Một tai nạn trên Biển Đông có thể khơi mào chiến tranh Mỹ-Trung’

Một tai nạn trên Biển Đông có thể khơi mào chiến tranh Mỹ-Trung’

Máy bay chiến đấu F/A 18 của Hải quân Mỹ cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz ở Biển Đông.

Máy bay chiến đấu F/A 18 của Hải quân Mỹ cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz ở Biển Đông.

27.05.2015

Một chuyên gia về chính sách từng giảng dạy tại Đại học Yale của Hoa Kỳ cảnh báo một ‘tai nạn’ ở Biển Đông có thể dẫn tới chiến tranh Mỹ-Trung, và nguy cơ xung đột xảy ra giữa hai cường quốc này hiện nay cao hơn bất kỳ thời điểm nào trong 20 năm qua.

Trong một bài viết cho tờ The Commentator, Giáo sư Michael Auslin, từng giảng dạy môn Lịch sử tại trường Đại học Yale, nêu ra 3 tình huống mà ông nói có thể dẫn tới xung đột.

Tình huống thứ nhất, theo ông Auslin là một tai nạn máy bay đâm va vào nhau trên không phận Biển Đông, tương tự như vụ một chiến đấu cơ Trung Quốc và một phi cơ trinh sát của Hải quân Mỹ đụng nhau ngoài khơi đảo Hải Nam, gây ra một vụ tranh cãi quốc tế.

Giáo sư Auslin nói rằng trong bối cảnh Hải quân Mỹ đang xem xét tới việc điều tàu chiến tới phạm vi 12 hải lý cách các đảo nhân tạo do Trung Quốc xây dựng trong Biển Đông, và như thế tiến vào vùng biển mà giờ Trung Quốc tuyên bố là thuộc lãnh thổ có chủ quyền của họ, thì khó có thể tránh khỏi những hành động quấy nhiễu của các tàu Trung Quốc đối với các tàu Mỹ, có nguy cơ dẫn tới một tai nạn tàu va vào nhau, kéo theo phản ứng của cả hai bên.

Ông Auslin nói đó là điều mà Trung Quốc đã làm với tàu bè của các nước khác, và một tai nạn có thể dẫn hai nước tới chỗ đối đầu với nhau.

Giáo sư Auslin nói tình huống này rất dễ xảy ra, một khi Trung Quốc hoàn tất việc xây các phi đạo trên các quần đảo trong Biển Đông, tạo điều kiện cho các chiến đấu cơ tuần tra trong không phận của các đảo này.

Tình huống thứ nhì, theo Giáo sư Auslin, là Trung Quốc có thể cố tình tạo điều kiện cho một vụ đối đầu bằng cách chỉ thị cho máy bay của họ đeo sát máy bay của Mỹ, với hy vọng sẽ tăng nguy cơ xảy ra xung đột để buộc chính phủ của Tổng Thống Obama nhượng bộ, trong bối cảnh Hoa Kỳ còn đang phải ứng phó với nhiều thách thức ở Trung Đông và với Nga ở Châu Âu.

Tình huống thứ ba là nếu Trung Quốc chận đầu các máy bay của các nước đồng minh của Mỹ như Philippines chẳng hạn. Washington lúc đó có thể can thiệp một cách chính đáng, viện lẽ Mỹ có nghĩa vụ bảo vệ luật pháp quốc tế.

Giáo sư Auslin nhận định trong khi không có một cơ chế nào để giải toả căng thẳng, và trong bối cảnh giữa hai nước hiện thiếu sự tin tưởng lẫn nhau, và khả năng quân sự của Trung Quốc đang được tăng cường, thì càng ngày càng có nhiều rủi ro hơn đối với Hoa Kỳ trong việc đối đầu với tham vọng bành trướng của Trung Quốc.

Ông Auslin kết luận rằng trong 20 năm qua, chưa có lúc nào mà nguy cơ xảy ra xung đột giữa hai nước lớn này lại cao đến mức này.

Nguồn: WSJ, CNN, Defensenews

Rúng động đường dây sex tour ‘đi khách’ giá $20,000 bị bắt

Rúng động đường dây sex tour ‘đi khách’ giá $20,000 bị bắt

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) Từ việc bắt quả tang 2 cặp mua bán dâm tại khách sạn ở Quảng Ninh, công an đã phá đường dây “sex tour” có giá bán dâm lên đến $20,000, gây chấn động dư luận tại Việt Nam.

Truyền thông Việt Nam loan tin, ngày 27 tháng 5, cơ quan cảnh sát điều tra, Bộ Công An đã tiến hành lệnh bắt khẩn cấp Ðoàn Ngọc Minh (25 tuổi) ở phường 7, quận 5, thành phố Sài Gòn để điều tra về tội “môi giới mại dâm.”


Một người mẫu bán dâm trong đường dây sex tour đang viết phúc trình tại cơ quan công an. (Hình: Người Lao Ðộng)

Tờ Người Lao Ðộng cho hay, ông Minh là một mắt xích quan trọng trong đường dây mại dâm cao cấp liên quan đến nhiều người mẫu, người đẹp trong các cuộc thi sắc đẹp tại Hà Nội, Sài Gòn và Quảng Ninh vừa bị Cục Cảnh Sát Ðiều Tra Tội Phạm về Trật Tự Xã Hội triệt phá.

Trước đó, vào tối ngày 25 tháng 5, tại khách sạn Hạ Long Plaza, tỉnh Quảng Ninh, công an đã bắt quả tang 2 cặp nam-nữ đang “hành lạc” tại phòng 805 và 817. Cùng thời điểm này, công an đã bắt giữ “má mì” Trần Ðức Thùy Liên (30 tuổi), trú phường Hiệp Thành, quận 12, thành phố Sài Gòn, khi đang chờ nhận tiền của khách mua dâm tại sảnh khách sạn và ông Huỳnh Xuân Hùng, tức Hà, (39 tuổi) ở quận Gò Vấp, thành phố Sài Gòn.

Tin cho hay, bà Liên, ông Minh và ông Hùng là những người cầm đầu trong đường dây môi giới chuyên tổ chức các chuyến “sex tour” cho các đại gia.

Gái mại dâm trong đường dây này là người mẫu đã đoạt giải tại các cuộc thi sắc đẹp và những “hàng nhái” các diễn viên, “hot girl” đang đình đám ở Việt Nam, với giá “đi tour” từ $1,000 đến $20,000.

Bước đầu, công an xác định, bà Liên và ông Minh đã môi giới để cô Huỳnh Thị T.L. (25 tuổi), quê ở An Giang, hiện đang tạm trú phường 7, quận 5, thành phố Sài Gòn, bán dâm với giá $7,000/ngày.

T.L đã được bà Liên mua vé máy bay và đi cùng từ Sài Gòn ra Quảng Ninh để “đi khách “ với số tiền $14,000/2 ngày.

Ngoài ra, tại phòng 817 của khách sạn Hạ Long Plaza, cơ quan chức năng phát hiện gái bán dâm là L.T.T. (29 tuổi), quê ở Quảng Ninh, là người đã từng đoạt giải Á khôi của trường Sân Khấu Ðiện Ảnh được 2 “má mì” Liên-Minh móc nối đưa xuống Quảng Ninh để bán dâm.

Ngoài các người mẫu bán dâm, dư luận chung hiện rất quan tâm những đại gia mua dâm là ai? Làm gì?… bởi theo người dân không người bình thường Việt Nam nào lại bỏ ra những đồng tiền lương thiện đáng “một gia tài” để mua dâm như thế.

Hiện cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công An đang tiếp tục điều tra làm rõ. (Tr.N)

Tín Thác Lòng Thương Xót Chúa – Gọi Con Là Ma Sơ & Bao La Tình Chúa – Gia Ân

Tín Thác Lòng Thương Xót Chúa – Gọi Con Là Ma Sơ

httpv://www.youtube.com/watch?v=KfD2vlXj_rQ&feature=youtu.be

Bao La Tình Chúa – Gia Ân

httpv://www.youtube.com/watch?v=0DhZ9Xrhn6k

 

1.Bao la tình Chúa yêu con , mênh mông như biển thái bình,
dạt dào như ngàn con sóng, vỗ về năm tháng đời con,
tình Ngài như mưa đỉnh núi , suốt đời tuôn đổ dạt dào,
một tình yêu vô biên, một tình yêu vô biên.

