Sleng và nơi chôn người tập thể Choeung Ek. Hai nơi địa ngục của trần gian. Toul Sleng trước đây là trường trung học. Những căn lầu ba tầng nối hàng nhau im lặng dưới trưa. Các lớp học cửa gỗ ngây ngô sơn đã phai màu, với những hành lang gạch đầy bóng mát, nằm dưới sự che chở dịu dàng của các rặng dừa lao xao trong gió lộng. Nhìn thoáng qua, Toul Sleng là một khung cảnh nên thơ, nơi khách viếng thăm có cảm tưởng như nghe được tiếng cười của trẻ em vang vang đâu đó. Thế nhưng ở cái khung cảnh thanh bình ấy, những thảm cảnh khủng khiếp về tội ác của loài người đã diễn ra.
Bước vào các lớp học, tương phản với các ô gạch dưới sàn nhà là hàng ngàn, hàng vạn những tấm hình chụp. Đây là hình ảnh những nạn nhân và những cuộc tra tấn hành hình mà họ phải gánh chịu. Những đôi mắt của các em bé đáng yêu, của các chị phụ nữ sợ hãi ngơ ngác, của các thanh niên bất lực và tuyệt vọng, của các cụ già cam chịu, như dõi theo từng bước chân tôi. Các câu hỏi hình như còn đọng lại trong mắt họ. Họ đã nghĩ gì trước khi bị tra tấn và tử hình? Kìa những hình ảnh của các phụ nữ ôm con trước khi họ và con họ bị phân thây. Nước mắt tôi ướt áo. Đưa tay chặn nước mũi, hồn tôi nghe đau nhức cho thân phận những người xấu số chết không toàn thây dưới lưỡi hái của tử thần mang danh là chính quyền Pol Pot. Những người này đã không được “ân huệ” chết bằng đạn bắn. Bị bắn chết là một sự may mắn. Vì tiết kiệm đạn, chính sách của Pol Pot là hành hạ nạn nhân cho đến chết. Bọn sát nhân đã chế ra những cái xiềng và ghế tra tấn khủng khiếp. Như để khoe thành tích của mình, chúng đã chụp hình nạn nhân trước khi, trong khi, và sau khi tra tấn họ. Đi qua các lớp học, tôi không còn hình dung được tiếng cười của trẻ thơ, mà chỉ cảm thấy chung quanh vang lên tiếng kêu khóc thê thảm của các em. Gần 3 triệu người đã mất mạng một cách dã man trên đất này, trong đó có một số không nhỏ là người Việt. Mấy ai trong chúng ta có thể tưởng tượng được sự ác độc của loài người lại sâu thẳm đến thế.
Khi thăm trại chôn người Choeung Ek, tôi phải đối diện với sự hãi hùng chưa từng gặp. Ngoài các mộ tập thể loang lở trên khu đất rộng, ngoài tòa lầu sọ người cao đến rùng mình, ngoài những đống quần áo phảng phất dấu bùn và máu khô, những đôi dép há mõm, những đống xương ống chân tay, những cái ly đựng răng hàm của nạn nhân, tôi còn thấy những cây có bát nhang và giỏ trái cây treo lơ lửng trên cành. Tôi cố nén xúc động. Tự hỏi tại sao người dân lại thờ những cây này? Mấy giây sau thì tôi vỡ lẽ. Trên thân cây có những vết dao sâu hoắm ngang dọc chi chít. Thì ra trẻ em đã bị đè vào những cây này trước khi thân hình bị chặt ra. Ở các hố chôn người đã được tìm thấy ở chung quanh, có biết bao xác đã không được nguyên vẹn hình hài. Có một hố đa số xác phụ nữ và trẻ em không có đầu và quần áo. Hơn 30 năm đã trôi qua, vậy mà người viếng thăm Choeung Ek vẫn còn có thể nhìn thấy xương vụn và quần áo của nạn nhân nằm rải rác đâu đó bên bờ các ngôi mộ tập thể.
Lúc lính của Pol Pot tràn qua biên giới Tây Nam đánh giết người Việt, tôi còn sống tại SàiGòn. Theo sự hiểu biết ít ỏi của tôi lúc đó thì Trung Quốc không muốn cho Việt Nam được độc lập, Thế nên họ không hài lòng lắm khi Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Tôi nghe phong phanh là họ muốn dạy cho Việt Nam một bài học. Trung Quốc đã tiếp tay với chính quyền Pol Pot để tấn công Việt Nam ở biên giới Tây Nam và đồng thời dẫn quân tràn vào vùng Lào Cai nơi biên giới Hoa Việt. Sau khi lính Cộng Sản Việt Nam tấn công và chiếm được Phnom Penh, Trung Quốc lại tiếp trợ cho tàn binh Khmer Đỏ của Pol Pot chạy trốn trong rừng để chống Việt Nam. Biết bao thanh niên Việt Nam đã hy sinh trong cuộc chiến Miên Việt này. Trong số những người hy sinh, một người bạn học chung lớp của tôi đã đạp phải mìn chết nơi đất người vào năm 1984. Sự mất mát của người Việt tại Kampuchea thật nặng nề, vậy mà ít ai nhắc tới. Người Việt sống tại Kampuchea rất đông, và đã bị chính quyền Pol Pot giết gần hết vào lúc đó. Người Chàm (Chiêm Thành) chạy loạn từ Việt Nam sang Kampuchea từ thế kỷ 13 cũng khá đông. Khoảng 2/3 dân số Chàm tại Kampuchea cũng bị Pol Pot tiêu diệt.
Điều đáng buồn là không phải chỉ riêng chính quyền Pol Pot, mà người dân Kampuchea nói chung cũng rất căm hận người Việt Nam. Tôi biết chuyện này một cách mơ hồ cho đến khi có mặt tại xứ người. Lịch sử như sống dậy trước mắt. Qua những cuộc nói chuyện với dân bản xứ, tôi được biết là từ bao nhiêu năm qua người Miên đã luôn cảm thấy bị người Việt đô hộ, bằng áp lực quân sự cũng như bằng sức mạnh kinh tế. Là người Việt, phản ứng tự nhiên là tôi muốn phủ nhận chuyện này. “Người Việt không tốt với chúng tôi.” Người lái xe tuk tuk nói trong một buổi ăn trưa. Khi bị hỏi cặn kẽ, anh chỉ lắc đầu, và lại lắc đầu. Mặc dầu có mấy đài tưởng niệm sự hy sinh của các chiến sĩ Việt tại Phnom Penh và Siem Reap, người Miên không chút ái mộ người Việt. Tôi đến chợ trò chuyện với các chị thúng rổ người Việt. Hỏi xem gia đình họ ở đây có bị ngược đãi không? Hoàn toàn không. Họ khẳng định với tôi và vồn vã cho rằng buôn bán ở Phnom Penh rất thuận lợi. Người bản xứ cũng hòa nhã. Hai bên không hiểu nhau chăng?
“Người Việt đẹp lắm!” Cô gái Miên có đôi mắt to đen cười nói với tôi. Tôi được biết là người Việt rất được chuộng trên thị trường sex của đất Kampuchea. Các trẻ em và phụ nữ Việt ở đây “bán” rất được giá, khách mua dâm chịu trả tiền cao cho những người có làn da trắng hơn da người Miên bản xứ.
Nếu hôm qua người Miên và người Việt là nạn nhân của phong trào diệt chủng của Pol Pot, thì hôm nay họ là nạn nhân của một tội ác mới. Đó là tội buôn người. Những cuộc mua bán người Việt Miên để làm nô lệ tình dục đang được tiếp diễn hàng ngày tại Kampuchea. Khi phái đoàn chúng tôi đến Siem Reap, một em bé gái độ chừng 9 tuổi đã tìm đến một người đàn ông Mỹ trong nhóm du lịch của chúng tôi và hỏi “You need yum yum?” Ông trợn mắt nhìn em bé: “What did you say to me?” Em bỏ chạy.
Dựa trên báo cáo TIP (Trafficking In Persons Report) đưa ra vào năm 2005, 2006 và 2007, rất nhiều phụ nữ và trẻ em Việt đã trở thành nạn nhân của các cuộc mua bán người ở Kampuchea. Tôi thử đến một vài phòng trà tại Phnom Penh để tìm hiểu tình hình. Vào thế giới đêm đầy muỗi đói tôi phải đối diện với ánh mắt dò xét của các ông khách dị hợm người da trắng đổ dồn vào mình. Đa số các “nhân viên” phòng trà đều là người Việt. Họ đã từng nghe lời dụ dỗ vượt biên giới để có được những công việc ngon lành. Những lời dụ dỗ ấy đã chấm dứt ở đây. Những ước mơ đơn giản vỡ vụn khi va chạm với thực tế phũ phàng. Trên đất người, trong ánh đèn lờ mờ sau khói thuốc, tôi nghe một cảm giác thật lạ khi quanh tôi vang lên những giọng nói miền Nam đặc dẻo hòa lẫn tiếng hát của Celine Dion. Thấp thoáng những khuôn mặt xinh tươi chỉ độ khoảng tuổi con tôi.
Tôi ghé qua nhiều phòng trà như thế nhưng không thấy một người khách Á Đông nào. Hỏi ra thì được biết có những nơi kín đáo khác dành riêng cho họ. Người lái taxi rất ngần ngại không tiết lộ cho tôi, nhưng theo tôi được biết thì thế giới đen này còn bỉ ổi hơn. Nơi đó người ta sẽ thấy rất nhiều các em bé.
Trẻ em thì không tự mình đi đến chốn này. Bị ép, bị dụ hoặc bị bán. Gia đình các em bán rẻ hoặc thả liều cho các em đi qua đất Angkor bán cà phê hay buôn gạo. Kết quả là các em trở thành nô lệ tình dục mà không có cách nào tìm ra lối thoát. UNICEF ước lượng 1/3 phụ nữ “bán hương” ở Kampuchea tuổi dưới 18 mà trong số đó phần đông là gái Việt. Nhu cầu “hàng” nhỏ tuổi, chưa dậy thì, ngày càng gia tăng, vì khách hàng muốn mua gái còn trinh, gái không mang bệnh tật. Theo điều tra của một số người chuyên môn, các thương gia Á Đông, nhất là các thương gia Trung Hoa, tin rằng ăn ngủ với con gái còn trinh sẽ đem may mắn cho việc làm ăn của họ đồng thời giúp cho họ tăng thêm sức khỏe. Do đó gíá của các em rất cao, cao đủ để trinh tiết của các em bị gia đình “hy sinh”. Nhưng gia đình các em không biết rằng họ đã giết chết các em tự thuở đó. Chết cả tinh thần lẫn thể xác. Một em thuật lại với nhân viên xã hội là khi em bị bán đi, ngực em vẫn chưa thành hình. Sau bao nhiêu năm bị hành hạ, em đã không còn muốn sống và đã thường dùng dao để tự cắt mình.
Chuyện buôn người hiện nay đang diễn ra khắp nơi trên thế giới, từ Việt Nam đến Dubai, từ Đông Âu đến Ai Cập, song theo thống kê thì đây là bi kịch dài của vùng Đông Nam Á. Bi kịch này tôi xin hẹn bạn đọc ở một bài tường trình khác.

Mùi khuynh diệp đã không đến với tôi tại Phnom Penh.

Siem Reap
Khi tàu tốc hành của chúng tôi đến cảng Siem Reap, tôi đã không thể kiềm chế nổi nỗi xúc động khi chứng kiến cái nghèo thê thảm của người dân vùng này. Dưới cái nóng ngộp thở của bến cảng là cảnh tượng hỗn loạn của những người tranh nhau kiếm ăn. Người dân bu quanh khách du lịch để bán hàng hoặc mời gọi đi xe tuk tuk. Bụi bay mịt mờ trên những con đường đầy ổ gà to lớn. Tất cả nằm trong một bầu không khí nồng nặc mùi tanh của cá. Hai bên vệ đường đất đỏ là những ngôi lều được dựng lên bằng những mảng ny lông. Dưới những mảng ny lông đó, vợ chồng con cái chen nhau sống. Các em bé trần truồng như nhộng chạy lông nhông trên đường. Tôi đã đi qua rất nhiều nước và đã đến những vùng nghèo khó của Mễ Tây Cơ và Việt Nam, nhưng chưa nơi nào thảm thương như nơi này.
Vào để hiểu thêm Siem Reap, người ta sẽ thấy cái nghèo và tệ nạn xã hội đi đôi với nhau. Trẻ em đi ăn xin đầy đường đến khó chịu. Những em bé sơ sinh được bồng như một dụng cụ để ăn xin. Tôi để ý thấy những em này lúc nào cũng ngủ say mê man. Tôi đoán là họ, những thành phần của cơ cấu “cái bang”, đã cho các em bé này uống thuốc để ngủ, để chuyện đi ăn xin được dễ dàng hơn.

Trước các cảnh tượng này, tôi phải làm gì?
Ở Kampuchea có rất nhiều cơ quan hoạt động phi chính phủ (NGO), nhưng qua nhận xét của các chủ khách sạn thì các cơ quan hoạt động hữu hiệu rất ít. Tôi không sao tìm ra một cơ quan nào do người Việt quản lý, tuy người Việt định cư ở nơi này rất tấp nập. Đa số các quán hàng lớn, sạp bán ngoài chợ đều do người Việt làm chủ. Họ sống sung túc và thành công, trái với cái tôi nhìn thấy ở người bản xứ.
Nợ máu, nợ đất, tôi không biết ai nợ ai giữa hai phía Việt và Miên, điều đó đối với tôi không quan trọng. Tôi cảm thấy mình phải làm cái gì đó trước khi rời khỏi miền đất khổ sở này. Tôi may mắn được sự hỗ trợ của hội Friends of Huế Foundation, và đã qua đó để nối kết với một ngôi chùa Phật Giáo cùng các sư tăng đi đến vùng người dân chài sống để giúp họ gạo và nước mắm. Những người lam lũ và khốn khổ này đã quỳ xuống lạy phái đoàn một cách hết sức chân tình khi tiếp nhận sự cứu trợ. Tôi đã ứa nước mắt đứng tránh ra không dám nhận lễ của họ.

Tôi muốn mua sắm rất nhiều thứ để phân phát cho các trẻ em mồ côi. Một đất nước chỉ có 6 triệu dân, vậy mà số trẻ em không cha mẹ lên tới 670,000 (theo thông tin của UNICEF). Khi đi chợ tôi mới khám phá ra là ở Kampuchea, mọi việc mua bán đều tính bằng đô la Mỹ, và vật giá đắt đỏ hơn ở VN rất nhiều. Đôi khi còn đắt hơn cả ở Mỹ. Phẩm chất thì kém mà giá tiền lại cao, chẳng hạn như về mặt ăn uống. Ngoài việc giúp tiền cho các trại mồ côi, tôi còn muốn mua các trái banh nhựa cho các em để các em có thêm phương cách sinh hoạt chung. Không ngờ là những trái banh nhựa lại quá đắt, một trái banh nhỏ xấu xí giá 4USD còn trái lớn giá 10USD, trong khi gạo thì 10USD/kg. Sau khi tìm hiểu vấn đề, tôi được biết là Kampuchea không sản xuất mà chỉ nhập cảng hàng hóa nhựa từ Việt Nam. Những quả cầu lông cũng do Việt Nam sản xuất. Mua sỉ giá 1USD một cái trong khi ở VN thì chỉ có 2000VND. Tôi chợt nhớ là ở Việt Nam, mọi mặt hàng đa số do Trung Quốc sản xuất! Người ta ngồi chồng lên nhau một cách thật thứ tự: Trung Quốc ngồi lên Việt Nam, và Việt Nam thì lấn người Miên.
Tôi rời khỏi Kampuchea mà lòng thật không ổn. Người dân của hai nước láng giềng này có rất nhiều nét tương tự với nhau. Từ chén chè đậu trắng nước dừa cho đến mùi hơi của đất trong mưa rào. Nhưng họ lại không muốn hiểu nhau và không cảm thông nhau. Tôi hoàn toàn không tìm được hương vị khuynh diệp nơi xứ sở của kỳ quan Angkor Wat, nhưng cảm thấy người tôi thêm được một sức sống mới vô hình. Tôi sẽ phải làm một việc gì đó.
.
     Hà Nội

Từ cơn nóng hơn 30 độ C của Siem Reap, tôi bay vào vùng đất rét 7 độ C của Hà Nội. 26 Tết thủ đô những hàng hoa muôn màu sắc. Đỏ hồng vàng rực trời trong những cơn gió buốt xương. Hoa đào và cây cam quát (quất) ngập đường, đèn cờ rợp lối, điểm thêm sức sống cho bầu trời xám tái của miền Bắc. Xe cộ quá nhiều kẹt cứng trên đường trong những cơn mưa lạnh căm, đám đông chen chúc tranh nhau mua hàng ngoài phố, nhưng sự hỗn độn của cái xã hội thiếu trật tự kia không làm mất đi không khí của ngày đón Xuân. Hàng hóa từ Trung Quốc tràn về ngự trị đất Hà Nội, kể cả những vật trang trí cho ngày Tết Mậu Tí. Khách viếng thăm không thể phủ nhận được cái nhộn nhịp tưng bừng của một thành phố háo hức đón xuân, mặc dù thời tiết còn đang khắc nghiệt.
Tôi nhập bọn với các anh bạn họa sĩ của tôi để lên rừng hái hoa. Họ là thế. Lúc nào cũng phải khác người, không thích chạy theo đám đông. Tuy hoa đào đầy rẫy khắp chợ hoa, các anh lại muốn đi tìm hoa mận. Thời buổi này mọi người chạy xe Honda với những model mới nhất như SH300 gì gì đó, thì các anh họa sĩ của tôi lại chạy những chiếc Vespa cũ kỹ của thời 70. Mấy năm qua tôi vẫn thường về thăm và trao đổi nghệ thuật với họ. Tôi đã gia nhập những chuyến đi xa với những mục đích thật vu vơ chẳng hạn như lên miền cao Hà Giang tìm rượu ngô của Cô Thu Bột. Hoặc những cuộc hành trình sưu tầm gốm cổ nhà Mạc, hay đi kiếm xác chiếc xe Landrover mãi tận đảo Ngọc Vừng hoang dã cuối Vịnh Hạ Long. Thú vị nhất là chuyến đi về làng gốm cổ truyền Phù Lãng, nơi mà cả ngàn năm nay vẫn duy trì cách nấu gốm bằng củi, mặc dầu xung quanh làng không một bóng cây ngọn gió. Tôi nhớ mãi lời nói của một anh họa sĩ khi chúng tôi đứng ngắm nghía một số mẫu gốm tân thời trang trí theo tính cách lập thể (cubism): “đây là cái tát vào nghệ thuật!” Họ có những nhận xét rất khắt khe và cực đoan trong lãnh vực nghệ thuật, chẳng hạn như đến nay họ vẫn không chịu nghe dĩa nhạc CD mà chỉ nghe dĩa nhựa (vinyl records) hoặc băng nhựa (audio tapes). Một anh cho rằng những dĩa này có những lỗi do thời gian và bụi bặm tạo ra, nhưng do đó đã mang theo lịch sử và thời gian của nhạc. Có lẽ vì những sự cực đoan đó, tôi hết sức yêu mến họ.

