Có những nhà văn như thế đấy!

Có những nhà văn như thế đấy!

Tạp ghi Huy Phương

Hồ Anh Thái, sinh năm 1960 tại Hà Nội, là một nhà văn đương thời của Việt Nam, từng là chủ tịch Hội Nhà Văn Hà Nội trong vòng 10 năm, tác giả của gần 30 tác phẩm và đoạt bốn giải thưởng “nội địa.” Ông được xem thuộc thế hệ nhà văn thời hậu chiến và là một nhà ngoại giao, tiến sĩ Văn Hóa Đông Phương, hiện giữ chức vụ phó đại sứ Việt Nam tại Iran.

Nói về Hồ Anh Thái, Anh Chi, trong tạp chí Nghiên Cứu Văn Học Hà Nội đã ca tụng: “Bây giờ nhìn nhận hiện tượng văn chương Hồ Anh Thái, chúng tôi nghĩ, anh đã và đang tiếp tục sáng tác những tác phẩm chứa đựng nhiều phẩm chất văn hóa,” hay “…Với lao động sáng tạo liên tục và mang tính chuyên nghiệp, anh đã thể hiện bản lĩnh của một nhà văn hàng đầu ở Việt Nam trong thời đại văn chương nước ta hội nhập với văn chương thế giới!” Nói chung Hồ Anh Thái được ca tụng như một nhà văn lớn, có tầm cỡ quốc tế của Việt Nam.

Như vậy, khi Bắc Việt chiếm miền Nam, Hồ Anh Thái mới 15 tuổi, chưa đến tuổi ra trận, trước 1975 chỉ mới là loại thiếu nhi khăn quàng đỏ, đánh trống ếch và thuộc lòng “ai yêu bác Hồ Chí Minh bằng các em nhi đồng,” bị nhiễm độc bằng lối tuyên truyền xảo trá Mỹ đang xâm lược miền Nam và lính ngụy là bọn ăn thịt người. Thời nhỏ, có thể Hồ Anh Thái mục kích cảnh máy bay Mỹ dội bom xuống Hà Nội, thấy lửa cháy và những cái chết, muốn trở thành nhà văn, nhưng nếu muốn viết về chiến tranh, phải cần có kinh nghiệm sống, hay học hỏi, nghiên cứu, chứ không phải qua những câu chuyện kể của những người đi xâm lược miền Nam trở về sau ngày 30 Tháng Tư, 1975.

Khi đã trở thành người thắng cuộc, ai cũng là anh hùng, người lính có bao nhiêu điều phấn khởi, hả hê, khoác lác để kể chuyện cho bọn trẻ đang ngóng tai nghe. Một trong những đứa trẻ ấy lớn lên trở thành một nhà văn viết về chiến tranh, mà kinh nghiệm sống là chỉ cần nghe những kẻ bốc phét, hoang tưởng, kể lại những chuyện không có được một phần nghìn sự thật.

Câu chuyện lính ngụy ăn gan người, uống máu có lẽ đã được mô tả trong nhiều tác phẩm của các nhà văn miền Bắc trong và sau chiến tranh, chỉ với mục đích gây lòng căm thù cho quần chúng, nhưng nhà văn mới lớn sau 1975, Hồ Anh Thái đã đi quá đà, thêm câu chuyện moi gan, ăn tim bằng cách mô tả lính ngụy “quay” tử thi Việt Cộng, rồi “róc thịt uống rượu!” như sau:

“Hai ngày sau bọn địch phản công. Cả trung đội mình bị bằm nát. Thằng Thiết bị đạn găm đầy mình, vừa đưa tay ấn ruột vào, vừa bóp cò. Bọn ngụy ào lên như lũ quỷ, quyết bắt sống thằng Thiết. Như sau này anh em trinh sát kể lại, chúng quay thằng Thiết như quay một con lợn rồi róc thịt uống rượu trả thù cho đồng đội.”

Trong một cảnh khác, lính ngụy không quay Việt Cộng như quay heo, mà chỉ nổi lửa để nướng tim, gan ăn tại chỗ, đặc biệt trí tưởng tượng của nhà văn bắt đầu đi đến chỗ điên khùng khi viết: “Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp cao hơn.”

“…Cuối cùng, điều Hoa không ngờ đã tới. Cô chỉ nghĩ rằng bọn thám báo sẽ lôi Hùng đi làm tù binh để tiếp tục lấy khẩu cung. Nhưng thằng cầm con dao găm của anh đã cúi xuống rạch một đường thành thạo trên bụng Hùng. Anh quằn quại hét lên một tiếng rùng rợn. Ở trên cao, Hoa nghiến chặt răng gần như ngất đi. Hai thằng kia đè chặt chân tay Hùng cho thằng mổ bụng moi tim gan ra. Chúng nổi lửa nướng tim gan ăn ngay tại chỗ. Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp cao hơn.”

Hồ Anh Thái có thể chỉ nghe kể lại qua một nhân vật ngôi thứ ba, với chuyện lính ngụy quay người, moi tim gan uống rượu, nhưng với Dương Thu Hương, như lời người kể chuyện thật với nhân vật “chúng tôi” nói về lính thám báo miền Nam, hiếp dâm, xẻo vú và cửa mình thanh nữ xung phong miền Bắc:

“…Chúng tôi hướng vào góc rừng đã tỏa ra mùi thối khủng khiếp mà đi. Tới vực cô hồn, gặp sáu cái xác truồng. Xác đàn bà. Vú và cửa mình bị xẻo, ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh.

Nhờ những tấm khăn dù, nhờ những chiếc cổ áo sơ mi kiểu lá sen tròn và hai ve nhọn mà chúng tôi nhận ra đấy là những người con gái miền Bắc. Có lẽ họ thuộc một binh trạm hoặc một đơn vị thanh niên xung phong cơ động nào đó bị lạc. Cũng có thể họ đi kiếm măng hoặc rau rừng như chúng tôi rồi vấp bọn thám báo.

Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết! Những cái xác bầm đập méo mó! Da thịt con gái nõn nà tươi thắm vậy mà khi chết cũng thối rữa y như da thịt một lão già phung lỡ hay một con cóc chết!” (tiểu thuyết Vô Đề)

Phải chăng vì bọn ngụy ác độc, man rợ như vậy nên miền Bắc có quyền vẽ lên hình ảnh “người lính cụ Hồ” đáp lễ với những cách người hả hê, khát máu, để làm gương cho cả một thế hệ sôi sục vì căm thù:

“Quân ta ào lên, bắt giết, đâm, giẫm đạp. Một mụ ngụy cái, ngực để trần, miệng há ra ú ớ. Niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực mình. Mình găm vào ngực mụ cả loạt khiến ngực mụ vỡ toác mà mặt mụ vẫn chưa tắt hy vọng. Giết người lúc ấy sao thấy sướng thế! Một thằng ngụy bị mình xọc lê vào bụng, nghe ‘thụt’ một cái. Mình nghiến răng vặn lê rồi trở báng súng phang vào giữa mặt hắn. Hắn lộn một vòng, gồng mình giãy chết như con tôm sống bị ném vào chảo m…ỡ.” (Tạ Duy Anh, “Đi Tìm Nhân Vật,” tiểu thuyết, NXB Văn Hóa Dân Tộc, 2002.)

Tôi ở miền Nam, không biết ngoài mặt trận “con ngụy cái” này là ai, vì chúng tôi không có nữ quân nhân tham chiến, không lẽ đây là một người đàn bà trong ngôi làng, một cán bộ Xây Dựng Nông Thôn để lính Bắc Việt trút hết nỗi căm hờn và thỏa mãn thú tính lên cao độ như thế, một con chó cắn người hay một con cọp vồ mồi cũng không “thú” hơn” là chất “thú” của một người lính Việt Cộng?

– “Giết người lúc ấy sao thấy sướng thế!”

Ở ngoài mặt trận, không giết người thì người giết. Nhưng giết người mà thấy khoái cảm thì nhân loại chỉ thấy có người lính Bắc Việt. Ngay cả ISIS cắt cổ người cũng không có cái hả hê như thế! Tạ Duy Anh còn không che đậy, nói rằng “niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực mình!” Thì ra thế là đấu tranh, không phải tạo hạnh phúc cho người khác, mà là nếu họ hạnh phúc hơn mình, hãy giết hết họ, chẳng qua vì lòng ganh ghét.

Đó là nguyên nhân rõ ràng của “cải cách ruộng đất,” vì họ giàu hơn mình, của “thảm sát Mậu Thân,” vì họ sướng hơn mình.

Với Tạ Duy Anh “giết người thấy sướng,” đối với Dương Thu Hương “với khoái cảm không che đậy”:

“…Hùng thường nghĩ ra những cách giết người đặc sắc trong các trận giáp lá cà. Và gã kể lại cho đồng đội nghe với khoái cảm không che đậy. Kẻ thì gã xọc lê từ họng xuống tim, kẻ gã chọc từ nách bên phải qua bên trái, kẻ gã lại đâm từ hạ bộ ngược lên ở bụng. Kỳ thú nhất là một lần đánh ấp, gã bò vào phòng riêng một tên sĩ quan ngụy, chờ tên này dính chặt với cô vợ trắng phôm phốp của y như một cặp cá thờn bơn, gã mới phóng lê từ trên xuống. ‘Một xọc xuyên hai, bảo đảm là sướng mắt…’” (TTVĐ- chương 11)

Một sự thèm khát đầy dục vọng, ở đây Dương Thu Hương rất giống Tạ Dụy Anh hay Tạ Duy Anh rất giống Dương Thu Hương, ở chỗ “niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực.”

Đó là chưa nói đến chuyện bừa bãi, vô lý trong tình tiết một tên bộ đội bò “vào phòng riêng một tên sĩ quan ngụy,” “bị đạn găm đầy mình, vừa đưa tay ấn ruột vào, vừa bóp cò,” thám báo hoạt động trong lòng địch mà nổi lửa quay người hay hiếp dâm, xẻo vú!

Chuyện căm thù, dã man của người lính miền Bắc đã để lại trong một câu chuyện có thật, đó là cái chết của nhà văn Y Uyên, người sĩ quan của TK Bình Thuận năm 1966.

“Trên thân xác của Uy, khi chở về quân y viện, có những dấu đạn thừa, những dấu dao vô lối. Những dấu đạn, vết dao không thể cắt nghĩa được. Nếu không phải là chúng có từ những thù hận ghê gớm, những chất ngất căm hờn, thì không thể làm sao tìm ra lý do giải thích sự hiện diện của chúng trên thân hình một người đã chết.”

Tôi xin nhường sự phê phán ấy cho một nhà văn miền Nam:

“Tôi không hiểu bằng cách nào, trong cuộc chiến tương tàn, ròng rã hơn 20 năm này, những người lãnh đạo Cộng Sản đã dạy cho binh lính của họ như thể nào để lòng thù hận chất ngất mênh mông đến thế? Tôi chấp nhận những viên đạn thứ nhất là hợp lý – Ừ, thì cứ cho là hợp lý. Nhưng những viên đạn bắn bồi, những nhát dao đâm thêm trên một xác thân đã chết là những viên đạn, những nhát dao không thể cắt nghĩa, không thể chấp nhận được. Những người Cộng Sản Việt Nam đã làm những điều dã man như thế, khởi đi từ lòng thù hận, từ sự cuồng tín.” (“Núi Tà Dôn và Dấu Chân Uy” của Lê Văn Chính -Tạp Chí Văn, số 129, phát hành ngày 1 Tháng Năm, 1969)

Bốn mươi năm đã trôi qua, bây giờ người ta đang nói chuyện “hòa hợp hòa giải,” “khép lại quá khứ,” nhưng sau 40 năm cũng là lúc đã nhìn rõ mặt nhau. Có những nhà văn như thế đấy! Nếu có một cuộc xét lại, những nhà văn miền Bắc sẽ nghĩ gì về những tác phẩm “hoang tưởng” như thế? Và dù sao thì nó cũng đã để lại những vết dơ của nền văn hóa XHCN, còn ảnh hương lâu dài đến những nhận thức của những lớp người mới lớn lên sau khi Sài Gòn đổi tên.

Để kết luận bài này tôi xin ghi lại những câu thơ đầy lương tri của miền Nam viết trong chiến tranh:

“…Xem chiến cuộc như tai trời ách nước.
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi.”
(Nguyễn Bắc Sơn)

“…Trời ơi, những xác thây la liệt
Con ai, chồng ai, anh em ai?”
(Tô Thùy Yên)

Khi lãnh tụ vĩ đại vốn là kẻ bán nước?

Khi lãnh tụ vĩ đại vốn là kẻ bán nước?

RFA

Sự thật của lịch sử luôn luôn ẩn dấu rất nhiều điều bí mật, đôi khi sự tiết lộ của lịch sử cũng làm sụp đổ niềm tin và khiến nhiều người thất vọng hoàn toàn về thần tượng của mình. Kết quả như thế thường xảy ra ở các quốc gia độc tài, với lối tuyên truyền nhồi sọ và bưng bít thông tin, trong đó có cả Việt nam.

Mới đây ngày 30/9/2015, dư luận ở Việt nam đã xôn xao trước tin ông Hà Huy Hoàng, cựu phóng viên báo Thế giới và Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại giao, bị Tòa án Nhân dân TP Hà Nội kết án 6 năm tù vì cung cấp thông tin cho tình báo Trung Quốc. Điều đáng nói ở đây là trong các bình luận thì hầu hết người ta đều nguyền rủa ông Hà Huy Hoàng vì tội làm gián điệp cho Trung quốc, mà theo họ đó là điều nhục nhã và là vết nhơ muôn đời không thể rửa sạch. Có nghĩa là cho dù bất cứ nguyên nhân hay động cơ gì, thì việc làm gián điệp cho nước ngoài là điều người Việt nam không thể chấp nhận được.

