NGHỊCH LÝ ÐẠI PHÁP

NGHỊCH LÝ ÐẠI PHÁP

Bác sĩ Nguyễn Ý -Ðức

Nhớ lại vào tối Chủ Nhật ngày 17 tháng 11 năm 1991, chương trình “60 Minutes” của đài truyền hình CBS đã nêu ra một sự kiện làm xôn xao y giới cũng như công chúng khắp nơi. Ðó là sự liên hệ giữa ẩm thực của con dân nước Pháp với bệnh tim mạch.

Họ ăn nhiều chất béo động vật như pate, bơ, kem, fromage, uống rượu vang như uống nước lã, hút thuốc Gaulois liên miên và ngọa triều tĩnh tại cũng lắm. Toàn những thứ mà mọi người kết tội là thủ phạm có thể gây rủi ro cho tắc nghẽn mạch máu, đột quỵ, suy tim.Vậy mà họ ít bị những cơn heart attack nhất trên thế giới.

Ðây là điều có vẻ như không hợp logic nhưng lại đúng và khó bác bỏ. Và dân chúng đặt tên cho hiện tượng đó là The French Paradox – Nghịch Lý Ðại Pháp.

Chỉ mấy tuần lễ sau thảo luận thì số rượu vang bên Mỹ bán ra tăng tới 40%. Và các nhà y khoa học trên hoàn vũ đều ngạc nhiên về sự kiện tưởng như tréo cẳng ngỗng nhưng chứng cớ rành rành cũng như họ đang hăng say nghiên cứu, tìm hiểu nguyên do và có thể bắt chước.

Thực ra tác dụng của rượu trên sức khỏe đã được công chúng biết tới từ thuở xa xưa, khi rượu được gọi là “spirits”, một thứ làm linh hồn lâng lâng, yêu đời.

Vào thế kỷ thứ 8, hóa học gia Ả Rập Geberius gọi rượu là Nước Sinh Lực- Aqua Vitae. Và qua dòng lịch sử của nhân loại, rượu có vai trò đáng kể trong các nghi thức tôn giáo, giao tế, vui mừng, hoặc trong y học, thay nhiên liệu, dùng làm thuốc nổ.

Rượu là dược phẩm được tìm ra sớm nhất trên trái đất và đã được dùng trị bệnh ở Tây phương cho tới thế kỷ thứ 18, khi con người đặt ra các luật lệ để giới hạn sự lạm dụng rượu cho mục đích lạc thú cá nhân.

Sử gia kiêm triết gia Plutarch Hy Lạp (46-120 AD) đã viết rằng Rượu Vang là môn thuốc trị bệnh dễ chịu nhất.

Lang y Nicander (200 BC) khuyên dùng Rượu Vang pha loãng với nước để chữa phản ứng với cây Ðộc Cần (Hemlock). Y Sĩ Hy Lạp Dioscorides (40-90 AD) dùng Rượu Vang làm thuốc tê để mổ xẻ bệnh nhân. Phẫu thuật gia Hy Lạp Paul of Aegina (629-690) dùng Rượu Vang trị nhiều bệnh nặng nhẹ khác nhau.Thầy Cả Paul khuyên Timothy uống Rượu Vang để giảm cơn đau bụng và vài khó khăn khác của cơ thể.

Ngay từ thế kỷ 13, Y Sĩ Ý Ðại Lợi Arnold of Villanova đã trình bầy vai trò của Rượu Vang trong dinh dưỡng và y thuật. Và thủy tổ y học Tây phương Hippocrates đã dùng rượu để chữa nóng sốt, khử trùng, băng rửa vết thương hoặc làm thuốc lợi tiểu.

Bên Á Ðông, rượu được coi như một dược phẩm đứng đầu các thuốc (Tửu vi bách dược chi trưởng).

Cụ Hải Thượng Lãn Ông từng khuyên “Bán dạ tam bôi tửu, Lương y bất đáo gia”.

Danh y Lý Thời Trân của Trung Hoa khi xưa nhận định rằng uống một ít rượu làm khí huyết lưu thông, uống nhiều làm hại tinh thần, tổn thương tinh dịch bao tử, kích thích hỏa tà.

Các tôn giáo lại có quan điểm khác nhau đối với rượu.

Trong Tân Ước, Chúa Jesus nói với các môn đồ hãy uống rượu vang để nhớ tới máu của Người đã đổ ra để cứu rỗi nhân loại. Do đó rượu vang là một nghi thức không thể thiếu trong thánh lễ.

Phật giáo thì nghiêm khắc hơn, coi “Rượu là thứ làm cho người uống phạm vô lượng tội ác, tâm tánh mê loạn”.

Kinh Coran ghi rượu là sản phẩm của Satan nên nhà Tiên Tri Muhammad nói với các tín đồ rằng nếu đang say thì đừng cầu nguyện.

Thế nhân nhìn rượu dưới nhãn quan hơi trần tục nhưng dễ thương.

Theo Plato “ Không có gì tuyệt vời hoặc giá trị hơn là rượu vang mà Thượng Ðế đã ban cho loài người”.

Bác học Louis Pasteur của Pháp cho rằng “Rượu vang là món giải khát lành mạnh và vệ sinh nhất”.

Khi bị vợ trách nhẹ là ông có vẻ thích rượu rồi đó, thì Thủ Tướng Anh Churchill bèn trả lời:“ Bà nó ơi, tôi đã lấy từ rượu ra nhiều cái hay hơn là rượu rút ra từ tôi”

Còn thi sĩ Tú Xương ta than phiền:

“Một chè một rượu một đàn bà,

Ba cái lăng nhăng nó quấy ta”

Bợm nhậu thì tự an ủi:

“Chúa Chổm uống rượu tì tì

Thác xuống âm phủ khác gì vua Ngô”.

Và Trần Huyền Trân tâm tình với tóc bạc Tản Ðà:

“Nguồn đau cứ rót cho nhau,

Lời say sưa, mới là câu chân tình”.

Coi vậy thì rượu cũng có nhiều điểm dường như tốt đối với cơ thể đấy, phải không thưa quý thân hữu. Và cũng vì tốt nên mới nẩy ra “Nghịch Lý Ðại Pháp” để y khoa học nghiên cứu, tìm hiểu. Cũng như mới có Hội Nghị Quốc Tế về Wine & Health lần 3 ở Silverado Resort, California vào tháng 5, 2005.

Trong New England Journal of Medicine ngày 9 tháng Giêng năm 2003, bác sĩ Kenneth J. Mukamal và Ira Goldber của Ðại Học Harvard công bố kết quả nghiên cứu của họ về liên hệ giữa rượu và bệnh tim. Họ theo dõi 38.000 người đàn ông trong 12 năm và thấy những ai uống la de, wine hoặc rượu mạnh đều đặn và vừa phải mỗi ngày có thể giảm nguy cơ heart attack tới 37%. Nghiên cứu được National Institute of Health tài trợ.”

Vào năm 2001, trên Tạp San của Hội Y Khoa Hoa Kỳ, các bác sĩ Jerome L Abramson và Harlan M Krumholz của Ðại Học Atlanta cho hay “ Uống nhiều rượu sẽ đưa tới Suy Tim nhưng nếu uống vừa phải thì người cao tuổi sẽ giảm được nguy cơ của bệnh này”.

Bác sĩ Arthur Klasky, chuyên về bệnhTim ở Oakland, California, là một trong những người đầu tiên để ý tới tác dụng tốt của rượu với tim. Cách đây gần 30 năm, khi so sánh hồ sơ bệnh lý của trên 100.000 bệnh nhân, ông ta thấy những người không uống rượu đều bị nhồi máu cơ tim nhiều hơn những người uống vừa phải.

Khi theo dõi 85.000 nữ điều dưỡng tuổi từ 34 đến 59 trong thời gian 12 năm, các nhà khoa học của Ðại Học Harvard cũng đi đến kết luận tương tự. Tiến sĩ Eric Rimm của đại học này đã quan sát 44.000 nam nhân viên y tế trong vòng 2 năm và thấy là những ai uống hai drinks mỗi ngày thì có tới 30% ít bị nguy cơ đau tim hơn người uống nửa drink.

Các dữ kiện do viện Ung Thư Hoa Kỳ quan sát trên một triệu người Mỹ tại 25 tiểu bang cho thấy uống một drink mỗi ngày thì nguy cơ bị cơn suy tim ít hơn người không uống tới 25%.

British Medical Journal số ngày 22-2-22005 có đăng kết quả nghiên cứu bên Thụy Ðiển theo đó phụ nữ uống rượu vang vừa phải thì nhịp tim đập sẽ tốt hơn.

Giáo sư Emanuel Rubin và các nhà nghiên cứu của đại Học Y khoa Thomas Jefferson, Philadelphia, cho hay uống vang đỏ giúp giảm thiểu các chất gây viêm ở động mạch, nhờ đó tránh được bệnh tim và tai biến não.

Ðể giải thích tại sao có ích lợi này thì các khoa học gia tại bệnh viện Queen Mary, Luân Ðôn cho hay vang đỏ chứa mấy chất có thể ngăn ngừa chứng thoái hóa động mạch vì mỡ béo đọng lại.

Trong tạp san của Hôi Y Học Hoa Kỳ số tháng 10 năm 1995, Tiến sĩ Robert M. Hackman, Ðại học Davis ở California cho rằng rượu vang đỏ có chất flavonoids. Ðây là một loại chống oxy hóa rất mạnh có thể ngăn ngừa tác dụng xấu của các gốc tự do vào các bệnh thoái hóa, vài loại ung thư, sự lão hóa. Chất Chống Oxy hóa là những chất có thể bảo vệ tế bào trước phản ứng oxy hóa của các phần tử gốc tự do free radicals. Flavonoids giảm sự dính với nhau của tiểu cầu, máu lưu thông dễ dàng do đó giảm thiểu nguy cơ cơn Suy Tim và Tai Biến Mạch Máu Não.

Bác sĩ Bagrachi của Ðại học Creighton Omaha Nevada cho hay flavonoids mạnh hơn các chất chống oxy hóa khác như sinh tố C, E và beta caroten tới bẩy lần.

Kết quả nghiên cứu tại hai Ðại Học Y Khoa London và Queen Mary bên Anh cho hay là trong vỏ nho, trà có các chất Flavonoid, Polyphenol, Reservatrol, Quercetin. Tạp San Sinh Hoạc Hoa Kỳ số cuối năm 2004 cho hay reservatrol giúp các cơ thịt của tim hoạt động hữu hiệu hơn, nhất là khi cơ thể có căng thẳng.

Theo một số nghiên cứu, rượu vang đỏ mới có các chất này vì vỏ nho được giữ lại khi làm rượu, còn khi làm vang trắng thì người ta bỏ vỏ nho đi.Vì thế các nghiên cứu gia của viện thí nghiệm Aviram bên Do Thái đã công bố phương thức để tăng cường tính chống oxy hóa của vang trắng tương đương với vang đỏ.

Nhưng cũng có ý kiến lại cho là, người uống rượu vang thường ở giai cấp khá giả, ít hút thuốc và ăn uống chừng mực, đầy đủ dinh dưỡng hơn, nên ít bệnh tim mạch..

Trước những kết quả nghiên cứu được công bố khắp nơi, Bộ Y tế Hoa Kỳ và Tim Mạch Hoa Kỳ cũng phải thừa nhận là uống một chút rượu vang có thể có tác dụng tốt cho trái tim.

Còn quan điểm của Hội Y Sĩ Hoa Kỳ là các chất mà nghiên cứu nói có trong rượu thì cũng có trong thực phẩm như nho và nước nho. Vì thế hội này không khuyến khích người chưa uống vang bao giờ lại bắt đầu uống để hy vọng có ích lợi cho sức khỏe. Theo hội, nếu đã uống rồi thì nên điều độ với 350cc la de, 50 cc rượu vang, 5 cc rượu 80° mỗi ngày hai lần cho người nam, một lần cho người nữ.

Dè dặt về số lượng này thì trong Tân Ước đã nhắc nhở: “Nếu con uống rượu điều độ thì rượu sẽ làm con sống vui tươi hơn; trái lại nếu uống quá độ thì tâm hồn trở nên cay đắng, thân xác hung hãn”.

Cũng như trên mỗi chai rượu đều có ghi “Consumption of alcoholic beverages impairs your ability to drive a car or operate machinery, and may cause health problems”. Uống Rượu g làm suy yếu khả năng lái xe và đưa tới nhiều vấn đề xấu cho sức khỏe”.

Và Cụ Lãn Ông thường ân cần khuyên nhủ “nhất dạ tam bôi tửu” thôi, bà con nhé. Bôi của các cụ nhỏ xíu à.

Kết luận

Ðề tài “The French Paradox” vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng và cần nhiều nghiên cứu nữa để xác định vai trò của “một bôi rượu” với trái tim. Có phải tác dụng tốt là do thành phần hóa chất của rượu, số lượng tiêu thụ hoặc cách tiêu thụ.

Trong khi chờ đợi thì ta cứ từ từ cẩn tắc vô ưu, cân nhắc phúc họa của rượu. Vì rượu được biết tới từ nhiều chục ngàn năm. Người uống cũng nhiều mà người không cũng chẳng ít. Hậu quả tốt cũng có, mà xấu đếm cũng chẳng xuể.

Hơn nữa, rượu không phải là thần dược cho mọi bệnh và không phải thích hợp với mọi người.

Vậy thì cũng chẳng nên uống khi đang có rối loạn tâm can tỳ phế, hoang tưởng tâm thần; chẳng uống khi có thai, nuôi con sữa mẹ; chẳng tập tành tiêu thụ khi chưa hề uống bao giờ.

