Lời Nguyện Gia Đình Xứ Đạo – P. Trung – D. Hiền
httpv://www.youtube.com/watch?v=9lUVtgeO-Qs&feature=youtu.be

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
httpv://www.youtube.com/watch?v=9lUVtgeO-Qs&feature=youtu.be
Cảm tưởng của anh chị em Homeless được vào thăm Bảo Tàng Viện Vatican
Balan cư trú ở cái lườn của con đường chính dẫn vào Quảng Trường Thánh Phêrô (Via della Conciliazione). Ông đã sống 20 năm trên hè phố và đang ở vào tuổi 51. Ông sống ở đây khoảng 7 tháng rồi. Hôm Thứ Năm, 26/3/2015, ông cũng thuộc về 150 khách vô gia cư được mời vào thăm Bảo Tàng Viện Vatican lần đầu tiên, nhất là nhờ đó còn được trực diện với Đức Thánh Cha và bắt tay ngài nữa: “Đó là một kinh nghiệm mà tôi sẽ mang trong mình cho đến ngày cuối đời của tôi… Tôi cảm thấy sung sướng suốt đêm hôm qua”.
Ngày hôm sau, nhóm vô gia cư của ông chẳng làm gì ngoài việc nói chuyện với nhau về ngày đặc biệt hôm qua. Đại diện cho họ là chính ông vì kiến thức của ông về người Ý. Ông cho biết:
“Chúng tôi được trong các nơi Bảo Tàng Viện rất lâu… Những nơi ấy rất ư là đẹp! Sau cùng chúng tôi đến Nguyện Đường Sistine rồi chúng tôi được bảo ngồi xuống. Chúng tôi nghĩ rằng sẽ có Lễ lậy, cầu nguyện gì chứ, một việc gì đó giống như vậy…. Thế nhưng, từ bên trong cánh cửa, vị phát chẩn Don Corrado (Đức Tổng Giám Mục Konrad Krajewski) xuất hiện và bên cạnh vị này là Đức Giáo Hoàng. Trời đất ơi – My goodness!”
“Chúng tôi đã vỗ tay vang lừng. Ngài đã chào chúng tôi; chúng tôi đã cám ơn ngài. Sau đó chúng tôi cùng nhau đọc ‘Kinh Lạy Cha’. Đức Giáo Hoàng thậm chí còn cho chúng tôi được chụp hình với ngài. Do đó có nhiều tấm hình chụp và Đức Don Corrado đã hứa mang lại cho chúng tôi. Thế rồi Đức Giáo Hoàng đã chào từng người chúng tôi. Ngài đã bắt tay tất cả 150 người bạn có biết không? Trời ơi là trời – My goodness…”
Khi được bắt tay Đức Giáo Hoàng, “tôi đã nói cùng ngài rằng: Xin cám ơn Đức Giáo Hoàng. Con chúc Đức Giáo Hoàng rất nhiều điều tốt đẹp, nhất là được mạnh khỏe. Ngài đã mỉm cười và nói ‘cám ơn anh, cám ơn anh…'”
Được mạng điện toán toàn cầu Zenit hỏi “bạn có cảm động hay chăng?”, câu trả lời lập tức được phát biểu rằng “làm sao lại không cảm động chứ. Tôi cũng đã chảy nước mắt ra. Các bạn của tôi cũng khóc, cho dù bấy giờ họ có vẻ khô cằn cứng cỏi… Tôi đã khóc vì tôi biết tôi được may mắn, ở chỗ không phải hết mọi người đều có thể gặp được Đức Giáo Hoàng sát ngay bên, được hôn tay của ngài, được ôm lấy ngài…”
“Tôi liền gửi một lời nhắn cho đứa con trai 23 tuổi của tôi đang sống và làm việc ở Balan, và tôi nói với cháu rằng: ‘Eric ơi, bố đã được gặp Đức Giáo Hoàng! Bố đã sung sướng khóc … Có ngày bố sẽ gửi cho con các tấm ảnh chụp nhé!”
“Tôi còn rất nhiều điều phải nói, phải nhớ…”. Người đại diện nhóm anh chị em vô gia cư phát ngôn này cho biết ông vẫn còn giữ tấm vé mời thăm Bảo Tàng Viện Vatican ở trong túi: “Tôi muốn giữ nó như là một kỷ niệm…” Thậm chí ông xin lỗi không dám mang nó ra khoe với người phỏng vấn: “Tôi sợ rằng nó bị hư hại”.
“Đức Giáo Hoàng Phanxicô yêu thương chúng tôi. Ngài đang thực hiện nhiều sự cho chúng tôi: nào là phòng tắm, nào là hớt tóc, nào là dù che mưa, nào là thăm bảo tàng viện v.v. Tôi cũng nghe thấy rằng ngài đang muốn có một chiếc xe chuyên chở nhỏ để lo cho những ai cần chăm sóc sức khỏe. Chúng tôi thực sự là sung sướng về hết mọi sự”.
Liên quan đến phòng tắm: “Chúng tôi may mắn có được những phòng tắm này. Hằng ngày chúng tôi được tắm rửa và đi đây đó một cách lịch sự. Chúng tôi không còn cảm thấy xấu hổ bởi người ngợm xông mùi nữa”.
Về vấn đề hớt tóc: “Thật vậy, tôi đã đến hớt tóc Thứ Hai vừa rồi. Giờ đây tôi sẽ đến đó một lần nữa, vì tôi muốn tóc tôi trọc lóc. Chẳng bao lâu nữa sẽ bắt đầu nóng rồi… Thế nên tôi sẽ cạo trọc vì tôi không cần mua lược chải”.
Tất cả những điều ấy “thực sự là những gì quan trọng đối với chúng tôi, chúng đều hữu ích. Đức Giáo Hoàng hiểu được điều ấy. Ngài yêu thương chúng tôi”.
“Mỗi một buổi sáng chúng tôi giục nhau rằng ‘chúng ta hãy cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Vào lúc 9 giờ sáng, các nữ tu đến với chúng tôi, đôi khi có cả 1 vị linh mục nữa, và họ giúp chúng tôi cùng nhau cầu nguyện. Chúng tôi bao giờ cũng cầu cho Đức Giáo Hoàng, cho sức khỏe của ngài, vì chúng tôi muốn ngài sống lâu dài. Dù sao chúng tôi cũng cầu cho tất cả mọi vị linh mục cũng như cho dân chúng… cho người tốt lành, những người làm lành cho chúng tôi. Nhiều lắm…”
Xin xem một đoạn video clip về cuộc viếng thăm của 150 anh chị em homeless ở Rôma vào thăm Bảo Tàng Viện Vatican Thứ Năm 26/3/2015: http://www.romereports.com/pg160864-150-homeless-get-exclusive-tour-of-the-sistine-chapel-en
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, tổng hợp
Cảm tưởng Homeless thăm Bảo Tàng Vatican
“Đó là một kinh nghiệm mà tôi sẽ mang trong mình cho đến ngày cuối đời của tôi… Tôi cảm thấy sung sướng suốt đêm hôm qua”.
Theo nhau leo rào vào công viên nước tắm “chùa”
HÀ NỘI (NV) – Hàng ngàn người đã chen nhau vào tắm “chùa” tại một công viên nước ở Hà Nội, thậm chí còn leo hàng rào sắt, bất chấp nguy hiểm đến tính mạng cho bản thân.
| Thanh niên nam nữ theo nhau trèo hàng rào sắt để vào tắm “chùa”. (Hình: VNExpress) |
Nhiều báo ở Việt Nam cho hay buổi sáng ngày Chủ Nhật, 19 Tháng Tư, 2015, Công viên nước Hồ Tây thuộc quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội đã “mở cửa miễn phí từ 8 giờ đến 10 giờ sáng để tri ân khách hàng nhân kỷ niệm 15 năm thành lập.”
Vì người đến tắm “chùa” quá đông, đến khoảng 9 giờ sáng thì hàng ngàn người đã phải xếp hàng dài đợi tới phiên mình được vào hồ bơi. Thay vì xếp hàng, rất nhiều người, cả nam lẫn nữ, đã leo hàng rào sắt để vào bên trong, khi thời gian miễn phí đã hết, dù hàng rào sắt có nhiều móc nhọn.
Vì số lượng người quá đông quá sức chứa của hồ, người ta thấy hồ tắm đầy những người đứng san sát với nhau trong nước, không còn chỗ để bơi.
“Đoán trước tình hình, công viên đã nhờ gần 100 người thuộc trật tự phường, dân quân tự vệ để đảm bảo trật tự. Lực lượng bảo vệ của công viên gồm 70 người đã bắc loa thông báo với người dân không trèo rào nguy hiểm, hướng dẫn cho người dân đi theo trật tự. Tuy nhiên, do lượng người quá đông nên tình trạng lộn xộn vẫn diễn ra,” VnExpress kể.
![]() |
| Hàng ngàn người chờ phía ngoài công viên nước Hồ Tây vì cái tin cho tắm miễn phí từ 8 giờ đến 10 giờ ngày Chủ Nhật 19/4/2015. (Hình: VnExpress) |
Bất cứ cái gì miễn phí ở Việt Nam cũng dễ dẫn đến cảnh xô đẩy, chen lấn, tranh cướp mà người ta thấy xảy ra hàng năm khi diễn ra các lễ hội theo tin các báo trong nước vẫn đưa. Thậm chí dẫn đến đánh nhau vỡ đầu sứt trán.
Cuối Tháng Mười, 2013, một nhà hàng Nhật Bản ở phố Đoàn Trần Nghiệp, Hà Nội, quảng cáo mời ăn sushi miễn phí ngày khai trương 24 Tháng Mười. Họ chỉ mời ăn giới hạn buổi sáng và chiều là 180 người, buổi tối là 280 người nhưng hàng ngàn người đã đến đây, đứng tràn cả xuồng lòng đường.
Những người vào được phía trong thì “chen lấn, xô đẩy chỉ mong giành được phần ăn cho mình. Thậm chí, một số khách sẵn sàng nhảy vào bếp lấy thức ăn trong đó, rồi đứng ăn luôn, không cần phục vụ,” theo bản tin VietNamNet.
VietNamNet nói rằng, “Nhiều người lấy cả khay đồ ăn nhưng chỉ ăn một miếng rồi bỏ, trong khi nhân viên cửa hàng phải ra chợ mua gấp để phục vụ khách. Sự việc đã gây xôn xao trong dư luận. Hành động chen lấn, xô đẩy của những người tham gia sự kiện được xem là thiếu văn hóa và rất đáng xấu hổ.”
Buổi chiều ngày 12 Tháng Chín, 2013, tòa đại sứ Hòa Lan tổ chức phát miễn phí 3,000 áo mưa cho người qua đường tại cửa của UBND quận Ba Đình, Hà nội.
Tuy nhiên, theo báo chí tường thuật “chỉ vài phút sau khi đại diện người Hà Lan có những lời chúc tốt đẹp tới người dân xung quanh, không khí thay đổi nhanh chóng và trở nên hỗn loạn. Mọi người tranh giành nhau, ai cũng cố gắng lấy nhiều nhất những món quà thiện chí về tay mình. Có người còn trèo lên cả sân khấu để cướp từ tay các tình nguyện viên và nhân viên đại sứ quán.”
