Báo tiếng Việt ở Mỹ xin phá sản sau phán quyết 4,5 triệu đôla

Báo tiếng Việt ở Mỹ xin phá sản sau phán quyết 4,5 triệu đôla

Trong bản tin video trên mạng, tờ Người Việt cho biết họ đã thắng kiện tuần báo Sài Gòn Nhỏ 4,5 triệu đôla.

Trong bản tin video trên mạng, tờ Người Việt cho biết họ đã thắng kiện tuần báo Sài Gòn Nhỏ 4,5 triệu đôla.

19.04.2015

Tuần báo Sài Gòn Nhỏ (Little Saigon News) có trụ sở ở thành phố Garden Grove ở tiểu bang California đầu tuần này đã nộp đơn xin phá sản tại Tòa Phá sản Mỹ ở Santa Ana.

Tờ báo được thành lập những năm 80 nộp đơn hôm 13/4, vài tháng sau khi một bồi thẩm đoàn ở quận Cam yêu cầu tuần báo này phải trả 4,5 triệu đôla cho một tờ báo tiếng Việt khác trong vụ kiện về tội vu khống và phỉ báng.

Trong đơn, Sài Gòn Nhỏ cho biết họ có chưa đầy 50 nghìn đôla trị giá tài sản, và nợ khoảng 4,7 triệu đôla mà trong số đó có khoản mà Tòa yêu cầu tờ tuần báo này phải trả cho tờ Người Việt.

Ngoài ra, Sài Gòn Nhỏ nói rằng 4.5 triệu đôla là khoản “tranh cãi”, và đang kháng cáo phán quyết của tòa.

Trong một bài bình luận đăng tải năm 2012, tuần báo Sài Gòn nhỏ cho rằng giám đốc điều hành của tờ Người Việt là một điệp viên cộng sản và làm việc cho Việt Nam.

Tờ Người Việt cho rằng những lời tố cáo sai trái này đã ảnh hưởng tới việc kinh doanh của báo vì cộng đồng người Mỹ gốc Việt vẫn còn bị ám ảnh bởi Chiến tranh Việt Nam.

Theo thông cáo của Nhật Báo Người Việt, ngoài bồi thường thiệt hại, bồi thẩm đoàn cũng yêu cầu Báo Sài Gòn Nhỏ đính chính về những câu viết có tính phỉ báng và vu khống được đăng trên tờ này, đồng thời xin lỗi ba nguyên đơn của báo Người Việt.

Sau phiên tòa, bà Hoàng Dược Thảo, chủ báo Sài Gòn Nhỏ, nói rằng “cuộc chiến vẫn chưa kết thúc”.

Bà được trích lời nói rằng bài báo của bà “không có ý phỉ báng, mà chỉ đặt những câu hỏi chính đáng về báo Người Việt”.

Liên quan tới vụ xin phá sản trên, luật sư đại diện cho nhật báo Người Việt, phát biểu rằng “bà Hoàng Dược Thảo khai phá sản vì muốn trì hoãn việc bồi thường”.

“Qua việc Sài Gòn Nhỏ khai phá sản, nhật báo Người Việt giờ đây được bảo vệ chặt chẽ hơn về mặt tài chính,” vị luật sư nói tiếp.

Tờ Người Việt được thành lập năm 1978, và có lượng phát hành hàng ngày là khoảng 14 nghìn tờ.

Trong khi đó, tuần báo Sài Gòn Nhỏ được thành lập tại thành phố Westminster năm 1985 và phát hành trên toàn nước Mỹ.

Theo The Orange County Register, The Wall Street Journal, Người Việt

Harvard, Yale, và sự lựa chọn của Thắng Diệp

Harvard, Yale, và sự lựa chọn của Thắng Diệp

Nguoi-viet.com

Thiên An/Người Việt

RESEDA, California (NV)Harvard hay Yale? Đó là câu hỏi “đau đầu” mà Thắng Diệp, một học sinh lớp 12 sang Mỹ cùng gia đình chưa đến mười năm trước, đang đắn đo suy nghĩ. Trong số các trường đại học đã mời nhập học, Thắng vẫn chưa quyết định được mình sẽ chọn Harvard hay Yale cho những năm sắp tới.

Thắng Diệp và chị gái Châu Diệp. (Hình: gia đình cung cấp)

“Harvard đã cho biết sẽ tặng học bổng toàn phần. Trong khi mình thích Yale hơn vì tính xã hội và cộng đồng của trường, thì trường lại chưa có thông báo về danh sách học bổng…” Giọng nói của anh chàng hay cười này trầm lại phần nào khi được yêu cầu so sánh hai trường đại học hàng đầu Hoa Kỳ mà mình sẽ phải chọn một.

Ngoài Harvard và Yale, Thắng cũng được thư mời học từ tất cả các trường khác mà anh nộp đơn: UC Berkeley, UC Los Angeles, UC Irvine, và UC San Diego.

Gương mặt sáng đằng sau lớp kính cận, giọng nói vui tươi, đặc biệt là sự hồn nhiên lẫn hóm hỉnh liên tục đem lại tiếng cười cho người đối diện, Thắng thuộc loại người dễ dàng được mọi người yêu mến.

Khi gia đình sang Mỹ năm 2006, Thắng bắt đầu học lớp 4. Như nhiều học sinh đến từ ngoại quốc, Thắng phải theo học các lớp đặc biệt cho các em chưa rành Anh ngữ. Nhớ lại, Thắng có thể kể cho bạn nghe những đêm đọc vang giữa nhà hết cuốn sách này đến cuốn sách khác – răng kẹp ngang cây bút chì – để tập phát âm sao cho đủ to để nghe được, và đủ chuẩn để hiểu được.

Chỉ một năm sau đó, được chuyển sang chương trình học bình thường, không những Thắng đạt điểm xuất sắc, mà còn được thầy cho đại diện trường tham gia cuộc thi speeling bee – thi đánh vần từ vựng Anh ngữ.

Harvard…(Hình: gia đình cung cấp)

Thắng nhanh chóng hòa nhập tại trường học. Bằng chứng là những thành tích đáng nể như bằng khen của tổng thống hay các vị trí dẫn đầu lớp.

Tuy vậy, theo lời Thắng, đằng sau những bằng khen là sự cố gắng không ngưng nghỉ. Để có được điểm học 4.7/4.0, mỗi mùa Thắng lấy từ bốn đến sáu lớp AP nâng cao.

“Hồi đó chưa biết tiếng Anh, mình phải bỏ nhiều giờ hơn các bạn rất nhiều để đọc và viết. Giờ tiếng Anh đã giỏi hơn rồi, nhưng vẫn phải cố gắng rất nhiều. Cái gì mình dở thì mình càng phải học. Với mình, các môn toán và khoa học thì dễ hơn là môn văn. Vì vậy mình cố lấy thật nhiều các lớp về luận văn, về triết học, để buộc mình phải đọc, phải viết, phải rèn bản thân,” Thắng chia sẻ.

Một ngày của Thắng bắt đầu từ 6, 7 giờ sáng, đi học đến 5 giờ chiều, về đến nhà là tranh thủ ngủ vài phút và ăn tối, trước khi ngồi vào bàn học đến 2 giờ sáng.

Cuối tuần, ngoài việc tự học, Thắng tìm đến những nơi mình và bạn bè có thể làm việc thiện nguyện: từ dọn dẹp công viên, đến thăm người vô gia cư hay người già tại các viện dưỡng lão.. Thắng cũng chính là người đang giữ chức vụ chủ tịch của câu lạc bộ tình nguyện viên của trường.

….hay Yale? (Hình: gia đình cung cấp)

“Quan trọng nhất có lẽ là phải biết cách sắp xếp thời gian. Mình muốn điểm cao, mình muốn sinh hoạt, làm từ thiện, muốn đi chơi với gia đình, với bạn bè… nhưng thời gian ít khi cho phép mình thực hiện được tất cả. Phải làm những việc quan trọng trước, và hy sinh những điều khác…” Thắng nói.

Với Thắng, lấy nhiều lớp khó và chỉ huy nhóm tình nguyện viên là đồng nghĩa chấp nhận việc ngủ ít đi và không có giờ cho các sở thích khác như xem phim bộ hay học thể thao.

Nhưng với Thắng, sự hy sinh lớn nhất về thời gian vẫn là những lần không thể cùng ba mẹ đi ăn, đi chợ, hay phải bỏ lỡ một buổi gặp mặt của người thân.

“Hồi đó lúc mới qua thì tôi cũng lo không biết tụi nó có tiếp cận được văn hóa và lối sống ở Mỹ không. Nhưng chắc nhờ tụi nó biết ba mẹ đi làm cực, nên đứa nào cũng lo học. Thắng học giỏi cũng có công của chị nó làm gương,” ông Kế Diệp nói về con gái lớn Châu Diệp và con trai Thắng Diệp. “Trong sáu trường cháu xin học, thì hai trường giỏi nhất mà cháu đang băn khoăn chọn lựa lại là hai trường xa nhà nhất. Dù thế, và dù cháu chọn Harvard hay Yale, thì ba mẹ cũng tin tưởng và ủng hộ.”

Vậy thì, Harvard hay Yale?

Dù Thắng Diệp chọn đại học nào đi nữa, Harvard, hay Yale, hay bất kỳ trường nào khác, ý chí mạnh mẽ đằng sau tiếng cười luôn giòn tan của Thắng sẽ là chìa khóa mở ra mọi cánh cửa dẫn đến thành công.

Để có một đời sống vui tươi, hạnh phúc.

Để có một đời sống vui tươi, hạnh phúc.

Tác giả: Phùng văn Phụng

Một người bạn gởi cho tôi: 7 bước đến hạnh phúc, đọc đi đọc lại nhiều lần thấy rất là thắm thía, rất là chí lý, chỉ cần cảm thông nhiều hơn, yêu thương nhiều hơn, thương xót nhiều hơn. Hiểu biết là một chuyện. Thực hành mới là khó. Ai thực hành được thì người đó có hạnh phúc.

7 bước đến hạnh phúc là:

1) Suy nghĩ ít lại, Cảm nhận nhiều hơn!

2) Bớt đi khó chịu, Mỉm cười nhiều hơn!

3) Nói ít lại, Lắng nghe nhiều hơn!

4) Xem ít lại, Hành động nhiều hơn!

5) Phán xét ít lại, Chấp nhận nhiều hơn!

6) Phàn nàn ít lại,Trân trọng nhiều hơn!

7) Sợ hãi ít lại, Yêu thương nhiều hơn!

Ba mươi ba lúc vui của Kim Thánh Thán

Nhà phê bình Trung Hoa ở phái ấn tượng, ở thế kỷ 17,nhân một lúc ngồi buồn trong một ngôi miếu, nhìn mưa rơi liên miên mà nhớ  lại những phút vui trong đời mình .

1) Mùa hè, tháng bảy, mặt trời ngừng ở giữa trời, không có gió mà cũng không có mây, sân trước sân sau hực lên như lửa, không một con chim nào dám bay lại. Mồ hôi đổ khắp mình, chảy như suối. Cơm dọn trước mặt mà ăn không được. Bảo trải chiếu nằm trên đất, nhưng chiếu ướt nhẹp,

ruồi bay lại đậu ở cổ, ở mũi đuổi không đi. Đương lúc không biết làmsao, bỗng mây đen kéo tới, sấm nổ vang như trăm vạn tiếng trống, tiếng kèn của đạo quân. Mái nhà nước xối như thác. Mồ hôi ngưng chảy, đất khô như quét, ruồi bay đi hết, ăn cơm đuợc. Cũng chẳng khoái ư.?

2) Vợ vui vẻ lấy cây trâm vàng để cho chồng đổi rượu đã bạn được ba ngày. Chẳng cũng khoái ư?

3) Đêm ngồi một mình trong thư phòng đương bực mình vì nghe tiếng con chuột sột soạt không biết gậm đồ vật nào hay nhấm cuốn sách nào. Bổng thấy chú mèo dữ, đuôi ngoe nguẩy. Nghe tiếng kêu chít một tiếng, con chuột bỏ đi. Chẳng cũng koái ư?

28) Mở cử sổ cho ong bay ra cũng chẳng khoái ư?

30) Thấy chiếc diều đứt dây cũng chẳng khoái ư?

31) Nhìn cảng đốt đồng, chẳng cũng khoái ư?

32)  Trả hết nợ cũng chẳng khoái ư?

Trích Sách ” Sống Đẹp”  của Lâm Ngữ Đường

Cảm giác hạnh phúc nhiều khi rất đơn giản mà con người của mình làm thành phức tạp, phải không?

Nếu không bị đi “cải tạo” đi tù trong các trại “học tập” của cộng sản, không bị bỏ đói triền miên, không có miếng cơm nào trong bụng lâu dài 9, 10 tháng, 5, 10 năm thì  đâu có cảm giác hạnh phúc, vui tươi khi được ăn cơm với muối rang mà tưởng chừng ăn cơm với đường cát.

Quên:

Quên không phải là việc làm đơn giản. Muốn quên đi cần phải tập luyện. Suy cho cùng nếu ta không quên các lỗi lầm của người khác, tức giận là lấy sai lầm của người khác để trừng phạt chính mình, cứ mãi nhớ và không quên khuyết điểm của người khác thì người bị tổn thương nhiều nhất chính là bản thân mình, bởi lẽ đó để có được niềm vui và cuộc sống thanh thản ta không nên truy cứu lỗi lầm cũ của người khác vì nhớ lỗi lầm của người khác thì thiệt hại nhiều nhất chính là bản thân mình.

Tha thứ:

Thầy giáo yêu cầu mỗi chúng tôi mang một túi nylon sạch và một bao tải khoai lang đến lớp. Sau đó thầy bảo chúng tôi không tha thứ lỗi lầm cho người nào đó thì hãy chọn ra một củ khoai lang viết tên người đó và ngày tháng năm rồi bỏ nó vào túi nylon.

Sau vài ngày có nhiều khoai lang, túi trở nên vô cùng nặng.

Sau đó thầy lại yêu cầu chúng tôi phải luôn mang cái túi theo bên mình, tối ngủ cũng phải để túi bên cạnh. Sự phiền phức phải mang vác cái túi, nhất là về tinh thần lúc nào cũng phải nhớ đến nó.

Qua thời gian, khoai tây bị phân hủy thành một chất lỏng nhầy nhụa. Đây là cái giá mà chúng ta phải trả cho việc khư khư ôm lấy giận hờn trong lòng.

Trong thâm tâm chúng ta thường cho rằng tha thứ là món quà đối với người được tha thứ, như bạn thấy đấy, đây rõ ràng là món quà cho chính chúng ta.

Tin mừng theo thánh Mat-thêu: ” Bấy giờ ông Phê-rô đến gần đức Giê-su mà hỏi rằng: ” Thưa Thầy  nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” Đức Giê-su đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy. (Mt 18 câu 21,22)

Nghĩa là tha thứ mãi mãi.

Khi Chúa Giê su bị đóng đinh, bấy giờ Chúa nói: ” Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc.23: 34)

Yêu kẻ thù:

Chúa Giê-su dạy rằng :” Ngươi phải yêu mếm Đức Chúa , Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn điều răn đó. (Mc 12 câu 30-31)

Khi anh em đứng cầu nguyện, nếu anh em có chuyện bất bình với ai, thì hãy tha thứ cho họ, để Cha của anh em là Đấng ngự trên Trời cũng tha lỗi cho anh em,. (Mc 11, câu 25)

Ngài cũng dạy rằng: ” Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” ( 1 Ga 4, câu 8)

Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu người thân cận và ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em, hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.(Mt 5, câu 43-44)

Nếu chúng ta thực hành được ba điều trên QUÊN, THA THỨ và YÊU KẺ THÙ chắc chắn chúng ta sẽ tìm thấy niềm vui và hạnh phúc.

