Học giả = làm ruộng

Học giả = làm ruộng

GS Nguyễn Văn Tuấn

Nguyễn Đổng Chi là một học giả nổi tiếng. Mới đọc bên fb của Hoàng Oanh thấy người ta tổ chức hội thảo 100 năm ngày sinh của ông, và cái hình chụp lại tờ “Giấy thông hành” cấp cho ông vào ngày 24/5/1955 (tức thời Cải cách ruộng đất) rất thú vị. Tờ giấy ghi nghề nghiệp của ông là “làm ruộng”, nhưng phía dưới ghi mục đích của chuyến đi là “gặp Ban nghiên cứu Văn Sử Địa”. Vui thật! Một anh nông dân mà có việc gì phải đi gặp một cơ quan nghiên cứu, mà còn nghiên cứu văn sử địa!

Tờ giấy thông hành là một chứng từ cho một thời tăm tối. Thời đó, dĩ nhiên những người như cụ Nguyễn Đổng Chi được xem là thành phần trí thức, tức là nằm trong nhóm bị “Đào tận gốc, trốc tận rễ”. Cho nên, ông quan chức công an Hà Tĩnh mới thương tình cho ông cái nghề rất hiền lành là “làm ruộng” cho an toàn trên đường đi từ Hà Tĩnh ra Hà Nội.

Tôi không rõ có bao nhiêu bạn trẻ ngày nay còn nhớ — hay thậm chí biết — đến Nguyễn Đổng Chi, chứ những người thuộc thệ hệ tôi lớn lên ở miền Nam trước 1975 thì ông là học giả rất nổi tiếng. Gia đình tôi có một bộ sách do Ba tôi sưu tầm. Bộ sách gồm nhiều truyện Tàu như Tam Quốc Chí, Thuỷ Hử, Hán Sở Tranh Hùng, v.v.. Đặc biệt là cuốn Kho Tàng Truyện Cổ Tích của Nguyễn Đổng Chi. Có thể nói tôi lớn lên với những truyện trong cuốn đó. Ngày ngày đi học về, tôi ngấu nghiến đọc những truyện trong đó và tha hồ .. tưởng tượng. Ôi, một thời thiếu niên thật thần tiên với những truyện con sam, sự tích cái chổi, ông bình vôi, cái chân con chó, v.v. Văn chương giản dị, nhân cách hoá sự vật làm cho mình rất gần với sự vật, cộng với minh hoạ (chỉ vẽ tay) làm cho cuốn sách là một cuốn không thể thiếu được trong tủ sách gia đình.

Ấy thế mà sau này tôi được biết ông cụ này cũng bị lọt vào dòng xoáy của cơn lốc “Nhân văn giai phẩm”. Dưới áp lực của đảng, ông viết bài chỉ trích và vu khống cụ Phan Khôi, một học giả nổi tiếng khác. Nhưng cụ Đổng Chi là người đàng hoàng và nhà văn hoá lớn, nên ông có chối lại cho con trai (tức là Giáo sư Nguyễn Huệ Chi) giải oan cho cụ.

Nhưng qua buổi hội thảo kỉ niệm ngày sinh của ông, chúng ta mới biết “người ta” vẫn còn rất dè dặt với các học giả đương thời. Theo Hoàng Oanh kể lại thì hội thảo không phải suôn sẻ như chúng ta nghĩ. Oanh viết:

“Để hội thảo có thể tiến hành được thì Ban tổ chức (Hội Văn học Nghệ thuật TPHCM, Nhà xb Trẻ, Tập đoàn truyền thông Thanh Niên) không được đăng tham luận của nhà văn Nguyên Ngọc vào kỷ yếu hội thảo, không được mời nhà văn Nguyên Ngọc; ông con Nguyễn Huệ Chi không được phát biểu cám ơn và những người tham dự hội thảo mà phải giao cho cô út, muốn trao đổi với các ý kiến tham luận thì đứng dưới hội trường chứ không được lên bục diễn giả, và nhiều chuyện khác …”

Hoàng Oanh nói là “chuyện bên lề”, nhưng tôi thì thấy đó là chuyện quan trọng. Quan trọng là vì những câu chuyện như thế nói lên một sự thật là có những thế lực vô hình cố tình gây cản trở cho tự do học thuật. Và, thế lực này không từ bỏ một tiểu tiết nào, cho dù là rất hèn, để đạt được mục tiêu của họ. Do đó, tôi cũng rất ngạc nhiên như Hoàng Oanh là “Nền tự do như vậy mà lại đi ‘giải phóng’ một nơi tự do khác”. Thế mới có ông nhạc sĩ nào đó sáng tác bài “Anh giải phóng tôi, hay tôi giải phóng anh”.

Nguồn: FB Nguyễn Tuấn

Thêm một chứng từ không hay

Thêm một chứng từ không hay

GS Nguyễn Văn Tuấn

Chúng ta, người Việt, gọi tên Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này thì ai cũng biết. Nhưng bạn nghĩ sao nếu chính phủ VN gọi theo người Tàu là “Tây Sa” và “Nam Sa”? Ấy thế mà đó là cách gọi trên giấy trắng mực đen của Bộ Ngoại giao VNDCCH!

Tôi mới đọc trên fb của bác Hoàng Dzũng viết về một tài liệu được trưng bài trong buổi hội thảo kỉ niệm 100 năm ngày sinh của học giả – nhà văn Nguyễn Đổng Chi. Tài liệu là một văn bản của Bộ Ngoại giao VNDCCH gửi cho học giả Nguyễn Đổng Chi vào ngày 22/1/1974. Nhưng cái tên trong văn bản đó mới là đáng nói. Nguyên văn như sau:

“BỘ NGOẠI GIAO VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Số LS/BG Độc lập Tự do Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 22 tháng 1 năm 1974

Kính gửi: Đ/c Giám đốc Thư viện nhà nước
Đ/c Giám đốc Thư viện Khoa học xã hội
Đ/c Cục trưởng Cục Lưu trữ
Đ/c Viện trưởng Viện Sử học

Thủ tướng Chính phủ cần tư liệu về vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Tây sa và Nam sa.

Đề nghị đồng chí bố trí cán bộ làm việc trong mấy ngày tết sưu tầm gấp các tư liệu, bản đồ về vấn đề này để trong vài ba ngày kịp trình lên đồng chí Thủ tướng. Chúng tôi xin cử cán bộ đến trực tiếp trình bày với các đồng chí để nói rõ thêm vấn đề này.

KT/BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO
Thứ trưởng
Hoàng Văn Tiến”

Để đặt cái công văn này trong bối cảnh, chúng ta cần phải nhớ rằng Tàu cộng đánh chiếm Hoàng Sa từ VNCH vào ngày 19/1/1974. Trận hải chiến đó (do VNCH nổ súng trước) làm cho 75 lính hải quân hi sinh.

Ba ngày sau, Bộ Ngoại giao VNDCCH mới gửi công văn này đến học giả Nguyễn Đổng Chi để … “sưu tầm tài liệu” trình Thủ tướng. Nói cách khác, VNDCCH có vẻ chẳng biết chủ quyền hai quần đảo đó là thuộc Việt Nam! Chuyện khó tin nhưng có thật. Chuyện càng khó tin khi Bộ Ngoại giao VNDCCH mà dùng danh xưng của Tàu cộng để chỉ 2 quần đảo của Việt Nam! Nhưng nhìn chung, cái công văn đó cho thấy khi Tàu cộng đánh chiếm Hoàng Sa của VNCH, phía VNDCCH … không biết nói gì. Nói cách khác, họ mù mờ về sự thật lịch sử.

Trước đây, tôi vẫn bán tín bán nghi khi Tàu cộng chúng rêu rao rằng VNDCCH từng tuyên bố rằng Hoàng Sa thuộc về Tàu. Chúng tung tài liệu nói rằng “Ngày 15/6/1956, trong khi tiếp đại diện lâm thời của Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, Lý Chí Dân, Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nói với ông rằng: ‘Theo dữ liệu của Việt Nam, quần đảo Tây sa và quần đảo Nam Sa về mặt lịch sử là một phần lãnh thổ của Trung Quốc’” (1). Tuyên bố này có thật, vì cuốn sách “Cuộc tranh chấp Việt – Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” của ông Lưu Văn Lợi do Nhà xuất bản Công an Nhân dân Hà Nội phát hành năm 1995, xác nhận.

Trong một bài viết mới đây, Gs Vũ Cao Đàm (ĐHQG Hà Nội) có nói đến quan điểm của ông Lê Duẩn lúc Tàu cộng đám chiếm Hoàng Sa từ VNCH như sau:

“Còn khi Tàu Cộng chiếm Hoàng Sa thì mấy ông tuyên huấn của Bác Duẩn lại báo tin mừng cho chúng tôi biết, là ‘bạn’ đã giúp ta lấy lại Hoàng Sa ‘từ tay quân ngụy’. […] Hỏi quân ngụy là ai mà dám chiếm đóng Hoàng Sa, thì mới tá hỏa ra là bọn họ cũng là người Việt Nam, đang cầm súng chiến đấu bảo vệ đảo của nước ta” (2).

Câu chuyện trên đây do bác Vũ Cao Đàm kể lại, cùng với chứng từ “Tây Sa, Nam Sa” của Bộ Ngoại giao VNDCCH, và phát biểu của ông Ung Văn Khiêm tiết lộ một cách khá nhất quán rằng thời đó mấy quan chức và lãnh đạo cao cấp ngoài Bắc rất mơ hồ về chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa. Do đó, ngày nay khi những người nối nghiệp họ phải gặp khó khăn lớn khi đương đầu với những chứng từ do chính họ sản sinh.

___

(1) Miền Bắc có tuyên bố Hoàng Sa của TQ? (BBC).

(2) Bác Trọng làm theo lời dạy của Bác Hồ hay lời dạy của các bác khác? (BVN/ Ba Sàm).

Nguồn: FB Nguyễn Tuấn

____

Lam Điền

Công văn Mật ở hội thảo Nguyễn Đổng Chi

08-05-2015

Hôm qua hội thảo 100 năm ngày sinh Nguyễn Đổng Chi. Ngoài phần tham luận của học giới các chuyên ngành, phía gia đình đem đến một triển lãm nho nhỏ, bao gồm hình chụp các tư liệu, bản thảo, giấy tờ công tác hồi GS Nguyễn Đổng Chi còn sinh thời và còn làm việc.

Trong số hình ảnh triển lãm ấy có 1 bản công văn của Bộ Ngoại giao, chữ đánh máy, có đóng dấu Mật và Hỏa tốc, đề ngày 22-1-1974, gửi cho các nơi như này: – Đ/c Giám đốc Thư viện Nhà nước; Đ/c Giám đốc Thư viện Khoa học xã hội; Đ/c Cục trưởng cục Lưu trữ; Đ/c Viện trưởng Viện Sử học.

Nội dung là:

Thủ tướng Chính phủ cần tư liệu về vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa.

Đề nghị đồng chí bố trí cán bộ làm việc trong mấy ngày Tết sưu tầm gấp các tư liệu, bản đồ về vấn đề này để trong vài ba ngày kịp trình lên đồng chí Thủ tướng.

Chúng tôi xin cử cán bộ đến trực tiếp trình bày với các đồng chí để nói rõ thêm về vấn đề này.

Công văn có dấu Bộ Ngoại giao, chữ ký của Thứ trưởng Hoàng Văn Tiến.

Ngoài ra, bên cạnh còn có bút tích ghi bằng mực màu đen: Đề nghị anh Chi tích cực thực hiện giúp. Chữ ký bên dưới đọc có lẽ là “Văn Tạo”.

Đây là công văn ra đời 3 ngày sau khi Hoàng Sa bị Trung Quốc tiến chiếm (19-1-1974). Nội dung thể hiện không khí gấp gáp của Chính phủ thông qua ý muốn của Thủ tướng cần có tư liệu, bản đồ thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nên đã chỉ thị các cơ quan liên quan tìm ngay trong mấy ngày tết.

Ảnh chụp công văn này khi đưa triển lãm được chú thích là: “Chỉ thị mật của Bộ Ngoại giao yêu cầu khảo sát tài liệu về Hoàng Sa và Trường Sa trong những ngày tết năm 1974”.

Vấn đề là, mình chưa tra ra được vào thời điểm công văn này phát ra, thì GS Nguyễn Đổng Chi giữ chức vụ/ nhiệm vụ gì cụ thể. Tương tự, mình cũng chưa biết vào lúc đó GS Văn Tạo giữ chức vụ/ nhiệm vụ gì. Nhiều khả năng bút phê kia là của Văn Tạo, nếu vậy, công văn này từ chỗ Thứ trưởng Bộ Ngoại giao đến chỗ GS Văn Tạo, rồi mới đến GS Nguyễn Đổng Chi. Và quan trọng hơn, kết quả của chuyến làm việc gấp rút trong mấy ngày tết 1974 ấy là gì? Rồi sau đó Chính phủ đã làm gì tiếp theo.

Tuy nhiên, cách dùng chữ Tây Sa và Nam Sa trong công văn này gợi cho mình một ý muốn tìm hiểu là cụm từ Hoàng Sa, Trường Sa xuất hiện lần đầu tiên trong văn bản hành chính của chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là vào lúc nào, ở đâu?