![]() |
| Hồ tắm nghẹt người, không còn chỗ bơi. (Hình: VnExpress) |
Theo VietNamNet, “Có những lúc, diễn giả gần như phải ‘hét’ lên: ‘Đề nghị mọi người không tranh giành, nếu không, chúng tôi sẽ dừng chương trình ngay lập tức!’ Chỉ 35 phút sau khi chương trình bắt đầu, 3,000 chiếc áo mưa đã được lấy sạch. Sự kiện này đã để lại những hình ảnh rất xấu của người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.”
Chỉ ít ngày trước đó tức ngày 16 Tháng Mười, 2013, “Anh Vũ Trường Chính (42 tuổi, ngụ quận Phú Nhuận, Sài Gòn – là giám đốc chi nhánh tổng công ty Xây Dựng Miền Nam). Khoảng 9 giờ 15 sáng 16 Tháng Mười, anh đi xe máy về hướng quận 1, mang theo 50 triệu đồng (tiền mệnh giá 500.000 đồng) bỏ vào túi quần bên phải cùng với chiếc ĐTDĐ iPhone 5, đến ngân hàng để nộp vào tài khoản.”
“Trong lúc anh đang chờ đèn đỏ ở giao lộ Bà Huyện Thanh Quan-Võ Văn Tần thì bất ngờ từ phía sau, anh bị 4 thanh niên thò tay móc cọc tiền. Mặc dù vậy, anh Chính vẫn cố gắng quăng xe chạy theo giằng co bọc tiền với tên cướp. Trong lúc hỗn loạn, bọc tiền rớt xuống đường bay tung tóe. Thấy vậy, nhiều người đi đường không giúp đỡ anh còn dừng lại nhặt tiền, lên xe chạy mất. Nạn nhân chỉ gom được 30.5 triệu, còn 19.5 triệu đồng bị người đi đường lấy mất,” theo VietNamNet. (TN)
Về phát biểu của PGS TS Vũ Quang Hiển: Một “truth denier” của Việt Nam
Các bạn phải chuẩn bị tinh thần! Phải bình tĩnh để đọc phát ngôn sau đây: “Tôi nghĩ rằng sau chiến tranh, Việt Nam không có ngược đãi đối với mọi người. Bởi vì chính sách lúc ấy của nhà nước Việt Nam là chính sách hòa hợp dân tộc. […]Thế còn việc tập trung học tập hay cải tạo, tôi nghĩ đấy là để học cho nó rõ chính sách của nhà nước Việt Nam thời bấy giờ. […] Chứ không có nghĩa là một chế độ tù đầy” (1). Nếu có thì giờ, nên nghe cái tape phỏng vấn và những phát biểu của ông thì sẽ rõ hơn, nhưng ý chính là như trích dẫn trên. Ai nói thế? Xin thưa, đó là Tiến sĩ Vũ Quang Hiển, phó giáo sư, sử gia của Đại học Quốc gia Hà Nội (2). Xin nhắc lại để khỏi nhầm lẫn: sử gia của Đại học Quốc gia Hà Nội. Nhìn qua lí lịch khoa học (2) thì thấy đây là một sử gia rất tiêu biểu của “triều đình” (còn gọi là sử gia cung đình). Tôi nghĩ chỉ riêng câu nói đó đã đủ để ông có thêm một chức danh nói theo tiếng Anh là “truth denier”, tức là kẻ phủ nhận sự thật. Rất nhiều người, không phải là sử gia, có thể thấy ngay rằng ông đã sai lầm. Tù cải tạo là một thực tế đã xảy ra. Nhục hình, có khi tra tấn đã xảy ra. Có nhiều người chết trong các trại tù cải tạo. Tất cả những điều đó là sự thật. Ấy thế mà ông phó giáo sư sử học lại phủ nhận thì chúng ta có lí do để chất vấn tính trung thực của ông ấy, dù là tính trung thực của người làm khoa học xã hội.
Có bao nhiêu người đi tù cải tạo?
Con số tù cải tạo chính xác thì rất khó có được vì phía chính quyền nắm giữ và họ chưa tiết lộ. Nhưng trang wikipedia có hẳn một entry dành cho tù cải tạo (3). Dò theo nguồn này, chúng ta sẽ thấy một số nguồn ước tính, và con số tù cải tạo rất lớn. Đáng chú ý là một bài trên thuvienhoasen.info thấy tác giả trích dẫn tài liệu mang bí số TN/QP-14 ngày 14/2/1977 tại Cục lưu trữ Quốc phòng thì: “Tổng số tù nhân tham gia học tập cải tạo để trở thành con người mới sau khi chế độ Sài Gòn đầu hàng là 1.321.506 người. Trừ những số trốn trại, bị chết trong lúc cải tạo và già yếu trả về với gia đình, bộ quốc phòng giao lại cho bộ nội vụ quản lý là 1.236.569 người” (4). Rất tiếc là tác giả không cho thấy hình ảnh, nhưng hãy tạm xem đó là một nghi vấn. Tài liệu đó (4) cũng có trích dẫn tài liệu từ Viện bảo tàng VN tại San Jose với vài thống kê từ phía VNCH như sau:
Theo tác giả cuốn “Le Livre Noir du Communisme: Crimes, Terreur, Repression” của Robert Laffront thì “Sau năm 1975 ở miền Nam có hơn 1.000.000 người thuộc diện phải ra trình diện. Theo đó Phạm Văn Đồng đã chỉ đạo bắt giữ con số người phải trải qua giam giữ sau này 30/4/1975 là hơn 200.000 trong tổng số 1 triệu người ra trình diện. Tính đến năm 1980 thì chính phủ Việt Nam công nhận còn 26.000 người còn giam trong trại. Tuy nhiên 1 số quan sát viên ngoại quốc ước tính khoảng 100.000 đến 300.000 vẫn bị giam. Ước tính của Hoa Kỳ cho rằng khoảng 165.000 người đã chết trong khi bị giam” (trích từ #4). Một tài liệu tổng hợp khá công phu từ những chứng nhân và học giả từ Đông Nam Á, nhóm tác giả đi đến những ước tính là có khoảng 1 triệu người bị giam giữ không được xét xử; trong số này có đến 165 ngàn người chết trong các trại tù cải tạo (5). Theo báo cáo của Quĩ Aurora thì năm 1983 có hơn 1 triệu người miền Nam đã bị bắt đi “cải tạo”. Lúc đó, Việt Nam có trên 150 trại cải tạo. Trong số trên 1 triệu đó, có khoảng 500 ngàn người được trả tự do trong vòng 3 tháng; 200 ngàn bị tù từ 2-4 năm; và 240 ngàn bị tù trên 4 năm; và vài chục ngàn tù trên 10 năm. Có thể nói thời đó, gia đình nào ở miền Nam cũng có người bị bắt đi tù cải tạo.
Địa ngục trần gian
Trại cải tạo thường được các trại viên mô tả là “địa ngục trần gian”. Có người còn nói rằng những trại ở Siberia của Stalin chưa chắc thấm gì so với trại tù cải tạo ở Việt Nam, vì thiếu thốn đủ thứ. (Thời đó thì cả nước thiếu thốn lương thực, thực phẩm và thuốc men & thiết bị y tế, chứ chẳng riêng gì trại tù.) Đã có hàng ngàn tài liệu viết về tù cải tạo, và thông tin thường rất nhất quán với nhau. Tôi không thể nào kể hết, nhưng những cuốn sách nổi bậc nhất mà tôi từng đọc qua là “Đại học máu” của Hà Thúc Sinh, “Đáy địa ngục” của Tạ Tỵ, “AK và Thập giá” của Phan Phát Huồn, sách của Duyên Anh, những bài viết của sử gia Tạ Chí Đại Trường, và các cựu sĩ quan VNCH. Riêng cuốn “Trại cải tạo” của Phạm Quang Giai có phác hoạ bằng tay những nhục hình được các nhà tù sử dụng thời đó. Những gì mà các cựu tù nhân kể qua thì thấy họ bị hành hạ về thể xác lẫn tinh thần. Như tôi nói trên, họ kể một cách rất nhất quán. Rất nhiều hồi kí kể rằng trong tù quản giáo ít khi tra tấn tù nhân, nhưng họ có cách làm cho tù nhân chết dần chết mòn: đày đoạ và bỏ đói. Như tác giả Phạm Quang Giai mô tả (có lẽ hơi quá), “Họ lôi cái máy này đến mọi nơi, mọi chốn có tù nhân chính trị miền Nam để trả thù, trả hận mà vẫn không mang tiến là ác độc, là giết người.” Trong thực tế, đi tù cải tạo cũng là một cuộc tẩy não. Các tù nhân bị bắt buộc phải viết kiểm điểm liên tục, và lần nào cũng phải viết “Ðả phá chủ nghĩa đế quốc Mĩ, kẻ thù của nhân dân Việt Nam và thế giới. Sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc Mĩ; Ðế quốc Mĩ là con đỉa hai vòi: một vòi hút máu mủ nhân dân trong nước, còn vòi kia vươn sang các nước khác để hút máu mủ nhân dân các nước này bằng cách bán súng đạn, tạo ra các cuộc chiến tranh diệt chủng. Tội ác của ngụy quyền ngụy quân miền Nam, bán nước, tay sai. Chính sách khoan hồng của Ðảng, nghĩa vụ của người có tội, lao động là vinh quang. Những thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam.” Theo Hà Thúc Sinh, trong cuốn “Đại học Máu” nổi tiếng, thì khi tù nhân nhập trại họ được đưa “chỉ tiêu” như sau: ”Tôi không bao giờ quên rằng tôi là kẻ có tội với Đảng, với Tổ Quốc, với nhân dân. Tôi cũng không quên rằng Đảng đã khoan hồng tha tội chết cho tôi, lại tập trung tôi lại, tạo điều kiện cho tôi học tập cải tạo để trở nên người công dân lương thiện. Để đền ơn Đảng, tôi nhất trí:1. Tích cực học tập cải tạo lao động tốt.