Lâu nay, trong suy nghĩ của đa số người Việt nam, đặc biệt là những người lớn lên ở miền Bắc thì họ luôn được giáo dục rằng, cùng với Mark và Engels thì Lê nin là lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nông và nhân dân lao động trên toàn thế giới, là người thầy của cách mạng Việt nam v.v.. và v.v… Tuy vậy từ khi xuất hiện mạng thông tin internet thì mọi bí ẩn về vị lãnh tụ “đáng kính” này cũng dẫn dần bị tiết lộ. Ví dụ, bằng chứng cho rằng Lê nin chết vì bệnh giang mai, theo đó vào năm 2004 một nhóm bác sĩ Do Thái đã công bố một bài báo, dựa theo các triệu chứng ghi trong hồ sơ bệnh án của Liên Xô, họ đưa ra giả thuyết rằng Lenin đã mắc bệnh giang mai hơn 10 năm trước khi qua đời.. Đồng thời sau khi khảo sát các tài liệu và hồ sơ bệnh án của Lênin, Nhà sử học Helen Rappaport cũng đặt ra giả thuyết rằng ông đã chết vì bệnh giang mai, lây truyền từ một cô gái điếm ở Paris. Và giả thiết này vẫn tiếp tục tồn tại cho tới nay.

Hôm nay tình cờ được đọc trên trang Đại kỷ nguyên VN bài viết với tựa đề “Lênin làm gián điệp cho Đức được đưa vào sách giáo khoa ở Nga”, với nội dung cụ thể như sau:

Lênin làm gián điệp cho Đức được đưa vào sách giáo khoa ở Nga

Trong Thế chiến thứ nhất (1914 – 1918), nước Đức đã dùng thủ đoạn chiến tranh phi quân sự bằng cách mua chuộc phản đồ, gián điệp từ nước Nga, đối tượng mua chuộc chính là Lênin. (Ảnh: internet)
Gần đây, sách giáo khoa lịch sử thuộc cấp trung học phổ thông ở Nga đã phát hành phiên bản mới với một số sửa đổi quan trọng, trong đó nổi bật là việc cho rằng Liên Xô thuộc thời đại Lênin là một “địa ngục” và vạch trần bộ mặt thật của Lênin trong Thế chiến thứ nhất là nội gián của Đức.
Tài liệu chỉ ra: Trong Thế chiến thứ nhất (1914 – 1918), nước Đức đã dùng thủ đoạn chiến tranh phi quân sự bằng cách mua chuộc phản đồ, gián điệp từ nước Nga, đối tượng mua chuộc chính là Lênin, kẻ ngông cuồng muốn tận dụng cơ hội chính phủ Nga trong lúc khó khăn để lật đổ một cách hợp pháp và lên nắm quyền.
Từ 1915, nước Đức luôn đứng sau yểm trợ cho Lênin.
Năm 1917, Lênin lưu vong ở nước ngoài đã ngồi “chuyến tàu kín” do nước Đức bố trí, có binh lính hộ tống đi tới Peterborough. Ngày 8/4, Bộ Tổng tham mưu Đức đã báo cáo với Hoàng đế Đức khi đó là Wilhelm II rằng: “Lênin đã trở về Nga thuận lợi. Ông ta quả thực đã làm đúng ý của chúng ta.”[ads1]
Theo thống kê, nước Đức đã chi 50 triệu mác (khoảng hơn 9 tấn vàng) hỗ trợ Lênin làm “cách mạng”. Sách lược của người Đức đã thành công, cuối cùng nhờ công ơn của nước Đức mà Lênin đã làm “cách mạng” thành công, giành được chính quyền. Còn nước Đức cũng được trả ơn gấp hàng ngàn lần: “Hai nước Nga – Đức cuối cùng đã đình chiến làm hòa, Lênin không quan tâm đến thực trạng kiên quyết phản đối trong nội bộ Đảng (gồm cả nội bộ Bolshevik), đã ký kết Hiệp ước Brest với nước Đức, cắt 1 triệu km2 để bồi thường đền ơn 6 tỷ mác mà người Đức chi viện giúp đỡ.”
Sự thực lịch sử này nhân dân thế giới, gồm cả người Nga, hầu như đều biết, nhưng việc chính quyền Nga đưa vào sách giáo khoa lịch sử hiện nay là một tiến bộ lớn của lịch sử nước Nga.

Tóm tắt nội dung của bài viết cho thấy, Lê nin đã nhận tiền từ nước Đức 50 triệu mác (khoảng hơn 9 tấn vàng) để làm cách mạng ở Nga vào năm 1917 và sau khi nắm được chính quyền thì ông ta đã trả ơn nước Đức gấp hàng ngàn bằng cách cắt 1 triệu km2 để đền bù 6 tỷ mác để bồi thường và đền ơn cho người Đức do đã chi viện giúp đỡ. Nói tóm lại là Lê nin đã từng là một kẻ bán nước.

Thực ra về khách quan mà nói, một thông tin từ trang Đại kỷ nguyên VN thì cũng chưa có gì để đảm bảo rằng chuyện “Lênin làm gián điệp cho Đức được đưa vào sách giáo khoa ở Nga” đó là thông tin xác thực 100%. Tuy vậy nếu đối chiếu với các thông tin mà chúng ta đã từng biết đến nay, thì chuyện Lênin làm gián điệp cho Đức đều có cơ sở cả. Những chuyện như: Cuộc Cách mạng tháng 2 năm 1917 lật đổ chế độ Sa Hoàng và thiết lập một Chính phủ Lâm thời; chuyện Lê nin lưu vong ở Đức và được nước Đức yểm trợ để đưa về Nga làm Cách mạng Tháng 10/1917, vì nước Đức đã hy vọng Lenin sẽ gây ra tình trạng bất ổn chính trị ở Nga giúp Đức có thể chấm dứt chiến tranh tại Mặt trận phía Đông; Lê nin đã làm cách mạng để lật đổ Chính phủ Lâm thời; chuyện vào lúc ấy, Kerenskii và những người đối lập khác trong Bolshevik cũng đã từng buộc tội Lenin là một điệp viên ăn lương của Đức và nhận một khoản tài trợ lớn để làm cách mạng vô sản… đã được ghi rất rõ trong lịch sử nước Nga.

Tuy vậy cũng theo sử liệu thì, theo ghi nhận trên giấy tờ, trong các năm 1915 – 1917, có đến ba lần Parvus – một nhà tư bản người Đức đã tìm cách bắt liên lạc với Lenin, với mong muốn hỗ trợ tiền bạc. Thế nhưng, Parvus cả ba lần đã không thành công. Nghĩa là thông tin Lê nin làm gián điệp cho Đức còn là điều đang tranh cãi. Song đến lúc này, nếu quả thực là sách giáo khoa của Nga chính thức đưa điều này vào sách học là chuyện có thật thì chuyện Lê nin bán nước chắc chắn là một sự thật.

Đảng CSVN luôn luôn coi Lê nin là người thầy của cách mạng Việt nam và tượng Lê nin từ lâu đã được dựng sừng sững tại trung tâm thủ đô Hà nội, thì khó tránh khỏi việc có một số người cho rằng Đảng CSVN đã tôn thờ kẻ từng làm gián điệp cho ngoại bang và nghiêm trọng hơn đó lại là một kẻ bán nước. Một câu hỏi sẽ được đặt ra rằng: Phải chăng, tôn thờ kẻ bán nước như Lê nin, thì các học trò Việt nam trước kia và hôm nay chắc cũng phải có các hành động tương tự?

Sở dĩ chưa khẳng định chắc chắn, vì đến nay sự thật lịch sử chưa được công bố rõ ràng, trong khi lâu nay vẫn có nhiều tài liệu đã khẳng định ông Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là gián điệp của Quốc tế Cộng sản, từng là Thiếu tá trong quân đội Bát lộ quân của Mao Trạch Đông hay còn nhiều chuyện khác nữa. Đồng thời cũng có nhiều bằng chứng cho thấy để tổ chức hoạt động để tiến tới giành quyền lực chính trị cho mình, ông Hồ Chí Minh và Đảng CSVN đã nhận tiền từ nước ngoài.

Cụ thể là trong Hồi kí Nguyễn Đăng Mạnh, tại Phần II, Chương VII: Hồ Chí Minh, tác giả có viết rõ thế này:

Đến xã Túc Vinh, huyện Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây thì bị bọn Hương cảnh Trung Quốc bắt (ngày 27-8-1942).
Không phải ông Hồ không có giấy tờ hợp lệ. Hồ Chí Minh không thể sơ xuất như thế được. Hồ Chí Minh bị bắt vì khám trong người, cảnh sát Tầu phát hiện có rất nhiều đôla. Nghe nói hồi ở Pắc Bó, có người đã thấy ông phơi đôla cho khỏi ẩm mốc. Bây giờ qua Trung Quốc, ông đem đôla đi để mua vũ khí cho Việt Minh.
Nhưng cảnh sát Tầu cho là Hán gian, là gián điệp của Nhật lúc bấy giờ đang đánh Trung Quốc. Chỉ có gián điệp mới có đôla thôi chứ, người dân Trung Quốc bình thường làm gì có lắm ngoại tệ thế! Điều này tác giả Nhật kí trong tù cũng đã nói rõ trong thơ của mình:
Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng
Lại bị tình nghi là Hán gian

(“Đường đời hiểm trở”)

Hôm nay xiềng sắt thay dây trói,
Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung;
Tuy bị tình nghi là gián điệp,
Mà như khanh tướng vẻ ung dung.

(“Đi Nam Ninh”)

Vấn đề được đặt ra ở đây là, vào thời điểm đó thì ông Hồ Chí Minh lấy đâu ra tiền đô la để sang Trung quốc mua vũ khí? Số tiền đô la ấy không thể có do ông Hồ in tiền giả hay lao động mà có được, mà chắc chắn số tiền này phải được cung cấp từ một cơ quan tình báo nước ngoài.

Sở dĩ hôm nay nói đến chuyện nhận tiền của nước ngoài đề hoạt động chính trị, là vì hiện nay cơ quan tuyền truyền của nhà nước Việt nam và các bạn Dư Luận viên luôn lên tiếng phản đổi và phỉ báng các nhà hoạt động dân chủ vì tội nhận tiền từ nước ngoài để tiến hành các hoạt động, thậm chí họ không ngại ngần chụp mũ rằng các nhà hoạt động dân chủ chỉ vì tiền. Song nếu như hiểu rằng rằng tiền bạc luôn là phương tiện cho mọi hành động hay việc làm, kể cả hoạt động chính trị và làm cách mạng để thực hiện hoài bão lớn lao của họ thì có lẽ chẳng có lý do gì để chê trách họ cả. Vấn đề là ở chỗ, nếu hiểu chính trị là các vấn đề xung quanh việc giành và giữ quyền lực, thì một khi nếu ai đó có ý đồ đấu tranh để nhằm tranh giành quyền lực với Đảng CSVN hiện nay, thì chính quyền cứ chiểu theo luật pháp mà trừng trị. Chứ không thể cứ khơi khơi chụp mũ một cách vô căn cứ như vậy.

Nếu hiểu làm gián điệp là hành động để chỉ những kẻ nhận tiền của nước ngoài để tiến hành các hoạt động mang lại lợi ích cho mình và ngoại bang, là điều được hầu hết người Việt nam coi là hết sức xấu xa. Tuy vậy, lịch sử cũng như đồng tiền có 2 mặt và mặt tốt luôn thuộc về kẻ nắm quyền. Nghĩa là những lãnh tụ cách mạng của chế độ đương đại luôn luôn là những vĩ nhân, là những nhà cách mạng kiệt xuất. Không chỉ thế, họ còn là những tấm gương bắt buộc cho toàn dân học tập và noi theo.

Nhưng một khi sự thật lịch sử bị bạch hóa, phơi bầy hoặc có sự thay đổi thể chế chính trị thì các thần tượng “vĩ đại” đó sẽ trở thành những kẻ tội đồ của dân tộc. Lúc ấy sẽ thấy, hình tượng lãnh tụ vốn được đánh bóng, tô vẽ quá mức sẽ trở thành cái họa và cáng bị người ta nguyền rủa.

Ngày 03/10/2015

© Kami

Tùy Bút Võ Phiến – Rụp Rụp

Tùy Bút Võ Phiến – Rụp Rụp

tuongnangtien

RFA

Võ Phiến (1925 – 2015)

L.T.Đ: Từ California, nhà văn Phạm Xuân Đài vừa cho biết một tin buồn:

“ Võ Phiến đã qua đời vào lúc 7 giờ tối ngày 28 tháng Chín, 2015, tại Advanced Rehab Center of Tustin, Santa Ana, thọ 90 tuổi…

Nhà văn Võ Phiến là một tác giả quan trọng của văn học Việt Nam từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Trước 1975 ông là công chức thuộc bộ Thông Tin của Miền Nam, và đã cộng tác với tạp chí Bách Khoa cho đến 1975 với bút danh Tràng Thiên (một bút danh chung cho nhiều tác giả, nhưng từ sau 1965 hầu như chỉ dành cho một mình ông). Ông sang Hoa Kỳ từ 1975 và làm việc cho tòa Hành Chánh quận Los Angeles, California cho đến ngày về hưu. Tại hải ngoại, ông vẫn tiếp tục viết sách và cộng tác với các tạp chí văn học. Từ cuối thập niên 1970 ông đã chủ trương tờ Văn Học Nghệ Thuật, là tiền thân của tạp chí Văn Học sau này.