Nhiều khi sức con người có giới hạn. Với sức con người chúng ta không làm được, nhưng nếu chúng ta cầu nguyện cùng Thiên Chúa toàn năng, với sự giúp sức của Thiên Chúa, chúng ta có thể làm được.

Phùng văn Phụng

18 April 2015

Trăn trở của một sinh viên gửi Bộ trưởng Giáo dục

Trăn trở của một sinh viên gửi Bộ trưởng Giáo dục

Tác hại của thiếu hụt tư duy phê phán

Đối với giới trẻ, thứ nhất, việc thiếu đi tư duy phê phán sẽ làm suy giảm khả năng tiếp thu kiến thức. Suy giảm khả năng tiếp thu kiến thức bởi như cháu đã phân tích ở trên, khi không phải đặt câu hỏi hay phản biện, học sinh sẽ cảm thấy ít hứng thú hơn với giờ học vì lúc đó họ chỉ là một cái máy ghi chép, tiếp thu kiến thức một cách rất thụ động.

Thực tế chứng minh rằng những hoạt động mang tính tương tác lúc nào cũng thu hút được sự quan tâm, chú ý của chúng ta hơn những hoạt động khác. Minh chứng rõ ràng cho điều này là không mấy ai mất tập trung khi đang chơi điện tử cả nhưng khi nghe giảng hay xem phim thì khả năng người nghe hay xem mất tập trung cao hơn nhiều.

Thứ hai, kiến thức sẽ không lưu lại lâu trong đầu nếu được thu nạp một cách thụ động. Có hai điểm khác biệt lớn giữa một người học gạo và một người học năng động với tư duy phê phán. Người học gạo thường có khả năng đọc vanh vách mọi chi tiết đã được học còn người kia thì thường chỉ nắm được một lượng nhỏ các chi tiết nhưng nắm rất vững kiến thức cơ bản nên từ đó có thể suy luận rất tốt.

Người học gạo thường quên những thứ mình học rất nhanh còn người kia thì không. Vì sao? Vì người học gạo chỉ cố nhồi nhét mọi thứ để giành được điểm còn người kia vì thật sự đam mê tìm tòi, học hỏi nên họ năng động trong việc thu nạp kiến thức của mình, thậm chí họ phải phản biện lại các ý kiến đối lập để bảo vệ lập trường, quan điểm của mình và những gì mình đã được học. Thế nên không có gì lạ khi những người có tư duy phê phán tốt lại nhớ lâu hơn và vận dụng kiến thức đã được học một cách tốt hơn.

Cuối cùng, tư duy phê phán kém sẽ kìm hãm sự sáng tạo và phát triển. Chẳng phải nhà bác học nổi tiếng Albert Einstein đã nói rằng “một nhà sáng chế đơn giản là một cậu học trò không quá nghiêm túc việc học của mình” hay sao? Nói cách khác, nếu chúng ta không dám phản biện, không dám nghĩ xem liệu những gì mình được học có thật sự đúng hay không, nếu chúng ta không dám thử phá cách và đi con đường riêng của mình thì sẽ chẳng bao giờ có phát minh gì mới cả vì chúng ta đơn giản chỉ đang giẫm lên vết chân của cha anh mà thôi.

ham dự chương trình Họp mô hình Liên Hợp Quốc (Model United Nations) ở Stockholm vào năm 2012 ạ
Ngô Di Lân tham dự chương trình Họp mô hình Liên Hợp Quốc (Model United Nations) ở Stockholm năm 2012. Ảnh: NVCC.

Là những cá nhân đầy tham vọng, chúng ta luôn muốn tiến về phía trước, luôn muốn phát triển và làm được điều gì đó lớn lao. Đây sẽ là điều không thể có được khi thiếu tư duy phê phán hùng biện. Apple thành công là Steve Jobs có tư duy phê phán tốt, ông ta dám nghĩ khác đi và bước trên con đường của riêng mình. Thử hỏi Apple có thành công của ngày hôm nay hay không nếu người lãnh đạo của họ chỉ cố đuổi theo Microsoft mà không có những sáng kiến của riêng mình?

“Tre già, măng mọc”, những người trẻ ngày hôm nay sẽ là trụ cột của xã hội mai sau. Nếu lúc còn trẻ họ không phát triển tư duy phê phán, khó có thể hy vọng họ sẽ phát triển cách tư duy này khi đã trưởng thành, khi họ đã là rường cột của xã hội. Và đối với xã hội, các tác hại của việc thiếu tư duy phê phán còn nguy hiểm hơn nhiều lần.

Khi chúng ta không có thói quen tư duy phê phán và bắt đầu quen chấp nhận mọi thứ mình được dạy là chân lý thì hệ quả tất yếu sẽ là cả một hệ thống ỳ ạch và nặng nề. Sức ỳ của hệ thống có thể sẽ đe doạ sự sống còn của một quốc gia, một xã hội khi đối mặt với những yêu cầu phải cải cách để thích nghi với những chuyển biến đang diễn ra xung quanh. Điều này có thể thấy rõ trong những năm cuối cùng của Đế chế Trung Hoa dưới thời nhà Thanh.

Đối mặt với sự xâm lược của thực dân phương Tây và những chuyển biến trong hệ thống quốc tế, nhà Thanh đối mặt với hai lựa chọn để tồn tại: giữ nguyên hiện trạng hay cải cách theo phương Tây. Cải cách cuối cùng đã không diễn ra đủ nhanh và kịp thời để cứu vãn triều đại này bởi sức ỳ của hệ thống lúc đó đã quá lớn. Những người làm quan từ nhỏ tới lớn chỉ được đọc sách của các đức thánh hiền như Khổng tử mà không được dùng tư duy phê phán nên hệ quả là họ nghiễm nhiên cho rằng những gì mình đã được học là chân lý không thể thay đổi.

Chính vì thế, khi những cải cách thiết yếu mâu thuẫn với Khổng giáo thì họ chấp nhận không cải cách để bảo vệ “chân lý” của mình. Sự bảo thủ và thiếu tư duy phê phán cuối cùng đã dẫn đến cái mà người Trung Quốc thường gọi là “một thế kỷ ô nhục”. Đây là bài học đáng để chúng ta suy nghĩ trong lúc này, khi cải cách về mọi mặt: giao thông, giáo dục, y tế, kinh tế đang hết sức cấp bách.

Có lẽ bức tranh về nền giáo dục Việt Nam cháu vẽ ra tồi tệ hơn so với thực tế. Có lẽ cháu đã nói hơi quá lên và phóng đại những cái xấu lên nhiều lần so với mức thực tế. Và hơn gì hết, cháu mong đó là sự thật bởi như vậy thì vẫn còn chưa quá muộn, chúng ta vẫn còn cơ hội để thay đổi giáo dục. Hơn lúc nào hết, cháu mong Bộ trưởng hãy tìm mọi cách để đẩy mạnh tư duy phê phán trong nhà trường.

Ngô Di Lân (20 tuổi) đang là sinh viên năm thứ 2 ngành Quan hệ quốc tế ở ĐH Maastricht (Hà Lan). Từ lớp 1 đến lớp 8, Lân học ở Việt Nam. Năm lớp 9 em sang Thuỵ Điển học và sau đó nhập học ĐH Maastricht. Học kỳ này Lân đang học ở Mỹ theo chương trình trao đổi và tháng 8 quay về Hà Lan để năm sau thi tốt nghiệp.

Ngô Di Lân

2015: Trật tự thế giới mới

2015: Trật tự thế giới mới

Nguoi-viet.com

Việt Nguyên/Người Việt

Bốn mươi năm trước, Hoa Kỳ không giữ lời hứa với chánh quyền VNCH để Việt Cộng vi phạm hiệp định Paris 1973, kết quả là quân Cộng Sản tiến chiếm Sài Gòn và Miền Nam Việt Nam ngày 30 tháng 4, 1975.

Sau chiến thắng, đảng CSVN huênh hoang: Ðế quốc Mỹ đại bại, chiến tranh Việt Nam báo hiệu ngày tàn của Ðế Quốc Mỹ, chiến lược toàn cầu của Mỹ phải thay đổi, xã hội chủ nghĩa sẽ toàn thắng trên khắp thế giới với chủ thuyết tất thắng Mác Lê Nin.


Sức mạnh quân sự và văn hóa Hoa Kỳ vẫn tiếp tục trấn áp các quốc gia trên thế giới. (Hình: Getty Images)

Hoa Kỳ bỏ đồng minh VNCH năm 1975, tái phối trí để nhắm về khối Xô Viết. Thất bại ở Việt Nam là thất bại tạm thời của Hoa Kỳ. Việt Nam Cộng Hòa bị tư bản Hoa Kỳ bán đi như bán cổ phần của một công ty bị thua lỗ trong thị trường chứng khoán để giữ lại các cổ phần các công ty tốt. Huênh hoang sau chiến thắng, Cộng Sản Việt Miên Lào bị cô lập. Mười bốn năm sau các chính quyền Ðông Âu sụp đổ bắt đầu từ Ðông Ðức với bức tường ô nhục Bá Linh bị giật sập. Hai năm sau Xô Viết tan rã. Mười năm sau, biến cố 11/9 ở Nữu Ước đưa đến chiến tranh A Phú Hãn năm 2001, tiếp theo là chiến tranh Iraq năm 2003. Hoa Kỳ lún sâu ở Trung Ðông năm 2015, Nga với Putin làm lộng ở vùng Hắc Hải, Trung Cộng đang lên với quyền lực quân sự và kinh tế đi dọa các nước làng giềng ở biển Ðông và Nam Thái Bình Dương, một lần nữa thế giới lại đặt vấn đề “Ðế Quốc Mỹ đang giãy chết như Ðế Quốc Anh sau Thế Chiến Thứ Hai.”

Từ sau Thế Chiến Thứ Nhất, hơn 100 năm bộ mặt chánh trị Hoa Kỳ không thay đổi dù chánh quyền dưới sự lãnh đạo của các tổng thống đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa. Từ sau Chiến Tranh Lạnh, Hoa Kỳ vẫn đứng vững dù Xô Viết biến thành Nga hay chiến tranh nóng tiếp diễn trên nhiều phần đất trên thế giới dưới nhiều hình thức tôn giáo, chủng tộc, độc tài, v.v… Hoa Kỳ chỉ bị đứng khựng hay thối lui nhiều lần trong các thập niên 1960, 1970, 1980 ngoài thất bại ở Việt Nam năm 1975. Bước lùi rõ rệt nhất là ở Nam Mỹ từ Nicaragua, Venezuela, Brazil, Ecuador, Bolivia hay Mexico nhưng những bước lùi ấy nặng về chánh trị và ý thức hệ hơn là về kinh tế. Các quốc gia Brazil, Venezuela nghiêng về dân chủ xã hội chủ nghĩa nhưng không đối đầu được với nền kinh tế tư bản của anh Hoa Kỳ khổng lồ ở Bắc Mỹ nói chi là các nước nhỏ như Ecuador hay Bolivia. Ngay đến Mexico một nước lớn cũng không đứng độc lập được với Hoa Kỳ.

Sức mạnh quân sự và văn hóa Hoa Kỳ trấn áp các quốc gia trên thế giới. Giới trẻ yêu chuộng văn hóa Mỹ từ phim ảnh, văn chương cho đến âm nhạc. Hoa Kỳ vẫn giữ các căn cứ quân sự trên toàn thế giới với con số không ai rõ ngay cả đến ông Ron Paul cựu ứng cử viên tổng thống đảng Cộng Hòa chỉ ước tính 900 căn cứ quân sự Hoa Kỳ trên toàn thế giới trong 130 quốc gia ngược với thống kê khác trên 148 quốc gia với hơn 160,000 lính thường trực can thiệp bất cứ lúc nào bất cứ nơi nào khi quyền lợi của Hoa Kỳ bị thách thức, những căn cứ quân sự trong thới chiến tranh lạnh không bị hủy bỏ cũng như quân Hoa Kỳ vẫn chiếm đóng vùng phi quân sự giữa Nam và Bắc Hàn dù hàng không mẫu hạm ở Thái Bình Dương lúc nào cũng sẵn sàng can thiệp vào Bắc Hàn.

Khối Liên Hiệp Âu Châu với 28 thành viên tạo được một hệ thống liên quốc gia với các cơ sở tài chánh và chánh quyền như Hội Ðồng Liên Hiệp Âu Châu, Tòa Án Âu Châu, Ngân Hàng Trung Ương từ năm 1993 có cả công dân Âu Châu với đồng Âu Châu vẫn không độc lập với Hoa Kỳ. Chủ quyền của các nước Âu Châu chỉ đứng trên bề mặt. Sau Chiến Tranh Lạnh, Ðức trở thành quốc gia hùng mạnh nhất Châu Âu về mặt kinh tế và chiến lược với bà Angela Merkel làm thủ tướng vẫn bị Hoa Kỳ chi phối trên nhiều lãnh vực nhất là lãnh vực quân sự. Bà Angela Merkel đã nhũn nhặn từ chối lãnh đạo liên hiệp Âu Châu dù Ðức đang dẫn đầu Châu Âu về kinh tế. Bà đứng trung gian hòa giải giữa Hoa Kỳ và Nga, một phần bà học bài học của Hilter hồi Thế Chiến Thứ Hai một phần vì sức mạnh quân sự của Ðức đứng dưới cả Nam Hàn.

Anh vẫn tự hào độc lập với Hoa Kỳ, là đồng minh xuyên Ðại Tây Dương, nhưng qua các trận chiến ở A Phú Hãn và Iraq, thủ tướng Tony Blair đi theo sự lãnh đạo của Hoa Kỳ như một nước chư hầu.

Khối Âu Châu với đồng Euro tùy thuộc Hoa Kỳ khi cơn khủng hoảng tiền tệ xảy đến cho Hy Lạp. Trong hồi ký mới năm 2014, cựu Bộ Trưởng Tài Chánh Hoa Kỳ Timothy Geithner đã tiết lộ là các nhà lãnh đạo Âu Châu đưa giải pháp cứu Hy Lạp với số tiền rất nhỏ, Hoa Kỳ phải ra lệnh Âu Châu “bơm” 500 tỷ Euros vào kinh tế Hy Lạp. Với cơn khủng hoảng mới ở Hy Lạp của chánh quyền Syriza, liên hiệp Âu Châu tiếp tục làm theo những gì Hoa Kỳ yêu cầu.

Chiến tranh A Phú Hãn và Iraq, được gọi là chiến tranh chống khủng bố từ thời T. T. George W. Bush. Chiến tranh ấy cho thấy Hoa Kỳ lún sâu ở Trung Ðông. Chương trình xây dựng quốc gia A Phú Hãn và Iraq của Hoa Kỳ thất bại ngay từ bước đầu khi Hoa Kỳ giải tán quân đội Iraq sớm. Các nền tảng xã hội căn bản bị phá vỡ. Giống như ở Việt Nam trước 1975, chánh phủ Hoa Kỳ kết tội chánh quyền A Phú Hãn tham nhũng. Hoa Kỳ không thành công trong việc xây dựng quốc gia dân chủ tự do nhưng Hoa Kỳ đã thành công chia rẽ thế giới Hồi Giáo và Á Rập, chấm dứt tinh thần quốc gia của của khối Á Rập.