Có khá nhiều trường hợp bị hành hạ đến chết ở trong trại tù, nhưng không ai biết con số chính xác là bao nhiêu. Một trong những người bị chết trong tù là đồng nghiệp và đàn anh của ông Vũ Quang Hiển: sử gia Phạm Văn Sơn, người nổi tiếng với bộ Việt Sử Tân Biên. Một số thì sau khi ra tù một thời gian ngắn cũng chết do những di chứng từ thời còn bị giam trong tù. Ông Hồ Hữu Tường (một học giả nổi tiếng ở miền Nam) chết sau khi bị thả ra khỏi tù. Tạ Tỵ, một nhà văn và hoạ sĩ có tiếng là điềm đạm, mà cũng viết trong sách là “Rồi mai đây, nếu vì may mắn nào đó, tôi được sống trong môi trường khác, tôi có bổn phận phải nhớ và nhớ thật kỹ tất cả những gì đã xẩy ra, đã khắc xâu vào tâm khảm tôi những chứng tích khổ đau, hờn hận!” (7) Có những chuyện cười ra nước mắt. Chẳng hạn như những mẫu đối thoại sau đây cho thấy cán bộ quản giáo rất ngô nghê như thế nào. [trích] Chỉ huy trại là một người miền Nam tập kết, cấp bậc Đại úy mà các tù binh vẫn quen gọi là “ông Răng Vàng” vì nguyên hàm răng trên của ông là “kim loại màu vàng” – nói theo cách nói của “cách mạng”. Một tù binh khai: “Cấp bậc: Đại úy, chức vụ: Quyền Tiểu Đoàn Trưởng” bị “ông Răng Vàng” đập bàn, hét: “Mẹ bố, quân ngụy các anh là láo lếu: ai chẳng biết các anh là Đại úy, là có quyền, còn bày đặt khoe khoang.” Nói xong, ông ta lấy viết gạch bỏ chữ “Quyền” trước ba chữ “Tiểu Đoàn Trưởng”. Một tù binh khác khai: “Cấp bậc: Đại úy. Binh chủng: Biệt Cách Nhảy Dù” bị “ông Răng Vàng” chỉnh: “Mẹ bố, ngụy các anh là ưa khoe khoang: ai chẳng biết các anh “biết cách” nhảy dù. Nói xong, “ông Răng Vàng” lấy viết sổ toẹt hai chữ “Biệt Cách”. Một tù binh khác khai địa chỉ: “… đường Huỳnh Tịnh Của – Đa Kao”, đã phải dở khóc, dở cười khi bị một ông sĩ quan bộ đội người miền Trung “dạy dỗ” như sau: “Ngụy các anh là ưa rắc rối: “Huỳnh Tịnh – Đa Kao” là người ta hiểu rồi. Còn bày đặt là “Huỳnh Tịnh của Đa Kao” làm gì cho rắc rối.” Nói xong, ông ta bèn gạch bỏ chữ “Của” một cách ngon ơ! [hết trích]
Người phủ nhận sự thật
Câu nói của ông sử gia, phó giáo sư Vũ Quang Hiển làm tôi nhớ đến một sử gia người Anh tên là David Irving. Tôi nhớ đến ông này vì vào đầu thập niên 1990s báo chí Úc làm ồn ào khi Chính phủ Úc không cho ông nhập cảnh Úc. Rất rất hiếm khi nào Úc không cho người Anh nhập cảnh, nhưng họ cấm cảng ông Irving thì đủ biết sự việc nghiêm trọng như thế nào. Ông Irving nhiều lần kiện Chính phủ Úc về việc cấm cảng, nhưng ông không thành công. Ông Irving nổi tiếng là một người mà tiếng Anh gọi là “Holocaust Denier”, tức là không chịu tin rằng cuộc tàn sát Holocaust đã xảy ra. Ông viết nhiều sách để lí giải rằng không có những cái gọi là hầm ga mà Hitler dùng để giết người Do Thái. Sau này, ông bị toà án Áo phạt tù 3 năm vì hành vi phủ nhận cuộc tàn sát Holocaust, và xuyên tạc lịch sử. Tôi chỉ kể chuyện xưa để biết rằng ở nước ngoài sử gia mà phát ngôn theo kiểu phủ nhận sự thật lịch sử được xem là một trọng tội và có thể đi tù. Dĩ nhiên, luật ở nước ngoài không giống như luật ở Việt Nam, và đó là một điều may mắn của ngài phó giáo sư vậy. Nhưng nhìn một cách tích cực, tôi vẫn tin vào lòng tốt của ông, và hi vọng rằng một ngày nào đó ông sẽ tịnh tâm và nhìn nhận sự thật. Tuy số người bị giam giữ và chết trong tù cải tạo sau 1975 không bằng số người Do Thái bị Hitler tàn sát, nhưng nếu người Đức đủ can đảm để nhìn nhận sự thật, thì Việt Nam không nên tỏ ra can đảm nhìn nhận rằng tù cải tạo là một thực tế đã xảy ra. Chứ như hiện nay thì sự phủ nhận sự thật của ông rất bất lợi cho chính sách hoà hợp – hoà giải dân tộc của Nhà nước. ====
(1) http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2015/04/150418_vuquanghien_vietnamwar?SThisFB
(2) http://ussh.vnu.edu.vn/profile/vu-quang-hien
(3) http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_t%E1%BA%ADp_c%E1%BA%A3i_t%E1%BA%A1o
(5) http://dartcenter.org/content/camp-z30-d-survivors#.VTNIUZSUcmc
(6) Hà Thúc Sinh, Đại Học Máu trang 100. (7) Tạ Tỵ, Đáy Địa Ngục, trang 152. Một số hình được vẽ lại trong tù cải tạo (trích từ sách của tác giả Phạm Quang Giai):

Xin xem thêm:
httpv://www.youtube.com/watch?v=gN6Jbh051HE
httpv://www.youtube.com/watch?v=AKbLozE6IyQ
Chúng ta không thể điều chỉnh hoàn cảnh một cách hoàn mỹ để phù hợp với cuộc sống của chúng ta, nhưng chúng ta có thể điều chỉnh thái độ đối với cuộc sống cùng với tâm linh để phù hợp với tất cả mọi hoàn cảnh chung quanh ta.
Sưu Tầm
Hưng Yên
Tôi nhất định đòi Thày Bu tôi phải cưới Hương cho tôi. Tôi thích nàng, tôi yêu nàng và tôi phải lấy nàng cho bằng được. Nếu Thày Bu tôi không hỏi cưới nàng cho tôi thì tôi sẽ bỏ nhà ra đi, đi giang hồ hay đi theo Việt Minh cho Tây nó bắn tôi lòi ruột ra. Chẳng thà thế chứ sống mà thiếu Hương tôi sống không được. Tôi cũng đã ngỏ ý ấy với nàng và nàng bảo hễ cứ có mai mối bên nhà tôi tới là bên nhà nàng bằng lòng ngay. Tình yêu của tôi đối với Hương nó vĩ đại và mãnh liệt như thế có lẽ cả làng ai cũng biết. Biết nhưng có ai giúp gì được cho tôi đâu, có khi họ còn nói ra nói vô khiến Bu tôi càng quyết liệt không cho tôi lấy Hương, và khi nghe tôi doạ đi theo Việt Minh cho Tây nó bắn tôi lòi ruột ra, Bu tôi còn bảo :
– Chẳng thà Tây nó bắn mày chứ Bu giết mày không được con ạ – Bu tôi rơm rớm nước mắt – Ðẻ mày ra, nuôi mày tới bây lớn sao tự dưng mày lại không muốn sống nữa hở con ? Gái làng này thiếu gì sao mày không lấy mà mày lại đòi lấy cái con tuổi Cọp ấy ? Mày tuổi Lợn mà Bu lại cưới vợ tuổi Cọp cho mày thì có khác nào Bu giết mày không ? !
Thày Bu tôi hiếm muộn chỉ sanh được có 8 người con, 5 trai 3 gái. Các chú các bác tôi người nào cũng từ 10 đến 12 con cơ. Chỉ cái việc có 5 thằng con trai thôi mà đã gây ra một sự xì xèo rồi. Người ta bảo sanh 5 đứa con gái là sanh được “Ngũ Long Công Chúa” quý lắm, cha mẹ thế nào cũng được nhờ, tha hồ ngồi rung đùi mà hưởng. Chả thế mà ca dao Việt Nam ta đã có những câu :
Mẹ sinh con trai làm chi
Ðầu gà má lợn đem đi cho người !
Mẹ sinh con gái như tôi
Ðầu gà má lợn mẹ ngồi mẹ sơi !
Lúc đầu Bu tôi làm liền tù tì một lèo 3 đứa con gái, thày tôi khoái chí bảo : “Bu mày ráng thêm 2 con tèo nữa cho đủ Ngũ Long Công Chúa, sau đó làm thêm vài thằng cu tí nữa là tha hồ mà sướng !” Nhưng Bu tôi chỉ sanh có 3 đứa con gái, kế đó lại làm một lèo 5 thằng con trai rồi thôi luôn.
Chơi tam cúc có 4 con tốt cùng loại đỏ hay đen thì gọi là tứ tử, có 5 tốt là ngũ tử. Tứ tử trình làng, ngũ tử cướp cái, khéo chơi một chút là ăn trùm làng. Còn đẻ mà 5 thằng con trai thì người ta lại bảo là ngũ quỷ, thế nào trong 5 thằng cũng có một, hai thằng chẳng ra gì. Trong 5 anh em trai thì tôi là thằng thứ 3, nếu tính cả 3 người con gái thì tôi là thằng thứ 6. Hai ông anh trước tôi đã lập gia đình rồi, các ông ấy củ mỉ cù mì, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Lấy vợ xong là chí thú làm ăn, chỉ mong sao nói được nghiệp nhà, cầy ruộng cấy lúa. Nói một cách giản dị là làm một anh nông dân chứ không có cao vọng gì cả. Hai đứa em trai thì còn đi học, chúng chưa biết gì, có muốn vợ cũng phải chờ vài năm nữa.
“Nữ thập tam, nam thập lục” các cụ ta đã bảo như thế nên dù tôi mới 16 tuổi đã đòi vợ cũng không ai nói gì được. Cái điều ồn ào nhất là tôi tuổi Heo mà lại đòi lấy vợ tuổi Cọp. Hương kém tôi 3 tuổi, mới 13 thôi mà trông cứ mơn mởn ra, mỗi lần gặp nàng là tôi chỉ muốn cắn cho một cái. Trai làng tôi nhiều thằng nhìn nàng đôi mắt cứ hau háu, thèm nhỏ dãi, nhưng chúng chỉ dám đứng xa xa mà nhìn thôi chứ không dám xáp lại gần. Lấy vợ tuổi Cọp để về chầu ông bà ông vải sớm à ? ! Con gái tuổi Dần khó lấy chồng lắm, chả biết đã có bao nhiêu bà bị ở giá suốt đời vì sanh nhằm năm Dần và đã có bao nhiêu ông sớm ngỏm củ tỏi vì lấy phải vợ tuổi Cọp, thế nên người ta vẫn cứ kiêng “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” mà lị !
Thày tôi ngày trước có đi lính Pháp, dù gì thì cũng đã có tiếp xúc với Tây học một tí nên không đến nỗi nào. Thấy tôi tuyên bố nhất định phải lấy Hương, dù hôm trước cưới, hôm sau có đi ngủ với giun ngay cũng cứ lấy, thày tôi bảo :
– Nó đã nhất định như thế thì mình cứ đi nói con đó cho nó. Biết đâu thằng này chẳng đặc biệt hơn người ta, tôi nghe kể heo rừng mà thuộc loại “lăn chai” thì Cọp cũng chả làm gì được !
Nghe thày tôi nói, tôi đã mừng mừng nhưng Bu tôi lại gắt lên :
– Ông có đẻ đâu mà ông đau, đã không cản nó thì chớ lại còn “nối giáo cho giặc”, không nghe cụ Lý Ngọ bảo “Dần, Thân, Tỵ, Hợi tứ hành xung” đấy à ? Ai lại đi cưới con gái tuổi Dần về cho con mình, có mà điên !
Thày tôi cười khà khà :
– Gớm, cái lão Lý Ngọ ấy nói đã chắc gì đúng. Lão để mồ, để mả, coi hướng nhà hướng cửa, bói toán cho người khác thì được thế mà chính lão lại nghèo rớt mồng tơi !