Võ Phiến là một tác giả đa dạng. Ông viết truyện ngắn, truyện dài, tạp luận, tùy bút, lý luận và phê bình văn học. Các tác phẩm đã xuất bản của ông gồm có, về truyện ngắn và tiểu thuyết: Chữ Tình, Người Tù, Mưa Đêm Cuối Năm, Về Một Xóm Quê, Đêm Xuân Trăng Sáng, Giã Từ, Thương Hoài Ngàn Năm, Thư Nhà…; về tùy bút, tạp bút: Tạp bút I, II, III, Đàn Ông, Ảo Ảnh, Phù Thế, Chúng Ta Qua Cách Viết, Đất Nước Quê Hương, Tùy bút I, II, Đàm Thoại v.v… Tại hải ngoại, ông đã bỏ công sức trong nhiều năm trời để soạn bộ Văn Học Miền Nam Tổng Quan nhằm lưu giữ nền văn học miền Nam đã bị Cộng Sản thiêu hủy từ sau 1975.”

Để tưởng niệm một vì sao vừa khuất, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một tuỳ bút tiêu biểu của ông. Bài viết này được trích từ tập Đất Nước Quê Hương, do nhà Lửa Thiêng xuất bản lần vào năm 1973.

Tưởng Năng Tiến

Ông Bình Nguyên Lộc quả quyết rằng trong một bàn ăn mười ba người, gồm mười hai người Việt và một người Hoa, đồng vóc dáng, đồng trang phục, ngồi im không nói, ông cũng phân biệt được kẻ Việt người Hoa.

Như vậy đã là tài, nhưng ông còn đi xa hơn: có thể nhìn hình dáng mà phân biệt được người Tàu Phúc Kiến với người Tàu Quảng Ðông, người Tàu tỉnh này với người Tàu tỉnh khác.(1)

Cũng trong quán ăn, trong khi chờ đợi tô hủ tiếu, tôi có dăm ba lần theo dõi cử chỉ của người làm bếp, và chợt lấy làm ngạc nhiên về một nhận xét. Không phải ngạc nhiên về chuyện suy tưởng nhân chủng ưa liên quan với các tiệm ăn quán nhậu. Mà là vì tôi có cảm tưởng đôi khi có thể nhìn mà phân biệt một người Việt miền Nam với một người Việt miền Trung, tức một đồng bào ở miền ông Bình Nguyên Lộc với một đồng bào ở miền tôi. Nói cách khác, tôi có cảm tưởng mình cũng… tài giỏi như ông Bình Nguyên Lộc: cái mới kỳ cục!

Một buổi trưa, tại Cần Thơ, trong ngôi quán ở đầu một ngõ hẻm gần bến xe Lam, lần đầu tiên tôi chú ý đến điệu bộ có vẻ ngộ nghĩnh của người chủ quán.

Ngôi quán khá chật và tối. Giữa trưa, trong quán vẫn có ngọn điện vàng cạch thả toòng teng trên đầu người chủ. Người này mặc mai-ô quần lính, đầu đội chiếc mũ địa phương quân rộng vành, chân mang đôi giày da đen, không vớ. Tại sao phải giày và mũ trong một chỗ kín như thế? Có thể chỉ là một thói quen, hay chỉ là một trường hợp ngẫu nhiên nào đó, tức một chi tiết không có ý nghĩa gì. Tuy vậy tôi vẫn ghi lại, vì hình ảnh ấy tưởng còn hiển hiện trước mắt tôi lúc này. Hình ảnh một người khỏe mạnh, nhanh nhẹn, và làm việc hào hứng.

Mỗi người có một cách biểu lộ sự hào hứng. Riêng cái cách của người chủ quán hôm ấy, trời ơi, trông mà mê. Hai tay ông ta thoăn thoắt: chặt khúc xương, xắt lát thịt, gắp mớ ớt, múc vá nước từ trong thùng đổ ra tô, xóc xóc mớ hủ tiếu vừa mới trụng qua nước sôi, rắc một tí tiêu bột v.v. Tất cả bấy nhiêu cử chỉ đều rập ràng, hơi có vẻ nhún nhẩy. Mỗi cái quơ tay, cái nhấc lên hạ xuống đều như có gì quá mức cần thiết một chút. Mỗi cử chỉ bao hàm bảy tám phần cần thiết, lại thêm vài ba phần thừa thãi, chỉ để cho đẹp mắt, để biểu diễn sự thích thú trong công việc. Ðộng tác nghề nghiệp gần chuyển thành sự múa men. Một điệu vũ ca ngợi lao động.

Ðứng bên chủ quán là bà vợ, tôi đã tưởng bà làm công việc chạy bàn. Nhưng không: Lúc một cậu bé gầy gầy cưỡi chiếc xe đạp vụt về trước cửa, xách vào cục nước đá, thì đã rõ đây mới là người chạy bàn chính thức; người đàn bà chỉ tạm thời thay thế cậu ta trong chốc lát.

Khi đã đủ một vợ một con bên mình, chủ quán điều động càng hào hứng:

– Bàn trong. Một nhỏ một lớn. Rồi! Bưng.

– Bàn ngoài, số một. Tô lớn, khô. Rồi! Bưng, bàn số một.

– Bàn số ba tính tiền. Tám chục với ba lăm là trăm mười lăm. Trăm mười lăm với tám đồng là trăm hăm ba. Trăm rưởi trừ trăm hăm ba, còn lại…

Bà vợ nhắc:

– Hăm bảy.

– Hăm bảy. Nè!

Ông ta đưa món tiền lẻ, cậu con mang ra cho khách. Rảnh tay, ông ta chặt một miếng cánh gà, nho nhỏ, quăng gọn vào mồm, nhai. Lại nhanh nhẹn chặt luôn miếng khác, trao cho vợ. Người đàn bà thụt né vào sau cánh cửa; ăn xong lại ló ra, sẵn sàng…

– Tô nước, tô khô. Bàn số hai. Rồi!

Cứ thế, chủ quán làm việc, cắt đặt công việc, điều khiển vợ con v.v., điệu bộ vẫn lại cứ như có gì thừa thãi một chút. Bảy tám phần cần thiết, đôi ba phần để bày tỏ sự hài lòng, để biểu diễn sự hoạt động ăn khớp của một tổ chức hoàn hảo, một bộ máy hợp khuôn rập, chạy đều ro ro.

Vừa rồi có lẽ đã có sự lạm dụng: hầu hết mỗi câu nói của người chủ quán đều có một tiếng “rồi”. Nếu tôi ghi nhớ sai, ấy là vì đã quá chú ý đến tiếng đó. Nhưng hay nhất, ngộ nhất lại là cái tiếng “rồi” tưởng tượng phát ra từ mỗi cử chỉ. Mỗi cử chỉ – ngắt cọng rau, xóc mớ hủ tiếu v.v. – đến chỗ sau cùng thường được gằn mạnh. Như thể một tiếng “rồi” phát ra bằng động tác thay vì bằng âm thanh: Một tiếng câm.

Dầu sao lần ấy tôi không có một đối tượng quan sát im lặng như ông Bình Nguyên Lộc; nhưng các lần sau này thì họ im lặng.

Sau buổi trưa ở Cần Thơ, về Sài Gòn những lần vào quán hủ tiếu, tôi sực nhớ hình ảnh nọ, và tò mò nhìn theo chủ quán: thỉnh thoảng lại gặp những điệu bộ ấy. Có khi ở một người đàn bà, có khi ở một người đàn ông đứng tuổi. Họ nhanh nhẹn, mau mắn; nhưng cái đặc biệt là, trong cử chỉ, họ như muốn nhấn mạnh vào tính cách toàn hảo của những hoạt động rập ràng mau mắn ấy.

Những người ấy họ có cung cách làm việc giống nhau. Cung cách ấy, gọi nó ra sao? Tôi tìm một chữ để diễn tả. Tôi loay hoay tìm kiếm… A! Ðây rồi: “Rụp rụp”! Họ làm việc “rụp rụp”.

Chữ nghĩa sao mà thần tình. Lại chính là một tiếng địa phương ra đời ở miền Nam này. Thế mới biết sự xuất hiện của một tiếng nói mới không bao giờ là chuyện ngẫu nhiên, không lý do. Phải có một thực tại mới, đòi hỏi được mô tả sát đúng. Phải có một sự cần thiết réo gọi nó, đích danh nó.

“Rụp rụp” là một đáp ứng tài tình cho một đòi hỏi như thế. Làm rụp rụp không phải chỉ là làm mau mắn, mà còn với một vẻ hứng chí trong sự mau mắn.

– Nhưng tại sao lại bảo đó là của miền Nam? Ðâu phải người nào trong Nam cũng làm việc rụp rụp?

– Tất nhiên đó không phải là tác phong của toàn thể. Cũng không thể nào biết được là tác phong của một tỉ lệ người Nam lớn nhỏ ra sao. Có điều tác phong ấy không gặp thấy ở các miền ngoài. Vả lại, còn có chuyện khác…

– Nào, xem chuyện khác có gì rõ rệt hơn chăng.

Trong một bài tục ca của Phạm Duy, có câu: “Người dân nhìn thoáng hết hồn luôn”, lại có câu: “Lệch đi thì chết, cấm sờ luôn”. Những tiếng “luôn” dùng kiểu đó không có trong ngôn ngữ các miền ngoài.

Cũng thế, ở ngoài Trung mỗi khi xe đò dừng lại dọc đường, hành khách lên xe xong, anh “ết” hô to cho tài xế nghe: “Chạy!”; ở trong Nam, anh ta hô: “Chạy luôn!”.

Tại sao lại luôn? Những tiếng “luôn” ấy không có nghĩa, nhưng dĩ nhiên không phải không có công dụng. Trái lại, công dụng đó thường khi khiến nó còn được xem trọng hơn những tiếng có nghĩa rõ rệt đứng trước nó. Chẳng hạn trong trường hợp “chạy luôn”: tiếng “chạy” hô phớt qua, tiếng “luôn” được gằn mạnh. Người ta nghe “Ch… luôn!”; có khi chỉ nghe có một tiếng “Luôn!”.

Không chừng đó cũng là trường hợp đã xảy đến cho tiếng “vô”. Mời nhau uống rượu, anh em hô: “Dô!” Có lẽ thoạt tiên là tiếng “nhậu vô”, “uống vô” chăng? Dần dần tiếng trước bị lướt phớt qua rồi bị bỏ rơi. Chỉ còn lại tiếng sau; từ một tiếng trợ từ, nó tiến lên nhận lấy cái nghĩa của các tiếng nhậu, uống.

Trong “chạy luôn”, nghĩa ở tiếng chạy; trong “hết hồn luôn”, nghĩa ở hết hồn; trong “nhậu vô”, nghĩa ở nhậu v.v. Còn tiếng “luôn”? Nó thêm vào một thái độ phát biểu, không thêm gì vào cái ý nghĩa đã phát biểu. Trong “chạy luôn” chẳng hạn, “luôn” là một tiếng kêu hơn là một tiếng nói: nó phát lên để tỏ thái độ thúc giục, nó không nói gì về cái nội dung của sự thúc giục ấy. Nó có công dụng về ngữ khí, chứ không phải về ngữ ý.

Như vậy trong cách nói này cái nội dung, cái cần thiết, đôi khi bị lướt qua; cái phụ, có phần thừa thãi, lại được nhấn mạnh.

Lại cái thừa thãi.

Trong cử chỉ, một chút gì thừa, vượt quá sự cần thiết; trong lời nói, cũng một chút gì thừa, vượt quá sự cần thiết. Cử chỉ và lời nói đều được phóng đại lên…

– Vẫn không có gì rõ rệt.

– Không rõ, về mặt nào?

– Một dấu hiệu để phân biệt bản sắc địa phương như vậy không mấy cụ thể.

– Thực ra ở đây vấn đề không phải là đi tìm một dấu hiệu phân biệt. Cái đó đâu cần tìm kiếm nữa? Ðã có sự khác nhau thật rõ ràng, thật cụ thể, ấy là cái chỉ số sọ của ông Bình Nguyên Lộc: cuộc di cư của nhóm Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Ðịch làm cho đồng bào ta ở miền Nam có xương sọ hơi dài thêm.(2) Kẻ Nam người Bắc tha hồ yên lặng, ông Bình Nguyên Lộc đo đạc là biết ngay.

Vậy ở đây không có chuyện tìm một dấu hiệu phân biệt. Chẳng qua là chộp bắt một nét cá tính phản ảnh trong phong cách, ngôn ngữ. Và hình như sự phản ảnh không dừng lại ở vài tiếng trợ từ, ở mấy điệu bộ. Hình như trên sân khấu cải lương, một bộ môn nghệ thuật của miền Nam, chúng ta có cảm tưởng nhận thấy cá tính ấy xuất lộ ở phong cách diễn xuất…

– Cảm tưởng? Không có gì rõ rệt.

– Quả nhiên.

Võ Phiến
________________
(1)
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Bách Bộc xuất bản, Sài Gòn, 1971, trang 736, 737.
(2) Sđd., trang 453.

Cuộc đời quá ngắn ngủi

Cuộc đời quá ngắn ngủi.

Life is too short. Don’t waste time hating anyone.

(Cuộc đời quá ngắn ngủi. Đừng phí thì giờ ghét bỏ ai làm gì.)