ĐK: Hồng ân Chúa như mưa, như mưa
Rơi xuống đời con miên man, miên man
Nâng đỡ tình con trong tay, trong tay
Vòng tay thương mến
Đời có Chúa êm trôi êm trôi
Chúa dắt dìu con luôn luôn không thôi ,
Có Chúa cùng đi con không đơn côi
Ôi tình tuyệt vời

2.Xa xôi ngày tháng êm trôi, yêu thương như nước xuôi dòng,
mặn nồng như làn hơi ấm, đổ đầy mưa nắng đời con,
còn gì như ân tình Chúa, dắt dìu con bước trong đời,
từng nhịp chân yêu thương, từng nhịp chân yêu thương

3.Êm như làn gió đưa mây, đôi tay con hướng lên trời,
nguyện cầu cho đời con mãi, giữ trọn lời hứa trung kiên,
một đời con xin tận hiến Chúa, là hơi ấm mẹ hiền,
trọn đời con nương thân, trọn đời con nương thân

Hạnh Phúc Gia Đình

Hạnh Phúc Gia Đình

Giuse Thẩm Nguyễn

Gia đình là cơ cầu nền tảng của Giáo Hội và xã hội, vì thế gia đình có một vị trí rất quan trọng trong việc đào luyện và cung cấp cho Giáo Hội và xã hội những thành viên ưu tú trong tương lai.

Ý niệm về gia đình đã bị bóp méo khi mà có sự cho phép hôn nhân giữa hai người cùng phái. Danh từ vợ chồng thân thương đã bị thay thế bằng bên A và bên B trong một hợp đồng sống chung. Gia đình kiểu này không đáp ứng mục đích của gia đình lúc ban đầu là ” hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất…”(ST 1,28). Hai anh đực hay hai chị cái sống với nhau như vợ chồng thì làm sao có con được, có chăng là sự vay mượn, lấp liếm điền vào chỗ trống qua việc nhận con nuôi… mong thỏa mãn nỗi khát khao được làm cha mẹ.

Đó là cái nhìn về gia đình hiện nay mà xã hội chúng ta phải đối diện. Nhưng trong phạm vi chia sẻ cảm nghĩ về gia đình, tôi xin thu hẹp cái nhìn của mình vào gia đình, một gia đình Công Giáo mà thôi.

Tôi đã có dịp tham gia các cuộc hội thảo về gia đình. Buổi hội thảo nào cũng rất hay, cũng hữu ích cho các cặp hôn nhân. Các diễn giả trình bày về tâm lý người nam, tâm lý người nữ, cách giáo dục con cái, nhưng tôi có cảm tưởng là họ thiếu tâm lý Giê-su. Khoa tâm lý chỉ đưa ra cách giải quyết cái ngọn trong khi cội nguồn của hạnh phúc là chính Đấng Tạo Hóa thì bị quên lãng. Người ta chỉ có thể đem áp dụng kiến thức hôn nhân gia đình khi chúng ta có tình yêu nơi Chúa Giê-su. Vì Chúa là tình yêu, cho nên ta không yêu Chúa là Đấng Tạo Hóa thì ta không có khả năng yêu con người, một thụ tạo bằng tình yêu chân thật được. Do vậy mà tham gia hội thảo hoài, học hỏi mãi mà gia đình vẫn không có hạnh phúc?

Có lẽ những lý thuyết về tâm sinh lý, cách cư xử, điều nên làm, việc cần tránh… để có hạnh phúc thì ai cũng biết, nhưng từ cái biết, cái kiến thức đến việc thực hành có vẻ như rất xa. Các nhà tâm lý có câu “Con đường dài nhất của thế giới là con đường 18 inches từ cái đầu đến trái tim của bạn” hay là “ Khả năng biến đổi từ sự hiểu biết đến hành động là một quá trình vô cùng khó khan”. Vâng quả là khó khăn lắm đến nỗi có chuyện ngược đời là một nhà tâm lý kia khi thao thao thuyết giảng về cách bảo vệ hạnh phúc gia đình thì ông ta đang chờ ngày ra tòa ly dị vợ mình.!

Thật ra chúng ta chỉ có khả năng biến đổi, nhất là biến đổi mình để được yêu thương hơn, hạnh phúc hơn nơi Chúa Giê-su.

Là người Công Giáo, chúng ta biết rằng Giáo Hội khuyên chúng ta học hỏi và noi gương mẫu của gia đình Narazeth. Trong các lễ cưới, cha chủ tế thường hay lấy hình ảnh Thánh Gia làm khuôn mẫu cho đôi tân hôn. Vậy gia đình Thánh Giuse, Mẹ Maria, Chúa Giê-su có những bí quyết gì để chúng ta học hỏi.

Trong thời Thánh Giuse chắc là chưa có các nhà chuyên môn về tâm sinh lý, chưa có các chuyên viên về gia đình, chưa có sách học bí quyết sống hạnh phúc gia đình. Vậy thì trong hoàn cảnh đó gia đình Narazeth, tôi nghĩ sẽ không rành về tâm sinh lý, sẽ không đọc sách dạy khôn chuyện gia đình, sẽ không tham gia hội thảo như bây giờ.

Bởi đâu mà gia đình Thánh Gia hạnh phúc và nêu gương mẫu cho chúng ta. Trả lời của tôi cho câu hỏi này không biết đến từ đâu, có thể từ Kinh Thánh, từ lời dạy của Giáo Hội, từ những kinh nghiệm thực tế của cuộc sống? Nhưng tôi cảm nhận được rằng:

Gia đình Thánh Gia hạnh phúc vì có Chúa Giê-su hiện diện. Chính Chúa là nguồn yêu thương, chính Chúa là cội rễ của mọi nguồn an vui hạnh phúc. Chúng ta không tìm được hạnh phúc nơi gia đình vì gia đình mình vắng bóng Chúa Giê-su.

Vì không có Chúa nên gia đình luôn bất an tựa như con thuyền mong manh tròng trành, nhấp nhô giữa sóng đời. Tính ích kỷ, thói ghen tuông, lòng tham lam đố kỵ làm rạn nứt mối quan hệ gia đình. Sự thiếu cảm thông, thiếu hy sinh, thiếu quan tâm, thiếu tôn trọng đào sâu thêm những rạn nứt càng ngày càng trầm trọng hơn và hậu quả tất yếu là gia đình thành bãi chiến trường: những cuộc khẩu chiến, những thắng, thua, hơn, thiệt, chán nản, ngoại tình, hận thù và tan vỡ.

Khi chúng ta dọn đến một căn nhà mới, người Công Giáo thường mời linh mục đến làm phép nhà rồi sau đó là tiệc mừng. Nhưng làm phép nhà để làm gì? Phải chăng làm phép nhà là mời Chúa vào ở với mình? Khi có Chúa hiện diện, chúng ta sẽ dễ dàng nhìn nhau bằng ánh mắt yêu thương, sẽ ngọt ngào trong cách cư xử, sẽ nhận ra nhu cầu của người khác, sẽ biết cho đi hơn là nhận. Không những chúng ta cần Chúa hiện diện trong căn nhà mình đang sống (house), mà chúng ta cũng cần Chúa hiện diện nơi gia đình (home), nơi tâm hồn của mỗi thành viên trong gia đình. Ý thức về sự hiện diện của Chúa giúp chúng ta rất nhiều trong việc biến đổi cách sống mỗi ngày.

Gia đình Thánh Gia hạnh phúc vì có một gia trưởng là Thánh Giuse, một người công chính. Người công chính là người luôn trung thành thờ phượng Thiên Chúa, luôn tìm kiếm và thực thi theo ý muốn của Thiên Chúa. Khi biết mẹ Maria có thai, không phải là con của mình, Thánh Giuse không điên tiết, ghen tuông, hành động cục cằn thô lỗ, mà ngài âm thầm tìm hiểu sự thật qua cầu nguyện, lắng nghe ý Chúa. Ngài nghĩ tốt về Mẹ Maria, về người bạn trăm năm của mình. Khi được Thiên Thần báo mộng, Thánh Giuse chấp nhận và làm theo ý Chúa. Ngài làm thợ mộc để nuôi vợ là Maria và con là Chúa Giê-su. Ngài kiếm tiền bằng sức lao động của mình và dạy con bằng chính đời sống của mình.

Gia đình Thánh Gia hạnh phúc vì có người vợ, người mẹ dịu hiền và khiêm nhường là Mẹ Maria, một phụ nữ được Thiên Chúa chúc phúc. Mẹ Maria là một người mẹ can đảm,sẵn sàng chấp nhận hy sinh và thi hành ý muốn của Thiên Chúa. Mẹ Maria phục tùng chồng là Thánh Giuse và cậy dựa vào sự bao bọc của chồng. Nơi Mẹ toát ra sư yêu thương ngọt ngào làm cho Thánh Giuse quên hết sự vất vả lao động hằng ngày. Mẹ không than trách, không nhiều lời trước những biến cố trong gia đình.. Mẹ giữ lấy trong lòng những biến cố buồn vui ấy và gói ghém như món quà dâng lên Chúa.