Chiến tranh chống khủng bố thất bại. Bin Laden bị giết nhưng nhóm quốc gia quá khích khủng bố Hồi Giáo ISIS xuất hiện lớn mạnh. Quốc gia Hồi Giáo Iraq (Islamic State of Iraq, ISI) sau thêm Syria vào thành ISIS đôi khi gọi là ISIL (Levant, bao gồm rộng hơn gồm cả Thổ Nhĩ Kỳ, Jordan, Do Thái, bán đảo Á Rập và Lebanon) cầm đầu bởi Abu Musab al – Zarqawi người Jordan phụ tá cho Bin Laden, khối Hồi Giáo Sunni chủ trương giết hết Hồi Giáo Shia. Zarqawi muốn thành lập quốc gia Hồi Giáo thay cho đế quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ) từ khi đế quốc nay sụp năm 1912. Ða số Hồi Giáo muốn có quốc gia Hồi Giáo kể cả Nam Dương (62% ủng hộ). ISIS đã kiểm soát được diện tích vùng Tây Iraq và Bắc Syria lớn hơn cả nước Anh, quân đội gia tăng dù Hoa Kỳ tăng gia đánh bom. Từ 15 tháng sáu, ISIS kiểm soát thành phố Mosul lớn thứ hai sau thành phố Baghdad, Iraq. ISIS cai trị bằng chánh sách đàn áp, công an trị cùng các biện pháp dã man như Cộng Sản vào thời kỳ quá độ Mao, Stalin, Hồ Chí Minh. Dân Iraq thích ISIS vì thuế đánh nhẹ 2.5%, không còn thấy hỗn loạn và tham nhũng như chánh quyền Iraq.

Trung Ðông tan vỡ từ sau Thế Chiến Thứ Nhất lại tan vỡ hơn từ khi Hoa Kỳ can thiệp vào Iraq. Cách Mạng Mùa Xuân Á Rập bây giờ đã vào quá khứ. Syria có thể chia 3, Iraq cũng có thể thành 2 hay 3 quốc gia. Hoa Kỳ ủng hộ Hồi Giáo Shia ở Iraq chia rẽ Sunni. Xem Iran (đa số Hồi Giáo Shia) là quỷ chỉ có hại cho Hoa Kỳ vì không có sự ủng hộ của Iran Hoa Kỳ không cai trị được Iraq, chỉ có Iran ra lệnh cho lãnh tụ Shia Muqtada al – Sadr cộng tác với Sunni, không có sự cộng tác của Iran Hoa Kỳ không ổn định được A Phú Hãn và Iraq. Hiệp ước về nguyên tử với Iran ngày 2 tháng 4, 2015, có nhiều điều khoản khó thực hành nhưng hiệp ước phá vỡ chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Iran trong 36 năm. Chấm dứt chiến tranh lạnh với Iran, Hoa Kỳ bớt lệ thuộc vào dầu hỏa của Saudi Arabia và nội chiến Syria và Yemen ở Trung Ðông có thể kết thúc. Hoa Kỳ từ trước đến nay vẫn giữ tiêu chuẩn kép ở Trung Ðông, với hiệp ước nguyên tử Israel không độc quyền vũ khí nguyên tử, một vũ khí quốc gia nào cũng muốn nhưng có rồi không ai dám xài! Hoa Kỳ gây rối ở Trung Ðông mở cánh cửa cho Trung Cộng. Trong khi Putin đã bớt áp lực quân sự ở Ukraine vì giá dầu xuống và vì áp lực của Âu Châu, Trung Cộng thừa nước đục thả câu nhảy vào Trung Ðông. Sau khi TT Obama gia tăng thời hạn rút quân ở A Phú Hãn, TT Ghani qua Bắc Kinh được Tập Cận Bình gọi “Ghani là bạn cũ của Dân Trung Hoa,” thời đại cộng tác mới bắt đầu với 327 triệu Mỹ Kim viện trợ cho A Phú Hãn đến năm 2017. Công ty đồng (China Corporation Copper) ký khế ước 4.4 tỷ trong khi 70 công ty Mỹ chỉ có khế ước 75 triệu Mỹ kim. Trung Cộng biểu diễn quyền lực mềm với sức mạnh kinh tế gây lo ngại cho các quốc gia láng giềng đang phát triển nhưng cái họa da vàng Trung Quốc còn xa. Kinh tế Hoa Kỳ và Trung Cộng tùy thuộc lẫn nhau, giới lao động làm việc cho tư bản Mỹ nằm ở Trung Hoa. Tất cả con số về kinh tế cho thấy Trung Cộng vẫn thua xa Hoa Kỳ. Hoa Kỳ vẫn đứng đầu trên các lãnh vực dược phòng, không gian, điện toán, dụng cụ y khoa. 100 đại công ty trên thế giới không có tên công ty Trung Hoa. Công ty xuất cảng hàng đầu của TH do ngoại quốc làm chủ. Ở Hoa Kỳ số triệu phú là 42.5%, Nhật 10.6%, Trung Hoa 9.4%, Anh 3.7%, Thụy Sĩ 2.9%, Ðức 2.7%, Ðài Loan 2.3%, Ý 2%, Pháp 1.9%. Sức mạnh mềm thua Hoa Kỳ còn tiềm lực quân sự của Trung Cộng chỉ dọa các nước láng giềng như Việt Nam, chưa so được với tiềm lực quân sự của Hoa Kỳ.

“Trong cái mạnh, có cái yếu.” Trung Cộng đang lên nhưng Tập Cận Bình trong bụng đã có mối lo. Nền kinh tế lớn nhất thế giới là nền kinh tế đang có chiều đi xuống. Trong quí chót năm 2014, có nhiều hãng xưởng đã không trả tiền cho công nhân, biểu tình chống đối đình công 3 lần nhiều hơn so với cùng thời kỳ năm 2013. Kinh tế Trung Hoa có thể đi xuống nhanh hơn dự tính mặc dù hãng xưởng sản xuất vẩn đứng đầu thế giới, công nhân già nhanh kém sản xuất vì chính sách một con, nhiên liệu nguyên liệu ít dần mặc dù chánh quyền Trung Cộng khai thác tài nguyên ở Phi Châu. Tiền vay của các hãng lên cao hơn lợi tức trong khi Tập Cận Bình thành lập ngân hàng phát triển, quỹ xây dựng hạ tầng đường lụa, (Silk Road) ngân hàng xây dựng hạ tầng Á Châu tổng cộng 240 tỷ Mỹ Kim, với sự cổ võ của Henry Kissinger, để thay thế ngân hàng và quỹ tiền tệ thế giới.

Cầm đầu đảng Cộng Sản với hơn 80 triệu đảng viên, Tập Cận Bình được gọi là Tập Ðại Ðại, như đại ca của Mafia, giữ hơn 10 chức vụ từ chủ tịch nhà nước, tổng bí thư Ðảng, chủ tịch ủy ban quân quản, chủ tịch ủy ban ngoại giao, kinh tế, an ninh, quốc phòng, công an nhân dân, mạng thông tin. Sự rối loạn đến từ trong nội bộ. Như Người hùng của họ Tập là Tống Giang trong truyện Thủy Hử, có tinh thần cầm đầu đảng cướp Tập Cận Bình chống dân chủ hóa như Hoa Kỳ. Trong hai lần họp với phó Tổng Thống Joe Biden năm 2011 và 2012 Tập Cận Bình đã tuyên bố không chấp nhận giá trị dân chủ Tây Phương và nhân quyền. Thanh trừng nội bộ đảng, họ Tập nhà độc tài nhất từ sau Mao Trạch Ðông đã điều tra trên 10,000 cán bộ, trong năm 2014 hơn 100,000 đảng viên cao cấp mất chức vì tội tham nhũng nhưng thật sự tham nhũng chỉ là cớ để loại chân tay bè đảng không trung thành.

Trong nội bộ chủ tịch Tập Cận Bình cảnh cáo “Mỹ đang toa rập lật đổ chế độ CSTQ qua diễn tiến hòa bình” nên từ đầu năm 2015 Tập Cận Bình đã cho thấy bàn tay sắt, đóng mạng lưới chống đối nhiều hơn năm 2014, đối lập không có chỗ đứng trong “xã hội hài hòa.” Các cơ quan vô vị lợi NGO bị xem là tay chân của bọn Mỹ, các hãng Microsoft, Cisco, Intel là “chiến sĩ của chánh quyền Hoa Kỳ,” CIA và cơ quan dân chủ NED đứng đằng sau các cuộc biểu tình đòi Dân Chủ ở Hồng Kông (cách mạng Dù) và ở Ðài Loan. Tập Cận Bình độc tài đứng một mình vì “Xô Viết đã sụp đổ năm 1991 là vì không có kẻ nào mạnh đứng đối đầu chống lại bọn phản động.”

Ðối ngoại, với các nước láng giềng Tập Cận Bình như bọn cướp Lương Sơn Bạc. Cộng tác với Nga nhưng từ từ bỏ Putin sau khi Nga gây chiến tranh ở Ukraine, trục lợi qua chánh sách cô lập kinh tế của Putin, Tập Cận Bình quay mặt về Hoa Kỳ yêu cầu TT Obama “lập quan hệ song phương bình đẳng mới” nhưng TT Obama đã từ chối không chấp nhận chánh sách của Trung Cộng chiếm những hòn đảo và tranh chấp biển Ðông. Chánh sách cướp dần từ không phận, hải phận, xây giếng dầu, xây phi trường trên các đảo Hoàng Sa, Trường Sa, các đảo trên vùng Nam Thái Bình Dương, đã bị TT Obama chánh thức phản đối.

Hiểm họa độc tài của Tập Cận Bình đã khiến các đảng viên CSTQ trung kiên lo sợ, theo chu kỳ Trung Hoa sẽ có một cuộc cách mạng đẫm máu. Họ chủ trương thay vì đóng cửa với thế giới bên ngoài và đe dọa các nước láng giềng, Trung Hoa cần thay đổi chế độ bằng phương pháp hòa bình biến đảng CSTQ thành đảng xã hội cánh tả như các đảng xã hội ở các nước Tây Phương. Giai cấp trung lưu đang lên ở Trung Hoa không phải là đối tác đáng tin cậy cho đảng CS.

Thế giới cố dự đoán “Ðế quốc Mỹ đang giãy chết” nhưng như Frederick Hayek, kinh tế gia giải Nobel, nhận định: “kinh tế chỉ huy luôn luôn thất bại.” Con đường kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa của TC đang giẫy chết trước khi đế quốc Mỹ giẫy chết.

Cuộc tái định cư của cựu tù nhân chính trị

Cuộc tái định cư của cựu tù nhân chính trị

Nguoi-viet.com
Nhìn lại quãng đường tị nạn và hội nhập


Huy Phương & Võ Hương-An

(Chân Dung H.O. & Những Cuộc Ðổi Ðời)

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Cộng Sản Bắc Việt, tức nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, núp dưới ngụy danh Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, đã cưỡng chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa và cai trị đến nay vừa đúng 40 năm (1975-2015).

Trong 40 năm độc tài toàn trị, Cộng Sản Việt Nam (CSVN) đã lập nên nhiều “thành tích” đáng xấu hổ trong lịch sử dân tộc cũng như trước mắt quốc tế, trong đó có hai “thành tích” lớn tới mức đánh động lương tâm dân tộc các nước dân chủ văn minh, khiến họ phải ra tay can thiệp. Ðó là việc bỏ tù hàng trăm ngàn người thua cuộc trong các nhà tù khổ sai, ngụy danh là trại cải tạo, mà không xét xử; và tạo nên một xã hội áp bức trong đói kém, bần cùng, khiến cả triệu người phải bỏ nước ra đi để tìm tự do, bất kể hiểm nguy đến tính mạng.

Gia đình H.O. Phan Cảnh Cho và H.O. Hoàng Văn Ngọ được nhân viên
thiện nguyện Hội Tương Trợ Cựu Tù Nhân Chính Trị Nam Cali đón tiếp
ngày 20 tháng 7, 1993 tại phi trường John Wayne. Chú ý đến chiếc
rương sắt (X) phía dưới, vật dụng lên đường quen thuộc của nhiều
gia đình H.O. (Ảnh tài liệu do Huy Phương cung cấp)

Chưa có một nước nào trên thế giới mà sau một biến động quân sự và chính trị lại đưa tới những làn sóng di dân tị nạn ào ạt lên đến hàng triệu người như Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản, khiến thế giới phải phát sinh ra những từ ngữ mới để nói lên thực trạng bi thảm đó. Họ gọi những người liều chết ra biển lớn tìm tự do trên những con thuyền mỏng manh bất chấp sóng gió, hải tặc, là những boat people (thuyền nhân) và thời đại này của Việt Nam là the age of uprooting (thời đại trốc rễ). [1] Họ học được những từ ngữ mới, như trại tù khổ sai thì Cộng Sản gọi là trại học tập cải tạo, re-education camps và tù nhân được gọi là học viên! Thật là mỉa mai chữ nghĩa!

Lịch sử tị nạn Việt Nam hoặc lịch sử cộng đồng người Việt hải ngoại vào hậu bán thế kỷ XX là một đề tài lớn, đòi hỏi sự nghiên cứu lâu dài và rộng rãi. Cuộc tái định cư của cựu tù nhân chính trị (ex-political prisoners) hay cựu tù cải tạo (ex-reeducation camp detainees) và gia đình, thường được gọi một cách dung dị là “đi H.O.” (đọc: hát-ô).

“Tại sao và từ bao giờ chúng ta có mặt trên nước Mỹ?” Tại Hoa Kỳ, sau tháng 4 năm 1975, mới chỉ có khoảng 125,000 người Việt, là số tị nạn đầu tiên do Hoa Kỳ giúp di tản hoặc tự tìm đường thoát thân khi Sài Gòn hấp hối; đến năm 1980, con số này lên 231,000 người; và đến năm 2012, cộng đồng Việt Nam tại Mỹ lên đến gần 1.3 triệu, trở thành di dân Châu Á đông vào hàng thứ 4 của nước Mỹ, chỉ sau Ấn Ðộ, Philippines và Trung Quốc. Cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ chiếm hơn một nửa tổng số người Việt có mặt trên thế giới và 72% trong số này đã mang quốc tịch Hoa Kỳ.[2]

Thành phần tạo nên cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ gồm có:

– Thuyền nhân (vượt biên, vượt biển);

– Ðoàn tụ gia đình;

– Con lai;

– Cựu nhân viên chính phủ Mỹ, cựu nhân viên sở Mỹ;

– Cựu tù nhân chính trị (cựu tù cải tạo), thường được gọi là thành phần H.O.

Có thể nói rằng nước Mỹ là xứ sở của di dân và tị nạn. Ðầu thập thập niên 1990, sự nhập cư của lớp cựu tù chính trị và gia đình đã đẩy số người Việt di dân lên cao rõ rệt, và sau vài năm bở ngỡ, lúng túng ban đầu trong việc điều chỉnh cuộc sống mới trên đất mới, những gia đình H.O. bắt đầu đi vào ổn định nơi ăn chốn ở, học hành và công ăn việc làm. Lần hồi, bước vào thế kỷ 21, di dân tị nạn H.O. bắt đầu vươn vai đứng dậy, có những đóng góp cho quê hương mới cả về vật chất cũng như trí tuệ, khi lớp con cái H.O. được trang bị kiến thức đầy đủ ngang tầm cở bản xứ, đã hội nhập một cách tự tin và bình đẳng.

Mỗi một tù cải tạo là một số phận. Ðến khi được trở thành một H.O. và cùng gia đình đi tái định cư tại Hoa Kỳ cũng là mỗi H.O. một số phận. Có thể nói cuộc đời của mỗi H.O. mang dấu ấn hai lần “cải tạo” với ý nghĩa hoàn toàn trái ngược nhau.

Lần đầu, CSVN “cải tạo” trong ý đồ tiêu diệt bằng cách đầy đọa tù nhân cho chết dần chết mòn trong tù để khỏi mang tiếng tàn bạo, dã man, đối với thế giới. Nếu người tù may mắn sống sót trở về với gia đình thì ý chí tự do, quật cường cũng đã bị thui chột để chỉ còn là một kiếp sống thừa; thêm vào đó, chính sách cải tạo cũng gián tiếp bần cùng hóa gia đình tù cải tạo bằng sự phân biệt đối xử ngoài xã hội.

