Một kết thúc buồn . . .

Thanh Vo đã chia sẻ bài viết của Khanh Tran.

Khanh Tran

Khi nhìn thấy cô gái ấy, chân tôi gần như khuỵu xuống. Tôi thấy đau đớn, hổ thẹn và hối hận vô cùng.

TRUYEN NGAN HAY

Mới đây, tôi vô tình gặp lại người yêu cũ của con trai trong dịp đến thăm người bạn từ thời trẻ. Tuy 7 năm không gặp nhưng chỉ nhìn thoáng qua, tôi vẫn nhận ra cô gái từng một thời yêu thương con trai tôi say đắm.

7 năm gặp lại nhưng lại trong hoàn cảnh vô cùng khó xử. Hà – người yêu cũ của con trai tôi và giờ là con dâu của bạn thân tôi. Khi nhìn thấy tôi, sau vài phút ngỡ ngàng ban đầu cô chào hỏi tôi một cách lịch sự rồi đưa con lên gác. Còn tôi, chỉ biết run run cầm chén nước bà bạn đưa cho mà không nói nổi câu nào.

Tôi có một con trai và một con gái. Hà từng yêu và ở bên cạnh con trai tôi 5 năm trời. Ngày con trai đưa Hà về ra mắt tôi đã không ưng ý chút nào. Hà gầy, nhỏ nhưng lại khá thông minh.

Tôi không thích Hà chỉ vì hồi đó tôi đang nhắm cho con trai tôi một đám khác có điều kiện hơn Hà. Khi thấy con dẫn Hà về ra mắt tôi liên tục phản đối. Tôi lấy đủ mọi lý do phản đối, từ chuyện không hợp tuổi, quê xa đến việc Hà xuất thân trong gia đình nghèo khó, bố mẹ làm nông, anh chị em có trình độ học vấn thấp.

Mặc con trai làm đủ mọi cách tôi vẫn một mực phản đối. Con gái tôi khi đó đang làm việc trong Sài Gòn cũng bị tôi gọi ra để khuyên bảo anh trai. Thời gian đầu, Hà vẫn lui tới nhà mặc sự khó chịu của tôi.

Con gái cũng đứng về phía tôi thường xuyên gây khó dễ cho Hà, thậm chí có lần con bé nghe mẹ còn mắng Hà trước mặt khách. Con trai tôi thấy vậy nhất mực phản đối và đòi ra ở riêng. Thời gian đó không khí trong nhà tôi lúc nào cũng căng thẳng, con trai tôi ở lỳ bên ngoài không chịu về.

Biết không lay chuyển được ý chí của con trai, tôi bàn với con gái xin cho mình một bệnh án giả nói tôi bị bệnh nặng. Vì con gái tôi làm bác sĩ nên làm tờ giấy này không mất nhiều thời gian. Khi nhìn thấy bệnh án của tôi, con trai vô cùng đau đớn. Và để chiều lòng tôi, nó rốt cuộc cũng đồng ý chia tay Hà.

Sau khi con trai chia tay Hà xong, tôi tìm mọi cách thu xếp cho con trai vào Nam một thời gian để quản lý công ty cho gia đình em trai tôi. Thời gian nó đi, Hà có đến nhà tôi một lần. Cô ấy nói đã mang thai và mong tôi đồng ý để con Hà có cha, có bà nội. Không thèm nghe Hà giải thích, tôi và con gái vẫn một mực đuổi cô ấy ra khỏi nhà và nghiêm cấm không được gọi điện báo cho con trai tôi.

Tôi đã dựng lên câu chuyện con trai tôi vào Nam chuẩn bị lấy vợ để tống Hà khỏi nhà tôi trong buổi chiều mưa gió đó. Vì lòng tự trọng, vì sự hận thù với tôi nên có lẽ Hà không liên hệ với con trai tôi một lần nào nữa.

Vài năm sau con trai tôi lấy vợ, vợ nó là cô gái tôi đã chọn. Tuy nhiên, cưới nhau đã lâu hai đứa vẫn chưa có con, nguyên nhân là do con dâu tôi. Con gái tôi sống cùng một người đàn ông nhưng không được gia đình chồng đồng ý nên chưa một lần được tổ chức đám cưới.

Ở tuổi 60, khi mọi người đã có cháu ôm thì gia đình tôi sống trong cảnh lạnh nhạt. Nhà chỉ có 3 người lớn lúc nào cũng đi ra đi vào như những cái bóng. Nhìn cậu bé Hà bế trên tay tôi bỗng thấy lòng mình thắt lại, nó giống con trai tôi như hai giọt nước. Sau buổi hôm đó, Hà có chủ động hẹn gặp tôi một lần. Hà nói đứa trẻ Hà bế chính là đứa bé năm đó Hà mang thai. Chồng Hà đã cưu mang hai mẹ con Hà từ cái ngày mưa gió tôi đuổi Hà ra khỏi nhà đó. Cậu ấy bị vô sinh nên đã đưa Hà về sống cùng, cho Hà một mái ấm và cho đứa trẻ một người cha.

Hà hi vọng tôi và gia đình đừng bao giờ đến làm phiền cuộc sống của Hà và con trai. Tôi cảm thấy hối hận vô cùng, tận đến cuối đời tôi vẫn phải hứng chịu nghiệp chướng tôi đã tự gây ra cho mình và gia đình.

NGƯỜI SÀI GÒN

NGƯỜI SÀI GÒN

Lần đầu tiên lên Sài Gòn là để đi thi đại học. Tôi và một thằng bạn thi chung trường nên đi chung với nhau. Ở thì không lo vì đã có nhà người quen ở bên kia cầu chữ Y. Chỉ lo cái chuyện ăn uống giữa hai buổi thi. Ngay sau khi thi xong môn đầu tiên, hai đứa kéo nhau ra quán cạnh trường kêu hai dĩa cơm sườn. Cầm cái muỗng, cái nĩa để ăn cơm dĩa mà cứ lọng cọng. Ăn hết dĩa cơm, uống cạn mấy ly trà đá tự múc ở trong cái xô để ở góc quán, mà bụng vẫn trống không.

Nhỏ lớn ở quê khi nào đi đâu xa thì cơm đùm, cơm bới mang đi theo chứ có khi nào ăn cơm tiệm để mà biết kêu cơm thêm. Kêu thêm dĩa nữa thì không dám, vì sợ không đủ tiền ăn cho ngày mai, ngày kia… Ngó quanh ngó quất, thấy bàn nào cũng để một nải chuối, mọi người ăn xong cứ thuận tay bẻ, người một trái, người hai trái. Thế là hai đứa sáng mắt, chuối này chắc người ta cũng cho không như trà đá. Vậy là, chỉ một loáng nguyên cả nải chuối để trên bàn chỉ còn đống vỏ. Khi tính tiền, thấy phụ quán cứ đếm đi đếm lại mấy cái vỏ chuối để trên bàn rồi nhìn chằm chằm, thỉnh thoảng lại liếc qua bà chủ quán đang đứng gần đó cười mím chi thì đâm lo. Không biết tiền mang theo có đủ để trả không.

Nhìn hai đứa gom từng đồng bạc để bỏ lên bàn, bỗng nhiên chủ quán bước lại. Thôi, tính hai dĩa cơm thôi. Phần chuối chắc là không biết có tính tiền nên lỡ ăn, chị không tính. Ngày mai ăn có thiếu thì cứ kêu cơm thêm mà ăn, để bụng đói không làm bài được đâu.

Chỉ có nải chuối, cho thấy tính cách người Sài Gòn.

Cuộc sống không thẳng tắp. Bon chen lên Sài Gòn không phải lúc nào cũng dễ kiếm tiền. Cũng trong những năm thập niên 1980, có lần, tôi thử sức mình với nghề đạp xích lô. Mượn chiếc xe của ông chú vào buổi sáng, lúc ấy chú cho xe ở nhà để ngủ sau một đêm chạy mối chở hàng. Lần đầu tiên chạy xích lô chỉ có chạy xe không từ bên này sang bên kia cầu chữ Y đã muốn hụt hơi. Thế nhưng vẫn ráng vì trong túi không còn tiền. Chạy lòng vòng Sài Gòn cả tiếng đồng hồ, ngang qua rạp Quốc Thanh (đường Nguyễn Trãi), thấy một đôi nam nữ đi ra, tay ngoắt, miệng kêu: Xích lô !

Luồn tay kéo thắng ngừng xe lại hỏi: Anh chị đi đâu ?

-Cho ra Bến xe Miền Tây. Nhiêu ?

Dân miền Đông mới lên Sài Gòn tập tành chạy xe kiếm sống, biết Bến xe Miền Tây đâu mà cho giá. Thôi đành chơi trò may rủi: Dạ, em mới chạy xe chưa rành đường, anh chị chỉ đường em chở. Tới đó cho nhiêu thì cho.

Tưởng không biết đường thì người ta không đi, ai dè cả hai thản nhiên leo lên. Người con trai nói: -15 đồng mọi khi vẫn đi. Cứ chạy đi tui chỉ đường.

Sức trẻ, thế mà vẫn không chịu nổi đường xa, đạp xe chở hai người từ rạp Quốc Thanh đến chân cầu Phú Lâm thì đuối, liệu sức không thể nào qua khỏi dốc cầu đành tính chước bỏ của chạy lấy người. Xuống giọng: -Em mới chạy xe, đi xa không nổi. Anh chị thông cảm đi xe khác giùm.

Ai ngờ người con trai ngoái đầu lại: -Tui biết ông đuối từ hồi nãy rồi. Thôi leo lên đằng trước ngồi với bà xã tui. Đưa xe đây tui đạp cho. Tui cũng từng đạp xích lô mà !

Thế là, vừa được khách chở, lại vừa được lấy tiền. Không phải 15 đồng mà tới 20 đồng.

Chắc cũng chỉ có người Sài Gòn mới khoáng đạt như vậy !