Trong phúc âm, Chúa Giê-su đã nhiều lần nhắc đến việc Ngài đến thế gian để làm theo ý Chúa Cha. “vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 6,38).Trong hôn nhân, Thánh Giuse cũng luôn tìm hiểu và làm theo ý Chúa. Mẹ Maria cũng luôn chấp nhận và làm theo ý Chúa. Trong cuộc sống gia đình, để có được hạnh phúc chúng ta cũng phải tìm kiếm, chấp nhận và làm theo ý Chúa như trong Kinh Lạy Cha “Xin cho ý­­ Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Làm theo ý Chúa thì sẽ đẹp ý chồng, trong ý vợ, được ý con.

Quả thật, Giáo Hội đã rất khôn ngoan khi dạy con cái mình noi theo gương mẫu Thánh Gia để xây dựng hạnh phúc gia đình. Thiên Chúa là cha yêu thương sẽ ban cho chúng ta mái gia đình hạnh phúc nếu chúng ta biết mở lòng đón Chúa ngự vào. Người làm chồng hãy sống như Giuse, người làm vợ hãy sống như Mẹ Maria, người làm con hãy sống như Chúa Giê-su. Hạnh phúc gia đình nằm trong tầm tay, chúng ta chỉ cần giơ tay đón lấy.

Lạy Thánh Gia xin nâng đỡ và bảo vệ hạnh phúc gia đình chúng con. Amen

Phát sốt với điện thoại thông minh ‘made in Vietnam’

Phát sốt với điện thoại thông minh ‘made in Vietnam’

Bphone được sản xuất ở Việt Nam.

Bphone được sản xuất ở Việt Nam.

26.05.2015

Một điện thoại thông minh được cho là sản xuất hoàn toàn ở Việt Nam có tên gọi Bphone đã ra mắt ở trong nước hôm nay.

Lãnh đạo Bkav, tập đoàn sản xuất Smartphone này, được báo chí trong nước trích lời nói rằng sản phẩm của họ “có kiểu dáng, cấu hình và camera không thua kém thiết bị của Apple hay Samsung”.

CEO của Bkav, ông Nguyễn Tử Quảng, cho biết tại lễ công bố sản phẩm hôm 26/5 rằng đây là “chiếc smartphone của người Việt và thiết kế riêng dành người Việt”.

Ông cũng khẳng định rằng “Bphone là chiếc điện thoại đẹp nhất nhì trên thế giới, và là chiếc điện thoại đầu tiên trên thế giới sở hữu kiểu dáng phẳng, loại bỏ hầu hết các chi tiết thừa”.

Ông Quảng nói thêm: “Chúng tôi vô cùng tự hào có thể thiết kế, và sản xuất được một sản phẩm như vậy ngay tại Việt Nam, một đất nước còn vô cùng nhiều khó khăn, còn vô cùng nhiều những điều không thuận lợi. Và dĩ nhiên, chúng tôi yêu bạn, yêu các bạn, và vì tôi yêu Việt Nam”.

Bkav là tập đoàn chuyên về phần mềm diệt virus nên Bphone được cho là sẽ “không bị dính mã độc, tin nhắn rác và là điện thoại đầu tiên được trang bị sẵn hệ thống Firewall giúp kiểm soát các nguy cơ an ninh”.

Sự kiện ra mắt Bphone được đánh giá là sự kiện công nghệ thu hút nhất tại Việt Nam trong năm với sự tham gia của hàng nghìn người.

Theo quan sát của phóng viên VOA Tiếng Việt, trên các diễn đàn trên mạng, nhiều người đã kêu gọi mua Bphone để ủng hộ “hàng Việt Nam”.

Theo VnExpress, Dan Tri, VOA

Trương Duy Nhất bị ném ra lề đường Hồ Chí Minh, cách trại 4km

Trương Duy Nhất bị ném ra lề đường Hồ Chí Minh, cách trại 4km

Huy Đức

Giờ này, nhà báo Trương Duy Nhất đã ở trên máy bay để về Đà Nẵng. An ninh “tiễn” anh ra tận sân bay, giờ chót mới xuất vé. Tôi không hiểu tại sao người ta sợ anh đến thế. Đón anh chỉ có 4 người phụ nữ – vợ, Cao Thị Xuân Phượng, con gái, Trương Thục Đoan, hai mẹ con người bạn lâu năm – và tôi (có việc đi qua Nghệ An, rất muốn anh nhìn thấy một người bạn trong giờ phút tự do) mà lực lượng canh chừng lên tới hàng chục người. Khi tới trại, 6:30, trực ban cho chị Phượng biết 9:00 anh Nhất sẽ ra. Thế nhưng, 8:00 thì anh Nhất bị áp tải bởi 8 người mặc thường phục và 2 người cảnh phục trên một xe 12 chỗ. Hơn chục công an xã lập tức lao theo. Nhất nhao ra gọi vợ con thì bị khoá tay, ghì xuống. Thay vì nhẹ nhàng bước ra cổng nhà tù, Trương Duy Nhất bị ném ra lề đường Hồ Chí Minh, cách trại 4km.

Từ Thanh Chương, Trương Duy Nhất phải về Đà Nẵng ngay để chịu tang bà nội vợ. Anh bị bắt chỉ vì muốn có Một Góc Nhìn khác, đã rất kiên cường trong tù; vừa lên xe, anh nói: Tôi có sau lưng 3 người anh hùng là mẹ, vợ và con gái.

Có mặt ở trại giam từ 6:00 sáng, không ăn uống gì, chỉ vợ mong chồng, con ngóng cha.

Vậy nhưng, nhà báo Trương Duy Nhất không được đối xử như một người tự do.

Không có một cái ôm chờ đợi, hơn 20 kẻ mặc thường phục đứng hằm hè, chĩa camera vào cuộc hội ngộ sau hai năm của hai vợ chồng một nhà báo chỉ mong đất nước tốt đẹp.

Sân bay Vinh.


Sau vừa đúng 2 năm.

H. Đ.

Nguồn: FB Truong Huy San

Texas mưa, lụt nặng, hàng ngàn người di tản, giao thông hỗn loạn

Texas mưa, lụt nặng, hàng ngàn người di tản, giao thông hỗn loạn

Nguoi-viet.com

Nhất Anh/Người Việt

HOUSTON (NV) – Thay vì được tận hưởng ngày lễ Memorial Day vui vẻ và trọn vẹn, trong hai ngày 25 và 26 tháng Năm, người dân tiểu bang Texas phải đối mặt với trận mưa bão gây ngập lụt lớn nhất từ trước đến nay.

Trận mưa bắt đầu từ hôm Chủ Nhật, qua đến ngày Thứ Hai thì to hơn và gây ra trận lụt lớn ở nhiều nơi thuộc Texas, trong số đó khu vực Hay County và Harris County bị ảnh hưởng nặng nề.

Xe cộ bị dồn cục và ngập trên xa lộ 45, gần downtown Houston. (Hình: David Phillip/ AP Photo)

Theo CNN,  đã có 12 người mất tích tại Wimberley, một thị trấn nhỏ thuộc Hay County, nằm giữa Austin và San Antonio. Nước dâng cao vào hôm Chủ Nhật, biến đường sá thành những con sông nhỏ, xe cộ khó khăn di chuyển và buộc hơn 1,000 người phải di tản.

“Mưa bắt đầu vào khoảng 2 giờ rưỡi chiều, đến 5 giờ thì to hơn, gây lụt nhanh, nước thoát không kịp”, cô Hồng Nguyễn, một người Việt cư ngụ tại thành phố Bhluggerville, Austin cho báo Người Việt biết.

Cô Hồng Nguyễn nói thêm: “Mình nghe những người hàng xóm nói đây là trận lụt lớn nhất trong vòng 35 năm qua. Nhà mình đến chiều là nước ngập lụt cả basement, đến sáng hôm nay mới rút. Ở giao lộ Dessau và Howland ngập lụt đến nỗi cảnh sát phải đóng đường không cho xe chạy đến gần 10 giờ tối.”

Theo nhật báo Houston Chronicle, thẩm phán Harris County, ông Ed Emmett, cho biết nước ngập cả tầng hầm của toà án ở trung tâm thành phố. Các toà nhà công sở hành chánh ở downtown Houston đã phải thông báo đóng cửa, cho các nhân viên nghỉ ở nhà hôm Thứ Ba.