Lần “cải tạo” thứ hai, do Hoa Kỳ chủ trương, nhằm giúp đở tái tạo người cựu tù chính trị và gia đình, tái lập một cuộc đời mới, đầy đủ nhân cách và phẩm giá, với mọi điều kiện thuận lợi trong xã hội mới để khả dĩ vươn lên.

Trong khi cùng chịu chung một chính sách ngục tù nhưng mỗi một tù nhân là một số phận, mỗi một trại cải tạo là một thế giới, thậm chí, cái thế giới bé nhỏ đó khi thay đổi người điều hành hay thay đổi nơi chốn, cũng có thể trở thành là địa ngục trần gian hay một nơi giam giữ còn tính người, có thể sống qua ngày, nghĩa là có đa dạng tù đày.


Chú thích:

[1]: Hataipreuk Rkasnuam and Jeanne Batalova, Vietnamese Immigrants in the United States, http://www.migrationpolicy.org/article/vietnamese– immigrants- united- states

[2]: http://www.vietnam.ttu.edu/resources/vietnamese– american.php

Trăng đang nằm trên sóng cỏ,

“Trăng đang nằm trên sóng cỏ,”

Cỏ đùa trăng đến bên ao,

Trăng lại đẫm mình xuống nước,

Trăng nước đều lặng nhìn nhau.

Đôi ta bắt chước thì sao?””

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mai Tá lược dịch

Bắt chước thì sao”? Mấy năm về trước, tôi có dịp cũng đi xem nghệ sĩ bi hài thuộc Dòng Tên, là Michael Moynahan trình diễn vở kịch câm mang tựa đề “Bi hài và nỗi thống khổ”, kể về giờ phút cuối của Đức Kitô ở trần thế. Vào kịch, là sự xuất hiện của một anh hề với nụ cười quên tắt trên môi. Anh biểu diễn các màn tung bóng ngay trước mặt khán giả, rất đẹp mắt.

Tiếp đó, là cảnh đám quân binh bước đến, dẫn Đức Kitô ra trình diện bá quan thiên hạ; để rồi, bọn họ đóng đinh Ngài lên cây khổ giá hình chữ thập. Tay hề chứng kiến cảnh tượng đầy kịch tính ấy với nỗi niềm sao xuyến, hãi sợ. Khi thấy Đức Kitô thực sự đã chết, đám quân binh ra về, không đợi gì thêm.

Nhưng, tay hề vẫn nán lại, ngồi bệt xuống dưới chân khổ giá. Anh bắt đầu gỡ bỏ các dấu đinh còn sót nơi tay và chân Chúa. Xong, đặt thi hài Ngài nằm sõng lên đùi anh, hệt như bức la Pietà nổi tiếng của nhà điêu khắc Mi-Kê-Lăng-Gê-lô.

Tay hề xót xa, rơi nước mắt khi phải chứng kiến cái cảnh Đấng Công Chính bị đóng đinh trên khổ giá, hình chữ thập. Cùng lúc ấy, đám quân binh quay lại, thấy tay hề còn ngồi đó thẫn thờ khóc cho thân phận của Đức-Chúa-làm-người. Chúng vực xốc anh dậy, đóng đinh anh lên cây thập tự thay cho Chúa. Tay hề đau đớn, chịu đựng được một lúc, rồi cũng trút hơi cuối cùng trên thập tự bằng gỗ cứng. Sần sùi.

Khi quân binh đi rồi, Đức Chúa trỗi dậy, Ngài trở về với sự sống khác thường. Ngài hướng mắt nhìn tay hề đã cùng chịu cũng một thân phận khổ ải như Ngài, bèn đến gỡ bỏ các đinh khoen đóng xác, đỡ anh xuống. Ôm gọn anh vào lòng, cứ để như thế mãi chốn thiên thu, miên trường.

Xem trình diễn vở kịch câm hôm ấy, tôi thấy như có tiếng thở dài rơi lệ, ở đâu đó nơi người dự khán. Chẳng có ai trong họ, lại cứng lòng đến độ trơ như đá; hoặc, không nhỏ giọt lệ ướt mi, trước bi hài kịch đầy xót thương. Ai oán.

Thật ra, chữ “xót thương” là cụm từ lấy từ tiếng “Compati” của La ngữ, mang ý nghĩa chịu đựng. Khổ ải. Tuyệt nhiên, cụm từ này không mang ý nghĩa thương hại, đồng cảm; hoặc sớt chia nỗi buồn bực, gì hết. Cũng vậy, cụm từ “buồn bã”, “xót xa” bên tiếng Việt lại bao hàm lập trường xa cách.

Đứng ở ngoài. Chẳng có liên hệ mảy may nào dính dự đến kinh nghiệm bản thân; hoặc, những cảm xúc hướng vào bên trong. Cụm từ ‘xót thương’, mang nặng một ‘cảm xúc’ của những người đồng cam đồng chịu, cũng một thân phận. Thân phận, mà Vị Mục Tử Nhân Hiền đã tự gánh lấy cho Ngài. Và, đây cũng là ý nghĩa đích thực của mùa Phục Sinh, rất hôm nay.

Giả như, ta xứng đáng để trở thành những người dám dấn bước, theo chân Đức Kitô, hẳn là ta cũng sẻ san cùng một tâm trạng, ngày Thứ Sáu Chịu nạn. Tuy thế, Chúa Nhật Phục Sinh, nay mang ý nghĩa thật rõ nét. Đó là: Chúa Cha đã trung tín với Con Một Ngài thế nào, thì Ngài cũng một lòng chung thủy đối với ta, hệt như thế.

Những năm tháng gần đây, nhiều vị Giám mục, vẫn được gọi là Mục tử nhân hiền ở giáo hội địa phương. Các ngài cũng bị chĩa mũi dùi, nhìn xoi mói khía cạnh đời sống tu đức của mỗi vị. Việc bị quan tâm/lưu ý như thế, cũng chẳng có gì là lạ. Bởi, tất cả chúng ta, dù ở cương vị nào đi nữa, vẫn đang sống cuộc đời của đạo-hữu chân-chính dõi bước chân mềm, đi theo Chúa.

Theo Chúa, còn có nghĩa là: nhận lãnh trách nhiệm, về những gì mình đã làm, và cả những gì mình không chịu làm. Xét như thế, các mục tử ở giáo hội địa phương, cũng không nằm trường hợp ngọai lệ.

Quả thật, các mục tử nhân hiền ở địa phương đã phải trải qua nhiều thời kỳ cam go, buốt óc. Đàn chiên dân Chúa, nay được huấn luyện theo tiêu chuẩn khá cao. Chẳng ai còn chịu để cho đấng chăn dắt mình, bắt phải rập khuôn, duy trì não trạng của thú đàn, vô tri giác. Không. Ai trong chúng ta cũng muốn biết về vị mục tử chăn dắt mình. Ai cũng muốn nghe tiếng mời gọi thân thương của các vị đang chăn dắt.

Thân thương, là tình thân biểu lộ ra ngoài lòng thương yêu, ta cần có. Biết quan tâm phấn đấu, đòi thực hiện cho bằng được sự chính đáng, công bình đến với các nạn nhân, ở khắp nơi. Đặc biệt hơn, là: nạn nhân đang bị chính Giáo hội mình làm cho thương tật.

Hẳn là, ai cũng muốn cam kết rằng: những gì vị mục tử nhân hiền ở địa phương phán quyết hoặc hành xử, nhất nhất đều phải rập khuôn lời lẽ và cử chỉ hiền hậu của Đức Chúa, tức Vị Mục Tử Nhân Hiền rất đích thực.

Những năm về trước, hẳn chúng ta có cảm giác choáng váng, thất vọng khi thấy một số –cũng may còn rất ít -các vị mục tử ở địa phương lợi dụng danh thơm tiếng tốt của Giáo hội, đã nhân danh quyền lực và vị thế xã hội của Đạo mình, đã lấy đi gương lành đạo đức lẫn nghĩa vụ pháp lý, tài chánh để rồi đã khiến cho thành viên trong đàn chiên bé nhỏ, đang bị thương tổn.

Tin Mừng hôm nay, thánh Gioan nhắc nhớ ta về vai trò và bản chất cần có của các vị lãnh đạo trong Hội thánh Chúa. Đức Giêsu không so sánh các vị lãnh đạo ấy như ông hoàng bà chúa nơi cung điện cao sang, quyền quý hoặc như thống đốc, quan toàn quyền ở tiểu bang. Hình ảnh Chúa đưa ra hôm nay, là: vị mục tử thân thương, nhân hiền.

Mục tử, chính là người chăn dắt rất tận tình, thật dễ thương. Các vị này, dám ngủ lại với đàn chiên nhỏ bé của mình, cả vào chốn đồng hoang trống vắng, rất hiểm nguy. Mục Tử Nhân hiền mà Đức Ktiô ám chỉ, là người biết rất rõ chiên đàn của mình. Rõ đến độ, Ngài dám hy sinh cuộc sống của mình, cho bầy đàn mình chăn dắt.

Tham dự Tiệc thánh hôm nay, ta cầu cho chiên đàn mình có lãnh đạo xứng đáng với lòng ngưỡng mong. Cầu mong sao, các vị lãnh đạo có lòng nhân thân thương trong sáng, biết khơi dậy nơi ta cũng một tình cảm, như các ngài đã ứng xử với chiên đàn bé nhỏ, của mình. Có như thế, các ngài mới đích thực là Mục tử thân thương, nhân hiền.

Có như thế, mới là lãnh đạo “chính chuyên”. Công chính. Biết ân cần phục vụ. Phục vụ, để đàn chiên mình luôn vui sống. Sống an vui, hiền hoà. Ân cần, trước mọi nhu cầu thiết thực của đàn chiên bé nhỏ. Nhất là lúc này, khi bầy lang sói vẫn rình rập, ở đâu đó. Thứ sói lang mang hình thù, mã số rất thời thượng, những Dan Brown, Tom Hanks ở sân khấu-cuộc đời, đầy nhiễu nhương.

Lm Richard Leonard sj –

Mai Tá lược dịch

Ngồi, dưới trăng lắng im nghe lòng ta,

“Ngồi, dưới trăng lắng im nghe lòng ta”,

Thổn thức bao chuyện ngày qua… sầu đau

Hỡi người dấu yêu, sao đành nỡ quên…

Sao đành tình ta vỡ tan, như cánh chim lìa bay?

(Breakfast at Tiffany’s Moon River – Phạm Duy: Dưới Trăng)

(2Cor 13: 5-10)

Trần Ngọc Mười Hai

Thật ra thì, có “ngồi dưới trăng lắng im nghe lòng ta” cách mấy đi chăng nữa, đã chắc gì mình thấy lại được hồn mình đang “thổn thức bao chuyện ngày qua…sầu đau”, đâu chứ!

“Sầu đau” không, vẫn là chuyện của người viết khi ông lại đã hát thêm, rằng:

“Lòng, đắm say những khi ta gần nhau,

Ngồi dưới ánh trăng dịu êm ….cùng mơ.

(Dưới Trăng – bđd)

Ấy đấy, là vấn đề. Sầu đau hay buồn vương, chán chường vẫn là chuyện thời đại, của nhiều người. Những chuyện như thế, nay len lỏi vào tâm tư các vị xưa nay từng sống với quyền-cao-chức-trọng, cũng hệt thế.

Sầu đau hôm nay, có thể là chuyện vẫn xảy đến với nhà Đạo, khi nhiều vị ở đó vẫn quan-tâm đến chuyện phù-phiếm, chóng qua như so-sánh chuyện nổi-danh/nổi-tiếng hoặc nổi cộm được toàn thế-giới hâm-mộ, như hôm rồi nhà báo Úc, viết những giòng như sau:

“Sau 2 năm vẫn ‘trụ’ ở cương vị giáo-chủ cả một đạo, Đức Phanxicô nay đạt tỷ-lệ nổi tiếng/mến-mộ đến 90%, vượt xa Đức Bênêđíchtô 16 và coi là đấng được nhiều người ưu-chuộng nhất hành-tinh.

Đức Phanxicô dự-định ghé thăm thủ-đô Washington, New York và Philadelphia vào tháng 9 năm 2015, nên tin này đã làm người Mỹ tìm cách lập khảo-sát nhằm thu-thập số phiếu bầu ngài là “vị Giáo-hoàng được lòng người Mỹ nhất” lên đến 57% số phiếu bầu.

Theo hãng thăm dò dư-luận Pew Research Centre, thì tiếng-tăm của Đức Phanxicô nay gia-tăng rất nhiều nội hai năm qua. Từ ngày khởi-đầu triều-đại Giáo-hoàng, ngài khởi-phát chỉ mới 58% vào độ tháng 9/2013 nhưng đến năm 2014, tỷ-lệ này lên đến 66% và năm 2015 đạt 70%, ngay ngày đầu. Với người Công-giáo đi lễ đều đặn, thì các vị lại bầu cho Đức Phanxicô một tỷ-lệ đến 95% số phiếu tuyên-dương ngài là chủ chăn được người ưa-chuộng nhiều nhất. Và, trong số các người này, nhiều vị lại hoàn-toàn đồng-ý với ngài, trong mọi chuyện…

Theo nghiên-cứu/khảo-sát do công-ty Pew Research Centre thực-hiện từ ngày 18 đến 22 tháng Hai 2015 trên điện-thoại nhà và di-động đã chuyển đến 1504 người lớn tuổi trên toàn quốc đã nắm được con số trên.” (tin trên The Catholic Weekly 22/3/2015, tr. 15)

Bàn về chuyện người người rất ưa-thích Đức Phanxicô như thế quả quá đúng. Và ở đây, ta cũng không có gì để bàn cãi với tranh-luận. Thế nhưng, nếu cứ theo tin tức và bảng điểm do báo/đài truyền-thông Mỹ loan đi, thì chỉ như thế thôi.

Thế thôi, nghĩa là chỉ mỗi con số và con số nói lên cũng chỉ chút ít thực-tại, trong khi đó sự thật rất thực có thể lại rất khác. Thực-tại đích-thật khác, là ở chỗ: không thấy báo/đài nào chấm điểm hoặc so-sánh tính khiêm-nhu/lành-thánh của ‘đấng bậc’ ở chốn trời-cao-mây-trắng-toát-rất-tít-mù là Giáo hội Công-giáo của mình, hết.

Bởi, có làm thế cũng bằng thừa, vì: vào những tháng ngày gần đây, người đi đạo cũng nghe/biết nhiều về tình-hình phong thánh các đấng bậc lại đã gia-tăng nhiều đến độ có người gọi đó là “Lạm phát chất thánh”…

Gia-tăng như thế, nghĩ cũng phải, vì các ngài tuy chưa quá vãng hoặc đã xa lìa cõi thế-trần này những cũng được người đời gọi bằng danh xưng thật rất thánh quá mức đến nỗi các vị, khi được bầu làm giáo-chủ một đạo, là đạt ngay danh hiệu quí-hiếm: Đức “thánh” Cha, ngay thôi. Thế nghĩa là: các ngài dù chưa hoạt-động gì bao lăm cũng đã là thánh rồi, để rồi khi chết lại cũng trở-thành ‘thánh’, gấp đôi mà thôi.

Thôi thì, có gọi các ngài là Đức “thánh” Cha hay không, cũng đâu là chuyện quan-trọng. Điều quan-trọng với Giáo-hội hôm nay, là: Giáo-hội ta có còn đặt nặng khía-cạnh “quyền-lực” vào vị-thế của các đấng bậc đứng đầu một Giáo-hội hay không, mà thôi!

