Hãy Ðếm Những Vì Sao!

Hãy Ðếm Những Vì Sao!

Đức Ông Peter Nguyễn Văn Tài

Trong cuốn truyện thuộc loại tự thuật, một người cha ghi lại câu chuyện và những ý nghĩ sau đây:

Một đêm kia, trong lúc đang đọc báo, tôi nghe đứa con gái bé nhỏ của tôi bảo: “Bố ơi, con sẽ đếm xem trên trời có mấy ngôi sao”.

Sau đó, tôi nghe giọng nói êm đềm, dễ mến của con tôi bắt đầu đếm: 1, 2, 3, 4… rồi tôi chú tâm vào việc đọc báo, không còn để ý đến những tiếng đếm của nó nữa.  Ðến khi đọc xong bài báo, tôi chú ý lắng tai và nghe tiếng đứa con gái tôi vẫn tiếp tục đếm: 223, 224.

Ðếm đến đây nó ngừng lại quay sang tôi bảo: “Bố ơi, con không dè trên trời có nhiều sao đến thế”.

Nghe con bình luận như trên, tôi chợt nhớ: Thỉnh thoảng tôi cũng thầm nói với Chúa: “Chúa ơi, để con thử đếm xem con đã nhận lãnh bao nhiêu ơn lành Chúa ban”. Và càng đếm hình như trái tim tôi càng cảm thấy thổn thức, không phải vì âu sầu nhưng vì bị nhiều hồng ân đè nặng.

Và tôi cũng thường bật lên lời bình luận như đứa con gái của tôi: “Lạy Chúa, con không dè đời con có nhiều ơn Chúa đến thế!”

Một trang nhật ký kia cũng mang một nội dung tương tự như những tư tưởng trên: Nếu có ai đưa tôi một đĩa đầy cát và bảo tôi tìm những mảnh sắt bé nhỏ nằm lẫn lộn trên cát, thì với đôi mắt và những ngón tay, tôi khó có lòng tìm ra được những mảnh sắt ấy. Nhưng với một thỏi nam châm tôi có thể dễ dàng và mau lẹ hút ra những vụn sắt nhỏ li ti trộn lẫn trong cát.

Một trái tim vô ơn có thể so sánh với đôi mắt trần, và những ngón tay vụng về của tôi mò mẫm trên đống cát, không tìm ra những ơn lành Thiên Chúa ban.

Nhưng với một trái tim biết ơn, có thể so sánh với một thỏi nam châm, tôi có thể lướt nhanh qua mỗi giây phút của một ngày sống và khám phá ra nhiều hồng ân của Thiên Chúa, với một sự khác biệt là những mảnh sắt nhỏ trong đống cát của Thiên Chúa là những vật quý giá hơn vàng.

Nhiều người sống hời hợt nên thấy cuộc đời cũng như những biến cố xảy ra hằng ngày và những cảnh vật chung quanh mang toàn đen tối và vô giá trị như đất cát.  Nhưng với những người sống có chiều sâu, các biến cố, những vật chung quanh, dầu tầm thường nhỏ bé đến đâu cũng là dịp để họ suy niệm và dâng lời cảm tạ:

* Một nụ hoa hồng chớm nở, những tia nắng trinh nguyên của một buổi sáng đẹp trời,

* Một cái bắt tay thông cảm,

* Một cử chỉ tha thứ,

* Một sự giúp đỡ nho nhỏ……

Đức Ông Peter Nguyễn Văn Tài

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

CPJ kêu gọi VN ngưng truy tố cựu tổng biên tập báo Người Cao Tuổi

CPJ kêu gọi VN ngưng truy tố cựu tổng biên tập báo Người Cao Tuổi

RFA

CPJ hôm qua ra thông cáo báo chí kêu gọi Việt Nam bỏ các cáo trạng chống lại ông Kim Quốc Hoa

CPJ hôm qua ra thông cáo báo chí kêu gọi Việt Nam bỏ các cáo trạng chống lại ông Kim Quốc Hoa

Screen shot

Uỷ ban Bảo vệ các nhà báo CPJ hôm qua ra thông cáo báo chí kêu gọi Việt Nam bỏ các cáo trạng chống lại ông Kim Quốc Hoa, cựu tổng biên tập báo Người Cao Tuổi. CPJ cũng đề nghị chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho báo chí thể hiện vai trò của họ mà không lo sợ bị trả đũa.

Đại diện cao cấp của CPJ ở Đông Nam Á, ông  Shawn Crispin, cũng cho rằng Việt Nam cần phải sáng suốt hơn trong việc giải quyết tình trạng tham nhũng đã được báo chí ghi nhận rõ ràng, thay vì khởi tố các nhà báo phanh phui những vụ quan chức lạm dụng quyền lực.

Kêu gọi của như vừa nêu của CPJ được đưa ra sau khi Bộ Công An Việt Nam quyết định khởi tố ông Kim Quốc Hoa, cựu tổng biên tập tờ Người Cao Tuổi theo điều 258 Bộ Luật Hinh sự Việt Nam về việc lợi dụng quyền tự do dân chủ nhằm xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Cơ quan an ninh Việt Nam cho rằng ông Kim Quốc Hoa đã duyệt hoặc cho đăng tải 11 bài báo có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

Xin nhắc lại là vào ngày 9 tháng 2 năm nay, Báo Người Cao tuổi đã bị điều tra và cùng ngày đó ông Kim Quốc Hoa bị ngưng chức Tổng biên tập để điều tra.

Xây Dựng Xã Hội Từng Mảnh Một (Piecemeal Social Engineering)

Xây Dựng Xã Hội Từng Mảnh Một (Piecemeal Social Engineering)

Tác Giả: Đoàn Thanh Liêm |

Câu chuyện của sư phụ Karl Popper và môn đệ George Soros

Năm 1996, tôi đến định cư tại California, thì được anh bạn Đỗ Quý Toàn tức là nhà báo Ngô Nhân Dụng mách bảo cho biết là : “Anh cần tìm đọc về tư tưởng của Karl Popper là một vị đại sư vốn từng dậy học tại trường Kinh tế Luân Đôn, mà ở Việt nam trước năm 1975 ít người được biết đến, kể cả các giáo sư về môn triết học tại các đại học ở Saigon”. Nghe theo lời khuyên của anh bạn, tôi đã đi tìm cuốn sách nổi danh “ The Open Society and its enemies” xuất bản lần đầu tiên tại Anh quốc năm 1945 của tác giả này. Và sau đó tìm đọc thêm nhiều tài liệu khác liên hệ đến đề tài do giáo sư Popper nêu ra, nhất là về nhà tài chánh khét tiếng George Soros là một môn sinh của sư phụ K Popper. Các tài liệu này đã soi sáng rất nhiều cho tôi trong quá trình nghiên cứu về Xã hội Dân sự trong nhiều năm gần đây. Sau trên 10 năm theo dõi và nghiền ngẫm, tôi xin trình bày một số điều tôi đã học hỏi được từ nơi hai nhân vật nổi danh này.

Để cho bài viết được sáng sủa gọn gàng, tôi xin giới thiêu về thân thế và sự nghiệp của mỗi vị trước (bài 1). Và tiếp theo sẽ thảo luận về chủ trương đường lối của hai nhân vật này (bài 2- 3).

Bài 1 – Karl Popper & George Soros

Thân thế và Sự nghiệp

A / Karl Raimund Popper (1902- 1994)

Karl Popper sinh trưởng tại Vienna thủ đô của Áo quốc. Vào tuổi 30, ông thường sinh hoạt với các nhà tư tưởng theo trường phái Vienna về triết học và xã hội học. Nhưng vào năm 1937, vì bất đồng với chế độ độc tài Đức quốc xã, ông đã phải rời quê hương để sang dậy về môn triết học tại trường Đại học Tân Tây Lan. Và sau đó, khi chiến tranh chấm dứt ông lại qua Anh quốc dậy học tại trường đại học nổi danh thế giới “ London School of Economics “ (LSE) trong một thời gian khá dài trước khi về nghỉ hưu.

Giáo sư là người đương thời với nhiều nhân vật nổi danh trong giới học thuật và tư tưởng của thế giới như Andre Malraux, Jean Paul Sartre, Raymond Aron ở Pháp, Gunnar Myrdal ở Thụy Điển, Friedrick Hayek ở Áo quốc. Và đặc biệt ông sống rất thọ, tới tuổi 92. Các sách của ông viết về triết học, đặc biệt là cuốn “ The Open Society and its enemies” đã gây ra những cuộc tranh luận sôi nổi trong học giới. Năm 1982, vào lúc ông bước vào tuổi bát tuần, các học giả đã hợp với nhau để cùng viết chung một cuốn sách nhan đề là : “In pursuit of Truth” do Paul Levinson biên tập gồm những bài tiểu luận về “Triết học của K. Popper (Essays on the Philosophy of K. Popper on the occasion of his 80th Birthday).

Vào năm 1965, vị giáo sư còn được Nữ hoàng Anh quốc phong tước hiệu “Hiệp sĩ nước Anh” (Knight of England), nên người ta thường xưng tụng gọi ông là Sir Karl Raimund Popper. Ông còn được một môn sinh cũng rất nổi danh là nhà tài chánh George Soros vinh danh là sư phụ của mình bằng cách đặt tên cho cơ sở hoạt động xã hội của ông là “Open Society Institute” có trụ sở chính tại New York. Từ ngữ “Open Society” này nhằm ứng dụng chủ trương của K Popper như được trình bày trong cuốn sách thời danh nói trên. Ta sẽ bàn về nội dung cuốn sách này trong một bài tiếp theo.

Nhân tiện, xin liệt kê một số đầu sách quan trọng của giáo sư Karl Popper như dưới đây theo thứ tự thời gian xuất bản :

The Logic of Scientific Discovery (1934), bản dịch tiếng Anh 1959

The Open Society and its enemies (1945)

Utopia and Violence (1947)

On Freedom (1958)

Conjectures and Refutations : The Growth of Scientific Knowledge (1963)

Unended Quest : An Intellectual Autobiography (1976)

In Search of a Better World (1994)

Hình như chưa có mấy cuốn trong số sách trên đây mà đã được dịch sang tiếng Việt.

B/ George Soros (1930)

George Soros sinh trưởng trong một gia đình Do thái tại Budapest thủ phủ của nước Hungary, vào năm 1930. Trong thời kỳ Đức quốc xã xâm chiếm nước Đông Âu này và tiến hành cuộc tàn sát người Do Thái từ năm 1943, thì George thoát nạn vì nhờ được một gia đình người Hung chính hiệu nhận làm con nuôi. Sau chiến tranh, ông tìm cách đào thoát khỏi khu vực do Hồng quân Liên Xô chiếm đóng để sang phương Tây và đến được nước Anh vào năm 1947. Tại đây, George theo học và tốt nghiệp vào năm 1952 ở trường London School of Economics. George rất tâm đắc với chủ trương về “Xã hội Mở” (Open Society) của giáo sư Karl Popper. Và sau này khi đã rất thành công về tài chánh rồi, thì G Soros đã công khai tôn vinh giáo sư Karl Popper là vị sư phụ đáng kính của mình, bằng cách đặt tên cho Quỹ Từ Thiện cũng như cơ sở hoạt động xã hội của mình là “Open Society Foundation” và “Open Society Institute” (OSI).

Theo sự xếp hạng của tạp chí tài chánh Forbes, thì G Soros được coi là người giàu có thứ 80 trên thế giới với tài sản vào khoảng 8.5 tỷ mỹ kim (8,500 triệu). Ông chuyên môn kinh doanh trên thị trường tài chánh và chứng khoán và bằng những thủ thuật mạnh dạn khôn khéo đến độ phiêu lưu liều lĩnh nên có năm ông kiếm được một số lời khổng lồ hàng ngàn triệu dollar. Tính ra ông đã kiếm được đến 11 tỷ dollar (11,000 triệu) trong thời gian có mười mấy năm hoạt động sôi nổi trên thị trường tài chánh. Báo chí đặt cho ông cái danh hiệu “người bẻ gẫy Ngân hàng Anh quốc” (the man who broke the Bank of England) trong Ngày thứ Tư đen tối năm 1992 (Black Wednesday, September 16, 1992). Và riêng trong mỗi một vụ mạo hiểm này thôi, thì Soros đã kiếm được một số lời lên đến 1.1 tỷ dollar!

Hồi năm 1997, nhân cuộc khủng hoảng tài chánh ở Á châu, G Soros bị Thủ tướng Mahathir của Mã lai tố cáo đích danh là một thủ phạm đã gây ra sự việc tồi tệ đó thông qua những vụ “sử dụng tài sản của mình để trừng phạt khối ASEAN vì đã nhận nước Myanmar vào làm thành viên”. Ông Thủ tướng này còn gọi Soros là một người đần độn(moron). Người Thái lan còn gọi Soros là “ tên tội phạm trong cuộc chiến tranh kinh tế, chuyên hút máu người dân (an economic war criminal who sucks the blood from the people).

Nhưng Soros lại rất nổi danh khắp thế giới, đặc biệt là tại nước Nga và cả khu vực Đông Âu, vì đã góp một phần rất quan trọng vào sự phục hồi chế độ dân chủ ở các nước “cựu cộng sản “ này. Cụ thể như ngay từ đầu thập niên 1980, ông đã yểm trợ rất mạnh cho phong trào “Đoàn kết” ở Ba lan, cho Nhóm “Hiến chương 77” ở Tiệp khắc, cho nhà bác học đối lập thời danh ở Liên Xô là Andrei Sakharov v.v…Chi tiết về các hoạt động này rất nhiều, sẽ được trình bày đày đủ hơn trong một bài sau. Mỗi năm quỹ của Soros đã chi ra đến 500 triệu dollar cho các dự án trên khắp thế giới, đặc biệt tại Đông Âu

G Soros lại còn gây sôi nổi trong dư luận vào năm 2004, khi ông bỏ ra một số tiền khá lớn đến trên 15,000,000 dollar để nhằm hạ bệ Tổng Thống George W Bush trong cuộc bàu cử năm đó.

Ngoài ra ông còn viết nhiều bài báo và cả mấy cuốn sách về kinh tế tài chánh trên quy mô toàn cầu. Thật là con người đa tài, đa dạng, nhiều tiền lắm bạc mà cũng thật là đa đoan nữa.

Trong bài tiếp theo, người viết sẽ trình bày chi tiết hơn về chủ trương “Xây dựng xã hội từng mảnh một” về cả hai phương diện lý thuyết và thực hành của cặp sư phụ Karl Popper và môn sinh G eorge Soros này. Xin độc giả đón đọc nhé.

Bài 2 – Luận điểm của Karl Popper

Công trình nghiên cứu về triết học của giáo sư Karl Popper trong suốt cuộc đời lâu dài vừa miệt mài nghiên cứu giảng dậy, vừa bền bỉ biên soạn sáng tác của ông thật là phong phú vĩ đại. Chuyên môn của ông là lãnh vực triết lý của khoa học (philosophy of science). Và ông đã dậy học tại trường Kinh tế Luân Đôn (LSE) suốt 23 năm với chức danh chính thức là vị Giáo sư về môn Luận lý và Phương pháp Khoa học (Professor of Logic and Scientific Method). Việc giới thiệu cho đày đủ công trình triết học đồ sộ đó rõ ràng là vượt ra ngoài khả năng rất hạn hẹp của người viết bài này. Do đó, như trong nhan đề của bài viết, tôi chỉ xin giới hạn việc giới thiệu về cái chủ trương “Xây dựng xã hội từng mảnh một”, mà vị đại sư đã trình bày rất khúc chiết tại nhiều trang rải rác trong cuốn sách thời danh “The Open Society and its enemies” (Xã hội Mở và những kẻ thù của nó) được xuất bản lần đầu tiên năm 1945 tại Anh quốc, rồi sau đó lại được tái bản nhiều lần và phổ biến rộng rãi tại Hoa kỳ, cũng như tại khắp nơi trên thế giới qua các bản dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nữa.

Và trong một bài tiếp theo (bài 3), người viết sẽ trình bày chi tiết hơn về sự ứng dụng chủ trương này, thông qua chương trình hoạt động văn hóa xã hội và từ thiện nhân đạo có tầm vóc toàn cầu của George Soros là một môn đệ kiệt xuất của giáo sư.

1 – Giới thiệu sơ lược về cuốn sách “ Xã hội Mở và những kẻ thù của nó”

Cuốn sách này được nhiều học giả đánh giá là một công trình quan trọng nhất nghiên cứu về môn xã hội học đương đại, một thứ tác phẩm “kinh điển” (a classic). Vị đại sư Bertrand Russell thì ca ngợi tác phẩm như là một bênh đỡ vững mạnh và sâu sắc cho nền Dân chủ (a vigorous and profound defence of Democracy). Quả thật, Popper đã vận dụng triệt để cái vốn kiến thức uyên bác, vững vàng trong lãnh vực triết lý khoa học cuả mình để tìm cho ra được một lối thoát về chính trị xã hội cho thế giới lúc đó đang bị kềm kẹp khốn khổ dưới chế độ độc tài tàn bạo Đức quốc xã. Và rồi qua cuốn sách thời danh này, Popper đã được đánh giá cao là một triết gia về chính trị và xã hội nưã (political and social philosopher).

Sách dài tổng cộng trên 700 trang được phân bố trong 2 tập, với tổng cộng 25 chương, mà 10 chương đầu được dành để phân tích và bác bỏ các luận điểm của đại triết gia Plato là một thứ ‘núi Thái sơn” của nền triết học Tây phương và cả của kho tàng triết học của nhân loại nữa. Còn các chương tiếp theo, thì tác giả dành để phê phán Marx và Hegel. Mặc dầu rất kính phục vị đại sư Plato, Karl Popper vẫn thẳng thừng phê phán quan điểm của triết gia này đến nơi đến chốn, đặc biệt về quan điểm có tính chất “ không tưởng” (utopian social engineering) của Plato trong việc điều hành và lãnh đạo xã hội. Popper rất kiên quyết, triệt để chống lại cái lý luận của Plato khi chủ trương rằng “ quyền lợi cuả nhà nước được đặt trên quyền lợi cuả cá nhân “ và “cần phải dành quyền cai trị cho nhà độc tài sáng suốt, một thứ “vua kiêm triết gia” (philosopher-king).

Dĩ nhiên là Popper cũng nặng nề phê phán chê trách quan điểm của Hegel đặc biệt là thuyết “định mệnh lịch sử” (historical determinism). Nói vắn tắt là : Popper hoàn toàn bác bỏ cái chủ trương “kế hoạch hóa toàn diện” (Total Planning) của Plato và Hegel, Marx, mà thay vào đó bằng chủ trương “Xây dựng Xã hội từng mảnh một” (Piecemeal Social Engineering). Chủ trương này sẽ được bàn thảo phân tích chi tiết rành rọt hơn trong phần sau của bài viết này.

Ta nên chú ý đến thời gian và bối cảnh lúc tác giả viết cuốn sách này. Đó là từ năm 1938 đến 1943, lúc chế độ phát xít Hitler đang chiến thắng ròn rã ở khắp Âu châu, kể cả tại nước Nga. Tình hình bi thảm này trên khắp Âu châu đã khiến cho Popper phải ngày đêm lăn xả vào việc truy tìm tận gốc rễ đã phát sinh ra chế độ độc tài chuyên chế toàn trị. Vì thế mà ông đã “rất nặng lời trong việc phê phán Plato, Hegel” là những bậc thức giả được tác giả coi như chủ xướng cổ võ cho hệ thống “xã hội khép kín” (closed society) do chế độ độc tài gây dựng và duy trì. Vào thời đó, chưa có cuộc chiến tranh lạnh như trong giai đoạn sau này, kể từ khi thế chiến thứ hai chấm dứt. Nên trong cuốn sách này, Popper đã” rất nhẹ tay ” đối với Karl Marx, và cũng lại không hề đả động gì đến chế độ độc tài cộng sản sắt máu cuả Stalin.

Ngày nay vào đầu thế kỷ XXI, sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở nước Nga và Đông Âu để nhường chỗ cho một thể chế dân chủ thông thoáng cởi mở hơn, cùng với sự thăng tiến về nhân phẩm và nhân quyền thông qua sự phục hồi và phát triển cuả xã hội dân sự, thì lời kêu gọi “xây dựng một xã hội cởi mở”, mà Popper đã mạnh dạn gióng lên từ 60-70 năm trước, lại càng có tính cách thực tiễn thời sự và được sự hưởng ứng cuả số đông quần chúng cũng như tầng lớp trí thức khắp nơi trên thế giới.

Tóm tắt lại, cuốn sách “The Open Society” cuả Karl Popper đã góp phần gây ra được một nguồn cảm hứng nồng nhiệt, phấn khởi cho công cuộc tìm kiếm một thể chế chính trị xã hội nhân bản, văn minh tiến bộ xứng hợp với điạ vị cao quý cuả con người trong một thế giới đang mỗi ngày càng phát triển mạnh mẽ theo chiều hướng toàn diện và toàn cầu hiện nay vậy.

2 – Thảo luận về vấn đề “ Xây dựng xã hội từng mảnh một”.

Luận điểm cốt lõi của Popper có thể tóm gọn lại như sau : Công việc chính yếu của bất kỳ một xã hội con người nào thì cũng chỉ là phải “giải quyết vấn đề” xảy đến cho xã hội đó (problem solving). Mà phương pháp khoa học có hiệu quả nhất là sử dụng “ giải pháp thử nghiệm” (trial solution). Giải pháp thử nghiệm như vậy đòi hỏi một sự “phê phán, kiểm tra thường xuyên” và tìm cách” loại bỏ những sai lầm” (error elimination). Nhờ quá trình hoạt động nghiêm túc như vậy, mà lần hồi con người tìm ra được giải pháp tối ưu cho các vấn đề nhân sinh (optima solution).

Popper xác định : “Trong thực tế chưa hề có một mô hình mẫu mực nào cho việc “xây dựng xã hội đại quy mô” (large-scale engineering). Đó chỉ là sản phẩm tưởng tượng của những nghệ sĩ, của loại người “không tưởng” (utopian). Mà cũng không hề có một thứ “ lý thuyết định mệnh lịch sử “ nào đã được chứng minh có giá trị chính xác tuyệt đối, như mấy nhà “tiên tri” thường rêu rao…” Lời phát biểu chắc nịch của ông được nhiều người nhắc đến, đó là : “ Thay vì đứng ra như là vị tiên tri, chúng ta phải là người tạo ra số phận cho chính mình” (Instead of posing as prophets, we must become makers of our fate).

Popper đi đến một kết luận dứt khoát là : “Chỉ có một xã hội dân chủ, cởi mở, sẵn sàng tiếp nhận những phê phán, chỉ trích những sai lầm và có tinh thần phục thiện để mà điều chỉnh sửa chữa những bất cập đó, thì xã hội mới có cơ được lần hồi cải thiện. Ông nêu rõ là không thể có một “mẫu thiết kế” (blueprint) có sẵn cho bất kỳ một quốc gia nào, như các nhà độc tài thường hay áp đặt bắt buộc thần dân trong nước phải răm rắp tuân theo, mà không hề được nêu lên ý kiến phê phán thế này, thế nọ. Ông còn nói rõ hơn : Vì chúng ta không có cách nào đem lại hạnh phúc tối đa cho người dân được ( maximize happiness), nên chúng ta chỉ còn có mỗi một cách là “giảm đến mức tối thiểu sự đau khổ của quần chúng” (minimize suffering). Phương thức “ Xây dựng Xã hội từng mảnh một” chính là giải pháp tối ưu mà chúng ta có thể thực hiện được, hầu giải quyết thỏa đáng cho những vấn đề mỗi ngày một thêm phức tạp khó khăn của xã hội ngày nay vậy.

Chủ trương “Piecemeal Social Engineering “ này làm chúng ta nhớ đến quan điểm của kinh tế gia E F Schumacher trong cuốn sách nổi danh “Small is Beautiful” xuất bản hồi thập niên 1970, cũng bắt đầu tại nước Anh. Người viết đã có dịp giới thiệu tư tưởng của Schumacher từ hồi đầu năm 2009 vừa qua. Rõ ràng là quan điểm của triết gia Karl Popper có nhiều điểm tương đồng với chủ trương của kinh tế gia Fritz Schumacher, dù hai người theo đuổi hai lãnh vực hoàn toàn khác nhau, với phương pháp lý luận cũng khác nhau.

Ta hãy nghe thêm lời biện giải chi tiết hơn của Popper : “ Phương pháp “từng mảnh một cho phép ta thực hiện liên tiếp nhiều thực nghiệm và những điều chỉnh liên tục (repeated experiments and continuous adjustments). Điều này có nghĩa là ta đem phương pháp khoa học vào trong lãnh vực chính trị, bởi vì toàn thể bí quyết của phương pháp khoa học thì chính là sự sẵn sàng học hỏi được từ những sai lầm” (a readiness to learn from mistakes).Thí dụ cụ thể như mô hình của từng định chế như bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp hay tòa án hòa giải, cải cách giáo dục, cải tổ thuế khóa… thì cũng đơn giản thôi. Nếu những cái đó có sai sót, thì sự thiệt hại gây ra cũng chẳng có gì trầm trọng lắm, mà việc điều chỉnh sửa sai lại cũng sẽ chẳng quá khó khăn. Bởi lẽ những thử nghiệm “từng mảnh một” như vậy, thì không làm đảo lộn tòan thể trật tự của tất cả xã hội, như trong một thứ “cách mạng đai quy mô và triệt để” mà nhà lãnh đạo độc tài chuyên chế thường gây ra.

