Nên CHO hay NHẬN ?

Nên CHO hay NHẬN ?

Chuacưuthe.com

– Tin nổi bật, Công Giáo Trẻ

VRNs (07.4.2015) – Sài Gòn –  Sách Huấn Ca dạy: “Con ơi, đừng tước đoạt miếng cơm manh áo của người nghèo, đừng để kẻ khốn cùng luống công chờ đợi. Đừng làm cho kẻ đói phải buồn tủi, đừng chọc tức ai khi họ phải ngặt nghèo. Một tâm hồn đang bực bội, con đừng làm khổ thêm, đừng bắt kẻ túng thiếu đợi lâu mới được con giúp đỡ. Kẻ khốn khổ nài xin, con đừng từ chối, gặp người nghèo, con đừng ngoảnh mặt đi. Đừng làm ngơ không nhìn đến kẻ thiếu thốn, kẻo nên cớ cho người ta nguyền rủa con” (Hc 4:1-5).

CHO là TRAO TẶNG, TRAO BAN, HIẾN DÂNG,… với cả tấm lòng trân trọng và yêu quý. Một động từ đẹp, không đẹp về cách viết mà đẹp về ý nghĩa đầy tính nhân bản, đầy tình thương xót, đầy lòng thứ tha,… KHÔNG CÓ thì không thể CHO, vì người ta chỉ có thể CHO những gì mình CÓ – dù vật chất hay tinh thần.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Ngoài Tám Mối Phúc Thật (Mt 5:3-10), một trong những ĐẠI PHÚC khó tin nhất được đề cao trong Kinh thánh là: “CHO thì có phúc hơn là NHẬN” (Cv 20:35). Người cho lại hạnh phúc hơn người nhận ư? Có lộn không? Thật là ngược với trực giác và bản năng của chúng ta. Tuy nhiên, đó lại là sự thật với 5 lý do xác định lý do nên CHO hơn NHẬN.

Tuy nhiên, cũng nên nhớ lại câu nói ý vị của người Việt Nam: “Của cho không bằng cách cho”. Một câu nói rất NHẸ nhưng rất ĐAU, nhắc nhở chúng ta đừng vội… “chảnh” khi CHO ai bất kỳ thứ gì!

1. CHO LÀ VÂNG LỜI THIÊN CHÚA

Cựu ước có nhiều mệnh lệnh hơn đối với việc CHO về tài chính – cho ai, cho khi nào, cho bao nhiêu, cho cách nào, Tân ước ít mệnh lệnh này. Có thể các tác giả Tân ước chỉ cho rằng Thiên Chúa đã CHO chúng ta quá nhiều – thậm chí đã CHO chính Đức Kitô làm giá cứu độ muôn dân, nhưng việc CHO của chúng ta nên hợp lý và thoải mái. Chúa Giêsu đã khuyến cáo: “Anh em đã được CHO KHÔNG, thì cũng PHẢI CHO KHÔNG như vậy” (Mt 10:8). Một mệnh lệnh xem chừng quá “nhẹ” nhưng lại khó thực hành!

2. CHO LÀ PHỤC TÙNG THIÊN CHÚA

Vâng lời (vâng phục, tuân phục, thanh tuân) là một nhân đức. Vâng lời liên quan việc “từ bỏ mình”, tức là khi vâng lời thì người ta phải bỏ ý riêng, đề cao ý người khác, vì khi vâng lời là “chết” cho chính mình. Vâng lời cũng là một trong ba lời khấn chính của các tu sĩ. Mỗi động thái vâng lời đều có giá trị cao trong cuộc đời Kitô hữu: “Vâng lời trọng hơn của lễ” (1 Sm 15:22; Tv 50:8-9). Chúa Giêsu cũng hành động chỉ vì vâng lời: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26:39). Đó là vâng phục.

3. CHO LÀ THỂ HIỆN TÌNH YÊU THIÊN CHÚA

CHO là động thái tốt đẹp và hoàn hảo: “Mọi ơn lành và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do từ trên, đều tuôn xuống từ Cha là Đấng dựng nên muôn tinh tú; nơi Người không hề có sự thay đổi, cũng không hề có sự chuyển vần khi tối khi sáng” (Gc 1:17). Quả thật, xét cho cùng thì “tất cả đều là Hồng Ân” (Rm 4:16). Những gì không thuộc về mình, vậy tại sao cứ GIỮ khư khư làm “tư sản” mà lại không muốn CHO? Miệng nói YÊU Thiên Chúa mà lại không muốn CHO thì làm sao có thể gọi là tình yêu đúng nghĩa? Nếu chỉ nói suông thì chúng ta chỉ là “thùng rỗng kêu to” (x. 1 Cr 13). Người ta nói: “Tiền là tiên, là Phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng để che thân”. Vậy chúng ta nghĩ gì về Thiên Chúa khi chúng ta dùng tiền bạc?

4. CHO LÀ RAO TRUYỀN THIÊN CHÚA CỨU ĐỘ

Thiên Chúa là Đấng-tự-hiến, sẵn sàng trao ban tất cả: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16). Đó là lý do mà Tông đồ Phaolô muốn khuyến khích chúng ta nên CHO, dẫn chứng sống động bằng chính Đức Kitô: “Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8:9). Chúa Giêsu giàu đức tin, giàu yêu thương,… nên Ngài muốn chúng ta cũng phải như thế. Khi chúng ta hy sinh, chịu đau khổ, nhịn nhục,… vì lợi ích của người khác, đó là chúng ta biết CHO vì đức ái, là loan báo Tin Mừng và nên giống Đức Kitô.

5. CHO LÀ TIN TƯỞNG THIÊN CHÚA QUAN PHÒNG

Nỗi sợ là rào cản khiến chúng ta không muốn CHO. Tại sao? Sợ cho quá nhiều, sợ uổng phí, sợ mình bị thiếu hụt,… Khi biết CHO là biết hy sinh, chúng ta bày tỏ đức tin và niềm tín thác vào Thiên Chúa vì chắc chắn Ngài luôn quan phòng và lo liệu đủ cho chúng ta. Đây KHÔNG là ĐIÊN RỒ, mà là ĐỨC TIN. Nhiều Kitô hữu đã tìm được niềm vui trong công việc từ thiện, công việc tông đồ. Đó là cách bẻ tấm-bánh-cuộc-đời-mình và TRAO CHO tha nhân: “Cơm bánh của bạn, hãy đem thả trên mặt nước, về lâu về dài, bạn sẽ tìm lại được” (Gv 11:1). Thiên Chúa quan phòng sẽ lo liệu nếu chúng ta vâng lời Ngài và tin tưởng: “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi” (Tv 22:).

Có những điều nghịch lý được Kinh Thánh đề cập: “Có khi lâm nạn lại thành công, gặp may mà hoá thiệt thòi. Có lúc cho đi mà con không được lợi, có lúc cho đi lại được trả gấp đôi. Đôi khi vinh quang đem lại nhục nhã, kẻ thấp hèn lại được ngẩng đầu hiên ngang. Có kẻ sắm nhiều mà tốn ít, nhưng thực ra phải trả gấp bảy lần. Người khôn ngoan nói ít cũng gây được thiện cảm, lời hoa mỹ của kẻ ngu đần chỉ là thứ đổ đi. Ích gì cho con quà biếu của đứa khờ dại: nó biếu một mà trông được mười. Nó cho thì ít, trách mắng thì nhiều, miệng oang oang như thằng mõ, hôm nay cho mượn, ngày mai đã đòi” (Hc 20:9-15). Vậy mà không phải vậy. Trong đó đầy triết lý sống mà chúng ta phải miệt mài học cả đời!

Biết CHO là sống khôn ngoan, bởi vì “khôn ngoan chính là cây sự sống đối với người nào nắm được khôn ngoan” (Cn 3:18). Sự sống đề cập ở đây là sự sống đời đời, sự sống vĩnh hằng.

TRẦM THIÊN THU

MỜI SUY NGẨM

MỜI SUY NGẨM

Mỗi ngày chúng ta chỉ có 24 giờ để sống và mỗi ngày trôi qua, cuộc đời chúng ta ngắn đi 24 giờ đồng hồ. Cho dù có sợ chết, có tìm mọi cách để sống mãi, chúng ta cũng vẫn không qua khỏi quy luật tự nhiên của Tạo Hóa đó là “Sinh-Lão-Bệnh-Tử”. Vậy chúng ta phải làm gì với những thì giờ còn lại trên thế gian này ?
Khi sắp chết, Alexander Đại Đế cho triệu tập các quan trong triều đình đến để truyền đạt ba ý nguyện cuối cùng của mình :
1 – Quan tài của ngài phải được khiêng đi bởi chính các vị ngự y (bác sĩ) giỏi nhất của thời đó.
2 – Tất cả các báu vật của ngài (vàng, bạc, châu báu…) phải được rải dọc theo con đường dẫn đến ngôi mộ của ngài.
3 – Đôi bàn tay của ngài phải được để lắc lư, đong đưa trên không, thò ra khỏi quan tài để cho mọi người đều thấy.
Một vị cận thần rất ngạc nhiên về những yêu cầu kỳ lạ này, đã hỏi Alexander lý do tại sao ngài lại muốn như thế.

Alexander giải thích như sau:
1 – Ta muốn chính các vị ngự y (bác sĩ) giỏi nhất phải khiêng quan tài của ta để cho mọi người thấy rằng một khi phải đối mặt với cái chết, thì chính họ (là những người tài giỏi nhất) cũng không có tài nào để cứu chữa.
2 – Ta muốn châu báu của ta được vung vãi trên mặt đất để cho mọi người thấy rằng của cải, tài sản mà ta gom góp được ở trên thế gian này, sẽ mãi mãi ở lại trên thế gian này một khi ta nhắm mắt xuôi tay từ giã cõi đời.
3 – Ta muốn bàn tay của ta đong đưa trên không, để cho mọi người thấy rằng chúng ta đến với thế giới này với hai bàn tay trắng và khi rời khỏi thế giới này chúng ta cũng chỉ có hai bàn tay trắng.

Trang mạng tạp chí Forbes loan báo ông Albert Gubay, 82 tuổi, một tỷ phú chủ một hệ thống siêu thị tại Anh đã tặng 786 triệu Úc kim, tức hầu như toàn bộ tài sản của ông cho một tổ chức Công giáo để lo cho các chương trình liên quan đến Giáo hội Công giáo. Ông chỉ giữ lại khoảng 10 triệu bảng Anh để sử dụng trong tuổi già. Ông Gubay nói : “Tôi đã mượn 100 bảng Anh và giao kèo với Chúa như sau: Xin hãy làm cho con trở thành triệu phú và Chúa sẽ có phân nửa tài sản của con”. Ông không chỉ trao tặng phân nửa tài sản, mà còn cho đi hầu như toàn bộ tài sản của mình (London Cathnews 24/3/2010).
Như Alexander Đại Đế, như nhà tỷ phú Albert Gubay, hay như nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy… cõi vĩnh hằng là điểm hẹn của mỗi người, và của tất cả mọi người phải đến, phải có mặt ở đó. Lúc đó ta sẽ biết “Những gì sẽ đem theo vào cõi chết”. Ai không có mặt ở “điểm hẹn” ấy là coi như uổng công cả một cuộc đời. Điểm hẹn đó là nấm mồ, và sau nấm mồ vô tri ấy là gặp được Con Người quyền năng và đầy lòng thương xót, đó là Đức Giêsu Kitô.

