Ba điều vui sướng nhất

Ba điều vui sướng nhất

Ngày xưa, có ông lão cứ vui cười ca hát suốt ngày.

Thấy lạ, có người hỏi:
– Tại sao ông vui tươi mãi như thế?

Ông lão đáp:
-Trời sinh ra muôn loài muôn vật, trâu chó dê ngựa… Người là sinh vật cao nhất,

“Tối linh ư vạn vật”. Ta được làm người. Ấy là điều vui sướng thứ nhất.

-Trời sinh có người tàn tật, đui què. Ta được lành lặn, ấy là điều vui sướng thứ hai

-Người đời thường vì sự giàu có, danh vọng mà phải gian khổ. Ta có ăn đủ một ngày ba bữa,

không lo lắng gì cả. Ấy là điều vui sướng thứ ba – Còn như sinh lão bệnh tử là điều không ai

tránh được. Ta cũng như mọi người, việc gì phải buồn.

– Nghĩ tới ba điều vui sướng ta có được, ta vui ca cũng là chuyện thường tình.

Thich Tanh Tue's photo.

Anh chị Thụ Mai gởi

NHIỆM TÍCH TÌNH YÊU

NHIỆM TÍCH TÌNH YÊU

Lm Jos. Trần Xuân Chiêu

Thứ Năm Tuần Thánh được bắt đầu bằng Thánh lễ Truyền Dầu, và ban chiều, khởi đầu Tam Nhật Vượt qua, Phụng vụ đưa mỗi người đến bữa Tiệc Li của Đức Giê-su, diễn tả việc Người rửa chân cho các môn đệ, tưởng niệm việc Chúa lập phép Thánh Thể và chức vụ Linh mục.  Như vậy có quá nhiều đề tài cho người ta khai thác, học hỏi.  Tuy nhiên, giờ đây mỗi người được mời đi sâu vào cội rễ của các tưởng niệm trên, đó là tình yêu của Chúa Kitô đối với loài người.

Nhiều người đặt vấn đề, có cần Chúa phải làm việc hèn hạ, là rửa chân cho các môn đệ không?  Có phải đây là kiểu xu nịnh, như nhiều người thường đi bằng hai đầu gối để đạt mục tiêu không?  Liệu Chúa có đối xử gì tệ bạc với Giuđa không, mà sao ông lại có hành vi tồi tệ và đê hèn, đến nỗi bán Thầy của mình với giá bèo bọt 30 đồng bạc?

1. Trong bữa Tiệc Li

Đức Giêsu đã cùng ăn bữa tối quan trọng với các môn đệ, để chuẩn bị cho việc ra đi của Người.  Tất cả những sự kiện báo trước đang diễn ra trong bữa Tiệc Li này, đó là Giuđa phản bội bán Thầy với giá 30 đồng bạc, đó là Phêrô môn đệ thân tín nhất sẽ chối Chúa 3 lần.  Đề tài chủ yếu trong Phụng vụ chiều nay cũng như tuần Tam Nhật Vượt qua là tình yêu.  Tất cả việc Chúa lập phép Thánh Thể, bí tích Truyền Chức Thánh, đặc biệt là cử chỉ khiêm nhường rửa chân cho môn đệ, đều xuất phát từ tình yêu cao vời của Thiên Chúa.

Đức Kitô đã thiết lập Bí tích Thánh Thể: Chúa đã nhập thể để đến với nhân loại, Chúa đã sinh ra trong nghèo hèn để cảm thông cuộc sống với con người, Chúa đã giảng dạy để kêu gọi và mở ra con đường dẫn tới hạnh phúc đích thực, Chúa chịu chết để cứu độ tất cả mọi người.  Nhưng như thế chưa đủ, Chúa muốn làm hơn thế, để chứng tỏ tình yêu của Người: đó chính là phép Thánh Thể, mà Chúa lấy chính Máu Thịt mình để nuôi loài người.  Tình yêu của Người luôn được tiếp tục bằng việc cung cấp thức ăn thiêng liêng cho nhân loại.  Chúa muốn đi sâu vào thân xác, thấm vào máu thịt, để biến dòng máu đen ngòm tội lỗi của con người, thành dòng máu tươi hồng trong sạch của Chúa, Chúa muốn con người có sức mạnh phi thường, để họ có đủ sức vượt dặm trường, chống lại những vật cản tiến về Nước Chúa.

Đức Kitô đã lập ra chức vụ linh mục: Ôi lạ lùng huyền nhiệm, Chúa đã nên lương thực qua đôi tay linh mục thừa tác viên để phục vụ, để ban phát hồng ân, để tha thứ lỗi lầm, để giải hòa với Chúa và với nhau.  Qua tác vụ linh mục, người tín hữu được lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa, làm của ăn tinh thần, được giao hòa với Thiên Chúa tình yêu, được ánh sáng và sức mạnh để thăng tiến cuộc sống con người.

2. Rửa chân cho các môn đệ

Trong bữa Tiệc Li, Đức Giêsu còn thể hiện cử chỉ rất đặc biệt:  rửa chân cho các môn đệ.  Bỏ qua mọi rào cản,  những kinh nghiệm đau thương, và những mất mát sẽ diễn ra, Đức Giêsu đã đứng dậy, cởi áo ra, lấy chậu nước và rửa chân cho các môn đệ.  Người ta rất ngạc nhiên, cũng như Phêrô đã rất ngạc nhiên, tại sao Chúa làm như vậy?  Đây là một việc làm của một tên nô lệ theo thói quen người Israel. Mỗi người có thể hiểu được việc làm này của Chúa vì nhiều lí do:

Trước hết là để ứng nghiệm những gì đã viết về Đức Kitô:  Chúa là Người Tôi Tớ Thiên Chúa trong sách Isaia, Đấng đã chuộc lại loài người bằng những hy sinh của Người.  Việc Chúa tự động đứng dậy rửa chân cho họ, cũng để chứng tỏ rằng Người tự nguyện chịu chết để cứu độ nhân loại.  Những từ “cởi ra” “mặc vào” nói lên việc Người chịu chết và sống lại, việc con người đánh mất Hồng Ân Chúa khi phạm tội, và Đức Kitô đã chuộc lại ơn làm nghĩa tử của Chúa.

Việc rửa chân là bài học giáo dục, Đức Giêsu muốn nêu cao tấm gương trong cách sống mà các môn đệ phải noi theo: Sống để phục vụ chứ không phải để được phục vụ, “Thầy nêu gương cho anh em, để anh em hãy làm cho nhau” (Ga.13, 15).

Rửa chân bằng nước còn nói lên việc thanh tẩy; Đức Giêsu muốn nói với con người rằng, Chúa đến để làm mới lại con người, thanh tẩy tội lỗi họ, để không những thân xác, chân tay, mà cả tâm hồn cũng nên trong sạch, loại bỏ những hiềm khích, đam mê, tội lỗi…

Việc rửa chân dạy loài người bài học khiêm nhường: Con người muốn làm lớn thống trị người khác, như hai anh em con ông Giêbêđê muốn chỗ nhất nhì trong Nước Trời.  Quyền lực vẫn là cái gì làm cho người ta cuồng nhiệt tranh giật, ngoài xã hội cũng như trong tôn giáo, xưa cũng như bây giờ, Đức Giêsu dạy các môn đệ muốn làm lớn, hãy trở nên đầy tớ trước đã.

Cuối cùng, Đức Giêsu muốn chứng tỏ tình yêu trổi vượt của Người với nhân loại:  Chúa muốn làm tất cả vì yêu.  Một thứ tình yêu mãnh liệt không đắn đo tính toán, đã khiến Người có thể làm những điều người ta không tưởng, đó là việc quỳ xuống rửa chân cho môn đệ của mình.

3. Tình yêu đáp trả

Qua những hành vi trên đây, Đức Giêsu kêu gọi mọi người hãy đáp trả tình yêu của Người dành cho họ:

Trước hết là hãy đón nhận: Qua việc cúi xuống rửa chân cho đầy tớ, Đức Giêsu muốn nhắc con người: những gì là trịch thượng, quyền thế, là cái tôi, là hạ cố, cần phải loại trừ:  Một Thiên Chúa quỳ xuống, để ngước mắt nhìn lên loài người, nhằm dạy người ta phải khiêm nhường đón nhận những ân sâu tận Trời của Chúa.  Chỉ khi con người biết khiêm nhường, họ mới gặt hái thành công, mới có thể đạt mục tiêu Nước Trời.  Thế gian chỉ biết hưởng thụ, chờ mong người khác hầu hạ.  Người ta thường bị cám dỗ bởi tiền bạc vật chất, ăn trên ngồi trốc.  Chúa không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ, vậy con người là ai, mà chỉ muốn người khác hầu hạ mình?

Hãy tôn vinh Thánh Thể Đức Kitô: Thánh Thể là kết quả tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người. Qua Thánh Thể, con người được nên một với Người, sống với Người.  Chính vì thế, Thánh lễ trở thành trung tâm Phụng vụ.  Đừng bao giờ bỏ lỡ cơ hội để tận hưởng lương thực thần hiệu này, hãy để Chúa sống với mình hằng ngày, hãy lắng nghe tiếng Chúa mời gọi:  Hãy đến mà ăn.  Đừng để Chúa cô đơn và nhục mạ bằng việc từ chối của mình.

Xin Chúa cho chúng con biết noi gương Người sống khiêm nhường, hi sinh và phục vụ để xứng đáng làm môn đệ Đức Kitô.

Lm Jos. Trần Xuân Chiêu

Một bài hay về hạnh phúc

Một bài hay về hạnh phúc

Nếu hạnh phúc là thứ dễ tìm thấy thì có lẽ con người chẳng phải nếm mùi khổ đau nhiều như vậy? Nếu hạnh phúc là thứ ẩn nấp để cùng con người tham gia trò trốn tìm thì cuộc sống này liệu có còn thời gian tìm kiếm?

1/. Hạnh phúc ở nơi đâu?

– Hạnh phúc nằm ở đôi môi của bạn?
Một đôi môi biết mỉm cười và biết nói lời yêu thương chính là cửa ngõ dẫn đến hạnh phúc an nhiên của con người.

Nếu bạn chỉ biết than vãn, chỉ biết oán trách những trớ trêu của cuộc đời, chỉ biết dùng lời nói để chê bai, mỉa mai, công kích người khác thì đừng hỏi “Vì sao tôi không thấy hạnh phúc”. Hãy nói về những yêu thương tốt đẹp, hãy mỉm cười với cuộc sống xung quanh, hãy dành những lời ngọt ngào cho những người bạn yêu quý và bạn sẽ thấy hạnh phúc nảy nở từ đôi môi.

– Hạnh phúc nằm ở sự tha thứ?

Chẳng có ai ôm trong lòng mối hận thù mà cảm thấy vui vẻ và thoải mái cả. Có thể, họ đã làm tổn thương bạn, họ đã phản bội lòng tin và hằn trong lòng bạn một vết thương sâu hoắm và nhức nhối nhưng hãy đặt tay lên ngực mình và dặn với chính mình “Cuộc đời này vốn không đủ dài để yêu thương chỉ sao lại phí hoài nó cho hận thù”.

Vì thế, bằng cách này hay cách khác, hãy quên đi những vết thương và quên đi người để lại vết thương ấy, bạn cho đi sự tha thứ cũng chính là cách bạn tự cho chính mình một món quà chứa đầy hạnh phúc và an nhiên.

Tôi không chắc chúng ta có thể lại tin, lại yêu người ấy như chưa có chuyện gì nhưng chỉ cần bản thân tha thứ được thì ta sẽ lại có thể mỉm cười khi giáp mặt nhau.  Như vậy, không phải sẽ tốt hơn sao?

– Hạnh phúc nằm ở chỗ Cho chứ không phải chỗ Đòi.

Hãy cho đi những thứ bạn muốn, rồi cuộc đời sẽ trả lại cho bạn những gì mà bạn muốn, có thể nó không đến từ người bạn cần nhưng chắc chắn rằng trong dòng đời sau này, sẽ có người cho bạn lại những điều như thế.

Đừng đòi hỏi điều gì khi bản thân không làm được. Sự hụt hẫng khi điều mình muốn không được đáp lại rất dễ đẩy bạn vào hố sâu của thất vọng.

Vì thế, đừng tự giết cảm xúc của mình chỉ vì những đòi hỏi cho thỏa mãn cảm xúc của bản thân, hãy học cách cho đi thật nhiều, cuộc sống này không để bạn chịu thiệt thòi đâu.

2/. Hạnh phúc vào lúc nào?

– Hạnh phúc là khi bạn biết Đủ?

Nói theo Đạo học là “Thái quá hay Bất cập đều là dở cả” (thái độ cực đoan là không tốt).

Yêu thương quá sinh ra gò bó, quan tâm quá sẽ khiến mất tự do, ghen tuông quá cũng mất vị tình yêu và cái gì cũng thế, chạm đến chữ Đủ sẽ chạm được hạnh phúc tròn vị.

Đừng chạy theo cái gì quá hoàn chỉnh và cũng đừng ép bản thân phải trở nên quá hoàn hảo, yêu thương vừa đủ, ấm áp vừa đủ, quan tâm vừa đủ và bên nhau vừa đủ có lẽ sẽ hạnh phúc hơn.

Do đó, chúng ta thấy hạnh phúc chẳng nằm ở đâu xa, mà nằm ngay nơi chính ta, và hạnh phúc cũng chẳng phải là cái đích đặt ra để chúng ta đi đến, mà là thứ luôn hiện hữu song hành bên ta trong cuộc sống, chỉ vì ta quá hướng ngoại mà không quan tâm quên mất nó đi thôi.
Vì thế, hạnh phúc của chúng ta hẳn phải do tự chúng ta xây lấy, chứ chẳng phải chạy theo một ai đó để xin ban. Thứ hạnh phúc xin ban chỉ là thứ hạnh phúc ảo, nó sẽ dần chết theo thời gian.