Only friends and family will be present in sickness. Stay in touch.
(Chỉ có gia đình và bạn bè bên cạnh khi đau ốm. Nhớ gần gũi.)

You don’t need to win. Every argumente to disagree.
(Không cần thắng trong mọi cuộc tranh luận. Hãy chấp nhận bất đồng.)

Crying is good, but it’s more healing crying with friends.
(Khóc cũng tốt, nhất là khi khóc với bạn bè.)

Release your children when they become adults, its their life now.
(Hãy buông con cái ra khi chúng trưởng thành. Bây giờ chúng có cuộc sống riêng.)

Make peace with your past so it won’t screw up the present.
(Hãy để yên quá khứ để hiện tại không bị xáo trộn.)

 Don’t compare your life to others. They have different journeys.
(Đừng đem đời mình so với ai đó; đời mỗi người mỗi khác)

Everything can change in the blink of an eye.
(Mọi chuyện ở đời có thể thay đổi trong chớp mắt)

Take a deep breath. It calms the mind.
(Hít thở sâu giúp tinh thần ổn định)

Get rid of anything that is neither useful, beautiful
, nor joyful.
(Hãy gạt bỏ những gì vô ích, xấu xa, buồn bã)

What doesn’t kill you really makes you stronger.
(Điều gì không giết ta được sẽ giúp ta mạnh hơn)

Today is special. Enjoy it.
(Ngày hôm nay là ngày đặc biệt. Phải tận hưởng nó)

Your belief of your being right doesn’t count. Keep an open mind.
(Đừng tin rằng mình luôn luôn đúng. Phải có đầu óc cỏ̉i mỏ̉)

Forgive everyone everything.
(Hãy tha thứ tất cả cho mọi người)

What other people think of you is none of your business.
(Đừng bận tâm về nhận xét của ai đó về mình)

Time heals almost everything. Give time time.
(Thời gian hàn gắn gần như mọi sự. Hãy để cho thời gian có thì giờ)

However good or bad a situation is, it will change.
(Tình thế dù tốt hay xấu, rồi cũng thay đổi)

Don’t take yourself so seriously. No one else does.
(Đừng quá nghiêm khắc với bản thân. Không ai làm như vậy)

Believe in miracles.
(Hãy tin vào phép lạ)

It’s OK to yield.
( Nhường nhịn một chút cũng không sao)

 Friends are the family that we choose.
(Bạn bè là gia đình do chúng ta chọn) 

Việt Nam báo động bão Mujigae

Việt Nam báo động bão Mujigae

Ngư dân tỉnh Quảng Nam đẩy một tàu đánh cá vào bờ. Tàu bè các tỉnh duyên hải từ miền Trung trở ra đã được khuyến cáo trở lại đất liền.

Ngư dân tỉnh Quảng Nam đẩy một tàu đánh cá vào bờ. Tàu bè các tỉnh duyên hải từ miền Trung trở ra đã được khuyến cáo trở lại đất liền.

Trà Mi-VOA

Giới hữu trách cảnh báo bão nhiệt đới Mujigae đang quét qua Philippines có thể đổ bộ vào bờ biển Việt Nam sáng ngày 5/10.

Truyền thông nhà nước hôm nay dẫn nguồn tin từ Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương cho biết tâm bão đang cách quần đảo Hoàng Sa hơn 700 cây số về hướng Đông.

 Hiện cơn bão thứ tư ở Biển Đông này đang ở cấp 8 với sức gió 75km/giờ và có thể mạnh lên tới 100km/giờ tức trên cấp 10. Dự báo tới ngày Chủ nhật bão có thể đạt cấp 10-11.

Giới hữu trách Việt Nam cho hay hiện chưa biết chắc bão sẽ đổ bộ vào đâu, nhưng có thể vào phía Nam đồng bằng Bắc Bộ và nhiều khả năng sẽ ập vào khu vực Quảng Ninh – Hải Phòng với sức gió mạnh cấp 10.

Ông Hoàng Đức Cường, Phó giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương được tờ Zing.vn dẫn lời cho hay khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam có thể hứng một lượng mưa rất lớn nếu bão Mujigae đổ vào Quảng Ninh.

Giới chức Việt Nam yêu cầu các khu vực này có kế hoạch ứng phó với lũ quét và sạt lở đất.

Việt Nam nói Bộ quốc phòng đã điều động lực lượng cùng các phương tiện như máy bay, tàu, xuồng, ô tô cho công tác cứu hộ.

Tàu bè các tỉnh duyên hải từ miền Trung trở ra đã được khuyến cáo trở lại đất liền.

Bây giờ bà con họ rút kinh nghiệm, nay họ nghe bão là nghe trước hết, nghe đài Nhật Bản với đài Hoa Kỳ là nhiều, lo nghe trước để tránh thiệt hại. Trước đây có nhiều cơn bão đổi hướng nhiều khi nghe đài cũng không chính xác. Trước đây cũng bị dự báo không chính xác nhưng sau thời gian kinh nghiệm, giờ thì cũng chính xác lần lần, bà con ngư dân giờ cũng đỡ.

Anh Lê Văn Xinh, thuyền trưởng tàu đánh cá ở Sơn Trà chuyên hoạt động ở khu vực Hoàng Sa, nói với VOA Việt ngữ ngư dân địa phương đã được báo bão và nhiều tàu đánh cá như anh đã quay về bờ:

“Cũng nhiều tàu đã vào bờ, một số còn ở ngoài biển. Họ nghe bão 2, 3 ngày nay rồi, chiếc nào ở gần thì họ lo họ tránh vào gần bờ. Không biết miền Bắc ra sao chứ miền Trung này thì thấy đường đi của bão cũng hụt Đà Nẵng rồi cho nên bà con đi xa bờ không được thì cũng làm ở gần bờ để có gì thì vào bờ nghỉ thôi”.

Anh Xinh cho biết sau những thiệt hại trong các trận bão trước, ngư dân địa phương giờ đây cảnh giác bão cao hơn, chủ động tìm kiếm các kênh thông tin bão và liên lạc truyền tin bão với nhau:

“Bây giờ bà con họ rút kinh nghiệm, nay họ nghe bão là nghe trước hết, nghe đài Nhật Bản với đài Hoa Kỳ là nhiều, lo nghe trước để tránh thiệt hại. Trước đây có nhiều cơn bão đổi hướng nhiều khi nghe đài cũng không chính xác. Trước đây cũng bị dự báo không chính xác nhưng sau thời gian kinh nghiệm, giờ thì cũng chính xác lần lần, bà con ngư dân giờ cũng đỡ. Hơn nữa, giờ bà con cũng lo nghe báo bão trước để tính đường đi và thời gian để lo vào bờ trước 1 ngày chứ không để sát tới nơi mới chạy”.

Anh Xinh nói anh hy vọng công tác báo bão của Việt Nam được cải thiện hơn sao cho hiệu quả và kịp thời cũng như các khâu ứng phó, hỗ trợ, cứu hộ cho dân cần được chú ý tăng cường hơn nữa để giảm thiểu hậu quả khôn lường từ các trận bão mà cư dân duyên hải miền Trung như anh phải đón nhận mỗi năm.

Báo nhà nước loan tin Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chỉ thị các ban ngành địa phương chuẩn bị sẵn sàng cho mọi tình huống để tránh thiệt hại về người và của. Ông Hải yêu cầu giới hữu trách tuyệt đối không được chủ quan khi ứng phó với thiên tai trong điều kiện biến đổi khí hậu.

Trung tâm dự báo thủy văn trung ương cũng được lệnh cập nhật tin bão từng giờ ‘cho dân chủ động ứng phó’ khi bão áp vào gần bờ.

Rau xanh không còn an toàn

Rau xanh không còn an toàn

Nhóm phóng viên tường trình từ VN

RFA
2015-10-02

rau-xanh-622.jpg

Những người nôi trợ ngày càng ngại mua những loại rau xanh có màu xanh mơn mởn như thế này. (Ảnh chỉ mang tính minh họa)

RFA

Rau xanh không còn là thực phẩm an toàn đối với con người, đây là một thẩm trạng mà càng ngày người Việt Nam càng lún sâu vào. Nếu như với khoa học, rau xanh là một loại thực phẩm quan trọng, có khả năng bổ sung vitamin mạnh nhất thì với người nông dân, rau xanh là một tấm xốp hút đầy thuốc độc và bán nó, người ta kiếm được tiền. Còn với người tiêu dùng, rau xanh là một loại thực phẩm có chứa độc vừa đủ để ngấm dần vào cơ thể cho đến một lúc nào đó tự động phát tác mà hằng ngày người ta phải bỏ tiền ra để mua độc vào cơ thể.

Lượng thuốc độc quá cao

Một người nông dân tên Thiện, sống ở huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ, chia sẻ: “Ở ngoài này họ trồng nhiều rau lắm, nhưng phân đạm, phân lân thì nhiều chứ phân hữu cơ thì ít lắm! Rau cải, rau muống… các thứ đều bơm thuốc dưỡng chứ. Nhưng mà đắt đỏ chứ lúc nào rau quá rẻ thì họ để cho lên tự nhiên…!”

” Ở ngoài này họ trồng nhiều rau lắm, nhưng phân đạm, phân lân thì nhiều chứ phân hữu cơ thì ít lắm! Rau cải, rau muống… các thứ đều bơm thuốc dưỡng chứ. Nhưng mà đắt đỏ chứ lúc nào rau quá rẻ thì họ để cho lên tự nhiên…
-Ông Thiện”

Ông Thiện cho biết thêm là hiện tại, không có loại rau nào là đáng tin cậy cho dù rau được trồng theo công nghệ trồng rau sạch. Bởi những làng trồng rau sạch vẫn có bơm thuốc nhưng thay vì bơm ban ngày, người ta chuyển sang bơm ban đêm, vào lúc người khác đã đi ngủ. Ông Thiện đã nhiều lần chừng kiến người ta bơm thuốc hàng loạt cho rau xanh vào lúc nửa đêm khi ông đi bán rau chợ khuya.

Ông Thiện cho rằng sở dĩ một số làng rau sạch lại lén lút bơm thuốc trừ sâu cho rau của họ là vì họ cũng rơi vào thế bí. Họ đã bỏ ra không ít tiền để đầu tư làm rau sạch nhưng lại không có đầu ra, không có chỗ tiêu thụ ổn định, cuối cùng, phải mang ra chợ bán chạy đua với rau không an toàn. Và khi họ làm như vậy, để gở được một phần vốn của họ, họ buộc phải nói dối với các đầu mối thường đến mua rau sạch của họ. Cuối cùng, người tiêu dùng chịu trận nặng nhất khi mua rau với giá cao nhưng lại không sạch, vẫn nguy hiểm.

Cũng theo ông Thiện, hiện nay, rau xanh trên thị trường không có rau nào là không bơm thuốc trừ sâu, thuốc dưỡng cây, chống nấm. Bởi vì thời tiết quá khắc nghiệt, khi nắng thì như đổ lửa, mưa thì như trút nước, không có cây rau nào trụ nổi với thời tiết như vậy. Muốn giữ vườn rau, người nông dân buộc phải bơm thuốc.

Có hai cách để giữ vườn rau, hoặc là làm giàn, che lưới, đưa nguồn nước sạch từ thủy cục vào hồ chứa chừng ba ngày để lượng clo trong nước hoàn toàn bốc hơi, sau đó tưới rau và bón rau bằng phân chuồng. Hoặc là dùng thuốc hóa học và bơm thường xuyên mỗi ngày, dùng phân hóa học, có thể tưới nước giếng bơm.

Nếu chọn phương án che giàn lưới và tưới nước sạch, chi phí cho một vụ rau sẽ đội lên rất cao, người nông dân sẽ không thu được lãi nếu bán đồng giá trên thị trường. Chỉ bán cho siêu thị, nhà hàng thì mới có thể kiếm chút lãi, mà những siêu thị, nhà hàng, khách sạn thường có mối ổn định, người nông dân khó mà lọt vào được.

rau-xanh-400.jpg
Ảnh minh họa. RFA PHOTO.

Ngược lại, chọn phương án tưới nước giếng bơm và bón phân hóa học, bơm thuốc kích thích sinh trưởng, chu kì phát triển của cây rút ngắn đáng kể, từ chỗ một tháng hoặc một tháng rưỡi rút xuống còn một tuần hoặc nửa tháng. Người nông dân thường xuyên bơm thuốc vào mỗi chiều tối, bơm chất kích thích tăng trưởng, sau một tuần là vụ thu hoạch bắt đầu.

Ông Thiện cho rằng nguồn nước giếng bơm với hàm lượng phèn, thậm chí thạch tín trong đó quá cao cũng sẽ là mối nguy cho người tiêu dùng bởi cây rau phải thường xuyên tiếp xúc với nước không an toàn, thuốc trừ sâu, thuốc dưỡng cây, kích thích tăng trưởng.

Để chốt lại vấn đề, ông Duy khẳng định là hiện tại, không bao giờ có rau sạch bán trên thị trường, trừ khi đó là rau do tự người ta trồng ra. Bởi muốn có rau sạch, việc đầu tiên phải có một thị trường sạch và có một môi trường chính trị, văn hóa và kinh tế sạch.

Những thứ này tưởng chừng không liên quan với nhau nhưng trên thực tế, khi sống trong một môi trường chính trị, kinh tế và văn hóa sạch sẽ, lành mạnh, tâm hồn người nông dân sẽ nhanh chóng trở về với bản nguyên hồn nhiên, tốt bụng và chất phác.