Phía sau ngôi nhà của cô Hồng Nguyễn bị ngập lụt ở thành phố Bhluggerville. (Ảnh: cô Hồng Nguyễn cung cấp)

Nói với Người Việt, ông Tim Nguyễn, một cư dân đang cư ngụ tại thành phố Cypress, phía Tây Bắc Houston, hiện đang làm việc tại công ty Chemical Trading MIB, cho biết ông nhận được thông cáo từ công ty đóng cửa và không làm việc vào sáng sớm sau trận lụt suốt đêm hôm Thứ Hai.

“Mặc dù ở khu vực tôi ở không bị ảnh hưởng lụt lội, nhưng công ty đang làm việc lại toạ lạc ngay ở downtown Houston, không có cách nào có thể đi xuống đó do mưa to lụt cao trên đường. Các xa lộ để đi vào downtown đều bị cảnh sát đóng cửa”.

Cũng theo nhật báo Houston Chronicle, có hơn 59,000 căn nhà ở khu vực Houston bị mất điện.

Ngoài ra, đã có rất nhiều người lái xe tìm cách né tránh các khu vực ngập nước để kiếm đường về nhà. Tuy nhiên, một số người lại không may mắn, bị mắc kẹt trong vùng nước lụt hơn nhiều giờ đồng hồ.

Cô Du Hạ, cư dân ở thành phố Missouri, cách downtown Houston khoảng 23 miles về phía Đông Nam, cho hay, các kênh thoát nước ở các xa lộ như I-10, 59 hay 45 hướng về phía downtown không kịp thoát nước vì mưa to, nước dâng quá nhanh.

“Các đồng nghiệp của tôi sinh sống ở khu vực Downtown nói với tôi rằng nơi họ ở bị lụt nặng nề. Có người thì mắc kẹt trên xa lộ hơn mấy tiếng đồng hồ vẫn chưa về được tới nhà. Có người có nhà bị ngập lên đến bàn ăn. Coi tin tức trên tivi thấy xe nằm trên đường nước ngập lên đến nóc, trông mà sợ”.

“Vì Downtown Houston là nơi vùng trũng, nên việc ngập lụt nặng nề nhất cũng là điều dễ hiểu. Các trường học xung quanh đều đóng cửa hết toàn bộ. Mặc dù sáng hôm nay nước đã rút bớt, nhưng cứ mưa rả riết như thế này, có khi mai lại được công ty thông báo cho nghỉ thêm một ngày”, cô Du Hạ chia sẻ.

Cũng vẫn tại Houston, đến tối Thứ Ba, 26 tháng Năm, một số xa lộ đã mở đường trở lại. Ở khu vực đường 288, một số làn xe đã mở trong khi xa lộ I-10 vẫn còn đóng.

THIÊN ĐÀNG Ở ĐÂU?

THIÊN ĐÀNG Ở ĐÂU?

Đỗ Trân Duy

Đối với Kitô hữu, có lẽ ai cũng nghĩ rằng mình biết Thiên đàng ở đâu, dĩ nhiên là ở trên trời. Tin như vậy là đủ, chẳng ai cắc cớ thắc mắc thiên đàng ở chỗ nào trên trời. Vả lại ai có thẩm quyền trả lời cho một thực thể siêu hình đó. Cuối cùng chỉ những tay vô thần sừng sỏ nêu ra vấn đề này với thâm ý bắt bí tín lý Thiên Chúa giáo. Vấn đề xem ra không đơn giản, vì gần đây chính một số nhà tư tưởng Công Giáo cũng nói về “nơi chốn” của thiên đàng. Vậy chúng ta phải hiểu về chốn thiên đàng như thế nào? Bài viết này không dám trả lời cho vấn đề lớn đó. Đây chỉ là một chú giải nhỏ, phụ theo lời giảng của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mà thôi.

Thiên đàng hiểu theo truyền thống

Thiên đàng, theo đức tin truyền thống Việt Nam, là một nơi chốn cụ thể và được đồng hóa với cõi trời. Trong kinh “Lạy Cha” câu mở đầu nói rõ: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”.  Rồi những khóm từ như “Đức Mẹ lên trời”, “lễ Thăng Thiên”, “hoan hô Chúa trên các tầng trời”… tất cả đều xác định thiên đàng là cõi trời. Trong những truyền thống đức tin khác, như của Âu Mỹ, họ không dùng chữ “trời” mà dùng danh xưng “heaven” (thiên đàng). Cũng trong kinh “Lạy Cha”, câu mở đầu là “Our Father who art in heaven.” Theo tiếng Hebrew, heaven có nghĩa là “trên cao” (Catholic Encyclopedia). Tuy heaven không xác định là ở trên trời, nhưng vẫn được hiểu ngầm như vậy. Trong thánh kinh có rất nhiều trình thuật gợi ý như “Hãy nhìn lên thiên đàng mà xem các tầng mây cao hơn ông biết mấy!” (Yob 35:5). Thánh Stêphanô nói, “Này tôi thấy các tầng trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa” (CV 7:56). Thánh Gioan miêu tả cảnh phục sinh: “Rồi các ngài nghe một tiếng lớn từ thiên đàng: ‘Hãy lên đây’, và các ngài lên thiên đàng trong đám mây, trước mặt thù địch của các ngài” (KH 11:12). Sách Tông đồ công vụ miêu tả rõ hơn, “Khi Chúa Giêsu được đưa lên cao, các môn đệ nhìn theo Chúa cho đến khi một đám mây che kín mất Ngài” (CV 1:9).
Nếu chúng ta đi tìm lời nói của Đức Giêsu về vấn đề này, chúng ta không thấy có chỗ nào Người nói thiên đàng ở trên trời. Đức Giêsu cũng không đồng hóa Thiên Chúa với thiên đàng (hay trời). Lời cầu nguyện của vua Salômôn chứng tỏ người xưa cũng ý thức như vậy: “Có thật Thiên Chúa cư ngụ dưới đất chăng? Này, trời cao thăm thẳm còn không chứa nổi Ngài, huống chi ngôi nhà con đã xây đây!” (1 Vua 8:27)

Đại chúng cho rằng có thể suy diễn vấn đề trên qua nguyên tắc: thiên đàng là nơi Thiên Chúa ngự, vậy nếu biết Thiên Chúa ở đâu, ta sẽ biết thiên đàng ở đâu. Người ta cũng đã tưởng rằng chỉ có ba câu trả lời cho vấn đề ấy. Thứ nhất, thuở xưa người ta tin Thiên Chúa tạo ra vũ trụ nhưng Chúa là Đấng siêu việt vượt trên vật chất, nên không đồng hóa với vũ trụ. Thiên Chúa ở ngoài vũ trụ. Đến thế kỷ 18, con người khám phá ra vũ trụ vô cùng lớn, lớn đến mức dù ta có di chuyển với tốc độ ánh sáng, qua hằng ngàn năm, cũng chưa tới biên giới của nó. Con người không chấp nhận nổi có chỗ nào gọi là bên trên hay bên ngoài vũ trụ. Vả lại nếu Thiên Chúa ở bên ngoài vũ trụ, vậy vũ trụ càng lớn, Chúa lại càng ở rất xa con người. Làm sao con người có thể gần Thiên Chúa để cầu nguyện.

Câu trả lời thứ hai, người ta đặt Thiên Chúa vào bên trong vũ trụ. Do đó mà có niềm tin thiên đàng ở trên trời, tức là ở bên trong vũ trụ. Nhờ thế mà con người có thể gần với Thiên Chúa. Quan niệm này cũng không ổn, vì nếu ở trong vũ trụ Thiên Chúa phải là một sinh thể của vũ trụ. Có lý nào Thiên Chúa là một phần của vũ trụ mà vũ trụ ấy lại do chính Ngài tạo ra. Những niềm tin sơ thuần cho rằng Thiên Chúa ở bên ngoài hay bên trong vũ trụ đều đẩy trí thức đến ngõ bí vì kết quả vô lý của suy luận.