Ðành rằng một suất vang mỗi ngày giúp giảm thiểu nguy cơ bệnh tim và tai biến não nhưng quá nhiều thì tim lại dễ suy, huyết áp lên cao, ung thư xuất hiện, nội tiết bất thường.

Cho nên nếu biết lấy lẽ vừa phải, lấy điều độ làm kim chỉ nam, thì chắc rượu sẽ mang lại phúc nhiều hơn họa và cuộc sống chắc sẽ nhiều vui ít buồn.

Ðể rồi cùng nhau theo chân Tam Nguyên Nguyễn Khuyến mà:

“Lúc hứng đánh thêm ba chén rượu,

Khi buồn ngâm láo một câu thơ” .

Cho đời thêm thi vị.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Ðức

HY VỌNG VÀ ĐỨC TIN

HY VỌNG VÀ ĐỨC TIN

Ðốt sáng trần gian với ngọn lửa đức tin

Tôi Tớ Chúa ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận

Đức Tin là động lực của Hy Vọng.

Thánh Phanxicô Salêsiô cầu nguyện một mình sốt sắng trước Mình Thánh Chúa trong đêm tối đã nêu gương Đức Tin vào Chúa Giêsu Thánh Thể cho người ngoại giáo, cũng như Thánh Phêrô Veren đã lấy máu đào của mình viết lên hai chữ “Tôi Tin”. Riêng anh Shirley – một công nhân Công giáo – đã âm thầm sống đức tin trong hảng xưởng, khiến ông giám đốc cảm kích mà theo đạo Công giáo.

Còn Thánh Phaolồ Miki và các bạn tử đạo đã ươm trồng cây Đức Tín cho các tín hữu Nhật Bản trong 200 năm cấm đạo dữ dội, khiến họ kiên trì giúp nhau giữ đạo, mặc dù không có giáo sĩ hướng dẫn.

Riêng Giáo Hội Việt Nam, trong ba trăm năm, Tổ Tiên chúng ta đã anh dũng nêu gương Đức Tin bằng cái chết của trên 130.000 vị Tử Đạo. Các ngài gồm đủ mọi thành phần trong xã hội và chịu đủ mọi cực hình dã man.

Ban Biên Tập

Trong bóng tối giáo đường

(Thánh Phanxicô Salêsiô)

Vào những buổi chiều tà nhà thờ vắng vẻ, thánh Phanxicô Salêsiô thường đến trước Chúa Giêsu Thánh Thể sốt sắng cầu nguyện.

Một hôm đang lúc mãi mê cầu nguyện thì ngài nghe tiếng sột soạt trong bóng tối. Tưởng là kẻ trộm, ngài vụt đứng dậy cất tiếng hỏi: “Ai?” Một bóng lạ mặt tiến đến gần ngài và nói: “Thưa Đức Giám Mục, con không có đạo, con nghe Đức Giám mục giảng về Chúa Giêsu Thánh Thể, nhưng con không tin. Vì thế hôm nay, thừa lúc chiều tối, con lẻn vào nhà thờ, rình xem thử Đức Giám Mục viếng Mình Thánh Chúa như thế nào? Con thú thực: con đã thấy rõ đức tin của Đức Giám Mục. Giờ đây con vững vàng tin…”

Tuyên xưng bằng máu

Đức tin là con mắt thần, là sức mạnh vũ bão. Người có đức tin trông thấy điều mà những kẻ khác không thể trông thấy, làm được những cái kẻ khác không thể làm được.

Khi đứng trước lưỡi gươm trần của tên đao phủ đang đưa lên cao, Thánh Phêrô Veren vẫn hiên ngang tuyên bố: “Tôi tin”. Khi miệng bị chém không thể nói được nữa, ngài vẫn bình tĩnh lấy ngón tay thấm máu đang chảy ràn rụa trên ngực và viết lên mặt đất, nơi ngài sắp gục ngã làm của lễ, hai chữ: “Tôi Tin”.

Đúng như lời Thánh Kinh: “Sự chiến thắng của tôi chính là đức tin kiên vững”.

Đức tin của anh công nhân

Ông giám đốc của một xưởng kỹ nghệ chuyên sản xuất nông cụ, không tin có Thiên Chúa và cũng chẳng tin vào tinh thần trách nhiệm của các công nhân trong xưởng. Sáng hôm ấy, hơn 1000 công nhân trong xưởng nghe nói ông giám đốc đã lên đường đi công tác nơi xa, mà sớm lắm cũng một tháng sau mới trở về, nhưng đến tối ông âm thầm về lại xưởng.

Sáng ngày hôm sau, ông đứng trên văn phòng ở lầu hai quan sát các công nhân làm việc. Bộ mặt thực của mỗi người đều bị lộ: ai ai cũng lười biếng, nhác nhớn, duy chỉ một anh công nhân lúc nào cũng làm việc tận tụy, hăng say. Tên anh là Shirley, người Công giáo duy nhất của xưởng.

Hôm sau các công nhân nghe rằng, ông giám đốc đã hoãn chuyến đi vì trở ngại kỹ thuật! Riêng Shirley, chàng được gọi lên văn phòng:

Anh Shirley, tôi hết lòng khen ngợi anh, anh là một công nhân tốt. Tôi không thấy đức tin của anh, nhưng nhìn qua công việc lao động và thái độ sống của anh, tôi cũng hiểu được phần nào

Mấy tháng sau, các công nhân nghe tin ông giám đốc bắt đầu học giáo lý Công giáo.

Ba câu hỏi của giáo dân Nhật Bản

Giáo hội Nhật Bản rất anh dũng. Họ có nhiều vị Tử Đạo rất oanh liệt, chẳng hạn như Thánh Phaolô Miki và 25 bạn đồng đội đã bị bắt và bị treo trên những cây thập tự giá đối diện với bờ biển trên một chiếc tàu… Tuy phải gia hình đau đớn, Phaolô Miki và các bạn vẫn vui tươi và không ngừng giảng đạo cho những kẻ đến xem. Các Ngài kêu gọi họ ăn năn trở lại, tha thứ cho những ai sỉ nhục và kết án mình.

Thái độ đó khiến nhiều người đến xem điên tiết. Họ lấy giáo đâm chết tu sĩ Miki và các bạn. Hôm ấy là ngày 5.2.1597, ngay giữa một thời kỳ bắt bớ khá gắt gao, nhưng vẫn còn có tính cách địa phương.

Cuộc bắt bớ này, đến năm 1613 thì lan ra khắp mọi nơi và mọi chỗ. Năm đó chiếu chỉ của Daifusanna vừa được ban hành, Giáo Hội Nhật Bản liền rơi vào tình trạng nguy kịch. Dấu hiệu mở màn là cuộc xử tử công khai 50 Đấng Tử Đạo ở Nagasaki ngày 22.9.1622.

Cuộc bách hại trở nên dã man và ác liệt trên đất Kiu-shu vào những năm 1636-1638 sau khi quân sĩ của Shimbara, một viên tướng Công giáo đứng lên bảo vệ đức tin và sinh mạng, bị đánh tan hoàn toàn: gần 35.000 người Công giáo bị giết trong cuộc nổi dậy ấy.

Các vua Nhật tưởng đã diệt được đạo Công giáo tận gốc rể. Bên ngoài, các nước cũng nghĩ rằng đức tin của giáo dân Nhật còn quá non yếu, khó đương đầu nổi cơn bắt đạo gắt gao như vậy, nhất là với chính sách bế quan tỏa cảng của các vua Nhật, chính sách cấm các nhà truyền giáo đặt chân lên đất Phù Tang.

Thế nhưng thực tế lại khác. Vì các Kitô hữu không có linh mục, không Thánh lễ, không thánh đường, đã anh dũng ngoan cường sống đạo tới 200 năm sau, đến khoảng giữa thế kỷ XIX, thời Minh Trị Thiên Hoàng, khi các nhà truyền giáo lại được đặt chân lên đất Nhật.

Sau đây là một chứng tích hùng hồn cụ thể:

Một hôm, cha Petitjean đi đến giảng đạo tại Nagasaki trước mặt một số đông người Nhật. Nghĩ rằng họ toàn là lương dân nên sau bài giảng, ngài tươi cười hỏi: “Có ai thắc mắc gì không?” Một người đưa tay chất vấn:

Chúng tôi muốn được hỏi ông ba điều, yêu cầu ông trả lời cho chúng tôi có hay không?

Tốt lắm, xin quí vị cứ đặt câu hỏi.

Họ hỏi cha Petitjean: “Các ông có tin Đức Mẹ đồng trinh không? Các ông có vâng lời và thông hiệp với Đức Thánh Cha không? Là linh mục, các ông có giữ mình đồng trinh và sống độc thân không?”

Cha Petitjean đáp: “”.

Và họ nói: “Vậy thì mấy trăm người chúng tôi đây với ông là đồng đạo. Chúng tôi toàn là Công Giáo cả!”

Cha Petitjean hết sức bàng hoàng, ngạc nhiên, như từ cung trăng rơi xuống. Cha con âu yếm ôm nhau, không cầm được nước mắt vì quá sung sướng cảm động. Nhà truyền giáo hỏi:

Bấy lâu nay có ai giảng dạy cho anh chị em không?

Thưa cha, không có ai suốt hai thế kỷ rồi!

Vậy thì sao anh chị em còn sống đạo sốt sắng đến thế?

Thưa Cha, đó là nhờ ông bà Tổ Tiên chúng con truyền lại, sau là nhờ chúng con biết âm thầm cầu nguyện, dạy giáo lý cho con em, đoàn kết yêu thương đùm bọc nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Nhưng tại sao anh chị em lại đặt cho cha ba câu hỏi vừa rồi?

Thưa cha, vì ông bà chúng con trước khi chết có nhắn nhủ: sau này có ai đến giảng đạo, chúng con phải cảnh giác, phải lấy ba tiêu chuẩn ấy mà đánh giá xem họ có phải là những nhà thừa sai chân chính không. Nay chúng con quá đỗi vui mừng vì các cha đích thực là những người được Hội Thánh sai đến. Chúng con sẽ nghe lời các cha và giữ vững Đức Tin Tổ Tiên chúng con truyền lại.

Đức Tin Tiên Tổ

Suốt ba thế kỷ liền, kể từ năm 1533, Phúc Âm của Chúa đến Việt Nam cùng với Thánh giá Chúa. Biết bao tín hữu Chúa bị lưu đày, bị chiếm đoạt tài sản, lẩn lút sống trong rừng sâu nước độc, cam chịu mọi đau khổ để trung thành với Đức Tin.

Cho đến cuối thế kỷ XIX, người ta có thể tính được trên 130.000 đấng thuộc mọi thành phần đã được diễm phúc Tử Đạo. Trong số đó có 117 vị đã được các Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, Piô X và Đức Piô XII phong lên bậc Chân Phước. Và ngày 19.6.1988 Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã tôn phong các ngài lên bậc Hiển Thánh.

Chúng ta có thể chia ra như sau: Đời Trịnh Doanh: 2 vị.  Đời Trịnh Sâm: 2 vị. Đời Cảnh Thịnh: 2 vị. Đời Minh Mạng: 57 vị. Đời Thiệu Trị: 3 vị. Đời Tự Đức: 51 vị.

Thành phần các Thánh ấy gồm có: 8 Giám mục. 50 Linh mục. 16 Thầy giảng. 1 Chủng sinh. 42 Giáo dân.

Gương sống đạo của Tổ Tiên chúng ta

Đây là chi tiết các khổ hình đã dành cho các ngài như sau: Có những giáo xứ (ở Quảng Trị) bị lính lùa vào nhà thờ rồi chất rơm chung quanh đốt cháy tất cả. Các nữ tu Nhà Dòng Mến Thánh Giá Phan Rang bị vứt xuống giếng và lấp đất chôn sống đi. Có những thiếu nữ Công giáo non yếu bị đưa về Huế phạt gia hiệu, phơi nắng ngày này sang ngày khác rồi chặt một ngón tay trước khi đánh đập và tha về.

Ngoài ra, gương 12 vị Chánh trương, trùm trưởng khắp nơi bị đưa về Huế, giam trên thành Lồi (bức thành người Chàm xưa đắp lên để đánh với người Việt Nam, xa thị xã độ 10 cây số). Các ông phải bứt cỏ nuôi voi cho nhà vua cho đến khi chết dần chết mòn tất cả; nay 12 ngôi mộ của các ông vẫn còn nguyên vẹn dưới chân thành ấy.

Duới đây, xin ghi lại vắn tắt gương sống của một vài vị để soi chiếu cho chúng ta:

– Những vị có chức vụ trong nhà nước hoặc quân đội như: Thánh Micae Hồ Đình Hy làm quan Thái bộc tới Hàm tam phẩm. Thánh Phaolô Tống Viết Bường làm chức Thị vệ. Thánh Phanxicó Trần Văn TrungThánh Giuse Lê Đăng Thị làm cai đội. Thánh Micae Nguyễn Huy Mỹ là một lý trưởng gương mẫu liêm khiết.

Các vị này là những công dân tận tụy với chức vụ, trung thành với Tổ quốc và nhân dân, nhưng chỉ vì không bỏ đạo mà phải chịu án tử hình.

– Những giáo dân lãnh trách nhiệm tông đồ trong hội đồng giáo xứ như: Thánh Giuse Nguyễn Vân LưuThánh Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh, Thánh Anrê Nguyễn Kim Thông, Thánh Emmanuel Lê Văn Phụng, Thánh Antôn Nguyễn ĐíchThánh Matthêu Nguyễn Văn Phượng.

– Một phụ nữ Công giáo Việt Nam đã anh dũng tuyên xưng đức tin là Thánh Anê Lê Thị Thành.