Mũi dùi Trung Quốc

Một nông dân khác tên Khải, sống ở huyện Đoan Hùng, Phú Thọ, chia sẻ thêm: “Dùng thì người ta vẫn phải dùng (loại rau bơm thuốc). Bởi rau ở đây khô cằn, không tăng trưởng được, nó tùy thuộc vào thời tiết, khí hậu của từng năm. Mùa Đông thì rau tốt chứ mùa này thì cằn lắm. Ví dụ như vào mùa này thì rau đang bị cằn cỗi lắm, mùa đông thì đỡ hơn.”

” Dùng thì người ta vẫn phải dùng (loại rau bơm thuốc). Bởi rau ở đây khô cằn, không tăng trưởng được, nó tùy thuộc vào thời tiết, khí hậu của từng năm. Mùa Đông thì rau tốt chứ mùa này thì cằn lắm.
-Ông Khải”

Theo ông Khải, vấn đề rau xanh trở nên độc hại, gây ảnh hưởng không nhỏ đến người tiêu dùng hiện nay lại có một nguyên nhân sâu xa khác mang tên Trung Quốc. Yếu tố Trung Quốc đã chi phối quá nặng trên thị trường Việt Nam, tao ra những cơn lốc sử dụng vô hồn, nghĩa là cứ rẻ thì mua, mua xài xong lại vứt, lại xài tiếp. Chính thứ tâm lý này đã tác động không nhỏ đến người nông dân.

Người nông dân đã trở nên nóng vội trong việc kiếm tiền, bất chấp sức khỏe đồng loại để kiếm tiền. Đương nhiên, cũng vì hố sâu ngăn cách quá rõ rệt, ngày càng nới rộng giữa đời sống xa hoa, phung phí của giới quan quyền, tư bản đỏ và nghèo nàn, lạc hậu, thiếu thốn mọi thứ của người nông dân, giới lao động nghèo. Trong khi đó, chính người nông dân và giới lao động nghèo phải hằng ngày còng lưng đóng đủ các loại thuế trong từng chai nước mắm, gói bột ngọt, chai xì dầu…

Chính hố sâu ngăn cách cùng với những bất công về đất đai đã khiến người nông dân một mặt chạy đua với thời gian, còn nước thì còn tát, cố gắng đào thật nhiều tiền trên mảnh vườn trước khi nó dính vào một dự án nào đó.

Nhưng đáng sợ hơn là sâu thẳm trong tâm hồn người nông dân, sự oán giận đã biến thành hành động, họ bơm thuốc vô tội vạ và không bao giờ ăn rau mình trồng bởi họ biết rằng những kẻ có tiền, ăn trên ngồi trốc sẽ là khách hàng của họ trong một ngày nào đó. Đương nhiên điều này đã được chuyển hóa thành hành động gần với vô thức của người nông dân.

Ông Khải nói rằng ông không đồng cảm với người nông dân trong vấn đề trồng rau xanh của họ nhưng điều này cũng nói lên rằng nếu như có một xã hội tử tế, một hệ thống nhà nước tử tế, người nông dân sẽ cho ra đời những cây rau sạch. Cây rau Việt Nam hiện tại giống như một biểu kế đo sự tử tế của nhà nước. Hệ thống quản lý càng tốt thì cây rau càng sạch, ngược lại, hệ thống quản lý nhà nước càng bệ rạc bao nhiêu thì cây rau càng chứa nhiều độc tố bấy nhiêu. Đây giống như luật nhân quả vậy!

Nói đến đây, ông Khải lắc đầu, thở dài.

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

Ký Ức về hai ngôi nhà ở Phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội

Ký Ức về hai ngôi nhà ở Phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội

Sài Gòn–Tuần trước Mừng Lễ thánh Têrêsa, tôi nhớ đến hai ngôi nhà ở phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội.

Năm 1984, lần đầu tiên tôi trở lại Hà Nội sau khi đi biệt 30 năm. Ngày ấy trước Đổi Mới, thành phố xưa không thay đổi mấy, chỉ cũ kỹ hơn và nghèo hơn. Lòng người không biết thế nào, nhưng phố xá còn giữ được cái vẻ yên tĩnh có phần trầm mặc tôi thấy rất gợi cảm. Một ngày cùng bạn  bè đi trên phố Nguyễn Thái Học, tôi để ý một ngôi nhà lớn,  trên mái có cây Thánh Giá. Ngày ra đi tưởng không bao giờ trở lại, tôi chỉ là một đứa trẻ ngu ngơ, đâu có biết gì về các cơ sở của Hội Thánh. Nay trở về thì đã có nhiều suy nghĩ. Tôi nghe nhiều, đọc nhiều về những gì xảy ra với Giáo Hội sau bức màn Tre, màn Sắt, sau đó lại còn cuộc chiến tranh vô cùng tàn khốc. Tin tức lọt ra ngoài cho thấy Giáo hội Miền Bắc ở vào tình trạng hết sức tiêu điều, xơ xác. Chuyến đi này tôi mong được thấy tận mắt. Và tôi cho rằng một điều học được trong chuyến đi là Đức Tin đã lưu  truyền như thế nào trong cảnh ngặt nghèo đó. Tôi hỏi ngôi nhà có Thánh Giá trên mái đó ngày trước là gì vậy, các bạn cho biết đó là Dòng Kín Cát minh xưa. Tôi hơi giật mình: thì ra đây là nơi 80 năm trước  thánh Têrêsa  đã muốn tìm đến vùi sâu  cả cuộc đời mình để thầm lặng hy sinh cầu nguyện cho nhiều người được biết Chúa. Xém chút nữa thi đất mẹ Việt Nam đã đón vào lòng mình một vị thánh  lớn.

Ngôi nhà thứ hai trên phố Nguyễn Thái Học có thể coi là láng giềng của Dòng kín Cát minh cũ. Từ chuyến đi năm 1984 ấy, tôi đã quen biết thêm và giữ liên lạc với một nhóm bạn trẻ Hà Nội và được nghe kể chuyện về cô gái ở trong ngôi nhà đó đã gặp Chúa như thế  nào. Đó là câu chuyện về một tai họa nhưng, như có lời đã nói, trong họa có phúc. Cô là con của một vị thứ trưởng, một thành phần được hưởng những ưu đãi về mọi mặt giáo dục, sinh hoạt, giao tiếp và tiện nghi vật chất mà tuyệt đại đa số thanh niên Việt Nam không thể mơ tưởng, đặc biệt trong hoàn cảnh thiếu thốn khó khăn của miền Bắc thời ấy. Cuộc sống đang đẹp, tương lai đang hứa hẹn lộng lẫy, tuổi trẻ đang giầu những ước mơ trong tầm tay, bỗng đâu tai họa ập tới. Cô mắc phải căn bệnh không thuốc chữa, tay chân càng ngày càng co quắp lại, phải thở bằng máy, cổ phải đục một đường để đưa khí thở vào phổi, và cứ thế tê liệt đi dần dần tháng này qua năm khác. Có thể hiểu được với cô gái đang phơi phới thanh xuân và với cả gia đình, cái đòn định mệnh ấy nó khủng khiếp ra sao. Có thể mường tượng được những uất nghẹn, phẫn chí, tuyệt vọng… Thế rồi những đồ đệ trẻ của Chúa kín đáo, thầm lặng cũng có mặt trong nhóm bạn bè của Mai Trinh, (cô gái ấy tên là Mai Trinh). Cũng chẳng biết họ đã quen biết nhau thế nào, qua chuyện học hành, sinh hoạt…. Họ đã thì thầm chia sẻ tâm sự bên giường Mai Trinh. Họ chẳng qua những khóa huấn luyện giáo lý viên như ngày nay thường tổ chức, chỉ có tấm lòng thành, có sao nói vậy về ngọn lửa đức tin họ vẫn nuôi trong hồn giữa một môi trường nghịch cảnh. Tới một ngày đức tin ấy đã xuyên qua u ám đi vào lòng Mai Trinh.

Có một phép mầu đã xẩy ra: cô gái đau đớn uất hận trên giường bệnh đã thành một người đầy niềm vui bình an, và niềm vui bình an ấy ở lại với cô không đi nữa. Con sâu đã hóa bướm. Căn phòng và giường bệnh của Mai Trinh trở thành điểm hẹn cho một nhóm bạn trẻ rỉ tai nhau tìm đến chia sẻ nỗi niềm. Sự bình an của Mai Trinh lan ra cả gia đình. Cả ông bố thứ trưởng cũng được cô con gái cảm hóa. Ông cũng đã bị bệnh nặng và được chính con gái dội nước rửa tội cho trước khi qua đời. Tân tòng Mai Trinh đã được ơn làm người loan Tin Mừng của Chúa ngay trong gia đình ruột thịt bằng đời sống chứng nhân.

Trở lại Hà Nội vào đầu thập niên 90, tôi nhờ một bạn trẻ dẫn tôi đi thăm Mai Trinh. Chưa gặp mặt bao giờ, nhưng Mai Trinh nói chuyện rất chan hòa. Hình như chỉ cần chung nhau một hướng nhìn đức tin là người ta có thể nói với nhau rất nhiều điều. Câu nói của bà mẹ Mai Trinh cho tôi ấn tượng đậm đà về cả hai mẹ con. Bà nói: “Bây giờ tôi mừng lắm. Bao lâu cháu còn ở với tôi, tôi sẽ săn sóc cháu với tất cả tình yêu thương. Ngày nào cháu đi, tôi cũng sẽ an lòng, vì tôi biêt cháu đi bình an thanh thoát.”

Hai mẹ con khoe với tôi một bức tượng Đức Mẹ, nói là quà tặng của “bác Trần Xuân Bách”. Hồi đó dư luận xôn xao về việc ủy viên Trần Xuân Bách bị trục xuất khỏi Bộ chính trị. Đối với dân thường thì những việc ở Bộ chính trị lúc nào cũng được bao bọc bởi những tấm màn bảo mật rất thâm cung bí sử. Chỉ nghe loáng thoáng rằng ông Bách muốn làm Gorbatchev Việt Nam. Thất sủng vì bất đồng chính kiến ở mức độ đó trong một chế độ không chấp nhận đa nguyên tư tưởng thì đồng nghĩa với hoạn nạn lớn rồi.

Tìm hiểu thêm tôi lại biết ông quê ở Nam Trực, Nam Định, (hóa ra là đồng hương!). Vùng này mật độ và tỷ lệ dân Chúa khá cao. Trước đây ông lại từng giữ chức trưởng ban tôn giáo vận trung ương. Như vậy có thể đoán Giáo hội  đã phải chịu không ít khó khăn dưới tay ông. Nhưng cả đến một người vô thần gộc và quyền thế thì cũng chả  tìm được một món quà nào thích hợp để tặng cho Mai Trinh hơn là bức tượng Đức Mẹ. Thế là một lần đi công tác nước ngoài người vô thần xuất phát từ một vùng mộ đạo thỉnh Đức Mẹ về đem vui cho một cô  gái từ cõi vô thần mà lại phát hiện ra cánh cửa vào cõi Chúa. Thôi thì cũng là một lẽ đương nhiên, có những hoàn cảnh người ta chỉ còn giữ lại “điều duy nhất cần thiết”.

Tôi biết được thêm một điều: từ ngày chịu phép rửa, đã bốn năm năm rồi, Mai Trinh chưa bao giờ được dự một thánh lễ. Luôn luôn sống với một bộ máy thở, bình oxy cồng kềnh, dây nhợ linh tinh thì đến nhà thờ sao được. Hà Nội những năm đó rất thiếu linh mục, mỗi vị phải phụ trách mấy nhà thờ, chẳng thể cử hành lễ riêng cho ai. Tôi thì lại chẳng có việc gì làm,chỉ có thăm gia đình và đi chơi suốt, chứ không được tham gia mục vụ, đã có cảnh cáo rồi. Về Thái Hà thấy cha già Vũ Ngọc Bích sức đã yếu, mắt đã lòa mà ngày nào cũng bận bịu việc nhà Chúa, nhất là thứ bảy và Chủ nhật, rất muốn đỡ đần Ngài một chút mà cũng đành chịu. Tôi nảy ra ý định hay là dâng một thánh lể bên giường Mai Trinh?

Tôi lên tòa Tổng Giám mục trình bày sự việc và xin phép. Đức Giám mục Phạm Đình Tụng trả lời: “Tôi chỉ ngại cho sự an nguy của cha thôi. Nhưng nếu cha thấy làm được thì cứ làm đi.” Sự an nguy tôi lại không ngại, đã bàn với hai mẹ con Trinh rồi.

Tôi xem lại chương trình đi đây đi đó rồi chọn một ngày thuận tiện. Sáng hôm ấy tôi chỉ đi với một bạn trẻ và một túi đồ lễ đến nhà Mai Trinh. Tôi có tật hay lơ đãng không chú ý đến ngày tháng. Đến bên giường Mai Trinh mở sách lễ ra mới giật mình bỡ ngỡ: “Ô, hôm nay là lễ thánh Têrêsa Hài Đồng!” Mai Trinh chợt reo vui: “Thánh Têrêsa là thánh bổn mạng của con đấy!” Có một niềm vui bỗng nhiên vỡ òa. Bàn tay nào vô hình dẫn dắt chúng tôi vậy? Chúng tôi có định trước đâu? Thoáng cảm thấy thánh Têrêsa ở đâu đây đang mỉm cười. Chúng tôi mắc tội lơ đãng, nhưng chị thánh đã sắp sẵn cho cô em Mai Trinh một món quà lớn mừng lễ Bổn mạng. Ý cầu nguyện từ bao năm xưa của chị  cũng là của cả Hội thánh ngày nay vẫn nở hoa trên mảnh đất đã vắng bóng dòng Cát Minh trên phố Nguyễn Thái Học này! Tôi ở lại trong nhà Mai Trinh khoảng một tiếng, nhưng niiềm vui ấy theo tôi cả ngày.