Có thể nói lập trường” công kích chống lại độc tài chuyên chế toàn trị” (anti-totalitarian thrust) như thế của Popper rất ăn khớp với tư tưởng của các tác giả nổi danh đương thời sau thế chiến thứ hai, điển hình như Friedrick Hayek với tác phẩm “The Road to Serfdom” (Con đường dẫn tới Nô lệ), như Ludwig von Mises với tác phẩm “ Omnipotent Government “ (Chính quyền Vạn năng). Trào lưu tư tưởng này đã ngăn cản, kềm bớt chủ trương của trường phái phát sinh từ vị đại sư John Maynard Keynes cũng của nước Anh, vốn cổ võ sự can thiệp mạnh mẽ quá trớn của chánh quyền trong việc điều hành nền kinh tế tại các quốc gia vốn đã có truyền thống dân chủ vững chắc lâu năm như ở Âu Mỹ.

Trước tình trạng sôi động, cuồng tín quá khích về tôn giáo ngày nay tại nhiều nơi trên thế giới, cũng như chủ trương hạn chế quyền tự do và tiếng nói của các cá nhân do chính quyền Tổng thống George W Bush theo đuổi gần đây ngay tại chính nước Mỹ, thì chủ trương kêu gọi “liên tục cải thiện xã hội từng mảnh một”, do Karl Popper khởi xướng từ trên 60 năm nay, càng có tác dụng thúc đảy mọi công dân trong khu vực xã hội dân sự phải tích cực năng động và sáng tạo hơn nữa, để tự cứu lấy mình và cứu vãn toàn thể xã hội đang có nguy cơ khủng hoảng suy thoái rất ư là trầm trọng hiện nay vậy./

Bài 3 – George Soros và công cuộc Xây dựng Xã hội Mở Toàn cầu

(The Global Open Society)

Năm 2010 này George Soros đã bước vào tuổi 80. Ông quả là một con người ngoại hạng, đa tài, đa năng, lại nhiều tiền lắm bạc, mà lại cũng rất ư là đa đoan năng nổ. Đã có rất nhiều sách báo viết về ông, khen ngợi ca tụng cũng có, mà chê bai chỉ trích cũng nhiều. Ngay cái chuyện làm ăn kinh doanh kiếm tiền của ông trên thị trường tài chánh và chứng khoán với món tiền kếch xù thu nhập được đến cả hàng chục ngàn triệu dollar qua mấy chục năm kinh doanh của ông, thì đã là đề tài cho báo chí và công luận khắp thế giới bàn tán từ bao nhiêu năm tháng nay rồi. Ông lại còn xông xáo tham gia vào bao nhiêu chuyện chính trị, ngoại giao này nọ, mặc dầu không hề giữ một chức vụ gì trong chính quyền nước Mỹ. Ông còn hay viết báo, viết sách bàn luận về chuyện kinh tế tài chánh có tầm quan trọng toàn cầu. Cũng như ưa thích nghiên cứu đàm đạo về chuyện triết lý cao siêu nữa.

Nhưng bài viết này lại không bàn về những chuyện rất hấp dẫn đó, mà chủ tâm của người viết là muốn giới thiệu với bạn đọc các hoạt động của George Soros để nhằm xây dựng một Xã hội Mở trên phạm vi toàn cầu, theo đường hướng của vị sư phụ nổi danh Karl Popper, mà ông có dịp được thụ giáo với trong thời gian theo học tại trường Kinh tế Luân đôn hồi cuối thâp niên 1940 qua đầu thập niên 1950, lúc vào tuổi 20.

Soros khởi sự tham gia công tác thúc đảy sự phát triển “các xã hội mở” ngay từ cuối thập niên 1970. Điển hình là từ năm 1979, ông đã cấp ngân khỏan để giúp các sinh viên da đen theo học tại đại học Cape Town ở Nam Phi, vì hồi đó người dân ở nước này vẫn còn bị nạn kỳ thị chủng tộc (Apartheid) hoành hành.Tiếp theo ông lập một sáng hội (foundation) tại Hungary nhằm yểm trợ về văn hóa, giáo dục và thúc đảy tiến trình chuyển biến dân chủ cho quốc gia là quê hương bản quán của mình. Tại đây, một trong những dự án độc đáo nhất là ông đã nhập cảng vào trong nước rất nhiều máy photocopy, để giúp giới tranh đấu dân chủ phổ biến tin tức và in ấn những tài liệu bị chánh quyền cộng sản cấm đoán. Soros cũng tìm cách khôn khéo gửi khá nhiều tiền giúp phong trào Đòan kết đang hoạt động bí mật ở Balan, cũng như cho Nhóm Hiến chương 77 ở Tiệp khắc. Và đặc biệt là yểm trợ nhà bác học – đối kháng hàng đầu ở Liên Xô là Andrei Sakharov.

Năm 1982, nhân dịp mừng sinh nhật thứ 80 của giáo sư Karl Popper, Soros đã đặt tên cho tổ chức từ thiện của mình là “Open Society Foundation” để vinh danh vị sư phụ quý mến của ông. Và ông bắt đầu cấp học bổng cho các sinh viên du học từ Đông Âu. Phấn khởi trước sự thành công của các dự án này, Soros thành lập thêm nhiều dự án khác nhằm giúp đỡ việc tự do phổ biến thông tin tại những quốc gia trong khối cộng sản. Ông còn yểm trợ những chương trình giáo dục qua radio tại Mông cổ. Và sau này đóng góp đến cả 100 triệu dollar để cung cấp dịch vụ internet cho các đại học cấp miền ở nước Nga.

Nói chung những hoạt động nhân đạo từ thiện của Soros thì đều kết hợp với nguyên tắc cốt lõi của sự cổ võ xây dựng cho xã hội mở. Như vậy, nên ông đã không chịu để cho các loại hoạt động này lại bị ràng buộc hay bị hạn chế bởi một chánh quyền nào, hoặc một định chế quốc tế nào. Trong thập niên 1980,Soros tài trợ cho các nhà kinh tế trẻ tuổi tại một “think tank” ở Trung quốc qua trao đổi với một đại học chuyên về môn kinh doanh tại Budapest. Soros còn giúp thiết lập quỹ trợ cấp việc cổ võ cho xã hội dân sự và tính minh bạch tại Trung quốc. Năm 1991, Soros góp phần thành lập Đại học Trung Âu tại Budapest (Central European University), chuyên dậy bậc cao học trong lãnh vực phát triển xã hội và chính trị. Tính ra ông đã dành riêng cho đại học này đến số tiền tổng cộng lên đến trên 500 triệu dollar. Ông cũng đã bỏ ra 50 triệu dollar để cứu trợ các nạn nhân trong cuộc chiến ở Bosnia. Và cũng chi ra 50 triệu dollar khác để yểm trợ dự án Millenium Villages cho các làng nghèo túng hẻo lánh ở Phi châu nữa. Thật không thể nào kê khai cho hết được những ngân khoản do G Soros cấp phát cho các dự án xã hội- văn hoá- giáo dục rải rác khắp nơi trên thế giới được, nhất là tại các quốc gia cưụ cộng sản ở Đông Âu và cả nước Nga.Tính gộp lại, trong mấy chục năm liên tục tham gia công việc từ thiện nhân đạo và xây dựng “Xã hội Mở”, George Soros đã chi ra đến 6 tỷ dollar cho các dự án khắp thế giới.

Sau này, kể từ ngày thiết lập OSI tức là Viện Xã hội Mở vào năm 1993 (Open Society Institute), thì Soros đã lần hồi hệ thống hoá các chương trình hoạt động cho có quy củ lớp lang nhịp nhàng ăn khớp với nhau. Dưới đây, ta sẽ tìm hiểu chi tiết về sinh hoạt cuả tổ chức OSI này.

Viện Xã hội Mở (The Open Society Institute = OSI)

Là con người thực dụng, Soros không bao giờ chấp nhận cái lối điều hành theo kiểu hành chánh quan liêu thư lại nơi các cơ quan nhà nước, mà người Âu Mỹ gọi là “bureaucracy” (guồng máy thư lại). Vì thế ban đầu văn phòng do ông điều khiển để phụ trách công việc từ thiện nhân đạo, thì gần như rất “tuỳ hứng, không hề có sự kỷ cương gò bó” gì cả. Nhưng sau này, lúc công việc quá nhiều với sự cộng tác cuả những nhân vật kiệt xuất từ khắp các nơi trên thế giới, thì bó buộc Soros phải thay đổi cái lề lối quản lý và điều hành “tuỳ hứng, lỏng lẻo” này. Đó là vào đầu thập niên 1990, khi ông đã thiết lập được nhiều cơ sở gọi là “sáng hội tại từng quốc gia” (national foundation) với nhân viên phụ trách điều hành hoàn toàn là người điạ phương với thẩm quyền và sáng kiến riêng cuả họ, kể cả với danh xưng khác với tổ chức “Open Society” cuả ông, thì tại cơ quan trung ương đầu não cuả OSI đặt tại New York đã bắt đầu phát triển thành một bộ phận “ phối hợp các hoạt động cuả các national foundation” này. Hoạt động của OSI mỗi ngày một mở rộng, mà hiện nay đã gồm các “đối tác” (partner) ở trên 30 quốc gia, phần lớn là trong các nước Đông Âu và các nước tách ra từ Liên Xô kể từ đầu thập niên 1990, khi hệ thống cộng sản sụp đổ tan rã.

Hoạt động của OSI rất là đa dạng, phong phú vì được phát xuất từ sáng kiến rất cụ thể và độc đáo của bao nhiêu nhân vật xuất chúng của các quốc gia sở tại, mà lại rất ư là khác biệt nhau về truyền thống văn hóa lịch sử, cũng như tôn giáo. Tất cả chỉ có chung một mẫu số, đó là : Cùng nhắm vào công cuộc xây dựng và phát triển “Xã hội mở” dựa trên cơ sở dân chủ, khai phóng và nhân bản theo tinh thần tiến bộ, bất bạo động đã được giáo sư Karl Popper khai mở cổ võ mạnh mẽ từ 70 năm trước như được ghi trong tác phẩm “The Open Society and its enemies”, cuốn sách này vừa mới được giới thiệu trong bài 2 trước bài viết này. Vì thế, ta có thể nói : George Soros là một nhân vật tiên phong của phong trào kiến tạo “một Xã hội Mở trên quy mô toàn cầu” (the pioneer of the Global Open Society). Hay nói khác đi, Soros là tiêu biểu của một thứ “kiến trúc sư của Xã hội Dân sự Toàn cầu” (an architect of the Global Civil Society), mà đang nỗ lực cổ võ phát động cho “Phong trào Xã hội mới” của thế kỷ XXI hiện nay vậy (The New Social Movement).

Quý bạn đọc có thể mở website của “Open Society Institute”, thì sẽ tìm được vô vàn thông tin chi tiết và cập nhật hóa thường ngày về sinh hoạt của cả một hệ thống các foundation tại tất cả các quốc gia liên hệ. Điển hình như vừa đây, sau trận động đất kinh hoàng ở Haiti vào đầu năm 2010 này, thì OSI đã khẩn cấp chi ra ngay 4 triệu US dollar, phân phối cho 4 tổ chức nhân đạo như Medecins Sans Frontieres, Save The Children, Catholic Relief Services, CARE đẻ tham gia cứu trợ giúp đỡ các nạn nhân. Và trước đây Soros cũng đã chi ra 50 triệu để giúp riêng cho dân chúng tại thành phố thủ đô Port-au Prince của Haiti nữa.

Người viết bài này đã có dịp đến viếng thăm trụ sở cuả OSI tại trung tâm khu Manhattan ở New York vào muà hè năm 2008. Nhờ sự giới thiệu cuả chị luật sư Dinah Pokempner thuộc tổ chức Human Rights Watch, nên tôi đã được hai chuyên viên cuả OSI phụ trách về Đông Âu và Nga tiếp đón rất thân tình chu đáo. Đó là vì tôi cần tham khảo kinh nghiệm thực tiễn cuả OSI hoạt động tại Đông Âu, để bổ túc cho sự nghiên cứu cuả tôi về “Sự phục hồi Xã hội Dân sự tại Đông Âu sau khi chế độ cộng sản sụp đổ vào năm 1989”. Tôi cần kinh nghiệm chuyên môn cuả OSI (technical expertise), chứ không phải đến trụ sở này để xin ngân khoản trợ cấp cuả họ (grant) cho việc nghiên cưú dài ngày này nói trên. Và họ tỏ ra thật hoan hỉ, phấn khởi khi nghe tôi trình bày rằng : Người Việt nam cũng như người Trung hoa, người Triều tiên chúng tôi ở Á châu hiện còn đang phải sống dưới ách độc tài chuyên chế cộng sản, thì rất mong rút được bài học hưũ ich cuả các quốc gia cựu cộng sản như ở Nga và Đông Âu, để còn chuẩn bị cho giai đoản “hậu cộng sản” (post-communist) sắp tới trong tương lai không bao xa cho đất nước chúng tôi nưã đấy.

Niềm say mê khác nữa của George Soros.

Như đã trình bày trước đây, Soros là người đa tài, đa dạng đa đoan, nên ông tham gia vào nhiều loại công việc trong những lãnh vực rất khác biệt nhau. Là người có trí thông minh vượt trội, lại trải qua nhiều nỗi truân chuyên của gia đình gốc Do thái dưới thời tàn bạo của phát xit Đức quốc xã, và sau này của chế độ cộng sản, nên Soros có được cái tầm nhìn và suy nghĩ toàn cầu (global vision /thinking). Nhưng Soros lại có cả tham vọng về thứ “ hoạt động tòan cầu “ (global action) nữa, chứ không như người ta thường tình chỉ có thể hành động hạn chế tại địa phương nhỏ bé “trong tầm tay” của mỗi cá nhân mà thôi (Act locally). Cái chí lớn “muốn xẻ núi lấp song” như thế đã thôi thúc ông lăn xả vào trong nhiều loại hoạt động, mà vì nhờ có phương tiện tài chánh dồi dào Soros dễ tạo được môi trường, để cùng chung với các bạn hữu thân thiết đưa ra thực hiện các sáng kiến độc đáo và mạnh dạn của mình. Có lần ông tâm sự với bạn : “Tôi không hề muốn thiên hạ chỉ coi tôi như là một nhà tỷ phú nhiều tiền lắm bạc, mà rộng tay ban phát ân huệ cho người này người khác như là một vị ân nhân theo cái ‘lối cha chú” (paternalism). Vì thế, tôi miệt mài tìm kiếm học hỏi thêm về triết học, về kinh tế tài chánh, về xã hội học v.v…” Chính cái tinh thần “cầu tiến” này đã khiến cho Soros thâu lượm được một số vốn kiến thức rất vững chắc, để theo kịp được với nhịp độ văn minh tiến bộ của thời đại.

Các ký giả quen biết theo dõi đường đi nước bước của Soros trong nhiều năm, thì đều nhận ra cái sự biến chuyển trong nhận thức mỗi ngày một thêm phong phú, sung mãn và vững chãi hơn. Trước đây, giới chính trị ngoại giao cấp cao các nước văn minh thường đánh giá thấp mấy nhà tài phiệt, mà họ coi như là loại “trọc phú” với trình độ văn hóa thấp kém. Nhưng từ ngày Soros được gán cho cái danh hiệu “ con người đã bẻ gãy Ngân hàng Anh quốc” vào ngày Thứ tư Đen 16 September 1992, thì người ta không thể xem thường con người này được nữa. Do vậy mà lần hồi Soros đã có thể tiếp cận được với các nhân vật quan trọng cuả thế giới trong mọi lãnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, xã hội, văn hoá, tôn giáo để trao đổi kinh nghiệm và bàn thảo về đường lối hoạt động có tầm vóc toàn cầu. Cứ như vậy, cái vòng quen biết thân tình cuả George Soros mỗi ngày càng mở rộng, bành trướng mãi ra, và tầm vóc hoạt động mỗi ngày một phát triển rất ư là hiệu quả và bao quát.

Nhân tiện, tôi cũng xin ghi ra đây một số sách có tính cách tiêu biểu do chính Soros biên soạn và phổ biến cho công chúng trong thời gian gần đây :

*The Crisis of Global Capitalism : Open Society Endangered (1998)

*Open Society : Reforming Global Capitalism (2000)

*The Buble of American Supremacy : Correcting the Misuse of American Power (2003)

*The Age of Fallibility : Consequences of the War on Terror (2006)

*The New Paradigm for Financial Markets : The Credit Crisis of 2008 and What It Means (2008).

Ngoài ra Soros còn thường xuyên viết rất nhiều bài báo phổ biến trên diễn đàn các tờ báo lớn ở Mỹ và cả ở Âu châu nưã. Điển hình như 2 bài báo này :

*Europe as a Prototype for a Global Open Society (Nov. 20, 2006),

*Op-Ed : A New Bargain for UN Reform (May 4, 2006).

George Soros còn nhận được nhiều cấp bằng danh dự từ các đại học danh tiếng trên thế giới, cụ thể như Oxford, Yale, Budapest University. Đặc biệt vào năm 1995, đại học Bologna ở Ý Đại Lợi đã cấp cho Soros bằng danh dự cao nhất “the Laurea Honoris Causa” vinh danh những nỗ lục cuả G Soros nhằm cổ võ các “Xã hội Mở” trên toàn thế giới.

Về cuộc sống gia đình riêng tư, thì báo chí ghi nhận : Soros có hai đời vợ và có tất cả 5 người con nay đều đã trưởng thành. Cả hai bà vợ đều đã ly dị, và hiện nay không còn người đàn bà nào mà còn sống chung với ông nưã./

California, Tháng Giêng 2010

Đoàn Thanh Liêm

CHÚA CHỮA LÀNH CHO CHÁU BÉ SƠ SINH BỊ BỆNH LỞ LOÉT DA & Ngứa Tứ Chi

CHÚA CHỮA LÀNH CHO CHÁU BÉ SƠ SINH BỊ BỆNH LỞ LOÉT DA & Ngứa Tứ Chi

Chị Mỹ Anh,

LA 04/2015

Tôi tên là Mỹ Anh, ở thành phố New Orlean, tiểu bang Louisiana. Lập gia đình và được hai cháu.

Cháu thứ hai của tôi, khi sinh ra kể từ tháng thứ hai thì bị ngứa ở đầu, Bác sĩ trị liệu bằng nhiều cách kể cả rọi tia hông ngoại, Ông cũng đã đổi đủ loại thuốc bôi mà cháu không đỡ . Phần tôi, cũng đã thử làm đủ cách mà người quen chỉ bảo, ai hướng dẫn gì , tôi cũng làm theo, cho cháu tắm trà , tắm khổ qua, tắm lá…

Tôi đã nhờ cậy và gọi đủ mọi dòng tu để xin cầu nguyện cho cháu, dòng Mân Côi, dòng Mẹ Thiên Chúa, dòng St. Paul ở Việt Nam,  các Sơ liên lạc và hỏi thăm cháu, và cầu nguyện cho cháu rất là nhiều .

Tình trạng bị ngứa đã lan ra toàn thân, vùng mặt cháu sần sùi, da đầu bong lở và chảy nước. Tóc không mọc được, đầu cháu trọc lóc. Toàn thân cháu cũng sần sùi và lở chảy nước, ai nhìn cũng sợ và thương cho cháu. Phần tôi, cảm nhận sự đau đớn, khó chịu của cháu, tôi cảm thấy bối rối quá, tôi khóc thương vì tội nghiệp cho cháu, nước mắt cứ tuôn chảy ngày đêm

Kế tiếp, tôi gởi lời cầu nguyện liên tục đi các dòng Việt Nam, dòng Đồng Công bên Mỹ. Tôi đã xin cầu nguyện nhiều đến mức mà các Cha nhìn thơ gởi, nghe tiếng nói qua phôn là biết ngay rằng tôi lại đang cần cầu nguyện.

Giai đoạn tiếp theo, thì cháu bị ngứa cả đêm, gãi chảy máu rồi khóc la, chả có đêm nào cháu được ngủ vài tiếng. Có một điều an ủi cho tôi đó là hễ hết ngứa thì cháu cười vui làm tôi cũng được an ủi và đỡ đau khổ.

Khi được 5 tháng thì bác sĩ cho cháu uống thuốc. Tuy nhiên, những chỗ trên người thì đỡ nhưng mà đầu của cháu không đỡ. Bôi thuốc thì nó dịu rồi lại phát tác trở lại. Bôi được chỗ này thì nó bùng lên ở chỗ khác.

Nhà dòng Đồng Công cũng gởi thuốc và cầu nguyện liên tục cho cháu.

Khi thấy cháu ngứa quá , thì lòng tôi rất xốn xang, tôi xin Chúa đổi lại và để mình chịu thay cho cháu.

Mấy Sơ gởi lá Dã Quỳ, từ Việt Nam sang, để tắm cho cháu, nhưng khi tắm xong thì cháu nổi mề đay nặng hơn nữa. Các Sơ khuyên thử lấy nước Thánh bôi cho cháu, ngày hôm sau, khi bôi nước Thánh thì các chỗ nổi mề đay đã lặn đi hết.

Tình cờ tôi  đọc trên Internet và biết được nhóm cầu nguyện Lòng Thương Xót Chúa & Mẹ Mễ Du cầu nguyện bằng phôn, Tại Mỹ gọi số phôn 605-562-3140, khi có tiếng nói thì bấm mã số 460922#.

Tại Việt Nam thì gọi cho số 84(0)4 7108 0099, khi có tiếng nói thì bấm mã số 460922#.

Vào khi đó, tuy đã có nhiều lời cầu nguyện nhưng tôi  nghĩ rằng thôi mình liên lạc để được thêm lời cầu nguyện nhất là cho mình biết được ý Chúa và can đảm chấp nhận tuy rằng , tôi quá tuyệt vọng và  không còn tin rằng cháu sẽ được Chúa chữa khỏi bệnh ngứa da nữa.

Sau khi liên lạc với đường dây cầu nguyện và được nói chuyện với Cha Peter Lê Thanh Quang, Cha đã cầu nguyện thì đêm đó cháu bị ngứa nhiều, càng nản chí , tôi đã khóc và than trách Chúa , tôi nói lớn giữa đêm khuya  “ Chúa ơi, tại sao vậy”. “ Tại sao con của con lại bị bệnh đau đớn như vậy, không được khỏi .“Tại sao và tại sao?”

Tuy nhiên, dù nản đến đâu, dù mệt mỏi uể oải đến đâu, tôi vẫn cố gắng cầu nguyện,  tham gia đường dây cầu nguyện trên phôn mỗi ngày bắt đầu vào lúc 2:00PM (giờ miền đông bắc Hoa Kỳ) .

Cha và các Anh Chị càng gia tăng cầu nguyện cho cháu hơn nữa. Bấy giờ đã là mùa chay năm 2015.

Một tối nọ, mệt quá, tôi thiếp đi một chút, đang ngủ thì tôi mơ có tiếng nói bên tai “ Con của con sẽ được chữa khỏi” bừng tỉnh dậy,  không dám tin rằng đó là lời nhắn gởi của Chúa dành cho mình. Rồi tôi đã khóc và thưa với Chúa trong thất vọng, “Tại sao vậy, Chúa muốn con làm gì bây giờ đây ?”

Những ngày sau, bước vào tuần cửu nhật kính Lòng Thương Xót Chúa , đang khi tôi còn tiếp tục khóc thì lạ lùng thay, cháu không gãi chảy máu đầu nữa, không thấy cháu khóc như các đêm trước đó.

Ngày kế tiếp thì da cháu hết sần sùi và da trắng ra,

Ngày cuối tuần cửu nhật thì cháu mọc tóc trở lại, da láng lẫy, đẹp đẽ.

Cảm tạ Lòng Thương Xót của Chúa. Đúng như Lời Chúa của Lòng Thương Xót đã hứa “sẽ không từ chối bất kỳ ai hết lòng chạy đến với Lòng Thương Xót Chúa” Ngài đã chữa cho cháu khỏi bệnh mà các Bác sĩ bó tay.

Bài học tôi rút ra được qua biến cố này bao gồm mấy điểm sau đây:

Trong thời gian mọi người cầu nguyện, thì tôi đã không hợp tác cùng cầu nguyện trong sự hiệp nhất với tinh thần biết chấp nhận và khiêm tốn. Tới bây giờ tôi mới nhận ra điều này.

Tôi cũng muốn thưa với mọi người, xin đừng mất kiên nhẫn giống như tôi, khi có việc cần cầu nguyện thì ta hết lòng tín thác, trông cậy và kiên nhẫn, nhất là xin chớ, đừng oán trách Chúa giống như tôi nhưng hết lòng tin tưởng vào giải pháp tốt đẹp nhất từ Chúa và chấp nhận thánh ý Chúa.

