Mỹ: Con tin trong khu nhà IS được giải cứu lúc sắp bị hành quyết

Mỹ: Con tin trong khu nhà IS được giải cứu lúc sắp bị hành quyết

Thượng sĩ Joshua Wheeler tử thương trong một cuộc tấn công chống lại các nhóm Nhà nước Hồi giáo ở miền bắc Iraq.

24.10.2015

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter cho biết những con tin bị nhốt trong một khu nhà của Nhà nước Hồi giáo ở Iraq đang sắp sửa bị hành quyết thì một cuộc đột kích hỗn hợp của Mỹ và người Kurd hôm thứ Năm giải cứu họ.

Tại một cuộc họp báo hôm thứ Sáu, ông Carter cho biết một nấm mồ đã được chuẩn bị sẵn cho những con tin tại địa điểm này mà ông mô tả là một “trung tâm hành quyết.”

Cuộc đột kích táo bạo tại khu nhà của Nhà nước Hồi giáo ở khu vực Hawijah, phía tây thành phố  Kirkuk, giải thoát khoảng 70 con tin, trong đó có ít nhất 22 thành viên thuộc lực lượng an ninh Iraq.

Cuộc đột kích cũng khiến quân nhân Mỹ đầu tiên tử trận trong chiến dịch kéo dài một năm chống lại những kẻ cực đoan IS. Thượng sĩ Joshua Wheeler tử thương vì hỏa lực của Nhà nước Hồi giáo trong nhiệm vụ này.

Một phát ngôn viên của liên minh do Mỹ dẫn đầu ở Iraq, Đại tá Steve Warren, nói với VOA rằng thượng sĩ Wheeler bị bắn một phát và cho biết rằng lực lượng người Kurd cũng hứng chịu thương vong trong vụ đột kích.

Những binh sĩ Mỹ, “những con người của hành động giữa chiến sự nóng bỏng, đã quyết định giúp đỡ,” ông Warren nói. “Chỉ huy trên thực địa đã ra lệnh tiến vào giúp diệt trừ kẻ thù.”

Ông Warren cho biết bốn con tin đã  bị hành quyết ở khu nhà này ngày hôm trước. “Đây là cuộc đột kích đầu tiên thuộc loại này và kịch tính như vậy” bởi vì nó diễn ra “đằng sau giới tuyến của kẻ thù, giải cứu con tin,” ông nói.

Mặc dù thượng sĩ Wheeler thiệt mạng, Ngũ Giác Đài phủ nhận quân đội Mỹ đang trực tiếp chiến đấu tại Iraq. Một quan chức quốc phòng cao cấp của Mỹ cho biết hàng chục chiến binh người Kurd và Mỹ đã tham gia vào nhiệm vụ giải cứu tối thứ Tư và sáng thứ Năm, phối hợp với chính quyền khu vực người Kurd của Iraq.

Thượng sĩ Wheeler trúng đạn súng nhỏ trong cuộc đột kích, Bộ Quốc phòng Mỹ nói. Anh thuộc đơn vị hoạt động đặc biệt của Lục quân Mỹ đặt ở Fort Bragg, bang North Carolina.

 

MẤT CẮP

MẤT CẮP

 Phạm Đình Trọng

Nhà thơ bị mất cắp một bài thơ thì cả thế giới mạng người Việt xôn xao như cả thế giới người Việt bị mất cắp thơ, dồn dập lên tiếng. Cả hệ thống báo chí lề Dân, lề Đảng vào cuộc vụ mất cắp thơ nhỏ nhặt. Những nhà nọ, nhà kia, học giả, học thật xúm vào vụ mất cắp thơ cỏn con.

Nhân dân bị mất cắp trắng tay thì chỉ có số ít người đau đớn, xót xa lên tiếng trong lẻ loi, đơn độc, giữa trùng trùng bạo lực hung hãn đàn áp.

Nhân dân bị đánh cắp mất quyền làm chủ đất nước, quyền làm chủ giang sơn gấm vóc, quyền làm chủ nhà nước. Quyền lực Nhân dân cũng như Hiến pháp đất nước là những giá trị tối cao của một quốc gia bảo đảm sự lành mạnh, ổn định và bền vững của đất nước thì cả quyền lực Nhân dân và Hiến pháp đất nước đều bị đánh cắp.

Hiến pháp là văn bản pháp luật nền tảng của luật pháp đất nước. Hiến pháp bảo đảm quyền lực của Nhân dân được thực thi trong cuộc sống, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân với đất nước và xã hội thì Hiến pháp đã trở thành Đảng pháp (Đảng quy). Chỉ một Điều 4 trong các bản Hiến pháp của nhà nước Cộng sản Việt Nam đã chuyển giao toàn bộ quyền lực của Nhân dân cho đảng Cộng sản. Hiến Pháp bị đánh tráo. Quyền lực của Nhân dân bị đánh cắp.

Nhân dân mất Hiến pháp, mất quyền lực là mất tất cả. Mất trắng mắt, trắng tay. Mất từ cái riêng đến cái chung. Mất quyền sở hữu mảnh đất hương hỏa của cha ông. Mất những giá trị làm Người. Mất quyền Công dân. Người Dân vẫn cầm lá phiếu đi bầu cử nhưng chỉ là rô bốt, bầu theo ý quyền lực đã định trước. Đến mất cả quyền làm chủ giang sơn, làm chủ vận mệnh đất nước. Người Dân sống trên mảnh đất của cha ông mình để lại, sống trên mảnh đất mồ hôi xương máu của chính mình gây dựng lên mà như sống tạm, sống nhờ, được ngày nào biết ngày đó. Người Dân sống trên quê hương đất nước máu thịt của mình có lịch sử oai hùng do cha ông mình và chính năm tháng cuộc đời mình viết lên mà như kẻ lưu vong nơi đất khách quê người.

Gần ngàn tờ báo các loại. Báo giấy. Báo tiếng. Báo hình. Trong đó có hàng trăm tờ báo sống nhởn nhơ bằng tiền thuế của Dân. Nhân dân bị mất đau như vậy, các tờ báo đều làm ngơ.

Hàng trăm ngàn trí thức được học hành trong nước, ngoài nước nhờ tiền thuế của Dân, nhận lương lậu bổng lộc hậu hĩ từ tiền thuế của Dân. Dân bị mất đau như vậy, trí thức ngậm miệng ăn tiền.

Báo chí làm ngơ, trí thức ngậm miệng trước nỗi đau của Nhân dân, của dân tộc bởi vì chính họ cũng bị mất cắp cái lớn lao, quí giá là quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận. Cái lớn, cái quí của chính mình cũng bị mất cắp mà không kêu được thôi đành la lối những cái mất cắp vặt vãnh mà quên đi cái mất cắp không dám kêu!

P.Đ.T.

99.9% xảy ra động đất lớn vùng Los Angeles trong 3 năm tới

99.9% xảy ra động đất lớn vùng Los Angeles trong 3 năm tới
Nguoi-viet.com

LOS ANGELES, California (AP) – Có tới 99.9% là sẽ có trận động đất ở mức 5.0 Richter hay cao hơn trong vòng ba năm tới ở khu vực Los Angeles, nơi một trận động đất tương tự đã gây thiệt hại khoảng hơn $12 triệu hồi năm ngoái, theo một cuộc nghiên cứu của NASA và giới nghiên cứu trong đại học.


Một cuộc diễn tập chống động đất tại California hồi năm 2014. (Hình: Mark Ralston/AFP/Getty Images)

Kết quả cuộc nghiên cứu được công bố hôm Thứ Ba đã dựa trên đo đạc của hệ thống định vị GPS và radar đặt trên phi cơ về sự thay đổi trên vỏ ngoài của trái đất sau trận động đất 5.1 Richter hôm 28 Tháng Ba năm 2014 tại thành phố La Habra, nằm cách trung tâm Los Angeles chừng 20 miles (khoảng 32 km) về phía Ðông Nam. Trận động đất này gây một số thiệt hại, kể cả làm bể đường ống dẫn nước và nứt vỉa hè.

Vào năm 1994, một trận động đất khoảng 6.7 Richter, xảy ra ở thành phố Northridge, nằm về phía Bắc Los Angeles gây thiệt hại trị giá $25 tỉ, với hàng chục người thiệt mạng và khoảng 9,000 người bị thương.

Cuộc nghiên cứu xem xét khu vực bán kính khoảng 62 miles quanh tâm địa chấn ở La Habra. Các nhà nghiên cứu quan sát sự chuyển động của mặt đất, xem xét việc không có các trận động đất xảy ra lâu nay và tính toán sức nén của các đường nứt chưa được xả bớt.

Kết quả nghiên cứu cho thấy một trận động đất vào khoảng 5.0 Richter là điều rất có thể xảy ra từ nay tới ngày 1 Tháng Tư 2018, động đất ở mức 6.0 Richter hay mạnh hơn được cho biết là chỉ vào khoảng 35% và mức độ cao nhất lên tới khoảng 6.3 Richter.

Người đứng đầu cuộc nghiên cứu, nhà vật lý học địa chất Andrea Donnellan tại cơ quan Jet Propulsion Laboratory của NASA, cho hay đây không phải là sự tiên đoán mà là một xác suất của điều có thể xảy ra theo sự tính toán của họ.

Tham dự vào cuộc nghiên cứu của NASA có các khoa học gia từ các trường University of California, Irvine; Indiana University, Bloomington; UC Davis; và University of Nevada, Reno. (V.Giang)

TÔI VẪN LUÔN CHỜ BẠN…

TÔI VẪN LUÔN CHỜ BẠN…

Tri’ch EPHATA 664

CHO BANSáng nay, khi Bạn vừa thức dậy, Tôi nhìn Bạn và chờ đợi Bạn nói với Tôi đôi lời: để cám ơn về những điều tốt lành Bạn đã gặp được ngày hôm qua, hoặc để hỏi xem Tôi có ý kiến gì giúp Bạn cho ngày hôm nay hay khơng… Đôi lời ngắn ngủi thôi cũng được… Nhưng Bạn mải lo mở tủ tìm chọn bộ quần áo vừa ý… Nên Tôi lại phải chờ.

  1. Bạn đã mặc quần áo xong, Bạn còn 15 phút rảnh rỗi. Tôi hy vọng Bạn sẽ lên tiếng chào Tôi. Nhưng không, Bạn lại ngồi xuống chiếc ghế bành, im lặng, thanh thản. Tôi vẫn kiên nhẫn chờ.
  2. Chợt Bạn đứng lên. Tôi tưởng Bạn sẽ lại gần Tôi và nói đôi lời gì đó. Thế nhưng Bạn lại tiến về phía chiếc máy điện thoại để bàn, quay số đến một người Bạn thân, hai người đấu láo với nhau một hồi. Và Tôi vẫn tiếp tục chờ.
  3. Rồi đến giờ Bạn xuống khỏi căn hộ chung cư, dắt chiếc Honda ra và nổ máy… Bạn đến chỗ làm. Và tôi tiếp tục chờ Bạn suốt buổi sáng.
  4. Đã đến giờ ăn trưa. Bạn ngồi vào bàn ở căn-tin, rảo mắt nhìn quanh. Bạn thấy vài người ở những bàn bên cạnh cúi đầu thầm thì nói với Tôi đôi lời trước khi ăn. Tôi tưởng Bạn cũng sẽ làm thế. Nhưng không, Bạn bắt đầu ăn ngay bữa trưa một cách ngon lành ! Và Tôi lại tiếp tục chờ.
  5. Ăn xong, Bạn còn một khoảng thời giờ thảnh thơi. Tôi thầm mong Bạn sắp nói gì đó với Tôi. Nhưng chẳng có một lời nào cả. Tôi vẫn phải chờ…
  6. Buổi chiều, tan sở, Bạn lên xe về nhà. Chắc hẳn có biết bao điều Bạn sẽ kể cho Tôi nghe. Tôi chờ. Nhưng Bạn chạy thẳng một mạch với tới chung cư, đi thang máy, lên tới căn hộ nhỏ của Bạn. Rồi Bạn lao ngay vào phòng tắm… Và Tôi vẫn chờ.
  7. Bạn đã cảm thấy mát mẻ và thoải mái. Nhưng Bạn không thấy Tôi đang chờ. Bạn chỉ nhìn thấy cái TV. Bạn mở máy xem trực tiếp một trận bóng đá giải ngoại hạng Anh, để mặc Tôi tiếp tục đợi chờ.
  8. Rồi Bạn lên giường, suy nghĩ mông lung trong khi chờ giấc ngủ đến. Bạn nhớ lại đủ thứ chuyện, đủ thứ người, chỉ trừ mỗi Tôi là Bạn quên mất. Có lẽ vì Bạn không biết Tôi vẫn luôn ở bên cạnh Bạn. Bạn không thấy Tôi, nhưng Tôi vẫn luôn ở kề bên Bạn, yêu thương Bạn, rất muốn nói chuyện với Bạn, để an ủi, để chia sẻ, để góp ý, để động viên… Bạn không biết, không để ý gì cả. Và Bạn thiếp dần vào giấc ngủ. Tôi vẫn nhẫn nại đợi chờ…
  9. Một ngày mới lại bắt đầu. Bạn vừa thức dậy… Tôi hy vọng hôm nay Bạn sẽ dành ra đôi phút để nói điều gì đó với Tôi. Tôi vẫn chờ Bạn đấy. Chúc Bạn một ngày tốt đẹp…

Biên tập lại từ GÓP NHẶT CÁT ĐÁ

HANG ĐÁ ĐỨC MẸ CHỢ RẪY

HANG ĐÁ ĐỨC MẸ CHỢ RẪY

Tri’ch EPHATA 664

LỊCH SỬ

HANG DAHANG DA 2Có rất nhiều người yêu mến Đức Mẹ Maria. Và những ai muốn đến viếng Hang Đá Đức Mẹ Chợ Rẫy thì có thể đi vào cổng Bệnh Viện phía đường Thuận Kiều, đi khoảng 150m, thì quẹo phải 20m, nhìn bên trái thấy nhà kho của Bệnh Viện. Phía sau nhà kho là Hang Đá Đức Mẹ. Hang Đá Đức Mẹ Chợ Rẫy đã được xây dựng 50 năm trước nhưng không có tài liệu nào để lại, chỉ có một vài dấu tích ghi trên bia đá: “Bệnh Viện Chợ Rẫy Kính Dâng Đức Mẹ”; “Kỷ Niệm Năm Thánh Mẫu Toàn Quốc 1963”; “Xây Cất 2.5.1963” hoặc có những bảng tạ ơn rất sớm, ghi năm 1964.