Người Sài Gòn tốt bụng, chia xẻ không từ những chuyện cá biệt, người nơi khác vào Sài Gòn hỏi đường thật dễ chịu. Già trẻ, lớn bé, gặp ai hỏi người ta cũng chỉ dẫn tận tình. Có nhiều người còn bỏ cả công việc để dẫn kẻ lạc đường đi đến đúng địa chỉ cần tìm. Có những địa chỉ nhiều người hỏi quá, thế là người Sài Gòn nghĩ cách viết hoặc bỏ tiền ra đặt làm một cái bảng đặt bên lề đường, gắn vào gốc cây. Đôi khi, kèm theo một câu đùa, câu trách rất Sài Gòn ở cái bảng này khiến ai đọc cũng phì cười. Như cái bảng viết trên nắp thùng mốp trên đường Sư Vạn Hạnh mới đây: “Bà con nào đi photo thì qua bưu điện bên đường. Hỏi hoài mệt quá !”

Đi xe ôm, taxi, gặp đúng dân Sài Gòn thì mười người hết chín không lo bị chặt chém, vẽ vời. Đôi khi, kêu giá là vậy, nhưng khách không có tiền lẻ hoặc hết tiền người ta còn bớt, thậm chí cho thiếu mà không cần biết khách ở đâu, có trả hay không. Với người Sài Gòn, đó là chuyện nhỏ.

Ở Sài Gòn, cho tới bây giờ vẫn còn nhiều nhà để một bình nước suối trước nhà, kèm thêm một cái ly, một cái bảng nước uống miễn phí.

Và bình nước này không bao giờ cạn, như lòng tốt của người Sài Gòn. Sẽ có nhiều người bảo cái ly nhiều người uống , bẩn chết đi được , nhưng không biết họ có cách nào hay hơn ? ( mua ly giấy , uống xong vứt : mời các người ấy về Saigon mua ly giấy cho khách thập phương dùng).

Có người đã phát hiện, khi bạn chạy xe trên đường phố Sài Gòn, nếu có ai đó chạy theo nhắc bạn gạt cái chân chống, hay nhét lại cái ví sâu vào túi quần thì đích thị đó là người Sài Gòn !.

Bi giờ còn vậy nữa không? cũng còn, nhưng mà nếu bà con không gặp người như vậy ở Sàigòn là vì những người bà con gặp đó không phải là người Sàigòn!

S.T.

NỤ CƯỜI BIẾT ƠN .

Khanh Tran‎ đến XIN HÃY NHỚ ĐẾN CÁC LINH HỒN

NỤ CƯỜI BIẾT ƠN .

ME TERESA

Một buổi tối nọ, Mẹ Têrêsa mang theo về nhà mấy bệnh nhân Mẹ gặp bên lề đường, trong đó có một bà già bị bệnh nặng lắm. Mẹ Têrêsa tình nguyện săn sóc bà ấy với tất cả tình thương sẵn có trong tâm hồn. Khi đặt bà lên giường, bà ấy siết chặt tay Mẹ và mỉm cười thật tươi, một nụ cười thật đẹp mà Mẹ chưa từng gặp thấy trên khuôn mật nào khác, một nụ cười thật tế nhị. Bà ấy nhìn Mẹ Têrêsa với tất cả vẻ trìu mến và chỉ kịp thốt lên tiếng “Cám ơn!” Rồi bà lão nhắm mắt tắt thở.

Mẹ Têrêsa nhìn bà ấy và tự hỏi: Nếu tôi ở trong trường hợp bà ấy, tôi sẽ nói gì? Dĩ nhiên tôi sẽ tìm sự chú ý của người khác, hoặc tôi sẽ nói “Tôi lạnh, tôi đói, tôi khát nước . . .”

Nhưng người đàn bà ấy thì không làm như thế ! Bà ấy đã cho Mẹ Têrêsa một món quà lớn hơn cả sự chăm sóc của Mẹ đã dành cho bà. Bà ấy đã biết tặng Mẹ lòng yêu mến biết ơn qua nụ cười tươi đẹp đó.

….
Trích trong < NHỮNG TRUYỆN MẸ TÊRÊSA KỂ: >

Phụ nữ Việt bị bắt vì ‘giết người tình, phi tang xác’ ở Đài Loan

Phụ nữ Việt bị bắt vì ‘giết người tình, phi tang xác’ ở Đài Loan

Cô Soi đã bị bắt tại tơi làm việc ở thành phố Cao Hùng trong khi chuẩn bị về Việt Nam hôm 27/11.

Cô Soi đã bị bắt tại tơi làm việc ở thành phố Cao Hùng trong khi chuẩn bị về Việt Nam hôm 27/11.

Một phụ nữ người Việt bị bắt ở Đài Loan vì bị tình nghi giết bạn trai rồi chặt xác anh này sau một trận cãi vã, cảnh sát địa phương cho biết.

Tin cho hay, cô Nguyễn Thị Soi, 33 tuổi, đã bị bắt tại tơi làm việc ở thành phố Cao Hùng trong khi chuẩn bị về Việt Nam hôm qua, 27/11.

Cô Soi bị cáo buộc giết chết anh Kiều Văn Mạnh, 43 tuổi, trước khi chặt xác người đồng hương rồi sau đó vứt xuống rãnh.

Cả hai đến Đài Loan làm việc ở hai thời điểm khác nhau đầu năm nay, và cảnh sát cho hay, anh Kiều bị giết vì muốn chấm dứt quan hệ với cô Soi.

Vụ việc vỡ lở hôm 18/11 sau khi người ta thấy một con chó ngậm một cái sọ người. Phần còn lại thi thể của anh Kiều sau đó được tìm thấy đựng trong một trong bao tải dùng để đựng thức ăn cho heo.

Các điều tra viên sau đó lần theo manh mối và phát hiện ra một trại nuôi heo ở quận Lô Trúc nơi cô Soi làm việc.

Cảnh sát cho biết, anh Mạnh đã gặp cô này tại trang trại trên hôm 15/10, ngay trước khi anh mất tích.

Đài Loan là một trong những thị trường xuất khẩu lao động lớn nhất của Việt Nam. Theo số liệu thống kê được báo trong nước loan tải, có hàng chục nghìn công nhân người Việt đang làm việc ở Đài Loan.

Mới đây, chính quyền Đài Loan đã huy động lực lượng để truy tìm 4 công nhân người Việt bỏ trốn khỏi một nhà tù ở thành phố Đông San, trong khi đang chờ bị trục xuất về Việt Nam.

Tin cho hay, những người lao động bỏ trốn bằng cách dùng khí cụ để phá cửa sổ có chấn song sắt.

Trước đó, họ bị bắt vì làm việc trái phép ở Đài Loan sau khi tự động bỏ làm việc cho một công ty họ đã ký hợp đồng.

Theo CAN, Focus Taiwan News Channel, Taipei Times

Bình Thuận chính thức thừa nhận một tử tù bị kết án oan

Bình Thuận chính thức thừa nhận một tử tù bị kết án oan
Nguoi-viet.com
PHAN THIẾT (NV) – Cuối tuần qua, công an tỉnh Bình Thuận đã công bố quyết định “đình chỉ điều tra” đối với ông Huỳnh Văn Nén, một người từng bị kết án tử hình và bị giam 17 năm.

Ông Huỳnh Văn Nén (trái) mừng như điên khi nghe công an Bình Thuận quyết định “đình chỉ điều tra”
đối với mình. (Hình: Tuổi Trẻ)

Quyết định “đình chỉ điều tra” được xem là sự thừa nhận ông Nén vô tội. Cũng vì vậy, hệ thống tư pháp tỉnh Bình Thuận (bao gồm tòa án, viện kiểm sát, công an) loan báo, ngày 3 Tháng Mười Hai sắp tới, sẽ “tổ chức xin lỗi công khai đối với ông Huỳnh Văn Nén và gia đình.”

Cách nay 17 năm, vào một đêm của Tháng Tư, 1998, bà Lê Thị Bông ở xã Tân Minh, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, bị giết, hung thủ lấy của bà một chiếc nhẫn vàng 24K.

Tháng sau, trong một cuộc nhậu, ông Nén nói đùa ông là hung thủ rồi bị công an Bình Thuận bắt khẩn cấp. Trong tù, ông Nén nhận tội nhưng tại tòa, ông kêu oan và giải thích, sở dĩ ông nhận tội vì bị tra tấn. Tố cáo của ông Nén không được hội đồng xét xử xem xét. Ông Nén bị phạt chung thân.

Chuyện vẫn chưa ngừng ở đó. Hồi Tháng Năm, 1993, năm năm trước ngày bà Bông bị giết, tại xã Tân Minh, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, từng có một phụ nữ tên Dương Thị Mỹ bị giết và công an Bình Thuận bó tay, không tìm ra thủ phạm. Trong tù, ông Nén đột nhiên nhận thêm rằng, ông còn là thủ phạm giết bà Mỹ. Giúp ông thực hiện vụ án mạng này là tám thành viên trong gia đình của vợ ông.

Cũng vì vậy, toàn bộ gia đình bên vợ ông bị bắt, và sau đó, một trong tám người chết trong tù.

Bất chấp phân tích của các luật sư và báo giới về những điểm phi lý trong kết luận điều tra của công an và cáo trạng của viện kiểm sát, cũng như lời kêu oan, tố giác bị tra tấn để buộc phải nhận tội của các bị cáo, tòa án vẫn xác định họ là đồng phạm và phạt bảy người còn lại trong gia đình vợ ông Nén nhiều mức hình phạt khác nhau. Riêng ông Nén bị án tử hình.

Sau khi phải xử đi, xử lại nhiều lần do áp lực của công luận, tám năm sau, bản án kết tội ông Nén và các thành viên trong gia đình vợ của ông đã giết bà Dương Thị Mỹ bị hủy, vì không có căn cứ để kết luận họ giết người. Án tử hình đã tuyên đối với ông Nén được rút lại nhưng ông Nén vẫn phải ở tù vì “tội” giết bà Lê Thị Bông. Bảy người trong gia đình vợ của ông thì được trả tự do.

Bản án chung thân dành cho ông Nén đã khơi dậy lương tâm của một người tù. Khi ra tù ông viết thư, gửi cho nhiều nơi, kể rằng, hai người bạn của ông mới thực sự giết bà Lê Thị Bông. Hai thủ phạm không chỉ kể với ông về chuyện giết bà Bông, mà còn thuật lại tỉ mỉ về việc đã đem chiếc nhẫn vàng 24K đi bán thế nào.

Các con của bà Bông cũng gửi đơn kêu oan cho ông Nén. Một vài viên chức trong chính quyền xã cũng đề nghị xét lại bản án đã tuyên với ông Nén vì không ai tại nơi ông cư trú tin ông là thủ phạm giết bà Bông.