Khoảng ba năm sau, Mai Trinh qua đời. Nhóm bạn trẻ ở Hà Nội xúm nhau lại tổ chức cho Mai Trinh một lễ tang thật ấm cúng, thật “hiệp thông”. Lần đầu tiên tòa Tổng giám mục cho phép cử hành thánh lễ an táng tại tư gia. Tôi ở trong Nam không ra dự được, nhưng các bạn Hà Nội cho xem những tấm ảnh Mai Trinh nằm rất bình an, rất đẹp trên giường đầy những cánh hoa tươi.

Ngày nay kiến trúc cổ của dòng Cát Minh Hà nội (1920) không còn nữa. Chính quyền đã cho phá đi rồi mặc dù tòa Tổng giám mục Hà Nội đã hết sức vận động yêu cầu giữ lại một mảng kiến trúc cổ nào đó mà người Công giáo nhìn về với những tâm tình thiết tha vì nó gắn bó với ký ức thiêng liêng về thánh Têrêsa. Thế gian này, và nhất là xã hội này, đã có quá nhiều tín hiệu về sự vô cảm của nó với những ký ức tâm linh đó.

Trong ngôi nhà gần đấy cũng chẳng còn Mai Trinh nữa, đã đi theo thánh Têrêsa rồi. Những người bạn trẻ của Mai Trinh thì vẫn còn đó, bây giờ đã đứng tuổi cả. Có người là nữ tu Dòng Mến Thánh Giá ở phố Nhà Chung, có người tham gia các công việc ở giáo xứ Hàm Long, có người làm trưởng ca đoàn ở nhà thờ Thái Hà, lại có người lang bạt sang tận nước Mỹ, năm ngoái tôi gặp ở Virginia và vẫn cứ lúi húi làm việc nhà thờ, và còn nhiều người khác nữa tôi không thể quen biết hay nhớ hết. Trong đời thường, họ sống vô danh với xã hội. Nhưng tôi cho rằng không chỉ có gạch đá hay kiến trúc mới tạo nên ký ức tâm linh cho Dân Chúa. Chính họ là những ký ức sống. Những ký ức nhỏ nhoi. Chẳng có gì để ghi vào sử sách, nhưng họp lại thành ra một dòng chảy triền miên, nó kết thành cái tâm, cái tình của người giáo dân trong Hội Thánh Chúa. Tôi nghĩ rằng nên góp phần vun trồng, gìn giữ những ký ức đó trong ngôi vườn Hội Thánh.  Đó là lý do tôi ghi lại câu chuyện này.

Một lý do nữa: đây không phải là chuyện riêng lẻ, nó nằm trong một chuỗi rất nhiều chuyện về những cơn “Mưa Hoa Hồng” mà Dân Chúa khắp nơi truyền tụng về thánh nữ Têrêsa Hài Đồng, tạo nên một nét đặc sắc khiến cho bao nhiêu tâm hồn tìm đến với vị thánh rất đơn sơ mà lại rất diệu kỳ này. Từ rất lâu tôi đã muốn giới thiệu và đóng góp vào Ký ức lớn ấy mà mãi vẫn chưa làm. Có lẽ một ngày gần đây, tôi sẽ xin trở lại câu chuyện này, nếu Chị Thánh cho phép…..

Mathêu Vũ khởi Phụng, CSsR

T.B. Vừa định gửi bài về trang Chúa Cứu Thế thì được xem trên truyền hình KTO quang cảnh di cốt của thánh nữ Têrêsa và của song thân Người là hai vị Chân Phước Louis và Zélie Martin được tôn kính đặc biệt trong lễ khai mạc Thượng Hội Đồng Giám mục ở Đền thánh Phêrô, Rôma và sau đó được rước về Đền Đức Bà Cả cho dân Chúa chiêm bái. Thượng Hội Đồng kỳ này bàn về đời sống các gia đình. Hội thánh tại gia là nguồn ân phúc nhưng cũng đang đối diện với  nhiều khó khăn thách thức. Đức Thánh Cha Phanxicô và các nghị phụ cầu mong sự hiện diện và hiệp thông của một gia đình thánh giữa Hội Đồng. Xin mong chờ nhiều Mưa Hoa Hồng trên các gia đình năm châu.

Chi Nguyen Kim Bang goi

Lời nào muốn nói nhưng chuốc sầu thêm thôi,

“Lời nào muốn nói nhưng chuốc sầu thêm thôi,”

Tình nào buông trôi, như nắng chiều lưng đồi!

Một ngày nắng ấm, xin chấp cánh bay cao

Ðể rồi mai sau, còn ai nói yêu nhau,

Nhạc tình phôi pha, còn ai thấy xót xa

Người về nơi đâu, thung lũng sầu thêm sâu.

(Nguyễn Trung Cang – Lời Nào Muốn Nói)

(Thư Phillíphê 2: 1-5)           

 Trần Ngọc Mười Hai

 Ấy đấy! Có những sự và những việc ở đời với con người, đều như thế.

Đúng vậy! Có nhiều điều, người đời lại những nói cho lung, cho lắm cũng chỉ “chuốc sầu thêm thôi”. Lại cũng có nhiều điều và nhiều sự trên đời, người đời đều nói hôm nay, có thể không chỉ là “nhạc tình phôi-pha”, cuộc đời “thấy xót xa”, mà vẫn cứ là “thung-lũng sầu, thêm sâu”.

Thế đó, là tâm-tình của nhiều người, trong đời. Còn đây, có lẽ cũng là tình-tự của nhiều người ở Nước Trời Hội-thánh, rất hôm nay?

Câu hỏi ở đây, đã và đang là vấn-nạn “khủng-khiếp” được đưa ra nhân có sự-kiện xảy đến ở khung trời biền-biệt bên ấy, rất trời Tây. Ở đây, là khung trời hăng say, nhộn-nhịp một tình-huống có đấng bậc chủ-quản có rất nhiều quyền-uy, quyết ra tay thực-hiện động-tác này nọ để đổi-mới Nước Trời trần-gian, chưa chấp cánh.

Vậy thì, chuyện phiếm hôm nay lại đã thấy ca-từ người nghệ-sĩ trẻ khi xưa, cứ hát rằng:

“Tình nào chấp cánh trên ngõ buồn mong manh?

Tình nào bay cao cho tủi hờn tuôn trào,

Ngại ngùng muốn nói thương nhau quá ai ơi.

Dù đời chia phôi yêu nhau mãi không thôi!

Ngàn trùng xa xôi thương nhau mãi không nguôi,

Trọn đời chưa vơi trong kiếp sầu buông lơi.

(Nguyễn Trung Cang – bđd)

Thế mới biết, hôm nay, ở trong Đạo hay ngoài đời, lại có những tình-huống khiến việc sống Đạo thêm khúc-mắc với hỏi-han, quyết tìm cho ra một đích-điểm khả dĩ khiến lòng người đi Đạo, sống hăng say, êm ả suốt một đời.

Thế mới hay, tâm-tư nhà Đạo nay vẫn “ngổn-ngang trăm mối” như đấng bậc chủ-quản Sydney hôm nào từng nhận ra nhiều điều, như trích-đoạn bên dưới đã bàn về Thượng Hội-Đồng Giám-mục Rôma 2015 đề cập đến “Hôn nhân”, “Gia đình”, cùng chuyện “Đồng tính luyến ái” như sau

“Có lẽ, sẽ không có gì thay đổi nơi giáo-huấn của Hội-thánh Công-giáo về chuyện đồng-tính-luyến-ái, chút nào hết; phi trừ và cho đến khi, ta có thay-đổi trước mắt nơi giáo-huấn về luật-lệ và luyến-ái giữa người khác phái.

 Lâu nay, nhiều cuộc bàn-cãi/tranh-luận vẫn lập đi lập lại rất nhiều lần trong phạm-vi Hội-thánh Công-giáo cứ bảo rằng: Thiên-Chúa tạo-dựng giới-tính con người vì hai lý-do: thứ nhất, mọi người coi đó như phương-tiện để Ngài đem sự sống mới-mẻ của con người đi vào hiện-thực (tức: việc sinh-sản/cùng Ngài tạo-dựng). Và, lý-do thứ hai, là: phương-cách để ta diễn-tả và bảo-đảm việc dung-dưỡng tình thương-yêu giữa các cặp phối-ngẫu (tức: việc thông-đồng/hiệp-nhất trong tạo-dựng).

 Từ đó các cuộc bàn-cãi/tranh-luận lại vẫn bảo, rằng: việc sử-dụng tình-dục là ‘thuận theo thiên-nhiên’ chỉ khi nào việc ấy là để phục-vụ cả hai mục-đích do Chúa ban. Và, cả hai mục-đích ấy thực sự chỉ có thật trong hôn-nhân mà thôi; và chỉ vào lúc ấy mà thôi, khi việc trao thân cho nhau là để mở ra sự sống mới mẻ. Thế nên, tất cả người nào khác nếu lại dễ-dãi trong ăn nằm xác thịt thì đó là điều sai trái về mặt luân-lý đạo-đức.

 Ngay từ đầu, ai cũng đều thấy: bất cứ hành động tình-dục xác thịt đơn-thuần thôi cũng phải mang nghĩa hoà hợp và sinh con đẻ cái, thì khó có thể là Hội-thánh Công-giáo sẽ chấp-thuận hành-động tình-dục xác thịt của người đồng phái-tính. Sách Giáo Hội-thánh Công giáo đề-cập đến vấn-đề này một cách vắn gọn lạ thường, khi bảo rằng: “Hành-động tình-dục giữa người cùng phái-tính đi ngược lại luật tự-nhiên. Nó đóng chặt hành-động tình-dục không còn nhận được quà tặng sự sống nữa. Hành-động ấy, không diễn-tiến từ sự tán-thành/đồng-thuận chân-phương về cảm-tính và dục-tình.

 Giả như đây là điểm khởi-đầu, thì sẽ có rất ít điều để nói. Thành ra, không gì có thể hiểu là sẽ có chuyện đổi-thay liên-quan đến các hành-động ăn nằm dục-tình giữa người cùng phái tính trong giáo-huấn này hết. Và, sẽ là chuyện phù-phiếm/vô bổ để mọi người tìm biết chuyện ấy. Bởi lẽ, chuyện ăn-nằm xác thịt giữa người đồng tính không có yếu-tố sinh-sản ở trong đó như Hội-thánh muốn. Và, nếu giáo-huấn về chuyện ăn nằm xác thịt giữa người đồng tính không bao giờ thay đổi, thì nền-tảng của giáo-huấn về tất cả các sự việc ăn nằm xác thịt phải thay-đổi trước nhất.” (Xem Gm Geoffrey Robinson, The 2015 Sydnod – The Crucial Questions: Divorce and Homosexuality, ATF Press 2015, tr. 11-12)                    

     Nghe đấng bậc chủ-quản kể về câu chuyện đã và đang xảy ra nơi Hội-thánh Công-giáo rất nhiều lần, thế mà đấng bậc lại bảo, sẽ chẳng có sự gì xảy ra, sau các buổi bàn cãi với tranh luận. Nghe thế rồi, bọn tôi lại liên-tưởng đến câu truyện tiếu lâm chay/mặn về chữ “hỷ” được treo trong ngày cưới, tưởng chừng dễ hiểu, nhưng không phải. Truyện về chữ “Hỷ” hay yếu-tố đầu ở câu nói về mối thất tình những “Hỷ, nộ, ái, ố, ai, hoan, lạc”, rất như sau:

“Chú rể ngắm nghía phòng cưới xong xuôi, bèn có một nhận-định cũng khá là vội vã với anh bạn thân đang đứng gần rằng:

-Chữ “Hỷ” sao rắc rối thế nhỉ, trông cứ như trận đồ bát quái vậy!

-Rắc rối thế nào cơ chứ? người bạn ngạc-nhiên đáp.

-Thì…có nhiều đường ngang, ngõ dọc nhưng lại toàn là đường cụt không à!

-Cậu đây, đúng là người nhạy cảm. Thôi thì, để sau tuần trăng mật rồi, cậu sẽ thấy nhận xét đó rất đúng thật!”

 Nếu là người đời, để diễn-tả tình-huống sống trong đời hoặc tình đời xảy đến sau ngày vui, người người sẽ bảo: mọi chuyện trong đời đều mang tên của hai anh bạn: một là Vũ Như Cẫn, và người kia là: Nguyễn Y Vân, mà thôi.

Ở nhà Đạo cũng thế, nghĩa là: cũng có tình-huống rất tương-tự bánh xe lịch-sử. Thế nghĩa là, bánh xe cứ quay nhanh cho đến lúc quay về điểm cũ, rất giống hệt vòng đòi quay nhanh quay đều và quay mãi, mỗi thế thôi.