– Những anh hùng vô danh từ Nam chí Bắc. Đó là các cụ ông, cụ bà trước đây đã bị bắt bớ, giam cầm, tra tấn rồi bị người ta rạch mặt lấy mực tàu xâm lên trên má hai chữ “Tả đạo” để dù đi đến đâu, nhân dân ai cũng nhận ra đây là những người theo đạo tả; nhưng đối với giáo dân, đây là biểu tượng của Đức Tin kiên cường sáng chói.

“Chúng ta hãy ca tụng những bậc vĩ nhân, những bậc tiền bối của chúng ta”. (Giảng viên 44, 1).

NGUỒN: NHỮNG NGƯỜI LỮ HÀNH TRÊN ĐƯỜNG HY VỌNG (NGLHTĐHV): Trích dẫn: Chương 13 – ĐỨC TIN

Biển Đông và sự thật phía sau chiếc mặt nạ hữu nghị

Biển Đông và sự thật phía sau chiếc mặt nạ hữu nghị

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-02-26

000_Hkg9812263.jpg

Vùng đảo Gạc Ma nhìn từ trên cao, ảnh minh họa chụp hôm 15/5/2014.

AFP PHOTO

Trong những ngày gần đây, Trung Quốc ngang nhiên xây dựng căn cứ quân sự trên vùng đảo Gạc Ma mà Bắc Kinh đã chiếm của Việt Nam vào năm 1988. Vệ tinh xác định diện tích xây dựng gấp hai trăm lần nếu so với năm 2004.  Trước tình hình nghiêm trọng như vậy nhưng Việt Nam vẫn giữ phản ứng yếu ớt như từ trước tới nay thường làm. Mặc Lâm phỏng vấn Phó GSTS Hoàng Ngọc Giao, nguyên Vụ trưởng Ban biên giới Chính phủ để tìm hiểu thêm lý do tại sao Việt Nam tiếp tục gần như im lặng.

Đe dọa chủ quyền Việt Nam

Trước tiên Phó giáo sư Hoàng Ngọc Giao chia sẻ:

PGS Hoàng Ngọc Giao: Rõ ràng đây là vấn đề có thể nói rằng rất nghiêm trọng đang đe dọa toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam đối với biển đảo, thế nhưng tôi cũng như người dân và các đồng nghiệp khác cảm thấy rất là thất vọng, đang ngóng chờ xem không biết là chính phủ Việt Nam sẽ có những động thái gì.

“Rõ ràng đây là vấn đề có thể nói rằng rất nghiêm trọng đang đe dọa toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam đối với biển đảo, thế nhưng tôi cũng như người dân và các đồng nghiệp khác cảm thấy rất là thất vọng, đang ngóng chờ xem không biết là chính phủ Việt Nam sẽ có những động thái gì.
-PGS Hoàng Ngọc Giao”

Cho đến bây giờ thì chưa thấy có một động thái nào cả và điều này theo tôi nó rất là không bình thường, nhất là chính phủ là người chịu trách nhiệm về việc quản lý đất nước bảo vệ chủ quyền là lãnh thổ của đất nước mà lại chưa có động thái gì rõ rệt thì đây là điều đang gây nên băn khoăn và lo lắng trong giới trí thức cũng như nhiều người dân Việt Nam.

Mặc Lâm: Như GS cũng đã biết hiện nay Malaysia và Philippines đang rất lo ngại việc bành trướng của Trung Quốc qua các động thái xây dựng các nơi mà họ chiếm dụng trái phép. Theo GS Việt Nam có nên liên kết với các nước có cùng quan ngại tại Biển Đông  với mục đích bảo vệ chủ quyền của mình hay không?

PGS Hoàng Ngọc Giao: Vâng, theo tôi việc liên kết với các nước có cùng lợi ích trong khu vực Biển Đông là sự cần thiết. Có lẽ sự cần thiết này không phải bây giờ nó mới đặt ra mà ngay từ khi những động thái đầu tiên của Trung Quốc khi đưa dàn khoan HD 981 vào vùng biển của chúng ta thì nó đặt ra sự cần thiết là ngoài nỗ lực đấu tranh bằng ngoại giao, đấu tranh bằng pháp lý thì Việt Nam cần phải có sự liên kết hợp pháp với các nước khác như Philippines, Malaysia hay các nước trong ASEAN để làm sao thúc đẩy tiếng nói của các nước nhỏ trong vùng Biển Đông để hạn chế, kiềm chế chính sách bành trướng xâm lược xuống phía Nam của Trung Quốc.

Tuy nhiên những bước đi của Việt Nam cho đến ngày hôm nay trong sự liên kết đó thì mới chỉ thể hiện ở việc liên kết vể mặt chính trị ngoại giao trong khối ASEAN nhằm thúc đẩy việc xây dựng COC (Code of Conduct) chứ còn về mặt đấu tranh pháp lý thì có thể nói Việt Nam, mặc dù theo tôi được biết về mặt hồ sơ pháp lý cũng như các căn cứ pháp lý của Việt Nam rất tự tin và có thể lập hồ sơ một cách đầy đủ để mà thực hiện những hành động pháp lý, thế nhưng rất tiếc cho tới bây giờ thì Việt Nam vẫn chưa thể hiện một chính sách đối ngoại hòa bình bằng con đường pháp luật để giải quyết vấn đề này mà cũng chỉ là dừng lại ở những tuyên bố khẳng định chủ quyền rất là chung chung. Theo tôi thì điều này nó chưa giải quyết được vấn đề và trong bối cảnh hiện nay chính phủ Việt Nam cần phải mạnh mẽ hơn nữa.

001_GR308262-305.jpg

Bản đồ hình lưỡi bò do TQ tự công bố nhằm chiếm trọn biền Đông.

Mặc Lâm: Thế nhưng có những ý kiến cho rằng Việt Nam nên mềm mỏng chờ đợi thời cơ khi đất nước mạnh hơn thì việc đối phó với Trung Quốc sẽ hiệu quả và có lợi hơn là tích cực chống lại Bắc Kinh trong tình thế bây giờ?

PGS Hoàng Ngọc Giao: Chúng ta gìn giữ quan hệ mềm mỏng với Trung Quốc nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta phải để cho Trung Quốc lấn tới như thế này. Trên thực tế Trung Quốc đang lấn tới và những hành vi xây dựng như thế của họ trên biển trực tiếp đe dọa chủ quyền của Việt Nam. Cụ thể đường đi ra Biển Đông của chúng ta ở các đảo Trường Sa bây giờ họ đã san lấp và lập ra các trạm và sau này nó sẽ trở thành các căn cứ quân sự của họ. Họ kiểm soát mở rộng ra toàn bộ vùng biển và như vậy Việt Nam dường như vào cái thế rất kẹt.

Nếu ngay từ bây giờ chính phủ Việt Nam không quyết định ngay có những hành động pháp lý mạnh mẽ hơn nữa, một mình đơn phương hay kết hợp cùng với các nước trong khu vực, đặc biệt cùng với Philippines thì theo tôi tình hình nó sẽ diển biến ngày càng xấu đi và nguy cơ chúng ta bị mất cả vùng biển ở Biển Đông nó đang hiện hữu, nó đang ngày càng rõ rệt hơn.

Đã khởi kiện thì phải khởi kiện toàn bộ

Mặc Lâm: Thưa GS quần đảo Gạc Ma là của Việt Nam và bị Trung Quốc đánh chiếm vào năm 1988 với các bằng chứng thuyết phục không thể chối cãi qua sự hy sinh của các bộ đội vẫn còn danh sách tử vong, vậy có nên chăng bắt đầu khởi kiện Trung Quốc ngay tại thời điểm này khi Trung Quốc tăng tốc xây dựng và mở rộng đảo Gạc Ma?

PGS Hoàng Ngọc Giao: Theo tôi việc kiện Trung Quốc không phải chỉ đơn thuần chỉ có một cái đảo Gạc Ma. Nếu nói về hồ sơ pháp lý thì Hoàng Sa là của chúng ta đó là chắc chắn, rất mạnh mẽ. Trường Sa thì có một số đảo, bãi đá các thứ thì chúng ta sau này mới tiếp quản và nó cũng chỉ là những cái đảo không có người ở tức là những bãi đá không được thừa nhận trong công ước luật biển năm 82. Do đó nếu chúng ta khởi kiện Trung Quốc là chúng ta khởi kiện về vấn đề danh nghĩa chủ quyền đối với các đảo và bãi đá trên Biển Đông.

” Nếu bây giờ chúng ta chỉ đi kiện mỗi cái đảo Gạc Ma thì dường như được hiểu là chúng ta mặc nhiên công nhận Hoàng Sa là của họ. Cho nên đã khởi kiện thì phải khởi kiện toàn bộ danh nghĩa chủ quyền của chúng ta đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
-PGS Hoàng Ngọc Giao”

Tôi nghĩ rằng đấy mới là đầy đủ, chứ còn có một bãi Gạc Ma thì chưa phải là một nội dung lớn để chúng ta có đầy đủ tất cả các căn cứ pháp lý. Bởi vì nó liên quan với nhau mà, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nó liên quan rất nhiều. Chúng ta có nhiều bằng chứng về lịch sử, pháp lý liên quan đến cả Hoàng Sa và Trường Sa từ thời Chúa Nguyễn, do đó nếu như khởi kiện thì chúng ta cần phải lập một hồ sơ về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và khởi kiện trong nghĩa chủ quyền đối với các đảo và bãi đá này.

Nếu bây giờ chúng ta chỉ đi kiện mỗi cái đảo Gạc Ma thì dường như được hiểu là chúng ta mặc nhiên công nhận Hoàng Sa là của họ. Cho nên đã khởi kiện thì phải khởi kiện toàn bộ danh nghĩa chủ quyền của chúng ta đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ở đây tôi muốn nói “danh nghĩa chủ quyền” và việc này phải để cho tòa xác định. Chúng ta luôn luôn khẳng định rằng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của chúng ta nhưng về mặt căn cứ pháp lý cũng như mặt địa lý, địa mạo rồi hàng hải thì phải để cho quốc tế phân định.

Tôi không nghĩ rằng chúng ta yêu sách đòi tất cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì chúng ta sẽ được ngần đó, thế nhưng đã là một hồ sơ pháp lý thì phải đầy đủ tất cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Mặc Lâm: Vâng, thưa GS Trung Quốc tỏ ra rất lo ngại dư luận của người dân Việt Nam. Khi dân chúng tổ chức các cuộc biểu tình chống Trung Quốc thì Bắc Kinh luôn luôn yêu cầu nhà nước Việt Nam can thiệp. Ông có nghĩ rằng đến một thời điểm nào đó thì nhà nước sẽ tổ chức hay khuyến khích các cuộc biểu tình chống Trung Quốc nhằm hỗ trợ các chính sách đối phó của nhà nước hay không?

PGS Hoàng Ngọc Giao: Theo tôi ở một nền dân chủ thì tiếng nói người dân rất quan trọng và chính sách đối ngoại của nhà nước phải dựa trên lòng dân. Ở đây tôi không muốn nói nhà nước phải khuyến khích hay cho phép. Ở đây phải khẳng định cái quyền có được tiếng nói để bảo vệ chủ quyền của đất nước, đó là quyền của nhân dân Việt Nam.

Tuy nhiên điều đáng tiếc là quan hệ chính trị cho nên chính phủ Việt Nam nhiều lúc cân nhắc đến chuyện quan hệ đối ngoại đối với Trung Quốc, giữ lấy khẩu hiệu 16 chữ vàng và 4 tốt. Trong khi đó nhận thức của nhân dân, công chúng thì người ta thừa thấy rằng cái 16 chữ vàng và 4 tốt nó chả có ý nghĩa gì cả và người ta thấy đường lối đối ngoại của phía Trung Quốc theo kiểu bành trướng đã xé toạc cái khẩu hiệu 16 chữ vàng và 4 tốt do họ nêu ra. Họ nêu ra như thế nhưng họ áp đặt chính phủ Việt Nam theo đường lối gọi là hữu hảo.

Đây là một âm mưu một sách lược vừa đánh vừa trói buộc đối phương của Trung Quốc.

Mặc Lâm: Xin cám ơn giáo sư.

Không phải tạm dung!

Không phải tạm dung!

Nguoi-viet.com

Lệ Hoa Wilson

Tôi người Việt Nam. Ông xã người Mỹ. Chúng tôi gặp nhau và thành hôn năm tôi 30 tuổi, đã một lần ly dị và có hai đứa con. Ông xã thì cũng 30 tuổi và còn là trai tơ.

Vùng I chiến thuật lấy Ðà Nẵng (nơi tôi và ông xã gặp nhau) làm thủ phủ nên có rất nhiều bộ chỉ huy trong đó có nhà thương của Hải Quân Mỹ là trung tâm y tế cho tất cả binh sĩ Mỹ trong vùng. Qua khỏi ngã tư Mỹ Khê, quẹo mặt để đi vào núi Non Nước, nằm về phía tay mặt là nhà thương. Tôi đoán nó chiếm trọn ít nhứt là năm mẫu đất với các trung tâm y tế mổ xẻ, chữa trị đủ loại, nhà ở cho binh sĩ và dĩ nhiên là một nhà xác! Một nhà xác không có nhiều nước mắt vì thân nhân ở mãi mười ngàn dặm xa!