TÌNH MẪU TỬ

TÌNH MẪU TỬ

(Nhân ngày HIỀN MẪU xin gởi truyện ngắn này,  khi đọc coi có cầm được nước mắt không?)

–   Anh về ngay đi, em hết chịu nổi rồi, mẹ anh phiền thật.

–   Uhm, mẹ anh phiền thật, bây giờ anh đang có cuộc họp quan trọng, tối về anh sẽ giải quyết nha em.

Tiếng đầu dây bên kia dập máy nghe có vẻ rất tức tối, anh buông thõng người ra sau ghế, ở bên kia cô nhìn ra phía cửa như đang cố nuốt trôi một cái gì đó vào mình.

–   Anh nhìn đi, đó, đây này, hôm nay em sắp, ngày mai em xếp, cứ một người dọn, một người lại bày ra như vậy, ai mà chịu nổi.  Em sắp điên rồi đây.  Cô vò đầu trong 1 trạng thái vô cùng tức giận, anh lại gần cô, lấy tay xoa xoa hai bờ vai gầy gầy, cô hất chúng ra.

–  Em vào đây – Anh nhẹ nhàng nắm lấy tay cô kéo vào phòng, khép hờ cửa, anh lấy xuống một chiếc hộp được đặt trên nóc tủ, lấy tay phủi nhẹ, anh nhìn cô mỉm cười.

–  Mẹ phiền thật, ngày mai mình đưa mẹ đến viện dưỡng lão em nhé, còn bây giờ để anh cho em biết mẹ chúng ta phiền đến mức nào.

Anh mở chiếc hộp ra, bên trong là một xấp hình, anh lấy ra một tấm đã cũ, nhưng chẳng hề dính tí bụi nào, cô tò mò nhìn vào tấm ảnh.

–   Em thấy không, đây là tấm hình mà Dì anh đã chụp lúc anh sinh ra, Dì kể vì mẹ yếu nên sinh lâu lắm, mà sinh lâu chắc là đau lâu em nhỉ, mà mẹ phiền thật, cứ la hét ầm ĩ cả lên, ai mà chẳng sinh.  Dì còn nói, mẹ yếu lắm, nếu cứ cố sinh thì sẽ nguy hiểm cho người mẹ, bác sĩ đã nói như vậy rồi vậy mà mẹ vẫn cố cãi: “Không, con tôi phải ra đời, tôi phải sinh,” mẹ anh phiền thật đó.

Cô nhìn tấm hình, bàn tay cô nhẹ bổng, rồi cô nhìn anh, trong mắt anh chứa một điều gì đó rất lạ.  Anh cẩn thận bỏ tấm hình đó qua một bên, lấy một tấm khác cho cô xem.

–   Em nhìn nè, đây là bức ảnh chụp lần đầu tiên anh bú mẹ, anh chẳng thấy ai phiền như mẹ cả.  Bà nội, bà ngoại nói cả rồi, mẹ yếu, không đủ sữa để cho anh, uống sữa bình đi, ở đó mà dưỡng sức, nhưng một hai cứ khư khư giữ anh vào lòng “Không, con con nhẹ cân, phải bú sữa mẹ mới tốt.”  Ai nói gì cũng cãi em nhỉ, nếu không anh được uống sữa bình rồi, sữa bình phải ngon hơn chứ, mẹ anh phiền thật.

Bàn tay cô run run, cô thấy ánh mắt của người mẹ trong bức ảnh ánh lên vẻ rất hạnh phúc, hai bàn tay cô ta cứ giữ chặt đứa bé.  Cô nhìn anh không nói gì cả.

–   Còn nữa đây này – Anh lại lôi ra một tấm khác nhìn vào đó.

–   Em thấy mẹ anh phiền ghê chưa, con nít hơn một năm ai chẳng chập chững biết đi, mẹ cứ làm như chỉ có con mẹ mới làm được điều đó không bằng.  Ba kể mẹ cứ gặp ai là cũng hí hởn khoe “Thằng cu Tin nhà tôi đi được rồi, nó biết đi rồi đó.”  Bộ mẹ không thấy phiền hay sao em nhỉ? – Bờ môi cô như muốn nói một cái gì đó nhưng cổ họng thì ứ nghẹn lại, bức ảnh đứa trẻ con chập chững đi về phía mẹ trong tấm hình, cô nhìn mãi.  Ba còn kể, từ ngày anh bắt đầu bi bô tập nói rồi gọi được tiếng mẹ là nguyên những ngày sau là một chuỗi điệp khúc” Cu Tin gọi mẹ đi, gọi mẹ đi cu Tin,” mẹ phiền quá đi mẹ à, anh mỉm cười xoa nhẹ vào bức ảnh, mắt anh đang long lanh thì phải.

–   Đây nữa, đây nữa này – Anh lôi ra nguyên một xấp, nhiều lắm, rất nhiều ảnh – Em thấy mẹ anh phiền ghê chưa, chụp làm gì mà lắm ảnh vậy không biết, lần đầu tiên anh vào mẫu giáo, có phiếu bé ngoan, rồi tiểu học, trung học, nhận bằng khen, em coi đi, đủ trò trên đời, coi hình của anh có mà đến tết mới xong, anh phì cười, “mẹ anh phiền nhỉ?”

Cô nhìn anh, anh không cười nữa, anh cầm một tấm hình lên nhìn vào đó rất lâu, cô thấy nó, một tấm hình rất đẹp, anh rất đẹp trong bộ áo tốt nghiệp cử nhân, anh lúc đó trông điển trai quá, cao ráo, nhưng…

–   Em có thấy không?  Tóc mẹ anh đó, rối em nhỉ?  Còn áo quần nữa này, cũ mèm…-  Cô nghe thấy giọng anh trở nên khác đi, không đều đều như lúc ban đầu nữa, đứt quãng.  Cô nắm lấy tay anh.

–   Năm 15 tuổi, ba bỏ mẹ con anh lại, rồi lúc đó, mọi thứ trong nhà trở nên không có điểm tựa, anh đi học, mẹ bắt anh phải học…  Em không biết đâu, anh xin nghỉ nhưng mẹ không cho, phiền như vậy chứ.   Mẹ cứ sáng sớm đi phụ quán cơm cho người ta, trưa ăn một chén cơm thừa trong quán để dư tiền cho anh học thêm ngoại ngữ, rồi chiều đến chạy đi giặt đồ cho những bà mẹ không phiền khác, để họ đi mua sắm, cà phê, giải trí…-  Giọng anh lạc hẳn – Còn nữa em ạ, tối đến mẹ lại tiếp tục đi làm lao công đường phố, sáng sớm mới về chợp mắt được một tí thôi, vậy đó…  Em thấy mẹ anh khỏe không?

“Tách”, một giọt nước rơi xuống trên tấm hình, mắt cô cũng nhòe đi, khác thật, một bà mẹ trẻ với gương mặt xinh đẹp lúc đứa con mới bi bô tập nói, và cũng với gương mặt phúc hậu đó nhưng giờ làn da đã nhăn đi, khuôn mặt gầy hẳn khi đứng cạnh cậu con trai lúc chuẩn bị ra trường.

–   Anh à – Bàn tay cô nắm lấy bàn tay run run của anh.

–   Em có thấy tay mẹ rất yếu không, anh chẳng bao giờ kể em nghe nhỉ.  Khi năm tuổi, anh đùa nghịch chạy nhảy lung tung, lúc đuổi bắt cùng cô nhóc hàng xóm anh đã trượt chân ngã từ cầu thang xuống. Lúc đó, anh chẳng thấy đau một chút nào cả, chỉ nghe một tiếng kêu rất thân quen, em có đoán được không, anh đang nằm trên một thân thể rất quen…mẹ anh đó. – Cô sững người lại, nước mắt cô trào ra, rơi xuống ướt đẫm tay anh.

–   Em à, mẹ anh phiền vậy đó, phiền từ khi anh chuẩn bị lọt lòng cho đến khi anh gần đón đứa con đầu tiên của mình, chưa hết đâu, mẹ sẽ còn phiền cả đời em ạ, bây giờ lớn rồi mẹ vẫn cứ lẽo đẽo theo anh dặn đủ thứ em không thấy sao, cơm phải ăn ba chén, đi xe phải chậm thôi, đừng có mà thức khuya quá. Mẹ anh phiền thật, ngày mai mình đưa mẹ đến viện dưỡng lão em nhé.

“Anh”, cô ôm chặt lấy anh, cô òa khóc nức nở, “em xin lỗi”, anh ôm lấy cô vỗ về, vỗ về như ngày xưa anh vẫn thường được làm như vậy.

“Choang” – Anh và cô chạy nhanh xuống bếp.

–   Mẹ xin lỗi, mẹ nghe con thèm chè hạt sen nên mẹ đi nấu, nhưng…  Giọng mẹ run run không dám nhìn về phía trước, cúi người nhặt những mảnh vỡ vừa rơi.

–   Mẹ à – Cô chạy đến nắm lấy bàn tay xương xương của mẹ – Từ nay mẹ đừng phiền nữa nhé, để con phiền mẹ cho – Cô ôm chặt mẹ, nước mắt thấm đẫm vai áo mẹ, mẹ nhìn anh, anh nhìn cô trong lòng của mẹ.

“Mẹ đã không sinh lầm con và con cũng đã không chọn nhầm dâu cho mẹ, phải không ạ?”

Lung Việt (T.H)

Chi tiền tỷ xây trạm y tế nhưng chỉ có một giường bệnh

Chi tiền tỷ xây trạm y tế nhưng chỉ có một giường bệnh

Nguoi-viet.com

QUẢNG NGÃI (NV) Hai trạm y tế ở hai xã của huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi, được chính quyền bỏ hơn 9 tỷ đồng xây dựng, thế nhưng mỗi trạm chỉ có một chiếc giường cho bệnh nhân. Số bệnh nhân còn lại phải nằm dưới đất.


Dù được xây dựng khá khang trang nhưng trạm y tế xã Thanh An chỉ có 1 chiếc giường cho bệnh nhân. (Hình: Người Lao Ðộng)

Theo báo Người Lao Ðộng, vào tháng 1, 2014, trạm y tế xã Thanh An, huyện Minh Long, được xây mới hết 4.2 tỷ đồng với 6 phòng khang trang. Thế nhưng từ đó đến nay, trạm y tế này chỉ có 1 chiếc giường cho bệnh nhân, không có thiết bị y tế chuyên dùng.

Ông Nguyễn Diên Ngôn, trạm trưởng trạm y tế xã Thanh An cho báo này biết, chiếc giường này được chuyển qua từ trạm y tế cũ và đã xài hơn 15 năm. “Nhiều lúc bệnh nhân đến đông, vì không có giường nên các y tá phải cho… nằm đất. Do vậy, người dân ngán ngẩm nên ít đến đây điều trị.”

Tương tự, trạm y tế xã Long Mai cũng được đầu tư hơn 5 tỷ đồng và đưa vào hoạt động gần 1 năm qua, nhưng phần lớn các phòng đều đóng cửa vì không có bàn ghế và trang thiết bị y tế khám chữa bệnh. Cả trạm y tế này cũng chỉ có 1 giường bệnh duy nhất.

Theo ông Nguyễn Văn Thuần, chủ tịch huyện Minh Long thì, trạm y tế 2 xã Thanh An và Long Mai được huyện cấp vốn xây dựng. Còn việc mua sắm trang thiết bị y tế là do Sở Y Tế Quảng Ngãi quyết định.

Bà Ðinh Mai Hương, giám đốc trung tâm y tế huyện Minh Long thừa nhận, tình trạng thiếu giường cho bệnh nhân ở các trạm y tế xã đã tồn tại lâu nay và hầu như trạm nào cũng thiếu, trong khi việc đầu tư trang thiết bị y tế phải xin chủ trương của Sở Y Tế. Trung tâm đã kiến nghị và sở đã hứa cấp tiền nhưng đến giờ vẫn chưa có. Vì vậy các trạm y tế chủ yếu làm sơ cứu, phần lớn bệnh nhân được chuyển lên huyện, tỉnh hoặc nằm tại nhà. (Tr.N)

Hàng loạt đòi hỏi gay gắt phải trả tự do cho Tạ Phong Tần

Hàng loạt đòi hỏi gay gắt phải trả tự do cho Tạ Phong Tần

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-05-07

05072015-intensiv-req-to-relea-ta-p-tan.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Ngày 25 tháng 3 năm 2015 tổ chức Bảo Vệ Ký Giả Quốc Tế (CPJ) mở chiến dịch "Tháo còng báo chí” (Press Uncuffed ), Tạ Phong Tần được nêu tên trong danh sách 9 người trên khắp thế giới

Ngày 25 tháng 3 năm 2015 tổ chức Bảo Vệ Ký Giả Quốc Tế (CPJ) mở chiến dịch “Tháo còng báo chí” (Press Uncuffed ), Tạ Phong Tần được nêu tên trong danh sách 9 người trên khắp thế giới

RFA files

Trong ngày Tự do báo chí Thế giới Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã yêu cầu đích danh chính phủ Việt Nam trả tự do ngay lập tức cho bà Tạ Phong Tần, một nhà báo độc lập, một blogger có nhiều bài viết phân tích và chỉ trích chính phủ Việt Nam, đang bị giam giữ với bản án 10 năm tù giam. Mặc Lâm có thêm chi tiết về vấn đề này.