Đức Mẹ hiện diện ở Bệnh Viện này đã nửa thế kỷ trôi qua nhưng sau biến cố 75 thì không còn được một ai chăm sóc, nên Hang Đá thành ra hoang phế, gạch cát gỗ đá vương vất, cỏ cây lòa xòa che khuất, tượng Đức Mẹ cũ kỹ, hư hỏng nặng. Mãi đến khi cha Chân Tín, DCCT, phải vào đây chữa bệnh, những người chăm sóc cha bất ngờ phát hiện ra Hang Đá Đức Mẹ.

Ngay sau đó, ngày 5.9.2012, cha Chân Tín đã nhờ người sửa chữa, dọn dẹp vệ sinh, sửa sang lại thật sạch sẽ và quang đãng toàn bộ khu vực Hang Đá Đức Mẹ suốt từ 8 giờ sáng cho đến 22 giờ khuya thì hoàn tất. Nhờ vậy, từ dạo ấy đến nay, càng ngày càng có nhiều người gần xa nhận biết, họ là bệnh nhân và người nhà, là cả những khách đến thăm người bệnh, dân Sàigòn và các tỉnh, Công Giáo và cả không Công Giáo, họ đã chọn nơi đây như một địa điểm hành hương kính Đức Mẹ thật ấm áp và sốt sắng.

TÂM NGUYỆN

Vài dòng về lịch sử về Hang Đá Đức Mẹ Chợ Rẫy, chúng ta thấy dường như Mẹ đã bị con cái Mẹ quên lãng bỏ rơi hoàn toàn ở khu vực nhà kho nhếch nhác nhơ bẩn này. Thế nhưng, Mẹ đã dùng một người con già nua, đau yếu bệnh tật đến với Mẹ, đó là cha Stêphanô Chân Tín, DCCT. Ngay từ gây phút đầu tiên phát hiện ra Mẹ ở đấy, cụ rất cảm động và có những ước nguyện: “Thật đáng thương khi thấy Mẹ ở nơi xó xỉnh này, trong một nơi ẩm thấp, bề bộn, ngổn ngang mọi thứ… Chắc đã lâu không ai biết Mẹ ở đây nhưng Mẹ vẫn hiện diện để chăm sóc các bệnh nhân và nhân viên bệnh viện. Mặc dù vậy, Mẹ vẫn thương yêu chúng con trong đống đổ nát đó để an ủi những con người đau khổ ở đây, nên con xin quyết tâm với Mẹ, dù con đang bệnh nặng phải nằm viện, con sẽ cố gắng làm thế nào để cho mọi người ở bệnh viện này biết đến Mẹ. Cảnh tượng này làm cho con xúc động rất nhiều và con suy nghĩ cách nào làm cho nhiều người biết Mẹ vẫn đang yêu thương chúng con ở nơi xó xỉnh, tối tăm này”.

Ngày “làm đẹp” cho Mẹ xong cũng là ngày cha Chân Tín xuất viện. Từ đó, khi cha về Nhà Dòng dưỡng bệnh thì chúng tôi thường đến phòng thăm cha. Tôi đọc ra được những thao thức băn khoăn của cha như: rồi đây không biết có ai đến viếng thăm Mẹ không ? Có ai chăm sóc cho Mẹ không ? Chúng tôi đã thưa với cha: “Cha cứ yên tâm đi, đừng lo gì hết, Hang Đá Đức Mẹ để chúng con lo cho”. Thế là hôm sau chúng tôi gặp chị Loan, người lo cắm hoa cho Đức Mẹ ở Nhà Thờ Kỳ Đồng, nhờ chị vào Bệnh Viện Chợ Rẫy cắm hoa cho Mẹ, chị đã nhận lời và cứ thế từ đó vào cắm hoa cho Mẹ mỗi tuần một lần.

Bản thân chúng tôi khi rảnh rỗi, không quá bận bịu chuyện học hành, lại chạy vào Bệnh Viện Chợ Rẫy viếng Mẹ, và gặp được các chị Huệ, Hòa, Hà, Trang… Chúng tôi hẹn ngày giờ đến viếng Mẹ, đọc kinh lần chuỗi với Mẹ mỗi tuần một lần vào chiều thứ bảy. Từ đó, chúng tôi cổ võ giới thiệu được nhiều người đến cầu nguyện hơn nữa, đúng như ước nguyện của cha Chân Tín và của chị Huệ.

NHÓM CON ĐỨC MẸ CHỢ RẪY

HANG DA 3Cho đến nay đã gần hai năm, cứ mỗi chiều thứ bảy vào lúc 17 giờ, chúng tôi lại họp nhau ở Hang Đá Đức Mẹ Chợ Rẫy để hành hương, lần chuỗi Mai Khôi, và đọc kinh Lòng Thương Xót. Đến lúc này, chúng tôi nghĩ bất cứ nhóm nào, tổ chức nào cũng cần có người điều hành, có người phụ trách để lo liệu mọi sự được chu đáo. Do đó, ngày 2.5.2014, chúng tôi lập nhóm cầu nguyện và chọn tên nhóm là: “Con Đức Mẹ Chợ Rẫy”. Tiếp theo là bầu ban đại diện 3 năm một khóa. Trúng cử khóa đầu tiên này gồm: Trưởng nhóm là chị Maria Nguyễn Thị Huệ, Phó nhóm là chị Maria Trần Thị Hòa, và Thư ký là chị Maria Trần Thị Hà. Chúng tôi quyết định chọn ngày 2 tháng 5 là ngày kỷ niệm, vì Hang đá Đức Mẹ Chợ Rẫy được thành lập ngày 2.5.1963 và ngày lập nhóm là 2.5.2014, vừa tròn 51 năm. Mục đích của nhóm là cầu nguyện cho các bệnh nhân, cầu nguyện cho nhóm, đồng thời cũng thường xuyên thăm viếng các bệnh nhân và thăm viếng nhau trong nhóm.

CÁC NHÂN CHỨNG ĐƯỢC ƠN

Trong thời gian qua, dù Hang đá Đức Mẹ được tu sửa, luôn có đèn nến, hương, hoa nhưng khuôn viên vẫn bừa bộn bởi vật dụng phế liệu của bệnh viện, vậy mà ngày càng có nhiều người, có đạo cũng như không có đạo, đặc biệt hơn là nhiều nhân viên Y tế của bệnh viện không có đạo vẫn đến đây thắp nến, thắp hương cầu nguyện với Mẹ, đó là điều tôi chứng kiến vào sáng ngày 25.12.2013 ( lễ Giáng Sinh ) khi tôi vào đây cầu nguyện. Có một cô y tá không có đạo sau khi dâng hai cây nến và thắp hương cầu nguyện xong còn hỏi tôi: con bò, con lừa trong Hang đá có ý nghĩa gì vậy ? Và tôi đã có cơ hội chia sẻ Mầu Nhập Ngôi Lời Thể cho người chưa biết đến Tin Mừng.

Quả thật, Mẹ rất thương con cái Mẹ là những người đau ốm bệnh tật, những người con bấy lâu khô khan nguội lạnh nay lại siêng năng đến viếng Mẹ. Và Mẹ đã làm nhiều điều lạ, đây là một vài nhân chứng được ơn Mẹ mà nhóm Con Đức Mẹ Chợ Rẫy ghi nhận.

Chị Maria Nguyễn Thị Huệ

Ngày 5.9.2012, khám tổng quát ở trung tâm Hòa Hảo, kết quả bị u gan lớn 3,5 cm. Bác sĩ cho biết, bệnh này bán cả cơ nghiệp cũng không chữa được, kể cả u nhũ, u xơ bác sĩ cũng không cho thuốc uống. May thay, nhờ cha Chân Tín phát hiện Hang Đá Đức Mẹ, nên chị Huệ thường tìm đến Hang Đá hành hương cầu nguyện với Mẹ.

Ngày 5.10.2012, chị Huệ được chuyển vào Bệnh Viện Chợ Rẫy. Sau khi khám, bác sĩ cũng không cho thuốc uống mà hẹn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng tái khám.

Ngày 5.12.2013, bác sĩ hẹn chị ba tháng sau đến để sinh thiết u gan và đốt. Đến ngày hẹn, là ngày 19.3.2014, chị được bác sĩ trưởng khoa khám u gan và hội chẩn với kết quả u lành tính và không phải làm bất cứ điều gì nữa, vì u không lớn, u nhũ không còn nữa và tất cả các bệnh đều giảm, u xơ nhỏ dần. Chị tin rằng bệnh của chị được khỏi mau như vậy là do chính Mẹ đã chữa lành.

HANG DA 4Em Anna Đỗ Vy Anh ở Bảo Lộc

Tháng 4 năm 2013, Đỗ Vy Anh bị bệnh u não, phải nằm phòng cấp cứu Bệnh Viện Chợ Rẫy một tháng, và gia đình không hy vọng cháu sống được lâu. Nhưng khi cháu và gia đình đến khấn ở Hang đá Đức Mẹ Chợ Rẫy, thì một tháng sau cháu được chuyển ra phòng hồi sức và hai tháng sau xuất viện trở về Bảo Lộc, và 5 tháng sau cháu đã nhớ lại tất cả.

Chị Maria Hiền, 24 tuổi

Chị Hiền bị bệnh tụy đã 3 năm và đã đi điều trị nhiều bệnh viện mà không khỏi. Bác sĩ cho biết bệnh này sống thêm được ngày nào tháng nào là tốt lắm rồi. Chị phải uống thuốc một ngày hết 400 nghìn đồng và chi phí ọc máu 20 triệu đồng một lần. Kết quả xét nghiệm máu cao 400. Thế nhưng chị đã cầu nguyện trước Hang đá Đức Mẹ Chợ Rẫy 2 tuần liền, và khi đi xét nghiệm lại thì máu chỉ còn 200. Chị tiếp tục khấn Đức Mẹ 4 tuần rồi đi khám lần nữa trong tháng 11 năm 2013, thì không còn bệnh và cũng không cần phải uống thuốc thêm nữa.

Anh Antôn Dương, 49 tuổi

Anh Dương bị bệnh đau đầu, tê nửa người, nhưng khi đi khám ở nhiều nơi thì lại không phát hiện được bệnh gì. Đến khi anh đi khám ở Bệnh Viện Chợ Rẫy và đồng thời cầu nguyện cùng Đức Mẹ Chợ Rẫy, thì các bác sĩ phát hiện anh bị u não và phải mổ gấp. Tháng 9 năm 2013, sau khi mổ 3 ngày anh mới tỉnh lại và 2 tuần sau anh được xuất viện. Anh tin rằng đó là ơn thiêng anh nhận được từ Mẹ.

Cô Maria Tâm, 56 tuổi

Cô Tâm bị bệnh tiểu đường và phải chịu di chứng là hư một con mắt. Khi cô vào Bệnh Viện Mắt để khám, bác sĩ nói rằng không thể chữa được nữa. Cô đã tìm đến Hang Đá Đức Mẹ Chợ Rẫy để cầu nguyện. Sau đó cô Tâm đi bắn tia laser 4 lần vẫn không thấy đỡ. Cô tiếp tục vào bệnh viện tiêm một mũi ở mắt rồi một tháng sau xin bác sĩ mổ mắt, kết quả vẫn vẫn không nhìn thấy gì. Hai tháng sau được mổ lại, cô được bác sĩ cho biết giác mạc rất yếu, không chắc chữa được. Cô tiếp tục khấn Đức Mẹ và một tuần sau tái khám thì bác sĩ cho biết mắt của cô đang hồi phục từ từ. Thế là đến tháng 6 năm 2013 thì cô Tâm nhìn được ánh sáng nhờ ơn Mẹ.

Maria Vinh

Cô Vinh bị bệnh sỏi thận, chữa trị ở Bệnh Viện tỉnh Bình Dương 4 ngày liền, đau đến nỗi không ăn không ngủ được, phải chuyển về Bệnh Viện Bình Dân và có lịch hẹn hôm sau mổ. Nhưng khi đã vào khấn Đức Mẹ Chợ Rẫy thì cô Vinh bắt đầu ăn được ngủ được, thấy vậy bác sĩ kê toa cho cô chỉ phải uống thuốc trong 4 tuần, và đến tháng 1 năm 2014, thì hai viên sỏi tự ra mà không cần mổ nữa, cô xác tín tất cả là nhờ ơn Mẹ.