Trước mặt nhà thương là một bãi đáp trực thăng để tải các thương binh, các chiến sĩ tử trận từ các chiến trường vùng I. Mỗi lần trực thăng đáp xuống thì con đường xe chạy được các quân cảnh Mỹ chận lại, từng chiếc cáng được vội vã khiêng ra chạy thẳng vào cổng chánh, có người sẽ tỉnh lại với một cái chân nằm đâu đó trong lá rừng rậm rạp, có người sẽ được trở về quê hương dưới lá cờ phủ kín, có người sẽ ngậm ngùi từ biệt những giấc mơ vì cánh tay đã mất, gương mặt đã bị tàn phá, linh hồn đã bị tổn thương…

Đại gia đình tác giả (áo đỏ, đứng thứ 2 từ trái) trong lần cậu con trai út tốt nghiệp đại học UC Berkeley. (Hình: Tác giả cung cấp)

Vì ông xã thuộc binh chủng hải quân và đóng quân trong nhà thương nên tôi đã có biết bao lần phải ngừng xe, tắt máy, ngồi nhìn những bước chân vội vã, những gương mặt chịu đựng, những ánh mắt buồn hiu của những người tải thương. Mỗi khi có một cái cáng phủ cờ Việt Nam hay Mỹ thì những người Mỹ xuống xe đứng nghiêm chỉnh đưa tay chào vĩnh biệt. Tôi ít khi thấy thương binh Việt Nam, có thể vì họ được chuyển tới một trung tâm y tế khác. Chỉ có một lần tôi thấy một cái cáng được khiêng ra khỏi cửa trực thăng, lá cờ Việt Nam Cộng Hòa phủ kín. Tôi không thấy mặt cũng như binh chủng của tử sĩ nhưng một người đàn bà đầu tóc rũ rượi, cánh tay quấn băng treo vào vai còn đẫm máu đang lảo đảo nhảy ra khỏi cửa trực thăng. Tóc chị trước kia chắc được cột lại bằng dây thun, nay chỉ còn một vài lọn lỏng lẻo trên đỉnh đầu còn bao nhiêu thì thả dài rối rắm xung quanh mặt.

Bạn ơi, hình ảnh đau thương nhứt không phải là cái cáng có người chết nằm phủ kín lá cờ vàng chói, không phải dòng nước mắt đầm đìa trên mặt người sống sót mà là một miếng băng vải mỏng dùng để quấn vết thương. Nó bị dơ vì đất và máu. Nó chỉ dài bằng một chiếc khăn mùi soa. Nhưng nó lại được người vợ trân trọng để ngang lên trán, dùng một cọng lạt dừa cột vòng lại sau đầu. Mảnh khăn tang được vội vã quấn tạm thời nhưng sự ly biệt thì chắc chắn ngàn trùng xa cách. Người thiếu phụ Việt Nam đang để tang cho người chồng chiến sĩ đã hy sinh vì tổ quốc!

Tôi không ra khỏi xe chào vĩnh biệt người chiến binh nhưng gục mặt vào tay lái nước mắt tuôn rơi khóc thương cho những đứa trẻ đang quẩn quanh trong thôn xóm chờ cha trở lại. Tôi tưởng tượng tới lúc gia đình nghe tiếng chuông reo, mở cửa ra và thấy một người binh sĩ đứng trước mặt với cái nón cầm trên tay. Người mẹ ở ngàn dặm xa kia có ngã xuống vì trái tim tan nát?… Một cái gì đó nhen nhúm trong tâm hồn tôi. Chiến tranh tiếp diễn cho tới một lúc nào đó thì hòa ước được ký, quân đội Mỹ rút đi.

Anh nấn ná xin ở lại Việt Nam và là nhóm binh sĩ cuối cùng ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất vào đầu năm 73. Tháng 6, 1973, tôi sanh đứa con trai đầu lòng cho anh. Tháng 9 năm 74 tôi qua Mỹ thăm anh tiện thể thăm dò chuyện xuất nhập cảng. Chúng tôi dự định chờ anh ra khỏi quân đội và sẽ về sinh sống tại Việt Nam. Ðiều kiện để tôi nói “I do” là chúng tôi phải ở Việt Nam và sẽ có bảy đứa con. Tôi nào biết trời cao đất rộng là gì, chỉ biết rằng tôi rất ham con và bảy đứa là một con số chấp nhận của gia đình VN, đâu nghĩ rằng đối với người Mỹ hai đứa là lý tưởng, ba đứa là chau mày, bốn đứa là nổi điên, năm đứa là tan nát, sáu đứa là thảm họa mà bảy đứa là… rồi đời!

Thời cuộc thay đổi, đến tháng 3 năm 75 thì tôi quay về Việt Nam để đón các con. Lúc đó tôi đang có thai đứa thứ hai được bảy tháng. Khi còn bên Mỹ, qua tin tức trên báo và tin rỉ ra trong quân đội thì chúng tôi biết chắc là Saigon sẽ mất, nhưng khi về Việt Nam thì Saigon vẫn vui vẻ, vẫn bình yên. Rạp chiếu bóng vẫn hát, tiệm ăn vẫn mở cửa, đám cưới vẫn tiến hành, tình yêu vẫn nở hoa… Tôi thầm cằn nhằn báo chí Mỹ thật là dỏm, toàn là đưa tin vịt không hà.

Nhưng với ngày qua, mọi việc có vẻ tệ hơn. Nhóm người quen bán hột xoàn với mẹ con tôi cùng nhau an ủi rằng “bà Mỹ” còn ở đây chưa chạy thì lo gì. Ông xã tôi kêu điện thoại ngày một hối thúc tôi ra đi. Tôi trả lời là má tôi không cho đi, sợ về Mỹ sanh rồi lấy ai săn sóc, làm sao có củi lửa để hơ, có lá xông để tắm, có nghệ vàng để thoa mặt, v.v.. Sanh xong rồi tôi sẽ qua.

Một tuần sau tôi mất liên lạc với anh.

Ngày 20 tháng 4, 1975 một trung sĩ Việt Nam lái xe jeep đến nhà tôi, gõ cửa:

“Xin lỗi đây có phải là nhà của bà Lê Thị Hoa không?”.

Tôi trả lời:

“Trung sĩ ơi, ở đây không có bà Lê Thị Hoa chắc trung sĩ muốn kiếm bà Lệ Hoa phải không?”

Viên trung sĩ vội nói:

“Tôi cũng không biết chắc. Tôi làm việc cho ban an ninh phi trường và được lịnh tới đây chở cái bà có chồng Mỹ lên gặp đại tá Mỹ phụ tá tùy viên quân sự…”

Tôi cầm lấy giấy và thấy tên tôi. Tôi vội dẫn theo hai đứa con nhỏ nhất lên phi trường Tân Sơn Nhất. Khi vào văn phòng,vị đại tá cho tôi biết là ông xã đã liên lạc với cơ quan của ông và nhờ họ giúp tôi và các con phương tiện để rời Việt Nam.

Vị đại tá nhìn xấp tài liệu nói:

“Chồng bà yêu cầu tòa đại sứ giúp đỡ bà và ba đứa con di tản khỏi Việt Nam lập tức. Xin bà hãy để hai đứa trẻ nầy lại đây cho cô thơ ký tôi trông chừng, còn bà thì theo xe trở lại nhà và dẫn đứa thứ ba tới đây, chúng tôi sẽ làm giấy tờ và gia đình bà sẽ ra đi nội trong ngày nay.”

Tôi ngẩn ngơ nhìn vị đại tá ngồi nghiêm chỉnh trước mặt:

“Ngài đại tá, ngài có nói chơi không? Tôi sanh ra, lớn lên, sống ba mươi lăm năm tại non nước nầy giữa cha mẹ, thân nhân, bạn bè… và bây giờ ngài cho tôi hai tiếng đồng hồ để từ bỏ tất cả… xin ngài hãy nói là ngài nói chơi, chuyện nầy không có thật…”

Nước mắt tôi ứa ra và chắc là tôi có vẻ bi thương của một con thú sắp chết nên vị đại tá rộng lượng nhìn tôi :

“Tôi biết tình cảm của bà. Thôi bà hãy dẫn con về và ngày mai trở lại. Ngày mai, bà có nghe rõ không? Chuyện đầu tiên bà thức dậy ngày mai là cùng ba con lên xe đến đây. Tôi sẽ gởi người trung sĩ nầy đến nhà bà sáng mai.”

Tôi về nhà và cả nhà bắt đầu khóc. Tôi đi lên đi xuống thang lầu, mở các hộc tủ ra rồi đóng lại, ra sân thượng nhìn chậu cúc héo queo, xuống nhà bếp ngồi lên bộ ván ngựa,vô nhà tắm rờ rờ cái lon múc nước, ra phòng khách nằm lên võng đưa kẽo kẹt… Tôi như người mộng du, làm tất cả những hành động vô nghĩa đó với tiếng khóc hụ hụ.

Ba giờ chiều tôi gọi điện thoại cho vị đại tá biết là vì tôi bị xúc động nên đã động đến cái thai. Hiện giờ tôi đang ra huyết và bác sĩ cấm không cho tôi di chuyển cho đến ba ngày sau. Dĩ nhiên vị đại tá không dám giỡn với tánh mạng người khác nên phải đồng ý cho tôi thêm ba ngày nữa. Tôi không nghĩ là sau ba ngày đó tôi còn có được một giọt nước mắt nào nữa trong cuộc đời.

Ba má tôi không đi vì tôi có người anh đi tập kết: ông bà chờ sự trở lại. Anh rể tôi không đi vì là sĩ quan Cộng Hòa: sợ mang tội trốn lính. Chị tôi không đi vì theo chồng.

Ba đứa cháu trai theo tôi vì sợ sẽ phải bị đày đi lính. Một đứa cháu gái theo tôi vì sợ sẽ bị gả ép cho thương phế binh Cộng Sản.

Vì thế ba ngày sau tôi mang một bụng bầu tám tháng và bảy đứa nhỏ lên phi trường. Vị đại tá nhìn tôi như nhìn con quái vật:

“Xin lỗi bà, theo giấy tờ thì tôi chỉ có quyền cho bà và ba đứa con của bà đi. Hiện tại bà có tới bảy đứa! Tôi thật không thể giúp bà.”

Khi người ta phải phấn đấu cho sự sống chết thì can đảm và khôn ngoan ở đâu bất chợt hiện ra. Tôi nhẹ nhàng nói:

“Tôi hiểu thưa đại tá. Tôi không trách ông. Nhưng đây là những đứa cháu tôi nuôi từ nhỏ giống như con tôi vậy. Nếu ngài không cho chúng đi thì mẹ con tôi cũng xin ở lại.”

Vị đại tá bối rối nhìn tôi. Có lẽ ông đã biết rằng rồi thì Việt Nam sẽ mất, rồi thì một làn sóng người sẽ cuồn cuộn ra đi. Sớm một vài ngày, bốn đứa trẻ nầy có thấm gì đối với số người đang rần rộ chen lấn ngoài kia. Ông thở dài, ngồi xuống ghế ký cái công văn “eight months pregnant wife and seven children of US citizen need to be evacuated” rồi đưa cho tôi. Chúng tôi theo dòng thác người nhớn nhác ra đi.

Chúng tôi tới Camp Pendleton ngày 5 tháng 5 năm 1975. Anh đang đóng quân ở Ferndale, một tỉnh lẻ nhỏ nhắn hiền hòa chỉ có bảy ngàn dân, cách San Francisco sáu tiếng đường xe về hướng bắc. Lúc đó chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Nga Xô vẫn tồn tại nên đây là một căn cứ hải quân rất quan trọng nằm trên một ngọn đồi cao ngó ra biển. Các đài radar tối tân được đặt cùng khắp để theo dõi các tàu ngầm xâm phạm bất hợp pháp vào hải phận Mỹ và California.

Khí trời California lúc đó là 75 độ mà mọi người lạnh cóng. Ðêm thứ hai tại camp, anh lái xe một lèo 16 tiếng để đến đón mẹ con tôi. Mười một giờ khuya một người lính Mỹ đến lều để dẫn tôi lên văn phòng nơi anh đang làm thủ tục.

Bạn có biết lúc đó tôi giống ai không?

Không Giống Ai Hết!

Ðây là một người đàn bà 36 tuổi, tóc hơi dính chùm lại vì cát bụi, mặt hỏm vào, gò má bị nám, mặc một cái áo dài xanh bên hông chỉ gài được một nút ở dưới nách vì thai bụng quá lớn, ngoài khoác một áo bầu thùng thình màu trắng, đầu trùm cái mền xám cột thắt dưới cằm, chiều dài mền thả phấp phới sau lưng. Le lói hơn nữa là người lính Mỹ trẻ thấy tôi run cầm cập nên cởi cái áo lính trận ra, trước mặt đầy những túi để dao găm, lựu đạn v.v… và trùm lên tôi. Tôi bước vào căn lều. Bàn làm việc nằm cuối phòng và anh đang đứng cúi xuống ký giấy tờ.

Chưa bao giờ trong đời tôi lại bước những bước chân nhẹ nhàng, nặng nề, tủi hổ, hoang mang, giải thoát, run sợ như lúc đó. Ðây là lúc bắt đầu cho những ngày tươi sáng với sum họp thương yêu, với nhà lầu chọc trời, với ngựa xe rộn rã, với tương lai đại học hay là lúc chấm dứt cho dòng sông Hậu hiền hòa với hàng dừa nặng trái, lúc từ giã những hàng me xanh thân yêu Trần Quý Cáp, lúc quay lưng lại với bến Ninh Kiều đằm thắm xinh tươi, lúc quì lạy cha mẹ quê hương nói lời vĩnh biệt?

Tiếng bước chân tôi làm anh quay lại. Anh bước tới ôm lấy tôi. Tôi cố gắng để khỏi ngất đi, quì xuống sàn nhà, tay ôm lấy mặt và nghẹn ngào: “Oh My God honey, I lost my family, I lost my country, I lost everything!” rồi tôi khóc nức nở. Anh quì xuống ôm đầu tôi. Anh cũng khóc. Tất cả người Mỹ trong phòng đều rưng rưng.