Nguồn: Góc Trái Tim

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Phó Thủ tướng giao 5 Bộ kiểm tra, xử lý việc lấn sông Đồng Nai

Phó Thủ tướng giao 5 Bộ kiểm tra, xử lý việc lấn sông Đồng Nai

– Tin nổi bật, Tin Việt Nam

VRNs (30.3.2015) – Sài Gòn – Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã giao 5 Bộ kiểm tra việc thực hiện dự án, đánh giá tác động của dự án lấn sông Đồng Nai làm khu đô thị tại thành phố Biên Hoà (tỉnh Đồng Nai) và xử lý theo thẩm quyền, quy định của pháp luật hiện hành, tờ Dân trí dẫn thông tin trên cổng thông tin điện tử Chính phủ cho biết.

5 Bộ nói trên gồm Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Xây dựng, Giao thông vận tải, UBND tỉnh Đồng Nai và các cơ quan liên quan.

Với những vấn đề vượt thẩm quyền, Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ đề xuất, báo cáo Thủ tướng trong tháng 5/2015.

Việc lấp sông Đồng Nai làm khu đô tạo thị bị các nhà khoa học và người dân phản đối mạnh mẽ. Ảnh google

Việc lấp sông Đồng Nai làm khu đô tạo thị bị các nhà khoa học và người dân phản đối mạnh mẽ. Ảnh google

Tờ Thanh Niên cho biết, UBND tỉnh Đồng Nai trước đó chấp thuận đầu tư dự án cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai rộng hơn 84.000 m2 cho Công ty Toàn Thịnh Phát (thuộc tập đoàn Thành Thành Công) triển khai khu đô thị Pegasus Residence.

Theo đó, diện tích lấn sông lên tới hơn 77.200 m2, phần còn lại hơn 6.800 m2 là đất hiện hữu.

Tờ Pháp luật cho biết thêm, hiện dự án đã được tạm dừng và đoàn công tác của Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cũng đã làm việc với Đồng Nai và kiểm tra thực địa dự án.

Vì sông Đồng Nai chảy qua 11 tỉnh nên nhiều nhà khoa học lên tiếng cảnh báo về các tác động của dự án lấn sông đến dòng chảy (dẫn đến sạt lở), giao thông thủy và thoát lũ, đồng thời gây ra những tác động xấu cho mục đích sử dụng nước sinh hoạt.

Phó viện trưởng Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam, từng nhận định với tờ Thanh Niên: Sông Đồng Nai không phải là sông riêng của tỉnh Đồng Nai mà có ảnh hưởng đến nhiều địa phương với nhiệm vụ thoát lũ và cấp nước.

Bạn đọc Phạm Quốc Cường (pqcuong67@gmail.com) thắc mắc, “tỉnh Đồng Nai đồng ý để nhà đầu tư thực hiện 6 tháng nhưng không cơ quan nào biết. Không hiểu chúng ta quản lý kiểu gì. Đến bây giờ mới báo cáo thì giải quyết được vấn đề gì.”

Bạn đọc sonvu (sonvu6868@gmail.com) cũng chất vấn, “giờ ván đã đóng gần xong con thuyền rồi, trách nhiệm thuộc về ai nếu 5 bộ đưa ra ý kiến rằng dự án này tác động đến môi trường?”

Facebook Curua Ruacu tiếp lời, “Chỉ còn vài mét nữa là xong dự án, nếu giờ ngừng thì bên nào chịu trách nhiệm để sông về nguyên trạng?”

Pv.VRNs tổng hợp

Băng rôn tại Việt Nam: Chính tác giả cũng không hiểu muốn nói gì

Băng rôn tại Việt Nam: Chính tác giả cũng không hiểu muốn nói gì

Nguoi-viet.com

LẠNG SƠN (NV) – Một tấm băng rôn treo trên đường phố tại thành phố Lạng Sơn với một hàng chữ không ai hiểu tuyên truyền cho cái gì, kể cả tác giả.

Tấm băng rôn có hàng chữ không ai hiểu ý nghĩa hay chủ đích tuyên truyền ở thành phố Lạng Sơn. (Hình: Dân Trí)

“Để có hai miếng bít tết cần 15,000 lít nước” là tấm băng rôn treo ở đường Lê Lợi, thuộc phường Vĩnh Trại thành phố Lạng Sơn, được một số tờ báo như Đất Việt, Dân Trí, Người Đưa Tin đề cập hôm Thứ Bảy.

Theo tờ Đất Việt, hàng chữ vừa kể trên “khiến nhiều người đi đường và người dân địa phương khi đọc đều tỏ ra băn khoăn, vì không hiểu nội dung tuyên truyền là gì”, theo tờ Đất Việt. Thậm chí, như tờ Người Đưa Tin nói, có người cho đó là “công thức sản xuất và nấu ăn bít tết đúng quy chuẩn”.

Theo tờ Người Đưa Tin, thuật lại lời của một số cư dân phường Vĩnh Trại thì “Dòng chữ này đã xuất hiện hơn một tuần nay nhưng ai nhìn cũng không hiểu ý nghĩa tuyên truyền của nó là gì. Có người nói là công thức nấu món bít tết, có người lại cho rằng họ nói phét vì để làm hai miếng bít tết cần gì đến 15,000 lít nước, thậm chí, nhiều người không biết món bít tết là cái gì mà liên quan đến nước”.

Một người dân khác cho hay: “Dải băng rôn này thu hút sự chú ý của những ai đi qua đoạn đường này. Có người không tin còn kéo nhau đến xem và bàn luận. Có hôm, mải để ý đọc nội dung lạ trên đường, không ít người tự ngã xe vì không để ý phía trước”.

Báo Người Đưa Tin kể tiếp: “Để có hai miếng bít tết cần 15,000 lít nước” cũng thu hút sự chú ý của nhiều học sinh nhỏ. Nhiều em cũng cho rằng đó là công thức nấu ăn đúng khoa học của món bít tết. Một số thắc mắc và hỏi phụ huynh về ý nghĩa khẩu hiệu nhưng cha mẹ của các em cũng chịu bó tay vì không biết nói thế nào cho con”.

Trên tờ NĐT, ông Hà Ngọc Minh (Trưởng phòng Nghiệp vụ Văn hóa – Sở VH-TT-DL Lạng Sơn) nhìn nhận: “Nhìn vào nội dung thì khó hiểu thật, bản thân tôi cũng không thể giải thích được thông điệp muốn truyền tải là gì. Nếu nhìn vào thì chắc cũng chỉ nghĩ là cách sản xuất bít tết hoặc sự tiêu tốn nước trong hoạt động sản xuất thực phẩm.”

Rồi ông tự nhìn nhận “Để xảy ra vụ việc khó hiểu này cũng một phần lỗi do chúng tôi không kiểm soát chặt chẽ, còn buông lỏng trong việc quản lý tuyên truyền”.

Sau đó, nguồn gốc của chiếc băng rôn “lạ” được xác định là từ Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Lạng Sơn. Một cán bộ phòng TN-MT Lạng Sơn giải thích trên tờ NĐT: “Chiếc băng rôn này là do cơ quan tôi treo theo văn bản chỉ đạo của Sở TN-MT Lạng Sơn về tổ chức các hoạt động kỷ niệm “Ngày nước thế giới 2015”.

Ông này giải thích, trong văn bản có đưa ra 8 thông điệp tuyên truyền trong đó có câu “Để có hai miếng bít tết cần 15,000 lít nước”. Ông thú nhận “Bản thân tôi khi đọc cũng không hiểu nội dung tuyên truyền này là gì” rồi hứa hẹn “sẽ rút kinh nghiệm trong những lần sau”.

Băng rôn tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình ở huyện Vũ Thư, Thái Bình. (Hình: Đất việt)

Trên các mạng xã hội, người ta truyền đi rất nhiều hình ảnh về các tấm băng rôn có nội dung buồn cười, sai chính tả, văn phạm, nội dung tuyên truyền một đàng thực tế một nẻo.

Chẳng hạn băng rôn tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình, khuyến khích các cặp vợ chồng chỉ nên có tối đa 2 con của nhà cầm quyền huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình: “Mỗi gia đình có hai con vợ chồng hạnh phúc”.

Vì thiếu dấu phẩy sau chữ “con” cùng cách xuống dòng bất hợp lý, nội dung tuyên truyền đã bị nhiều người hiểu lầm thành: “Mỗi gia đình có hai con vợ. Chồng hạnh phúc”.

Băng rôn tuyên truyền sỉ nhục “người ít học”. (Hình: Người Đưa Tin)

Hồi đầu Tháng Giêng vừa qua, ngày 4/1/2015 cư dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tỏ ra tức giận khi nhìn thấy hàng loạt băng rôn in câu khẩu hiệu tuyên truyền về an toàn giao thông (ATGT) “Vượt đèn đỏ chỉ dành cho người ít học” treo trên nhiều tuyến đường chính. Ngày hôm sau thì nhà cầm quyền địa phương phải gỡ bỏ. (TN)

Bauxite: Bị Trung Quốc lừa, năm nay lỗ 37 triệu Mỹ kim

Bauxite: Bị Trung Quốc lừa, năm nay lỗ 37 triệu Mỹ kim

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Giới chuyên gia Việt Nam vừa đưa ra kết luận mới nhất là nếu thực hiện đúng kế hoạch sản xuất đủ 660,000 tấn alumin trong năm nay, Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) sẽ lỗ 37.4 triệu USD.

Bùn đỏ vương vãi, chỉ cần mưa lớn là tràn ra ngoài. (Hình: Tuổi Trẻ)

Những chuyên gia này cho biết, tất cả các dự án bauxite của Việt Nam đều có mức độ rủi ro lớn và rủi ro sẽ tăng theo thời gian.

Thông thường, Việt Nam không đủ khả năng tự soạn thảo hồ sơ mời thầu, thiết kế kỹ thuật, thẩm định hồ sơ dự thầu nên phải thuê tư vấn. Đối với hai dự án bauxite Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông), TKV không thuê tư vấn mà tự làm. Lẽ ra khi tự làm, TKV sẽ tiết kiệm được 5% tổng giá trị gói thầu là 659 tỷ. Tuy nhiên trên thực tế, khi TKV tự làm, chi phí quản lý và tư vấn dự án đã tăng thêm 800 tỷ!

Ông Nguyễn Thành Sơn, cựu giám đốc Ban Quản Lý Dự Án Than Đồng Bằng Sông Hồng, vốn là người phản đối kịch liệt việc thực hiện các dự án bauxite, nhận định, TKV đã tự sập bẫy của chính mình. Tưởng làm lấy sẽ rẻ nhưng cuối cùng không hề rẻ.

Song chuyện đó chưa đau bằng việc TKV bị nhà thầu Trung Quốc lừa. Ông Nguyễn Văn Ban, cựu trưởng ban Alumin của tổng công ty Khoáng Sản Việt Nam, kể lại, khi tranh thầu, nhà thầu Trung Quốc đã đưa giá rất thấp và thắng thầu vì các nhà thầu khác ở phương Tây theo không nổi. Song khi ký hợp đồng thì giá bỏ thầu và giá trên hợp đồng chênh lệch rất xa. Nhà thầu Trung Quốc giải thích, sở dĩ có sự chênh lệch như vậy là vì… trong giá bỏ thầu nhà thầu Trung Quốc chưa tính đến các thiết bị dự phòng.

Ông Nguyễn Thành Sơn nói thêm, kinh nghiệm của nhà thầu là điều kiện tiên quyết trong việc lựa chọn nhà thầu. Nhà thầu Trung Quốc cho biết công nghệ sử dụng ở nhà máy Tân Rai là công nghệ Bayer – công nghệ được xem là hiện đại nhất song hiện nay, riêng khâu xử lý alumina đã tổn thất 30% lượng bauxite. Nói cách khác, cứ 3 tỷ hoặc 10 tỷ tấn bauxite thì mất đi khoảng 1 tỷ hoặc 3 tỷ tấn.

Trên thế giới, muốn có một tấn sản phẩm thì cần hai đến năm giờ công cho toàn nhà máy. So với quy mô của nhà máy Tân Rai thì chỉ cần 250 đến 300 công nhân nhưng trên thực tế, nhà máy Tân Rai đang sử dụng hơn 1,000 lao động.

Cũng vì vậy, giá thành của alumin là 403 đến 464 Mỹ kim/tấn, trong khi giá bán mà TKV bán ra chỉ từ 324 đến 346 Mỹ kim/tấn. Năm 2013, tỉ lệ thua lỗ là 20%, năm 2014 tăng lên thành 21%, riêng năm nay, mức thua lỗ theo dự tính là 14% nếu sản xuất đủ 660,000 tấn theo kế hoạch.

Các dự án bauxite không chỉ thua lỗ mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây ra các thảm họa môi trường. Ông Nguyễn Văn Ban, cho biết ngay tại Trung Quốc cũng chưa có nhà máy nào xử lý quặng bauxite tương tự như kiểu đang làm tại Việt Nam. Hai nhà máy bauxite mà nhà thầu Trung Quốc xây dựng tại Việt Nam đều có tính “thử nghiệm.” Thành ra thiết kế, vận hành, quy trình công nghệ đều không có gì bảo đảm.

Ông Ban còn nhấn mạnh, so với các nhà máy bauxite khác trên thế giới, hai nhà máy bauxite vận hành theo kiểu Trung Quốc tại Việt Nam tiêu hao gấp đôi lượng nước, tỉ lệ tiêu hao năng lượng cao hơn 25%, tỉ lệ kiềm cao hơn từ 5 đến 7 ký/tấn alumin nhưng thực thu alumin chỉ đạt 85% trong khi mức bình quân trên thế giới là 87%.

Ông Nguyễn Thành Sơn kết luận, trước kia, bàn đến các dự án bauxite ở Việt Nam, người ta chỉ lo âu về các thảm họa liên quan đến môi trường. Nay khi các nhà máy đã hoạt động, phải lo thêm về hiệu quả kinh tế. (G.Đ)

xem thêm:

Dự án bauxite không lợi gì cho đất nước (BBC)

. . ……….

“Sau sự kiện chặt cây ở thủ đô Hà Nội, lấn sông Đồng Nai là hai vết nhơ khó rửa, người dân yêu cầu những người có trách nhiệm về dự án bô xit Tây Nguyên vượt lên chính mình, báo cáo trung thực với Thủ tướng và Nhà nước về các con số “biết nói” của dự án

Tô Văn Trường”

Ai giải phóng ai?

Ai giải phóng ai?