Chúng tôi đánh xe lên Hòa Bình, đất đỏ, núi xanh rì cao sững như trong tranh cổ Trung Quốc. Xe chúng tôi đi sâu vào các miền đất của người Dao, cứ thế mà đi mãi đi mãi, hết bao nhiêu câu chuyện, bao nhiêu lần dừng lại ngẩn ngơ ngắm sương mù rơi xuống các nhà tranh bên đường. Hoa mận vẫn biệt tăm. Thì ra năm nay hoa mận nở sớm và đã rụng hết khi cái rét tràn về. Chúng tôi tay trắng quay về Hà Nội, đến Lê Thạch Quán gần bờ Hồ Gươm, nơi tụ tập thường xuyên của giới văn nghệ, thì trời đã tối. Riêng tôi cảm thấy một cái gì đó thật hả hê và thỏa mãn, mặc dù không hái được một nhánh hoa mận nào, và mặc dù cây khuynh diệp vẫn vắng bóng. Có lẽ là do những mẩu chuyện vụn trên đường, nhất là những chuyện của trước ngày “đổi mới”.

blank

                                Bạn của Huế xây dựng tương lai Việt Nam

Anh “Tâm Mải Chơi” chắc hẳn phải hắt hơi vì chúng tôi nói rất nhiều về anh hôm ấy. Anh là một họa sĩ mê chơi hơn mê tranh. Có lần anh dặn vợ ở nhà để anh đi ăn sáng với bạn, rút cuộc là 3 ngày sau anh mới quay về nhà. Còn khi vào Sài Gòn triển lãm, anh thuê 2 chiếc xích lô, một chiếc chở anh và chiếc kia chở tranh. Đi giữa đường gặp người quen vẫy vào quán uống cà phê, anh liền nhảy xuống xe và quên mất xe tranh. Ngày khai mạc cuộc triển lãm của anh, anh đến tay không và cười trừ với mọi người. Tệ hơn nữa là có lần anh Tâm bắt gặp một anh bạn của mình hớn hở dẫn cô tình nhân mới quen vào một căn nhà nhỏ trên lầu cao để tỏ tình. Chủ nhà này lúc ấy vắng nhà đi Tam Đảo. Anh Tâm Mải Chơi bèn lén lút khóa cửa nhốt họ lại. Chỉ định đùa nghịch đôi tình nhân kia một lúc cho vui nhưng rồi anh bỏ đi nhậu với bạn bè và quên béng mất mọi chuyện. Ba ngày sau anh mới nhớ ra và chạy đến mở cửa cho cặp tình nhân nọ thì hai người này đã bơ phờ rũ rượi. Chuyện kể lại là từ đó hai người tình nhân kia không bao giờ nhìn mặt nhau nữa.
Rồi lại đến chuyện lạc núi. Mấy anh họa sĩ thì thường đi lên miền cao để tìm “cảm hứng sáng tác”. Đêm về sương mù dày đặc các anh không sao tìm ra được đường xuống núi. Cuối cùng các anh ghé vào một căn nhà bên đường để xin trọ qua đêm. Đó là căn nhà tranh của 2 bố con người thiểu số. Ông bố bằng lòng cho 3 anh họa sĩ ở trọ và quay dặn dò cô con gái bằng tiếng bản xứ, cô gái này người độ khoảng trong ngoài 18 tuổi có làn da trắng mịn. Cô nghe bố dặn rồi lui vào nhà trong. Các anh họa sĩ ngồi bên ngoài uống trà trên nền đất. Họ đợi mãi vẫn không thấy cô gái trở lại và cũng không được chỉ dẫn chỗ ngủ ở nơi nào. Cơn lạnh miền núi tràn ngập gian nhà nhỏ, cằm của các anh bắt đầu run lên thì cô gái kia lại đột ngột xuất hiện. Ông bố lúc đó mới quay lại nói với các anh bạn tôi rằng: “con tôi đã nằm sưởi ấm chăn giường cho các anh rồi đó, xin mời các anh vào nghỉ.” Đêm đó các anh bạn tôi ngủ rất ngon!

Và còn bao nhiêu câu chuyện thú vị khác nữa đã làm tôi lưu luyến họ. Chuyện họ kể không có gì thâm thúy lắm nhưng khi người kể có duyên thì chuyện gì cũng hấp dẫn.
Tôi luôn luôn tìm ra những nguồn sinh lực mới khi gặp lại những người bạn này, nhưng dù mến họ cách mấy tôi cũng không muốn nương lại Hà Nội ăn tết năm nay vì cái rét quá tàn khốc. Ở khách sạn, nước không đủ nóng để tắm và máy sưởi không đủ ấm nên tôi không sao chạy trốn được cái lạnh. Vì không khí mang nhiều hơi nước nên cơn lạnh dường như lúc nào cũng bám vào da và ngấm vào tận xương tủy. Các người dân miền núi phải bỏ nhà dắt trâu bò xuống núi để tránh tuyết, dẫu rằng họ phải ngủ ngoài đường chợ. Nếu trâu bò chết là họ mất hết gia sản. Có những người phải đem hết chăn mền của họ đắp cho súc vật để rồi bị lâm bệnh vì cơn lạnh. Có người chở con đi trên xe gắn máy ngồi đằng trước, khi xuống xe mới biết con đã chết cứng tự lúc nào.

blank

                                        Bạn của Huế nuôi những đứa con của Huế
.
Nha Trang.                                                                                       
Tôi đầu hàng cái lạnh nên phải chạy vào Dốc Lết gần Nha Trang tìm hơi nóng. May cho tôi vùng cát trắng biển xanh này quá thơ mộng nên tôi có chỗ dừng chân để thảo vội bài tường thuật này gửi về bạn đọc. Dốc Lết cũng thật hoang dã, nhưng sau vài bữa lang thang, cuối cùng tôi cũng tìm được bóng mát của cây khuynh diệp đợi mong. Tôi vò mãi lá khuynh diệp để tay thêm xanh nhưng không hiểu sao bàn tay tôi vẫn trắng và mùi hương chỉ thoang thoảng. Thế nghĩa là sao? Tay tôi đã khác xưa và mùi khuynh diệp đã thay đổi?
Tôi lần mò đến một ngôi chợ hải sản ven biển. Vừa ngồi xuống chiếc ghế bố thuê 5000 đồng, vài người bán hàng đã lại vây quanh tôi mời mua mực và tôm tích ăn tại chỗ. Tôi hiếu kỳ nên bằng lòng mua nửa kí tôm tích và nửa kí mực. Con tôm này chắc có họ hàng với con rết nên có rất nhiều chân. Chị bán hàng là một phụ nữ nhìn già dặn hơn tôi nhưng khi hỏi ra thì chị còn nhỏ tuổi hơn tôi nhiều. Tuy da chị bị nám nắng biển muối, chị không dấu được cái vẻ đẹp duyên dáng rất Việt Nam. Nghe lời chị, tôi ngồi ăn rất “dã chiến”, ăn trong gió cát không có khăn lau tay hay bát muối chanh mà tất cả chỉ nằm vẹn trong hai bao ny lông. Không sao. Tôi xin nửa chai rượu đế để phòng hờ không bị đau bụng và sẵn sàng chiến đấu với mực và tôm. Chị bán hàng nhất định không để tôi bóc tôm lấy. Tôi hỏi tại sao thì chị bảo rằng nếu bóc không quen thì thịt tôm sẽ nát vì tôm này mang nhiều trứng. Thế là chị ngồi dưới cát bóc từng con tôm cho tôi ăn. Và nhất định không ăn chung với tôi rồi cũng không chịu ngồi trên ghế sợ tôi tốn tiền. Trong gió cát mờ mắt, tôi thấy tôm thật đậm đà.
Tôi bắt chuyện vu vơ và hỏi về chồng con của chị. Nghe giọng chị hạnh phúc tôi phán một câu chung chung: “cuộc sống của các chị đây coi ra thì vất vả về thể xác một chút nhưng tinh thần thật thoải mái, không căng thẳng như chúng tôi bên đó.” Chị đỡ lời tôi ngay: “Căng thẳng lắm chị! Không đơn giản như chị tưởng. Chị có khi nào lo sợ chồng chị đi làm mà không bao giờ về nữa không?” Tôi lắc đầu.
“Chồng em đi đánh cá, mỗi đêm là em mỗi phập phồng. Khi bão lớn mà chồng em chưa về thì em cảm thấy mình già đi mấy tuổi. Đã mấy lần thuyền bị lật mà chồng em may sao vẫn chưa mất mạng.” Tôi nhìn ra những chiếc thuyền thúng tròn nhỏ đang lao chao trên biển trong nắng chói chang, rồi quay qua đỡ con tôm từ tay chị và ăn một cách rất thận trọng. Đây là do công sức của nhiều người tôi mới có được bữa ăn đó. Tuy mùi khuynh diệp nơi đây không nồng đủ, tôi rời Dốc Lết cảm thấy lòng mãn nguyện.

     Huế.                                                                                                    

Đã đến ngày tôi phải bay ngược ra Huế để thăm các con tôi, 40 đứa trẻ của Hội Friends of Huế Foundation (www.friendsofhue.org). Huế thân thương vẫn đang còn say sưa trong hương vị Tết, nhưng không may cơn lạnh miền Bắc đã xâm lấn đất Thần kinh. Tôi đến thăm Trung tâm trong khí trời lạnh giá. Tuy nhiên, đêm hôm đó chúng tôi cảm thấy thật ấm vì hơn 50 người vừa trẻ con vừa người lớn (tôi và các bảo mẫu) ngồi xung quanh căn phòng học nhỏ hàn huyên tâm sự. Ánh mắt các em sáng rỡ trong niềm vui, nụ cười nở ròn tan trong sự hân hoan. Có ai biết được quá khứ của mỗi em khó khăn sóng gió như thế nào? Nơi đây, các em đã có đại gia đình sống trong tình thương và sự bảo bọc của nhiều người, được như thế này một phần lớn là nhờ công đức của các nhà hảo tâm bên Mỹ.
Đêm khuya tôi đi quan sát nơi các em ngủ mới giật mình khi thấy các em co rúm trong một chiếc chăn mỏng. Tôi giận run lên và chất vấn các bảo mẫu là tại sao lại để đến tình trạng như thế. Một chị bảo mẫu rươm rướm nước mắt trả lời: “thưa cô, em cũng định thưa với cô để mua thêm chăn cho các em nhưng bận ri chăn mắc quá cô nờ. Và các thức ăn gạo nước còn mắc hơn. Hội đã mấy lần tăng chi phí cho mỗi em nhưng chúng em đòi hoài thì sợ Hội hiểu lầm. Món chi rứa cũng lên quá cao, cô nì.” Tôi cũng thấy chuyện này trong lúc ở ngoài Hà Nội nhưng không nghĩ nó ảnh hưởng Huế nhiều như vậy. Theo báo chí thì vật giá leo thang đến 14% nhưng lương bổng cho công nhân vẫn vậy. (Ngày tôi gửi bài này đến tòa soạn thì vật giá đã lên đến 17%.)
Tôi vẫn không chấp nhận để các em nằm trong cơn lạnh này, nhất là các phòng đều không có máy sưởi. Tôi yêu cầu các chị là bằng mọi giá ngày mai các em phải có thêm chăn. Tôi hỏi: “nhưng đắt là đắt bao nhiêu, thưa chị?”
       “Phải chăn Trung Quốc thì mới ấm, mà một cái thì khoảng 170 ngàn chị Jenny à.”
“Tại sao chúng ta từ trước đến giờ không chuẩn bị chăn ấm này cho các cháu để giờ phải ra cảnh này?”
“Thưa chị, vì xưa nay có bao giờ lạnh như chừ đâu. Lần cuối là khoảng 40 năm trước.”

Đêm hôm ấy tôi mới nếm mùi. Khi về khách sạn, tôi bật máy sưởi lên 30 độ C và ngồi trùm chăn để chờ người được ấm lại. Ngồi mãi, càng ngồi càng lạnh. Tôi gọi tiếp tân cho người lên xem tại sao máy sưởi không ấm.
     

  “Thưa chị, máy của khách sạn chúng em chỉ có một chiều thôi chị ạ.” Tôi mới hiểu ra là máy này chỉ là máy lạnh mà không có máy sưởi. Đã lạnh tôi còn bật thêm máy lạnh! Đêm ấy tôi mặc quần jeans, 2 đôi vớ và 5 cái áo để đi ngủ.
Ngày hôm sau, người bảo mẫu hớt hải vào phòng làm việc của tôi và báo cho tôi biết là giá chăn đã tăng lên 230,000 đồng một cái. Tôi đồng ý cho chị mua với giá này. Đến chiều chị lại lấp ló trước cửa phòng họp của chúng tôi. Tôi mời chị vào và chị rụt rè nói là không tìm đủ số lượng chăn ấm.
Chị cho biết thông tin ở ngoài chợ là chăn bắt đầu không còn để bán. Các cửa tiệm đã thông báo cho Hà Nội để chở thêm chăn vào. Ngay hôm đó, xe chuyển hàng đang đi giữa đường vào Huế thì bị điều trở lại Hà Nội vì nhu cầu ngoài Bắc cao hơn. Khách mua hàng từ Trung Quốc phải qua Việt Nam để mua lại chăn chính họ nhập qua, bây giờ mua lại giá một gấp hai. Cuối cùng chúng tôi chỉ mua được 20 cái chăn và các em phải ngủ chung giường để đủ ấm. Sáng hôm sau các em gặp tôi cám ơn rối rít. “Chăn ấm quá cô nì.”
Đương đầu với cái lạnh và bao nhiêu chuyện phức tạp của công việc Hội FHF, tôi không nhớ đến chuyện đi tìm cây khuynh diệp.