Ngày 13 tháng 6 năm 1975 tôi sanh cháu Jimmy. Tháng 9 tựu trường, tôi gởi hai đứa nhỏ nhất cho cô bạn, đi làm phụ giáo lớp một trường tiểu học Ferndale, hai đô la rưỡi một giờ.

Hè 1976, tôi đứng bán hot dog trong hội chợ và ba thằng lớn thì đi dọn rửa phân ngựa trong trường đua. Lúc đó chánh phủ Mỹ còn giàu nên cứ hai năm là các quân nhân được đổi tới một trạm binh khác. Tôi thấy tụi nhỏ rất buồn và sợ rằng sự dời chỗ thường xuyên sẽ làm tụi nó hụt hẫng vì xa bạn nên khuyên anh giải ngũ. Và chúng tôi dọn xuống miền Nam California, tỉnh La Habra.

Tôi thì để tất cả sự nghiệp lại Việt Nam, anh thì trước khi biến cố Việt Nam xảy ra, đã bị thua lỗ tất cả vốn liếng trong một vụ hùn hạp mở tiệm in với một nhóm dân sự nên chúng tôi hoàn toàn… sạch sẽ. Khi đi mướn nhà ở đường Dexford, La Habra, chúng tôi chỉ dẫn theo bốn dứa nhỏ nhất, hai trai hai gái. Chủ nhà là một người đàn ông Mỹ dễ thương, khi biết anh vừa giải ngũ thì rất vui vẻ nói:

“Ô, căn nhà nầy có ba phòng lớn, thật là lý tưởng cho gia đình ông bà với hai trai hai gái. Tôi rất vui lòng cho ông bà mướn.”

Chúng tôi dở khóc dở cười. Anh là người ít nói và chậm chạp nên tôi bèn duyên dáng cười cười nhìn ông

“Thưa ông, nếu tôi nói với ông là chúng tôi có tám đứa con thì ông có tin chúng tôi không?”

Lần nầy thì chủ nhà nhìn chúng tôi dở khóc dở cười. Ông ngẫm nghĩ một lát rồi nói:

“Thôi được, tôi đồng ý cho ông bà mướn. Mỗi tháng tôi sẽ đích thân đến thâu tiền nhà. Hy vọng là mọi sự sẽ tốt đẹp.”

Ông đâu có biết rằng tên tôi là Lệ Hoa nghĩa là một bông hoa mỹ lệ, đẹp đẽ chớ chẳng phải là nước mắt của hoa nghe bạn. Vì thế tôi thích trồng bông, thích vườn tược. Tôi sanh ra và lớn lên ở Cần Thơ, bà con sống ở Ô Môn, Thới Lai, Phong Ðiền, Cờ Ðỏ nên mỗi mùa Hè chị em tôi thường về vườn đi cầu khỉ, chèo ghe, bắt ốc gạo, hái vú sữa. Cái chất vườn Nam bộ đã ăn sâu vào máu tôi nên hiện giờ nhiều người còn cho rằng tôi không có vẻ gì là sang trọng như người Việt Nam sống ở Mỹ. Biết sao!

Sau khi dọn vô, tôi và các con hì hục cuốc đất, đổ phân và biến cái sân trống rỗng của ông thành ra một cái vườn đầy hoa vạn thọ (đây là để honor má tôi vì bà rất thích bông vạn thọ). Tháng sau khi ông tới thu tiền nhà thì ông ngẩn ngơ và phán một câu, “Tôi không cần phải tới tận nhà thâu tiền nữa, bà cứ viết check gởi cho tôi là được. Cám ơn bà về những bông vạn thọ.”

Một vài người quen xúi tôi xin đi làm waitress vì nghề nầy tiền lương chẳng bao nhiêu nhưng tiền tip thì… ăn chết không hết. Trời ơi tôi nghĩ tới cái viễn cảnh, anh sẽ đi làm, tôi sẽ đi làm lại còn tiền hưu trí từ quân đội nữa thì quả nhiên là… ăn chết không hết! Tôi vội vàng vác đơn tới tiệm Red Lobster gần nhà xin việc. Người manager hỏi bà có làm waitress bao giờ chưa? Dạ chưa. Bà có khi nào làm chủ nhà hàng chưa? Dạ chưa. Cứ hỏi…bà có… bà có… bà có…. Cứ trả lời… dạ chưa… dạ chưa… dạ chưa… và thế là tiền ăn chết không hết chỉ là mộng ảo.

Tôi mua tờ báo thấy rao là “Chương trình CETA của chánh phủ sẽ trả tiền trường cho một năm học để giúp bạn học các nghề văn phòng như thơ ký, kế toán, phụ tá hành chánh v.v… Mỗi tuần chương trình sẽ tặng bạn bốn chục đô để di chuyển và sau khi tốt nghiệp sẽ kiếm việc làm cho bạn…” Tôi nói với anh đây chắc hẳn là một sự lường gạt vì làm gì lại có sự tốt đẹp như thế. Anh thì lớn lên đã nhập ngũ, phần nhiều thời gian nếu không lang thang trên biển cả thì cũng đóng quân ở một xứ khác ngoài Mỹ nên đối với xã hội dân sự cũng có chút bỡ ngỡ. Tôi hăng hái tới cơ quan xin vào chương trình thơ ký. Người phụ trách chương trình thấy tôi là người tị nạn, chồng lại là cựu quân nhân, hình dạng có vẻ nghèo nên thương tôi. Sau khi nói chuyện và đọc cho tôi viết một đoạn Anh văn, bà nhận tôi vào chương trình thơ ký. Khi tôi lui cui làm giấy tờ, bà dịu dàng hỏi:

“Bà có giỏi toán không? Làm nhân viên kế toán thì nhiều lương hơn thơ ký thường và rất dễ kiếm việc làm.”

Tôi không dám trả lời vì không biết “toán” của bà thuộc về loại gì nên ngập ngừng:

“Dạ tôi cũng không biết chắc.”

Bà lấy ra một bài thi toán đưa cho tôi. Ái dà, bà ơi. Có phải là bà đang chà đạp cái trường Gia Long của tôi không? Tôi là học sinh đệ nhất A đây nha bà, dù tôi không được như bà Dương Nguyệt Ánh ngày nay phát minh ra cái gì là bom tìm nhiệt thì ba cái 25% của 100 là bao nhiêu, 1/3 của 75 có lớn hơn 2/3 của 40 không v.v.. là cái chuyện nhắm mắt cũng trả lời được.

Đại gia đình tác giả chụp trong dịp Tết. (Hình: Tác giả cung cấp)

Một năm sau tôi được giới thiệu vào làm cho công ty nhà hàng Dennys, bộ phận kế toán xuất nhập.

Làm việc bảy năm tại Dennys tôi đã học được biết bao điều về gia đình, xã hội, dân tình Mỹ. Trong những buổi ăn trưa tôi học đan áo, học móc khăn, học cách nấu món ăn Mỹ, Ý, Tây Ban Nha, học cách dạy con, cách đối xử với chồng, học cách không bao bạn ăn để rồi kể lể khi giận hờn nhau, mà mạnh ai nấy móc túi trả phần mình và tình bạn thì không bao giờ sứt mẻ.

Những người bạn ngoại quốc mới nầy giúp tôi hoàn thiện ngôn ngữ, hiểu rõ những tiếng lóng, sử dụng thành thục những thành ngữ, trả lời điện thoại một cách chuyên nghiệp.

Giúp tôi biết nói cám ơn với con cái. Biết dằn lòng không mở thư của chúng ra kiểm soát. Biết chỉ dẫn chúng tự thực nghiệm cuộc đời hơn là bao che lầm lỗi. Biết nói xin lỗi khi phạm phải sai trái.

Biết văn minh không phải là mặc áo hở ngực hở mông mà là tuân thủ theo Hiến Pháp. Biết tự do không phải là mạnh ai nấy làm mà là kính trọng nhân vị của chính mình và của đồng loại. Biết thành công là nhờ vào sự mẫn cán, học hỏi, cầu tiến chớ không nhờ vào nịnh bợ lấy lòng.

Biết các sắc dân khác cũng đầy thương yêu và nhiều đau khổ. Biết kính trọng người Mỹ đen. Biết thương yêu người Mễ nghèo.

Họ cười lăn lóc với cái accent Á Ðông của tôi nhưng họ không chê tôi dốt nát. Họ chỉnh sửa lại những tiếng tôi dùng sai trật nhưng không có ý khinh khi. Họ không đánh giá tôi cao vì tôi đến từ gia đình trưởng giả như tôi khoe khoang. Họ không nhìn tôi thấp kém vì tôi thuộc third world country như báo chí thường đăng tải. Họ nhìn tôi giống như họ, một người vợ, một người mẹ đang cố gắng kiếm tiền một cách lương thiện để giúp chồng nuôi dạy đàn con.

Chín mươi phần trăm nhân viên kế toán là đàn bà. Ðây là những bà mẹ, bà vợ ban ngày làm toàn thời gian, chiều về nấu ăn chăm lo con cái, cuối tuần giặt giũ, lau chùi nhà cửa, dạy con làm bài tập, đi chợ, đi chơi với gia đình. Họ sống bình thường mà còn giỏi hơn tôi là đằng khác.Vậy mà khi xưa tôi cứ nghĩ đàn bà Mỹ là đồ bỏ. Tôi mang tội khinh người. Khi ở Việt Nam tôi ít khi nào giặt quần áo cho tôi, cho chồng, cho con. Tôi chưa khi nào lau chùi cầu tiêu, thức khuya dậy sớm cho con bú, kiểm soát từng bài văn điểm toán cho con. Tất cả đều có anh tài xế, chị vú, anh bồi, chị bếp, cô giáo dạy kèm. Biết bao người đã than trời trách đất rằng sống ở đây sao mà cực quá, xã hội gì mà sướng đâu không thấy chỉ thấy cái gì cũng tự mình làm, thời gian hưởng thụ chẳng bao nhiêu mà làm việc thì quay tròn như chong chóng chẳng lúc nào ngừng. Cực ơi là cực. Chỉ chăm chăm muốn về Việt Nam hưởng thụ.

Bạn ơi, bạn hãy dừng chân một bước. Bạn hãy mỉm cười cầm từng món đồ dơ bỏ vào máy giặt, nhìn vết bẩn trên chỗ đầu gối và hình dung lại gương mặt mếu máo đáng yêu của con nhỏ khi té quị xuống bãi cỏ, nhớ lại ánh mắt chờ mong tin tưởng của con khi mẹ đến đỡ lên.

Bạn hãy nhìn cả nhà húp sột soạt chén canh bầu, cùng chia nhau miếng sườn nướng, cuộn chả giò. Bạn hãy cúi xuống đứa bé đang nở nụ cười ngây thơ chờ mong bình sữa bạn đang đu đưa trước mặt. Bạn hãy vừa xào món tàu hủ vừa trả lời thằng con đang cắm cúi làm bài tập bên kia bàn là Los Angeles không phải là thủ phủ của California con ơi. Thủ phủ của CA là Sacramento hoặc square of three is not three, it’s nine. Và năm phút sau đứa con vui vẻ đứng dậy: “Thank you mom (or dad). My home work is done.”

Ðây mới chính là lúc bạn sống, là lúc mà bạn xuyên thủng qua lớp giáp để linh hồn và huyết nhục bạn và gia đình cùng hòa quyện vào nhau. Ðây chính là lúc hột mè trí tuệ nảy nở trong các con do bạn gieo xuống, lúc hạt giống tình yêu thẩm thấu vào linh hồn chúng do bạn cày cấy vào. Chúng sẽ lớn lên với ân cần bạn gởi vào chén cơm, với giúp đỡ bạn xẻ chia trong bài tập, với thương yêu bạn vuốt thẳng áo quần, với mồ hôi bạn chảy dài trong trận đấu.Và vợ chồng bạn có cùng một trận tuyến, cùng một hướng đi.

Tôi đã từ bỏ quê hương điêu tàn, đã quay lưng với tương lai đen tối. Tôi đã chọn một nơi khác để cất nhà, một miếng đất khác để gieo hạt. Tôi đã dùng nước sông của họ để tưới tẩm, dùng đồi núi của họ để chăn nuôi. Tôi đã dùng chất xám của họ để tiến thân, dùng lòng tốt của họ để sống còn. Tôi không bao giờ quên dòng máu Việt trong tôi nhưng tôi sẽ không ngồi đó nhìn non nước nầy, dân tộc nầy với một ánh mắt hờ hững, dửng dưng, một thái độ vô ơn, rẻ rúng. Tôi sẽ không coi đây chỉ là một mảnh đất tạm dung và ngồi khóc thương cho một khung trời đã mất, mơ tưởng về một dĩ vãng đã tàn phai.

Tôi sẽ hòa vào các chủng tộc khác nhau, rơi lệ khi thấy tòa nhà chọc trời sụp đổ, đau thương khi nhìn xác lính được chở về, hân hoan khi nghe bài quốc ca trong các cuộc tranh tài. Tôi sẽ dạy các con cùng tôi nhận nơi nầy làm quê hương, sẽ đem tất cả khả năng lao động hay học vấn đóng góp vào sự thịnh vượng chung của quốc gia nầy.