Câu trả lời thứ ba dựa vào tín lý. Trong lãnh vực này, chúng ta thấy có hai phe. Phe thứ nhất, đại diện là Joseph Campbell, tin rằng con người không thể nào biết được Thiên Chúa là ai. Vì vậy không nên đặt vấn đề sự hiện hữu của Thiên Chúa. Thánh kinh cũng nói: “Thiên Chúa vượt xa hơn và vượt trên tất cả những gì chúng ta có thể tưởng nghĩ về Ngài” (GLCG 2794). Thần học gia Paul Tillich phủ nhận lối diễn tả “hiện hữu của Thiên Chúa”. Ông cho rằng nói như vậy chúng ta đã mặc nhiên cho Thiên Chúa là một phần thực thể của thiên nhiên. Bởi vì “hiện hữu” có nghĩa là đang có và đang biệt lập đứng lơ lửng ở đâu đó ngoài mặt đất. Ông đổi ý niệm “hiện hữu” (exist) bằng ý niệm Thiên Chúa “thường hằng” (God is). Nhóm thứ hai cho rằng Thiên Chúa mang bản chất pantheism, nghĩa là mọi thứ đều ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở khắp mọi nơi (omnipresence) vì Ngài là Đấng vô hạn (immensity) (Council of Lateran, c. “Firmiter”; Vatican Council, Sess. III, c. 1.).  Như vậy vũ trụ ở trong Thiên Chúa. Tóm lại, như chúng ta thấy, với những nhận định trên, câu trả lời về “thiên đàng ở đâu” vẫn còn bỏ ngỏ.

Điểm thời sự không thể tránh

Trong buổi cầu nguyện với quần chúng ngày 21 tháng 7 năm 1999, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tạo nên vấn đề thời sự. Ngài nói: “Thiên đàng là một trạng thái sống (state of being) chứ không phải là một nơi chốn (place) theo nhận thức của ngôn ngữ loài người.”  Giáo hoàng nói rõ thêm,“Thiên đàng không phải là một khái niệm trừu tượng hay là một địa điểm cụ thể trong những cụm mây, nhưng là một lối sống, là mối quan hệ giữa cá nhân với Thiên Chúa Ba Ngôi. Đó là cuộc gặp gỡ Chúa Cha, diễn ra trong Chúa Kitô phục sinh, và hiệp thông với Chúa Thánh Thần.” (1) Đối với giới truyền thông ngoài Công Giáo, lời tuyên bố này quá bất ngờ vì đi ra ngoài nhận định về thiên đàng của truyền thống.

Mười một năm sau, 2010, dưới triều Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, Tòa Thánh cho phát hành cuốn YOUCAT (Youth Catechism – Giáo Lý Công Giáo cho Giới trẻ). Trong tập sách này, hiện thực của thiên đàng được lập lại và chính thức đưa vào mục giáo lý. Theo đó thiên đàng không phải là một nơi chốn mà là một trạng thái sống (a kind of life) trong ý thức về Thiên Chúa hiện diện. Sự hiện diện này không lệ thuộc vào không gian và thời gian (không-thời gian). (2) Như vậy cả hai đức Giáo Hoàng, những vị có thẩm quyền tông truyền, đều quan niệm về “nơi chốn” thiên đàng như nhau.

Sự tiếp nhận

Ngay sau khi Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phát biểu, không ít người sửng sốt và phản đối. Có người dè dặt cho rằng, “Có lẽ Giáo hoàng có một mạc khải tư nào đó về thiên đàng chăng.” Đa số tín hữu vướng mắc trong  những sự kiện như: Đức Mẹ hồn xác lên thiên đàng (trời), hay: đến ngày tận thế xác chết sống lại, kẻ lành lên thiên đàng… Họ cho rằng vì thể xác là vật chất, nếu không có nơi chốn thì thể xác sẽ tồn tại ở đâu. Ngoài ra những khóm từ gợi hình trong thánh kinh như: mở cửa thiên đàng, tầng trời mở ra, ngự bên hữu Chúa Cha… tất cả đều trình bày theo kinh nghiệm ở trong một nơi chốn.

Mặc dù thánh Phaolô đã giảng thân xác phục sinh là một thân xác thần linh (celestial bodies) không phải là thân xác huyết nhục. (1 Côr 15: 35-44) Thân xác Chúa Giêsu phục sinh là một điển hình. Chúa chợt “xuất hiện” để nói chuyện với hai đệ tử trên đường đến Emmaus, rồi “tan biến” khi tới nơi. Chúa cũng “hiện ra” giữa các môn đệ đang họp trong gian phòng cửa khóa kín, rồi cũng “biến mất” sau khi chúc lành cho họ. Xem thế, thân xác thần linh không cần một nơi chốn cụ thể để trú ngụ. Đa số tín hữu quen trong giới hạn của không gian 4 chiều, nên muốn giới hạn thiên đàng và Thiên Chúa trong không gian 4 chiều. Họ không thể tưởng tượng nổi một thân xác thần linh và một thiên đàng không có nơi chốn. Họ hoang mang đối diện với sự kỳ diệu của thực thể vô không-thời gian mà con người khó diễn tả và trí tưởng tượng phải dừng lại nơi giới hạn của nó.

Đàng khác cũng có rất nhiều người tiếp nhận lời giảng của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II một cách dễ dàng. Họ cho rằng Giáo Hoàng đưa ra một nhận thức thần học đúng, nhưng tạo ra dao động chỉ vì ngài thiếu phần chú giải đi kèm. Nhận xét này rất chính xác. Chúng ta có thể đặt chú giải cho nhận thức đó qua nhận định về bản thể của thân xác hiển linh. Có lẽ không hình ảnh nào cụ thể hơn là bánh và rượu trong thánh lễ. Nếu thân xác Chúa Giêsu bị giới hạn trong thể chất, và trong không-thời gian, làm sao chúng ta có Mình Máu Chúa Giêsu, trong dạng bánh và rượu, hiện diện cùng lúc ở khắp mọi nơi trên thế giới. Bàn về thân xác hiển linh của Đức Mẹ, chúng ta cũng biết Đức mẹ đã hiện ra và biến mất rất nhiều lần. Mỗi lần hiện ra chỉ vài người tuyển chọn mới có diễm phúc chiêm ngưỡng Đức Mẹ. Chẳng hạn lần hiện ra ở Fatima, mặc dù có rất nhiều người đứng tại chỗ Đức Mẹ hiện ra, nhưng chỉ có 3 em nhỏ nhìn thấy Đức Mẹ. Như vậy thân xác Đức Mẹ vừa là hữu hình vừa là vô hình tùy theo liên hệ với từng cá nhân. Nếu xác Đức Mẹ là thể chất vật lý, mọi người đều phải thấy như nhau. Rõ ràng là thân xác phục sinh không bị trói buộc bởi bất cứ một luật lệ vật lý nào. Suy ra mối kết hợp giữa cá nhân và Thiên Chúa (thiên đàng) là một trạng thái sự sống riêng tư, chứ không theo bất cứ luật lệ vật lý nào.

Chân lý bao gồm cả đức tin lẫn kiến thức, nên tín hữu chúng ta buộc phải học hỏi tìm hiểu. Ðó là lý do Thánh Phêrô đã dạy, “Hãy nỗ lực bổ sung đức tin với nhân đức, và bổ sung nhân đức với sự hiểu biết” (2 Phê 1:5). Năm 2000, ký giả vô thần Peter Seewald hỏi Hồng y Ratzinger “Thiên đàng ở đâu?” Hồng y trả lời, “Những từ như ‘mây’ và ‘thiên đàng’ chỉ là cách nói mà con người muốn tìm cho Thiên Chúa có một nơi chốn. Đúng ra cách nói ‘Chúa Giêsu lên thiên đàng’ chỉ có nghĩa là không còn nhìn thấy trên mặt đất chứ không phải không còn hiện diện trên mặt đất.” (3) Bởi vậy vẫn có người tuyển chọn có ơn phước nhìn thấy Chúa Giêsu, chẳng hạn thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, thánh Padre Pio…

Quan điểm thần học

Chúng ta hãy bắt đầu bằng một tín lý quen thuộc và đặt tín lý đó vào một tam đoạn luận đơn giản: Thiên Chúa ở khắp mọi nơi. Thiên đàng là nơi Thiên Chúa ngự. Vậy thiên đàng ở khắp mọi nơi.

Như vậy phải chăng giữa thiên đàng và con người không còn ranh giới? Theo thần học, đoạn lý luận trên vô giá trị, bởi vì đã không thấy thiên đàng là ơn phước. Thiên đàng không phải là kết quả của một điều kiện hay của một định luật vật lý. Mặc dù Thiên Chúa ở khắp mọi nơi nhưng Chúa tỏ lộ vinh quang của Người qua phương cách ơn phước đặc sủng. Theo thần học gia Gerhard Ebeling, “Không phải Thiên Chúa ở đâu, thiên đàng ở đó, mà là thiên đàng ở đâu Thiên Chúa ở đó” (not that God is where heaven is, but rather heaven is where God is). Vì là ơn phúc nên phải có sự kết hợp sống động giữa cá nhân và Thiên Chúa. Cũng không phải ai cũng có mức độ ơn phước giống nhau. Gọi là thiên đàng, hay trời, chỉ là cách biểu đạt bất toàn của ngôn ngữ loài người về trạng thái cá nhân “hiệp thông trong sự sống và tình yêu với Thiên Chúa Ba Ngôi” (GLCG 1024). Nói cách khác, không hề có một thiên đàng tĩnh, tồn tại bất biến ở nơi nào đó trong vũ trụ.