Cụ Lý Ngọ người làng bên, làm thày địa lý và coi bói, cũng phét lác khiếp lắm. Nhờ cụ coi thế đất hoặc sửa hướng cửa, hướng nhà cho thì chỉ một bữa rượu với vài đồng bạc. Cụ khoe là đã để mồ để mả cho nhiều người, có người nhờ Cụ mà ăn nên làm ra hoặc con cái học hành đỗ đạt làm đến tri phủ, tri huyện, còn những hạng như lý trưởng, chánh tổng thì khối. Có điều Cụ làm cho người ta được, còn làm cho chính mình lại không được, hoặc giả là Cụ quên chưa làm cho mình nên lúc nào Cụ cũng chỉ có một cái quần cháo lòng với cái áo the thâm rách và cái khăn xếp dán nhấm tứ tung. Một hôm đi qua trước cửa nhà tôi, cụ đứng ngắm nghía một lát rồi lững thững bước vào. Nghe chó sủa, thày tôi chạy ra, may mà đúng lúc, nếu không thì Cụ đã bị mấy con chó cắn cho te tua rồi, “chó cắn áo rách” mà lị !
Sau một tuần trà nước, Cụ bảo :
– Tại căn nhà này quay về hướng Nam , chứ nếu mà hướng Bắc thì ông đã có 5 đứa con gái thay vì 5 thằng con trai rồi !
Chắc ý Cụ muốn nói thay vì “Ngũ Quỷ” là “Ngũ Long” chứ gì. Thấy tôi ngồi học ở bàn, Cụ gọi đến cho Cụ coi, ngắm nghía một lát, Cụ phán :
– Thằng này tướng mạo coi cũng tạm được, nhưng mặt này là mặt “bán Trời không mời Thiên Lôi” đây!
Khi Cụ đi rồi, tôi nghe thày tôi lẩm bẩm :
– Làm cửa về hướng Bắc để mùa Ðông gió Bấc thổi vào cho mà chết rét, còn nhà có nhiều con gái chỉ tổ lo ngay ngáy chứ nước mẹ gì, dốt thế mà cũng bàn !
Riêng tôi, chỉ nhìn hình dáng cụ là đã chán rồi, tôi hỏi Thày tôi :
– Chắc nhà ông thày Ðịa Lý này ngon lành lắm hở Thày ?
– Không bằng cái bếp nhà mình !
Có tin vào thày bói cũng chỉ nên tin một phần nào cho nó vui thôi chứ chẳng nên tin nhiều làm gì. Những vị có chân tài, đọc nhiều, hiểu rộng và có nhiều kinh nghiệm chả nói làm gì, còn phần đông là những tay ấm ớ, nghèo rớt mồng tơi lại chỉ cách cho người khác làm giầu mới tiếu lâm chứ ? ! Cứ tin vào những điều các vị ấy tán hiêu tán vượn thì có ngày đổ thóc giống ra mà ăn ! Làm cái gì cũng phải coi ngày, coi giờ, hạp với không hạp, kiêng cái này cữ cái kia … Cứ như việc lấy vợ của hai ông anh tôi thì rõ. Trước khi cưới dâu, Bu tôi đã nhờ thày so tuổi, coi ngày đủ thứ, thế nên 2 ông anh tôi mới dinh về được hai bà vợ, một bà thì như cái hột mít, còn một bà lại gầy đét như con cá hố ! Hai người con dâu này đều do Bu tôi chọn cả. Tôi ấy à, nếu không lấy được người tôi yêu chẳng thà tôi ở giá cho đến già hoặc đi theo Việt Minh cho Tây nó bắn lòi phèo ra chứ nhất định không chịu bắt chước mấy ông anh tôi.
Thày tôi xem chừng đã ngả hẳn về phía tôi, chỉ riêng Bu tôi là còn găng lắm, có lúc bà nổi cơn tam bành chửi tôi thậm tệ, bà nhiếc :
– Cho mày đi học ngậm bút sắt hay ngậm cái gì mà mày ngu thế ? Tử tế không muốn lại muốn rước cái của nợ vào mình.
Có lần Bu tôi lại dùng tình cảm để lung lạc tôi, bà mếu máo :
– Mày có chọc phá đền miếu nào không hở con, để đến nỗi những người khuất mày khuất mặt nổi giận mà phạt mày trở nên dở dở ương ương thế ? Có thì bảo cho Bu biết để Bu sửa lễ tạ lỗi cho, kẻo càng ngày nó càng lậm vào thì khổ đấy con ạ, chứ cưới vợ đẹp về rồi lăn đùng ra chết thì cưới làm gì ? ! Mày nghe lời Bu đi, chọn con khác, hễ Bu nhờ thày coi tuổi mà thấy hạp là Bu cưới ngay cho!
Mặc Bu tôi nói gì thì nói, tôi vẫn khăng khăng chỉ lấy Hương của tôi thôi. Nói mãi mỏi mồm, Bu tôi bèn đổi chiến thuật là không thèm nói gì đến tôi nữa. Trong làng tôi lại có tiếng xì xèo : “Ðã bảo là đẻ 5 thằng con trai, Ngũ Quỷ thì thế nào chả có một, hai thằng chẳng ra gì mà” ! Ngoài ra họ còn đồn tôi là thằng dở hơi hoặc điên điên khùng khùng … Một lần Dì Năm, em gái của Bu tôi tới chơi, lấy tay sờ trán tôi như mấy bà mẹ thường khám xem con mình có ấm đầu không, rồi Dì hỏi :
– Mày có bị làm sao không thế hở con ?
Tôi hỏi lại :
– Làm sao là làm sao hả Dì ?
– Nghĩa là mày có ốm đau, bệnh tật gì không mà mày lại kỳ cục thế?
– Con có làm gì đâu mà Dì bảo là kỳ cục ?
– Không kỳ cục làm sao mày tuổi Hợi lại đòi cưới con vợ tuổi Dần ?
– Thế tuổi nào mới lấy vợ tuổi Dần được ?
– Không tuổi nào lấy vợ tuổi Dần được !
Tôi ngập ngừng :
-Thế nếu Dì cũng tuổi Dần thì Dì có bảo là không tuổi nào lấy vợ tuổi Dần được không ?
Bu tôi đứng bên cạnh, cho là tôi hỗn với Dì, sẵn tay cầm cái chổi, bà đập lên đầu tôi cái cốp làm tôi giật mình bỏ chạy.
Thế mới biết ở đời làm chuyện gì cũng phải có quyết tâm mới được. Việc càng khó thì quyết tâm càng phải cao, chứ nếu cứ xìu xìu ển ển, đến đâu hay đến đó thì còn lâu mới thành công được. Thày tôi tuy đã ngả hẳn về phía tôi nhưng là theo kiểu thụ động thôi, chứ Thày tôi cũng không thể bênh vực tôi một cách tích cực được, dù gì thì cụ ông cũng phải nể cụ bà chứ ! Riêng tôi, đã “chót đành phải chết”, làm một phát tháu cáy. Nếu Bu tôi theo ván bài này tới cùng có lẽ tôi phải đổi chiến thuật khác. Thú thật, bỏ Hương để lấy người khác thì tôi không bỏ được, còn bỏ nhà đi theo Việt Minh cho Tây nó bắn lòi phèo ra tôi cũng teo lắm, thế nhưng tôi vẫn phải tố một cú chót xem sao.
Một hôm tôi giả vờ sắp xếp quần áo bỏ vào một cái rương nhỏ, như đang chuẩn bị cho một chuyến đi xa. Tôi cố làm dềnh dang cho Bu tôi thấy. Quả nhiên, tưởng tôi sắp bỏ nhà đi xa thật, Bu tôi khóc bù lu bù loa :
– Ối giời ơi, con ơi ! Mày tính bỏ Thày bỏ Bu mày đi thật đấy à ? Mày muốn lấy vợ thì Bu lấy cho mày chứ Bu có cấm cản gì mày đâu ? Chẳng qua là Bu chỉ không bằng lòng cho mày lấy cái con tuổi Dần ấy thôi. Ðẻ mày ra, nuôi mày từ lúc một bàn tay không hết, hai bàn tay không đầy cho tới bây lớn để mày giả nghĩa Thày, nghĩa Bu như thế đấy hở con ?!
Dù chỉ mới dàn giáo thế thôi chứ tôi đã định đi ngay đâu, nhưng thấy Bu tôi khóc thảm thiết quá, tôi cũng mủi lòng nước mắt, nước mũi chẩy lã chã, nói không nên lời :
– Bu không thương con thì Bu cứ để con đi chết trận chết mạc, chết Đông chết Tây cho rồi ! …
Quả thật là tiến thoái lưỡng nan. Làm cho Bu tôi tưởng là tôi sắp đi, bây giờ không đi cũng kỳ, còn đi thật thì biết đi đâu ? Ðang lúng túng không biết phải làm sao, thì may quá, cậu Út tôi tới. Bên Ngoại tôi chỉ có cậu Út là người danh giá và có uy tín với chúng tôi hơn cả. Chẳng những cậu có uy tín với đám trẻ mà còn uy tín cả với người lớn nữa. Cậu có bằng “Ðíp lôm” lại đang làm Nhật Trình ở trên Hà Nội. Ngày đó ở quê tôi, các vị làm văn, làm báo được coi là danh giá lắm. Cậu Út làm Nhật Trình tức là làm báo. Thỉnh thoảng cậu mới về thăm nhà một lần, đầu cậu chải “bi-dăng-tin” bóng loáng, tóc để cánh gà úp sát vào tai, chân đi giầy “đơ-cu-lơ,” quần tây trắng, áo sơ mi trắng bỏ trong quần, túi áo cài chiếc bút máy hiệu “Kaolo,” thứ bút mà mỗi khi viết phải mở nắp rồi xoay xoay cho cái ngòi bút trồi lên, viết xong lại vặn cho cái ngòi bút tụt xuống rồi đậy nắp lại. Ngày ấy bọn trẻ chúng tôi thì thào chỉ mấy ông làm Nhật trình mới có loại bút đó. Mỗi lần cậu Út về, cậu kể chuyện Hà Nội tưng bừng, cậu nói gì người lớn cũng như đám trẻ chúng tôi đều tin hết.
Bước vào nhà, thấy Bu tôi đang bù lu bù loa, còn tôi thì mếu máo, cậu mới hỏi đầu đuôi sự việc. Bu tôi kể câu chuyện tôi đòi lấy vợ tuổi Dần cho cậu nghe. Ðợi Bu tôi nói xong, tôi cũng bầy tỏ nỗi lòng để cậu hiểu.
Nghe xong, Cậu cười cười hỏi tôi :
– Cháu định lấy cái con Hương, con ông Chánh Ðoàn ở xóm Giữa chứ gì ? Vừa rồi đi đường cậu cũng có gặp nó, con này được, đã thắt đáy lưng ong lại mảnh mày hay hạt …
Quay về phía Bu tôi, cậu tiếp :
– Chị mà được đứa con dâu như thế là quý lắm rồi còn đòi chi nữa. Còn cái vụ tuổi tác, hạp với không hạp, nó xưa quá rồi chị ơi. Cứ tin vào mấy ông thày bói thì có ngày đổ thóc giống ra mà ăn rồi hoa hồng không trưng đi trưng hoa cứt lợn ! …
Thật cậu là người ăn học có khác, Cậu nói câu nào cứ chắc nình nịch câu ấy. Chiều hôm đó, Cậu ở lại dùng cơm với gia đình tôi và cũng nhờ sự dẫn giải của Cậu mà Bu tôi nghe ra.
Cuối năm đó, tôi rước được con Cọp yêu quý của tôi về nhà. Cậu Út tôi lại còn bảo :
– Cưới vợ rồi, nếu mày không muốn ở nhà quê thì lên Hà Nội làm Nhật Trình với Cậu. Cũng phải ra ngoài để mở mắt ra với người ta, chứ cứ lúi húi thế này mãi đến bao giờ mới khôn được ? !