Con xin cám ơn Cha Peter Le Thanh Quang và tất cả quí vị trong đường dây cầu nguyện nhất là cha đã kiên nhẫn với tôi và cùng cầu nguyện với tôi. Nhờ Chúa thương, không những con của tôi được ơn mà chính tôi còn được Chúa ban ơn quan trọng hơn, đó là quay về với Chúa, được ơn cầu nguyện ca ngợi Chúa bằng tiếng lạ.

Con xin cảm ơn Cha Peter kính mến, linh hướng của mạng lưới Cầu Nguyện Lòng Thương Xót Chúa & Mẹ Medju đã giúp cho con với những nhận xét như sau:

–          Trong tuần cửu nhật LTX Chúa thì Chúa đã ra tay, tỏ cho biết Chúa yêu thương ta vô cùng và chữa lành cho cháu bé.

–          Nhìn con chịu đau khổ thì người Mẹ còn đau gấp đôi.

–          Khi bị bệnh thì hết lòng cảm tạ và giao hết cho Chúa để Ngài lo liệu. Khi ta giao con cho Chúa thì Ngài còn yêu nó hơn ta, Ngài sẽ chữa lành cho cháu vì đó là con của Chúa.

–          Chúng ta một khi đã được ơn Chúa ban thì nên can đảm, mạnh mẽ làm chứng về Lòng Thương Xót đầy quyền năng chữa lành hồn xác của Chúa.

–          Khi chúng ta hết tâm hồn hướng về Chúa thì Đức Chúa Thánh thần sẽ nâng đỡ giúp ta cầu nguyện bằng ngôn ngữ đặc biệt như Thư Rô Ma, 8: 26. “Cũng vậy Thần khí đỡ đần tình cảnh yếu hèn của ta. vì cầu xin thế nào cho phải, ta nào có biết. Song chính Thần khí chuyển cầu cho ta, bằng những tiếng rên khôn tả.”

Các bạn cũng có thể nghe lời chứng của Mỹ Anh bằng cách nhấp chuột vào nối kết của trang mạng “Cầu Nguyện Lòng Thương Xót ChúaMẹ Medju”  này:

Phan Sinh Trần gởi

Mục sư Rick Warren và sự Nhập cuộc của tín đồ tôn giáo.

Mục sư Rick Warren và sự Nhập cuộc của tín đồ tôn giáo.

Bài của  :  Đoàn Thanh Liêm

Tại nước Mỹ kể từ sau khi thế chiến thứ hai chấm dứt, thì có nhiều vị mục sư nổi danh với ảnh hưởng rất lớn lôi cuốn được số đông quần chúng khắp nước Mỹ và cả ở ngoại quốc nữa. Trong số này, phải kể đến mục sư Billy Graham, mục sư Martin Luther King và mục sư Rick Warren.

Billy Graham sinh năm 1918 là một vị giảng thuyết lôi cuốn đến hàng trăm triệu người khắp nước Mỹ và cả trên thế giới. Luther King là vị lãnh đạo kiệt xuất của phong trào tranh đấu dân quyền  (civil rights movement) của người Mỹ gốc Phi châu trong các thập niên 1950-60. Rick Warren là một tác giả cuốn sách “The Purpose Driven Life” (Cuộc sống có mục đích) bán chạy nhất, đến trên 30 triệu cuốn trong vòng có 6-7 năm.

Trong bài này, tôi xin viết về mục sư Rick Warren là người trẻ tuổi nhất, sinh năm 1954 tại San Jose và là người sáng lập nhà thờ Saddleback Valley Community Church tọa lạc tại thành phố Lake Forest trong Quận Cam, miền Nam California liền sát với khu Little Saigon của người Việt chúng ta. Trong bài sau, tôi sẽ viết riêng về mục sư Billy Graham. Còn về mục sư Luther King, thì đã có quá nhiều người biết đến rồi, nên tôi thiết nghĩ khỏi cần viết gì thêm về ông nữa.

1 / Tóm lược tiểu sử của Rick Warren.

Rick Warren là con của một vị mục sư và chính bản thân ông cũng đã hiến dâng trọn cuộc đời mình cho việc rao giảng Tin Mừng của Chúa Cứu thế theo truyền thống của phái Tin Lành Southern Baptist. Ông tốt nghiệp bậc cử nhân tại California Baptist University ở Riverside, bậc cao học về Thần học tại Southwestern Baptist Theological Seminary ở Fort Worth, Texas và bậc tiến sĩ về mục vụ tại Fuller Theological Seminary ở Pasadena, California.

Ông thừa nhận mục sư Billy Graham, giáo sư Peter Drucker và mục sư Jimmy Warren người cha của ông là những vị trong số những cố vấn đáng tin cậy nhất của mình (mentor).

Năm 1975, sau khi được truyền chức mục sư, Rick Warren làm lễ thành hôn với Kay Lewis sinh trưởng ở San Diego trong một gia đình có người cha cũng là một vị mục sư. Hai ông bà có 3 người con hiện đều đã trưởng thành và 4 cháu nội ngoại. Cả hai người cùng hợp tác trong việc truyền đạo và phát triển cộng đoàn tín hữu từ con số vài trăm người lúc mới thành lập tại Saddeback trong thành phố Lake Forest vào năm 1980 lên đến con số trên 20,000 tín hữu vào năm 2005. Với số tín đồ thường xuyên tham dự thánh lễ và các sinh họat rất đa dạng hàng tuần đông đảo như vậy, Saddleback Valley Community Church đã trở thành một “Megachurch” đứng hàng thứ 8 trong số trên 1,200 “đại giáo đoàn” của toàn nước Mỹ hiện nay. Megachurch là một hiện tượng tiêu biểu cho phong trào phát triển tôn giáo rất mạnh mẽ, lôi cuốn được hàng triệu tín đồ của các giáo hội Tin lành trong vòng 50 năm qua tại nước Mỹ và cả tại Đại Hàn.

Song song với việc phát triển cơ sở mục vụ này, Rick còn đóng góp rất tích cực vào việc đào tạo, hướng dẫn cho trên 400,000 mục sư và giới chức lãnh đạo hội thánh trên toàn thế giới, dựa theo tinh thần đã được phác họa trong cuốn sách xuất bản lần đầu năm 1995, được bán rất chạy, với nhan đề là “The Purpose Driven Church”.

Rick Warren lại còn nổi danh hơn nữa với cuốn sách được xếp vào loại bán chạy nhất (bestseller), mà hiện đã lên đến 30 triệu cuốn, đó là cuốn sách có nhan đề “The Purpose Driven Life”. Người viết sẽ giới thiệu chi tiết hơn về hai cuốn sách này trong một dịp khác.

Với số lợi tức thu nhập thật lớn lao do việc bán sách, vào năm 2005 Rick Warren đã hoàn lại cho nhà thờ toàn bộ số lương bổng  ông nhận được trong 25 năm với cương vị một mục sư. Và còn hơn thế nữa, ông tiếp tục đóng góp cho nhà thờ 90% số lợi tức thâu nhập của mình, thay vì số 10% mà người tín đồ thường đóng góp vào công quỹ của hội thánh, được gọi là “tithe” (thập phân).Và ông bà tiếp tục sống thanh đạm trong căn nhà nhỏ bé, với cái xe cũ kỹ, chứ không hề có một biểu hiện xa hoa nào của một gia đình triệu phú thường tình.

Nhưng điều đáng ghi nhận hơn cả về vị mục sư danh tiếng này, chính là việc ông đã tổ chức cho các tín đồ và các bạn hữu thân tín của mình tham gia dấn thân nhập cuộc với các dự án hết sức lớn lao về xã hội, y tế, giáo dục và phát triển có tầm vóc toàn cầu. Ta sẽ xem xét công việc này trong các mục tiếp theo đây.

2 / Sự gắn bó với Phi châu : Khởi sự ở Rwanda.

Sau mấy năm chuẩn bị, Rick Warren đã bắt đầu một loạt chương trình hành động của “đại giáo đoàn Saddenback” được mệnh danh là PEACE plan tại nước Rwanda là nơi có cuộc diệt chủng kinh hoàng vào năm 1994, tàn sát đến gấn một triệu sinh mạng trong một quốc gia với dân số chỉ có 9 triệu người. Chữ PEACE này ngoài ý nghĩa là Hòa bình, lại chính là chữ viết tắt của khẩu hiệu gồm 5 mục : Promote Reconciliation, Equip servant-leaders, Assist the poor, Care for the sick, Educate the next generation (Phát triển công cuộc Hòa giải, Trang bị cho người lãnh đạo-phục vụ, Giúp đỡ người nghèo khó, Chăm sóc người bệnh tật, Giáo dục thế hệ tương lai).

Vào năm 2005, tức là 11 năm sau vụ diệt chủng, Rwanda vẫn còn là một quốc gia vào loại nghèo nhất trên thế giới với 90% dân chúng có thu nhập chưa tới 2 dollars mỗi ngày. Ngay từ lúc đặt chân tới đây, Warren liền phát động ngay một chương trình hành động cấp thời gồm nhiều phương diện y tế, xã hội, giáo dục và nhất là cả kinh tế. Ông dẫn các giám đốc xí nghiệp, các doanh gia từ trong số các thành viên của cộng đoàn Saddenback đến tiếp súc và làm việc với giới doanh nghiệp và nhân viên chánh phủ Rwanda để tìm cách xây dựng nền kinh tế của xứ sở này. Họ chú trọng vào công việc đào tạo huấn luyện cho các nhà doanh nghiệp nhỏ tại các làng quê hẻo lánh, cho đến cả việc yểm trợ các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở rất lớn lên đến nhiều triệu dollar. Điển hình như  dự án xây dựng đường sắt dài 720 miles nối liền Rwanda với Tanzania và Burundi, chi phí lên đến 2.5 tỷ mỹ kim vừa do 3 nước đó ký kết vào tháng Tư năm 2009.

Rick Warren rõ ràng là có tầm nhìn xa và có uy tín để kết hợp được cả giới lãnh đạo chánh quyền, giới doanh nghiệp tư nhân, cũng như giới lãnh đạo tôn giáo ở hạ tầng cơ sở tại những xóm làng hẻo lành, để cùng nhau thực hiện được rất nhiều dự án cụ thể về y tế đại chúng, từ việc lo chăm sóc cho hàng vạn người mắc bệnh HIV/AIDS, cho bao nhiêu trẻ mồ côi cha mẹ đã chết vì căn bệnh hiểm nghèo này, cho đến việc cấp vốn cho các gia đình nghèo túng để giúp họ phương tiện tự lực mưu sinh, để khỏi phải lệ thuộc mãi vào sự bố thí của người khác.

Phái đòan do Rick Warren hướng dẫn đã được chính Tổng thống Rwanda là Paul Kagame và tòan thể chánh phủ tín nhiệm và hợp tác rất chặt chẽ; nhờ vậy mà sau mấy năm làm việc chung với nhau, thì quốc gia này đã gặt hái được những thành quả rất đáng khích lệ về nhiều mặt kinh tế, xã hội cũng như văn hóa, ngọai giao.

3 / Quần chúng tín đồ các tôn giáo là một nguồn tiềm năng vô biên.

Trong nhiều dịp được mời tham gia các diễn đàn quốc tế như ở New York, Washington DC, ở Davos Thụy sĩ v.v…, Rick Warren đã luôn luôn trình bày rất thẳng thắn đại để như thế này :  “Trên thế giới ngày nay, chúng ta có đến trên 2 tỷ người tín đồ Thiên chúa giáo gồm Công giáo, Tin lành, Chính thống giáo, trên 1.5 tỷ người tín đồ Ấn độ giáo và Phật giáo và trên 1 tỷ người tín đồ Hồi giáo. Khối quần chúng tín đồ lớn lao như thế đó là một nguồn tài nguyên vô biên, mà cho đến nay chưa được mấy ai trong các tổ chức quốc tế chú trọng đúng mức để động viên thuyết phục họ cùng bắt tay dấn thân vào việc giải quyết những khó khăn bế tắc trầm trọng có tầm vóc tòan cầu. Riêng cá nhân tôi là một mục sư Thiên chúa giáo, thì với khả năng hạn hẹp của mình, tôi đã cùng với các tín đồ của nhà thờ Saddenback phát động kế hoạch PEACE để góp phần vào công cuộc phục vụ bà con đang gặp khó khăn ở nhiều nơi, cụ thể như ở Rwanda. Và tôi cũng ước mong quý vị tất cả nên chú ý đến cái khối tiềm năng vĩ đại này, hầu đề ra được những giải pháp tốt đẹp cho thế giới chúng ta đang gặp bao nhiêu bế tắc khủng hỏang ngày nay…”

Dịp khác, ông còn gợi ra hình ảnh tôn giáo là cái chân thứ ba để cùng hợp với khu vực nhà nước và khu vực tư nhân để tạo được thế đứng vững chắc cho tòan bộ chiếc ghế của thế giới ngày nay. Với uy tín sẵn có, Warren có dịp thường xuyên trao đổi và hợp tác với các nhân vật có tầm vóc họat động rộng rãi tòan cầu, điển hình như cựu Tổng thống Bill Clinton, cựu Thủ tướng Tony Blair …

Trong mùa tranh cử Tổng thống Mỹ năm 2008, Warren đã mời được cả hai ứng cử viên John McCain và Barak Obama cùng đến Saddenback để trình bày với cử tri về lập trường của mỗi người trước những vấn đề hệ trọng của đất nước. Và mục sư Warren lại còn được mời đọc lời kinh cầu nguyện trong buổi lễ nhậm chức của Tổng thống Obama tại thủ đô Washington vào đầu năm 2009.

Tạp chí US News and World Report xếp hạng Rick Warren là một trong “25 vị lãnh đạo hàng đầu của nước Mỹ” vào năm 2005. Tạp chí Time thì gọi ông là một trong “15 nhà lãnh đạo thế giới đáng kể nhất trong năm 2004” và cũng là một trong “100 nhân vật có ảnh hưởng nhất trên thế giới” vào năm 2005. Còn báo Newsweek trong năm 2006, thì gọi ông là một trong “15 nhân vật đã làm cho nước Mỹ trở thành vĩ đại”.

Tuy được tung hô khen tặng như vậy, Warren vẫn luôn giữ được sự khiêm cung đạo hạnh của một tu sĩ. Ông thường xuyên cầu nguyện và bày tỏ sự tin tưởng tuyệt đối vào sự dẫn dắt của Thiên chúa trên bước đường phục vụ tha nhân. Niềm xác tín và lòng nhiệt thành của ông đối với sứ mệnh rao giảng lời Chúa như vậy đã lôi cuốn, thuyết phục được hàng triệu tín đồ cũng như các mục sư khác cùng nhau dấn thân nhập cuộc vào những chương trình cụ thể, thiết thực nhằm chống lại nạn nghèo đói và bệnh tật, mở mang về giáo dục cho lớp người bị gạt ra ngòai lề xã hội và bảo vệ môi sinh trên phạm vi tòan cầu.

Tư tưởng cũng như hành động của mục sư Rick Warren quả thật là rất gần gũi với lập trường của Hội đồng Giám mục Công giáo Châu Mỹ La tinh (CELAM) đã được xác định từ lâu, đó là “Sự Chọn lựa của Giáo hội đối với Người Nghèo khổ” ( Church’s Option for the Poor) vậy./

California đầu tháng Mười 2010

Đòan Thanh Liêm

Giới thiệu sách mới : Hành trình của người trí thức dấn thân nhập cuộc

Giới  thiệu  sách  mới : Hành  trình  của  người  trí  thức  dấn  thân  nhập  cuộc

Bài của Đoàn Thanh Liêm

Nguyên tác bản tiếng Anh   :  Thinking the Twentieth Century.

by :   Tony Judt with  Timothy   Snyder

Nhà xuất bản The Penguin Press, New York ấn hành năm 2012

Sách dày trên 400 trang với bìa cừng.

www. Penguin.com

*     *     *

Tony Judt (1948 – 2010) sinh trưởng tại London Anh quốc, là một giáo sư về môn lịch sử và chính trị tại nhiều Đại học danh tiếng ở Âu châu và ở Mỹ. Ông cũng là tác giả hay biên tập của 14 cuốn sách, trong đó có cuốn “Postwar : A History of Europe Since 1945” xuất bản năm 2005 là được giới thức giả quốc tế chú ý và đánh giá cao. Ông còn đóng góp nhiều bài vở cho các tạp chí nổi tiếng như The New York Review of Books, The Times Literary Supplement, The New Republic… Do bị bệnh liệt não, ông đã sớm từ giã cõi đời tại New York vào năm 2010 lúc mới ở vào tuổi 62.

Nhận thấy bậc đàn anh lâm bệnh ngặt nghèo, nên Timothy Snyder – cũng là một giáo sư trẻ tuổi người Mỹ về môn lịch sử – trong các năm 2009 – 2010 đã đến tư gia của Tony Judt tại New York để trao đổi thảo luận trong nhiều buổi nói chuyện thân mật tay đôi với ông. Và qua việc khai thác các băng ghi âm từ những cuộc đối thọai đó, Timothy đã hòan thành được cuốn sách có nhan đề thật bao quát là : “Thinking the Twentieth Century” –  sách này vừa mới cho ra mắt công chúng trong năm 2012. Có thể nói đây vừa là cuốn sách tự truyện của Tony Judt, vừa là một nhận định tổng hợp về sự dấn thân nhập cuộc của giới trí thức tại Âu châu suốt trong thế kỷ XX.

Để thuận tiện cho độc giả theo dõi câu chuyện đối đáp giữa hai vị chuyên gia về sử học tại Âu châu trong thế kỷ XX, người viết xin lần lượt trình bày về tiểu sử các tác giả trước khi đề cập đến những mục đáng chú ý nhất trong cuốn sách.

I – Tiểu sử các tác giả.

1 – Tony Judt (1948 – 2010)

Xuất thân từ một gia đình có cả cha mẹ đều là di dân người Do Thái gốc gác từ Đông Âu, nên Tony Judt dễ có điều kiện tìm hiểu về những biến chuyển lớn lao tại miền đất xưa kia là quê hương của dòng họ bên nội cũng như bên ngọai của mình. Tony được học ở trường Đại học nổi danh bậc nhất của Anh quốc, đó là trường Cambridge – rồi lại còn được học thêm ở Trường Cao Đẳng Sư Phạm ở Paris (École Normale Supérieure) là cái nôi sản sinh ra những tinh hoa của nước Pháp. Ông thông thạo nhiều ngọai ngữ như tiếng Pháp, Đức,Tiệp khắc… và được coi là một chuyên gia có thẩm quyền về Lịch sử Giới Trí thức của Pháp thời hiện đại.

Luận văn để thi bằng Tiến sĩ của ông tại Cambridge được xuất bản thành cuốn sách trước tiên bằng tiếng Pháp vào năm 1976  – với nhan đề là “La Reconstruction du Parti Socialiste 1921 – 1926” (Sự Tái Xây dựng Đảng Xã hội (Pháp) 1921 – 1926).

Ông đã giảng dậy nhiều năm về Lịch sử và Chính trị tại các Đại học danh tiếng như Cambridge, Oxford và Berkeley và làm Giám đốc Sáng lập của Viện Erich Maria Remarque tại Đại học New York, Viện này chuyên chú vào công cuộc Trao đổi và Đối thọai giữa Âu châu và Mỹ châu.

Tony Judt cũng là tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng, điển hình như :” Past Imperfect : French Intellectuals, 1944 – 1956” (xuất bản năm 1992), “Marxism and the French Left : Studies on Labor and Politics in France 1930 – 1982” (xb 1990), “The Burden of Responsibility : Blum, Camus, Aron and the French Twentieth Century (xb 1998)”, “A Grand Illusion? : An Essay on Europe” (xb 1996). Và đặc biệt cuốn “Postwar : A History of Europe Since 1945” (xb 2005), thì được tạp chí New York Times Book Review xếp lọai là “một trong 10 cuốn sách hay nhất trong năm 2005”.

Ở vào tuổi 16 – 20, Tony đã nhiều lần về Do Thái để tham gia xây dựng kibbutz ở nông thôn và làm cả việc phiên dịch cho các đòan thiện nguyện viên trong cuộc chiến tranh 7 ngày năm 1967. Nhưng sau đó, Tony đã có lập trường khác biệt với chính quyền Do Thái và trở về đi học lại để hòan tất học trình thi Tiến sĩ và bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu và giảng dậy chuyên môn về lịch sử và chính trị cho đến khi lìa đời vào tháng 8 năm 2010 tại New York.

Năm 2003, Tony Judt đưa ra chủ trương “Một quốc gia – hai dân tộc” (A bi-national State) như là giải pháp cho cuộc tranh chấp Do Thái & Palestine – thì gặp phải sự phản ứng gay gắt trong công luận – khiến cho một vài tạp chí phải từ chối sự cộng tác của ông.

Về đời tư của gia đình, thì Tony Judt có hai người vợ trước đều đã ly dị. Sau cùng, ông sống đến cuối đời với bà vợ thứ ba tên là Jennifer Homans và có hai người con trai với bà này được đặt tên là Daniel và Nicolas.

2 – Timothy Snyder (sinh năm 1969)

Sinh trưởng tại Mỹ, Timothy Snyder theo học tại Đại học Brown ở Mỹ và tốt nghiệp văn bằng Tiến sĩ từ Đại học Oxford Anh quốc. Ông còn tham gia nghiên cứu tại Paris, Warsaw, Vienna và Đại học Harvard. Ông chuyên giảng dậy tại Đại học Yale về môn Lịch sử chính trị của Đông Âu hiện đại.

Ông cũng là tác giả của 5 cuốn sách đều được giải thưởng – trong đó cuốn sách nhan đề “Bloodlands : Europe between Hitler and Stalin” (Miền Đất Đẫm Máu) đã trở thành sách bán chạy nhất tại 4 quốc gia và được 10 nhà xuất bản xếp vào lọai sách hay nhất trong năm.

Timothy Snyder là người thông thạo rất nhiều ngôn ngữ Đông Âu, cụ thể như tiếng Nga, Ba Lan, Ukraine, Belorussian, Tiệp khắc và cả tiếng Yiddish của người Do Thái ở Đức và Trung Âu – đó là chưa kể tiếng Pháp và Đức. Sách của ông đã được dịch ra đến 20 ngôn ngữ khác. Chính Tony Judt đã xác nhận trong Lời cuối sách rằng :  Với sự thông suốt về lịch sử và văn hóa Đông Âu, thì Timothy Snyder là phần bổ túc thật quý báu cho mình, mặc dầu Timothy trẻ hơn 21 tuổi so với Tony.

Tuy vậy, do sự khiêm tốn, trong cuốn sách này Timothy Snyder đã lọai bỏ bớt đi phần nói về tiểu sử của bản thân mình – cốt ý để cho Tony Judt đóng vai trò chính yếu trong việc hòan thành cuốn sách. Độc giả có thể nhận ra chi tiết đó ngay trên trang bìa sách, thì chữ Tony Judt cũng lớn hơn hẳn chữ Timothy Snyder – ông này tự coi như mình chỉ là ‘một tác giả phụ” của cuốn sách mà thôi.

II – Mấy nét chính yếu của tác phẩm.

1 – Có thể xếp lọai cuốn sách này là Lịch sử Tư tưởng Chính trị và giới Trí thức trong sinh họat chính trị của thế kỷ XX ở Âu châu – đó là một lãnh vực mà cả hai tác giả đều đã dày công nghiên cứu trong nhiều năm. Vì thế mà có ấn bản lại ghi thêm một nhan đề phụ nữa là : “ Giới Trí thức và Chính trị” (Intellectuals and Politics) để bạn đọc chú ý hơn đến nội dung của sách. Phần Tự thuật của riêng Tony Judt có tác dụng minh họa cho những nghiên cứu cũng như về sự gặp gỡ trao đổi của ông với nhiều vị thức giả có tên tuổi trong giới học thuật đặc biệt xuất thân từ Đông Âu.

Cuốn sách được thành hình qua nhiều cuộc trao đổi đối thọai giữa hai vị giáo sư chuyên về môn lịch sử ở Âu châu thời cận đại – nên có tính chất linh họat của lối văn nói hơn là văn viết.

2 – Về mặt bố cục, sách được chia thành 9 chương với Lời Nói đầu của Timothy Snyder và Lời Nói cuối của Tony Judt do ông này viết tại New York vào ngày 5 tháng Bảy năm 2010 – chỉ mấy tuần trước ngày ông từ giã cõi đời vào tháng 8 năm 2010. Mỗi chương đều có nhan đề riêng biệt, điển hình như sau :

ñ  Chương 3 : Familial Socialism : Political Marxist

ñ  Chương 5 : Paris, California : French Intellectual.

ñ  Chương 6 : Generation of Understanding : East European Liberal

ñ  Chương 7 : Unities and Fragments : European Historian

ñ  Chương 9 : The Banality of Good : Social Democrat.

Phần cuối sách còn có 6 trang kê khai rất nhiều tác phẩm được hai tác giả đề cập thảo luận tới trong các cuộc đối thọai. Cuốn sách thật hấp dẫn lôi cuốn đối với người đọc – vì trong nội dung mỗi đề tài thảo luận giữa hai tác giả, thì đều ghi xen lẫn cả nhiều chi tiết về quá trình sinh sống, gặp gỡ quen biết với các chuyên gia đày tài năng khác và cả sự miệt mài say sưa trong công việc nghiên cứu không biết mệt mỏi – đó là tính chất đặc trưng của Tony Judt.