Tình kết hợp giữa cá nhân và Thiên Chúa biểu lộ giáo huấn vô cùng quan trọng về tính tự do của con người. Tính tự do đặt con người ở thế chủ động trước ơn phước của Thiên Chúa. Ta muốn liên kết với Thiên Chúa hay không là tùy ở ta. Bởi vì Thiên Chúa chỉ “hiện diện” ở những nơi đạo đức tốt lành. Thiên Chúa không “hiện diện” ở nơi tội lỗi sa đọa. Đức Giêsu đã nói, “Phúc cho những ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa (Mat. 5:8). Tuy nhiên lại phải hiểu rằng “hiện diện” không nằm trong bất cứ phạm trù nào thuộc không-thời gian. Lm Phan Đình Cho tóm tắt rằng thiên đàng phải hiểu là một ơn phước mà Thiên Chúa dành cho người tốt lành và hoả ngục là một thái độ con người tự do từ chối ơn phước đó. (4)

Vài sự kiện trong hạnh các thánh có thể làm rõ hơn về ý tưởng thiên đàng là một ơn phước của Thiên Chúa.  Các vị thánh cao trọng như Gioan Thánh Giá (John of the Cross), Têrêsa Lisieux, và thánh Têrêsa  Calcutta đã trải qua một khoảng thời “mất ơn phước vì bị Thiên Chúa bỏ rơi”. Thánh Gioan Thánh Giá gọi kinh nghiệm này là “đêm đen của linh hồn”. Thiên Chúa cố tình không “đến” với họ khiến tâm hồn họ lạc lõng, trống rỗng, tối đen và đau khổ. Thiên Chúa dành riêng cho một số vị đặc sủng ơn thử thách “đêm đen” này. (5) Nhưng đây là một chủ đề khác, chúng ta không muốn đi ra ngoài chủ đề hôm nay.

Trở lại với tín lý “Thiên Chúa ở khắp mọi nơi”. Thần học dạy rằng chúng ta phải thấy tín lý đó theo hướng nhìn về ơn sáng tạo và ơn cứu độ phổ quát. Thiên Chúa ở khắp mọi nơi có nghĩa Thiên Chúa nâng đỡ sự hiện hữu của vũ trụ. Bởi vì duy chỉ có Thiên Chúa là Hữu. Không gì có trước Hữu, nên Thiên Chúa là Đấng tự Hữu, Hữu Tuyệt Đối. Thiên Chúa đã tạo dựng nên vũ trụ từ hư vô. Nghĩa là mọi vật từ hư vô nhờ Hữu, qua Hữu mà được thành hữu thể. Vì từ Hữu mà ra, nên mọi hữu thể đều thuộc về Hữu, và hiện tính của Hữu có trong mọi hữu thể. Vì vậy mọi hữu thể đều ở trong Hữu. Nếu Thiên Chúa vắng mặt mọi thứ trở thành hư vô ngay tức khắc.

Nếu cảnh giới thiêng liêng nằm ngoài không-thời gian, thì hiển nhiên thiên đàng không nằm trong vũ trụ vật chất. Vì ngôn ngữ của lời cầu nguyện, bắt buộc chúng ta phải xưng hô với Thiên Chúa như một Đấng ở đối diện, nhưng không phải như vậy. Thánh Augustine đã nói những lời cảm khái, “Chúa ở bên trong và luôn luôn ở cùng tôi.” Thánh Phaolô đã có lần đứng giữa chợ trong thành Athens giảng đạo. Thánh nói, “Họ đã đi tìm Thiên Chúa, nhưng thực ra Thiên Chúa đâu có ở xa chúng ta. Chúng ta sống và sinh hoạt trong Thiên Chúa. Nhờ đó chúng ta hiện hữu” (CV 17:27). Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói, “Nếu Thiên Chúa là một đối tượng cụ thể có thể thấy được thì người đó không phải là Thiên Chúa.”

Điều mà hai Giáo Hoàng đưa ra đã được các thần học gia nói tới từ thời thánh Augustinô cho tới ngày nay. Thiên đàng là “điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không thể nghĩ tới, lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Ngài” (1cor 2:9). Vì vậy, hiện tại con người chỉ có thể “thấy” Thiên Chúa bằng đức tin mà thôi. Cho nên “thấy qua đức tin” là một trạng thái của sự sống. Cái thấy này khác với cái thấy trọn vẹn “mặt giáp mặt”, trong cõi vĩnh hằng, khi con người có thân xác phục sinh hiển linh. Khi đó con người không những kết hợp với Thiên Chúa, mà còn kết hợp với các thánh và với các thiên thần (GLCG 962). Thời điểm vĩnh hằng đó, đối với kinh nghiệm hạn hẹp của con người tại thế, chỉ có thể hình dung bằng cách đặt toàn bộ vào một nơi chốn. Theo truyền thống, ngôn ngữ loài người gọi “nơi chốn” đó là thiên đàng. Thiên đàng là một huyền nhiệm không thể nói rõ ra được.

Đỗ Trân Duy
————–
(1) Xin đọc “Heaven”, L’Osservatore Romano, Weekly Edition in English. 28 July 1999.
(2) Xin đọc các câu hỏi 52, 123, 158, 242, 285, và 518 về thiên đàng trong YOUCAT. 2011. Ignatius Press, San Francisco
(3) Xin đọc “Where is God?” P. 105, God and the World. 2002. Joseph Ratzinger. Ignatius Press, San Francisco.
(4) Phan Đình Cho. 2000. Câu hỏi 47, Giải đáp 101 câu hỏi về cái chết và sự sống vĩnh hằng. University Press. New York, USA.
(5) Mẹ Têrêsa Calcutta. Come Be My Light. 2007. Brian Kolodiejchuk chủ bút. Nhà xuất bản Doubleday. Đồng thời để hiểu rõ hơn ý nghĩa của “đêm đen” xin tham cứu bài “On A Dark Night” trong sách The Ascent To Truth. 1981. Thomas Merton. Nhà xuất bản Harcourt Brace & Company, San Diego, California.

Má tôi, vài tâm tình và lòng biết ơn.

Má tôi, vài tâm tình và lòng biết ơn.

Người viết: Phùng Văn Phụng

(Hôm nay 26-05-2015 kỷ niệm ngày má tôi mất được 30 ngày)

Từ trong nhà thờ ra, đang chạy xe về, con gái út báo tin bà nội mất. Lòng tôi xao xuyến, buồn , hụt hầng, bàng hoàng và vẫn bất ngờ vì tôi vẫn hy vọng má tôi còn sống thêm thời gian nữa. Không biết phải tính làm sao, chắc chắn không về kịp rồi vì má đã dặn chỉ làm đám tang trong ba ngày. Má mất sáng chúa nhật 26 tháng 4 năm 2015 ở Việt nam. Ở Mỹ mới là tối thứ bảy, má dặn tẩn liệm trong ngày. Ngày thứ hai thăm viếng và ngày thứ ba thì lễ an táng. Như vậy làm sao mà về dự tang lễ được.

Tử biệt sinh ly là qui luật của đất trời. Không ai thoát khỏi. Vậy mà tôi vẫn cảm thấy buồn, vẫn không muốn chấp nhận.

Mẹ tôi đã sống được 103 tuổi, thật là quý hiếm, hồng ân Thiên Chúa bao la. Thượng Đế đã thương ban cho má con dư đầy,  nên má con mới được hưởng phúc sống lâu trăm tuổi. Vậy mà tôi vẫn còn muốn má tôi sống thêm vài năm nữa.

Nói về cuộc đời của má tôi thì không thể kể hết được những khó khăn, cực khổ theo vận nước nổi trôi.

Trước đình chiến năm 1954, má tôi sống tại làng Đông Thạnh, quận Cần Giuộc, gần chợ Rạch Núi, tảo tần buôn bán để lo cho các con ăn học. Từ năm 1959, 1960, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thành hình, má tôi chịu sống giữa hai lằn đạn của hai bên quốc gia và cộng sản, thường ngủ ở dưới hầm để tránh đạn của hai bên đánh nhau. Đến năm 1963 má tôi phải bỏ nhà cửa ở dưới quê lên Sài gòn, vừa tránh chiến tranh, vừa để lo nấu nướng cơm nước cho các con đi học.