Đáp lại những đề nghị này, công an Bình Thuận cử chính điều tra viên đã từng bị ông Nén tố cáo là tra tấn, ép ông nhận tội đi… “xác minh.” Kết quả tất nhiên là không có cơ sở để xét lại vụ án.

Vụ Huỳnh Văn Nén “giết người, cướp tài sản” tiếp tục bị “nâng lên, đặt xuống” cho tới tháng trước thì công an Bình Thuận liên lạc với gia đình ông Nén, yêu cầu họ làm đơn xin cho ông tại ngoại để chữa bệnh. Đến hạ tuần tháng trước thì ông Nén được tạm tha.

Mới đây, cùng lúc với việc công bố quyết định “đình chỉ điều tra” đối với ông Nén, một phó giám đốc công an tỉnh Bình Thuận cho biết đã bắt được hung thủ giết bà Bông để cướp tài sản.

Chưa rõ những điều tra viên đã tra tấn ông Nén, bắt ông nhận tội cũng như những kiểm sát viên, thẩm phán, tham gia buộc tội, kết tội ông Nén, bất chấp chuyện ông kêu oan, các lời khai, bằng chứng mâu thuẫn nhau, sẽ bị xử lý thế nào. (G.Đ.)

“Phức tạp lắm, bức xúc lắm”?

“Phức tạp lắm, bức xúc lắm”?

Đôi lời: Có lẽ GS Nguyễn Văn Tuấn nhầm chỗ này: “Nên nhớ là sự việc xảy ra cách đảo Vành Khăn, nơi Tàu cộng đang xây dựng, chỉ có 29 hải lí (vậy thì ‘còn ai trồng khoai đất này’)“.

Theo thông tin trên báo Tuổi Trẻ, “ông Bảy bị bắn chết ngày 26-11 tại khu vực biển cách đá Suối Ngọc khoảng 30 hải lý”. Mà đá Suối Ngọc cách đá Vành Khăn 29 hải lý về phía Nam, như vậy chỗ TQ bắn chết ông Bảy cách đá Vành Khăn 59 hải lý về phía Nam, nhưng không rõ cách bờ biển VN là bao xa. Khu vực đó chỉ có “tàu quen” là Tàu Cộng, chứ không có “tàu lạ” nào hoạt động ở đó để bắn ngư dân VN.

___

Nguyễn Văn Tuấn

30-11-2015

Hôm nay, đọc tin thấy một ngư dân Quảng Ngãi bị bắn chết, chúng ta lại nghe điệp khúc “tàu lạ” trên báo chí, và những phát biểu ú ớ, lòng vòng, khó hiểu của vài người trong giới lãnh đạo. Không dám nêu đích danh tên của kẻ thù và lòng vòng càng làm cho câu nói vần điệu của Huy Đức, “sự hèn hạ thì quen”, càng hợp lí. Có nhiều lí do để gọi đích danh kẻ thù, và chúng ta hãy gọi như thế: Tàu cộng. Chẳng có gì phức tạp cả, và cũng chẳng cần “bức xúc.”

Hãy nêu đích danh kẻ thù!

Tôi hiểu các bạn trong giới báo chí (và cả chính quyền) phải cẩn thận trong cách dùng chữ trong khi chưa có đầy đủ thông tin. Mỗi lần ngư dân chúng ta bị tấn công, hoặc nghiêm trọng hơn là sát hại, người dân nghĩ ngay đến “chúng”, đến cái nhóm người đến từ cái nước dân ta quen gọi là “Tàu” (nhưng báo chí thì ấm ớ gọi là “lạ”).

Không phải ngẫu nhiên mà người ta qui kết Tàu là thủ phạm, bởi vì những gì xảy ra trong quá khứ cung cấp những thông tin cho hiện tại. Cũng giống như định lí Bayes, chỉ cần xem qua vài đặc tính của các thư rác (spam mail), chúng ta có thể tính xác suất thư đang nhận là rác hay thư thật. Tương tự, những gì xảy ra trong quá khứ gần và ngay cả hiện nay ở Hoàng Sa và Trường Sa (như tàu của Tàu cộng mở bạt đe doạ tàu của Việt Nam, và hàng trăm vụ khủng bố, cướp biển) thì xác suất rất cao lần này thủ phạm giết chết ngư dân ta là Tàu cộng. Nên nhớ là sự việc xảy ra cách đảo Vành Khăn, nơi Tàu cộng đang xây dựng, chỉ có 29 hải lí (vậy thì “còn ai trồng khoai đất này”). Vậy thì tại sao báo chí không nêu đích danh chúng? Tôi đề nghị các bạn báo chí nên viết “Tàu chưa được xác minh danh tánh, nhưng khả năng cao là tàu của Trung Quốc”. Thêm câu “khả năng cao” đâu có hại ai và hoàn toàn có cơ sở thực tế.

Từ nay trở đi, đừng dùng chữ “tàu lạ” nữa, mà hãy dùng “khả năng cao là tàu của Trung Quốc” hay “tàu hải quân Trung Quốc giả dạng tàu đánh cá”. Nói và viết vậy để dễ hiểu.

Hãy gọi chúng là bully – du côn!

Cứ mỗi lần một ngư dân bị sát hại hay Tàu cộng tấn công là có những phát biểu khó hiểu của các vị lãnh đạo. Trả lời phỏng vấn về vấn đề tàu chiến của Tàu cộng đe doạ tàu của Việt Nam gần đây, ông cựu Bộ trưởng Quốc phòng Phạm Văn Trà nói những câu chẳng ai hiểu được ông muốn nói lên cái ý gì. Ông lặp đi lặp lại rằng hành xử của Tàu là hành xử của “nước lớn” (1). Ông không đưa ra được một giải pháp nào. Ông chỉ nói “Tư tưởng của họ như thế đấy. Thỉnh thoảng họ sẽ lại làm một cú như vậy để thăm dò, xem thái độ của Việt Nam thế nào”. Có nghĩa là gì? Tôi chẳng hiểu câu này nói lên cái điểm gì cả. Thế thì câu hỏi đặt ra là Việt Nam hành xử thế nào trước thách thức của Tàu? Chẳng hành xử thế nào cả, vì người đương nhiệm và thay thế ông Phạm Văn Trà chỉ nói (theo bài báo tường thuật): “phức tạp lắm, bức xúc lắm”!

Thì ai mà chẳng biết Tàu là nước lớn, nhưng chẳng lẽ hành xử của nước lớn là ăn cướp trên biển, ngạo mạn trong chính trị, thô lỗ trong ngoại giao? Đó không phải là cách hành xử “lớn”, mà là tiểu nhân. Tiếng Anh có chữ bully (du côn) để chỉ những hành động mà Tàu cộng áp dụng cho Việt Nam. Thật vậy, chỉ cần google hai chữ bully và china, sẽ thấy thế giới nói thẳng rằng Tàu chẳng những là một nước du côn, mà còn là du côn lớn nhất trong vùng – the biggest bully in the region. Ai cũng thấy Tàu cộng là du côn, nhưng nhiều người lãnh đạo Việt Nam thì không thấy; họ chỉ thấy Tàu là “nước lớn” (1).

Do đó, tôi đề nghị hãy cho báo chí và người dân gọi Tàu cộng là “du côn” hay bully. Cái danh đó rất đúng với những hành động của Tàu đối với Việt Nam, không chỉ trên biển, mà còn trên báo chí. Chúng đã cho cái loa Hoàn Cầu Thời Báo đe nẹt ta, thậm chí bêu rếu lãnh đạo Việt Nam. Đó là hành động của kẻ lưu manh chứ còn gì nữa. Vậy thì chúng ta hãy gọi đúng tên: Tàu du côn.

Hãy cho người dân lên tiếng!

Còn nhớ trước đây, một quan chức tên là Nguyễn Duy Chiến, Phó chủ nhiệm Ủy ban biên giới quốc gia của Bộ Ngoại giao Việt Nam, cũng có những phát biểu rất khó nghe khi tàu của Tàu cộng vào tận vùng biển của Việt Nam và táo tợn cắt cáp tàu của Việt Nam. Bình luận về sự kiện nghiêm trọng này, ông Chiến nói trước cửa toạ của ĐHQG Hà Nội rằng đó là hành động “Yêu cho đòn cho vọt” của Tàu cộng! Ông làm cho các giáo sư và sinh viên của ĐHQG Hà Nội sững sờ. Ông gián tiếp xem Tàu cộng là cha mẹ của Việt Nam.

Ông còn dám nói rằng người dân biểu tình chẳng làm được gì cả. Ông còn nói theo giọng điệu của Tàu cộng là Việt Nam chưa đầy 100 triệu dân, “mình biểu tình năm ngàn người thì họ biểu tình năm chục ngàn người … Kinh khủng hơn thế … Giải quyết vấn đề gì đâu”! Xin nhắc lại rằng ông này là một quan chức ăn lương từ thuế của dân, và có nhiệm vụ thương thảo về biên giới với Tàu.

Ông này hình như không thuộc sử, và nói trước quên sau. Nói như ông thì các phong trào xuống đường biểu tình ở miền Nam do sự xách động của cán bộ nằm vùng là vô dụng sao? Nói như ông thì tại sao khi người dân xuống đường biểu tình chống Tàu cộng làm cho báo chí bên Tàu chúng nó cay cú. Chúng cay cú và hặm hực là phải, bởi vì chúng sợ. Vâng, Tàu cộng không sợ mấy chiếc tàu chiến hay tàu lặn của VN đâu; chúng chỉ sợ người Việt đoàn kết thành một khối và trở thành bất khả xâm phạm.

Cái khối đoàn kết đó đã từng đánh bại Tàu trong quá khứ. Ông Chiến không thuộc sử, nên không nhớ rằng Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Lê Lợi đã từng đập tan quân Tàu lớn hơn VN lúc đó nhiều lần sao? Sở dĩ những bậc tiền nhân đó thắng Tàu là vì họ có sự ủng hộ của dân, và họ quyết chí chống kẻ xâm lược chứ không có “bạn” gì cả. Khi cả một khối dân tộc đoàn kết với nhau thì họ chẳng làm gì được. Tàu cộng có thể không sợ những người đang cầm quyền ở Việt Nam, cũng chẳng mấy quan tâm đến vài chiếc tàu chiến, tàu lặn mà VN thỉnh thoảng đem ra đe nẹt. Nhưng Tàu cộng rất sợ 90 triệu người đoàn kết thành một khối. Tàu cộng cũng rất ngại khi khối người đó đồng thanh cất tiếng tố cáo chúng trên trường quốc tế.