Chị Maria Tâm

Chị Tâm sinh con đầu lòng đã được 7 tuổi mà không thể sinh thêm được nữa. Chị đã vào khấn Đức Mẹ Chợ Rẫy, một tháng sau thì có thai. Rồi sau khi sinh 9 tháng thì một chân em bé cứ co không duỗi thẳng ra được. Đi khám ở Bệnh Viện Nhi Đồng, thì các bác sĩ lại không phát hiện bệnh gì. Gia đình chị Tâm đưa bé vào khấn Đức Mẹ Chợ Rẫy và thật bất ngờ, bé đã được khỏi bệnh vào tháng 3 năm 2013.

Chị Lộc ở Đồng Nai

Chị Lộc bị bệnh u nang buồng trứng nặng nên đã chuyển vào Bệnh Viện Từ Dũ. Các bác sĩ bảo chị phải mổ ngay, càng sớm càng tốt. Tháng 2 năm 2014, sau khi cầu nguyện Đức Mẹ Chợ Rẫy, chị Lộc tái khám thì các bác sĩ hội chẩn 3 lần, cho biết không còn u nào nữa, không cần phải mổ, chị nhận ra ngay mình đã được ơn Mẹ đặc biệt chữa lành.

Anna Thoa

Chị Thoa bị bệnh viêm gan C, và đã uống thuốc suốt hai năm mà không khỏi. Tháng 3 năm 2014, chị vào khấn Đức Mẹ Chợ Rẫy, bốn tuần sau xét nghiệm lại thì bệnh không còn nữa. Chị xác tín Mẹ đã thương chữa lành cho chị.

KINH CẦU NGUYỆN LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

Lạy Cha, Đấng đầy lòng trắc ẩn, Đấng duy nhất tốt lành,
con chạy đến van xin lòng thương xót Cha,
mặc dù tội lỗi con to lớn và việc xúc phạm con lại quá nhiều,
con vẫn tín thác vào lòng thương xót của Cha,
bởi vì Cha là Đấng xót thương.
Từ xưa tới nay, chưa từng nghe có người nào
tín thác vào Cha mà bị thất vọng.

Lạy Cha từ bi, chỉ mình Cha mới phán xét con.
Cha không bao giờ từ chối, khi con thống hối ăn năn,
chạy tới lòng thương xót Cha,
nơi mà chưa một linh hồn nào bị từ chối,
mặc dù họ là một linh hồn vô cùng tội lỗi.
Lời Chúa Giêsu, con Cha đã bảo đảm với con rằng:
“Thà rằng trời đất này biến ra không,
nhưng lòng thương xót của Ta luôn ấp ủ mọi linh hồn tín thác”.

Lạy Chúa Giêsu, là bạn tri kỷ của những trái tim lẻ loi cô độc,
Chúa là Thiên Đàng, là Đấng Cứu Rỗi,
là sự an bình trong những giây phút buồn phiền
giữa biển hoang mang nghi ngại.
Chúa là ánh sáng chiếu soi bước đường con đi.
Chúa là tất cả của một linh hồn cô độc.
Chúa biết sự yếu mềm của chúng con,
và giống như một danh y tốt,
Chúa an ủi và chữa lành mọi đau đớn của chúng con. Amen.

KINH CẦU CHO CÁC BỆNH NHÂN

Lạy Đức Thánh Trinh Nữ Maria,
Mẹ là mẹ sầu bi và cũng là mẹ hy vọng,
chúng con dâng lên Mẹ tất cả các bệnh nhân,
nhất là những bệnh nhân nghèo khổ và bị bỏ rơi.
Chúng con dâng lên Mẹ bao trẻ em đang chết dần chết mòn vì bệnh tật.
Chúng con dâng lên Mẹ bao trẻ thơ sắp mất cha mất mẹ.
Xin Mẹ thương nhìn đến những người cha người mẹ đang than khóc con mình.
Xin Mẹ ghé mắt nhân từ nhìn đến những gia đình,
đang kiệt quệ héo hon vì khổ đau.
Xin Mẹ ôm lấy tất cả những gia đình đó trong vòng tay từ mẫu của Mẹ,
để họ được an ủi trong đau khổ, hy vọng trong thử thách, và bình an trong gian khó.
Lạy Mẹ từ ái, xin Mẹ thương nhận lời chúng con. Amen.

THAY LỜI KẾT…

Quả thực, càng ngày càng có rất nhiều người thành khẩn tin tưởng cậy trông tìm đến với Mẹ Maria ở Bệnh Viện Chợ Rẫy, và họ đã được Mẹ nhậm lời ban cho hết ơn này đến ơn khác. Trên đây chúng tôi mới chỉ kể được một số trường hợp tiêu biểu, còn biết bao nhiêu trường hợp khác nữa đã được ơn từ Mẹ mà chúng tôi không thể liệt kê hết được. Họ đã đến với Mẹ gần như trong nỗi tuyệt vọng khốn cùng của bệnh tật nan y, và đã được chữa lành. Cha Chân Tín lúc sinh thời đã chia sẻ: “Tôi tin chắc Mẹ sẽ an ủi, chữa lành và nhậm lời cầu khẩn của tất cả những ai chân thành đến cầu xin Mẹ”.

Peter LAM, Học Viện DCCT

TỚI NGUỒN SỰ SÁNG

TỚI NGUỒN SỰ SÁNG

Tgm. Giuse NGÔ QUANG KIỆT

Tri’ch EPHATA 664

Người mù ngồi ăn xin bên vệ đường. Cảnh tượng này cho ta thấy đời anh bị bao phủ bởi nhiều thứ bóng tối.

Trước hết là bóng tối thể lý. Không có đôi mắt, đời anh chìm trong tăm tối. Không biết thế nào là ánh sáng. Không biết thế nào là cảnh thiên nhiên. Không nhìn được khuôn mặt của những người thân. Không tự mình làm gì được. Không tự mình sinh sống được. Chẳng biết có ánh sáng ban ngày. Đời anh chìm ngập một bóng đêm. Bóng đêm dày đặc không một chút ánh sáng. Bóng đêm triền miên không bao giờ chấm dứt. Tất cả là một màu đen. Thế giới màu đen. Quần áo anh mặc màu đen. Khuôn mặt mọi người đều màu đen. Cơm anh ăn hằng ngày cũng màu đen. Một màu đen muôn thuở.

Kế đến là bóng tối xã hội. Vì tàn tật anh trở thành người dư thừa trong xã hội. Anh bị loại trừ khỏi xã hội. Chỉ còn ngồi bên vệ đường mà ăn xin. Như cây cỏ mọc bên đường thôi. Thậm chí khi Chúa đến, mọi người nô nức đón Chúa. Còn anh chỉ kêu lên thôi cũng đã bị người ta cấm đoán, đe nẹt rồi. Anh không có quyền gì hết. Vì anh chỉ là thân phận sống nhờ ở đậu.

Sau cùng là bóng tối tâm lý. Cuộc đời anh không có lối thoát. Anh bị kết án suốt đời chịu giam cầm trong bóng tối. Làm sao thoát ra được khi anh không thể tự mình làm gì. Khi mọi người kể cả những người thân ruồng bỏ anh. Khi xã hội gạt anh ra bên lề cuộc sống.

Nhưng Đức Kitô đem đến cho anh ánh sáng ngập tràn. Người chiếu vào đời anh ánh sáng hy vọng. Tuy chưa được gặp Chúa, nhưng chỉ nghe những lời Chúa giảng, những việc Chúa làm anh đã tràn trề hy vọng. Chúa có thể giải thoát anh khỏi định mệnh tăm tối vây bọc cuộc đời anh. Người có thể đưa anh tới miền ánh sáng. Tương lai anh sẽ thay đổi. Cuộc đời anh sẽ tươi sáng. Anh tràn ngập niềm hy vọng. Niềm hy vọng trở thành ánh sáng chiếu soi cuộc đời anh.

Người chiếu vào đời anh ánh sáng Đức Tin. Tuy chưa gặp Chúa nhưng anh đã hoàn toàn tin tưởng vào Chúa. Không tin sao được vì chỉ có Chúa là Đấng duy nhất có thể cứu anh khỏi bóng tối. Vì thế thoạt nghe tiếng Chúa anh đã kêu van lớn tiếng xưng tụng Người là Con Vua Đavít nghĩa là Đấng Cứu Thế. Có lẽ những người đi đón Chúa hôm ấy đều có đôi mắt sáng. Nhưng không ai có ánh sáng Đức Tin. Vì không ai tin Chúa là Đấng Cứu Thế. Trừ anh mù. Mắt anh mù nhưng Đức Tin của anh sáng. Nên anh là người duy nhất lớn tiếng tuyên xưng Chúa là Đấng Cứu Thế. Niềm tin của anh thật mãnh liệt. Dù bị mọi người chung quanh ngăn cản, niềm tin ấy không những không bị suy yếu mà còn càng trở nên mạnh mẽ hơn. Bị mọi người đe dọa, cấm cản, niềm tin của anh càng vững vàng không gì có thể lay chuyển được, nên anh càng kêu to hơn.

Người đã chiếu vào đời anh ánh sáng Tình Yêu. Chúa là tình yêu. Chúa không nghe bằng tai nhưng nghe bằng trái tim. Vì thế giữa đám đông hỗn độn của thành Giêrikhô phồn hoa, Chúa vẫn nghe được tiếng kêu van của một người con bé nhỏ ngồi bên vệ đường. Không những Chúa nghe thấy tiếng lòng khốn khổ của anh mà Chúa còn ưu ái gọi anh đến. Thật là một cử chỉ ưu ái quá sức tưởng tượng. Giữa đám đông trong một thành phố phồn hoa, Chúa chẳng gọi ai trừ ra người mù ngồi bên vệ đường. Chúa chẳng chờ đợi ai trừ ra chờ đợi người con nhỏ bé tội nghiệp bị bỏ rơi nhất thành phố đến với Chúa. Đời anh chưa được ai yêu thương như thế. Đời anh chưa được ai quan tâm như thế. Đời anh chưa được ai mời gọi như thế. Đời anh chưa được ai chờ đợi như thế. Và Chúa còn hỏi anh muốn gì. Đời anh chưa được ai âu yếm như thế. Tình yêu Chúa làm cho đời anh bừng sáng. Anh tìm thấy tất cả ý nghĩa cuộc đời khi gặp được Chúa.

Chúa đem ánh sáng đến cho anh. Chúa là tất cả đời anh. Anh không cần gì khác nữa. Anh vất bỏ cả áo choàng là tài sản duy nhất. Vì anh đã khám phá ra kho tàng quý giá nhất đời. Anh đứng phắt dậy mà đến với Chúa vì tuy mắt chưa nhìn thấy mà lòng anh sáng như sao băng. Và nhất là anh đi theo Chúa cho đến cùng vì Chúa chính là ánh sáng cho đời anh. Chúa sẽ dẫn đường anh đi. Đi đến sự thật và đến sự sống.

Đời sống tôi có nhiều bóng tối vì tôi chưa tin vào Chúa. Đời sống tôi bế tắc vì tôi chưa đặt niềm hy vọng vào Chúa. Đời tôi mệt mỏi chán chường vì tôi chưa yêu mến Chúa. Hãy tin tưởng vào Chúa. Ánh sáng Đức Tin sẽ chiếu soi đường đời tôi đi. Hãy hy vọng vào Chúa. Niềm hy vọng là ánh sáng ấm áp cho cuộc đời. Hãy yêu mến Chúa. Tình yêu Chúa là ánh sáng hướng dẫn mọi tư tưởng, lời nói, việc làm của tôi. Hãy noi gương anh mù thành Giêrikhô bỏ tất cả mà theo Chúa. Sống bên Chúa đời tôi sẽ ngập tràn ánh sáng.

Tgm. Giuse NGÔ QUANG KIỆT

ĐÔI MẮT CỦA CHỊ NỮ TU

ĐÔI MẮT CỦA CHỊ NỮ TU

Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

Tri’ch EPHATA 664

DOI MAT NU TUTrong cuốn sách “Những người lữ hành trên đường hy vọng”, Đức Cố Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận kể câu chuyện “Đôi mắt xanh của chị Nữ Tu” thật cảm động.

Trên khắp các nước, thế chiến đã bùng nổ. Quân Phát-xít chiếm cứ khắp nơi. Một viên tướng Phát-xít đến một Nhà Dòng kia, yêu cầu kêu mẹ Bề Trên cho ông ta gặp… Khi vừa giốc cạn ly nước từ tay Mẹ bề trên, viên tướng Phát xít lập tức vào đề: “Xin bà cho tôi gặp chị Maria…” Bà Bề Trên bấm chuông gọi chị ấy ra. Ông tướng vui vẻ hẳn lên và nói cách sỗ sàng: “Tôi yêu cầu bà trao ngay cho tôi chị này, tôi say mê chị”.

Hai mẹ con nhìn nhau lúng túng. Chị Maria vội đỡ lời: “Tôi là một Nữ Tu tầm thường, nào có gì để ông say mê. Xin ông tìm ở ngoài thế gian, lắm người nhan sắc lộng lẫy…” – “Không ! Không ! Tôi yêu chị vì chị có đôi mắt xanh tuyệt đẹp. Tôi say mê quá !” – “Không ! Xin lỗi ông, không bao giờ tôi chấp nhận điều ấy.” – “Nếu chị không chấp nhận, nội ngày mai, tôi sẽ ra lệnh tiêu diệt cả Nhà Dòng này !”

Một bầu khí thinh lặng ghê rợn ập xuống phòng khách. Ông tướng đứng lên và bảo: “Tôi cho một đêm suy nghĩ, sáng mai tôi sẽ trở lại. Phải trả lời dứt khoát, nếu không tôi sẽ…”

Ngày hôm ấy, cả Nhà Dòng thiết tha cầu nguyệt sốt sắng hơn. Thâu đêm chị không thể nào chợp mắt: “Chẳng lẽ vì mình mà cả nhà phải bị tiêu diệt ? Không, không thể được ! hay tôi phải bỏ Nhà Dòng, bỏ tình yêu Chúa Kitô, bỏ đức trinh khiết ? Không, không bao giờ như thế !”