3 – Vì chủ đề của những cuộc trao đổi thảo luận quá rộng rãi – bao quát nhiều khía cạnh của lịch sử tư tưởng và sinh họat chính trị tại Âu châu suốt trong thế kỷ XX, nên việc tóm lược cho thỏa đáng về những điểm cốt lõi của cuốn sách là một công việc hết sức khó khăn – nhất là lại phải gói gọn trong một bài giới thiệu không thể kéo dài quá 3,000 chữ như thường lệ. Do vậy, tôi chỉ xin nêu ra vài ba khía cạnh đặc trưng đáng chú ý nhất trong tác phẩm – đặc biệt đối với số người Việt vốn từng quen theo dõi tình hình sinh họat chính trị tại nước Pháp. Đó là nội dung được trình bày trong phần III sau đây.

III – Những khía cạnh đáng chú ý nhất trong cuốn sách.

1 – Cách tiếp cận của người vừa ở trong cuộc, vừa ở ngòai cuộc.  (Insiders/Outsiders Approach)

Như tác giả Timothy Snyder đã ghi trong Lời nói đầu, Tony Judt vừa là người trong cuộc, vì ông dấn thân họat động cụ thể trong một số lãnh vực như một người trí thức nhập cuộc (intellectuel engagé) – mà ông cũng còn là người ngọai cuộc, vì ông chủ trương theo đuổi cái viễn kiến rộng rãi hơn, thông thóang hơn của một nhà nghiên cứu lịch sử vốn đòi hỏi một tinh thần bao quát khách quan hơn. Điều này khác biệt với phong cách của một nhà viết tiểu luận (essayist) vì ông này cần bày tỏ lập trường nhận định của mình với sự xác tín và nhiệt huyết của cá nhân mình trong bài viết – mà không bó buộc phải cân nhắc đắn đo với những đối chiếu thận trong của một nhà viết sử.

Cụ thể là Tony lúc ở tuổi 16 – 20, thì đã từng về bên nước Do Thái để tham gia xây dựng tại các kibbutz. Nhưng sau này Tony lại có ý kiến khác hẳn với chủ trương của nhà đương quyền ở xứ này. Cũng vậy, Tony theo truyền thống Marxist trong gia đình, nhưng khi trưởng thành chín chắn, thì lại theo đường hướng Xã hội Dân chủ mà ông coi là nhân bản tốt đẹp hơn hẳn chế độ tàn bạo sắt máu trong hệ thống cộng sản do Liên Xô đứng đầu. Và nhờ tiếp cận thân thiết với giới trí thức lưu vong từ Đông Âu sau năm 1968, mà Tony có cơ hội thấu hiểu cặn kẽ hơn về cái bối cảnh tòan diện chính trị xã hội và văn hóa của cả hai phía Đông Âu và Tây Âu – điều mà ít có người thức giả thực hiện được.

2 – Nhận định phê phán về Giới Trí thức của nước Pháp.

Là một nhà nghiên cứu lâu năm về tình hình chính trị cận đại của nước Pháp, Tony Judt đã trình bày những nhận xét hết sức rõ rệt sắc nét về giới Trí thức của Pháp trong thế kỷ XX. Tony thẳng thừng phê phán những trí thức thiên tả hàng đầu của Pháp như Jean Paul Sartre, Maurice Merleau-Ponty, Simone de Beauvoir … là những người cố chấp, thiên vị đến độ mù lòa (blindfully) đồng lõa với chủ trương tàn ác của Staline. Họ coi cách mạng ở Nga năm 1917 là sự tiếp nối của cách mạng Pháp năm 1789. Tony coi họ có tinh thần điạ phương cục bộ, khư khư bám víu vào cái hư danh của truyền thống cũ kỹ cổ xưa của mình (parochial). (Xin đọc chi tiết nơi cuốn “Past Imperfect : French Intellectuals, 1944 – 1956 – xuất bản năm 1992)

Trái lại, Tony Judt lại đề cao những trí thức như Léon Blum, Albert Camus và Raymond Aron là những người đã có sự dũng cảm đi ngược lại cái khuynh hướng thiên tả cố chấp của đa số trí thức đương thời – để nói lên sự cảnh báo trước nguy cơ bành trướng của khối cộng sản Liên Xô kể từ sau năm 1945. Ông đã viết cả một cuốn sách nhỏ xuất bản năm 1998 dưới nhan đề là “The Burden of Responsibility…” đề cập chi tiết hơn về ba nhân vật này.

Trong cuộc đàm đạo với Timothy, thì Tony còn thuật lại vào tháng 2 năm 1948, cựu lãnh đạo Mặt trận Bình Dân ở Pháp năm 1936 (Front Populaire) là chính Léon Blum đã phải viết trong bài xã luận của tờ báo Le Populaire của Đảng Xã hội rằng : Ông nhận sự sai lầm của mình khi tin rằng phe Xã hội có thể hợp tác với phe Cộng sản” (trang 214) .

3 –  Về chính sách kinh tế, Tony Judt bênh vực John Maynard Keynes.

Giữa hai quan điểm đối nghịch của John Maynard Keynes là kinh tế gia người Anh giữa thế kỷ XX và của Friedrick Hayek người gốc Áo quốc gần đây, thì Tony Judt có vẻ thiên về tác giả Keynes là người cổ võ cho chính sáchTòan dụng trong nền Kinh tế Vĩ mô (Full Employment in Macro-economics) – mà ông coi là bổ túc cho khuynh hướng của chủ trương kế họach hóa do Sir William Beveridge đề xuất ở nước Anh. Tony biện minh rằng chủ trương của Keynes có tính cách mềm dẻo linh động, chứ không có sự khe khắt khắc nghiệt làm tê liệt sáng kiến của giới doanh nhân –  như Hayek đã nặng nề phê phán, đặc biệt trong tác phẩm nổi danh “The Road to Serfdom” của ông (Con Đường dẫn đến Sự Nô dịch).

Tony coi trọng thành quả của Tây Âu là đã xây dựng vững chắc được các định chế dân chủ và đặt nền móng sâu rộng cho một số quốc gia có nền phúc lợi xã hội khả quan (The Social Welfare State). Đặc biệt là sự thành công của chế độ Dân chủ Xã hội tại các quốc gia ở Bắc Âu châu (Social Democracy).

IV – Để tóm lược lại.

1 – Tuy chủ đề của cuốn sách quá rộng lớn bao quát, nhưng vì nội dung của các buổi thảo luận được trình bày xen kẽ với nhiều chi tiết sinh động về tiểu sử có tính cách tự thuật của Tony Judt, nên người đọc dễ theo dõi câu chuyện với sự thích thú kỳ diệu mà lại nhẹ nhàng. Cả hai tác giả đều là những nhà giáo – nhà nghiên cứu uyên bác và đã từng có những tác phẩm được đánh giá cao trong học giới cũng như trong công chúng độc giả. Vì thế, sự trình bày của họ trong cuốn sách thì rất là phong phú khúc chiết – nó giúp chúng ta có được một cái nhìn tổng hợp về tư tưởng và hành động của giới trì thức tiêu biểu tại Âu châu trong thế kỷ XX. Có thể nói các tác giả đã cung cấp cho người đọc một thứ lộ đồ (a road map) để khám phá cái không gian tư tưởng cực kỳ bao la đa dạng và phức tạp của thế kỷ XX.

2 – Đúng như nhan đề của bài viết, cuốn sách này là một thứ tự thuật của Tony Judt về quá trình nhập cuộc của bản thân mình trong sự tìm kiếm một giải pháp thỏa đáng cho xã hội đương thời. Mà đồng thời các tác giả cũng trình bày những nét chính yếu về vai trò của tòan thể giới trí thức ở Âu châu trong sinh họat chính trị văn hóa suốt thế kỷ XX. Các tác giả cũng bày tỏ sự lạc quan và xác tín của mình trước viễn tượng của một nền Dân chủ Xã hội mà các thế hệ trẻ của thế kỷ XXI có thể xây dựng được – sau khi rút kinh nghiệm từ những thất bại của các thế hệ đàn anh của thế kỷ XX.

Người viết xin hân hạnh được giới thiệu với quý bạn đọc cuốn sách rất hấp dẫn lôi cuốn và cũng thật có giá trị vững chắc này vậy./

Costa Mesa California, Tháng 12 năm 2012

Đoàn Thanh Liêm

Cuộc chiến chống tham nhũng ở VN ‘phá sản hoàn toàn’

Cuộc chiến chống tham nhũng ở VN ‘phá sản hoàn toàn’

Blogger Huỳnh Ngọc Chênh, nguyên thư ký tòa soạn báo Thanh Niên

Blogger Huỳnh Ngọc Chênh, nguyên thư ký tòa soạn báo Thanh Niên

VOA Tiếng Việt

14.05.2015

Một nhà báo từng nắm giữ chức vụ quan trọng đã nhận định như vậy với VOA Việt Ngữ, sau khi cựu tổng biên tập báo Người cao tuổi bị khởi tố về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước; quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo điều 258 Bộ luật hình sự.

Báo chí trong nước đưa tin, ông Hoa bị cơ quan điều tra cáo buộc “đã có hành vi viết, duyệt cho đăng trên báo Người cao tuổi một số bài báo có nội dung sai sự thật, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của một số tổ chức, công dân”.

Người ta không tin vào chuyện đảng cộng sản đứng ra phát động chống tham nhũng, chống lại các cán bộ, đảng viên của mình, bởi vì phần lớn, chính do mấy ông nhận xét, đều tham nhũng hết.

Blogger Huỳnh Ngọc Chênh

Blogger Huỳnh Ngọc Chênh, nguyên thư ký tòa soạn báo Thanh Niên, cho VOA Việt Ngữ biết rằng dư luận đang “xôn xao về chuyện này”.

“Dư luận phản ứng rất mạnh về việc khởi tố ông bởi vì ông Kim Quốc Hoa là một trong những tổng biên tập đã dũng cảm chiến đấu chống lại tệ nạn tham nhũng, do đích thân ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư phát động. Ông Hoa là người hưởng ứng chuyện này nhưng giờ lại bị cách chức và khởi tố. Đây là  một đòn giáng vào chuyện chống tham nhũng mà chính đảng phát động. Ông Kim Quốc Hoa khi đăng một loạt những bài báo các quan chức về hưu, các quan chức đầu tỉnh mà có tài sản lớn, thì đã được sự đồng tình của dư luận. Nhưng mà bây giờ ông bị khởi tố, thì xem như chuyện chống tham nhũng phá sản hoàn toàn. Người ta không tin vào chuyện đảng cộng sản đứng ra phát động chống tham nhũng, chống lại các cán bộ, đảng viên của mình, bởi vì phần lớn, chính do mấy ông nhận xét, đều tham nhũng hết. Dư luận bên ngoài đang xôn xao về chuyện này”.

Trước khi quyết định khởi tố được đưa ra ngay tại nhà riêng của ông Hoa hôm 12/5, hồi tháng Hai, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức cuộc họp báo sau khi kết thúc thanh tra đột xuất báo Người Cao Tuổi.

Bộ này sau đó ra thông báo việc đề nghị cách chức Tổng Biên tập Kim Quốc Hoa và chuyển hồ sơ sang sang Bộ Công an điều tra, xử lý đối với “11 bài viết có dấu hiệu tội phạm.”

Truyền thông trong nước đưa tin, một trong các bài báo này có tựa đề “Chống tham nhũng: khi trao “vũ khí” cho bọn biến chất” bị cáo buộc đã “cắt xén câu nói của Tổng bí thư [Nguyễn Phú Trọng], dẫn đến sai sự thật, gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến uy tín của Ðảng và cá nhân Tổng bí thư, gây tâm lý hoang mang, suy giảm niềm tin trong cán bộ, đảng viên”.

Sau kết luật của Bộ Thông tin và Truyền thông, báo Người cao tuổi đã cho đăng một bài viết “phản pháo” về “nhiều sai phạm nghiêm trọng của đoàn thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông”.

Về việc sử dụng điều 258 từng áp dụng cho nhiều nhà bất đồng chính kiến đối với ông Hoa, blogger Huỳnh Ngọc Chênh nhận định đây là điều “rất lạ”.

Cựu nhà báo này nói:

“Cái điều 258 là cái điều anh em chúng tôi cực lực phản đối. Những người tiến bộ trong nước, anh em trí thức và các lực lượng của các phong trào cực lực phản đối, và đã có nhiều kiến nghị để đòi xóa bỏ điều 258 này. Cái này nó ảnh hưởng tới hoạt động dân chủ của người dân, những quyền tự do dân chủ mà hiến pháp đã ghi như tự do làm báo, tự do ngôn luận, tự do biểu tình, tự do lập hội, tự do tất cả, nhưng mà lại đưa ra điều 258, điều nói là lợi dụng quyền tự do thì không hiểu là lợi dụng cái chỗ nào để mà làm hại nhà nước. Đó là cái điều rất mơ hồ, và có thể bắt được bất kỳ ai, nhất là lực lượng trên báo lề dân, tức là báo “lề trái”. Còn với báo “lề đảng”, báo chí nhà nước, thì đây hình như là ông tổng biên tập đầu tiên bị khởi tố theo điều này. Đây là chuyện rất lạ và người ta không hiểu vì sao lại như vậy”.

Trong khi đó, hôm qua, Ủy ban Bảo vệ Ký giả quốc tế lên tiếng nói rằng các cáo buộc nhắm vào ông Hoa “đánh dấu xu hướng sử dụng luật lệ để chà đạp các nhà báo điều tra vấn đề tham nhũng nhạy cảm ở Việt Nam”.

Tổ chức này cũng kêu gọi Hà Nội “hủy bỏ các cáo cáo buộc sai trái và cho phép truyền thông đóng vai trò kiểm tra mà không lo sợ bị trả thù”.

Trong những năm gần đây, Người Cao Tuổi đã đăng những bài viết nêu ra tình trạng tham ô trong chính quyền. Một số bài báo cáo buộc các cựu quan chức cấp cao có dính líu trong những vụ bê bối tham nhũng.

Kết quả chung cho nhà báo chống tham nhũng

Kết quả chung cho nhà báo chống tham nhũng

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-05-14

05142015-the-common-anti-corrp-journa.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Báo Công An đưa tin khởi tố ông Kim Quốc Hoa nguyên tổng biên tập (TBT) báo Người Cao Tuổi

Báo Công An đưa tin khởi tố ông Kim Quốc Hoa nguyên tổng biên tập (TBT) báo Người Cao Tuổi

Sáng ngày 12 tháng 5 Cơ quan An ninh điều tra  thuộc Bộ Công an đã tống đạt Quyết định khởi tố bị can với ông Kim Quốc Hoa, cựu tổng biên tập báo Người cao tuổi để điều tra theo điều 258 Bộ luật Hình sự. Dư luận từ bấy lâu vẫn xem ông Kim Quốc Hoa bị tước quyền TBT tờ báo vì đã dũng cảm tố cáo tham nhũng trong tất cả các ban ngành của Việt Nam, kể cả công an qua bài phóng sự “Bàn về thị trường sao và vạch”. Mặc Lâm phỏng vấn nhà báo Trần Quang Thành là người từng làm việc chung với ông Kim Quốc Hoa và cũng là nhà báo vì chống tham nhũng đã bị tạt acit đến mang thương tật trầm trọng.

Mặc Lâm: Xin cám ơn nhà báo Trần Quang Thành. Thưa ông chúng tôi được biết ông từng làm việc và chia sẻ rất nhiểu kinh nghiệm chống tham nhũng với nhà báo Kim Quốc Hoa, ông nghĩ sao khi nghe tin ông Hoa bị quy kết vào điều 258?

Nhà báo Trần Quang Thành: Tôi khẳng định rằng anh Kim Quốc Hoa là người rất cương trực đấu tranh chống tham nhũng. Tôi và anh đã làm việc với nhau rất nhiều năm cho nên chúng tôi biết rất rõ nhau. Tôi biết anh là người cương trực thẳng thắn. Từ ngày anh còn là TBT ở các tờ báo khác cho tới tờ cuối cùng là Người Cao tuổi lúc nào anh ấy cũng cổ vũ những bài vở chống tham nhũng. Chính hồi đó anh cũng cổ vũ tôi rất nhiều khi nêu vụ của tôi trên báo Xây dựng lúc đó. Rất nhiều lần anh đấu tranh phanh phui vụ việc bao che tham nhũng để hại tôi và các đường giây công an nhưng cuối cùng cũng thất bại.

Mặc Lâm: Ông vừa cho biết là ông Kim Quốc Hoa đã liên tục bênh vực ông trong các ông vụ chống tham nhũng, ông có thể cho biết thêm chi tiết những vụ này như thế nào không?

Nhà báo Trần Quang Thành: Khởi đầu vụ chống tham nhũng của tôi tại ngay cơ quan phát thanh truyền hình là nó tham nhũng tiền lấy của dân để mua các thiết bị làm truyền hình. Khi phát hiện ra vụ này công an họ đã bao che cho nên tuy kết luận vụ việc là nghiêm trọng nhưng họ bao che họ không xét xử.

Vụ thứ hai là vụ các quan chức đã lợi dụng đường hàng không và bưu điện để buôn thuốc là lậu. Một số thương nhân buôn thuốc là lậu trong đó có cả công an. Khi tôi phát hiện ra đường giây này tôi có viết một bài đăng trên đài Tiếng nói Việt Nam nói về đường giây buôn bán thuốc lá qua biên giới qua đường hàng không, bưu điện. Khi bài báo này phát lên thì công an họ đến họ xin tài liệu. Lúc đầu tôi không cho vì tôi rất không tin họ. Sau đó có ý kiến của những người lãnh đạo cấp cao thì tôi dã phải đưa tài liệu cho họ. Chỉ mấy ngày thì họ phá được vụ án trong đó dính líu đến các nhân vật trong ngành công an.

” Nguyễn Đức Nhanh lúc đó là Đại tá Trưởng phòng CSĐT của CA Hà nội và Vũ Đình Hoành là phó giám đốc CA Hà nội thì chính là những người liên quan vụ án này, liên quan tới đường giây này cho nên bao che cho nhau, cho đối tượng này biết tôi là người phát hiện cho nên nó đã dùng acit nó hại tôi

Nhà báo Trần Quang Thành”

Khi phát hiện vụ án này thì tôi biết là đã nguy hiểm rồi. Tôi bị đe dọa sẽ bị hãm hại. Tên đầu sỏ vụ án lại được chính công an bao che cho nó trốn thoát. Nguyễn Đức Nhanh lúc đó là Đại tá Trưởng phòng cảnh sát điều tra của Công an Hà nội và Vũ Đình Hoành là phó giám đốc công an Hà nội thì chính là những người liên quan vụ án này, liên quan tới đường giây này cho nên bao che cho nhau, cho đối tượng này biết tôi là người phát hiện cho nên nó đã dùng acit nó hại tôi.

Nhà báo Trần Quang Thành là người từng làm việc chung với ông Kim Quốc Hoa và cũng là nhà báo vì chống tham nhũng đã bị tạt acit đến mang thương tật trầm trọng

Nhà báo Trần Quang Thành là người từng làm việc chung với ông Kim Quốc Hoa và cũng là nhà báo vì chống tham nhũng đã bị tạt acit đến mang thương tật trầm trọng

Sau đó chính nó lại bao che cho tội phạm. Nó không điều tra gì cả nhưng nó lại nói là điều tra. Trong gần một năm nằm điều trị khi ra viện tôi hỏi Giám đốc công an Hà nội lúc đó là Phạm Chuyên và ông Nguyễn Văn Tình đều xác nhận với tôi vào ngày múng 4 tháng 7 năm 1991là không có báo cáo nào về vụ án nhà báo Trần Quang Thành bị tạt acit cả. Tôi hỏi ông Phạm Kim Long lúc đó là Thứ trưởng bộ công an, là Bộ nội vụ cũ, thì ông cũng nói là ông không biết gì cả trong khi đó họ báo với tôi chính ông Long là người chỉ đạo trực tiếp với Bộ công an làm cái vụ này.

” Tôi nghĩ rằng các vụ án về tham nhũng, buôn lậu nó dính tới ngành công an rất nhiều, rất nghiêm trọng. Nó bao che cho nhau cho nên nó làm đủ mọi cái ám hại các nhà báo

Nhà báo Trần Quang Thành”

Tôi nghĩ rằng các vụ án về tham nhũng, buôn lậu nó dính tới ngành công an rất nhiều, rất nghiêm trọng. Nó bao che cho nhau cho nên nó làm đủ mọi cái ám hại các nhà báo. Đối với tôi, tôi nghĩ rằng làm nhà báo mà chống tham nhũng thì không bị đi tù như vụ PMU 18 thì cũng bị ám hại như tôi là bị tạt acit. Chống tham nhũng trong xã hội Việt Nam rất khó và rất nguy hiểm vì ngành công an là nơi bao che cho tội phạm rất nhiều. Trong nhiều vụ án thì chính công an đứng sau lưng cho nên rất khó mà an toàn cho các nhà báo.

Mặc Lâm: Ông vừa cho rằng công an Hà Nội đã trực tiếp dính vào việc của ông, còn những vụ khác thì sao ạ? Là nhà báo theo dõi và viết phóng sự điều tra nhiều vụ tham nhũng ông có kinh nghiệm gì về việc này?

Nhà báo Trần Quang Thành: Bây giờ ờ trong các ngành kinh tế công an là một siêu bộ. Mỗi một bộ đều có một Cục để mà theo dõi cho nên bây giờ số cổ phần cổ phiếu trong các doanh nghiệp trong các tập đoàn họ không phải là không có. Ông to có cổ phiếu lớn còn ông nhỏ có cổ phiều nhỏ cho nên nó giây mơ rễ má quyền lợi kinh tế nó dính liền rất nhiều với nhau.

Tôi lấy vì dụ như vụ của tôi khi phát hiện vụ tham nhũng của đài phát thanh truyền hình, Bộ công an bắt anh giám đốc công ty vật tư của đài phát thanh truyển hình Vĩnh Long đã đinh di lý anh ta vể Sài Gòn thì chính công an tỉnh Vĩnh Long lại làm đơn ra Hà Nội xin hoãn án cho anh ta vì anh ta dính vào một vụ trọng án khác giúp cho công an điều tra vụ Khmer thế là anh ta được tại ngoại và cuối cùng số tiền trong vụ án ấy là 20 ngàn đô la biến đi đâu cũng không ai biết còn anh ta trắng án không ai xử cả.

” Cho nên tôi nghĩ rằng những người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam không bao giờ được bảo vệ cả tại vì tất cả cơ quan từ cao nhất trở xuống họ đều bao che cho tham nhũng thì làm sao bảo vệ được?

Nhà báo Trần Quang Thành”

Mặc Lâm: Chúng tôi cũng được biết có hai vụ tham nhũng một vụ là nhà báo Hoàng Linh phanh phui tham nhũng của Tổng cục Hải quan và vụ kia là ông Nguyễn Tăng Thắng ở UBND tỉnh Bình Thuận. Ông có chi tiết gì về hai vụ này không thưa ông?

Nhà báo Trần Quang Thành: Ông Hoàng Linh là Tổng biên tập của báo Diễn đàn Doanh nghiệp, phát hiện ra vụ đường giây mua bán tàu cao tốc tuần tra trên biển là một vụ buôn lậu. Tàu này nó mua của Ba Lan, do Tổng cục Hải quan đi mua nhưng mà họ đã ăn chênh lệch giá rất nhiều tới mấy chục ngàn đô la. Khi bài báo đăng lên thì áp lực của Hải quan là bắt phải hạ bài xuống vì lộ bí mật quốc gia. Ông không chịu hạ và tiếp tục tố giác. Cuối cùng vụ án khui ra đúng sự thật, có sự tham nhũng ăn trên chênh lệch giá của bên hải quan để tham nhũng. Ông Hoàng Linh bị Bộ công an khởi tố về tội làm lộ bí mật quốc gia. Khi ra tòa người ta giam ông ấy bao nhiêu tháng bao nhiêu ngày thì họ xét xử và kết án đúng số ngày ông ấy đã bị giam giữ. Nó lợi dụng chức quyền đến như vậy.

Còn ông Nguyễn Tăng Thắng ở tỉnh Bình Thuận là người có công lớn vì đã phát hiện ra các lãnh đạo của tỉnh Bình Thuận đã chiếm rừng Tánh Linh, chia sẻ cho nhau để phá rừng đầu nguồn. Cuối cùng ông bị khai trừ khỏi đảng. Ông kiên quyết bán hết nhà cửa để mua máy quay phim máy chụp ảnh để ông làm tài liệu và cuối cùng thì ông đã thắng. Bí thư, Chủ tịch bị kỷ luật có người đã đi tù, lúc đó ông Nguyễn Tăng Thắng người ta đề nghị phải được anh hùng, thế nhưng có được đâu? bây giờ ông sống và trốn chui trốn nhủi ở đâu không ai biết. Sau vụ đó ông mất tích luôn bây giờ không ai biết ông ở đâu cả.

Cho nên tôi nghĩ rằng những người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam không bao giờ được bảo vệ cả tại vì tất cả cơ quan từ cao nhất trở xuống họ đều bao che cho tham nhũng thì làm sao bảo vệ được?