Huy Vũ
2015-03-29

mien-bac-vn-truoc-75-413.jpg

Một anh bộ đội miền Bắc đứng gác bên này dòng sông Bến Hải trước năm 1975

Files photo

Ngày 30-04-1975 được Cộng Sản Bắc Việt rêu rao là ngày họ “giải phóng” dân chúng miền Nam khỏi sự “kìm kẹp” của Mỹ-Ngụy. Tới nay đã 40 năm trôi qua, ta thử nhìn lại xem ngày này: Ai giải phóng ai?

Để có câu trả lời khách quan cho câu hỏi này, có lẽ trước hết ta nên đi tìm định nghĩa của động từ “giải phóng”, sau đó điểm qua cảm nghĩ và nhận thức về cuộc sống vật chất và tinh thần của dân chúng hai miền Nam – Bắc vào thập niên 1970 của một số nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà giáo, cán binh v.v… là những người đã được đào tạo và hun đúc dưới mái trường XHCN khi họ có dịp vào miền Nam thăm viếng, công tác, hay sinh sống sau ngày 30-04-1975.

Qua một vài cuốn tự điển Việt-Việt, động từ “giải phóng” có thể được định nghĩa như sau: Bằng cách này hay cách khác làm cho hay giúp cho một số người nào đó thoát ra khỏi một tình trạng xấu xa tồi tệ. Nói khác đi, nếu đưa một đối tượng từ một tình trạng tốt đẹp sang một tình trạng tồi tệ, thì không thể gọi là “giải phóng” được.

Qua một số bài trên mạng, ta thấy một số tác giả đã bày tỏ quan điểm của họ về đề tài này:

Thư của một cựu “giải phóng quân”

Trong phần đầu thư, anh “cựu giải phóng quân” đã cho biết là anh ta đang tự giác “Ngụy Quân Hóa và Mỹ Cút Hóa” với lý do như sau:

“Ngụy-quân hóa vì cái gì của Ngụy tôi cũng thích, như nhạc Ngụy, sách Ngụy, nói chung là thượng vàng hạ cám gì của Ngụy đều… hiện đại. Mỹ-cút hóa là con cháu tôi bây giờ học tiếng Mỹ thay vì tiếng Nga, như đảng đã bái bai Kinh Tế Tập Trung đói meo chạy theo Kinh Tế Thị Trường béo bở, bỏ đồng Rúp ông Liên Xô để úp mặt vào đồng Đô “đế quốc” Mỹ…

“Mỹ-cút hóa vì con gái rượu của Thủ tướng Dũng thiếu gì con trai của các nhà lão thành Cách Mạng gạ gẫm cưa kéo mà cứ một hai “em chả, em chả”, cứ nằng nặc đòi lấy bằng được thằng con Ngụy đã cút theo Mỹ ngày Mỹ cút; Mỹ-cút hóa đến nỗi mấy đứa cháu tôi bây giờ mừng sinh nhật cũng hát bài Hép-Pi-Bớt-Đê (Happy Birth Day), hễ mở miệng là Ô Kê Ô Gà! Ra phố thì cứ đòi uống Cô Ca, ăn thì Mạc-Đá-Nồ (McDonald), Bơ-Gơ-Kinh (Burger King), Ken-Tơ-Ky-Phờ-Rai-Trích-Cần (Kentucky Fried Chicken)… con quan CS chỉ toàn muốn du học Mỹ Tư Bản….”

Sau đó anh CGPQ còn tỏ ra khâm phục và ca tụng quân dân miền Nam:

“Chả dấu gì Anh, sau khi thống nhất đất nước, tôi khoái Miền Nam của anh quá xá rồi xin chọn nơi này làm quê hương luôn đó anh.

“…. nhờ ở lại Miền Nam, sống giữa đồng bào Miền Nam mà tôi đã chuyển biến từ sai lầm đáng tiếc căm thù khinh bỉ Ngụy thành khoái cụ tỷ Ngụy, bái phục văn hóa “đồi trụy” Ngụy, và nhất là Quân đội Miền Nam các anh có anh hùng Ngụy… Văn Thà, trong khi Thủ tướng Miền Bắc của chúng tôi tự cho mình là chân chính lại ký công hàm bán nước, dâng Hoàng Sa và Trường Sa cho Tàu cộng…”

Phần cuối thư anh kết luận:

“….nhờ chiếm được Miền Nam mà Miền Bắc được giải phóng, sông có thể cạn núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy nay đã hiển nhiên không thể chối cãi.”

Nhà báo Huy Đức, tác giả “Bên Thắng Cuộc”:

Trong phần “Mấy lời của Tác Giả” cuốn “Bên Thắng Cuộc” HĐ cho biết sau ngày 30-04-1975 qua hình ảnh xe đò Phi Long từ miền Nam chạy ra Bắc đã khiến HĐ nhận ra được rằng dường như ở miền Nam có mức sống văn minh, phong phú và đa dạng:

“Những gì được đưa ra từ những chiếc xe đò Phi Long thoạt đầu thật giản đơn: mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe, cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra, con búp bê nhựa biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe buộc trên ba lô của một anh bộ đội phục viên may mắn.”

“Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh được các anh bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp bọn trẻ chúng tôi biết một thế giời văn chương gần gũi hơn Rừng Thẳm Tuyết Dầy, Thép Đã Tôi Thế Đấy. Những chiếc máy Akai, radio cassette, được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ em, chứ không chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”. Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi.”

Phan Huy, một thi nhân nổi tiếng ở miền Bắc:

Trong phần đầu bài “Cảm Tạ Miền Nam, PH viết:

“Tôi đã vào một xứ sở thần tiên
Nếp sống văn minh, dân khí dịu hiền
Cơm áo no lành, con người hạnh phúc.

Tôi đã ngạc nhiên với lòng thán phục
Mở mắt to nhìn nửa nước anh em
Mà đảng bảo là bị lũ nguỵ quyền
Áp bức, đoạ đày, đói ăn, khát uống.

Trước mắt tôi, một Miền Nam sinh động
Đất nước con người dân chủ tự do
Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô
Giận đảng giận đoàn bao năm phỉnh gạt.”

PH cũng đã mô tả cuộc sống ở miền Bắc cộng sản vô cùng tồi tệ:

“Sinh ra lớn lên sau bức màn sắt
Tôi chẳng biết gì ngoài bác, đảng “kính yêu”
Xã hội sơ khai, tẩy não, một chiều
Con người nói năng như là chim vẹt.

Mở miệng ra là: “Nhờ ơn bác đảng
Chế độ ta ưu việt nhất hành tinh
Đuốc soi đường chủ nghĩa Mac Lenin
Tiến nhanh tiến mạnh lên thiên đường vô sản.

Hai mươi mốt năm trên đường cách mạng
Xã hội thụt lùi người kéo thay trâu
Cuộc sống xuống thang tính bằng tem phiếu
Nhân phẩm con người chẳng khác bèo dâu.”

Trong phần cuối bài thơ, PH kết luận, ngày 30-04-1975 là ngày miền Nam đã giúp cho nhân dân miền Bắc thấy được bộ mặt gian trá và độc ác của bè lũ cộng sản:

“Cảm tạ Miền Nam phá màn u tối
Để tôi được nhìn ánh sáng văn minh
Biết được nhân quyền, tự do dân chủ
Mà đảng từ lâu bưng bít dân mình.

Cảm tạ Miền Nam khai đường chỉ lối
Đưa tôi trở về tổ quốc thiêng liêng
Của Hùng Vương, quốc tổ giống Rồng Tiên
Chớ không là Cac Mac và Le nin ngoại tộc.

Cảm tạ Miền nam mở lòng khai sáng
Đưa tôi hội nhập cùng thế giới năm châu
Mà trước đây tôi có biết gì đâu
Ngoài Trung quốc và Liên xô đại vĩ

Cảm tạ Miền Nam đã một thời làm chiến sĩ
Chống lại Cộng nô cuồng vọng xâm lăng
Hầu giúp cả nước thoát bầy ác quỷ

Dù không thành công cũng đã thành danh.”

Trong một bài thơ khác “Tâm sự một đảng viên” PH cho biết sở dĩ ông theo đảng cộng sản là vì quá tin vào lời tuyên truyền của họ:

“Rằng đảng ta ưu việt nhất hành tinh

Đường ta đi, chủ nghĩa Mac Lê nin

Là nhân phẩm, là lương tri thời đại.”

“Rằng tại Miền Nam, ngụy quyền bách hại

Dìm nhân dân dưới áp bức bạo tàn

Khắp nơi nơi cảnh đói rách cơ hàn

Đang rên siết kêu than cần giải phóng.”

Khi vào tới miền Nam, ông nhận ra rằng, đời sống của ngươi miền Nam hoàn toàn khác hẳn so với lời tuyên truyền của bác và đảng:

“Đến Sài Gòn, tưởng say men chiến thắng

Nào ngờ đâu sụp đổ cả niềm tin

Khi điêu ngoa dối trá hiện nguyên hình

Trước thành phố tự do và nhân bản.”

Sau khi đã nhận ra đời sống thật sự của nhân dân miền Nam và sự gian trá, phỉnh gạt của bác Hồ và đảng Cộng, PH cảm thấy hổ thẹn với lương tâm và  đã khóc:

“Trên đường về, đất trời như sụp đổ

Tôi thấy mình tội lỗi với Miền Nam

Tôi thấy mình hổ thẹn với lương tâm

Tôi đã khóc, cho mình và đất nước.”

Tiến sĩ Lê Hiển Dương, nguyên hiệu trường Đại Học Đồng Tháp:

Vào ngày 30-04-1975, ông Dương còn là sinh viên của trường đại học sư phạm Vinh và sau đó ông được cho vào miền Nam với nhiệm vụ:

“…mang ‘ánh sáng’ văn hóa vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tồi lầm than vì cứ liên miên bị Ngụy kềm Mỹ kẹp chứ đâu có học hành gì?”

Khi tới Thị trấn Cao Lãnh để nhận nhiệm sở, ông được cho ở tại khách sạn Thiên Lợi và đây là cảm nhận của ông khi sống trong khách sạn này:

“Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”, biết được thế nào là lavabo là hố xí tự hoại, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm cấp nhà nước của đại tướng Nguyễn Chí Thanh…”

“Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên can tội trộm cắp phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã…”

mien-bac-truoc-75-003-400.jpg

Miền Bắc trước 1975

Từ nhận thức về mức sống cách biệt giửa hai miền Nam và Bắc, cùng những sự việc đã liên tiếp xẩy ra ở miền Nam sau ngày 30-04-1975, đã buộc ông Dương suy nghĩ:

“Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền nam” … Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó… tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng miền Nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân… mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội…”

Châu Hiển Lý (bộ đội tập kết)

Trong bài “Cả Nước Đã Bị Lừa” ông Châu Hiển Lý đã nhận định vế “chiến thắng 30 tháng 04” của đảng cộng sản Việt Nam như sau:

“Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. “Tính hơn hẳn” của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.”

Phần cuối bài ông Lý viết:

“Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi” mà kết luận: “Tất cả đều là lừa bịp!”

Sau cùng ông kết luận:

“Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ … đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.”

Nhà báo Trần Quang Thành

Trong “Hồi Ức 30/4 của người Việt tại Đông Âu.” TQT, cựu phóng viên đài phát thanh Tiếng Nói và Truyền Hình cộng sản Việt Nam:

“Nhìn lại 40 năm cuộc chiến gọi là chống Mỹ cứu nước nhưng thực tế nó lại là một cuộc chiến về ý thức hệ của những người Cộng sản lừa dối nhân dân ta, thực tế nó là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Những người chóp bu của Cộng sản đã lừa dối nhân dân Việt Nam và lừa dối cả nhân dân toàn thế giới. Họ kích động tinh thần dân tộc của người dân miền Bắc là: miền Bắc là tiền đồn phía Đông Nam Á của phe Xã hội Chủ nghĩa. Nhưng thực chất bây giờ chúng ta mới hiểu đây là một cuộc chiến của những người Cộng sản Việt Nam tay sai cho 2 nước Cộng sản là Nga sô và Trung Cộng để mà thực hiện ý thức hệ Cộng sản bành trướng trên toàn thế giới  chứ không phải là một cuộc chiến tranh Vệ quốc như họ từng tuyền truyền là chống Mỹ xâm lược. Tôi thấy đó là một sự lừa dối và phản bội.»

Nhà văn Dương Thu Hương

Mới đây phóng viên Tường An, đài Á Châu Tự Do, đã có trao đổi với  nhà văn Dương Thu Hương về hồi ức của bà về ngày 30-04-1975:

PVTA: Thưa bà, cách đây đã lâu, trong một bài viết, bà có nói ngày 30/4, vào đến miền Nam bà đã ngồi trên vỉa hè và khóc. Nhân đây bà có thể giải thích về những giọt nước mắt ngày 30/4, 40 năm về trước không ạ ?

Bà DTH: Vào miền Nam tôi khóc vì sao? Là bởi vì tôi hiểu đạo quân chiến thắng ở miền Bắc phụ thuộc vào một chế độ man rợ. Rất nhiều dân tộc văn minh bị tiêu diệt bởi một chế độ man rợ hơn, bởi vì họ hung hăng hơn. Họ (phía bên thua cuộc) có thể văn minh hơn về văn hoá nhưng họ kém về phương diện tổ chức quân sự.

Tóm lại qua cảm nghĩ và nhận thức của các nhân vật trên đây, người ta có thể có được những kết luận sau đây:

–      Nhân dân miền Nam có tự do, dân chủ và no ấm.

–      Nhân dân miền Bắc nghèo khó và phải kéo cày thay trâu và nhân phẩm ngang hàng với bèo dâu.

–      Nhờ giải phóng miền Nam, nhân dân miền Bắc thấy được ánh sáng văn minh và trở về quốc gia dân tộc.

–      Nhờ “giải phóng miền Nam” mà người dân miền Bắc biết về thế giới văn minh và hội nhập vào thế giới này.

–      Đời sống của người dân miền Bắc vào thập niên 1970 thê thảm và lạc hậu đến nỗi người dân phải tranh giành nhau từng cục “phân bắc” để nộp cho hợp tác xã.