Sáng hôm sau, khi chị em còn nguyện kinh, ông tướng Phát-xít đã có mặt ở phòng khách, đôi mắt hau háu, nôn nóng, sốt ruột. Từ đầu hành lang, Chị Maria đang tiến lại, nhưng… bên cạnh lại có một người khác dẫn đi, tay chị cầm một cái dĩa. Viên tướng há hốc mồm, trố mắt kinh ngạc. Chị đã bước vào phòng khách, nhưng ông vẫn không ngớt ngẩn ngơ. Chị Maria khuôn mặt đầy máu me, đang sờ soạng đặt cái dĩa trên mặt bàn và nhỏ nhẹ trình bày: “Thưa ông, vì ông say mê cặp mắt của tôi… nên tôi xin sẵn sàng biếu ông cặp mắt ấy… trên dĩa này. Còn thân xác tôi, đời tôi, tôi đã hiến dâng cho Thiên Chúa”.

Viên tướng Phát-xít vừa bàng hoàng kinh ngạc vừa cảm phục. Ông xấu hổ đứng dậy bỏ ra về và không đá động gì đến Nhà Dòng nữa. ( trang 175 – 177 ).

Nữ Tu Maria hy sinh đôi mắt xanh tuyệt đẹp để “dọi ánh sáng vào nơi tối tăm” của cõi lòng viên tướng, nhờ vậy ông ta được sáng đôi mắt và nhìn thấy sự cao quý của một tâm hồn thanh khiết.

Đọc câu chuyện, liên tưởng đến chuyện vua Đavít được Ngôn Sứ Nathan “mở mắt”. Dù đã có nhiều thê thiếp, nhưng vua lại chiếm đoạt bà Bếtsabê là vợ của Uria và sau đó lại mượn tay quân thù giết chết chồng bà để chính thức cưới lấy Bếtsabê làm vợ. Thế là vua đã phạm hai tội ác tày đình: ngoại tình và giết người. Vậy mà vua vẫn ung dung như không có gì xảy ta. Sau đó, Thiên Chúa sai Ngôn Sứ Nathan đến cảnh tỉnh nhà vua.

Ngôn Sứ nói với vua: “Trong thành kia, có một người giàu có đến cả ngàn dê cừu. Trong khi đó, bên cạnh nhà ông ta có một ông lão nghèo khó và cô độc, chỉ có một con chiên nhỏ làm bạn cho vui tuổi già. Ông lão thương con chiên đó như con gái của ông. Ông cho chiên ăn trên tay và cho ở trong nhà. Thế rồi khi người giàu có khách, ông ta không chịu bắt chiên mình làm tiệc, trái lại, cho tôi tớ qua nhà ông lão nghèo khổ bắt con chiên độc nhất của ông nầy làm thịt đãi khách.“

Nghe đến đây, vua Đavít bừng bừng nổi giận. Vua muốn trừng trị tức khắc tên bất lương đó. Nhà vua phán: “Nó đáng chết vì tội ác nó đã phạm. Nó phải bồi thường gấp bốn thiệt hại nó đã gây ra.” Bấy giờ Ngôn Sứ Nathan mới tỏ cho vua biết tên bất lương đó chính là nhà vua và Chúa sẽ trừng phạt vua vì tội ác đã gây ra.Vua Đavít bừng sáng mắt ra, thấy rõ tội ác của mình nên đã ăn năn thống thiết. ( 2 Sm 11, 1 – 12, 12 ).

Câu chuyện cũng gợi nhớ về đôi mắt mù của Nguyên Tổ trong sách Sáng Thế: “Rắn đã nói với người đàn bà: chẳng chết chóc gì đâu ! Quả nhiên Thiên Chúa biết, ngày nào các ngươi ăn nó mắt các ngươi sẽ mở ra và các ngươi sẽ nên như Thiên Chúa, biết cả tốt xấu. Và người đàn bà đã nhìn; quả là cây ăn phải ngon… mà nhìn thì đã sướng mắt. Nó đáng quý thực, cái cây ấy để được tinh khôn. Và bà đã ăn… Và mắt cả hai người đã mở ra. Và chúng biết là chúng trần truồng” ( St 3, 4 – 7 ).

Đoạn Thánh Kinh nói về lịch sử sa ngã của loài người đã đề cập đến đôi mắt qua tiến trình 3 bước:

–   Rắn hứa là mắt hai ông bà sẽ mở ra.
–   Evà nhìn trái táo và thấy sướng mắt.
–   Mắt hai người mở ra và thấy mình trần truồng.

Rắn hứa là mắt hai người sẽ mở ra để nhìn thấy mọi sự như Thiên Chúa, nhưng mắt Đức Tin đã nhắm lại nên không nhìn thấy điều mình muốn thấy. Họ không thấy mùa hoa nở rộ, những đồi cỏ bình yên, những dãi nắng hiền, những dòng suối êm ả. “Mà nhìn thì đã sướng mắt”, cái nhìn ấy phải là đắm đuối, bằng cái nhìn đam mê đó, tội lỗi, khổ đau và sự chết đã vào trần thế.

Lời hứa của con rắn đã hiệu nghiệm: “Mắt cả hai người đã mở ra”. Không phải mở ra để nhìn thấy vẻ đẹp mà nhìn thấy mình trần truồng. “Mắt hai người đã mở ra”. Câu Thánh kinh thật ngắn ngủi diễn tả cách tinh tế sự đau thương: mở ra cũng là lúc đóng lại. Ađam – Evà đã mở mắt, nhưng họ lẩn trốn không dám nhìn Thiên Chúa. Cả hai đã mở mắt nhưng để tìm lá che thân, không dám nhìn nhau. Khởi đầu lịch sử nhân loại là đôi mắt mù và sự mù loà chảy dọc theo thời gian mang tối tăm vào trong trần thế. ( x. Nước mắt và hạnh phúc, trang 69 – 71, Lm. Nguyễn Tầm Thường ).

Chúa Kitô đã đến chữa lành sự mù loà ấy, hàn gắn lại vết thương thưở sa ngã của Nguyên Tổ. Khi liên kết phép lạ Chúa Giêsu chữa người mù từ thưở mới sinh với sự mù loà của Nguyên Tổ, ta mới thấy ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm Con Thiên Chúa đến trong thế gian.

“Mù từ thưở mới sinh” là mù từ xa xưa, thuở địa đàng. Chúa Kitô đã mang ánh sáng cho thế gian. Ngài ban cho nhân loại đôi mắt mới: Mắt Đức Tin.

Từ tiến trình đến ánh sáng tự nhiên, người mù có một hành trình tiếp cận ánh sáng Đức Tin. Chúa Giêsu chữa lành đôi mắt thể lý và mắt tâm hồn của người mù. Chúa đã mở mắt Đức Tin để anh ta tin vào Chúa. Anh ta tin vào lời Chúa là đi rửa mắt ở hồ Silôác và đã công khai nói lên sự thật ca ngợi Chúa trước mặt những người Pharisêu đang tra vấn, khủng bố anh: “Chính tôi đây đã được người mà thiên hạ gọi là Giêsu lấy bùn xức mắt tôi và bảo tôi hãy đi rửa ở hồ Silôác. Tôi đã đi, đã rửa và đã trông thấy”.

Lòng bắt đầu rộng mở nên anh ta nhận ra: “Nếu người đó không phải bởi Thiên Chúa thì đã không làm được gì”. Bởi đó, khi gặp lại Chúa Giêsu và được hỏi: “Anh có tin Con Người không ?” thì anh đáp lại ngay: “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” Chúa Giêsu tỏ mình ra cho anh: “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây”. Anh liền đáp: “Lạy Thầy, tôi tin.” Bước nhảy của niềm tin được kết tinh nơi thái độ quỳ xuống bái lạy.

Qua việc chữa lành đôi mắt thể lý, Chúa Giêsu trao ban ánh sáng Đức Tin cho đôi mắt tâm hồn. Thoát khỏi bóng tối triền miên của cuộc đời, bát ngát một bầu trời mới khi anh được sáng đôi mắt. Lớn lao hơn nữa là tâm hồn anh thênh thang chứa chan lòng mến, anh đã quỳ bái lạy với tất cả lòng tin.

Phép lạ chữa người mù thưở mới sinh là một dấu chỉ minh chứng: Chúa Giêsu là sự sáng thế gian, đã chữa lành sự mù loà của nhân loại với điều kiện: Tin vào Ngài.

Chúa Giêsu cũng chữa nhiều người mù loà tâm hồn. Ngài mở mắt cho Dakêu thấy được sự nguy hiểm của tiền tài đối với phần rỗi ( Lc 9, 1 – 10 ). Ngài mở mắt cho người đàn bà ngoại tình, giúp chị từ bỏ quá khứ lỗi lầm ( Lc 7, 36 – 50 ). Ngài mở mắt cho người trộm lành giúp nhận ra lòng Chúa xót thương ( Lc 23, 32 – 43 )…

Mỗi người chúng ta có lẽ không hoàn toàn mù tối tâm hồn, nhưng có những điểm tối mà ta thấy được. Chẳng hạn như những đam mê, tham vọng, hận thù, ghen ghét, kiêu căng, có thể làm ta mù tối không nhìn thấy sự tốt lành nơi tha nhân. Có một số người chỉ nhìn thấy điểm tối của người khác, chỉ nhìn thấy những lỗi lầm, những khuyết điểm mà không nhận ra những gì là xinh đẹp, những gì là cao quý, thánh thiện nơi họ. Cứ tiếp tục xét mình, ta sẽ thấy có nhiều điểm tối, sự mù tối của tâm hồn rất nguy hại. Chỉ có ánh sáng của Đức Kitô soi chiếu, chỉ có cái nhìn của Đấng Tình Yêu, mỗi người mới xoá tan những điểm tối đó. Chỉ có sự cầu nguyện và tin tưởng vào Đấng là Ánh Sáng thế gian, chúng ta mới có thể xua đuổi bóng tối ra khỏi tâm hồn và nhìn mọi sự trong ánh sáng Tin Mừng Đức Kitô. Ðôi mắt Đức Tin giúp chúng ta nhìn thấy Thiên Chúa và yêu mọi người, mọi sự trong Chúa và yêu như Chúa đã yêu. Nhiều Thánh Vịnh giúp chúng ta tập nhìn cuộc đời và con người bằng đôi mắt tin yêu, như Thánh Vịnh 104, các Thánh Vịnh Gióp 38-39.

Đôi mắt là tuyệt tác của thiên nhiên, là cửa ngỏ tâm hồn. Đôi mắt có thị giác và thị lực. Thị giác là khả năng của đôi mắt có thể thấy. Thị lực là mức độ thấy của khả năng ấy. Thấy nhiều hay ít. Thấy xa hay gần. Thấy rõ hay mờ. Người cận thị chỉ thấy được rất gần. Người viễn thị thì thấy xa hơn. Cần có thị giác tốt và thị lực tốt thì đôi mắt mới sáng ngời. Thị lực còn là của trí óc và của con tim. Có người chỉ thấy được cái thế giới chật hẹp và ích kỷ của bản thân mình; có người thấy được hoàn cảnh, tâm tư và nguyện vọng của người khác. Thị lực còn là niềm tin.

Bartimê tuy mù nhưng lại có thị lực tốt. Anh đã thấy được Chúa Giêsu là Ðấng Mêsia “Con Vua Ðavít“. Anh kêu xin: “Rabbuni, xin cho tôi được thấy“, và Chúa Giêsu trả lời: “Hãy đi ! Niềm tin của con đã cứu chữa con“. Bartimê được thấy và anh theo Chúa Giêsu trên con đường của Người; khi thấy được, anh cùng hành hương lên Giêrusalem ( x. Đức Giêsu thành Nazareth phần II, trang 13 ).

Bartimê thấy nhiều cái mà những người sáng mắt không thấy. Anh thấy Chúa là con vua Đavít, là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế. Anh thấy quyền năng và tình thương của Chúa có thể cho anh được sáng mắt. Anh thấy bằng lòng tin. Chính vì lòng tin này mà Chúa Giêsu đã thương cứu chữa cho anh sáng mắt. Anh mù, mắt không thấy Chúa, nhưng lòng đã thấy Chúa rồi vì anh có lòng tin. Thị lực lòng tin cho anh tiếp nhận ánh sáng tình yêu đầy tràn hy vọng.

“Muốn trong trắng, con phải hy sinh; cành huệ trắng tinh, cành mai thơm tho, cành đào xinh đẹp, vì nó đâm rễ sâu vào lòng đất, vì nó cầm cự với mưa bão, vì nó chịu đựng những bàn tay cắt tỉa” ( ĐHV 431 ).

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con có đôi mắt với thị giác và thị lực tốt; để con nhận ra Chúa nơi anh em với những cái hay cái tốt; để con nhận ra Chúa nơi các kỳ công kiệt tác thiên nhiên; để con biết nhận ra Chúa nơi các vị Đại Diện Chúa.

Và lạy Chúa, “Chúa chỉ ban sự trong trắng cho linh hồn khiêm nhường. Con cầu xin hàng ngày với tâm hồn đơn sơ chân thành, thực sự nhìn nhận sự yếu đuối của con” ( ĐHV 427 ); Xin cho con được thấy bản thân con với những yếu đuối và khuyết điểm, biết nhận ra thân phận thụ tạo lệ thuộc Đấng Tạo Hóa; từ đó con biết được ơn phúc là do lòng Chúa yêu thương ban tặng, để con luôn biết dâng lời cảm tạ, tôn thờ, phụng sự và kính mến Chúa với cả tâm tình con thảo. Amen.

Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

Hành động của viên cảnh sát Mỹ đang gây xôn xao toàn dư luận nước này.

Hành động của viên cảnh sát Mỹ đang gây xôn xao toàn dư luận nước này.

Nhiệm vụ của viên cảnh sát này là sẽ viết giấy phạt cho các xe vi phạm bị bắt gặp trên đường! Và anh vẫn làm tốt nhiệm vụ của mình! Nhưng sẽ chẳng có gì đáng nói nếu không có hành động đằng sau tờ giấy phạt đó!

Theo kênh truyền hình CBS của Mỹ, một viên cảnh sát ở thành phố Plano, Texas sau khi viết xong vé phạt cho một người đàn ông trẻ tuổi đã lặng lẽ kẹp một tờ tiền 100 USD để trợ giúp anh ta nuôi con.

Hayden Carlo 25 tuổi sinh sống tại thành phố Plano, bang Texas, Mỹ có cuộc sống khó khăn và còn phải nuôi con nhỏ, vì không có tiền đi đăng ký xe ô tô nên đã để quá thời hạn đăng ký. Nhưng vì để kiếm tiền nên anh ta vẫn phải lái xe đi làm, kết quả đã bị một viên cảnh sát chặn lại bên đường.

Khi bị chặn lại, Hayden Carlo đã trình bày khó khăn của mình với viên cảnh sát. Viên cảnh sát này nghe xong nhưng cũng không vì thế mà thay đổi quyết định, anh ta vẫn viết một vé phạt cho Hayden. Khi Hayden Carlo tiếp nhận vé phạt này mới phát hiện ở bên trong tấm vé có kẹp thêm một tờ tiền mặt 100 USD.

Hayden đã bị sốc và vô cùng cảm động. Khi anh quay đầu lại nhìn thì phát hiện viên cảnh sát đã lặng lẽ rời đi. Một viên cảnh sát tại thành phố Plano đã chia sẻ: “Viên cảnh sát này đã làm đúng, nhưng chúng tôi hy vọng đây là việc riêng nên không phải tiết lộ tên của anh ấy.”

Sau khi thông tin này được đăng tải trên mạng, nó trở thành một chủ đề nóng của cư dân mạng và truyền thông.

Có người viết: “Thật bất ngờ! Tự nhiên mình cũng muốn bị phạt…”

Một người khác viết: “Một vé phạt 0 đồng kẹp một tờ tiền 100 USD, sự tôn nghiêm của pháp luật và sự ấm áp của tình người! Thật cảm động! Một chế độ tốt để nhân cách con người không ngừng thiện.”

Một cư dân mạng có nickname là Lisboa viết: “Tại sao tôi vẫn luôn được giáo dục rằng chế độ tư bản là một bóng đen hắc ám, là cần lên án phê bình mà lại có viên cảnh sát như vậy? Còn ở Trung Quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa mà luôn được cho là tốt thì lại rất ít gặp những cảnh tượng này? Rốt cuộc tình yêu thương là đến từ nơi nào?”

Nhiệm vụ của viên cảnh sát này là sẽ viết giấy phạt cho các xe vi phạm bị bắt gặp trên đường! Và anh vẫn làm tốt nhiệm vụ của mình! Nhưng sẽ chẳng có gì đáng nói nếu không có hành động đằng sau tờ giấy phạt đó!

Vợ hiền là số tốt phận may dành cho những người kính sợ Thiên Chúa

Vợ hiền là số tốt phận may dành cho những người kính sợ Thiên Chúa

 Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

 … “Nhan sắc phụ nữ làm mát mắt người nhìn, và đó là điều khiến đàn ông khoái nhất. Nếu nàng còn ăn nói dịu dàng yêu thương, thì trong thiên hạ chẳng có ai được như chồng nàng. Cưới vợ là khởi đầu sự nghiệp, là có một trợ lực tương xứng, và một cột trụ để tựa nương.. Phúc thay ai cưới được vợ hiền, tuổi thọ sẽ tăng lên gấp đôi. Vợ đảm đang khiến chồng được sung sướng, được an vui suốt cả cuộc đời. Vợ hiền là số tốt phận may dành cho những người kính sợ THIÊN CHÚA: Giàu hay nghèo, lòng vẫn cứ an vui, lúc nào nét mặt cũng tươi cười” (Sách Huấn Ca 36,22-24 / 26,1-4).

Ông Bà François và Jacqueline Robert có 5 người con. Ông bà là thành viên Ủy Ban Toàn Quốc Mục Vụ Gia Đình Pháp. Cả hai người cùng gia nhập phong trào Focolare – Tổ Ấm, ngay từ khi mới lấy nhau. Ông bà phụ trách nhóm ”Gia Đình Mới”, tại Pháp, một ngành của phong trào Tổ Ấm. Dưới đây là chứng từ của ông bà về tình yêu chung thủy.

 Ông François Robert. Khi quyết định lấy nhau, chúng tôi chỉ muốn đơn sơ một điều: chung sống với nhau. Có lẽ chúng tôi bằng lòng làm bất cứ điều gì, ngay cả trên phạm vi nghề nghiệp, với ước nguyện duy nhất cùng sống và cùng xây dựng. ”Yêu Thương” đối với chúng tôi đồng nghĩa với ”nên một”, và nên một cho đến chết!

Giờ đây, sau hơn 30 năm chung sống, ước muốn nên một vẫn tồn tại. Chỉ khác một điều, chúng tôi hiểu sâu xa hơn mọi chiều kích của cuộc sống chung nên một này. Thêm vào đó, với tư cách là tín hữu Công Giáo và là thành viên phong trào Tổ Ấm, chúng tôi được củng cố trong chọn lựa sống mối tình hiệp nhất yêu thương này. Năm tháng càng trôi đi, chúng tôi càng khám phá ra đâu là giá trị chính yếu: dấn thân làm cho Đức Chúa GIÊSU hiện diện giữa chúng tôi.

 Bà Jacqueline Robert. Cách thức sống hiệp nhất ấy giúp chúng tôi có nghị lực đương đầu với khó khăn gặp phải. Do đó, mỗi khi xuất hiện vấn đề gì với con cái, chúng tôi cảm nghiệm tầm quan trọng của sự hiệp nhất nên một, bởi vì nó giúp chúng tôi sức mạnh để giải quyết vấn đề.

Cùng với năm tháng trôi qua trong đời vợ chồng, tôi rút ra kinh nghiệm: để có thể nên một, tôi không nên ước muốn chiếm hữu chồng, nhưng phải yêu chồng vì chồng và luôn luôn biết tha thứ cho chồng. Tôi phải kính trọng chồng, và biết chấp nhận những phần riêng tư khép kín của chồng.

Dĩ nhiên cuộc sống hôn nhân vợ chồng của chúng tôi cũng dẫy đầy bước thăng trầm, căng thẳng và khó khăn. Nhưng những lúc ấy chính là lúc chúng tôi sống kinh nghiệm tha thứ. Càng biết tha thứ cho nhau, tình yêu càng củng cố và gia tăng. Ngoài ra, càng biết tha thứ cho nhau, càng giúp chúng tôi biết mở rộng lòng tiếp nhận Đấng là nguồn mạch mọi sự: của tha thứ và nhất là, của tình yêu.

Ngoài kinh nghiệm biết tha thứ lẫn nhau, để duy trì mối giây hiệp nhất vợ chồng, tôi còn sống kinh nghiệm khác. Đó là biết để cho chồng tự do phát biểu, diễn tả và biết lắng nghe chồng nói, lắng nghe nguyện ước của chồng. Nhưng nhất là, biết dọn một chỗ trống trong tâm hồn, trong trái tim, để tiếp nhận chồng. Năm tháng càng chồng chất, cách thức yêu thương nhau cũng đổi khác. Sau hơn 30 năm chung sống, chắc hẳn đâu có yêu thương nhau dễ hơn là sau hai năm mới lấy nhau!

 Ông François Robert. Tôi muốn thêm vào một chiều kích khác của đời sống hôn nhân. Ngược dòng thời gian, bây giờ tôi hiểu rõ hơn rằng, khi chúng tôi quyết định lấy nhau, chính là lúc chúng tôi chấp nhận sống ơn gọi vợ chồng. Đối với chúng tôi, bí tích Hôn Phối đúng thực là sức mạnh và là ánh sáng. Hôn nhân cũng còn là lời mời gọi. Đáp lại lời mời gọi tức là chúng tôi ước muốn cùng nhau chung sống, trong mỗi giây phút của cuộc đời, trong hiệp nhất và trong sự hiện diện của Đấng đã kêu mời chúng tôi hãy làm cho Ngài được hiện diện giữa chúng tôi và giữa thế giới.

 … “Nhan sắc phụ nữ làm mát mắt người nhìn, và đó là điều khiến đàn ông khoái nhất. Nếu nàng còn ăn nói dịu dàng yêu thương, thì trong thiên hạ chẳng có ai được như chồng nàng. Cưới vợ là khởi đầu sự nghiệp, là có một trợ lực tương xứng, và một cột trụ để tựa nương.. Phúc thay ai cưới được vợ hiền, tuổi thọ sẽ tăng lên gấp đôi. Vợ đảm đang khiến chồng được sung sướng, được an vui suốt cả cuộc đời. Vợ hiền là số tốt phận may dành cho những người kính sợ THIÊN CHÚA: Giàu hay nghèo, lòng vẫn cứ an vui, lúc nào nét mặt cũng tươi cười” (Sách Huấn Ca 36,22-24 / 26,1-4).

 (”Annales d’Issoudun”, Octobre/1993, trang 292-295)

 Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Trả lại anh, câu yêu mà anh đã tặng,

“Trả lại anh, câu yêu mà anh đã tặng,”

Trả lại anh, nhớ nhung mặn nồng cay đắng.

Trả lại anh thư xanh, màu xanh ái ân.

Dĩ vãng buồn, giống nghĩa trang.

Cô đơn, như mộ không tên.”

(Đức Quỳnh – Trả Lại anh)

(1 Phêrô 5: 1-4)

 Trần Ngọc Mười Hai

             Anh hay em, mà lại hát câu ca này, rõ ràng như thể bảo: thôi “anh đường anh, tôi đường tôi; tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi!, cho rồi.” Bởi, có hát những câu hay ho/đẹp đẽ như thế, nay đâu còn hợp thời-trang, tình-tự được nữa đâu, cơ chứ!

Không tin ư? Mời bạn/mời tôi, ta nghe tiếp đôi ba ca-từ đến “phát khiếp” như sau:

 “Trả lại anh câu yêu em, tình yêu bất diệt.

Trả lại anh với câu xây nhà bên suối.

Trả lại anh hoa khô cài bên bướm xanh.

Đây trang nhật ký đôi ta.

Đang ghi sao đành dở dang.

 Khi em yêu anh còn cô gái thơ ngây.

Nay em xin anh trả em lúc ban đầu.

Yêu anh em đâu ngờ duyên kiếp ba sinh.

Van anh quên đi như khi ta chưa hề quen.”

(Đức Quỳnh – bđd)

Quả là, rất đúng. Hôm nay đây, ở thời buổi này, lại vẫn có những sự thể, thật dễ nói câu “van anh quên đi khi ta chưa hề quen”. Bởi, có quen nhau cho lắm, rồi cũng thấy rối-rắm như trang-huống đang xảy ra ở nhà Đạo.

            Trang-huống hôm nay, lại đã có những lời/lẽ rất thương đau như tin tức được loan-truyền trên báo/đài truyền-thông, như sau:

“Đức Tổng Giám-mục Charles Chaput cảnh-giác việc phân-cấp cho các Hộ-đồng Giám-mục có được một số quyền-về kỷ-luật bí-tích, đã phát-biểu:

 Giáo-hội là ‘Công-giáo’ còn gọi là ‘phổ quát’. Đúng là chúng ta cần tôn-trọng sự khác-biệt về tính-cách văn-hoá giữa các tín-hữu. Nhưng, ta đang sống sống trong thời-đại có nhiều đổi-thay trên qui-mô toàn-cầu có những rối-loạn và bất-ổn. Nhu-cầu cấp-thiết của ta là sự đoàn-kết. Và nguy-hiểm lớn nhất của ta là sự phân-cấp.

 Hỡi anh em,

Ta cần phải rất thận-trọng về việc phân-cấp các vấn-đề về kỷ-luật và tín-điều quan-trong cho phép các Hội-đồng Giám-mục ở các quốc-gia và khu-vực, đặc-biệt khí có áp-lực buộc ta theo chiều-hướng đó kèm một tinh-thần tự khẳng-định và đề-kháng…

 500 năm trước, ở vào thời-điểm giống hệt hôm nay, Erasmus của Rotterdam đã viết rằng: sự hiệp-nhất của Hội-thánh là đặc-trưng quan-trọng vào bậc nhất. Ta có thể tranh-luận về những gì Erasmus tin-tưởng thực-sự; và, những gì ông nói trong bài viết của ông. Nhưng, ta không thể tranh-luận về những hậu-quả xảy đến khi sự hiệp-nhất cần-thiết của Giáo-hội bị bỏ qua. Trong những ngày sắp tới đây, xin chúng ta nhớ rằng: tầm quan-trọng của sụ hiệp-nhất và những gì nó đòi hỏi nơi ta, và những gì mất đoàn-kết trong các chuyện nghiêm-trọng như thế có thể mang lại. ” (X. www.Tâmlinhvaodoi.net, Tóm-lược diễn-tiến Thượng Hội-đồng Giám-Mục về Gia-đình, 17/10/15)

Thật ra thì, Thượng Hội Đồng Giám Mục 2015 diễn-tiến cũng không tệ. Chỉ mỗi điều, là: các nghị-phụ nhà mình, nay có quyền phát-biểu/tỏ-bày ý-kiến tư-riêng của các phe/nhóm khác nhau trong Hội-thánh thế giới. Không chia rẽ hoặc phân-biệt mà chỉ mỗi khác nhau về chánh-kiến/lập-trường. Và, khi đã đi vào hiện-thực, thì phe/nhóm nào cũng sẻ-san đường-lối cũng rất chung, thôi.