Mặc Lâm: Xin cám ơn nhà báo Trần Quang Thành.

Cuộn chỉ thời gian (Tạp ghi Huy Phương)

Cuộn chỉ thời gian (Tạp ghi Huy Phương)

Tạp ghi Huy Phương

“Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,

Ta có thêm ngày nữa để yêu thương”

(Kahlil Gibran)

Chuyện gì nhắc chúng ta biết rằng một ngày đã qua: Tiếng đồng hồ báo thức mỗi buổi sáng hay khi chúng ta mở vòi nước để làm vệ sinh khi ra khỏi giường? Chuyện gì nhắc chúng ta một tuần lễ đã qua: Sáng Thứ Bảy này dậy trễ hay có hẹn đưa gia đình đi chơi cuối tuần?

Chuyện gì nhắc chúng ta hai tuần đã qua: Ðến kỳ lãnh check lương hay ngày rằm hay mồng một ăn chay? Chuyện gì nhắc chúng ta một tháng đã qua: Trả các thứ bill nhà, bill điện, bill nước? Chuyện gì nhắc chúng ta sáu tháng đã qua: Vặn đồng hồ lui hay tới một giờ? Chuyện gì nhắc một năm đã trôi qua: Phải chăng là những khúc ca Giáng Sinh rộn ràng và các thương xá giăng đèn kết hoa, và với người Việt là hoa cúc, hoa mai, bánh chưng, bánh tét và những bài hát về Mùa Xuân đã trở lại?

Trọn một năm rồi, hôm nay tôi trở lại văn phòng dịch vụ khai thuế mà cảm thấy như mới đến đây hôm qua, cũng anh chàng khai thuế vui tính, những chồng hồ sơ ngổn ngang, trên vách chiếc đồng hồ tròn chậm rãi đếm giây… Cách đây một năm tôi đã ngồi trên chiếc ghế này, hôm nay tôi lại đến đây. Mùa khai thuế đã tới. Một năm nữa đã qua. Ði khai thuế mỗi năm hẳn lòng ta chẳng có cảm xúc gì, nhưng bạn cứ tưởng tượng, nào ngày con cháu chúng ta tốt nghiệp, nào ngày tan trường, ngày tựu trường, Mùa Thu lá rụng, rồi Mùa Ðông tuyết rơi.

Không những một giờ, một ngày qua rất nhanh, mà một năm, mười năm cũng như phút chốc. Phương Ðông nói: “Thời gian như bóng câu qua cửa sổ” (câu quang quá khích). Ca dao Việt Nam lại nói: “Thời giờ thấm thoắt thoi đưa -Nó đi đi mãi chẳng chờ đợi ai!” Thời gian có những bước đi cố định của nó, nhưng qua chủ quan, nhanh chậm hay dài ngắn lại “tùy người đối diện”, dù Lamartine đã thốt nên lời: “Thời gian ơi, xin hãy ngừng cánh bay.” (Ô temps, suspends ton vol!), cũng như chúng ta vẫn thường than vãn: “Ngày vui qua mau!” Trái lại, Kim Trọng tương tư Thúy Kiều thì một ngày cũng dài bằng ba năm: “Sầu đong càng lắc càng đầy- Ba thu dọn lại một ngày dài ghê!” Người bị gông cùm, lao lý thì “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại.” Phải chăng vì: “Người vui thì than đêm ngắn- Kẻ buồn lại hận canh dài.” Những ngày ở trong tù 35 năm về trước, hằng ngày phải lao động khổ sai vất vả, chúng tôi thấy ngày quá dài, chỉ mong đến lúc có tiếng kẻng “thu dụng cụ” để ra về, kiếm chén khoai lửng dạ và ngã tấm thân gầy guộc mệt nhoài trên chiếc chõng tre. Ðêm là lúc tự do, riêng rẽ một mình thì quá ngắn, vì người tù cảm thấy sợ hãi khi nghe tiếng kẻng đánh thức mỗi buổi sớm mai để thức dậy trước một ngày nữa, vất vả và vô vọng.

Bây giờ đến lúc tóc đã hoa râm, ngoảnh mặt nhìn lại: “Hồng Hồng! Tuyết Tuyết! Mới ngày nào còn chữa biết chi chi!” (Nguyễn Công Trứ), con cháu ngày nào, còn bồng bế nay đã trưởng thành, nghĩ lại “đời người như giấc mộng.” Nghĩ lại, thời hoa niên, rồi chiến tranh, tù đày, lưu lạc quê người cũng qua nhanh. Bây giờ không còn nói chuyện một ngày qua, một tuần qua, một tháng qua, mà nói chuyện mười năm, ba mươi năm, sáu mươi năm qua. Nhìn lại quá khứ, hình như chúng ta đều mang trong lòng nỗi tiếc nuối hơn là vui mừng vì chúng ta đã làm được điều gì đó trong những ngày tháng cũ.

Ai cũng nói được câu “dĩ vãng là lịch sử,” là những điều đã qua, nhưng tất cả văn thơ, âm nhạc đều khóc lóc, thương tiếc những ngày tháng cũ. Người thì xin đi lại từ đầu, người thì gọi ngày xưa là hoa bướm… Hiện tại là món quà Trời cho (Present) nhưng ít ai biết giá trị mà nâng niu nó, để khi nó đã trở thành dĩ vãng mới buồn bã khóc than. Phật Pháp cũng có nói đến: “Quá khứ đã qua, tương lai chưa tới, hãy sống tĩnh thức trong giờ phút hiện tại!”

Ðể biết giá trị của thời gian, phương Tây nói:

“Ðể biết giá trị của một năm, hãy hỏi một sinh viên vừa thi trượt năm cuối.

Ðể biết giá trị của một tháng hãy hỏi một người mẹ sanh non.

Ðể biết giá trị của một tuần hãy hỏi chủ bút của một tuần báo.

Ðể biết giá trị của một giờ, hãy hỏi những người yêu đang chờ đợi gặp nhau.

Ðể biết giá trị của một phút, hãy hỏi người vừa lỡ chuyến tàu.

Ðể biết giá trị của một giây, hãy hỏi người vừa thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.

Ðể biết giá trị của một phần nghìn giây hãy hỏi người vừa nhận huy chương bạc trong cuộc thi Olympic.”

Thời gian đi những bước đều đặn, như tiếng đồng hồ kêu “tic-toc” nhịp từng giây, nó chẳng bao giờ có thể chạy nhanh hơn theo ý ta, hay chậm lại để chờ đợi ai. Trong những chuyện cổ tích của Ðông Âu, ông Tiên cho mỗi con người một “cuộn chỉ thời gian”, chiều dài của cuộn chỉ là chiều dài của mỗi đời người. Ai thấy đời khổ đau thì cứ kéo vội sợi chỉ đi nhanh, ai muốn hưởng hạnh phúc thì kéo cuộn chỉ chậm lại.

Này người bạn già của tôi ơi! Khổ đau hay hạnh phúc, bạn đã kéo “cuộn chỉ đời” bạn, nhanh hay chậm, thì chúng ta chỉ còn lại mươi vòng chỉ nữa thôi. Vì thời gian vẫn trôi đi, nên chúng ta không thể dừng lại, mà vẫn phải tiếp tục kéo sợi chỉ ra khỏi cái lõi của nó, cho đến lúc thở ra hơi thở… cuối cùng. Liệu trong mươi vòng chỉ còn lại này, chúng ta có thể làm gì để bù đắp cho gần cả một “cuộn chỉ đời” dài dằng dặc của những ngày tháng đã qua từ bao lâu nay không?

40 NĂM NHÌN LẠI: NGƯỜI VIỆT TRÊN ĐẤT MỸ

40 NĂM NHÌN LẠI: NGƯỜI VIỆT TRÊN ĐẤT MỸ

Chu Tất Tiến

SỰ HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM

1-Di tản, tị nạn, vượt biên, và định cư

Biến cố năm 1975 tại Việt Nam cũng là một biến cố cho Hoa Kỳ, vì trước và ngay khi miền Nam bị rơi vào tay Cộng Sản, môt làn sóng dân Việt tị nạn chính trị đã đổ ào ạt vào nước Mỹ, làm xáo trộn nhiều sinh hoạt của đất nước này. Những năm đó, có rất ít người Việt đến Mỹ và thường đến theo diện hôn nhân với người Mỹ, và một số nhỏ đi du học rồi ở lại luôn. Theo tài liệu của cơ quan Di Trú và Quốc Tịch Mỹ, thì từ 1950 đến 1974 chỉ có 650 người. Nhưng từ tháng 4 năm 1975, với sự cứu vớt nhân đạo của người Mỹ, hàng triệu người Việt đã đến qua nhiều phương tiện di chuyển. Ngay trong những tháng mùa Xuân 1975, đã có 125,000 người được phi cơ hay tầu thủy của Mỹ đưa sang các trại tạm cư tại Philippines và Guam. Từ các trại tạm cư này, người Việt di tản đã được định cư tại nhiều nơi trên đất Mỹ, đăc biệt là tại California và Texas. Trong đợt di tản này, đa số là những người có học vấn cao, từng giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền miền Nam, hay những người có liên hệ trực tiếp với người Mỹ, nhân viên của Sứ Quán Mỹ hoăc các công ty Mỹ tại Việt Nam.

Sau đợt di tản chính thức do chính phủ Mỹ thực hiện đó, vì hãi sợ chế độ hà khắc của Cộng Sản, người miền Nam đã tự túc rời bỏ quê hương mình bằng các phương tiện tự túc và tự chế. Đa số vượt biên trong những chiếc tầu đánh cá, hoặc dùng các máy chạy dầu “2 block” hoặc “3 block” đầu bạc gắn vào các ghe dài từ 10 đến 15 mét. Những con tầu vượt đại dương này có thể chứa 50 người thoải mái, nhưng cũng có nhiều trường hợp chất đến hơn 100 người nằm xếp như cá hộp trên tầu, không có phương tiện ăn uống hoặc vệ sinh. Nếu không có tầu đánh cá lớn như thế, nhiều người phải vượt biển bằng bè, bằng ghe nhỏ, có gắn “đuôi tôm” hay máy xay nước mía, chạy chậm rì và dễ lật. Có một trường hợp đi biển bằng bốn thùng “phuy”, trước đựng xăng, gắn lại thành môt cái bè đơn sơ cũng ra tới biển và được tầu lớn đón đi. Vì không có sự bảo vệ nào cả, nên những người đi ghe thường bị hải tặc tấn công, hãm hiếp, và bị giết chết dưới những hình thức tàn bạo. Một số khác chết vì đói, bệnh, hoặc tấp thuyền vào những cồn san hô, không có thực phẩm. Theo ước tính của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc, dựa trên tỷ lệ số người đến được các trại tị nạn và số người mất trên biển, cùng với sự ước tính những người thân trong gia đình đã vượt biên và bị giết chết, có đến vài trăm ngàn người bị chết trên biển trước khi đến bờ Tự Do. Một số không nhỏ đã bị hãm hiếp hay bị giết chết ngay trên đất liền của Thái Lan và Mã Lai hoặc tại những đảo nhỏ trong vùng Đông Nam Á. Vài trường hợp, người vượt biên được tầu cá Thái Lan đưa vào đất liền để hãm hiếp xong, thì kéo ghe ra xa, rồi đâm tầu cá Thái Lan vào tầu vượt biên, cho chìm. Một số trường hợp khác bị Công An Cộng Sản Việt Nam bắt, và cũng bị hãm hiếp, sau khi công an đã thu hết vàng bạc trong người. Một người mới được thả ra từ tay Công An Cà Mâu cho biết, sau khi Công An đã lột hết tiền bạc dấu trong người vượt biên, đã cho người vượt biên trở lại tầu của mình và đi tiếp, nhưng giữ lại ba cô gái đẹp nhất. Sau đó, thì không ai nghe thấy tin tức gì của ba người bất hạnh đó cả.

Hầu như gia đình nào ở các tỉnh thành lớn miền Nam đều có thân nhân vượt biên. Những năm đầu sau 1975, đa số người vượt biên là những người có phục vụ trong chính quyền cũ, hoặc có liên hệ đến các viên chức, quân sự cũng như dân sự. Họ đã phải rời quê hương để tránh bị tắm máu, bị giết dần mòn trong các trại tù khổ sai được gọi là “Trại Học Tập Cải Tạo”. Vì thế, số người vượt biên vì kinh tế thì rất ít. Nhưng đến khoảng 1978, sau các đợt “đánh tư sản”, đổi tiền, chống người Hoa Kiều ở Viêt Nam, thì số vượt biên tăng dần với các người dân thường, không dính dáng gì đến chế độ cũ. Nhận thấy đây là cơ hội làm giầu, một số nhà cầm quyền Cộng Sản địa phương cho tổ chức các cuộc vượt biên “bán chính thức” để các người Việt gốc Hoa được ra đi, sau khi nộp cho giới cầm quyền ở địa phương nhiều lạng vàng (được gọi là “cây”). Nhiều chuyến tầu lớn ra khơi với năm, sáu trăm người và đã đổ bến Tự Do an toàn, ít bị hải tặc tấn công vì có máy mạnh và đã có đề phòng sẵn. Các cuộc vượt biên này rầm rầm rộ rộ tại các bãi đáp, tưởng như không bao giờ dứt. Nhưng đến khi thấy lấy tiền và vàng quá dễ dàng, lòng tham của công an, bộ đội bùng lên tới cao độ khiến họ tổ chức những cuộc vượt biên giả, để giết người, thu vàng. Bao nhiêu người chết chìm trên sông, khi chưa ra tới biến. Cách thức giết người của Công An thì đơn giản: cho tầu ra giữa dòng sông, đợi đến đêm, thì công an gọi lần lượt từng người bước ra ngoài, nói là chuyển lên tầu lớn, nhưng khi vừa chui ra khỏi mui thì bị đập một cây gỗ có gắn đinh vào đầu, rồi bị đá xuống sông. Sau khi số người chết chìm trên sông tăng lên một cách kinh hoàng, một phụ nữ thoát thân được sang đến Mỹ, thì gửi thư đến tất cả các cơ quan cầm quyền Hà Nội, tố cáo hành vi dã man này ròng rã hai năm, thì Hà Nội mới đánh hơi thấy đây là chuyện lớn, nên bắt đầu thanh trừng nội bộ, xử tử những tay công an tham lam tổ chức vượt biên giả để cướp của, giết người, trong số này có cả Giám Đốc Công An Tỉnh, khiến cho các cuộc vượt biên sau này trở nên khó khăn hơn. Nhưng bất chấp tất cả nguy hiểm, bị công an bắt tù, bị hải tặc hãm hiếp và giết chết, các tầu chở người vượt biên vẫn tiếp tục lên đường, trong số này có nhiều trẻ em, phụ nữ, nông dân, và thợ thuyền. Những người sống sót được cứu vớt đem vào các trại tị nạn tại Thái Lan, Singapore, Mã Lai, Philippine, và Hồng Kông. Từ các trại này, người di tản được đi các quốc gia nào đã cứu vớt họ. Nếu không có người thân nào ở các nước đó, hay nếu được thân nhân bảo lãnh, người tị nạn sẽ được đưa vào Mỹ.

Nói đến trại tị nạn Hồng Kông, người ta không quên một vấn đề đặc biệt: sự phân biệt giữa người tị nạn từ miền Nam và miền Bắc. Khi tin tức về các người tị nạn được sinh sống ở Mỹ và các nước khác lan đến miền Bắc Việt Nam, thì một số dân chúng ở đây cũng tìm cách ra đi, tuy không phải là đối tượng bị theo dõi, và bị bắt. Người vượt biên từ miền Bắc, vì gần với Hồng Kông nên cho tầu đến thẳng nơi đây. Từ đó, nẩy sinh ra sự phân biệt, kình chống giữa hai thành phần, người vượt biên từ miền Nam và người vượt biên từ miền Bắc, trong đó, có một số lớn là “dân đầu gấu”, tức là du đãng Hải Phòng. Với tiếng nói khác nhau, lý tưởng khác nhau, nên xẩy ra nhiều cuộc xung đột tay chân, cả hai bên dàn quân ra đánh nhau, khiến cho cơ quan cứu trợ phải chia ra hai lằn ranh, dân miền Bắc và dân miền Nam. Vì những người vượt biên từ miền Bắc không được Mỹ nhận, nên đa phần họ đã được chở sang Anh và định cư ở đây.

Do hoàn cảnh như trên, đơt người đến Mỹ sau này đã thành một trở ngại lớn cho các nước phương Tây và nhất là Mỹ. Họ không biết nói tiếng ngoại quốc cũng như chẳng có học vấn hay khả năng chuyên môn để thích ứng với môi trường mới. Phải mất nhiều năm, với sự giúp đỡ của chính quyền sở tại, những người đến sau này mới hội nhập được vào cuộc sống mới. Tại Mỹ, vì tính cần cù, chịu khó, và được sự bảo trợ của người bản xứ, nên khoảng 10 năm sau, một số lớn đã có thu nhập cao, đặc biệt là những người quen nghề đi biển đánh cá, tụ tập nhiều ở tiểu bang Louisiana và Texas. Nhiều người di tản đã trở thành triệu phú.

2-Bảo Lãnh và Chương trình H.O.

Những người đến Mỹ trước, sau khi nhận được thẻ xanh, thì bắt đầu lo bảo lãnh để đưa thân nhân qua. Tuy biết rằng những người sang Mỹ theo diện bảo lãnh thì không được trợ cấp về ý tế hay tài chánh, nhưng những đơn xin bảo lãnh cứ tăng dần, và số người Việt trên đất Mỹ bắt đầu đông đảo. Người trước hướng dẫn người sau rồi tụ họp thành nhiều trung tâm Việt Nam lớn với những điều kiện sinh hoạt giống như ở Việt Nam. Thực phẩm Việt Nam bắt đầu xuất hiện đầy dẫy trong các chợ Việt với đa số chủ nhân là người Việt gốc Hoa, chỉ có một số ít là do người Việt làm chủ. Các tiệm ăn, bán trang phục và các văn phòng dịch vụ, tiện nghi khác cũng mọc lên như nấm.

Đến đầu năm 1990, chương trình H.O. bắt đầu được thực hiện để đưa những quân nhân và viên chức hành chánh từng đi tù Cộng Sản đến Mỹ một cách chính thức với gia đình. Danh xưng H.O. này, thật ra, đã bị hiểu nhầm. Chính phủ Mỹ đã cho từng đợt người di tản dưới số hiệu từ A, B, C. Đến chữ H, thì vào đúng lúc dành cho những người từng ở tù cải tạo, và đợt đầu tiên là H.0 tức là H.Zero. Rồi H.01, H.02, H.03…Vì không hiểu ý nghĩa của danh xưng này, nên một số người diễn giải là: Human Organization, Humantarian Organization.. rồi dần dần biến thành H.Ô. Những người đến nước Mỹ dưới diện H.O này, được trợ cấp trong 2 năm, rồi phải tự tìm cách hội nhập vào đời sống mới. Vì đã từng là cấp chỉ huy quân sự hoặc dân sự, nên các đợt H.O sau này đều nhanh nhẹn thích hợp ngay với quê hương thứ hai này. Chỉ sau 5,7 năm, cùng với những người đi trước, số người Việt đi theo diện H.O. đã thành công trên nhiều lãnh vực, do chính bản thân hay từ con cái, thuộc thế hệ thứ 2. Nhận thấy rằng, mình là người đến sau, không thể cạnh tranh với người đến trước, nếu không có học vấn. Do đó, các bậc cha mẹ đã hết sức khuyến khích con cái đi học ngay. Vì thế, đa số thế hệ thứ hai tốt nghiệp từ các trường chuyên môn như Y Khoa, Dược Khoa, Nha Khoa, Tài Chánh, Thương Mại. Có gia đình có đến 10 y sĩ, vừa dâu vừa rể, vừa con ruột, là Bác Sỹ Y Khoa, Dược Sĩ, hay Nha Sĩ. Một số lớn có thế hệ thứ hai toàn là Kỹ Sư, Cử Nhân.

Theo thống kê năm 2010, kể cả những người con Lai Mỹ được sang Hoa Kỳ, có 1,548,449 người Việt trên đất Mỹ, hoặc 1,737,433 người Việt hòa nhập với các quốc tịch khác qua hôn nhân, tạo thành một khối Á Châu đứng hàng thứ tư trong toàn khối người Á Châu gốc Mỹ. Người Việt được phân phối (1) như sau:

– California: 581,946

– Texas: 210,913

– Washington: 66,575

– Florida: 58,470

– Virginia: 53,529

– Georgia: 45,263

– Massachusetts: 42,915

– Pennsylvania: 39,008

– New York: 28,764

– Louisiana: 28,350

Trên đây là những con số có tính cách khái quát. Thực tế, người Việt di chuyển và đổi chỗ ở nhiều lần qua nhiều tiểu bang để tìm nơi có công ăn, việc làm thích hợp. Thực tế cho thấy, người Việt đổ dồn về California vì khí hậu ở đây ấm áp, ít lụt và không có bão mạnh, chỉ có động đất, nhưng với lý luận, “Trời kêu ai, người nấy dạ”, họ chấp nhận động đất như là môt phần trong sinh hoạt, không có gì đáng lo ngại. Đến năm 2010, đã có 183,766 người ở Quận Cam, miền Nam California. Tập trung nhiều nhất là vùng Westminster, nơi đây được đặt tên chính thức là Little Saigon. Bên cạnh đó, là các thành phố đầy người Việt Nam như Garden Grove và Santa Ana. Miền Bắc California, với San Jose là nơi tập trung nhiều người Việt di tản nhất, sau đó mới đến những thành phố xa như Sacramento, Monterey..

Về việc nhập tịch, người Việt cũng là thành phần nhận được quốc tịch Mỹ nhiều nhất và nhanh nhất so với một số sắc dân khác. Theo American Community Survey năm 2006, 72% người Việt sinh ở nước ngoài trở thành công dân, cộng với 36% sinh tại Mỹ, làm cho số người được Việt được nhận quốc tịch Mỹ là 82%.

SỰ PHÁT TRIỂN

1- Tín ngưỡng và lập trường chính trị.

Về tín ngưỡng, đa số theo đạo Thiên Chúa gồm Công Giáo và Tin Lành. Người theo Công Giáo nhiều nhất. So với 6% người theo Công Giáo khi còn ở trong nước, họ đã nâng tổng số người Việt Công Giáo là 23% của toàn thể người Mỹ gốc Việt. Sau khi đã ổn định đời sống vật chất, người Việt bắt đầu nghĩ đến việc tham gia vào dòng chính, qua các sinh hoạt chính trị như ghi tên gia nhập Đảng. Vì một số người có sự hiểu lầm là Đảng Cộng Hòa thế nào cũng phải ủng hộ người thuộc Việt Nam Cộng Hòa, nên đã gia nhập Đảng Cộng Hòa. Một số người còn tin rằng Đảng Cộng Hòa thế nào cũng giúp người Việt tị nạn đánh lại Cộng Sản. Họ đã không hiểu rằng, đảng nào cũng vì quyền lợi của đất nước Hoa Kỳ mà thay đổi chính sách. Không có đảng nào thương yêu người Việt cách riêng cũng như không có Đảng nào ghét bỏ người Việt. Vì vậy, thực tế cho thấy có 29% theo Cộng Hòa, trong khi chỉ có 22% theo Dân Chủ. Riêng tại Orange County, California, vì số người định cư ở đây đa phần là người thuộc chế độ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam nên có 55% ghi danh theo Cộng Hòa và 22% theo Dân Chủ. Theo National Asian American Survey, năm 2004 có 72% bỏ phiếu cho George Bush, trong khi có 28% bỏ cho John Kerry. Năm 2008, có tới 2/3 dân Việt bỏ phiếu cho John Mccain. Tuy nhiên, số người trẻ thuộc thế hệ thứ 2 lại ưa đảng Dân Chủ. Trong kỳ bầu cử năm 2008, có tới 60% người trẻ bỏ phiếu cho Barack Obama.

Trong sinh hoạt chính trị nước Mỹ, cộng đồng người Mỹ gốc Việt tỏ ra ồn ào nhất với rất nhiều cuộc biểu tình, mít tinh chống Cộng. Vụ Trần Trường nổ ra tai miền Nam California, lôi kéo tới hơn 22,000 lượt người tham gia biểu tình mỗi đêm trong suốt gần 1 tháng. Hầu như tối nào cũng có biểu tình. Cờ vàng rực trời California. Âm thanh của nhạc khí và tiếng ca chống Cộng vang động cả một góc trời. Trong khi biểu dương khí thế chống Cộng mạnh mẽ như thế, thì người Việt cũng âm thầm tham gia ứng cử vào các chức vụ chính quyền. Khởi đầu là ông Tony Lâm, một người làm thương mại, ứng cử mà không có đối thủ người Việt nên được bầu làm Nghị viên thành phố Westminster với đa số phiếu từ người Mỹ gốc Việt. Sau đó, đến Luật Sư Trần Thái Văn cũng dành được một ghế trong Quốc Hội California một cách vẻ vang. Rồi đến Janet Nguyễn, mới đầu đắc cử nghị viên thành phố Garden Grove, sau vươn lên, đắc cử Giám Sát Viên Quận Cam, chi phối ảnh hưởng của mấy tỉnh miền Nam. Trong lần tranh cử này Janet Nguyễn chỉ thắng đối thủ là Luật Sư Nguyễn Quang Trung có 3 phiếu.