Trên trường quốc tế chỉ có Mĩ là có khả năng làm cho Tàu cộng chùn chân. Do đó, tôi rất đồng tình với tướng Lê Văn Cương khi ông khuyên chính phủ Việt Nam nên liên minh với Mĩ để bảo vệ biển đảo. Tướng Cương nói thẳng rằng “Nga bây giờ cũng đang khốn nạn đừng hi vọng gì ở Nga nữa, lợi ích của họ là tối thượng. Ấn độ thì ốc mang mình ốc chưa nổi nữa thì làm sao? Duy nhất trên hành tinh này chỉ có mình Mĩ thôi. Mở rộng quan hệ hợp tác với Mĩ mở toang cánh cửa ra. Phải tiến tới quan hệ Mĩ Việt mà trên bạn bè dưới liên minh, cứ nói thẳng như thế” (2).

Những nhận xét trên đây cho thấy vấn đề chẳng có gì là “phức tạp lắm”. Hãy gọi thẳng tên kẻ thù là Tàu cộng. Hãy dùng tính từ du côn cho chúng, vì nó đúng với bản chất của chúng. Hãy bật đèn xanh cho người dân bảy tỏ cảm xúc, kể cả xuống đường phản đối bọn lưu manh Tàu cộng. Hãy liên minh với Mĩ, chứ không nên đi hàng hai. Không nên để cho cái gọi là “tình bạn”, cái gọi là ý thức hệ cộng sản (vì Tàu chẳng còn tin và theo chủ nghĩa cộng sản; chúng theo chủ nghĩa chauvin) làm lu mờ phán xét và làm tổn hại đến lợi ích của dân tộc và đất nước.

____

(1) Đại tướng Phạm Văn Trà nói về vụ tàu chiến Trung Quốc đe doạ tàu Việt Nam (DT/ BS).

(2) Hãy chống Trung Quốc bằng sức mạnh ý chí (RFA/ BS).

Raymond Aron và Tôi

 Raymond Aron và Tôi

Tác giả : Đoàn Thanh Liêm

Doan Thanh Liem

I — Tóm lược : Thân thế và Sự nghiêp.
(Raymond Aron : 1905 – 1983)

Raymond Aron sinh năm 1905 tại Pháp, ông là con của vị luật sư gốc Do Thái. (Xin viết tắt cho gọn : RA). Ông là người đương thời và cũng là bạn đồng môn với Jean – Paul Sartre, khi cùng theo học tại Trường Cao Đẳng Sư Phạm (Ecole Normale Superieure) ở Paris. Cả hai vị này, mỗi người mỗi vẻ, đều để lại một sự nghiệp đồ sộ, làm vinh dự cho nước Pháp vào nửa sau của thế kỷ 20. Ngay sau khi tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Sư Phạm, RA đã được sang bên nước Đức nghiên  cứu thêm về Triết học, Xã hội học, và trở về dậy học tại một trường trung học ở miệt tỉnh. Ông  đậu bằng Thạc sĩ, rồi Tiến sĩ một cách dễ dàng, và được các bạn đồng môn đánh giá là có trí  thông minh vượt trội, ngang ngửa với Jean-Paul Sartre.

RAYMOND ARON 1

Vừa mới bắt đầu lên dậy bậc Đại học, thì chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945) xảy ra. Và
sau khi nước Pháp bại trận năm 1940, thì RA phải lưu vong sang nước Anh. Tại đây RA đã nhận  làm chủ biên cho Tập san “La France Libre” (Nước Pháp Tự Do) do Chánh Phủ lưu vong của  Tướng De Gaulle chủ trương. Hết chiến tranh, RA tham gia vô ngành báo chí và viết cho báo Le  Figaro là một tờ báo vào loại hàng đầu của Pháp với lập trường “thiên hữu”. Từ giữa thập niên 1970, thì ông sang viết cho tuần báo Express. Đồng thời ông cũng dậy ở Đại học Sorbonne, Học viện Chính trị (Sciences Po.), nhưng vẫn tham gia viết báo. Có thể nói RA vừa là nhà giáo, mà cũng vừa là nhà báo.

RA không những dậy học ở Pháp, mà ông còn được mời đi dậy ở Đức, ở Mỹ và tại nhiều nước
khác nữa. Ông còn được mời đến dậy ở Collège de France (Học viện Pháp quốc) là cơ sở giáo
dục bậc cao nhất của nước Pháp.Về sự nghiệp viết báo, thì ông đã có nhiều công trình biên khảo  được đăng trên những tập san chuyên môn hàng đầu của thế giới, kể cả trong bách khoa toàn thư Enclycopedia Britannica. RA còn là tác giả của trên 40 cuốn sách, mà phần đông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Anh, và được rất đông người đọc mến chưộng.

Khác với Sartre là người có lập trường thiên về phía cộng sản, RA phân tích mổ xẻ rành mạch
những khuyết điểm, sai lầm tai hại của phe cộng sản, nhất là tại Liên Xô.Vào thập niên 1950-60, phần đông giới trí thức ở Pháp thiên vị về phía công sản, do vậy mà RA bị coi là ở phe thiểu số. Dầu vậy, ông vẫn kiên định trong lập trường chống độc tài cộng sản, và không bao giờ tỏ ra có sự chao đảo như một số nhà trí thức khác ở Âu châu thời sau chiến tranh. Cũng vì thế, mà Raymond Aron đã không được bầu vào trong Hàn Lâm Viện của Pháp, danh dự mà ông rất xứng đáng được trao tặng.

Những phân tích, nghiên cứu của ông rất nghiêm túc, chính xác theo tinh thần khách quan của giới hàn lâm khoa học. Điều này đã được thực tế xã hội chứng minh rành rành, sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở Đông Âu và ở chính Liên Xô vào cuối thập niên 1980, nơi mà xưa kia phe cộng sản vẫn tung hô là “thiên đường của chủ nghĩa xã hội”. Chỉ tiếc là đến lúc đó, thì Aron đã ra người thiên cổ mất rồi (ông qua đời năm 1983)

• Cuốn sách “L’opium des intellectuals” (Nha phiến của giời trí thức) xuất bản năm 1955 lúc ông vừa 50 tuổi, được coi là một công trình biên soạn thời danh, gây chấn động khắp thế giới, cùng lúc với 2 cuốn khác là cuốn “Giai cấp mới” của Milovan Djilas người Nam Tư và cuốn “Doctor Zhivago” của văn hào Nga mà được giải thưởng Nobel về Văn chương là Boris Pasternak. Khác với văn hào Andre’ Malraux là người chỉ biết xưng tụng tôn vinh De Gaulle, mà cũng khác với Jean Paul Sartre là người luôn thiên về phe cộng sản, Aron thật sự nghiêm túc trong sự phân tích khoa học về các vấn đề chính trị xã hội có tầm mức ảnh hưởng toàn cầu. Là nhà báo, ông có cơ hội tiếp cận thường xuyên với tình hình thực tế khắp nơi trên thế giới, và trao đổi với các đồng nghiệp trong ngành truyền thông, cũng như gặp gỡ tiếp súc với giới lãnh đạo chính trị tại nhiều nước. Mà cũng vì là nhà giáo, Aron cũng rất thận trọng, khúc chiết mạch lạc trong cách trình bày lý luận của mình nơi các bài giảng cho sinh viên tại Sorbonne, cũng như cho sinh viên tại Mỹ, tại Đức v.v… Chính Henry Kissinger, một bậc kỳ tài của Đại học Harvard, mà còn phải tôn Raymond Aron là sư phụ của mình, như được ghi trong Lời Giới thiệu cuốn Hồi ký RA, bản dịch sang tiếng Anh xuất bản năm 1990.

Raymond aron 2

Raymond Aron rất chững chạc trong lối phát biểu, cũng như trong lối viết. Ông không bao giờ
dùng những lời “đao to búa lớn” như Sartre là người sử dụng những từ ngữ miệt thị vô trách
nhiệm đối với giới tư bản trưởng giả, như là chữ “cochons, salauds” (đồ con heo, đồ đểu giả)
nhằm mỵ dân, lôi cuốn giới trẻ người non dạ. Hoặc đưa ra những khẩu hiệu như: “l’enfer, c’est
les autres” (người khác là địa ngục đối với ta) v.v…Về đời sống gia đình riêng tư, Aron cũng rất mực thước, phải chăng, vợ chồng con cái thuận hòa êm thắm. Khác hẳn với Sartre vốn là người  thường tự cho mình được quyền ở ngoài vòng cương tỏa của luân lý xã hội, tha hồ tung hoành vối lối sống phóng túng, bất cần đời, coi thường cái khuôn khổ luân thường lễ giáo xưa nay của xã hội.

Về cuối đời của ông, học giới tại nước Pháp đã thành lập một trung tâm nghiên cứu lấy tên ông là: “Centre de Recherches Politiques Raymond Aron – CRPRA” đặt tại Trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội (Ecole des Hautes Etudes des Sciences Sociales – EHESS ). Trung Tâm được khởi sự từ năm 1982, đúng một năm trước khi RA qua đời vào năm 1983, và sau này được hoàn chỉnhnhằm khuếch trương công cuộc nghiên cứu thâm sâu về khoa học xã hội, đặc biệt dành cho giới sinh viên bậc cao học và tiến sĩ. Mỗi năm lại có việc Trao Giải Thưởng Raymond Aron cho các công trình nghiên cứu xuất sắc về các đề tài đã được RA khai mở. Cho đến nay, vào tháng 12/2007, thì đã có tới 38,120 vị ân nhân đóng góp cho Trung tâm CRPRA này

Gần đây học giới ở Pháp đã phục hồi lề lối nghiên cứu khoa học xã hội theo “truyền thống
Raymond Aron”, đó là tách việc nghiên cứu khoa học xã hội ra khỏi sự chi phối của “ý thức hệ” như các trí thức phe tả thường lấn áp trong thời kỳ sau chiến tranh thứ hai, với cao điểm của cuộc chiến tranh lạnh giữa hai khối cộng sản và tư bản. Và đây chính là sự đóng góp vĩ đại của RA trong lãnh vực học thuật và tư tưởng hiện đại trên thế giới ngày nay.