Bàn việc này, cũng nên tạt qua ý/lời của đấng bậc vi vọng cỡ bậc thầy thần-học ở chốn miền khá thấp nhưng lại là bậc thày của 4 đại học Công giáo ở Hoa-Kỳ đến 40 năm tròn, là Lm Kevin O’Shea CSsR, như sau:

“Bài Thương Khó do thánh Máccô ghi, khi nói Đức Giêsu bị giới quyền cao chức trọng người La Mã hạch-hỏi xem Ngài có đích-thực là Vua-dân-Do-thái, tức là người có quyền chức tương-đương nơi dân Ngài, không. Sở dĩ Philatô hỏi thế, là vì ông bị đám Do thái có quyền-chức là các thượng-tế trong đạo cứ bủa vây, xúi giục ông làm những việc như vậy. Thế nhưng, Đức Giêsu vẫn lặng-thinh không nói lời nào, là bởi như ngôn-từ của Trình-thuật Tin Mừng cho thấy: Ngài không trả lời theo hướng họ đưa ra, vì Ngài không thuộc hệ-thống cầm-quyền như họ.

Đức Giêsu muốn giải-thoát nhân-loại không vì mục-đích đưa nhân-loại ra khỏi chốn “lỗi tội” mà còn đưa ra khỏi mạng-lưới quyền-lực vốn dĩ muốn gài bẫy những người cùng một vai-trò, ở trong đó. Điều này cho thấy: có nhận-thức đích-thực từ ảnh-hưởng của cơ-chế xã-hội trong mọi quyết-định về chính-trị.

Đặc quyền/đặc lợi, là cha đẻ ra quyền-lực, mà quyền-lực lại đẻ ra bức-bách, bức bách đẻ ra sức mạnh. Đương nhiên cùng một lúc, hệ-thống quyền-bính không buộc phải trở-thành một thứ “dê tế-thần” cốt bào-chữa cho các hành-xử của người có vai-trò lãnh-đạo, ở cấp cao. Nhưng, chính họ là người có bổn-phận đứng lên chống lại áp-lực của xã-hội như thế, trước mặt mọi cơ-chế bất công.

Thành-ngữ do thánh Máccô sử-dụng cốt để mai-mỉa/phản-bác lối khuynh-loát, cũng là ngôn-từ để nói rằng: thủ-lãnh cấp cao nơi công-quyền lại cũng là nô-lệ của nhiều thứ. Chương 10 câu 44-45 còn thấy đầy những ngôn-từ chính-trị mang tính hạt-nhân ban đầu, mà tiếng Hy-Lạp gọi là “protos”, vẫn ở cạnh chữ “nô-lệ”, tức “doulos”“diakonen”, tức “phục vụ”. Ngay chữ đầu đã có nghĩa trở-thành “nô-lệ” rồi. Quan-điểm này, thật triệt-để; do cụm từ “doulos” không chỉ nói về giai-tầng thấp ở cơ-cấu quyền-lực mà thôi, nhưng còn diễn-tả như sự trượt-vuột khỏi cơ-cấu nắm quyền và có uy-lực đầy mình. Từ-vựng ấy, cũng không diễn-tả giai-tầng cao xa nhất, hoặc giai-tầng thuộc loại thứ-yếu hoặc chót hết, hiểu theo nghĩa cơ-cấu quyền-lực. Đó, là thứ gì trái-nghịch hẳn. Là mặt trái, tức: thông-điệp đầy mỉa-mai/châm-biếm vốn dĩ nằm bên trong cơ-cấu quyền-lực rồi. Nói cách khác, đây thực sự là những người biến thành nô-lệ cho quyền-lực. Họ cần được giao cho đám thiếu quyền-lực nhất…” (x. Lm Kevin O’Shea, CSsR, Ơn Cứu Chuộc Nơi Ngài chan-chứa, Chương 2 phần 4, nxb Hồng Đức sẽ phát hành vào hạ tuần 4/2015)

Đề-cập đến vấn-đề Giáo-hội và quyền-lực, vẫn luôn là chuyện nóng bỏng, rất khó lòng. Khó, là bởi khi ai đó đã ở bên trong guồng máy có quyền và có lực rồi, thường sẽ có khuynh-hướng hỗ-trợ cả hai bên, tất tần tật. Nói thế, tức diễn tả cách nào đó để bảo rằng: đôi bên đều như nhau và ngang nhau.

Đề-cập chuyện thế-quyền và thần-quyền, là ta đi vào những chuyện nóng bỏng, càn dễ “cháy” hơn nữa. Cháy, cả trong lẫn ngoài. Cháy, từ trên xuống dưới, mà ngôn-ngữ đời thường vẫn bảo đụng vào sẽ “từ chết đến bị thương, thôi.”

Thật ra thì, đề-cập đến sự nổi tiếng khi nắm gọn vai trò chóp bu ở thế-quyền hay thần-quyền cũng đừng quên lời Đấng Thánh-hiền còn đó, vẫn gọi mọi người hãy đọc đi rồi tự xét, như sau:

“Anh em hãy tự xét xem

mình có còn sống trong đức tin hay không.

Hãy tự kiểm điểm.

Anh em chẳng nhận thấy là

có Đức Giêsu Kitô ở trong anh em sao?

Trừ phi anh em đã thua trong cuộc kiểm điểm này.

Tôi hy vọng rằng anh em sẽ nhận thấy

là chúng tôi đây không bị thua.

Chúng tôi cầu xin Thiên Chúa

cho anh em đừng làm điều gì trái,

không phải để tỏ ra chúng tôi thắng,

nhưng để anh em làm điều thiện,

cho dù chúng tôi như bị thua.

Vì chúng tôi không thể làm gì chống lại sự thật,

nhưng chúng tôi chỉ có thể hoạt động cho sự thật.”

(2Cor 13: 5-8)

Nhắc nhớ lời thánh-hiền xưa căn-dặn, hẳn cũng thừa. Thừa hơn nữa, là khi lời nhắn ấy lại gửi đến đấng-bậc vị-vọng trong giáo-hội rất thánh của Đức Chúa. Nhắc nhở đôi điều gửi đến những ai còn có tham-vọng “làm lớn” hoặc nổi-tiếng như cồn ở đâu đó, có lẽ cũng chỉ nên nhắc và nhở bằng truyện kể hoặc tin tức…mình, ở đời thôi.

Nhưng trước khi cứu xét những sự việc như thế, tưởng cũng nên trở về với lời ca mà người nghệ-sĩ ở nhà từng dịch ra lời Việt và hát thêm, rằng:

“Ngồi dưới trăng lắng im nghe lòng ta

Thổn thức bao chuyện ngày qua… sầu đau

Hỡi người dấu yêu, sao đành nỡ quên…

Sao đành tình ta vỡ tan như cánh chim lìa bay?

Lòng đắm say những khi ta gần nhau,

Ngồi dưới ánh trăng dịu êm cùng mơ…

Con thuyền trôi về đâu dưới trăng vàng?

Cớ sao một mình ta ngồi dưới ánh trăng lẻ loi,

buồn vấn vương… chán chường…”

(Dưới Trăng – bđd)

“Buồn vấn-vương, chán-chường” có là tâm-trạng của người đời ở đời, sau khi đứng ‘trụ’ chốn cao trong phong-trào nào đó, tức ‘tiếng tăm’ của mình đã nổi đình/nổi đám suốt một thời, nhiều năm tháng như cặp đôi “đồng tính” ở địa-hạt thời-trang, nay có vấn-đề như sau:

“Chuyện đạo-đức trong sinh-hóa tuần vừa qua, lại xảy đến từ sàn diễn thời-trang ở Milan, nuớc Ý cho tới buổi phỏng-vấn tập-san Panorama ở đây nói về cặp bài trùng tạo mẫu thời trang là Stefano Gabbana và Domenico Dolce đã đả-kích hôn-nhân đồng tính luyến ái, thụ thai ống-nghiệm IVF và chuyện thay mẹ đẻ để sinh-sôi nảy nở…

Dolce và Gabbana từng chung sống như cặp tình nhân đồng-tính đến 20 năm, nhưng đã chia tay cách nhẹ nhàng vào năm 2005, dù đạt thành-công như người chung-phần đối-tác trong thương-vụ. Khi được hỏi, quý vị có muốn làm cha theo cung-cách nào đó không, thì Dolce trả lời ngay rằng:

“Tôi là người đồng-tính luyến-ái, nên không thể có con được… chúng ta sinh ra có cha có mẹ, hoặc ít ra là như thế, còn các trẻ không có cha có mẹ theo nghĩa tự-nhiên như thế, thì tôi gọi là “trẻ con sinh tự phòng dược, hoặc trẻ chế-biến tổng-hợp, sinh từ buồng trứng thuê mướn, do chọn tinh-trùng từ danh-mục hàng-hoá…”

Không những thế, nhà tạo mẫu Domenico Dolce, 57 tuổi lâu nay tự nhận là người Công-giáo vẫn còn đi nhà thờ khá đều-đặn, lại nói:

“Không thể tính chuyện sinh con theo cách thuê mướn tử-cung hoặc dùng hoá-chất mà tạo thành được. Cuộc sống, là giòng chảy tự-nhiên có những điều trong đời, ta không được phép thay đổi nó, mới đúng. Nếu quý vị sinh ra từ cung lòng người mẹ và do tinh-trùng của người cha đích-thực hoặc ít ra phải như thế. Làm khác đi, thì đó chỉ là đứa con từ phòng dược, tức trẻ được chế-biến theo cách tơ sợi tổng-hợp, thuê mướn tử-cung của ai khác, hoặc tinh-trùng được chọn từ tập danh-mục thương-mại, mà thôi.”

Trong khi đó Stefano Gabbana lại bảo:

“Gia đình không là ‘mốt’ thời-trang. Gia-đình phải có nghĩa siêu-nhiên gần gũi thân-thương của người nhà…” Vào lúc đó, Dolce lại đã thêm ý của Gabbana: “Đồng-công kiến-tạo là động-thái của tình yêu. Ngay các chuyên-gia tâm-thần cũng đang phải đối đầu với ảnh-hưởng của cuộc thực-nghiệm do mình tạo ra, nữa.”

Chuyện xảy ra là, khi nghe biết câu chuyện như thế, thì thần-tượng đồng-tính luyến-ái người Anh là ngài Elton John, tức cha của hai đứa trẻ sinh từ bà-mẹ-thuê-mướn thay cho mẹ ruột đã phản-ứng một cách rất nóng-giận và bảo rằng: sao các anh lại dám qui về các đứa con thân-yêu tuyệt-vời của tôi, rồi đặt tên cho chúng là trẻ bé sinh từ tơ sợi tổng-hợp? Các anh thật đáng xấu hổ chỉ biết chĩa tay vào ống nghiệm IVF thôi. Tư-duy của các anh nay lỗi thời rồi, hệt như thời-trang do các anh tạo ra nay không còn ăn khách nữa. Từ nay, tôi sẽ không thèm mua đồ Dolce & Gabbana tạo mẫu về mặc đâu..” (X. Michael Cook, Dolce & Gabbana spark internet frenzy over IVF, BioEdge 21/3/2015)

Xem thế thì, chuyện nổi đình/nổi đám đầy tiếng tăm suốt nhiều năm, đã trở-thành vấn-đề với nhiều người, những hỏi rằng: được thế đến bao lâu. Nổi cồn như thế, có làm cho bản-thân người nổi tiếng thêm được chút hạnh phúc nào không? Hoặc, có giúp người nổi tiếng trở-thành lành/thánh lâu năm không?

Trả lời câu hỏi gay-go/hiểm hóc này, thật cũng khó. Khó, là bởi những người như bạn và tôi, có lẻ ta chưa bao giờ được thế. Nên, thay vì trả lời cho đích-đáng, có lẽ cũng nên đi vào vùng trời truyện kể, để xem: có thể may ra cũng có trường hợp tương-tự.

Quyết thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta đọc thử truyện kể sau đây, rồi sẽ thấy:

“Truyện rằng:

Ngày xưa, có một họa sĩ tên là Ranga, một người siêu việt, vẽ được rất nhiều kiệt tác đáng ghi nhớ khiến ai cũng dều khen ngợi.

Ông mở một lớp học mỹ thuật để dạy nghề cho mọi người và cũng để tìm đệ tử nối nghiệp. Ông không mấy khi khen ngợi ai, cũng không bao giờ đề cập đến thời gian của khóa hoặc. Ông nói, một học trò chỉ có thể thành công khi ông hài lòng với kỹ năng và hiểu biết của người đó. Ông truyền cho học trò những phương pháp đánh giá, ước định của ông, và chúng cũng độc đáo như những tác phẩm của ông vậy. Ông không bao giờ thổi phồng tầm quan trọng của những bức tranh hay sự nổi tiếng, mà ông luôn nhấn mạnh đến cách xử sự, thái độ với cuộc sống của học trò.

Trong một số lượng lớn học trò, Rajeev là một người có tài nhất, chăm chỉ, sáng tạo,nên anh ta tiếp thu nhanh hơn nhiều so với các bạn đồng môn. Ông Ranga rất hài lòng về Rajeev.

Một ngày kia, sau bao nhiêu cố gắng, Rajeev được ông Ranga gọi đến và bảo:
-Ta rất tự hào về những tiến bộ mà con đã đạt được. Bây giờ là thời điểm con làm bài thi cuối cùng trước khi ta công nhận con thực sự là một họa sĩ tài năng. Ta muốn con vẽ một bức tranh mà ai cũng phải thấy đẹp, phải khen ngợi.

Rajeev làm việc ngày đêm, trong rất nhiều ngày và đem đến trình thầy Ranga một bức tranh tuyệt diệu. Thầy Ranga xem qua rồi bảo:

-Con hãy đem bức tranh này ra đặt ở quảng trường chính, để tất cả mọi người có thể chiêm ngưỡng.

Hãy viết bên dưới bức tranh là tác giả sẽ rất biết ơn nếu bất kỳ ai có thể chỉ ra bất kỳ sơ suất nào trên bức tranh và đánh một dấu X vào chỗ lỗi đó. Rajeev làm theo lời thầy: đặt bức tranh ở quảng trường lớn với một thông điệp đề nghị mọi người chỉ ra những sơ suất.

Sau hai ngày, Ranga đề nghị Rajeev lấy bức tranh về. Rajeev rất thất vọng khi bức tranh của mình đầy dấu X. Nhưng Ranga tỏ ra bình tĩnh và khuyên Rajeev đừng thất vọng, cố gắng lần nữa. Rajeev vẽ một kiệt tác khác, nhưng thầy Ranga bảo phải thay đổi thông điệp dưới bức tranh. Thầy Ranga nói phải để màu vẽ và bút ngay cạnh bức tranh ở quảng trường và đề nghị mọi người tìm những chỗ sai trong bức tranh và sửa chúng lại bằng những dụng cụ để vẽ ấy.

Hai ngày sau, khi lấy tranh về, Rajeev rất vui mừng khi thấy bức tranh không bị sửa gì hết và tự tin đem đến chỗ Ranga. Ranga nói:

-Con đã thành công vào ngày hôm nay. Bởi vì nếu chỉ thành thạo về mỹ thuật thôi thì chưa đủ, mà con còn phải biết rằng con người bao giờ cũng đánh giá bừa bãi ngay khi có cơ hội đầu tiên, cho dù họ chẳng biết gì về điều đó cả. Nếu con luôn để cả thế giới đánh giá mình, con sẽ luôn thất vọng. Con người thích đánh giá người khác mà không nghĩ đến trách-nhiệm hay nghiêm-túc gì cả. Mọi người đánh những dấu X lên bức tranh đầu tiên của con vì họ không có trách nhiệm gì mà lại cho đó là việc không cần động não. Nhưng khi con đề nghị họ sửa những sơ suất thì không ai làm nữa, vì họ sợ bộc lộ hiểu biết – những thứ mà họ có thể không có. Nên họ quyết định tránh đi là hơn. Cho nên, những thứ mà con phải vất vả để làm ra được, đừng dễ dàng bị ảnh hưởng bởi đánh giá của người khác. Hãy tự đánh giá mình. Và tất nhiên, cũng đừng bao giờ đánh giá người khác quá dễ dàng.” (truyện kể do St sưu-tầm gửi lên mạng)

Kể thế rồi, nay mời tôi và mời bạn, ta cứ đi vào giòng chảy những nghĩ suy để rồi tự mình rút ra bài học để đời cho mình, cho người, và cả đấng bậc trên cũng như dưới, rất Nước Trời.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những ngày

Nhiều nghĩ suy

Về những tiếng tăm

nổi cộm một thời

rồi cũng xẹp

trong âm-thầm.