Sự tham dự đông đảo vào dòng chính làm cho người Mỹ sở tại quan tâm đến cộng đồng Việt nhiều hơn trước, nhất là sau khi thành phố có 3 nghị viên là người Mỹ gốc Việt: Tạ Đức Trí, Andy Quách, và Diệp văn Trường. Bên thành phố Garden Grove, Luât Sư Dina Nguyễn tại vị trí Nghị Viên được mấy nhiệm kỳ rồi. Dựa vào sức mạnh của các vị trí chính trị, Trần Thái Văn, Tạ đức Trí, Andy Quách đã tạo được một kỳ tích đáng kể: Làm luật cấm không cho Cộng Sản Viêt Nam được đi qua thành phố, và quyết định cho phép tôn vinh lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa được treo chính thức trước thềm sảnh thành phố và các địa điểm công cộng khác, mà không cho treo cờ của Cộng Sản Việt Nam. Từ chiến dịch phát động khởi đi từ Westminster, California, cho tới nay, đã có 13 Tiểu Bang, 7 Quận hạt và 85 thành phố chấp nhận lá cờ Việt Nam Cộng Hòa là đại diện chính thức của nước Việt Nam.

Tại Houston, Texas, theo gương miền Nam California, Dân Biểu Hubert Võ cũng được đắc cử vẻ vang. Tại Houston, người Việt đầu tiên được bầu làm Nghị Viên thành phố: Luật Sư Hoàng Duy Hùng. Người Việt ở Texas lấy làm hãnh diện về việc này. Tuy nhiên, niềm hãnh diện của người Việt không kéo dài, vì Nghị Viên Hoàng Duy Hùng, sau khi đắc cử, lại thay đổi lập trường chống Cộng, để thiên về khuynh hướng hòa hợp, hòa giải với Cộng Sản Việt Nam. Cùng với Thị trưởng Houston, ông thu xếp một cuộc nói chuyện với Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Thanh Sơn và dàn xếp buổi đối thoại giữa thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn với cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ năm 2013, rồi sau đó theo lời mời của Nguyễn Thanh Sơn, ông chính thức về Việt Nam bàn thảo việc hòa hợp, hòa giải, nhưng không thành công. Ngược lại, ông còn bị cộng đồng chống đối một cách tích cực khiến ông thất cử trước Richard Nguyễn,một nhân vật ít được cộng đồng biết đến. Còn ở Louisiana, Luật Sư Cao Quang Ánh, thuộc đảng Cộng Hòa được đắc cử vào chức vụ Dân Biểu Liên Bang, nhưng chỉ được một nhiệm kỳ và phải nhường lại cho người địa phương, Cedric Richmond thuộc Dân Chủ, vì đại đa số dân ở đây là người theo đảng Dân Chủ. Sau khi bất ngờ bị Cao Quang Ánh, một đảng viên Công Hòa thắng thế, đảng Dân Chủ dồn hết sức mạnh lại và đánh bật Cộng Hòa ra khỏi chức vụ này.

Hiện nay, năm 2014, trên nước Mỹ, có hai viên Thị Trưởng người Mỹ gốc Việt tại miền Nam California: Thị Trưởng Tạ Đức Trí, thành phố Westminster và Thị Trưởng Michael Võ, thành phố Fountain Valley. Ông Tạ Đức Trí, nguyên Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Miền Nam California, đắc cử vẻ vang chức Thị Trưởng qua một cuộc bầu cử sôi động, còn ông Michael Võ, một chuyên viên về Bảo Hiểm, và là chủ môt trường dậy lái xe, đã được hội đồng thành phố chọn, không qua thể thức bầu cử công khai. Với thành phố Garden Grove, Luật Sư Nguyễn Quốc Lân đang đảm nhiệm chức vụ Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Giáo Dục, điều hành gần 100 trường trung học và tiểu học trong khu vực. Miền Bắc California, có nghị viên Madison Nguyễn, đắc cử trong sự phân rẽ của người Việt tị nạn. Nhiều cuộc biểu tình chống Nghị Viên này khi bà chống lại các đề nghị đặt tên “Little Saigon” cho khu phố Việt Nam tai San Jose. Tại Texas, Luật Sư Hoàng Duy Hùng, môt người từng tranh đấu cho Dân Chủ tại Việt Nam, cũng đắc cử Nghị Viên dựa trên lá phiếu của cộng đồng tị nạn, nhưng sau khi đắc cử, ông đã có những hành động làm mất lòng đồng hương, như về Việt Nam, tạo cây cầu nối kết liên lạc giữa Việt Nam Cộng Sản và Texas, và tuyên bố nhiều điều tạo cơn phẫn nộ giữa cộng đồng, gây nên nhiều cuộc biểu tình chống đối, nên sau khi hết nhiệm kỳ, ông đã không được đồng hương bỏ phiếu cho ông nữa. Một nhân vật ít được nhắc đến trên báo chí nhưng cũng là môt tiêu biểu cho người Việt thành công: Nghị viên thành phố Haltom: Trương Minh Ẩn.

2-Thành Tựu

Sau hơn 15 năm định cư tại xứ Mỹ, người Việt đã chứng tỏ rằng, với sự cần cù và ý chí tiến thủ, sẽ vượt lên ngang tầm với những cộng đồng khác đến nước Mỹ từ trước cả trăm năm. Một số nhân vật tiêu biểu đã làm rạng danh người Việt:

– Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hạnh, Nguyên Tổng Giám Đốc Định Cư và Tị Nạn, chức vụ cao nhất của người Mỹ gốc Việt trong hệ thống hành chánh. Ông cũng từng là Phụ Tá Thống Đốc Tiểu Bang California.

– Bà Mary Chi, người Việt Nam đầu tiên được bổ nhậm vào một chức vụ khá quan trọng trong chính quyền: Phó Tổng Giám Đốc Định Cư và Tị Nạn.

– Quách Nhứt Danh, Dược Sĩ, cùng với Triệu Phát, là những người khai phá Little Saigon ở Quận Cam, California. Hai triệu phú này, hiện nay, làm chủ đa số các văn phòng thương mại, dịch vụ tại Little Saigon. Trung Tâm Phúc Lộc Thọ với gần 200 cửa hàng đã mang lại cho khu vực Thủ Đô Tị Nạn này một sinh hoạt linh động, nhất là vào dịp Tết. Số khách đến thăm Chợ Tết ở đây có thể lên đến vài chục ngàn lượt người.

– Trần Đình Trường, Chủ nhân khách sạn lớn tại New York, người luôn hào hiệp mời tất cả những đồng hương đi biểu tình hay tham dự các cuộc diễn hành tại New York đến ngụ tại khách sạn của ông miễn phí.

– Kỹ Sư Trung Dũng, bán sản phẩm của anh: OnDisplay cho Vignette Corporation vào năm 2000 với giá 1 tỷ 800 triệu.

– Châu Nguyễn, xướng ngôn viên Truyền Hình, người Việt đầu tiên nhận giải Regional Emmy Award.

– Lệ Lý Hayslip, tác giả cuốn “Khi Trời và Đất thay ngôi”, sau đã được chuyển thành phim “Trời và Đất” (Heaven and Earth) bởi Oliver Stone.

– John Quốc Dương là Giám Đốc Cơ Quan Châu Á Thái Bình Dương, chuyên cố vấn cho Tổng Thống về những vấn đề thuộc châu Á.

– Stephanie Trọng, Tổng Biên Tập tờ báo Jane Magazine.

– Huỳnh Công Út, tự Nick Ut, nhiếp ảnh gia, người Việt đầu tiên đoạt giải Pulitzer và giải Báo Chí Thế Giới.

– Mina Nguyễn – Deputy Assistant Secretary cho Business Affairs và là Public Liaison tại Bộ Tài Chánh.

– Phi Hành Gia, Tiến Sĩ Eugene H. Trinh – người Việt đầu tiên vào không gian.

– Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, nguyên Bộ Trưởng Kế Hoạch Việt Nam Cộng Hòa, Giáo Sư tại Howard University.

– Tiến Sĩ Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, Giáo Sư về Kỹ Sư Không Gian, University of Michigan, người Việt đầu tiên nhận giải Dirk Brouwer

– Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh, người lãnh đạo toán Kỹ Sư và Khoa Học Gia chế tạo ra Bom Áp Nhiệt dùng trong trận chiến Afghanistan.

– Trịnh Xuân Thuận – author,

– Võ Đình Tuấn, nhà sáng tạo, giáo sư và Giám Đốc Fitzpatrick Institute về Photonics của Duke University

– Nguyễn Hữu Xương, giáo sư Sinh Học, University of California, người khai thác việc nghiên cứu về bệnh Aids, sáng tạo ra X-ray Multiwire Area Detector –

– Tiến sĩ Nguyễn Định, nghiên cứu hỏa tiễn chống hỏa tiễn. Trưởng công trình nghiên cứu chế tạo loại vũ khí mới mang tên Free Electron Laser (FEL)

– Sinh viên gốc Việt 22 tuổi tên Kevin Lương, sinh viên năm cuối khoa Vô tuyến và Viễn thông. Cùng một nhóm bạn chế tạo ra hệ thống liên lạc với Vệ Tinh một cách hoàn hảo.

– Nhiều Bác Sĩ Mỹ gốc Việt được vinh danh vì những nghiên cứu y khoa đặc sắc hoặc vì tài năng hiếm có. Một Giáo Sư Y Khoa UCLA, khi mất, cả trường treo cờ rũ. Việc treo cờ rũ này chỉ được thực hiện với các vị Hiệu Trưởng hay Hiệu Phó của trường Đại Học. Một số lớn các Bác Sĩ Việt Nam đã được bổ nhậm làm Trưởng Khoa trong các bệnh viện lớn, hay Giáo Sư Chính Thức của các trường Đại Học Y Khoa. Bác Sĩ Giáo Sư Lương Vinh Quốc Khanh, Chủ Tịch Cơ Quan Nghiên Cứu Y Khoa Việt Mỹ (Vietnamese-American Medical Research Foundation) ở Nam California, thành viên của 7 Viện Y Khoa Hoa Kỳ, là người được Quốc Hội Hoa Kỳ tuyên dương và ghi vào hồ sơ Quốc Hội (Record of The United States House of Representatives) về những thành tích đặc biệt của ông. Thượng Viện California cũng tặng ông một bản Vinh danh về sự nghiên cứu thâm sâu của Bác Sĩ Giáo Sư Y Khoa Lương Vinh Quốc Khanh. Ông là “người ngoài” (outsider) duy nhất được mời làm Editor cho Tập San Y Khoa của Hoàng Gia Anh là một cơ quan cổ kính và bảo thủ qua nhiều thế kỷ.

– Thành công trong Quân Đội Hoa Kỳ:

Hiện nay có 13 vị Đại Tá Hải Quân người Mỹ gốc Việt: Lê Bá Hùng, Dương Ngạn Hữu, Đỗ H Thủy, Trần Quốc Bảo, Phạm Tùng Xuân, Thiện Douglas, Doan William Ray II, Huynh Thanh T, Lac Tri H, Nguyen Mark Minh Duy, Tran Jim T, Liebig Tina Tran, Duong Thanh X. Trong số này, có Đại Tá Lê Bá Hùng, là người gốc Việt đầu tiên giữ chức vụ Hạm trưởng của một chiến hạm Hải quân Hoa Kỳ. Những Đại Tá này, trong tương lai, sẽ được vinh thăng cấp Phó Đề Đốc, tương đương với cấp Tướng trong Bộ Binh. HQ Đại tá Dương Hữu Ngạn, Chỉ huy trướng Phi đoàn 116, trang bị phi cơ E-2 Hawkeye Radar tiền thám Carrier Airborne Early Warning Squadron 116. Ngoài các vị Đại Tá, còn rung Tá Tuyên uý Linh mục Đặng Văn Chín, Tuyên uý trưởng, Bộ chỉ huy yễm trợ tiếp vận Hài quân Hoa Kỳ tại Brahan, nguyên Trung uý Hải Quân VNCH. Trung tá Bác sĩ Hòang Ngọc Tuấn, nguyên Y sĩ trưởng trên Chiến hạm yễm trợ thuỷ bộ USS Peleliu LHA-5, hiện là hiện là Y sỉ trưởng tại Căn cứ Thuỷ quân lục chiến – Camp Penleton, San Diego.

Về Bộ Binh và Không Quân, người Mỹ gốc Việt cũng mang lại niềm hãnh diện lớn lao cho toàn thể dân tộc Việt Nam:

– Chuẩn tướng Lương Xuân Việt, Đại Tá Hùng Cao thuộc Bộ Binh.

– Đại tá Bác sĩ Không quân Huỳnh Trần Mylene, Giám đốc chương trình Y khoa Quốc tế Không quân Hoa Kỳ – Director of The Air Force International Specialist Program.

– Đại Tá Nguyễn Mạnh Hùng, Lực lượng duyên phòng, được giao trọng trách điều tra về vụ dàn khoan Deepwater Hirizon bị chìm làm tràn dầu vùng vịnh năm 2010.

– Trung Tá Thomas Nguyen, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 44, Lữ đoàn 108 Phòng không Lục quân, giúp huấn luyện và phát triễn Quân đội A Phú Hản.

– Trung tá Không quân Nhat Thomas Tran, thuộc Không đoàn viễn chinh 438 (438 Air Expeditionary Wing), giúp huấn luyện và phát triễn Không lực A Phú Hản.

– Đại tá Bác sĩ Không quân Paul Đoàn nguyên là Chỉ huy trưởng các Liên đoàn 332, 379 và 435 Quân y Không quân Viễn chinh, được thăng cấp Đại tá năm 2009. Hiện nay là Chỉ huy trưởng Personnel Reliability Program Quân y, Bộ tư lệnh Không quân Hoa Kỳ. Đại tá Paul Doan là một trong những Đại tá gốc Việt Xuất sắc, có thể được chọn thăng cấp Chuẩn Tướng Quân y Không quân.

Về Nha Khoa, có Nữ Hải Quân Đại Tá Nha sĩ Trần Ngọc Nhung, gia nhập ngành Nha khoa Hái quân Hoa Kỳ năm 1989 trước khi hoàn tất văn bằng Bác sì Nha khoa năm 1990. Được thăng cấp Thiếu tá năm 1996, Trung tá năm 2003, Đại tá năm 2009.

Hiện nay Đại tá Nhung đang phuc vụ tại Denbn Naval Dental Center Camp Pendleton, CA. Cùng làm việc với Đại Tá Nhung là Đại tá Nha sĩ Thu Phan Getka.

Nhưng có lẽ nhân vật đặc biệt nhất được báo chí Mỹ ca ngợi lạ lùng là Thiếu tá Elizabeth Phạm, người phụ nữ đầu tiên lái chiến đấu cơ F-18D Hornet của Quân chủng Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, là một loại phi cơ có động cơ đôi “supersonic”, được chế tạo để thi hành cả hai nhiệm vụ Xung Kích và Tấn Công (Fighter/Attack), bay tới vận tốc Mach 1.8 (1,190 mph hoặc 1,915 km/h ở độ cao 40,000 ft hoặc 12,190 m). Chiếc phi cơ này có thể mang nhiều loại bom và hỏa tiễn, kể cả “không đối không” và “không đối địa”, hỗ trợ bằng đại bác 20mm M61 Vulcan. Với số vũ khí khủng khiếp đó, từ khi được chế tạo đến nay, chưa có phi công nữ nào được chấp thuận cho điều khiển, trừ Thiếu Tá Elizabeth Phạm.

Những cấp dưới như Thiếu Tá, Đại Úy, chuyên viên Việt nam thì nhiều, không kể hết. Có những Luật Sư tình nguyện vào quân đội với cấp bậc Đại Úy hoặc Thiếu tá. Ngược lại, có những Đại Úy, sau khi giải ngũ, thì đi học Luật.

Hải Quân Thiếu tá Luật sư Phan Thanh Chinh Christopher, ngành Quân pháp Hải quân Hoa Kỳ – United States Navy Judge Advocate General’s Corps, Hội trưởng Quân nhân người Mỹ gốc Việt – VAAFA,hiện nay là Nghị Viên thành phố Garden Grove, California, đồng thời là Phụ Tá Biện Lý Quận Cam

– Thể Thao và Giải Trí:

Những thể tháo gia sau đây đã làm rạng danh người Việt hải ngoại trên đất Mỹ;

– Cung Lê (Lê Cung) sinh 1972, từng là Sanshou Kickboxer, hạng Trung Nặng, tại Ultimate Fighting Championship. Anh đã chiếm giải quốc tế, với 16-0, nghĩa là anh thắng cả 16 trận, không thua trận nào. Sau này anh đổi sang Mixed Martial Arts, đánh đủ kiểu. Trong trận đấu với Shamrock, đương kim vô địch Mixed Martial Arts, anh đã hạ Shamrock để chiếm giải vô địch Strikeforce Middle Weight Champion.

– Nam Phan-vô địch hạng lông đấu giải trong lồng MMA. Có nhiều trận thắng chỉ trong 18 giây đầu tiên. Điều đặc biệt, cũng như Cung Lê, anh luôn thủ trong người lá cờ Vàng Ba Xọc Đỏ trong người, để khi vừa thắng giải, anh bung lá cờ ra lồng lộng.

Ngoài ra còn những thể tháo gia khác cũng từng làm dư luận Mỹ chấn động:

– Amy Tran – hockey player.

– Catherine Mai Lan Fox – đoạt 2 huy chương vàng về bơi lội tại Olympic

– Danny Graves – cầu thủ football MLB

– Dat Nguyen – cầu thủ football NFL, huấn luyện viên đội Dallas Cowboys

– Howard Bạch, giải quốc tế về Cầu Lông.

– Jim Parque – Năm 1996, người nhặt banh bằng tay trái trong giải dã cầu tại Olympic và đã đoạt giải huy chương đồng tại Atlanta.

– Lee Nguyen, ngôi sao bóng đá.

– Văn Hóa, Văn Nghệ:

Sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của người Việt hải ngoại có phần rầm rộ. Hàng năm, vào dịp Tết ta, tại các thành phố đông người Việt cư ngụ đều có Hội Chợ Tết, lớn hay nhỏ, tùy số dân Việt cư ngụ tại đó. Nhưng có lẽ, chỉ tại miền Nam California, Hội Chợ Tết do Tổng Hội Sinh Viên tổ chức là hội chợ lớn nhất cho người Viêt tại Hoa Kỳ với hàng trăm ngàn lượt người tham dự. Các chương trình vui Tết được giới trẻ sinh viên dàn dựng được mọi người yêu thích, từ thi Thả Thơ, đến hát Quan Họ, hát nhạc dân ca. Ngay tại trung tâm, luôn luôn có thiết trí Đền Vua Hùng với các quan, lính trang phục cổ xưa là công trình hấp dẫn không những cho người Việt mà còn cho những người ngoại quốc đến tìm hiểu về văn hóa Việt. Những nghi thức cúng, chầu được lặp lại với hàng trăm sinh viên, học sinh trẻ khiến cho người ngoại quốc rất khâm phục. Điều làm cho cộng đồng đến với Hội Chợ Tết Sinh Viên nhiều là vì mục tiêu của Hội Chợ: Chia xẻ tiền lời với các hội đoàn, đoàn thể Quốc Gia. Mỗi năm, số tiền tặng lại cho cộng đồng lên đến gần $100,000,00.

Bên cạnh sinh hoạt hội chợ Tết, còn lễ giỗ Tổ Hùng Vương hàng năm, đã cuốn hút hàng ngàn người thuộc hai thế hệ đến dự. Tuy chưa có một ngôi đền thờ Tổ nào xứng đáng trên đất Mỹ, nhưng những buổi lễ giỗ Tổ Hùng Vương đã làm cho người Mỹ và các dân tộc khác cảm phục với tinh thần duy trì truyền thống và bảo vệ văn hóa Dân Tộc.

Về văn nghệ, ngay từ những năm sau 1975, trung tâm băng nhạc Thúy Nga Paris đã được hình thành để trình diễn những ca khúc quê hương, với các chủ đề đặc sắc như Vượt Biên, Saigon Huế Hà Nội, và các ca khúc về lính. Băng nhạc Thúy Nga được yêu chuộng trên khắp thế giới cho đến khi Thúy Nga Paris làm chủ đề “Mẹ” thì bị đồng hương phản đối bởi vì trong đó, có những nhạc cảnh có tính cách bôi lọ danh dự Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Trong vài bản nhạc, đạo diễn đã cho chiếu cảnh trực thăng miền Nam thả hỏa tiễn, bắn phá dân chúng đang chạy trốn chiến tranh, ngoài ra, còn hình tượng chim bồ câu đỏ gợi cho người tị nạn nhớ lại lá cờ máu của Cộng Sản. Khi cuộc biểu tình trước cửa tiệm Thúy Nga Paris tại Bolsa lên đến cao điểm, chủ nhân lúc đó của trung tâm băng nhạc này, ông Tô Văn Lai, đã phải lên tiếng xin lỗi đồng hương và cho sửa lại những đoạn xúc phạm đến tinh thần chống Cộng của người Việt hải ngoại.Vì lòng khoan dung và hay quên, nên sau đó, người Việt vẫn tiếp tục tìm đến các buổi trình diễn văn nghệ Thúy Nga rất đông, dù giá vé khá cao. Nhưng đến thập niên 2000, giá trị của băng Thúy Nga có phần giảm thiểu, không còn mang những chủ đề giá trị nữa, mà chỉ thuần túy là băng nhạc giải trí tầm thường với những bản nhạc và hình thức ca múa cũng tầm thường, trong khi trang phục của các diễn viên càng ngày càng thiếu kín đáo. Khán giả từ từ bỏ rơi băng Thúy Nga nhất là sau này, khi Trung tâm băng nhạc Thúy Nga âm thầm đổi chủ cho các chủ nhân là các đại gia ở Việt Nam. Một Youtube từ Việt Nam, (không rõ thành phố nào), phát năm 2014, cho thấy hình ảnh của một dinh thự nguy nga mới được xây dựng với cổng chào lớn đề chữ “Thúy Nga Paris”, và bên trong, một nhà hội cũng có bảng hiệu: “Paris By Night”, và cuối cùng là hình hai vợ chồng trẻ, chủ nhân của ngôi biệt thự đó.

Ngược lại, bên cạnh đó, trung tâm băng nhạc Asia vẫn luôn duy trì tinh thần chống Cộng cao độ với các băng thuần túy về quân đội, về quê hương. Tuy thành phần ca, nhạc sĩ của Asia đa phần là giới trẻ và không nổi tiếng như các ca sĩ bên Thúy Nga, nhưng công đồng vẫn luôn yêu thích vì lập trường chính trị dứt khoát này. Hợp tác với trung tâm Asia từ những ngày đầu, có Nhạc Sĩ, Ca Sĩ Việt Dũng, một thiên tài âm nhạc có tâm hồn yêu nước cao độ và nghệ sĩ Nam Lộc cùng với Leyna Nguyễn, xướng ngôn viên của đài truyền hình Mỹ, đã đem lại cho đồng hương những cảm tình đặc biệt, không thay đổi.

Ngoài ra, còn có Trung Tâm Băng Nhạc Vân Sơn và một số trung tâm khác không nổi tiếng, chuyên trình diễn loại nhạc thu hút giới khán giả bình dân. Những loại băng nhạc này không đạt được tầm cỡ như Thúy Nga Paris hay Asia nhưng cũng là những nét chấm phá đặc biệt của người Việt hải ngoại.

-Báo chí, truyền thanh, truyền hình.

Sinh hoạt báo chí của người Việt trên đất Mỹ khá rầm rộ. Những năm mới di tản, hai tờ báo tuần đầu tiên bằng tiếng Việt trên đất Mỹ là Hồn Việt và Thời Báo. Sau đó, môt loạt báo khác ra đời: Văn Nghệ Tiền Phong, Tay Phải, Vì Dân, Mai, Mới, Saigon Nhỏ…Tờ Người Việt ở California, mới đầu ra 1 tuần 1 lần, sau tăng lên thành Nhật Báo, ra hằng ngày. Tờ nhật báo đi tiếp theo là tờ Việt Báo Kinh Tế, và Viễn Đông, tổng cộng có 3 tờ báo hằng ngày, đều ở California, chiếm một số độc giả khá lớn. Mỗi tờ có từ 10,000 đến 15,000 số. Từ những năm sau, với số người đến Mỹ trong các đợt 1979, rồi 1990, rất đông đảo, nhiều báo tuần, báo tháng (nguyệt san) thi nhau ra đời, trong số đó có tờ Thế Giới Mới ở Texas có số lượng độc giả đông đảo.