–      Xã hội chủ nghĩa là một xã hội tồi tệ và được phơi bày rõ rệt qua sự nghèo khổ của nhân dân miền Bắc và là một thời đen tối nhất trong lịch xử Việt Nam.

–      Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thực chất chỉ là cuộc chiến của những người cộng sản Việt Nam làm tay sai cho Nga Sô và Trung Quốc.

–      Chế độ miền Bắc là một chế độ man rợ.

–      Chế độ miền Nam là một chế độ văn minh.

Tóm lại, qua những kết luận trên đây thiết tưởng cũng tạm đủ cho người ta thấy rõ là, ngày 30-04-1975 không thể gọi là ngày miền Bắc cộng sản giải phóng miền Nam tự do được, mà phải gọi ngược lại là ngày miền Nam đã giải phóng miền Bắc ra khỏi sự kìm kẹp, giam hãm và đô hộ của đảng Cộng Sản Việt Nam. Đồng thời cũng đã giúp nhân dân miền Bắc nhận ra được rằng, chế độ cộng sản là chế độ man rợ, chẳng những đã chọc thủng con ngươi của họ, mà còn đâm thủng luôn cả màng nhĩ của họ nữa, khiến họ không nghe được và không thấy được những xã hội văn minh và tiến bộ ở thế giới bên ngoài. Do đó, họ đang bị đảng Cộng Sản Việt Nam giam hãm, kìm kẹp và đọa đày trong một “nhà tù khổng lồ” song vẫn cứ tưởng là đang sống hạnh phúc tuyệt vời trong “thiên đường cộng sản văn minh nhất hành tinh”.

TRẢI NGHIỆM KHI CẬN KỀ CÁI CHẾT CỦA CHA JOSE MANIYANGAT

TRẢI NGHIỆM KHI CẬN KỀ CÁI CHẾT CỦA CHA JOSE MANIYANGAT

Cha Jose Maniyangat hiện làm quản xứ Giáo xứ Công giáo Đức Mẹ Lòng Xót Thương ở Macclenny, Florida .
Đây là lời chứng của Ngài:

Tôi sinh ngày 16.07.1949 ở Kerala, Ấn Độ. Cha Mẹ tôi là ông bà Joseph và Theresa Manuyangat. Tôi là con cả trong 7 anh em : Jose, Maria, Theresa,Lissama, Zacharia, Valsa và Tom.

Khi lên 14, tôi gia nhập tiểu chủng viện Đức Maria ở Thiruvalla để bắt đầu đi tu làm linh mục. Bốn năm sau, tôi vào Giáo Hoàng Chủng Viện Thánh Giuse ở Alwaye,Kerala, để tiếp tục đào tạo làm linh mục.

Sau khi hoàn tất bảy năm triết học và thần học, tôi được truyền chức linh mục ngày 01.01.1975 và làm một thừa sai trong giáo phận Thiruvalla.

Chúa Nhật 14.04.1985, Lễ Lòng Chúa Xót Thương, tôi đi dâng Thánh Lễ tại một nhà thờ thuộc điểm truyền giáo ở phía Bắc Kerala và bị một tai nạn chí tử: tôi đang lái xe gắn máy,thì bị đâm đầu vào một chiếc xe jeep do một người đàn ông say khướt sau một lễ hội Ấn giáo, điều khiển. Tôi được đưa gấp vào bệnh viện cách đó khoảng 35 dặm. Trên đường đi, linh hồn tôi lìa khỏi xác và tôi đã cảm nghiệm cái chết. Tức khắc, tôi gặp Thiên Thần Hộ Thủ của tôi. Tôi nhìn thấy thân thể mình và những người đến mang tôi vào bệnh viện. Tôi nghe họ khóc và cầu nguyện cho tôi. Vào lúc ấy thiên thần của tôi nói với tôi :” Ta đến đem người vào thiên đàng, Chúa Giêsu muốn gặp người và nói chuyện với người”. Thiên thần cũng cho biết rằng dọc đường Ngài muốn chỉ cho tôi thấy Hoả Ngục và Luyện Ngục.

HOẢ NGỤC.

Trước hết, Thiên thần hộ tống tôi đến Hoả ngục. Thật là một cảnh tượng khủng khiếp! Tôi nhìn thấy Satan và ma qủy,một ngọn lửa không thể dập tắt khoảng 2.000 độ F, những con sâu bọ lúc nhúc, những con người gào thét và dẫy dụa, những kẻ khác đang bị lũ qủy tra tấn. Thiên thần nói với tôi rằng tất cả những sự chịu đau đớn nầy là vì đã không ăn năn thống hối các tội trọng. Sau đó, tôi hiểu rằng có 7 cấp hoặc bảy mức chịu đau đớn, tùy theo con số và các loại tội trọng đã phạm khi còn sống ở trần gian. Các linh hồn trông rất xấu xí,hung tợn và khủng khiếp. Đó là một kinh nghiệm đáng sợ. Tôi nhìn thấy những người mà tôi đã quen biết, nhưng tôi không được phép tiết lộ danh tính của họ. Những tội lỗi khiến họ bị tuyên án chủ yếu là nạo phá thai,an tử,căm thù,không tha thứ và phạm sự thánh. Thiên thần nói với tôi rằng nếu họ đã chịu ăn năn sám hối, thì họ đã tránh được phải sa hoả ngục và thay vào đó sẽ được vào luyện ngục. Tôi cũng hiểu được rằng một số người nhờ hốn hận về những tôi lỗi nầy,mà đã có thể được thanh luyện khi ở trần gian nhờ những đau khổ họ chịu. Bằng cách nầy họ có thể tránh phải vào luyện ngục và vào thẳng thiên đàng.

Tôi sững sờ khi nhìn thấy cả các linh mục và giám mục trong hoả ngục, một số trong họ tôi không bao giờ trông đợi nhìn thấy ở đây. Nhiều người trong họ phải ở đây, vì họ đã làm cho dân chúng lầm đường lạc lối với lời giảng dạy sai lầm và gương xấu của họ.

LUYỆN NGỤC

Sau khi đã đi thăm Hoả ngục, Thiên thần hộ thủ của tôi hộ tống tôi đến Luyện ngục. Ở đây cũng vậy, có 7 cấp chịu đau đớn và lửa không bao giờ tắt. Nhưng ít nóng gắt hơn hoả ngục và không thấy cãi cọ đánh nhau. Sự đau đớn chính các linh hồn nầy phải chịu,là bị lìa xa khỏi Thiên Chúa. Một số trong những người ở luyện ngục đã phạm rất nhiều tội trọng,nhưng họ đã hoà giải với Thiên Chúa trước khi chết. Dù phải chịu đau đớn,họ vẫn được hưởng an bình và biết rằng một ngày nào đó họ sẽ được nhìn thấy Chúa diện đối diện.

Tôi đã có dịp giao tiếp với các linh hồn nơi luyện ngục. Họ xin tôi cầu nguyện cho họ và nói giùm với mọi người cầu nguyện cho họ nữa, để họ chóng được lên thiên đàng.

Khi chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn nầy, chúng ta sẽ nhận được lòng biết ơn của họ qua lời họ cầu nguyện và một khi họ được lên thiên đàng, lời cầu nguyện của họ sẽ càng trở nên xứng đáng hơn.

Thật khó cho tôi có thể tả lại Thiên thần hộ thủ của tôi đẹp dường nào. Ngài rạng ngời và chói sáng. Ngài là bạn đồng hành chung thủy của tôi và giúp đỡ tôi trong mọi thừa tác vụ của tôi, đặc biệt là tác vụ chữa lành. Tôi nghiệm thấy sự hiện diện của Ngài khắp mọi nơi tôi đi và tôi biết ơn Ngài vì đã che chở bảo vệ tôi trong suốt cuộc sống hằng ngày.

THIÊN ĐÀNG

Kế đó, thiên thần của tôi hộ tống tôi tới Thiên Đàng đi qua một hầm màu trắng lớn sáng chói loà. Tôi chưa bao giờ cảm nghiệm được sự an bình và niềm vui như thế nầy trong đời.

Thiên Đàng lập tức mở ra và tôi nghe tiếng nhạc mê ly nhất mà tôi chưa từng được nghe trước đây. Các thiên thần ca hát và ngợi khen Thiên Chúa. Tôi nhìn thấy tất cả các thánh, đặc biệt là Mẹ Maria và Thánh Giuse,và rất nhiều giám mục và linh mục thánh thiện đang lấp lánh sáng như những vì sao. Và khi tôi xuất hiện trước Người, thì Chúa Giêsu nói với tôi :”Ta muốn con về lại thế gian. Trong cuộc sống lần thứ hai của con, con sẽ nói bằng một ngôn ngữ nước ngoài. Mọi thứ đều có thể xảy đến cho con với ân sủng Ta ban..”. Sau những lời nầy, Đức Maria nói với tôi :” Hãy làm bất cứ điều gì Người nói với con. Mẹ sẽ giúp con trong các thừa tác vụ của con”.

Lời nói không thể diễn tả hết vẻ đẹp của Thiên Đàng. Ở đó chúng ta tìm thấy được an bình và hạnh phúc nhiều dường nào, vượt qúa một triệu lần trí tưởng tượng của chúng ta.

Chúa Giêsu đẹp đẽ vượt xa hơn bất cứ hình ảnh nào có thể mô tả. Dung nhan Người rạng ngời và toả sáng và rực rỡ hơn ngàn vạn mặt trời đang mọc. Những bức hoạ chúng ta nhìn thấy trên thế giới chỉ là cái bóng vẻ lộng lẫy uy phong của Người. Đức Mẹ ở cạnh Chúa Giêsu . Mẹ xinh đẹp và rạng ngời biết bao. Không một hình ảnh nào chúng ta nhìn thấy trên thế giới có thể sánh ví được với vẻ đẹp thực sự của Mẹ.

Thiên đàng là quê thật của chúng ta. Tất cả chúng ta được dựng nên để đạt được tới Thiên Đàng và có được Thiên Chúa muôn đời. Và rồi tôi trở lại trần gian với thiên thần hộ thủ của tôi.

Trong khi thân thể tôi nằm ở bệnh viện, bác sĩ hoàn tất mọi kiểm tra và tôi bị tuyên bố là đã chết. Nguyên nhân dẫn đến cái chết là mất máu. Gia đình tôi được báo tin và vì họ ở xa, cho nên ban điều hành bệnh viện quyết định chuyển thi thể của tôi xuống nhà xác. Vì bệnh viện không có máy điều hoà không khí, họ quan ngại thi thể của tôi sẽ mau chóng bị phân hủy. Khi họ chuyển thi thể của tôi xuống nhà xác, thì linh hồn tôi trở về lại với xác tôi. Tôi cảm thấy một cơn đau hết sức mạnh do nhiều vết thương và xương gãy. Tôi bắt đầu thét lên. Bấy giờ người ta trở nên hoảng sợ và la lên rồi bỏ chạy hết. Một người trong nhóm lại gần bác sĩ và nói :” Thi thể đã chết nay đang kêu thét lên kìa!”. Vị bác sĩ đến kiểm tra thi thể và thấy tôi vẫn còn sống. Vì thế ông nói :” Cha vẫn còn sống. Đây là phép lạ! Hãy đưa Cha trở lại bệnh viện”.

Thế rối, khi được đưa về lại bệnh viện, họ chuyền máu cho tôi và làm phẫu thuật để chữa các xương gãy của tôi, những chỗ như hàm dưới, các xương sườn, xương chậu, xương cổ tay và chân phải. Sau hai tháng, tôi được cho xuất viện,nhưng vị bác sĩ chỉnh hình của tôi nói tôi sẽ chẳng bao giờ còn bước đi được nữa. Bấy giờ tôi nói với ông :” Đức Chúa, Đấng đã trả lại sự sống cho tôi và sai tôi về lại thế gian, sẽ chữa lành cho tôi”. Khi đã về đến nhà, tất cả chúng tôi cầu xin một phép lạ. Sau một tháng, khi đã tháo băng bó, tôi không tài nào cử động được. Nhưng một ngày nọ đang khi cầu nguyện, tôi cảm thấy một cơn đau phi thường ở vùng xương chậu. Sau một lúc ngắn, cơn đau biến mất hoàn toàn và tôi nghe một tiếng nói với tôi : “Ngươi được lành rồi. Hãy đứng lên và bước đi!”. Tôi cảm thấy sự an bình và sức mạnh chữa lành trên thân thể tôi. Lập tức tôi đứng lên và bước đi, Tôi ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho tôi phép lạ nầy.

Tôi báo cho vị bác sĩ tin tức tôi được khỏi bệnh và ông ta vô cùng sững sốt. Ông nói : “ Thiên Chúa của Cha là Thiên Chúa đích thực. Tôi phải theo Thiên Chúa của Cha”. Vị bác sĩ là một tín đồ Ấn giáo. Ông xin tôi dạy cho ông về Giáo Hội. Sau thời gian học hỏi đức tin, tôi đã rửa tội cho ông.

Theo lời dạy của Thiên Thần Hộ Thủ, tôi đến Hoa Kỳ vào ngày 10.11.1986 với tư cách một linh mục thừa sai… Kể từ tháng 06.1999, tôi là quản xứ Giáo Xứ Công giáo Mẹ Lòng Xót Thương, ở Macclenny, Florida .

(web giaoxukimphat.com)

Lý Quang Diệu: ‘Kiệt xuất’ do đâu?

Lý Quang Diệu: ‘Kiệt xuất’ do đâu?

TS. Đoàn Xuân Lộc Gửi cho BBC từ Anh quốc

Lý Quang Diệu có học, còn đa số lãnh đạo cộng sản Việt Nam đều không có điều này, theo tác giả.

Trong những ngày qua báo chí quốc tế đã có rất nhiều bài viết, bình luận về ông Lý Quang Diệu. Tất cả đều khen ngợi vị Thủ tướng đầu tiên của Singapore.

Dù không đồng ý với ông về một vài vấn đề, như nhân quyền, giới truyền thông và nghiên cứu tại các nước phương Tây cũng phải thừa nhận rằng ông Diệu là một lãnh đạo tài giỏi, một chính khách lỗi lạc và một chiến lược gia tầm cỡ.