Bộ Ngoại giao Hoa kỳ lên tiếng

Mới đây, trong một thông báo từ Bộ Ngoại giao Hoa kỳ, phát ngôn viên Jeff Rathke đã có những phát biểu ngắn nhưng đầy đủ ý nghĩa như sau:

“Bà Tạ Phong Tần người nhận giải thưởng Phụ nữ Can đảm Quốc tế vào năm 2013 hiện đang bị 10 năm tù giam vì đã viết blog chỉ trích nhà nước và đảng Cộng sản. Bà là người đầu tiên trong số những blogger viết bài bình luận các sự kiện chính trị, những chủ đề mà bao lâu nay vẫn bị giới hạn bởi nhà cầm quyền. Chúng tôi kêu gọi chính quyền Việt Nam ngay lập tức trả tự do cho Tạ Phong Tần và đồng thời cho phép người dân Việt Nam bày tỏ quan điểm chính trị của họ một cách tự do cả trên mạng lẫn trong đời sống.”

” Chúng tôi kêu gọi chính quyền Việt Nam ngay lập tức trả tự do cho Tạ Phong Tần và đồng thời cho phép người dân Việt Nam bày tỏ quan điểm chính trị của họ một cách tự do cả trên mạng lẫn trong đời sống

Jeff Rathke Bộ ngoại giao Hoa Kỳ”

Thông điệp của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chưa nhận được bất cứ phản hồi nào từ Hà Nội như thường lệ có lẽ do Việt Nam đang lo trình bày vấn đề nhân quyền trong cuộc Đối thoại nhân quyền với phái đoàn đến từ Washington DC và dù muốn hay không trong lần đối thoại này chắc chắn cái tên Tạ Phong Tần sẽ được mang ra bàn thảo.

Tạ Phong Tần được giới quan sát nhân quyền biết tới do những hoạt động trình bày quan điểm cũng như tố cáo những sai trái của chính quyền qua ngòi viết. Từng là một sĩ quan công an bà biết mọi mánh khóe của công an trong các vụ tham nhũng móc ngoặc hay bắt giam tra tấn người vô cớ. Những bài viết sống động của bà trên trang blog riêng có tên “Công lý và sự thật” đã làm an ninh mạng chú ý và sau cùng cáo buộc bà chống phá nhà nước với những tư tưởng sai trái.

Tháng 9 năm 2011 Tạ Phong Tần bị bắt về tội tuyên truyền chống nhà nước chung với nhà báo tự do Điều Cày Nguyễn Văn Hải và Anh Ba Saigon. Ngày 24 tháng 9 năm 2012 bà bị án tù 10 năm và bị giải giao qua nhiều nhà tù từ Nam ra Bắc. Nhà báo tự do Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, một đồng đội của Tạ Phong Tần trong cùng vụ án cho biết:

-Tôi biết Tạ Phong Tần khi cô ấy đến tham dự phiên tòa xử tôi kiện công an phường Bến Thành tại tòa dân sự thành phố Sài Gòn. Trong khi gặp nhau tại phiên tòa đó thì cô ấy có mời tôi đến thăm văn phòng cô ấy làm việc và từ ngày đó chúng tôi quen biết với nhau trong nhóm Câu lạc bộ nhà báo tự do (CLBNBTD) Khi câu lạc bộ thành lập thì trên trang blog của câu lạc bộ chia sẻ về các cách thức tham gia, thực hiện. Những hoạt động của CLBNBTD, những vần đề liên quan đến pháp lý khi thành lập câu lạc bộ thì Tần là một trong những người đã đóng góp rất nhiều thông tin trên đó. Chính vì vậy chúng tôi có mối liên hệ trước khi mà Tần tham gia viết bài trên trang CLBNBTD.

Mẹ tự thiêu để phản đối

Ngày 30 tháng 7, bà Đặng Thị Kim Liêng, mẹ của Tạ Phong Tần đã tự thiêu ở phía trước của cơ quan chính phủ tỉnh Bạc Liêu để phản đối các cáo buộc đối với con gái của mình.

Bà Dương Thị Tân một người từng có thời gian dài sống và chia sẻ với Tạ Phong Tần cho biết suy nghĩ của bà về người phụ nữ bất khuất này:

Bà Đặng Thị Kim Liêng, mẹ của Tạ Phong Tần đã tự thiêu ngày 30 tháng 7, 2012

Bà Đặng Thị Kim Liêng, mẹ của Tạ Phong Tần đã tự thiêu ngày 30 tháng 7, 2012

” Lúc em vô tới em báo mẹ chết thì chỉ nói “tao biết rồi”, em hỏi ủa sao chị biết thì chỉ nói “bọn nó nói cho tao hay”. Bọn nó đã chuyền cái thông tin đó vô cho chỉ biết trước rồi cho nên khi chị biết thông tin do em nói thì chỉ có khóc thôi

Cô Tạ Minh Tú”

-Khi mà tôi biết cô Tạ Phong Tần là lúc mà cô ấy bị truy đuổi rất là gắt gao vì tham gia Câu lạc bộ nhà báo tự do cũng như những bài mà cô viết trên báo phản ảnh mặt trái những tiêu cực của xã hội. Bị người ta truy sát bị người ta đuổi và gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt đời sống cũng như nơi cư trú. Tôi biết rất rõ về cô ấy khi đã ở nhà tôi trong khoảng thời gian gần hai năm. Không còn nơi chốn nào để đi kể cả người dì ruột hay một người bạn rất thân vì áp lực mà quay ra không cưu mang nữa.

Tôi nghĩ rằng những việc cô ấy làm thì rất là rõ. Đầu tiên là tham gia vào Câu lạc bộ nhà báo tự do phản ảnh những mặt trái của xã hội, những tiêu cực của ngành công an những lộng quyền, những mặt xấu nói chung cô ấy đã mất việc làm bị thu hồi giấy tờ tùy thân và sau đó là đi tù.

Tôi nghĩ rằng trong thời gian cô đi tù thì mọi người rất là nhớ rõ một biến cố đau lòng là người mẹ thân yêu của cô ấy đau lòng vì những cái mà người ta làm với con mình không chịu được bà đã bức xúc tự thiêu. Sau đó thì người ta còn những thủ đoạn rất đê tiện c3n trở tất cả những sự giúp đỡ của mọi người đến với gia đình. Giả vờ làm động thái là hoãn phiên tòa lại để cô ấy được về tiễn mẹ lần cuối nhưng mà rồi rốt cuộc cũng không có chuyện đấy xảy ra.

Cô Tạ Minh Tú, em ruột của Tạ Phong Tần kể lại chi tiết khi cô cho chị mình biết tin mẹ tự thiêu trong nhà giam:

-Lúc em vô tới em báo mẹ chết thì chỉ nói “tao biết rồi”, em hỏi ủa sao chị biết thì chỉ nói “bọn nó nói cho tao hay”. Bọn nó đã chuyền cái thông tin đó vô cho chỉ biết trước rồi cho nên khi chị biết thông tin do em nói thì chỉ có khóc thôi chứ còn lúc đó chỉ không có gì bất ngờ hết.

” Ngày 25 tháng 3 năm 2015 tổ chức Bảo Vệ Ký Giả Quốc Tế (CPJ) mở chiến dịch “Tháo còng báo chí”, Tạ Phong Tần được nêu tên trong danh sách 9 người trên khắp thế giới sau đó một cuộc vận động cùng khắp đang mở ra nhằm yêu cầu chính phủ Việt Nam phải trả tự do vô điều kiện cho bà”

Tổ chức Bảo Vệ Ký Giả Quốc Tế nhắc nhở

Ngày 25 tháng 3 năm 2015 tổ chức Bảo Vệ Ký Giả Quốc Tế (CPJ) mở chiến dịch “Tháo còng báo chí” (Press Uncuffed ), Tạ Phong Tần được nêu tên trong danh sách 9 người trên khắp thế giới sau đó một cuộc vận động cùng khắp đang mở ra nhằm yêu cầu chính phủ Việt Nam phải trả tự do vô điều kiện cho bà.

Trong lúc ấy từ trại giam số 5 Nghệ An  người tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần đang phải chiến đấu với ban quản lý trại giam vì những phân biệt đối xử với bà. Cô Tạ Minh Tú cho biết tình trạng bị giam giữ mới nhất của chị mình:

-Bọn cộng sản ngược đãi và không cho chỉ ra ngoài chúng đóng cửa suốt. KHông được ra ngoài làm gì hết cũng không được giao lưu tuyệt đối bị nhốt suốt luôn trong cái phòng đó cho nên chỉ tuyệt thực 3 ngày không ăn bọn họ mới thả cho chỉ từ thứ Hai cho tới thứ Sáu đi ra ngoài phòng giam nhưng cũng không được giao lưu với ai và cách ly luôn. Tới thứ Bảy, Chủ nhật thì nhốt thẳng trong tù luôn không được ra ngoài. Với sức khỏe bây giờ chỉ có mấy chứng bệnh như sốt, viêm họng,  huyết áp cho nên khi tuyệt thực mấy ngày không uống thuôc nên sức khỏe rất kém.

Bà Dương Thị Tân cũng từng theo chân Tạ Phong Tần qua nhiều trại giam chia sẻ:

-Tôi cũng đã từng đồng hành với em của cô Tần đi nhiều trại giam như trại Bố Lá trại Chí Hòa hay trại số 5 Nghệ An đã chứng kiến những việc mà người ta làm với cô ấy bằng cách biệt giam hay đối xử phân biệt. Nòi chung là một người đang từ khỏe mạnh cao lớn nhưng rồi gầy ốm bệnh tật như hiện nay.

Ngày 7 tháng 5, tại cuộc gặp gỡ giữa phái đoàn đối thoại Nhân quyền Hoa Kỳ tại Hà Nội do trợ lý Ngoại trưởng Tom Malinowski chủ trì chắc chắn rằng hồ sơ Tạ Phong Tần sẽ được mở ra với những câu hỏi mà phía Việt Nam đã gần như hoàn toàn biết trước.

Hiếm có một tù nhân lương tâm nào được Hoa Kỳ và các tổ chức nhân quyền quốc tế đồng loạt lên tiếng cùng lúc như trường hợp của bà Tạ Phong Tần. Ngoại trưởng Hoa Kỳ là người nhấn mạnh đến việc phải trả tự do cho bà trong khi những tổ chức khác vinh danh bà như một khuôn mặt bất khuất, một ngòi viết ngay thẳng và nhất là sự can đảm hiếm có của một phụ nữ dấn thân vì công lý và sự thật.

Sứ quán VN ‘lạm thu’, chuyện không mới?

Sứ quán VN ‘lạm thu’, chuyện không mới?

Bộ Ngoại giao Việt Nam vừa tuyên bố sẽ xác minh và cam kết “nếu có sai phạm sẽ xử lý nghiêm minh” liên quan tới cáo buộc lạm thu phí của người Việt Nam ở nước ngoài, báo Lao Động nói.

Trước đó, báo này có bài viết theo đó nêu đích danh Đại sứ quán Việt Nam tại Vương Quốc Bỉ đã thu phí cao hơn so với mức quy định hiện hành của Bộ Tài chính, và những người phải trả mức cao này gồm cả sinh viên du học lẫn người định cư tại nước ngoài và vợ, chồng, con cái họ.

Ngoài việc bị tính giá cao từ gấp đôi cho tới thậm chí gấp bốn lần biểu phí chính thức của Bộ Tài chính, những người cần xin giấy tờ còn bị những trì hoãn, chậm trễ mà theo Lao Động là tình trạng “giam” giấy tờ để vòi tiền.

Trên thực tế, nhiều tòa đại sứ của Việt Nam tại các nước không công khai niêm yết giá biểu cũng như thời gian cần thiết, cả ở trụ sở tòa đại sứ, lãnh sự hay trên trang web chính thức.

Đại sứ quán Việt Nam tại Bỉ không phải là trường hợp đầu tiên bị đặt câu hỏi về tình trạng mập mờ thu phí đối với các công dân.

Hồi 2005, Đại sứ quán Việt Nam tại Washington D.C. cũng bị những chỉ trích tương tự, và Bộ Ngoại giao đã đưa ra giải pháp hoàn trả khoản tiền chênh lệch cho công dân và có biện pháp cụ thể đối với các cán bộ làm sai.

Bộ Ngoại Giao Việt Nam khi đó khẳng định không hề có chủ trương hoặc văn bản điều chỉnh mức thu lệ phí liên quan tới việc cấp mới và gia hạn hộ chiếu của công dân Việt Nam ở nước ngoài, theo lời ông Thái Xuân Dũng, Trưởng phòng Lãnh sự Nước ngoài thuộc Vụ Lãnh sự Bộ Ngoại giao nói với BBC Tiếng Việt hồi tháng Tám 2005.

Hồi tháng Giêng vừa qua, tại Phần Lan đã diễn ra cuộc biểu tình của khoảng 100 người Việt trước trụ sở Đại sứ quán Việt Nam tại Helsinki với mục đích “chỉ nhằm phản đối việc lạm thu của Đại sứ quán Việt Nam tại Phần Lan”, theo nội dung viết trong lời kêu gọi biểu tình được gửi đi trong cộng đồng người Việt sinh sống tại nước này.