Có thể nói RA đã góp phần rất đáng kể trong việc phát triển ngành xã hội học chính trị (political sociology) nối tiếp truyền thống của những Alexis de Tocqueville, Max Weber, Joseph Schumpeter v.v…Và RA cũng giống như Karl Popper là những người đều chủ trương sự cải thiện xã hội bằng phương thức bất bạo động, kiên nhẫn và khiêm tốn, chứ không bằng lối cưỡng bức sắt máu như của cộng sản. Cái khẩu hiệu “Piecemeal Social Engineering” của Karl Popper hiện nay đang được người môn đệ nổi danh từ London School of Economics, là George Soros khai triển và ứng dụng qua chủ trương của cơ quan “Open Society Institute” (OSI) với trụ sở chính đặt tại New York, để góp phần phục hồi Xã hội Dân sự tại các nước Đông Âu và Nga kể từ ngày chế độ cộng sản sụp đổ gần 20 năm nay.

II — Raymond Aron và Việt Nam … và Tôi.

Là một nhà báo thượng thặng, ông chú trọng đến chuyện chiến tranh Việt nam ngay từ hồi cuối thập niên 1940. RA có kể lại chuyến viếng thăm VN vào năm 1953, nhưng coi như không có mấy tiếp xúc với chính quyền Bảo Đại trong dịp này. Mãi đến năm 1968, RA mới chú ý đến tài liệu của cựu Đại sứ Phạm Duy Khiêm, người bạn cùng học chung ở Cao Đẳng Sư Phạm hồi 40 năm trước. Bản thông báo của Đại sứ Khiêm về cuộc thảm sát ở cố đô Huế hồi Tết Mậu Thân 1968 rõ ràng là có sức thuyết phục đối với giới trí thức ngay thẳng, lương thiện như Aron, sự kiện mà tác giả đã ghi lại khá chi tiết trong cuốn hồi ký với tựa đề nguyên văn là : “Cinquante ans de reflexion politique” (Năm mươi năm suy ngẫm chính trị). Nói chung, thì lập trường của RA đối với cuộc chiến tranh VN trong suốt 30 năm là “thiên hẳn về phía Mỹ và Tây Âu”, chứ không có thiên vị về phe cộng sản như Bertrand Russell, Jean-Paul Sartre v.v…

ARON-Raymond_NB

Tư tưởng của RA được giới trí thức miền Nam VN theo dõi, tán thưởng. Cụ thể như Luật sư
Trần Văn Tuyên, học giả Nguyễn Hiến Lê, các giáo sư Vũ Quốc Thông, Nguyễn Văn Bông,
Nguyễn Ngoc Huy …, các nhà báo Hà Thượng Nhân, Phan Lạc Phúc, Đỗ Ngọc Yến, Đỗ Quý
Toàn v.v…Phần đông học giới ở VN hồi trước 1975 đều tỏ ra rất khâm phục cái lối lý luận sắc
bén, khúc chiết, vô tư và thẳng thắn của vị giáo sư khả kính và khả ái này. Đã có một vài bản
dịch sách của RA, nhưng hầu hết giới trí thức của ta thời ấy đều đọc trực tiếp từ nguyên tác bằng tiếng Pháp. Sinh viên các ngành thuộc khoa học xã hội ở miền Nam hồi trước 1975 phần đông cũng đều được học tập về môn xã hội học chính trị, mà RA là một giáo sư tiêu biểu cho sự chính xác, trung thực và sắc xảo.

Bản thân tôi, thì bắt đầu “mê Raymond Aron” từ năm 65-66, lúc đang say sưa với công tác xã hội trong khuôn khổ Chương trình Phát triển Quận 8 Saigon. Cuốn “18 lecons sur la societe industrielle” là tài liệu của khóa giảng tại Sorbonne và tiếp theo là cuốn “Lutte des classes” và cuốn “Democratie et Totalitarisme” đã làm tôi say mê theo dõi cái môn phân tích xã hội học về phương diện chính trị của vị “đại sư” này.

Rồi sau 1975, với nhiều thời gian rảnh rỗi, tôi lại hay ra chợ sách phía sau rạp Đại Nam để tìm kiếm thêm sách đọc về loại này. Nhờ vậy mà tích lũy thêm được một số kiến thức vững vàng hơn, mà thời trước vì bận rộn với chuyện làm ăn, tôi đã không có dịp trau dồi, học tập để bắt kịp với sự tiến bộ của ngành khoa học xã hội này.

bertrand russellBertrand Russell

Tôi có dịp thường xuyên trao đổi với cụ Nguyễn Hiến Lê, và được cụ cho đọc thêm nhiều cuốn sách chỉ có trong tủ sách riêng của cụ.Vào năm 1979-80, cụ có cho tôi cuốn sách “Les
désillusions du progres” do RA viết năm 1969. Đây là bản Pháp văn của mục phân tích về “tình hình xã hội đương thời” tác giả đóng góp cho Encyclopedia Britannica. Cụ đã đọc rất kỹ và ghi chú bằng bút chì trên lề nhiều trang sách. Tôi thật cảm động vì lời đề tặng của cụ cho tôi như sau : “ Xin tặng ông Đoàn Thanh Liêm. Xin ông giữ làm kỷ niệm – NHL”.

A/ — “ Nước Pháp là Nước Pháp, không có tĩnh từ”

Năm 1981, lần đầu tiên Đảng Xã Hội Pháp có đại diện là Francois Mitterand được bầu làm
Tổng Thống. Lúc đó RA đã già yếu rồi, nhưng ông cũng đóng góp một bài báo gây chấn động với nguyên văn tựa đề như sau : “La France, c’est la France ou la Republique Francaise; sans adjectifs” ( Nước Pháp là nước Pháp hay Cộng Hòa Pháp quốc, chứ không cần thêm một tĩnh từ nào khác). Tư tưởng này đã nung nấu trong tôi suốt bao nhiêu năm, vì kể từ năm 1976, đảng cộng sản đã tự ý ngang nhiên đổi tên nước Việt nam thành “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN” (Socialist Republic of VN – SRV). Tức là người cộng sản đã gắn cái chủ nghĩa xã hội của họ vàodanh tánh của nước Việt nam đã có từ ngàn đời do cha ông chúng ta xây dựng tạo thành và truyền lại cho thế hệ chúng ta ngày nay. Đó là điều không thể chấp nhận được.

Jean Paul Sartre

Tuy nhiên vào thời đó, chế độ cộng sản còn quá hung hãn, bạo ngược. Với lại hoàn cảnh chiến tranh với Trung quốc, tại Cambodia; cho nên anh em trí thức chúng tôi cũng chưa thể làm cái gì cụ thể nhằm góp phần chấn chỉnh lại tính thế được. Mà phải đợi đến sau 1986 với phong trào “Đổi mới” từ Liên Xô lan tới Đông Âu và dĩ nhiên cũng bắt đầu ảnh hưởng tới Việt nam, thì chúng tôi mới bắt đầu thảo luận trao đổi với nhau về những chuyện căn bản của đất nước, của dân tộc. Và với sự sụp đổ của cộng sản tại Đông Âu cuối năm 1989, cùng với sự rệu rã của hệ thống Xô Viết tại chính nước Nga, thì vào đầu năm 1990, tôi đã soạn thảo một văn bản “Năm điểm thỏa thuận căn bản” chỉ ngắn gọn trong nửa trang giấy, nhằm góp phần vào việc làm “guideline cho việc soạn thảo một bản Hiến pháp mới cho nước Việt Nam sau này”. Xin ghi lại điểm 1 trong văn bản này như sau :

“Điểm 1 : Quốc gia Việt nam không công nhận một tôn giáo nào làm quốc giáo.
Quốc gia cũng không áp đặt một chủ thuyết nào làm giáo điều chính thức của dân tộc.
Nhằm tôn trọng và bảo vệ tự do tín ngưỡng, Nhà nước không can thiệp vào chuyện nội bộ của các tổ chức tôn giáo”.

Cũng vì bản văn 5 điểm này, mà công an đã theo dõi và bắt giữ tôi, khi tôi mới từ Saigon bay ra Đà nẵng vào ngày 23/4/1990. Rồi họ đưa tôi ra xét xử trong phiên tòa ngày 14/5/1992 tại tòa án Saigon, với bản án 12 năm tù về tội “Tuyên truyền chống chủ nghĩa xã hội”, y hệt như các vụ xử linh mục Nguyễn Văn Lý, các luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài gần đây vậy.

B/ — Tranh chấp chủng tộc, chứ không phải tranh đấu giai cấp.

Tôi vẫn còn nhớ lối biện luận của RA, là: Hầu hết các tranh chấp trên thế giới ngày nay đều
phát sinh từ chuyện “tranh chấp chủng tộc” (lutte des races) chứ không phải là “tranh đấu giai cấp” (lutte des classes) như người cộng sản thường chủ trương. RA nêu ra trường hợp tranh chấp đẫm máu ở Bắc Ái nhĩ lan, căng thẳng ở Québec, Canada v.v…, thì đều là tranh chấp chủng tộc lồng trong sự khác biệt tôn giáo, chứ không hề có sự đấu tranh giai cấp tại các nơi như thế này. Điều này lại càng sáng tỏ hơn trong trường hợp của Bosnia, Kosovo sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở Nam tư vào đầu thập niên 1990..

Đó là lý do tại sao tôi viết “Điểm 2” trong “Bản văn 5 điểm” ghi trên .

“Điểm 2 : Dân tộc Việt nam gồm nhiều sắc tộc có truyền thống lịch sử và văn hóa khác nhau

Như vậy nền tảng của xã hội VN phải được đặt trên cơ sở đa chủng tộc, đa văn hóa”.
Tại phiên tòa, chánh án Lê Thúc Anh gọi tôi: “Anh là thứ cáo già chính trị”, vì chủ trương “đa
nguyên, đa đảng” mà khôn khéo ngụy trang trong điểm này. Cũng như Đại tá Quang Minh trong lúc điều tra, thì lại gọi tôi là thứ “assassin de genie” – ông nói nguyên văn tiếng Pháp như vậy – (Kẻ sát nhân ngoại hạng). Nói chung là người cộng sản vẫn còn rất “dị ứng” (allergic) với loại suy nghĩ rất bình thường trong bất kể xã hội dân chủ, tự do nào.