Thay vì trồng cây cổ thụ tạm thời trong một cái chậu nhỏ để nó chỉ được lớn èo uột trong bóng râm, tôi và gia đình muốn đào một hố sâu, đổ đầy phân bón, tưới tẩm nó với tất cả ân cần, săn sóc nó với tất cả sức lực để cho rễ mạnh nó ăn sâu vào lòng đất, cho tàn xanh nó tỏa rộng khắp không gian. Chúng tôi không tạm dung. Chúng tôi mọc rễ và yêu thương quê hương nầy. Rồi một ngày nào đó, ở bên kia góc trời có cần tới một bóng mát bình an, chúng tôi sẽ chiết bớt một nhánh cổ thụ đem về…

Chúng tôi chỉ có thể làm như thế khi chúng tôi nhận nơi nầy làm quê hương.

Quốc Phụ và Quốc Sư

Quốc Phụ và Quốc Sư

Huy Đức

BBC

Báo Tiền Phong đã gỡ vài bức ảnh ‘nhạy cảm’.

Tuy thất vọng trước chương trình Táo quân Giao thừa 2015, nhưng ngay sáng mùng Một Tết, công chúng đã được đền bù khi nhìn thấy những tấm hình chụp “thâm cung” nhà Cựu TBT Nông Đức Mạnh.

Trận cười chưa dứt thì hôm qua, mùng 6 Tết, dân chúng lại mục kích loạt ảnh GS Vũ Khiêu hôn má và cho chữ hoa hậu Kỳ Duyên. Nhưng đừng tưởng truyền thông nhà nước chỉ đóng vai trò mua vui. Các nhà báo lề phải thâm thúy hơn những gì vài facebookers đang chế nhạo.

Lâu nay, giới học thật – căn cứ vào những “tác phẩm” từng xuất bản khi ông còn trẻ – không lạ gì vốn chữ nghĩa của học giả Vũ Khiêu.

Nhưng với công chúng số đông, nếu truyền thông nhà nước không cho chúng ta đọc câu đối mà Vũ Khiêu tặng Kỳ Duyên – “Trí như bạch tuyết tâm như ngọc – Vân tưởng y thường hoa tưởng dung” – làm sao biết, GS Vũ Khiêu không những không biết “niêm luật” tối thiểu khi viết câu đối mà còn, phần văn vẻ nhất, lại đạo thơ Lý Bạch (chưa kể về ý, vế đầu tự viết thì tối nghĩa, vế sau của Lý Bạch thì dung tục khi dùng cho tình huống một ông già trăm tuổi tặng cô gái 19 tuổi – Vũ Khiêu cũng đã từng đạo lời Quản Trọng nói về Thúc Nha, thời Đông Chu, khi “khóc” Tướng Giáp).

Một người đã ngồi ở vị trí tột đỉnh quyền lực suốt gần hai thập niên, về mức độ trọc phú, lẽ ra phải khá hơn các đại gia buôn đất

Nhiều người sững sờ khi nhìn thấy Nông Đức Mạnh ngồi trên chiếc ghế tay rồng, trước một hương án “thếp vàng”. Không nói về sự xa hoa. Dân chúng không còn kỳ vọng vào sự thanh liêm của những người như ông.

Nhưng dân chúng, theo lẽ tư duy thông thường, nghĩ, một người đã ngồi ở vị trí tột đỉnh quyền lực suốt gần hai thập niên, về mức độ trọc phú, lẽ ra phải khá hơn các đại gia buôn đất.

Ngoài khía cạnh văn hóa, việc tổng bí thư của một đảng cộng sản khi về hưu tự thửa cho mình một chiếc ghế mô phỏng ngai vàng còn cho thấy, tuy kêu gọi dân chúng làm cách mạng, quét sạch tàn dư phong kiến nhưng trong thẳm sâu, không ai thèm khát tàn dư phong kiến bằng họ – những nông dân có quyền vua chúa.

Có lẽ những chức tước đã kinh qua và những danh hiệu “cao quý nhất” mà Chế độ đã gắn cho GS Vũ Khiêu không những làm công chúng mà chính ông cũng choáng ngợp và tưởng thật.

Khi ngồi trên cái ngai vàng hàng nhái đó để tiếp khách chính thức, có chụp ảnh (có thể còn quay phim), chắc chắn ông Mạnh không nhận ra thân phận của một “hoàng đế cởi truồng”. Nhưng vàng, thau thì không bao giờ lẫn lộn. Khi xuất hiện trước công chúng, những công dân trưởng thành đã chỉ ra sự tồng ngồng của họ.

Sau thất bại của “Táo quân” tưởng không có gì vui. Sau những cuộc cười đau bụng tưởng đã có gì vui. Nhưng đời chẳng có gì vui.

Văn chương như Vũ Khiêu mà biết bao năm qua vẫn được không ít người tôn là “quốc sư”, vẫn được không ít người trông coi đình đền miếu mão mời viết văn bia; Văn hóa như Nông Đức Mạnh mà vẫn có thể làm Chủ tịch Quốc hội tới 9 năm, vẫn làm Tổng bí thư tới 10 năm… thì, đất nước không như thế này mới lạ.

Cướp – phong tục của Hội !?

Cướp – phong tục của Hội !?

Chuacuuthe.com

VRNs (25.02.2015) – Sài Gòn – Video có độ dài chưa đầy 30 giây được lan truyền trên các trang mạng xã hội mô tả sự hỗn loạn của nhiều thanh niên cướp kiệu giò hoa, dùng gậy quật, vụt vào những người bảo vệ kiệu, phản ứng lại, những người bảo vệ này cũng dùng gậy quất vào đám đông tại lễ hội đền Gióng, huyện Sóc Sơn, Hà Nội, vào sáng ngày 24.02, tức mồng 6 Tết.

Vnexpress cho hay, trước khi kết thúc lễ hội, đám đông hàng chục thanh niên lao vào giằng xé, xô đẩy nhau để tranh cướp lộc, một số thanh niên mặc lễ phục hộ tống cầm thanh tre vụt vào đám đông.

150225009

Tuy nhiên, ông Nguyễn Khắc Lợi, Phó giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội cũng có mặt ở đó tham dự lễ hội khẳng định: “… không thấy hỗn chiến, đánh nhau nào…”. Còn Trưởng công an huyện Sóc Sơn ông Trần Quang Huy cũng cho rằng “không có đánh nhau, không có ai trình báo”.

Bạn đọc Truong Cong Suong xót xa: “Đầu năm mở mạng đọc báo mạng cũng thấy xã hội đen thui”. Hoang Phuoc Quy đau lòng cho người dân: “Mình không bị đánh mà sao thấy quá đau!!!”.

Một số bạn đọc khác nhận định, đó là do kết quả của chế độ vô thần toàn trị đã dùng bạo lực trấn áp người dân khiến cho người dân Việt mất đi bản sắc dân tộc.

Daniel Nguyen nói mỉa mai: “nền văn hóa bạo lực do đảng CS tiêm vào con người VN đã thành công hoàn toàn.” Dinhnguyen Dinh nhận xét: “Đây là hệ quả của một nền giáo dục không nhân tính, nhân bản…” Tính Đoán có vẻ bực tức: “cái xứ lừa này, ông cha ta đã truyền lại từ bao đời này rằng:” Vô Văn Hóa và mê tín dị đoan” là phải đi đầu bác ah.”

Một số người bạn khác cho rằng, đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho những người nhập viện đánh nhau trong những ngày đầu xuân Ất Mùi gia tăng.

Bạn đọc Mua Thu chán nản: “Con số bị thương do đánh nhau ngày tết còn nhiều hơn cả con số tai nạn giao thông là ở đây chứ còn đâu. Dân Lừa dưới thời nhà sản ngày càng mu muội.” Bạn đọc Tuyen Chí Nguyen tiếp lời: “Mình vừa xem xong cái clip quay cảnh lễ hội đền Gióng năm nay. Xem xong thì mình không lấy làm ngạc nhiên với con số mấy nghìn người nhập viện vì ĐÁNH NHAU đến NHẬP VIỆN trong dịp Tết vừa qua nữa. Dân ta có truyền thống đánh nhau rất giỏi và đó là một vốn quý cần “gìn giữ và phát huy”. Chấm hết!”. Bạn đọc Võ Tiến Cường cho rằng: “Tôi nghĩ nước mình nên gộp tất cả các lễ hội thành lễ hội Đánh, vừa vui vừa rõ ràng về mục đích lễ hội. Cho dùng tất các dụng cụ bao gồm cả súng. Ai lành lặn đi về cho tuyển thẳng vào lực lượng Côn An ( côn đồ làm công tác bảo vệ an ninh).”

Theo thống kê sơ bộ của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, trong những ngày đầu năm Ất Mùi có hơn 300 người chết do tai nạn giao thông và 6.000 người nhập viện vì đánh nhau.

Cũng theo vnexpress, lễ hội đền Gióng, huyện Sóc Sơn (Hà Nội) diễn ra từ mùng 6 đến 8 tháng giêng âm lịch để tưởng nhớ Thánh Gióng, vị anh hùng trong truyền thuyết đánh thắng giặc Ân, đem lại thái bình cho đất nước.

Về phía quan điểm của nhà cầm quyền địa phương khi trao đổi với Zing.vn về hình ảnh ẩu đả tại lễ hội đền Gióng sáng 24.02, ông Lê Hữu Mạnh, Phó chủ tịch UBND huyện Sóc Sơn cho rằng, sự việc trên là bình thường, bởi đây là phong tục của hội. “Lễ hội không tổ chức phát lộc cho người dân nên ai muốn có phải cướp. Việc xảy ra xô xát là bình thường”, ông Mạnh nói thêm, Đại tá Trần Quang Huy, Trưởng công an huyện Sóc Sơn cũng xác nhận việc này”.

Lập luận này có thể trở thành “châm ngôn”: hễ Lễ hội nào không tổ chức phát mà ai muốn có thì phải cướp. Từ nay, các Lễ, hội như kỷ lục bánh trưng, tô hủ tiếu kỷ lục, chợ hoa, hội hoa xuân, lễ hội hoa anh đào… nếu không tổ chức phát thì ai muốn có phải cướp, và cướp này là bình thường, là phong tục của lễ, của hội. Đúng như người dân từng nói: nhà dột từ nóc. Cũng từ quan điểm này, ai cũng phải hiểu: ông Trần Văn Truyền, ông cựu Tổng Mạnh, cựu Tổng Phiêu, ông X, ông Y… do không được phát biệt thự, ngai vàng, tượng đồng, ngà voi, nhà thờ họ… nên phải cướp.  Và cướp này là ‘bình thường’, đây là phong tục của cộng sản.

HT, VRNs

ĐƯỢC BIẾN HÌNH ĐỔI DẠNG

ĐƯỢC BIẾN HÌNH ĐỔI DẠNG

Ðức Giêsu mê những ngọn núi vắng vẻ, đó là nơi Ngài gặp gỡ Cha, chìm đắm trong cầu nguyện.

Có nhiều ngọn núi trong cuộc đời Ðức Giêsu: núi của Bài Giảng về các mối phúc, núi Tabo nơi Ngài biến hình, núi Sọ và núi Ô-liu nơi Chúa thăng thiên.

Những ngọn núi trở thành cột mốc đánh dấu.

Những ngọn núi đan vào nhau làm nên cuộc hành trình.

Ba môn đệ thân tín được Ngài đưa lên núi Tabo, để củng cố niềm tin của họ, trước khi họ thấy Ngài như người bị Cha bỏ rơi và bị mọi người khai trừ ruồng rẫy trên núi Sọ.

Nhưng vinh quang của núi Tabo chỉ là một loé sáng bất ngờ và tạm thời, báo trước vinh quang viên mãn khi Ngài về Thiên Quốc.

Biến hình là một hành động của Thiên Chúa Cha.  Sau khi gặp Cha, Ðức Giêsu được Cha biến hình.  Sự biến đổi này ảnh hưởng đến thân xác và khuôn mặt, và đến cả y phục của Ngài.

Vinh quang của Con Thiên Chúa làm người vốn bị che khuất, nay được Cha hé mở cho các môn đệ.  Ông Môsê ngày xưa, sau khi lên núi gặp Ðức Chúa cũng đã phải che lại khuôn mặt chói lọi của mình.

Chẳng ai gặp Thiên Chúa thực sự mà lại không biến hình.  Ðời sống kết hiệp thực sự với Thiên Chúa làm cho người Kitô hữu tỏa sáng rực rỡ.  Biến hình không phải là trở thành cái gì khác mình, như Tôn Ngộ Không với các trò biến hoá.

Biến hình là trở lại với cái tôi sâu thẳm của mình:  tôi là con yêu dấu của Thiên Chúa.  Từ khi chịu phép Thánh Tẩy, chúng ta đã bước vào một cuộc biến hình, từ từ và liên tục.  Nếu chúng ta chấp nhận đi vào đường hẹp của Thầy Giêsu chúng ta sẽ được biến hình đổi dạng và phản ánh ngời sáng hơn vinh quang Chúa (x. 2Cr 3, 18).  Chúng ta phải trở thành điều chúng ta đang là.

Ðời sống Kitô hữu là một cuộc lên núi và xuống núi với Chúa Kitô mỗi ngày.  Cần cảm nếm được sự dịu ngọt và hạnh phúc khi được chiêm ngắm Chúa Giêsu trên núi cao.  Nhưng cũng phải xuống núi với Chúa để đi đến nơi hiến mình, nơi phục vụ, đi cùng và đi sau Chúa Giêsu đến với Vườn Dầu và Núi Sọ.

Ước gì chúng ta dám đón nhận những gai góc đời thường và nhìn mọi khổ đau bằng cái nhìn mới mẻ. Người Kitô hữu lên núi gặp Chúa để rồi được sai xuống núi hành đạo.  Nhưng xuống núi rồi, lại có khi thấy cần lên núi.

**************************************

Khi bị bao vây bởi muôn tiếng ồn ào, xin cho con tìm được những phút giây thinh lặng.