Năm 2006, Bộ Ngoại giao Việt Nam từng bị kiểm toán về việc lập quỹ ngoài ngân sách với số tiền lên tới 16 triệu đô la, mà theo Bộ trưởng khi đó, ông Nguyễn Dy Niên, là được hình thành từ khoản trích tự nguyện lương của các cán bộ ngoại giao đi nước ngoài để giúp những người ở trong nước, và sau này gồm cả một phần trích ra thu các nguồn thu lệ phí của các tòa đại sứ.

Hạ nghị sỹ Mỹ gặp giới bất đồng tại VN

Hạ nghị sỹ Mỹ gặp giới bất đồng tại VN

Ông Lowenthal đã đến thăm Hòa thượng Thích Quảng Độ tại Thanh Minh Thiền viện

Một hạ nghị sỹ Mỹ tháp tùng phái đoàn Quốc hội nước này đến Việt Nam đã có chuyến thăm viếng các nhân vật bất đồng chính kiến như Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, ông Nguyễn Tiến Trung và đến viếng Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, thông cáo từ văn phòng vị hạ nghị sỹ này cho biết.

Thông cáo báo chí từ văn phòng Hạ nghị sỹ Alan Lowenthal cho biết ông đã thực hiện những chuyến viếng thăm này ngay trong ngày đầu tiên ông đến Việt Nam – hôm thứ Hai ngày 4/5.

‘Vinh danh tử sỹ Việt Nam Cộng hòa’

Cũng theo thông cáo này thì việc đi viếng Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa là ‘ý kiến cá nhân’ của chính ông Lowenthal đề nghị vào lịch trình của phái đoàn Quốc hội Hoa Kỳ vì ông ‘muốn đích thân được đến nghĩa trang để tưởng niệm, vinh danh các tử sỹ Quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng như để quan sát tình trạng hiện nay của nghĩa trang’.

Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa là nơi an nghỉ của hơn 16.000 tử sỹ của quân đội Việt Nam Cộng hòa đã thiệt mạng trong cuộc chiến kết thúc 40 năm trước đây. Kể từ khi chiến tranh kết thúc, nghĩa trang này đã không được coi sóc và bảo dưỡng.

Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ là Đệ ngũ Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, một giáo hội bị chính quyền Việt Nam cấm đoán. Trong nhiều năm qua Ngài đã bị quản chế tại Thanh Minh Thiền viện thuộc Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Tiến Trung là một cựu tù nhân chính trị bị buộc tội ‘Tuyên truyền chống Nhà nước’ và “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’. Ông Trung đã được trả tự do hồi tháng Tư năm 2014.

Hòa thượng Thích Quảng Độ được cho là đã trình bày với ông Lowenthal về ‘thực trạng đàn áp’ đối với giáo hội do Ngài lãnh đạo và kêu gọi Hoa Kỳ ‘hỗ trợ cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam’.

Ông Lowenthal từng đề xuất Ngoại trưởng John Kerry nêu vấn đề Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa với chính quyền Hà Nội

Về phần mình, ông Nguyễn Tiến Trung đã nhấn mạnh với Hạ nghị sỹ Lowenthal ‘về nhu cầu tạo thêm sự quan tâm của thế giới đối với tình trạng nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam’, theo thông cáo.

Ông Trung từng được Hạ nghị sỹ Lowenthal nhận đỡ đầu trong chương trình ‘Bảo vệ các Quyền Tự do’ do Ủy ban Nhân quyền Tom Lantos thuộc Quốc hội Hoa Kỳ thành lập.

‘Cuộc gặp chính thức’

Trao đổi với BBC về nội dung cuộc gặp, ông Nguyễn Tiến Trung cho biết đây là ‘một cuộc làm việc chính thức chứ không phải cuộc gặp gỡ cá nhân’.

“Ông Lowenthal dẫn đầu phái đoàn gồm sáu, bảy người đến gặp tôi và nói rõ rằng đây là phái đoàn của Hạ nghị viện Mỹ,” ông Trung nói và cho biết cuộc gặp đã diễn ra tại một quán cà phê trong khoảng 20 phút.

“Tôi cũng nêu quan điểm thẳng thắn với phía Hoa Kỳ rằng vấn đề dân chủ của Việt Nam thì cuối cùng người quyết định chính là người dân Việt Nam. Còn nếu người dân Việt Nam không dám lên tiếng về việc mình bị mất quyền làm chủ như vậy thì dù Mỹ hay châu Âu cũng không thể nào lên tiếng giúp đỡ Việt Nam được.

Ông Nguyễn Tiến Trung”

Ông Trung cũng cho biết hai ông đã trao đổi về việc Hoa Kỳ có nên đồng ý cho Việt Nam gia nhập TPP, tức Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, hay không.

“Quan điểm của tôi là các dân biểu Mỹ nên bỏ phiếu cho Việt Nam gia nhập TPP vì sự mở cửa về kinh tế sẽ dẫn đến mở cửa về chính trị,” ông Trung kể lại, “Nhưng tôi cũng nói là phía Mỹ nên kèm theo yêu cầu Việt Nam cho phép thành lập công đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi của công nhân trước các vị chủ tư bản.”

“Những ý kiến của tôi là một kênh để ông tham khảo và cân nhắc trước khi ông quyết định có bỏ phiếu cho Việt Nam gia nhập TPP hay không,” ông Trung nói.

Ông Trung cũng cho biết ông đã trình bày với ông Lowenthal về tình trạng những nhà hoạt đông dân chủ ở Việt Nam ‘bị sách nhiễu’.

“Một số bạn không thể thuê nhà được vì vừa dọn đến thuê thì chủ nhà bị an ninh dọa dẫm nên không dám cho thuê nữa,” ông nói, “Một số không kiếm được việc làm vì đi xin việc thì có người đến chặn phá. Ngày lễ thì không được di chuyển tự do do an ninh lo sợ có biểu tình hay sao đó.”

“Ông Lowenthal có hứa sẽ làm việc với chính quyền Việt Nam,” ông Trung cho biết.

‘Quyết định là ở người dân Việt Nam’

Ông Lowenthal là người đỡ đầu cho cựu tù nhân chính trị Nguyễn Tiến Trung

Theo lời ông Trung thì ông đến cuộc gặp với phái đoàn Mỹ không gặp trở ngại gì nhưng sau đó ông đã bị ‘cảnh sát khu vực, đại diện Mặt trận Tổ quốc đến nhà và gọi điện hỏi xem tôi đi đâu’.

Ông Trung nói rằng ông ‘không hy vọng gì nhiều về sự thay đổi trong chính sách của chính quyền Việt Nam đối với các nhà hoạt động dân chủ’ mặc dù có sự quan tâm của phía Hoa Kỳ.

“Họ (chính quyền) vẫn trấn áp thôi nhưng hạn chế bắt bớ và làm những việc khác để hạn chế các nhà hoạt động,” ông nói.

“Tôi cũng nêu quan điểm thẳng thắn với phía Hoa Kỳ rằng vấn đề dân chủ của Việt Nam thì cuối cùng người quyết định chính là người dân Việt Nam,” ông Trung nói, “Còn nếu người dân Việt Nam không dám lên tiếng về việc mình bị mất quyền làm chủ như vậy thì dù Mỹ hay châu Âu cũng không thể nào lên tiếng giúp đỡ Việt Nam được.”

Sau Thành phố Hồ Chí Minh, phái đoàn nghị sỹ Hoa Kỳ sẽ đến Hà Nội và dự kiến ‘sẽ gặp một số nhân vật lãnh đạo trong chính quyền Việt Nam cũng như một số nhà hoạt động nhân quyền’.

Chương Trình Phát Triển Quận 8: Thể Nghiệm Xã Hội Dân Sự

Chương Trình Phát Triển Quận 8: Thể Nghiệm Xã Hội Dân Sự

Đoàn Thanh Liêm

Share on facebook

Chương trình Phát triển Quận 8 Sài gòn khởi sự từ tháng 8 năm 1965 và qua năm sau 1966, thì được mở rộng sang hai quận 6 và 7 lân cận. Về căn bản, đó là một Chương trình Phát triển Cộng đồng do các anh chị em thanh niên tự nguyện hợp chung với nhau để vận động bà con ở địa phương cùng bắt tay vào những công tác nhằm cải thiện môi trường sinh sống tại khu vực kém may mắn nhất của thành phố. Đây là nơi có rất đông bà con từ các miền quê mất an ninh đưa gia đình về tá túc cư ngụ trong những khu nhà ổ chuột thiếu thốn mọi tiện nghi tối thiểu về nhiều mặt gia cư, cơ sở hạ tầng cũng như vệ sinh công cộng…

Nói chung, thì đây là lối làm việc theo cái khẩu hiệu quen thuộc của giới chuyên môn làm công tác xã hội xưa nay, đó là: “Giúp dân để người dân tự giúp lấy mình” (Help people to help themselves). Như vậy, vai trò chính yếu của người cán bộ xã hội là tự nguyện làm chất men, chất xúc tác nhằm khơi động quần chúng nhân dân ý thức và cảm nhận được nhu cầu cải tiến xã hội (felt needs) – để rồi từ đó mà họ kêu gọi động viên lẫn nhau người góp công, kẻ góp của để cùng bắt tay tham gia thực hiện những công tác cụ thể thiết thực như chỉnh trang gia cư, sửa sang xóm ngõ, đặt đường cống thóat nước, xây dựng trường học, trạm y tế, chợ búa v.v…

Trong những bài viết trước đây, tôi đã có dịp trình bày về những kết quả thành tích trên nhiều phương diện của Chương trình Phát triển này rồi. Vì thế, thiết nghĩ khỏi cần nhắc lại các chi tiết cụ thể đó ở đây nữa. Thay vào đó, tôi muốn xem xét vấn đề chúng ta có thể áp dụng những kinh nghiệm thực tiễn của Chương trình đó như thế nào trong giai đọan phát triển và xây dựng Xã hội Dân sự hiện nay vào đầu thế kỷ XXI tại nước ta. Đây là một đề tài mà bà con nhất là giới trẻ ở trong nước đang bàn thảo trao đổi rộng rãi sôi nổi và xướng xuất ra những họat động cụ thể nhằm cải thiện môi trường sinh họat văn hóa xã hội của tòan thể dân tộc.

I – Công tác xã hội là để phục vụ đồng bào: Đó là lý tưởng có sức lôi cuốn quy tụ được giới thanh niên mọi nơi, mọi lúc.

Ngay từ những năm 1950 trong chế độ tương đối tự do dân chủ thông thóang tại miền Nam, các đòan thể hiệp hội của giới thanh thiếu niên đều được tự do tổ chức các hình thức sinh họat tập thể – như cắm trại, hội thảo, trình diễn văn nghệ và đặc biệt là thực hiện những công tác cụ thể để phục vụ đồng bào ở địa phương. Các sinh họat lành mạnh này thường là những công việc nhỏ bé phù hợp với khả năng hạn chế của giới trẻ, điển hình như sửa sang đường xá, dọn vệ sinh nơi ngõ hẻm, sửa chữa lớp học, đóng bàn ghế, tổ chức sinh họat vui chơi giải trí cho các em nhỏ trong lối xóm v.v… Xin liệt kê một số họat động điển hình của giới trẻ hồi giữa thập niên 1960 đó như sau:

1 – Vào năm 1964 đã có tổ chức gọi là “Phong trào Học đường Phục vụ Xã hội” lôi cuốn được nhiều học sinh cỡ tuổi 15 – 17 trở lên tham gia vào những họat động lành mạnh được gọi chung là “công tác xã hội” nhằm giúp ích một cách cụ thể cho nhu cầu cấp bách của mỗi địa phương do chính các em chọn lựa cùng nhau đến sinh họat tại đó. Cũng vào năm 1964 này, thì tổ chức Đòan Thanh niên Chí nguyện (NVY = National Voluntary Youth) đã gửi nhiều tóan công tác đến làm việc ở một số làng xã tại nông thôn về các mặt phát triển canh nông, mở mang giáo dục, cải thiện mội trường v.v…

2 – Tới cuối năm 1964, vì có nạn bão lụt tàn phá nhiều tỉnh miền Trung như Tuy Hòa, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, nên các bạn thanh niên cùng hợp tác với nhau để thành lập Ủy Ban Phối Hợp Cứu Trợ Nạn Nhân Bão Lụt Miền Trung và cử nhiều đòan công tác đến tận các địa phương bị tàn phá để giúp đỡ các nạn nhân – cụ thể là giúp phân phối thực phẩm cứu trợ, sửa sang lại nhà cửa, trường học, đường xá v.v… Đây có thể coi là lần đầu tiên mà có một họat động xã hội nhân đạo có quy mô tòan quốc lôi cuốn được rất nhiều thanh niên, sinh viên và học sinh tham gia trong thời gian kéo dài đến 3 – 4 tháng.

3 – Rồi tiếp theo là Chương trình Công tác Hè năm 1965 lôi cuốn được đông đảo giới học sinh, sinh viên ở Sài gòn cũng như ở nhiều tỉnh thành khắp miền Nam tham gia sinh họat cắm trại, trình diễn văn nghệ, thực hiện một số công tác xã hội nhân đạo nhằm phục vụ bà con đồng bào tại các địa phương, Và cũng từ kinh nghiệm của Chương trình Hè này mà ít năm sau lại có một chương trình do Bộ Giáo Dục yểm trợ gọi là “Chương trình Phát triển Sinh họat Học đường” được gọi vắn tắt là CPS.