(Ghi chú : Toàn văn Bản “Năm điểm thỏa thuận căn bản ” sẽ được ghi nơi “Phần Phụ lục” kèm theo bài viết này.)

III — Đôi lời tâm tình .

Bài viết này được chuẩn bị vào cuối năm 2007. Năm hết, Tết đến, tác giả xin được ghi ra ít lời tâm tình sau đây :

Năm 2008 là năm kỷ niệm 25 năm ngày qua đời của Raymond Aron. Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lòng ngưỡng mộ và biết ơn đối với vị giáo sư và tác giả khả kính là người đã soi sáng, hướng dẫn rất nhiều cho kẻ hậu sinh, cả về phương pháp luận (methodology), cả về nội dung những khám phá tìm kiếm của ông trong lãnh vực khoa học xã hội hiện đại. Đọc RA, tôi thấy toát ra một tinh thần nhân bản cao độ, một tác phong cao quý của bậc mô phạm, và nhất là sự kiên trì nhẫn nại hiếm có nơi lớp người trí thức thường bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh ý thức hệ tại Âu châu thời kỳ sau thế chiến thứ hai.Có thể nói RA là một thứ sĩ phu quân tử ở phương Tây.

Tiếp theo, người viết cũng xin bày tỏ niềm thương tiếc và quý mến đặc biệt đối với Luật sư Trần Văn Tuyên, Học giả Nguyễn Hiến Lê là những vị đã chỉ dẫn cho tôi trong các vấn đề chính trị xã hội mà Raymond Aron đã nêu lên. Tác giả cũng không thể nào quên được nhà báo Đỗ Ngọc Yến, là người đã tặng cho tôi khá nhiều sách báo, trong đó có cuốn Hồi ký Raymond Aron, bản dịch tiếng Anh – mà nhờ đó tôi đã có thể đào sâu được nhiều chi tiết chính xác cho bài viết này.

Sau cùng tác giả còn muốn ghi nhận cái công lao của Anh Vũ Ngọc Trân là thân phụ của nhạc sĩ Trường Kỳ vì đã chuyển cho cuốn Hồi Ký RA nguyên tác tiếng Pháp vào đầu năm 1990 ở
Saigon. Lúc đó tôi đã say sưa đọc cuốn sách này. Nhưng chưa kịp trả lại anh Trân, thì tôi bị công an bắt giữ. Và khi ở trong tù, tôi đã ân hận vì không kịp trả cuốn sách cho anh Trân. Nay anh lại vừa mới ra đi vài năm gần đây tại Saigon. Nhưng chắc anh cũng thông cảm cho hoàn cảnh bất khả kháng của tôi, khiến làm thất lạc mất cuốn sách quý này.Chuyện này có vài chi tiết lý thú khác nữa, người viết xin được kể lại đày đủ hơn trong một dịp khác, bởi lẽ bài này hiện đã quá dài rồi.

Westminster California, cuối tháng 12, năm 2007.

Đoàn Thanh Liêm
* * *
PHỤ LỤC

• Năm Điểm Thỏa Thuận Căn Bản .
Điểm 1 :
Quốc gia Việt nam không công nhận một tôn giáo nào làm quốc giáo.
Quốc gia cũng không áp đặt một chủ thuyết nào làm giáo điều chính thức của dân tộc.
Nhằm tôn trọng và bảo vệ tự do tín ngưỡng, Nhà nước không can thiệp vào chuyện nội bộ của
các tổ chức tôn giáo.

Điểm 2 :
Dân tộc Việt nam gồm nhiều sắc tộc có truyền thống văn hóa và lịch sử khác nhau.
Như vậy, nền tảng của xã hội VN phải được đặt trên cơ sở đa chủng tộc, đa văn hóa.

Điểm 3 :
Phát huy truyền thống nhân bản và nhân ái của dân tộc, hệ thống chính trị và luật pháp VN sẽ
được xây dựng trên những nguyên tắc đã được ghi trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Điểm 4 :
Về phương diện kinh tế, vai trò của Nhà nước là làm trọng tài để bảo vệ công bằng xã hội và trật
tự xã hội.
Như vậy, Nhà nước không thể vừa làm trọng tài, vừa làm một bên đương sự trong các hoạt động
kinh doanh làm ăn được (không thể vừa thổi còi, vừa đá banh).
Hệ quả là hệ thống quốc doanh hiện nay sẽ được giảm tới mức tối thiểu.

Điểm 5 :
Thể hiện tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc, quốc gia sẽ ban hành lệnh khoan hồng đại xá đối với
mọi vi phạm do cá nhân, hay do tập thể gây ra.
Nghiêm cấm mọi sự tùy tiện báo ân, báo oán.
Mọi khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại sẽ được xử lý theo đúng thủ tục luật pháp.

Làm tại Saigon, Tháng Hai năm 1990

Đoàn Thanh Liêm

Phải chăng đây là phép lạ của ĐGH Phanxicô với em bé Gianna ở Philadelphia

nguồn :Vietcatholic.net

Nguyễn Long Thao

ĐGH hôn em bé Gianna Masciantonio

Philadelphia –24/11/2015 Cơ quan truyền thông quốc tế như CNN.com, hệ thống truyền hình ABC, tờ New York Post, và nhiều báo chí và đài truyền hình địa phương ở Hoa Kỳ đã đồng loạt đưa tin ung bướu trong đầu một em bé được Đức Giáo Hoàng Phanxicô ôm hôn đã nhỏ teo lại

Cha mẹ của em bé cho các cơ quan truyền thông biết là con của họ tên Gianna Masciantonio, một tuổi, có ung bướu trong não khi mới sinh ra.

Vào tháng 9 vừa qua, khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô đến Philadelphia dự Đại Hội Gia Đình Thế Giới và trên con đường Ngài đi chào đón khách hành hương, thì một nhân viên an ninh đã bế em bé Gianna Masciantonio đến để Đức Giáo Hoàng ôm hôn em bé.

Theo cha mẹ em nói với các cơ quan truyền thông thì sau giây phút ngắn ngủi con của họ được gần gũi Đức Thánh Cha, thì ung bướu trong não em Gianna Masciantonio đã nhỏ teo lại. Họ cho các cơ quan truyền thông xem hình ảnh MRI (Magnetic resonance imaging) chụp não bộ của em vào tháng 8 và hình MRI chụp vào tháng 11.

Hai hình MRI chụp tháng 8 và tháng 11 2015

So sánh hai tấm hình đó, ai cũng thấy ung bướu trong đầu em Gianna Masciantonio đã nhỏ teo lại. Em đã vui vẻ hơn trước nhiều.

Các bác sĩ y khoa không đưa ra lời giải thích nào về hiện tượng ung bướu trong đầu em Gianna Masciantonio teo nhỏ lại. Tuy nhiên gia đình thì tin rằng đó là phép lạ.

PHỎNG VẤN Đức Cha MICAE HOÀNG ĐỨC OANH

PHỎNG VẤN Đức Cha MICAE HOÀNG ĐỨC OANH

Ban mục vụ TTXH Kontum

11/28/2015

Ngày 27/11/2015 vừa qua, Ban Mục Vụ Truyền Thông Xã Hội Giáo phận Kontum có dịp gặp Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh, Giám mục Giáo Phận Kontum, đã được Đức Thánh Cha Phanxicô chập thuận đơn xin nghỉ hưu theo Giáo luật 104,1 từ ngày 07.10.2015.

Sau 12 năm coi sóc Giáo phận Kontum, Đức Cha đã chia sẻ những tâm tư, ước nguyện cũng như những trăn trở và thao thức của mình.

PV: Con xin kính chào Đức Cha! Lời đầu tiên con xin cảm ơn Đức Cha đã dành thời gian cho ban mục vụ truyền thông xã hội của Giáo phận để chia sẻ những tâm tư, tình cảm cũng như những trăn trở, thao thức của Đức Cha trong vai trò Giám mục Giáo phận trong thời gian qua.

PV: Trước hết, Đức Cha có thể chia sẻ cho chúng con những kỉ niệm sâu sắc nhất của Đức Cha trong thời gian làm Giám mục của mình?

Đức Cha: Xin chào cha và anh chị em.

Kỷ niệm thì nhiều. Với tôi, giờ phút này, tôi nhớ tới những người, những sự việc đã xảy ra ở nhiều nơi trong Giáo phận, nhất là ở những vùng sống “3 không” – không nơi thờ phượng, không linh mục, không sinh hoạt tôn giáo bình thường.

PV: Chúng con được biết, Đức Cha là một trong những người rất có hồn tông đồ, hay đúng hơn là lửa tông đồ, vậy trong những năm qua Đức Cha đã quan tâm, ưu tiên đến hoạt động Tông đồ trong Giáo phận như thế nào và điều gì làm cho Đức Cha thật sự hài lòng?

Đức Cha: Tôi đã chọn bậc thang giá trị đời mục vụ và truyền giáo theo thứ tự ưu tiên như sau :

1- Trước nhất là : Đào tạo nhân sự, đặc biệt giới trẻ, từ đó có ơn gọi linh mục tu sĩ thừa sai.

2- Thứ đến : góp phần nâng cao mực sống người dân.

3- Thứ ba là : Xây dựng cơ sở như nhà cửa, nơi thờ tự….

PV: Xin Đức Cha có thể chia sẻ một vài kinh nghiệm Tông đồ của mình cho chúng con.

Đức Cha: Nói về kinh nghiệm sống, tôi nghĩ tới 2 điều :

1- Nghĩ ngay tới Chúa Giêsu 3 Đ : Sinh ngoài đồng, sống ngoài đường, chết ngoài đồi! Tôi cố noi theo Ngài bằng cách đến thăm được càng nhiều anh chị em khắp mọi miền càng tốt! Với tôi : “Đường là nhà, xe là giường, máy bay là khách sạn”. Đến với dân để học làm người với dân : đó là khởi điểm của sứ vụ loan báo Tin Mừng.

2- “Chúa là chủ lích sử”. Ngay cả trên thập giá, Ngài cũng tha thứ và từ nấm mồ, Ngài đã phục sinh. “Chúa luôn viết chữ thẳng trên đường cong!”.