Hiện nay, hầu hết các báo đều phổ biến trên Internet, nếu tính cả các báo vừa điện tử vừa báo giấy, người Việt trên đất Mỹ đã ra rất nhiều báo:

Báo Cali Today, Saigon Nhỏ, Sóng Biển, Trẻ Online, Cánh Én, Chân Lý, Chính Luận, Chúa Cứu Thế, Công Giáo Việt Nam, Dân Việt Dallas, Dân Việt Houston, Diễn đàn Thế Kỷ, Hải Ngoại Phiến Đàm, Mạch Sống, Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, Lên Đường, Ngày Nay, Người Việt Boston, Saigon Times, Việt Dallas, Viêt Tribune, Việt Vùng Vinh, Việt Nam Human Rights, Tiểu Thuyết Tuần San…

Bên cạnh những tờ báo này, còn nhiều tờ báo không có phẩm chất cao. Có những báo chỉ chuyên đăng quảng cáo và các tin nhảm, mà đồng hương gọi là báo “lá cải” hay “báo chợ”, nghĩa là in xong, thì đem đến các chợ, vất ở dưới đất, tặng không cho người đi chợ. Năm 2000 trở đi, hầu như ở Tiểu Bang nào có người Việt nhiều là có báo tuần. Điều đáng nói là có nhiều chủ báo không hề học qua một chương trình làm báo nào, cũng như không từng có kinh nghiệm làm báo, nên thiếu tư cách đạo đức báo chí. Có báo chỉ lấy chuyện chửi bới, mạ lị người khác hoặc tung tin vịt để câu khách. Có những tờ báo viết sai văn phạm be bét, hình ảnh tục tĩu. Rồi báo nọ chửi báo kia, dành độc giả với văn phong hạ cấp, chụp mũ linh tinh, khiến cho đồng hương mất phương hướng, không còn biết tin ai nữa. Nhiều người nhặt báo về để gói hàng hay để nhồi nhét vào các thùng quà gửi về Viêt Nam. Nhưng theo luật đào thải, những tờ báo lá cải, nội dung kém cỏi, từ từ tàn đi. Cùng thời gian ấy, lợi dụng sự Tự Do của nước chủ nhà, một vài tờ báo bắt đầu tuyên truyền cho Cộng Sản. Tờ Việt Weekly ở thành phố Garden Grove, Quận Cam, mới đầu còn chủ trương chuyên viết “scandal” của đồng hương, gợi sự tò mò của người Việt để lấy độc giả nhưng dần dần đã lộ bộ mặt thật là quảng cáo cho Cộng Sản với những bài phỏng vấn Chủ Tịch nước, Thủ Tướng, Bộ Trưởng, Lãnh Sự Cộng Sản, rồi công khai vinh danh những hoạt động của Cộng Sản ở nước Mỹ. Nổi giận với việc phản bội cộng đồng này, hàng loạt các cuộc biểu tình đã diễn ra trước nơi làm báo Việt Weekly. Các tổ chức chống Công lên đài phát thanh, viết thông cáo trên báo chí, yêu cầu đồng hương không mua và không phổ biến báo Việt Weekly nữa. Từ đó, tờ báo này chìm dần, rồi biến mất trên thị trường. Nhưng không chịu thất bại, tờ báo Việt Cộng Việt Weekly này chuyển sang làm truyền hình trên Net: Phố Bolsa Tivi, chỉ chiếu những chương trình lăng nhăng, ghi chép lại các lần phái đoàn Việt Weekly về Việt Nam, liên lạc với giới chức Cộng Sản. Môt cây viết nhảm trong băng đảng này, Nguyễn Phương Hùng, đã quỳ xuống đất, khóc lóc, năn nỉ Cộng Sản xin tha tội. Các khúc phim này được đưa lên Youtube làm đồng bào phẫn nộ vô cùng.

Về sinh hoat Radio cũng nở rộ tại nhiều tiểu bang. Hầu như mỗi tiểu bang cũng có vài đài phát thanh. Cũng như sinh hoạt báo chí, nhiều đài phát thanh kém phẩm chất, chỉ chuyên phê phán cộng đồng, chụp mũ, và chửi bới lẫn nhau. Vì trình độ làm đài phát thanh kém cỏi, nên các đài lôm côm như thế này không tồn tại lâu. Hiện nay, ở California, chỉ có đài Little Saigon, lâu đời nhất, phát thanh mỗi ngày 14 tiếng, là quảng bá rộng nhất và được tin tưởng nhất vì nhiều chương trình rất trí thức, có nội dung tốt, và chống Cộng rất khoa học. Đài Little Saigon có cơ sở thứ hai ở San Jose, với nữ danh ca Mai Hân đảm trách được rất nhiều người yêu mến. Được đánh giá cao thứ hai là đài Radio Bolsa do ca, nhạc sĩ Việt Dũng và Minh Phượng điều khiển, phát sóng 6 tiếng một ngày, cũng có các tiết mục chính trị cũng như giải trí sôi nổi. Thứ ba là đài Saigon Radio Hải ngoại phát mỗi ngày từ 5 tiếng đồng hồ, được nhiều người theo dõi với chương trình giải đáp thắc mắc về gia đình và xã hội. Ở Dallas, Texas, đài Saigon Viêt Nam cũng phát triển khá lớn, đặc biệt là có chương trình Từ Cánh Đồng Mây do một cựu phi công, nghệ sĩ Phan Đình Minh, chủ trương, chuyên nói chuyện với Dân Oan ở Việt Nam, được phát sóng đi Houston, Dallas và các vùng phụ cận, và được đồng hương yêu mến vì tính chất chống Cộng rất khoa học và trí thức của đài.

Về truyền hình, từ trước thập niên 2000, có những chương trình ngắn trung bình một tiếng đồng hồ, như đài của Họa Sĩ Lương Văn Tỷ và một đài của Mỹ, nhưng do bà Nam Trân điều hành. Đến đầu thập niên 2000, đài phát hình đầu tiên liên quốc gia SBTN (Saigon Broadcasting Television Network) 24 giờ mỗi ngày, là bạn đồng hành với trung tâm Asia, đột nhiên ra đời, làm thay đổi nhiều sinh hoạt cộng đồng. Mặc dù phải trả một lệ phí xem đài hơn $30.00 một tháng, đồng hương Việt vẫn ghi danh để xem vì ngoài mục tin tức cập nhật mỗi 12 tiếng, còn chiếu phim Tầu, phim Việt Nam, và các tiết mục văn nghệ và chính trị khác. Trong năm đầu tiên, đài SBTN đã phải vất vả giữ làn sóng của mình vì có ít người chịu trả tiền cho việc xem truyền hình nhất là phải chuyển qua hệ Cable. Nhưng chỉ sau một năm, đài đã đổi sang hệ thống Direct TV, với sự trợ giúp của hệ thống Viet Satelline chuyên giúp nối mạng cho khác hàng, đài đã vươn lên mạnh mẽ. Năm đầu, chỉ có khoảng 700 người ghi danh, đến năm thứ ba, đã có hơn 70,000 khách hàng tại Mỹ và Canada.

Tiếp đến là đài cũng 24 giờ và phát xuyên quốc gia là đài VHN do Nghệ sĩ Quốc Thái và một chủ nhân rất trẻ, Bruce Trần điều hành. Đài VHN cũng có nhiều chương trình giá trị, được khán giả nhiều tiểu bang trả tiền để theo dõi, nhưng vì một “scandal” giữa Quốc Thái và Bruce Trần, hai bên đưa nhau ra tòa, kiện đòi chủ quyền, nên khán giả cũng chán nản và bỏ bớt. Nhận thấy đây là cơ hội để phát triển ngành truyền hình toàn quốc, một số chủ nhân của đài phát thanh Little Saigon Radio đã thành lập ra đài Truyền Hình Hồn Việt, phát sóng trên 50 tiểu bang. Dần dần, đến những năm 2010, liên tiếp nhiều đài truyền hình phát hình trên băng tần địa phương, 24 giờ mỗi ngày mà miễn phí thi nhau mọc lên, khiến cho sinh hoạt báo chí và truyền thanh bị mất đi rất nhiều độc giả và thính giả. Nhiều tờ báo phải đóng cửa. Các nhật báo bị giảm số trang. Đài phát thanh Little Saigon Radio, trước phát sóng 24 giờ một ngày, sau giảm xuống chỉ còn 14 tiếng một ngày.

Qua đến phương diện sách truyện, các tác phẩm đủ loại từ văn chương, triết học, chính trị, thơ đến xem bói cũng liên tục được phát hành. Tuy nhiên, vì thời gian rảnh rỗi ở Mỹ cũng hiếm, và vì có nhiều điều phải giải quyết theo thời hạn ấn định, nên số độc giả đọc sách không nhiều. Nhiều nhà văn, nhà thơ, vốn dĩ mang cái nghiệp “viết lách” nên vẫn cố gắng in sách, bất chấp kết quả không khá về tài chánh. Có nhiều người mang nợ vì in sách. Những buổi giới thiệu sách, mà người ta hay nói sai là “Ra Mắt Sách” thường ít người đến dự, trừ một hai cuốn đặc biệt liên hệ đến chính sử, như cuốn “Khi đồng minh tháo chạy” của nguyên Bộ Trưởng kế Hoạch Nguyễn Tiến Hưng, tổ chức tại miền Nam California, có trên 300 người tham dự và cổ võ nồng nhiệt. Còn lại đa số các cuốn khác đều nhận số phận hẩm hiu, có lần giới thiệu sách chỉ có tối đa là 20 người. Thảng hoặc mới có tác giả được đồng hương quý mến, thì số người tham dự là khoảng trên 200, như hai cuốn “Chuyện Tình Lá Me” và “Ngày Tận Thế”. nhưng số sách bán được thì đôi khi chỉ đủ chi phí cho việc in sách và tổ chức giới thiệu sách mà thôi.

Một điều rất hãnh diện cho cộng đồng Viêt là các trường học Việt Ngữ được mở nhiều nơi, tại các Chùa, và Nhà Thờ Công Giáo, lúc nào cũng đầy học sinh, từ mấy cháu bé mới học vỡ lòng đến các thanh niên Nam, Nữ muốn học tiếng quê cha đát tổ để hiểu biết hơn về lịch sử nước nhà. Các chương trình dậy Việt Ngữ này được đồng hương tán thành nồng nhiệt, vì đã giúp cho hai thế hệ 1 và 2 được đối thoại với nhau, không như trước đây, khi thế hệ thứ 2 ra đời, chuyên nói tiếng Mỹ, và bỏ nói tiếng Việt với gia đình, bố mẹ, và ông bà, khiến cho việc cảm thông giữa cha mẹ và con cái bị bế tắc.

– Võ Thuật.

Sau một thời gian ổn định việc làm, việc học chữ, nhiều Huấn Luyện Viên Võ Thuật đã cố gắng mở các lớp dậy võ để truyền bá tinh hoa của võ thuật cho các thế hệ sau để tự vệ cũng như để tạo môt tinh thần tráng kiện cho các thanh niên nam nữ. Các môn thịnh hành nhất là Karate, Tae Kwon Do, Hapkido, Judo, Vô Vi Nam và nhiều môn phái võ dân tộc khác, nhưng có lẽ môn võ thành công nhất với nhiều võ sinh nhất, cũng như mở trường sớm nhất là Aikido do Giáo Sư Đặng Thông Phong làm Giám Đốc. Giáo Sư Đặng Thông Phong cũng là một trong lớp người tiền phong, tạo tiếng vang quốc tế về võ thuật Việt Nam. Ông là người Việt duy nhất được bầu vào “Hall Of Fame” của International Martial Arts Association, có giá trị tương đương như một Hàn Lâm Viện Võ Thuật Quốc Tế. Hiện nay, ông đại diện cho Liên Đoàn Aikido Tensinkai, và vẫn được mời đi biểu diễn, dậy võ cho các đại võ sư quốc tế.

Tại miền Nam California, với sự tập hợp đông đảo các chưởng môn nhân, các đại võ sư, và các võ sư khác đến từ Việt Nam qua các đợt di tản, đinh cư và tị nạn, đã thành lập được một tổ chức lấy tên là “Tổng Hội Phát Triển Võ Thuật Viêt Nam Thế Giới.” Tổng hội có nhiều sinh hoat nóng trên các địa bàn, tổ chức Biểu Diễn, Văn Nghệ đón Xuân hay Tất Niên.. Một điều hãnh diện cho dân tộc là môn phái Vô Vi Nam, đặc biệt của Việt Nam, đã được quốc tế chú ý và cho thi đấu cỡ quốc tế. Thường là các môn sinh Vô Vi Nam đều thắng giải vô địch. Niềm hãnh diện lớn nhất của người Việt hải ngoại là hai nhà vô địch Cung Lê và Nam Phan.

Cung Lê cư ngụ tại San Jose, California. Anh là người Việt Nam nổi tiếng nhất trên thế giới với 3 lần đoạt giải Quốc Tế Wushu, Vô địch thanh niên California, Vô Địch nhiều giải quốc gia, 3 lần vô địch Kickboxing, Vô địch Strikeforce hạng trung nặng. Ngoài ra, Cung Lê còn đóng phim tình báo, hoạt động. Tên tuổi Cung Lê được thấy trong tất cả các tạp chí về Võ Thuật Hoa Kỳ. Điều đặc biệt là Cung Lê luôn mặc quần đấu có mang cờ Việt Nam Cộng Hòa.

Nam Phan, 135 lbs, từng vô địch hạng nhẹ, cư trú tại Quận Cam, California. Anh đã thắng 18 trận Knock Out, so với 12 lần thua điểm, có những trận anh thắng nội trong 18 giây đầu tiên. Cũng như Cung Lê, mỗi lần thắng, anh đều phất cờ Việt Nam Cộng Hòa trên võ đài.

Hai nhân vật võ thuật này đã đem lại cho dân Việt Nam những niềm hãnh diện lớn lao.

3-NHỮNG ĐIỂM YẾU CẦN THAY ĐÔI

Như tất cả những sắc dân khác đã sinh sống tại nước Mỹ cả trăm năm trước, người Việt di tản hay định cư đều vấp phải môt vấn nạn tâm lý gây ra bởi sự va chạm văn hóa. Từ một xứ sở Việt Nam với nhiều phong tục, tập quán Á Đông, sang một xứ sở Mỹ Châu có những phong tục, tập quán hoàn toàn khác lạ, người Việt đã mất đi sự tự tin và phần lớn lòng tự trọng sẵn có, để cố gắng hòa nhập vào thế giới mới. Những người có trí thức, hiểu biết cao thì biết lựa những điều hay của thiên hạ làm của mình, và từ đó, tiến lên việc hội nhập một cách thoải mái. Trái lại, với người thiếu sự học hỏi về quy luật xã hội, thì trở thành một trong hai giai cấp mới: Giai cấp xấu, lợi dụng những dễ dãi của xã hội mới mà làm bậy; giai cấp nhút nhát, luôn co mình vào trong vỏ ốc của mình, mặc cho đời đưa đẩy, lúc nào cũng sợ hãi sự va chạm văn hóa. Nhiều trường hợp thương tâm đã xẩy ra chỉ vì không hiểu biết quy luật xã hội của nơi mình định cư. Thí dụ như có nhiều vị ông, bà, cha, mẹ bị tù vì tội “sexual harassment” hay “child abuse” chỉ vì thương con, cháu quá mà hôn hít bộ phận sinh dục của trẻ nhỏ, hoặc vì cạo gió cho con, để cho cô giáo thấy mà gọi cảnh sát. Một người mới qua, khi quét dọn garage, đã bồng đứa bé, bỏ trong một cái thùng giấy để tiện làm việc. Người hàng xóm Mỹ trông thấy, gọi ngay 911. Bà mẹ bị cảnh sát phóng tới, thẩm vấn và định nhốt bà mẹ này, nếu không có người thông dịch đúng lúc.

Một giáo sư piano, vì quen đứng đàng sau, ôm vai học trò, mà bị cha mẹ thưa ra tòa, bị án tù vài năm. Quen vỗ mông con nít cũng bị nhốt. Gặp trẻ em ngoài công viên, giơ tay bẹo má làm quen cũng bị tù. Đi chợ trời mua đồ, để túi đồ tòng teng đụng chạm vào mông một phụ nữ, bị cảnh sát cho ticket! Lái xe quá chậm trên đường có giới hạn 45 mile, cũng bị phạt. Đi bộ băng qua đường không ở trong lằn vạch, bị phạt $50.00. Mở máy nhạc lớn trong khu apartment, bị đuổi…

Trong khi đó, nhiều kẻ xấu đã lợi dụng kẽ hở của các chương trình trợ cấp của chính phủ mà làm giầu:

– Nhận Medical, trợ cấp Housing, và trợ cấp tiền mặt cho gia đình nghèo rồi đi làm tiền mặt, làm giầu, rồi mua nhà hàng, làm chủ chợ, trong khi vẫn nhận trợ cấp chính phủ. Dùng Medical mua thuốc trụ sinh để đổi lấy tiền mặt của các chủ Pharmacy gian lận. Dùng Food Stamp đi mua đồ xa xỉ. Có người giả “điên” để được tiền bệnh, tiền mặt, và medical. Vào khoảng 1995, một vụ đổ bể trong một tiểu bang miền Bắc về Medical và Cash support làm xấu hổ cho cộng đông nhiều nhất, đó là vụ một cặp vợ chồng lãnh tiền trợ cấp đều đặn nhưng lại làm chủ một nhà hàng lớn ngoài phố, và sống trong một biệt thự to lớn. Khi bị bắt còng tay đưa ra khỏi cồng, người chồng trung niên còn nhe răng cười với các ký giả chụp hình.

– Giới Luật Sư cũng gây nên nhiều chuyện tai tiếng như chế ra các vụ đụng xe giả mạo để lấy tiền bồi thường. Tai nạn nhỏ biến thành tai nạn lớn. Lừa gạt đồng hương qua những vụ kiện, khai khống tiền giờ cho những việc chẳng bao giờ thực hiện. Nếu thấy thân chủ nhà quê, nhà mùa, thì phán loạn để thân chủ “tẩu hỏa nhập ma” mà trả tiền cho những dịch vụ dỏm. Chỉ viết một lá thư đòi tiền nợ trong 5, 7 phút, mà tính cả vài ngàn đôla. Luật sư vô luật pháp thường có liên lạc với các Bác Sĩ Chỉnh Xương để nhận “kich back”, khi Bác Sĩ Chỉnh Xương tạo ra hồ sơ giả mạo, làm tiền các hãng bảo hiểm.

– Về tài chánh cũng có rất nhiều mánh khóe để gạt đông hương. Năm 1990, tại Thủ Đô Tị Nạn, một công ty có tên là Continental tổ chức gom tiền của các cụ già ham lợi, qua chương trình có lãi 10% một tháng, sau đó thì bốc hơi, làm các cụ già cay đắng, không thể báo cảnh sát được vì nếu báo cảnh sát thì lại mất tiền trợ cấp vì làm sai pháp luật khi lấy tiền già để đầu tư. Ngoài ra, còn nhiều chương trình Kim Tự Tháp (Pyramid Scheme hay Ponzi) do người Việt tạo ra để giật tiền đồng hương. Chương trình này đặt tên theo Charles Ponzi, vào năm 1920, đã tổ chức lừa gạt cả triệu người Mỹ, thu vào hàng trăm triệu đô la vào thời điểm đó. Từ việc bán máy lọc nước, bán dao, bán đồ Make-up, đến bán chứng khoán giả (fraud multifunded) và bán bảo hiểm nhân thọ dỏm (fake life insurance), các tổ chức này đã lừa gạt cả chục ngàn người Việt, thu tiền của họ rồi bốc hơi, không để lại dấu vết gì. Một số chuyên viên thuế vụ cũng tìm cách trốn thuế giùm cho thân chủ để nhận hoa hồng. Khi bị đổ bể, người làm thuế bị phạt $250,000 và tù 6 tháng. Người muốn trốn thuế thì bị phạt cả triệu đô.

– Về Sở Xã Hội, nhiều cán sự hống hách với thân chủ đến xin trợ cấp và chỉ tìm cớ để đóng hồ sơ trợ cấp của họ, để đạt chỉ tiêu của Sở là càng ít người xin tiền, càng có lợi cho Sở.

– Trong giới Y Khoa, có một thiểu số bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ vô lương tâm, cứ ghi bừa bãi số người đến khám bệnh để lấy tiền Medical, có bác sĩ khai tới hơn 100 bệnh nhân một ngày! Không khám bệnh, cũng ghi vào hồ sơ là khám bệnh để lấy tiền chính phủ. Không chụp phổi, siêu âm, thử máu.. cũng ghi vào biên bản. Một bác sĩ thẩm mỹ cũng ở California khuyến khích thân chủ đi làm đẹp bằng tiền Medical,rồi biến hóa thành trị bệnh kinh niên. Có bác sĩ chứng nhận bệnh tâm thần cho người khỏe mạnh để lấy tiền hoa hồng. Dược sĩ bất lương thì quảng cáo khuyến dụ các thân chủ mang “toa” lại để cho quà hay tiền mặt. Mỗi một “toa” được $10.00. Chủ dược phòng làm toa trụ sinh giả mạo, để mang thuốc về Việt Nam bán lấy lời gấp 10. Có chủ dược phòng bán thuốc “control” tức là các loại thuốc gây nghiện, có chất morphin cho kẻ nghiện xì-ke. Một dược sĩ ở San Diego bị phạt tù và bị đóng cửa tiệm vì tình trạng dơ bẩn trong tiệm, dán, chuột chạy tứ tung, thuốc để vô tổ chức. Nha sĩ chữa răng chỉ “cleaning tooth” mà tính là mổ răng, chữa lợi. Không cần mổ lợi, cũng khuyến cáo là “cần mổ lợi, nếu không thì hư toàn bộ răng”, rồi đẩy qua bạn bè mổ giả, để nhận tiền “kick back”. Vì thế, giới y, nha, dược sĩ làm giầu chỉ trong vài năm, mua biệt thự, du thuyền đắt giá. Nhưng “thiên bất dung gian”, riêng ở California đã có những lần 50 vị Bác sĩ bị bắt một lượt, 20 tiệm thuốc tây bị đóng cửa, dược sĩ bị mất bằng. Bên nha sĩ thì kín đáo hơn, ít bị mất bằng và ở tù, chỉ phải bồi thường tiền gian lận đến cả Triệu đô la.Những vụ bê bối này, khi được tung ra trên diễn đàn quần chúng, làm cho cộng đồng cảm thấy xấu hổ khi gặp người Mỹ hoặc các sắc dân thiểu số khác. Nói chung, trong các giới trí thức, được xã hội kính trọng, thành phần nào cũng có người tốt và người xấu. Chỉ khi Luật Pháp trừng trị thì những kẻ mê tiền bất lương mới chịu ngưng hành động vi phạm luật pháp

– Về các cơ sở dịch vụ, nhà hàng cũng không phém phần xấu. Thợ sửa xe thì “vẽ” chuyện để chém đẹp bà con. Thợ điện, thợ ống nước, xây cất nhà cửa.. đa số đều vẽ hươu vẽ vượn để móc tùi đồng hương. Có nhiều trường hợp, chủ thầu xây cất nhận tiền xây nhà xong là trốn mất. Có người sửa dở dang rồi bỏ chạy. Cơ sở bán vé máy bay thì đưa vé giả. Bán bảo hiểm giả. Khi nhận tiền đóng góp cho hậu sự thì nói số tiền lớn, khi chi trả cho thân nhân người chết thì cắt xén…Việc gì cũng có thể giả, có thể lừa gạt nhau. Cho nên, với những người Việt ở lâu năm trên đất Mỹ thường e dè hoặc rất thận trọng khi liên lạc với các dịch vụ do người Việt làm chủ.

– Dần dần, các tội ác do người Việt gây ra cũng xuất hiện trên các phương tiện truyền thông. Các băng đảng trộm cướp, giết người đã hình thành. Nổi tiếng dữ dội nhất là băng “Born to Kill” do một số thanh thiếu niên xa gia đình thành lập, để thanh toán băng đảng khác hầu chiếm độc quyền buôn bán ma túy, rồi bắn giết lẫn nhau giành chức đảng trưởng. Một vụ cưỡng hiếp tập thể gái vị thành niên đã đưa 4 thanh niên lên ghế điện, vài vụ bắt cóc, tống tiền, một vụ bắt con tin trong chợ do 2 anh em ruột chủ trương, lôi kéo thêm hai người nữa, đã làm dư luận cả thế giới xôn xao. Vài vụ đòi tiền “bảo kê” nổ lớn. Rồi “sexual harassment”, cướp cạn, giết người, bắn chết người rồi tự tử… cứ lần lượt xẩy ra, làm cho một số người Mỹ đã sẵn kỳ thị lại còn kỳ thị thêm với người Việt Nam.

– Từ khi mạng lưới Internet được phổ biến với những người Việt Nam, thì một hiện tượng vô cùng xấu xa đã xẩy ra, là một số người lợi dụng quyền Tự Do Tư Tưởng, Tự Do Phát Biểu của nước Mỹ mà viết lên mạng tất cả những gì mình nghĩ đến, không cần biết những điều đó có đụng chạm và làm hại đến danh dự của ai. Dần dần, Email biến thành một bãi rác cho kẻ xấu tha hồ vung vãi những điều kinh dị, bẩn thỉu, để bôi lọ lẫn nhau, chụp mũ cho nhau… Tuy những điều bôi lọ đó không làm ảnh hưởng đến sinh hoạt thường ngày của người bị chụp mũ, nhất là với những người công chính, nhưng cũng khiến cho họ bực bội, tức giận, hoặc trả đòn bằng những lời lẽ bẩn thỉu hơn, hoặc chán nản, xa lánh cộng đồng, không muốn phục vụ hay cộng tác với các công tác của cộng đồng nữa.. Từ đó, công cuộc đấu tranh giành Tự Do cho Việt Nam dần dần thiếu hiệu quả.