Hoa rừng

Hoa rừng

Ngày trước làm công chức mắc lỗi mới bị đày lên Buôn Ma Thuột. Trường hợp của tôi thì khác. Tôi mới ra trường lại xung phong lên Buôn Ma Thuột làm việc. Nhiều người ngăn cản. Tôi có lý do riêng của mình. Thời còn đi học tôi mê chuyện đường rừng. Tôi có cô bạn hát bài : “Nụ cười sơn cước” rất hay tôi mê bài hát, mê luôn cảnh núi rừng. Tôi chọn lên Buôn Ma thuột để được dịp sống với núi rừng. Tuổi trẻ có những quyết định quan trọng cho cả đời người chỉ dựa vào những lý lẽ hết sức đơn giản, lãng mạn. Quả nhiên sau đó tôi có được nụ cười sơn cước đẹp như một đoá lan rừng và một cuộc tình giống hệt như tiểu thuyết đường rừng. Ngày nay, sau rất nhiều năm mỗi khi hồi tưởng lại kỷ niệm vẫn cảm thấy lâng lâng như trôi trong màn sương ngan ngát hương rừng, rơi la đà trong men rượu cần xanh rờn sắc núi. Song rồi lại cảm thấy hỗ thẹn và bối rối. Chuyện đã nhiều năm mà tưởng như mới hôm qua. Thật là một đoạn đời khó quên.

Khi chiếc xe đò cũ kỹ vừa qua khỏi Dục Mỹ ì ạch bò lên đèo Phượng Hoàng ngoằn ngoèo vắt mình qua mấy sườn núi, cảnh vật hai bên đường đột ngột mở ra một cõi rừng già nhiệt đới u minh trùng điệp. Mới đây cái nắng gay gắt khi đi ngang qua cánh đồng Dục Mỹ chưa dứt, tiếp tới hơi nóng hừng hực con đường nhựa như chảy ra loang loáng dưới ánh mặt trời lúc băng qua căn cứ Lam Sơn, chiếc xe đò nóng lên chẳng khác gì ngồi trong lò, đến đây bỗng nhiên xe như rơi vào biển băng. Những làn gió thổi trong rừng ra đem theo màn sương li ti lùa vào lòng xe, cho hành khách thấy khoẻ hẳn lên. Những cây rừng cổ thụ mọc sát bên đường dây leo như những con rắn khổng lồ quấn quanh chằng chịt. Cheo leo trên sườn núi là những chiếc chòi canh giữ rẫy nhỏ và dễ thương như tổ chim. Còn hoa rừng, hoa rừng nhiều vô số đủ màu sắc ẩn hiện trong lá. Và ơ kìa! Những người thượng (người dân tộc) từ trong sương bất ngờ hiện ra trông hư thực giống như màu sắc tranh lụa nhạt nhoà. Mấy người con gái để vú trần, vai mang gùi, miệng ngậm ống điếu dài. Những người đàn ông đóng khố da nhăn nheo như vỏ cây, vai mang cung tên. Mấy đứa trẻ con đen đúa trần truồng cùng với con chó săn vằn vện như hổ chạy theo sau. Tôi chồm ra khỏi xe ngoái nhìn theo họ. Giữa quang cảnh núi rừng hoang dại đoàn người lầm lũi đi thành một hàng dọc lặng lẽ, bí ẩn khiến cho tôi lên tưởng đến chuyện bùa ngải ma núi. Cảnh tượng thực lạ mắt, trước đây tôi chỉ đọc thấy trong sách rồi tưởng tượng ra. Tôi thấy cảm xúc của mình giống như người phiêu lưu tìm ra nền văn minh mới. Đất nước ta thực kỳ dị, chỉ mới đây thôi còn nhộn nhịp phố phường mà nay lại lọt vào chính giữa khu rừng nhiệt đới hoang vu bạt ngàn.

Về sau tôi được biết Buôn Ma Thuột là xứ sở của mây mù, buổi sáng mây bay tới tận giờng ngủ. Buôn Ma Thuột còn là xứ sở của hoa, hoa có tên và hoa không tên, hoa như cây dại mọc tràn tới thềm nhà. Buôn Ma Thuột còn là sự yếu mềm của lòng mình, muốn yêu, muốn khóc, muốn làm thơ…

Một buổi chiều, lần đầu tiên tôi làm công việc, hỏi cung các tội nhân. Anh Thư ký dẫn vào phòng một lão già người Thượng. Lão già đóng khố, màu da ám khói giống như quả bầu nậm treo giàn bếp, người Thượng dùng để hứng nước suối đội đầu đem về nhà. Lão ta đứng trước mặt tôi nét mặt như như tượng đá, đang chìm đắm vào cõi suy tư thoát tục. Lão điềm nhiên giống như đang ở một mình trong rừng. Hoàn cảnh khó khăn trước mắt không làm xao động nổi con người đặc biệt nầy. Điều đó thực là hiếm có. Ai đứng chỗ này, trước chiếc bàn của ông Dự Thẩm cũng đều run rẩy khiếp sợ. Số phận của họ trong phút chốc sẽ được định đoạt mà thường thường là bi thảm. Còn lão già này, ngược lại hoàn toàn dửng dưng. Hình như lối sống sơ khai của người miền cao tạo nên cho họ một tâm tính mộc mạc hồn nhiên, họ không lo lắng, không tự dằn vặt hành hạ mình, nhờ thế họ vượt qua dễ dàng những thử thách tinh thần kiểu nầy. Trong khi đó người Kinh nhất người giàu có hoặc có vai vế trong xã hội chỉ cần bỏ tù vài ngày, tinh thần thể xác họ suy sụp hoàn toàn.

Tôi hỏi, lão lắc đầu. Tôi lại hỏi, lão lại lắc đầu. Nhiều lần như thế tôi bối rối. Thế này làm sao hỏi cung ? Có lẽ đây là lần đầu tiên ở phòng Dự Thẩm tội nhân không sợ sệt chỉ có ông Dự Thẩm bối rối. Tôi chưa biết xử trí ra sao, ông lục sự ngồi giúp tôi trong việc chép lời khai nói

– Thưa ông dự thẩm, để tôi đi gọi Hơ Ly Êban.

Lần đầu tiên tôi nghe tới tên nầy. Số phận đã đưa đẩy Hơ Ly Êban đi vào đời tôi kể từ buổi chiều hôm đó. Hơ Ly là đoá hoa rừng, là quà tặng của xứ được mệnh danh là “Buồn muôn thuở”, một thứ trái cây dại vừa ngọt ngào vừa đắng chát, một sự hoà trộn tuyệt vời giữa hạnh phúc và khổ đau…

Lúc đó Hơ Ly khoảng hai mươi tuổi. Nàng là gái dân tộc Êđê, nếu cô ta có một vẻ đẹp như gái người Kinh thì tôi không kể làm gì, đàng này đó là một cô gái dân tộc Êđê có nguồn gốc chủng tộc Indonesien rất rõ, thể hiện ở vóc dáng, màu da, khuôn mặt. Nước da nàng ngâm ngâm một màu nâu vàng đất sét pha hồng của loại đất badan giàu chất sắt. Mái tóc nàng rậm đen đến độ xanh ánh lên như thép. Hai hố mắt nàng rất sâu chứa đầy bóng tối làm cho cái nhìn trở nên mềm như bông. Hai hàng mi cong cứng và cặp lông mày rậm là nét đặc trưng rất rõ của chủng tộc nàng. Khuôn mặt cô ấy vuông vức kiểu mặt chữ điền, tuy xương hàm hơi thô, ngược lại đôi môi nàng có một vẻ dịu dàng với làn da mỏng tanh, khô khô một vài vết nứt rạn li ti màu hồng nhạt như cánh hoa rừng, trông thấy thì muốn hôn. Cô ta thường mặc váy đen, áo sơ mi nhiều màu. Những ngày lễ lạc nàng mặc loại váy đặc biệt may bằng thứ vải đen dệt theo lối thủ công có nhiều đường chỉ màu sặc sỡ. Tôi không thấy Hơ Ly dùng son phấn bao giờ.

Hơ Ly nói tiếng Việt và tiếng Pháp lưu loát. Lúc trước nàng học trường Dòng vơi các Xơ. Hơ Ly làm thông ngôn cho Toà án. Thời đó người Thượng có toà án riêng gọi là toà án sắc tộc xét xử các vấn đề dân sự như tài sản, gia đình, căn cứ theo tập quán tục lệ mà kết quả thường là phạt trâu, phạt chiêng hoặc phạt ché là một loại lọ lớn dùng để ủ rượu cần. Riêng các tội thuộc về hình sự họ phải ra toà án thường. Hơ Ly là cây cầu ngôn ngữ bắt từ những người đồng chủng của nàng tới chúng tôi. Ban đầu tôi nghĩ Hơ Ly là người Eđê làm thông ngôn thì chẳng khó khăn gì. Sau khi hiểu rõ tôi biết sự việc không phải đơn giản như thế. Không phái bất cứ người Eđê nào cũng làm được. Hơ Ly biết gần bốn mươi thổ ngữ. Thực là một khả năng ngôn ngữ hiếm có. Tôi hỏi về chuyện này Hơ Ly nói :

– Ngoài tiếng Êđê ra còn nhiều thứ ngôn ngữ khác như Gia Rai, Sê Đăng, M’ Nông… Tuy cũng là người Êđê nhưng có khi làng nầy cách làng kia chỉ có một con suối nói vẫn không hiểu nhau được.

Tôi hỏi :

– Làm sao em học được nhiều thế ?

– Ngôn ngữ người dân tộc rất đơn giản. Cái gì họ có thì mới có tên gọi. Ví dụ trong cuộc sống giữa núi rừng làm gì có cái chợ, nên không có danh từ chợ. Họ nói “Nao sang chơ ” có nghĩa là đi sang chợ. Họ chỉ có Một chữ “Nao” là đi mà thôi. Cuộc sống thô sơ nên ngôn ngữ cũng hạn hẹp.

Cô ấy độc quyền trong việc nói năng. Cô ta thông ngôn đúng hay sai chẳng ai biết. Cho tới bây giờ tôi cũng không biết cô gái đẹp người Êđê nầy có lần nào tự ý giúp cho những người đồng chủng của nàng hay không ? Có nhiều lúc tôi chỉ nghe tội nhân ấp úng một vài lời nhưng Hơ Ly dịch thành một câu dài với mục đích biện bạch cho được sự vô tội. Nếu có thế thì vẫn tốt. Tôi xưa nay thường thích người yêu quê hương yêu đồng bào mình .

Sau giờ làm việc tôi thường giữ Hơ Ly lại trong văn phòng bắt nàng kể về phong tục tập quán người Tây Nguyên. Tôi hỏi vì sao người Thượng không bao giờ đi hàng ngang hoặc sánh vai bên nhau trên đường phố, dù là hai người thân cũng người trước người sau, còn đông người thì luôn luôn đi thành một hàng dọc. Hơ Ly giải thích :”Từ bao đời nay, người Sơn cước đi trên những con đường mòn trong rừng làm sao sánh đôi sánh ba cho được. Thói quen nầy ăn sâu trong mỗi người”. Hơ Ly kể nhiều truyền thuyết về núi rừng, mãnh thú, lửa, hoa và nhất là tình yêu trai gái. Chính Hơ Ly dạy cho tôi tiếng Êđê, trong đó có câu “anh yêu em”. Và tôi đã ứng dụng ngay bài học vỡ lòng nầy với người thầy của mình. Hơ Ly trả lời bằng một tràng tiếng Thượng, tôi không hiểu gì cả, rồi nàng cười . Ôi! Giọng cười của nàng vui như tiếng chim, xanh như lá mới, ngọt như trái rừng, reo vang như suối đỗ. Tôi nhớ bài “Nụ cười sơn cước” có đoạn :

…Một chiếc khăn màu trắng trong
Một chiếc vòng sáng long lanh
Với nụ cười nàng quá xinh…

Đúng là nụ cười của Hơ Ly. Tình yêu của tôi lớn nhanh như cỏ dại mùa mưa. Chúng tôi rong chơi với nhau trong rừng. Hơ Ly không bao giờ chịu đi dạo phố phường, đi ăn hay đi xem xinê. Tôi hỏi, nàng nói :”Kao khắp kley Hơ dip phung cư chang!” có nghĩa là em chỉ yêu thích thiên nhiên thôi.

Buôn Ma Thuột vào những năm đầu thập niên sáu mươi là một thành phố kỳ dị. Thiên nhiên xanh rờn mạnh mẽ lấn át phố phường. Từ trên máy bay nhìn xuống chỉ thấy một màu xanh ngút ngàn, con đường như sợi chỉ đỏ chạy quanh co. trong thành phố, có nhiều nơi bên này đường là phố xá, bên kia đã là rừng già nhiệt đới áp sát. Rừng thực là môi trường tốt cho những cặp tình nhân sung sức như chúng tôi. Tôi lái xe chở nàng chạy càn lên rừng hướng dương. Nhìn lại phía sau vết xe làm cho cây cối ngã rạp xuống thành một lối đi. Lần đó chúng tôi dừng lại bên suối. Thật là một nơi lý tưởng cho những cuộc tình hoang dại.

Giữa khu rừng vắng vẻ làm cho sự e dè ngượng ngập xâm chiếm cả hai chúng tôi. Chúng tôi ngồi bên nhau chẳng biết nói gì.. Hình như những ý tưởng riêng tư làm vấn đục tâm hồn. Hơ Ly để bàn tay nằm yên trên lớp cỏ xanh. Sau này tôi có làm bài thơ “Bàn tay trên cỏ” trong đó có câu :

Yêu nhau trên cỏ lá xanh mang về.

Sở dĩ có câu thơ trên vì có lần Hơ Ly nói lúc trở về nhà thay áo nàng thấy một mảnh lá cỏ xanh dính ở vú. Nàng cất nó trong chiếc phong bì làm kỷ niệm. Mấy ngón tay nàng nho nhỏ giống bàn tay trẻ con để yên hồi lâu. Tôi đặt tay lên, tay Hơ Ly lạnh, nàng hơi kéo tay lại. Tôi nắm chặt, nàng hơi vùng vẫy. Tôi giữ chặt hơn, Hơ Ly để yên. Đôi mắt nàng mơ màng nhìn về hướng núi đang chìm dần trong sương, nhưng có lẽ tất cả tâm trí nàng lắng nghe sự rung động của da thịt, cảm giác đụng chạm với người con trai Kinh. Tôi ôm nàng và hôn, Hơ Ly chẳng kháng cự gì cả. Nàng hoàn toàn thụ động.Trong khi hôn hàng mi dài của nàng chớp chớp chạm vào da mặt tôi, hàng mi cong và cứng một cách tự nhiên mà những cô gái Việt rất muốn, họ phải chải sáp hoặc mang lông mi giả. Tôi biết trong khi hôn nàng mở cặp mắt to ra nhìn ngạc nhiên sững sờ. Đó có lẽ là nụ hôn đầu tiên trong đời cô gái nầy. Nàng cuống quít nhưng chẳng biết làm gì. Cái hôn gây cho nàng sự lạ lẫm hơn là thú vị. Nên nhớ đây là một cô gái văn minh, có học, nói tiếng Tây như đầm, nhưng trong việc yêu đương cái bản năng hoang sơ vẫn còn ngự trị mạnh mẽ làm cho cô cảm thấy xa lạ lo âu, hôn xong cô ta mở đôi mắt thao láo ra mà nhìn. Tôi luồn tay vào trong áo nàng. Như mọi cô gái Thượng khác Hơ Ly không mặc nịt vú.Cặp vú tròn ấm áp của cảm giác trơn láng và rắn như trái rừng chín tới là tiêu biểu của bộ ngực gái miền sơn cước. Hơ Ly để yên cho tôi tha hồ sờ mó. Nhưng đến khi tôi muốn đi xa thêm một bước nữa thì nàng phản ứng kịch liệt. Nàng nói :”Không được. Phải có cha mẹ, có làng chứng kiến!” Tôi đòi nữa thì nàng nói :”Ở nơi đây không được, rừng cấm !” Tôi cứ đòi. Hơ Ly nói :”Thần núi phạt đó!” . Tôi hỏi phạt làm sao ? Hơ Ly nói :

– Sinh con ra có đuôi như đuôi con khỉ!