PV: Kết thúc thời gian coi sóc Giáo Phận Kontum trong vai trò Giám mục, bên cạnh những tâm tình về những điều Đức Cha vừa chia sẻ, vậy đâu là những trăn trở, thao thức của Đức Cha về công tác mục vụ của Giáo phận và cần phải quan tâm, ưu tiên hơn nữa?

Đức Cha: Điều tôi ưu tiên quan tâm hiện nay là : Làm sao đem Tin Mừng yêu thương và sự thật đến cho mọi người, cách riêng cho giới trẻ trong xã hội hôm nay? Cho tôi hỏi nhỏ : Anh chị em có thể ngồi viết lách hoặc dễ dàng đọc sách hay suy gẫm giữa nơi ồn áo náo nhiệt không? Tâm trạng tôi lúc này cũng thế!

Này nhé Đất Nước : Nhờ phương diện truyền thông hiện đại, nhiều sự kiện tiếp diễn làm cho những người thiết tha với đồng bào quê hương Việt Nam, KHÔNG THỂ vô cảm. Mật ước Thành Đô, với tôi, vẫn là một thắc mắc và một bận tâm : Nó có thật không? Nhà hữu trách tới nay không một ai lên tiếng? Những người bị ghép cho danh hiệu “phản quốc, bán nước”, không một ai cải chính!? Với những ai tha thiết tới tiền đồ Đất Nước không thể dửng dưng! Nếu đúng như mạng Internet nói, thì quả là khủng khiếp và nguy to! Nếu đúng thì thời điểm 2020 nó lù lù xấn tới nơi rồi! “Người phương bắc đang hiện diện như da beo” khắp nơi trên Đất Việt – từ hàng hoá cho chí con người – phải chăng là những dấu đáng nghi ngại?! Nghĩ đến đó làm sao an tâm chỉ lo cho việc đạo, việc riêng….!!! Mất Nước, mọi chuyện khác hoá ra “nhỏ”và rồi ở với ai, với kiếp nô lệ mới!? Mất nước là mất tất cả! Tôi có bi quan quá không?

Trong bối cảnh đó, tôi nghĩ và tự hỏi : Lớp trẻ – tương lai của Giáo Hội và Xã Hội – đang được hấp thụ một nền giáo dục nào? Một nền giáo dục quá nặng tính vật chất, công khai chống Trời (Thiên Chúa) chống Đất (môi trường sinh thái), một nền giáo dục coi nhẹ lịch sử và nặng tính chính trị phe phái, báo trước một tương lai đen tối cho mọi người cũng như cho tiền đồ Đất Nước. Các anh chị có nghĩ vậy không?

PV: Chúng con ghi nhận tất cả những tâm tình và thao thức của Đức Cha cũng như bao tâm tư của những người mang trong mình ý thức hệ, đều quan tâm, trăn trở với các thế hệ trẻ. Thưa Đức Cha, trải qua một thời gian khá dài trong vai trò Giám mục chánh tòa Giáo Phận Kontum, chắc hẳn Đức Cha có nhiều kinh nghiệm trong việc coi sóc Giáo phận, vậy Đức Cha có muốn chia sẻ một vài điều đối với vị Tân Giám mục, người sẽ kế nhiệm Đức Cha trong thời gian tới?

Đức Cha: Chúa Thánh Thần sẽ nói với Ngài. Khẩu hiệu Giám Mục của Ngài “Caritas in Veritate : Lòng Mến Trong Sự Thật” đã nói quá rõ con đường phục vụ Ngài đã chọn. Chính khẩu hiệu giới thiệu Ngài sẽ là một người mục tử khôn ngoan và hiền lành như lòng Chúa mong muốn vậy! (x. Mt 11, 29)!

PV: Một lần nữa chúng con rất cảm ơn về những chia sẻ thân tình và cởi mở của Đức Cha vừa rồi. Cầu xin Thiên Chúa ban nhiều ơn lành trên Đức Cha. Xin Đức Cha tiếp tục cầu nguyện để Giáo phận chúng ta ngày càng đón nhận nhiều hồng ân Thiên Chúa và mỗi Kitô hữu luôn cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống của mình./.

BAN MỤC VỤ TTXH

Giáo Phận Kontum thực hiện

Vấn nạn công dân bị chết ở nơi tạm giam, tạm giữ

Vấn nạn công dân bị chết ở nơi tạm giam, tạm giữ

Cái chết oan khuất của ông Trịnh Xuân Tùng trong tình trạng lạm quyền, sử dụng bạo lực thô bạo phổ biến của công an Việt Nam khi làm nhiệm vụ đã làm dư luận trong và ngoài nước phẫn nộ. Ảnh băng rôn của gia đình treo trước tòa.

Cái chết oan khuất của ông Trịnh Xuân Tùng trong tình trạng lạm quyền, sử dụng bạo lực thô bạo phổ biến của công an Việt Nam khi làm nhiệm vụ đã làm dư luận trong và ngoài nước phẫn nộ. Ảnh băng rôn của gia đình treo trước tòa.

Danlambao
 

Vấn nạn công dân bị chết bất thường tại nơi tạm giam, tạm giữ vẫn diễn ra thường xuyên tại Việt Nam.Đâu là nguyên nhân của tình trạng này.

Theo thống kê của bộ công an, trong ba năm (từ 2011- 2014) có khoảng 226 người bị chết bất minh tại nơi bị tạm giam, tạm giữ. Lý do của những cái chết bất minh thường được ngành công an giải thích rằng, nạn nhân chết do tử tự, chết do tập thể dục quá sức… Nhưng những nguyên nhân này không thuyết phục được thân nhân của nạn nhân và dư luận.

Nguyên nhân

Luật sư Nguyễn Văn Đài – người từng là nạn nhân của việc dùng nhục hình, bức cung, mớm cung ở nơi giam, tạm giữ cho rằng, trước đây người dân Việt Nam thường rất sợ hãi khi bị cơ quan an ninh mời, triệu tập đến nơi tạm giam, tạm giữ để hỏi cung. Và khi bị cơ quan an ninh điều tra, thẩm vấn họ thường ngoan ngoãn nghe theo, thậm chí có người còn trả lời theo kiểu ‘mớm cung’ của điều tra viên.

Tuy nhiên khoảng 4 năm lại đây, dưới sự tác động của các trang truyền thông, mạng xã hội, nên trình độ dân trí được nâng cao hơn trước. Do đó, khi bị đưa đến nơi tạm giam, tạm giữ người dân không làm những gì mà các điều tra viên mong muốn. Bởi người dân biết rằng họ không có nghĩa vụ phải khai báo, và yêu cầu điều tra viên đưa ra bằng chứng để kết tội. Điều này làm cho điều tra viên rất tức giận, vì họ đã quen với phong cách làm việc của họ, khi họ thẩm vấn bất kỳ người nào thì người đó phải ngoan ngoan trả lời câu hỏi của họ.

Chính sự tức giận của các điều tra viên đã gây nên cái chết của những người bị tạm giữ, tạm giam, Luật sư Nguyễn Văn Đài nói thêm:

“Họ (các điều tra viên) có những hành động bạo lực để đánh những người bị tạm giam, tạm giữ. Không may trong số viên đó đã đánh vào chỗ hiểm dẫn đến những nạn nhân bị trọng thương và qua đời”.

Chị Trịnh Kim Tiến – con gái của một nạn nhân bị điều tra viên đánh chết trong đồn công an cho rằng, nguyên nhân của những cái chết oan uổng ở nơi tạm giam, tạm giữ là do những điều tra viên muốn giải quyết nhanh sự việc để thăng chức, thói quen suy đoán có tội, bệnh thành tích, và tâm lý khinh thường pháp luật.

Chị Trịnh Kim Tiến nói thêm về nguyên nhân:

Vụ chết người mới nhất trong lúc bị công an Việt Nam tạm giam đã gây ra phẫn uất trong dư luận mấy ngày qua.Nạn nhân Đỗ Đăng Dư (17 tuổi) qua đời với nhiều vết bầm tím trên cơ thể trong khi bị tạm giam ngày 10 tháng 10, 2015
Vụ chết người mới nhất trong lúc bị công an Việt Nam tạm giam đã gây ra phẫn uất trong dư luận mấy ngày qua.Nạn nhân Đỗ Đăng Dư (17 tuổi) qua đời với nhiều vết bầm tím trên cơ thể trong khi bị tạm giam ngày 10 tháng 10, 2015

“Chưa kể đến những sự việc mà họ (điều tra viên) liên quan, họ bị mua chuộc trong đó để gây ra những thương tích và tang thương cho nạn nhân. Và hiện tại công an nắm quá nhiều quyền lực, khi nắm nhiều quyền lực sẽ dẫn đến việc lạm dụng quyền lực”.

Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh – thuộc dòng Chúa Cứu Thế, một người hoạt động năng nổ trong việc bảo vệ ‘nhân quyền’ cho những công dân Việt Nam cho rằng, nguyên nhân đầu tiên là việc bắt giam người không đúng trình tự pháp luật của cơ quan an ninh điều tra. Vì cơ quan an ninh điều tra luôn tự ý bắt người trái pháp luật, trong khi dân chúng lại không biết pháp luật, nên cơ quan điều tra thỏa thích làm sai mà không sợ dân kiện tụng. Và khi bắt người rồi, cơ quan điều tra lại phải chứng minh rằng mình bắt đúng. Do đó họ sẽ ‘mớm cung’ rồi dùng nhục hình để ép cung nạn nhân.

Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh nói thêm:

“Nguyên nhân thứ hai là công an có quyền giữ người độc lập quá lâu, và không có cơ quan nào khác giám sát. Từ khi bắt, quyết định khởi tố vụ án cho đến được đưa ra tòa, chỉ có một mình công an vừa giám sát, vừa điều tra, vừa quản lý, và công an làm những gì đối với những người bị tạm giam thì hoàn toàn không ai biết họ có được an toàn hay không? Chính vì vậy, họ có thể dùng các biện pháp nhục hình tra tấn, để mong có được kết quả, thậm chí là kết quả có được từ việc ép cung sau khi sử dụng nhục hình ”.

Cũng theo Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh, ngoài hai nguyên nhân chính ở trên, việc hệ thống pháp luật Việt Nam (trước đây) chưa công nhận quyền ‘im lặng’ của công dân cũng làm cho tình trạng công dân bị chết ở nơi tạm giam, tạm giữ gia tăng. Và bởi vì Việt Nam vừa mới công nhận quyền ‘im lặng’ cách đây mấy ngày, cho nên vẫn chưa áp dụng được vào thực tế.