Đó là điều, mà nhiều đấng bậc lâu nay vẫn tỏ-bày ý-kiến về các khó-khăn của Giáo hội khi tiếp-cận các vấn-đề nhức-nhối về người Đồng-tính luyến-ái.

Giám mục Geoffrey Robinson từng viết nguyên cuốn sách để bàn về vấn-đề này, vào lúc trước khi Thượng Hội Đồng Rôma khai mạc hồi tháng 10/2015 mà Chuyện Phiếm Đạo Đời đã trích-dịch nhiều qua các bài phiếm lai rai, đây đó. Nay, lại xin tiếp tục triển-khai thêm một số lý-chứng từng tạo khó-khăn cho Giáo-hội khi cần thay-đổi giáo-huấn mình vẫn dạy.

Để bà con có thể bàn-bạc chuyện gay-go theo chiều-hướng nhẹ-nhàng, xin mạo muội, đề-nghị bạn và tôi, ta nghe câu chuyện tiếu-lâm chay ở dưới, khi kể về những cái khó trong chung sống:

Lão vốn mang tiếng cả khu chung cư là sợ vợ và đang di căn sang giai đoạn cuối là khiếp vợ, thế mà tối nay thấy tiếng lão quát vợ rung chuyển các tầng. Kính trọng quá đi. Đàn ông là phải thế chứ.

Nhà cháu chạy sang đứng ngoài cửa.

-Choang!Choang! (Tiếng bát vỡ kinh quá)

-Bụp! (Một cú đá chéo góc).

– Im mồm, tôi bảo cô im đi cơ mà…Im để cho tôi nói, cô đã làm nhơ cái mặt tôi ở khu chung cư này rồi, ai cũng bảo là: tôi sợ vợ, ngay cả lão Vinh kia hễ gặp tôi là nói kháy, là đá đểu rằng tôi sợ vợ. Bây giờ thì đừng hòng. Hôm nay tôi phải dạy cô một lần cho biết.


– Choang! Rắc! Ùm! (tiếng bát vỡ, và cả tiếng ly/cốc, chân bàn gãy, nghe kinh khủng quá)
– Tôi đi ra khỏi nhà là cô la, về muộn một tí thì cô chửi, gặp phụ nữ thì cô cho là tôi đã cặp bồ, cái ví của tôi cô xẻo hết từng đồng tiền lẻ, cái máy điện thoại của tôi mang về, là cô kẹp chặt trong nách, cô một vừa hai phải thôi, nhớ rõ chưa? Nhớ chưa? Há miệng ra mà vâng trước mặt tôi ngay, há ngay ra!

– Bốp. Bốp. Bốp. (Rõ ràng có tiếng đánh từ bàn tay phải của lão đập vào má trái người vợ).

– Cô ngó lên tầng 15 mà xem, cái lão dê già ấy đấy, ai không biết là lão sát gái, vợ lão cũng biết mà có dám hó hé gì, đâu? Tôi nói thế có đúng không? Thế mà, mới thấy tôi búng vào má em nào một phát, vỗ lưng, vuốt tóc một cái thì cô lồng lộn lên là thế nào? Cô chửi tôi cứ như đảng và nhà nước chửi bọn phản động, thế nghĩa là thế nào? Từ giờ trở đi, chừa ngay cái thói bắt nạt chồng nghe chưa, chồng thay cha thay mẹ, hễ nói một câu là vợ phải dạ một câu, nghe chưa?

Viu…viu…viu…(Ôi giời đá gió đây, gọi là song phi đấy!)

– Cô đưa con dao cho tôi, đưa đây! Tôi sẽ chặt ngón tay của cô để cô luôn nhớ rằng, cô là vợ, tức là ở dưới cơ chồng, cô hiểu chưa, đưa dao đây!

 Nhà cháu hoảng quá, phải cứu cô ấy chứ, nhà cháu xô cửa lao vào trong. Lão hàng xóm đằng đằng sát khí đứng giữa phòng, bát chén, cốc ly vỡ tung tóe cứ như trung tâm thủ đô Kiev. Nhà cháu ôm ghì lấy lão:

-Ấy… Bình tĩnh đã… Ai lại đánh mắng vợ con như thế hả giời?…

-Nhưng em không thể chịu được, điên lắm rồi, phải dạy vợ cho ra dạy bác ạ.

-Thế cô ấy đâu, cô ấy đâu?

-Cô ấy về quê hôm qua rồi bác ạ.” (trích truyện kể của Nguyễn Quang Vinh)


Kể truyện tiếu-lâm chay như thế, chỉ để nói lên điều này, là: trong đời người, vấn-đề nào cũng có mặt phải/mặt trái của nó, hết. Việc gì đề ra, cũng có người thuận, có người chống lại ý-tưởng của người khác, có khi cả ý-tưởng của chính mình vừa nói xong cũng chống hết.

Để chuyện phiếm hôm nay thêm phần đa-dạng, xin bạn và tôi, ta nghe thêm đôi điều về một nhân-vật lỗi lạc ở trời Tây nuớc Nga, đó là nhà văn Leon Tolstoy cũng có ý-kiến rất “thực” về nền thần-học Hội-thánh rất chung, như sau:

“Cuối thời mình, đặc-biệt là vào lúc ông viết truyện giả-tưởng nổi tiếng hồi thập niên 1860 và 1870, lúc ấy ông cho xuất-bản cuốn “Chiến-tranh và Hoà-bình” cũng như cuốn “Anna Karina”, tác-giả Leon Tolstoy đã bị rung-động bởi cơn khủng-hoảng cá-thể và về tinh-thần, đến độ ông đã phải dừng lại không viết tiểu-thuyết nữa. Khi ấy, tưởng chừng như ông đang rơi vào nỗi rã-rờituyệt-vọng, đến khủng-hoảng, cứ bận-tâm nhiều với chuyện chết choc và tự vẫn. Và khi ấy, ông lại đã trải-nghiệm một hiện-hữu rất đơn-huầnvề một niềm tin vô-vọng, cứ nghĩ mình chỉ là mớ bòng bong, hỗn-tạp, sống không mục-đích. Và khi ấy, ông thấy cuộc đời con người đích-thị là ác-thần/sự dữ, rất không sai. Trong nỗi hốn-cùng sâu lắng về hiện-sinh, Leon Tolstoy đã nhớ về Đạo Chúa mà ông từng sống vào thời thơ-ấu. Và rồi, ông tìm lại được một vài hy-vọng nhỏ trong liên-tưởng đến tín-hữu chân-phương, giản-dị mà ông đã cùng sống cũng như lớn lên với họ, trong quá-khứ.

   Ông nhìn thấy nơi tín-hữu bình-dị ở quê nhà, một gương sáng sống đời người đích-thực, đầy đặn. Và, nỗi nhớ này đã khích-lệ ông khởi-đầu suy-tư/học-hỏi sâu-sắc về giáo-huấn trong Đạo mà ông gặp được ở Tin Mừng. Khủng-hoảng về linh-đạo và hệ-quả nó dẫn đến được ông ghi lại từng chi-tiết trong các tác-phẩm không giả-tưởng chút nào, được ông dùng để làm lực đẩy cho các bài viết cùng các sách về cuộc sống tâm-linh cụ-thể, như: Một lời xưng thú: Những gì tôi tin” và “Vương Quốc Nước Trời, ở bên trong con người quí vị.” (x. Leon Tolstoy, The Life of Jesus The Gospel in Brief, Harper Perennial 2011, Foreword, tr. Vii)

Sau đến, là ý-kiến của Gm Geoffrey Robinson khi ông nói đến khó-khăn trong giải-quyết vấn-nạn/đòi hỏi phải có thay-đổi trong chính-sách đối xử và suy-tư về người đồng tính luyến-ái, lý thừ như sau:

“Lý-do khác khiến ta cần đổi thay giáo-huấn Hội-thánh Công-giáo, là vì giáo-huấn ấy chỉ là những tuyên-ngôn mang tính khẳng-định từ trên hơn là chú-trọng vào bàn-luận, thương-thảo.

 Yếu-tố hiệp-thông và cộng-sinh, là khía-cạnh thiết-yếu làm nền cho hôn-nhân giữa hai người, miễn là họ theo-đuổi những điều sau đây:

– chúng phải là yếu-tố thiết-yếu cho từng cuộc hôn-nhân riêng-rẽ, không cần biết hoàn-cảnh của mỗi cặp có ra thế nào đi nữa, phải thế chứ?

– chúng phải là những yếu-tố thiết-yếu cho mỗi động-tác xác-thịt chứ? Động-tác thực-hiện dựa trên căn-bản nào?

 Như, trường-hợp cặp hôn-nhân đặc-biệt nọ được các chuyên-gia y-tế khuyên can đừng nên có con, nếu không trẻ bé sẽ phải bị bệnh nghiêm-trọng và tật nguyền bảm-sinh/di-truyền, nên họ đi đến quyết-định nuôi con nuôi hơn là có con do mình sinh. Làm thế, họ có chống lại ý Chúa không? Có cặp khác nghĩ rằng mình đã có khá nhiều con rồi, nên không có khả-năng tài-chánh và tâm-lý để có thêm con nữa sợ rằng sẽ nặng gánh gia-đình. Dựa trên căn-bản nào ta khẳng-định rằng họ làm thế là chống lại ý Chúa, đây?

 Rất nhiều trường-hợp khó-khăn khi nhiều người vẫn tuyên-bố là họ biết ý của Chúa, nữa. Vậy thì, nếu ta khẳng-định rằng đó là ý của Chúa và cũng là trật-tự thiên-nhiên, vậy thì cả hai khía-cạnh hiệp-thông và cộng-sinh đều nhất-thiết phải có mặt trong mỗi động-tác ăn-nằm xác thịt như một hành-xử được chứng-thực hoặc là khẳng-định chân-phương, giản-dị chứ? Nếu đó là hành-động được chứng-tực, thì đâu là chứng-cớ? Thế, tại sao tài-liệu của Giáo-hội lại không đưa chứng-cứ nào như thế? (*6) Phải chăng bất kỳ chứng-cứ nào cũng phải bao gồm kinh-nghiệm từng-trải của hàng triệu người trong cố-gắng phối-hợp dục-tình, thương-yêu và việc cộng-tác sản-sinh cuộc sống mới trong bầu khí hỗn-độn của dục-tính con nguời và tính phức-tạp nơi sự sống con người chứ? Phải chăng lý-tưởng bao giờ cũng lẫn lộn với thực-tại?

 Nếu giáo-huấn của Hội-thánh chỉ là khẳng-định từ trên ban xuống, thì có chăng lý-do hỏi rằng tại sao ta lại không được phép áp-dụng nguyên-tắc hợp lý cứ luôn bảo: những gì dễ khẳng-định cũng dễ dành bị bác-bỏ, không? Nếu chuyện ấy không hơn gì một khẳng-định, thì việc thực-sự quan-trọng là: ai là khẳng-định hoặc làm sao mà việc ấy lại được khẳng-định ras61t thường như thế? Đâu là lý-sự có lợi cho sự việc khẳng-định rằng việc ấy sẽ thuyết-phục được một lương-tâm cởi mở và lương-thiên, đây? (Xem thêm Gm Geoffrey Robinson, The 2015 Synod: The Crucial Questions: Divorce and Homosexuality, ARF 2015, tr.15-16)

Nói cho cùng, có bàn-thảo nhiều về vấn-đề sống cùng và sống với những người đồng-tính luyến-ái và/hoặc chuyệnvợ-chồng đã ly-dị rồi tái-giá, có được hiệp-thông rước lễ hay không vẫn là luật lệ có từ một khẳng-định từ trên phán xuống.

Nói cho cùng, thì có đụng chuyện trong chung sống hoặc phải giải-quyết những nố khó-khăn trong sống đời thực-tế hôn-nhân, luyến ái, mới thấy rằng: chuyện đời thật không dễ. Không dễ hiểu, cũng chẳng dễ cảm-thông nếu mình không ở cùng một hoàn-cảnh, với người trong cuộc hoặc bị-động.

Nói cho cùng kỳ lý, thì: tất cả chỉ để bạn và tôi, ta có cơ-hội đểm phiếm ba điều bốn chuyện, không phải của do mình hoặc thiết-thân với chính mình, gia-đình mình.

Nói cho cùng và chon gay, chi bằng ta cứ vào vườn hoa Lời Chúa có những Tin Mừng để đời như tác-giả người Nga ở trên từng trải-nghiệm.

Nói cho cùng, cũng nên nhìn về quá-khứ trong đó mình từng được nghe nhiều và học nhiều, những điều do bậc thánh-hiền vẫn từng bảo:

“Cùng các bậc kỳ mục trong anh em,

tôi xin có mấy lời khuyên nhủ,

vì tôi cũng thuộc hàng kỳ mục,

lại là chứng-nhân những đau khổ của Đức Kitô

và được dự phần vinh quang sắp tỏ hiện trong tương lai.

Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em:

lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng,

nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn,

không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn,

nhưng vì lòng nhiệt thành tận tuỵ.