Lo xong mọi chuyện cho Trung tâm, tôi lại cùng một số tình nguyện viên đi thăm các vùng lân cận nơi bị bão lụt của năm 2007 tàn phá. Biết bao nhiêu nơi cần sự giúp đỡ của hội FHF, hội không thể nào giúp cho xuể. Một nơi đã gây lại ấn tượng cho tôi là xã Quan Hòa. Nơi này là một trong các vùng thấp nhất của Tỉnh Thừa Thiên Huế. Đường vào xã chỉ như con đê hẹp rộng độ 2 mét ngang. Xung quanh là ruộng lúa nước xanh thắm. Nhưng khi lụt đến thì các xã ở khu vực này chìm trong biển nước mênh mông. Bao nhiêu xã hợp lại cũng không có được một ngôi nhà hai tầng để chạy khi nước lên. Trong thời gian bị lụt của năm 2007 vừa qua thì các xã này bị cách biệt hẳn với các xã lớn bên ngoài. Cả tuần lễ sau mới có thuyền vào để cứu người già và trẻ em. Người dân nơi đây van xin chúng tôi xây thêm tầng 2 cho ngôi trường làng để họ có nơi chạy lụt trong mùa nước dâng. Chúng tôi đến khảo sát ngôi trường mới cảm thấy thật xúc động. Ngôi trường chỉ là một căn nhà cũ lụp xụp 3 gian nền đất, nơi tập trung 76 trẻ em đi học hàng ngày. Hai người chủ nhà bên cạnh ngôi trường thấy chúng tôi đến liền chạy ra. Họ nói rằng nếu chúng tôi cần thêm đất để xây cầu thang cho trường thì họ xin dâng vì sự cần thiết quá cao. Họ mong cho con cháu trong làng có thêm chỗ học, đồng thời có tầng lầu cao để dùng làm nơi chạy lụt. Dân làng đã thu góp lại được 100 triệu đồng và mong hội chúng tôi giúp cho phần còn lại của cuộc xây cất. Tôi rất muốn nhận lời nhưng không dám vì vẫn cần phải thông qua Ban Chấp Hành FHF.

Con chó đợi đèn

Con chó đợi đèn
Nguoi-viet.com      

Tạp ghi Huy Phương

Hình ảnh trên YouTube ghi lại chuyện một con chó nhất quyết đợi đèn xanh mới sang đường trong khi có hai cô gái vượt đèn đỏ khiến nhiều người xem không khỏi ngạc nhiên, vì đây là một câu chuyện lạ đối với nhiều người.

(Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Hẳn con chó này chưa hề ngồi qua một lớp dạy luật lệ giao thông dành cho chó, hay được ai dạy dỗ, căn dặn về chuyện tôn trọng luật lệ đi đường. Nhưng có một điều tôi biết chắc là người chủ của con chó là một người “công dân có giáo dục” và là một người tử tế. Từ khi con chó được lớn lên trong gia đình này, đi theo người chủ, chưa bao giờ nó thấy người chủ vi phạm luật giao thông, ông chưa bao giờ vượt đèn đỏ để qua đường, và con chó đã học được thói quen ấy trong nhiều năm.

Bây giờ không có người chủ đi bên cạnh, không có cảnh sát hướng dẫn, không có cây chắn đường, con chó vẫn ngồi chờ cho đến khi có đèn xanh, để qua đường. Cử chỉ này xem qua có vẻ đơn giản nhưng quá khó khăn, vì hiện nay hàng triệu người Việt Nam văn minh, tử tế vẫn chưa làm được như con chó này.

Chuyện con chó chờ đèn xanh để qua đường gây được sự chú ý của dư luận, lẽ cố nhiên, phần lớn là ở trong nước, vì ở ngoại quốc, người ta xếp hàng trước tiệm ăn, hay một con chó chỉ chịu qua đường khi đèn xanh bật lên thì đâu có gì lạ. Không thấy ai khen ngợi con chó, không ai chấp nhận nó còn hơn cả con người, sinh vật mà lâu nay đi bằng hai chân, một tác phẩm tuyệt hảo của Thượng Đế hay sao?

Thật là ngu như chó! Nó không thông minh, không linh hoạt, không thích ứng như con người. Vì vậy người ta xem nó hành động cứng nhắc vì nó không biết cách “uyển chuyển theo tình huống” bằng con người, nghĩa là khi không có xe thì cứ qua, khi không có cảnh sát thì cứ vượt đèn đỏ.

Bình luận cho việc một con chó đợi đèn, một người trong nước cho biết ý kiến: “Tôi không cổ xúy cho việc phải phá vỡ luật nhưng mình cứ chọn đúng thời điểm, chớp thời cơ thì không có gì là sai cả!” Theo ý kiến người này, không cần thiết phải đợi đèn, cứ vượt đèn đỏ đúng lúc, “miễn là đúng thời điểm” và chớp thời cơ, phải chăng là khả năng của con người XHCN trong bất cứ hoàn cảnh nào. Cách đây 70 năm, Hồ Chí Minh đã “chọn đúng thời điểm, chớp thời cơ” nhảy ra cướp chính quyền, việc lớn cũng không sao, huống gì ngày nay với dăm ba việc lẻ tẻ, sống sao có lợi cho bản thân mình là được.

Bí quyết thành công của con người hôm nay là phải quên cái câu “mình sống vì mọi người,” ngày nay muốn thành công “phải đạp lên đầu người khác mà đi!”

Ở Việt Nam hiện nay, họa là ngu mới đứng lại ở đầu đường khi đèn trở màu đỏ. Tai nạn vượt đèn đỏ không nguy hiểm tàn khốc bằng tai nạn khi chúng ta tuân hành đèn giao thông và dừng lại khi thấy đèn đỏ, vì chúng ta sẽ bị những loạt xe đằng sau tiến lên cán nát.

Một người khác thì cho rằng: “Đèn giao thông chẳng qua là một quy định chung cho số đông, nhưng cái mà nó tiến đến cũng là phục vụ sự thuận tiện cho con người!”

“Phục vụ sự thuận tiện cho con người!” có nghĩa là sống theo luật rừng, thuận tiện nhưng không cần đến quy luật. Phục vụ cho sự thuận tiện của con người, phải chăng là thấy đói thì ăn, không biết thức ăn đó là của ai, khát thì uống dù thức uống đó không phải của mình, phóng uế bất cứ nơi đâu khi cần, và buông thả thú tính khi không có ai kèm thúc, ràng buộc.

Không thấy hổ thẹn khi con người phá bỏ ngay quy ước và luật lệ do con người đặt ra để bảo vệ an toàn chính cho con người. Bài báo này hẳn không có mục đích để ca tụng một con chó, con vật mà trong xã hội Việt Nam, lâu nay vốn đã xem nó là thấp hèn, hạ tiện biết chừng nào. Từ việc xem chó như một con vật bình đẳng của một số rất nhỏ hiện nay, tiến tới chuyện con người Việt Nam biết thương yêu và tôn trọng những con vật như chó, người Việt Nam phải trải qua, ít nhất là vài trăm năm nữa!

Có nhiều điều rất mâu thuẫn trong cung cách đối xử giữa con người với nhau, và sự khinh miệt của con người đối với một con chó. Tuy khinh miệt loài chó, loài người Việt Nam có thể hung hãn giết một con người bằng đủ loại hành động tàn khốc, man rợ thời trung cổ, để bênh vực một con chó, dù chỉ là một con chó qua đường, không thuộc quyền sở hữu của họ.

Có một đất nước nào tôn trọng, bênh vực sự sống tốt đẹp của loài chó như trong “thiên đường” Việt Nam không, để cho bất cứ con chó nào trên trái đất này đều có một mơ ước trở thành một con chó Việt Nam? Nghĩa là vì sự sống của một con chó, người ta có thể giết một con người. Nhưng sự thật là không phải vậy. Phải ở trong xã hội Việt Nam mới thấy cái “chó” của những vở kịch đẫm máu này!

Bài viết nhỏ nhoi này không hề có ý bệnh vực loài chó vì trong câu chuyện này vẫn có người khẳng định: “Con người hơn chó là vậy đấy. Người hơn chó vì biết chớp thời cơ!”

Câu chuyện còn đưa đến một kết luận: “Đơn giản là chú chó sợ chết hơn con người.” Sợ chết, muốn sống là bản năng của sinh vật, bất kể con người hay con chó. Nhưng vì sao con chó trong câu chuyện này sợ chết, mà con người lại không?

Những bản tin trên báo chí Việt Nam đọc đến nhàm chán: – “Ba xe chờ đèn đỏ bị xe tải chạy tới hất văng,” – “Đang đứng lại đầu đường vì đèn đỏ, thiếu nữ bị tông xe, ngã nhào,” – “Xe container đâm hàng loạt xe đang chờ đèn đỏ,” – “Vợ chồng dừng lại đèn đỏ, vợ bị xe sau tông chết…” Như vậy, chúng ta đi xe dừng lại khi thấy đèn đỏ bật lên là đúng luật hay sai luật? Nhưng quan trọng là con người lại muốn sống hơn là được công nhận thi hành đúng luật giao thông hay không?

Chúng ta hãy nghe một tài xế vượt đèn đỏ gây tai nạn giải thích lý do: “Đèn bật đỏ! Tôi tưởng cái xe chạy trước tôi đi luôn, nhưng không hiểu sao, nó dừng lại!” Các bạn đã thấy một đám xe gắn máy khi gặp đèn đỏ chưa? Họ hung hãn, tống chân ga, chen lấn, ào lên, lấn lách, tràn lên hè phố, nơi người ta buôn bán, đi bộ.

Đứa nào đứng lại, không thuộc loại dại cũng là ngu, không thuộc loại lừ đừ cũng là thứ gà chết. Cuối cùng, đứng lại khi thấy đèn đỏ cũng chết, vượt đèn đỏ sai luật lại càng dễ chết hơn.

Ở Mỹ này, có khi bạn đi về rất khuya, đến chỗ đèn đỏ, dù lúc bấy giờ đường sá vắng tanh, không có một ai qua lại, bạn vẫn tự động dừng xe lại chờ. Không phải vì bạn sợ chết như chuyện con chó đợi đèn, hay bạn sợ một ông cảnh sát nào đó bỗng nhiên lù lù hiện ra, mà đó chỉ là một thói quen, một phản ứng tự nhiên. Để có một phản ứng như vậy, bạn phải có chừng năm, bảy năm sống trong một cộng đồng loài người văn minh, ở một xứ sở văn minh.

Sài Gòn có thể cần $5 triệu để chống ngập lụt, $5 triệu nữa để chống nạn kẹt xe, nhưng thật tình tôi không biết phải cần bao nhiêu tiền nữa để sửa cái “công tắc” trong đầu mỗi người dân, cái “công tắc” đó để chỉ huy người lái xe, tự động đứng lại khi gặp đèn đỏ và chỉ chạy xe khi có đèn xanh?

Hai câu chuyện về cách ứng xử tình người

Hai câu chuyện về cách ứng xử tình người

Câu chuyện 1:

Lúc còn là một thiếu niên, một lần, tôi được cha dẫn đi xem xiếc. Khi nhập vào hàng người đang xếp dài trước quầy vé, tôi chú ý đến một gia đình đứng ngay trước chúng tôi. Họ có đến những 8 đứa trẻ mà đứa lớn nhất có lẽ chưa đến 12 tuổi. Nhìn dáng vẻ những đứa bé ấy có thể đoán được gia đình chúng không giàu có.

Quần áo chúng không phải loại đắt tiền nhưng sạch sẽ và tươm tất. Và đó là những đứa trẻ biết cách cư xử. Cứ nhìn cái cách từng 2 đứa một nắm tay nhau xếp hàng sau bố mẹ chúng thì rõ. Chúng nói huyên thuyên một cách đầy phấn khích về những chú hề, những con voi và những trò xiếc khác mà chúng sẽ được xem tối nay. Rõ ràng chúng chưa từng đến rạp xiếc bao giờ. Buổi tối ngày hôm nay thật sự rất đặc biệt với cả 8 đứa trẻ ấy.

Cha mẹ chúng đang đứng ở đầu hàng với vẻ mặt hãnh diện nhất mà họ có thể. Người phụ nữ nắm lấy tay chồng, nhìn ông một cách dịu dàng. Ngay lúc ấy, người bán vé ngẩng lên và hỏi người đàn ông số vé ông ta cần. Người đàn ông trả lời đầy hứng khởi: “Cho tôi 8 vé trẻ con, 2 vé người lớn để tôi có thể dẫn cả nhà mình vào xem xiếc.”

Nhưng, khi người bán vé báo giá của 10 chiếc vé, bàn tay người vợ đột ngột rời khỏi tay chồng, đầu bà ta gục xuống. Mặt người đàn ông hơi tái đi. Ông ta tiến lại quầy vé gần hơn và hỏi : “Anh nói giá bao nhiêu?”

Người bán vé bình thản lập lại giá của 10 chiếc vé, nhưng người đàn ông không có đủ tiền. Làm sao ông ta có thể quay lại và bảo với 8 đứa con của mình rằng ông ấy không đủ tiền để dẫn chúng vào xem xiếc?

Chứng kiến tất cả những gì xảy ra, cha tôi lặng lẽ lấy từ trong túi ra tờ 20 đô và thả xuống đất. Sau đó, ông cuối xuống nhặt lên và vỗ vai người đàn ông, nói rất tự nhiên: “Xin lỗi, thưa ông, cái này vừa rơi ra từ túi ông”.
Người đàn ông hiểu những gì đang diễn ra. Ông không cầu xin của bố thí nhưng rõ ràng ông có thể đoán đây là sự giúp đỡ trong một tình huống ngặt nghèo. Bối rối trong giây lát rồi ông ấy nhìn thẳng vào mắt cha tôi, chụp lấy tay cha bằng cả hai bàn tay như muốn vắt kiệt tờ 20 đô, một giọt nước mắt rơi lặng lẽ xuống má, đôi môi mấp máy một cách khó khăn: “Cảm ơn, cảm ơn ông rất nhiều. Điều này thật sự ý nghĩa với gia đình tôi lúc này”. Sau khi nhìn cả gia đình người đàn ông khuất sau cánh cổng rạp xiếc, tôi và cha đón xe buýt về nhà, đơn giản bởi vì số tiền còn lại trong túi cha không đủ để mua vé cho hai cha con. Thật sự thì chúng tôi cũng chẳng dư dả gì! Nhưng tôi không hề giận cha. Những gì cha đã làm lúc đó đáng giá hơn cả ngàn buổi xem xiếc.

Câu chuyện 2: 

Theo một truyện cổ, Nasruddin là hiện thân của những người độc thân khó tính. Trong một buổi trà dư tửu hậu, khi được hỏi lý do vì sao ông không lập gia đình, Nasruddin giải thích như sau:

“Suốt thời thanh niên, tôi đã dành trọn thời gian để tìm kiếm người đàn bà hoàn hảo. Tại Cairo, thủ đô của Ai Cập, tôi đã gặp người đàn bà vừa đẹp, vừa thông minh, với đôi mắt đen ngời như hạt ô-liu, nhưng người đàn bà này lại không dịu dàng chút nào. Tôi đành bỏ Cairo để đi Baghdad, thủ đô Iraq, tôi tìm thấy người phụ nữ vừa đẹp, vừa thông minh, vừa dịu dàng, độ lượng song nàng và tôi không bao giờ đồng quan điểm về bất cứ chuyện gì.

Hết người này đến người khác, người được điều này lại thiếu điều kia. Tôi đã từng tưởng mình sẽ không bao giờ tìm được người phụ nữ lý tưởng cho cuộc đời mình. Thế rồi, một hôm, tôi gặp được nàng, người phụ nữ cuối cùng trong cuộc tìm kiếm của tôi. Nàng kết hợp tất cả những đức tính mà tôi hằng mong muốn. Nàng đúng là người hoàn hảo, nhưng cuối cùng tôi đành phải sống độc thân suốt đời vì người phụ nữ ấy cũng đang đi tìm một người đàn ông lý tưởng mà dưới mắt nàng, tôi là người đàn ông còn quá nhiều thiếu sót.”

Lời bàn:
Người đàn ông độc thân trong câu chuyện trên đây đã quên một trong những quy luật cơ bản của cuộc sống là luật thích nghi. Thay vì bắt người khác và cuộc sống phải thích nghi với chúng ta, chính chúng ta phải tìm cách thích nghi với cuộc sống và người khác.

Tâm lý thông thường của con người là đòi hỏi người khác hơn là đòi hỏi chính bản thân mình. Chúng ta đòi hỏi người khác phải thế này, thế kia nhưng chính chúng ta quên rằng chúng ta chưa làm được những điều mà người khác trông chờ nơi chúng ta.

S.T.

Luật sư Jenny Đỗ tâm sự về cuộc đời bên bờ sinh tử

Luật sư Jenny Đỗ tâm sự về cuộc đời bên bờ sinh tử

Nữ luật sư Jenny Đỗ đã chính thức rút tên ra khỏi cuộc bầu cử nghị viên khu vực 8 của Hội đồng thành phố San Jose, sau khi đã chuẩn bị thật chu đáo. Lý do rút lui là để dành thời gian để chống lại căn bệnh ung thư đang tái phát, vào giai đoạn 4. Bác sĩ cho biết cô chỉ còn có thể sống 3 tháng nữa mà thôi. Là một luật sư tuổi còn khá trẻ, nhiều đam mê và mộng ước, cô nghĩ gì khi đứng trước định mệnh biệt ly? Mời cùng nghe tâm sự…

Bấm vào đường dẫn dưới đây để nghe/xem:

Luật sư Jenny Đỗ tâm sự về cuộc đời bên bờ sinh tử

YouTube player

TƯ TƯỞNG CỦA MỘT BÁC SĨ TỬ TẾ.

TƯ TƯỞNG CỦA MỘT BÁC SĨ TỬ TẾ.