Người xưa có câu “Không vào hang hùm sao bắt được Cọp con” thật đúng quá sức. Tôi không chỉ vào “hang hùm” một lần, mà đã mò mẫm vào nhiều lần, có thể nói là rất nhiều lần … Cứ thế rỉ rả tôi đã khều ra được gần một tá Cọp con, con nào con nấy đều rất dễ thương, còn con Cọp mẹ thì càng ngày càng hiền khô à. Nghe đến đây có lẽ quý vị thày bói cảm thấy ngứa tai, “nghịch nhĩ” lắm đấy : “Ừ, ba hoa cho lắm vào, đến khi lăn đùng ra chết nhăn răng mới không kịp hối !” Quý vị rủa tôi như thế cũng chẳng sao.
Tôi sinh năm 1935, tuổi Ất Hợi, còn con Cọp cưng của tôi sinh năm 1938, tuổi Mậu Dần. Con Heo 74, con Cọp 71 … Hai con ôm nhau ngủ đã gần 60 năm nay mà chẳng có chuyện gì xẩy ra cả. Giả như bây giờ tôi có nhắm mắt xuôi tay mà về chầu ông bà ông vải đi chăng nữa thì cái câu “Tứ Hành Xung” của quý vị thày bói cũng là sai rồi ! …
Hưng Yên 2009
Lê Tuấn
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 Tháng Tư và Ðời Tị Nạn)
Trước năm 1975, tôi là sĩ quan bộ binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Từ ngày ra trường đến ngày mất nước, 30 Tháng Tư 1975, biên cương là nhà và ít khi tôi có dịp về thăm cha mẹ. Mỗi lần tôi được vài ngày phép về, mẹ tôi mừng mừng tủi tủi và nói: “Con lớn rồi sao không lập gia đình, ưng cô nào cha mẹ cưới cho, có cháu nội cha mẹ vui.”
Trong tù cải tạo. Cảnh trong phim Vượt Sóng của đạo diễn Hàm Trần. (Hình: Internet) |
Tôi chỉ cười hề hề và nói: “Từ từ mẹ ạ,” và tôi giải thích cho mẹ tôi hiểu: “Con bây giờ ở nơi tiền tuyến, từng giây, từng phút đối diện với quân thù không biết việc gì xảy ra cho con, độc thân thì quá dễ chẳng liên lụy với ai cả, nếu có vợ có con thì thật là phiền phức, cảnh vợ góa, con côi tội lắm, hơn nữa con và vợ con chỉ gần nhau vài ngày một năm thì đâu có hạnh phúc, chỉ gây thêm cảnh kẻ nhớ người mong, mẹ ạ.” Nghe tôi giải thích, mẹ tôi lặng thinh.
Thế rồi ngày 30 Tháng Tư năm 1975 ập đến đem tang tóc cho cả miền Nam Việt Nam. Ðơn vị tôi lúc đó chạy về Thủ Ðức, sau khi nghe lệnh đầu hàng, tôi rất bàng hoàng và buồn bã trước cái cảnh chia tay giữa đồng đội đã từng sống chết bên nhau, chia nhau từng mẩu thuốc, bây giờ mỗi người tự lo liệu lấy. Khi mọi người đi hết còn lại một mình tôi đứng ngoài hàng hiên một ngôi nhà ngói cũ xưa.
Tôi rút khẩu colt 45 định kết liễu đời mình cho xong thì nghe tiếng gọi: “Anh Tuấn vào đây thay quần áo kẻo nguy hiểm lắm.” Tôi quay lại thấy một thiếu nữ đứng bên cửa, không hiểu sao cô lại biết tên tôi, thì ra tôi còn mặc bộ quân phục, cấp bậc và bảng tên còn nguyên vẹn. Cô đưa cho tôi bộ thường phục và đôi dép. Tôi thay quân phục và cô đem khẩu colt 45 ném xuống giếng bên cạnh nhà. Tôi cảm ơn cô và vội vàng hòa với dòng người di tản về Saigon, về đến nhà mới hay mình mặc áo đàn ông nhưng quần đàn bà.
Nghe tin phải trình diện cải tạo vào sáng mai, chiều hôm đó tôi gấp bộ đồ và đôi dép, đạp xe lên Thủ Ðức để trả lại và cám ơn cô vào khoảng 4 giờ chiều. Cô mời tôi vào nhà và nói: “Cha mẹ em đi Biên Hòa thăm người bà con mới chết, có một mình em ở nhà thôi.”
Tôi và cô nói chuyện đến 6 giờ chiều vẫn chưa thấy cha mẹ cô về, chúng tôi hỏi thăm nhau gia cảnh và đủ thứ chuyện, cô rất lo lắng cho số phận của các sĩ quan đi trình diện cải tạo ngày mai, cô cho tôi địa chỉ và tên họ “Tô Mỹ Phương” cái tên sao mà đẹp quá, tôi nói đùa: “Bộ em là cháu nội của Tô Ðông Pha hay là Tô Ðịnh?” Cô trả lời, “em hổng biết.” Sau cùng trời chuyển mưa, tôi tạm biệt ra về, trong lúc chia tay mắt cô ứa lệ và không hiểu tại sao mà chúng tôi ôm nhau rồi hôn nhau, trong lúc đó tay tôi đụng hẹ vào ngực cô (bên ngoài áo và chỉ vô tình thôi nhé). Cô nói với tôi: “Nụ hôn đầu tiên.”
Thời gian cải tạo lúc ở Long Khánh, Phú Quốc, Hoàng Liên Sơn, khi quân Tàu đánh Lạng Sơn thì di chuyển về Vĩnh Phú. Cô thăm nuôi tôi cả thảy 10 lần, 6 lần ở trong Nam và 4 lần ở ngoài Bắc, lần cuối cùng cô thăm tôi là lúc tôi đang bệnh rất nặng, tôi phải nhờ bạn bè dìu ra và đem đồ thăm nuôi vào trại. Tối hôm đó, tôi hôn mê không còn biết cô đã tiếp tế những thứ gì. Theo bạn bè kể lại, tôi đã chết lúc gần sáng, sáng hôm sau cán bộ cho hai người đào huyệt và sau đó cho hai người khiêng tôi đem chôn, nhưng khi đến nơi huyệt còn nông quá phải cho đào sâu thêm. Họ đặt tôi nằm bên cạnh và cả bốn người cùng đào. Khi xong thì tôi hồi tỉnh lại, thở và chân tay cử động nhẹ. Cán bộ ra lệnh chôn nhưng bốn người bạn năn nỉ xin đem tôi về trại. Cán bộ quyết định chôn và nói: “Trước sau gì nó cũng chết, chôn để khỏi mất thì giờ.” Cả bốn người bạn năn nỉ mãi và cuối cùng tôi được khiêng về trại. Anh em lấy đồ tiếp tế của tôi gồm một ít sữa bột, vài ký gạo, thuốc tây, anh em cho tôi uống sữa và uống thuốc nhưng mất cả 3 tháng trời tôi mới tạm bình phục.
Khoảng 3, 4 năm sau tôi không thấy cô đến thăm, tôi buồn và đặt nhiều nghi vấn, tôi tự hỏi, có thể cô đã sang sông hay việc gì chẳng lành đã xảy ra… “Chết hay cô đã đi lấy chồng?”
10 năm sau tôi được tha về, việc đầu tiên là đi thăm mộ cha mẹ tôi đã qua đời khi tôi còn ở trong tù, hôm sau đạp xe lên Thủ Ðức thăm cô và gia đình cùng cám ơn cô đã thăm nuôi tôi. Vừa bước vào nhà, tôi thấy hình cô trên bàn thờ, lòng tôi quặn đau, nước mắt cứ tuôn trào, tôi khóc và khóc rất nhiều không nói nên lời. Mười phút sau tôi mới thưa chuyện được với cha mẹ cô và được ông bà cho biết, cô chết sau khi ra Bắc thăm nuôi tôi trở về đến Quảng Bình xe bị tai nạn, vì đường sá xa xôi khó khăn, khi gia đình biết tin ra đến Quảng Bình thì cô đã được chôn cất ở nghĩa trang. Ba năm sau, gia đình ra Quảng Bình để đem hài cốt về thì nghĩa trang đã bị giải tỏa để xây nhà cho cán bộ, không biết hài cốt để đâu?
Nghe kể đến đó, tôi lại khóc và thưa: “Thưa hai bác, vì con mà Phương chết, xin hai bác tha thứ cho con.” Ông bà cũng sẵn lòng thông cảm vì chuyện đã rồi.
Thời gian được tha về, thỉnh thoảng tôi đến thăm ông bà, sau mấy lần vượt biên thất bại, sau cùng tôi đi đường bộ sang Campuchia và Thái Lan. Năm 1987, tôi đến Hoa Kỳ, cố gắng học hành và có việc làm ổn định. Tôi đã lấy tên bài hát “10 năm yêu em và cũng là mãi mãi” của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng để làm kim chỉ nam cho cuộc sống và thường giúp đỡ cha mẹ Phương hàng năm.
Tháng 5, 2010, tôi về hưu, trong lúc nhàn rỗi, tôi làm một chuyến du lịch Hồng Kông-Trung Quốc-Thái Lan-Việt Nam, lần này cũng như ngày ra tù, việc đầu tiên là đi thăm mộ cha mẹ tôi, hôm sau đi Thủ Ðức thăm cha mẹ Phương.
Nhiều năm xa cách, ông bà không nhận ra tôi, sau khi tôi giới thiệu mới nhận ra nhau, thế là trong nhà như có đám tang, chúng tôi ôm nhau khóc đến nỗi hàng xóm chạy qua xem có chuyện gì xảy ra.
Trong lúc ăn cơm, ông bà hỏi tôi gia cảnh, đời sống bên Mỹ và đủ thứ chuyện, sau cùng ông bà muốn đề nghị “tình chị duyên em” nghĩa là tôi cưới em của Phương là Tô Mỹ Phượng là dược sĩ. Tôi trả lời: “thưa hai bác, cho con suy nghĩ.”
Về đến Mỹ tôi suy nghĩ nhiều, Phương đã chung tình và hy sinh cả mạng sống để cho tôi được sống, vậy bây giờ tôi phụ tình sao? Hơn nữa 60 năm cuộc đời, bây giờ tôi đã lố 6 năm, vậy còn gì là đời nữa. Kính mong quý vị cho vài lời khuyên sao cho “tốt đạo đẹp đời,” đẹp lòng người chết và vui lòng người sống.

Người Việt kỷ niệm ngày 30 thang 4
18.04.2015
Lại tháng Tư. Lại thấy trên báo chí và các mạng lưới truyền thông xã hội trên internet những bài viết về một trong những biến cố lớn nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại: tháng Tư 1975. Tuy nhiên, năm nay, các bài viết, đặc biệt ở hải ngoại, dường như khác những năm trước. Trước, người ta chỉ tập trung vào sự sụp đổ của chính quyền miền Nam và những hậu quả của nó. Năm nay, bên cạnh cái nhiều người gọi là ngày “đổi đời” ấy, người ta còn tập trung vào một khía cạnh khác: 40 năm người Việt định cư ở nước ngoài.