Giòng đời quay nhanh hay chậm, vui hay buồn, lại cũng có những tâm-tình như câu truyện kể rất đáng nể để rồi lại sẽ giúp bạn và tôi, ta suy nghĩ cho lung rồi sẽ thấy đúng. Truyện kể, đơn giản chỉ như sau:

“Gurdjieff rất nhớ ông bố của ông. Bố ông chết khi Gurdjieff mới chín tuổi, và là người thân duy nhất của ông. Ông kể bố ông gọi ông lại gần và nói:

-Bố sắp chết, và bố không có gì để lại cho con. Bố bỏ lại con trong nghèo nàn và côi cút. Chỉ có một lời khuyên bố muốn cho con – đó là lời khuyên mà bố của bố đã trao cho bố. Bố đã thấy rằng lời khuyên đó là tài sản giầu có nhất mà bất kì người bố nào cũng có thể cho con trai của mình. Con còn trẻ, có thể chưa có khả năng hiểu được lời khuyên này nhưng hãy cứ nhớ nó đi; rồi con sẽ hiểu nó. Và dù con có hiểu nó hay không, hãy bắt đầu cư xử như thế. Con hãy chăm chú nghe và nhắc lại điều bố nói.

 Đó là lời khuyên rất đơn giản. Lời khuyên là: “Nếu ai đó xúc phạm con, làm bẽ mặt con, làm tổn thương con, con không nên phản ứng lại ngay lập tức. Con phải nói với người đó rằng: “Ông hãy đợi hai mươi bốn giờ, và tôi sẽ tới trả lời ông. Đây là chuyện thiêng liêng với tôi mà tôi đã hứa với người bố sắp chết của tôi.” Con hãy đợi hai mươi bốn giờ rồi mới đi tới người đó. Trong hai mươi bốn giờ đó con có thể thấy rằng người đó là phải, hay người đó không phải, nhưng điều ngu xuẩn nhất là lâm vào vòng cãi cọ. Hai mươi bốn giờ đó sẽ cho con cơ hội để mà tỉnh táo hơn. Mọi người phản ứng ngay lập tức sẽ không có đủ thời gian để nhận biết. Họ phản ứng chỉ như máy. Nếu con thấy rằng người đó là đúng, thì hãy đi và cám ơn người đó. Nếu con thấy người đó là sai, thì chẳng cần đi, hoặc nếu muốn đi, con có thể đi và nói : ‘Ông dường như hiểu lầm.’

 Và Gurdjieff thường nói: “Lời khuyên đơn giản đó của người bố sắp chết của tôi đã làm biến đổi toàn thể cuộc đời tôi vì nó đã cho tôi sự nhận biết nào đó, một thức tỉnh nào đó. Thế nên tôi đã không thể phản ứng bất kì gì ngay lập tức. Tôi phải đợi hai mươi bốn giờ. Và kết quả là bạn không thể nào vẫn còn giận-dữ trong hai mươi bốn giờ được.” (trích truyện kể chuyển ở trên mạng, cho mọi người).

Thế đó, là truyện kể ở ngoài đời, có vui có buồn lẫn lộn. Truyện kể ở nhà Đạo, nhiều lúc và nhiều người không kể cho nhau bằng dụ-ngôn, tâm-tình viết thành thư tín, như bức thư của bậc thày ở trường nọ gửi cho đấng bậc vị vọng rày quá cố, như sau:

“Ngài Thomas Merton thân mến,

 Tôi không rõ, mọi người trên ấy có tổ-chức cắt bánh sinh-nhật thiên-quốc hay không. Nhưng, hôm nay, tôi chúc ngài có được thật nhiều hạnh phúc đến với ngài nhất là vào ngày sinh thứ 100, trong năm nay. Tôi không nghĩ là năm tháng ngày giờ lại có nghĩa cũng khá nhiều ở nơi ngài đang hiện-diện như mọi người vẫn làm cho chúng tôi ở nơi đây, tức là nơi ngài cũng như tôi, ta bỏ ra chỉ mỗi 54 năm trời để sống trước khi quá vãng trong một tại nạn lạ kỳ, năm 1968.

 Trên thiệp cảm cảm ơn tôi gửi ngài không có chỗ cho tất những thứ ngài đem vào đời tôi. Tôi biết là mình đang nói thay cho cả ngàn người ở đây.

 Là thánh-nhân theo cách nào đó, cuộc sống của ngài rơi vào hai phân nửa đời người rất tuyệt-vời. Mãi đến tuổi 27, ngài lại đã tham-vọng và chộn-rộn. Sinh tại Pháp, tuy mồ-côi nhưng rồi học-hành tại Anh và sau đó ngài dạy văn-chương tại đại-học-đường Columbia ở New York. Chính ở nơi đó, ngài được mọi người coi là cây viết đầy hứa-hẹn.

 Nhiều lúc, ngài cũng tỏ ra không có trách-nhiệm, để rồi trở thành một người cha của đứa bé còn nhỏ mà lại không được ngài chăm sóc cho tử-tế để rồi lại đã bị giết chết trong lần máy bay oanh-kích hồi Thế chiến thứ hai. Ngài từng quen với sống phá-tán qua hành-xử. Kết-cuộc là, ngài lại rơi vào vòng tay yêu-thương Đức Chúa.

 Ở tuổi 27, ngài đã dấn thân vào đời sống khắc-khổ theo huôn thước của hội dòng Xitô ở đan-viện gọi là Gethsêmani ở bang Kentucky và trở thày dòng Lu-y. Ngài không chạy trốn đi nơi khác như nhiều người xem ra vẫn nghĩ thế. Thực tế, hành-trình đời tu của ngài lại khác hẳn. Linh-đạo của dòng Xitô thật rất đẹp dù khắc-khổ. Nó như thể ăn rau sống mà không trộn nước xốt: toàn cộng-đoàn dòng đều sống trong thinh-lặng triệt-để và tuân-thủ Luật Dòng do thánh Biển-Đức lập ra, là bộ luật tạo thế quân-bình nồng-nhiệt giữa việc nguyện cầu và lao-động. Và sau đó, ngài cảm thấy có tiếng mời gọi tiến xa hơn thế để đi vào đời sống chuyên-tu ở rừng-sâu như một ẩn-sĩ.

 Từ nơi ẩn-náu trong rừng sâu, ngài đã viết với giòng chảy sâu-sắc can-dự vào một số cuộc đấu-tranh cho công-bình hồi thập niên 1960 kể cả phong-trào đòi-hỏi dân-quyền, cùng trào-lưu chống chiến-tranh và đường-lối bất-bạo-động. Có lần ngài viết: “Thay vì ghét bỏ chúng-dân, quí vị lại nghĩ mình là người gây chiến, ghét bỏ những người đói ăn có xáo-trộn trong tâm-thân của quí vị, chính đó mới là nguyên-do tạo nên chinh-chiến. Giả như quí vị yêu hoà-bình, hẳn là quí vị sẽ ghét bất-công, hận chuyên-chế và chán-oán tham-lam, nhưng lại cứ oán-ghét những thứ và những sự tồn-tại trong chính mình, chứ không phải ai khác.

 Tôi đây gặp-gỡ rất nhiều người từng coi việc đấu-tranh cho công-bằng trở-thành công việc thay thế cho niềm tin, tức thứ gì đó họ rất tin-tưởng trong cùng một lúc vẫn rụt-rè xa lánh mọi quan-hệ với Thiên-Chúa. Ngài đã nhắc nhở chúng tôi rằng: đói công-bằng còn thực-tế hơn mọi thứ so-sánh nào khác; và, là việc bày-tỏ lòng tin chứ không phải là sự thay thế.

 Vào thời-điểm tôi đây vẫn kiếm tìm cuộc sống đơn-độc, có vị linh-mục trọng tuổi từng hối thúc tôi đọc cuốn sách thứ hai do ngài viết, tức cuốn “Dấu Chỉ của Giôna”, là sách dựa trên cuốn nhật-ký mà ngài gìn giữ trong cuộc sống ở Gétsêmani từ năm 1946 đến 1952. Theo tôi nghĩ, cuốn này trở-thành cuốn sách tôi vẫn đọc mỗi năm trong đời trong suốt 30 năm vừa qua. Với riêng tôi, đây là chốt-điểm của đời mình. Tôi ưa-thích cung-cách qua đó ngài phấn-đấu tìm cho ra đặc-trưng xác-thực của chính ngài.

 “Dấu Chỉ của Giôna” kết-thúc bằng một lời bạt có tên gọi là “Canh Lửa, hôm 4 tháng 9 năm 1952”. Vào một tối nóng-nực ngày hè năm ấy, ngài phải đi bộ vòng quanh khuôn viên căn nhà ván lá của tu-viện từ trên xuống dưới, xem có dấu-hiệu nào báo trước có cháy rừng thiêu-huỷ khu vục không.                          

 Và, khi ngào đi rà-soát một vòng như thế, mọi ngõ ngách của vườn dòng Gétsêmani lại là cơ-hội để ngài tưởng nhớ, nguyện cầu. Mỗi khi có thày dòng nào đi ngủ, đó là dịp thuận đầy ân-huệ, là việc diệu-kỳ cùng mê say, diệu cảm nữa. Có lần ngài từng thưa với Chúa: “Lạy Chúa, đêm về là thời-khắc đểcon được tu-do tiếp xúc với Chúa. Theo tôi thì, ở đây, ngài muốn nói đến thời-khắc có được viễn-tượng được thấy các sự việc mà người bình-thường không thể thấy mắt thịt của mình.

 Và lần ấy, ngài lại tiếp-tục thưa cùng Chúa: “Chúa là Đấng ngủ say trong tâm can con, nên con không thể gặp Chúa qua lời nguyện-cầu, nhưng chỉ bằng sức sống trỗi dậy trong cuộc đời và cũng là sự khôn-ngoan bên trong mọi khéo léo, ngoan hiền. Con gặp Chúa trong hiệp-thông: Chúa ở trong con và con ở trong Chúa. Và Chúa ở trong họ cũng như họ đang ở trong con.”

 Ngài Thomas Merton thân thương,

Ngài từng dạy cho tôi biết: nhiều cơ-hội trong đó cần động-thái kiên-trì/bền đỗ hầu tạo được sự đổi-thay rất đích-thực. Và, ngài cũng đã khuyên tôi, rằng: công-bằng không thể do hoạt-động đơn-thuần mà ra dù vẫn xúc tiến không ngừng nghỉ. Những gì ta làm ra, lại ít quan-trọng bằng những gì Chúa cho phép ta làm. Chính đó, là điều tôi đây hằng tâm-nguyện.

 Cảm ơn ngài, hỡi đấng thánh Thomas Merton rất thân thương của tôi.

Michael McGirr”

(X. Michael McGirr, A Letter to Thomas Merton, The Australian Catholics Winter 2015 tr. 8)

Lời của dân con bình thường gửi đấng thánh ở trên lại vẫn nhắn nhủ bạn bè, như bạn và tôi, cũng để đưa dẫn chính tôi và bạn đi vào vườn hoa Lời Vàng có những dặn dò từ bậc thánh-hiền khi xưa vẫn nhắc-nhở và nhủ-khuyên như sau:

“Nếu quả thật sự liên kết với Đức Kitô

đem lại cho chúng ta một niềm an ủi,

nếu tình bác ái khích lệ chúng ta,

nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí,

nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau,

thì xin anh chị em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn,

là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn,

cùng một ý hướng như nhau.

Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh,

nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình.

Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình,

nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác.

Giữa anh em với nhau,

anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu.”

(Phillíphê 2: 1-5)      

Khi xưa, đấng thánh-hiền trong Đạo lại vẫn bảo ban mọi người trong/ngoài đời lời lẽ ân-tình, thật như thế. Và, người nghệ-sĩ ở đời lại cũng dùng lời ca/ý-nhạc khá đánh động, như sau:

“Lời nào muốn nói nhưng chuốc sầu thêm thôi,”

Tình nào buông trôi, như nắng chiều lưng đồi!

Một ngày nắng ấm, xin chấp cánh bay cao

Ðể rồi mai sau, còn ai nói yêu nhau,

Nhạc tình phôi pha, còn ai thấy xót xa

Người về nơi đâu, thung lũng sầu thêm sâu.

 Người xưa có quên chăng hay dỗi hờn ?

Người xưa vẫn tung tăng hay đã chợt sang ngang ??

Tình xưa đã chôn sâu trên lối sầu

Thời gian có bao lâu xin hãy đợi mưa ngâu

 Còn ai trong gió chiều?

còn ai thương nhớ nhiều?

Tình yêu cao ngất trời.

cho suốt đời đếm bước chơi vơi.

Còn đâu giây phút đầu?

còn ai nâng chén sầu?

Ðể ai quay bước về

cho ước thề buốt giá cơn mơ.

(Nguyễn Trung Cang – bđd)

 

Cũng hệt thế, trong gió chiều, “tình yêu cao ngất trời cho suốt đời đếm bước chơi vơi”. Cũng như vậy, lời thơ hay ý nhạc của nghệ-sĩ sẽ cùng với lời khuyên của bậc thánh-hiền đưa người đọc và người nghe đi mãi vào chốn êm đềm của tình “ngất trời”, vời vợi. Ở muôn nơi.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những ý-tưởng

Tuy còn hời hợt, như cơn mơ

Những vẫn là những lời phiếm

Cũng rất chân tình

và thành thật

đến suốt đời.  

Rao rao gió thổi phương xa lại,

“Rao rao gió thổi phương xa lại”,

Buồn đâu say ngấm áo xuân ai.

Lay bay lời hát, ơ buồn lạ.

E buồn trong mỗng có đêm nay.

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Đêm nay hay mai ngày, nhiều người vẫn buồn như thế. Nỗi buồn, như của người giàu có ở trình-thuật thánh Mác-cô hôm nay. Trình-thuật ở ngoài đời, lại cũng có những nỗi buồn ở đâu đó, cả trong Đạo lẫn ngoài đời, rất hôm nay.