Tôi biết đây là cách của mấy người già bày đặt ra để doạ bọn con gái .

Những năm đầu thập kỷ sáu mươi Buôn Ma Thuột là một thành phố nhỏ chỉ có mấy đường phố. Người Kinh lên đây chưa nhiều. Những người làm nghề khai thác gỗ là giàu, người Pháp lập đồn điền cà phê đã lâu, người Hoa buôn bán. Cả phố chỉ có một rạp xi nê Lô đô. Có nhiều người đi buôn Thượng, thường là đổi chác, ít khi dùng tiền. Người ta đem muối, cồng, chiêng, ché và hạt cườm xanh đỏ đổi lấy lợn gà, ngà, xương hổ. Có một số y tá vào các buôn chữa bệnh sốt rét tiền thuốc cũng trả bằng thổ sản. Người Thượng rất thích tiền giấy mới. Có tiền mới thì bao nhiêu cũng bán. Phụ nữ thường mặc váy đen để mình trần. Họ đi ra chợ từng đoàn ẩn hiện trong sương sớm lạnh buốt. Món hàng quen thuộc là nhưng quả mướp khô chỉ còn lại xơ dùng để chùi xoon nồi. Thời gian này xã hội còn rất đơn giản cho nên mặc dù giữ trọng trách tôi vẫn có nhiều thời gian rỗi. Tôi thường vào rừng săn bắn. Tiếng là đi săn bắn nhưng tôi thường kiếm nơi thanh vắng, tìm gốc cây ôm súng ngả lưng đắm chìm vào cõi mộng mơ. Tôi đem giấy bút viết thư, làm thơ cho Hơ Ly. Những vần thơ này trước khi tới tay Hơ Ly nó đã làm cho người viết ra nó tan ra trong niềm hạnh phúc, thăng hoa thành thứ hơi núi màu lam mờ mờ vương vấn trong rừng cây. Có những bức thư trường giang đại hải viết về tình yêu hai người, kể lể về những lần gặp gỡ, và kể lại một cách tỉ mỉ về cảm giác của tôi khi chung đụng nàng. Khi viết lách về tình yêu người ta thường phóng đại sự việc lớn hơn nhiều lần, tôi cũng không tránh khỏi nhược điểm này. Vả lại tình yêu giữa chúng tôi đã tới thời kỳ chín muồi, có những điều thầm kín cần ghi lại và giữ riêng cho nhau. Tôi nghĩ nếu đó là một cô gái người Kinh chắc tôi không bạo dạn và tiến nhanh như thế trong tình trường. Đây là một bông hoa của rừng thẳm hoang dại nguyên sơ tôi cũng theo lối man rợ, yêu không kiểu cách, càn rỡ. Khi gặp nhau trong rừng Hơ Ly rất ít nói. Nàng thường ngồi yên để cho tôi tha hồ mặc sức hành động. Cô ấy chỉ mở cặp mắt to tròn ngơ ngác nhìn tôi một cách tò mò. Nàng buông thỏng hai tay, không một cử chỉ đáp ứng ngoài sự tò mò về những nụ hôn .

Một lần tôi theo Hơ Ly về buôn. Buôn của nàng gần thành phố, thuộc hạng giàu và văn minh. Gia đình nàng lại giàu nhất trong buôn. Cha nàng là người có uy tín trong bộ tộc Êđê và ngoài ra còn có danh tiếng trong giới cầm quyền người Kinh. Đây là lần đầu tiên tôi bước vào một ngôi nhà sàn. Tôi khó nhọc leo lên mấy bậc thang làm thân cây đẽo thành những chỗ để đặt bàn chân. Trong chiếc nhà sàn rất dài có nhiều gia đình. Hình như họ sống theo lối quần cư, nhiều gia đình sống chung trong một ngôi nhà. Bên dưới nuôi gia súc. Họ nuôi theo lối thả rông. Mấy con lợn nái bụng sà tới đất, hàng vú quét trên cỏ đang dẫn bầy con ăn một cành lá rừng. Tôi không biết đó là thứ cây gì, thật là một lối chăn nuôi đơn giản. Còn dê và gà thì nhiều vô số. Mấy con dê mới sinh màu lông chỗ trắng chỗ đen trông rất dễ thương.

Trong khi tôi con bỡ ngỡ thì lạ quá mọi người ở đây dường như đã biết tôi rất rõ . Không cần Hơ Ly giới thiệu họ biết rõ tên tuổi chức vụ của tôi. Mọi người gặp tôi đều chào hỏi niềm nở rồi lại cưòi, một cách cười hóm hỉnh. Lúc đó tôi chưa hiểu gì cả, nhưng chỉ năm phút sau vỡ lẽ. Trời ơi tôi chỉ có nước độn thổ !

Tôi thấy chỗ Hơ Ly ở rải rác đó đấy trên sàn nhà bằng cây nứa đập dập sánh lên láng bóng do con người qua lại nhiều lần là những lá thư và những bài thơ tôigởi cho nàng. Tôi cầm một tờ giấy lên xem, toàn là chữ nghĩa của tôi. Tôi hoảng hồn vì những diều tôi viết cho Hơ Ly là những bí mật của đôi trai gái. Mấy cô gái khác chẳng cần bảo họ cũng cất giấu loại bảo vật này, còn Hơ Ly lại đem thứ văn chương ái tình chia sẻ với mọi người. Tôi không làm sao hiểu nổi đoá hoa rừng này lại dám đem những chuyện riêng tư của mình ra kể cho cả làng nghe. Mấy lá thư đều nhàu, tôi chắc nàng đã đem nó ra đọc và dịch nhiều lần. Tới lúc này tôi mới hiểu vì sao mới gặp lần đầu mà mọi người ở chỗ thâm sơn cùng cốc này lại biết rõ tôi đến thế.

Tôi ngượng nghịu vô cùng chỉ muốn ra về liền. Hơ Ly tiễn tôi ra xe, tôi giận nàng lắm không nói một lời. Xe chạy hồi lâu tôi cũng nguôi ngoai dần. Tôi tự an ủi : Thôi cô ta đem chuyện ra kể cho mấy người trong cái làng Thượng hẻo lánh này cũng chẳng sao, ai ngờ sự việc không dừng lại ở đó. Mấy hôm sau tôi thấy các cô ở trong toà án tụm năm tụm ba lại đọc. Họ thấy tôi đi qua thì giấu, len lén đưa mắt nhìn trộm tôi rồi cười ruc rích. Thôi đích thị Hơ Ly lấy thư của tôi cho mấy người này xem rồi. Đọc xong mấy cô chuyển cho mấy cậu nhân viên xem. Mấy cậu này xem xong đưa cho ông chánh lục sự già xem, ông này trao lại cho ông chánh án thưởng thức thứ văn chương ái tình của tôi. Thực là những bức thư tình ướt át mùi mẫn có đôi chỗ pha thứ văn chương phòng the đồi truỵ. Khổ nhất là thời đó tuy tôi mới hơn hai mươi tuổi đã là một ông quan toà, đi dến đâu người ta cũng thưa bẩm. Một vị thẩm phán cầm cân nẩy mực giữ địa vị cao nhất nhì trong tỉnh lại làm cái chuyện lạ đời là viết thư tình cho một người con gái Thượng. Tôi chắc rồi đây thế nào cả cái thị xã Buôn Ma Thuột này cũng sẽ rõ chuyện. Cũng may không lọt về Bộ nếu không thì sự nghiệp của tôi cũng tan theo gió ngàn Buôn Ma Thuột .

Tôi gặp Hơ Ly trách :

– Tại sao em lại đem thư đọc cho cả làng nghe lại còn đem đến chốn công đường cho người ta xem ?

Không một chút ấp úng, Hơ Ly đáp :

– Ơ, anh viết hay quá mà, em đọc một mình nhiều lần rồi, phải cho người khác xem với chớ!

– Chuyện riêng tư ai lại cho người khác biết ?

– Cho người khác biết chớ, hề chi .

– Em không biết xấu hổ sao ?

– Chyện gì lại xấu hổ ?

– Chuyện kín của hai người mà .

– Chuyện đó có gì kín đâu? Trai gái ai lại không làm ?

Trước lời lẽ mộc mạc hồn nhiên của cô gái miền cao như thế này tôi làm sao trách cứ nàng cho được. Tôi chỉ biết trách mình đã không tìm hiểu đúng mức phong tục người miền núi mà đã dám yêu đương người ta. Thật đáng đời !

Sau đó hỏi chuyện một già làng tôi mới hiểu tâm tính khác thường của những cô gái miền Thượng du. Lão này nghe tôi hỏi thì trầm ngâm thả thứ khói thuốc mùi hăng hắc từ chiếc ống điếu làm bằng một lóng trúc dài với cái vỏ trái rừng khô. Lão ta dùng thứ tiếng lơ lớ giảng giải cho tôi hiểu đại khái rằng, người Êđê theo chế độ mẫu hệ, người nữ có quyền định đoạt mọi việc kể cả việc chọn người nào làm chồng. Con gái Thượng được kẻ nào yêu thương, nếu họ cũng thích người đó nữa thì họ sung sướng lắm. Họ thường đem chuyện yêu đương giữa hai người kể cho nhiều người khác biết để chung vui với họ. Ai ân giữa đôi trai gái là điều thiiêng liêng, tự nhiên, sạch sẽ như con chim con thú, không cần giấu diếm. Nhưng đem nhau vào rừng làm chuyện này thì họ kiêng cử lắm. Làng bắt được thì phạt vạ. Ông lão nói :

– Cái con mái quí lắm! Con gà mái, con heo nái, con chó cái đổi hai ba con đực người Thượng không đổi đâu. Con gái đi cưới chồng. “Bắt cái chồng” không mắc cỡ đâu!

Thời gian sau không hiểu vì sao Hơ Ly tìm cách tránh tôi. Mỗi lần thông dịch xong nàng tất tả đi ngay. Tôi tìm gặp hỏi chuyện, nàng nói :

– Thôi, không được đâu, không gặp nữa, không chơi nữa!

Tôi nói liều :

– “Bắt cái anh” về làm chồng đi !

Hơ Ly cười nói :

– Bắt không được đâu.

– Tại sao?

– Cha mẹ anh đòi nhiều lắm .

Tôi nói :

– Không đòi trâu dê cồng chiêng đâu. Cho em luôn, cho không, không đòi gì cả, cho luôn trái tim…

Hơ Ly lại cười. Ôi ! Nụ cười sơn cước chính hiệu một trăm phần trăm. Trong tôi trào dâng tình yêu nóng rực, tôi chồm tới ôm nàng vào lòng. Hơ Ly vùng vẫy kịch liệt. Tôi bắt chước mấy thằng tù, mấy tên lính nói càn một cách thô tục :

– Cho anh “bắt cái nước” (làm tình) đi !

– Không được, nói bậy! Người tử tế không được nói bậy. Không lấy nhau làm vợ chồng được đâu. Không lấy anh đâu. Không ngủ với nhau được đâu!

Tôi hỏi :

– Tại sao ?

– Không đẻ con ra tốt đâu…

Tôi kinh ngạc hỏi :”Tại sao?” Hơ Ly thì thầm như tiết lộ một điều bí mật huyền hoặc:”Trong buôn của em có chị Hơ Ring lấy anh lính người Kinh ở trung đoàn 45. Con đẻ ra chỗ trắng chỗ đen giống như con chó vá!”. Tôi lại hỏi :”Em có thấy không ?” Hơ Ly nói :” Không. Em nghe mấy người già trong làng nói. Họ không cho em cưới anh!”. Bây giờ tôi mới hiểu vì sao Hơ Ly lánh mặt tôi. Tôi nói :

– Họ nói bậy, không đúng đâu.

– Đúng mà, người già nói đúng mà !

– Tại sao em biết đúng ?

– Biết chớ. Rồi Hơ Ly kể cho tôi nghe:”Trong nhà em có nuôi con heo cái giống trắng. Tới thời kỳ, nó chạy vô rừng lấy con heo rừng. Con nó đẻ ra loang lổ. Mình lấy nhau con đẻ ra cũng như con heo lang!

Trời ơi cô gái cao nguyên này nghiên cứu cả sinh học. Lý lẽ nàng thực là hùng hồn, trắng đen lấy nhau con sinh ra chỗ trắng chỗ đen. Tôi biết đây là cách của mấy già làng nói doạ Hơ Ly. Tôi hỏi :

– Em không cưới anh thiệt sao ?

– Thiệt! Buồn lắm nhưng không cưới anh đâu. Không cưới ai hết. Sống như cái cây trong rừng vàng lá cành khô già đi rồi chết…

Lần này Hơ Ly ôm lấy tôi hôn rối rít vừa hôn vừa khóc. Không như những lần trước mở mắt ra nhìn, lần này nàng nhắm nghiền hai con mắt lại đẩy nước mắt ra ràn rụa chảy xuống đôi môi hai người làm cho cái hôn mặn chát…

Năm sau đó tôi đi khỏi Buôn Ma Thuột. Tôi về làm việc ở Huế rồi Quảng Ngãi. Được vài năm thì tôi xin thôi. Tôi chẳng có cái duyên mà cũng chẳng hợp với nghề xét xử con người. Từ đó tôi không còn biết tin tức gì của Hơ Ly. Tôi luôn luôn mong cho nàng có một cuộc sống tốt đẹp. Người như nàng xứng đáng được hưởng hạnh phúc trong tình yêu.

Quý Thể

TẠI SAO ĐẤT NƯỚC TA NHƯ THẾ NÀY?

TẠI SAO ĐẤT NƯỚC TA NHƯ THẾ NÀY?

Phạm Văn Chính

18-04-2015

Đất nước giàu có tại thiên nhiên

Ban tặng “tiền rừng bạc biển”

Người dân cần cù lao động

Có cả một vựa lúa đồng bằng Sông Cửu Long

Và châu thổ Sông Hồng

Xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới

Đất nước ta có biết bao tài nguyên hầm mỏ, đa dạng đủ loại không thiếu một thứ gì trong lòng đất, than khoáng sản, sắt, nhôm, đồng, chì, kẽm, thiếc, titan, suốt dãy núi Trường Sơn từ Nam ra Bắc, có cả một hệ thống sông ngòi lớn nhỏ hoàn chỉnh, giao thông thuận tiện.

Có 3.000 km bờ biển, có một thềm lục địa vĩ đại chạy dài từ vịnh Bắc Bộ đến các đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Bộ. Có cả hệ thống đảo ven bờ từ Bạch Long Vĩ Bắc Bộ đến đảo Phú Quốc, Nam Bộ. Đảo Phú Quốc to ngang tầm với đất nước Singapore.

Có biết bao nhiêu nhân tài trí thức, các nhà khoa học, các kỹ sư, giáo sư đủ loại cấp bậc, từ tiến sĩ, phó tiến sĩ, bùng phát nhiều như lợn con.