Đừng lấy quyền mà thống-trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em,

nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên.

Như thế, khi Vị Mục Tử tối cao xuất hiện,

anh em sẽ được lãnh triều thiên vinh hiển không bao giờ hư nát.”

(1 Phêrô 5: 1-4)

 Nói theo nhà Đạo, thì như thế. Như thế, tức làm sao để các bậc kỳ-mục/thủ-lãnh cũng như dân-gian dưới trướng được sống đời thoải-mái trong yêu thương. Chứ không chỉ câu-nệ luật lệ, mà thôi. Dù luật ấy có là giáo-luật. Dù điều ấy có là giáo-huấn rất “khẳng-định” từ trên phán xuống.

         Nói theo kiểu người ngoài luồng, ngoài đời là nói bằng cung-giọng/điệu hát có lời ca rất âm-thầm, nhè nhẹ đầy chất thương yêu như người thường ở huyện, vẫn cứ hát những câu như:

“Trả lại anh câu thơ người em tóc thề

Trả lại anh khóc thương cho phận con gái

Trả lại anh tương tư mà anh đã trao

Bên nhau tình nhớ với thương

Xem như cơn mộng mà thôi

Coi nhau như bạn mà thôi.”

(Đức Quỳnh – bđd)

Hát thế rồi, ta lại tìm đến những truyện kể do bạn-bè/người thân những sưu-tầm để ta viết phiếm. Viết cho đời thêm phấn-chấn. Nghe kể, cho đời mình được nhiều tiếng cười vẫn quẩn quanh đâu đó, những muốn vui, như sau:

“Cô sinh viên nọ, bận tâm về chuyện bồ-bịch và gia-đình, nên đã biên thư hỏi ý mẹ như sau:

-Kính thưa mẹ, mọi việc đang diễn ra tốt đẹp ở trường. Con đã gặp một anh sinh-viên tuyệt-vời nhất từ trước tới nay. Anh ấy học năm thứ ba. Anh ấy chơi bong đá, đang học để chuẩn-bị ra trường làm bác-sĩ, đạt hạng xuất-sắc, dáng người cao ráo, đẹp trai. Con đã hẹn đi chơi với anh ấy 8 bận rồi và đã mặc 8 chiếc áo đầm mà con có. Giờ, thì con cần thêm một chiếc áo nữa, để cho buổi hẹn sắp tới, bởi vì anh ấy đã mời con đi xem hát với anh ấy. Mẹ có vui lòng gửi cho con 25 đôla, để con mua một chiếc áo mới được không, hả mẹ?

Bà mẹ trả lời:

-Đâu cần phải mua áo mới làm chi cho rắc rối thế con. Hãy tìm một bạn trai mới và làm lại từ đầu, thế thôi!” (truyện kể trên mạng, không ghi tên tác-giả)

Truyện kể ở trên mạng, có thể cũng là chuyện đời người rất kinh-nghiệm. Kinh-nghiệm của người mẹ ở trên chưa chắc đã là “giáo-huấn” ở đời, như một khẳng-định từ trên xuống. Cũng có thể, chỉ là chuyện thời xưa thích-hợp cho thế-hệ già nua, tuổi tác, rất khô-cứng. Chí ít, là chuyện luật và lệ ở nhà Đạo, dành cho người đi Đạo, sống đời thực-tế rất lâụt-lệ, mà thôi.

Nói thì nói thế, chứ cũng tùy bạn tùy tôi, ta đứng từ góc độ nào mà nhìn đời, rồi xử-thế.

Nói thì nói thế, nay xin bạn và tôi, ta cứ hiên-ngang bước vào giòng đời dù đổi-thay hay vẫn thế, cũng cứ mặc. Cứ hát lên, câu ca/điệu nhạc dù buồn phiền hay phấn khởi, vẫn cứ hát cho đời lên hương. Để rồi, ta sẽ cùng sống với mọi người, suốt những ngày còn lại trong cõi đời đầy đổi thay, như thế này:

“Trả lại anh câu yêu em, tình yêu bất diệt.

Trả lại anh với câu xây nhà bên suối.

Trả lại anh hoa khô cài bên bướm xanh.

Đây trang nhật ký đôi ta.

Đang ghi sao đành dở dang.

Khi em yêu anh còn cô gái thơ ngây.

Nay em xin anh trả em lúc ban đầu.

Yêu anh em đâu ngờ duyên kiếp ba sinh.

Van anh quên đi như khi ta chưa hề quen.”

(Đức Quỳnh – bđd)

 Trần Ngọc Mười Hai

Cũng đã trải-nghiệm những ngày buồn

Có câu ca, bài hát rất không vui

Như mọi ngày.

“Không-gian ngoảnh mặt làm ngơ,”

“Không-gian ngoảnh mặt làm ngơ,”

Mai Tá lược dịch

Tin Mừng (Mt 5: 1-12a)

Một hôm, thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên.

Người mở miệng dạy họ rằng:

“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.

Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.

Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao

+    +    +    +    +

“Không-gian ngoảnh mặt làm ngơ,”

           Giọt mưa xuân cũng vô tình trêu ai”.

(Dẫn từ thơ Vũ Hoàng Chương)

Ngoảnh mặt làm ngơ, và vô tình trêu ai, còn là tâm-trạng của người nghèo hèn ở trình-thuật.

Trình thuật hôm nay, kể về hai người đàn bà nghèo, góa bụa. Làm thân góa bụa hồi đầu thế kỷ, các bà vốn rất nghèo. Nghèo tiền nghèo của, nghè cả chức phận, lẫn công danh. Ở xã hội Do Thái thuở trước, mồ côi, góa bụa, nghèo nàn, cả ba đều bị liệt vào giai cấp cùng đinh, mạt rệp. Vị thế của họ vẫn cứ hèn và mạt đến độ không ngóc đầu thoát khỏi kiếp vong mạng, nơi bùn đen. Kiếp người của họ luôn trái ngang, gặp cảnh chê bai, miệt thị.

Lối hành xử đầy khinh chê mà các bà gặp phải, hiện diện cả trong giới linh thiêng nhà Đạo, nữa. Trình-thuật kể rằng: Đức Kitô xếp loại các thủ-lĩnh, kinh-sư thời Ngài vào cùng một hạng với những người, ta cần dè-chừng. Dè-chừng, không chỉ vì họ luôn tìm ra phương-cách khai-thác, bóc-lột giai-cấp cùng đinh mạt rệp, mà thôi. Dè-chừng, còn vì các thái-độ khinh-chê, miệt-thị và bóc-lột vẫn hủy-hoại tình người. Thứ tình cần đến cơn mưa yêu thương, lắng đọng.

Với Đức Kitô, thái độ “xúng xính”, “bóc lột” là lối hành-xử giả-hình, không chấp-nhận được và cần đổi-thay. Với Tin Mừng Nhất Lãm, cả ba thánh-sử thỉnh thỏang vẫn kể lại hành-vi kiêu-căng, ngạo mạn của các đấng kinh sư nhà Đạo, lúc bấy giờ. Nghĩa là, hành vi của những người này trái ngược hẳn lối xử-sự của đám nghèo hèn/cùng đinh, như các bà góa. Hành-vi yêu-thương luôn giùm giúp những ai đang cần. Kinh nghiệm chính bản thân mình, Đức Giêsu đã triền-miên chịu-đựng mọi khổ-đau vì người đời. Ngài vẫn không thể chấp-nhận nổi phong-cách “làm bộ đọc kinh nhiều giờ” của đám Kinh sư, Biệt phái.

Là môn-đồ Đức Chúa, dù ở cương-vị nào, chắc hẳn ta cũng không chấp-nhận nổi thái-độ trịch-thượng, dễ gây xa cách ấy. Thật ra, tạo cho mình có được của cải, quyền-bính này khác, tự nó không có gì xấu xa.

Vấn-đề đặt ra, là: khi tiếp-nhận quà tặng từ Trên, dù quà đó có là quyền-thế hay của cải/tiền bạc, ta vẫn có thể sống đúng tư-cách của người công-chính, được như thường. Hệt như phương-châm: hãy nói tôi nghe bạn sử-dụng quà tặng như thế nào, tôi sẽ cho biết bạn là ai. Ở đây nữa, quyền-bính và của cải/tiền bạc vẫn là “bát cơm đong dầy”, ta phải luôn cầu Trời mới mong có.

Trớ trêu thay, mọi quyền-uy con người tạo được, dù ở chính-trường, nơi nhà Đạo hoặc trong gia-đình, ngoài xã-hội, cộng thêm sự giàu sang từ đó có được, vẫn là những thứ hấp-dẫn, khó chối-từ. Càng có nhiều uy-quyền, người người càng tạo nhiều của cải. Càng có nhiều của cải, người người những tưởng: mọi sự đều thuộc về mình.

Không ai có quyền gỡ bỏ hoặc rút đi. Và, một khi có nhiều quyền-hành và tiền của, người ta sẽ dễ trở nên kiêu-căng, thích bóc-lột người khác, những nghèo và hèn hơn mình. Lúc ấy, họ sẽ quên đi lời nhắc nhở dặn dò, rằng: tất cả đều là quà tặng, từ Trên. Và, khi đã quên lời nhắc-nhở từ Trên, người ta có khuynh-hướng quên luôn cả Đấng đã nhắc nhở mình. Để cho mình mọi uy quyền và của cải ấy.

Trình thuật hôm nay, thánh Mác-cô ghi lại lời nhắc nhở ngợi khen phong-thái của người cùng đinh/nghèo hèn, như bà góa. Đức Chúa khen ngợi các bà thuộc giai cấp thấp hèn không phải vì các bà vốn người đốn mạt, nghèo hèn.

Điều mà Đức Kitô ngợi khen, chính là phong-cách độ-lượng, thương-yêu giùm-giúp của các bà, những người chị, người em đang sống cuộc đời nghèo/hèn, tận-tuyệt. Nghèo hèn tận tuyệt, là: biết mình cũng chẳng là gì, chẳng hơn ai. Nhưng, vẫn biết người, biết mình. Luôn khiêm tốn. Vẫn thân thương. Thân-thương trong thái-độ nhớ đến người khác. Nhớ đến những người còn nghèo/hèn tận-tuyệt, hơn mình.

Biết người biết mình, là: lâu nay tuy bị bóc-lột đến cùng cực, rất túng thiếu, nhưng vẫn lẳng-lặng yêu-thương, đùm bọc. Không hợm hĩnh, khoe khoang. Có biết mình và biết người như thế, mới nói được rằng: kẻ cao sang, quyền quý dù biết nhiều học rộng, vẫn cần học và hỏi nhiều nơi người nghèo hèn. Học và hỏi, không phải kiến thức khoa bảng, nở rộ. Học và hỏi về phong cách nhẹ khi thương yêu đùm bọc, cả vào lúc quyên góp.

Nơi cuộc sống Đạo-đời, vẫn là chuyện thường nếu lâu nay các đấng bậc cao-sang quyền-quý vẫn cứ dạy và dỗ đám dân nghèo, thấp hèn. Điều khác lạ nơi Tìn Mừng hôm nay, chính là bài học này: hãy để cho lớp người cùng đinh/thấp hèn có cơ-hội minh-chứng dỗ-dạy các đấng bậc quyền-quý, rất cao sang. Các đấng đang ngự-trị nơi: chính trường, nhà Đạo. Hoặc, tại khắp chốn như: xã hội, gia đình.

Và, đó là điểm sáng Tin Vui rất an bình mà trình thuật thánh Mác-cô muốn gửi đến người đọc. Nơi dân-gian trần-thế, có vài truyện kể cũng mang dáng dấp an vui Tin Mừng, ta vẫn nghe. Như truyện kể hôm nào, về đối chất thần-học giữa vị Hồng y nhà Đạo và tín đồ nghèo Do Thái giáo.

Nhiều năm về trước, giới nhà Đạo ở La Mã có quyết-định: người Do thái phải rời bỏ thủ-đô này, không được sống gần người nhà Đạo. Cộng đồng bạn tỏ ra bất-bình trước quyết-định gay-gắt ấy. Thấy thế, Đấng bậc nhà Đạo bèn giải hoà, bằng đề-nghị: nếu cộng-đồng bạn toàn-thắng cuộc thi-đấu kiến-thức thần-học, họ được ở lại.

Phía nhà Đạo, vị được cử lên thi đấu lại là Hồng y chủ quản; giáo hội bạn, chỉ đề cử tín-đồ nghèo hèn, tên Môsê. Sợ mình không thể đối nhanh đáp lẹ, kẻ hèn Môsê đề-nghị cuộc thi diễn ra trong im lặng. Chỉ giơ tay, ra dấu. Hai bên đồng ý, nhập cuộc.

Bắt đầu, Vị Hồng y đưa tay lên cao, giơ 3 ngón. Tín đồ Môsê chỉ giơ một ngón, rất gọn. Hồng y nhà ta dùng tay vẽ vòng cầu, trên đỉnh đầu. Còn, Môsê lấy tay chỉ xuống đất chỗ mình ngồi, không chậm trễ. Hồng y bèn đem bánh miến rượu nho, một lượng nhỏ, cung-kính lĩnh nhận. Trong khi đó, tín đồ Môsê lại mang trái táo xanh, dự tính ăn. Cuối cùng, vị Hồng y đứng dậy, vội nói: “Tôi xin thua. Người này quá tốt lành, anh ta thắng”.