Bài diễn thuyết sâu sắc của một vị Giáo sư bên Tàu đã nói đúng thực trạng đáng báo động của nền Y khoa hiện nay, khiến cả hội trường với hơn 300 người nghe phải tĩnh lặng.

y khoa, nhân văn, im lặng, hội trường, Hội nghị, diễn thuyết, chữa bệnh, bệnh viện, Bài chọn lọc, bac si,

Giáo sư Viên Chung diễn thuyết tại Hội nghị. (Ảnh: Internet).

Trong “Hội nghị Quốc tế thường niên về Quản lý khoa Lâm sàng”, Giáo sư Viên Chung, Giám đốc nhà xuất bản Đại học Y khoa Dung Hợp TC đã phát biểu chủ đề diễn thuyết mang tên “Bác sĩ làm việc thích ứng với văn hóa”. Ngữ điệu của ông bình thường nhưng lại chỉ ra những sai lầm khắp nơi, rất nhiều ví dụ làm cho người ta phải suy nghĩ sâu sắc; Hội trường với hơn 300 người nghe đều lặng ngắt như tờ. Rốt cục, Giáo sư Viên Chung đã nói đến những điều gì?

Dưới đây là toàn bộ bài diễn thuyết của ông:

Một người tìm anh xem bệnh, họ đem hết những việc riêng tư của mình nói cho anh biết, cởi hết quần áo cho anh kiểm tra, đem hết những thống khổ kể cho anh, đem cả sinh mệnh mà giao cho anh, những người này (Bác sĩ) chỉ đứng thứ hai sau Thần, chứ không còn là một người bình thường nữa .

Bởi vì có thương yêu mới có việc chữa bệnh và bệnh viện, nếu như sự yêu thương này mất đi thì không thể gọi là chữa bệnh, mà nó trở thành giao dịch, một giao dịch sẽ không có sự tôn nghiêm.

Khi đài Truyền hình Trung ương truyền bá những quảng cáo giả dối: “Ngậm ăn đông trùng hạ thảo”, “Cuộc sống số một”…, thì chúng ta có thể nói trắng ra rằng: toàn bộ các nhánh sông đều đã bị ô nhiễm, không có con cá nào có thể thoát khỏi bị ô nhiễm, phương pháp hành xử  ô nhiễm chỉ có thể là bắt đầu từ thượng du.

Thường xuyên có nhiều Sinh viên hỏi tôi tính Nhân văn của Y khoa có chỗ lợi ích nào? Tôi muốn từ hai mặt mà nói:  mặt thứ nhất là giá trị Quan, mặt thứ hai là giá trị Nhân văn. Giá trị Quan là Đạo, giá trị Nhân văn là Thuật.

Sự tôn nghiêm bên trong giá trị Quan:      

Đầu tiên, tôi muốn nói một chút về “Đạo”. Hiện nay đã đến cuối năm rồi, rất nhiều bệnh viện đều sẽ mở Đại hội tổng kết trong tháng này. Tôi có nghe qua một chút khi Viện trưởng bệnh viện bắt đầu Đại hội, ông nói: “Một năm đã qua, trải qua nỗ lực không ngừng của toàn thể công nhân viên chức bệnh viện, bệnh nhân nằm ở viện chúng ta tăng 20%, bệnh nhân ở phòng khám bệnh của chúng ta tăng 30%, thu nhập của chúng ta tăng thêm 10%”.

Thế đấy, những lời này có phải là có vấn đề gì không? Có thể các vị Giám đốc, và các Bác sĩ ngồi đây đều sẽ cảm thấy đây là một việc rất tự nhiên. Kỳ thực, tôi nói cho mọi người biết: những lời này không nên được nói ra từ một Viện trưởng, mà phải là lời của nhà Kinh doanh, Viện trưởng chúng ta nên nói những điều gì? Điều chúng ta nên nói là: “Chúng ta đã chữa khỏi cho bao nhiêu người, chúng ta đã giúp được cho bao nhiêu người” ?.

Chúng ta đã quên mất cái gì gọi là bệnh viện, chẳng phải giá trị Quan đã gặp bất trắc. Cũng có Bác sĩ nói cho tôi biết: bản thân anh ta làm Bác sĩ là để kiếm tiền. Điều này vốn không sai, nhưng tôi muốn nói cho các vị rằng: nếu chỉ muốn kiếm tiền thì đừng bao giờ làm Bác sĩ !. Có nhiều công việc trong xã hội này so với nghề Bác sĩ vẫn kiếm được rất nhiều tiền, buôn bán bất động sản, khai thác mỏ, tài chính, IT… Thế nhưng, chỉ có hai nghề vừa kiếm ra tiền vừa được sự tôn nghiêm, một là Bác sĩ, hai là Giáo viên. Ở Nhật Bản, chỉ có hai nghề có thể được gọi là “Tiên sinh”, đó chính là hai nghề này: Bác sĩ và Giáo viên !.

Tôi có một người bạn, là Trưởng phòng Nghiên cứu Khoa học bệnh viện Hiệp Hòa, Bắc Kinh TC, ông ta là người Tân Cương. Ông ấy từng kể cho tôi một chuyện, người Duy Ngô Nhĩ tin rằng: con người khi chết đi có thể lên trời, nhưng không phải ai cũng có cơ hội lên trên đó, mà phải trải qua thảo luận tập thể. Tham quan, công an xấu, trật tự đô thị xấu … phải bị đọa xuống địa ngục; nhưng chỉ có hai nghề có thể lên trời mà chẳng cần bàn cãi nhiều, đó chính là nghề Bác sĩ và Giáo viên !.

Điều gì gọi là tôn nghiêm? Tôi cũng là một Bác sĩ, tôi cũng có nhận thức về điều này. Một người tìm tôi xem bệnh, đem hết những tâm tư thầm kín kể cho tôi nghe, cởi hết quần áo cho tôi kiểm tra, đem hết những thống khổ nói cho tôi biết, giao cả sinh mệnh cho tôi, loại người này chỉ xếp sau Thần mà thôi, không phải người bình thường. Nếu như Bác sĩ không xem thật kỹ bệnh mà chỉ xem túi tiền của người bệnh, người bệnh sẽ hận các vị đến chết !.

Cơ Đốc Giáo có hai điều rất quan trọng: một là quan niệm Thần thánh, hai là tinh thần Bác ái. Quan niệm Thần thánh cho tôi biết Bác sĩ là tập thể những người ưu tú. Hội trưởng Hiệp hội Bác sĩ TC là Trương Nhạn Linh từng nói với tôi, ông ấy đến Nhật Bản vào thập niên 90. Ở Nhật lúc đó có một người thường xuyên đến thăm hỏi các Bác sĩ, điều này khiến tập thể Bác sĩ TC rất lấy làm lạ, “Chúng tôi không phải đoàn đại biểu chính trị, cũng không phải đoàn đại biểu kinh tế, cũng không phải đoàn đại biểu ngoại giao, chỉ là một nhóm Bác sĩ” !.  Cuối cùng, người kia mới nói một câu: “Tôi cả đời muốn làm Bác sĩ, nhưng thi không đậu, thế nên tôi tôn kính Bác sĩ” !.

Chủ tịch bệnh viện Hòa Mục Gia, Bắc Kinh, Lý Bích Tinh, là người Do Thái, bà từng nói với tôi vì sao người Do Thái nhiều người thành công, thông minh hơn những người khác. Kỳ thực là vì người Do Thái có quan niệm Thần thánh. Người Do Thái tin rằng: họ là con dân của Thượng Đế, cho nên họ so với người khác càng nỗ lực, càng chăm chỉ, cũng càng dễ thành công !.

Bác sĩ nếu có được quan niệm Thần thánh, họ sẽ là những người ưu tú nhất, bất kể là ở phương diện nào, dù cho là thầy thuốc làng, họ cũng sẽ là những người ưu tú nhất nơi đó !. Hai ngày trước, Đài Loan có một Bác sĩ rất ưu tú là Kha Văn Triết, hiện đã thành Thị trưởng thành phố Đài Bắc. Không chỉ là Bác sĩ, ông còn là Lãnh đạo, một Bác sĩ giỏi không chỉ về chuyên môn, mà còn về nhân phẩm, nó giúp ông sự ủng hộ và tán thành của mọi người.

Tuy nhiên, ai ai trong chúng ta cũng biết, mấy năm nay xã hội chúng ta phải đối mặt với rất nhiều vấn đề. Sinh viên Y khoa Đại học Phục, Thượng Hải, đầu độc chết chính bạn học cùng ký túc xá, cậu ta đã nói một câu: “Tôi là ‘cái xác người trống rỗng’, không có giá trị Quan”!.

Tôi không biết mọi người có từng nghĩ tới chưa, tại sao cậu ta là “cái xác người trống rỗng”? Suy nghĩ một chút mấy năm nay, vẫn có một số Sinh viên Đại học giết người, như Mã Gia Tước, Dược Gia Hâm. Những năm nay chúng ta đã sáng tạo ra tài phú vật chất cực lớn, thế nhưng chúng ta đã sáng tạo được tài phú tinh thần chưa? Mọi người có thể để tay lên ngực tự hỏi lòng mình. Quốc gia chúng ta có rất nhiều mỹ đức truyền thống, lòng yêu nước, yêu quê hương, giảng hiếu tận, giảng cần kiệm, giảng lấy đức phục người, giảng thiên hạ công bằng, giảng tiết kiệm phục lễ, khắc kỷ phục lễ (lời của Khổng Tử: ước chế tự thân khôi phục lễ nghĩa), giảng lễ nghĩa nhân trí tín, thế nhưng dường như hiện nay chẳng ai giảng về điều này nữa !.

Sự cứu rỗi của tinh thần Nhân văn:

Thư cục Trung Hoa vừa xuất bản hai cuốn tài liệu giảng dạy cơ sở văn hóa truyền thống Trung Hoa của Đài Loan. Các bạn Đài Loan của tôi đều cho tôi biết, họ từ nhỏ đều đọc “Luận ngữ”, còn chúng ta thì làm gì? Bài học đạo đức phẩm cách tư tưởng của chúng ta ở tập thể là “bịt tai lại mà đi trộm chuông”. Có Giáo sư Bắc Đại nói rằng: chúng ta mấy năm nay đều bồi dưỡng rất nhiều “người tư tưởng ích kỷ một cách tinh xảo”, cái gì gọi là người tư tưởng ích kỷ một cách tinh xảo? “Tinh xảo” là thông minh, “tư lợi” là mọi thứ đều lấy tự ngã làm trung tâm.

Chúng ta nên thật sự phản tỉnh lại, có một lần tôi và Sa Beining nói chuyện tại Vũ Hán, ông ta hỏi tôi: “Ngành nghề chữa bệnh như thế nào?”. Tôi liền đáp lại: “Trước hết đừng nói ngành nghề chữa bệnh như thế nào, khi Đài Truyền hình Trung ương truyền bá những quảng cáo giả dối như “Ngậm ăn đông trùng hạ thảo” “Life No.1”…, đã nói rõ toàn thể dòng sông đã bị ô nhiễm, không có con cá nào thoát khỏi ô nhiễm, cách hành xử  ô nhiễm là khởi từ thượng du. Tổng bí thư trung ương Đảng là họ Tập, hiện đang xử lý thượng du, dòng sông có lẽ rất nhanh sạch sẽ” !.

Điều này kỳ thực là giá trị Quan. Các vị đều là những Chuyên gia lớn nắm giữ kỹ thuật tiên tiến các loại, có đầy người bản lĩnh có thể làm hai chuyện. Một là thấy việc nghĩa hăng hái làm, thấy việc bất bình ra tay tương trợ; hai là chặn đường cướp bóc. Làm tốt làm xấu, bản chất văn hóa trong nội tâm người ấy sẽ quyết định lựa chọn cuối cùng của mình.

Có vị Bác sĩ cho tôi biết: ông ta trong ngày đầu tiên đi làm ở khoa Tiêu hóa, mỗi ngày ít nhất phải hoàn thành chỉ tiêu là chữa bệnh được cho 1 người. Thế nhưng hôm đó ông ta cả ngày 1 bệnh nhân cũng không có, mà giờ tan ca sắp đến. Khi ấy, một nông dân bị bệnh tim mạch, vì bị đeo sai số nhầm Khoa và tìm đến. Do đó, ông đã làm trái lương tâm mà xem bệnh, và kê thuốc cho người nông dân này. Khi bệnh nhân lấy thuốc rồi quay lại hỏi, ông ta cảm thấy nội tâm thật sự áy náy. Ông ta bèn bảo người nông dân này hãy tới lấy số lần nữa để đi khám tim mạch, người nông dân đó đột nhiên khóc ròng nói: “Tôi đã dùng hết tiền rồi !”. Vị Bác sĩ này sau khi đã bộc bạch chuyện của mình với đồng nghiệp, thì cảm giác xấu hổ cứ vây lấy tâm can, từ đó rời bỏ bệnh viện, không làm Bác sĩ nữa.

Khi các Viện trưởng, cán bộ cấp trên chế định chính sách, đừng bao giờ để Bác sĩ chúng ta phải phải hy sinh sự lương thiện để đổi lấy quyền lợi chính đáng lúc đó. Vốn dĩ anh ta nên có tiền lương 1 vạn đồng, nhưng chỉ phát cho anh ta 2.000, còn 8.000 đồng để anh ta tự mình kiếm lời; đây là hành vi gian ác !.

Cái gì là bệnh viện? Trong thời Trung cổ, xã hội của Cơ Đốc giáo có rất nhiều người nghèo là ăn mày lang thang khắp nơi, không ai quản đến. Vì thế, họ đã bố trí một nơi để họ giảm bớt khổ cực, cuối cùng từ từ tạo thành bệnh viện. Cái gì là chữa bệnh? Chữa bệnh khởi nguyên là một tấm lòng đồng cảm, con người quý ở chỗ có tâm đồng cảm, lòng thương xót. Vì chứng kiến thấy người khác bị đau khổ, chịu khổ chịu nạn mà mình cũng cảm thấy  thương xót mà giúp đỡ người ta, đây mới gọi là chữa bệnh.. Bởi vì yêu thương mới có chữa bệnh và bệnh viện, nếu mất đi tinh thần này thì không thể gọi là bệnh viện, mà gọi là giao dịch, nó không có tôn nghiêm.

Chúng ta cơ hồ đem bệnh viện trở thành một cái xí nghiệp, nhóm lãnh đạo của chúng ta cả đám mở hội họp, điều thích nhất nói đến là “Bệnh viện chúng ta 500 triệu, bệnh viện chúng ta 800 triệu, bệnh viện chúng ta 900 triệu, bệnh viện chúng ta 1,2 tỷ, bệnh viện chúng ta 2 tỷ !”. Tại sao Trưởng khoa Phụ sản bệnh viện Hiệp Hòa, Lang Cảnh, và Viện sĩ nói rằng:  nhân viên phòng Y tế mỗi tuần phải đọc một cuốn sách ngoài chuyên môn, chính là vì để mở rộng mặt tri thức. Bác sĩ chúng ta nên học được cách giao tiếp với người, chúng ta không thể chỉ học mỗi cách giao tiếp với bệnh tật thôi !.

“Có khi đi trị liệu, thường xuyên giúp đỡ, lại luôn là an ủi”, luôn là an ủi, thế nhưng chúng ta có năng lực an ủi không? Cái này hoàn toàn là nhân văn Y học phải được bồi đắp. Chỗ khác biệt giữa Bác sĩ TC, và bác sĩ Mỹ Quốc là ở chỗ nào? Bác sĩ TC hiện nay kinh nghiệm lâm sàng vô cùng phong phú, chúng ta đã làm nhiều giải phẫu như thế. Thế nhưng so sánh Bác sĩ TC và Mỹ Quốc một chút, điều khác biệt ở chỗ “thương yêu”. Bác sĩ Mỹ Quốc làm bệnh nhân cảm nhận được tình yêu, bác sĩ TC không làm được !.

Không đủ tin tưởng khoa học kỹ thuật, đây là một bộ phận rất quan trọng của văn hóa truyền thống dân tộc chúng ta. Toàn thế giới đại đa số dân tộc đều tin rằng: con người chết rồi có thể luân hồi, có cuộc đời sau này. Thế nhưng dân tộc chúng ta muốn truy cầu trường sinh bất tử, thế nên chúng ta phát minh ra rất nhiều phương pháp trường sinh bất tử. Chúng ta tuyệt đối là một dân tộc không có sự chuẩn bị cho cái chết. Người TC nào cũng có thể nhẫn chịu, mâu thuẫn gia đình, mâu thuẫn công việc, mâu thuẫn xã hội đều có thể nhẫn, thế nhưng khi đối mặt với cái chết thì không nhẫn chịu được. Chúng ta không có chuẩn bị, đối mặt với cái chết, hành động tâm lý đầu tiên là phẫn nộ và khiếp sợ. Do đó, văn hóa truyền thống của chúng ta quá cần tinh thần Nhân văn Y học !.