Các nguyên thủ quốc gia – từ Tổng thống Mỹ Barack Obama, Thủ tướng Anh David Cameron đến Thủ tướng Nhật Shinzo Abe và lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình – đều đánh giá cao tài năng của ông.

Dư luận và báo chí Việt Nam cũng dành cho ông một sự ngưỡng mộ đặc biệt.

Hiếm có một chính trị gia nào nhận được sự khâm phục như vậy từ dư luận, báo chí quốc tế. Cũng ít có một lãnh đạo nào cùng lúc được cả giới lãnh đạo các nước phương Tây và Trung Quốc kính trọng.

Có thể nói, trong số những người lập quốc, thế hệ lãnh đạo đầu và thậm chí hiện tại của các quốc gia từng bị thuộc địa – trong đó có Việt Nam – không một ai sánh được với ông, làm nên được những kỳ công và được mến phục như ông.

Điều gì đã giúp ông Lý Quang Diệu trở thành một lãnh đạo kiệt xuất, được mến mộ như vậy?

Có học vấn cao

Có rất nhiều yếu tố giúp ông Lý Quang Diệu trở thành một chính khách lỗi lạc và học vấn là một trong những yếu tố ấy.

” Ông Lê Duẩn và những người ủng hộ ông lúc đó, như ông Lê Đức Thọ, không phải là những người trí thức mà chỉ là những người thuộc tầng lớp công nông, ít học

Cựu Đại tá Bùi Tín và TS Cù Huy Hà Vũ”

Dù sinh ra trong một gia đình gốc Hoa, ông nói tiếng Anh và được học tại các trường Anh nổi tiếng ở Singapore. Là người thông minh, ông luôn là một học sinh, sinh viên xuất sắc, thường xuyên đứng đầu tại các kỳ thi và được trao nhiều học bổng danh giá.

Ông đã được nhận một học bổng vào học kinh tế, văn chương Anh và toán tại Raffles College – nay là Đại học quốc gia Singapore. Đây cũng là nơi ông gặp bà Kha Ngọc Chi, người vợ tương lai của ông và nhiều đồng nghiệp, cộng sự của ông sau đó.

Việc học của ông bị gián đoạn trong thời kỳ Nhật chiếm đóng Singapore nhưng năm 1946, ông đã sang Anh vào học tại trường kinh tế London và sau đó chuyển tới trường Fitzwilliam, thuộc đại học Cambridge. Tại đây ông đạt những thành tích cao và được trao tấm bằng hạng ưu ngành luật vào năm 1949.

Trong số những người lập quốc hay thế hệ lãnh đạo đầu tiên của các quốc gia hậu thuộc địa, trong đó có Việt Nam, hiếm có ai được đào tạo bài bản, học vấn cao, và có điều kiện tiếp xúc nhiều với giới trí thức, học hỏi được những tiến bộ – đặc biệt liên quan đến chính trị, luật pháp – của các nước phương Tây như ông.

Chẳng hạn, dù có đến Anh, Pháp và Mỹ, Nguyễn Tất Thành hay Nguyễn Ái Quốc – sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh – không (được) theo học tại bất cứ một đại học nào ở ba quốc gia này.

Những thế hệ lãnh đạo tiếp theo của Việt Nam – từ Lê Duẫn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng đến nhiều người trong dàn lãnh đạo sau – ít ai được đào tạo đàng hoàng, hay có học vấn cao hoặc theo học tại các trường đại học ở các nước phương Tây.

Trong cuộc bàn luận về vụ ‘Xét lại chống Đảng’ do BBC thực hiện vào tháng hai năm nay, cả cựu Đại tá Quân đội Bùi Tín và Tiến sỹ Luật Cù Huy Hà Vũ cho rằng ông Lê Duẩn và những người ủng hộ ông lúc đó, như ông Lê Đức Thọ, không phải là những người trí thức mà chỉ là những người thuộc tầng lớp công nông, ít học.

Được học cao, được đào tạo bài bản tại những trường có uy tín của Anh là một lý do quan trọng tại sao ông Lý Quang Diệu vượt trội các nhà lãnh đạo ở các quốc gia hậu thuộc địa cùng thời với ông hay thậm chí sau ông, về nhiều mặt – đặc biệt về nhận thức, tầm nhìn.

Nhìn xa, trông rộng

Lý Quang Diệu

Ông Lý Quang Diệu là người ‘nhìn xa, trông rộng’, thực dụng, khôn ngoan, thức thời mà không giáo điều, cứng nhắc, theo tác giả.

Khi nói về ông Lý Quang Diệu, giới quan sát, nghiên cứu đều cho rằng ông là một người vừa khôn ngoan, nhạy bén, thức thời, vừa rất thực dụng.

Chẳng hạn, dù Singapore cũng từng bị thuộc địa và ông luôn muốn hòn đảo này thoát khỏi sự phụ thuộc, cai trị của Anh, ông không chỉ không phủ nhận mà còn biết tiếp thu, áp dụng những tiến bộ – đặc biệt về kinh tế, công nghệ – của Anh và các nước phương Tây khác.

Mặc dù phần lớn người Singapore – và chính bản thân ông cũng là một – người gốc Hoa, ông không chọn tiếng Hoa mà là tiếng Anh để làm ngôn ngữ chính cho đảo quốc này. Quyết định đó không chỉ giúp người dân Singapore dễ dàng tiếp xúc với các nước phát triển như Anh, Mỹ và học hỏi, tiếp nhận tri thức, công nghệ cao của phương Tây mà còn bắc cầu để những tập đoàn lớn trên thế giới đến với hòn đảo nhỏ này.

Là một trí thức, ông Lý Quang Diệu, rất coi trọng giáo dục, tri thức, trọng dụng người hiền tài. Ông chú tâm phát triển, trọng dụng nhân tài ở trong nước và luôn tìm cách thu hút chất xám, người tài từ các nước.

Đây là một điểm khác biệt lớn giữa ông và giới lãnh đạo Việt Nam. Ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi, các lãnh đạo Việt Nam thường không coi trọng – hay thậm chí sợ – tầng lớp trí thức. Việc giới văn nghệ, trí thức bị đàn áp trong vụ ‘Nhân văn – Giai phẩm’ trong những năm 1950 hay Viện nghiên cứu phát triển (IDS) buộc phải giải thể năm 2009 là hai ví dụ điển hình.

Một lãnh đạo Việt Nam được biết là rất mến phục ông Diệu và cũng được ông Diệu tôn trọng là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Điều đó cũng dễ hiểu vì cũng giống như ông Diệu, ông Kiệt là một người nhạy bén, rất coi trọng giới trí thức, văn nghệ.

” Nếu Singapore trở nên giàu mạnh vì có một vị lập quốc, một lãnh đạo có tâm, có tầm, phải chăng Việt Nam nghèo, tụt hậu vì thiếu một lãnh đạo đủ tâm, đủ tầm?

TS. Đoàn Xuân Lộc”

Hơn nữa, là một người hiểu biết rộng, thông minh ông Diệu không giáo điều, máy móc. Trái lại, ông rất thực dụng. Thay vì dựa vào một chủ thuyết nào đó để giúp Singapore tồn tại, phát triển, ông nhìn thẳng vào chính những điểm yếu, thế mạnh của Singapore và bối cảnh chính trị khu vực và cố phát huy, tận dụng tất cả những điểm đó, biến chúng thành cơ hội, thế mạnh cho đất nước mình.

Một điểm nổi bật khác, đáng trân trọng nữa nơi ông mà không phải nhà lãnh đạo nào cũng có đó là trung thực, mẫu mực, coi trọng luật pháp. Chính điều này đã giúp Singapore trở thành một quốc gia châu Á minh bạch nhất và luôn nằm trong 10 nước ít tham nhũng nhất thế giới. Có thể việc ông theo học ngành luật và tốt nghiệp xuất sắc về ngành này từ một trường đại học danh tiếng cũng tác động rất lớn đến tính cách này của ông.

Ông Diệu có nhiều tính cách, phẩm chất khác giúp ông trở thành một chính trị gia lỗi lạc. Nhưng nhãn quan biết nhìn xa, trông rộng của ông là một yếu tố quan trọng giúp ông làm nên bao điều ‘thần kỳ’ cho Singapore.

Từ một nước nghèo, kém phát triển, thiếu tài nguyên, lại phải đối diện nhiều bất ổn xã hội, chỉ trong một thời gian ngắn Singapore đã trở thành một quốc gia giàu có, văn minh, ổn định, bỏ xa tất cả các nước trong khu vực.

Chẳng hạn, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, vào năm 1960 – một năm sau khi ông lên nắm giữ chức Thủ tướng Singapore tự trị – ước tính thu nhập bình quân đầu người của Singapore là 395 USD. Con số đó ở miền Nam Việt Nam là 223 USD và miền Bắc Việt Nam là 74 USD.

Nhưng năm 2013, thu nhập bình quân đầu người ở Singapore lên tới 55,182 USD trong khi ấy ở Việt Nam chỉ là 1,910 USD.

Lý Quang Diệu

Cùng chia sẻ xuất phát chung là nước bị thuộc địa hóa, sự khôn ngoan của ông Diệu đã đưa Singapore vượt xa quốc gia cộng sản Việt Nam, theo tác giả.

Là một nước nhỏ, đa số người gốc Hoa nằm bên cạnh hai nước lớn (Indonesia và Malaysia Hồi giáo) và trong bối cảnh một châu Á nhiều xung đột, Singapore không chỉ tránh được chiến tranh, giữ vững được độc lập mà còn trở thành một đối tác quan trọng, không thể thiếu của các cường quốc. Thiết lập được mối quan hệ thân thiện và đặc biệt có lợi cho mình với cả Mỹ và Trung Quốc trong thời kỳ Chiến trạnh Lạnh – hay làm cầu nối giúp hai địch thù, đối thủ này đến với nhau – không phải là một chuyện dễ.

Trong khi đó, Việt Nam đã bị biến thành con cờ, nạn nhân trong các ‘cuộc chơi’, xung đột giữa các nước lớn như Liên xô – Trung quốc và Mỹ – Trung quốc.

Chính những khác biệt này làm không ít người đặt câu hỏi tại sao cùng từng là thuộc địa, kém phát triển Singapore trở nên phồn thịnh, hùng mạnh, trong khi các quốc gia khác trong vùng như Việt Nam, vẫn mãi cứ nghèo, yếu thế?

Nếu Singapore trở nên giàu mạnh vì có một vị lập quốc, một lãnh đạo có tâm, có tầm, phải chăng Việt Nam nghèo, tụt hậu vì thiếu một lãnh đạo đủ tâm, đủ tầm?

Nghèo do lãnh đạo?

Trong một lần trả lời BBC tiếng Việt gần đây, một nhà lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng không nên so sánh Việt Nam với Singapore vì hoàn cảnh (lịch sử) hai nước khác nhau và một trong những nguyên nhân chính được đưa ra để giải thích sự khác biệt ấy – và cũng gián tiếp biện hộ cho sự thua kém của Việt Nam so với Singapore – là khác với Singapore, Việt Nam phải trải qua chiến tranh.

Ít ai phủ nhận hoàn cảnh Việt Nam khác Singapore và chiến tranh gây nên nhiều hậu quả nặng nề cho Việt Nam. Nhưng cách lý giải như vậy có hoàn toàn thỏa đáng?

” Giới lãnh đạo Việt Nam quá yếu kém, không coi việc đưa đất nước trở thành hùng cường là một sứ mệnh thiêng liêng, mà chỉ biết xoay xở để sống, tồn tại.

TS. Vũ Minh Khương”

Khi bàn luận về vụ ‘Xét lại chống Đảng’ và hậu quả của nó, có ý kiến cho rằng nếu theo con đường hòa bình (hiệp thương, đàm phán giữa hai miền Nam Bắc) để thống nhất Đất nước do cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những người trí thức khác đề nghị lúc đó – thay vì dùng bạo lực (đấu tranh vũ trang) do phe của ông Lê Duẩn chủ xướng – Việt Nam có thể đã không phải trải qua một cuộc chiến dài, đẫm máu như vậy.

Nhận định này đúng hay sai để giới nghiên cứu và thời gian trả lời. Nhưng có thể nói, nếu giới lãnh đạo Việt Nam ít nhiều có được một nhãn quan như ông Diệu, Việt Nam chắc chắn đã có một hướng đi tốt hơn, giúp Việt Nam phát triển hơn, chủ quyền được bảo đảm hơn và vị thế của Việt Nam cũng được coi trọng hơn.

Chẳng hạn, nếu ngay sau biến cố 1975, Việt Nam biết áp dụng những chính sách phát triển kinh tế như Singapore đã làm sau 1965 – thay vì phải chờ mãi đến giữa những năm 1980 – khi không còn một chọn lựa nào khác – mới tiến hành cải cách kinh tế, Việt Nam chắc chắn sẽ không tụt hậu như bây giờ.

Trong một thế giới thay đổi từng ngày, 10 năm không phải là một thời gian ngắn. Trung Quốc đã có những thay đổi nhanh, phát triển mạnh phần lớn vì sau cuộc gặp với ông Lý Quang Diệu vào năm 1978, ông Đặng Tiểu Bình đã biết học từ Singapore và cho tiến hành cải cách kinh tế ở Trung Quốc.

Và nếu cải cách triệt để và toàn diện hơn trong gần 30 năm qua, có thể Việt Nam giờ cũng đã khác nhiều.

Được biết, ông Diệu – người đã từng gặp gỡ, cố vấn cho lãnh đạo Việt Nam – rất lạc quan về những tiến bộ của Việt Nam trong những năm đầu đổi mới nhưng về sau ông đã trở nên bi quan về tiến trình cải cách và tương lai của Việt Nam.

Lãnh đạo Việt Nam

Phải chăng Việt Nam sẽ mãi còn nghèo đói, tụt hậu do lãnh đạo thiếu ‘tâm và tầm’ và không dám từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, theo tác giả.

Ông Diệu và nhiều người khác tỏ ra bi quan vì – như Tiến sĩ Vũ Minh Khương nhận định khi trả lời phỏng vấn BBC gần đây – giới lãnh đạo Việt Nam ‘quá yếu kém’, không coi việc đưa Đất nước ‘trở thành hùng cường là một sứ mệnh thiêng liêng’ mà chỉ biết ‘xoay xở để sống, tồn tại’.