Rồi đến biến cố ngày 30 tháng 04 năm 1975, má tôi rất lo buồn vì có hai đứa con đi ” học tập cải tạo” không biết ngày về. Tôi ở trong các trại cải tạo miền Bắc Việt Nam gần 8 năm, em tôi chịu đựng đói khát, khổ sở trong các trại cải tạo miền Trung, gần 13 năm mới được về với gia đình. Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, má tôi phải bỏ Sài gòn tiện nghi để về quê làm ruộng. Má tôi có tiệm tạp hóa nhỏ để buôn bán, sống với ba đứa cháu nội vừa giữ nhà và giữ vài công ruộng, nếu không có mặt ở dưới quê, nhà nước mới sẽ tịch thâu ruộng đất, nhà cửa.

Sức chịu đựng của má tôi trong thời gian này thật vô cùng lớn lao. Không than thở, không oán trách ai.

Lúc còn trẻ, có lần tôi than phiền chưa làm được việc gì,chưa có sự nghiệp gì, má tôi liền nói: “ Mầy có mấy đứa con rồi đó còn muốn gì nữa.” Rất đơn giản thôi. Sống bình dị, đơn giản như mọi người vậy là vui vẻ, hạnh phúc lắm rồi.

Má tôi phải qua cuộc giải phẩu bao tử ở bịnh viện Grall, còn gọi là “bịnh viện đồn đất” hồi năm 1972, tưởng rằng sẽ giảm thọ nhiều năm.

Sau này, khi về già, có lúc lẫn lúc không. Lúc lẫn, nói chuyện thời xưa nhiều, đòi đi ra khỏi nhà, lúc đó má tôi có sức mạnh lạ kỳ và nhanh nhẹn nữa. Cản má đi ra ngoài nhà, thật là vất vả. Khi tỉnh lại má tôi đâu có mạnh được như  thế đâu, muốn đi đâu cũng phải sốc nách, dẫn đi. Không hiểu tại sao lúc đó lại mạnh như  vậy?

Sau này, phải xay nhuyển thức ăn để đút cho má ăn, chứ không còn ăn cơm bình thường được. Tắm rửa, ăn uống, nhờ con cháu trong nhà, chứ không tự làm lấy được. Hồi năm 2011, tôi về thăm, lúc đó má đi đâu cũng phải dẫn rồi. Mấy tháng sau này chỉ nằm, không thể ngồi được nữa, ăn uống càng ngày càng ít đi.

Các chú, các thím thay nhau đút cơm, tắm rửa, thay quần áo cho má.

Nhiều lúc má không tỉnh mới là rắc rối vì nhiều khi đi vệ sinh mà không biết, thường xuyên phải giặc giũ thay áo quần và tấm “ra”trải giường.

Trước khi má tôi mất một tuần lễ, thím ba đã rửa tội cho má tôi, lấy tên Thánh là Anna, để má được làm con cái Chúa, để  được hưởng VĨNH PHÚC trên Thiên đàng như Cha Chu Quang Minh phân ưu, cầu nguyện  như sau:

Chân thành cầu khẩn để

Cụ LÂM THỊ CHẦU

Mau được An Hưởng Vinh Phúc Ngàn Thu trên Thiên Đàng,

và Phân Ưu cùng anh chị song nguyền Phụng & Điện

cũng như toàn thể tang quyến trong lúc tử biệt uy nghiêm.

Thành kính,

Lm. Phêrô Chu Quang Minh, S.J.

Sáng lập Chương Trình TTHNGĐ

Chúng con xin cám ơn Cha Chu Quang Minh sáng lập Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia đình, Tân và Cựu Chủ nguyền cũng như các song nguyền của Chương trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình .

Xin cám ơn Cha Nguyễn Ngọc Thụ Chánh Xứ Giáo Xứ Ngôi Lời Nhập Thể.

Xin cám ơn Cha Bùi Tiến, Thầy Phó Tế Nguyễn Sĩ Bạch, chị Kim Bằng,

Xin cám ơn  Thầy Cựu Hiệu Trưởng Uông Đại Bằng, Thầy Cựu Giám Học Hồ Công Hưng, và các em Cựu Học sinh trường Lương văn Can Quận 8 Sài gòn.

Ban Trị Sự Họ Đạo Cao Đài quận 8 và quý Đạo Hữu Đạo Cao Đài,

Xin cám ơn Anh Đoàn Hữu Đức và các bạn trong văn phòng Đoàn Agency

Xin cám ơn các bạn Cựu giáo sư và Cựu học sinh truờng Châu văn Tiếp.

Nhóm cầu nguyện, chia sẻ Lời Chúa tối thứ năm hàng tuần.

Xin cám ơn Ban Điều Hợp Lớp Tân Tòng.

Đoàn Liên Minh Thánh Tâm của Giáo Xứ Ngôi Lời.

Anh chị em đồng hương Cần Giuộc Ca li và Houston.

Các thông gia và gia đình.

Xin cám ơn bà con, anh chị em ở Phạm Thế Hiển và xã Tân Tập, quận Cần Giuộc Long An.

đã phân ưu, gởi vòng hoa, đọc kinh, xin lễ, điện thư chia buồn, tiễn đưa Mẹ của chúng con là

Cụ Bà Anna Lâm Thị Chầu

đến nơi an nghĩ cuối cùng.

Xin quý vị tiếp tục cầu nguyện cho linh hồn Mẹ con. Trong tang lễ chắc chắn có nhiều điều thiếu sót, xin niệm tình tha thứ và xin Chúa chúc lành cho quí vị.

Vợ chồng Phùng văn Phụng, gia đình các em 

và các con, các cháu.

26 -05-2015

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Blogger Trương Duy Nhất mãn hạn tù

Blogger Trương Duy Nhất mãn hạn tù

Thân nhân blogger Trương Duy Nhất đã đến đón ông

Ông Trương Duy Nhất, chủ nhân trang blog ‘Một góc nhìn khác’, vừa được ra tù sau đúng hai năm thi hành bản án về tội ‘Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước’ theo điều 258 Bộ Luật Hình sự.

Ông Nhất được trả tự do vào lúc 8h sáng thứ Ba ngày 26/5 từ trại giam số 6 ở huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Ngay sau đó ông Nhất cùng vợ và con gái đã đáp máy bay từ Vinh trở về nhà ở Đà Nẵng.

BBC đã tìm cách liên lạc với ông và thân nhân nhưng chưa được.

‘Bị ném ra đường’

Đúng hai năm trước, vào ngày 26/5/2013, ông Nhất bị Cơ quan An ninh điều tra bắt giam tại nhà riêng. Gần một năm sau, Tòa án Đà Nẵng đã tuyên án ông Nhất hai năm tù giam theo Điều 258.

Trên trang Facebook của mình, nhà báo Huy Đức, người đã cùng vợ con ông Nhất đến đón ông tại nhà giam, cho biết ông Nhất ‘bị áp tải bởi 8 người mặc thường phục và 2 người cảnh phục trên một xe 12 chỗ’.

“Nhất nhao ra gọi vợ con thì bị khóa tay, ghì xuống,” ông Huy Đức thuật lại và cho biết ông Nhất ‘bị ném ra lề đường Hồ Chí Minh, cách trại 4km.”

Có những loại tù mà người ta cảm thấy ân hận hay xấu hổ, nhưng trường hợp của tôi thì tôi thấy tự hào.Lời cuối cùng của Trương Duy Nhất nói trước Tòa

Ông Nhất bị kết tội do đã viết 11 bài đăng trên trang blog của ông trong đó ông đã ‘chấm điểm thủ tướng’ và yêu cầu ‘tổng bí thư phải ra đi’.

Cáo trạng được đưa ra tại phiên xử ông Nhất cho rằng các bài viết này của ông ‘đã làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, chính quyền và làm mất uy tín cá nhân các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam’.

Ông Trần Vũ Hải, luật sư bào chữa cho ông Nhất, từng thuật lại với BBC sau phiên tòa rằng ông Nhất cho rằng ông ‘chỉ chỉ ra những khuyết điểm, sai lầm, những hiện tượng chưa đúng với hy vọng lãnh đạo Đảng và Nhà nước sẽ thấy ra, khắc phục, sửa chữa và rút kinh nghiệm’.

“Có những loại tù mà người ta cảm thấy ân hận hay xấu hổ, nhưng trường hợp của tôi thì tôi thấy tự hào,” luật sư Hải dẫn lại lời cuối cùng của ông Nhất nói trước Tòa trong phiên xử.