Tôi nói một vấn đề cuối cùng, cũng là vấn đề làm thế nào để trở thành một người Bác sĩ tốt. Thứ nhất, tôi không muốn nói mọi người ai cũng phải đi học Lôi Phong, học Bạch Cầu Ân, tôi chỉ cần nói cho các vị Chuyên gia và Lão sư, các vị nhất định phải nghĩ đến khi mình già rồi thì cũng sẽ rơi vào trong tay một Bác sĩ nào đó. Các vị trước hết làm một Bác sĩ tốt, học trò của các vị mới có thể là Bác sĩ tốt, đợi khi các vị già rồi, vị Bác sĩ này sẽ chăm sóc các vị. Hiện nay các vị không làm được một Bác sĩ tốt, đợi khi các vị già rồi, học trò của các vị sẽ chiếu theo phương pháp của các vị mà trừng phạt các vị. Chúng ta không thể khiến học trò học Lôi Phong khi chính mình đang học theo Hòa Thân.

Thứ hai, vì con cái mà làm một người tốt. Rất nhiều việc, người Tàu chỉ có vì con mới làm, vì con mới cải biến. Tôi từng giảng về vấn đề cai thuốc, tuy chúng ta học người nước ngoài trên hộp thuốc lá in hình đầu lâu và phổi đen, nhưng rất nhiều người căn bản sẽ không cai thuốc. Chúng ta dưới tình huống nào mới cai được? Chỉ có khi trên bao thuốc có viết “Hút thuốc sẽ khiến cho con của các bạn biến thành dị dạng”, tôi nghĩ người đọc câu đó nhất định sẽ cai !.

Thứ ba, con người cả đời này vì cái gì mà đến đây? Nếu như có cơ hội đi trong sa mạc Tân Cương để quan sát 1 lần, nếu như có một vũng nước, thì nhất định phải trồng cỏ, có cỏ mới có dê bò, có dê bò mới có người. Giá trị của cỏ là vì để cho dê bò sống tốt, giá trị của dê bò là để cho con người sống tốt, giá trị của con người là khiến cho những sinh vật khác sống tốt. Xã hội này vì có bạn mới có thêm 1 phần tốt đẹp, đừng vì có bạn mà lại thêm lại một phần thống khổ hoặc bất hảo nào khác !.

Tháng 10 Kính Đức Mẹ Mân Côi

 Tháng 10 Kính Đức Mẹ Mân Côi

Tháng 10 được dành để tôn kính Đức Mẹ Mân Côi.  Ngày 7 tháng này được giáo hội mừng kính Đức Mẹ Mân-côi.

Theo miêu tả của tu sĩ Alan de la Roch, Dòng Đa Minh (Dominic) thế kỷ XV, Đức Mẹ đã hiện ra với thánh Đa Minh năm 1206 sau khi thánh nhân cầu nguyện và sám hối vì đã không thành công trong việc chống tà thuyết Albigensianism (*).

Đức Mẹ đã khen ngài về sự chiến đấu anh dũng của ngài chống lại tà thuyết và trao cho ngài Chuỗi Mân Côi làm vũ khí phi thường, đồng thời giải thích cách sử dụng và hiệu quả của Chuỗi Mân Côi.  Đức Mẹ bảo thánh Đa Minh rao truyền Chuỗi Mân Côi cho những người khác.

HOLY ROSARY OF VIRGIN MARY

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kinh Mân Côi có nguồn gốc từ chính Thiên Chúa, từ Kinh thánh, và từ Giáo hội.  Không lạ gì khi Chuỗi Mân Côi gần gũi với Đức Mẹ và mạnh mẽ đối với Nước Trời.   Rất nhiều lần Đức Mẹ hiện ra đều cho thấy tay Mẹ cầm chuỗi tràng hạt Mân Côi.

Rất nhiều người đã được ơn từ việc lần Chuỗi Mân Côi.

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng thường xuyên lần Chuỗi Mân Côi khi ngài đi bách bộ.  Nếu xem lại lịch sử, chúng ta thấy có nhiều chiến thắng nhờ Chuỗi Mân Côi.  Truyền thống ban đầu đã có chiến thắng tà thuyết Anbi tại trận Muret năm 1213 nhờ Chuỗi Mân Côi.

Dù không muốn chấp nhận truyền thống đó thì cũng phải chân nhận rằng thánh Giáo-hoàng Piô V đã góp phần chiến thắng đội quân Thổ Nhĩ Kỳ vào Chúa Nhật đầu tháng 10 năm 1571.  Ngay thời điểm đó có Hội Mân Côi (Rosary confraternities) tại Rôma và những nơi khác.  Do đó, thánh Giáo-hoàng Piô V đã truyền phải tôn kính Kinh Mân Côi vào chính ngày đó.

Năm 1573, Đức Giáo-hoàng Grêgôriô XIII công bố việc mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi tại các nhà thờ có bàn thờ dâng kính Đức Mẹ Mân Côi.

Năm 1671, Đức Giáo-hoàng Clêmentô X mở rộng lễ này trên toàn cõi nước Tây Ban Nha sau chiến thắng anh dũng lần thứ hai trên người Thổ Nhĩ Kỳ, những người đã có lần (cũng như người Nga) đe dọa phá hủy văn minh Kitô giáo, xảy ra vào ngày 5-8-1716, khi hoàng tử Eugene đánh bại họ tại Peterwardein (Hungary).

Do đó, Đức Giáo-hoàng Clêmentô XI mở rộng lễ Đức Mẹ Mân Côi trong toàn Giáo hội.  Từ ngày ấy đến nay, giáo-hội hoàn vũ đặc biệt kính Đức Mẹ Mân Côi vào tháng 10 và tất cả mọi tín hữu có thói quen đua nhau đọc kinh Mân-Côi trong tháng này.

Lm. William G. Most đã viết trong cuốn “Đức Maria trong Đời sống Chúng ta” (Mary in Our Lives) như sau :

      “Ngày nay, các mối nguy hiểm còn lớn hơn người Thổ Nhĩ Kỳ, không chỉ đe dọa Kitô giáo mà đe dọa cả nền văn minh, Đức Mẹ thúc giục chúng ta trở lại với Chuỗi Mân Côi để được giúp đỡ.  Nếu nhân loại đủ số người làm vậy, đồng thời thực hiện các điều kiện khác mà Đức Mẹ đã đưa ra, chúng ta có lý do chính đáng để tin rằng chúng ta sẽ thoát khỏi mọi mối nguy hiểm”.

Nhưng thiết nghĩ chúng ta cần tích cực lần Chuỗi Mân Côi hàng ngày không những vì mong được lợi cho mình, cho gia đình, cho giáo-hội và cho thế giới…mà trước tiên vì lòng yêu mến Chúa và Mẹ Maria chân thành.

(*) Albigensianism: Anbi giáo, một phong trào Kitô giáo được coi là hậu duệ thời trung cổ của Mani giáo (Manichaeism – xem chú thích bên dưới) ở miền Nam nước Pháp hồi thế kỷ XII và XIII, có đặc tính của thuyết nhị nguyên (đồng hiện hữu của hai quy luật đối nghịch là Thiện và Ác). Thuyết này bị kết án là tà thuyết thời Tòa án Dị giáo (Inquisition).

Manichaeism: Mani giáo, hệ thống tôn giáo nhị nguyên do tiên tri Manes (khoảng 216–276) sáng lập ở Ba Tư hồi thế kỷ III, dựa trên vụ xung đột nguyên thủy giữa ánh sáng và bóng tối, kết hợp với các yếu tố của Kitô giáo ngộ đạo (Gnostic Christianity), Phật giáo (Buddhism), Bái hỏa giáo (Zoroastrianism), và các yếu tố ngoại giáo khác. Thuyết này bị chống đối từ phía Hoàng đế La mã, các triết gia phái tân Platon (Neo-Platonist) và các Kitô hữu chính thống.

Sưu Tầm và Tổng Hợp từ bài của Trầm Thiên Thu

LỜI CHỨNG về ƠN CHỮA LÀNH UNG THƯ

 LỜI CHỨNG về ƠN CHỮA LÀNH UNG THƯ

Kính thưa quý Cha, quý Vị và quý Bạn thân thương.

Con, Nguyễn Paul Hùng, thuộc cộng đoàn La-Vang, Giáo phận Los Angeles, Tiểu bang California, USA.

Cách đây hơn 3 tháng, không hiểu lý do gì, nhiều cục hạch nổi lên trên cổ, quanh lỗ tai, trong nách. Có những cục gây nên đau đớn nhức nhối rất khó chịu. Bác sĩ gia đình đã gửi con tới B/s giải phẩu để thử nghiệm bằng phương pháp BI-OP-CI và họ đã khám phá ra con bị LYMPHOMA, (tạm dịch là Ung Thư Viêm Hạch). Do Bs gia đình đề nghị, con được gửi tới một Bác sĩ Ung thư giỏi nổi tiếng trong vùng Beverley. Đã gọi là ung thư thì án chết đến ngay trước mặt, vì theo các tin tức trên mạng, chỉ có thể điều trị bằng Ki-mo để may ra sống lê lết thêm một thời gian ngắn ngủi nào đó, chứ không chữa lành được. Ai cũng biết như vậy. Theo kinh nghiệm trước mắt, nhiều người chết vì Ki-mo mà không phải vì Ung thư. Đối với con, sức lực này và tuổi đã 79 thì làm sao có thể vượt qua được !

Khả năng con người là thế đó, nhưng trong phong trào Canh Tân Đặc Sủng, chúng con được chỉ dạy và thực hành Cầu nguyện chữa lành. Con đã từng tham dự nhiều khóa của Cha Sơn, được chứng kiến nhiều ơn chữa lành những bệnh thông thường như đau lưng, đau khớp, tê bại tay chân…thì được lành không kể hết được. Có những ca lớn như ung thư bướu, ung thư cổ, họng, hoặc xua đuổi quỷ, hay thần ô uế ra khỏi bệnh nhân, cũng thấy kết quả ngay trước mắt.

Riêng về trường hợp bệnh ung thư của con, được coi là nghiêm trọng và con muốn biết ý Chúa định cho con thế nào. Trong lúc chầu viếng Chúa trong nhà nguyện Thánh Thể, con nài xin Chúa thương cứu kẻ khốn cùng này. Tuy con vẫn ăn uống và ngủ được, nhưng tâm tư vẫn thoang thoảng lo âu sợ hãi. Thế rồi ngay đêm hôm đó, Chúa báo cho con rất rõ ràng trong giấc mơ :

“Tại sao con lại lo lắng, Cha đã lo cho con hết rồi, việc đó là trong chương trình quan phòng của Cha. Không có gì phải sợ hãi hay lo lắng cả.”

Sáng hôm sau khi tỉnh dậy, con vui mừng sung sướng vô cùng; con cảm tạ Chúa với hết tâm hồn. Kể từ ngày đó, con an tâm và phó thác hơn vào Chúa. Nhưng lúc bấy giờ con cái của con cứ theo lời Bs, chúng chở con tới một Bs được giới thiệu là giỏi nổi tiếng trong vùng Beverley, phía Tây, Lós Angeles, đó là Bs Youram Nassir. Chỉ trong vòng vài tuần, Bs đã cho con Ki-mo lần thứ nhất; rồi hai tuần tiếp theo, ông cho Ki-mo lần thứ hai.

Kính thưa quý vị thân mến, quý bạn thân yêu, vì yếu tin, con đã phạm một lỗi lầm lớn: không đủ can đảm để khước từ những gì nghịch lại đường lối và chương trình của Thiên Chúa, không đủ vững tin vào tình thương và sự quan phòng của Người như tiếng nói của Người đến với con trong giấc chiêm bao vừa kể trên.

Trước mắt con còn nhiều thử thách khó khăn, lúc này con thấy quá yếu ớt và mỏi mệt vì tất cả thân xác đều xuống dốc: Sức khỏe, áp huyết và sức nặng đều sụt giảm một cách đột ngột.

Tuy vậy, con vẫn tin là Chúa đang thương con, nên lúc này hơn bao giờ hết, cho dù yếu ớt, bệnh hoạn, con phải cố gắng gần Chúa hơn bằng chầu viếng Thánh Thể, cùng với lần Chuỗi Mân Côi và Lòng Thương Xót như xưa nay vẫn làm.

Một cách khác, Chúa đã cho con cơ hội để đến gần Người hơn; để rèn luyện con được vững vàng hơn trong niềm tin.

Con không giám nói hết sự thật cho con cái vì như thế ép chúng phải bỏ việc làm để chở con, nên con phải cố gắng hơn nữa. Mỗi ngày con phải lái xe từ nhà tới Beverley mất hai tiếng, vì tuyến đường này buổi sáng xe cọ quá đông nên luôn luôn bị tắc nghẽn. Thêm vào tình trạng đó, mắt và tai con đều yếu kém. Lái xe không an toàn, Đã yếu như vậy mà mỗi ngày y tá rút 3 ống máu. Ngoài ra phải trả tiền đổ xăng, tiền đậu xe trong Ga-ra=ge, phải ăn uống tẩm bổ tối đa tại bất cứ nhà hàng nào được coi là tốt. Vất vả và tốn phi như vậy, nhưng việc chữa trị này có cho mình tia hy vọng nào không ? Đó là câu hỏi con tự đặt ra.

Sáng sớm thứ Bảy 19/9/15, con sực nhớ đến một người có thể giúp con. con bốc phôn gọi: “Cô Châu, cuối tuần này cô có thể bớt chút thì giờ giúp tôi được không?” Lập tức cô ấy trả lời: “Chú hãy vào ‘phòng cầu nguyện’ và chỉ còn vài phút nữa là bắt đầu.” Lúc này con mới nhớ lại nhóm cầu nguyện này con đã tham gia sinh hoạt một thời gian, rồi sau đó di chuyển nhiều nơi, kể cả về VN, nên bỏ quên. Đây là một nhóm nhỏ, cầu nguyện với nhau mỗi ngày lúc 7g sáng, qua đường dây điện thoại, thời gian kéo dài một tiếng. Khi nói “vào phòng cầu nguyện” có nghĩa bấm số phôn và số code là vào.

Hôm đó chúng con có bốn người, hai người ở Cali, còn hai người kia ở mãi tận miền Đông nước Mỹ. Trước tiên chúng con chào hỏi, giới thiệu nhau trong vòng một phút và bắt đầu vào giờ cầu nguyện. Hình như cô Châu đã nói với hai người kia về tình trạng của con, nên khi vừa bắt đầu, con được ưu tiên làm nạn nhân số một. Cô Châu bảo con quỳ xuống trước Thánh Giá, một tay đặt trên đầu (để xin ơn chữa lành), một tay trên ngực (để tỏ lòng thống hối). Cô ấy đã thống thiết kêu xin như để tạ lỗi thay cho con. Điều này nhắc nhỡ con rằng: Chúa Giê-su đã chịu mọi khổ nhục để chuộc tội cho con. Dĩ nhiên con chính là người phải sám hối, phải tạ tội, vì con biết mình có nhiều lỗi lầm, nhiều thiếu sót và yếu tin. Ngay giây phút này con đang thật tình thống hối ăn năn và ơn Chúa Thánh Thần ngập tràn trên con. Lửa Chúa Thánh Thần nung đốt tâm hồn con nóng rực làm cho thân rung chuyển đến độ con không còn làm chủ được nữa mà là sức mạnh Chúa Thánh Linh hoàn toàn làm chủ trên con và chuyển biến con thành một con người mới. Rồi chúng con cả bốn thay phiên nhau cầu xin cho mọi nhu cầu của bản thân, của gia đinh từng người và cầu cho nhau. Bấy giờ tâm hồn chúng tôi tràn đầy niềm vui và hy vọng.

Sau giờ cầu nguyện, cô Châu nói với con: “Tôi bảo đảm với chú, chú được chữa lành một ngàn phần trăm.” Con đáp lời cô ấy: “Tôi cũng tin chắc như vậy, nhưng xin bớt lại, với tỷ số hơn một trăm phần trăm. Con còn chia sẽ thêm rằng, đây là một hồng ân kỳ diệu và tuyệt vời duy nhất trong suot đời con, Chúa đã ban cho con, và mãi mãi con xin ghi nhớ ơn Người.

Cảm tạ Chúa, ung thư của con đã được chữa lành, nhưng câu hỏi bây giờ là ai sẽ chứng nhận cho mình đã lành bệnh ? Con vừa tự hỏi thì chỉ vài ngày sau đó, bác sĩ gọi lên bảo con tới một công ty chiếu hình để kiểm chứng tình trạng bệnh ung thư. Hình như đây là việc nằm trong chương trình có sẵn của Ban Điều Hành. Công việc kiểm tra do hai giàn máy khổng lồ làm ba nhiệm vụ, (còn gọi 3 giai đoạn)

1/-Lướt dò làn da mạch máu.

2/-Kiểm tra các bộ phận trong thân thể.