4 – Cũng vào năm 1965 đó, thì xuất hiện Chương trình Phát triển Quận 8 Sài gòn (CPT.Q8) như đã giới thiệu ở trên. Điểm khác biệt của Chương trình này là họat động lâu dài nhiều năm tháng tại một địa phương nhỏ bé tại vài ba quận trong thành phố. Nhờ vậy mà Chương trình này đã gây ra được một thứ tác động sâu sắc và lâu bền đối với các tầng lớp quần chúng ở địa phương. Ta sẽ phân tích chi tiết cặn kẽ hơn về khía cạnh ảnh hưởng đó trong phần tiếp theo sau.

II – Vai trò làm Đối tác của Xã hội Dân sự đối với Chính quyền Nhà nước.

Tất cả những tổ chức của giới thanh niên, sinh viên, học sinh mà có những họat động xã hội nói trên, thì đều có ba tính chất căn bản là: tự nguyện, bất vụ lợi và phi chánh phủ (voluntary, non-profit, non-governmental). Vì thế mà các tổ chức đó đều hội đủ các tiêu chuẩn để được xếp vào khu vực Xã hội Dân sự – mà điển hình nhất là tổ chức Hồng Thập Tự, Hội Hướng Đạo, các tổ chức từ thiện nhân đạo do các tôn giáo thành lập và bảo trợ v.v… Và khi các đòan thể, hiệp hội đó đứng ra thực hiện những công tác xã hội từ thiện nhân đạo tại nhiều nơi, thì họ đóng vai trò làm “Đối tác” (Counterpart) đối với Chánh quyền Nhà nước – tức là cùng hợp tác với Chánh quyền trong việc thực hiện những dịch vụ công ích (public services) để phục vụ quần chúng nhân dân.

Trường hợp của Chương trình Phát triển Quận 8 cũng vậy. Đó là một chương trình họat động (action program) hòan tòan tự nguyện do một nhóm thanh niên đề ra và được Chánh quyền chấp thuận và yểm trợ về ngân khỏan chi tiêu cũng như vật liệu xây cất do cơ quan USAID (Viện Trợ Mỹ) cung ứng. Chứ đó không phải là một bộ phận cơ sở do Chánh quyền thành lập và bổ nhiệm cán bộ công chức đứng ra phụ trách điều hành. Nói cho rõ hơn, thì về mặt cơ bản Chương trình này ra đời hòan tòan là do sáng kiến tư nhân của nhóm chủ trương – mà được vị Thủ tướng hồi đó là Tướng Nguyễn Cao Kỳ chấp thuận và giao cho Bộ Thanh niên và Tòa Đô chánh là hai cơ quan nhận trách nhiệm bảo trợ, cố vấn và giúp đỡ về mặt này mặt nọ.

Rõ ràng ở đây có sự cam kết hợp tác giữa Chánh quyền với nhóm thanh niên chủ trương trong việc thực hiện một chương trình công tác dài hạn nhằm phục vụ đồng bào tại một khu vực nghèo túng, kém phát triển nhất trong thành phố Sài gòn vào thời gian ấy.

Nhờ sự mềm mỏng nhã nhặn trong những cuộc tiếp súc vận động quần chúng địa phương tham gia công tác phát triển, nên Chương trình đã lôi cuốn thuyết phục được các thân hào nhân sĩ cùng hợp tác trong việc thực hiện nhiều công trình chỉnh trang xây dựng có quy mô lớn – nhờ sự đóng góp nhiệt tình của số đông bà con sinh sống trong các khóm hẻm. Do vậy mà trong có 6 năm họat động (1965 – 1971), Chương trình Phát triển đã hòan thành được cả trăm dự án lớn nhỏ mà có ích lợi thiết thực và lâu bền cho khối quần chúng nhân dân sở tại.

Và theo sự đánh giá khách quan của giới báo chí quốc tế vào các năm 1968 – 1971, thì Chương trình Phát triển các Quận 6,7,8 Sài gòn được coi là một trong những thành công ngọan mục nhất của giới thanh niên vào thời kỳ mà cuộc chiến tranh đang ở giai đọan tàn khốc bi thương nhất.

III – Vai trò làm “Đối trọng” của Xã hội Dân sự đối với Chánh quyền.

Trong một xã hội dân chủ, thì người công dân nào cũng có những quyền tự do căn bản – mà điển hình nhất là quyền tự do tư tưởng, tự do hội họp, lập hội, tự do ngôn luận v.v… Và Xã hội Dân sự thì có thể đóng vai trò làm “Đối trọng” (Counterbalance) đối với Chính quyền Nhà nước – thêm vào với vai trò làm “Đối tác” (Counterpart) như đã nói ở mục trên.

Tại Mỹ, người ta còn gọi đó là chủ trương “Checks and Balances” (Kiểm sóat và Quân bình) – tức là cá nhân mỗi người dân hay các tổ chức thuộc XHDS đều có quyền tham gia việc giám sát, theo dõi, kiểm sóat những hoạt động của Chánh quyền và nhờ vậy mà duy trì được sự Quân bình trong xã hội – không để cho Chánh quyền tự tung tự tác như trong một chế độ độc tài tòan trị của người cộng sản (totalitarian dictatorship).

Tại miền Nam Việt Nam hồi trước năm 1975, thì mặc dầu vẫn còn nhiều mặt hạn chế về chính trị do hòan cảnh chiến tranh gây ra, ta vẫn có thể thấy là người dân có quyền lên tiếng công khai tố cáo những sai trái bất cập của nhà cầm quyền. Họ thể hiện quyền này thông qua cơ quan truyền thông báo chí, thông qua các đại diện dân cử như Dân biểu, Nghị sĩ, kể cả thông qua Tòa án. Xin trưng dẫn một trường hợp điển hình khá là tiêu biểu sau đây:

* Vụ án “Ông Già Nông dân Lê Văn Duyên” ở Bến Tranh, Mỹ Tho.

Ông Lê Văn Duyên là một người nông dân cương trực sinh sống tại quận Bến Tranh tỉnh Mỹ Tho. Nhận thấy chính quyền địa phương làm nhiều điều sai trái, khuất tắt, nên ông đã gửi đơn khiếu nại tới nhiều cơ quan trung ương ở Sài gòn như Phủ Phó Tổng Thống, Quốc Hội, Giám Sát Viện và dĩ nhiên là cả các tờ báo nữa. Vì thế mà ông bị sát hại ngay tại nhà trong một đêm tối vào năm 1973. Dân chúng lối xóm phát hiện đây là hành động do viên Quận trưởng dàn dựng để trả thù và diệt trừ người đã dám đứng đơn tố cáo ông ta.

Vụ việc được báo chí phanh phui và nhất là được vị Dân biểu đại diện dân chúng ở địa phương đứng ra tố cáo trước công luận cũng như trước nhiều cơ quan chính quyền. Và vị Thẩm phán tại Tòa án Sơ thẩm Mỹ Tho là Dự thẩm Nguyễn Văn Thành đã ra lệnh bắt giữ nghi can là Trung tá Ngô Văn Thi Quận trưởng Quận Bến Tranh để tiến hành cuộc thẩm vấn điều tra theo đúng thủ tục tố tụng hình sự.

Trong vụ này, ta nhận thấy vai trò tích cực của công luận và báo chí, và nhất là sự năng nổ của vị Dân biểu địa phương là Lê Tấn Trạng đã tạo được một áp lực đối với nhà cầm quyền là phải đưa vụ án mạng ra xét xử trước Tòa án. Thứ đến là vị Thẩm phán đã thể hiện rõ ràng tính độc lập của ngành Tư pháp đối với ngành Hành pháp qua quyết định cho bắt giữ chính viên Quận trưởng đương nhiệm. Vụ này nêu rõ tính công minh chính trực của vị Thẩm phán đã không hề vị nể né tránh trách nhiệm của mình trước áp lực của các cấp chính quyền nhằm bao che cho Trung tá Thi. Cụ thể ông Ngô Văn Thi là anh em cột chèo với Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi là vị Tư lệnh Quân Đòan IV đày quyền uy thế lực ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long vào lúc đó.

Nạn nhân Lê Văn Duyên lại còn được sự kính phục mến chuộng của dân chúng địa phương, nên họ đã cùng nhau góp tiền bạc công sức để xây dựng một miếu thờ người Anh hùng Nông dân này tại Bến Tranh ngay sát quốc lộ số 4 gần Ngã Ba Trung Lương nữa.

IV – Để tóm lược lại: Phẩm Giá Con Người là điều quan trọng nhất.

Những sự việc được kể ra ở trên, thì hầu hết đều đã xảy ra từ nửa thế kỷ trước. Đó là do hành động cụ thể của lớp người thuộc thế hệ chúng tôi mà lúc đó mới ở vào tuổi 20 – 30. Đến nay vào năm 2014, thì nhiều người đã ra đi từ giã cõi đời này rồi. Số còn lại, thì đã ở vào lứa tuổi cao niên 70 – 80, chúng tôi chẳng còn tham vọng có thể làm điều gì quan trọng lớn lao cho dân tộc, cho đất nước được nữa. Mà chỉ mong cho thế hệ con cháu mình được sống trong một xã hội đày tinh thần nhân bản nhân ái – mà mọi người đều yêu thương quý mến bao bọc liên đới bền chặt với nhau.

Trong mấy năm gần đây, lớp người trẻ cỡ 20 – 30 tuổi đã thật hăng say nô nức gắn bó liên kết với nhau để “đòi quyền được biết” về những điều liên quan đến sự sống còn của dân tộc. Điển hình như đòi hỏi giới lãnh đạo cộng sản phải công khai hóa những điều mà họ đã ký‎ kết từ năm 1990 tại Thành Đô ở tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc với giới lãnh đạo xứ này. Và nhất là đã can đảm đứng ra bênh vực khối Dân Oan là các nạn nhân khốn khổ – đã bị mất nhà, mất đất về tay những nhóm quyền lợi tham lam vô độ và tàn ác ngoan cố hết mức.

Đó là những dấu hiệu đáng mừng của sự trỗi dậy của một thành phần tiến bộ và dũng cảm của dân tộc – mà hiện đang cố gắng xây dựng một Xã hội Dân sự vững mạnh hầu có đủ sức mạnh đối kháng được với mưu đồ đen tối lươn lẹo dối trá và tàn ác vô nhân đạo của những kẻ tham quyền cố vị, chỉ biết khư khư bảo vệ các đặc quyền đặc lợi riêng cho phe nhóm, băng đảng của riêng mình. Qua Hội nghị Thành Đô năm 1990, rõ ràng là những lãnh tụ cộng sản như Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh đã thi hành chủ trương “Thà mất Nước, chứ không thà mất Đảng”. Họ hạ mình đi lạy lục xin xỏ quan thầy ở Bắc kinh vốn xưa nay là kẻ thù ngàn đời của dân tộc chúng ta – để được bảo đảm giữ vững được cái ngai vàng của mình, bất chấp sự mất đất mất biển về tay kẻ bá quyền bành trướng Trung quốc.

Và lúc này các bạn trẻ đang cương quyết đòi hỏi đảng cộng sản phải bạch hóa cái vụ ký kết bậy bạ sai trái đó với phía Trung quốc. Làm như vậy, các bạn đích thực rất xứng đáng với cái danh hiệu “Hậu sinh khả úy” vậy.

Xin được ngả mũ chào thế hệ thanh niên Việt nam của thế kỷ XXI.

Lớp người cao tuổi chúng tôi thật phấn khởi trước khí thế hăng say nô nức của các bạn trong công cuộc bảo vệ phẩm giá và công lý cho từng con người Việt nam và tiếp tục giữ vững được cái truyền thống anh hùng bất khuất từ ngàn xưa của cha ông chúng ta vậy./

Costa Mesa, California, Tháng Chín 2014

Đoàn Thanh Liêm

Báo cáo về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2014

Báo cáo về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2014

Hải Ninh, phóng viên RFA
2015-04-30

04302015-2014-huma-riht-reporti-in-vn.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, trụ sở ở bang California, Hoa Kỳ chuẩn bị công bố báo cáo về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2014

Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, trụ sở ở bang California, Hoa Kỳ chuẩn bị công bố báo cáo về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2014

RFA files

Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, có trụ sở ở bang California, Mỹ, chuẩn bị công bố báo cáo về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2014. Hải Ninh có bài phỏng vấn với tiến sĩ Nguyễn Bá Tùng, điều hợp viên của mạng lưới. Mở đầu, ông Bá Tùng cho biết điểm đáng chú ý nhất trong báo cáo nhân quyền năm nay như sau:

Nguyễn Bá Tùng: Thưa quý khán thính giả, thì cũng như mọi năm, báo cáo nhân quyền tiếp theo nói lên sự vi phạm nhân quyền của nhà nước đối với người dân ở trong nước. Nhưng mà như chị cũng đã biết năm 2014 có nhiều hoạt động của giới đấu tranh nhân quyền, cho nên song song nói đến những cái vi phạm, chúng tôi còn nói đến những hoạt động của những anh chị đấu tranh cho nhân quyền ở trong nước, đó là điểm đặc biệt của báo cáo năm nay. Như chị đã biết, trong năm 2013 thì vấn đề bạo hành đối với những nhà đấu tranh nhân quyền ít hơn năm 2014. Chúng tôi có thể nói rằng không có một nhà đấu tranh nhân quyền ở Việt Nam trong năm 2014 khi xuất hiện mà không chịu sự hành hạ, truy đuổi và bạo hành của nhà nước. Đó là cái điểm hạn chế, cái sự gia tăng của nhà nước đối với những nhà đấu tranh nhân quyền ở trong nước. Năm 2014 có những phong trào như “nhà báo độc lập” được hình thành, rồi chiến dịch “chúng tôi muốn biết”, rồi những cái cà phê nhân quyền. Tất cả những hoạt động sôi động đó làm cho người trong nước và đặc biệt chúng tôi ở Hải ngoại cũng cảm thấy nức lòng vì chúng tôi biết rằng cái công cuộc đấu tranh ở trong nước càng ngày càng nhịp nhàng hơn, càng có tổ chức hơn.  Đó là cái câu trả lời của chúng tôi đối với câu hỏi của chị.