Một kiểu tư duy như vậy cho thấy họ không chỉ thiếu tâm huyết mà còn thiếu cả tầm nhìn.

Phải chăng vì thiếu cả tâm lẫn tầm, đến giờ – dù Chủ nghĩa Cộng sản, Chủ nghĩa Xã hội tập trung đã thất bại ở Liên Xô, Đông Âu và ngay cả tại miền Bắc Việt Nam trước 1954 và cả nước trước 1986 – dù chấp nhận kinh tế thị trường phần nào, giới lãnh đạo Việt Nam vẫn tiếp tục kiên định chủ nghĩa xã hội và mãi lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình?

Nếu đủ tâm, đủ tầm chắc chắn họ đã dám dẹp bỏ tất cả những gì kìm hãm sự phát triển của Đất nước, không cần phải viện đến một chủ thuyết xa lạ, lỗi thời nào đó và tự tìm ra một con đường phát triển tốt nhất, thích hợp nhất cho Việt Nam như ông Diệu đã từng làm cho Singapore.

Những ngày này lãnh đạo các nước trên thế giới sẽ tới Singapore để viếng và tham dự đám tang của ông Lý Quang Diệu – và cũng qua đó, cùng với người dân Singapore, bày tỏ sự khâm phục và ghi nhớ đóng góp của ông.

Đến bao giờ Việt Nam mới có được một vị lãnh đạo được người dân kính trọng và thế giới ngưỡng mộ như thế?

Ngày tàn của Trung Quốc đang đến

Ngày tàn của Trung Quốc đang đến

Lời giới thiệu của ông David Brown

Bài phân tích của GS David Shambaugh đăng ngày 6 tháng 3 trên báo Wall Street Journal, một tờ báo lớn của Mỹ, quan trọng không chỉ về nội dung của nó mà còn ở chỗ tác giả là một ‘ngôi sao nhạc rock’ trong số các học giả Trung Quốc. Được biết, một cuộc thăm dò của các học giả Trung Quốc đánh giá Shambaugh là một chuyên gia nước ngoài về Trung Quốc có tầm ảnh hưởng nhất, được xếp vào hàng thứ hai.

Chuyên ngành của GS Shambaugh là chính sách đối ngoại của Trung Quốc và các vấn đề chính trị nội bộ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông là người tư vấn thường xuyên cho Bộ Ngoại giao Mỹ và một tác giả có nhiều bài viết.

Tiến sĩ Shambaugh lưu ý rằng các học giả Trung Quốc khác đã từng tiên đoán sự sụp đổ của ĐCS TQ, nhưng điều đó đã không xảy ra, ít nhất là chưa xảy ra. Vì sao bây giờ ông lại nhảy vào chủ đề ‘sự sụp đổ của Trung Quốc’? Rõ ràng là Shambaugh xem sự cải cách chính trị hạn chế của Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào là những bước xây dựng có thể giúp “hệ thống này mở ra”. Shambaugh lập luận rằng, bây giờ Tập Cận Bình đã bác bỏ những cải cách và kết quả đó, điều này chỉ có thể dẫn tới sự sụp đổ – có thể rất là hỗn độn – của chế độ Cộng sản Trung Quốc.

_____

WSJ

Tác giả: David Sambaugh

Người dịch: Huỳnh Phan

06-03-2015

Ngày tàn của chế độ cộng sản ở Trung Quốc đã bắt đầu, và các biện pháp tàn nhẫn của Tập Cận Bình chỉ đưa nước này tới đổ vỡ sớm hơn

H1

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, giữa phía trước, và các nhà lãnh đạo khác của Trung Quốc tham dự phiên khai mạc kỳ họp thứ ba Quốc hội hôm thứ Năm tại Đại Lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh. Ảnh THX / ZUMA PRESS

Hôm thứ Năm, Quốc hội Trung Quốc họp tại Bắc Kinh theo nghi thức đã trở nên quen thuộc hàng năm. Khoảng 3.000 đại biểu “được bầu” từ khắp nơi trên đất nước – từ nhóm sắc tộc ít người, ăn mặc sặc sỡ, cho đến các tỉ phú trang nhã – sẽ họp một tuần để thảo luận về tình trạng đất nước và tham gia vào việc làm chính trị giả vờ.

Một số người coi việc tụ tập đầy ấn tượng này là một dấu hiệu về sức mạnh của hệ thống chính trị Trung Quốc – nhưng nó che đậy nhiều điểm yếu nghiêm trọng. Chính trị Trung Quốc luôn khoác vỏ bọc màu mè, với các sự kiện được trình diễn như hội nghị nhằm phô trương uy quyền và sự ổn định của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Quan chức cũng như công dân đều biết rằng họ buộc phải tuân theo những nghi thức này, vui vẻ tham gia và lặp lại như vẹt các khẩu hiệu chính thức. Hành vi này trong tiếng Trung được gọi là biaotai (表态: biểu thái), “biểu lộ thái độ/ lập trường”, nhưng nó chỉ hơn hành động tuân theo hình thức một ít.

Mặc dù vẻ bề ngoài, hệ thống chính trị của Trung Quốc đang đổ vỡ tệ hại, và không ai biết điều đó rõ hơn chính Đảng Cộng sản. Người đầy quyền lực của Trung Quốc, Tập Cận Bình, đang hy vọng rằng, việc truy dẹp bất đồng chính kiến và tham nhũng sẽ củng cố sự cai trị của đảng. Ông cương quyết tránh trở thành một Mikhail Gorbachev của Trung Quốc, ngồi điều khiển sự sụp đổ của đảng. Nhưng thay vì là phản đề của Gorbachev, Tập Cận Bình rốt cuộc có thể đi tới cùng hậu quả. Sự chuyên quyền của ông đang đè nén nghiêm trọng hệ thống và xã hội Trung Quốc – và đưa nó tới gần chỗ đổ vỡ hơn.

Dự đoán sự sụp đổ của các chế độ độc tài là một việc đầy rủi ro. Vài chuyên gia phương Tây dự đoán sự sụp đổ của Liên bang Xô viết trước khi nó xảy ra vào năm 1991; CIA hoàn toàn bỏ qua điều đó. Hai năm trước khi nó xảy ra, việc sụp đổ của các nước cộng sản Đông Âu bị miệt thị là mơ tưởng của những người chống Cộng. Các cuộc “cách mạng màu” hậu Xô Viết ở Georgia, Ukraine và Kyrgyzstan từ 2003 đến 2005, cũng như các cuộc nổi dậy mùa xuân Ả Rập năm 2011, đều nổ ra ngoài dự đoán.

H1

Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh, chỗ xảy ra cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ vào năm 1989. Ảnh: NATIONAL GEOGRAPHIC/GETTY IMAGES

Các nhà quan sát tình hình Trung Quốc đã cảnh giác cao đối với những dấu hiệu mục ruỗng và xuống dốc của chế độ từ trải nghiệm kề miệng hố của chế độ tại quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989. Kể từ đó, nhiều nhà Trung Hoa học dày dạn đã đánh cược uy tín nghề nghiệp qua việc khẳng định rằng sự sụp đổ quyền cai trị của ĐCSTQ là không thể tránh khỏi. Những người khác thì thận trọng hơn, trong đó có tôi. Nhưng thời thế ở Trung Quốc thay đổi nên phân tích của chúng ta cũng phải thay đổi theo.

Tôi tin rằng ngày tàn của chế độ cộng sản Trung Quốc đã bắt đầu, và điều đó đã diễn tiến xa hơn nhiều người nghĩ. Tất nhiên chúng ta không biết con đường từ nay cho đến lúc kết thúc sẽ như thế nào. Có lẽ sẽ hết sức bất ổn và lộn xộn. Nhưng cho đến khi hệ thống bắt đầu rã ra theo cách rõ rệt nào đó thì những yếu tố bên trong sẽ diễn trò theo – do đó cùng góp phần làm bộ mặt ổn định.

Việc cai tri của cộng sản ở Trung Quốc khó có vẻ sẽ kết thúc thầm lặng. Một sự kiện đơn lẻ khó có khả năng kích thích làm nổ tan chế độ một cách hoà bình. Sự sụp đổ của nó có khả năng sẽ kéo dài, lộn xộn và bạo lực. Tôi không loại trừ khả năng Tập Cận Bình sẽ bị lật đổ trong một cuộc đấu tranh quyền lực hoặc đảo chính. Với chiến dịch chống tham nhũng hùng hổ – trọng tâm của Quốc hội trong tuần này – ông đang dùng sở đoản của mình quá mức, gây hoang mang cho các cử tri đảng, nhà nước, quân sự và thương mại then chốt.

Người Trung Quốc có một câu tục ngữ, waiying, neiruan (外硬内软: ngoại ngạnh, nội nhuyễn, tức ‘cứng bề ngoài, mềm bên trong’). Tập Cận Bình là một nhà cai trị thực sự cứng rắn, lộ rõ sự tự tin và thuyết phục. Nhưng nhân cách cứng rắn này là biểu hiện trái ngược bề ngoài của hệ thống đảng và chính trị vốn vô cùng mong manh bên trong.

Hãy xét năm chỉ dấu phô lộ về các chỗ nhược của chế độ và những yếu kém mang tính hệ thống của đảng.

H1

Đội quân nhạc trong phiên khai mạc Quốc Hội vào thứ năm tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh. Ảnh: AP

Thứ nhất, giới chủ chốt kinh tế của Trung Quốc có một chân thò ra ngoài, và họ sẵn sàng bỏ đi hàng loạt nếu hệ thống thực sự bắt đầu sụp đổ. Năm 2014, Viện nghiên cứu Hồ Nhuận (Hurun), Thượng Hải chuyên nghiên cứu về giới giàu có Trung Quốc, phát hiện ra rằng 64% các “cá nhân có lợi tức ròng cao” mà họ thăm dò – 393 triệu phú và tỉ phú – thì hoặc đang di cư hoặc đang có kế hoạch di cư. Giới nhà giàu Trung Quốc gửi con đi du học với con số kỷ lục (bản thân điều này là một cáo trạng về chất lượng của hệ thống giáo dục đại học Trung Quốc).

Tạp chí này tường thuật ngay trong tuần này rằng các nhân viên liên bang đã lục soát nhiều địa điểm ở Nam California mà chính quyền Mỹ cho là có liên hệ tới “hoạt động kinh doanh du lịch sinh con trị giá nhiều triệu đô la đã đưa hàng ngàn phụ nữ Trung Quốc sang đây du lịch rồi trở về với con vừa mới sinh là công dân Hoa Kỳ”. Giới giàu có Trung Quốc cũng đang mua bất động sản ở nước ngoài ở mức độ và giá cả kỷ lục, và họ cũng đang chuyển tài sản ra nước ngoài, thường ở những nơi dễ trốn thuế và các công ty vỏ bọc.

Trong khi đó, Bắc Kinh đang cố tìm cách giải về nước một số lượng lớn những kẻ trốn chạy đem tiền ra sống ở nước ngoài. Khi giới ưu tú của một đất nước – trong đó nhiều người là đảng viên – trốn chạy với số lượng lớn như vậy, đó là một dấu hiệu rõ ràng của sự thiếu niềm tin vào chế độ và tương lai của đất nước.

Thứ hai, từ khi nắm quyền vào năm 2012, Tập Cận Bình đã tăng cường mạnh mẽ đàn áp chính trị vốn bao trùm khắp Trung Quốc từ năm 2009. Mục tiêu nhắm vào bao gồm báo chí, truyền thông xã hội, phim ảnh, nghệ thuật và văn học, các nhóm tôn giáo, Internet, trí thức, người Tây Tạng và người Duy Ngô Nhĩ, bất đồng chính kiến, luật sư, tổ chức phi chính phủ, sinh viên đại học và sách giáo khoa. Ban Chấp Hành Trung Ương đã ra một chỉ thị hà khắc đưa xuống cấp dưới vào năm 2013 gọi là văn bản số 9, yêu cầu tất cả các đơn vị phải tìm ra mọi biểu hiện có vẻ tán đồng “các giá trị phổ quát” của phương Tây – gồm dân chủ lập hiến, xã hội dân sự, tự do báo chí và kinh tế tân tự do.

Một chính phủ vững vàng và tự tin sẽ không tiến hành đàn áp khốc liệt như vậy. Đó là triệu chứng lo âu và bất an sâu đậm của lãnh đạo đảng.

H1

Một người biểu tình bị cảnh sát quật xuống đất ngày 5-3-2014 tại Bắc Kinh trước khi Quốc Hội khai mạc gần đó. Ảnh: AP

Thứ ba, ngay cả nhiều người trung thành với chế độ cũng chỉ hành động xu thời. Thật khó có thể bỏ qua những biểu hiện diễn kịch giả tạo đã thấm đẩm khắp bộ máy chính trị Trung Quốc trong vài năm qua. Mùa hè năm ngoái, tôi là một trong số ít người nước ngoài (và là người Mỹ duy nhất) tham dự hội thảo về “Giấc mơ Trung Quốc”, một ý tưởng mang dấu ấn của Tập Cận Bình, tại một nhóm nghiên cứu trực thuộc đảng CS ở Bắc Kinh. Chúng tôi ngồi suốt hai ngày mệt óc, nghe hơn hai chục diễn giả đảng trình bày liên tục – nhưng mặt họ lạnh lùng vô cảm, ngôn ngữ điệu bộ khô cứng, và nỗi chán nản của họ hiển hiện. Họ giả vờ tuân thủ theo đảng và các câu thần chú mới nhất của lãnh đạo đảng. Nhưng rõ ràng là công tác tuyên truyền đã mất đi sức mạnh, và hoàng đế chẳng có quần áo trên người.