3/-Chiếu quang tuyến.

Cứ mỗi giai đoạn kéo dài hai tiếng, một tiếng chuẩn bị và một tiếng nằm trong máy do 4 nhân viên điều khiển. Và như vậy con phải mất hơn nửa ngày cho công việc kiểm tra này.

Sáng hôm sau, công ty chiếu hình chuyển hồ sơ kết quả của máy thăm dò về Văn Phòng Bs. Ông in ra đầy mười trang giấy. Cầm cả xấp lên, ông đọc lướt qua mọi trang và ông nói với con: “Tôi không thể tin được, đây là một phép lạ do Thiên Chúa làm, (nói tới đây, ông chỉ tay lên trời) không phải do tôi. Bấy giờ con không ngạc nhiên khi ông nói về tình trạng bệnh, nhưng con bỡ ngỡ về thái độ khiêm tốn của ông. Rồi nói tiếp với con: “Thân thể ông bây giờ sạch sẽ, không còn dấu vết gì nữa, các bộ phận trở lại bình thường.

Còn một ơn khác cũng tuyệt diệu mà con không thể bỏ qua, đã cùng xảy ra một lúc, trong thời gian điều trị, con nhận được một quà tặng của Nguyệt San Lời Chúa, đó là quyển sách tựa đề: Vinh Quang của Mẹ Ma-ri-a (The Glories of Mary). Thì ra chương trinh của Thiên Chúa quá hoàn hảo: đường kẹt xe dài dài thì có thêm giờ lần Chuỗi, trong phòng điều tri nằm dài dài thì có nhiều giờ đọc sách, đường nào mình cũng có lợi.

Đọc quyển sách nầy con lưu tâm đặc biệt về một số tước hiệu mà các Thánh đã kính tặng Đức Mẹ: Thánh Gio-an Đa-más-cô gọi “Mẹ là Nguồn hy vọng của kẻ tuyệt vọng.” Thánh Lau-ren-xô tặng Mẹ là “niềm hy vọng của kẻ gian ác.” Thánh Au-gús-ti-nô gọi Mẹ là “Nơi ẩn náu duy nhất của tội nhân.” Sau cùng Thánh Ep-rem gọi Mẹ là “Chốn nương thân an toàn của kẻ chìm tàu giữa biển.”

Kính thưa quý vị, trong các tước hiệu trên đây, kèm theo sau là nạn nhân được Mẹ cứu vớt, tước hiệu nào cũng có tên con đóng vai nạn nhân. Con còn đọc được những đoạn diễn tả Chúa Giê-su đầy lòng nhân thứ, nhưng Người cũng là vị thẩm phán. Còn Đức Mẹ làm Trạng Sư, chỉ biết bầu chữa và cứu vớt, ngay cả khi người ta đang trong tình trạng tội lỗi bởi làm điều gian ác. Đặc biệt hơn, Người thương yêu, nâng đỡ và cứu giúp kẻ khốn cùng. Nên các thánh còn gọi Đức Mẹ là Nữ Vương của Lòng Nhân Ái. Khi đọc Phúc âm Gio-an (Ga 2: 3) Đức Mẹ xin Chúa Giê-su biến nước thành rượu, thì phải đặc cách Mẹ lên vai trò Siêu Trạng Sư, vì ba lý do:

1) Lời cầu bầu của Mẹ có sức mạnh khiến Chúa phải nghe dù giờ Người chưa đến.

2) Tình thương của Mẹ quá giạt giào, cứu giúp chủ ngay cả khi ông ta chưa kêu cầu.

3) Trạng Sư ngoài đời có lợi tức, còn Đức Mẹ thì không.

Đọc những dòng trên đây, con nhận ra rằng, chính Đức Mẹ đã đem con trở về trình diện Chúa Giê-su với lòng thống hối, để nhận được ơn tha thứ và ơn chữa lành.

Trở về phòng điều trị, cứ mỗi chiều trước khi ra về, thư ký nhắc con sáng mai trở lại. (Con hiểu đó là do lệnh của Bs) Ông tìm mọi cách để níu con lại bằng những lời cảnh cáo như nói rằng, nếu con chấm dứt thì bệnh có thể trở lại, và khi trở lại thì khó chữa trị, hoặc không thể chữa. Đây là mánh lưới làm ăn của các con buôn.

Con cố ý giải thích cho ông về điều mâu thuẫn vì như lời ông công nhận việc chữa lành do Thiên Chúa, và Thiên Chúa thì không như con người, phải làm đi làm lại, Người chỉ làm một lần là hoàn tất. Thật tình con cũng hiểu rằng, ông không muốn mất con là một khách hàng lâu dài của ông. Chung quanh con, có những người đã nằm ở đây năm, bảy tháng hoặc lâu hơn.

Con cũng lại đã viết cho ông một bức thư kể hết hoàn cảnh và nỗi khó khăn, lái xe không an toàn, mà mỗi ngày phải mất gần ba tiếng lái xe. Kết thúc lá thư với một cảm giác hầu như tuyệt vọng, mong ông thông cảm mà giảm bớt chuyến đi. Nhưng xem ra ông không quan tâm gì.

Lại còn một khó khăn khác còn đeo đẳng nơi con, đó là trên cánh tay trái có một ống nhựa cứng dài khoảng hai gang tay, đã được đun sâu vào mạch vein, gọi là ống điều trị dài hạn. Ống này được đưa vào rất công phu do một công ty khác, và vì đường vein quá nhỏ và không thẳng, nên nó gây đau đớn vô cùng. Việc Bs cố giữ mình lại không quan trọng, vì mình có thể xù ông lúc nào cũng được. Nhưng ống nhựa này muốn được lấy ra thì phải nhờ Bs can thiệp chứ ! Thế là phải gọi cô Châu để nhờ cô cùng con cầu nguyện. Và một điều kỳ diệu, khi Bs và con nói về sự chữa lành này, ông có hỏi con số phôn của trưởng nhóm cầu nguyện, thì con đã cho. Sau đó ông gọi cho cô và sau một cuộc đàm thoại khá lâu, cô ấy đã thuyết phục được ông, có nghĩa là ông đồng ý rút ống nhựa ra cho con.

Thế nhưng sáng hôm sau, Bs gọi con lên phòng, ông lại nói ngược rằng: “Tôi đã nói chuyện với cô trưởng nhóm cầu nguyện của ông, và cô ấy nói rõ cô không phải là Bs.” (Ông ấy lặp lại câu này hai, ba lần) “Vậy bây giờ tôi thấy nếu ngưng điều trị là vô lý, chẳng lẽ tôi làm nữa chừng rồi bỏ cuộc sao! Nên chúng ta phải tiếp tục..” Con thấy vậy là chưa xong, con bắt đầu cầu nguyện, thầm xin Chúa một quyền năng trước loài rắn độc, xạo trá quanh co. Con liền đổi giọng : “Thưa Bs, Tôi thấy ông là một Bs nổi tiếng, tôi kính phục ông. Nhưng việc này tôi thấy khó hiểu, hình như ông mâu thuẫn. Ông đã công nhận đó là việc lạ lùng do Thiên Chúa. Và chúng tôi tin chắc rằng, việc Thiên Chúa làm thì hoàn hảo. (Thực tình trong trí con muốn nói thêm “chương trình của Người cũng hoàn hảo”) Vậy xin ông vui lòng rút ống này ra và chấm dứt việc chữa trị. Nếu có vấn đề gì tôi xin chịu trách nhiệm. Tôi chân tình cảm ơn ông.”

Lúc bấy giờ ông không nói gì nữa, nhưng lấy ngón tay trỏ đè lên miếng bông đặt sẵn trên đầu ống nhựa và từ từ rút ra một cách dễ dàng. Con thở phào một phát để trút hết mọi lo âu. Thế là con đã được giải thoát !

Kinh thưa quý Vị, quý Bạn, khi xem những diễn biến của câu chuyện này, chúng ta thấy chương trình, kế hoạch và thời biểu của TC thật hoàn hảo cùng với tình thương của Người vô biên và quá diệu kỳ.

Con xin chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Chúa. Amen,— Alleluia !

Nguyễn Paul Hùng

Biển Đông: Indonesia nhắc lại lập trường không chấp nhận đường lưỡi bò

Biển Đông: Indonesia nhắc lại lập trường không chấp nhận đường lưỡi bò

RFI

Trọng Nghĩa

media

Quần đảo Natuna của Indonesia tại Biển Đông. Đường lưỡi bò của Trung Quốc đã liếm vào một vùng biển ở khu vực này, được Indonsia cho là thuộc chủ quyền của mình.DR

Tổng thống Indonesia Joko Widodo sẽ lên đường công du Hoa Kỳ, với cuộc họp thượng đỉnh với đồng nhiệm Mỹ Barack Obama được dự trù ngày 26/10/2015 tại Washington. Hồ sơ Biển Đông được cho là cũng sẽ nổi bật trong chương trình thảo luận của ông Widodo với lãnh đạo Mỹ. Trước ngày Tổng thống Indonesia lên đường, Jakarta đã tái xác định quan điểm bác bỏ đường 9 đoạn mà Trung Quốc vạch ra để đòi chủ quyền tại Biển Đông.

Trong một phát biểu với báo giới vào hôm qua, 24/10, phát ngôn viên Nhà Trắng Eric Schultz xác nhận một số nội dung chính nhân Hội nghị Thượng đỉnh Obama-Widodo, từ biến đổi khí hậu cho đến thương mại, và nhất là hợp tác trong lãnh vực quốc phòng và hàng hải.

Cùng ngày, nhật báo Mỹ Wall Street Journal đã trích lời ông Luhut Pandjaitan, Bộ trưởng đặc trách về các vấn đề chính trị, pháp lý và an ninh, một nhân vật được cho là có ảnh hưởng mạnh nhất trong chính phủ Indonesia hiện nay, xác định rằng Jakarta sẽ nhờ Washington giúp đỡ trong việc thành lập một lực lượng tuần duyên hiện đại để tuần tra các vùng biển chiến lược của mình, cũng như đóng một vai trò tích cực hơn trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ở Biển Đông.

Theo ông Pandjaitan, trong thời gian qua, Indonesia đã tập trung giải quyết ổn thỏa các vấn đề trong nước, đặc biệt là kinh tế, và giờ đây đến lúc nước này quan tâm nhiều hơn đến vấn đề khu vực và quốc tế.

Mỹ có quyền tiến vào vùng 12 dặm quanh đảo nhân tạo của Trung Quốc

Về vấn đề thời sự nóng bỏng hiện nay là các tuyên bố liên tiếp của Mỹ, khẳng định rằng sẽ sớm cho tàu Hải quân tiến vào vùng biển bảo quanh các đảo nhân tạo mà Trung Quốc vừa bồi đắp tại vùng Trường Sa, ông Pandjaitan không ngần ngại cho rằng Mỹ có quyền làm như vậy.

Ông giải thích : « Chúng tôi không muốn làm như là chúng tôi mời Mỹ đến đó… Nhưng đấy là biển quốc tế, và tất cả mọi người đều có quyền đi qua khu vực đó. »

Nhân vật này đồng thời nhắc lại lập trường xuyên suốt của Indonesia liên quan đến yêu sách chủ quyền rộng khắp của Trung Quốc tại Biển Đông : « Chúng tôi không công nhận đường 9 đoạn ».

Đường lưỡi bò : Một điều tưởng tượng

Theo ông Pandjaitan, đường lưỡi bò mà Bắc Kinh cho là phản ánh chủ quyền lịch sử của Trung Quốc tại Biển Đông, chỉ là một điều « tưởng tượng ».

Theo báo Wall Street Journal, khi được hỏi, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã không trả lời yêu cầu bình luận về phát biểu của ông Pandjaitan.

Trong hồ sơ Biển Đông, Indonesia không phải là một bên tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc, khác với 4 thành viên khác trong cùng khối ASEAN là Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei. Tuy nhiên, đường lưỡi bò mà Trung Quốc dùng để đòi hỏi chủ quyền trên Biển Đông đã liếm vào vùng dầu khí Natuna thuộc chủ quyền của Indonesia, gây bất bình không ít tại quốc gia này.

Nhà cầm quyền có thể chai lỳ trước một bản án oan khốc sắp đem thi hành?

Nhà cầm quyền có thể chai lỳ trước một bản án oan khốc sắp đem thi hành?

Cái lũ người thuộc về cái thể chế gây án oan, sau khi “rút kinh nghiệm sâu sắc” vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn, đã tìm ra những biện pháp tự che giấu bộ mặt thật của mình.

Chúng “thả” ông Huỳnh Văn Nén ra, cho tại ngoại, với lý do bênh tật. Chúng “miễn khởi tố” Nguyễn Quang Lập và Hồng Lê Thọ… chẳng vì lý do gì sất.

Còn với ngưởi tử tù Lê Văn Mạnh mà chúng đã bức cung và nhục hình để cố giết cho bằng được… thì chúng sẽ cho thi hành án trong vòng ít giờ nữa.

Này, những Nghị, và những Rứa, và những Phiêu, lũ người cùng quê Thanh Hóa, lũ người tự hào là “của Dân, do Dân, vì Dân”, hãy nhìn vào tấm áo em Mạnh gửi cho mẹ, chi chít chữ cốt nói với mẹ là em vô tội.

Lũ các người có mẹ hay không?

Lũ các người có còn biết xúc động nữa không?

Chí ít, hãy can thiệp, hãy tạm cho em Mạnh chịu án chung thân.

Hãy một lần trong đời, biết xúc động.

Hãy tha mạng sống cho một thanh niên.

Những cặp mắt khắp Việt Nam, khắp năm châu, đang đổ dồn vào các người.

Hãy một lần trong đời tỏ ra biết nghĩ, biết cảm xúc, biết lo cho tương lai của những con những cháu những chắt nhà các người!

Hãy ra lệnh ngừng giết em Lê Văn Mạnh.

Hãy làm người!

Phạm Toàn

Hỡi các nhà lãnh đạo,

Hãy động lòng trước tiếng kêu oan ức thống thiết của một tử tù sắp bị xử chết

Ngày 26/10/2015, tử tù Lê Văn Mạnh (trú tại xã Yên Thịnh, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá) sẽ bị thi hành án tử hình với tội danh hiếp dâm, giết người.

Trong vụ án này có nhiều oan khuất chưa được làm rõ. 11 năm qua bà mẹ của tử tù đã kêu oan cho con khắp các cửa, chưa được soi xét thấu đáo. Tử tù đã viết nỗi oan ức bị tra tấn, bức cung… không nhận tội theo mớm cung thì chết! Người tử tù đã miệt mài bao ngày tháng viết những dòng chữ chi chít trên tấm áo để giãi bày nỗi oan ức của mình…

Trường hợp này cũng y như trường hợp Nguyễn Thanh Chấn: Phải nhận tội để khỏi bị tra tấn chết. Nhận rồi đi kêu oan. Ông Chấn kêu oan mãi cũng vô vọng. May kẻ thủ ác đã ra đầu thú, nếu không ông Chấn cũng bị xử chết rồi.

Các vị cần biết rằng, sau vụ oan sai của ông Chấn, những người bức cung đã bị xử lý, đền bù, thì vụ này, những người đã tra tấn, bức cung anh Lê Văn Mạnh rất lo sợ, họ muốn thi hành án càng nhanh càng tốt, cho xong mọi chuyện, để trốn tránh trách nhiệm.

Các vị cần biết rằng, đã có nhiều người chết oan ức trong tay công an rồi. Vụ em Dư mới đây đang làm nhức nhối lương tri cả xã hội. Lại đến vụ này nữa, lòng dân sao yên!

Xin các vị lãnh đạo hãy một lần lắng nghe, thấu cảm tiếng kêu oan thống thiết của một người mẹ có con sắp bị xử chết tức tưởi.

Xin các vị hãy cho dừng thi hành án lại để điều tra làm rõ những uẩn khuất của vụ án.

Bằng cương vị của mình, các vị hãy ra lệnh hoãn thi hành án anh Mạnh để điều tra cho rõ. Hãy cứu lấy một mạng người có thể bị chết oan.

Mạc Văn Trang

TRÍCH ĐƠN KÊU OAN CỦA TỬ TÙ LÊ VĂN MẠNH

(Nguyên văn từ lá thư và chiếc áo của tử tù Lê Văn Mạnh nhờ bạn tù gửi ra)

Trịnh Bá Phương

23-10-2015

clip_image002

Mặc dù chúng tôi đang phải mang trên mình nỗi oan quá lớn này và chúng tôi luôn tin tưởng rằng, không có nỗi oan nào là không được minh oan dưới sự công bằng của pháp luật cả. Vấn đề chỉ là thời gian bao lâu mà thôi, nhưng nhất định sẽ có ngày tôi được minh oan.