Thì cả hai đều có quan hệ nhân quả với nhau thôi: Bởi vì chính quyền miền Nam sụp đổ nên mới có hàng triệu người liều mình vượt biên hay vượt biển để ra đi tìm tự do. Tuy nhiên, khi nhấn mạnh đến khía cạnh sụp đổ, người ta chỉ thấy những bi kịch; khi chú ý đến khía cạnh định cư ở nước ngoài, người ta thấy những khía cạnh tích cực và lạc quan hơn. Cho nên, cùng một biến cố, tuỳ theo góc nhìn, người ta thấy những mảng màu khác hẳn nhau.
Chỉ nhìn vào khía cạnh “thua trận”, sau việc mất chính quyền là nạn độc tài và tàn bạo với cảnh hàng chục ngàn người bị lùa vào các trại lao động cải tạo, cảnh đánh tư sản mại bản, cảnh xua dân chúng vào các khu kinh tế mới đầy khổ ải, cảnh con cái của những người từng làm việc cho chế độ cũ bị kỳ thị ngay cả trong việc học vấn, và cuối cùng, cảnh hàng triệu người bỏ nước ra đi, trong đó có cả hàng trăm ngàn người bị hải tặc hoặc bị đắm tàu bỏ xác ngoài biển khơi. Ngày ấy, nói theo Võ Văn Kiệt, có triệu người vui và triệu người buồn. Nói thế là hơi nhẹ. Bởi đâu phải chỉ “buồn”. Người ta còn đau khổ, thống khổ vì những mất mát không thể bù đắp được. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người gọi đó là ngày quốc hận.
Sau ngày “quốc hận” ấy là những ngày tháng tang thương bi thảm. Về phương diện kinh tế, đời sống mọi người càng ngày càng cùng cực, ngay cả lúa gạo cũng không đủ ăn, phải ăn độn khoai, độn sắn và ăn cả bo bo từ năm này sang năm khác. Về phương diện xã hội, với chính sách hộ khẩu và sổ lương thực, mọi người bị mất cả các quyền tự do cư trú và đi lại. Về phương diện tôn giáo, người ta cũng không được quyền tự do thờ phượng: các nhà tu đào tạo tu sĩ bị đóng cửa, việc đi chùa hay đi nhà thờ cũng gặp rất nhiều khó khăn. Về phương diện chính trị, tất cả các quyền căn bản của con người, từ quyền tự do tư tưởng đến tự do ngôn luận, từ quyền tự do đi lại đến tự do hội họp, từ quyền tự do biểu tình đến quyền tự do lập đảng phái… tất cả đều bị bóp nghẹt.
Bên cạnh những sự “đổi đời” như thế, có một khía cạnh khác năm nay mới được chú ý nhiều: cộng đồng đông đúc với khoảng trên bốn triệu người Việt sống ở rải rác trên 100 quốc gia khác nhau kể từ sau năm 1975.
Nhìn từ góc độ di dân học, cộng đồng người Việt ở hải ngoại có mấy đặc điểm nổi bật:
Thứ nhất, trong khi các làn sóng tị nạn trên thế giới phần nhiều có tính chất khu vực, chủ yếu di cư đến một quốc gia láng giềng nào đó (ví dụ từ Iraq chạy sang Saudi Arabia, Jordan hay Turkey; từ Afghanistan chạy sang Pakistan), làn sóng tị nạn của người Việt, ngược lại, có tính chất toàn cầu: sau khi đến một quốc gia láng giềng, họ được phép tái định cư ở một quốc gia thứ ba, hầu hết là các nước Tây phương, vừa xa xăm vừa xa lạ về văn hoá (trong đó, đông nhất là ở Mỹ với gần 2 triệu; kế tiếp là Pháp với khoảng 300.000; Úc và Canada mỗi nơi trên 200.000 người).
Thứ hai, ở các quốc gia ấy, người Việt thường có xu hướng sống tập trung ở các tiểu bang hoặc các thành phố lớn và đông dân nhất.
Thứ ba, mặc dù cộng đồng người Việt hải ngoại được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, từ di tản đến vượt biên, từ diện HO đến diện bảo lãnh gia đình, trên căn bản, yếu tố chính trị vẫn là nòng cốt: đó là một cộng đồng tị nạn.
Đặc điểm thứ nhất là một trở ngại cho quá trình hội nhập: từ một nước thuộc loại nghèo khó nhất thế giới đến sống ở một quốc gia thuộc loại tiến bộ và giàu có nhất thế giới với một ngôn ngữ và một văn hoá khác biệt, nhiều người cảm thấy ngỡ ngàng và cần thời gian mới có thể ổn định được cuộc sống. Đặc điểm thứ hai làm xuất hiện những khu phố người Việt, ở đó, người Việt sống tập trung bên cạnh nhau với một bản sắc riêng khác với những người bản xứ hay các cộng đồng di dân khác. Đặc điểm thứ ba làm cho xu hướng chính trị thành một trong những yếu tố chủ đạo hình thành bản sắc của cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại: dù sống ở nước ngoài lâu đến mấy, phần lớn người Việt vẫn đau đáu theo dõi những chuyển biến chính trị ở trong nước và vẫn tha thiết muốn góp phần vào việc cải thiện tình hình ở quê nhà.
Khi nhìn lại 40 năm sống ở hải ngoại, hầu hết các cơ quan truyền thông đều nhấn mạnh đến những thành tựu, từ lãnh vực khoa học, giáo dục đến các lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội. Ở đâu cũng có những điểm son rất đáng tự hào.Phần lớn các tờ báo bằng tiếng Việt ở hải ngoại đều dành một số trang để đăng tải các bài viết ca tụng những người thành đạt. Ở đây, tạm gác qua một bên những cá nhân xuất sắc, chúng ta chỉ nhìn cộng đồng người Việt như một tập thể. Với tư cách tập thể, trong quan hệ với Việt Nam, cộng đồng người Việt ở hải ngoại có hai đóng góp nổi bật nhất.
Thứ nhất, về phương diện kinh tế, số tiền người Việt ở nước ngoài gửi về Việt Nam hằng năm là một nguồn doanh thu quan trọng cho Việt Nam. Chỉ tính qua con đường gửi tiền chính thức, số tiền người Việt gửi về cho thân nhân trong nước vào năm 2009 là 6.2 tỉ Mỹ kim; năm 2010 là 8.1 tỉ; năm 2011 là 9 tỉ và năm 2013 là 11 tỉ biến Việt Nam thành một trong 10 quốc gia nhận kiều hối cao nhất trên thế giới.
Thứ hai, về phương diện chính trị, cộng đồng người Việt ở hải ngoại tồn tại như một lực lượng đối kháng chế độ độc tài trong nước. Cái gọi là “lực lượng” này phần lớn khá tản mác và tự phát, không có lãnh tụ và cũng không có phương hướng hoạt động chung. Tuy nhiên, đóng góp của họ đối với cuộc tranh đấu cho dân chủ ở trong nước không nhỏ. Trong bài “Cộng đồng hải ngoại như một lực lượng đối lập” đăng trên blog này vào đầu năm 2010, tôi viết: “nếu không có những tiếng nói đối lập ồn ào và gay gắt xuất phát từ, hoặc được khuếch tán bởi, cộng đồng hải ngoại, thì những vụ tham nhũng khủng khiếp ở Việt Nam làm sao có thể phơi bày ra trước công luận? thì những kế hoạch khai thác bauxite ở Tây nguyên làm sao có thể thu hút sự chú ý của quần chúng đông đảo đến như vậy? thì những hành động lấn chiếm vùng biển Việt Nam của Trung Quốc và thái độ nhu nhược của chính phủ Việt Nam làm sao có thể làm nhức nhối nhân tâm đến như vậy? thì những vụ vi phạm nhân quyền thô bạo ở Việt Nam làm sao đến tai thế giới bên ngoài được?”
Hai khía cạnh vừa nêu mâu thuẫn với nhau: Một mặt, về chính trị, cộng đồng người Việt ở hải ngoại phản đối gay gắt chính quyền trong nước; mặt khác, về tài chính, qua việc chuyển tiền về cho thân nhân trong nước, họ góp phần làm cho chính quyền Việt Nam giàu có hơn và có nhiều điều kiện để trấn áp dân chúng hơn.
Nghịch lý ấy ai cũng biết nhưng không phải dễ giải quyết.
Ngư dân Việt bị trọng thương trong vụ đâm va với ‘tàu lạ’

Ngư dân Việt Nam bị thương trong một vụ đâm va với tàu Trung Quốc hồi năm ngoái.
19.04.2015
Một nhóm ngư dân Quảng Ngãi cho biết họ đã bị một “tàu lạ đâm va mạnh” tại quần đảo Hoàng Sa hôm 16/4, làm nhiều người bị thương, trong đó có một người bị nặng.
Sau vụ việc mà VOA Việt Ngữ không thể kiểm chứng một cách độc lập, tàu cá mang số hiệu QNG – 96011 do ông Huỳnh Văn Nắm làm chủ tàu đã bị “hư hỏng nặng”.
Ngư phủ bị trọng thương sau đó đã được đưa về đảo Lý Sơn rồi được đưa vào đất liền “mổ cấp cứu” hôm 18/4.
Các ngư dân được báo chí trong nước dẫn lời nói rằng “do đêm tối nên mọi người không nhìn thấy được số hiệu của tàu đâm va”. Tin cho hay, đây là lần thứ ba tàu QNG – 96011 bị đâm.
Truyền thông trong nước thời gian qua đưa tin về việc nhiều vụ tàu Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam thời gian qua, “không chỉ khai thác trái phép hải sản, mà còn có dấu hiệu đưa phương tiện thăm dò, khiêu khích tàu cá ngư dân Việt Nam”.
Đại tá Lê Tiến Hưng, Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng Đà Nẵng từng cho VOA Việt Ngữ biết, trong năm 2014, có gần 300 lượt tàu cá nước ngoài xâm phạm khu vực biển cách Đà Nẵng khoảng 40 – 50 hải lý. Ông không nói rõ trong số đó có bao nhiêu tàu của Trung Quốc.
Ngoài ra, ông cũng cho hay rằng có 6 trường hợp tàu cá Trung Quốc tông, va, bắt giữ tàu cá Quảng Ngãi và Khánh Hòa trên khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng Đà Nẵng cũng cho biết lực lượng của ông luôn giữ liên lạc với các ngư dân, phát huy sức mạnh của quần chúng vì họ “là những người hoạt động trên tất cả vùng biển Việt Nam”.
Theo Thanh Niên, VOA
Tác giả: Huệ Minh
Tiễn người bạn thân về nơi an nghỉ cuối cùng.
Nhìn chiếc quan tài dần dần đi xuống để vào lò thiêu tôi cùng bao nhiêu người thân thiết của người quá cố quặn lòng. Mới đó còn ăn, còn uống, còn giận, còn hờn, còn vui … với nhau đó nhưng rồi người bạn phải từ biệt ra đi để lại bao nhiêu người thương nhớ. Cách riêng, người bạn đã để lại những gì mà sau chuỗi đời dài ky cóp.
Tiễn bạn ra đi, tôi lại nghĩ về phận đời, phận người.
Con người sống trong cõi nhân sinh vẫn thường hay ngộ nhận về cuộc đời, về chính bản thân mình. Có những điều con người tưởng rằng rất chắc về danh vọng, về tiền bạc, về quyền lực mà mình đang có nhưng rồi không chắc chút nào cả bởi lẽ sống trong cõi nhân gian này không thể nào tránh được chuyện “vật đổi sao dời”. Có một điều chắc mà con người phải nắm lấy, phải đi đến và không thể nào thoát được đó là cái chết như cái chết của người bạn thân mới ra đi.