Tháng 12, tôi trở lại Bắc Kinh dự hội nghị tại trường Đảng Trung Ương, cơ quan cao nhất lo việc dạy dỗ chủ thuyết của đảng, và một lần nữa, các quan chức chóp bu và chuyên gia chính sách đối ngoại lại đọc thuộc lòng các khẩu hiệu đúng từng lời. Trong giờ ăn trưa một ngày nọ, tôi đến gian hàng sách của trường – luôn luôn là một điểm dừng quan trọng để tôi có thể tự cập nhật những thứ cán bộ lãnh đạo Trung Quốc đang được dạy. Những tập sách trên các kệ của cửa hàng từ “tuyển tập” của Lenin đến hồi ký của Condoleezza Rice, và một cái bàn ở lối vào chất đầy các cuốn sách nhỏ của Tập Cận Bình về chiến dịch đề cao “đường lối quần chúng” của ông – tức về liên hệ giữa đảng với quần chúng. Tôi hỏi nhân viên bán hàng: “Sách này bán thế nào?” Cô trả lời. “Ô, không. Chúng tôi chỉ biếu không”. Chồng sách cao nghệu cho thấy nó khó có thể là sách đắt hàng.

Thứ tư, tệ tham nhũng lan tràn trong nhà nước độc đảng và quân đội cũng thâm nhập vào toàn xã hội Trung Quốc nói chung. Chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình dai dẳng và khốc liệt hơn so với các chiến dịch trước đó, nhưng không có chiến dịch nào có thể khử hết được vấn nạn này. Nó có cội rể sâu trong hệ thống độc đảng, mạng lưới đỡ đầu – đàn em, nền kinh tế hoàn toàn thiếu minh bạch, phương tiện truyền thông nhà nước kiểm soát và sự thiếu vắng của nhà nước pháp quyền.

Hơn nữa, chiến dịch của Tập Cận Bình ít nhất đang biến thành một cuộc thanh trừng chọn lọc không kém gì một chiến dịch bài trừ tham nhũng. Nhiều người trong số các mục tiêu nó nhắm tới cho đến nay là các tay em và các đồng minh chính trị của cựu lãnh đạo Trung Quốc Giang Trạch Dân. Hiện 88 tuổi, ông ta vẫn là một thế lực bảo trợ chính trị ở Trung Quốc. Truy theo mạng lưới bảo trợ của Giang Trạch Dân khi ông vẫn còn đang sống là điều rất nguy hiểm cho Tập Cận Bình, đặc biệt là vì ông có vẻ chưa tập hợp được phe nhóm dưới tay trung thành khi lên vị trí cầm quyền. Một vấn đề khác nữa là Tập Cận Bình, con của thế hệ cách mạng chủ chốt đầu tiên của Trung Quốc, là một trong những “thái tử đảng”, nên các mối quan hệ chính trị của ông chủ yếu chỉ mở rộng đến các thái tử đảng khác. Thế hệ hưởng lộc (silver spoon) này đang bị chửi rủa cùng khắp trong xã hội Trung Quốc.

H1

Tập Cận Bình tại dinh tổng thống Schloss Bellevue trong chuyến thăm cường quốc xuất khẩu Đức tại Berlin vào ngày 28 tháng 3, 2014. Ảnh: AFP/ GETTY IMAGES

Cuối cùng, nền kinh tế của Trung Quốc – theo các quan điểm phương Tây, như là một lực kéo áp đảo (juggernaut) không dừng được, bị mắc kẹt trong một loạt các bẫy hệ thống không có lối thoát dễ dàng. Tháng 11 năm 2013, Tập Cận Bình chủ trì Hội Nghị Trung Ương 3 của đảng, công bố một gói đồ sộ các đề xuất cải cách kinh tế, nhưng cho đến nay, vẫn còn trên bệ phóng. Vâng, chi cho tiêu dùng có tăng lên, tệ lót tay cửa quyền có giảm xuống, và một số cải cách tài chính đã được đưa vào, nhưng trên tổng thể, các mục tiêu đầy tham vọng của Tập Cận Bình đã chết yểu. Gói cải cách này thách thức các nhóm lợi ích đầy quyền lực có gốc rể sâu xa trong hệ thống – như các doanh nghiệp nhà nước và các cán bộ đảng địa phương – và họ đang thẳng thừng ngăn chặn việc thực hiện nó.

Năm vết nứt ngày càng hiện rõ này trong việc kiểm soát chế độ chỉ có thể chỉnh sửa thông qua cải cách chính trị. Cho đến khi và trừ khi có sự nới lỏng kiểm soát chính trị hà khắc, Trung Quốc sẽ không bao giờ trở thành một xã hội sáng tạo và một “nền kinh tế tri thức” – một mục tiêu chính của các cải cách của Hội Nghị 3. Hệ thống chính trị đã trở thành những trở ngại chính cho các cải cách kinh tế và xã hội cần thiết của Trung Quốc. Nếu Tập Cận Bình và các lãnh đạo đảng không nới lỏng quyền kiểm soát thì họ có thể phải đối mặt với kết cục định sẵn mà họ muốn tránh.

Trong nhiều thập niên kể từ khi Liên Xô sụp đổ, giới lãnh đạo cấp cao Trung Quốc luôn bị ám ảnh về sự sụp đổ của nước cộng sản anh em khổng lồ này. Hàng trăm phân tích hậu nghiệm ở Trung Quốc đã mổ xẻ những nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của Liên Xô.

“Giấc mơ Trung Quốc” thực của Tập Cận Bình phải tránh cơn ác mộng Liên Xô. Chỉ một vài tháng lên cầm quyền, ông ta đã đưa ra một bài phát biểu nội bộ dè biểu sự sụp đổ của Liên Xô và than phiền Gorbachev phản bội, cho rằng Moscow đã thiếu một “người đàn ông đích thực” dám đứng lên chống lại nhà lãnh đạo cải cách cuối cùng. Làn sóng đàn áp hiện nay của Tập Cận Bình làm điều trái ngược với perestroika (cải tổ) và glasnost (cởi mở) của Gorbachev. Thay vì cởi mở, Tập Cận Bình lại tăng sự kiểm soát đối với bất đồng chính kiến, nền kinh tế và thậm chí cả các đối thủ trong đảng lên gấp đôi.

Nhưng phản ứng lại và đàn áp không phải là lựa chọn duy nhất của Tập Cận Bình. Các tiền nhiệm của ông, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, đã rút ra những bài học rất khác từ sự sụp đổ của Liên Xô. Từ năm 2000 đến năm 2008, hai ông đã thể chế hoá nhiều chính sách nhằm mở cửa hệ thống với các cải cách chính trị có giới hạn một cách cẩn thận.

Hai ông đã tăng cường các cấp uỷ đảng địa phương và thử nghiệm việc bầu bí thư với nhiều ứng cử viên. Hai ông thu nhận vào đảng nhiều doanh nhân và trí thức. Hai ông đã mở rộng tham vấn với các nhóm ngoài đảng và làm cho các thủ tục làm việc của Bộ Chính trị minh bạch hơn. Hai ông đã cải thiện cơ chế phản hồi trong đảng, áp dụng tiêu chí tài đức nhiều hơn cho việc đánh giá và đề bạt, và tạo ra hệ thống bồi dưỡng nghiệp vụ bắt buộc cho toàn bộ 45 triệu cán bộ đảng và nhà nước. Cả hai đã đưa vào thực hiện các đòi hỏi về hưu trí và luân chuyển công tác của cán bộ, sĩ quan cứ mỗi vài năm.

Trên thực tế, trong một quảng thời gian Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào đã tìm cách quản lý sự thay đổi chứ không phải chống lại nó. Tuy nhiên, Tập Cận Bình không thích điều nào trong số này. Từ năm 2009 (khi mà ngay cả Hồ Cẩm Đào trước đây cởi mở cũng đã chuyển hướng và bắt đầu kiểm soát chặt chẽ), chế độ ngày càng bất an đã rút lại tất cả những cải cách chính trị (trừ hệ thống huấn luyện cán bộ). Những cải cách này do cánh tay chính trị đắc lực của Giang Trạch Dân, cựu phó chủ tịch Tăng Khánh Hồng đạo diễn, là người đã nghỉ hưu vào năm 2008 và hiện đang bị nghi ngờ trong chiến dịch chống tham nhũng của Tập – thêm một dấu hiệu về sự thù địch của Tập Cận Bình với các biện pháp có thể làm dịu những căn bệnh của hệ thống đang phân rã.

Một số chuyên gia cho rằng chiến thuật hà khắc của Tập Cận Bình thực ra có thể báo trước một hướng cởi mở hơn và cải cách về sau trong nhiệm kỳ của ông. Tôi không đồng tình điều này. Nhà lãnh đạo và chế độ này xem chính trị như cuộc chơi có tổng zero: Theo quan điểm của họ, nới lỏng kiểm soát chắc chắn là một bước hướng tới sự huỷ diệt của hệ thống và sự sụp đổ của chính họ. Họ cũng có cách nhìn theo thuyết âm mưu rằng Hoa Kỳ đang tích cực hành động để lật đổ Đảng Cộng sản [Trung Quốc]. Không có điều nào trong gợi mở này cho thấy rằng các cải cách sâu rộng sắp quay trở lại.

Chúng ta không thể dự đoán Cộng sản Trung Quốc sẽ sụp đổ lúc nào, nhưng không khó để kết luận rằng chúng ta đang chứng kiến giai đoạn cuối cùng của nó. ĐCSTQ là chế độ cầm quyền lâu thứ hai trên thế giới (chỉ sau Bắc Triều Tiên), và không có một đảng nào có thể thống trị mãi mãi.

Nhìn về phía trước, các nhà theo dõi Trung Quốc nên để mắt vào các công cụ kiểm soát của chế độ và vào những người được phân công sử dụng những công cụ này. Một số lượng lớn các công dân lẫn đảng viên đã bỏ phiếu bằng chân rời bỏ đất nước hoặc thể hiện sự thiếu thành thật bằng cách giả vờ tuân theo mệnh lệnh của đảng.

Chúng ta cần quan sát ngày mà các nhân viên tuyên truyền và bộ máy an ninh nội bộ của chế độ bắt đầu trở nên lỏng lẻo trong việc thực thi mệnh lệnh của đảng – hoặc khi họ bắt đầu đồng nhất mình với bất đồng chính kiến, như nhân viên Stasi (an ninh) của Đông Đức trong phim “The Lives of Others” (Mãnh đời của nhưng kẻ khác), anh đã thông cảm với các đối tượng bị theo dõi. Khi sự đồng cảm của con người bắt đầu chiến thắng bộ máy cầm quyền cứng nhắc thì ngày tàn của cộng sản Trung Quốc sẽ thực sự bắt đầu.

Tác giả: TS Shambaugh là giáo sư về các vấn đề quốc tế và là giám đốc Chương Trình Chính Sách Trung Quốc tại Đại Học George Washington, cộng tác viên cao cấp tại Viện Brookings. Sách của ông gồm có “China’s Communist Party: Atrophy and Adaptation” (ĐCS Trung Quốc: hao mòn và thích ứng”), và gần đây nhất, “China Goes Global: The Partial Power.” (Trung Quốc vươn lên toàn cầu: một thế lực cục bộ)

Bước tiến mới dân chủ hóa Việt Nam

Bước tiến mới dân chủ hóa Việt Nam

Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung Gửi cho BBC từ Sài Gòn

BBC

Hà Nội cây xanh

Phong trào dân chủ và xã hội dân chủ ở Việt Nam đang ‘trưởng thành’ từng ngày qua các diễn biến, theo tác giả.

Những ngày này, dư luận cả nước đang hướng sự chú ý về hai vụ việc chấn động tàn phá môi trường.

Ở Hà Nội là việc nhà cầm quyền chặt hàng loạt các cây cổ thụ, còn ở Đồng Nai là việc sông Đồng Nai bị lấp để phục vụ cho một dự án bất động sản.

Tác hại của những dự án này đã được các chuyên gia chỉ rõ trong nhiều bài báo.

Ở đây, tôi chỉ muốn nói đến khía cạnh pháp luật.

Cụ thể hơn là nói tới các nguyên tắc căn bản nhất của một xã hội thượng tôn pháp luật, dân chủ và công bằng, vốn đã bị vi phạm nghiêm trọng qua hai sự việc trên như thế nào.

Luật quan, luật dân

”  Qua cả hai vụ việc, nhà cầm quyền đều lừa dối người dân, tự cho rằng đã rất minh bạch dự án, đã tham khảo ý kiến người dân và đều được người dân đồng tình, nhưng sự thật, như chính báo chí trong nước đã chỉ ra, là hoàn toàn ngược lại

Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung

Đầu tiên và quan trọng nhất, khi những người có quyền muốn những người còn lại tuân thủ luật pháp, chính bản thân họ cũng phải tuân thủ luật pháp. Đối với việc chặt cây ở Hà Nội, các chuyên gia đã chỉ rõ chính quyền đã vi phạm nghị định 64/2010, luật Bảo vệ môi trường, luật Thủ đô. Còn đối với vụ lấp sông Đồng Nai, chính quyền đã vi phạm luật Tài nguyên nước và luật Bảo vệ môi trường. Thử hỏi, khi luật pháp ‘nghiêm’ không được áp dụng cho quan chức mà chỉ áp dụng cho dân thì sẽ còn ai tôn trọng luật pháp ‘nghiêm minh’ ấy nữa?

Qua cả hai vụ việc, nhà cầm quyền đều lừa dối người dân, tự cho rằng đã rất minh bạch dự án, đã tham khảo ý kiến người dân và đều được người dân đồng tình, nhưng sự thật, như chính báo chí trong nước đã chỉ ra, là hoàn toàn ngược lại.

Một xã hội công bằng phải dựa trên luật pháp chuẩn mực. Luật pháp làm ra phải được áp dụng như nhau cho tất cả mọi người, không ai được ngoại lệ và không ai được đứng trên luật pháp. Không thể đối xử với quan chức khác với dân thường. Nếu quan chức tự tung tự tác, muốn làm gì thì làm mà không sợ sự chế tài của pháp luật thì đất nước chẳng sớm thì muộn sẽ rơi vào cảnh hỗn loạn, vì “thượng bất chính, hạ tắc loạn”.

Thứ hai, người dân – những người được yêu cầu tuân theo luật pháp, tuân theo quyền lực chính trị, phải có tiếng nói. Nếu họ lên tiếng thì họ sẽ được chính quyền lắng nghe một cách tôn trọng. Ở vụ chặt cây tại Hà Nội, ông Phan Đăng Long, Phó trưởng Ban tuyên giáo Thành ủy Hà Nội đã thẳng thừng là ‘không phải hỏi’ ý kiến dân gì cả.