Khi bị rã rời vì trăm công ngàn việc, xin cho con quý chuộng những lúc được an nghỉ trước nhan Chúa.

Khi bị xao động bởi những bận tâm và âu lo, xin cho con biết thanh thản ngồi dưới chân Chúa để nghe lời Người.

Khi bị kéo ghì bởi đam mê dục vọng, xin cho con thoát được lên cao nhờ mang đôi cánh thần kỳ của sự cầu nguyện.

Lạy Chúa, ước gì tinh thần cầu nguyện thấm nhuần vào cả đời con.  Nhờ cầu nguyện, xin cho con gặp được con người thật của con và khuôn mặt thật của Chúa.

Trích trong “Manna”

Từ bỏ một lý tưởng (phần 1)

Từ bỏ một lý tưởng (phần 1)

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-02-24

Nghe audio: Chủ nghĩa cộng sản, Ảo tưởng và bi kịch

Chủ nghĩa cộng sản, Ảo tưởng và bi kịch...

Chủ nghĩa cộng sản, Ảo tưởng và bi kịch…

Files photos

Your browser does not support the audio element.

Phần một: Chủ nghĩa cộng sản, ảo tưởng và bi kịch

Ngày 30 tháng tư năm nay đánh dấu 40 năm ngày đảng cộng sản Việt nam nắm quyền thống trị trên toàn bộ nước Việt nam. Dưới chế độ độc đảng, xã hội Việt nam được qui định chỉ có một hệ tư tưởng duy nhất mà thôi đó là chủ nghĩa cộng sản. Song người ta thấy rằng những người không đồng tình với chủ nghĩa này càng đông, đồng thời họ cũng không đồng ý rằng đảng cộng sản Việt nam độc quyền cai trị đất nước.

Những người đầu tiên

Trong chương trình kỷ niệm Ký ức 40 năm, chúng tôi xin điểm lại sự hình thành và phát triển của dòng ý tưởng trái chiều đó ở Việt nam. Bài đầu tiên nói về những người đầu tiên chống lại sự độc quyền tư tưởng.

Vùng lên hỡi những nô lệ ở thế gian

Vùng lên hỡi ai cơ khổ bần hàn

…….

Đó là lời ca trong bài Quốc tế ca xuất phát từ phong trào cộng sản quốc tế vào cuối thế kỷ 19, nói lên niềm hy vọng xây dựng một xã hội lý tưởng của loài người. Đó là lý tưởng cộng sản và cốt lõi đấu tranh giai cấp của nó.

Năm 1930 đảng cộng sản Việt nam thành lập và từng bước nắm quyền trên toàn cõi đất nước. Đảng này thiết lập một hệ thống toàn trị với vài triệu đảng viên kiểm soát hết mọi cơ cấu tổ chức trong xã hội, từ cấu trúc cầm quyền tối cao cho đến những chi bộ ở thôn ấp, làng xã.

Nhưng ngay bước đầu tiên cầm quyền của nó, sự không tưởng đã lộ ra với một thực tế đẫm máu của cải cách ruộng đất, về mặt lý thuyết cộng sản là được tiến hành để tạo công bằng xã hội.

Bi Kịch

Ông Nguyễn Minh Cần, một đảng viên cao cấp thời cách mạng tháng tám 1945, nhớ lại:

Từ sau cuộc cải cách ruộng đất, đầu óc tôi bắt đầu suy nghĩ. Tôi cảm thấy là vì sao một cái đảng nhân danh nhân dân, nhân dân lao động mà lại đi đàn áp, giết chóc, những người lao động, những người nông dân, những người rất là bình thường một cách tàn bạo như vậy. Và cũng từ đó càng ngày tôi càng suy nghĩ hơn, rồi tiếp theo là cái cuộc đấu đá anh chị em trong phong trào Nhân văn giai phẩm, thì tôi thấy một sự bất công rất rõ rệt, nó bắt buộc tôi phải suy nghĩ lại vì sao?”

” Từ sau cuộc cải cách ruộng đất, đầu óc tôi bắt đầu suy nghĩ. Tôi cảm thấy là vì sao một cái đảng nhân danh nhân dân, nhân dân lao động mà lại đi đàn áp, giết chóc, những người lao động, những người nông dân, những người rất là bình thường một cách tàn bạo như vậy

Ông Nguyễn Minh Cần”

Ông Nguyễn Minh Cần tị nạn ở nước Nga từ những năm 1960, từ bấy đến nay ông không một lần về thăm quê hương, điều đó ông cho là một sự đau khổ và bi kịch.

Bi kịch cũng được một đảng viên cao cấp giấu tên đề cập đến.

Trước đây có những người yêu nước, có lòng với nhân dân, nhưng không có chổ nào, có một chổ đó thì người ta vào. Cái đảng theo mô hình Lê Nin này nó lợi dụng nhân dân làm công cụ, đánh cắp lòng yêu nước của nhân dân để thực hiện chế độ đảng trị. Tôi thấy đó là một bi kịch.”

Việc nhận ra tính bi kịch của chủ nghĩa cộng sản tại Việt nam đến với những số phận khác nhau vào những thời điểm khác nhau. Mấy mươi năm sau khi ông Nguyễn Minh Cần tị nạn chính trị tại Nga, sau ngày 30/4/1975, người cha của luật sư Lê Công Định, một cán bộ cộng sản cao cấp tại Sài gòn vỡ mộng về thực tại cộng sản. Luật sư Định kể lại:

Ba tôi là một người cộng sản xuất thân từ miền Nam, có một sự tranh chấp về mặt nội bộ với những đảng viên từ Hà nội vào. Họ là những người đi vào đây với tư thế của những người đi chiếm đóng. Còn ba tôi là một người cộng sản với tư cách của một người đang xây dựng một xã hội mới, một hệ thống mới.”

” Sau khi làm nghiên cứu sinh ở Tiệp về, mình thấy rõ hơn về mặt chính trị, là cái hệ thống cộng sản nó vướng những mâu thuẫn rất là căn bản

Tiến sĩ Hà Sĩ Phu”

Người đảng viên đó bị bắt giam, được thả ra, rồi người ta dự định phục hồi danh dự cho ông với điều kiện ông phải làm bảng kiểm điểm. Ông khước từ và nói rằng công cuộc đi theo đảng của ông đã là một bảng kiểm điểm vĩ đại.

Con đường Đông Âu

Có một con đường đi của những tư tưởng không cộng sản đến Việt nam là từ chính những quốc gia cộng sản từ rất sớm. Nhà văn bất đồng chính kiến Nguyễn Xuân Nghĩa vào năm 1967 được sang Tiệp Khắc du học. Gia đình ông là một gia đình tham gia cách mạng cộng sản từ những năm 1930. Tại Tiệp khắc ông chứng kiến mùa xuân Prague 1968, được nghe kể cuộc nổi dậy Hungary 1956, được các bạn đồng học kể cho nghe câu chuyện sinh viên Tiệp tự thiêu phản đối Hồng quân Liên Xô tiến vào Tiệp Khắc.

Dù Tiệp Khắc cũ là một xã hội cộng sản đóng nhưng cũng có hở, có phim ảnh, rồi những tờ báo ca ngợi cuộc sống ở Mỹ ở Đức, rồi dần dần tôi thấy phải suy nghĩ lại tư tưởng của mình, phải có ý thức về chính trị.”

Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, người đã có những suy nghĩ về sự bất hợp lý của mô hình cộng sản ngay khi bắt đầu nghiên cứu khoa học tại Việt nam trong những năm 1960, khẳng định được những điều đó sau khi ở Tiệp khắc trở về.

Sau khi làm nghiên cứu sinh ở Tiệp về, mình thấy rõ hơn về mặt chính trị, là cái hệ thống cộng sản nó vướng những mâu thuẫn rất là căn bản.”

Con đường Sài gòn

30/4/1975, Sài gòn và Việt nam Cộng hòa sụp đổ. Nhưng những giá trị của nó không mất đi, mà tác động ngược lại lên những người đến từ miền Bắc. Vài ngày sau cái ngày lịch sử ấy Tiến sĩ Hà Sĩ Phu vào Sài gòn.

Đó là một cú chuyển biến rất mạnh. Tức là nhảy vào Sài gòn thì mình thấy nó phát triển, đầy đủ mà trước đây mình không biết. Trước đây miền Bắc tuyên truyền rằng miền Nam đau khổ. Tôi vẫn còn nhớ bài hát của nhạc sĩ Hoàng Hà rằng

” Và không chỉ là vấn đề khoa học, mà khi tôi đi quan hệ ngoài xã hội, tôi thấy con người miền Nam họ sống với lễ giáo phương Đông rất là nền nã, chứ không bị pha tạp, bị hủy hoại như ở miền Bắc

Tiến sĩ Địa vật lý Nguyễn Thanh Giang”

Hôm nay em mặt đôi áo mới

Màu áo nâu non hồng tươi

Chúng ta có cơm và áo rồi

Nhưng trong Nam còn đang rối bời

Mong sao rồi đây cơm áo được khắp Bắc Nam cùng vui.

Tôi tưởng miền Nam khổ lắm.”

Miền Nam Việt nam cũng gây ấn tượng cho Tiến sĩ Địa vật lý Nguyễn Thanh Giang, người từng đi bộ đội Việt minh thời chiến tranh chống thực dân Pháp. Khi tiếp xúc với các đồng nghiệp người miền Nam ông thấy rằng họ là những nhà khoa học thực thụ, và ông còn thấy những điều khác trong lần đầu ông vào miền nam.

Và không chỉ là vấn đề khoa học, mà khi tôi đi quan hệ ngoài xã hội, tôi thấy con người miền Nam họ sống với lễ giáo phương Đông rất là nền nã, chứ không bị pha tạp, bị hủy hoại như ở miền Bắc.”

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang là một trong những người đầu tiên trong giới khoa học ở miền Bắc sang Mỹ tham dự hội thảo khoa học. Ông nhớ lại:

Tôi vỡ nhẽ ra rằng những điều tôi được nhồi sọ từ trường phổ thông tới đại học là không đúng. Họ bảo rằng tư bản giãy chết, xã hội tư bản đầy dẫy những xấu xa. Lúc bấy giờ thì trong đoàn có năm người, trong đó có ông Phạm Quốc Tường là Thứ trưởng Bộ Công nghiệp, tôi vỡ nhẽ ra và nói với ông ấy rằng anh ơi đây mới chính là xã hội chủ nghĩa chứ không phải là Liên Xô đâu anh!”

Vào giữa những năm 1980 Tiến sĩ Hà Sĩ Phu công bố bài viết của mình mang tên Dắt tay nhau đi dưới tấm bảng chỉ đường của trí tuệ, một bài viết chống lại sự áp đặt của tư tưởng cộng sản. Ông bị bắt giam sau đó.

Những bi kịch của những người cộng sản còn có thể kể ra trường hợp ông Bùi Tín, Đại tá cộng sản Việt nam có mặt tại Sài gòn vào ngày 30/4. Sau khi tị nạn chính trị tại Pháp, ông viết Hoa Xuyên Tuyết, để nói lên niềm hy vọng của ông là những đóa hoa bé nhỏ sẽ xuyên thủng bức màn che đậy tư tưởng vô minh của chế độc độc tài.

Một người khác là Thiếu tướng Trần Độ, người từng nói với các sĩ quan Pháp sau trận Điện Biên Phủ rằng binh lính Việt Minh của ông bừng bừng khí thế chiến đấu vì căm thù giai cấp và dân tộc bị áp bức, đã kết thúc cuộc đời với tư cách tội đồ trong tay những người đồng chí cũ.

Trong phần tiếp theo của loạt bài này chúng tôi xin điểm lại sự chuyển biến nhận thức của những người trẻ tuổi hơn, hoặc những người nhận thức trễ hơn về một ý tưởng xã hội khác với cộng sản. Xin mời quí vị theo dõi.

“LÂU ĐÀI” CỦA ÔNG NÔNG ĐỨC MẠNH VÀ CHÍNH SÁCH NHÂN SỰ CỦA ĐẢNG

“LÂU ĐÀI” CỦA ÔNG NÔNG ĐỨC MẠNH VÀ CHÍNH SÁCH NHÂN SỰ CỦA ĐẢNG

Huỳnh Ngọc Chênh

Ảnh trên báo Tiền Phong đã bị gỡ xuống

Ảnh trên báo Tiền Phong đã được gỡ xuống

Con gà khoe tiếng gáy; Con thú lo chăm chút bộ lông (ngay cả khi đồng loại của nó đang gào thét vì đau đớn); Trọc phú khoe của cải và nhà cao cửa rộng; Nhà văn hóa tự hào về tác phẩm của mình; Nhà lãnh đạo chính trị chăm chút sự nghiệp và những công trình để lại cho dân cho nước.

Ông cựu TBT Nông Đức Mạnh lại chăm chút cái lâu đài hào nhoáng của mình.

Ông bỏ công chăm chút đến từng chi tiết trên ghế ngồi, từng hoa văn trên mặt đá cẩm thạch lót nền và lót tường…nghĩa là ông chăm chút độ hào nhoáng của lâu đài ông đến từng cm, mặc cho chung quanh, dân chúng của ông đang lầm than rách nát vì đói nghèo, vì bất công xã hội. Trẻ con vùng cao thiếu trường để học, thiếu áo quần giữ ấm, thiếu cầu để vượt sông, thiếu thịt để ăn. Bà con dân oan lang thang giữa thủ đô ngay trong đêm 30 tết, không nơi trú ngụ. Đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng…

Khi sự hào nhoáng đến kệch cỡm của lâu đài ông lộ ra thì không những tầm văn hóa và tầm nhận thức của ông lộ ra, bộ mặt đạo đức giả cũng rơi xuống mà cả cái chính sách nhân sự của đảng CSVN cũng phơi trần ra mặt trái của nó.