Dù tôi còn sống hay đã chết, tôi và gia đình tôi sẽ kêu nỗi oan này cho đến hơi thở cuối cùng, cho tới khi chúng tôi được minh oan mới thôi. Vì tôi bị chết oan thực sự và gia đình tôi biết rõ điều đó, đối với cuộc đời của tôi đến bây giờ đã chấm hết tất cả, bằng những bản án đầy bất công, mà trên cuộc đời này có còn nỗi oan trái nào, và sự bất công nào, và nỗi đau nào trên cuộc đời lớn hơn những gì tôi và gia đình tôi đang phải gánh chịu một cách đầy oan ức, oan sai và đầy bất công này không?

Gia đình tôi tan nát, vợ tôi chán đời bỏ đi để lại hai đứa con thơ dại của tôi bơ vơ không cha không mẹ. Phải sống nhờ hai bên gia đình nội ngoại, mỗi đứa một phương trời đã không có cha có mẹ như những chúng bạn cùng trang lứa, hai anh em chúng lại không được ở cùng nhau. Tuy rằng bản thân tôi đang phải sống trong môi trường biệt giam tù đầy và cùm kẹp suốt ngày đêm, nhưng đó cũng chỉ là nỗi đau buồn của thể xác, chứ làm sao bằng được nỗi xót thương của các con khi mà phận làm cha như tôi không thể đem lại cho các con tôi một mái nhà hạnh phúc, đầy tình yêu thương, không nuôi dạy các con thành người, không lo được cho chúng một cuộc sống ấm no bằng bạn, bằng bè cũng trang lứa.

clip_image004

Phận làm con như tôi không một ngày phụng dưỡng cha mẹ mà còn bắt tất cả mọi người mang theo tôi một nỗi oan quá lớn này. Tất cả cũng chỉ vì nỗi oan này, vì sự bất công của pháp luật đã đem tôi đến và bắt tôi phải gánh chịu, và vì cái gọi là thành tích phá án của cơ quan điều tra đã đẩy tôi, toàn bộ gia đình tôi, dòng họ tôi vào nỗi oan nhục này.

Tôi biết rằng vì cái đau đớn của xác thịt khi bị đánh đập tra tấn tôi dã man để ép cung mà tôi không thể chịu đựng nổi cái đau đớn xác thịt đó để rồi tôi phải đi nhận nỗi oan vào người, phải nhận cái tội lỗi mà tôi không hề gây ra vào người theo lời mớm cung của điều tra viên, tôi biết đó là cái sai lầm lớn nhất của cuộc đời mình, và tôi cũng đã cố gắng hết sức mình để sửa lại cái sai này, nhưng tất cả mọi sự cố gắng của tôi và gia đình tôi đều trở nên vô vọng bằng những bản án quá bất công và khi tôi nhận được công văn trả lời của toà án nhân dân tối cao đã bác bỏ lá đơn xin giám đốc thẩm của tôi thì tất cả mọi niềm tin sau cuối của tôi đều sụp đổ hoàn toàn, bởi những quyết định quá bất công của các cấp có thẩm quyền, thực sự giờ đây tôi quá chán nản và suy sụp hoàn toàn, và tinh thần khủng hoảng nặng nề về tư tưởng, khi mà niềm tin vào công lý về sự công bằng của pháp luật sau cùng của tôi bị tước đoạt nốt đi.

Trong những ngày vừa qua tôi cũng chẳng ăn uống được gì, ngày hôm nay tôi cố gắng lắm mới có thể viết lên lời kêu oan thống thiết này, để trình lên ông chánh án toà án nhân dân tối cao, và cầu xin ông hãy soi xét cho mỗi oan này của tôi. Tôi biết khi toà án nhân dân tối cao bác đơn xin giám đốc thẩm của tôi thì tất cả đối với tôi đã hết, lúc này tôi chỉ còn biết rằng tôi bị chết một cách đầy oan ức, và đang phải gánh chịu tất cả những nỗi bất công của pháp luật.

clip_image006

Tôi chỉ biết rằng mình bị chết oan, và tôi sẽ cố gắng kêu nỗi oan này của tôi cho đến hơi thở cuối cùng của cuộc đời mình, còn các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước có giải quyết cho tôi hay không, hay giải quyết như thế nào thì đó là quyền hạn và trách nhiệm của họ. Còn tôi bị chết oan thì tôi phải kêu oan cho đến hơi thở cuối cùng, và khi tôi bị chết đi thì gia đình tôi sẽ tiếp tục kêu oan cho tôi, vì trong xã hội này mọi người đều phải tôn trọng pháp luật, sống và làm theo pháp luật, pháp luật làm đúng thì tôi và gia đình tôi được hưởng đúng và được minh oan. Pháp luật làm sai thì gia đình tôi phải chịu sai, và tôi phải chịu chết oan.

Suy cho cùng sống ở trên đời này ai mà không một lần phải chết, còn sống làm sao để hơn đời một cái tâm mới là cao quý. Còn tôi không gây nên tội lỗi cho cháu Loan nên tôi không có gì phải hổ thẹn với linh hồn của cháu Loan khi gặp nhau nơi chín suối cả và không có gì có thể làm tôi run sợ cả, kể cả cái chết, sống làm sao cho tâm hồn mình thanh thản, sống làm sao để không phải hổ thẹn với lương tâm của mình là được. Tôi còn sống ngày nào tôi sẽ cố gắng sống làm sao cho tốt cho bản thân, với anh em bạn bè đồng phạm đến giây phút cuối cùng, để không ai có thể trách tôi được một điều gì, để gia đình tôi, các con tôi bớt phần lo lắng cho tôi và cố gắng kêu oan cho đến hơi thở cuối cùng, còn được đến đâu thì đến, còn lại gia đình tôi sẽ giúp tôi tiếp tục kêu oan đến cùng, còn lúc nào pháp luật và nhà nước bắt tôi phải chết đưa tôi đi giết một cách oan ức thì tôi cũng hiên ngang đón nhận như một phần tất yếu của cuộc đời phải đến thôi.

clip_image008

Cuộc đời này cũng có còn nỗi đau đớn oan sai và bất công nào hơn tôi nữa không. Tất cả chỉ vì tôi được đẩy ra để làm vật thí mạng, để nhận thay tội cho một kẻ sát nhân, bệnh hoạn nào đó, và vì cái gọi là thành tích phá án của cơ quan điều tra công an tỉnh Thanh Hoá. Tôi không gây nên tội lỗi cho cháu Loan và gia đình tôi biết rõ điều đó cho nên từ trước đến giờ gia đình tôi không hề đền bù cho gia đình cháu Loan. Bởi không ai lại đền tiền cho một người khác khi mà họ biết rõ con họ không gây nên tội lỗi.

***

Kính thưa ông chánh án toà án nhân dân tối cao, nỗi oan này của tôi là có thật hoàn toàn.
Tôi khóc để máu mắt trình lên chánh án toà án nhân dân tối cao những lời kêu oan thống thiết này, cầu xin ông chánh án toà án nhân dân tối cao soi xét cho nỗi oan của tôi và cho thụ lý lại vụ án của cháu Hoàng Thị Loan để điều tra làm sáng tỏ vụ án, bắt đúng người đã gây nên tội lỗi với cháu Loan. Xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan làm sai cho ai cả, trả lại sự công bằng cho tôi được minh oan, để pháp luật luôn là chỗ dựa cho nhân dân và xã hội, để nêu cao tính công bằng và nghiêm minh cho pháp luật.

Tôi xin cam đoan những lời kêu oan thống thiết này của tôi để trình lên ông chánh án toà án nhân dân tối cao là sự thật, nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trước pháp luật. Tôi xin chân thành cảm ơn ông chánh án toà án nhân dân tối cao đã xem xét cho lời kêu oan thống thiết này của tôi.

Lời khẩn cầu kêu oan của người làm đơn.

Lê Văn Mạnh

Nguồn: https://www.facebook.com/trinhbaphuong.trinhba/posts/1634944223433941

__________

Khẩn: Chiếc áo kêu oan của người tử tù

Bạch Cúc

22-10-2015

clip_image010

Chiếc áo kêu oan của tử tù Lê Văn Mạnh. Ảnh: FB Nguyễn Đức Giang

Chiếc áo của người tử tù, chằng chịt những lời kêu cứu oan khuất, được một người bạn tù lén gửi cho gia đình theo ngả thăm nuôi, nhờ đưa về cho người mẹ già.

Người mẹ ấy suốt 11 năm ròng lang thang kêu cầu công lý nhưng vô vọng…

Chỉ còn 3 ngày nữa thôi, có còn kịp không? Ngày 26/10/2015, tử tù Lê Văn Mạnh (trú tại xã Yên Thịnh huyện Yên Định tỉnh Thanh Hoá) sẽ bị thi hành án tử hình với tội danh hiếp dâm giết người.

Bà Nguyễn Thị Việt (mẹ tử tù) cho hay:

– Anh Mạnh bị công an đánh chết đi sống lại, bị ngất và bị tạt nước vào mặt cho tỉnh, thòng lọng cổ treo lên đánh tiếp, anh Mạnh sợ chết nên phải khai nhận… Mạnh bị bịt mặt nên không thể nhận ra người tra tấn ép cung mình.

– Anh Mạnh có chứng cứ ngoại phạm: nhân chứng khẳng định ngày nạn nhân chết anh Mạnh ở nhà em gái phụ giúp chuyển đồ, nhưng tòa đã bác bỏ.

– Luật sư Việt Hoa ở Thanh Hóa, bào chữa cho Mạnh tại phiên tòa Sơ thẩm đã bị đình chỉ hành nghề một năm sau đó. Tại phiên tòa Phúc thẩm, Mạnh tự bào chữa cho mình vì trước đó đã từ chối Luật sư do tòa chỉ định.

Công lý trong trái tim mỗi người, xin cộng đồng hãy cùng lên tiếng, chia sẻ thông tin để hy vọng cứu được một mạng người!

clip_image011

clip_image012

clip_image013

clip_image014

Các bạn có thể tham khảo thêm thông tin tại đây:

– Cô Nguyễn Thị Việt kể về anh Lê Văn Mạnh bị ép cung đánh đập:

– Bà Nguyễn Thị Việt Cùng dân oan 3 miền kêu cứu Đài Truyền Hình Đưa Tin về sự oan ức của mình (FB Dương Văn Tuyến).

B.C.

Nguồn: https://www.facebook.com/Bachcuc.kimchi?pnref=story

__________

Chúng ta đang sống trong một xã hội vô lương và mất nhân tính!

Bạch Cúc

Xã hội, văn hóa xã hội được định hình và phát triển ra sao một phần tùy thuộc vào thể chế chính trị điều hành và tác động vào nó.

Một thể chế chính trị văn minh và nhân văn thì sẽ tạo ra một xã hội bình đẳng, văn minh và nhân văn. Người ta có thể nhận diện, đánh giá chung một xã hội dựa trên những hành động, lời nói và cách đối nhân xử thế giữa người với người, giữa người với vật trong xã hội đó. Còn với một thể chế chính trị độc tài, tàn ác thì cái xã hội theo sau nó chắc chắn cũng tỉ lệ thuận với các “thuộc tính” này.

Bạn thấy Xã Hội Việt Nam ngày nay ra sao, thế nào? Có đáng để chúng ta trăn trở, xót xa và suy gẫm…?

Quay ngược trở lại khoảng mười mấy hai mươi năm trở về trước. Lúc ấy, chỉ cần nghe có tin “giết người, chết người” là hầu hết dân chúng đều bàng hoàng, ngạc nhiên lẫn phẫn nộ… Nhưng ngày nay, người với người có thể giết hại lẫn nhau một cách quá đơn giản và nhanh chóng. Hoặc, con người gặp vô số cái chết đến quá bất ngờ với đủ loại lý do khiến cho dân tình chẳng còn thấy lạ lẫm, để mà ngạc nhiên hay bàng hoàng nữa…

Người ta có thể giết chết nhau chỉ bởi do một ánh mắt, một lời nói…

Người ta có thể dễ dàng dùng “Pháp luật” để bắt bớ và cầm tù nhanh chóng những người dám lên tiếng vì chính nghĩa;

Chẳng ở nơi nào trên thế giới mà khẩu hiệu “Độc lập, tự do, hạnh phúc” được nhắc nhiều như vậy nhưng lại bị “vi phạm nghiêm trọng” như vậy!…

Bỏ qua thời kỳ chiến tranh, bạn có đồng ý với tôi rằng chưa bao giờ tính mạng người Việt lại có thể rẻ mạt đến như vậy?

Hằng hà sa số những cái chết oan ức ngoài đường do tai nạn xe cộ;

Hàng triệu bệnh nhân nơm nớp đau đớn chờ đến ngày giã biệt cuộc sống vì căn bệnh ung thư do thuốc độc từ môi trường sống lẫn thực phẩm;

Sản phụ đi sinh nở cũng chết ngang xương vì sự tắc trách của bệnh viện;

Trẻ em chết oan đơn giản và hàng loạt sau khi được tiêm chủng;

Đặc biệt, bạn có ngạc nhiên không khi chưa thấy ở nơi đâu giống như Việt Nam, nơi mà người dân chỉ cần bị bắt nhốt vào đồn Công an là bỗng dưng lăn đùng ra chết rồi được thông báo là họ tình nguyện “tự tử chết”!

Chúng ta đang sống ở một nơi nào vậy? Một thiên đường XHCN nhưng tìm mãi không thể thấy những giá trị nhân văn cơ bản nhất. Chúng ta đang sống ở một xã hội mà Lòng Tự Trọng và Sự Xấu Hổ chỉ được xem như điều xa xỉ!

Những người lẽ ra phải bảo vệ đất nước và bảo vệ nhân dân thì lại là những người bán rẻ đất nước và làm hại nhân dân;

Những người được trao trách nhiệm thi hành “công vụ” lại trở thành kẻ cướp ngang nhiên trấn lột dân chúng ngày đêm ngoài đường;

Những người có chức to thì ăn to, chức nhỏ thì ăn nhỏ và họ có thể ăn bất cứ thứ gì từ gạch cát, xi măng cho đến hố xí và cả tiền cứu trợ…

Xã hội này đang xây dựng giá trị con người bằng những điều gì vậy? Phải chăng là bằng đồng tiền, bằng quyền lực và cả bằng sự vô lương và mất nhân tính!

Tôi chẳng thể quên những năm tháng làm Quản giáo tại một trại cai nghiện. Dù chỉ là quãng thời gian ngắn ngủi nhưng hiện thực ở “xã hội thu nhỏ” đó đã biến đổi tôi hoàn toàn, và tôi mang theo những ký ức trăn trở đó làm hành trang để buộc mình phải có một lối sống khác và có cách nhìn khác về chế độ, về xã hội mà tôi đang sinh sống.
Bạn sẽ khó có thể hình dung được sự thật, nếu như bạn chưa từng được “trải nghiệm” để có thể hiểu một cuộc sống tù đày là thế nào? Nơi tôi làm việc trước kia chắc chắn không thể khắc nghiệt bằng những trại tù, nhưng cũng đủ khiến tôi phải “kinh hoàng” nhận ra: ở xã hội này người ta có thể dễ dàng tước đi những quyền sống cơ bản nhất của một con người, huống chi là trong một môi trường lao tù thật sự!

Bạn có thấy bất nhẫn không khi thấy người ta hành hạ súc vật? Vậy bạn thế nào, cảm xúc của bạn ra sao khi biết có những anh em chung dòng máu Việt của bạn đang bị người ta ngược đãi, đối xử ác độc còn tệ hơn cả súc vật. Tôi buộc phải nói rằng những người đang “hành xử” như vậy là những người có cách sống vô lương và mất nhân tính nhất! Tôi đau xót và không thể lý giải tại sao?

Tại sao cùng là con người, cùng là những đứa con được sinh ra trên một miền đất mẹ mà người ta có thễ nhẫn tâm tàn hại và hành hạ lẫn nhau như vậy?

Tại sao người ta có thể dửng dưng, im lặng và quay lưng trước lời khẩn cầu và kêu cứu của người khác?

Bạn ơi, Xã hội này sẽ ra sao? Thế giới này sẽ ra sao khi loài người đánh mất Tình Thương và lòng Trắc Ẩn?

Xin bạn hãy cùng tôi gửi một thông điệp, xin hãy chia sẻ và đồng hành với những “Người Khốn Khổ” – những “Tù Nhân Lương Tâm” đang trong song sắt nhà tù để đòi quyền được sống và quyền tự do cho họ.

Làm ơn hãy:

“CHIA SẺ, ĐỒNG HÀNH VỚI KHÁT VỌNG SỐNG, KHÁT VỌNG TỰ DO CỦA NHỮNG TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VÔ TỘI!”

B.C.

Nguồn: https://www.facebook.com/Bachcuc.kimchi?pnref=story

__________

Chỉ còn mấy chục giờ nữa!

Nguyễn Đức Giang

22-10-2015

Em Lê Văn Mạnh bị Toà án tỉnh Thanh Hóa KẾT ÁN TỬ HÌNH vào ngày 26/10/2015 với tội danh “hiếp dâm & giết người”.