Hải Ninh: Thưa ông, dường như các nhóm hoạt động nhân quyền trong nước đang ngày càng trưởng thành tuy nhiên đi kèm với nó là sự đàn áp của giới chức trong nước. Vậy mạng lưới nhân quyền có thể giúp gì cho những nhà hoạt động ở Việt Nam?

Nguyễn Bá Tùng: Các nhà đấu tranh ở trong nước khi dấn thân vào con đường nguy hiểm này thì đều đã chấp nhận những rủi ro những đau khổ của việc đấu tranh. Còn chúng tôi ở ngoài này, những người ở hải ngoại có nhiệm vụ phụ trợ, phụ trợ bằng nhiều cách. Chúng tôi có thể tiếp xúc với các giới hữu trách ở các quốc gia ở giới dân chủ, các tổ chức nhân quyền quốc tế để mà qua họ mình gây áp lực được với nhà nước Việt Nam trong vấn đề nương tay với nhà đấu tranh trong nước. Tôi nghĩ đó là những điều mình chỉ có thể làm được như vậy thôi.

Hải Ninh: Xin trở lại báo cáo năm 2014 của Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam. Trong 6 năm kể từ khi ra báo cáo này, ông có thấy tình hình nhân quyền ở Việt Nam có thay đổi gì không và thay đổi theo chiều hướng nào?

” Chúng tôi có thể nói rằng không có một nhà đấu tranh nhân quyền ở Việt Nam trong năm 2014 khi xuất hiện mà không chịu sự hành hạ, truy đuổi và bạo hành của nhà nước

Nguyễn Bá Tùng”

Nguyễn Bá Tùng: Nói một cách cụ thể hơn, chẳng hạn như so sánh năm 2013 và 2014 và báo cáo nhân quyền của mạng lưới nhân quyền nêu lên thì chúng tôi thấy vấn đề đàn áp nhân quyền càng tồi tệ hơn. Không phải là chúng tôi nói theo kiểu tuyên truyền mà chúng tôi có những con số. Chẳng hạn như án tử hình, số người bị kết án tử hình và chờ ngày thi hành án là 742 người, tăng hơn 58 người so với thời ký đó năm 2013. Rồi vấn đề bạo hành của công an, trong năm 2013 chúng tôi ghi nhận 13 trường hợp người dân bị chết trong đồn công an, nhưng trong năm 2014 có thêm 24 trường hợp. Rồi vấn đề đối với những nhà đấu tranh cho nhân quyền thì như tôi nói khi nãy, chúng tôi có thể nói rằng không có nhà đấu tranh nhân quyền nào ở trong nước trong năm 2014 mà không có một lần bị công an truy đuổi rồi là hành hung. Rồi vấn đề buôn người chẳng hạn, thì trong 6 tháng đầu năm năm 2014 so với 6 tháng trong năm 2013 tăng thêm 16%. Đó là số liệu của nhà nước. Thì như vậy đó là một vài con số để cho thấy rằng vấn đề nhân quyền tại Việt Nam trong năm 2014 nó tồi tệ hơn trong năm 2013.

Tiến sĩ Nguyễn Bá Tùng, điều hợp viên của Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam

Tiến sĩ Nguyễn Bá Tùng, điều hợp viên của Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam

Hải Ninh: Theo như ông nói thì có vẻ như tình hình nhân quyền ở Việt Nam ngày càng tăm tối. Tuy nhiên, Việt Nam đã gia nhập hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc, chẳng phải những động thái bắt bớ, đàn áp trên khiến bộ mặt của họ xấu đi hay sao?

Nguyễn Bá Tùng: Thật sự như thế này chị, không phải nhà nước không biết điều đó, vì họ biết được điều đó nên họ làm mọi cách để mà có một bộ mặt tôn trọng nhân quyền. Chẳng hạn như đối với vấn đề tù nhân, trong năm 2014 họ đã thả 12 tù chính trị, nhưng đồng thời họ đã bắt vào 55 người và kết án 44 người. Nói giống như ông Brad Adams của Human Rights Watch có nói đó, cái việc làm nhà nước giống như cái cộng quay, ra đường này vô đường khác. Rồi vấn đề cho phép tập hợp quyền biểu tình, trong lúc nhà nước muốn làm đẹp hình ảnh của mình cho những nhóm đồng tính luyến ái diễu hành trên đường phố Sài Gòn Hà Nội, nhưng đồng thời họ lại bắt bớ những người biểu tình chống đối Trung Quốc xâm lược, đòi tự do ngôn luận. Nói tóm lại là nhà nước cố gắng hết sức để chứng tỏ rằng mình tôn trọng nhân quyền với vai trò của một thành viên của hội đồng nhân quyền, nhưng đồng thời đó là những cố gắng nửa vời, không thành thực, tôi nói những điều đấy, nhà nước không thành thực trong vấn đề cải thiện vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Họ muốn giữ cái độc quyền là Đảng chính trị, muốn độc tôn vấn đề lãnh đạo chính trị, thì không có cách nào khác bằng cách bóp miệng người dân, không cho người dân nói. Để bảo đảm quyền độc tôn lãnh đạo chính trị họ phải đàn áp, đó là cái điều tất yếu.

” Các nhà đấu tranh ở trong nước khi dấn thân vào con đường nguy hiểm này thì đều đã chấp nhận những rủi ro những đau khổ của việc đấu tranh. Còn chúng tôi ở ngoài này, những người ở hải ngoại có nhiệm vụ phụ trợ, phụ trợ bằng nhiều cách

Nguyễn Bá Tùng”

Hải Ninh: Trong báo cáo, ông có đưa ra những khuyến nghị dành cho chính phủ Việt Nam. Theo ông, chính phủ Việt Nam có thể thực hiện điều nào trong danh sách khuyến nghị đó để có thể cải thiện đáng kể bộ mặt nhân quyền của Việt Nam?

Nguyễn Bá Tùng: Tôi nghĩ rằng cái tiên quyết nếu nhà nước có quyết tâm là điều 4 hiến pháp. Điều 4 hiến pháp là cái nguồn gốc của mọi sự xấu, tất nhiên là họ bảo vệ quyền lãnh đạo của Đảng, và vì muốn bảo vệ sự độc tôn lãnh đạo của Đảng và họ đã tìm mọi cách để bóp nghẹt tiếng nói của người dân, từ mọi quyền, quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do báo chí, tất cả mọi thứ quyền đã được quy định trong Tuyên ngôn dân quyền họ đều bóp nghẹt, bởi vì họ muốn họ là lực lượng lãnh đạo duy nhất như hiến pháp hiện nay ở điều 4 quy định. Đó là điều mà tôi thấy đó là nguồn gốc của mọi sự việc.

Hải Ninh: Báo cáo cũng đưa ra khuyến nghị đối với thế giới và các tổ chức quan tâm. Đó là những khuyến nghị gì, thưa ông?

Nguyễn Bá Tùng: Trong khuyến nghị của bản báo cáo năm nay chúng tôi có nói đến một cái trường hợp cụ thể đối với chính quyền Hoa Kỳ chẳng hạn. Chính quyền Hoa Kỳ thì có nhiều cái đòn bẩy để cải thiện tình hình nhân quyền ở Việt Nam chẳng hạn như là hiệp ước xuyên Thái Bình Dương Mậu Dịch đó thì nếu như nhà nước Hoa Kỳ mà đặt vấn đề nhân quyền là một giá trị như truyền thống của họ, thì họ có thể ép buộc nhà nước Việt Nam tôn trọng một cách cụ thể chẳng hạn như thả tù chính trị, vấn đề quyền của người công nhân phải được ghi vào trong cái hiệp định về Mậu dịch Xuyên Thái Bình Dương. Đó là những điều mà chính phủ Hoa Kỳ có thể làm được.

Hải Ninh: Vâng, xin cảm ơn ông đã dành cho đài Á châu Tự do cuộc phỏng vấn này.

Viết từ Sài Gòn: Bị ăn quỵt đau vẫn phải ngậm miệng

Viết từ Sài Gòn: Bị ăn quỵt đau vẫn phải ngậm miệng

Văn Quang – Viết từ Sài Gòn

Chuyến bay này ai cũng bị rọc lấy đồ, thấy mấy cô chú Việt Kiều đứng chửi: Xứ gì mà ăn cắp, ai còn dám về. Nghe nhục gì đâu.

Ngày 30-4 qua rồi, “những người ở lại” như tôi và có lẽ cả những người “Sài Gòn muôn năm cũ” cũng trút được một gánh nặng. Bây giờ xin trở về với những chuyện đời thường.

Nguyên nhân nào khiến người dân không tố cáo tham nhũng

Ngày 14-4-2015 vừa qua, Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển và Hỗ Trợ Cộng Đồng (CECODES), Trung Tâm Bồi Dưỡng Cán Bộ và Nghiên Cứu Khoa Học MTTQ Việt Nam cùng Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) công bố kết quả cuộc khảo sát chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam năm 2014 (PAPI 2014).
Theo công bố, tình hình tham nhũng vặt có chiều gia tăng. Kết quả nghiên cứu, đánh giá của người dân về tình trạng tham nhũng trong khu vực công cho thấy hiệu quả kiểm soát tham nhũng của các cấp chính quyền là “ít có chuyển biến tích cực.” Thậm chí, trong một số lĩnh vực, mức độ vòi vĩnh, nhũng nhiễu của cán bộ, công chức nhà nước là “có xu hướng gia tăng.”
Thật ra tham nhũng vặt sờ ở đâu cũng thấy, từ phường xã đến huyện tỉnh đều như nhau, bất kể ở lãnh vực nào. Xin cái giấy phép con cũng phải xì tiền ra mới xong. Giấy phép kinh doanh còn khó khăn hơn nữa. Xin cái sổ đỏ, bán cái nhà, mua miếng đất cũng đều có cái giá phải trả. Nếu không thì cứ chờ vêu mặt vẫn chưa chịu ký. Điều đó như đã thành “tiền lệ,” người dân VN ai cũng biết, chẳng cần phải nghiên cứu làm chi cho mệt.
Lý giải về nguyên nhân tham nhũng vặt không suy giảm mà còn có dấu hiệu tăng, TS Đặng Hoàng Giang cho rằng phần lớn những người nhận tham nhũng không hề chịu một hậu quả nào, thậm chí họ còn coi số ít đồng nghiệp khước từ tham nhũng như những người gàn hay đạo đức giả. Mặt khác, người dân sử dụng dịch vụ công thường không đủ dũng cảm để là những người đầu tiên “bước ra ngoài cuộc chơi.” Người dân có tâm lý cam chịu vì họ nghĩ rằng cái vòng tròn khép kín này quá mạnh, họ lẻ loi và không thể nào phá được nó. Họ không tin là sẽ được bảo vệ nếu phá nó.
Có bốn nguyên nhân người dân chịu đựng tham nhũng mà không tố cáo:
– Hơn 56% cho rằng tố cáo không mang lại lợi ích gì.
– 7.7% sợ bị trả thù.
– 9% cho rằng thủ tục tố cáo rườm rà.
– 7.3% không biết tố cáo bằng cách nào.

Cảnh đón người thân tại phi trường Tân Sơn Nhất. Ngay từ trên máy bay, người nước ngoài về thăm nhà đã nhắc nhau “nhớ bỏ vài chục đô vào hộ chiếu cho chúng nó nhá.” Nếu không có vài chục đô, chắc chắn sẽ bị “hành” đủ thứ, đồ đạc bị lục tung, đôi khi còn bị móc va ly “chôm” vài thứ đáng tiền. (Hoang Dinh Nam/Getty Images)

Tham nhũng có hệ thống nên vẫn sống dai sống khỏe

Người ta nói tham nhũng nước nào cũng có, nhưng ở các nước hầu hết chỉ có những cá nhân riêng lẻ có quyền hành mới tham nhũng và được điều tra đến nơi đến chốn dù có là Tổng Thống hay Thủ Tướng cũng thế thôi, nhưng ở VN tham nhũng có hệ thống và thường được tổ chức rất bài bản khép kín. Nói cho rõ là anh tham nhũng vặt ăn được 100 đồng, phải chi “lên trên” 50 đồng (ít nhiều tùy theo chỗ nào béo bở, chỗ nào ít hơn). Đôi khi nộp lên trên rồi lại phải chia cho những ngàng ngang cấp.
Và, cái sự ăn vặt đó công khai, ai cũng biết, tai tiếng rần rần nhưng nó vẫn công khai tồn tại, sống lâu sống khỏe. Bởi họ bảo vệ nhau triệt để, các quan trên đều biết cũng cứ ngậm miệng làm thinh. Ngay cả những việc làm nhục quốc thể vẫn ngang nhiên hoành hành.
Một thí dụ như khi qua cửa khẩu vào đến VN. Ngay từ trên máy bay, những bà con từ nước ngoài về thăm nhà đã nhắc nhau “nhớ bỏ vài chục đô vào hộ chiếu cho chúng nó nhá.” Nếu không có vài chục đô, chắc chắn sẽ bị “hành” đủ thứ, đồ đạc bị lục tung, đôi khi còn bị móc va ly “chôm” vài thứ đáng tiền.