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Xin Sống Lại Một Lần.

Xin Sống Lại Một Lần.

Nếu tôi được sống thêm lần nữa
Sẽ về ngồi lắng đọng giữa chiều quê
Bên sông nhỏ trôi qua làng tĩnh lặng
Soi bóng mình, nghe lúa hát ven đê.

Nếu tôi được sống thêm lần nữa
Với bạn hiền cùng dạo phố sau mưa,
Tìm một chỗ bên dòng đời vội vã
Ngắm chiều rơi.. đồng vọng tiếng chuông chùa..

Nếu có thể xin thuyền đời trôi ngược
Chở tôi về thắm lại buổi hoa niên.
Sống hiện tại thong dong không ràng buộc
Không ” thả mồi bắt bóng ” để truân chuyên.

Giá như được sống thêm lần nữa
Sẽ mỉm cười chấp nhận nỗi đau riêng
Lưng cúi xuống bên những đời bất hạnh
Mắt tình thương xin xóa dịu ưu phiền..

Nếu có thể, xin bắt đầu Sống lại
Thôi tháng ngày rồ dại.. chuốt ăn năn
– Dẫu biết kiếp nhân sinh là hữu hạn
Lòng tôi còn chan chứa tận nghìn năm!

Xin sự sống cho tôi lần cơ hội
Để tâm tình mở lối, biết khoan dung
Nhìn nhân thế khộng vội vàng kết tội

Hiểu và Thương mong trải đến vô cùng…

Thích Tánh Tuệ

(Viết thay cho tâm trạng của một người đang cận tử bởi cancer)

Những kinh nghiệm tôi học được từ người Do Thái

Những kinh nghiệm tôi học được từ người Do Thái

Nguoi-viet.com

Luật Sư Trần Thái Văn

LTS – Luật Sư Trần Thái Văn có bằng hành nghề ở California từ năm 1994, và hiện đang hành nghề luật tại Newport Beach, California. Từ năm 2004 đến năm 2010, ông là dân biểu tiểu bang California đại diện Địa Hạt 68 ở Orange County, và là người Mỹ gốc Việt đầu tiên tại Hoa Kỳ làm việc trong quốc hội một tiểu bang. Trước đó, ông là nghị viên và là phó thị trưởng thành phố Garden Grove, California.

Luật Sư Trần Thái Văn. (Hình: Trần Thái Văn Facebook)

Không ai có thể lớn lên mà không trải qua điều mà các nhà khoa học xã hội và nhà tâm lý học gọi là ngày “định mệnh.” Đó là một ngày, có thể do lịch sử hoặc cá nhân tạo ra, mà nó có ảnh hưởng rất sâu đậm đối với số phận, cá tính, và tương lai, của một con người. Đối với hầu hết người Việt Nam ở hải ngoại, nhất là những người còn nhớ những định mệnh trong cuộc đời, chắc chắn họ không bao giờ quên ngày 30 Tháng Tư, 1975, ngày mà Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam. Đây cũng là ngày chúng ta rời bỏ quê hương đi tìm tự do.

Ngày 25 Tháng Tư, 1975 là một ngày định mệnh đối với tôi, khi gia đình tôi vội vã rời Sài Gòn, trên chiếc phi cơ vận tải C-130 của Không Quân Mỹ, vào lúc sáng sớm, bay ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất. Lúc đó, tôi chỉ mới 10 tuổi, và đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy quê hương.

Tháng Tư tới đây sẽ là ngày tôi xa quê hương 40 năm. Tuy vậy, trong ký ức của mình, ngày định mệnh đó vẫn còn khắc sâu trong tiềm thức của tôi, như thể là nó mới xảy ra hồi tuần trước.

Thời gian trôi nhanh, vào Tháng Tư, 1988, đúng 13 năm sau ngày Sài Gòn thất thủ, tôi lại có một cơ hội chứng kiến sự vui mừng và hiểu ý nghĩa thật sự một nền độc lập quốc gia, của một dân tộc từng bị khuất phục và bị trục xuất ra khỏi quê hương của họ trong hơn 2,000 năm. Dân tộc này, được gọi một cách mỉa mai là “dân tộc được Chúa chọn,” ý nói đến người Do Thái, giống như cuộc di tản của người Việt Nam hải ngoại, có mặt hầu như ở khắp nơi trên thế giới trong nhiều thế kỷ. Ngày nay, có cả người Hoa gốc Do Thái, hoặc có người gốc Do Thái sinh trưởng tại Ethiopia.

Chính lúc gặp người Do Thái ở Israel mà tôi nghiệm ra được niềm tự hào của một dân tộc từng bị đàn áp, nhưng vẫn tranh đấu và có được độc lập, trong khi số phận lại không mỉm cười với dân tộc Việt Nam, vẫn còn sống trong chế độ độc tài và tham nhũng, và chế độ này vẫn tiếp tục đàn áp chính người dân của mình. Cả hai sự kiện lịch sử trái ngược này lại tái hiện trong cùng một tuần lễ tôi có mặt tại Israel.

Tháng Tư, 1988, tôi và tám nhà lãnh đạo cộng đồng gốc Châu Á khắp Hoa Kỳ được tổ chức World Zionist Organization (WZO) mời sang thăm Israel trong 10 ngày. Đây là một tổ chức quốc tế góp phần vào việc thành lập quốc gia Israel ngày nay. WZO gọi đây là một “chuyến đi nghiên cứu” (study tour). Phái đoàn chúng tôi có một cố vấn cao cấp của Thống Đốc California George Deukmejian, một chỉ huy cảnh sát ở Philadelphia, và một giám sát viên ở San Francisco County.

Trên thực tế, chính phủ Israel, qua các tổ chức bán chính phủ như WZO, thường mời nhiều phái đoàn chính trị đến Israel như là một cách hiệu quả vận động ý kiến của người dân Hoa Kỳ, gây ảnh hưởng các chính sách với các quốc gia Ả Rập, trong khi tạo nên mối quan hệ chặt chẽ hơn với các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ qua các chuyến đi như vậy.

Tôi không biết tại sao mình được WZO mời đi trong chuyến này. Lúc đó, tôi mới 23 tuổi, là một phụ tá đặc biệt cho Thượng Nghị Sĩ California Ed Royce, và cũng là thành viên trẻ nhất trong phái đoàn. Tuy nhiên, tôi chấp nhận lời mời. Trong phái đoàn còn có một người Việt Nam khác nữa mà trước đó tôi chưa bao giờ gặp, nhưng sau này nhanh chóng trở thành người bạn thân. Đó là nhạc sĩ và MC nổi tiếng Nam Lộc, lúc đó là giám đốc chương trình phục vụ người tị nạn của tổ chức thiện nguyện Catholic Charities, thuộc Tổng Giáo Phận Los Angeles. Chúng tôi là hai người Việt Nam duy nhất trong phái đoàn thăm viếng một quốc gia có một lịch sử đầy biến động, người dân trải qua nhiều hy sinh, nhưng hồi sinh nhanh chóng và tạo được cho đất nước một chỗ đứng xứng đáng trong cộng đồng thế giới. Đối với tôi, chuyến thăm Israel giúp tôi khám phá nhiều sự ngạc nhiên vô cùng ý nghĩa, cùng với nhiều phát hiện rất sâu sắc.

Luật Sư Trần Thái Văn (thứ ba từ phải) ngồi trong nhà hàng
Đại La Thiên ở Jerusalem, Israel. (Hình: Trần Thái Văn cung cấp)

Chúng tôi bay máy bay của hãng El Al, một hàng không quốc gia Israel, và nhóm chúng tôi đáp xuống phi trường Ben Gurion nằm ở ngoại ô Tel Aviv vào ngày 26 Tháng Tư. Lúc đó, người Do Thái đang chuẩn bị kỷ niệm quốc khánh lần thứ 40, từ năm 1948 đến năm 1988. Đó là một chuỗi sinh hoạt kỷ niệm kéo dài cả năm trời, không chỉ cho sự tồn vong trong 40 năm, mà còn là một sự thừa nhận những thành tựu của người Do Thái khắp thế giới.

Điều gây chú ý nhất và đầu tiên của tôi đối với đất nước này, một nơi có thời tiết nóng và khô giống như San Bernardino County, là những quốc kỳ có ngôi sao của David – biểu tượng của quốc gia – bay phất phới dọc đường từ phi trường về đến trung tâm Jerusalem, dài khoảng 35 dặm. Ngôi sao của David, màu xanh dương, là điều gây ấn tượng sâu đậm của Israel đối với tôi. Tôi có cảm tưởng rằng, người Do Thái cũng vô cùng tự hào với lá cờ của họ. Và họ có quyền treo, bất cứ ở đâu.

Trong thời gian ở Jerusalem, thủ đô của Israel, chúng tôi được đi thăm nhiều tòa nhà chính phủ, với các viên chức chính quyền và quốc hội, gọi là “Knesset.” Chúng tôi cũng thăm một số bệnh viện, viện bảo tàng, và trường học. Qua tiếp xúc với nhiều tầng lớp trong xã hội Do Thái, từ chính trị gia cho tới giới giáo dục, phái đoàn biết được thêm nhiều về lịch sử của Israel, cuộc đấu tranh của họ, và cuộc xung đột đang xảy ra với các quốc gia láng giềng Ả Rập, đe dọa xóa sổ quốc gia nhỏ bé này.

Có một điều lý thú là anh Nam Lộc và tôi khám phá có hàng trăm người tị nạn Việt Nam đang sinh sống ở Israel. Chúng tôi được biết, sau năm 1975, trong số người Việt Nam ra đi tìm tự do khắp thế giới, có một số đến định cư tại Israel. Lúc đó, Thủ Tướng Menachem Begin đồng ý nhận gần 300 người Việt từ các trại tị nạn ở Đông Nam Á. Dù bị nhiều người Do Thái phản đối, Thủ Tướng Begin nhắc nhở họ rằng Israel có bổn phận đạo đức giúp những người tị nạn Việt Nam này. Ông nói rằng, trước đó không lâu, chính người Do Thái sống không tổ quốc ở Châu Âu và Bắc Phi vì họ cần lánh nạn, để không bị Đức Quốc Xã giết hại. Quyết định của Israel nhận người Việt Nam là một hành động nhân đạo cao đẹp mà chỉ có dân tộc từng bị đàn áp mới thấu hiểu nổi số phận của một dân tộc khác đang bị đàn áp.

Trong một buổi ăn tối ở Jerusalem, chúng tôi được mời ăn tại một nhà hàng Trung Hoa địa phương, nhưng người chủ và điều hành nhà hàng lại là một người Việt tị nạn, tên Lê Quang Phong, cựu phi công QLVNCH, từng lái trực thăng trong cuộc chiến Việt Nam. Không ai trong chúng tôi biết nhà hàng này, hoặc chủ nhân của nó, trước khi đến ăn. Quả là một sự tình cờ là nhà hàng này do một người Việt điều hành. Anh Phong rất vui mừng khi gặp anh Nam Lộc và tôi, những đồng hương từ Hoa Kỳ xa xôi đến thăm Jerusalem và ăn tối ở nhà hàng của anh, tên là Đại La Thiên. Ngay lập tức, cả ba chúng tôi chia sẻ sự gắn bó đặc biệt biệt này, từ một nơi rất xa quê hương Việt Nam. Tuy nhiên, vì là đồng hương với nhau, chúng tôi có những điểm giống nhau về chính trị, văn hóa, di sản, và ngôn ngữ.

Vào lúc đó, tự nhiên tôi cảm thấy buồn kỳ lạ, ba chúng tôi, cũng như hàng triệu người Việt Nam khác, sống rải rác tại khắp các quốc gia, cách Việt Nam cả ngàn dặm, và lúc đó, chúng tôi đang ở Israel, sắp sửa chứng kiến hai sự kiện quan trọng – quốc khánh lần thứ 40 của Israel và ngày miền Nam Việt Nam thất thủ – trong cùng một tuần lễ. Tôi thắc mắc, tại sao lịch sử lại tàn nhẫn đến thế. Niềm vui của một quốc gia này lại xảy ra cùng lúc với nỗi đau của một quốc dân khác.

Tôi còn nhớ rất rõ một chuyện xảy ra trong lúc ăn tối ở Đại La Thiên, làm nhiều người trong phái đoàn rơi lệ, nhất là ba người Việt Nam chúng tôi – anh Phong, anh Nam Lộc, và tôi. Đó là lúc anh Phong bước ra khỏi nhà bếp để gặp một thực khách. Thế là anh Nam Lộc và tôi đề nghị chúng tôi cùng hát một bài hát bằng tiếng Việt tặng cho các bạn gốc Châu Á trong phái đoàn và các bạn người Do Thái. Tôi báo cho mọi người biết chúng tôi sẽ hát một bài hát để tưởng niệm ngày miền Nam Việt Nam thất thủ, đúng vào ngày hôm sau. Cả ba chúng tôi bước đến giữa bàn và bắt đầu hát, kiểu “A cappella,” bài hát duy nhất mà tôi còn nhớ lời. Đó là bài

“Việt Nam, Việt Nam.”
Việt Nam, Việt Nam, nghe từ vào đời,
Việt Nam hai câu nói bên vành nôi,
Việt Nam nước tôi…”

Chắc chắn đây không phải là chỗ hát bài này, nhưng đối với tôi, sự kiện này vô cùng ý nghĩa. Sau khi chấm dứt, tôi ngồi xuống, cảm thấy nghịch lý và vô cùng xúc động. Tôi đang ngồi trong một nhà hàng Trung Hoa ở Jerusalem, do một người Việt Nam tị nạn làm chủ, mừng ngày độc lập lần thứ 40 của Israel, trong lúc nhớ lại ngày kỷ niệm số phận của quê hương tôi, qua cái ngày số phận nghiệt ngã đã đến với hàng triệu đồng bào của tôi. Tôi nhận ra rằng, cho dù tôi ở đâu, hoặc đang làm gì, trong thâm tâm, tôi vẫn là người Việt Nam.

Tất cả những cảm nhận trái ngược của tôi khi ở Irael cũng cho tôi một hy vọng cho đồng bào tôi. Tôi suy luận, nếu người Do Thái phải mất đến 2,000 năm lưu vong trước khi trở về cố quốc, vậy thì, cộng đồng người Việt hải ngoại có thể đạt được điều này, hy vọng với thời gian ngắn hơn, để giúp Việt Nam thật sự có tự do, độc lập, và dân chủ. Tôi rất ngưỡng mộ người Do Thái, nhưng tôi cũng rất tin tưởng vào những người Việt Nam rất kiên nhẫn và tháo vát.

Đêm không ngủ tại bờ biển Tel Aviv, Israel. Người ôm đàn là nhạc sĩ Nam Lộc. (Hình: Trần Thái Văn cung cấp)

Anh Phong rất vui khi gặp anh Nam Lộc và tôi, và anh muốn dành thời gian nhiều hơn cho chúng tôi. Anh đề nghị mời những người Việt Nam sống ở vùng Jerusalem-Tel Aviv, rồi tổ chức một “đêm không ngủ” vào đêm tối 29 Tháng Tư. Anh Nam Lộc và tôi đồng ý ngay vì chúng tôi cũng muốn biết về đời sống của người Do Thái gốc Việt.

Khoảng 20 người Việt địa phương vui vẻ gặp chúng tôi tại một điểm hẹn trên bờ biển Tel Aviv, có đàn guitar, lửa trại, dầu, và nhiều thức ăn như thịt bò, cá, cua, và bánh mì, để nướng dã chiến. Thực ra, dù chúng tôi tưởng niệm ngày mất nước, nhưng ai cũng được no bụng!

Đối với tôi, một thanh niên Việt Nam mới 23 tuổi, ngồi trên bãi cát trắng ở bãi biển Tel Aviv, nhìn ra biển Địa Trung Hải, cùng đồng hương nói lên lòng khao khát cho quê hương, một quốc gia bị mất và bị lỡ cơ hội, qua những âm thanh buồn của đàn guitar, là một kỷ niệm không bao giờ quên được. Chúng tôi ngồi ở bãi biển suốt đêm, cho tới trước khi bình minh, chia sẻ những câu chuyện và kinh nghiệm cá nhân, tái xác quyết nguồn gốc Việt Nam của chúng tôi. Chúng tôi tâm sự. Chúng tôi hát. Chúng tôi cười. Chúng tôi khóc. Anh Nam Lộc hát một trong những bài hát nổi tiếng nhất do anh sáng tác, bài “Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt,” với lời hát vô cùng thấm thía về người Việt lưu vong sau khi cuộc chiến kết thúc. Giống như người Do Thái ở Israel, chúng tôi muốn nghiêm túc chia sẻ những ước vọng này, cho một đất nước và thế hệ mai sau tươi sáng hơn.

Trong suốt thời gian ở Israel, tôi kết bạn với một hướng dẫn viên người Do Thái trong đoàn, tên là Ben Edelstein, sinh ra và học ở bên Anh. Tôi không thể bao giờ quên được người đàn ông này, một người Anh lịch thiệp, có kiến thức rộng về Israel, cả về lịch sử và chính trị từ cổ xưa cho đến hiện đại của Israel. Ông nói tiếng Anh với một giọng Anh phong nhã và độ chừng hơn 60 tuổi. Ông nói với tôi rằng ông từng chiến đấu chống lại Đức Quốc Xã thời Đệ Nhị Thế Chiến. Ông cũng tình nguyện và được huấn luyện trở thành phi công Hoàng Gia Anh, lúc ở khoảng tuổi tôi. Chuyến bay đầu tiên của ông là đối đầu với không quân Đức Quốc Xã.

Thời gian phục vụ trong quân đội của ông Ben Edelstein trong Đệ Nhị Thế Chiến rất đáng chú ý, nhưng lại không lý thú và vô cùng ý nghĩa bằng việc ông định cư tại Israel khi tôi khai thác ông qua đề tài này. Ông nói với tôi rằng, là một công dân Anh, ông và gia đình thực ra không liên quan gì, thậm chí không cần phải đến sống ở Israel, từng thuộc về Palestine trước năm 1948. Tuy nhiên, vì là người gốc Do Thái, ông cảm thấy có trách nhiệm phải tham gia bảo vệ độc lập quốc gia, giúp thành lập một nhà nước Israel cho những người cùng dòng máu Do Thái khắp thế giới.

Trong cuộc chiến giành độc lập từ năm 1946 đến năm 1948, ông tình nguyện gia nhập tổ chức Haganah, tiền thân của Lực Lượng Phòng Vệ Israel (IDF), chiến đấu trong việc thiết lập quốc gia Israel ngày nay. Với kinh nghiệm thời Đệ Nhị Thế Chiến, ông đã đáp lời kêu gọi của chính phủ Israel để huấn luyện các phi công mới ra trường, vì đây là một lực lượng rất quan trọng trong việc bảo vệ Israel.

Điều làm tôi đáng nhớ nhất về ông Ben Edelstein không chỉ là tài năng và kinh nghiệm quân sự của ông, mà ông có một bề dày đáng kể. Chắc chắn, chính ông là người giúp xây dựng lực lượng IDF hiện đại. Bài học đáng nhớ nhất mà tôi học được từ người đàn ông người Anh này là ông rất tự hào và cảm thấy vinh dự về nguồn gốc Do Thái của mình. Ông không ngại hy sinh cho chính nghĩa của người dân, cho ngay cả một quốc dân trước đây không có gì cả. Ông chiến đấu cho những gì ông tin là dân tộc của ông muốn và xứng đáng được hưởng. Ông nói với tôi rằng, trong thời gian chiến đấu cho độc lập của Israel, có nhiều thanh niên và thiếu nữ trẻ gốc Do Thái, những người giống như ông, từ khắp nơi ở Châu Âu và Châu Mỹ trở về Palestine, để cống hiến cho công cuộc hồi phục quê hương Do Thái, ngay cả họ chưa bao giờ đặt chân lên mảnh đất được biết tới là Israel.

Câu chuyện cá nhân của ông Ben Edelstein giúp tôi ghi nhận được những gì đang xảy ra cho công cuộc tranh đấu cho tự do và dân chủ của người Việt, đang được tiếp diễn tại hải ngoại và quốc nội. Xét về một mặt nào đó, người Việt may mắn hơn người Do Thái vì đã có một quốc gia rồi. Chúng ta không cần tạo ra một quốc gia khác. Chúng ta chỉ không có một chính quyền hợp pháp đại diện cho các khát vọng của dân tộc Việt Nam. Trước năm 1948, người Do Thái không có gì cả. Thế nhưng, bây giờ họ có cả hai, dù trải qua các cuộc tàn sát và diệt chủng của Đức Quốc Xã và tại các quốc gia họ sinh sống trong 2,000 năm lưu đày.

Israel là miền đất hứa của người Do Thái, và người Do Thái khắp thế giới, cho dù đang sống cách xa Jerusalem bao nhiêu, họ luôn có ý định giữ lời nguyền xây dựng một quốc gia cho chính họ. Ông Ben Edelstein có chia sẻ truyền thống Do Thái này với tôi, đặc biệt là thời kỳ trước khi nhà nước Israel ngày nay được thành lập, bằng một điệp khúc có hàng thế kỷ, mà người Do Thái mỗi khi gặp nhau thường trao đổi, đó là, “Hẹn gặp ở Jerusalem năm tới!” Đây là một lời cam quyết rất quen thuộc, nó có ý nghĩa tinh thần nhiều hơn là chuyện có mặt ở Jerusalem, một miền đất mà người Do Thái coi rất linh thiêng, giống như một lời cầu khẩn mong tất cả người Do Thái sống trong hòa bình, công bằng, và công lý. Đây là một cam quyết về danh tánh của người Do Thái và những gì họ mong muốn. Đó là lý do tại sao họ nói với nhau một cách hùng hồn: “Hẹn gặp ở Jerusalem năm tới!”

Để tưởng niệm 40 năm ngày miền Nam Việt Nam thất thủ, chúng ta nên tận dụng cơ hội này, như là một thời điểm để tái xác quyết sự đòi hòi cho tự do và dân chủ tại Việt Nam. Đối với người Việt Nam, 40 năm có thể là một thời gian chờ đợi quá lâu, nhưng lại không thấm vào đâu so với 2,000 năm chờ đợi của người Do Thái trước khi họ đến được miền đất hứa. Bổn phận và trách nhiệm tiếp tục cuộc tranh đấu cho tự do và dân chủ tại Việt Nam phải được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, trong lúc thế hệ cha anh chúng ta đang từ từ qua đi.

Thực ra, chúng ta cần có hàng ngàn người Việt Nam có tinh thần vững chắc như ông Ben Edelstein. Chúng ta đang có nhiều người Việt như ông Ben Edelstein, cả ở trong lẫn ngoài nước, và họ cần sự giúp đỡ của chúng ta. Mỗi người chúng ta, những người Việt hải ngoại, có trách nhiệm không được quên tại sao chúng ta có mặt ở đây, và cần làm gì cho những đồng bào còn đang sống mỏi mòn dưới ách Cộng Sản. Trách nhiệm này còn bao gồm dạy dỗ con cháu chúng ta không bao giờ được quên mình là ai, bài học lịch sử đau khổ của các bậc cha anh, và trách nhiệm của mình trong việc tạo ra một sự an bình, công bằng, và công lý, trên quê cha đất tổ.

Việt Nam không có con đường nào khác hơn là phải thay đổi để tốt hơn. Bánh xe lịch sử và sự phát triển của văn minh sẽ nghiền nát bất cứ ai cản trở con đường này. Vấn đề chỉ là thời gian, và phần lớn, nó tùy thuộc vào các nhà lãnh đạo Cộng Sản ở Việt Nam có đủ sự can đảm và thực sự muốn hủy bỏ cái lý thuyết dựa trên sự chuyên chế, dối trá, và tàn bạo. Thời gian không đứng về phía họ. Là những người yêu chuộng tự do, chúng ta hãy chia sẻ với tất cả người Việt Nam sự khao khát này, bằng câu nói, “Hẹn gặp nhau ở Sài Gòn năm tới!” Tôi chắc chắn ông bạn Ben Edelstein của tôi sẽ hoàn toàn đồng ý.

Một thời gian bị đánh mất trong lịch sử

Một thời gian bị đánh mất trong lịch sử

Lê Diễn Đức

Trong sự tồn tại của một dân tộc, có những giai đoạn lịch sử vinh quang, nhưng cũng có giai đoạn tăm tối, không tương xứng với tầm vóc và sự phát triển của dân tộc. Giai đoạn tăm tối ấy có thể xem là thời gian bị đánh mất.

Nước Cộng hoà Ba Lan có một truyền thống dân chủ lâu đời. Bản Hiến pháp được thông qua vào ngày 3 tháng 5 năm 1791, là bản Hiến pháp hiện đại đầu tiên ở châu Âu và thứ hai trên thế giới (sau Hiến pháp năm 1787 của Mỹ).

Quốc hội Ba Lan thông qua Hiến pháp ngày 3 tháng 5 năm 1791 – Ảnh tư liệu

Ba Lan giành lại độc lập năm 1918, sau Thế chiến thứ nhất, với tư cách nền Cộng hoà Ba Lan II.

Ngày 1 tháng 9 năm 1939 phát xít Đức tấn công Ba lan, mở màn cho Chiến tranh Thế giới II. Chính phủ Ba Lan buộc phải rời khỏi Ba Lan và thành lập Chính phủ lưu vong có trụ sở ở London trong những năm 1939-1990, là sự tiếp nối hợp pháp của nền Cộng hoà II.

Chiến tranh Thế giới II kết thúc, thoát khỏi ách đô hộ của phát xít Đức thì Ba Lan lại bị gạt qua sự áp bức khác không kém phần khắc nghiệt: đất nước bị áp đặt sự cai trị của một nhà nước Cộng sản độc tài toàn trị, được gọi là “Cộng hoà Nhân dân Ba Lan”, từ năm 1945 đến 1989.

Chế độ cộng sản sụp đổ vào năm 1989. Sau cuộc bầu cử tổng thống tự do với thắng lợi thuộc về Lech Walesa, nhà chức trách của Cộng hòa Ba Lan lưu vong kết thúc nhiệm vụ và Tổng thống lưu vong R. Kaczorowski đã chuyển giao quốc hiệu cho Tổng thống dân cử Lech Walesa.

Tổng thống Cộng hoà Ba Lan lưu vong R. Kaczorowski trao quốc hiệu cho Tổng thống Lech Walesa – Ảnh: PAP

Nhà nước Ba Lan dân chủ ra đời và về mặt chinh thức, được gọi là nền Cộng hoà Ba lan III.

Như vậy thời gian từ 1945 đến 1989, nhà nước “Cộng hoà Nhân dân Ba Lan” đã không được ghi vào sự kế tục của Nhà nước Cộng hoà. Một thời gian 44 năm bị đánh mất trong lịch sử của dân tộc Ba Lan!

Nước Việt Nam kém may mắn hơn!

Ngày 17 tháng 4 năm 1945 Chính phủ của “Đế quốc Việt Nam” đứng đầu là Trần Trọng Kim được thành lập và được vua Bảo Đại phê chuẩn. Đây là nội các đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và thống nhất trên danh nghĩa và ra mắt quốc dân ngày 19 tháng 4.

Mặc dù đây là thể chế do Nhật dựng lên, không có thực quyền, nhưng có thể là một cơ hội cho Việt Nam chuẩn bị đầy đủ khả năng nhận lãnh hay đòi hỏi độc lập hoàn toàn khi thế chiến thứ II kết thúc, giống như nhiều nước châu Á khác.

Tuy nhiên, Đế Quốc Việt Nam chỉ tồn tại trong 5 tháng, từ tháng 3 năm 1945 đến tháng 8 năm 1945 cho tới khi bị Đảng Cộng sản Việt Nam bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 xoá bỏ.

Cuộc kháng chiến chống Pháp đưa đến việc ký kết hiệp định Geneve và từ năm 1954 Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền cai trị trên miền Bắc, còn ở miền Nam một chính thể Cộng hoà ra đời. Mặc dù đây là một chính quyền thân Mỹ nhưng nó đảm bảo những yếu tố cơ bản của một nhà nước Cộng hoà.

Ở một khía cạnh nào đó có thể xem nền Cộng hoà ở miền Nam là sự kế tục nền Cộng hoà “Đế quốc Việt Nam” của Thủ tứơng Trần Trọng Kim.

Quốc kỳ cho Việt Nam Cộng hoà được sử dụng khá tương đồng với quốc kỳ của Đế quốc Việt Nam, nền vàng ba sọc đỏ.

Quốc kỳ của “Đế quốc Việt Nam” năm 1945 – Ảnh: Wikipedia

Theo Hiệp định Paris năm 1973, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam và cắt viện trợ quân sự khiến Việt Nam Cộng hoà phải đương đầu với cuộc đánh chiếm miền Nam bằng bạo lực của Bắc Việt và cả khối cộng sản.

Tháng 4 năm 1975, Bắc Việt chiến thắng. Đảng Cộng sản Việt Nam thống trị trên cả nước. Nền Cộng hoà non trẻ của Việt Nam tại miền Nam chấm dứt.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện tập thể hoá nông nghiệp, di dân đi kinh tế mới, cải tạo công thương, ngăn sống cấm chợ, áp dụng chế độ phân phối lương thực trên cả nước, bắt giam giữ cải tạo hàng trăm ngàn quân cán chính của Việt Nam Cộng hoà và phân biệt đối xử tàn bạo với gia đình và con em họ… Chủ trương và chính sách khắc nghiệt này đã khiến cả triệu người phải dứt bỏ quê hương, đối diện với cái chết, ra đi tìm tự do ở xứ sở khác.

Khó chính xác để nói có bao nhiêu người đã bỏ mình trên biển. Có nguồn dẫn con số 200 ngàn nhưng một số nguồn khác ước tính 500 ngàn – 600 ngàn người chết ngoài biển. Năm 1981 hội Chữ thập đỏ quốc tế ước đoán phân nửa số người vượt biển chết dưới tay hải tặc.

Một cộng đồng người Việt hải ngoại được tạo nên, ngày mỗi lớn mạnh và có ảnh hưởng tại các nước bản xứ. Sự căm thù và bất hợp tác với nhà nước cộng sản của cộng đồng này xuất phát từ những mất mát nêu trên.

Nhà nước Cộng sản đã áp đặt một bộ máy công an trị trên cả nước, dùng bạo lực để đàn áp mọi tư tưởng phản kháng, tước đoạt các quyền cơ bản của con người mà trước hết là quyền bầu cử tự do, tự do ngôn luận, tự do lập hội…

Có thể nói không cường điệu rằng, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã biến cả nước thành một nhà tù khổng lồ, nơi mà an ninh theo dõi kiểm soát, chi phối từng hoạt động của mỗi người. Chỉ sự ngoan ngoãn, tuân phục mới có thể mang lại yên lành. Một chế độ bất nhân và vong bản, chỉ đáp ứng ít nhiều về vật chất nhưng hoàn toàn giam hãm tư tưởng của con người trong một của học thuyết ngoại lai, không tưởng: học thuyết Mác-Lenin.

Chẳng biết khi nào chế độ Cộng sản ở Việt Nam mới sụp đổ, nhưng là một chế độ đi ngược với xu thế của nhân loại tiến bộ, chắc chắn sẽ bị xoá sổ. Đã hình thành những tiếng nói phản kháng, đã có sự thức tỉnh của nhiều đảng viên trong guồng máy và sự chán nản của dân chúng đối với nhà nước cộng sản.

Nếu giống như Ba Lan, khi chế độ cộng sản được thay thế bằng một nhà nước Cộng hoà dân cử. Lúc ấy nhìn lại lịch sử chúng ta có thể kết luận rằng, thời gian cầm quyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam là thời gian bị đánh mất. Một thời gian bi thảm, chứa chất đầu thù hận, chia rẽ và đau thương của người Việt.

© Lê Diễn Đức

VN xử lại vụ công an đánh chết người

VN xử lại vụ công an đánh chết người

  • 7 tháng 4 2015

Bản án sơ thẩm hồi năm ngoái đối với các 5 sỹ quan công an đã khiến dư luận phẫn nộ vì bị cho là quá nhẹ

Tòa án tỉnh Phú Yên bắt đầu xét xử sơ thẩm lần hai vụ năm công an dùng nhục hình gây chết người.

Trong khi đó, luật sư bảo vệ cho bên bị hại nói ông hy vọng phiên tòa lần này sẽ đưa ra bản án ‘nghiêm minh hơn’.

Năm bị cáo trình diện trước tòa sáng 7/4, trong đó có bốn cựu công an TP Tuy Hòa và một cựu lãnh đạo trinh sát tỉnh Phú Yên, bị truy tố về tội ‘Dùng nhục hình’, theo các báo trong nước,

Ông Lê Đức Hoàn, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra công an TP Tuy Hòa, người từng xuất hiện trong những lần xét xử trước với tư cách nhân chứng, cũng bị truy tố về tội ‘Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng’ trong phiên tòa lần này.

Báo Thanh Niên dẫn cáo trạng được đọc tại tòa cho biết ngày 13/5 năm 2012, năm bị cáo Nguyễn Thân Thảo Thành, Phạm Ngọc Mẫn, Nguyễn Tấn Quang, Đỗ Như Huy, Nguyễn Minh Quyền đã bắt giữ ông Ngô Thanh Kiều vì nghi ngờ trộm cắp.

“Do bức xúc trước thái độ khai báo của Kiều, các bị cáo đã có hành vi khóa tay, dùng gậy cao su đánh, không cho Kiều ăn dẫn đến hậu quả Ngô Thanh Kiều tử vong”, cáo trạng cho biết.

“Hành vi của các bị cáo trên đủ yếu tố cấu thành tội ‘Dùng nhục hình’, Điều 298 Bộ luật hình sự.”

Phiên tòa sơ thẩm hồi năm ngoái đã gây phẫn nộ cho dư luận trong nước sau khi đưa ra mức án chỉ từ 1 năm án treo đến 5 năm tù cho các bị cáo.

Kết quả phiên xét xử này đã bị tòa phúc thẩm hủy bỏ sau đó.

‘Nghiêm minh hơn’

Trả lời BBC ngày 7/3, Luật sư Võ An Đôn, người bảo vệ cho bên bị hại, nói ông hy vọng rằng phiên tòa lần này sẽ “nghiêm minh hơn lần trước”.

“Các phiên tòa trước đó đã bỏ sót nhiều tội danh và các bản án được đưa ra cũng không thỏa đáng”, ông nói.

” Sự ủng hộ từ công chúng đã giúp tôi mạnh mẽ và quyết tâm nhiều hơn để đấu tranh cho công lý

Luật sư Võ An Đôn, người bảo vệ cho bên bị hại”

“Thi thể nạn nhân có tổng cộng 72 vết thương, 12 vết trên đầu, nội tạng bị đánh dập hết.”

“Trong khi đó, các bị cáo chỉ nhận đánh mỗi người có 2 đến 3 cái, còn vết thương trên đầu thì không ai nhận”.

“Cần phải có người bị quy trách nhiệm cho những vết thương này”.

Đến dự phiên tòa sáng 7/4 có vợ, con, các chị và cha mẹ của nạn nhân, ông Đôn cho biết.

Cũng theo ông, các bị cáo xuất hiện tại phiên tòa lần này với khuôn mặt ‘nghiêm trang, sợ sệt hơn trước”.

Phiên tòa sơ thẩm lần này dự kiến sẽ kéo dài từ 3 đến 5 ngày, ông nói thêm.

‘Quyết tâm hơn nhờ dư luận’

Hồi tháng 12 năm ngoái, truyền thông trong nước dẫn thông tin từ Sở Tư pháp và Đoàn Luật sư Phú Yên cho biết công an, Viện Kiểm sát và Tòa án Nhân dân TP Tuy Hòa đã gửi kiến nghị “xử lý vi phạm” của Luật sư Đôn trong quá trình tranh tụng bảo vệ bên bị hại trong vụ án.

Văn bản cáo buộc ông Đôn “có lời lẽ thiếu văn hóa, xúc phạm đến người tham gia tố tụng vụ án và nhiều đồng chí đương nhiệm” và “tạo thành điểm nóng không tốt trong dư luận xã hội”.

Luật sư Đôn xác nhận với BBC đã bị gây áp lực sau phiên phúc thẩm hồi năm ngoái.

Tuy nhiên ông cũng cho biết sự ủng hộ từ dư luận đã khiến ông “quyết tâm” hơn.

“Sau phiên phúc thẩm lần trước, phía công an và viện kiểm sát tỉnh đã muốn tịch thu chứng chỉ hành nghề của tôi,” ông nói.

“Nhưng sau khi bị dư luận gây sức ép, họ đã không dám làm gì nữa.”

“Sự ủng hộ từ công chúng đã giúp tôi mạnh mẽ và quyết tâm nhiều hơn để đấu tranh cho công lý.”

NIỀM VUI PHỤC SINH

NIỀM VUI PHỤC SINH

Những ngày u ám đã qua.  Những đòn roi, tiếng hò hét đòi đóng đinh, những tranh luận gay gắt, tiếng chửi rủa, sỉ vả, tiếng búa chan chát, những giọt máu, vòng gai… chỉ qua một đêm là đã trở thành dĩ vãng.  Người thỏa mãn với quyền lực của mình thì vui tươi vì đã loại trừ được một cái gai trong mắt. Người sợ hãi thì giam mình trong những gian phòng tối.  Những cao trào hay ồn ào của sự kiện một người nổi tiếng bị đóng đinh cũng qua đi.  Mọi người lại trở về với cuộc sống bình thường như chưa hề có chuyện gì xảy đến.  Lịch sử của cuộc đời Giêsu tưởng là đã chấm hết với những khăn liệm và ngôi mộ lạnh lẽo thê lương.  Ai ngờ, chính từ nơi cõi chết ấy, Thiên Chúa đã biểu dương quyền năng của Người.  Từ lòng đất âm u, Người đã cho bừng dậy muôn nơi những phúc ân rạng rỡ.

Sáng sớm hôm ấy, có một số người phụ nữ yêu mến Giêsu lặn lội chạy ra mồ khi trời còn chưa tỏ.  Trên đường đi, các bà còn lo lắng không biết phải đẩy tảng đá lấp mồ như thế nào, để có thể vào trong xức dầu thơm cho xác Chúa.  Trong nhãn quan của các bà, rõ ràng là Giêsu đã chết.  Nhưng vừa ra đến mồ, các bà kinh hãi vì tảng đá đã được dịch sang chỗ khác.  Lại còn có các Thiên Sứ sáng chói ánh hào quang cho biết là Đức Giêsu đã sống lại rồi.  Các bà vội chạy về báo cho các môn đệ.  Hai ông Phêrô và Gioan cũng vội vã chạy ra và chứng thực những gì mà các bà kể lại.  Bà Maria Madalena chưa kịp hoàn hồn, cứ ngỡ ai đánh cắp xác của Thầy mang đi.  Bà đứng đó mà khóc.  Sau khi được tiếng gọi của Đức Giêsu lay động, bà vui mừng hớn hở, chạy về loan tin khắp nơi.  Một niềm vui khác hẳn chợt bừng lên trong bà và những ai chứng kiến, một niềm vui có âm vị chưa từng có trong đời.  Niềm vui ấy là niềm vui do cảm nghiệm được sự sống thần linh, niềm vui được cảm nếm trước hạnh phúc Thiên Đàng, nếm được một sự sống thật, sự sống của chính Thiên Chúa.

Các bạn trẻ thân mến,

Sự kiện Chúa chết và sống lại đã xảy ra cách đây khá lâu xét về mặt lịch sử.  Nhưng ơn phục sinh của Ngài vẫn luôn có đó và tuôn tràn khắp nơi, trong con tim và khối óc của mỗi người.  Có một hạt giống bị chôn vùi vào lòng đất, nay trổ sinh thành một chồi non mơn mởn, chứa đựng bên trong bao sức sống khác.  Mùa đông đã qua đi, mùa xuân đến kéo theo muôn chim vui ca hót tưng bừng, ngàn hoa đua nhau khoe sắc.  Xã hội có thể có những lúc khủng hoảng, nhưng rồi mọi chuyện cũng tốt lên.  Cuộc sống của chúng ta có thể có những khoảng thời gian u ám, tưởng như không sao vượt qua được, nhưng rồi một tia hy vọng chợt đến, giúp ta lấy lại thế quân bình, và tiếp tục sống những ngày tháng vui và hạnh phúc.  Thánh Thần chưa bao giờ thôi hoạt động.  Những sự sống mới lúc nào cũng nảy sinh.  Nơi góc đá khô cằn bên sườn núi, ta vẫn thấy có những cành hoa dại cố gắng vươn ra.  Nơi những triền dốc chơ vơ giữa trời, thấp thoáng vẫn có nhành cây nhỏ uốn mình theo gió.  Nơi sa mạc khô cháy và hoang vu, vẫn có những ốc đảo xanh rì rợp bóng mát.  Những dấu hiệu tự nhiên như thế cũng tỏ lộ phần nào quyền năng mãnh liệt của Thiên Chúa vượt lên trên sự chết rợn người.

Sự phục sinh của Giêsu cho chúng ta thấy những gì mà trước kia Ngài nói với chúng ta không sai chút nào.  Rằng nếu con người chịu chết đi cho những lụy tục của mình, con người sẽ được sống.  Rằng muốn đi đến vinh quang, con người phải đi qua thập giá.  Rằng niềm tin và tình yêu sẽ chiến thắng tất cả.  Rằng quyền năng của Thiên Chúa là vô đối vô song.  Rằng chỉ cần ta một lòng tín thác vào Chúa và vâng nghe Lời Người thì Người sẽ cho ta thấy Người tuyệt diệu biết bao khi dẫn ta qua những màn đêm của chết chóc.  Dẫu có khi đứng trước những hy sinh, ta có phần sợ hãi, buồn phiền, thậm chí là chùn chân, nhưng nếu ta tiếp tục tín thác và hy vọng vào một tương lai tốt đẹp trong tay Chúa, ta sẽ được Người thưởng công bội hậu.

Để có thể trở thành một con bướm xinh, con sâu phải chịu đau đớn chui ra khỏi cái kén.  Để có thể trở thành một con chim sải cánh giữa trời bao la, những mệt mỏi khi cố gắng thoát ra khỏi cái vỏ là điều không thể tránh đối với nó.  Thành công nào cũng đòi phải có hy sinh.  Phục sinh nào cũng đòi phải bước qua thập giá.  Ước gì Chúa Phục Sinh ban thêm sức cho chúng ta, để chúng ta dám vượt thắng con người ù lì và nhát đảm của mình, dám hy sinh vì công lý, vì đạo nghĩa, vì Đức Kitô ngõ hầu chúng ta có thể được cùng Người sống lại trong vinh quang.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Dân sinh và Dân quyền

Dân sinh và Dân quyền

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-04-06

04062015-welfare-n-right-people.mp3

Mới khánh thành nhưng công trình tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng hơn 400 tỷ đồng gạch nền dưới chân tượng đài bị bong tróc, bể nát

Mới khánh thành nhưng công trình tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng hơn 400 tỷ đồng gạch nền dưới chân tượng đài bị bong tróc, bể nát

Hoituthienquangnam.com

Your browser does not support the audio element.

Những điều bệ rạc và nhà lãnh đạo

Một dự án vĩ đại dù có bị phản đối nhưng cuối cùng cũng hoàn thành, đó là tượng đài Bà mẹ Việt nam được khánh thành tại tỉnh Quảng nam trong tuần qua. Ngay sau lễ khánh thành, sân lát đá trước tượng đài đã bị hư hại. Nhưng đó không phải là điều quan trọng mà blogger Tưởng Năng Tiến nhìn thấy qua tượng đài đồ sộ nhất Đông Nam Á này. Cái ông thấy là những người phụ nữ Việt Nam ủng hộ và hy sinh cho những người cộng sản ngày xưa nay được đền bù bằng các tượng đài và không có gì khác.

Lúc đói, mỗi người sẵn lòng giúp cho Nhà Nước hàng ngàn cân gạo; khi no, Đảng và Chính Phủ cũng không ngần ngại giúp lại cho nhân dân hàng ngàn tượng đài, nặng hàng ngàn tấn, với kinh phí hàng ngàn tỉ bạc chi từ tiền thuế của họ.

Nhưng tượng đài Bà mẹ Việt nam không phải là cái nhất duy nhất mà Việt nam thực hiện chỉ trong vòng một năm qua, người ta còn phải kể đến nào là cái bánh chưng lớn nhất, tô hủ tíu lớn nhất,… và trong tương lai còn có tháp truyền hình cao nhất thế giới nữa. Những cái nhất ấy, cộng với những nhiễu nhương khác như tranh giành đánh nhau trong lễ hội, xếp hàng hàng giờ đồng hồ để được ăn miễn phí, sự thờ ơ của dân chúng … được Viết từ Sài gòn gọi là những điều bệ rạc, và đặt câu hỏi là ai đã biến người dân Việt nam trở nên một trạng thái không phải là con người như thế?

Tác giả tìm kiếm nguyên nhân ở thời bao cấp, và kết luận rằng không thể đổ lỗi cho người dân, mà chính giới lãnh đạo phải chịu trách nhiệm vì đã đưa đất nước tới chỗ hỗn độn như ngày nay.

” Những nhà lãnh đạo Việt nam họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời lãi thu về thì rất nhanh. Chỉ có nguy cơ bị cộng đồng quốc tế ruồng bỏ mới khiến họ phải suy xét lại đường lối hiện tại

ông Lý Quang Diệu “

Liên quan đến trách nhiệm đó của nhà cầm quyền, và cũng nhân lúc một nhà lãnh đạo lịch sử người châu Á là ông Lý Quang Diệu bên Singapore qua đời, nhà văn Phạm Thị Hoài đăng lại bức thư của ông Lý gửi bà Thủ tướng Anh Margaret Thatcher cách đây mấy mươi năm về thảm trạng thuyền nhân Việt nam lúc ấy. Trong bức thư này ông Lý viết rằng:

Những nhà lãnh đạo Việt nam họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời lãi thu về thì rất nhanh. Chỉ có nguy cơ bị cộng đồng quốc tế ruồng bỏ mới khiến họ phải suy xét lại đường lối hiện tại.

Nội dung này lập tức được hàng chục trang FB và blog đăng lại.

Nhưng ông Lý cũng là nhân vật được nhiều nhà nước được xem là độc tài lấy làm gương. Người ta cho rằng có thể duy trì duy nhất một đảng như đảng Nhân dân hành động của ông Lý để đạt được phồn vinh của một đất nước.

Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc viết rằng ông Lý là một nhà lãnh đạo giỏi vì đã tạo nên đất nước Singapore, nhưng lại là người thầy dở vì những học trò tự nguyện của ông là những nhà độc tài.

Và ở những đất nước độc tài đó người ta chưa thấy Singapore nào xuất hiện.

Nay, ngay tại chính đảo quốc sư tử người ta cũng tự hỏi là tương lai của đất nước này sẽ như thế nào! Nhân đám tang ông Lý, mọt cậu học trò Singapore chỉ trích ông và bị bắt giam! Nhà báo Huy Đức từ Việt nam trông sang và cảnh báo rằng người dân Singapore còn phải làm rất nhiều việc để sửa đổi nó nếu muốn thành phố 5 triệu dân này mang gương mặt của họ thay vì chỉ mang gương mặt của chỉ một gia đình, một “cha già”.

Dân sinh và dân quyền

Trở lại tiêu đề những điều bệ rạc mà chúng tôi mượn ý của blogger Viêt từ Sài gòn, thì ngẫm cho cùng nó cũng xảy ra trong thời gian khá dài, điều đáng nói trong tuần qua là những sự kiện liên quan đến môi trường và dân sinh.

Hàng nghìn công nhân Công ty Pouyen Việt Nam (TP HCM) đã xuống đường tuần hành phản đối quy định bảo hiểm mới trong 5 ngày qua. 31/3/2015

Hàng nghìn công nhân Công ty Pouyen Việt Nam (TP HCM) đã xuống đường tuần hành phản đối quy định bảo hiểm mới trong 5 ngày qua. 31/3/2015

Thoạt đầu là cuộc biểu tình chống chặt hạ cây xanh tại Hà nội, rồi đến việc ngăn lấp sông Đồng Nai bị tạm ngừng, và mới nhất là câu hỏi về dự án Bauxite Tây Nguyên lỗ hay lời, có hại môi trường hay không, lại trở lại làm sôi động báo chí.

Đã có một sự phản kháng xảy ra trong xã hội Việt nam đòi môi trường sống tốt hơn, hoặc với hình thức phản kháng trực tiếp là cuộc biểu tình vì cây xanh ở Hà nội, hay thông qua báo chí, dù vẫn còn bị nhà nước kiểm soát.

Và hơn 100 ngàn công nhân tại các khu công nghiệp ở Sài Gòn, Long An, Tiền Giang đình công chống luật bảo hiểm xã hội. Các blogger nói rằng cuộc đình công này của công nhân khác những cuộc đình công của họ chống giới chủ, lần này chống lại một chính sách của nhà nước.

” Qua hai sự kiện trên, (biểu tình chống chặt cây xanh và chống luật bảo hiểm xã hội) chúng ta có thể thấy rằng người dân đã cam chịu, đã nhẫn nhục quá lâu, nhưng cuối cùng thì họ cũng đã thức tỉnh. Đất dưới chân của những kẻ độc tài đã bắt đầu rung chuyển

Trang Bauxite Việt nam”

Blogger Cánh Cò viết rằng đã có một áp lực lớn hơn từ phía người dân để giành lại quyền của mình.

Nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự  thì nói rằng đó là sự chuyển mình từ cam chịu sang phản kháng

Trang Bauxite Việt nam viết:

Qua hai sự kiện trên, (biểu tình chống chặt cây xanh và chống luật bảo hiểm xã hội) chúng ta có thể thấy rằng người dân đã cam chịu, đã nhẫn nhục quá lâu, nhưng cuối cùng thì họ cũng đã thức tỉnh. Đất dưới chân của những kẻ độc tài đã bắt đầu rung chuyển. Sẽ không có gì là bất thường nếu một ngày đẹp trời nào đó, không phải 90.000 mà 100.000, 200.000… con dân đất Việt xuống đường đòi xóa bỏ điều 79, 88 và 258 của Bộ luật hình sự nước Cộng hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Người ta nhớ lại rằng chính trang Bauxite Việt nam là nơi khởi nguồn của cuộc đấu tranh chống dự án Bauxite Tây nguyên cách đây hơn 6 năm của các nhân sĩ trí thức Việt nam. Và người ta thấy trong những ngày đầu tháng tư này các nhà khoa học vẫn không mệt mỏi cất lên tiếng nói phản biện về sông Đồng Nai, về dự án tinh lọc quạng nhôm trên đất Tây nguyên, nơi được dự báo sẽ là Sông khô hồ cạn, nếu các chính sách phát triển kinh tế cứ tiếp tục được thực hiện một cách độc đoán xem thường nhận thức và kiến thức của xã hội.

Nhân những cuộc biểu tình đòi dân sinh trong tuần qua, một blogger đồng thời cũng là một nhà tranh đấu cho nhân quyền nổi tiếng là cô Phạm Thanh Nghiên ở Hải phòng được một bạn đọc cật vấn là tại sao cô không hoạt động như những người đòi cây xanh ở Hà nội hay đòi bảo hiểm ở Sài gòn, tức là những điều mà người dân quan tâm, mà lại mơ những chuyện lớn lao là nhân quyền quá to tác. Cô Phạm Thanh Nghiên trả lời:

Nhưng bên cạnh, có những điều người dân không quan tâm. Chính vì không quan tâm cho nên chúng ta phải sống mà không có quyền. Và vì không có đầy đủ quyền nên mới nảy sinh những vấn nạn về Dân Sinh. Cho nên mới có mặt trận Nhân Quyền. Đó là một mối quan hệ hệ quả mang tính tất yếu song nhiều người vẫn ngộ nhận là có thể tách bạch được.

Khôn ngoan, Bối rối, và E ngại!

Trong những diễn từ giải quyết vụ cây xanh ở Hà nội, bài phát biểu của ông Bí thư Thành ủy Hà nội Phạm Quang Nghị được blogger Người Buôn Gió đánh gia là khôn ngoan đầy bản lĩnh nhất.

Người Buôn Gió phân tích rằng ông Nghị đã làm cho người ta nghĩ rằng chuyện chặt cây xanh là chuyện nóng vội, do đó nó trở thành không quan trọng nữa.

Rồi cuối cùng ông Nghị cũng cho rằng cuộc biểu tình bảo vệ cây xanh cũng bị kích động và xúi giục từ bên ngoài.

Người Buôn Gió kết luận rằng:

Nói thật thì hiếm có vị lãnh đạo nào trong BCT đủ bản lĩnh đứng ra để lèo lái sự việc đổ vỡ thành không có gì như ông đã làm.

Nhưng không phải phản ứng nào của cơ quan tuyên truyền của đảng cộng sản lại được đánh giá là khôn ngoan như ông Nghị. Tờ Petro Times lại bị giới blogger nói là đã bối rối khi không biết đưa tin như thế nào về vụ biểu tình bảo vệ cây xanh. Và cũng không phải blogger nào cũng nói là ông Nghị khôn ngoan khi ông nói rằng ông không lường được người dân. Câu nói này lại làm cho nhiều người lo lắng cho cái ghế của ông Nghị và tương lai chính trị của ông vì rằng tại sao ông làm lãnh đạo mà lại không lường được dân? Sự lo lắng này càng tăng thêm khi người ta đặt câu hỏi là tại sao báo chí Việt nam lại được tự do đưa tin về biểu tình đến thế, một điều vốn là điều cấm kỵ trong thể chế cộng sản? Người ta nghi có một âm mưu gì đó nhằm tấn công vào ông Bí thư thành ủy.

” Nhưng bên cạnh, có những điều người dân không quan tâm. Chính vì không quan tâm cho nên chúng ta phải sống mà không có quyền. Và vì không có đầy đủ quyền nên mới nảy sinh những vấn nạn về Dân Sinh. Cho nên mới có mặt trận Nhân Quyền

Cô Phạm Thanh Nghiên”

Một tin vui được các blogger đấu tranh cho nhân quyền đón nhận trong tuần qua là việc Việt nam đang từng bước thực hiện Công ước chống tra tấn mà mình đã cam kết.

Blogger, nhạc sĩ Tuấn Khanh cho biết rằng có hy vọng là quyền lực của giới công an sẽ bị giảm với những điều luật về giam giữ sẽ ra đời trong thời gian tới.

Nhưng Tuấn Khanh đón nhận tin đó với sự cẩn trọng, ông viết rằng một lực cản đầy âm mưu vẫn hậu thuẫn cho bóng tối, vì rằng vẫn có sự e ngại từ một thể chế đặt mọi thứ trên nền tảng bạo lực.

Như để minh họa cho sự cẩn trọng đó của Tuấn Khanh, Luật sư Võ An Đôn viết về vụ án lạm dụng bạo lực của công an mà ông sắp thụ lý, rằng đó là một cuộc chiến không cân sức!

Mọi thứ không dừng lại ở đó

Viết về bản báo cáo của Tập đoàn than khoáng sản Việt nam được đưa ra để biện minh cho hiệu quả kinh tế của dự án Bauxite Tây Nguyên, nhà khoa học Tô Văn Trường mượn hai câu thơ của thi hào La Fontaine

Người hiền triết kẻ cuồng điên,

Mơ trong khi thức là tiên trên đời

Một biện minh dành cho một dự án lớn hơn, vĩ đại hơn, dự án cộng sản độc đảng tại Việt nam trong mấy mươi năm qua cũng đã và đang được đưa ra.

Nhân cái chết của ông Lý Quang Diệu, người ta nhắc lại câu hỏi của ông rằng Mục tiêu tối hậu của nền chính trị là gì? Ông trả lời rằng đó là cuộc sống của người dân có được cải thiện hay không! Trong một lần trao đổi với chúng tôi về mô hình độc đảng hay đa đảng, một cựu quan chức Việt nam cũng nói rằng hệ thống chính trị nào thì cũng phải nhắm đến việc giàu mạnh của dân chúng.

Theo Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, nếu như thế thì dường như nền chính trị Việt nam đã thất bại, vì dường như mục tiêu của nền chính trị này chỉ nhằm vào việc duy trì sự tồn tại vĩnh viễn của đảng cộng sản mà thôi.

Nhưng có blogger lại nói rằng việc tranh cãi nhau về dự án Bauxite trên báo chí chính thống, hay là việc báo chí công khai sự bối rối của giới lãnh đạo thủ đô Hà nội trong việc chặt cây xanh, hay tin về việc cả trăm ngàn công nhân đình công… . đã là một điều đáng hy vọng.

Còn Blogger nhạc sĩ Tuấn Khanh thì viết Hãy tin rằng mọi thứ không dừng lại ở đó.

Phục Sinh Thắp Sáng Niềm Mơ

Phục Sinh Thắp Sáng Niềm Mơ

Phục sinh tỉnh thức tâm hồn

Niềm tin hồi phục hoàng hôn cuối đời

Tạ ơn cao Đức Chúa Trời

Hy sinh con một cứu người lầm than

Bao ngàn năm chuông ngân vang

Dưới chân thập tự lệ tràn niềm vui

Tội xưa đã được chôn vùi

Tâm tư tẩy sạch ngậm ngùi thứ tha

Mỗi ngày thêm nét hài hòa

Truyền rao danh Chúa, thăng hoa cho người

Môi khô lại nở nụ cười

Rạng đông thánh lễ giữa trời tinh sương

Đem chiên lạc lối lầm đường

Về miền vinh hiển yêu thương thanh bình

Tạ ơn Chúa mỗi bình minh

Lòng thầm khấn nguyện vững tin nơi Ngài

Hôm qua, hôm nay, ngày mai

Thánh kinh cuốn quyện vóc hài Chúa ban .

Mùa Phục Sinh

4-4-2015

  • ĐT Minh Giang

Nhà khoa học nguyên tử Mỹ từng đạp xích lô ở Việt Nam

Nhà khoa học nguyên tử Mỹ từng đạp xích lô ở Việt Nam

Theo DanTri.VN

NẾU KHÔNG VƯỢT BIÊN THÌ GIỜ NÀY ANH TA LÀM CÁI GÌ???

Trở thành tiến sĩ gốc Việt đầu tiên làm việc trong phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos (Mỹ), tiến sĩ Võ Tá Đức luôn nhắc về quãng đời đạp xích lô khi ông còn ở Việt Nam, như điều thần kỳ của cuộc sống.

Công việc hiện tại của Tiến sĩ Võ Tá Đức là nghiên cứu sáng chế ra những máy móc, thiết bị dò tìm các nguyên tử đang được ứng dụng để ngăn ngừa các hình thức vận chuyển nguyên tử bất hợp pháp vào biên giới Mỹ.

Nhà khoa học nguyên tử Mỹ từng đạp xích lô ở Việt Nam

TS Võ Tá Đức hồi còn nhỏ tại Việt Nam.

Là con trưởng trong gia đình 11 anh chị em ở Phú Yên, năm lên 14 tuổi, cậu bé Võ Tá Đức đã trở thành lao động chính trong nhà vì gia cảnh khó khăn. Hằng ngày, sau giờ tan học, Đức ăn vội cơm trưa rồi cuốc chiếc xe xích lô rong ruổi khắp mọi đường phố ở Tuy Hòa để kiếm tiền phụ cha mẹ nuôi 14 miệng ăn trong gia đình.

Đến năm 1981, ba Đức cố xoay xở tìm cách cho cậu theo một người bà con tìm đường sang Mỹ và được một gia đình ở bang Iowa nhận làm con nuôi. Thành tích học tập của chàng trai nghèo từ VN bắt đầu tỏa sáng sau 1 năm rưỡi ở trường trung học Mỹ.

Cậu bé đạp xích lô ở Tuy Hòa ấy suốt thời gian đại học và cao học ở Mỹ không phải trả bất kỳ khoản tiền học phí nào, nhờ vào thành tích lao động trí óc cần cù.

Năm học lớp 12, Đức đoạt giải nhất một kỳ thi khoa học cấp tiểu bang, mang lại cho cậu học bổng toàn phần cho suốt 4 năm học ở khoa Vật lý Trường Đại học Bắc Iowa. Tốt nghiệp đại học, anh đi thẳng vào chương trình tiến sĩ chuyên ngành vật lý nguyên tử, và trong suốt thời gian cao học, anh liên tục nhận được các nguồn học bổng dành cho nghiên cứu sinh.

Nói về thành công của mình, Tiến sĩ Đức cho biết: “Một thông điệp tôi muốn nói với các bạn trẻ ở Việt Nam, nhất là các bạn nghèo, rằng nếu có ý chí sẽ vượt qua được những khó khăn”.

Theo Hạ Anh

Dân Việt

Biển Đông: Kissinger Muốn Dâng Cho TC

Biển Đông: Kissinger Muốn Dâng Cho TC

Vi Anh

Không phải đến hôm nay mà ngay trong và sau Hội nghị Paris 1972, nhiều người trong giới sĩ phu miền Bắc đã nhìn Kissinger với cái nhìn không mấy thiện cảm. Với tất cả sự láu cá trong đường đi nước bước nhằm rút nước Mỹ đang đang trong thế kẹt ra khỏi miền Nam Việt Nam một cách danh dự, ông Kít chắc là dương dương đắc ý coi mình là một đại công thần của Mỹ quốc lúc bấy giờ. Nhưng ông có biết đâu trong con mắt người Việt Nam có lương tri, ông là hình ảnh một “kỳ phùng” xứng tài xứng đức với cái kẻ ngồi đối thoại với ông trong suốt mấy năm trời ở chiếc bàn bầu dục tại nước Pháp mà dân chúng nửa nước phía Bắc mỗi khi trà dư tửu hậu vẫn thầm bảo nhau: “Tên gian hùng”. Nhưng một bên chỉ là thứ gian hùng ranh vặt, cho nên sau đó thì ngồi chầu 3 tỷ 2 đô la hứa hão để rồi vẫn cứ ôm lấy mô hình XHCN mà đưa con dân nước mình xuống hố. Còn một bên là gian hùng có hạng, làm cho nước Mỹ thoát khỏi bế tắc, tiếp tục giữ được vị trí siêu cường. Tất nhiên, đã là gian hùng thì thế nào cũng có cái giá cho mỗi hành động của mình. Kissinger những tưởng cô lập được LBXV khi thò bàn tay ra nâng đỡ Trung cộng, ông ta có ngờ đâu chính tính toán của mình đã giúp cho Trung Cộng một thời cơ quý hơn vàng để phất lên, sau hơn ba thập kỷ nghiễm nhiên trở thành một cường quốc, làm mưa làm gió ở phương Đông, một mặt ép hai dân tộc có nền văn minh lâu đời là Tây Tạng và Tân Cương vào con đường đồng hóa như tất cả những dân tộc hàng nghìn năm qua đã phải trở thành người Hán, mặt khác thò cái lưỡi ra quyết chiếm trọn Biển Đông, ngày càng đẩy các nước Đông Nam Á vào thế bị phụ thuộc.

Bỗng chốc nước Mỹ phải đối mặt với hai kẻ thù là Nga và Tàu cùng rất mạnh – lưỡng đầu thọ địch; cũng bỗng chốc cả một phương Đông đang yên bình bị đánh thức bởi tiếng rú của một con chó sói già vừa được Kissinger tiêm cho mấy liều thuộc tăng trưởng nên trở nên hùng hổ, vừa gào rú vừa chạy quanh khắp tứ phía lục địa Á Châu, phía nào cũng cố tè một bãi nước đái khai mùi Đại Hán để đánh dấu lãnh thổ vốn ấp ủ từ lâu trong bộ não chó đầy dục vọng của mình.

Thế đấy. Công lao của ngài Kissinger đối với nhân loại hay nói đúng hơn là cái phần nhân loại đang mỏi cổ ngóng trông một chút công lý nào đấy của thế giới văn minh sẽ cứu vớt được số phận của họ, rốt cuộc là thế đấy. Kít là kẻ làm chính trị chuyên nghiệp nên thủ đoạn có thừa, nhưng bên trong con người ông ta hẳn cũng có sẵn cái gene lừa thầy phản bạn, là một căn tính mà các dân tộc phương Đông xưa nay vốn không bao giờ coi trọng, vì con người phương Đông vẫn lấy “bản thiện” làm đầu. Thế mà ông ta vẫn không chịu ngậm miệng lại, vẫn hùng hồn tuyên bố Mỹ nên làm hòa với Trung Cộng để cùng nhau chia chác ở Biển Đông, thực dụng và cạn tàu ráo máng đến thế thì “treo giải nhất” chứ còn ai tranh hơn được với ông ta nữa. Bài viết của Vi Anh là tiếng nói phẫn nộ chính đáng của lương tâm người Việt đáp trả cái kẻ đã chà đạp lên lợi ích cả một dân tộc, cho đến tuổi lú lẫn này rồi mà vẫn còn nguyên một cục tham vọng không suy suyễn.

Bauxite Việt Nam

Không biết có tiền cừu hậu hận gì quốc gia dân tộc Việt Nam, mà Tiến sĩ Kissinger, Cựu Ngoại trưởng kiêm Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ thời Tổng thống Richard Nixon của Mỹ thời Chiến Tranh VN, đã đi đêm với TC, bức tử và dâng Việt Nam Cộng hòa cho Trung Cộng. Không biết có phải Kissinger có phải là đầu thai từ Tướng Tàu Thoát Hoan kiếp trước bị quân dân Việt Nam đánh đuổi không còn manh giáp, chạy thục mạng phải chui vào ống đồng để quân Tàu khiêng trốn về Tàu hay không, mà kiếp này Kissinger hết trả thù Việt Nam thời Chiến Tranh VN bức tử Việt Nam Cộng hòa, thời VN Cộng sản Trung Cộng giành giựt Biển Đông của VN, Kissinger đề nghị nên theo ý kiến của Cố Chủ tịch TC Đặng tiểu Bình, hai nước Mỹ và Trung Cộng ngưng căng thẳng để cùng nhau khai thác vùng này, cùng hưởng lợi. Đây thật là một đề nghị đưa ra không đúng chỗ, tai hại cho Mỹ, thiệt hại cho các nước đồng minh và đối tác của Mỹ trong vùng, và chỉ có lợi cho TC.

Một, đây là một đề nghị thật không có gì vô duyên, mất lịch sự cho bằng, làm khi đi dự tang lễ mà họp báo tuyên bố một cách vô thẩm quyền, vô tư cách. Nhưng Cựu Ngoại trưởng Kissinger nay đã 92 tuổi, chứng nào vẫn tật nấy. Ngày 28/03/2015 nhơn khi đi dự tang lễ của Cựu Thủ tướng Singapore Lý quang Diệu, Ông Kissinger đề nghị Mỹ và TC nên ngưng căng thẳng để cùng khai thác Biển Đông cùng có lợi.
Hành động vô duyên, bất lich sự, thực dụng đến buồn nôn này của Ô Kissinger không phải ông làm một cách riêng tư, mà ông mở cả một cuộc họp báo tại Singapore trong khi quốc gia đô thị Singapore này đang làm quốc tang cho vị Thủ tướng lâu đời này với cả triệu người Singapore để tang, xếp hàng chờ cả 7, 8 tiếng tiễn biệt.
Ông Kissinger không giấu giếm lập trường sùng bái Chủ tịch Đặng Tiểu Bình của TC, và thân TC của ông. Ông họp báo đưa ra lời khuyên Trung Quốc và Hoa Kỳ nên theo gương cố lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình để giảm thiểu tình trạng căng thẳng, liên quan đến các tranh chấp chủ quyền giữa Bắc Kinh với các láng giềng tại vùng Biển Đông.
Hai, đây là một đề nghị tai hại cho nhân dân và chánh quyền Mỹ đương thời. Với đề nghị này của Ô Kissinger, chiến lược chuyển trục quân sự của Mỹ sang Á châu biến Mỹ thành một “thực dân kiểu mới”, cùng tham lam, cùng khai thác, cùng chia chác quyền lợi đất đai, tài nguyên biển đảo của các nước Á châu Thái Bình Dương với TC. Đề nghị này của Ông Kissinger phủ nhận chánh nghĩa, lời tuyên bố của TT Obama, Ngoại trưởng Hillary, Kerry Mỹ nói đến đây là để bảo vệ tự do hàng hải quốc tế, giúp gìn giữ nguyên trạng, ổn định của địa lý chánh trị Biển Đông. 50% hàng hóa của thế giới di chuyển qua vùng biển này, trong đó có của Mỹ và các nước đồng minh và đối tác của Mỹ.
Ba, đây là một đề nghị làm mất lòng tin của các nước Á châu Thái Bình Dương đối với Mỹ. Thời Ô Kissinger đương quyền, ông nói thêm, nói bớt, giấu đầu giấu đuôi đối với Tổng thống, Quốc hội và công luận Mỹ để đi đêm như con thoi và “móc ngoặc” riêng tư với TC. Hậu quả là, phản bội đồng minh Việt Nam Cộng hòa, làm vô nghĩa 58.000 quân nhân Mỹ đã hy sinh mạng sống và hàng trăm ngàn quân nhân, dân chính khác đã hy sinh một phần thân thể cho lý tưởng tự do, dân chủ của Hoa Kỳ ở VN.

Hậu quả là, các nước trong vùng mất lòng tin nơi Mỹ. Phi đuổi Mỹ ra khỏi hai căn cứ hải quân và không quân của Phi. Dân Chúng Nam Hàn, Nhựt biểu tình đòi quân đội Mỹ “Yankees go home”.
Nhân dân và chánh quyền Mỹ sau thời Kissinger lương tâm bị cắn rứt, phải tình nguyện cho định cư tất cả những thuyền nhân dính líu với chế độ VNCH đồng minh với Mỹ.
Chánh quyền Mỹ chịu khó [chịu] khổ, chịu tốn kém mật đàm, đàm phán với CS Hà nội để đưa quân dân cán chính VNCH bị CS đày đi tù cải tạo không ngày ra được đi tỵ nạn chánh trị ở Mỹ theo chương trình HO và ODP.
Và chính những tay Phản Chiến nổi danh như Jane Fonda cũng tự thú sai lầm, nhiều lần sám hối.
Còn TC thì trỗi dậy, trừng lên trở thành đối thủ đáng gờm của Mỹ trên thế giới.
Ba, đây là một đề nghị giúp TC kẻ cướp trở thành ông chủ hưởng lợi nhiều nhứt ở Biển Đông. Chính Mỹ cũng từng tuyên bố bản đồ 9 đoạn liếm mất 90% Biển Đông mà TC tự ý đưa ra là phi lý, phi pháp, không có một căn cứ sử ký, địa lý, pháp lý nào. Nhưng Ô Kissinger lại đề nghị Mỹ ngưng căng thẳng cùng khai thác là mặc thị chấp nhận TC là sở hữu hay đồng sở hữu với Mỹ.

Nhưng xét về địa lý gần xa, chi phí khai thác, vận chuyển, đề nghị của Kissinger coi như giao trứng cho ác là TC. Trong việc làm ăn ba đồng xa không qua một đồng gần. Biển Đông gần TC, cả chục lần hơn so với Mỹ, mọi chi phí khai thác, chuyên chở của TC đều thấp cả chục lần hơn đối với Mỹ. Hưởng lợi trên Biển Đông, TC chắc chắn chiếm phần ăn của con sư tử.
Nên dư luận chung của các nhà bình luận, lời khuyên của ông Kissinger lấy từ “tư tưởng” của Ông Đặng Tiểu Bình TC, là một đề nghị tiếp tay cho TC gồm thâu Biển Đông, khống chế toàn bộ Biển Đông. Ai cũng thấy đề nghị của Kissinger là chủ trương của TC luôn nói ra như chủ trương giải quyết mọi tranh chấp trên nguyên tắc song phương, không cho nước thứ ba (hàm ý là Mỹ) xen vào. Hoàn toàn khác lập trường của chánh quyền Mỹ giải quyết đa phương, đúng theo luật pháp quốc tế về biển.

clip_image002
Bốn và sau cùng, có học mà không có hạnh là bại hoại của tâm hồn. Người có học mà không có hạnh làm tội lỗi thì tinh vi, trầm trọng hơn người ít học. Nên trong hình tội học người ta phân biệt tội phạm cổ trắng do người làm việc bằng đầu óc, tội lỗi trầm trọng, tai hại nhiều hơn và cổ xanh do người làm việc chân tay. Nên cách đây không bao lâu, vào ngày Thứ Năm 29-1-2015, trong cuộc điều trần của Tiểu ban Ngoại giao của Uỷ ban Đối ngoại của Mỹ, nhóm hoạt động xã hội CodePink đã bất thần trương biểu ngữ, đưa ra cây còng, và hô to các khẩu hiệu đòi đưa Henry Kissinger ra tòa vì đã bán đứng Việt Nam cho CS và nhiều quốc gia khác trong thế kỷ 20, gây nên tai họa tàn khốc cho nhiều dân tộc.

clip_image004

Medea Benjamin, người đồng sáng lập tổ chức CodePink nói “Henry Kissinger phải chịu trách nhiệm cho cái chết của hàng triệu người. Ông ta là một kẻ sát nhân, một kẻ nói dối, một kẻ lừa đảo, và là một kẻ côn đồ. Ông ta cần phải được đưa ra trước vành móng ngựa tại Hague”. Anna Kaminski, thành viên của nhóm CodePink nói với báo chí. “Di sản thật sự của Kissinger để lại chỉ là sự hủy diệt. Ông là nhân vật phản diện vĩ đại của Mỹ”. Nửa thế kỷ sau, tàn dư từ những bài toán của Henry Kissinger vẫn còn làm tan nát con người và các đất nước này. Đặc biệt sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng hòa ở Miền Nam Việt Nam đã trở thành một vết nhơ khó quên trong lịch sử của Hoa Kỳ. Nhà văn Jon Queally, người bảo vệ hành động của nhóm CodePink nói rằng “Những trang sử đẫm máu đó chính là di sản của Kissinger. Cái chết. Sự tàn phá. Đau khổ. Cùng cực.
Thượng nghị sĩ John McCain đã phản ứng dữ dội với những người biểu tình đã làm náo loạn buổi điều trần này./.

V.A.

__._,_.___

Nguồn: http://vietbao.com/a235837/bien-dong-kissinger-muon-dang-cho-tc

Ảnh: mượn trên Internet.

Phóng sự ‘chìm trong khói shisha’ gây tranh cãi ở Việt Nam

Phóng sự ‘chìm trong khói shisha’ gây tranh cãi ở Việt Nam

Báo chí trong nước dẫn lời các học sinh trong nước cho biết, các phóng viên của VTC đã “gọi một bình shisha lên bảo đó là ‘đạo cụ’ để bọn em hút và quay”.

Báo chí trong nước dẫn lời các học sinh trong nước cho biết, các phóng viên của VTC đã “gọi một bình shisha lên bảo đó là ‘đạo cụ’ để bọn em hút và quay”.

05.04.2015

Một phóng sự về việc các học sinh mặc đồng phục ở Hà Nội hút shisha gây ra nhiều phản ứng của dư luận tới mức chính quyền phải vào cuộc và một đài truyền hình phải lên tiếng xin lỗi.

Ban biên tập Đài truyền hình kỹ thuật số VTC14 hôm 4/4 đã gửi lời xin lỗi tới các học sinh cũng như gia đình các em “về những tác động không mong muốn”, sau khi các em tham gia một phóng sự có tên gọi “Khi áo trắng học sinh chìm trong khói trắng shisha”.

Đài này cũng thông báo “tạm đình chỉ sản xuất của cả nhóm tác nghiệp chương trình nói trên để xem xét xử lý theo quy định”.

Trước đó, lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội đã yêu cầu hai trường trung học có học sinh xuất hiện trong phóng sự “làm rõ vụ việc”, và cho biết “sẽ báo cáo sự việc” lên chính quyền TP Hà Nội”.

Báo chí trong nước dẫn lời các học sinh trong nước cho biết, các phóng viên của VTC đã “nói nội dung trước cho bọn em, đưa ra những câu hỏi và gợi ý trả lời liên quan đến hút shisha” và “gọi một bình shisha lên bảo đó là ‘đạo cụ’ để bọn em hút và quay”.

Sau khi phóng sự lên sóng, nhiều tờ báo đã đặt những cái tít như: “Học sinh Hà Nội hút shisha”: Thật hay dàn dựng?” hay “Vụ phóng sự học sinh hút shisha: Có dấu hiệu vi phạm luật báo chí”.

Trong lời xin lỗi, VTC14 nói: “Khi áo trắng học trò chìm trong khói trắng shisha” không phải là một phóng sự điều tra ghi lại hình ảnh bắt gặp các học sinh đang hút shisha một cách tự nhiên, không phải là một phóng sự dàn dựng để nói về một cá nhân cụ thể hay đề cập về một vấn đề có tính chất tệ nạn”.

Đài truyền hình này nói thêm: “Đây chỉ là một chương trình mang tính chất cảnh báo, có sự tham gia cộng tác và trả lời của các học sinh khi biết được thông tin về chương trình”.

Truyền thông trong nước thời gian qua đăng tải nhiều bài viết về tình trạng học sinh đổ xô đi hút shisha, mà nhiều người gọi là “thuốc lào Ảrập”, gây quan ngại trong các bậc phụ huynh. Shisha hiện không phải là mặt hàng bị cấm ở Việt Nam.

Theo Tuổi Trẻ, Dân Trí