Còn có các nhà khoa học, nhiều bộ môn như kinh tế học, có cả một bộ máy nhà nước hoàn chỉnh ở các cấp bộ như Nông-Công-Thương nghiệp, Môi trường, Y tế. v.v…

Thế mà đời sống của người dân vẫn cực khổ. Tại sao???

Về nông nghiệp

Như đã nói ở trên, lúa gạo xuất khẩu ở nước ta đứng nhất nhì thế giới. Thế nhưng, mức thu nhập của người nông dân quá thấp, các phương tiện truyền thông cho biết, mức thu nhập bình quân của người nông dân trên 500.000 đ một tháng, tương đương 25 USD.

Vì mức sống quá thấp đó đã khiến hàng trăm nghìn cô gái rời bỏ quê hương đi lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc. Thậm chí lấy cả những ông già tàn tật, miễn sao thoát khỏi quê hương đau khổ. Rất nhiều câu chuyện đau lòng liên quan tới chuyện lấy chồng nước ngoài khác có thể tìm thấy ở trên các bài báo chính thống.

Ở nhiều nơi, nông dân chặt bỏ nhiều loại cây như cao su, ruộng mía vì bị ép giá không có người mua. Đáng lẽ ra nhà nước phải có ban điều phối đứng ra giải quyết những bất cập phát sinh có hại cho nông dân.

Về công nghiệp

Nước ta đã có các nhà máy ra đời cách đây nửa thế kỷ, như nhà máy đầu đàn khu Gang thép Thái Nguyên, cơ khí Hà Nội còn gọi là “Trung quy mô”, nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, Lương Yên, cơ khí Mai Động, Đồng Tháp, Minh Nam, Giải Phóng, Pin Văn Điển, nhà Máy Cao su, thuốc lá, Xà phòng, nhà máy dệt 8/3, Diêm Thống Nhất v.v…

Ta hãy tìm hiểu xem, thành tích tiến bộ của các nhà máy này có hiệu quả không? Hàng thập kỷ nay, như mọi người đã biết, sản phẩm chính của các nhà máy gang thép Thái Nguyên là thép xây dựng chưa làm được các loại thép công nghiệp như trục ray tàu hỏa, các loại thép công nghiệp phổ thông các cỡ U-I-L lớn nhỏ và các loại tôn kích cỡ dày mỏng cán nguội, cán nóng rất cần thiết cho ngành cơ khí chế tạo vỏ ôtô, mái nhà, tàu biển, mỗi năm các xưởng đóng tàu biển phải nhập hàng triệu tấn để làm vỏ tàu.

Đó là thực trạng ngày nay của nhà máy “Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên do Trung Quốc giúp đỡ”. Còn nhà máy cơ khí Hà Nội hay gọi là Trung quy mô do Liên Xô trước đây giúp đỡ xây dựng, chuyên sản xuất các loại, máy cắt gọt kim loại như máy tiện, máy khoan, máy phay bào và các dụng cụ cắt gọt .v.v… Thời gian trôi đi lạc hậu đeo bám so với thế giới gần một thế kỷ, hiện nay không biết ở đâu? Làm gì?

Nhà máy Trần Hưng Đạo chiếm cả một khu rộng lớn bao gồm mấy tuyến phố, Bà Triệu, Thái Phiên, Mai Hắc Đế chuyên sản xuất máy Bông Sen lắp vào xe công nông 3 bánh, mấy năm qua nhà nước cũng đã cấm loại xe này lưu hành vì nó xả khói bụi gây ô nhiễm môi trường và hay gây tai nạn.

Còn các nhà máy Đồng Tháp, Minh Nam, Lương Yên hình như đã xóa sổ, còn lại các nhà máy cao su, xà phòng, thuốc lá, cơ khí Mai Động, Giải Phóng, Pin Văn Điển đang cầm cự chờ số phận.

Nhà máy Pin ra đời cách đây nửa thế kỷ cũng chỉ sản xuất được hai loại pin Con Thỏ to đại, chưa làm được các loại pin “cúc” mỏng nhỏ sử dụng trong các đồng hồ nhỏ và đồ chơi trẻ em. Tại sao vậy? Với tình trang trì trệ, lạc hậu như vậy, làm sao công nhân, người lao động khá lên được?

Về thương nghiệp

Buôn bán trao đổi xuất nhập khẩu tổng hợp đa dạng các mặt hàng nông, lâm nghiệp, ngư nghiệp, khoáng sản, giày dép, quần áo và các thiết bị máy móc thiết bị điện tử, y tế, giao thông, tàu bè, ô tô…

Về xuất khẩu

Nước ta là nước nông nghiệp, chiếm 80% nông sản lúa gạo xuất đi các nước trên thế giới hàng triệu tấn mỗi năm, để các “thương lái” điều hành lũng đoạn thị trường vơ vét làm giàu bắt bí nông dân, mua với giá rẻ, không khác nào “cấy lúa trên lưng” người nông dân không am hiểu nắm bắt thị trường thế giới, bán phá giá cho các đối tác nước ngoài với số lượng lớn. Thua ngay cả Thái Lan về giá cả, làm thiệt hại cho nông dân và đất nước.

Về rau quả xuất đi nước ngoài cũng bị động thua thiệt, chủ yếu xuất sang Trung Quốc. Như mọi người đã biết, hàng năm “đến hẹn lại lên”, ngót một nghìn xe chở dưa hấu và các rau quả khác mắc kẹt ở cửa khẩu Tam Thanh tắc nghẽn đường chờ làm “thủ tục” ở phía Trung Quốc, chờ lâu hàng hóa ứ đọng thối nát phải đổ đi dọc đường, năm nào cũng diễn ra như vậy, thiếu phân bổ không nắm được hợp đồng chặt chẽ với đối tác trao đổi số lượng “chính ngạch” là bao nhiêu? Còn lại “tiểu ngạch” là bao nhiêu?

Ngược lại ta nhập của Trung Quốc rau quả, khoai tây, tỏi những thứ rau quả này tẩm hóa chất quá mức an toàn có hại cho sức khỏe. Chưa kể hết được các loại thực phẩm nhiễm vi khuẩn gây bệnh như thịt gà-bò-lợn ướp lạnh không rõ nguồn gốc, kể cả các loại ngũ tạng gà lợn ôi thiu v.v… Còn về xuất khẩu mặt hàng dệt may quần áo, giày dép chủ yếu là hàng gia công cho nước ngoài vì ta không có nguyên liệu.

Thua thiệt nhiều trong lĩnh vực trao đổi mua bán hàng hóa do sự lệ thuộc ít hiểu biết thị trường thế giới cập nhật hàng ngày, bỏ qua những thông tin bổ ích, thiếu suy nghĩ không biết làm, hàng năm đã xuất thô bao nhiêu khoáng sản kim loại quý như titan, aluminum (nhôm) v.v… với giá rẻ, làm cho đất nước nghèo đi. Vậy còn gì nữa đây?

Có lẽ xuất khẩu lao động là khả thi nhất, vì có nhiều mối lợi xóa đói giảm nghèo, người đi lao động phải nộp một khoản tiền. Nhiều người thậm chí bán cả nhà hoặc vay ngân hàng để đóng lệ phí, để đi sang các nước “tư bản bóc lột”, cũng kiếm được một số tiền kha khá đổi đời gửi tiền về cho gia đình và không ít những người bị lừa trắng tay, rơi vào cảnh bần cùng không lối thoát.

Bất kỳ ở đâu khi tiếp các lãnh đạo nước ngoài, đại diện của ta luôn kèm theo quảng bá chào hàng, lao động dư thừa giá rẻ hấp dẫn, ký kết hợp tác lao động có cả triệu người sang các nước kể cả Thái Lan, Malaysia, Singapore, Síp, thậm chí cả các nước Trung Đông thuộc châu Á như Qatar, các nước ARập rất giàu có về tài nguyên dầu mỏ nhưng ngược lại rất nghèo về đạo lý tình người. Ở nơi đó rất cần nhiều lao động để lấn biển, mở sân bay rộng lớn tầm cỡ nhất nhì thế giới; ở nơi đó thiếu văn minh đúng nghĩa của nó đối xử với lao động quá tồi tệ không có an toàn lao động, tai nạn chết chóc xảy ra thường xuyên với mức lương quá thấp so xới sức lao động bỏ ra. Nhiều người đã bỏ mạng nơi đất khách quê người vì nơi ăn ở thiếu thốn, ốm đau bệnh tật, nơi đó quả thật là địa ngục trần gian, qua các tư liệu thông tin hình ảnh cho biết.

Về nhập khẩu

Nhiều thiết bị, máy móc ta không làm được phải nhập loại có giá trị cả triệu USD, do đó nhập siêu nhiều hơn là xuất.

Nhiều thứ nhập rồi bỏ đi làm sắt vụn, đồng nát như máy bay, tàu biển, ụ nổi Vinashin và nhiều thiết bị khác không kể xiết, chỉ kể một số sự việc được các thông tin truyền thông đăng tải vừa qua. Trong nước có nhiều biển cảng, riêng cảng Hải Phòng chứa trên dưới 10.000 container siêu trường, siêu trọng loại to đổ phế liệu rác thải bỏ đi; những người mang về chứa hàng chục năm nay, chắc hẳn phải có thế lực họ không am hiểu về chuyên môn, hám lợi, thiếu cái tâm.

Về môi trường

Sức khỏe và sự sống của con người là do môi trường trong sạch, trong đó có nước và không khí, đặc biệt quan trọng với sức khỏe con người. Đất nước đang đi vào công nghiệp hóa, các nhà máy mọc lên khắp nơi, khói bụi và nước thải bừa bãi làm chết biết bao con sông, hóa chất độc hại thấm sâu vào đất, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và các loại rau quả, sinh vật, cá, tôm, tép đều chết, đã xuất hiện nhiều làng ung thư, gây nên nỗi đau cho người dân ốm đau mắc bệnh ung thư. Trách nhiệm này thuộc về cơ quan chức năng bảo vệ môi trường chưa làm hết trách nhiệm với dân, các chế tài chưa mạnh không có sự đền bù cho dân ốm đau bệnh hoạn ở các làng ung thư, người dân biết kêu ai? Hầu như không có một cơ quan nào đứng ra bắt các nhà máy phải đền bù cho dân, làm sống lại các con sông chết (việc này ở miền Nam làm tốt hơn miền Bắc).

Về y tế

Đời người ai cũng ốm đau, ít nhất cũng vào viện đôi ba lần, những điều muốn nêu lên ở đây là viện phí quá đắt so với mức sống thu nhập của người dân. Trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam, đi khám qua loa vài cái xét nghiệm cũng mất tới 4- 5 triệu, chưa kể tiền thuốc, mức chi phí này vượt quá mức lương lao động trong một tháng của người dân. Nếu bệnh nan y phải phẫu thuật, hóa trị, xạ trị vv… ôi thôi khỏi phải nói! Số tiền chữa bệnh có thể lên đến hàng trăm triệu thậm chí cả bạc tỉ. Người lao động làm cả đời cũng không để dành được số tiền đó. Nói về thẻ bảo hiểm, có hỗ trợ gì đâu vì bệnh nhân hầu hết là trái tuyến, không có thanh toán.

Tôi đã từng là bệnh nhân phải vào viện K điều trị trong hoàn cảnh 4 người nằm một cái giường con, giá tiền nằm một ngày là 80.000 đ; giường quá nhỏ, ngồi cũng không đủ cho 4 người. Vậy ban quản lý hay giám đốc có biết không? Còn rất nhiều chuyện kiếm tiền của bệnh viện nói ra thì trang giấy này không đủ. Nói riêng về thiết bị máy móc quá cũ, hỏng luôn, bệnh nhân phải chờ đợi, tôi là người trong cuộc thấu hiểu rõ cách đối xử với bệnh nhân của bệnh viện, hầu như tất cả các bệnh viện đều quá tải. Tại sao vậy?

Ốm đau nhiều, vì môi trường, vì tai nạn, ít am hiểu phòng bệnh. Để giảm tải sự ốm đau, tốt nhất là ngành y tế có phương pháp tổng thể tuyên truyền khắp nơi trên các phương tiện truyền thanh, truyền hình từ bản làng đến các xã, huyện, thành phố, dán áp phích, tờ rơi nói về cách phòng các loại bệnh. Cách làm này ít nhiều cũng có kết quả.

Là người Việt Nam, tôi thấu hiểu trình độ dân trí hãy còn thấp, ít ai quan tâm đến báo chí tin tức thời sự, chính trị, khoa học, kinh tế, xã hội… bỏ qua các thông tin bổ ích trong đời sống, chỉ thích các loại phim truyện tầm phào, hài hước, chuyện vui, chuyện hài vv…

Nắm được tâm lý ý dân, Bộ y tế, Bộ giao thông liên kết với Bộ văn hóa, cho ra đời những tiểu phẩm chuyên nói về cách đề phòng các loại bệnh và luật giao thông an toàn nhờ các diễn viên hề nổi tiếng đóng trong các tiểu phẩm hay clip chiếu rộng rãi trên các kênh TV hàng ngày giảm bớt chương trình quảng cáo thương mại hóa, lợi thì ít, hại thì nhiều. Các tiểu phẩm này nêu cả sai trái của người tham gia giao thông, trên các phương tiện đi bộ, đi xe đạp, xe máy, ô tô, nếu làm được những điều kể trên thì tin chắc tai nạn giao thông sẽ giảm và bệnh viện không còn nỗi lo quá tải.

Nhớ lại thời Pháp thuộc xa xưa cách đây gần một thế kỷ (70 năm) đã cho chiếu bộ phim hoạt hình ở khắp thành phố, bến xe, chợ quán. Bộ phim nói về 3 loại bệnh xã hội phổ thông như: lao phổi, tiêu chảy, sốt rét và cách phòng chống. Những ai xem đều có ấn tượng sâu sắc không thể nào quên. Tại sao Bộ Y Tế không làm được việc đó?

Ngày nay hệ thống truyền thông bùng nổ, các dạng truyền thanh, truyền hình suốt ngày đêm (24/24 tiếng) phát hầu hết các chương trình sinh hoạt chính trị.

Kỷ niệm năm này, năm kia của đất nước cũng như các ngành bộ đua nhau kỷ niệm ngày thành lập 5-10-20 năm v.v… chưa kể một số phim truyện nước ngoài quá dài, hàng trăm tập xen kẽ vào quảng cáo nhiều, còn đưa ra chương trình văn hóa giáo dục công dân.

Có lẽ truyền hình Việt Nam đứng đầu về quảng cáo so với các hãng truyền thông trên thế giới như CNV- Nhật Bản (NHK World), Dicovery, National – Geogranphic – Pháp v.v…

Nếu không sớm bừng tỉnh, mở tầm mắt nhìn ra thế giới, tương lai Việt Nam sẽ đi về đâu? Nguyên nhân tại sao đất nước Việt Nam như thế này? Ở cái tuổi gần đất xa trời, sống trong tổ quốc, tôi đang tìm hiểu lý do tại sao?

Xin phép được nói rõ: Tôi là người dân (đúng nghĩa của dân thường) bị loại bỏ, không được làm ở cơ quan nhà nước, cũng không được học ở trường lớp nào, tự học nghiên cứu đa lĩnh vực khoa học, công nghệ, chế tạo, kinh tế, chính trị, văn hóa v.v… Lao động làm thợ ở các HTX thủ công từ thời bao cấp (HTX) cho đến khi HTX giải thể (tan rã). Về hưu tay trắng, không có lương hưu. Gần suốt cuộc đời “cầm búa”, đến nay mới cầm bút, viết bài này chắc chắn hãy còn nhiều thiếu sót, mong mọi người đóng góp thêm.

Phạm Văn Chính

37 Lý Nam Đế – Phường Hàng Mã

Quận Hoàn Kiếm – Hà Nội

ĐT: 097.52291