John Calvin, người đầu sáng lập phong trào Thệ Phản, từng chống đối lập trường của Hội thánh Công giáo chủ trương coi luật lệ của Bí tích như phương cách cứu chuộc loài người: “Nếu anh biết giữ gìn luật pháp, thì pháp luật sẽ gìn giữ anh”.Ông có lý để phản bác đường lối rao giảng của một số linh mục, ngày hôm nay.

Ông chủ trương rằng Thiên Chúa định trước mọi việc. Ngài trao ban niềm tin cho ai thì kẻ ấy được cứu rỗi. Calvin biện luận rằng ai không được thế, sẽ bị thua. Chính vì thế, thật khó biết rằng ai là người nào. Chuyện này thật cũng khó.

Tuy thế, chỉ trong vòng vài năm sau đó, cộng đoàn kẻ tin theo ông ở Genève muốn biết làm thế nào để chắc chắn được rằng mình đi đúng đường. Để được rỗi. Và, đồ đệ của ông bèn phải giải thích là có hành xử cho đúng, cho phải lẽ mới hy vọng mình thuộc lớp người được Chúa thương cứu.

Hành xử cho phải, tức không say sưa, vui chơi cờ bạc, đàng điếm. Nhưng, biết làm việc cật lực, tiết kiệm tiền bạc và nhất mực tuân giữ mười điều giới lệnh, có thế mới được xếp vào hàng những người được tuyển chọn. Chẳng thế mà, sau khi Calvin qua đời, giới Thệ Phản đã tuân thủ luật đạo về luân lý rất nghiêm nhặt, thay cho 7 phép Bí tích, để nắm chắc con đường dẫn về Thiên quốc.

Người thanh niên trong Tin Mừng cũng nắm phần chắc là mình đi đúng đường, để được rỗi. Anh hiền lành. Là, dân con Do Thái tuân giữ mọi luật. Và, là người Chúa chỉ nhìn thấy đã chạnh lòng thương. Anh hy vọng luật lệ sẽ cứu rỗi anh. Bởi thế nên, anh vẫn chọn đường đến thiên đường bằng cách thức đúng nhất. Đúng thời. Đúng nơi. Nhưng Chúa đâu chối bỏ bất cứ một ai chỉ muốn sống đàng hoàng. Tử tế. Ngài hiến tặng thanh niên hiền phương cách hay hơn cả, là: chọn lựa tương quan đến với Chúa. Theo chân Chúa.

Bởi, nếu không quan hệ mật thiết với Ngài, thì lề luật và đạo đức chỉ là hình thức của bạo quyền. Không nên tin tưởng vào một Thần Linh đầy bạo quyền. Trái lại, chỉ nên tin Đấng từng đòi hỏi, thử thách mọi người ở những nơi mà người người dễ bị tổn thương nhất. Với người thanh niên trong truyện, của cải là chướng ngại lớn ngăn cản anh đến với Chúa. Khi quan hệ với Chúa, của cải tiền bạc và cuộc sống dễ dãi sẽ bị đặt vào tình thế có nguy cơ. Cần rời bỏ.

Với tín hữu thời tiên khởi, Tin Mừng nhấn mạnh vấn đề nghiêm trọng mà người người vẫn ưu tư khắc khoải: là: luật theo Chúa, phân chia giàu/nghèo, cộng đoàn quyết đi theo Ngài. So với tổ tiên, chúng ta cũng đã và đang thuần hoá tính triệt để của Tin Mừng hôm nay. Thuần hoá, vì thích thú nghĩ rằng luật lệ sẽ cứu được ta.

Trong khi Chúa lại bảo ơn cứu độ chỉ có được nếu ta biết quan hệ mật thiết với Chúa. Mật thiết, trong hy sinh suốt cuộc đời. Luật lệ chỉ hữu ích, tồn tại nếu chúng giúp ta đào sâu tương quan với Chúa, rồi từ đó biết phục vụ người anh em.

Cả luật đạo lẫn luật đời, nếu thực thi cho đúng cách, sẽ đem lại nhiều vấn nạn cùng thử thách có liên quan đến tính cách đạo đức của luật. Với thế giới, mà phần lớn tài nguyên phong phú đang nằm trong tay một số người da trắng trí thức, khuynh loát và, có đạo.

Thì, đòi hỏi của Tin Mừng nay sẽ trực chỉ và thử thách, như từng thử và thách người thanh niên giàu có nọ. Lời của Chúa còn đó, vẫn làm anh rất buồn:” Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo Tôi.” (Mc 10: 21)

Lời Ngài, nay khuyên dạy ta hãy bỏ mọi sự giàu sang phú quý, để lại đó. Mà theo Ngài. Luật lệ và tiền của, tự thân, vẫn chỉ là những sự vật lưng chừng ở giữa. Cũng tốt. Cũng xấu. Đủ cả. Nhìn mặt xấu, cả hai khuyến dụ ta vào với kiêu căng, quyền lực nhiều ham hố. Về mặt tốt, chúng nâng đỡ phục vụ việc giải thoát hết mọi người. Giúp người người giải và thoát thế giới để họ trở thành nơi chốn phản ánh Vương quốc của nhân cách. Của công lý. Của đồng đều, Chúa vẫn dạy

Quan niệm rằng, mọi sự sẽ thành hiện thực, nếu có Chúa, với Chúa, ta hãy cầu và mong sao cho Tiệc Thánh hôm nay ta cử hành, sẽ giúp ta ngưng lại, không còn tìm cách thuần hoá Tin Mừng Chúa dạy ban nữa. Nhưng, ta sẽ để cho Tin Mừng Lời Chúa dẫn dắt ta đi sâu vào với tương quan mật thiết Chúa. Ngài vẫn đoái nhìn chúng ta, từng người một.

Ngài nhìn, mà chạnh lòng thương. Nhìn và mời ta cùng mọi người trong chúng ta hãy viết lên luật yêu đương. Viết sâu luật đó trong tâm can đọng lắng, theo qui cách nào đó để người người sẽ bày tỏ cho nhau công lý và hoà bình. Ở mọi thời. Mọi nơi. Trong cuộc sống.

Trong cảm-nghiệm cuộc sống có vui có buồn, ta lại ngâm lên lời thơ buồn từng bảo rằng:

“Nắng sao nắng đời xưa ấy.

Nắng vàng con mắt thấy duyên đâu.

Muốn gởi thương về người cổ độ.

Mà sao tình chẳng nói cho đau.”

(Hàn Mặc Tử – Buồn Ở Đây)

Buồn ở đây hay ở đó, vẫn là nỗi buồn da diết, sầu thảm hoặc cay đắng khiến con người vẫn muốn vất bỏ, cả đêm ngày. Cầu mong sao, nỗi buồn người giàu kẻ nghèo sẽ không làm ta day dứt quên mất cốt lõi Tin Mừng muốn nói là: chỉ mỗi tình thương-yêu người đồng-loại mới là điều cần thiết hơn tất cả. Cả tiền bạc, của cải vật chất khiến thêm âu sầu nhiều ray rứt cả một đời.

Lm Richard Leonard sj biên soạn –

Mai Tá lược dịch

Tin Mừng (Mc 10: 17-30)

 Một hôm, Đức Giêsu vừa lên đường, thì có một người chạy đến, quỳ xuống trước mặt Người và hỏi: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Đức Giêsu đáp:“Sao anh nói tôi là nhân lành? Không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa. Hẳn anh biết các điều răn: Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ cha kính mẹ.” Anh ta nói:“Thưa Thầy, tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ.” Đức Giêsu đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến. Người bảo anh ta:“Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.” Nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.

Đức Giêsu rảo mắt nhìn chung quanh, rồi nói với các môn đệ: “Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!” Nghe Người nói thế, các môn đệ sững sờ. Nhưng Người lại tiếp: “Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa thật khó biết bao! Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.” Các ông lại càng sửng sốt hơn nữa và nói với nhau:“Thế thì ai có thể được cứu?” Đức Giêsu nhìn thẳng vào các ông và nói:”Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được.”

Ông Phêrô lên tiếng thưa Người:”Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!” Đức Giêsu đáp:”Thầy bảo thật anh em: Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau.”

Chris Mintz, người hùng trong vụ tàn sát ở Oregon

Chris Mintz, người hùng trong vụ tàn sát ở Oregon

Nguoi-viet.com

 ROSEBURG, Oregon (NV) – Trong vụ tàn sát ở trường Umpqua Community College hôm Thứ Năm, ông Chris Mintz bị trúng nhiều phát đạn và nay được tuyên dương anh hùng.

Ảnh chụp ông Chris Mintz đang hồi phục được người anh em họ đưa lên mạng. (Hình: Go Fund Me/Chris Mintz)

Theo đài NPR, người ta được biết, lúc xảy ra vụ nổ súng, ông chạy về phía hung thủ và tìm cách chận cửa lớp học, nhờ vậy bảo vệ được tính mạng cho nhiều sinh viên.

Ông Mintz, 30 tuổi, một cựu chiến binh đã có con và từ North Carolina chuyển đến sống ở Oregon, nay đang hồi phục dần sau cuộc giải phẫu.

Sinh viên Hannah Miles, 19 tuổi, kể lại: “Tôi thấy ông Mintz chạy về phía thư viện rồi kéo chuông báo động. Ông bảo mọi người lo chạy đi trong khi ông phóng trở lại phía tòa nhà nơi phát xuất tiếng súng.”

Bà Wanda Mintz, dì của ông, cho biết chi tiết vì sao ông bị thương: “Trong khi cố chận cửa để hung thủ không thể vào được, cháu tôi bị trúng ba phát đạn. Gục xuống sàn nhưng nó vẫn nhìn lên và nói, ‘hôm nay là sinh nhật con tao,’ thế là nó bị bồi thêm hai phát nữa.”

Gia đình ông Mintz nói, ông bị gãy cả hai chân.

Bà Wanda Mintz thêm rằng vì cháu bà là cựu cầu thủ football và đô vật, “tôi nghĩ nếu nó không mạnh và còn trẻ như vậy chưa chắc nó sống nổi.”

Ông Derek Bourgeois, một người anh em họ của ông Mintz, mở trang Go Fund Me để quyên góp giúp trả chi phí y tế cho ông. Chỉ trong hai giờ, số tiền thu được $20,000, nhiều hơn gấp đôi con số mong ước là $10,000.

Tuy nhiên, cho đến chiều Thứ Sáu, số tiền quyên góp lên đến gần $360,000.

Câu chuyện của người cựu chiến binh thu hút sự chú ý rộng rãi và ông Mintz nhanh chóng trở thành một đề tài nóng trên truyền thông xã hội, rằng tên của ông chứ không phải của hung thủ là cần được ghi nhớ mỗi khi nhắc đến vụ tấn công làm chết chín nạn nhân này.

Ngay chính các giới chức địa phương cũng cương quyết từ chối nói đến tên hung thủ nơi công cộng.

Ông Mintz là một trong bảy người bị thương trong cuộc tấn công. Những người này trong hạng tuổi từ 18 đến 34.

Hôm Thứ Sáu, một người bạn đăng một cập nhật trong mục sơ lược tiểu sử của ông Mintz, nói rằng, “Chris nhờ tôi gửi lời cám ơn đến mọi người vì sự ủng hộ của họ dành cho anh. Anh tri ân và không bao giờ quên cộng đồng cũng như tất cả các nạn nhân.” (TP)

Mâu thuẫn ăn nhậu, hai thầy giáo đánh nhau, một người nhập viện

Mâu thuẫn ăn nhậu, hai thầy giáo đánh nhau, một người nhập viện

Nguoi-viet.com

HÀ TĨNH (NV) – Lao vào đánh nhau sau cuộc nhậu do mâu thuẫn, khiến một người phải nhập viện cấp cứu, hai thầy giáo ở Hà Tĩnh bị đình chỉ công tác.

Trường tiểu học Hương Liên, nơi hai thầy giáo đánh nhau đang công tác.
(Hình: VnExpress)

Truyền thông Việt Nam loan tin, sáng 2 tháng 10, ông Trần Đình Hùng, trưởng phòng Giáo Dục và Đào Tạo huyện Hương Khê, cho biết đã chỉ đạo trường tiểu học Hương Liên xử lý vụ đánh nhau giữa hai thầy giáo Trần Song Hào và Trần Văn Kham.

“Ông Kham bị đình chỉ công tác từ ngày 25 tháng 9. Ông Hào đã xuất viện, nhưng đang ốm nên chưa tới trường. Khi nào trở lại làm việc cũng sẽ bị đình chỉ. Dự kiến thời hạn đình chỉ kéo dài một tuần,” ông Hùng nói.

Theo tin Thanh Niên, trước đó, khoảng 2 giờ chiều 19 tháng 9, 2015, sau khi kết thúc cuộc ăn nhậu ở xã Hương Liên, lúc đã ngà ngà say, ông Hào và ông Kham xảy ra xích mích rồi lao vào đánh nhau.

Một lãnh đạo trường tiểu học Hương Liên kể lại, trong lúc xô xát, thầy Kham lấy một khúc cây đánh mạnh vào người thầy Hào, khiến bị thương nặng phần đầu và tay, phải đi cấp cứu tại Bệnh Viện Đa Khoa Hà Tĩnh. Phòng Giáo Dục huyện Hương Khê sau đó đã yêu cầu hai thầy giáo viết bản tường trình sự việc.

Điều gây quan ngại và lấy làm lạ cho dư lận là theo ông Hùng: “Khi cơ quan chức năng xem xét, giải quyết xong hành vi đánh nhau của ông Hào và ông Kham thì sẽ cho hai người này trở lại trường giảng dạy bình thường.” (Tr.N)