Cái chết là cái chắc nhất mà con người phải gặp và khi chết thì coi như tất cả những gì mình có đều để lại nhưng nhiều người đã ngộ nhận rằng mình lột da sống mãi.
Thực tế và rất thực tế trong cuộc sống là có những chuyện mà người ta tưởng chừng là cầm chắc trong tay nhưng không hẳn là như thế.
Cần gửi một ít đồ lạnh về Sài Gòn, gọi điện để nhờ xe khách đi tuyến đường ngang nhà tôi ở về Sài Gòn. Cứ tin chắc rằng khoảng 2 tiếng hay hơn 2 tiếng đồng hồ thì xe sẽ đến Sài Gòn và gia đình ra nhận đồ như những lần đã từng gửi. Hơn 2 giờ đồng hồ không thấy nhà xe điện lại. Sốt ruột vì khá lâu mà không thấy gọi ra nhận đồ. Điện thoại cho tài xế thì biết được rằng xe của anh bị hư ngay trên đường cao tốc. Hành khách đã chuyển xe khác để về nhà cho kịp thời gian. Hàng của tôi dĩ nhiên phải nằm lại trên xe và dù gia đình có muốn ra lấy cũng không ra được vì xe đang nằm trên đoạn đường cao tốc xe gắn máy không vào được. Thế là đành chịu cho đến khi có xe nào đó cùng hãng đi ngang qua chuyển vào Sài Gòn giúp.
Thế đó ! Tưởng chừng hàng sẽ đến nhưng cứ phải sống trong tâm trạng chờ và đến chiều hàng mới đến. Tất cả những gì mình muốn và tưởng chừng nằm chắc trong tay mình nhưng không được như thế.
Nhớ lại ngày xưa đi làm cho một công ty. Thân quen và yêu mến công ty đó đến độ xem công ty cũng như mọi thành viên trong công ty ấy như gia đình thứ hai cạnh gia đình ruột thịt của mình. Có khi vì tình vì nghĩa còn coi trọng những thành viên trong công ty đó còn hơn cả gia đình của mình nữa.
Chuyện công ty ấy vẫn còn in mãi trong tâm trí tôi dẫu rằng giờ tuổi cũng đã cao.
Tưởng chừng dưới cái vỏ bọc êm ả bình an thanh thản làm việc giúp cho đời giúp cho người đó lại là một cuộc thanh trừng nội bộ. Càng ngày càng ngày khi phát hiện ra cuộc thanh trừng gay gắt đó nhân viên quèn như chúng tôi rất buồn và đau nữa nhưng cũng chẳng làm gì được vì mình không có tiếng nói cũng như có nói cũng chẳng ai chịu nghe.
Năm bảy năm qua đi, ban giám đốc mới được thay thế. Tưởng chừng “vết xe đổ” của bộ sậu cũ là bài học quý giá cho ban lãnh đạo mới nhưng rồi nó cũng chẳng khá hơn. Tất cả bộ máy điều hành cũng dùng đến chiêu cách phe cánh để đạt được mục tiêu của nhóm lợi ích mình.
Những thăng trầm trong công ty đó, anh em chúng tôi đã học được bài học ngộ nhận mà nhiều người dường như cũng thấy nhưng hình như không thấy. Chuyện là ban giám đốc cũ cứ nghĩ rằng triều đại của mình viên mãn cho đến ngày tận thế cũng như của cải, quyền lực của nhóm mình vĩnh viễn nhưng kỳ thực nó không phải là như vậy. Giờ đây những người ngộ nhận rằng tất cả những gì mình xây dựng sẽ tồn tại mãi với thời gian. Nhưng, trong cuộc sống có gì tồn tại mãi đâu mà mơ.
“Sóng trước đổ đâu sóng sau đổ đó !” Câu nói thật hay ông bà ta để lại. Tất cả những gì người trước làm thế nào với mọi người trong công ty thì người sau cũng làm thế. Tiếc thay là những người mới đã không sửa lại con đường của những người cũ đã đi. Tất cả những điều đó cho thấy rằng người ta vẫn cố tình và cố gắng xây dựng triều đại của mình theo lợi ích của nhóm mình bằng mọi giá mà người ta quên rằng cái gì cũng có thời có hạn và rồi cái gì cũng qua đi.
Tôi chia sẻ với một đàn anh đi trước tôi rằng chưa nghĩ đến chuyện triều đại, chuyện xây dựng cơ đồ và cứ nghĩ rằng công trình của mình vĩnh viễn thì hãy nhớ đến thời gian và phận người.
Đời người thật vắn ! Mỗi ngày qua đi là mỗi ngày mà con người ta phải gần đất xa trời hơn. Mỗi ngày qua đi là mỗi ngày người ta gần đến cái chết hơn.
Sự thật là ai ai cũng chết chắc !
Chính cái sự thật chết chắc đó khép đời con người lại với biết bao nhiêu mộng vàng.
Chớ gì mỗi người năng nghĩ đến cái sự thật chết chắc của đời mình để bớt đi cái gọi là tham sân si ở đời cũng như hành xử với anh chị em đồng loại cách bao dung hơn, tha thứ hơn. Nghĩ và sống với cái chết kề cạnh bên mình hy vọng sẽ làm cho con người bớt đi cái ngộ nhận tồn tại mãi chế độ của mình, triều đại của mình, danh vọng của mình.
Huệ Minh
ĐÔI ĐIỀU VỀ CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN QUẬN 8
TRONG QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP
TRƯỜNG TRUNG HỌC CỘNG ĐỒNG QUẬN 8
(SAU NÀY MANG TÊN LƯƠNG VĂN CAN)
Tác giả: Hồ Công Hưng
Chuẩn bị mừng kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trường PTTH LVC
Cách đây đúng 50 năm, Chương trình Phát triển Quận 8 (CTPT) ra đời. Trong phong trào chung tham gia công tác xã hội lúc bây giờ, một nhóm thanh niên, từng có chút kinh nghiêm từ nhiều hội đoàn khác nhau, đã họp lại bàn bạc và đệ trình lên chính phủ một dự án nhằm cải thiện đời sống dân cư ở Quận 8, một quân ven nghèo nhất của thành phố. CTPT bắt đầu hoạt động, chính xác vào ngày 15.8.1965, dưới sự bảo trợ của Bộ Thanh và Tòa Đô Chính (*). Trong tất cả những công tác cải tiến dân sinh như chỉnh trang các khu nhà ổ chuột, tổ chức dịch vụ ý tế lưu động và vệ sinh công cộng, sửa chữa các con hẻm lầy lội v.v…, CTPT đặt ưu tiên hàng đầu cho việc giáo dục như là một bước cơ bản để nâng cao đời sống người dân. Có thể kể một số việc: lập ký nhi viện (nhà trẻ), mở các lớp dạy nghề và giáo dục tráng niên, xây dựng thêm phòng học để giải tỏa lớp ca 3 tại các trường tiểu học… Đặt biệt là phải cấp bách thành lập cho kỳ được một trường trung học dành riêng cho con em Quận 8. Từ đó, Trường Trung học Cộng đồng Quận 8, sau này (1974) mang tên Lương Văn Can, được hình thành. Vì thế, với tư cách là một người trong cuộc, xin được có đôi lời về vai trò của tổ chức này (CTPT) trong quá trình tạo dựng nên ngôi trường thân yếu của chúng ta, như góp phần chuẩn bị cho ngày kỷ niệm 50 năm thành lập trường (1966-2016) vào năm tới.
Quận 8 được thành lập năm 1959 là một quận ven đô rất nghèo, tách biệt ra khỏi nội thành bởi hai con kênh Tài Hủ và Kinh Đôi. Ngoại trừ Xóm Củi, tiếp giáp với Quận 5, qua cầu Chà Và, gồm đa số người gốc Hoa có đời sống tương đối khá nhờ kinh doanh thương mại, nghề tiểu thủ công gia đình và xí nghiệp nhỏ, tại các phường còn lại (Hưng Phú, Rạch Ông, Chánh Hưng, Bình An), đa số cư dân sống bằng nghề làm công, buôn thúng bán bưng và nông nghiệp. Khi chiến tranh bắt đầu nổ ra, rất nhiều bà con từ các “vùng xôi đậu” Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công…, rời bỏ ruộng đồng, kéo nhau lên làm ăn sinh sống. Có những gia đình đùm đề chất hết trên chiếc ghe nhỏ, chèo lên neo đậu dọc theo các kinh rạch chằng chịt, rồi sau đó ít lâu tấp vào bờ cất các căn chòi lá tạo nên những khu ổ chuột tạm bợ giữa đám dừa nước, sú, vẹt, ô rô cóc kèn…
Về giáo dục, với dân số khoảng 150.000 người, tuy có nhiều trường tiểu học lớn như Xóm Củi, Hưng Phú, Chánh Hưng, Rạch Ông, mỗi năm có hàng ngàn học sinh hết lớp Đệ Thất (lớp Năm bây giờ), nhưng không có một trường trung học công lập nào, chỉ có một vài lớp tư thục thu nhận chừng vài chục học sinh. Đa số các em không thể chen chân vào các trường trung học trong nội thành, lại không đủ tiền theo học trường tư nên đành bỏ học đi lêu lổng, lượm rác hay may lắm thì vào làm các công việc hợp với trẻ con như gói bánh kẹo, giấy vàng mã… trong các xưởng sản xuất gia đình để có chút tiền phụ giúp cha mẹ.
2. Chuẩn bị mặt bằng thích hợp cho trường trung học tương lai
Quận 8 lúc đó được biết nhiều vì có công ty Heo (dân địa phương quen gọi là công xi hay lò Heo Chánh Hưng) ở phường Hưng Phú (bây giờ là Phường 8), cũng là nơi nhiều học sinh LVC (sau này) sáng sớm trước giờ đi học, đến kiếm thêm thu nhập bằng các công việc vác heo, cạo lông heo hay bán bánh ú, xôi, cà phê dạo cho công nhân làm việc thâu đêm. Vì có trại Tế Bần ở đường Dương Bá Trạc, chuyên giam giữ các thiếu nhi vô gia cư phạm pháp. Và có những bãi chứa rác của thành phố và nghĩa trang vùi lấp sơ sài dân nghèo chết không có tiền mua đất chôn.
CTPT đã chọn một bãi rác và nghĩa trang như thế tại Khóm 4A phường Chánh Hưng (gây giờ là Phường 4) làm nơi xây dựng trường trung học tương lai. Việc đầu tiên là gửi một đoàn cán bộ đến nắm rõ tình hình gia cư, rồi vận động bà con dời ra sống trong khu nhà lá cất tạm bên đường Chánh Hưng (bây giờ là Phạm Hùng), sau đó thông tin trên các báo cho những gia đình đến cải táng mộ thân nhân trong thời hạn hai tháng. Còn lại hơn 500 ngôi mộ vô thừa nhận được hốt cốt đem chôn trong một ngôi mộ chung. Dĩ nhiên bà con cũng phải thực hiện đầy đủ nghi thức cúng kiến để tạ ơn người chết đã nhường đất cho người sống. Sau đó CTPT nhờ một chiếc xáng của Sở Công chánh nạo vét dòng Kinh Đôi lấy đất bùn san lấp toàn diện tích khu nghĩa trang, xong chờ cho đất khô, chỉnh trang phân lô nhà cho dân (CTPT vận động nhiều tổ chức phi chính phủ giúp vật liệu xây dựng), dành được một mặt bằng rộng hơn cả mẫu nằm trên mặt tiền con đường Chánh Hưng chiến lược (theo bản đồ Canh cải của Chính phủ 1960). Vị trí này tuy không phải là trung tâm của quận, nhưng nằm giữa đồng trống không khí trong lành và thuận tiện cho việc đi lại của học sinh ở cả quận ngoại thành là Bình Chánh (thuộc tỉnh Gia Định) kế cận.