Xứ gì mà ăn cắp, ai còn dám về

Tài khoản facebook Gigi Ngo vừa mới đăng tải dòng status của Gigi Ngo hết sức phẫn uất về sự việc đã xảy ra tại sân bay Tân Sơn Nhất.
Cô cho hay đã bị rọc vali lấy thuốc bổ, vitamin và hai chai nước hoa.. Tiếp theo, cô nàng còn bày tỏ bức xúc rằng trước đã bị trả giá 200,000 đ tiền cafe khi qua cửa hải quan. Cô viết, “(…) sân bay Tân Sơn Nhất, hành lý người ta đóng mấy lớp mà cũng cố rọc thùng rọc vali lấy thuốc bổ, vitamin và lấy hai chai nước hoa xong còn để lại cái bịt ni lông, may phước mà cái đồng hồ của Natalia Tran vẫn còn, chưa lục tiếp mấy đồng hồ của mình còn không huhuhu. Đã vậy qua hải quan còn kêu lại xin $20, mình nói không có đủ tiền cho 100k được không? Hải quan trả giá thôi cho 200k đi uống cafe. Tức trào máu, phải chi cho tiền không bị mất đồ đằng này nó giữ hành lý mình 1.5 tiếng mới cho ra. Chuyến bay này ai cũng bị rọc lấy đồ thấy mấy cô chú Việt Kiều đứng chửi: Xứ gì mà ăn cắp, ai còn dám về. Nghe nhục gì đâu.”
Ngay sau khi dòng status được đăng tải đã có hàng trăm lượt like và hàng chục lượt chia sẻ thông tin về sự việc đau lòng này. Bên cạnh những dòng comment chia buồn, thông cảm với nạn nhân, thì rất nhiều ý kiến khác cũng đồng tình rằng đã từng bị hại như nhân vật chính tại sân bay Tân Sơn Nhất.
Cái cảnh chướng tai gai mắt này đã xảy ra từ bao nhiêu năm nay, tôi cũng đã đề cập đến vài lần, báo chí trong và ngoài nước cũng đã từng lên tiếng rất nhiều. Nhưng mọi chuyện vẫn đâu đóng đấy, chẳng có tí “chuyển biến” nào. Chuyện nhục quốc thể đến như thế mà không ngăn chặn được hay không muốn ngăn chặn thì nói gì đến những chuyện vặt trong nước. Người dân cứ như nằm trong cái rọ, cựa quậy chỉ có thiệt thân. Không chỉ có mấy ông có chức vụ, có quyền lực tham nhũng mà ngay cả đến anh em họ hàng nhà quan cũng tha hồ ỷ quyền cậy thế hà hiếp dân lành. Ngoài ra còn phải kể đến các tay anh chị có “số má” ở các địa phương cũng “quậy” tới bến khi móc nối với các quan chức địa phương. Đám dân lành cũng chẳng dám ho he. Nhìn qua thế thôi cũng đủ thấy người dân lương thiện phải chịu bao nhiêu tầng áp bức.
Các quan ngồi trong phòng lạnh cứ việc vẽ ra dự án trên trời cuộc đời dưới đất, không cần chú ý tới lợi ích của người dân.

Đừng nuông chiều nhà thầu Trung Quốc nữa

Một thí dụ cụ thể như các quan làm dự án đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông. Dự án này đã gây rất nhiều tai tiếng và tai nạn. Người dân bất bình, nhà nước sốt ruột, nhưng nó vẫn ỳ ra đó, như trêu ngươi, như thách thức.
Nó ỳ ra nhưng có vẻ như càng ỳ càng lợi, vì nếu công trình kéo dài thì lại tính tiền trượt giá, nâng thêm vốn, nhà đầu tư “chết,” còn nhà thầu Trung Quốc cứ thong thả nhặt tiền. Tin mới toanh, dự án này chậm tiến độ, “đội” vốn lên $868.06 triệu USD, tăng 315,18 triệu USD so với tổng mức đầu tư ban đầu.
Làm dự án kiểu này thì quá dễ, chậm tiến độ thì tăng vốn, thiếu vốn thì vay, chỉ có chết dân. Bởi vì vay ở đâu thì cuối cùng dân cũng è cổ ra để trả cả vốn lẫn lãi. Riêng dự án này, tổng thầu là Trung Quốc, một phần vốn vay ưu đãi cũng Trung Quốc. Nhà thầu Trung Quốc làm ăn bê bối, nhưng nói ra mắc nghẹn ở cổ, vì vốn vay lại từ phía họ. Cũng như bị đòn đau mà đành ngậm bồ hòn làm ngọt.
Không chỉ chậm tiến độ, đội vốn, gây thiệt hại về kinh tế, dự án này còn là nỗi khiếp sợ về tai nạn. Đã có nhiều tai nạn xảy ra khiến có người chết và nhiều người bị thương, đè bẹp một xe taxi chạy qua.
Tổng thầu kém thì quá rõ rồi, nhưng những người chọn nhà thầu kém phải chịu trách nhiệm. Dự án trên cao, nhưng năng lực chuyên môn thì dưới thấp. Nhận ra tổng thầu dự án đường sắt trên cao kém, không đủ năng lực thì phải thay. Nếu không thể thay tổng thầu vì vướng quá nhiều thủ tục pháp lý, ràng buộc về tài chính thì phải có biện pháp quản lý cũng như quy định về chế tài để nhà thầu thi công đúng tiến độ và bảo đảm chất lượng.
Không thể nuông chiều nhà thầu Trung Quốc này thêm nữa.

Đến chuyện doanh nghiệp nước ngoài đau mà không dám kêu

Rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài mò sang VN làm ăn cũng bị móc họng, nhưng có khi mất tiền mà không làm được việc, bị các quan “ăn quịt” luôn, không chịu trả lại.
Theo VNNet, cả hội trường cười rầm rầm khi ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban Pháp Chế Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam (VCCI), bình luận, tỷ lệ “ăn quỵt” năm qua đã giảm bớt. Bởi, doanh nghiệp chi tiền bôi trơn nhưng không phải lúc nào cũng được việc. Nếu không trả hoa hồng, 89% doanh nghiệp FDI cho biết là sẽ có chuyện bất lợi xảy ra. Ông Tuấn dùng chữ “ăn quỵt” rất bình dân và rất đúng, nghe vừa tức cười vừa xấu hổ cho dân Việt.
Ông Tuấn giải thích rõ ràng: năm 2010, chỉ có hơn 47% doanh nghiệp FDI cho biết công việc đã được giải quyết đúng sau khi họ trả các khoản chi phí không chính thức, nhưng năm 2014, tỷ lệ này là hơn 58%. Điều đó cũng có nghĩa rằng, một số lớn các doanh nghiệp FDI trước đây đã bị “mất trắng” với công chức Việt Nam (53%) một khoản tiền lớn mà không được việc gì, và giờ thì con số này giảm xuống (42%).
Tức là việc “ăn quỵt” giảm được 9%. Vẫn cón đó 42% doanh nghiệp bị ăn quỵt, bằng gần một nửa doanh nghiệp dính vào cái bẫy hổ này mà không dám kêu.
Nỗi thống khổ của doanh nghiệp FDI càng đậm nét hơn, khi nghiên cứu này chỉ ra rằng: 17.2% doanh nghiệp đã phải bôi trơn khi xin giấy phép đầu tư, 31.4% phải chi tiền hoa hồng khi đấu thầu, 66.2% đều phải đưa phong bì lúc thông quan và 22,3% doanh nghiệp FDI đã không muốn đưa ra toà án khi có tranh chấp, bởi chạy án là phổ biến.
Nếu không trả hoa hồng, 89% doanh nghiệp FDI cho biết là sẽ có chuyện bất lợi xảy ra.
Ông Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển, Bộ KH-ĐT, nói, “Doanh nghiệp lâu nay làm ăn dựa vào quan hệ với Nhà nước. Căn bệnh thâm căn, cố đế này đã ăn vào máu người Việt cả nửa thế kỷ nay, tức 50 năm, còn chúng ta mới chỉ nhận thức được vấn đề 20 năm thôi. Cho nên, phải đổi mới tư duy.”
Kêu gào “đổi mới tư duy” mãi mà chẳng thấy “tư duy” nào giúp cho đời sống của người dân Việt khá hơn. Cứ thấy thụt lùi dần. Nay tăng giá điện, mai tăng giá nước, mốt tăng giá xăng, tháng sau thu thêm “phí” nữa là “giờ đây đã đói càng thêm đói.”
Bên lề Diễn Đàn Kinh Tế Mùa Xuân, có câu chuyện kể rằng, một hãng sữa lớn của Việt Nam tổ chức một buổi hội và có mời một anh phóng viên nước ngoài tham dự. Kết thúc buổi hội, hãng này tặng cho các đại biểu một túi quà nhỏ có vài hộp sữa. Nghĩ không giá trị nhiều, anh phóng viên nọ mang về trụ sở, mở túi ra và tá hỏa phát hiện một phong bì có 200.000 đồng ($9). Rất sợ hãi, anh này vội vã quay trở lại nơi tổ chức thì đã chẳng còn ai. Sau đó, anh phải tìm đến tận trụ sở công ty sữa đó để trả bằng được cái phong bì ấy.
Với người Mỹ, việc nhận quà bằng tiền mặt là tối kỵ và nếu có quà, tổng giá trị quá $20 USD sẽ phải trả lại. Còn ở VN thì khác, nếu anh nào cho vào phong bì ít quá sẽ bị chửi, cho nhiều thì tay bắt mặt mừng cứ như bạn bè thân thiết từ khuya rồi vậy. VN thắng Mỹ là ở chỗ đó!
Văn Quang

(1 tháng 5, 2015)

Chuyện ‘tìm người 40 năm cũ’ của Los Angeles Times

Chuyện ‘tìm người 40 năm cũ’ của Los Angeles Times

Nguoi-viet.com

Ðỗ Dzũng/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV)Chỉ vì một tấm hình cũ, trong đó có một cụ già và một em bé trong trại tị nạn Camp Pendleton, San Diego, được chụp hồi năm 1975, mà nhật báo The Los Angeles Times cử ba người, hai phóng viên ảnh và một nhà báo, bắt tay vào làm việc để tìm hiểu xem cuộc đời của em bé này bây giờ ra sao.


Cô Lisa Hà Nishihara và tấm hình do phóng viên ảnh Don Bartletti chụp ở Camp Pendleton năm 1975. (Hình: graphics.latimes.com)

Em bé này, một người tị nạn Việt Nam tạm cư ở Camp Pendleton năm 1975, bây giờ đang sống ở Fresno, tên là Hoàng Hà, và bây giờ có tên Lisa Hà Nishihara.

Hai phóng viên ảnh Don Bartletti và Don Kelson, từng tham chiến tại Việt Nam hồi cuối thập niên 1960, và nhà báo Ðỗ Bảo Anh, từng sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng thời gian với em bé trong tấm hình.

Phóng viên ảnh Don Bartletti, từng đoạt giải Pulitzer năm 2003 qua loạt ảnh về thanh thiếu niên các quốc gia Trung Mỹ đi qua Mexico để vượt biên vào Mỹ.

Còn phóng viên ảnh Don Kelson cách đây 40 năm làm phóng viên ảnh cho Rio Hondo College ở Whittier, California, và có chụp một số hình về đời sống của người Việt trong Camp Pendleton.

“Một điều quan trọng trong lãnh vực chụp ảnh báo chí là nhân vật trong tấm ảnh. Phóng viên ảnh không chỉ chụp nhân vật đó, mà phải để ý xem nhân vật đó bây giờ sống ra sao,” phóng viên ảnh Don Bartletti chia sẻ lý do ông đi tìm em bé 5 tuổi trong tấm hình ông chụp ở Camp Pendleton năm 1975.

Ði tìm em bé

Ngày 26 Tháng Ba, nhật báo Người Việt đăng một bản tin ngắn với tựa đề “Tìm người 40 năm cũ” với nội dung như sau: “Hai tấm hình dưới đây được nhiếp ảnh gia, nhà báo nổi tiếng từng thắng giải Pulitzer về hình ảnh báo chí Hoa Kỳ, Don Bartletti, chụp cách đây 40 năm, tại Camp Pendleton, California, ngay sau biến cố 30 Tháng Tư. Hôm nay, 40 năm sau, tác giả và phóng viên một tờ báo Anh Ngữ mong muốn đi tìm lại những nhân vật trong các tấm hình này. Tấm hình thứ nhất là cụ bà Trần Thị Năm và một người cháu gái. Theo ký ức của phóng viên Bartletti, cụ bà Trần Thị Năm cùng 14 người trong gia đình đến Camp Pendleton vào khoảng Tháng Tư, 1975, khi cụ đã 110 tuổi. Cụ Năm qua đời cũng thời gian ấy, ngay trong trại, vì chứng viêm phổi. Bé gái trong hình có thể là cháu nội/ngoại hoặc cháu cố của cụ Trần Thị Năm. Gia đình cụ Trần Thị Năm rời Việt Nam trên một chiếc thuyền ra đi từ Phú Quốc hồi Tháng Tư, 1975.”