Ông là người cộng sản được tổ chức đánh giá tốt nhất trong gần 4 triệu đảng viên, nên ông mới được sàng lọc và chọn ra là người số một, người đứng đầu đảng và cũng là người lãnh đạo tuyệt đối đất nước.

Người cộng sản tốt nhất là người “vừa hồng vừa chuyên” tốt nhất trong số 4 triệu người vừa hồng vừa chuyên, có đạo đức cao vời vợi không ai sánh bằng, có trí tuệ và nhận thức không ai theo kịp… và có như vậy thì mới được đưa lên làm tổng bí thư.

Ở cương vị TBT, ngoài việc lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện đất nước, ông còn là người số một đưa ra quyết định chọn lựa ai là nhân tài để kế vị ông, kế vị những chức danh cao nhất cho bộ máy nhà nước theo chính sách xây dựng nhân sự của đảng ông.

Ông là người quyết định cao nhất ai sẽ là TBT, ai sẽ là chủ tịch nước, ai sẽ là thủ tướng, ai sẽ là bộ trưởng…trong các nhiệm kỳ sau ông.

Tại hội nghị 10 vừa rồi, ông Tô Huy Rứa đã tuyên bố nhiệm vụ chọn lựa đội ngũ nhân sự kế thừa là rất gay go nhưng bô chính trị và trung ương đảng đã hoàn thành tốt đẹp khi chọn ra được 22 người được cho là xuất sắc nhất để quy hoạch vào bộ chính trị và ban bí thư kế thừa, rồi trong số đó sẽ chọn ra người tài đức số một để đưa lên làm TBT.
Hội nghị trung ương đảng trước đây trên 10 năm cũng đã làm như vậy để chọn ra ông để đưa lên. Ông dĩ nhiên được đánh giá là tài đức nhất vào khi đó.

Thế nhưng, sau khi vãn tuồng, ông nhanh chóng bộc lộ ra là một con người như thế nào thì ai nhìn vào cũng biết là như thế nào.

Vậy thì làm sao tin được những nhân sự kế thừa ông do ông lựa ra, tin được những nhân sự tiếp theo, tin vào 22 nhân sự mà hội nghị 10 vừa quy hoạch?

Làm sao tin được chính sách nhân sự theo kiểu người trước nhường ngôi lại cho người sau một cách chủ quan duy ý chí không thông qua sự bầu bán dân chủ thật sự của toàn dân?

HNC

Chỉ có con thú mới ngoảnh đi trước nỗi đau của đồng loại để chăm chút cho bộ lông của mình.

https://anhbasam.files.wordpress.com/2015/02/h1172.jpg

Ðồng Nai: Man rợ vụ giết người, hiếp rồi đốt xác

Ðồng Nai: Man rợ vụ giết người, hiếp rồi đốt xác

Nguoi-viet.com

ÐỒNG NAI (NV)Chiều 30 Tết, hai nghi can nhậu xong đòi bạn nữ cho quan hệ tình dục nhưng bị cự tuyệt, cả hai đã bóp chết nạn nhân, thay nhau hiếp xác rồi đốt để phi tang.

Báo Công Lý đưa tin, ngày 23 tháng 4, công an tỉnh Ðồng Nai cho biết, đang bắt giữ hai hung thủ là Lương Tấn Khanh (38 tuổi), ngụ tại huyện Tân Phú và Bùi Thanh Hoài (29 tuổi), ngụ tại tỉnh Long An) về hành vi giết người.



Hiện trường vụ giết người, đốt xác ở rừng tràm. (Hình: báo Công Lý)

Trước đó, vào ngày 20 tháng 2 (tức ngày mồng 2 Tết), người dân phát hiện một xác chết bị thiêu rụi trong đồi tràm tại ấp Lộ Ðức, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom. Nạn nhân được công an xác định là Phạm Thị Phương Vân (30 tuổi), ngụ tại ấp Thái Hòa, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom.

Theo thông tin từ gia đình nạn nhân, ông Phạm Công Sơn, anh ruột của nạn nhân cho biết, bà Vân chưa có gia đình riêng, hiện đang sống cùng bố mẹ và làm nghề buôn bán tạp hóa. Khoảng 10 giờ ngày 18 tháng 2 (tức ngày 30 Tết), bà Vân chạy xe máy rời khỏi nhà để đi chơi cùng với bạn nhưng không cho biết mình đi đâu. Cũng kể từ hôm đó, gia đình không thấy bà Vân trở về nhà.

Cho đến trưa ngày 20 tháng 2, thì gia đình ông Sơn nhận được hung tin là bà Vân đã bị thiêu cháy trong đồi tràm. Khi đến nơi kiểm tra, gia đình thấy thi thể đã bị cháy đen, nhưng tất cả tài sản thì vẫn còn nguyên không bị mất.

Xác định đây là một vụ án giết người nên cơ quan công an đã truy tìm hung thủ. Liền sau đó, hai hung thủ giết người đã ra đầu thú và khai nhận tội.

Báo Công Lý dẫn lời khai ban đầu của các hung thủ Khanh và Hoài với cơ quan điều tra, bà Vân là bạn chung, thường tổ chức ăn nhậu cùng nhau. Vào ngày 20 tháng 2, cả 3 tổ chức nhậu chung tại xưởng gỗ thuộc ấp Lộ Ðức.

Trong cơn say, ông Khanh và ông Hoài đã đòi bà Vân phải quan hệ tình dục với mình. Bị bạn gái cự tuyệt, cả hai đã bóp cổ cho đến khi bà Vân tắt thở, rồi thay nhau hiếp xác nạn nhân. Sau đó đưa xác vào đồi hoang để đốt phi tang và cùng nhau bỏ trốn. (Tr.N)

Ân xá Quốc tế : Việt Nam vẫn hạn chế nghiêm ngặt quyền tự do ngôn luận

Ân xá Quốc tế : Việt Nam vẫn hạn chế nghiêm ngặt quyền tự do ngôn luận

Thanh Phương

RFI

media

Biểu tượng “Ngọn nến Hy vọng” trên trang amnesty.fr (DR)

Trong bản báo cáo thường niên 2014 về tình hình nhân quyền trên thế giới, tổ chức Ân xá Quốc tế nhận định rằng Việt Nam tiếp tục hạn chế nghiêm ngặt các quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do tập hợp một cách ôn hòa.

Hôm nay, 25/02/2015, tổ chức Ân xá Quốc tế ( Amnesty International ) vừa công bố bản báo cáo thường niên 2014 về tình hình nhân quyền trên toàn thế giới.

Nhận định chung của Ân xá Quốc tế : năm 2014 là một năm « rất tồi tệ » đối với hàng triệu người là nạn nhân của bạo lực. Thế mà phản ứng của cộng đồng quốc tế với các vụ xung đột và hành động bạo lực của các quốc gia và các tổ chức vũ trang rất là vô hiệu quả và đáng chê trách. Theo Ân xá Quốc tế, trước việc gia tăng các vụ tấn công man rợ và trước việc người dân nhiều nước bị đàn áp, cộng đồng quốc tế đã không có hành động gì.

Riêng về Việt Nam, trong phần mở đầu, Ân xá Quốc tế nhận định : « Việt Nam tiếp tục hạn chế nghiêm ngặt các quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do tập hợp một cách ôn hòa. Nhiều tù nhân lương tâm bị giam giữ trong những điều kiện khắc nghiệt sau những phiên xử không công bằng (… ) Đã có thêm các blogger và nhà hoạt động nhân quyền bị bắt giữ và xét xử. Chính quyền đã tìm cách ngăn chận hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự chưa được cấp phép, bằng cách sách nhiễu, theo dõi và hạn chế tự do đi lại. Các nhân viên an ninh đã sách nhiễu và hành hung các nhà hoạt động hôn hòa và bắt giam họ trong thời gian ngắn. »

Trong báo cáo, Ân xá Quốc tế cũng nhắc lại rằng Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc vào tháng 01/2014 với nhiệm kỳ hai năm. Nhưng vào tháng 6 năm ngoái, Việt Nam đã bác bỏ 45 trên 227 khuyến nghị của Nhóm làm việc về Phiên kiểm điểm định kỳ phổ quát trong tháng 02/2014. Những khuyến nghị bị bác bỏ bao gồm những khuyến nghị về các nhà hoạt động nhân quyền và bất đồng chính kiến, về tự do ngôn luận và về án tử hình.

Báo cáo cũng cho biết là vào tháng 2 năm ngoái, một một phái đoàn Ân xá Quốc tế đã đến thăm Việt Nam để mở các cuộc họp chính thức. Trong chuyến viếng thăm vào tháng 7, Báo cáo viên đặc biệt của LHQ về quyền tự do tôn giáo đã tìm thấy bằng chứng về những vụ vi phạm nghiêm trọng, trong đó các vụ công an bố ráp, ngăn cản nghi lễ tôn giáo, đánh đập, tấn công các thành viên những tổ chức tôn giáo độc lập.

Thế giới nào là ảo?

Thế giới nào là ảo?

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Chuacuuthe.com


VRNs (25.02.2015) – Đồng Nai – Hôm nay người ta nói nhiều về thế giới ảo. Thế giới của mạng Internet. Thế giới dấu mặt. Thế giới mà con người chỉ biết nhau trong những ảo ảnh wedcam hay do photoshop tạo ra. Thế giới mà người ta có thể đánh lừa nhau qua những phần mềm thông minh. Ở nơi đây chúng ta gặp thấy rất nhiều con người sống hai mặt. Ở trong thế giới ảo họ tha hồ tâng bấc về mình. Họ tha hồ vẽ ra khuôn mặt đáng thương của mình. Ở thế giới ảo rất khác xa với thế giới thật mà họ đang sống. Thế nên, rất nhiều người vỡ mộng. Rất nhiều người bị lừa. Rất nhiều người oan gia vì quá tin người.

Thế giới ảo và thế giới thật khác nhau. Con người ảo và con người thật cũng khác nhau. Nhưng phải chăng chỉ có ở thế giới mạng mới sống ảo, còn cuộc sống hiện thực thì chân thực? Khó mà có câu trả lời chính xác, vì “Sông sâu còn có kẻ dò – Lòng người nham hiểm trùng khơi khôn dò”. Thế giới thật vẫn còn đó những người sống ảo. Họ cố gắng che đậy sự thật về mình. Họ sống hai mặt như đồng tiền hai mặt không bao giờ giống nhau. Thế giới thiện – ác. Chân thật-giả dối. Cuộc sống luôn có hai mặt. Con người lại là một diễn viên tài giỏi luôn che đậy những sự thật thầm kín bên trong.

Royalty-Free Stock Photography by Rubberball.com

Cuộc sống vốn thật thật giả giả khó phân biệt. Sự thật là thế. Nhưng người sống ảo sẽ không bao giờ hạnh phúc. Lương tâm luôn làm họ buồn bã, lo âu, sợ hãi. Chỉ có “sự thật mới giải thoát chúng ta”. Sống thật mới đem lại niềm vui nội tâm cho tâm hồn. Sống thiếu chân thật chỉ dày vò chúng ta trong bể khổ trần gian.

Cuộc sống của Chúa Giê-su dưới mắt người đời thì hoàn toàn là một người phàm. Vì Ngài đã trở nên giống như con người ngoại trừ tội lỗi. Thế nhưng, Ngài luôn sống thật khi tỏ ra mình là Thiên Chúa. Ngài luôn tỏ mình là người nhưng còn mang bản tính Thiên Chúa. Ngài đã làm nhiều phép lạ phi thường để tỏ mình có quyền năng của Thiên Chúa. Ngài phục sinh kẻ chết. Ngài đe sóng gió biển cả phải im lặng. Đó là những việc ngoài khả năng của con người. Đó là việc của Thiên Chúa mới có thể thắng vượt sự dữ.

Hôm nay trên núi Tabor, Chúa còn tỏ rõ nét hơn về dung nhan của Ngài là Thiên Chúa. Một Thiên Chúa thánh thiện vô cùng. Một Thiên Chúa quyền năng. Một Thiên Chúa uy nguy đến độ các môn đệ say xưa chiêm ngắm Người. Phê-rô đã bộc trực nói lên suy nghĩ của mình. Ông ao ước được chiêm ngắm dung nhan Thầy như lúc này mãi mãi. Ông bảo rằng: “Ở đây thì tốt quá, xin cho con làm 3 lều, một cho Thầy, một cho Mô-sê và một cho Ê-li-a”. Phúc âm bảo rằng, ông nói nhưng chẳng biết tại sao mình nói, vì ông quá ngất ngây trước dung nhan hiển linh của Thầy.

Cuộc sống người ky-tô hữu cũng đẹp biết bao khi chúng ta sống thật với căn tính của mình. Căn tính của người ky-tô hữu là yêu thương. Yêu thương không ngăn cách với mọi hạng người. Yêu thương không xa lánh bất kỳ ai, kể cả kẻ thù. Yêu thương để hòa nhập với mọi khổ đau, bất hạnh của anh em để cảm thông, liên đới và sẻ chia. Đó là cách sống mà Chúa bảo: “Người ta cứ dấu này nhận biết các con là môn đệ Thầy là hãy yêu thương nhau”.

Xin cho chúng ta luôn biết sống chân thật trước mặt Chúa và tha nhân. Sự chân thật giúp chúng ta sống đúng với căn tính của mình. Sự chân thật sẽ mang lại niềm vui và hạnh phúc cho chúng ta. Amen

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền