Ngồi, dưới trăng lắng im nghe lòng ta,

“Ngồi, dưới trăng lắng im nghe lòng ta”,

Thổn thức bao chuyện ngày qua… sầu đau

Hỡi người dấu yêu, sao đành nỡ quên…

Sao đành tình ta vỡ tan, như cánh chim lìa bay?

(Breakfast at Tiffany’s Moon River – Phạm Duy: Dưới Trăng)

(2Cor 13: 5-10)

Trần Ngọc Mười Hai

Thật ra thì, có “ngồi dưới trăng lắng im nghe lòng ta” cách mấy đi chăng nữa, đã chắc gì mình thấy lại được hồn mình đang “thổn thức bao chuyện ngày qua…sầu đau”, đâu chứ!

“Sầu đau” không, vẫn là chuyện của người viết khi ông lại đã hát thêm, rằng:

“Lòng, đắm say những khi ta gần nhau,

Ngồi dưới ánh trăng dịu êm ….cùng mơ.

(Dưới Trăng – bđd)

Ấy đấy, là vấn đề. Sầu đau hay buồn vương, chán chường vẫn là chuyện thời đại, của nhiều người. Những chuyện như thế, nay len lỏi vào tâm tư các vị xưa nay từng sống với quyền-cao-chức-trọng, cũng hệt thế.

Sầu đau hôm nay, có thể là chuyện vẫn xảy đến với nhà Đạo, khi nhiều vị ở đó vẫn quan-tâm đến chuyện phù-phiếm, chóng qua như so-sánh chuyện nổi-danh/nổi-tiếng hoặc nổi cộm được toàn thế-giới hâm-mộ, như hôm rồi nhà báo Úc, viết những giòng như sau:

“Sau 2 năm vẫn ‘trụ’ ở cương vị giáo-chủ cả một đạo, Đức Phanxicô nay đạt tỷ-lệ nổi tiếng/mến-mộ đến 90%, vượt xa Đức Bênêđíchtô 16 và coi là đấng được nhiều người ưu-chuộng nhất hành-tinh.

Đức Phanxicô dự-định ghé thăm thủ-đô Washington, New York và Philadelphia vào tháng 9 năm 2015, nên tin này đã làm người Mỹ tìm cách lập khảo-sát nhằm thu-thập số phiếu bầu ngài là “vị Giáo-hoàng được lòng người Mỹ nhất” lên đến 57% số phiếu bầu.

Theo hãng thăm dò dư-luận Pew Research Centre, thì tiếng-tăm của Đức Phanxicô nay gia-tăng rất nhiều nội hai năm qua. Từ ngày khởi-đầu triều-đại Giáo-hoàng, ngài khởi-phát chỉ mới 58% vào độ tháng 9/2013 nhưng đến năm 2014, tỷ-lệ này lên đến 66% và năm 2015 đạt 70%, ngay ngày đầu. Với người Công-giáo đi lễ đều đặn, thì các vị lại bầu cho Đức Phanxicô một tỷ-lệ đến 95% số phiếu tuyên-dương ngài là chủ chăn được người ưa-chuộng nhiều nhất. Và, trong số các người này, nhiều vị lại hoàn-toàn đồng-ý với ngài, trong mọi chuyện…

Theo nghiên-cứu/khảo-sát do công-ty Pew Research Centre thực-hiện từ ngày 18 đến 22 tháng Hai 2015 trên điện-thoại nhà và di-động đã chuyển đến 1504 người lớn tuổi trên toàn quốc đã nắm được con số trên.” (tin trên The Catholic Weekly 22/3/2015, tr. 15)

Bàn về chuyện người người rất ưa-thích Đức Phanxicô như thế quả quá đúng. Và ở đây, ta cũng không có gì để bàn cãi với tranh-luận. Thế nhưng, nếu cứ theo tin tức và bảng điểm do báo/đài truyền-thông Mỹ loan đi, thì chỉ như thế thôi.

Thế thôi, nghĩa là chỉ mỗi con số và con số nói lên cũng chỉ chút ít thực-tại, trong khi đó sự thật rất thực có thể lại rất khác. Thực-tại đích-thật khác, là ở chỗ: không thấy báo/đài nào chấm điểm hoặc so-sánh tính khiêm-nhu/lành-thánh của ‘đấng bậc’ ở chốn trời-cao-mây-trắng-toát-rất-tít-mù là Giáo hội Công-giáo của mình, hết.

Bởi, có làm thế cũng bằng thừa, vì: vào những tháng ngày gần đây, người đi đạo cũng nghe/biết nhiều về tình-hình phong thánh các đấng bậc lại đã gia-tăng nhiều đến độ có người gọi đó là “Lạm phát chất thánh”…

Gia-tăng như thế, nghĩ cũng phải, vì các ngài tuy chưa quá vãng hoặc đã xa lìa cõi thế-trần này những cũng được người đời gọi bằng danh xưng thật rất thánh quá mức đến nỗi các vị, khi được bầu làm giáo-chủ một đạo, là đạt ngay danh hiệu quí-hiếm: Đức “thánh” Cha, ngay thôi. Thế nghĩa là: các ngài dù chưa hoạt-động gì bao lăm cũng đã là thánh rồi, để rồi khi chết lại cũng trở-thành ‘thánh’, gấp đôi mà thôi.

Thôi thì, có gọi các ngài là Đức “thánh” Cha hay không, cũng đâu là chuyện quan-trọng. Điều quan-trọng với Giáo-hội hôm nay, là: Giáo-hội ta có còn đặt nặng khía-cạnh “quyền-lực” vào vị-thế của các đấng bậc đứng đầu một Giáo-hội hay không, mà thôi!

Bàn việc này, cũng nên tạt qua ý/lời của đấng bậc vi vọng cỡ bậc thầy thần-học ở chốn miền khá thấp nhưng lại là bậc thày của 4 đại học Công giáo ở Hoa-Kỳ đến 40 năm tròn, là Lm Kevin O’Shea CSsR, như sau:

“Bài Thương Khó do thánh Máccô ghi, khi nói Đức Giêsu bị giới quyền cao chức trọng người La Mã hạch-hỏi xem Ngài có đích-thực là Vua-dân-Do-thái, tức là người có quyền chức tương-đương nơi dân Ngài, không. Sở dĩ Philatô hỏi thế, là vì ông bị đám Do thái có quyền-chức là các thượng-tế trong đạo cứ bủa vây, xúi giục ông làm những việc như vậy. Thế nhưng, Đức Giêsu vẫn lặng-thinh không nói lời nào, là bởi như ngôn-từ của Trình-thuật Tin Mừng cho thấy: Ngài không trả lời theo hướng họ đưa ra, vì Ngài không thuộc hệ-thống cầm-quyền như họ.

Đức Giêsu muốn giải-thoát nhân-loại không vì mục-đích đưa nhân-loại ra khỏi chốn “lỗi tội” mà còn đưa ra khỏi mạng-lưới quyền-lực vốn dĩ muốn gài bẫy những người cùng một vai-trò, ở trong đó. Điều này cho thấy: có nhận-thức đích-thực từ ảnh-hưởng của cơ-chế xã-hội trong mọi quyết-định về chính-trị.

Đặc quyền/đặc lợi, là cha đẻ ra quyền-lực, mà quyền-lực lại đẻ ra bức-bách, bức bách đẻ ra sức mạnh. Đương nhiên cùng một lúc, hệ-thống quyền-bính không buộc phải trở-thành một thứ “dê tế-thần” cốt bào-chữa cho các hành-xử của người có vai-trò lãnh-đạo, ở cấp cao. Nhưng, chính họ là người có bổn-phận đứng lên chống lại áp-lực của xã-hội như thế, trước mặt mọi cơ-chế bất công.

Thành-ngữ do thánh Máccô sử-dụng cốt để mai-mỉa/phản-bác lối khuynh-loát, cũng là ngôn-từ để nói rằng: thủ-lãnh cấp cao nơi công-quyền lại cũng là nô-lệ của nhiều thứ. Chương 10 câu 44-45 còn thấy đầy những ngôn-từ chính-trị mang tính hạt-nhân ban đầu, mà tiếng Hy-Lạp gọi là “protos”, vẫn ở cạnh chữ “nô-lệ”, tức “doulos”“diakonen”, tức “phục vụ”. Ngay chữ đầu đã có nghĩa trở-thành “nô-lệ” rồi. Quan-điểm này, thật triệt-để; do cụm từ “doulos” không chỉ nói về giai-tầng thấp ở cơ-cấu quyền-lực mà thôi, nhưng còn diễn-tả như sự trượt-vuột khỏi cơ-cấu nắm quyền và có uy-lực đầy mình. Từ-vựng ấy, cũng không diễn-tả giai-tầng cao xa nhất, hoặc giai-tầng thuộc loại thứ-yếu hoặc chót hết, hiểu theo nghĩa cơ-cấu quyền-lực. Đó, là thứ gì trái-nghịch hẳn. Là mặt trái, tức: thông-điệp đầy mỉa-mai/châm-biếm vốn dĩ nằm bên trong cơ-cấu quyền-lực rồi. Nói cách khác, đây thực sự là những người biến thành nô-lệ cho quyền-lực. Họ cần được giao cho đám thiếu quyền-lực nhất…” (x. Lm Kevin O’Shea, CSsR, Ơn Cứu Chuộc Nơi Ngài chan-chứa, Chương 2 phần 4, nxb Hồng Đức sẽ phát hành vào hạ tuần 4/2015)

Đề-cập đến vấn-đề Giáo-hội và quyền-lực, vẫn luôn là chuyện nóng bỏng, rất khó lòng. Khó, là bởi khi ai đó đã ở bên trong guồng máy có quyền và có lực rồi, thường sẽ có khuynh-hướng hỗ-trợ cả hai bên, tất tần tật. Nói thế, tức diễn tả cách nào đó để bảo rằng: đôi bên đều như nhau và ngang nhau.

Đề-cập chuyện thế-quyền và thần-quyền, là ta đi vào những chuyện nóng bỏng, càn dễ “cháy” hơn nữa. Cháy, cả trong lẫn ngoài. Cháy, từ trên xuống dưới, mà ngôn-ngữ đời thường vẫn bảo đụng vào sẽ “từ chết đến bị thương, thôi.”

Thật ra thì, đề-cập đến sự nổi tiếng khi nắm gọn vai trò chóp bu ở thế-quyền hay thần-quyền cũng đừng quên lời Đấng Thánh-hiền còn đó, vẫn gọi mọi người hãy đọc đi rồi tự xét, như sau:

“Anh em hãy tự xét xem

mình có còn sống trong đức tin hay không.

Hãy tự kiểm điểm.

Anh em chẳng nhận thấy là

có Đức Giêsu Kitô ở trong anh em sao?

Trừ phi anh em đã thua trong cuộc kiểm điểm này.

Tôi hy vọng rằng anh em sẽ nhận thấy

là chúng tôi đây không bị thua.

Chúng tôi cầu xin Thiên Chúa

cho anh em đừng làm điều gì trái,

không phải để tỏ ra chúng tôi thắng,

nhưng để anh em làm điều thiện,

cho dù chúng tôi như bị thua.

Vì chúng tôi không thể làm gì chống lại sự thật,

nhưng chúng tôi chỉ có thể hoạt động cho sự thật.”

(2Cor 13: 5-8)

Nhắc nhớ lời thánh-hiền xưa căn-dặn, hẳn cũng thừa. Thừa hơn nữa, là khi lời nhắn ấy lại gửi đến đấng-bậc vị-vọng trong giáo-hội rất thánh của Đức Chúa. Nhắc nhở đôi điều gửi đến những ai còn có tham-vọng “làm lớn” hoặc nổi-tiếng như cồn ở đâu đó, có lẽ cũng chỉ nên nhắc và nhở bằng truyện kể hoặc tin tức…mình, ở đời thôi.

Nhưng trước khi cứu xét những sự việc như thế, tưởng cũng nên trở về với lời ca mà người nghệ-sĩ ở nhà từng dịch ra lời Việt và hát thêm, rằng:

“Ngồi dưới trăng lắng im nghe lòng ta

Thổn thức bao chuyện ngày qua… sầu đau

Hỡi người dấu yêu, sao đành nỡ quên…

Sao đành tình ta vỡ tan như cánh chim lìa bay?

Lòng đắm say những khi ta gần nhau,

Ngồi dưới ánh trăng dịu êm cùng mơ…

Con thuyền trôi về đâu dưới trăng vàng?

Cớ sao một mình ta ngồi dưới ánh trăng lẻ loi,

buồn vấn vương… chán chường…”

(Dưới Trăng – bđd)

“Buồn vấn-vương, chán-chường” có là tâm-trạng của người đời ở đời, sau khi đứng ‘trụ’ chốn cao trong phong-trào nào đó, tức ‘tiếng tăm’ của mình đã nổi đình/nổi đám suốt một thời, nhiều năm tháng như cặp đôi “đồng tính” ở địa-hạt thời-trang, nay có vấn-đề như sau:

“Chuyện đạo-đức trong sinh-hóa tuần vừa qua, lại xảy đến từ sàn diễn thời-trang ở Milan, nuớc Ý cho tới buổi phỏng-vấn tập-san Panorama ở đây nói về cặp bài trùng tạo mẫu thời trang là Stefano Gabbana và Domenico Dolce đã đả-kích hôn-nhân đồng tính luyến ái, thụ thai ống-nghiệm IVF và chuyện thay mẹ đẻ để sinh-sôi nảy nở…

Dolce và Gabbana từng chung sống như cặp tình nhân đồng-tính đến 20 năm, nhưng đã chia tay cách nhẹ nhàng vào năm 2005, dù đạt thành-công như người chung-phần đối-tác trong thương-vụ. Khi được hỏi, quý vị có muốn làm cha theo cung-cách nào đó không, thì Dolce trả lời ngay rằng:

“Tôi là người đồng-tính luyến-ái, nên không thể có con được… chúng ta sinh ra có cha có mẹ, hoặc ít ra là như thế, còn các trẻ không có cha có mẹ theo nghĩa tự-nhiên như thế, thì tôi gọi là “trẻ con sinh tự phòng dược, hoặc trẻ chế-biến tổng-hợp, sinh từ buồng trứng thuê mướn, do chọn tinh-trùng từ danh-mục hàng-hoá…”

Không những thế, nhà tạo mẫu Domenico Dolce, 57 tuổi lâu nay tự nhận là người Công-giáo vẫn còn đi nhà thờ khá đều-đặn, lại nói:

“Không thể tính chuyện sinh con theo cách thuê mướn tử-cung hoặc dùng hoá-chất mà tạo thành được. Cuộc sống, là giòng chảy tự-nhiên có những điều trong đời, ta không được phép thay đổi nó, mới đúng. Nếu quý vị sinh ra từ cung lòng người mẹ và do tinh-trùng của người cha đích-thực hoặc ít ra phải như thế. Làm khác đi, thì đó chỉ là đứa con từ phòng dược, tức trẻ được chế-biến theo cách tơ sợi tổng-hợp, thuê mướn tử-cung của ai khác, hoặc tinh-trùng được chọn từ tập danh-mục thương-mại, mà thôi.”

Trong khi đó Stefano Gabbana lại bảo:

“Gia đình không là ‘mốt’ thời-trang. Gia-đình phải có nghĩa siêu-nhiên gần gũi thân-thương của người nhà…” Vào lúc đó, Dolce lại đã thêm ý của Gabbana: “Đồng-công kiến-tạo là động-thái của tình yêu. Ngay các chuyên-gia tâm-thần cũng đang phải đối đầu với ảnh-hưởng của cuộc thực-nghiệm do mình tạo ra, nữa.”

Chuyện xảy ra là, khi nghe biết câu chuyện như thế, thì thần-tượng đồng-tính luyến-ái người Anh là ngài Elton John, tức cha của hai đứa trẻ sinh từ bà-mẹ-thuê-mướn thay cho mẹ ruột đã phản-ứng một cách rất nóng-giận và bảo rằng: sao các anh lại dám qui về các đứa con thân-yêu tuyệt-vời của tôi, rồi đặt tên cho chúng là trẻ bé sinh từ tơ sợi tổng-hợp? Các anh thật đáng xấu hổ chỉ biết chĩa tay vào ống nghiệm IVF thôi. Tư-duy của các anh nay lỗi thời rồi, hệt như thời-trang do các anh tạo ra nay không còn ăn khách nữa. Từ nay, tôi sẽ không thèm mua đồ Dolce & Gabbana tạo mẫu về mặc đâu..” (X. Michael Cook, Dolce & Gabbana spark internet frenzy over IVF, BioEdge 21/3/2015)

Xem thế thì, chuyện nổi đình/nổi đám đầy tiếng tăm suốt nhiều năm, đã trở-thành vấn-đề với nhiều người, những hỏi rằng: được thế đến bao lâu. Nổi cồn như thế, có làm cho bản-thân người nổi tiếng thêm được chút hạnh phúc nào không? Hoặc, có giúp người nổi tiếng trở-thành lành/thánh lâu năm không?

Trả lời câu hỏi gay-go/hiểm hóc này, thật cũng khó. Khó, là bởi những người như bạn và tôi, có lẻ ta chưa bao giờ được thế. Nên, thay vì trả lời cho đích-đáng, có lẽ cũng nên đi vào vùng trời truyện kể, để xem: có thể may ra cũng có trường hợp tương-tự.

Quyết thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta đọc thử truyện kể sau đây, rồi sẽ thấy:

“Truyện rằng:

Ngày xưa, có một họa sĩ tên là Ranga, một người siêu việt, vẽ được rất nhiều kiệt tác đáng ghi nhớ khiến ai cũng dều khen ngợi.

Ông mở một lớp học mỹ thuật để dạy nghề cho mọi người và cũng để tìm đệ tử nối nghiệp. Ông không mấy khi khen ngợi ai, cũng không bao giờ đề cập đến thời gian của khóa hoặc. Ông nói, một học trò chỉ có thể thành công khi ông hài lòng với kỹ năng và hiểu biết của người đó. Ông truyền cho học trò những phương pháp đánh giá, ước định của ông, và chúng cũng độc đáo như những tác phẩm của ông vậy. Ông không bao giờ thổi phồng tầm quan trọng của những bức tranh hay sự nổi tiếng, mà ông luôn nhấn mạnh đến cách xử sự, thái độ với cuộc sống của học trò.

Trong một số lượng lớn học trò, Rajeev là một người có tài nhất, chăm chỉ, sáng tạo,nên anh ta tiếp thu nhanh hơn nhiều so với các bạn đồng môn. Ông Ranga rất hài lòng về Rajeev.

Một ngày kia, sau bao nhiêu cố gắng, Rajeev được ông Ranga gọi đến và bảo:
-Ta rất tự hào về những tiến bộ mà con đã đạt được. Bây giờ là thời điểm con làm bài thi cuối cùng trước khi ta công nhận con thực sự là một họa sĩ tài năng. Ta muốn con vẽ một bức tranh mà ai cũng phải thấy đẹp, phải khen ngợi.

Rajeev làm việc ngày đêm, trong rất nhiều ngày và đem đến trình thầy Ranga một bức tranh tuyệt diệu. Thầy Ranga xem qua rồi bảo:

-Con hãy đem bức tranh này ra đặt ở quảng trường chính, để tất cả mọi người có thể chiêm ngưỡng.

Hãy viết bên dưới bức tranh là tác giả sẽ rất biết ơn nếu bất kỳ ai có thể chỉ ra bất kỳ sơ suất nào trên bức tranh và đánh một dấu X vào chỗ lỗi đó. Rajeev làm theo lời thầy: đặt bức tranh ở quảng trường lớn với một thông điệp đề nghị mọi người chỉ ra những sơ suất.

Sau hai ngày, Ranga đề nghị Rajeev lấy bức tranh về. Rajeev rất thất vọng khi bức tranh của mình đầy dấu X. Nhưng Ranga tỏ ra bình tĩnh và khuyên Rajeev đừng thất vọng, cố gắng lần nữa. Rajeev vẽ một kiệt tác khác, nhưng thầy Ranga bảo phải thay đổi thông điệp dưới bức tranh. Thầy Ranga nói phải để màu vẽ và bút ngay cạnh bức tranh ở quảng trường và đề nghị mọi người tìm những chỗ sai trong bức tranh và sửa chúng lại bằng những dụng cụ để vẽ ấy.

Hai ngày sau, khi lấy tranh về, Rajeev rất vui mừng khi thấy bức tranh không bị sửa gì hết và tự tin đem đến chỗ Ranga. Ranga nói:

-Con đã thành công vào ngày hôm nay. Bởi vì nếu chỉ thành thạo về mỹ thuật thôi thì chưa đủ, mà con còn phải biết rằng con người bao giờ cũng đánh giá bừa bãi ngay khi có cơ hội đầu tiên, cho dù họ chẳng biết gì về điều đó cả. Nếu con luôn để cả thế giới đánh giá mình, con sẽ luôn thất vọng. Con người thích đánh giá người khác mà không nghĩ đến trách-nhiệm hay nghiêm-túc gì cả. Mọi người đánh những dấu X lên bức tranh đầu tiên của con vì họ không có trách nhiệm gì mà lại cho đó là việc không cần động não. Nhưng khi con đề nghị họ sửa những sơ suất thì không ai làm nữa, vì họ sợ bộc lộ hiểu biết – những thứ mà họ có thể không có. Nên họ quyết định tránh đi là hơn. Cho nên, những thứ mà con phải vất vả để làm ra được, đừng dễ dàng bị ảnh hưởng bởi đánh giá của người khác. Hãy tự đánh giá mình. Và tất nhiên, cũng đừng bao giờ đánh giá người khác quá dễ dàng.” (truyện kể do St sưu-tầm gửi lên mạng)

Kể thế rồi, nay mời tôi và mời bạn, ta cứ đi vào giòng chảy những nghĩ suy để rồi tự mình rút ra bài học để đời cho mình, cho người, và cả đấng bậc trên cũng như dưới, rất Nước Trời.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những ngày

Nhiều nghĩ suy

Về những tiếng tăm

nổi cộm một thời

rồi cũng xẹp

trong âm-thầm.

Hoa rừng

Hoa rừng

Ngày trước làm công chức mắc lỗi mới bị đày lên Buôn Ma Thuột. Trường hợp của tôi thì khác. Tôi mới ra trường lại xung phong lên Buôn Ma Thuột làm việc. Nhiều người ngăn cản. Tôi có lý do riêng của mình. Thời còn đi học tôi mê chuyện đường rừng. Tôi có cô bạn hát bài : “Nụ cười sơn cước” rất hay tôi mê bài hát, mê luôn cảnh núi rừng. Tôi chọn lên Buôn Ma thuột để được dịp sống với núi rừng. Tuổi trẻ có những quyết định quan trọng cho cả đời người chỉ dựa vào những lý lẽ hết sức đơn giản, lãng mạn. Quả nhiên sau đó tôi có được nụ cười sơn cước đẹp như một đoá lan rừng và một cuộc tình giống hệt như tiểu thuyết đường rừng. Ngày nay, sau rất nhiều năm mỗi khi hồi tưởng lại kỷ niệm vẫn cảm thấy lâng lâng như trôi trong màn sương ngan ngát hương rừng, rơi la đà trong men rượu cần xanh rờn sắc núi. Song rồi lại cảm thấy hỗ thẹn và bối rối. Chuyện đã nhiều năm mà tưởng như mới hôm qua. Thật là một đoạn đời khó quên.

Khi chiếc xe đò cũ kỹ vừa qua khỏi Dục Mỹ ì ạch bò lên đèo Phượng Hoàng ngoằn ngoèo vắt mình qua mấy sườn núi, cảnh vật hai bên đường đột ngột mở ra một cõi rừng già nhiệt đới u minh trùng điệp. Mới đây cái nắng gay gắt khi đi ngang qua cánh đồng Dục Mỹ chưa dứt, tiếp tới hơi nóng hừng hực con đường nhựa như chảy ra loang loáng dưới ánh mặt trời lúc băng qua căn cứ Lam Sơn, chiếc xe đò nóng lên chẳng khác gì ngồi trong lò, đến đây bỗng nhiên xe như rơi vào biển băng. Những làn gió thổi trong rừng ra đem theo màn sương li ti lùa vào lòng xe, cho hành khách thấy khoẻ hẳn lên. Những cây rừng cổ thụ mọc sát bên đường dây leo như những con rắn khổng lồ quấn quanh chằng chịt. Cheo leo trên sườn núi là những chiếc chòi canh giữ rẫy nhỏ và dễ thương như tổ chim. Còn hoa rừng, hoa rừng nhiều vô số đủ màu sắc ẩn hiện trong lá. Và ơ kìa! Những người thượng (người dân tộc) từ trong sương bất ngờ hiện ra trông hư thực giống như màu sắc tranh lụa nhạt nhoà. Mấy người con gái để vú trần, vai mang gùi, miệng ngậm ống điếu dài. Những người đàn ông đóng khố da nhăn nheo như vỏ cây, vai mang cung tên. Mấy đứa trẻ con đen đúa trần truồng cùng với con chó săn vằn vện như hổ chạy theo sau. Tôi chồm ra khỏi xe ngoái nhìn theo họ. Giữa quang cảnh núi rừng hoang dại đoàn người lầm lũi đi thành một hàng dọc lặng lẽ, bí ẩn khiến cho tôi lên tưởng đến chuyện bùa ngải ma núi. Cảnh tượng thực lạ mắt, trước đây tôi chỉ đọc thấy trong sách rồi tưởng tượng ra. Tôi thấy cảm xúc của mình giống như người phiêu lưu tìm ra nền văn minh mới. Đất nước ta thực kỳ dị, chỉ mới đây thôi còn nhộn nhịp phố phường mà nay lại lọt vào chính giữa khu rừng nhiệt đới hoang vu bạt ngàn.

Về sau tôi được biết Buôn Ma Thuột là xứ sở của mây mù, buổi sáng mây bay tới tận giờng ngủ. Buôn Ma Thuột còn là xứ sở của hoa, hoa có tên và hoa không tên, hoa như cây dại mọc tràn tới thềm nhà. Buôn Ma Thuột còn là sự yếu mềm của lòng mình, muốn yêu, muốn khóc, muốn làm thơ…

Một buổi chiều, lần đầu tiên tôi làm công việc, hỏi cung các tội nhân. Anh Thư ký dẫn vào phòng một lão già người Thượng. Lão già đóng khố, màu da ám khói giống như quả bầu nậm treo giàn bếp, người Thượng dùng để hứng nước suối đội đầu đem về nhà. Lão ta đứng trước mặt tôi nét mặt như như tượng đá, đang chìm đắm vào cõi suy tư thoát tục. Lão điềm nhiên giống như đang ở một mình trong rừng. Hoàn cảnh khó khăn trước mắt không làm xao động nổi con người đặc biệt nầy. Điều đó thực là hiếm có. Ai đứng chỗ này, trước chiếc bàn của ông Dự Thẩm cũng đều run rẩy khiếp sợ. Số phận của họ trong phút chốc sẽ được định đoạt mà thường thường là bi thảm. Còn lão già này, ngược lại hoàn toàn dửng dưng. Hình như lối sống sơ khai của người miền cao tạo nên cho họ một tâm tính mộc mạc hồn nhiên, họ không lo lắng, không tự dằn vặt hành hạ mình, nhờ thế họ vượt qua dễ dàng những thử thách tinh thần kiểu nầy. Trong khi đó người Kinh nhất người giàu có hoặc có vai vế trong xã hội chỉ cần bỏ tù vài ngày, tinh thần thể xác họ suy sụp hoàn toàn.

Tôi hỏi, lão lắc đầu. Tôi lại hỏi, lão lại lắc đầu. Nhiều lần như thế tôi bối rối. Thế này làm sao hỏi cung ? Có lẽ đây là lần đầu tiên ở phòng Dự Thẩm tội nhân không sợ sệt chỉ có ông Dự Thẩm bối rối. Tôi chưa biết xử trí ra sao, ông lục sự ngồi giúp tôi trong việc chép lời khai nói

– Thưa ông dự thẩm, để tôi đi gọi Hơ Ly Êban.

Lần đầu tiên tôi nghe tới tên nầy. Số phận đã đưa đẩy Hơ Ly Êban đi vào đời tôi kể từ buổi chiều hôm đó. Hơ Ly là đoá hoa rừng, là quà tặng của xứ được mệnh danh là “Buồn muôn thuở”, một thứ trái cây dại vừa ngọt ngào vừa đắng chát, một sự hoà trộn tuyệt vời giữa hạnh phúc và khổ đau…

Lúc đó Hơ Ly khoảng hai mươi tuổi. Nàng là gái dân tộc Êđê, nếu cô ta có một vẻ đẹp như gái người Kinh thì tôi không kể làm gì, đàng này đó là một cô gái dân tộc Êđê có nguồn gốc chủng tộc Indonesien rất rõ, thể hiện ở vóc dáng, màu da, khuôn mặt. Nước da nàng ngâm ngâm một màu nâu vàng đất sét pha hồng của loại đất badan giàu chất sắt. Mái tóc nàng rậm đen đến độ xanh ánh lên như thép. Hai hố mắt nàng rất sâu chứa đầy bóng tối làm cho cái nhìn trở nên mềm như bông. Hai hàng mi cong cứng và cặp lông mày rậm là nét đặc trưng rất rõ của chủng tộc nàng. Khuôn mặt cô ấy vuông vức kiểu mặt chữ điền, tuy xương hàm hơi thô, ngược lại đôi môi nàng có một vẻ dịu dàng với làn da mỏng tanh, khô khô một vài vết nứt rạn li ti màu hồng nhạt như cánh hoa rừng, trông thấy thì muốn hôn. Cô ta thường mặc váy đen, áo sơ mi nhiều màu. Những ngày lễ lạc nàng mặc loại váy đặc biệt may bằng thứ vải đen dệt theo lối thủ công có nhiều đường chỉ màu sặc sỡ. Tôi không thấy Hơ Ly dùng son phấn bao giờ.

Hơ Ly nói tiếng Việt và tiếng Pháp lưu loát. Lúc trước nàng học trường Dòng vơi các Xơ. Hơ Ly làm thông ngôn cho Toà án. Thời đó người Thượng có toà án riêng gọi là toà án sắc tộc xét xử các vấn đề dân sự như tài sản, gia đình, căn cứ theo tập quán tục lệ mà kết quả thường là phạt trâu, phạt chiêng hoặc phạt ché là một loại lọ lớn dùng để ủ rượu cần. Riêng các tội thuộc về hình sự họ phải ra toà án thường. Hơ Ly là cây cầu ngôn ngữ bắt từ những người đồng chủng của nàng tới chúng tôi. Ban đầu tôi nghĩ Hơ Ly là người Eđê làm thông ngôn thì chẳng khó khăn gì. Sau khi hiểu rõ tôi biết sự việc không phải đơn giản như thế. Không phái bất cứ người Eđê nào cũng làm được. Hơ Ly biết gần bốn mươi thổ ngữ. Thực là một khả năng ngôn ngữ hiếm có. Tôi hỏi về chuyện này Hơ Ly nói :

– Ngoài tiếng Êđê ra còn nhiều thứ ngôn ngữ khác như Gia Rai, Sê Đăng, M’ Nông… Tuy cũng là người Êđê nhưng có khi làng nầy cách làng kia chỉ có một con suối nói vẫn không hiểu nhau được.

Tôi hỏi :

– Làm sao em học được nhiều thế ?

– Ngôn ngữ người dân tộc rất đơn giản. Cái gì họ có thì mới có tên gọi. Ví dụ trong cuộc sống giữa núi rừng làm gì có cái chợ, nên không có danh từ chợ. Họ nói “Nao sang chơ ” có nghĩa là đi sang chợ. Họ chỉ có Một chữ “Nao” là đi mà thôi. Cuộc sống thô sơ nên ngôn ngữ cũng hạn hẹp.

Cô ấy độc quyền trong việc nói năng. Cô ta thông ngôn đúng hay sai chẳng ai biết. Cho tới bây giờ tôi cũng không biết cô gái đẹp người Êđê nầy có lần nào tự ý giúp cho những người đồng chủng của nàng hay không ? Có nhiều lúc tôi chỉ nghe tội nhân ấp úng một vài lời nhưng Hơ Ly dịch thành một câu dài với mục đích biện bạch cho được sự vô tội. Nếu có thế thì vẫn tốt. Tôi xưa nay thường thích người yêu quê hương yêu đồng bào mình .

Sau giờ làm việc tôi thường giữ Hơ Ly lại trong văn phòng bắt nàng kể về phong tục tập quán người Tây Nguyên. Tôi hỏi vì sao người Thượng không bao giờ đi hàng ngang hoặc sánh vai bên nhau trên đường phố, dù là hai người thân cũng người trước người sau, còn đông người thì luôn luôn đi thành một hàng dọc. Hơ Ly giải thích :”Từ bao đời nay, người Sơn cước đi trên những con đường mòn trong rừng làm sao sánh đôi sánh ba cho được. Thói quen nầy ăn sâu trong mỗi người”. Hơ Ly kể nhiều truyền thuyết về núi rừng, mãnh thú, lửa, hoa và nhất là tình yêu trai gái. Chính Hơ Ly dạy cho tôi tiếng Êđê, trong đó có câu “anh yêu em”. Và tôi đã ứng dụng ngay bài học vỡ lòng nầy với người thầy của mình. Hơ Ly trả lời bằng một tràng tiếng Thượng, tôi không hiểu gì cả, rồi nàng cười . Ôi! Giọng cười của nàng vui như tiếng chim, xanh như lá mới, ngọt như trái rừng, reo vang như suối đỗ. Tôi nhớ bài “Nụ cười sơn cước” có đoạn :

…Một chiếc khăn màu trắng trong
Một chiếc vòng sáng long lanh
Với nụ cười nàng quá xinh…

Đúng là nụ cười của Hơ Ly. Tình yêu của tôi lớn nhanh như cỏ dại mùa mưa. Chúng tôi rong chơi với nhau trong rừng. Hơ Ly không bao giờ chịu đi dạo phố phường, đi ăn hay đi xem xinê. Tôi hỏi, nàng nói :”Kao khắp kley Hơ dip phung cư chang!” có nghĩa là em chỉ yêu thích thiên nhiên thôi.

Buôn Ma Thuột vào những năm đầu thập niên sáu mươi là một thành phố kỳ dị. Thiên nhiên xanh rờn mạnh mẽ lấn át phố phường. Từ trên máy bay nhìn xuống chỉ thấy một màu xanh ngút ngàn, con đường như sợi chỉ đỏ chạy quanh co. trong thành phố, có nhiều nơi bên này đường là phố xá, bên kia đã là rừng già nhiệt đới áp sát. Rừng thực là môi trường tốt cho những cặp tình nhân sung sức như chúng tôi. Tôi lái xe chở nàng chạy càn lên rừng hướng dương. Nhìn lại phía sau vết xe làm cho cây cối ngã rạp xuống thành một lối đi. Lần đó chúng tôi dừng lại bên suối. Thật là một nơi lý tưởng cho những cuộc tình hoang dại.

Giữa khu rừng vắng vẻ làm cho sự e dè ngượng ngập xâm chiếm cả hai chúng tôi. Chúng tôi ngồi bên nhau chẳng biết nói gì.. Hình như những ý tưởng riêng tư làm vấn đục tâm hồn. Hơ Ly để bàn tay nằm yên trên lớp cỏ xanh. Sau này tôi có làm bài thơ “Bàn tay trên cỏ” trong đó có câu :

Yêu nhau trên cỏ lá xanh mang về.

Sở dĩ có câu thơ trên vì có lần Hơ Ly nói lúc trở về nhà thay áo nàng thấy một mảnh lá cỏ xanh dính ở vú. Nàng cất nó trong chiếc phong bì làm kỷ niệm. Mấy ngón tay nàng nho nhỏ giống bàn tay trẻ con để yên hồi lâu. Tôi đặt tay lên, tay Hơ Ly lạnh, nàng hơi kéo tay lại. Tôi nắm chặt, nàng hơi vùng vẫy. Tôi giữ chặt hơn, Hơ Ly để yên. Đôi mắt nàng mơ màng nhìn về hướng núi đang chìm dần trong sương, nhưng có lẽ tất cả tâm trí nàng lắng nghe sự rung động của da thịt, cảm giác đụng chạm với người con trai Kinh. Tôi ôm nàng và hôn, Hơ Ly chẳng kháng cự gì cả. Nàng hoàn toàn thụ động.Trong khi hôn hàng mi dài của nàng chớp chớp chạm vào da mặt tôi, hàng mi cong và cứng một cách tự nhiên mà những cô gái Việt rất muốn, họ phải chải sáp hoặc mang lông mi giả. Tôi biết trong khi hôn nàng mở cặp mắt to ra nhìn ngạc nhiên sững sờ. Đó có lẽ là nụ hôn đầu tiên trong đời cô gái nầy. Nàng cuống quít nhưng chẳng biết làm gì. Cái hôn gây cho nàng sự lạ lẫm hơn là thú vị. Nên nhớ đây là một cô gái văn minh, có học, nói tiếng Tây như đầm, nhưng trong việc yêu đương cái bản năng hoang sơ vẫn còn ngự trị mạnh mẽ làm cho cô cảm thấy xa lạ lo âu, hôn xong cô ta mở đôi mắt thao láo ra mà nhìn. Tôi luồn tay vào trong áo nàng. Như mọi cô gái Thượng khác Hơ Ly không mặc nịt vú.Cặp vú tròn ấm áp của cảm giác trơn láng và rắn như trái rừng chín tới là tiêu biểu của bộ ngực gái miền sơn cước. Hơ Ly để yên cho tôi tha hồ sờ mó. Nhưng đến khi tôi muốn đi xa thêm một bước nữa thì nàng phản ứng kịch liệt. Nàng nói :”Không được. Phải có cha mẹ, có làng chứng kiến!” Tôi đòi nữa thì nàng nói :”Ở nơi đây không được, rừng cấm !” Tôi cứ đòi. Hơ Ly nói :”Thần núi phạt đó!” . Tôi hỏi phạt làm sao ? Hơ Ly nói :

– Sinh con ra có đuôi như đuôi con khỉ!

Tôi biết đây là cách của mấy người già bày đặt ra để doạ bọn con gái .

Những năm đầu thập kỷ sáu mươi Buôn Ma Thuột là một thành phố nhỏ chỉ có mấy đường phố. Người Kinh lên đây chưa nhiều. Những người làm nghề khai thác gỗ là giàu, người Pháp lập đồn điền cà phê đã lâu, người Hoa buôn bán. Cả phố chỉ có một rạp xi nê Lô đô. Có nhiều người đi buôn Thượng, thường là đổi chác, ít khi dùng tiền. Người ta đem muối, cồng, chiêng, ché và hạt cườm xanh đỏ đổi lấy lợn gà, ngà, xương hổ. Có một số y tá vào các buôn chữa bệnh sốt rét tiền thuốc cũng trả bằng thổ sản. Người Thượng rất thích tiền giấy mới. Có tiền mới thì bao nhiêu cũng bán. Phụ nữ thường mặc váy đen để mình trần. Họ đi ra chợ từng đoàn ẩn hiện trong sương sớm lạnh buốt. Món hàng quen thuộc là nhưng quả mướp khô chỉ còn lại xơ dùng để chùi xoon nồi. Thời gian này xã hội còn rất đơn giản cho nên mặc dù giữ trọng trách tôi vẫn có nhiều thời gian rỗi. Tôi thường vào rừng săn bắn. Tiếng là đi săn bắn nhưng tôi thường kiếm nơi thanh vắng, tìm gốc cây ôm súng ngả lưng đắm chìm vào cõi mộng mơ. Tôi đem giấy bút viết thư, làm thơ cho Hơ Ly. Những vần thơ này trước khi tới tay Hơ Ly nó đã làm cho người viết ra nó tan ra trong niềm hạnh phúc, thăng hoa thành thứ hơi núi màu lam mờ mờ vương vấn trong rừng cây. Có những bức thư trường giang đại hải viết về tình yêu hai người, kể lể về những lần gặp gỡ, và kể lại một cách tỉ mỉ về cảm giác của tôi khi chung đụng nàng. Khi viết lách về tình yêu người ta thường phóng đại sự việc lớn hơn nhiều lần, tôi cũng không tránh khỏi nhược điểm này. Vả lại tình yêu giữa chúng tôi đã tới thời kỳ chín muồi, có những điều thầm kín cần ghi lại và giữ riêng cho nhau. Tôi nghĩ nếu đó là một cô gái người Kinh chắc tôi không bạo dạn và tiến nhanh như thế trong tình trường. Đây là một bông hoa của rừng thẳm hoang dại nguyên sơ tôi cũng theo lối man rợ, yêu không kiểu cách, càn rỡ. Khi gặp nhau trong rừng Hơ Ly rất ít nói. Nàng thường ngồi yên để cho tôi tha hồ mặc sức hành động. Cô ấy chỉ mở cặp mắt to tròn ngơ ngác nhìn tôi một cách tò mò. Nàng buông thỏng hai tay, không một cử chỉ đáp ứng ngoài sự tò mò về những nụ hôn .

Một lần tôi theo Hơ Ly về buôn. Buôn của nàng gần thành phố, thuộc hạng giàu và văn minh. Gia đình nàng lại giàu nhất trong buôn. Cha nàng là người có uy tín trong bộ tộc Êđê và ngoài ra còn có danh tiếng trong giới cầm quyền người Kinh. Đây là lần đầu tiên tôi bước vào một ngôi nhà sàn. Tôi khó nhọc leo lên mấy bậc thang làm thân cây đẽo thành những chỗ để đặt bàn chân. Trong chiếc nhà sàn rất dài có nhiều gia đình. Hình như họ sống theo lối quần cư, nhiều gia đình sống chung trong một ngôi nhà. Bên dưới nuôi gia súc. Họ nuôi theo lối thả rông. Mấy con lợn nái bụng sà tới đất, hàng vú quét trên cỏ đang dẫn bầy con ăn một cành lá rừng. Tôi không biết đó là thứ cây gì, thật là một lối chăn nuôi đơn giản. Còn dê và gà thì nhiều vô số. Mấy con dê mới sinh màu lông chỗ trắng chỗ đen trông rất dễ thương.

Trong khi tôi con bỡ ngỡ thì lạ quá mọi người ở đây dường như đã biết tôi rất rõ . Không cần Hơ Ly giới thiệu họ biết rõ tên tuổi chức vụ của tôi. Mọi người gặp tôi đều chào hỏi niềm nở rồi lại cưòi, một cách cười hóm hỉnh. Lúc đó tôi chưa hiểu gì cả, nhưng chỉ năm phút sau vỡ lẽ. Trời ơi tôi chỉ có nước độn thổ !

Tôi thấy chỗ Hơ Ly ở rải rác đó đấy trên sàn nhà bằng cây nứa đập dập sánh lên láng bóng do con người qua lại nhiều lần là những lá thư và những bài thơ tôigởi cho nàng. Tôi cầm một tờ giấy lên xem, toàn là chữ nghĩa của tôi. Tôi hoảng hồn vì những diều tôi viết cho Hơ Ly là những bí mật của đôi trai gái. Mấy cô gái khác chẳng cần bảo họ cũng cất giấu loại bảo vật này, còn Hơ Ly lại đem thứ văn chương ái tình chia sẻ với mọi người. Tôi không làm sao hiểu nổi đoá hoa rừng này lại dám đem những chuyện riêng tư của mình ra kể cho cả làng nghe. Mấy lá thư đều nhàu, tôi chắc nàng đã đem nó ra đọc và dịch nhiều lần. Tới lúc này tôi mới hiểu vì sao mới gặp lần đầu mà mọi người ở chỗ thâm sơn cùng cốc này lại biết rõ tôi đến thế.

Tôi ngượng nghịu vô cùng chỉ muốn ra về liền. Hơ Ly tiễn tôi ra xe, tôi giận nàng lắm không nói một lời. Xe chạy hồi lâu tôi cũng nguôi ngoai dần. Tôi tự an ủi : Thôi cô ta đem chuyện ra kể cho mấy người trong cái làng Thượng hẻo lánh này cũng chẳng sao, ai ngờ sự việc không dừng lại ở đó. Mấy hôm sau tôi thấy các cô ở trong toà án tụm năm tụm ba lại đọc. Họ thấy tôi đi qua thì giấu, len lén đưa mắt nhìn trộm tôi rồi cười ruc rích. Thôi đích thị Hơ Ly lấy thư của tôi cho mấy người này xem rồi. Đọc xong mấy cô chuyển cho mấy cậu nhân viên xem. Mấy cậu này xem xong đưa cho ông chánh lục sự già xem, ông này trao lại cho ông chánh án thưởng thức thứ văn chương ái tình của tôi. Thực là những bức thư tình ướt át mùi mẫn có đôi chỗ pha thứ văn chương phòng the đồi truỵ. Khổ nhất là thời đó tuy tôi mới hơn hai mươi tuổi đã là một ông quan toà, đi dến đâu người ta cũng thưa bẩm. Một vị thẩm phán cầm cân nẩy mực giữ địa vị cao nhất nhì trong tỉnh lại làm cái chuyện lạ đời là viết thư tình cho một người con gái Thượng. Tôi chắc rồi đây thế nào cả cái thị xã Buôn Ma Thuột này cũng sẽ rõ chuyện. Cũng may không lọt về Bộ nếu không thì sự nghiệp của tôi cũng tan theo gió ngàn Buôn Ma Thuột .

Tôi gặp Hơ Ly trách :

– Tại sao em lại đem thư đọc cho cả làng nghe lại còn đem đến chốn công đường cho người ta xem ?

Không một chút ấp úng, Hơ Ly đáp :

– Ơ, anh viết hay quá mà, em đọc một mình nhiều lần rồi, phải cho người khác xem với chớ!

– Chuyện riêng tư ai lại cho người khác biết ?

– Cho người khác biết chớ, hề chi .

– Em không biết xấu hổ sao ?

– Chyện gì lại xấu hổ ?

– Chuyện kín của hai người mà .

– Chuyện đó có gì kín đâu? Trai gái ai lại không làm ?

Trước lời lẽ mộc mạc hồn nhiên của cô gái miền cao như thế này tôi làm sao trách cứ nàng cho được. Tôi chỉ biết trách mình đã không tìm hiểu đúng mức phong tục người miền núi mà đã dám yêu đương người ta. Thật đáng đời !

Sau đó hỏi chuyện một già làng tôi mới hiểu tâm tính khác thường của những cô gái miền Thượng du. Lão này nghe tôi hỏi thì trầm ngâm thả thứ khói thuốc mùi hăng hắc từ chiếc ống điếu làm bằng một lóng trúc dài với cái vỏ trái rừng khô. Lão ta dùng thứ tiếng lơ lớ giảng giải cho tôi hiểu đại khái rằng, người Êđê theo chế độ mẫu hệ, người nữ có quyền định đoạt mọi việc kể cả việc chọn người nào làm chồng. Con gái Thượng được kẻ nào yêu thương, nếu họ cũng thích người đó nữa thì họ sung sướng lắm. Họ thường đem chuyện yêu đương giữa hai người kể cho nhiều người khác biết để chung vui với họ. Ai ân giữa đôi trai gái là điều thiiêng liêng, tự nhiên, sạch sẽ như con chim con thú, không cần giấu diếm. Nhưng đem nhau vào rừng làm chuyện này thì họ kiêng cử lắm. Làng bắt được thì phạt vạ. Ông lão nói :

– Cái con mái quí lắm! Con gà mái, con heo nái, con chó cái đổi hai ba con đực người Thượng không đổi đâu. Con gái đi cưới chồng. “Bắt cái chồng” không mắc cỡ đâu!

Thời gian sau không hiểu vì sao Hơ Ly tìm cách tránh tôi. Mỗi lần thông dịch xong nàng tất tả đi ngay. Tôi tìm gặp hỏi chuyện, nàng nói :

– Thôi, không được đâu, không gặp nữa, không chơi nữa!

Tôi nói liều :

– “Bắt cái anh” về làm chồng đi !

Hơ Ly cười nói :

– Bắt không được đâu.

– Tại sao?

– Cha mẹ anh đòi nhiều lắm .

Tôi nói :

– Không đòi trâu dê cồng chiêng đâu. Cho em luôn, cho không, không đòi gì cả, cho luôn trái tim…

Hơ Ly lại cười. Ôi ! Nụ cười sơn cước chính hiệu một trăm phần trăm. Trong tôi trào dâng tình yêu nóng rực, tôi chồm tới ôm nàng vào lòng. Hơ Ly vùng vẫy kịch liệt. Tôi bắt chước mấy thằng tù, mấy tên lính nói càn một cách thô tục :

– Cho anh “bắt cái nước” (làm tình) đi !

– Không được, nói bậy! Người tử tế không được nói bậy. Không lấy nhau làm vợ chồng được đâu. Không lấy anh đâu. Không ngủ với nhau được đâu!

Tôi hỏi :

– Tại sao ?

– Không đẻ con ra tốt đâu…

Tôi kinh ngạc hỏi :”Tại sao?” Hơ Ly thì thầm như tiết lộ một điều bí mật huyền hoặc:”Trong buôn của em có chị Hơ Ring lấy anh lính người Kinh ở trung đoàn 45. Con đẻ ra chỗ trắng chỗ đen giống như con chó vá!”. Tôi lại hỏi :”Em có thấy không ?” Hơ Ly nói :” Không. Em nghe mấy người già trong làng nói. Họ không cho em cưới anh!”. Bây giờ tôi mới hiểu vì sao Hơ Ly lánh mặt tôi. Tôi nói :

– Họ nói bậy, không đúng đâu.

– Đúng mà, người già nói đúng mà !

– Tại sao em biết đúng ?

– Biết chớ. Rồi Hơ Ly kể cho tôi nghe:”Trong nhà em có nuôi con heo cái giống trắng. Tới thời kỳ, nó chạy vô rừng lấy con heo rừng. Con nó đẻ ra loang lổ. Mình lấy nhau con đẻ ra cũng như con heo lang!

Trời ơi cô gái cao nguyên này nghiên cứu cả sinh học. Lý lẽ nàng thực là hùng hồn, trắng đen lấy nhau con sinh ra chỗ trắng chỗ đen. Tôi biết đây là cách của mấy già làng nói doạ Hơ Ly. Tôi hỏi :

– Em không cưới anh thiệt sao ?

– Thiệt! Buồn lắm nhưng không cưới anh đâu. Không cưới ai hết. Sống như cái cây trong rừng vàng lá cành khô già đi rồi chết…

Lần này Hơ Ly ôm lấy tôi hôn rối rít vừa hôn vừa khóc. Không như những lần trước mở mắt ra nhìn, lần này nàng nhắm nghiền hai con mắt lại đẩy nước mắt ra ràn rụa chảy xuống đôi môi hai người làm cho cái hôn mặn chát…

Năm sau đó tôi đi khỏi Buôn Ma Thuột. Tôi về làm việc ở Huế rồi Quảng Ngãi. Được vài năm thì tôi xin thôi. Tôi chẳng có cái duyên mà cũng chẳng hợp với nghề xét xử con người. Từ đó tôi không còn biết tin tức gì của Hơ Ly. Tôi luôn luôn mong cho nàng có một cuộc sống tốt đẹp. Người như nàng xứng đáng được hưởng hạnh phúc trong tình yêu.

Quý Thể

TẠI SAO ĐẤT NƯỚC TA NHƯ THẾ NÀY?

TẠI SAO ĐẤT NƯỚC TA NHƯ THẾ NÀY?

Phạm Văn Chính

18-04-2015

Đất nước giàu có tại thiên nhiên

Ban tặng “tiền rừng bạc biển”

Người dân cần cù lao động

Có cả một vựa lúa đồng bằng Sông Cửu Long

Và châu thổ Sông Hồng

Xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới

Đất nước ta có biết bao tài nguyên hầm mỏ, đa dạng đủ loại không thiếu một thứ gì trong lòng đất, than khoáng sản, sắt, nhôm, đồng, chì, kẽm, thiếc, titan, suốt dãy núi Trường Sơn từ Nam ra Bắc, có cả một hệ thống sông ngòi lớn nhỏ hoàn chỉnh, giao thông thuận tiện.

Có 3.000 km bờ biển, có một thềm lục địa vĩ đại chạy dài từ vịnh Bắc Bộ đến các đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Bộ. Có cả hệ thống đảo ven bờ từ Bạch Long Vĩ Bắc Bộ đến đảo Phú Quốc, Nam Bộ. Đảo Phú Quốc to ngang tầm với đất nước Singapore.

Có biết bao nhiêu nhân tài trí thức, các nhà khoa học, các kỹ sư, giáo sư đủ loại cấp bậc, từ tiến sĩ, phó tiến sĩ, bùng phát nhiều như lợn con.

Còn có các nhà khoa học, nhiều bộ môn như kinh tế học, có cả một bộ máy nhà nước hoàn chỉnh ở các cấp bộ như Nông-Công-Thương nghiệp, Môi trường, Y tế. v.v…

Thế mà đời sống của người dân vẫn cực khổ. Tại sao???

Về nông nghiệp

Như đã nói ở trên, lúa gạo xuất khẩu ở nước ta đứng nhất nhì thế giới. Thế nhưng, mức thu nhập của người nông dân quá thấp, các phương tiện truyền thông cho biết, mức thu nhập bình quân của người nông dân trên 500.000 đ một tháng, tương đương 25 USD.

Vì mức sống quá thấp đó đã khiến hàng trăm nghìn cô gái rời bỏ quê hương đi lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc. Thậm chí lấy cả những ông già tàn tật, miễn sao thoát khỏi quê hương đau khổ. Rất nhiều câu chuyện đau lòng liên quan tới chuyện lấy chồng nước ngoài khác có thể tìm thấy ở trên các bài báo chính thống.

Ở nhiều nơi, nông dân chặt bỏ nhiều loại cây như cao su, ruộng mía vì bị ép giá không có người mua. Đáng lẽ ra nhà nước phải có ban điều phối đứng ra giải quyết những bất cập phát sinh có hại cho nông dân.

Về công nghiệp

Nước ta đã có các nhà máy ra đời cách đây nửa thế kỷ, như nhà máy đầu đàn khu Gang thép Thái Nguyên, cơ khí Hà Nội còn gọi là “Trung quy mô”, nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, Lương Yên, cơ khí Mai Động, Đồng Tháp, Minh Nam, Giải Phóng, Pin Văn Điển, nhà Máy Cao su, thuốc lá, Xà phòng, nhà máy dệt 8/3, Diêm Thống Nhất v.v…

Ta hãy tìm hiểu xem, thành tích tiến bộ của các nhà máy này có hiệu quả không? Hàng thập kỷ nay, như mọi người đã biết, sản phẩm chính của các nhà máy gang thép Thái Nguyên là thép xây dựng chưa làm được các loại thép công nghiệp như trục ray tàu hỏa, các loại thép công nghiệp phổ thông các cỡ U-I-L lớn nhỏ và các loại tôn kích cỡ dày mỏng cán nguội, cán nóng rất cần thiết cho ngành cơ khí chế tạo vỏ ôtô, mái nhà, tàu biển, mỗi năm các xưởng đóng tàu biển phải nhập hàng triệu tấn để làm vỏ tàu.

Đó là thực trạng ngày nay của nhà máy “Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên do Trung Quốc giúp đỡ”. Còn nhà máy cơ khí Hà Nội hay gọi là Trung quy mô do Liên Xô trước đây giúp đỡ xây dựng, chuyên sản xuất các loại, máy cắt gọt kim loại như máy tiện, máy khoan, máy phay bào và các dụng cụ cắt gọt .v.v… Thời gian trôi đi lạc hậu đeo bám so với thế giới gần một thế kỷ, hiện nay không biết ở đâu? Làm gì?

Nhà máy Trần Hưng Đạo chiếm cả một khu rộng lớn bao gồm mấy tuyến phố, Bà Triệu, Thái Phiên, Mai Hắc Đế chuyên sản xuất máy Bông Sen lắp vào xe công nông 3 bánh, mấy năm qua nhà nước cũng đã cấm loại xe này lưu hành vì nó xả khói bụi gây ô nhiễm môi trường và hay gây tai nạn.

Còn các nhà máy Đồng Tháp, Minh Nam, Lương Yên hình như đã xóa sổ, còn lại các nhà máy cao su, xà phòng, thuốc lá, cơ khí Mai Động, Giải Phóng, Pin Văn Điển đang cầm cự chờ số phận.

Nhà máy Pin ra đời cách đây nửa thế kỷ cũng chỉ sản xuất được hai loại pin Con Thỏ to đại, chưa làm được các loại pin “cúc” mỏng nhỏ sử dụng trong các đồng hồ nhỏ và đồ chơi trẻ em. Tại sao vậy? Với tình trang trì trệ, lạc hậu như vậy, làm sao công nhân, người lao động khá lên được?

Về thương nghiệp

Buôn bán trao đổi xuất nhập khẩu tổng hợp đa dạng các mặt hàng nông, lâm nghiệp, ngư nghiệp, khoáng sản, giày dép, quần áo và các thiết bị máy móc thiết bị điện tử, y tế, giao thông, tàu bè, ô tô…

Về xuất khẩu

Nước ta là nước nông nghiệp, chiếm 80% nông sản lúa gạo xuất đi các nước trên thế giới hàng triệu tấn mỗi năm, để các “thương lái” điều hành lũng đoạn thị trường vơ vét làm giàu bắt bí nông dân, mua với giá rẻ, không khác nào “cấy lúa trên lưng” người nông dân không am hiểu nắm bắt thị trường thế giới, bán phá giá cho các đối tác nước ngoài với số lượng lớn. Thua ngay cả Thái Lan về giá cả, làm thiệt hại cho nông dân và đất nước.

Về rau quả xuất đi nước ngoài cũng bị động thua thiệt, chủ yếu xuất sang Trung Quốc. Như mọi người đã biết, hàng năm “đến hẹn lại lên”, ngót một nghìn xe chở dưa hấu và các rau quả khác mắc kẹt ở cửa khẩu Tam Thanh tắc nghẽn đường chờ làm “thủ tục” ở phía Trung Quốc, chờ lâu hàng hóa ứ đọng thối nát phải đổ đi dọc đường, năm nào cũng diễn ra như vậy, thiếu phân bổ không nắm được hợp đồng chặt chẽ với đối tác trao đổi số lượng “chính ngạch” là bao nhiêu? Còn lại “tiểu ngạch” là bao nhiêu?

Ngược lại ta nhập của Trung Quốc rau quả, khoai tây, tỏi những thứ rau quả này tẩm hóa chất quá mức an toàn có hại cho sức khỏe. Chưa kể hết được các loại thực phẩm nhiễm vi khuẩn gây bệnh như thịt gà-bò-lợn ướp lạnh không rõ nguồn gốc, kể cả các loại ngũ tạng gà lợn ôi thiu v.v… Còn về xuất khẩu mặt hàng dệt may quần áo, giày dép chủ yếu là hàng gia công cho nước ngoài vì ta không có nguyên liệu.

Thua thiệt nhiều trong lĩnh vực trao đổi mua bán hàng hóa do sự lệ thuộc ít hiểu biết thị trường thế giới cập nhật hàng ngày, bỏ qua những thông tin bổ ích, thiếu suy nghĩ không biết làm, hàng năm đã xuất thô bao nhiêu khoáng sản kim loại quý như titan, aluminum (nhôm) v.v… với giá rẻ, làm cho đất nước nghèo đi. Vậy còn gì nữa đây?

Có lẽ xuất khẩu lao động là khả thi nhất, vì có nhiều mối lợi xóa đói giảm nghèo, người đi lao động phải nộp một khoản tiền. Nhiều người thậm chí bán cả nhà hoặc vay ngân hàng để đóng lệ phí, để đi sang các nước “tư bản bóc lột”, cũng kiếm được một số tiền kha khá đổi đời gửi tiền về cho gia đình và không ít những người bị lừa trắng tay, rơi vào cảnh bần cùng không lối thoát.

Bất kỳ ở đâu khi tiếp các lãnh đạo nước ngoài, đại diện của ta luôn kèm theo quảng bá chào hàng, lao động dư thừa giá rẻ hấp dẫn, ký kết hợp tác lao động có cả triệu người sang các nước kể cả Thái Lan, Malaysia, Singapore, Síp, thậm chí cả các nước Trung Đông thuộc châu Á như Qatar, các nước ARập rất giàu có về tài nguyên dầu mỏ nhưng ngược lại rất nghèo về đạo lý tình người. Ở nơi đó rất cần nhiều lao động để lấn biển, mở sân bay rộng lớn tầm cỡ nhất nhì thế giới; ở nơi đó thiếu văn minh đúng nghĩa của nó đối xử với lao động quá tồi tệ không có an toàn lao động, tai nạn chết chóc xảy ra thường xuyên với mức lương quá thấp so xới sức lao động bỏ ra. Nhiều người đã bỏ mạng nơi đất khách quê người vì nơi ăn ở thiếu thốn, ốm đau bệnh tật, nơi đó quả thật là địa ngục trần gian, qua các tư liệu thông tin hình ảnh cho biết.

Về nhập khẩu

Nhiều thiết bị, máy móc ta không làm được phải nhập loại có giá trị cả triệu USD, do đó nhập siêu nhiều hơn là xuất.

Nhiều thứ nhập rồi bỏ đi làm sắt vụn, đồng nát như máy bay, tàu biển, ụ nổi Vinashin và nhiều thiết bị khác không kể xiết, chỉ kể một số sự việc được các thông tin truyền thông đăng tải vừa qua. Trong nước có nhiều biển cảng, riêng cảng Hải Phòng chứa trên dưới 10.000 container siêu trường, siêu trọng loại to đổ phế liệu rác thải bỏ đi; những người mang về chứa hàng chục năm nay, chắc hẳn phải có thế lực họ không am hiểu về chuyên môn, hám lợi, thiếu cái tâm.

Về môi trường

Sức khỏe và sự sống của con người là do môi trường trong sạch, trong đó có nước và không khí, đặc biệt quan trọng với sức khỏe con người. Đất nước đang đi vào công nghiệp hóa, các nhà máy mọc lên khắp nơi, khói bụi và nước thải bừa bãi làm chết biết bao con sông, hóa chất độc hại thấm sâu vào đất, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và các loại rau quả, sinh vật, cá, tôm, tép đều chết, đã xuất hiện nhiều làng ung thư, gây nên nỗi đau cho người dân ốm đau mắc bệnh ung thư. Trách nhiệm này thuộc về cơ quan chức năng bảo vệ môi trường chưa làm hết trách nhiệm với dân, các chế tài chưa mạnh không có sự đền bù cho dân ốm đau bệnh hoạn ở các làng ung thư, người dân biết kêu ai? Hầu như không có một cơ quan nào đứng ra bắt các nhà máy phải đền bù cho dân, làm sống lại các con sông chết (việc này ở miền Nam làm tốt hơn miền Bắc).

Về y tế

Đời người ai cũng ốm đau, ít nhất cũng vào viện đôi ba lần, những điều muốn nêu lên ở đây là viện phí quá đắt so với mức sống thu nhập của người dân. Trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam, đi khám qua loa vài cái xét nghiệm cũng mất tới 4- 5 triệu, chưa kể tiền thuốc, mức chi phí này vượt quá mức lương lao động trong một tháng của người dân. Nếu bệnh nan y phải phẫu thuật, hóa trị, xạ trị vv… ôi thôi khỏi phải nói! Số tiền chữa bệnh có thể lên đến hàng trăm triệu thậm chí cả bạc tỉ. Người lao động làm cả đời cũng không để dành được số tiền đó. Nói về thẻ bảo hiểm, có hỗ trợ gì đâu vì bệnh nhân hầu hết là trái tuyến, không có thanh toán.

Tôi đã từng là bệnh nhân phải vào viện K điều trị trong hoàn cảnh 4 người nằm một cái giường con, giá tiền nằm một ngày là 80.000 đ; giường quá nhỏ, ngồi cũng không đủ cho 4 người. Vậy ban quản lý hay giám đốc có biết không? Còn rất nhiều chuyện kiếm tiền của bệnh viện nói ra thì trang giấy này không đủ. Nói riêng về thiết bị máy móc quá cũ, hỏng luôn, bệnh nhân phải chờ đợi, tôi là người trong cuộc thấu hiểu rõ cách đối xử với bệnh nhân của bệnh viện, hầu như tất cả các bệnh viện đều quá tải. Tại sao vậy?

Ốm đau nhiều, vì môi trường, vì tai nạn, ít am hiểu phòng bệnh. Để giảm tải sự ốm đau, tốt nhất là ngành y tế có phương pháp tổng thể tuyên truyền khắp nơi trên các phương tiện truyền thanh, truyền hình từ bản làng đến các xã, huyện, thành phố, dán áp phích, tờ rơi nói về cách phòng các loại bệnh. Cách làm này ít nhiều cũng có kết quả.

Là người Việt Nam, tôi thấu hiểu trình độ dân trí hãy còn thấp, ít ai quan tâm đến báo chí tin tức thời sự, chính trị, khoa học, kinh tế, xã hội… bỏ qua các thông tin bổ ích trong đời sống, chỉ thích các loại phim truyện tầm phào, hài hước, chuyện vui, chuyện hài vv…

Nắm được tâm lý ý dân, Bộ y tế, Bộ giao thông liên kết với Bộ văn hóa, cho ra đời những tiểu phẩm chuyên nói về cách đề phòng các loại bệnh và luật giao thông an toàn nhờ các diễn viên hề nổi tiếng đóng trong các tiểu phẩm hay clip chiếu rộng rãi trên các kênh TV hàng ngày giảm bớt chương trình quảng cáo thương mại hóa, lợi thì ít, hại thì nhiều. Các tiểu phẩm này nêu cả sai trái của người tham gia giao thông, trên các phương tiện đi bộ, đi xe đạp, xe máy, ô tô, nếu làm được những điều kể trên thì tin chắc tai nạn giao thông sẽ giảm và bệnh viện không còn nỗi lo quá tải.

Nhớ lại thời Pháp thuộc xa xưa cách đây gần một thế kỷ (70 năm) đã cho chiếu bộ phim hoạt hình ở khắp thành phố, bến xe, chợ quán. Bộ phim nói về 3 loại bệnh xã hội phổ thông như: lao phổi, tiêu chảy, sốt rét và cách phòng chống. Những ai xem đều có ấn tượng sâu sắc không thể nào quên. Tại sao Bộ Y Tế không làm được việc đó?

Ngày nay hệ thống truyền thông bùng nổ, các dạng truyền thanh, truyền hình suốt ngày đêm (24/24 tiếng) phát hầu hết các chương trình sinh hoạt chính trị.

Kỷ niệm năm này, năm kia của đất nước cũng như các ngành bộ đua nhau kỷ niệm ngày thành lập 5-10-20 năm v.v… chưa kể một số phim truyện nước ngoài quá dài, hàng trăm tập xen kẽ vào quảng cáo nhiều, còn đưa ra chương trình văn hóa giáo dục công dân.

Có lẽ truyền hình Việt Nam đứng đầu về quảng cáo so với các hãng truyền thông trên thế giới như CNV- Nhật Bản (NHK World), Dicovery, National – Geogranphic – Pháp v.v…

Nếu không sớm bừng tỉnh, mở tầm mắt nhìn ra thế giới, tương lai Việt Nam sẽ đi về đâu? Nguyên nhân tại sao đất nước Việt Nam như thế này? Ở cái tuổi gần đất xa trời, sống trong tổ quốc, tôi đang tìm hiểu lý do tại sao?

Xin phép được nói rõ: Tôi là người dân (đúng nghĩa của dân thường) bị loại bỏ, không được làm ở cơ quan nhà nước, cũng không được học ở trường lớp nào, tự học nghiên cứu đa lĩnh vực khoa học, công nghệ, chế tạo, kinh tế, chính trị, văn hóa v.v… Lao động làm thợ ở các HTX thủ công từ thời bao cấp (HTX) cho đến khi HTX giải thể (tan rã). Về hưu tay trắng, không có lương hưu. Gần suốt cuộc đời “cầm búa”, đến nay mới cầm bút, viết bài này chắc chắn hãy còn nhiều thiếu sót, mong mọi người đóng góp thêm.

Phạm Văn Chính

37 Lý Nam Đế – Phường Hàng Mã

Quận Hoàn Kiếm – Hà Nội

ĐT: 097.52291

‘Vực Xoáy- Tiếng uất gào còn vang vọng trên Biển Đông’

‘Vực Xoáy- Tiếng uất gào còn vang vọng trên Biển Đông’

Nguoi-viet.com

Châu Thụy ra mắt sách về thuyền nhân

Thiên An/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Khó mà có đủ lời nào để diễn tả hết được những ý nghĩ mà tập truyện Vực Xoáy tạo ra trong lòng người đọc. Một cách ngắn ngọn, Vực Xoáy là một câu chuyện tình đầy yêu thương và cũng đầy nước mắt của hai thuyền nhân, một nam một nữ trong độ tuổi mười tám đôi mươi trước những biến loạn của xã hội Việt Nam sau 1975.

Tập truyện Vực Xoáy của tác giả Châu Thụy. (Hình: Châu Thụy)

Nhưng chẳng đơn giản thế, Vực Xoáy không chỉ xoay quanh Vũ và Vân, mà còn là cuộc đời và số phận của những người trong gia đình họ và trong xã hội miền Nam lúc bấy giờ. Biết bao con người đã đánh cuộc với mạng sống để lên thuyền ra đi. Giờ đây, từng trang sách lột tả trần trụi những bất hạnh đau đớn của họ.

Lối viết chân thật, đơn giản, khiến người đọc khó mà dừng lại. Nếu đã mở trang đầu, người ta sẽ chỉ gấp sách lại khi biết được kết cục câu truyện. Văn phong giàu hình ảnh và âm thanh, Vực Xoáy là một thước phim đưa độc giả hòa vào thế giới đủ cung bậc cảm xúc của những ngày loạn cuối thập niên 80, trên biển cả, giữa sóng gầm, bão tố, và những ác dục không tưởng tượng nổi của con người.

Với tác giả Châu Thụy, một cái tên gắn liền với nghệ thuật Bút Họa hơn là văn chương, đây là tập truyện đầu tiên. Châu Thụy cho biết, năm năm là thời gian tính từ khi bắt đầu đến khi kết thúc cuốn tiểu thuyết đầu tay này, với quá trình thu thập tài liệu và phỏng vấn những nhân chứng còn sống sót sau những tai nạn bi thương nhất trên biển cả. Bản thân tác giả cũng là một thuyền nhân, vượt biên năm 1980.

Sau đây là cuộc trao đổi ngắn tác giả Châu Thụy dành cho nhật báo Người Việt.

Tác giả Châu Thụy. (Hình: Châu Thụy)

Người Việt (NV): Đằng sau hai chữ “Vực Xoáy” là những ý nghĩa gì?

Châu Thụy: Dân tộc Việt Nam mình vươn lên từ vực xoáy. Khi mất nước, tất cả mọi người bị xoáy vào một vực vô hình- vực xoáy của hoàn cảnh. Trong số những người cố thoát ra, có người sống sót, có người đã phải bỏ mình.

NV: Cơ duyên nào thôi thúc tác giả viết nên cuốn sách đầu tay này?

Châu Thụy: Tôi yêu thích nghệ thuật thư pháp. Từ 2003 đến 2007, tôi tập trung cho bút họa, cũng tương tự thư pháp nhưng dùng chữ quốc ngữ vẽ chữ cùng tranh. Nhưng tôi cũng là một thuyền nhân.

Từ lúc ở trong nước, khi tìm cách vượt biên, đến lúc sang được trại, tôi chứng kiến quá nhiều chuyện, những đau khổ vẫn còn ăn sâu trong đầu tôi, cũng như với bạn bè tôi. Những bộn bề cuộc sống ở Mỹ làm người ta có thể tạm gác lại những nỗi đau cũ, nhưng thực sự chẳng thể quên được. Một lần khi tôi bút họa chữ “thuyền nhân,” tôi nghĩ đến hàng ngàn người chết trên đường vượt biển, và tôi muốn làm điều gì đó cho họ. Tôi muốn tự nhắc nhở cho tôi, và cho mọi người, đừng bao giờ quên những người đã bỏ mạng trên đường tìm tự do.

NV: Dù đã có nhiều sách viết về thuyền nhân, Vực Xoáy mang lại một cảm xúc rất khác, rất đặc biệt, đến người đọc. Tác giả làm thế nào để tạo nên điều này?

Châu Thụy: Trước giờ đã có nhiều người viết về vượt biên, mỗi con tàu là một câu chuyện tang thương, nhưng với tính cách phóng sự. Tôi muốn viết một câu chuyện tình cảm, của Vũ và Vân, để người đọc có thể dễ dàng theo dõi câu chuyện cụ thể của hai nhân vật mà thấy được toàn cảnh bấy giờ.

Tôi phỏng vấn rất nhiều người, lắng nghe câu chuyện của chính bản thân họ. Nó kinh khủng lắm. Đến giờ họ vẫn còn uất nghẹn như chuyện mới xảy ra ngày hôm qua. Tôi gửi gắm tất cả những xúc cảm của các cô gái nạn nhân vào nhân vật Vân, để người đọc cảm nhận được nỗi đau khổ. Vũ và Vân tượng trưng cho những người trẻ mới lớn – đang đầy nhựa sống, ao ước một tương lai tốt đẹp thì biến cố 1975 xảy ra đưa mọi thứ vào bế tắc và tuyệt vọng. Bên cạnh đó là những nhân vật và thành phần khác trong xã hội thời bấy giờ, những người lớn hơn bị chế độ mới vùi dập, đến những kẻ cơ hội bạo ngược…

Tiểu thuyết có một phần nhỏ hư cấu. Tất cả các chi tiết đều là sự thật, từ phục quốc quân, lá cờ vàng, bị bắn trên thuyền… của tôi và của những nhân chứng mà tôi có may mắn được gặp. Sự hư cấu là trong cách sắp xếp những chi tiết lại, để giúp các câu chuyện trôi chảy mạch lạc và ngắn gọn hơn trong khuôn khổ một cuốn sách.

NV: Vực Xoáy sẽ khơi lại nỗi đau đớn tột bậc của rất nhiều người, đặc biệt là khi xuất hiện đúng vào dịp cuối Tháng Tư này. Tác giả có nghĩ đến điều đó?

Châu Thụy: Tôi muốn gửi cuốn sách đến những người trẻ, những người đến sau, và những người trong nước, những người không biết những gì xảy ra ngoài biển trong thời gian đó. Có thể họ nghe kể, họ biết, nhưng có rất nhiều chuyện họ không hiểu hết được những đau thương. Mượn câu chuyện tình cảm của Vân và Vũ, tôi viết tiểu thuyết để mọi người có thể theo dõi và cảm nhận một cách dễ dàng hơn.

50 năm sau, 100 năm sau, những nhân chứng của thời vượt biên như chúng tôi sẽ không còn nữa, thì những cuốn sách này để họ hiểu được người vượt biên đã phải đau khổ như thế nào. Đọc, hiểu, buồn, so sánh để biết được rằng mình may mắn không phải chọn hai chữ tự do bằng con đường vượt biên.

So sánh để thấy rằng mình hạnh phúc. Tôi vẫn nhớ lúc lên được đến bờ, cứ thấy một hột cơm trắng là tôi chảy nước miếng. Lúc đi tôi 19 tuổi, mất mát hết, thấy người ta ăn là mình thèm. Đến giờ dư dả rồi tôi vẫn quý thức ăn, không dám phung phí dù chỉ một tí.

NV: Hoàn thành cuốn sách sau năm năm, một khoảng thời gian không hề ngắn, tác giả có thực hiện được ý muốn ban đầu là giúp người đọc cảm nhận được những gì thuyền nhân đã trải qua?

Châu Thụy: Tôi không phải là nhà văn, nhưng tôi viết bằng tất cả tim óc của mình. Không chỉ của tôi, mà của tất cả những nhân chứng tôi có dịp gặp. Tôi vẫn nhớ những người tức giận bóp chặt trào ly nước khi kể lại chuyện cũ, những người phải uống thuốc để dằn bớt nỗi đau tinh thần, giúp tôi viết đi viết lại đến khi nào lột tả được đúng cảm xúc của họ mới thôi. Lắng nghe họ kể, họ khóc, họ uất hận, tôi nhiều lúc cũng rưng rưng chịu không nổi nữa. Tôi viết cho đến khi chính người nhân chứng cho biết những lời văn đã tả được cảm xúc thật của họ. Tuy vậy, tôi biết khó có thể mà tả hết được tất cả những gì thuyền nhân và dân tộc Việt Nam đã phải chịu trong giai đoạn đó.

NV: Cám ơn tác giả Châu Thụy đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn này.

Vụ biểu tình chặn QL1A: Đừng xem thường người dân

Vụ biểu tình chặn QL1A: Đừng xem thường người dân

Nam Nguyên- RFA
2015-04-17

vdb041715.mp3

traffic-blocked-620

Xe ùn tắc trên quốc lộ 1A

RFA file

Your browser does not support the audio element.

Cuộc biểu tình bạo động chặn Quốc lộ 1A trong 30 giờ từ chiều 14 đến đêm 15/4/2015, làm kẹt xe hàng chục km ngang qua huyện Tuy Phong và Thuận Nam tỉnh Bình Thuận, đã gây chấn động dư luận toàn quốc. Điểm đáng chú ý, nguyên nhân của sự phản kháng giận dữ là vì môi trường sống của người dân địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng. Cư dân xã Vĩnh Tân huyện Tuy Phong đã phải hít thở bầu không khí ngập ngụa khói bụi xỉ than được xả thải từ Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2. Khiếu nại nhiều lần mà tình trạng ô nhiễm không giảm nên cuối cùng sự nổi giận của người dân đã bùng phát thành biểu tình và khi bị ngăn chặn thì bạo động đã xảy ra. Theo Vn Express, trong quá trình chặn quốc lộ 1A, nhiều người được cho là quá khích khi dùng đá, bom xăng (tức chai chứa xăng có nùi giẻ mồi lửa) tấn công lực lượng chức năng khiến nhiều người bị thương. Một khách sạn và 3 ô tô gần khu vực bị hư hại nặng.

Tương đồng: phản ứng của dân

Có điều gì tương đồng khi vụ biểu tình bạo động chặn QL 1A đã diễn ra không lâu sau các vụ đình công qui tụ 90.000 người ở Saigon để phản đối một điều khoản của Luật Bảo hiểm Xã hội; hay các vụ xuống đường ở Hà Nội để chống chính quyền chặt hạ cây xanh vô tội vạ. TS Nguyễn Quang A nhà hoạt động Xã hội Dân sự từ Hà Nội nhận định:

SB: “ Những phản ứng của người dân đối với quyền lợi của họ chứng tỏ người dân càng ngày càng ý thức về quyền và lợi ích của mình và họ đã cất tiếng nói lên. Nhà nước cần tạo ra những khuôn khổ pháp lý để cho người dân thể hiện tiếng nói của mình một cách hữu hiệu ôn hòa. Không có những khung khổ như thế, không có sự đối thoại như thế giữa người dân với nhà nước thì rất đáng tiếc, những việc cất tiếng nói đấy có thể có những hậu quả rất khó lường và có thể có hại cho tình hình chung của đất nước. Nếu những việc cất tiếng nói ấy dẫn đến bạo loạn, dẫn đến những thiệt hại không đáng có.”

power-plant

Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân, Bình Thuận

Ô nhiễm “khủng khiếp”

Báo điện tử Pháp luật (PLO) trong bài tường thuật ngày 16/4 ghi nhận “Cận cảnh bãi xỉ khổng lồ lộ thiên gây ô nhiễm khủng khiếp”.  Theo quan sát của nhà báo, nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 có bãi chứa vặng xỉ thải rộng tới 30.000 m2, khu vực này lộ thiên không có tường che chắn, bụi xỉ bay mịt mù vào nhà dân. Khi có gió lốc thì toàn khu vực xã Vĩnh Tân chìm trong bão bụi xỉ, trẻ em bị bệnh hô hấp khó thở. Người dân phản ánh, từ tháng 12/2014 bắt đầu bị bụi xỉ, thì toàn bộ cây trôm cây hoa màu đều không thể sống nổi. Ngay cả tôm cá trong ao cũng chết sạch.

Một người dân xã Vĩnh Tân Huyện Tuy Phong tỉnh Bình Thuận cũng nói với Đài chúng tôi câu chuyện tương tự:

SB: “ Người ta chặn xe do hệ thống lọc bụi lọc khí của nhà máy Vĩnh Tân thải bụi than ra mỗi ngày, nó đổ ra từng đống tro bụi xỉ rồi gặp gió lớn thuận chiều bay tới người dân làm cho người dân bức xúc…”

Được biết dự án Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 có tổng mức đầu tư 23.000 tỷ đồng, chủ đầu tư là Điện lực VN một Tập đoàn Nhà nước. Các thông tin trên mạng cho thấy trong 3 năm xây dựng thi công nhà máy này cho tới khi hoàn thành cuối năm 2013, Hội đồng Nghiệm thu Nhà nước đã trực tiếp kiểm tra nghiệm thu từng giai đoạn một, bảo đảm các yêu cầu về môi trường theo các tiêu chuẩn của Việt Nam và quốc tế. Tuy vậy hai tổ máy với tổng công suất thiết kết 1.244 MW mới lần lượt vận hành một thời gian khoảng hơn 1 năm, mà vấn đề xả thải đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

TS Phạm Sĩ Liêm, Phó Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Xây dựng từ Hà Nội nhận định:

SB: “ Công trình lớn như thế này tất nhiên phài có đánh giá tác động môi trường khi làm dự án chứ không phải là đợi xong mới xem. Nếu mà đã được nghiệm thu nhà nước thì tôi chắc rằng những thủ tục ấy là người ta đã kiểm tra. Thế nhưng trong thực tế thì nó lại diễn ra những điều như là vấn đề ô nhiễm môi trường, điều này chứng tỏ rằng việc có những kẻ hở nào đó mà họ không tuân thủ, hoặc ngay trong lúc vận hành họ bỏ qua những khâu nào đó. Ví dụ như tôi biết có nhiều khu vực thì có hệ thống xử lý nước thải nhưng người ta không dùng vì kinh phí tốn kém; họ xây ra đấy để nghiệm thu cho có chứ vận hành thì không làm. Những chuyện đó đều có cả, tôi không biết trong trường hợp này cụ thể là gì. Nhưng tôi chắc rằng trong việc vận hành có thiếu sót, có những việc không đúng theo như đã duyệt. Khi mà nhân dân đã có phản ứng như vậy thì các cấp chính quyền, đặc biệt là Bộ Tài nguyên Môi trường phải vào cuộc và nhanh nhất thì Cảnh sát Môi trường phải vào cuộc.”

Yếu tố Trung Quốc: lạc hậu, ô nhiễm

Lướt mạng ngược dòng thời gian, vietbao.vn bản tin trên mạng ngày 17/12/2010 đưa tin Ngân hàng Xuất khẩu Trung Quốc tài trợ 300 triệu USD tín dụng ưu đãi cho Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2, chưa kể vay thương mại và ODA cũng của Trung Quốc. Như vậy Tập đoàn Điện lực VN chỉ phải bỏ ra 15% tổng vốn đầu tư cho Dự án. Sự lệ thuộc nguồn vốn Trung Quốc cho nên hợp đồng tổng thầu EPC xây dựng Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 cũng được giao cho một công ty Trung Quốc là Tập đoàn Điện khí Thương Hải.

Câu chuyện Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 với các yếu tố Trung Quốc làm các chuyên gia bày tỏ sự lo ngại về công nghệ lạc hậu và ô nhiễm môi trường. TS Nguyễn Quang A nhận định:

SB: “ Vấn đề hết sức nghiêm trọng bởi vì các nhà thầu Trung Quốc viện vào chính sách của Chính phủ Trung Quốc cung cấp và dàn xếp về vốn và những người chủ đầu tư Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp quốc doanh thì hăm hở chấp nhận những nhà thầu như vậy. Rất đáng tiếc Việt nam có thể trở thành một cái bãi thử nghiệm cho họ và một cái bãi thực sự là để xả rác công nghệ.”

TS Nguyễn Quang A kêu gọi những người có trách nhiệm giải quyết tận gốc vấn đề ô nhiễm môi trường của Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 thay vì sử dụng công cụ truyền thông nhà nước để lý giải loanh quanh.

Đáp câu hỏi của chúng tôi là để giải quyết tận gốc vấn đề công nghệ lạc hậu của Trung Quốc, vấn đề ô nhiễm môi trường như trường hợp Vĩnh Tân 2 thì cụ thể có thể làm gì. TS Nguyễn Quang A tiếp lời:

SB: “ Việt Nam đã có những qui định về đấu thầu hoặc những qui định ngặt nghèo về các tiêu chuẩn. Nhưng rất đáng tiếc tất cả những gói thầu chìa khóa trao tay hay tổng thầu EPC…thì bản thân người chấm thầu, quyết định thầu tức các doanh nghiệp nhà nước, hay bản thân chính quyền VN đã không theo đúng những qui trình do chính họ đưa ra trong Luật Đấu thầu. Và họ chỉ tính đến cái giá mới đầu tưởng là rẻ, cuối cùng nó nảy sinh vấn đề như nhà máy nhiệt điện chúng ta đang nói tới, nó sẽ gây ra rất nhiều hậu quả. Hoặc như các nhà máy bauxite ở Tây Nguyên, những khoản đầu tư đó tưởng như là rẻ, nếu tính hết các khoản khác mà theo Luật Đấu thầu của VN bây giờ phải tính đến, thì những gói thầu đấy những nhà thầu kém chất lượng như của Trung Quốc không bao giờ thắng thầu được. Thực sự ở đây có vấn đề chính trị đứng đằng sau, cho nên dẫn đến kết quả đầu tư kém hiệu quả, tưởng như là rẻ nhưng thực sự rất là đắt đỏ .”

coal-dirt

Bụi xỉ than để bừa bãi, bay hết vào làng

Khó giải thích

Sau khi cuộc biểu tình bạo động chặn quốc lộ hơn 30 giờ trở thành một vấn đề quốc gia, theo VnExpress Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải vội vàng lên tiếng yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam giải quyết. Ông Hải yêu cầu các Bộ ngành hữu quan chỉ đạo thực hiện gấp rút giải pháp sử dụng tro, xỉ tại Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân làm vật liệu xây dựng không nung, phụ gia xi măng…

Tại sao tác động môi trường lại không thể tiên liệu trước mà phải đợi dân biểu tình mới chữa cháy. Đây là một sự thực khó lòng giải thích.

Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân hiện nay mới chỉ có một nhà máy Vĩnh Tân 2 được vận hành, theo kế hoạch từ nay tới 2019 ở khu vực huyện Tuy Phong Bình Thuận sẽ có thêm 3 nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân khác được xây dựng để góp phần ổn định nguồn điện cho các tỉnh thành lân cận. Trong 4 nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân chỉ có dự án Vĩnh Tân 4 đang xây dựng dự trù hoàn tất vào năm 2018 là có nguồn tín dụng tài trợ của Hàn Quốc và Nhật Bản và sử dụng tổ hợp nhà thầu Hàn Quốc-Nhật Bản-Việt Nam. Các Dự án Vĩnh Tân 1 và 3 cũng tương tự như Vĩnh Tân 2 lệ thuộc nguồn vốn và tổng thầu Trung Quốc.

BÌNH AN CHO CÁC CON

BÌNH AN CHO CÁC CON

Trên những chuyến xe khách, xe buýt, các bến xe… người ta thường thấy những hàng chữ “chúc quý khách thượng lộ bình an.”  Người tài xế Công giáo treo hình Đức Mẹ trên xe có kèm theo hàng chữ “Nữ Vương ban sự bình an.”  Người tài xế Phật giáo treo hình Đức Phật, dù có hay không có hàng chữ nào, trong lòng họ vẫn cầu mong Đức Phật ban bình an.

Theo Hán tự, chữ “bình” có nghĩa là bằng phẳng, đều hòa, hòa hợp, thoải mái, chữ “an”, theo cách viết là “người nữ ở trong nhà”, có nghĩa là được bảo vệ, an toàn.  Như vậy, bình an nói lên trạng thái tâm hồn, trạng thái nội tâm thư thái, an hòa, vui tươi, bình thản, vững chắc.  Do đó, bình an khác với hòa bình.  Hòa bình nói lên trạng thái bên ngoài: không còn cạnh tranh, không còn chinh chiến, xô xát, súng đạn, gươm đao.  Cho nên có khi có hòa bình nhưng không có bình an.  Nhân loại thì khao khát hòa bình, còn mỗi người thì khao khát bình an.

Chúa Giêsu sống lại từ ngày thứ nhất trong tuần đã hiện ra với các môn đệ và ban bình an cho các ông.  Lời đầu tiên của Chúa Phục Sinh là: “ Bình an cho anh em” (Ga 20,19-21).  Bình an là hồng ân của Chúa Phục Sinh ban cho các môn đệ (Ga 20, 26; Lc 24, 36).

Các sách Tin Mừng và Công vụ Tông đồ thuật lại: mỗi lần Chúa Giêsu hiện đến đều thấy các môn đệ hội họp trong nhà, cửa đóng then cài vì sợ người Do thái.  Khi Chúa hiện diện, sự sợ hãi của các môn đệ tan biến và các ông có được niềm vui, bình an, can đảm.

“Thầy ban bình an của Thầy cho anh em… anh em đừng xao xuyến, đừng sợ hãi” (Ga14, 27). Có một sự khác biệt cơ bản giữa bình an “thế gian ban tặng” và “bình an Đức Giêsu ban tặng.”

1. Bình an Chúa Giêsu là bình an trong tâm hồn

Chúa Giêsu Phục sinh là niềm vui lớn lao nhất của các Tông Đồ và của các phụ nữ đạo đức.  Niềm vui nhân lên gấp bội khi Chúa trao quà tặng Bình an.

“Bình an cho các con.”  Khi tâm hồn của các Tông Đồ hoang mang lo lắng buồn vui lẫn lộn về sự việc Chúa chết và sống lại, thì lời chúc lành của Chúa Giêsu rất đúng lúc để củng cố đức tin và đem lại an bình cho tâm hồn của các ông.

“Bình an cho các con.”  Sự bình an này không giống bình an của người đời ban tặng.  Sự bình an của người đời là tạm bợ và sẽ không tồn tại, bởi vì người đời chỉ dựa vào của cải vật chất để trấn an tâm hồn đầy bất an.  Người ta chúc nhau được bình an, nhưng không ai tìm được bình an trong cuộc sống.  Người giàu có thì cảm thấy bất an khi đêm về vì sợ kẻ trộm.  Người có địa vị thì sợ kẻ khác chiếm đoạt, lật đổ.  Người mạnh khoẻ thì sợ đau ốm.v.v… tất cả đều ở trong trạng thái mất bình an.

Có câu chuyện kể rằng: trong triều của một vua nọ có hai họa sĩ rất tài ba nhưng luôn ganh ghét đố kỵ nhau.  Một hôm nhà vua phán: “Ta muốn phán quyết một lần dứt khoát ai trong hai ngươi là người giỏi nhất.  Vậy hai ngươi hãy vẽ mỗi người một bức tranh theo cùng một đề tài, đó là bình an.”

Hai họa sĩ đồng ý.  Một tuần sau họ trở lại, mỗi người mang theo bức vẽ của mình.  Bức họa của người thứ nhất vẽ một khung cảnh thơ mộng: những ngọn đồi nhấp nhô bao quanh một cái hồ rộng với mặt nước phẳng lì không một gợn sóng.  Toàn cảnh gợi lên một cảm giác thanh thản, thoải mái.  Sau khi xem xong, nhà vua nói: “Bức họa này rất đẹp, nhưng trẫm chưa hài lòng.”  Bức họa của người thứ hai vẽ một thác nước.  Hình ảnh rất sinh động đến nỗi nhìn nó người ta như nghe được tiếng nước đổ ầm ầm xuống vực thẳm.  Nhà vua nói: “Đây đâu phải là một cảnh bình an.”  Họa sĩ thứ hai bình tĩnh đáp: “Xin bệ hạ nhìn kỹ hơn một chút nữa xem.”  Nhà vua nhìn kỹ và khám phá một chi tiết mà ông chưa chú ý: Trong một nhành cây nép mình sau dòng thác lũ, có một tổ chim. Trong tổ, chim mẹ đang ấp trứng, đôi mắt nửa nhắm nửa mở.  Chim mẹ đang bình thản chờ các con mình nở ra.  Nhà vua nói: “Ta rất thích bức tranh này.  Nó đã chuyển tải được một ý tưởng độc đáo về bình an, đó là vẫn có thể sống bình an ngay giữa những xáo trộn của cuộc đời.”  Và nhà vua đã trao giải nhất cho tác giả bức họa này.

Bình an không phải giống như yên ổn, vì yên ổn là ở bên ngoài còn bình an thì ở bên trong.

Bình an là tình trạng của một tâm hồn đang có tương quan tốt với Thiên Chúa và với tha nhân.  Thành tố quan trọng của bình an là sự công chính.  Bởi thế, không có bình an cho kẻ dữ.

Bình an là kết quả của lòng trông cậy vào Chúa và khi ước muốn làm đẹp lòng Chúa là điều quan trọng bậc nhất trong đời.  Đây là điều mà ta có thể có ngay giữa những xáo trộn, xung đột và những vấn đề rắc rối chưa giải quyết được.

Chỉ có Bình An của Chúa mới làm cho chúng ta được hạnh phúc.  Bởi vì bình an là thông hiệp với Thiên Chúa.  Chúa Giêsu đang hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa nên Ngài vẫn có thể nói về bình an ngay cả khi kẻ thù của Ngài đã đến gần và sắp giết chết Ngài.

“Bình an cho các con.”  Thế giới như đang sống trên một lò lửa.  Chiến tranh, khủng bố, thiên tai, động đất…  Thế gian chưa có bình an.  Cho nên sự Bình An của Chúa Giêsu vẫn luôn có giá trị đích thực cho nhân loại, cho những tâm hồn khắc khoải tìm kiếm bình an trong cuộc sống.

2. Hoa quả của Bình An

Có nhân thì có quả.  Có tranh chấp thì sinh ra hận thù, có ghét ghen thì sinh ra mưu mô thủ đoạn. Đó chính là chuyện nhân quả mà hằng ngày chúng ta đều thấy và biết.  Việc lành cũng như việc xấu, mọi thứ đều có nhân quả của nó.

Hoa quả của Bình An là: yêu thương, tha thứ,  bao dung,  quảng đại,  khiêm tốn,  nhẫn nại, nhịn nhục…

Khi trong tâm hồn có sự bình an của Chúa Giêsu Phục Sinh, thì chúng ta biết thông cảm với người làm ta bực mình, dễ dàng cảm thông với những người không yêu mến, sẽ khiêm tốn hơn trong lời nói trong cử chỉ thái độ của mình…  Hoa quả của bình an chính là tình yêu của Chúa Kitô thúc bách chúng ta làm việc thiện, thúc bách chúng ta vì anh em mà phục vụ như Chúa Kitô đã phục vụ, như các thánh Tông Đồ đã phục vụ Giáo Hội.

Hoa quả bình an thể hiện bằng tiếng cười, niềm vui, hạnh phúc trong gia đình, an hòa thư thái trong tâm hồn.

Hoa quả bình an cũng chính là sự thật.  Ta cảm thấy bình an khi mình sống ngay thẳng, sống theo sự thật.

Con người ta ai cũng muốn có bình an trong tâm hồn, nên luôn cầu chúc cho nhau được bình an.  Nhưng sẽ không có bình an thật, nếu tâm hồn không có tinh thần Phục Sinh của Chúa Kitô, tinh thần đổi mới con người cũ trở nên con người mới sống theo hướng dẫn của Thánh Thần.

Con người ta ai cũng cần sự bình an, có khi còn cần hơn cả cơm ăn áo mặc nữa.  Chúa luôn muốn ban bình an cho chúng ta.  Giáo hội cũng mong muốn như vậy.  Cho nên mỗi khi tham dự thánh lễ, linh mục thay mặt Chúa và Giáo hội cầu chúc: “Bình an của Chúa ở cùng anh chị em,” rồi linh mục nói với chúng ta: “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau.”  Có bình an của Chúa ở nơi mình, chúng ta mới có bình an để chia sẻ cho nhau.

Bình an là một hồng ân Chúa ban và cũng là một trách nhiệm.  Không phải chúng ta chỉ cầu khẩn và tìm kiếm bình an cho mình mà còn phải là “khí cụ bình an của Chúa,” góp phần tạo nên bình an cho mọi người và cho toàn xã hội.

Ước gì cuộc đời của tôi của bạn, trong mọi nơi mọi lúc, nhất là lúc cam go sợ hãi thử thách luôn nghe được lời chúc bình an của Chúa Phục Sinh: Bình an cho anh em.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Bé Biển

​​Bé Biển

Những con người tử tế.(chuyện có thật)

Trên tường, lẫn trong nhiều bức hình rất đẹp được chụp từ một ống kính chuyên nghiệp là tấm hình của chiếc ghe mong manh, nhỏ bé, bồng bềnh trên đại dương. Trên khoang ghe, các thuyền nhân Việt Nam (những boat people đã đánh động lương tâm thế giới vào những năm 70s và 80s) mặt mày ngơ ngác mệt mỏi nhưng mắt sáng lên hy vọng. Đó là món quà tặng cho BS HQM từ một thuyền nhân cùng tàu vượt biển năm xưa.

blank

Ảnh con thuyền vượt biển đó vị thuyền trưởng một tàu buôn của chụp trước khi đón mọi người lên tàu. BS. Vinh đứng ở mũi thuyền, tay cầm một thùng rỗng để xin nước từ con tàu gặp giữa Thái Bình Dương JUN 1979.

Mọi người trên ghe gọi em là “công dân của đại dương” vì em sinh ra giữa biển trời mênh mông, không thuộc hải phận của quốc gia nào, vào một đêm trời chuyển mưa, trời không trăng sao, lâu lâu có những tia chớp lóe lên soi sáng đêm đen.

Chiếc ghe rời cửa biển Long Hải lúc nửa đêm về sáng để tránh công an biên phòng, đưa gần bảy mươi thuyền nhân trốn khỏi quê cha đất tổ, đem sinh mạng mình đánh cuộc với định mệnh để tìm tự do và tương lai. Trong số đó có hai vợ chồng trẻ, người vợ ốm yếu mảnh mai, lại mang thai lần đầu, mặc hai ba lớp áo quần nên hinh như không ai biết chị có thai đã bảy tháng, ngoài anh chồng trẻ cũng mảnh khảnh như chị.

Mà nếu có biết cũng chẳng ai còn tâm trí nào để nghĩ đến chuyện người khác khi trong lòng mình cũng “ngổn ngang trăm mối”. mà mối lo lớn nhất là có thể bị bắt lại, bị nhục hình, bị tù tội trong khi mình không có tội gì hết, chỉ bỏ xứ ra đi, bỏ ông bà cha mẹ, bỏ tất cả ra đi vì muốn có tự do.

Vừa đặt chân lên sàn ghe, tất cả mọi người đều được đưa xuống lòng ghe để bảo đảm an toàn. Nếu có bất cứ ghe tàu nào đi ngang, nhìn vào người ta chỉ thấy trên khoang ghe có vài ngư phủ đi thả lưới ban đêm để có được một ít cá tôm tươi cho vợ hoặc mẹ mang ra bán ở buổi chợ sáng ngày mai. Nhất là vào ban đêm, ánh đèn bão tù mù, vàng úa giúp những người đang trốn chạy khỏi quê hương che được nét ưu tư lo lắng.

Phía dưới lòng tàu, thông thường chỉ để lưới, xăng dầu, thức ăn của ngư phủ, mấy thùng nước ngọt, và mấy thùng đựng cá tôm lưới được vào những hôm ra khơi nhiều may mắn. Vậy mà bây giờ gần bảy mươi con người ngồi chen chúc, không khí đã thiếu lại càng ngột ngạt hơn khi rất nhiều người bị say sóng ói mửa ngay trên sàn tàu, trên áo quần của mình hay của người ngồi bên cạnh. Không ai nói với ai tiếng nào. Khi ghe chưa ra đến hải phận quốc tế, người ta chưa sợ chết vì đại dương bao la, vì thiếu nước ngọt, thiếu thức ăn, mà đích đến thì còn ở xa mù tít tắp, nhưng nỗi sợ bị công an biên phòng bắt được thì tù tội, nhục hình cũng kinh hoàng như nỗi chết. Nỗi sợ đó lớn quá, bao trùm lên mọi thứ, át đi sự ngột ngạt trong một hầm ghe quá tải, át đi mùi của mọi thứ trong bụng chưa kịp tiêu hóa chạy ngược lên miệng chạy ra ngoài. Khi thức ăn đã ra hết, cả đến mật xanh cũng chạy ra, người ta mệt nhoài, không còn sức để sợ bị bắt lại, không còn sức để cảm nhận được không khí ngột ngạt, nặng mùi chung quanh mình. Ở một góc ghe, người đàn bà trẻ đang mang thai lại tỉnh táo hơn mọi người, hơn cả ông chồng cũng vật vờ say sóng, nôn mửa như hầu hết mọi người trên ghe. Lòng ghe tối đen, không ánh sáng, không cả tiếng động, thời gian tưởng như ngưng lại. Lâu lâu có một chút ánh sáng xanh yếu ớt từ cái đồng hồ đeo tay có dạ quang của ai đó. Đêm dài và sâu hơn với những người đang trốn chạy khỏi quê hương.

Vào đêm thứ nhì của cuộc trốn chạy bằng đường biển, người đàn bà đang mang thai chợt thấy đau nhói ở bụng. Đây là con đầu lòng, chị không có kinh nghiệm về chuyện sinh đẻ. Trong bóng tối đặc quánh trong lòng chiếc ghe mong manh chật như nêm, một tay nắm tay chồng, một tay chị chị nhẩm tính trên những ngón tay xem mình đã có thai bao nhiêu tháng.

*

Họ lấy nhau tháng chín năm ngoái, sau mười lăm tháng quen nhau ở vùng kinh tế mới Đồng Bò, ngoại ô Nha Trang. Chị cố quay lại khúc phim tình yêu lãng mạn của anh chị để quên đi nỗi đau âm ỉ trong bụng. Tình yêu trên vùng đất khô cằn, -ngay cả hoa dại cũng không mọc nổi, không trồng được gì hết ngoài khoai mì, – nhưng rất chân thành, sâu đậm vì đó là tình đầu của cả anh và chị. Họ lấy nhau, không có đám cưới bình thường, chỉ có một lễ ra mắt hai bên họ hàng (cũng chỉ lưa thưa mấy người đàn bà vì đàn ông dạo đó hầu hết đã ở trong lao tù cải tạo vì “tội ngụy quân ngụy quyền”) bằng một mâm cơm… trắng (không bị độn khoai sắn như bữa ăn thuờng ngày của người dân kinh tế mới) và vài món ngon như nem, chả được gởi mua từ chợ Đầm ở Nha Trang. Hôn thú cũng chưa làm vì “ủy ban nhân dân xã kinh tế mới” vừa thành hình, chưa có con dấu. Về nơi ở cũ thì bị từ chối vì “hộ khầu đã bị cắt”. Nhưng gia đình vẫn cho họ lấy nhau, vì “phải nương nhau mà sống, không phải ở cái vùng kinh tế mới hoang vu này, mà sau này, đi đâu cũng nương tựa vào nhau….”. Mẹ chị đã căn dặn anh chị như vậy ở một lễ cưới dã chiến, không có khăn áo, không có make up, và không có cả họ hàng, quan khách. Mấy miếng chả heo màu trắng – chắc là tỉ lệ thịt và bột ngang nhau -, mấy miếng nem hồng nhạt dành cho hai đứa em chưa đến tuổi đi học, lần đầu tiên trong đời được nếm mùi nem chả. Anh chị nhường nem chả cho các em, ăn cơm với canh rau muống, sau khi đã ăn mấy lát gừng mỏng chấm muối như phong tục ngàn xưa “gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau”.

Hơn nửa năm sau ngày cưới, một lần về Nha Trang mua hạt giống, anh gặp một người lính hải quân làm dưới quyền ba anh ngày xưa. Thương anh cựu sinh viên Khoa học thư sinh kính trắng phải cày sâu cuốc bẩm nuôi mẹ, nuôi em khi ba ở trong tù cải tạo, người lính hải quân sắp lái một chuyến tàu vượt biển, được chủ ghe cho mang theo cả gia đình, cho anh và chị đi theo.

*

Bụng chị vẫn đau, chị ước gì mình bị say sóng ngủ vùi, hoặc lã đi vì mệt như anh, như tất cả mọi người trong lòng ghe. Nhưng cơn đau vẫn chẳng chịu đi, lúc âm ỉ, lúc nhói lên, chị xanh mặt, vả mồ hôi chịu đựng, tự nhủ trong đầu:

– Không sao, đau một chút rồi sẽ hết. Mình chưa đẻ đâu, đến hôm nay nhiều lắm là 29 tuần, ít nhất cũng cả tháng nữa mới sinh.

Hết tự bảo mình, chị cúi xuống rờ tay lên bụng, thì thầm trong bóng tối:

– Con ơi, nằm yên nha, để đến trại tỵ nạn rồi hãy ra nghe con, an toàn hơn cho cả con và mẹ.

Cơn đau chỉ lắng xuống một vài giây, rồi lại nhói lên quặn đau mỗi lúc một nhiều hơn. Chịu không nổi, chị đành lay vai anh:

– Anh ơi anh, chắc em đang chuyển bụng đẻ.

Đang vật vờ say sóng, nghe vợ sắp sinh, anh tỉnh hẳn, mở mắt nhìn quanh, rồi hỏi chung quanh:

– Có ai biết đở đẻ không? Xin giúp vợ tôi.

Câu hỏi làm mọi người trong cái khoang ghe tối đen, ngột ngạt tỉnh hẳn lên. Giữa lúc mọi người đang vượt đại dương, có một phụ nữ trẻ sắp “vượt cạn”. Có ai đó thò đầu lên khỏi hầm ghe, hỏi xin một ánh đèn cho sản phụ.

May là ông chủ ghe cũng thuộc loại người nhân từ, và ghe đã ra đến hải phận quốc tế, nên chị được đưa lên khoang ghe. Anh cũng được đi theo cùng chị. Họ tỉnh hẳn ra khi ra khỏi hầm ghe, được hít thở không khí trong lành của đại dương, cũng là không khí của tự do mặc dù đích đến còn ở xa, xa lắm. Chị thấy khỏe hơn mặc dù cơn đau vẫn không dứt, quặn lên từng cơn.

*

Vinh cũng được rời khỏi hầm ghe, lên sàn tàu cùng với anh chị vì Vinh là bác sĩ duy nhất trên chuyến ghe vượt biển đêm đó. Trời tối đen, Vinh cũng không biết lúc đó là mấy giờ, cái đồng hồ đeo tay đã rớt mất từ lúc nào. Dù đã từng làm việc đở đẻ từ cuối năm thứ tư y khoa trong ca thực tập đầu tiên ở bệnh viện Từ Dũ. Và từ đó đến giờ, dù không chuyên về sản khoa, Vinh cũng đã có dịp trực tiếp hoặc gián tiếp làm việc trong những trường hợp sinh thường, cũng như sinh khó, phải xoay đầu hài nhi từ lúc còn nằm trong bụng mẹ, phải mổ để đem con ra khỏi bụng mẹ. Nhưng lần này giữa đại dương, trời tối đen, trên sàn tàu bằng ván lồi lõm còn mùi tanh của tôm cá, chỉ có một ngọn đèn bão tù mù mà người tài công tốt bụng đã cho mượn, không có thuốc khử trùng, không có alcohols, cũng chẳng có bông băng, hay bất kỳ một dụng cụ y khoa nào. Sản phụ lại sinh lần đầu, và Vinh không có một chi tiết nào về hồ sơ bệnh lý của chị. Chưa bao giờ Vinh tưởng tượng mình phải làm công việc tưởng như đơn giản nhưng cả hai sinh mạng đều đặt trong tay Vinh trong một đêm trời tối đen trên sàn một chiếc ghe vượt biển. Mọi thứ đều làm bằng tay, không có cả găng tay, phương tiện còn hạn chế hơn dụng cụ thô sơ của một cô mụ đỡ đẻ ở nhà quê từ nhiều thập niên trước Dưới ánh đèn bão tù mù, phải mất gần một tiếng, từ việc xoay đầu em bé đến việc cắt cuốn rốn, em bé sinh ra đỏ hỏn, sớm hơn kỳ hạn bình thường một tháng nhưng khỏe mạnh. May mắn là sản phụ dù xanh xao, yếu ớt nhưng rất can trường, đã dùng hết sức bình sinh để đẩy được em bé ra ngoài từ cửa tử cung hẹp của một người sinh con lần đầu. Gió của đại dương nhanh chóng làm khô những giọt mồ hôi đầm đìa trên mặt của Vinh, của anh, và nhất là của chị, sản phụ can đảm nhất nhì thế giới, đã vừa vượt biển, vừa “vượt cạn” lần đầu, không có thuốc tê, không có thuốc mê, không có cả bông băng, nhưng chị không hề rên la, chỉ cắn chặt môi đến rướm máu chịu đựng. Nếu chị không tự đẩy em bé ra được, Vinh cũng không biết mình phải làm gì trong tình trạng không thuốc men, không dụng cụ. Mãi về sau, sau này, sau nhiều năm hành nghề Y khoa ở Mỹ, có dịp chẩn đoán, điều trị cho rất nhiều bịnh nhân thuộc nhiều chủng tộc, nhiều lứa tuổi khác nhau, chị vẫn là bệnh nhân can đảm nhất của Vinh.

Anh đứng bên cạnh là một chỗ dựa tinh thần cho chị, và một phụ tá đắc lực cho Vinh. Người chồng sắp được làm cha, lại vô tình trở thành y tá bất đắc dĩ phụ việc cho Vinh trong một ca đỡ đẻ rất khác thường trên một chuyến tàu vượt biển. Em bé gái mới ra đời được tắm bằng nước biển Đông, được cắt nhau bằng đầu móng tay cái và móng tay trỏ của Vinh. Những đầu móng tay Vinh bắt đầu để dài từ lúc bắt đầu chơi guitar với sự hướng dẫn của một ông thầy dạy môn Nhạc từ những năm đầu Trung học, không ngờ lại được dùng rất có hiệu quả trong trường hợp hy hữu giữa biển khơi. Không có alcohol để tẩy trùng, Vinh đến bên mạn thuyền, múc nước biển lên rửa tay. Muối của đại dương cũng ít nhiều sát trùng những đầu ngón tay của Vinh trước khi Vinh cắt cuốn rún của em bé sơ sinh.

Em được bọc bằng hai lớp áo, lớp trong là cái áo thun của cha, lớp ngoài là cái áo khoác của mẹ. Tiếng khóc đầu tiên của em, của mầm sống mới đem lại nụ cười cho Vinh, cho anh và chị, và hy vọng cho một đời sống mới tự do, tốt đẹp hơn cho mọi người trên ghe. Em ra đời an lành giữa biển Đông, sớm hơn thời hạn bình thường (9 tháng 10 ngày) gần một tháng trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Và dĩ nhiên không có cân, không có thước để biết trọng lượng, và chiều cao của em.

Trong niềm vui vừa hoàn thành một ca đở đẻ có một không hai trong đời, Vinh trao em bé cho sản phụ, dùng nước biển để rửa tay. Giữa biển trời mênh mông, không có xà bông, không có alcohol sát trùng, không có cả nước thường để rửa tay. Vinh đến bên thành ghe, một tay bám chặt vào thành ghe, tay kia múc nước biền bằng một cái thùng nylon để rửa tay, và rửa em bé cùng sàn ghe. Sau vài phút vui mừng cạnh vợ con với niềm vui của một người lần đầu làm cha, người chồng trẻ vừa rối rít cảm ơn, vừa giúp Vinh dọn rửa sàn ghe, nơi một con người bé bỏng vừa chào đời trong đêm tối giữa biển trời bao la. Cũng như cha mẹ không được làm hôn thú ở một vùng kinh tế mới, em cũng không được làm khai sinh giữa biển trời, trên một chiếc ghe tỵ nạn. Em được cha mẹ gọi là “bé Biển”.

Trời sáng dần, mọi người tỉnh táo hơn, lạc quan hơn vì ánh sáng mặt trời luôn là người bạn tốt của những con tàu đang lênh đênh trên đại dương. Họ còn vui mừng hơn vì có thêm một mầm sống mới vừa chào đời bằng sự can đảm của người mẹ, bằng sự tận tình của một ông bác sĩ trẻ cùng là đồng hành trên chuyến vượt biển tìm tự do của họ.

Những ngày sau đó, dù vẫn phải ăn uống dè chừng vì không biết khi nào mới đến được đất liền, Vinh vẫn được đối xử tử tế hơn, được ông bà chủ ghe mời lên ngồi trên khoan tàu, được hít thở không khí trong lành của đại dương. Vinh cũng được phân phát thức ăn theo tiêu chuẩn đặc biệt, nhưng Vinh cũng chỉ ăn như khẩu phần của mọi người trên ghe, nhường phần đặc biệt đó cho người mẹ mới sinh ốm yếu mảnh mai, cần ăn nhiều để còn có sữa nuôi con sơ sinh.

Những chuyện bình thường đó được rỉ tai bởi những người còn tỉnh táo, khỏe mạnh trên ghe, và như một vết dầu loang, người ta đối xử tốt đẹp với nhau hơn. Một vài người lớn tuổi được những người trẻ hơn nhường phần nước uống hiếm hoi được phát hai lần mỗi ngày. Các em bé được ăn thêm vài muỗng cơm từ những người lớn trên tàu. Chuyện tưởng như đơn giản trên đất liền trong hoàn cảnh bình thường, nhưng là cả một niềm an ủi, một niềm tin khi con người đang trốn chạy khỏi quê hương, đang lênh đênh trên đại dương, không biết lúc nào mới đến bờ, đến bến.

*

Bốn ngày sau, chiếc thuyền mong manh của những thuyền nhân Việt Nam chạy trốn chế độ Cộng sản may mắn được một con tàu buôn của Ý trông thấy. Họ đến gần và cho tất cả người tỵ nạn lên tàu của họ, cho ăn uống. Họ đặc biệt cho bé Biển nhiều món quà quý, trong đó có một cái mỏ neo nhỏ như một lóng tay, – làm bằng vàng, biểu tượng của chiếc thương thuyền -, sau khi nghe kể em được sỉnh ra vài ngày trước đó trên sàn con thuyền mong manh không có một dụng cụ thuốc men nào, ngoài sự can đảm của mẹ em, và sự tận tình của một bác sĩ trẻ được đào tạo ở Đại học Y khoa Saigon trước năm 1975. Như luật hàng hải quốc tế vì sinh ra ở hải phận quốc tế nên bé Biển có quốc tịch Ý, chiếc tàu đầu tiên có mang cờ một quốc gia em được mang lên.

Trước khi đưa từng thuyền nhân lên tàu lớn, họ có ghi lại hình ảnh của chiếc ghe mong manh và những thuyền nhân mặt mày hốc hác nhưng ánh mắt rạng rỡ vì biết chắc chắn mình sẽ đến được bến bờ tự do. Ông thuyền trưởng đích thân ra trước mũi tàu chụp hình. Bên kia, bác sĩ Vinh được những người trong ghe cử ra nói chuyện với đại diện của tàu Ý. Vinh cũng đứng trước mũi của chiếc ghe tỵ nạn, bên cạnh chiếc tàu buôn như một em bé gầy yếu đứng trước một người khổng lồ. Tấm hình đó không một người tỵ nạn nào có dịp trông thấy. Ngoài một số người muốn được định cư ờ Ý, tất cả thuyền nhân còn lại được đưa đến trại tỵ nạn và được đi định cư ở nhiều nước khác nhau.

Ông thuyền trưởng nghe Vinh kể chuyện đỡ đẻ rất hiếm hoi đã giơ cả hai tay lên trời:

– Tôi cảm phục lòng can đảm của sản phụ, tôi cảm phục sự bình tĩnh và tận tình của bác sĩ. Tôi cảm phục lòng quả cảm của tất cả các bạn. Thượng Đế đã phù hộ các bạn.

Ông ta còn nói nhiều điều nữa, nhưng Vinh chỉ nhớ câu đó, và nhớ nụ cười hiền từ nhân hậu của người thuyền trưởng người Ý da trắng. tóc đen.

Vinh đến Mỹ vào cuối năm 1979, đi học lại một số lớp để có thể thi lấy bằng Medical Doctor ở Mỹ và thi lấy giấy phép hành nghề. Kiến thức của những năm Y khoa Saigon giúp Vinh rút ngắn được hơn nửa đường học trình của một Bác sĩ chuyên khoa ở Mỹ. Cứ lấy các “equivalent test” của từng giai đoạn, đậu được mỗi bài test là khỏi phải học ít nhất là hai học kỳ (tương đương một năm). Cứ từ dễ đến khó, Vinh lần lượt đậu từng bài thi và không phải học lại, chỉ phải đi thực tập nội trú (Internship) trong một bệnh viện ở New York trước khi được cấp bằng hành nghề. Lúc đó còn trẻ, chưa lập gia đình, dù không phải học lại 5 năm đầu của chương trình Y khoa ở Mỹ, Vinh vẫn chăm chỉ đọc sách và học thêm một lớp căn bản về “Business Law”.

Mỗi tuần làm việc từ bốn đến năm mươi giờ ở bệnh viện từ phòng cấp cứu đến các phòng bệnh nội trú, Vinh gặp bệnh nhân đủ mọi lứa tuổi, mọi màu da. Có người suốt ngày rên rỉ, có người chỉ nhăn mặt khi thiếu thuốc giảm đau, có người luôn cố giữ nụ cười lạc quan để thêm tinh thấn chiến đấu với bệnh tật. Không có ai can đảm như người sản phụ thuyền nhân giữa đại dương năm nào, kể cả những người sinh con giữa một bệnh viện đầy đủ thuốc men, dụng cụ, y tá, bác sĩ, đã được chích thuốc giảm đau mà vẫn rên la.

Xong một năm nội trú ở New York, những ngày đầu chính thức hành nghề y khoa trong một bệnh viện ở Chicago, những khuôn mặt bệnh nhân đủ mọi cá tính đến rồi đi trong từng ngày làm việc của Vinh, vẫn chưa có ai vượt qua được sự can đảm chịu đựng của người sản phụ trên chiếc ghe mong manh vượt biển ngày trước. Giữa những tiện nghi dành cho một bác sĩ ở Mỹ, thỉnh thoảng Vinh vẫn nhớ đến nước Thái bình dương đã rửa tay cho mình và tắm cho em bé sinh giữa đại dương. Vị mặn của nước biển có thể sát trùng một cách tương đối, đã giúp một em bé thuyền nhân chào đời an toàn, khỏe mạnh trên sàn ghe giữa biển trời mênh mông.

http://vietbao.com/images/file/K2LsKqo80ggBAmo4/image002.png

Họp mặt truyền thống chs Ngô Quyền lần thứ XIII – JUL 2014 ở Milpitas, California. Nhân vật chính: BS Huỳnh Quan Minh– cựu học sinh NQ K6- trước micro. Tác giả NTDH áo dài trắng, đứng giữa hai đàn anh Ngô Quyền.

Rồi Vinh lập gia đình, dọn về San Jose ở California với khí hậu ven biển ấm hơn giống Việt Nam hơn, và để một lúc nào đó những đứa con chào đời sẽ có nhiều cơ hội học tiếng Việt hơn. Lúc đó là đầu thập niên 80s, cộng đồng Việt Nam ở Mỹ chưa lớn mạnh, những lần hiếm hoi gặp bệnh nhân người Việt ở bệnh viện Kaiser, họ cứ hỏi Vinh có khám thêm ở nhà ngoài giờ làm việc để họ đến nhờ giúp khi bệnh hoạn. Một, hai, năm, bảy rồi cả chục lần được yêu cầu như vậy, Vinh quyết định xin thôi việc ở bệnh viện, mở phòng khám tư, tự do hơn.

Lần đầu tiên mở phòng khám tư, lại là phòng khám ở Mỹ, một nơi mà nguyên tắc, và luật pháp rất nghiêm nhặt,Vinh phải mò mẩm từng bước để xây dựng phòng khám bệnh của mình. Thời đó, đầu thập niên 80s, cộng đổng tỵ nạn của người Việt còn non trẻ, bệnh nhân của Vinh thuộc đủ mọi chủng tộc, từ những người bản xứ hay đến phòng mạch của ông bác sĩ trẻ còn giữ nguyên tính kính trọng người lớn tuổi của người Việt Nam, đến những người di dân gốc Nga, gốc Tàu, gốc Ý, gốc Mễ… Và dĩ nhiên cũng có những bệnh nhân Việt Nam chịu khó lái xe vài chục dặm để được một bác sĩ đồng hương chăm sóc.

Cũng chính nơi đây, Vinh gặp lại nhiều bạn học đã mất liên lạc từ ngày xong tú tài, mỗi người mỗi ngả.

Phúc và Lan di tản từ tháng 4 năm 1975, vẫn không thay đổi nhiều so với ngày còn ở Trung học, tương đối thành công, vẫn mang theo cả một thời mới lớn ở Việt Nam có những lý tưởng màu hồng dù lâu lâu vẫn nghe tiếng súng vọng về từ một chiến trường nào đó rất gần thành phố.

Xuân đi từ trường Ngô Quyền vào trường Võ bị, vừa cởi áo trắng học trò, khoác ngay áo treillis của lính, không có thì giờ mặc áo dân sự giữa một đất nước chiến tranh. Nước mất, Xuân phải vào “trại cải tạo”, mặc áo màu sậm, xám xịt như đời “tù… không có tội”. Ra khỏi nhà tù nhỏ, Xuân về nhà tù lớn chỉ vài tháng rồi vượt biển, và chịu khó cắp sách đi học lại đến ngày thành kỹ sư ở thung lũng điện tử của miền Bắc California.

Tuấn rời Việt Nam qua Nhật du học từ năm mười tám. Học vừa xong, thì nước mất, không còn nhà, không còn quê hương để quay về. Một sáng đầu tháng 5 năm 1975, mở mắt dậy, bỗng dưng thành một người “vô gia đình, vô tổ quốc”, Tuấn quyết định đi xa hơn nữa khi Mỹ cấp free pass vào Hoa Kỳ cho các sinh viên VN đang du học ở các nước tự do trên thế giới vào thời điểm tháng 4 năm 1975. Tuấn ổn định đời sống ở Mỹ từ năm 1976. Phiêu bạt từ Việt Nam qua Nhật, rồi Mỹ, ở đâu người bạn thân của Vinh cũng mang theo hình ảnh hiền hòa, thâm trầm như nhân vật cùng tên trong “Tuấn chàng trai nước Việt”.

Tấn đậu tú tài, vào Không quân, được đi tu nghiệp ở Mỹ, về nước chưa kịp đóng góp nhiều cho đất nước thì “chim gãy cánh mây ngừng trôi “, Tấn vô tù vì vận nước, rồi trở về làm đủ mọi nghề để sống đến khi được qua Mỹ theo diện HO, là người đến đất nước tự do muộn màng nhất trong lớp.

Cả một cái lớp tứ hai ở Ngô Quyền xưa lưu lạc khắp nơi trên thế giới, gần một phần tư lớp hội tụ ở San Jose, mỗi lần gặp nhau vui hơn Tết, chuyện trò râm ran, tiếng cười vang lên như ngày xưa còn ở tuổi ăn chưa no, lo chưa tới ở quê nhà.

Nhưng vui nhất là lần Vinh gặp thầy Hợp, thầy dạy Toán năm đệ tam ở quê nhà. Thầy định cư ở Mỹ vảo thập niên 90s, lúc đó cộng đồng Việt Nam ở vùng thung lũng điện tử San Jose đã quần tụ khá đông. Chân ướt chân ráo ở quê người, chưa có xe, từ nhà, Thầy đi hai chuyến xe bus đến khu vực thuơng mại đông đúc nhất của người Việt ờ San Jose, lấy một tờ báo quảng cáo để tìm một ông bác sĩ đồng hương ở quê người. Và thầy tìm ra cậu học trò thông minh, hiền lành năm xưa đang hành nghề “lương y” ở một con đường yên tĩnh gần downtown. Trong mục quảng cáo của một tờ báo VN, trong danh sách các Bác sĩ Việt Nam ở San Jose, thầy Hợp tìm thấy tên của cậu học trò thông minh, hiền lành ở cù lao Phố, Biên Hòa ngày xưa. Bao nhiêu năm đứng trên bục giảng ở nhiều trường Trung học lớn ngày xưa, như một người lái đò đưa hàng ngàn người khách qua sông; có một vài khuôn mặt, vài cái tên Thầy không hề quên.

Gần như chắc chắn đó lả học trò cũ của mình ngày xưa, nhưng muốn dành cho cho Vinh một bất ngờ, thầy Hợp vẫn gọi điện thoại lấy hẹn, đến văn phòng đúng giờ, lảm việc với mấy cô thư ký, điền hồ sơ cho một bệnh nhân mới, rồi kiên nhẫn ngồi đợi như bao nhiêu người khác.

Gần cuối buổi làm việc, Vinh được cô thư ký chuyển vào hồ sơ của bệnh nhân kế tiếp. Nhìn cái folder màu vàng nhạt còn mới toanh của một bệnh nhân mới, Vinh liếc qua tên bệnh nhân, và độ tuổi, cùng giới tính. Tên viết theo lối Mỹ, first name, last name, initial middle name, nên Vinh không hề nghĩ đó là thầy dạy Toán của mình thời trung học.

Vinh rời phỏng làm việc của mình, đẩy cửa vào phòng có bệnh nhân, và thả rơi cái folder xuống nền nhà, không tin vào mắt mình. Cứ như một giấc mơ, thẩy dạy Toán Nguyễn Thất Hợp của năm đệ tam đang ngồi cạnh bàn khám bệnh ở San Jose, California, chứ không phải cạnh bàn giáo sư của trường Ngô Quyền Biên Hòa như hai mươi năm trước. Thầy vẫn vậy, chỉ già đi theo năm tháng (như người Mỹ vẫn gọi là aging process) chứ không thay đổi. Ánh mắt nghiêm nghị vẫn còn, lấp lánh sau tròng kính trắng. Vinh quên hết nhiệm vụ của mình, quên hết mình đang khám bệnh, quên là mình đã ở xa quê nhà cả một đại dương, mừng rỡ chào Thầy, vẫn cung kính như ngày xưa còn là học trò trung học.

Từ đó, thầy Hợp được học trò chăm sóc sức khỏe rất chu đáo. Không biết vì bản chất Thầy vốn khỏe mạnh, vì Vinh chăm sóc cho Thầy không chỉ bằng kiến thức chuyên môn của một bác sĩ, mà còn bằng tấm lòng của một người học trò cũ, hay vì cả hai lý do, thầy Hợp trông khỏe mạnh và trẻ hơn so với những người cùng độ tuổi.

*

Tưởng đó là lần hạnh ngộ vui nhất trong đời ở phòng khám bệnh, nhưng có một lần khác, ngạc nhiên òa vỡ lớn hơn, đưa Vinh về với vị mặn của gió biển, với lần duy nhất hành nghề y khoa dã chiến giữa trời nước mênh mông.

Đó là một ngày mùa hè, ngày dài đến hơn 14 tiếng, bóng nắng vẫn còn lung linh trên hàng cây cổ thụ ven đường, Vinh đã cởi áo blouse trắng, chuẩn bị về thì cô thư ký gọi vào cho biết có người quen cũ, đến từ Châu Âu kiên nhẫn đợi đến lúc bệnh nhân cuối cùng rời phòng mạch để được gặp bác sĩ Vinh.

Vinh đặt chìa khóa xe vào lại ngăn kéo, nhờ cô thư ký mời khách vào phòng làm việc. Đó không phải là một người khách, mà là một gia đình gồm ba người. Hai vợ chồng đã qua tuổi trung niên, và một cô thiếu nữ chắc vẫn cỏn trong độ tuổi hai mươi. Vinh cố lục lạo trí nhớ của mình để nhớ ra người quen nhưng vẫn không nhận ra được khách là ai?

Vinh mời khách ngồi, nhã nhặn:

– Xin lỗi, tôi có thể giúp gì được cho quý vị?

Người đàn ông mở lời, giọng Saigon rất thân quen:

– Thưa bác sĩ, chúng tôi từ Ý đưa bé Biển đến thăm bác sĩ, và để cảm ơn bác sĩ đã lo cho mẹ con cháu chu đáo trên biển đông năm xưa.

Vinh tròn mắt ngạc nhiên:

– Ô, anh chị ngày xưa trên con thuyền vượt biển tháng 6 năm 1979 từ Long Hải, Vũng Tàu.

Ngưởi đàn bà cười tươi tiếp lời bằng giọng Huế nhẹ nhàng:

– Thưa đúng rồi, bác sĩ còn nhớ chúng tôi?

– Không những chỉ nhớ mà còn phục sự can đảm chịu đựng của chị năm xưa khi sanh con đầu lòng trên sàn tàu vượt biển không có ánh sáng, không có thuốc men, không có cả dụng cụ.

Đó là lần hội ngộ với một bệnh nhân cũ bất ngờ, cảm động nhất của Vinh.

*

Từ chiếc tàu buôn của Ý năm xưa, 68 thuyền nhân, cộng với “công dân của đại dương”, bé Biển, được đưa về trại tỵ nạn Pulau Bidong của Malaysia. Từ đó, họ đi định cư ở nhiều nước khác nhau. Vinh định cư ở Mỹ. Gia đình nhỏ ba người của bé Biển đi Ý vì cảm kích lòng tử tế của thủy thủy đoàn trên thương thuyền của Ý, và vì bé Biển mang quốc tịch Ý.

Từ đó, bận rộn với cuộc sống mới với một khởi đầu mới ở quê người, Vinh không còn dịp liên lạc với bất cứ một thuyền nhân nào trên chuyến tàu vượt biển năm xưa.

Gia đình bé Biển đến Ý, ổn định cuộc sống. Họ làm hôn thú cho mình và khai sinh cho con ở Ý. Trên khai sinh, tên của bé Biển là Nguyễn Thị Đại Dương. Và như một kỷ niệm suốt đời mang theo, sợi dây chuyền với chiếc mỏ neo bằng vàng luôn nằm trên cổ em từ lúc chỉ mới vài ngày tuổi. Vài năm sau, họ có thêm một cậu con trai sinh ở Rome, vẫn có cái tên Việt Nam là Nguyễn Thái Bình, tên Ý là Grato (nghĩa là cảm ơn). Đó là cách để họ nhớ đến Thái bình dương với ân tình từ rất nhiều người cả Việt Nam lẫn Ý.

Cho đến một ngày nọ, tin tức địa phương từ một tờ báo về chuyện một ngưởi thuyền trưởng tài ba, nhân từ về hưu sau hơn 30 năm lênh đênh trên các đại dương, giúp họ tìm ra vị thuyền trưởng đã cứu vớt con tàu nhỏ bé năm xưa của những người Việt Nam tỵ nạn. Họ tìm đến gặp ông, và lần này đã có thể nghe ông kể lại câu chuyện và tâm trạng của ông năm xưa bằng tiếng Ý. Sau đó, họ được ông tặng tấm hình chụp con tàu tỵ nạn dạo nào, trên đó có họ gầy yếu xanh xao, có đứa con đầu lòng, bé Biển hãy còn đỏ hỏn, không có sữa uống, được nuôi bằng nước cháo.

Tấm hình được họ mang đến tiệm, nhờ chuyển qua dạng một cái plaque treo tường. Họ làm cho mình một, và một plaque thứ hai để dành tặng cho ông bác sĩ trẻ năm xưa giúp bé Biển chào đời an toàn trên sàn tàu vượt biên.

Bước vào thế kỷ 21, khoa học phát triển, google search giúp họ tìm ra bác sĩ Vinh. Vì ngày xưa trước lúc rời trại tỵ nạn, họ có hỏi thăm tên họ của Vinh. Nhờ một người bạn ở San Jose giúp đỡ thêm, họ đưa bé Biển, đã là một Bác sĩ sản khoa ở Ý, qua Mỹ thăm Vinh.

Cô bác sĩ trẻ người Ý gốc Việt nói với ông bác sĩ đã qua tuổi trung niên người Mỹ gốc Việt, bằng tiếng Việt rõ ràng, khúc chiết với giọng Huế pha Saigon:

– Thưa bác, con cảm ơn bác đã giúp cho con chào đời an toàn trên biển. Nghe ba mẹ con kể lại, và nhớ ơn bác năm xưa, con đã học sản khoa. Có lẽ suốt đời con không có cơ duyên đặc biệt như bác đã làm ngày con ra đời. Nhưng con nhớ hoài chuyện đó và vẫn kể cho bệnh nhân của con nghe khi họ sắp chuyển dạ để giúp họ thêm can đảm.. Con cảm ơn bác rất nhiều.

*

Thay cho lời kết:

Tấm plaque treo tường với chiếc ghe nhỏ bé chơ vơ giữa biển xanh đã thu hút sự chú ý của chúng tôi, một cựu thuyền nhân. Có những tình cờ trong cuộc sống để lại một dấu ấn suốt đời mang theo. Xin được ghi lại vài nét của một trong những chuyện không bao giờ quên trong lịch sử thuyền nhân. Hy vọng đời sống luôn có những người trọng tình nghĩa như những nhân vật trong chuyện, và những hạnh ngộ bất ngờ luôn luôn làm cho đời sống đẹp hơn.

(Viết từ một bức hình ở phòng mạch của BS Huỳnh Quang Minh. Thung lũng hoa vàng- đầu mùa xuân 2015)

Nguyễn Trần Diệu Hương

Tìm hiểu gốc tích Tháng Hoa Đức Mẹ

Tìm hiểu gốc tích Tháng Hoa Đức Mẹ

Là người Công giáo Việt Nam, nhất là những người đã lớn lên trong một xứ đạo miền Bắc, Trung hoặc Nam, có lẽ họ không lạ gì sinh hoạt tôn giáo trong tháng Năm, tháng Hoa Đức Mẹ. Khi ngàn hoa xanh, đỏ, trắng, tím, vàng nở rộ trong cánh đồng, thì con cái Mẹ cũng chuẩn bị cho những đội dâng hoa, những cuộc rước kiệu, để tôn vinh Mẹ trên trời. Những điệu ca quen thuộc trìu mến bỗng nổi dậy trong tâm hồn cách thân thương, nhất là bài “Đây Tháng Hoa” của nhạc sĩ Duy Tân với điệu 2/4 nhịp nhàng:

“Đây tháng hoa, chúng con trung thành thật thà. Dâng tiến hoa lòng mến dâng lời cung chúc. Hương sắc bay toả ngát nhan Mẹ diễm phúc. Muôn tháng qua lòng mến yêu Mẹ không nhoà.”

– Đây muôn hoa đẹp còn tươi thắm xinh vô ngần. Đây muôn tâm hồn bay theo lời ca tiến dâng. Ôi Maria, Mẹ tung xuống muôn hoa trời. Để đời chúng con đẹp vui, nhớ quê xa vời.

– Muôn dân trên trần mừng vui đón tháng hoa về. Vang ca tưng bừng ngợi khen tạ ơn khắp nơi. Ánh hồng sắc hương càng tô thắm xinh nhan Mẹ. Sóng nhạc reo vang tràn lan đến muôn muôn đời”.

Nếu có ai tự hỏi: Tháng Hoa có từ đời nào? Do ai khởi xướng? thì câu trả lời cũng không khó khăn gì.

Gốc tích như thế này:

Vào những thế kỷ đầu, hàng năm, khi tháng Năm về, người Rôma tôn kính sự thức giấc sau mùa đông dài của thiên nhiên bằng những cuộc tổ chức gọi là những ngày lễ tôn kính Hoa là Nữ thần mùa Xuân.

Các tín hữu Công giáo trong các xứ đạo đã thánh hóa tập tục trên. Họ tổ chức những cuộc rước kiệu hoa và cầu nguyện cho mùa màng phong phú.

Có nơi người ta tổ chức các cuộc “Rước xanh”. Người ta đi cắt các cành cây xanh tươi đang nở hoa, đưa về trang hoàng trong các nhà thờ và đặc biệt các bàn thờ dâng kính Đức Mẹ. Các thi sĩ cũng như các thánh đua nhau sáng tác những bài hát, bài giảng ca tụng những ngày lễ đó cũng như ca tụng Đức Mẹ.

Đến thế kỷ 14, linh mục Henri Suzo dòng Đaminh, vào ngày đầu tháng 5, đã dâng lên Đức Mẹ những việc tôn kính đặc biệt và lấy hoa trang hoàng tượng Đức Mẹ.

Thánh Philipe đệ Nêri, cũng vào ngày 1 tháng 5, thích tập họp các trẻ em lại chung quanh bàn thờ Đức Mẹ, để cùng các bông hoa mùa xuân, Ngài dâng cho Đức Mẹ các nhân đức còn ẩn náu trong tâm hồn non trẻ của chúng.

Đầu thế kỷ 17, tại Napoli, nước Ý, trong thánh đường kính thánh Clara của các nữ tu Dòng Phanxicô, tháng Đức Mẹ được cử hành công cộng: Mỗi chiều đều có hát kính Đức Mẹ, ban phép lành Mình Thánh. Từ ngày đó, tháng Đức Mẹ nhanh chóng lan rộng khắp các xứ đạo.

Năm 1654, cha Nadasi, dòng Tên, xuất bản tập sách nhỏ khuyên mời giáo hữu dành riêng mỗi năm một tháng để tôn kính Đức Mẹ Chúa Trời.

Đầu thế kỷ 19, hết mọi xứ trong Giáo hội đều long trọng kính tháng Đức Mẹ. Các nhà thờ chính có linh mục giảng thuyết, và gần như lấy thời gian sau mùa chay là thời gian chính thức để tôn kính Đức Mẹ. Trong việc này linh mục Chardon đã có nhiều công. Không những ngài làm cho lòng sốt sắng trong tháng Đức Mẹ được phổ biến trong nước Pháp mà còn ở mọi nước Công giáo khác nữa.

– Đức Giáo hoàng Piô 12, trong Thông điệp “Đấng Trung gian Thiên Chúa”, cho “việc tôn kính Đức Mẹ trong tháng Năm là việc đạo đức được thêm vào nghi thức Phụng vụ, được Giáo hội công nhận và cổ võ”.

– Đức giáo hoàng Phaolô 6, trong Thông điệp Tháng Năm, số 1 viết:

“Tháng Năm là Tháng mà lòng đạo đức của giáo dân đã kính dâng cách riêng cho Đức Mẹ. Đó là dịp để ” bày tỏ niềm tin và lòng kính mến mà người Công giáo khắp nơi trên thế giới có đối với Đức Mẹ Nữ Vương Thiên đàng.

Trong tháng này, các Kitô hữu, cả ở trong thánh đường cũng như nơi tư gia, dâng lên Mẹ từ các tấm lòng của họ những lời cầu nguyện và tôn kính sốt sắng và mến yêu cách đặc biệt. Trong tháng này, những ơn phúc của Thiên Chúa nhân từ cũng đổ tràn trên chúng ta từ ngai toà rất dồi dào của Đức Mẹ” (Dictionary of Mary, Catholic book Pub. 1985, p. 236)

Một câu truyện cũ đáng ta suy nghĩ:

Ở thành Nancêniô trong nước Pháp, có một gia đình trung lưu. Vợ đạo đức, chồng hiền lành nhưng khô khan. Vợ luôn cầu xin Chúa mở lòng cho chồng sửa mình , nhưng chồng cứng lòng mãi.

Năm ấy đầu tháng Hoa Đức Mẹ, bà sửa sang bàn thờ để mẹ con làm việc tháng Đức Mẹ. Chồng bà bận việc làm ăn, ít khi ở nhà, và dù ông ở nhà cũng không bao giờ cầu nguyện chung với mẹ con. Ngày lễ nghỉ không bận việc làm thì cũng đi chơi cả ngày, nhưng ông có điều tốt là khi về nhà, bao giờ cũng kiếm mấy bông hoa dâng Đức Mẹ.

Ngày 15 tháng Sáu năm ấy, ông chết bất thình lình, không kịp gặp linh mục. Bà vợ thấy chồng chết không kịp lãnh các phép đạo, bà buồn lắm, nên sinh bệnh nặng, phải đi điều trị ở nơi xa. Khi qua làng Ars, bà vào nhà xứ trình bày tâm sự cùng cha xứ là cha Gioan Vianey.

Cha Vianey là người đạo đức nổi tiếng, được mọi người tặng là vị thánh sống. Bà vừa tới nơi chưa kịp nói điều gì, cha Gioan liền bảo:

– Đừng lo cho linh hồn chồng bà. Chắc bà còn nhớ những bông hoa ông vẫn đem về cho mẹ con bà dâng cho Đức Mẹ trong tháng Hoa vừa rồi chứ?

Nghe cha nói, bà hết sức kinh ngạc, vì bà chưa hề nói với ai về những bông hoa ấy, nếu Chúa không soi cho cha, lẽ nào người biết được?

– Cha sở nói thêm: Nhờ lời bà cầu nguyện và những việc lành ông ấy đã làm để tôn kính Đức Mẹ, Chúa đã thương cho ông ấy được ăn năn tội cách trọn trong giờ chết. Ông ấy đã thoát khỏi hỏa ngục, nhưng còn bị giam trong luyện ngục, xin bà dâng lễ, cầu nguyện, làm việc lành thêm cầu cho ông chóng ra khỏi nơi đền tội nóng nảy mà lên Thiên đàng.

Nghe xong lời cha Gioan, bà hết sức vui mừng tạ ơn Đức Mẹ.(Sách Tháng Đức Bà, Hiện Tại xuất bản, 1969, trang 10).

Nếu chỉ vì mấy bông hoa mọn dâng kính Đức Mẹ cũng được Đức Mẹ ban ơn cứu rỗi lớn lao như vậy, thử hỏi, những ai trong tháng Năm này tham dự dâng Hoa, rước kiệu, đọc kinh Mân côi, hơn nữa, họ dâng lên Mẹ những hoa tin, cậy, mến, hi sinh, đau khổ, bệnh nạn…chắc sẽ còn được Đức Mẹ ban muôn ơn trọng hơn nữa? vì Mẹ thích những bông hoa Xanh của lòng Cậy, hoa Đỏ của Lòng mến, hoa Trắng của lòng trong sạch, hoa Tím của hãm mình, hoa vàng của niềm tin, hoa Hồng của kinh Kính mừng lắm lắm.

Thánh Anphongsô Ligori quả quyết rằng: “Nếu tôi thật lòng yêu mến Mẹ, thì tôi chắc chắn được lên thiên đàng”.

Thánh Bênado diễn tả văn vẻ hơn:

“Được Mẹ dẫn dắt, bạn sẽ không ngã. Được Mẹ che chở, bạn sẽ không sợ. Được Mẹ hướng dẫn, bạn sẽ an lòng. Được Mẹ ban ơn, bạn sẽ đạt đích mong chờ”.

(Lm. ĐoànQuang, CMC NS.TTDM tháng 5-08 trg 4)

BÍ QUYẾT HÓA GIẢI NHỮNG BẤT HÒA TRONG HÔN NHÂN

BÍ QUYẾT HÓA GIẢI NHỮNG BẤT HÒA TRONG HÔN NHÂN

Trần Mỹ Duyệt

Một gia đình hạnh phúc. Một cuộc sống hôn nhân vững bền bên cạnh người mình yêu. Đó là những ước mơ rất bình thường, và là một trong những ước mơ của tất cả mọi người khi bước chân vào đời sống hôn nhân gia đình. Nhưng thực tế lại không diễn ra như vậy. Đời sống chung, những va chạm thường ngày giữa vợ với chồng luôn luôn tạo nên những xung khắc dẫn đến tranh cãi, giận hờn, chỉ trích và trong nhiều trường hợp đã đưa đến đổ vỡ, đến ly dị.

Tại sao người trước đây là người bạn yêu, bạn thương và yêu bạn, thương bạn nhất mà nay đã trở thành khó ưa, đáng ghét, và thù địch? Câu hỏi này ai ai trong đời sống hôn nhân cũng muốn tìm hiểu và muốn có câu trả lời. Thật ra, nguyên nhân đưa đến những xung đột, cãi vã, giận hờn trong hôn nhân có nhiều, nhưng quan trọng nhất, thông thường nhất vẫn là thiếu thông cảm, thiếu lắng nghe, thiếu hiểu biết, và không đón nhận những thành ý của nhau. Bạn phải làm gì để tự chủ và kìm hãm những nóng giận khi có những bất hòa xẩy ra giữa vợ chồng trước khi nó bùng nổ thành bất hòa và dẫn đến cãi vã, tranh chấp, giây tổn thương tình cảm, tình yêu của nhau.

Sau đây là một số gợi ý tạm gọi là những bí quyết giúp giải quyết khi có những bất hòa xẩy ra giữa vợ chồng trong đời sống hôn nhân.

KHÔNG NÊN

  1. 1. Không chỉ vào mặt nhau:

Khi bạn dùng ngón tay chỉ vào mặt chồng hoặc vợ mình, cũng chính là lúc xung khắc bắt đầu bùng nổ! Thay vì nóng nẩy, bực bội, nhăn nhó chỉ vào mặt chồng nói:

“Tại sao tôi đã bảo anh là phải đổ thùng rác trong nhà đi mà anh không làm?”.

Người vợ có thể nhẹ nhàng đặt tay trên vai chồng, và nói:

“Anh à. Em biết anh mệt rồi, nhưng ráng đem thùng rác ra ngoài để khỏi hôi nhà. Anh giúp em đi mà!”

Bảo đảm bạn sẽ nhận được câu trả lời: “O.K.”. Và bạn chỉ cần mất thêm hai tiếng “cám ơn” nữa là cả nhà đều vui vẻ.

2. Không lườm, nguýt nhau:

Nếu vì lý do nào mà sự tranh cãi đã bắt đầu, bạn phải cố gắng hết sức để tránh dùng cặp mắt liếc, lườm, nguýt nhau. Một trong hai người phải bình tĩnh đủ để nói với người kia:

“Em hay anh hãy ngồi xuống đây. Chúng ta cùng nói chuyện với nhau. Chuyện đâu còn đó không cần to tiếng.”

Hành động mời được người kia ngồi xuống là một việc làm rất khó khăn, đòi nhiều can cảm, và tự chủ. Nhưng khi hai vợ chồng đã chịu ngồi xuống với nhau, là bạn đã chiến thắng được một nửa, nửa phần còn lại là để lắng nghe nhau.

3. Không quan tâm những chuyện nhỏ nhặt:

Người chồng cũng như người vợ, mỗi người thường có những quán tính cá biệt gọi là những thói quen biểu lộ qua hành động và lời nói.  Những hành động và lời nói này xem ra như thông thường vì đó là một lối bày tỏ tư tưởng, cảm tình của một người.

Tuy nhiên, nó có thể là những câu nói hoặc hành động mà bạn không ưa thích (chứ không phải là những câu nói tồi tệ, những việc làm sai trái).

Thí dụ, chồng bạn có thói quen ít lời. Ít khen mà cũng không chê bạn. Thông thường khi cần nói gì với vợ, anh ấy chỉ nói một hoặc hai lần, sau đó thì tự mình làm lấy hoặc không hỏi ý kiến bạn về điều ấy nữa.

Nếu là người vợ hiểu và yêu chồng thì không được bắt bẻ cho là chồng thiếu lãng mạn, không biết dùng lời nói để bạn hài lòng, hoặc cho rằng chồng bạn là người độc tài không thèm hỏi ý kiến bạn khi cần một quyết định.

Một cách tương tự, vợ bạn là một người có nhiều thắc mắc, luôn nhắc lại một điều gì mỗi khi nhờ vả bạn. Là người chồng hiểu tính vợ, thì đây không phải là một thái độ “lải nhải”, hoặc “không tin tưởng”, nhưng đó chỉ là một tập quán của người vợ mà bạn không thích.

Hiểu được tâm lý và lối sống, lối hành xử của vợ hoặc chồng để chấp nhận, và nếu cần để từ từ sửa đổi là một nghệ thuật sống.

Chấp nhất, bắt bẻ hoặc cằn nhằn chỉ làm thêm khó chịu cho chính mình mà không bao giờ sửa được tập quán mà bạn không thích của nhau.

4. Không quan tâm đến quá khứ:

Ngày bạn cùng người mình yêu bước vào đời sống hôn nhân là ngày hai người khởi đầu một hành trình mới. Bơi móc quá kh của nhau là thiếu tin tưởng, thiếu tự trọng. Một hành động dễ dẫn tới nghi ngờ và gây tranh cãi. Tất cả những gì cần tìm hiểu, bạn phải tìm hiểu trước khi cưới.

Khi đã trở thành vợ chồng rồi, bạn phải có can đảm chấp nhận con người thật của nhau. Rồi tìm cách khuyến khích, giúp nhau vượt qua những bất đồng về tính tình, về lối sống, và về quan niệm sống. Tại sao bạn nhìn về quá khứ thay vì hướng tới tương lai tốt đẹp hơn?

5. Không có người yêu tuyệt vời: Đây là một triết lý sống vừa thực tế vừa công bằng, và cũng vừa diễn tả được bản chất thực sự của hôn nhân. Khi kết hôn, bạn lấy một người làm chồng hoặc làm vợ. Điều này cũng có nghĩa là bạn lấy toàn bộ con người ấy gồm ưu và khuyết điểm. Đòi hỏi chồng hoặc vợ phải tuyệt vời là một điều vô lý. Ngược lại, nếu thấy mình có khuyết điểm mà không cố gắng hoàn chỉnh lại là một điều hết sức bất công, vì bạn luôn luôn bắt chồng hoặc vợ mang lấy khuyết điểm của mình trong khi đó lại không chấp nhận giới hạn và khuyết điểm của người đó.

6. Không lẩn trách đối diện sự thật:

Tránh mặt hoặc xa tránh chồng hay vợ là những hành động hoàn toàn tiêu cực. Câm nín và tránh mặt nhau không những không giải quyết được những xung khắc mà càng tạo thêm sự bất hòa.

Vì càng câm nín, mối hận thù, giận hờn càng nung nấu tâm hồn bạn, càng tạo nên những mối nghi ngờ, bất hòa, và càng khó tha thứ.

Bạn phải đối diện với những cái xấu trước mặt để giải quyết và không làm cho những cái xấu ấy trở thành tồi tệ hơn qua thái độ câm nín và tránh mặt. Biết có khuyết điểm mà tránh né là hèn nhát, là nhu nhược.

7. Không đưa người ngoài vào cuộc:

Những người đó là cha mẹ, anh chị em hai bên. Là con cái, cháu chắt. Những bất đồng là chuyện giữa hai vợ chồng. Chuyện của hai người, hai người phải giải quyết, không được đưa những người khác vào cuộc.

Muốn mình thắng mà lôi kéo họ vào phe với mình là gây cho họ những khó xử, là bất công với họ.

Bênh ai? Chê ai? Chọn ai? Bỏ ai?

Dùng tình cảm gia đình, dựa dẫm vào cha mẹ, anh chị em, con cháu để tạo áp lực với chồng hoặc vợ nói lên bạn là người thiếu trưởng thành, không có khả năng giải quyết những khó khăn, những bất hòa trong hôn nhân.

8. Không ngồi lê đôi mách:

Ca dao Việt Nam có câu: “Nhàn cư vi bất thiện”. Mỗi ngày, bạn phải dùng ít phút thinh lặng nhìn lại những tư tưởng, lời nói, và hành động của mình để kiểm điểm, và để thư dãn.

Đây là những giây phút riêng tư rất quan trọng cần để duy trì sự quân bình về tình cảm, tâm lý, cũng như thể lý.

Nhưng lười biếng tối ngày ở rỗi một mình là không tốt. Như chiếc ao tù, trí khôn người lười sẽ trở nên đần độn. Ý chí của họ sẽ trở nên bạc nhược. Khả năng hành động của họ sẽ trở nên khó khăn, thiếu sáng tạo. Người lười là mồi ngon của những cám dỗ.

9. Không bạn bè với người nhiều chuyện:

Những bạn bè nhiều chuyện, ngồi lê đôi mách. Những bạn bè hay xoi mói và dèm pha người này, người khác là những người mà bạn cần phải tránh xa.

Nọc độc chia rẽ, ghen tỵ, và dèm pha của họ sẽ ngấm vào bạn một cách dễ dàng, không ngờ. Nó cũng biến bạn thành những người ngồi lê đôi mách. Những người dùng lời nói mà phá vỡ hạnh phúc gia đình của người khác.

Những ai không nghĩ tốt, không nói tốt, và không có hành động tốt với người khác, bạn không nên đến gần và làm bạn với họ. “Gần mực thì đen. Gần đèn thì rạng!”

NÊN

10. Nên tìm hiểu nhau:

Cách thức tốt nhất để vợ chồng hiểu nhau là phải biết lắng nghe nhau. Phụ nữ thường lắm lời, nói năng lải nhải, nhắc đi, nhắc lại một điều gì không vừa ý. Ngược lại, đàn ông ít nói, nhưng nhiều khi nói ra thì lại cộc lốc, khó nghe, hoặc xem như vô duyên. Người này ít lời, trầm ngâm, kín đáo. Người kia ba hoa, khoác lác, nói năng vung vít.

Bởi thế, cách duy nhất để hiểu nhau là lắng nghe, và quan sát những cử chỉ của nhau.

Một thí dụ có tính cách tâm lý, đó là khi ai đó nói với bạn mà nhìn thẳng vào mặt bạn, có nghĩa là người đó muốn bạn hiểu họ qua điều họ nói.

Nhưng khi họ nói với bạn mà quay đi chỗ khác, một đôi khi tỏ ra ngượng ngùng, mắc cở thì có nghĩa là người ấy đang gặp khó khăn trong cách diễn tả điều họ muốn nói, hoặc muốn nói mà nói không được. Do đó, đừng bắt bẻ lời nói của nhau, nhưng cần tìm hiểu và quan tâm đến chủ ý tốt của nhau.

11. Nên dành thời giờ bên nhau:

Lý do nào bạn đi tới quyết định kết hôn? Dĩ nhiên là để hạnh phúc với người mình yêu. Nhưng trong hôn nhân không có thứ hạnh phúc một mình. Bạn không thể hạnh phúc nếu chồng bạn không hạnh phúc.

Ngược lại, bạn cũng không thể hạnh phúc nếu vợ bạn không hạnh phúc. Nếu bạn không muốn thứ hạnh phúc “có đôi” mà lại tìm hạnh phúc riêng tư một mình, la cà phòng trà, quán nhậu, sòng bài, shopping, hoặc đàng đúm bạn bè… là bạn đang đi ngược lại giấc mơ hạnh phúc của hôn nhân.

Và bạn là người ích kỷ, chú ý nhiều đến cái tôi của mình hơn là cùng đồng hành với người phối ngẫu trên hành trình xây dựng hạnh phúc.

12. Nên dễ dãi với nhau!

Để hạnh phúc hôn nhân ngày càng thêm thắm đặm, vợ chồng phải đối xử dễ dãi với nhau một chút.

Không làm lớn chuyện vì những bất đồng, những hiểu lầm, những va chạm nhỏ nhoi. Dù là vợ chồng với nhau, quan niệm sống này cũng rất khó thực hiện. Nhưng dù khó khăn đến đâu, bạn cũng phải cố gắng thực hiện.

Thế giới tình yêu và bầu khí gia đình sẽ trở nên đẹp đẽ hơn, chan hòa hạnh phúc hơn khi bạn đối xử với người phối ngẫu bằng tâm tình này: dễ dãi với mình cũng như dễ dãi với người yêu một chút.

13. Nên thành thật với mình:

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã có một tư tưởng rất hay về đời sống hôn nhân. Theo ngài nếu cần cãi vã bạn cứ cãi vã. Nếu chén đĩa bay bạn cứ để chúng bay. Nhưng quan trọng là sau những nóng nẩy, bất hòa đó, phải thành thật với mình và với nhau. Ai phải, ai trái phải có lời xin lỗi và cùng nhau sửa sai.

14. Nên giữ vững lập trường:

Đừng để cho bất cứ ai ảnh hưởng đến hạnh phúc và đời sống hôn nhân của bạn. Trong đời thường bạn nên lắng nghe và đón nhận ý kiến xây dựng từ người này, người khác.

Nhưng bạn phải biết cách gạn lọc và phân tích xem coi ý kiến nào tốt, ý kiến nào phù hợp với hoàn cảnh gia đình bạn. Không phải hễ ai nói gì cũng nghe rồi đem vào đời sống khiến ảnh hưởng đến hạnh phúc hôn nhân của bạn.

Hậu quả là thay vì yêu thương nhau vợ chồng lại trở nên bất hòa, chia rẽ vì những ý kiến của người này, người khác. Nên lưu ý: Ý kiến dù hay cũng chỉ là ý kiến.

15. Nên chọn hạnh phúc:

Trong đời sống hôn nhân, phải và trái, đúng và sai, được và thua chỉ nói lên những quan niệm, suy nghĩ cũng như hành động mang tính cá thể, con người, và sự khác biệt nam và nữ. Quan trọng hơn cả, cần thiết hơn cả vẫn là hạnh phúc. Nếu cần chọn giữa ăn thua đủ với nhau và hạnh phúc, bạn hãy chọn hạnh phúc.

16. Nên biết cảm ơn nhau:

Lời cảm ơn. Thái độ đón nhận, biết ơn nhau là hành động của người trưởng thành và mang ý nghĩa tích cực.

Văn hóa “cảm ơn” là cách hành xử của những con người hiểu biết, tôn trọng mình và tôn trọng nhau.

Một lời cảm ơn có thể thay đổi cả một cục diện trong đời sống. Hằng ngày bạn vẫn nhận từ người phối ngẫu rất nhiều điều mà nếu vô ơn bạn sẽ khiến chồng hoặc vợ bạn rất buồn. Sống với tâm tình biết ơn bạn sẽ cảm thấy mình may mắn, và đời sống hôn nhân là một hành trình mà mỗi bước đi bạn đều khám phá ra tình yêu của người đang đi bên mình.

Mời vào thăm trang nhà www.giadinhnazareth.org để tham khảo thêm những bài viết giá trị về tình yêu, hôn nhân, gia đình, giáo dục, tâm lý và xã hội.

Bình Thuận: Người biểu tình đụng độ công an

Bình Thuận: Người biểu tình đụng độ công an

Người biểu tình được nhìn thấy đã ném gạch đá và bom xăng về phía công an

Nhiều người bị thương sau khi cuộc biểu tình phản đối một nhà máy nhiệt điện gây ô nhiễm môi trường leo thang thành bạo lực.

Người dân xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong, Bình Thuận cáo buộc Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 xả bụi xỉ than gây ô nhiễm môi trường.

Giới chuyên gia cảnh báo việc rò rỉ bụi xỉ than có thể gây tác hại đến phổi, đường hô hấp và nguồn nước, đồng thời cho rằng vụ việc thuộc trách nhiệm của cả doanh nghiệp điều hành nhà máy lẫn chính quyền địa phương.

Các cuộc biểu tình bắt đầu hôm 14/4 khá ôn hòa, với sự tham gia của hàng trăm người, nhưng sau đó đã leo thang thành bạo lực trong chiều tối 15/4.

Vụ việc đã gây tắc nghẽn 50km trên đường Quốc lộ 1A.

Theo báo Pháp Luật TP.HCM, 22:30 tối 15/4, lực lượng cảnh sát cơ động Bình Thuận đã phải rút lui khỏi hiện trường sau khi bị người dân “dùng gạch, đá và bom xăng tự chế ném vào”.

Báo này cũng cho biết rất nhiều người bị thương trong lúc đụng độ.

Một số video đăng tải trên mạng cho thấy lực lượng an ninh cũng đáp lại bằng lựu đạn khói, hơi cay.

Đến 23:00 giờ, sau khi lực lượng cảnh sát rút lui, người dân tại đây cũng giải tán.

Tuy nhiên trong bài ngày 16/4, báo điện tử Chính phủ dẫn lời lãnh đạo địa phương cho biết người dân đã giải tán sau khi được cơ quan chức năng “thuyết phục”.

Báo này cũng dẫn lời Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận Lê Tiến Phương nói “không có chuyện người dân đốt xe, đập phá khách sạn” như một số báo điện tử đã đưa.

Tuy nhiên một số báo điện tử đã đăng tải hình ảnh cho thấy một nhiều ô tô bị đập phá làm biến dạng và vỡ cửa kính.

Báo Thanh Niên cho biết nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 từng bị Tổng cục Môi trường xử phạt 1,4 tỷ đồng vì để khói bụi.

Lãnh đạo Bình Thuận cùng EVN đang chỉ đạo nhanh chóng khắc phục sự cố bụi xỉ từ nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2, Pháp Luật TP.HCM cho biết thêm.

Trong Thông cáo báo chí chiều 15/4, EVN cho biết các đơn vị liên quan đang làm sạch, gia cố đường dân sinh trong thời gian hoàn thiện đường vận hành chính thức, đồng thời giám sát không cho phép các xe chở xỉ che chắn không kỹ lưỡng tham gia vận chuyển.

Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận bác bỏ tin nhiều xe bị đập phá

‘Trách nhiệm của doanh nghiệp và chính quyền’

Trả lời BBC ngày 16/4, Phó giáo sư Tiến sỹ Nguyễn Đình Tuấn, giảng viên khoa môi trường, Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM, giải thích về tác hại của bụi xỉ than đối với con người và môi trường xung quanh:

“Bụi xỉ than thì dễ dẫn đến các bệnh phổi và đường hô hấp”, ông nói.

“Bụi kích thước càng nhỏ thì tác động hô hấp càng cao, bụi lớn cũng gây phiền toái cho người dân vì làm dơ bề mặt nước và đường xá”.

“Trong trường hợp [nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2] thì bụi có hai nguồn, một là từ lò đốt thải qua ống khói thì theo như họ nói đã có hệ thống lọc bụi tĩnh điện, lẽ ra có thể xử l‎y’ đạt tiêu chuẩn nhưng không biết họ vận hành như thế nào.”

“Nguồn thứ hai là từ xe vận chuyển thì phải có các biện pháp quản l‎ý như tuyến đường vận chuyển ,xe vận chuyển, vải che chắn”.

Tiến sỹ Tuấn cho biết nguyên liệu than vẫn được sử dụng rộng rãi tại các nhà máy nhiệt điện trên thế giới.

“Nguyên liệu than thì các nhà máy nhiệt điện trên thế giới vẫn dùng rất nhiều và chỉ cần có biện pháp xử lý đúng”, ông cho biết.

“Hệ thống lọc tĩnh điện vẫn là hệ thống lọc hiện đại nhất, có thể xử lý‎ 99,9%. Tôi thấy họ có nhưng không biết là vận hành thế nào.”

“Sau vụ việc này, tôi nghĩ trách nhiệm đầu tiên là trách nhiệm của doanh nghiệp, khi lắp đặt phải đảm bảo tiêu chuẩn, nhưng chính quyền địa phương, với vai trò là cơ quan quản lý, phải đảm bảo các doanh nghiệp này thực hiện đúng trách nhiệm”.

Xem thêm: Người dân chặn đường phản đối ô nhiễm (RFA)

Hàng nghìn người dân chặn đường phản đối nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân gây ô nhiễm

Hàng nghìn người dân chặn đường phản đối nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân gây ô nhiễm