Tấm hình “Tìm người 40 năm cũ” của do phóng viên ảnh Don Bartletti chụp, đăng trên nhật báo Người Việt ngày 26 Tháng Ba. (Hình: Don Bartletti/The Vista Press)

Dưới tấm hình là lời nhắn cho cô bé trong hình, hoặc bất cứ ai biết cô, xin liên lạc với LAT.

Lúc đó, cả ba nhân viên của LAT không biết tên em bé trong hình.

“Ban đầu, có nhiều người gọi đến, sau khi đọc bản tin trên nhật báo Người Việt, nhưng đa số là tò mò,” nhà báo Ðỗ Bảo Anh kể. “Tuy nhiên, có một người tên Tâm ở Port Arthur, Texas, gọi đến, nói rất chi tiết về tấm hình. Anh Tâm còn nói cô bé là em họ của anh, nhưng anh lại không quen, mà quen với người chị.”

Thế là anh Tâm cho số điện thoại người chị, đang sống ở New Jersey.

“Lúc đó, nếu tính theo múi giờ thì cũng khuya lắm rồi, nhưng tôi vẫn gọi,” nhà báo Ðỗ Bảo Anh kể. “Rồi chị Minh có nói một chút về tấm hình, về người em gái, nhưng lại không cho số điện thoại, mà giới thiệu một người cô ở Fresno, California. Sau đó, tôi gọi cho người cô, rồi mới xin được số điện thoại của Lisa, cũng sống ở Fresno,” nhà báo Ðỗ Bảo Anh kể.

Có số điện thoại của nhân vật rồi cũng không phải dễ phỏng vấn.

Nhà báo Ðỗ Bảo Anh kể: “Lúc gọi điện thoại, tôi nghe thấy cô kể chuyện với tôi, nhưng phía sau lại có tiếng chồng và con gái, cũng kể về chuyện tấm hình, nhưng rất khó hiểu. Thế là tôi quyết định phải gặp Lisa cho bằng được, để phỏng vấn dễ dàng hơn.”

Nhưng khi cả ba tới nơi, cô Lisa Hà Nishihara lại ngại ngùng, nhất là khi thấy có tới hai phóng viên ảnh, một người chụp hình và một người quay phim, cộng với một phóng viên.

Theo nhà báo Ðỗ Bảo Anh, sự ngại ngùng của cô Lisa có thể hiểu được, vì Fresno là một vùng rất bình yên, nằm ngay thung lũng trung tâm California, xung quanh đều là nông trại. Kế đến, gia đình cô Lisa cũng không tiếp xúc nhiều với cộng đồng bên ngoài.


Nhà báo Ðỗ Bảo Anh: “Tôi phải thuyết phục Lisa… Cuối cùng cô đồng ý nói chuyện.” (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

“Thế là tôi phải thuyết phục cô. Tôi nói rằng tôi cũng không thích ngồi trước ống kính, nhưng tôi và cô có thể ngồi với nhau, nói chuyện bình thường, không ép buộc. Thế là cô đồng ý. Trong lúc nói chuyện, mọi thứ từ từ trở nên tự nhiên hơn, và cô từ từ chia sẻ ký ức của mình, nhất là khi cô nhìn thấy tờ báo The Vista Press in cách đây 40 năm, có hình cụ Trần Thị Năm và cô ở trang chính,” nhà báo Ðỗ Bảo Anh kể.

Nhân vật là chính

Cô Lisa Hà Nishihara không ngờ hình của mình được đăng trên trang nhất một tờ báo, cô không bao giờ nghĩ đến điều này, và cũng chưa bao giờ thấy, hoặc nghe nói, cho đến khi phóng viên ảnh Don Bartletti đưa tờ báo The Vista Press, nơi ông bắt đầu làm phóng viên ảnh cách đây 40 năm, cho cô xem.

Cô đã thốt lên: “Ủa, tôi có ở trong tấm hình đó hả? Cho tôi xem được không? Trời ơi, không ngờ là hình cụ tôi và tôi đây.”

Và cô khóc, nói rằng, nếu cha cô nhìn thấy tấm hình, chắc chắn ông sẽ vô cùng sung sướng.

Ngưng lại một lúc để lau nước mắt, cô Lisa không biết nói gì hơn, nhìn phóng viên ảnh Don Bartletti, nói với ông hai chữ rất rõ ràng: “Thank you.”

“Khi tôi chụp hình nhân vật, họ mới là chính, chứ không phải tôi,” phóng viên ảnh Don Bartletti chia sẻ. “Trong trường hợp này, cô Lisa tự nhiên cảm thấy mình là một cái gì đó quan trọng, mà cô chưa bao giờ dám nghĩ đến. Rồi cụ của cô nữa, tự nhiên cũng quan trọng không kém.”

Ông nói thêm: “Nói chung, khi chụp hình, mình phải chụp làm sao cho nhân vật trong ảnh cảm thấy được trân trọng.”

“Thật là cảm động khi biết Don Bartletti giữ tờ báo này trong nhiều năm, và nó rất ý nghĩa đối với tôi,” cô Lisa Hà Nishihara chia sẻ với nhật báo Người Việt. “Không có lời nào có thể diễn tả được. Thật buồn, chúng tôi rời quê mẹ, và cụ tôi qua đời (trong Camp Pendleton). Ðó là một sự cố gắng. Và tấm hình này gợi lại rất nhiều kỷ niệm.”


Phóng viên ảnh Don Baretletti tại Camp Pendleton năm 1975. (Hình: Don Baretletti cung cấp)

Cô nói thêm: “Tấm hình cũng gợi nhớ lại những kỷ niệm ở Việt Nam. Tôi còn nhớ, cụ luôn luôn ở bên cạnh chúng tôi. Nếu không, chúng tôi sẽ không được như ngày hôm nay. Mỗi ngày đi học cụ thường cho tôi tiền để xài, và tôi hư lắm. Ngày nào tôi cũng bị ăn đòn. Nhờ vậy mà tôi phải đi học và được như ngày hôm nay.”

“Tôi không biết Don Bartletti là ai. Tôi không bao giờ biết tấm hình này được đăng trên báo. Tôi có tấm hình này. Và Don Bartletti rất ngạc nhiên là tôi có tấm hình này và làm sao tôi có thể giữ được nó trong 40 năm qua,” cô Lisa nói.

Phóng viên ảnh Don Bartletti kể: “Khi tôi vừa bước vào nhà, cô Lisa bước từ trên lầu xuống với tấm hình cụ bà Trần Thị Năm 110 tuổi và Lisa lúc 5 tuổi. Tôi nhớ, khi chụp tấm hình này, tôi có đưa một bản cho Camp Pendleton. Và theo như cô nói, khi bà cụ qua đời, họ đưa tấm hình đó cho Lisa.”

Dù đã nhiều lần chú trọng nhân vật chính trong hình, rồi sau đó tìm hiểu xem bây giờ họ ra sao, đối với ông Bartletti, trường hợp gặp cô Lisa đặc biệt hơn bao giờ hết.

Ông kể: “Thỉnh thoảng tôi cũng đi tìm những thanh niên mà tôi chụp hình, trong lúc họ vượt biên vào Mỹ. Thông thường là khoảng hai hoặc ba năm sau, nên không thấy họ có thay đổi nhiều.”

“Trường hợp của Lisa vô cùng đặc biệt, vì tôi chụp hình cô cách đây 40 năm, và tôi rất muốn biết nhân vật của mình bây giờ ra sao, để tiếp tục ghi lại cho độc giả,” ông Bartletti nói. “Tôi biết lịch sử đã được lập tại Camp Pendleton. Lịch sử của một cô bé 5 tuổi. Và tôi rất muốn ghi lại lịch sử này.”

Ông chia sẻ thêm: “Và không có gì sung sướng cho bằng, đối với một phóng viên ảnh, khi cô Lisa hỏi: ‘Có phải ông là người chụp tấm hình đó?’ Cô không thể ngờ có ngày cô gặp lại người chụp hình cô. Ngay lúc đó, tự nhiên tôi nhớ lại tất cả những gì xảy ra cách đây 40 năm.”


Phóng viên ảnh Don Kelson: “Dự án này gắn bó cả ba chúng tôi, hai người từng đến Việt Nam và một người từng là người Việt tị nạn trong Camp Pendleton.” (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Và bây giờ ông Don Bartletti mới được biết, sau khi rời Camp Pendleton, cha mẹ cô Lisa tìm được việc làm trong các nông trại ở Fresno. Riêng cô, ban đầu định đi học trở thành bác sĩ nhi đồng, nhưng vì không chịu nổi tiếng khóc của trẻ em, cuối cùng, cô làm việc trong một trung tâm cấp cứu.

Lục lọi quá khứ 40 năm

Khi đi tìm những nhân vật trong hình của mình cách đây 40 năm, hai phóng viên ảnh Don Bartletti và Don Kelson, và nhà báo Ðỗ Bảo Anh phải “lục lọi quá khứ 40 năm” trong đầu của họ qua các tấm hình.

Cả ba đến Camp Pendleton trong những ngày gần tới ngày tưởng niệm 40 năm Tháng Tư Ðen. Nhà báo Bảo Anh Ðỗ lái xe đi tìm lại những ký ức của một cô bé, nhưng bây giờ tất cả đã biến mất.

Nhưng với hai phóng viên ảnh thì không.

“Thực sự, trước khi làm dự án này, tôi cũng không hình dung được nó sẽ như thế nào,” phóng viên ảnh Don Kelson nói. “Nhưng dần dần tôi thấy vô cùng lý thú, vì nó gắn bó cả ba chúng tôi, hai người từng đến Việt Nam và một người từng là người Việt tị nạn trong Camp Pendleton.”

Ông nói thêm: “Ðúng là mọi thứ thay đổi cả, vì 40 năm rồi còn gì, nhưng có những thứ vẫn còn đó. Và đó là điều giúp chúng tôi tìm được quá khứ.”


Phóng viên ảnh Don Baretletti: “Khi chụp hình, mình phải chụp làm sao cho nhân vật trong ảnh cảm thấy được trân trọng.” (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

“Ðó là những ngọn núi,” phóng viên ảnh Don Kelson nói. “Tôi cầm tấm hình mình chụp cách đây 40 năm, có bốn em bé gái ngồi chơi trên một miếng giấy thùng carton, phía sau là những cái lều dành cho người Việt tị nạn, phía xa là một ngọn núi. Bây giờ, lều không còn, không còn gì cả, mà chỉ là hàng rào và những cái nhà kho. Tuy nhiên, ngọn núi phía xa ở đằng sau vẫn còn đó, không hề thay đổi.”

Ở một nơi khác, phóng viên ảnh Don Kelson chụp một tấm hình các học sinh trung học đang diễn một vở kịch cho các trẻ em Việt Nam ngồi trên một khán đài dã chiến coi.

“Tôi và Don Bartletti phải mất 5 giờ đồng hồ để đi so sánh khung cảnh ngày xưa và bây giờ,” phóng viên ảnh Don Kelson kể. “Và cuối cùng tôi tìm được khán dài dã chiến đó, gỗ bắt đầu mục, các khung sắt bắt đầu sét rỉ, cỏ xung quanh mọc cao, nhiều cây lớn mọc phía sau, không một ai qua lại. Và một lần nữa, ngọn núi phía xa vẫn sừng sững ở đó.”

Ông chia sẻ thêm: “Phải nói đây là lần đầu tiên tôi đi tìm khung cảnh của nơi tôi chụp hình 40 năm trước, mà lần này lại liên quan đến người Việt Nam, đất nước Việt Nam, nơi tôi từng có mặt trong thời kỳ chiến tranh. Và tôi nhớ lại, trẻ em ở Việt Nam tôi gặp hồi thập niên 1960 khác với trẻ em tôi gặp trong Camp Pendleton hồi năm 1975.”

Trở lại tấm hình chụp hai bà cháu 40 năm trước, cô Lisa Hà Nishihara cho biết: “Ðó là một món quà Don Bartletti tặng cho tôi và nó sẽ ảnh hưởng tôi suốt đời. Ông đã thay đổi cuộc đời tôi. Ông khuyến khích tôi rất nhiều. Nó giống như là một vòng tròn khép kín. Tôi đã nói lời cảm ơn rất chân thành với ông, và tôi không biết nói gì hơn.”

“Tôi giữ tấm hình đó trong 40 năm, tôi giữ nó, và tôi đã gặp người chụp tấm hình đó,” cô Lisa Hà Nishihara thổ lộ. “Tôi hy vọng tấm hình sẽ dạy cho con gái tôi biết về nguồn gốc và lịch sử của nó. Tôi không thể ngờ tôi gặp ông Don Bartletti tối hôm đó, cho đến khi điều này trở thành sự thật.”

––
Liên lạc tác giả: dodzung@nguoi-viet.com