Giải pháp

Trước vấn nạn công dân bị chết bất minh ở nơi tạm giam, tạm giữ. Việc tìm giải pháp để hạn chế vấn nạn này đang được rất nhiều người quan tâm. Chị Trịnh Kim Tiến góp ý về việc điều tra với mong muốn không còn ai phải chịu đựng cảnh người thân bị chết bất minh trong đồn công an, chị nói:

Bố nạn nhân đau đớn trước cái chết của con trai, em Tu Ngọc Thạch, 14 tuổi, học sinh lớp 9 Trường trung học phổ thông Lương Thế Vinh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà, đã bị công an đánh chết
Bố nạn nhân đau đớn trước cái chết của con trai, em Tu Ngọc Thạch, 14 tuổi, học sinh lớp 9 Trường trung học phổ thông Lương Thế Vinh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà, đã bị công an đánh chết

“Điều tra là việc cần thời gian, không thể gấp gáp được, và việc điều tra cần tỉ mỉ, không phải anh cứ tra tấn cho người ta người ta và ép người ta nhận tội là có thể quy kết tội cho người ta được.”

Luật sư Nguyễn Văn Đài đề xuất những giải pháp để giảm tối thiểu vấn nạn công dân bị chết bất minh trong đồn công an, ông nói:

“Thứ nhất, khi một người khi bị tạm giữ, tạm giam thì người thi hành lệnh bắt phải nói rõ cho người bị bắt rằng, anh có quyền im lặng cho đến khi có luật sư. Phải nói rõ cho họ biết họ có quyền gì trước cơ quan điều tra.

Thứ hai, trong quá trình chờ đợi, điều tra viên không được phép tiến hành cuộc thẩm vấn nào cho đến khi có mặt luật sư của họ. Trong tất cả những cuộc hỏi cung, thẩm vấn đều phải có mặt của luật sư.

Thứ ba, trong quá trình thẩm phải được quay phim, thâu âm để đảm bảo tính khách quan.

Thứ tư, khi một người bị đưa đi thẩm vấn, phải đảm bảo có giấy cam kết ký về tình trạng sức khỏe trước khi bàn giao người cho điều tra viên. Và khi trở về thì phải có biên bản hay kiểm tra sức khỏe xem người đó có vấn đề gì hay không?”

Cũng theo Luật sư Nguyễn Văn Đài, đối với những trường hợp chưa nằm trong khung luật tạm giam, tạm giữ, khi nạn nhân ở đồn công an thì rất khó có cơ chế nào bảo vệ họ, bởi chỉ vài giờ làm việc với điều tra viên thì nạn nhân đã tử vong.

Trong những ngày qua, phía chính quyền Việt Nam đã thay đổi rất nhiều luật để hạn chế vấn nạn này như, công nhận quyền ‘im lặng’ của công dân, cho thâu hình và thâu âm khi thẩm vấn, hay việc tách nơi tạm giam, tạm giữ ra khỏi cơ quan điều tra nhưng vẫn thuộc sự quản lý của bộ công an.

Tuy nhiên, theo Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh, những động thái của chính quyền là chưa đủ, và không cải thiện được được tình trạng bi đát trong các trại tạm giam, tạm giữ. Đặc biệt trong những vụ án bị chính quyền gọi là ‘vi phạm an ninh quốc gia’, thì ngành công an làm việc theo chỉ đạo của đảng và chính phủ. Với những vụ án như vậy, công an có thể xóa sạch những bản thâu của camera, rồi dùng nhục hình để bức cung… để điều tra theo hướng có lợi cho họ, do bộ công an vẫn một mình quản lý tất cả, nên việc này là quá dễ dàng.

Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh nói tiếp:

“Giải pháp tốt khi tạm giam, tạm giữ là phải giao cho một bộ phận khác, hiện nay bộ phận tương đối có thể là bộ lao động thương binh xã hội, còn nếu không thì giao cho một tổ chức dân sự độc lập quản lý.”

Cuối cùng, Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh nhấn mạnh rằng, pháp luật phải vì con người, để bảo vệ con người… Tuy nhiên tại Việt Nam, hệ thống giám sát và điều hành pháp luật hiện nay đang có vấn đề. Điều này khiến cho nhiều người dân đang rất hoang mang và lo lắng mỗi khi bị cơ quan điều tra mời lên làm việc. Và điều này đã trực tiếp tạo nên tình trạng rất nguy hiểm cho công dân Việt Nam trên khắp cả nước.

Anh vất áo choàng, đứng phắt dậy

Anh vất áo choàng, đứng phắt dậy

danchuahiepthong

Chỉ trong niềm tin vào Chúa, người ta mới tìm được niềm vui và ơn giải thoát thực sự…

Bà Jo Scaggs, giáo sĩ thuộc một giáo phái Tin lành, được mời đến dự lễ Giáng sinh được tổ chức ngoài trời tại Grace Camp, một trung tâm điều trị bệnh cùi ở Nigeria. Đó là lần đầu tiên bà thấy được một số rất đông người cùi. Nhìn đâu cũng thấy người cùi, rất nhiều người bị bệnh cùi gặm nhấm và hủy hoại thân thể, nhưng khuôn mặt ai cũng bày tỏ niềm vui, mắt họ sáng lên khi hát thánh ca.

Đến phần công bố Lời Chúa, một người cùi không còn ngón tay nào lên đọc Sách Thánh. Ông phải lật các trang sách bằng một cái que buộc vào cổ tay. Sau bài giảng, vị mục sư mời mọi người chia sẻ về các ân phúc Chúa ban cho mình. Người không còn ngón tay đứng lên nói rằng: “Tôi muốn cảm tạ Chúa vì Ngài đã cho tôi bị cùi”.

Trước sự ngạc nhiên của bà Jo Scaggs, anh giải thích thêm: “Nếu tôi không bị cùi, có thể tôi đã không bao giờ biết Chúa Giêsu, không bao giờ cảm nghiệm được tình yêu của Chúa dành cho tôi sâu xa đến thế. Còn thực tế là bây giờ tôi đang bị bệnh cùi, có thể tôi sẽ không bao giờ được chữa lành, nhưng tôi lại cảm nghiệm được tình yêu của Chúa luôn đổ tràn trên tôi qua biết bao người đang săn sóc cho tôi…”

Bước vào cuộc đời, ai cũng phải đối diện với nhiều đau khổ từ thân xác đến tâm hồn. Đau khổ dường như không buông tha cho ai, cả người tin vào Chúa: “Lạy Chúa, Ngài quên con mãi tới bao giờ? Tới bao giờ còn ngoảnh mặt làm ngơ? Tới bao giờ hồn con vẫn còn lo lắng và lòng con ủ rũ đêm ngày? Tới bao giờ kẻ thù con thắng mãi” (Tv 12,2-3)?

Nhưng chỉ trong niềm tin vào Chúa, người ta mới tìm được niềm vui và ơn giải thoát thực sự, “Vì Đức Chúa phán thế này: Reo vui lên mừng Gia-cóp, hãy hoan hô dân đứng đầu chư dân! Nào loan tin, ca ngợi và công bố: “Đức Chúa đã cứu dân Người, số còn sót lại của Ít-ra-en!” Này Ta sẽ đưa chúng từ đất Bắc trở về, quy tụ chúng lại từ tận cùng cõi đất. Trong chúng, có kẻ đui, người què, kẻ mang thai, người ở cữ: tất cả cùng nhau trở về, cả một đại hội đông đảo” (Gr 31,7-8).

Tin Mừng Đấng Cứu Thế đem đến cho nhân loại chỉ đơn giản là rao giảng tình yêu muôn đời Thiên Chúa đã dành cho họ: “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31,3). Tình yêu đó nối kết nhân loại với Thiên Chúa trong mối tình thân mật của một người cha dành cho con mình: “Ta sẽ an ủi và dẫn đưa chúng, dẫn đưa tới dòng nước, qua con đường thẳng băng, trên đó chúng không còn vấp ngã. Vì đối với Ít-ra-en, Ta là một người Cha, còn đối với Ta, Ép-ra-im chính là con trưởng” (Gr 31,9).

Vâng, Ngôi Lời đã làm người, sống giữa nhân loại, để “chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. (…) Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4,14-16).

Tin Mừng cho nhân loại là được mạnh dạn đến gần Chúa, vì chính Người đã gọi, đã đến với sự cùng cực của mỗi người: “Người ta gọi anh mù và bảo: “ Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy” (Mc 10,49).

Vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu là dấu chỉ của một niềm tin mạnh mẽ. Niềm tin của anh đã cứu anh, anh nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.

Đó là niềm tin đem ơn cứu độ đến cho nhân loại hôm nay, niềm tin đó làm cho mỗi người nhìn thấy và phân định được điều thực sự có giá trị trong dòng đời để vất bỏ ngay, vất bỏ dứt khoát và mạnh mẽ những gì thế gian coi trọng để đi theo Đức Kitô trên con đường Người đi.

Dọc miền sông Rhine, một trong những con sông dài và quan trọng nhất Âu châu, truyện xưa kể lại chuyện một thanh niên đói lử, quần áo mong manh, cực nhọc, suốt ngày làm việc trên những con đường lổn nhổn, gồ ghề. Đêm đó, mắt anh nhìn thấy cánh cửa sáng ngời của toà lâu đài gần đó, tai anh lắng nghe âm thanh lễ hội với những dòng nhạc từ đó phát ra như cảnh thiên đàng đối với cuộc đời lao khổ của anh.

Anh bỏ nhà ra đi từ khi còn trẻ, và từ nhiều năm đã không còn nghe biết gì về nhà của mình nên không biết rằng lâu đài lộng lẫy đó là của cha anh mà anh là người thừa kế.

Anh đánh liều đến hỏi xin cho được trú qua đêm. Ở cổng, anh gặp lão giúp việc. Lão nhận ra anh ngay và dẫn anh vào buổi liên hoan. Tại đó, anh được mặc áo người thừa kế với một di sản lớn lao. Cuộc đời anh thay đổi, bóng tối khép lại sau lưng!

Còn lớn lao hơn thế là gia sản quí báu và hạnh phúc vĩnh cửu của tôi. Không có niềm tin, tôi không thấy gì cả.

Sao tôi không vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu để được nhìn thấy?

Lm. HK