3. Chuẩn bị nhân sự cho việc điều hành trường và lập Ban Vận động thành lập trường
Trường Trung học Cộng đồng, theo quan niêm của anh em trong CTPT, cần phải được điều hành bởi một đội ngũ thầy cô giáo có tinh thần cộng đồng, nên đã xin Bộ Giáo dục thuyên chuyển một số thầy giáo từng hoạt động xã hội về Bộ Thanh Niên, rồi Bộ Thanh niên bố trí đến Quận 8 để hòa mình vào sinh hoạt và công tác ở địa phương, đồng thời tìm hiểu về quần chúng sau này sẽ là phụ huynh học sinh của trường. Và chủ yếu là tham gia vào Ban Vận động thành lập Trường Trung học, ở Quận 8 (và kế tiếp là Quận 6). Đó là các thầy Uông Đại Bằng, Nguyễn Phúc Khánh, Dương Văn Long, Hồ Công Hưng, Nguyễn Ngọc Thạch, Trần Bá Phẩm, Nguyễn Đức Tuyên, Võ Văn Bé, hai thầy này lần lượt làm hiệu trưởng Trường Trung học Cộng Đồng Quận 6, ra đời sau đó một năm..
Trong mọi công tác cải tiến dân sinh, dù lớn như chính trang các khu nhà ổ chuột hay nhỏ như tráng xi măng một con hẻm, CTPT đều áp dụng phương thức phát triển cộng đồng. Nghĩa là khơi dậy nơi đồng bào địa phương nhận biết nhu cầu cải thiện đời sống cộng đồng, rồi đề cử một Ủy ban gồm những người có uy tín và qua Ủy ban này, cùng nhau góp sức tham gia thực hiện những công việc có ích lợi chung cho cả cộng đồng. Người cán bộ thiện nguyện (còn gọi là tác viên xã hội) chỉ có vai trò chính yếu là làm chất men, chất xúc tác nhằm gây ý thức cho nhân dân, chứ không hề là người ban cho dân bất cứ điều gì. Trong tinh thần đó, sau nhiều lần tìm hiểu và thảo luận với các thân hào nhân sĩ, các thầy cô giáo cũng như các phụ huynh trong quận, CTPT đã thành lập một tổ chức với danh xưng khiêm tốn là Ban Vận động Thành lập Trường Trung học Quận 8.. Một số thành viên của Ban Vận động, sau khi có con em vào trường, đã tham gia Hội Phụ huynh học sinh để cộng tác với Ban Giám hiệu điều hành trường. Vì thế Hội phụ huynh học sinh của trường sau này mang tên “Hội Phụ huynh và Giáo chức” theo kiểu PTA (Parents and Teachers Association) của nhiều nước trên thế giới, vì có sư phối hợp giữa thầy cô và cha mẹ học sinh.
4. Qui chế Trường Đô Thị và Tỉnh hạt ra đời từ một thỏa hiệp với Bộ Giáo Dục.
Thời đó, ở miền nam, chỉ có ba loại trường trung học: Công lập, Bán công và Tư thục. Ban đầu, Ban Vận động Thành lập trường chỉ nghĩ đơn giản là giao đất cho Bộ Giáo dục để mở một trường trung học công lập, theo tinh thần cộng đồng, để con em trong quận được đi học miến phí hoàn toàn. Với lý do mặt bằng xây dựng là của cộng đồng, CTPT sẽ yêu cầu Bộ Giáo dục cho phép trường chỉ nhận học sinh cư ngụ trong Quận 8 và Bình Chánh (theo Tờ Khai Gia đình, một thứ Hộ khẩu) và bổ nhiệm Hiệu trưởng theo đề nghị của mình. Tuy nhiên khi tiếp xúc với các viên chức Bộ Giáo dục, thì được biết: Bộ chưa có dự trù ngân sách cho việc xây cất ngôi trường nào trong phạm vi thành phố. Vả lại, Bộ vừa mới thành lập Trường Trung học Quận 7 năm học 1965-1966 (tức THP Ngô Gia Tự ở phường 15, Quận 8 bây giờ). Muốn xây dựng một trường mới, cần trải qua thủ tục phức tạp, Bộ Giáo dục phải được Bộ Tài chánh đồng ý cấp cho một ngân khoản cần thiết và sau đó tiến hành xây dựng trường qua thủ tục đấu thầu. Như vậy không biết đến bao giờ mới có trường, trong khi đối với CTPT, đây là vấn đề cấp bách không thể tri hoãn..
Sau nhiều lần trao đổi giữa Bộ Giáo dục và CTPT, hai bên đi đến một thỏa hiệp như sau: Địa phương Quận 8 lo xây dựng cơ sở trường ốc và trang bị bàn ghế dụng cụ học tập và trả lương cho nhân viên, còn Bộ Giáo dục chỉ có trách nhiệm cung ứng đầy đủ số giáo chức cần thiết cho việc điều hành và giảng dạy. Tuy nhiên, Bộ Giáo dục coi thỏa hiệp này là điều quá mới mẻ, nên giao cho Phòng Pháp chế nghiên cứu để đệ trình chính phủ ban hành thành luật. Qui chế Trường Đô thị, Thị xã và Tỉnh hạt ra đời do Sắc lệnh số 168-GD/SL ngày 8.10.1966 và Nghị định số 1297-GD/TC/NĐ ngày 7.6.1967. Nhờ qui chế này mà có thêm rất nhiều trường trung học ở các vùng xa xôi hẻo lánh.
Ngày 20.10.1966, Trường Trung học Cộng đồng Quận 8 khai giảng năm học đầu tiên chỉ do “giấy cho phép” của Bộ Giáo dục. Đến năm sau, khi có qui chế pháp định rồi, Bộ Giáo dục mới thừa nhận Trường. Cũng đầu năm học 1967, Trường còn được Bộ Giáo dục chọn trong số 11 trường trung học toàn miền Nam áp dụng chương trình Tổng hợp (Comprehensive School), nghĩa là được tăng cường thêm các môn kỹ thuật (dành cho nam), kinh doanh (cho nam nữ) và kinh tế gia đình (chỉ cho nữ). Như vậy, cái tên đầy đủ của Trường phải là Trung học Cộng đồng Đô thị Tổng hợp Quận 8.
Trong những năm đầu hoạt động, còn khó khăn về cơ sở vật chất cũng như điều kiện học tập và sinh hoạt, CTPT đã yểm trợ hết mình cho Trường. Dãy nhà ngang gồm 4 phòng học cho 8 lớp (2 lớp đệ Lục và 6 lớp đệ Thất, lớp 7 và 6 ngày nay), văn phòng hiệu trưởng và nhà kho, do thầy Nguyễn Phúc Khánh chỉ đạo xây dựng gấp cho kịp khai giảng năm học đầu tiên, không thể đón nhận 6 lớp mới cho năm học 1967-1968. Vì thế ngay trong năm học đầu, CTPT đã nhờ một kiến trúc sư bạn là Trương Đức Nguyên Trang vẽ qui hoạch tổng thể ngôi trường hoàn chỉnh, để dựa vào đó CTPT vận động tài chánh, cộng với tiền lệ phí hàng tháng của học sinh và do Hội Phụ huynh quản lý, xây dựng dần theo nhu cầu phát triển của trường. Sau Tết Mậu Thân, dãy nhà ngang bị tàn phá, với kinh phí của CTPT, thầy Khánh cũng lo xây cất một nhà chơi (préaud) lớn bằng cột gỗ lợp fibro-ciment trên một phần nền dãy nhà này (bây giờ là nơi làm sân khấu).
Ngoài ra, CTPT còn nhờ một số anh chị du ca xuống trường ngày chủ nhật để tập cho các học sinh ca hát và sinh hoạt tập thể, nhằm mục đích tạo môi trường thân thiện và vui tươi với các em, có thể bù đắp phần nào căn nhà nhỏ hẹp của các em trong những con hẻm sâu tồi tàn. Lâu lâu, nhà trường cần tổ chức cho các lớp đi tham quan hay dã ngoại ở xa, CTPT vận động giúp phương tiện di chuyển và một phần chi phí tổ chức để đở gánh nặng cho phụ huynh. Bởi vì, lúc đó CTPT đã trở nên một tổ chức đủ uy tín để giao dịch với các cơ quan và đoàn thể từ thiện trong nước và nước ngoài, có khả năng giúp đỡ Trường về nhiều phương diện.
Công việc yểm trợ này chấm dứt khi CTPT giải tán vào năm 1971. Năm đó, Trường đã có 38 lớp với trên 1.500 học sinh.
Kết luận: Tinh thần cộng đồng cần được tiếp tục phát huy trong nhà trường
Đầu năm học 1974-1975, Giám đốc Nha Trung học (lúc bấy giờ là ông Phạm Tấn Kiệt) gửi văn bản yêu cầu trường đổi tên Trường, lấy tên một danh nhân với điều kiện không được trùng với tên một trường đã có trước. Hội đồng giáo sư (bây giờ là Hội đồng sư phạm) họp và chọn tên cụ Lương Văn Can trong số các tên khác là Lê Thánh Tôn và Đào Duy Từ. Như vậy, cái tên Trung học Cộng đồng chỉ còn là chuyện của quá khứ, trên 40 năm.
Tuy nhiên, không có quá khứ thì không có hiện tại, lại càng không thể có tương lai. Trong năm 2016 sắp đến, khi mừng kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường, dù muốn hay không, chúng ta cũng nhắc đến quá trình đầy khó khăn để hình thành nên ngôi trường ngày nay, cùng với sự đóng góp của rất nhiều người, gồm cả những kẻ chết đã phải di dời nhường đất xây dựng trường. Quá trình thành lập sẽ luôn là thành phần thiết thân, là những trang đầu trong truyền thống của Trường THPT Lương Văn Can. Nhưng điều quan trọng không phải là kể công nhóm người này hay tổ chức kia mà là xác định lại ý hướng ban đầu khi trường được tai nghén, rồi thành hình. Đó là tạo cho các thế hệ trẻ xuất thân từ mái trường này có tinh thần phục vụ cộng đồng vốn là điều kiện thiết yếu để một cộng đồng, dù nhỏ hay lớn, dù ở thời đại nào, được thăng tiến và phát triển bền vững.
Hồ Công Hưng (tháng 01.2015)
_________________________________
(*) Chỉ xin nhắc ở đây một số chức vụ quan trọng: Bác sĩ Hồ Văn Minh, Quản lý CTPTQ8, luật sư Đoàn Thanh Liêm, phụ trách đối ngoại, thầy Hồ Ngọc Nhuận (nguyên giáo chức tư thục, lúc đó là thiếu úy), Quận trưởng và ông Mai Như Mạnh (tốt nghiện Quốc gia Hành chánh) là Phụ tá hành chánh của Quận trưởng.