Thế là, cộng đồng người Do thái được quyền ở lại. Vài giờ sau, các đồng-nhiệm đến hỏi vị Hồng y: sao, lại như thế? Vị Hồng y đáp: trước hết, tôi giơ tay 3 ngón ý nói Đức Chúa Trời có Ba ngôi, thì anh ta chỉ giơ ra có một, ý muốn nhắc nhở tôi: Đạo của chúng ta đều chỉ tin một Chúa. Thế rồi, tôi ra dấu đánh vòng trên đỉnh đầu, ý muốn bảo: Đức Chúa đang hiện-diện quanh ta, thì anh chàng lại chỉ tay xuống đất, ý rằng: đúng đấy thưa ngài, Đức Chúa đang có mặt ở đây, ngay lúc này.

Cuối cùng, tôi đem rượu cùng bánh có ý nhắc: sùng kính Thánh Thể Cha, là việc rất phải. Phần anh, anh lại lấy táo xanh đem ra nhắc tôi: về tội nguyên tổ, ta cần đề cao. Tóm lại, anh ấy có giải-đáp rất nhanh về mọi vấn-đề.

Cùng lúc, bạn bè trong cộng-đồng Do thái rất thân, bèn quây quần bên người thấp-hèn Môsê, mà hỏi: này anh bạn già thấp kém như thế mà sao anh thắng được đấng bậc đạo-mạo bên ấy. Anh thưa: có gì đâu. Lúc đầu, ỗng bảo tôi: cộng đồng mình có 3 ngày để dời đi nơi khác. Tôi thưa ngay: không một người nào trong bọn tôi, sẽ ra đi. Rồi ông thêm: trọn thành này sẽ sạch bóng người Do thái, là các anh đấy. Tôi bèn cho biết: không đâu, bọn tôi đóng trụ trên đất này, chẳng đi đâu cả. Cuối cùng, có người hỏi: Môsê, thế rồi sao? Môsê nói: tôi cũng chẳng biết nữa. Tự nhiên thấy ỗng lấy đồ trưa ra ăn, tôi cũng lấy táo xanh của mình ra, đánh chén thế thôi.

Qua truyện kể, phong-cách hành-xử giải-quyết vấn-đề giữa vị chóp bu nhà Đạo và đạo-hữu thấp hèn Môsê, rất khác-biệt. Khác-biệt, không có nghĩa lọai bỏ, tru diệt lẫn nhau. Khác biệt, là cần thắc-mắc, cần học-hỏi do đâu. Khác-biệt, không phải để so-sánh, phân-tranh ngôi vị. Vì, so sánh phân tranh không là giải đáp tốt, ở nhiều trường-hợp.

Thông thường và thích đáng hơn, vẫn là thái-độ biết học và hỏi. Biết áp-dụng lối xử-sự, phương-cách sống của người khác. Chí ít, của người nghèo hèn, tận tuyệt. Phương cách sống và lối xử sự ấy, không nhất thiết phải như đấng bậc phú quý, ở trn cao. Cách hành động và đối xử thích hợp, vẫn có thể và vẫn nên như cách thế của kẻ nghèo hèn, tận tuyệt.

Tham dự tiệc thánh hôm nay, ta cầu mong cho cộng-đoàn thân thương của ta có được phong-cách hành-xử, rất thư-thái xứng-hợp. Thư-thái, như dân thường ở huyện, chốn dân-gian. Những kẻ thấp hèn luôn mong chờ mưa xuống. Mưa hồng-ân. Mưa cứu-độ vẫn đi kèm theo mỗi quà tặng thông-thường, ta nhận-lĩnh. Một khi có được phong-cách nhẹ-nhàng thoải-mái như kẻ nghèo hèn, cùng đinh, ta sẽ thư-thái ngâm lại lời thơ trên, mà rằng:

“Không-gian ngoảnh mặt làm ngơ,

Giọt mưa xuân cũng vô tình trêu ai.

Mưa đầy tóc gió đầy vai,

Sầu treo bốn hướng trôi dài tâm-tư.” (Vũ Hoàng Chương – Bơ Vơ)

Sầu treo bốn hướng/bơ vơ, là tình-trạng người nghèo-khó ở mọi thời vẫn cần mọi người giùm giúp đỡ đần. Và, đỡ đần/giùm giúp, lại là thực-chất lòng đạo không chỉ người Công giáo, hoặc Do thái mới có. Mà là, lòng mọi người ở đời vẫn luôn đùm bọc giùm giúp, hết mọi người.

Lm Richard Leonard sj biên soạn

Mai Tá lược dịch

Hiểm họa ở đồng bằng sông Cửu Long

Hiểm họa ở đồng bằng sông Cửu Long

Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Trong cuốn sách Cửu Long Cạn Dòng, Biển Ðông Dậy Sóng (nhà xuất bản Giấy Vụn, 2014), nhà nghiên cứu Ngô Thế Vinh đã báo động hai mối họa nước Việt Nam phải đối đầu. Chuyện Biển Ðông dậy sóng ai cũng biết nhờ tin tức thời sự mỗi ngày. Ít người Việt theo dõi mối họa thứ hai là “Cửu Long Cạn Dòng.”

Ký giả Navin Singh Khadka, chuyên trách các vấn đề môi trường sống của BBC mới viết một bài mới, báo động tình trạng đồng bằng sông Cửu Long nước ta đang gặp nạn; tai họa không những gây ra do các đập nước của Trung Quốc ở đầu nguồn sông Mekong mà còn vì hành động của chính người Việt Nam, trong lúc chính quyền hoặc làm ngơ không chú ý, hoặc bất lực không làm gì được.

Khi Cộng Sản Trung Quốc cho xây các đập thủy điện ngăn nước từ đầu nguồn sông Mekong, rồi các nước Lào, Thái Lan, Campuchia cũng đua theo, số lượng nước chảy xuống sông Cửu Long ở nước ta đã giảm bớt. Vì sức nước sông chảy yếu đi, nước biển đã dâng lên, tràn vào trong đất liền.

Hiện nay mỗi năm đồng bằng sông Cửu Long đã bị nước biển liếm mất 500 mẫu tây (năm cây số vuông). Theo Viện Khoa Học Thủy Lợi Miền Nam thì trong năm ngoái số ruộng lúa bị nước biển tràn và thấm vào còn rộng hơn nữa, mất 60 cây số vuông không thể trồng trọt. Theo các nghiên cứu khoa học của Ủy Ban Sông Cửu Long, một tổ chức của bốn nước Việt Nam, Thái Lan, Lào và Campuchia, với tốc độ nước biển xâm nhập hiện nay, tới cuối thế kỷ này vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ mất gần một nửa (40%) đất có thể trồng trọt, vì mực nước biển sẽ lên cao thêm cả thước.

Nhưng không cần phải đợi tới cuối thế kỷ đồng bào ta mới phải chịu tai họa. Ông Lê Anh Tuấn, thuộc Viện Nghiên Cứu Biến Ðổi Khí Hậu tại Ðại Học Cần Thơ, vì nước biển dâng lên, gần một nửa số dân sống trong vùng sông Cửu Long đang thiếu nước ngọt để sử dụng. Nước biển xâm lấn khiến những con đê ngăn nước mặn cũng hư không còn hiệu lực nữa. Tại vùng ven biển, nước mặn đã vào sâu thêm 60 cây số trong đất liền. Một số nhà vườn trồng xoài đã ngưng hoạt động, vì cây xoài chỉ sống được nếu nước mặn mỗi năm lên cao dưới 1.6 mili mét; mà hiện nay mức dâng cao đã gấp ba lần (5 mili mét). Nhiều nhà nông trồng lúa đã phải bỏ, quay sang nghề nuôi tôm. Theo nghiên cứu của Ủy Ban Sông Mekong, hiện nay số đất phù sa bồi đắp lên vùng châu thổ sông Mekong đã giảm bớt 85 triệu tấn so với năm 1992.

Ðầu mối tai họa này là chính sách khai thác điện lực và dẫn thủy nhập điền của chính quyền Cộng Sản Trung Quốc. Sông Mekong, tại Trung Quốc mang tên là Lan Thương (Lancang, 澜沧) chảy qua Tây Tạng và các tỉnh Thanh Hải, Vân Nam, trước khi đổ xuống phía Nam. Theo tạp chí World Rivers Review của cơ quan Sông Quốc Tế (International Rivers, IR), thì vào năm 2014, Trung Cộng đã xây dựng bảy đập thủy điện lớn ở đầu nguồn sông Mekong thuộc nước Tàu, con sông phát nguyên từ Tây Tạng chảy xuống Biển Ðông nước ta. Họ sẽ xây thêm 21 đập ngăn nước lớn khác trong 10 năm tới. Các nước hạ nguồn cũng bắt chước xây các đập nước khác; với dự án xây 11 con đập nữa.

Việc xây đập ảnh hưởng trên đời sống của các dân tộc phía dưới nguồn sông. Vào mùa không mưa, dân chúng hai bên bờ sông ở Lào, Thái Lan, phải dùng nước sông để tưới ruộng vườn, nay số lượng nước bị giảm. Khí hậu hai bên bờ sông cũng thay đổi vì khối lượng nước trong con sông có tác dụng giúp nhiệt độ ôn hòa, ít lên xuống hơn. Vì nhiệt độ thay đổi, đời sống các giống cá trong lòng sông cũng bị ảnh hưởng. Nhưng tai họa lớn nhất là nước biển lấn dần vào đất liền thì chỉ dân Việt ở đồng bằng sông Cửu Long gánh chịu. Ðập Don Sahong đang xây ở Hạ Lào, nhằm cung cấp điện cho Lào và Thái Lan sẽ ảnh hưởng lớn trên đời sống dân Campuchia và miền Nam Việt Nam.

Trong cuốn sách biên khảo viết dưới hình thức vừa tiểu thuyết vừa ký sự, Cửu Long Cạn Dòng, Biển Ðông Dậy Sóng, Bác Sĩ Ngô Thế Vinh đã mô tả hành động của chính quyền Trung Quốc: “Vào Tháng Tư năm 2001, Trung Quốc đã ký một thỏa hiệp về thủy vận trên sông Cửu Long nhưng chỉ với 3 quốc gia Miến Ðiện, Thái và Lào với kế hoạch vét lòng sông, cả dùng cốt mìn chất nổ phá tung những khối đá trên các đoạn ghềnh thác, các đảo nhỏ trên sông để khai thông mở rộng đường sông cho tàu lớn trọng tải từ 500-700 tấn có thể di chuyển từ cảng Tư Mao xuống Chiang Khong Chiang Sean Bắc Thái xuống thẳng tới Vạn Tượng. Trong khi Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia cuối nguồn, trực tiếp chịu ảnh hưởng của kế hoạch ấy thì bị gạt ra ngoài.”

Sau các tai nạn do các đập nước gây ra, mối họa thứ hai là các công trường khai thác cát. Mỗi năm hàng triệu mét khối cát được đào đem đi trong vùng hạ nguyên sông Cửu Long; nhiều nhất là ở Campuchia và Việt Nam. Quỹ Thế Giới Bảo Vệ Thiên Nhiên (World Wide Fund for Nature, WWF) cho biết riêng tại đồng bằng sông Cửu Long nước ta có 150 công trường đào lấy cát, trải ra trong 13 tỉnh, tổng cộng rộng 80 cây số vuông. Các công trường cát này đã được nhà nước cấp giấy phép. Trong năm năm nữa, các công trình xây cất sẽ cần đến một tỷ mét khối cát; làm giảm bớt số ruộng đất trồng trọt.

Các tổ chức bảo vệ môi trường đã báo động và cảnh cáo chính quyền Việt Nam về tai hại của việc cho phép các công trường đào cát hoạt động mà không nghiên cứu các ảnh hưởng sâu xa. Chính quyền biết các mối tai hại đó những không làm gì cả. Khi được lệnh từ cấp trên, các địa phương từ chối thi hành vì lý do không thể bồi thường thiệt hại cho các công ty đã cấp giấy phép. Trong vấn đề này chưa có luật lệ nào bảo vệ môi trường sống của mấy chục triệu người dân. Mà khi luật lệ không đầy đủ, không rõ ràng thì người ta càng có thêm cơ hội tham nhũng!

Ngoài nạn lấy cát không có kế hoạch toàn bộ, chính quyền còn đang thực hiện những công trình “vét bùn” nới rộng lòng sông ở các khúc chi lưu nhỏ, thay đổi đời sống dân hai bên bờ. Nhiều con sông phụ sâu dưới 5 mét không cho phép các tàu thủy lớn qua lại. Việc vét bùn sẽ mở rộng đường giao thông nhưng không có kế hoạch củng cố bờ sông cho vững chắc hơn; một hậu quả là sóng lớn xô vào làm bờ sông bị lở và đất ruộng bị thu hẹp.

Hiểm họa của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long còn tiếp diễn, vì một mặt, chính quyền Việt Nam không dám phản đối Trung Cộng trong việc xây dựng các đập thủy điện bất chấp ảnh hưởng tới các nước phía dưới, mặt khác vì chính quyền tham lam ăn hối lộ không quan tâm nghiên cứu và kiểm soát việc khai thác cát trong vùng sông chảy qua.

Chỉ khi nào Việt Nam có một chính quyền không lệ thuộc Cộng Sản Trung Quốc, nước ta mới có tiếng nói mạnh mẽ để cùng các nước trong vùng sông Mekong ngăn chặn việc Trung Cộng xây đập nước mà không tham khảo ý kiến các nước lân cận.

Chỉ khi nào Việt Nam có một guồng máy nhà nước do người dân bỏ phiếu bầu, biết lo cho dân thay vì chỉ lo tranh giành chức vụ để mưu lợi cho bản thân và gia đình thì đồng bào sống trong vùng đồng bằng sông Cửu Long mới thoát khỏi mối hiểm họa đang đe dọa.