Bản án có nhiều điều khuất tất, chứng cứ em ngoại phạm (lúc đó có nhiều nhân chứng thấy em dọn đồ cho gia đình), Viện Kiểm sát cũng yêu cầu giám đốc thẩm vụ án, 11 năm nay mẹ em Mạnh là chị Nguyễn Thị Việt đi kêu oan cho con trai nhiều nơi, với 6 lần xét xử…, nhưng ” quả bóng ” trách nhiệm của các cơ quan luật pháp đã đùn đẩy, từ địa phương đến trung ương, không giải quyết.

Nhà chị Việt là một gia đình thuần nông, nghèo khó, không có tiền để thuê luật sư, khi biết tin con trai Lê Văn Mạnh sẽ bị tử hình vào ngày 26/10/2015, thứ hai, chị mới lo sợ chạy ra HN, kêu cứu các cơ quan pháp luật của trung ương, của Quốc hội, của Chủ tịch nước và sự chung tay của những người dân sống ở HN, giúp chị kêu oan cho con!

Kính mong sự quan tâm của cộng đồng, đồng hành, đoàn kết cùng gia đình chị Nguyễn Thị Việt cứu lấy con trai Lê Văn Mạnh! Gấp lắm rồi bà con ơi!

clip_image015

clip_image016

clip_image017

clip_image018

N.Đ.G.

Nguồn: https://www.facebook.com/giang.nguyenduc/posts/863869573729223

__________

Chúng tôi yêu cầu

CLB Nhà báo Tự Do

Chúng tôi YÊU CẦU nhà cầm quyền CSVN đình chỉ ngay lập tức vụ án Lê Văn Mạnh. Cho tiến hành mọi thủ tục tố tụng, tranh tụng lại từ đầu nhằm hạn chế sẽ xử tử oan một sinh mạng con người.

Bởi vì :

Quyết định giám đốc thẩm về vụ án Lê Văn Mạnh phạm tội “Giết người”, “Hiếp dâm” và “Cướp tài sản” Số hiệu 14/2007/HS-GĐT ghi rõ:

“1. Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 756/2006/HSPT ngày 26-7-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và bản án hình sự sơ thẩm số 61/2006/HSST ngày 13-3-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa;

2. Giao hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để điều tra lại theo thủ tục chung;

3. Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Văn Mạnh cho đến khi Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý lại vụ án.

Lý do bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm bị hủy:

Trong lời khai nhận tội của bị cáo có nhiều mâu thuẫn và thiếu thống nhất nhưng chưa được điều tra làm rõ, vì vậy cần phải điều tra lại”.

Như vậy, vụ án có nhiều tình tiết khuất tất chưa được làm rõ. Giết một mạng người là điều rất nghiêm trọng.

Bà Nguyễn Thị Việt, mẹ của tử tù Lê Văn Mạnh ra Hà nội mang biểu ngữ kêu oan cho con trai ngày 22/10/15 đã bị nhân viên công quyền cướp biểu ngữ.

Theo thông báo mới đây Ngày 26/10/15 con trai bà Việt sẽ bị tử hình.

Rất mong cộng đồng lên tiếng để cứu một mạng người khỏi bị chết oan uổng.

C.L.B.N.B.T.D.

Nguồn: https://www.facebook.com/caulacbonhabaotudo

clip_image019clip_image020clip_image021clip_image022

Việt Nam ngả về Mỹ hay Trung Quốc?

Việt Nam ngả về Mỹ hay Trung Quốc?

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh (phải) bắt tay Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter trong cuộc gặp tại Hà Nội ngày 1/6/2015.

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh (phải) bắt tay Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter trong cuộc gặp tại Hà Nội ngày 1/6/2015.

Trà Mi-VOA

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam tuyên bố Việt Nam cần cân bằng trong quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ, ‘không đi với nước lớn này để chống lại nước lớn khác’.

Truyền thông trong nước dẫn tuyên bố của đại tướng Phùng Quang Thanh tại buổi thảo luận về an ninh quốc phòng chiều 22/10 ở Quốc hội khẳng định Việt Nam theo đường lối đối ngoại tự chủ, không ngả về bên nào hay bị chi phối bởi nước nào.

Ông Thanh nói chỉ cần ‘lệch lạc, đứng về một nước lớn nào quay lưng lại nước lớn khác sẽ gây phức tạp’.

Phát biểu của lãnh đạo ngành quốc phòng Việt Nam được đưa ra giữa bối cảnh quan hệ Việt – Trung tuột dốc xuống mức thấp nhất vì tranh chấp Biển Đông và bang giao Việt – Mỹ ngày càng trở nên nồng ấm.

Washington đang chuyển trọng tâm về Châu Á để kiềm chế Trung Quốc ‘giương oai diễu võ’ trong lúc Hà Nội tìm cách xích lại gần hơn với cường nước cựu thù để đối phó với sự o ép về nhiều mặt của Bắc Kinh.

Từ sau vụ giàn khoan Hải Dương 981 xâm nhập vùng biển Việt Nam hồi tháng 5 năm ngoái, Bắc Kinh không ngừng thách thức chủ quyền của Hà Nội từ các hoạt động tuần tra, gây hấn, tấn công tàu bè, xây đảo nhân tạo, cho tới đặt các cơ sở quân sự-dân sự kể cả phi đạo và hải đăng tại các khu vực đôi bên đang tranh chấp.

“ Để nắm được cơ hội đó, Việt Nam cần phải dứt khoát. Mỹ đã dọn bàn cổ cho Việt Nam, trong đó có TPP. Việt Nam giờ chỉ cần làm sao chuẩn bị để được hưởng những cái lợi đó. Tôi nghĩ Việt Nam bây giờ đã thấy được giữa cái tương lai và sự nguy hiểm cho đất nước như thế nào.

Giáo sư Ngô Vĩnh Long.”

Các hành động khiêu khích và bất chấp luật lệ của Trung Quốc bị quốc tế lên án là đe dọa hòa bình khu vực cũng như an ninh của các nước lân cận, trong đó có Việt Nam, khiến dân Việt ngày càng mất lòng tin vào người láng giềng ‘4 tốt’.

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam kêu gọi ‘Trong quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, Việt Nam cần hữu nghị với cả hai. Có như vậy, chúng ta mới giữ được thế cân bằng, chủ động, và độc lập’.

Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng Hà Nội không thể có được mối quan hệ tốt ‘song hành’ như mong muốn giữa các tham vọng và hiểm họa gia tăng từ Trung Quốc.

Theo giới phân tích, để tương lai nước Việt không bị định đoạt bởi Trung Quốc, Hà Nội cần nhận rõ đâu là bạn tốt, đâu là kẻ trục lợi mà căng thẳng Biển Đông chính là cơ hội giúp Việt Nam thoát khỏi quỹ đạo của Trung Quốc.

Giáo sư Ngô Vĩnh Long từ đại học Maine (Hoa Kỳ) chuyên nghiên cứu lịch sử Đông Nam Á, Đông Á, quan hệ Mỹ – Á nhận định:

“Để nắm được cơ hội đó, Việt Nam cần phải dứt khoát. Mỹ đã dọn bàn cổ cho Việt Nam, trong đó có TPP. Việt Nam giờ chỉ cần làm sao chuẩn bị để được hưởng những cái lợi đó. Tôi nghĩ Việt Nam bây giờ đã thấy được giữa cái tương lai và sự nguy hiểm cho đất nước như thế nào”.

Luật sư Lưu Tường Quang, một người am hiểu tình hình Biển Đông nguyên là một nhà ngoại giao của Việt Nam Cộng Hòa, bày tỏ kỳ vọng:

“Nếu họ chuyển trục, nếu Hiệp định TPP được Quốc hội Mỹ chuẩn y và có hiệu lực, thì cơ hội  Việt Nam chịu uống thuốc đắng để dã tật, để phần nào bớt lệ thuộc vào Trung Quốc có thể xảy ra. Không những xảy ra về phương diện kinh tế mà cả luôn về mặt chính trị. Tôi hy vọng với sự đe dọa rất lớn từ Trung Quốc, đại hội đảng lần thứ 12 năm 2016 sẽ đi tới một quyết định tương tự như đại hội 6 năm 1986. Nếu những điều này trở thành sự thật, đại hội 12 sẽ có tầm vóc chuyển đổi Việt Nam từ chế độ cộng sản độc tài lệ thuộc Trung Quốc thành một nước Việt Nam độc tài nhưng thân Mỹ. Điều đó có lợi cho đất nước chúng ta, theo nghĩa là chúng ta bớt lệ thuộc vào Trung Quốc”.

“ Tôi hy vọng với sự đe dọa rất lớn từ TQ, đại hội đảng lần thứ 12 năm 2016 sẽ đi tới một quyết định tương tự như đại hội 6 năm 1986. Nếu những điều này trở thành sự thật, đại hội 12 sẽ có tầm vóc chuyển đổi VN từ chế độ cộng sản độc tài lệ thuộc TQ thành một nước VN độc tài nhưng thân Mỹ. Điều đó có lợi cho đất nước chúng ta, theo nghĩa là chúng ta bớt lệ thuộc vào TQ.

Luật sư Lưu Tường Quang.”

Trong số các lý do khiến Hà Nội và Washington chưa thể thật sự xích lại gần nhau có vấn đề nhân quyền Việt Nam và bài học lịch sử từ chiến tranh khi Mỹ bỏ rơi đồng minh Việt Nam Cộng Hòa để bắt tay với Trung Quốc.

Các chuyên gia cho rằng để quan hệ Việt – Mỹ ngày nay được thật sự khắng khít, ngoài việc Việt Nam phải cải thiện nhân quyền, Washington cũng cần tạo lòng tin cho Hà Nội.

Luật sư Quang chia sẻ quan điểm:

“Để Việt Nam tin tưởng hơn vào Hoa Kỳ, Mỹ nên tháo gỡ hoàn toàn lệnh cấm vận võ khí sát thương để giúp Việt Nam có được phương tiện quân sự chống trả Trung Quốc trong trường hợp bị Trung Quốc tấn công bằng đường bộ”.

Nhiều người nói trong nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam hiện chưa thống nhất được chính sách thân Tây hay thân Tàu. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng không có phe thân Tây hay thân Tàu trong ban lãnh đạo đảng, mà chỉ có một phe quyết giữ cho được độc tài của đảng Cộng sản vì lợi ích nhóm.

Mỹ: Con tin trong khu nhà IS được giải cứu lúc sắp bị hành quyết

Mỹ: Con tin trong khu nhà IS được giải cứu lúc sắp bị hành quyết

Thượng sĩ Joshua Wheeler tử thương trong một cuộc tấn công chống lại các nhóm Nhà nước Hồi giáo ở miền bắc Iraq.

24.10.2015

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter cho biết những con tin bị nhốt trong một khu nhà của Nhà nước Hồi giáo ở Iraq đang sắp sửa bị hành quyết thì một cuộc đột kích hỗn hợp của Mỹ và người Kurd hôm thứ Năm giải cứu họ.

Tại một cuộc họp báo hôm thứ Sáu, ông Carter cho biết một nấm mồ đã được chuẩn bị sẵn cho những con tin tại địa điểm này mà ông mô tả là một “trung tâm hành quyết.”

Cuộc đột kích táo bạo tại khu nhà của Nhà nước Hồi giáo ở khu vực Hawijah, phía tây thành phố  Kirkuk, giải thoát khoảng 70 con tin, trong đó có ít nhất 22 thành viên thuộc lực lượng an ninh Iraq.

Cuộc đột kích cũng khiến quân nhân Mỹ đầu tiên tử trận trong chiến dịch kéo dài một năm chống lại những kẻ cực đoan IS. Thượng sĩ Joshua Wheeler tử thương vì hỏa lực của Nhà nước Hồi giáo trong nhiệm vụ này.

Một phát ngôn viên của liên minh do Mỹ dẫn đầu ở Iraq, Đại tá Steve Warren, nói với VOA rằng thượng sĩ Wheeler bị bắn một phát và cho biết rằng lực lượng người Kurd cũng hứng chịu thương vong trong vụ đột kích.

Những binh sĩ Mỹ, “những con người của hành động giữa chiến sự nóng bỏng, đã quyết định giúp đỡ,” ông Warren nói. “Chỉ huy trên thực địa đã ra lệnh tiến vào giúp diệt trừ kẻ thù.”

Ông Warren cho biết bốn con tin đã  bị hành quyết ở khu nhà này ngày hôm trước. “Đây là cuộc đột kích đầu tiên thuộc loại này và kịch tính như vậy” bởi vì nó diễn ra “đằng sau giới tuyến của kẻ thù, giải cứu con tin,” ông nói.

Mặc dù thượng sĩ Wheeler thiệt mạng, Ngũ Giác Đài phủ nhận quân đội Mỹ đang trực tiếp chiến đấu tại Iraq. Một quan chức quốc phòng cao cấp của Mỹ cho biết hàng chục chiến binh người Kurd và Mỹ đã tham gia vào nhiệm vụ giải cứu tối thứ Tư và sáng thứ Năm, phối hợp với chính quyền khu vực người Kurd của Iraq.

Thượng sĩ Wheeler trúng đạn súng nhỏ trong cuộc đột kích, Bộ Quốc phòng Mỹ nói. Anh thuộc đơn vị hoạt động đặc biệt của Lục quân Mỹ đặt ở Fort Bragg, bang North Carolina.

 

MẤT CẮP

MẤT CẮP

 Phạm Đình Trọng

Nhà thơ bị mất cắp một bài thơ thì cả thế giới mạng người Việt xôn xao như cả thế giới người Việt bị mất cắp thơ, dồn dập lên tiếng. Cả hệ thống báo chí lề Dân, lề Đảng vào cuộc vụ mất cắp thơ nhỏ nhặt. Những nhà nọ, nhà kia, học giả, học thật xúm vào vụ mất cắp thơ cỏn con.

Nhân dân bị mất cắp trắng tay thì chỉ có số ít người đau đớn, xót xa lên tiếng trong lẻ loi, đơn độc, giữa trùng trùng bạo lực hung hãn đàn áp.

Nhân dân bị đánh cắp mất quyền làm chủ đất nước, quyền làm chủ giang sơn gấm vóc, quyền làm chủ nhà nước. Quyền lực Nhân dân cũng như Hiến pháp đất nước là những giá trị tối cao của một quốc gia bảo đảm sự lành mạnh, ổn định và bền vững của đất nước thì cả quyền lực Nhân dân và Hiến pháp đất nước đều bị đánh cắp.

Hiến pháp là văn bản pháp luật nền tảng của luật pháp đất nước. Hiến pháp bảo đảm quyền lực của Nhân dân được thực thi trong cuộc sống, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân với đất nước và xã hội thì Hiến pháp đã trở thành Đảng pháp (Đảng quy). Chỉ một Điều 4 trong các bản Hiến pháp của nhà nước Cộng sản Việt Nam đã chuyển giao toàn bộ quyền lực của Nhân dân cho đảng Cộng sản. Hiến Pháp bị đánh tráo. Quyền lực của Nhân dân bị đánh cắp.

Nhân dân mất Hiến pháp, mất quyền lực là mất tất cả. Mất trắng mắt, trắng tay. Mất từ cái riêng đến cái chung. Mất quyền sở hữu mảnh đất hương hỏa của cha ông. Mất những giá trị làm Người. Mất quyền Công dân. Người Dân vẫn cầm lá phiếu đi bầu cử nhưng chỉ là rô bốt, bầu theo ý quyền lực đã định trước. Đến mất cả quyền làm chủ giang sơn, làm chủ vận mệnh đất nước. Người Dân sống trên mảnh đất của cha ông mình để lại, sống trên mảnh đất mồ hôi xương máu của chính mình gây dựng lên mà như sống tạm, sống nhờ, được ngày nào biết ngày đó. Người Dân sống trên quê hương đất nước máu thịt của mình có lịch sử oai hùng do cha ông mình và chính năm tháng cuộc đời mình viết lên mà như kẻ lưu vong nơi đất khách quê người.

Gần ngàn tờ báo các loại. Báo giấy. Báo tiếng. Báo hình. Trong đó có hàng trăm tờ báo sống nhởn nhơ bằng tiền thuế của Dân. Nhân dân bị mất đau như vậy, các tờ báo đều làm ngơ.

Hàng trăm ngàn trí thức được học hành trong nước, ngoài nước nhờ tiền thuế của Dân, nhận lương lậu bổng lộc hậu hĩ từ tiền thuế của Dân. Dân bị mất đau như vậy, trí thức ngậm miệng ăn tiền.

Báo chí làm ngơ, trí thức ngậm miệng trước nỗi đau của Nhân dân, của dân tộc bởi vì chính họ cũng bị mất cắp cái lớn lao, quí giá là quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận. Cái lớn, cái quí của chính mình cũng bị mất cắp mà không kêu được thôi đành la lối những cái mất cắp vặt vãnh mà quên đi cái mất cắp không dám kêu!

P.Đ.T.