Vụ lấp sông Đồng Nai

Dự án lấp sông Đồng Nai để phục vụ ‘phát triển địa ốc’, ‘đô thị’ đang thu hút sự chú ý của dư luận trong nước.

Còn ông Nguyễn Quốc Hùng, phó chủ tịch UBND thành phố Hà Nội lại không thèm trả lời 21 câu hỏi của phóng viên báo chí trong một cuộc họp báo một chiều, độc thoại của ông và diễn ra chỉ vỏn vẹn chừng mười phút.

Sự việc lấp sông ở Đồng Nai còn kịch tính hơn khi phóng viên báo Thanh Niên xin lên sân thượng nhà những người dân ở gần hiện trường để chụp ảnh nhưng đều bị từ chối với lý do “Tôi sợ”. Thậm chí phóng viên còn bị người lạ theo dõi. Tại sao người dân lại sợ hãi khi các phóng viên muốn sự thật được phơi bày? Làm sao có thể có tiếng nói khi ngay cả việc được biết sự thật cũng không thể được?

Từ đó ta thấy, xã hội Việt Nam hiện tại có hai giai cấp. Giai cấp thống trị là các đảng viên cộng sản có chức quyền không do dân bầu, đứng trên luật pháp. Và giai cấp bị trị là tất cả những người còn lại chịu sự chi phối của một thứ luật pháp bất công. Điều này cũng phù hợp với chủ nghĩa Mác – Lênin với quan niệm nhà nước và luật pháp là công cụ đàn áp của giai cấp thống trị.

Cộng hòa chính danh

” Để xảy ra hai sự việc trên, cũng như dự án bô-xít Tây Nguyên, đều là do sự vắng bóng hoàn toàn ở Việt Nam của các quy chế của một nhà nước pháp quyền, dân chủ, cộng hòa chính danh

Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung”

Để xảy ra hai sự việc trên, cũng như dự án bô-xít Tây Nguyên, đều là do sự vắng bóng hoàn toàn ở Việt Nam của các quy chế của một nhà nước pháp quyền, dân chủ, cộng hòa chính danh.

Trong đó hai yếu tố quan trọng nhất là dân không có quyền bầu ra đảng cầm quyền lãnh đạo theo chọn lựa của họ, do đó đây là nhà nước cộng hòa mạo danh.

Và thứ hai là luật pháp không chuẩn mực, được làm ra để phục vụ lợi ích của một đảng, không có hệ thống tư pháp độc lập, từ đó gây ra bất công xã hội.

Những lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm cao nhất vì họ nhận là họ có quyền lãnh đạo “trực tiếp, tuyệt đối, và toàn diện” mọi mặt đời sống xã hội.

Họ không thể đổ thừa là cấp dưới làm sai và chỉ tạm đình chỉ công tác của một vài cán bộ cấp sở, phòng.

Ở các nước dân chủ, chỉ cần một vụ việc như vậy là đã có thể khiến đảng cầm quyền phải ra đi, nhường lại quyền lãnh đạo cho đảng thắng cử.

Những bộ luật để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình đều bị nhà cầm quyền trì hoãn hoặc bóp méo, như các bộ luật về quyền tự do biểu tình, tự do lập hội, tự do báo chí…

Thiếu vắng hành lang pháp lý để tự tập hợp lại, bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, để sửa đổi những bộ luật sai trái, để “biết”, “bàn”, “làm”, “kiểm tra”, những người dũng cảm lên tiếng phản đối những hành vi sai trái của nhà cầm quyền rất dễ gặp rủi ro như bị sách nhiễu, đàn áp, bắt giữ trái phép.

Lựa chọn cho Đảng

Cây xanh Hà Nội

Khách nước ngoài tham gia tuần hành bảo vệ cây xanh của người dân Việt Nam ở Hồ Thiền Quang, Hà Nội hôm 22/3/2015.

Dẫu còn đầy khó khăn như vậy, người dân Việt Nam đã không còn chấp nhận chịu đựng nữa mà bắt đầu phản kháng, không còn ở phạm vi cá nhân đơn lẻ mà đã bắt đầu đứng lại cùng nhau, lên tiếng cùng nhau để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

Hãy nhìn những tấm ảnh người dân cùng nhau xuống đường biểu tình để bảo vệ cây xanh; nhìn trên cả mạng xã hội và báo chí chính thống cũng phản ứng quyết liệt với chuyện chính quyền Hà Nội chặt cây, chính quyền Đồng Nai lấp sông, với những quan chức khinh thường dân.

Nhìn vào việc người dân tự thành lập các tổ chức xã hội dân sự, không chỉ mang tính xã hội mà cả tính chính trị, ta có thể thấy việc chuyển đổi sang một xã hội dân chủ, công bằng đã bước sang một giai đoạn mới.

”  Hãy bắt đầu bằng việc trả lại quyền làm chủ cho người dân qua nhà nước cộng hòa chính danh, và tạo dựng xã hội công bằng qua luật pháp chuẩn mực

Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung”

Nếu nhà cầm quyền chọn cách đàn áp sự phản kháng của người dân, cuối cùng họ sẽ tạo ra những con người dũng cảm đấu tranh chống bất công.

Nếu nhà cầm quyền chọn cách bưng bít thông tin, lừa dối dư luận, cuối cùng họ lại đánh mất niềm tin của người dân – cốt lõi cho sự tồn tại của bất kỳ chế độ nào.

Nếu nhà cầm quyền chọn tiếp tục tước đoạt quyền làm chủ của người dân, cuối cùng họ đã buộc người dân phải đứng lên thực hiện quyền làm chủ của mình, bầu ra đảng lãnh đạo mới.

Và nếu những người lãnh đạo đảng cộng sản hiểu và thấm thía câu ca dao từ cổ xưa truyền lại “Bao giờ giặc nổi can qua, con vua thất thế lại ra quét chùa” như là lời tổng kết của dân gian với các triều đại đến rồi đi trên đất nước này thì họ sẽ hành động khác.

Và hãy bắt đầu bằng việc trả lại quyền làm chủ cho người dân qua nhà nước cộng hòa chính danh, và tạo dựng xã hội công bằng qua luật pháp chuẩn mực.

Tuần hành HN: dân-nhà nước ‘cùng thắng’

Tuần hành HN: dân-nhà nước ‘cùng thắng’

Cây xanh Hà Nội

Cuộc tuần hành ‘Vì cây xanh’ hôm 29/3/2015 có sự tham gia của hàng trăm người dân, theo nhà quan sát từ Hà Nội.

Một cuộc tuần hành vì cây xanh với hàng trăm người xuống đường, tham gia ở trung tâm thành phố Hà Nội diễn ra sáng ngày Chủ Nhậ là một kết quả ‘hai bên cùng thắng’ giữa dân và chính quyền, mặc dù bên phía chính quyền lẽ ra có thể đã ‘thắng đậm hơn nữa’, theo ý kiến một nhà quan sát từ Việt Nam.

Trao đổi với BBC sau khi tham dự cuộc tuần hành ‘Vì cây xanh’ (Greenwalk) ở quanh Hồ Gươm, Hà Nội hôm 29/3/2015, Tiến sỹ Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Phản biện Độc lập (IDS đã tự giải thể) nói:

“Tôi nghĩ rằng thực sự những người đi diễu hành chỉ muốn hai bên cùng thắng. Lẽ ra chính quyền còn có thể thắng đậm hơn nữa, nếu mà có lực lượng công an giữ trật tự, dẹp đường, hướng dẫn cho người dân và dẹp những cái xe ra rả hô hào những khẩu hiệu rất cũ rích.

“Lần này không những chỉ có mấy cái xe của cảnh sát, mà cả một hệ thống loa của chính quyền địa phương khắp xung quanh, treo ở các cây cũng như các góc đường, thì cũng đều hô hào rằng người dân đừng có tham gia vào.

Tôi nghĩ rằng thực sự những người đi diễu hành chỉ muốn hai bên cùng thắng. Lẽ ra chính quyền còn có thể thắng đậm hơn nữa, nếu mà có lực lượng công an giữ trật tự, dẹp đường, hướng dẫn cho người dân và dẹp những cái xe ra rả hô hào những khẩu hiệu rất cũ rích

TS. Nguyễn Quang A

“Giá mà họ bỏ những chuyện đấy, giá mà họ hỗ trợ, tạo điều kiện cho cuộc diễu hành được tiến hành tốt hơn, thì phần thắng của họ (chính quyền) sẽ cao hơn rất nhiều.

“Và thực sự tôi chúc cho chính quyền và tôi mong muốn là chính quyền hãy hành xử như thế, bởi vì như thế là tốt cho chính quyền,” Tiến sỹ Quang A nói.

Hôm Chủ Nhật, một nhà hoạt động xã hội ở Hà Nội, blogger JB Nguyễn Hữu Vinh thuật lại với BBC về không khí cuộc diễu hành bảo vệ môi trường và phản đối chặt cây xanh ở Hà Nội của người dân hôm 29/3.

Ông Vinh nói:

“Sáng nay, có rất đông đảo con số theo tôi ước tính khoảng gần 500 người đã tập trung ở Bờ Hồ Hoàn Kiếm, tuần hành khoảng một vòng ở đó đến kết thúc là ở Tượng đài Lý Thái Tổ để tuần hành và biểu dương khí thế của nhân dân phản đối việc chính quyền Hà Nội đã chặt cây vô tội vạ và chặt cây xanh thời gian vừa qua, trong đề án ‘6.700 cây bị chặt hạ’ của họ.

“Số lượng người tập trung hôm nay khá là đông đảo và người ta cầm trên tay những biểu ngữ là ‘Không được chặt cây’, ‘Chặt cây là tội ác’, và ‘Phải bảo vệ sự sống’, ‘Bảo vệ môi trường’, cũng như là tất cả những người đó đi diễu hành trên phố rất trật tự.”

Theo ông JB Nguyễn Hữu Vinh cuộc tuần hành này đã diễn ra ‘khá thành công’, từ góc nhìn của một người tham gia cuộc xuống đường vì môi trường.

Ông nói: “Theo đánh giá của cá nhân tôi thì đó là một cuộc diễu hành, tuần hành khá thành công và cũng như khá hài lòng với tất cả.”

‘Can thiệp nhất định’

Tuy nhiên, ông Vinh cũng cho biết chính quyền cũng đã có một số sự can thiệp nhất định với cuộc tuần hành.

Công an dùng nhiều xe của họ, xe đặc chủng, các xe có gắn các loa phát thanh yêu cầu giải tán, yêu cầu này khác, như với các cuộc tập trung khác, và họ cũng có những lời lẽ khá là căng thẳng, yêu cầu rằng là không được tập trung, để bảo vệ Hội nghị Quốc hội Quốc tế nọ kia

Blogger JB Nguyễn Hữu Vinh

Blogger cho biết thêm:

“Công an dùng nhiều xe của họ, xe đặc chủng, các xe có gắn các loa phát thanh yêu cầu giải tán, yêu cầu này khác, như với các cuộc tập trung khác, và họ cũng có những lời lẽ khá là căng thẳng, yêu cầu rằng là không được tập trung, để bảo vệ Hội nghị Quốc hội Quốc tế nọ kia…

“Thế nhưng người dân người ta vẫn ý thức vấn đề bảo vệ môi trường và cây xanh của mình, họ vẫn tuần hành rất trật tự và đồng thời biểu hiện ý chí của mình ra bằng hành động của họ, bằng những câu khẩu hiệu là không được chặt cây xanh.”

Theo quan sát của ông Vinh, công an đã không có những hành động can thiệp được cho là ‘phản cảm’ như trong các cuộc biểu tình, tuần hành chống Trung Quốc của người dân ở Hà Nội trước đây.

Tuy nhiên, vẫn theo blogger này, chính quyền cũng đã có một số động tác can thiệp kín trước khi sự kiện cuộc tuần hành hôm Chủ Nhật diễn ra.

Ông nói: “Một số người cũng cho biết rằng rất nhiều người bị canh gác, rồi bị theo dõi này khác ở gia đình, ở một số nơi…

Tuần hành ở Hà Nội

Một người tuần hành kêu gọi cứu cây xanh và cứu môi trường của Thủ đô Hà Nội.

“Tuy nhiên, kết quả cuối cùng là người dân vẫn tuần hành xung quanh Bờ Hồ và tập trung cuối cùng ở Tượng đài Lý Thái Tổ, để cùng nhau mặc niệm những nạn nhân vừa bị tai nạn ở Hà Tĩnh và cũng như là người ta thể hiện ý chí với nhau, vấn đề là bảo vệ môi sinh, môi trường, cũng như phản đối vấn đề chặt cây xanh của Hà Nội,” nhà báo độc lập nói với BBC.

Cũng hôm Chủ Nhật, khi được hỏi vì sao lãnh đạo đảng và chính quyền Hà Nội, như trực tiếp Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị, đã có lên tiếng về vụ dự án được gọi là ‘thay thế cây xanh’ vừa qua, mà người dân vẫn tiếp tục xuống đường tuần hành, và họ sẽ có thể quyết định khi nào thì thôi tuần hành, Tiến sỹ Nguyễn Quang A nêu quan điểm:

“Cái này thì khó mà có thể nói trước được, tôi nghĩ rằng chính quyền Hà Nội cũng có một vài dấu hiệu, nhưng những dấu hiệu đấy trong thực tâm nó như thế nào thì còn rất là khó đánh giá.

“Nhưng với chuyện mà Đại học Lâm nghiệp, ông Hiệu trưởng Đại học Lâm nghiệp, cũng rất may là ông ấy đưa một công văn ra cho công chúng, để có thể công chúng đọc được, thì thấy rằng hành xử tôi nghĩ là hết sức là dại về phía chính quyền.

“Và cân nhắc những hành động như ai nói là có vẻ ‘là được’ và thực tiễn mà tôi đánh giá rằng rất kém, thì việc đánh giá của người dân cũng còn phải cân nhắc chán, và tôi nghĩ rằng người dân người ta sẽ luôn luôn dựa vào các hành động chứ không phải dựa vào các lời nói,” nhà quan sát nói với BBC từ Hà Nội.