Xem thêm:

Nhà báo Trương Duy Nhất mãn hạn tù (Nguoi-viet.com)

Ông Trương Duy Nhất phản ứng lại công an sau khi
ông bị thả giữa đường. (Hình: Facebook Phạm Xuân Nguyên)

Blogger Trương Duy Nhất mãn hạn 2 năm tù (RFA)

” Tôi mong khi Trương Duy Nhất vừa bước chân ra khỏi tù thì những thằng ích kỷ ăn tàn phá hoại đất nước những thằng đang bắt dân vô tội thì nó phải vào tù thay tôi.
-Blogger Trương Duy Nhất”

12 người mất tích vì lụt ở Texas và Oklahoma

12 người mất tích vì lụt ở Texas và Oklahoma

Nguoi-viet.com

WIMBERLEY, Texas (NV) – Bão lốc và giông tố gây đe dọa cho hai tiểu bang Texas và Oklahoma hôm Thứ Hai, trong khi nhân viên cấp cứu đang tìm kiếm 12 người, gồm ít nhất 3 trẻ em, bị mất tích trong trận lụt lịch sử hồi cuối tuần qua.

Dân chúng tần ngần đứng nhìn những “cabin” dọc theo bờ dòng
Blanco River ở Wimberley, Texas. Lụt ở hai tiểu bang Texas đã khiến
người dân phải di tản. (Hình: Jay Janner/Austin American-Stateman /AP Photo)

12 người được biết mất tích tại Wimberley, một thị trấn nhỏ thuộc tiểu bang Texas, nằm giữa Austin và San Antonio.

Họ là người thuộc hai gia đình đang cùng đi nghỉ hè với nhau. Căn nhà họ cùng ở chung bị nước lũ cuốn trôi hôm Chủ Nhật.

Trong số nạn nhân có bà Laura McComb và hai con nhỏ. Ông Jonathan chồng bà phải nhập viện vì suy phổi, gãy nhiều xương sườn, một xương ức.

Tại Wimberley, khoảng 72 nhà cửa bị nước cuốn trôi, 1,200 nhà cửa khác bị hư hại.

Nước dâng cao quá nhanh hôm Chủ Nhật, biến đường sá thành những dòng nước lũ và 1,000 người buộc phải di tản.

Việc tìm kiếm người mất tích gặp khó khăn hơn do thời tiết tiếp tục hết sức khắc nghiệt. Ít nhất tám bão lốc được báo cáo ở Texas hôm Thứ Hai.

Ít nhất bốn người được xác nhận bị chết do bão lụt vào hôm Chủ Nhật, gồm một em trai 14 tuổi ở Texas, được tìm thấy trong một kênh thoát nước.

Bên kia biên giới ở Mexico, gió xoáy gây thiệt mạng thêm 13 người khác.

Báo động đề phòng bão lốc công bố ở nhiều nơi trên tiểu bang Texas và Oklahoma, gồm Oklahoma City, Dallas và Waco.

Báo động nước lũ áp dụng từ biên giới Texas-Mexico đến miền Tây Tennessee và Bắc Missouri, kể cả hầu hết tiểu bang Oklahoma. (TP)

NHÌN LẠI MỘT HÀNH TRÌNH

NHÌN LẠI MỘT HÀNH TRÌNH

Bóng người đã qua, còn đó những dấu chân!  Sáu tháng Tông Đồ Cuối Tuần của tôi như một cái bóng lướt qua cuộc đời.  Tuy nhiên, những ngày ấy vẫn còn lưu lại trong tôi những dấu ấn không thể nào quên.

Khởi đi từ chính tâm tưởng của con người tôi, ngày cuối tuần là ngày mà tôi dừng lại để hoàn tất những bài vở đang còn dở dang.  Tuy nhiên, hôm nay tôi không được sử dụng trọn vẹn ngày này bởi vì tôi phải chia thời gian cho người khác, những người có thể đang cần đến tôi.  Có lần tôi nghĩ:  “Giá như hôm nay mình không phải đi tông đồ, để ở nhà hoàn thành thật tốt cho bài thuyết trình kia!”  Dĩ nhiên đây là một sự chiến đấu từ trong nội tâm của tôi.  Còn những khó khăn khác, như những ngày chúng tôi không có danh sách của những bệnh nhân cần rước Mình Thánh Chúa, chúng tôi không biết sẽ bắt đầu từ đâu, khởi đầu câu chuyện như thế nào…  Bởi vì, không ai biết chúng tôi và chúng tôi cũng không biết ai, chỉ biết một điều, họ là bệnh nhân và tôi là người đến thăm họ.  Làm sao để gặp gỡ người ta?  Làm sao để người ta tin tưởng và chia sẻ những gì mà họ đang chất chứa trong lòng…?  Chưa hết!  Cha giải tội!  “Hôm nay có nhiều người muốn xưng tội quá nhưng không tìm được một Cha giải tội!”  Lòng tôi co thắt lại. Nơi bệnh viện, lúc con người đối diện với cái chết, họ muốn hồi tâm trở lại sau một hành trình sống “hoang đàng.”  Đây là lúc thuận tiện đưa người ta trở về, thế nhưng lại không có một linh mục vào lúc này…

Thật vậy, đứng giữa ranh giới của sự sống và cái chết, ngồi trên lưng của những đau đớn bệnh tật, con người ta muốn hoán cải, muốn tâm sự, muốn được chia sẻ, nâng đỡ, để bản thân mình được thanh thản, để vơi đi những băn khoăn khắc khoải cũng như những lo lắng và thất vọng.  Nơi ấy, có những người trẻ cảm thấy thất vọng về tương lai của họ; những người già thì hối tiếc về một quãng đời sai lầm lạc bước; có những người khác bị dày vò bởi con cái thiếu trưởng thành; người thì tán gia bại sản bởi vì chữa trị bệnh tật; có người cả phần lớn cuộc đời sống nơi bệnh viện; có người mà lương thực chủ yếu của họ là thuốc men; có những người con cháu thăm nuôi đầy đủ nhưng vẫn cảm thấy cô đơn; có những người một thân côi cút nơi giường bệnh; có những người lạc quan trong cơn bệnh; có những người thanh thản, sẵn sàng ra đi vì có một niềm tin mạnh mẽ nơi Thiên Chúa…  Đứng trước những con người ấy, tôi chỉ giống như một người câm điếc, lắng nghe họ bằng con tim, nói với họ bằng ánh mắt đồng cảm.  Ước gì tôi có thể làm dịu đi những nỗi đau, hay là tiếp thêm và củng cố sức mạnh niềm tin của những con người mà tôi gặp gỡ mỗi tuần.

Không vô ích cho những gì mà bản thân tôi phải chiến đấu trong chính nội tâm mình để bước ra khỏi những trang sách, khỏi dán mắt vào những con chữ để đến với những con người thực bằng những cái gì rất thực của con người tôi. Chính những khó khăn của việc không ai biết chúng tôi là ai, chúng tôi cũng không hề biết họ trước, lại đưa chúng tôi đến kinh nghiệm gặp gỡ, tiếp xúc với nhiều người, không phân biệt lương giáo hay giàu nghèo, già trẻ hay bệnh tật; ốm đau hay khoẻ mạnh…  Cũng nhờ việc chúng tôi không tìm được một Cha giải tội cho một số hối nhân lại là một cơ hội để tôi nhìn thẳng vào chính nội tâm của mình để thấy con tim khao khát phục vụ cũng như để thấy giới hạn của bản thân mình.  Qua những tâm tình và chia sẻ của những bệnh nhân cũng như thân nhân của họ, bản thân tôi cảm nhận được nhiều khuôn mặt của đời sống, thấy thực trạng, giới hạn của con người, cùng với những mong ước khát vọng sâu thẳm nơi mỗi cuộc sống con người.  Nhờ đó, tôi có thêm nhiều kinh nghiệm quý để chia sẻ và cảm thông với người khác.

Mười chín lần tới bệnh viện trong kinh nghiệm tông đồ đã qua để lại trong tôi những dấu ấn khó phai, đó là cuộc chiến đấu với con người nội tâm của tôi, cũng như những khó khăn của tha nhân.  Những kinh nghiệm này không chỉ giúp tôi nhận thấy những thao thức từ phía bản thân, mà còn đem đến cho tôi nhiều lợi ích cho đời sống thiêng liêng, và cho tôi thấy được khát khao phục vụ người nghèo của mình.  Ước mong sao bản thân tôi và tất cả anh em được hun đúc bởi ngọn lửa tình yêu nhiệt thành tông đồ; mong sao những người mà chúng tôi gặp gỡ có được một ánh sáng hy vọng cho cuộc đời họ.

Như Thế

http://dongten.net