Cũng từ Email và Internet, điều thất bại lớn liên quan đến tư tưởng của người Việt ở Mỹ: Sự mất đoàn kết.

Từ những năm đầu định cư, người Việt ở khắp nơi trên nước Mỹ đều mong muốn có một tổ chức đại diện chính thức cho người Việt hải ngoại, và đã cố gắng thành lập các tổ chức Cộng Đồng, cũng như các tổ chức ái hữu, từ ái hữu đồng hương, đến ái hữu quân đội, ái hữu học đường… Mỗi khi có một tổ chức ra đời, người Việt đều xôn xao chờ đợi một thay đổi đáng kể trong sinh hoạt cộng đồng, hầu đại diện cho người Việt di tản mà đối phó với Cộng Sản, giải cứu dân tộc và đất nước ra khỏi bàn tay kìm kẹp của đảng Cộng. Tuy nhiên, một hiện tượng lạ lùng đã xẩy ra trong hầu hết các hội đoàn, ban đại diện cộng đồng: đó là sự chia rẽ, tranh dành chức chưởng một cách kiên quyết. Trừ các hội Ái Hữu Sinh Viên là những hội gồm các thanh niên nam nữ trẻ trung, đầy nhiệt huyết và có trí thức cao, thì hầu như không có trục trặc gì, còn tất cả các tổ chức khác đều vấp phải vấn nạn chia rẽ trầm trọng. Từ hội ái hữu học sinh như Chu Văn An, Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt, Petrus Ký, và các hội ái hữu các trường tỉnh, đến hội ái hữu quân, binh chủng, đến các tổ chức Cộng Đồng hay Tôn Giáo đều trải qua những giai đoạn phân rẽ làm hai, hay làm ba. Những người chia rẽ lợi dụng sự phát triển của Email và Internet như một phương tiện để hạ đối phương. Lời đầu thì nhẹ, lời hai thì nặng hơn, dần dần, các tổ chức có cùng tôn chỉ đâm ra chống đối nhau cực kỳ hung bạo còn hơn đánh Cộng Sản nữa. Các chiến dịch chụp mũ, mạ lị được tung ra trên Email, báo chí, truyền thanh, và thư rơi. Đôi khi căng thẳng đến nỗi có những cuộc biểu tình chống đối lẫn nhau trước một cơ sở cộng đồng, kéo dài liên lỉ hàng tháng trời. Tại San Jose, California, có thời gian, nhóm A biểu tình liên tuc cả tháng trời trước trụ sở của nhóm B làm xáo trộn sinh hoạt của cả thành phố.. Cả hai bên đều phất cờ vàng, đều có những câu châm ngôn chống Cộng, nhưng mục tiêu thì khác nhau, người đóng vai Chủ Tịch khác nhau. Bên nào cũng coi mình là chính nghĩa. Từ đó, không từ một phương tiện nào, thủ đoạn nào để tung ra tấn công đối phương, có khi còn hăng say hơn là chống Cộng Sản khiến cho những cuộc thảo luận tại tư gia cũng phải giảm thiểu tiếng nói, biến thành sầm xì, như trong những phim Gián điệp. Ai cũng sợ bị cho lên mạng mà phỉ báng. Đáng buồn hơn nữa là tiếp theo các chiến dịch chụp mũ đối phương là chiến dịch thưa kiện. Nhiều tổ chức cộng đồng đưa nhau ra trước Tòa Án để đòi được minh định ai là chính danh, ai là kẻ khủng bố cộng đồng. Nhiều vụ kiện thưa đã đem lại cho cộng đồng những nỗi đau buồn, xấu hổ, vì cả hai bên đều chứng tỏ mình là chính danh, nhưng thực tế, cả hai bên đều là những người hám danh, hám lợi, quên cả danh dự dân tộc. Vài vụ chụp mũ đã được Tòa Án dành cho những bản án nặng nề: Vụ Duy Sinh Nguyễn Đức Phúc Khôi, chủ tờ báo Việt Nam Tự Do ở California, bị tòa phạt 16 triệu đô la vì tội mạ lị một cá nhân liên tục trong nhiều năm tháng dài. Vài vụ khác cũng bị phạt từ $200,000,00 đến $1,000,000.00. Tuy nhiên, các bản án phạt nặng nề như thế cũng chưa ngăn chặn được nạn người Việt chụp mũ lẫn nhau. Cho đến thời điểm hiện tại, năm 2014, trên mạng Internet, vẫn còn những bài viết mạ lị tục tĩu, chửi bới rất vô giáo dục, làm cho bất cứ ai đọc đến cũng phải đỏ mặt, tức giận.

Nói chuyện với một số thương gia về các hoạt động không lành mạnh của người Việt, ai cũng biết vụ Mặt Trận. Được thành công sớm, giới thương gia vẫn có lòng hướng về đất nước và mỗi khi có lời kêu gọi đóng góp cho Việt Nam, họ sẵn sàng đóng góp tối đa. Nhưng rồi vì bị lừa gạt vài lần, họ đã lơ là với công cuộc chống Cộng. Chẳng hạn như việc đóng góp cho nhóm Mặt Trận Hoàng Cơ Minh. Số tiền đóng góp này khá lớn, nhưng không ai được biết tổng số là bao nhiêu, chỉ biết là sau một thời gian hoạt động, nhiều tin động trời loan ra là có sự tranh chấp những số tiền lên đến bạc triệu. Một vài người từng gia nhập Mặt Trận đã tách ra và làm đơn kiện những người còn lại, làm mất lòng tin của người hải ngoại vào những chiến dịch đấu tranh chống Cộng. Lúc phong trào còn thịnh hành, mỗi sáng cuối tuần, có những người cầm hộp tiền đứng gần chợ, gần chỗ người Việt hay tụ họp mà xin tiền đóng góp, và rất ít người từ chối, bỏ vào hộp $5, $10…Có người góp cả $100.000 cho Mặt Trận. Và rồi, sau những kiện cáo, tố cáo đích danh nhau trên báo chí, truyền thanh, với con số nhiều triệu đô la các sinh hoạt cộng đồng đi vào chỗ tách ra nhỏ lẻ, không còn mấy người tin nhau, không có một Mặt Trận, Tổ Chức nào có thể nắm được đa số cả. Tổ chức nào mạnh nhất cũng chỉ được một, hai trăm người là tối đa. Dĩ nhiên, các cuộc gây quỹ chính đáng cũng bị giới hạn bởi các cặp mắt nghi ngờ. Đoàn kết giữa các cộng đông hay trong các hoạt động chống Cộng bị tan vỡ.

Ngoài ra, một điều thường xẩy ra mà ai cũng nghe được từ tất cả các người Việt trên đất Mỹ, là chuyện khuynh hướng về quê cưới vợ càng ngày càng nhiều, càng công khai, lộ liễu. Việt Kiều trên 70 cũng có thể lấy được vợ 25, 30.. chấp nhận chênh lệc tuổi tác cả ba thế hệ. Điều này đã hủy diệt đi di sản Văn Hóa Việt Nam từ bao thế kỷ nay là “tôn sư, trọng đạo”, rất nguy hiểm cho tinh thần của giới trẻ, đồng thời gây ra bao cảnh cười ra nước mắt hoặc tang thương.

Nhưng điều làm cho những người Việt yêu nước Việt lo ngại nhất chính là sự gửi tiền về Việt Nam ồ ạt. Hàng năm, người Việt đổ tiền về quê từ 7,8 tỉ đô la, đủ để cho dân nghèo không phải đi làm trong cả năm mà vẫn sống sung túc. Nhưng, thực tế, đa số tiền khổng lồ này lại lọt vào túi của các đảng viên Cộng Sản, còn người nghèo chỉ hưởng những số tiền lẻ mà thôi. Các đảng viên cao cấp của Đảng, đứng làm chủ các cơ quan chuyển tiền, nhân cơ hội rửa tiền hợp pháp, lấy tiền ăn cướp của dân giữ trong các Ngân Hàng Việt Nam, trao lại cho dân qua việc người thân ở Mỹ gửi quà về, rồi lại nhận tiền của Việt Kiều ở Mỹ để mở các trương mục lớn, dành cho quan chức Cộng Sản mở thương vụ ở Mỹ, mua nhà bằng tiền mặt, và dành cho việc tạo “bãi đáp an toàn” cho cốt cán Cộng Sản môt khi mà chế độ sụp đổ. Với số tiền hàng tỷ đô la giữ trên đất Mỹ, mai kia, khi chế độ Công Sản không còn tồn tại thì họ tha hồ sống ung dung trong nước Mỹ với số tiền ăn cướp của nhân dân, cho đến mãn đời con, cháu. Cũng với số tiền này, khi chế độ độc tài chưa sụp, thì các đảng viên Công sản dễ dàng mua chuộc các người Việt ham tiền mà quên cội nguồn, đánh phá, chia rẽ cộng đồng tan nát làm cho không ai đoàn kết với ai được.

Tóm lại, sinh hoạt của Người Việt Trên Đất Mỹ rất đa dạng. Song song với những thành tựu làm rạng danh dân tộc Việt, cũng không thiếu những thái độ, hành vi, cư xử kém văn minh. Mong rằng, với sự hiểu biết của lớp trẻ thuộc thế hệ thứ hai, dần dần, những tên tuổi Việt Nam sẽ càng ngày càng làm cho thế giới nể phục mà quên đi những thất bại, kém cỏi do sự va chạm văn hóa lúc đầu mới sang định cư mang lại. Hy vọng trong tương lai, khi thế hệ Một trên đất Mỹ đã quá tuổi hưu trí và yên nghỉ đâu đó, thì thế hệ thứ hai, với những tư tưởng trẻ trung phát triển trong một môi trường Dân Chủ và Khoa Học, sẽ đem lại những giá trị mới cho danh dự Người Việt Trên Đất Mỹ.

VÀO ĐỜI ĐỂ VỀ TRỜI

VÀO ĐỜI ĐỂ VỀ TRỜI

Trầm Thiên Thu

Ai cũng muốn “về trời”, nhưng không phải ai cũng thật lòng muốn “vào đời.”  Phải thực sự can đảm mới đủ sức dấn thân vào đời, vì trách nhiệm nhiều mà đau khổ cũng chẳng ít.  Nhưng phải VÀO ĐỜI rồi mới có thể VỀ TRỜI với Đức Giêsu Kitô.  Chính Ngài cũng đã vào đời và chịu nhiều đau khổ, thậm chí còn phải chết trên Thập Giá.

Là những người đi theo Ngài, chúng ta cũng không thể đi lối tắt hoặc đường khác mà về trời.  Chắc chắn như thế!  Thật vậy, trước khi Chúa Giêsu về trời, Ngài bảo chúng ta phải vào đời: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16:15).  Tuy nhiên, chúng ta không lẻ loi hoặc đơn độc, vì Ngài hứa chắc: “Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20).  Hơn nữa, chính Đấng Bảo Trợ là Thần Chân Lý sẽ dạy chúng ta những điều phải làm (x. Ga 14:26).  Cứ an tâm mà vào đời!

Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã dạy bảo các Tông Đồ mà Ngài đã tuyển chọn nhờ Thánh Thần.  Ngài còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Ngài vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình.  Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông Đồ, Đức Giêsu truyền cho các ông không được rời khỏi Giêrusalem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, điều mà họ đã nghe Ngài nói tới, đó là: “Ông Gioan làm phép rửa bằng nước, còn họ sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần” (Cv 1:5).

Đã có những người “vô tư” hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không?” Nhưng Ngài đáp: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1:7-8).  Thời đó, người ta cứ tưởng Chúa Giêsu là một chính trị gia có thể đảo chính để cướp chính quyền mà khôi phục quốc gia Ít-ra-en.  Nhưng ai cũng lầm, vì có lần Ngài đã xác định trước mặt tổng trấn Phi-la-tô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 18:36).

Sau 40 ngày sống lại, Chúa Giêsu căn dặn xong, Ngài được cất lên ngay trước mặt các tông đồ, và rồi có đám mây quyện lấy Ngài, khiến họ không còn thấy Người nữa.  Đang lúc các ông còn đăm đăm ngước lên trời, nhìn theo phía Ngài đi, bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời?  Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 1:11).

Lên trời là một hiện tượng vô cùng lạ, các ông ngạc nhiên là điều tất yếu.  Lên trời ở đây là “về trời” chứ không phải lên trời du lịch một thời gian, cũng chẳng phải như Chú Cuội bám gốc đa bay lên cung trăng, hoặc như Táo quân cưỡi cá chép bay lên trời.  Đó chỉ là huyền thoại.  Lại càng không phải như các phi hành gia bay lên cung trăng bằng phi thuyền.  Đó chỉ là dạng lên trời không chính thức, họ lên trời nhưng không thể sống được nếu không có bình dưỡng khí.  Phải trở lại đất cho nhanh, kẻo hết dưỡng khí là chết.  Thật vậy, Chúa Giêsu đã xác định với ông Ni-cô-đê-mô: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3:13).

Chúa Giêsu lên trời là sự kiện vô cùng kỳ lạ.  Các ông đã từng ngơ ngẩn khi thấy Thầy Giêsu bị người ta giết chết, tưởng thế là hết, nào ngờ Thầy phục sinh.  Hạnh phúc tràn ngập.  Nay các ông lại càng ngơ ngẩn hơn vì Thầy đi rồi, còn lâu Thầy mới trở lại, tiếc hùi hụi, nhớ ngẩn ngơ, nhưng chắc chắn các ông phải vào đời.  Và mỗi chúng ta ngày nay cũng vậy, ai cũng phải vào đời để hy vọng và mong chờ ngày về trời.

Cuộc chia tay nào cũng có phần lưu luyến, thường buồn hơn vui, nhưng khi Chúa Giêsu chia tay lại không buồn vời vợi mà lại tràn đầy niềm hy vọng.  Ngài về trời là dấu chỉ cho biết chắc chắn chúng ta cũng được về trời.  Vậy là vui chứ không buồn.  Tác giả Thánh Vịnh mời gọi: “Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi!  Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo!  Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả uý, là Vua Cả thống trị khắp địa cầu” (Tv 47:2-3).

Chúa Giêsu thăng thiên, Ngài về trời, nơi Ngài đã xuất phát, chúng ta vui mừng khôn tả, tác giả Thánh Vịnh mô tả là “rộn rã tiếng hò reo, vang dội tiếng tù và, đàn ca kính mừng Ngài.”  Nhưng cuộc sống đôi khi không êm đềm như thảm lụa, nên chúng ta luôn phải tiếp tục động viên nhau: “Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu, hãy dâng Người khúc đàn ca tuyệt mỹ.  Thiên Chúa là Vua thống trị chư dân, Thiên Chúa ngự trên toà uy linh cao cả” (Tv 47:8-9).

Trước khi về trời, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16:15).  Đó không chỉ là lời căn dặn, là lời người ra đi, mà còn là mệnh lệnh – tức là điều phải thực hiện bằng mọi giá.  Ngài vừa hứa hẹn vừa cảnh báo: “Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ; còn ai không tin sẽ bị kết án” (Mc 16:16).  Đó là hệ lụy tất yếu chứ không là sự hù dọa.

Đức tin rất quan trọng, tạo nên sức mạnh vô song, tạo nên điều kỳ diệu ngoài sức tưởng tượng của loài người.  Thật vậy, Chúa Giêsu đã xác nhận: “Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ.  Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc cũng chẳng sao.  Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh thì những người này sẽ được mạnh khoẻ” (Mc 16:17-18).  Thực tế cũng đã và đang có những người làm được như vậy, đó là tặng phẩm mà Thiên Chúa trao cho ai thì người đó phải biết sử dụng hợp lý.  Ai cũng có một tặng phẩm, người được tặng phẩm này, kẻ được tặng phẩm khác, có người được hai hoặc ba tặng phẩm, cũng như kẻ được một nén, ba nén, năm nén, nhưng dù nhiều hay ít cũng chỉ là để làm sáng danh Thiên Chúa, chứ không phải để cậy mình hoặc nhắm tư lợi nào đó.

Thánh sử Mác-cô cho biết: “Nói xong, Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa.  Còn các Tông Đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng” (Mc 16:19-20).  Rõ ràng, Chúa Giêsu về trời rồi thì các ông đã vào đời, làm chứng về Đức Giêsu Kitô “ba-trong-một”, với ba sự kiện: Chịu chết trên Thập Giá, phục sinh và lên trời.

Vào đời như thế nào?  Thánh Phaolô cho biết về phong cách vào đời: “Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tuỳ theo ân sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người.  Được ơn làm ngôn sứ thì phải nói sao cho phù hợp với đức tin.  Được ơn phục vụ thì phải phục vụ.  Ai dạy bảo thì cứ dạy bảo.  Ai khuyên răn thì cứ khuyên răn.  Ai phân phát thì phải chân thành.  Ai chủ toạ thì phải có nhiệt tâm.  Ai làm việc bác ái thì vui vẻ mà làm” (Rm 12:6-8).  Mỗi người mỗi việc, mỗi người mỗi hoàn cảnh và trình độ khác nhau, mỗi người là một các chi thể khác nhau nhưng vẫn chung một Nhiệm Thể Đức Kitô.  Tất cả các chi thể phải đồng tâm nhất trí, cùng hợp lại để phát triển Nhiệm Thể Thánh.

Thánh Phaolô nói thêm về phong cách vào đời: “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ.  Anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành; thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình; nhiệt thành, không trễ nải; lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa.  Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện.  Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh đang lâm cảnh thiếu thốn, và ân cần tiếp đãi khách đến nhà” (Rm 12:9-13).  Được vậy thì thật hạnh phúc cho chúng ta, và Thiên Chúa cũng vui mừng vì Ngài được tôn vinh nơi chính mỗi người chúng ta.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết “ái mộ những sự trên trời” bằng cách sống nhân bản, nên hoàn thiện hàng ngày, chứng tỏ sự sống dồi dào của Đức Kitô qua việc thể hiện lòng thương xót với mọi người, nhất là đối với những người hèn mọn.  Xin Đức Maria và Đức Thánh Giuse hướng dẫn chúng con biết đi đúng lối về trời và đưa chúng con đến đích thật.  Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

Trầm Thiên Thu

Thượng nghị sĩ bang CA lên tiếng trường hợp Nguyễn Chí Tuyến

Thượng nghị sĩ bang CA lên tiếng trường hợp Nguyễn Chí Tuyến

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-05-14

05142015-state-sena-janet-tlk-nc-tuyen.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh


Thượng Nghị Sĩ tiểu bang California bà Janet Nguyễn

Thượng Nghị Sĩ tiểu bang California bà Janet Nguyễn

www.janet2014.com

Sáng hôm nay tại Hà Nội hàng trăm người dân tập trung biểu tình chống lại việc một nhóm người tấn công gây thương tích nặng cho anh Nguyễn Chí Tuyến, trước đó một hôm tại Hoa Kỳ Thượng Nghị Sĩ tiểu bang California là bà Janet Nguyễn viết thư yêu cầu Tòa Đại Sứ Mỹ và Human Rights Watch điều tra làm rõ sự việc này. Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn với bà Janet Nguyễn để biết thêm sự quan ngại của bà trước vấn đề này.

Bà Janet Nguyễn: Xin cám ơn anh và xin chào quý vị. Ở Việt Nam công an đánh người dân như vậy là không được. Ở nước tự do như Hoa Kỳ thì việc đó không thể làm được, nó chống lại tự do dân chủ nhân quyền của một người dân. Anh Chí Tuyến là một người tranh đấu cho nhân quyền và tự do cho nước Việt Nam thì đó là quyền của ảnh. Công an ra ngoài đường đánh người dân là không được.

Hôm qua mình gửi một lá thư cho ông Đại sứ Mỹ tại Việt Nam xin ổng đề nghị Việt Nam phải điều tra cái vụ này, tại sao công an lại đánh anh Chí? Và mình cũng xin Human Rights Watch xem tại sao lại có vụ này xảy ra tại Việt Nam. Mình phải tiếp tục tranh đấu cho đồng bào ở Việt Nam. Chính phủ Việt Nam bây giờ áp dụng đòn đánh người dân, đánh ai cũng được ở ngoài đường. Họ muốn giết người luôn và bắt người vô tù mà người bị bắt không biết tại sao. Họ muốn bắt là cứ bắt. Như vậy là không thể được vì điều này không tốt cho bất cứ chính phủ nào.

Mặc Lâm: Thưa bà trong vai trò một Thượng nghị sĩ của Tiểu bang bà nghĩ rằng yêu cầu của bà sẽ được đại sứ Ted Osius nhanh chóng thực hiện và phản hồi cho bà trong thời gian ngắn nhất hay không?

Bà Janet Nguyễn: Mình mong ổng nhận được lá thư và hồi đáp nhưng mình biết là đại sứ rất bận rộn nên viết thư cũng chậm. Mình mong ông trả lời nhanh và sẽ giúp ông Tuyến ở Việt Nam. Nếu mình nhận được hồi báo thì mình sẽ gửi cho cộng đồng biết ngay.

Mặc Lâm: Trong vai trò một Thượng Nghị Sĩ gốc Việt bà thấy cộng đồng người Việt có quan tâm đến vấn đề dân chủ nhân quyền trong nước hay không?

Bà Janet Nguyễn: Ồ, tuyệt đối! Người Việt ở Cali hay ở Hoa Kỳ mỗi ngày nếu có dịp họ đều giúp cho đồng bào ở Việt Nam thì họ làm ngay. Họ muốn nước Việt Nam tự do và dân chủ. Đó là điều đã xảy ra hơn 40 năm rồi.

” Mình phải tiếp tục tranh đấu cho đồng bào ở Việt Nam. Chính phủ Việt Nam bây giờ áp dụng đòn đánh người dân, đánh ai cũng được ở ngoài đường. Họ muốn giết người luôn và bắt người vô tù mà người bị bắt không biết tại sao. Họ muốn bắt là cứ bắt

Bà Janet Nguyễn”

Quý vị ở Việt Nam đừng nghĩ ở bên đây quên quý vị. Ở Mỹ chúng tôi và rất nhiều đồng bào tiếp tục tranh đấu và tiếp tục lên tiếng nói mạnh mẽ để cho cộng sản Việt Nam biết rằng mình không chấp nhận sự đàn áp của họ đối với người dân. Phải có nhân quyền và tự do ở Việt Nam

Mặc Lâm: Trong tình hình mà Việt Nam chưa tôn trọng nhân quyền thì bà có ủng hộ cho họ vào TPP đang tranh cãi tại Quốc hội Mỹ cũng như của Tổng thống Obama hay không?

Anh Nguyễn Chí Tuyến (tức Facebooker Anh Chí) đã bị 5 tên côn đồ dùng tuýp sắt vây đánh dã man, gây thương tích nặng nề, trên đường Ngọc Thụy (quận Long Biên, Hà Nội) ngày 11/5/2015

Anh Nguyễn Chí Tuyến (tức Facebooker Anh Chí) đã bị 5 tên côn đồ dùng tuýp sắt vây đánh dã man, gây thương tích nặng nề, trên đường Ngọc Thụy (quận Long Biên, Hà Nội) ngày 11/5/2015

Bà Janet Nguyễn: Tuyệt đối là không. Việt Nam phải có tự do và dân chủ và không được bắt bớ người dân bỏ vào tù. Nước Mỹ là nước tự do dân chủ nên mình phải buộc Việt Nam phải có tự do dân chủ, nều không thì không nhận được những cái tốt đẹp từ nước Mỹ.

Mặc Lâm: Vâng, nhưng theo Tổng thống Obama thì Việt Nam khi vào TPP vì nguồn lợi kinh tế buộc họ phải đối xử với nhân quyền tốt hơn. Bà có đồng ý với lập luận của Tổng thống Obama hay không?

” Quý vị ở Việt Nam đừng nghĩ ở bên đây quên quý vị. Ở Mỹ chúng tôi và rất nhiều đồng bào tiếp tục tranh đấu và tiếp tục lên tiếng nói mạnh mẽ để cho cộng sản VN biết rằng mình không chấp nhận sự đàn áp của họ đối với người dân. Phải có nhân quyền và tự do ở VN

Bà Janet Nguyễn”

Bà Janet Nguyễn: Dạ không, tại vì nước Việt Nam đã có trong danh sách các nước cần quan tâm (CPC) cũng lâu rồi, càng ngày họ bỏ nhiều người vô tù càng nhiều hơn. Những người không đồng ý với chính phủ đều bị bỏ vô tù vì vậy làm sao mình tin tưởng họ được?

Mặc Lâm: Trong hoàn cảnh hiện nay, bà có thông điệp gì nhắn tới đống bào trong nước, những blogger những người đang tranh đấu cho tự do dân chủ nhân quyền như anh Nguyễn Chí Tuyến?

Bà Janet Nguyễn: Chúng tôi muốn cho quý vị ở trong nước biết chúng tôi là một Thượng Nghị sĩ người Mỹ gốc Việt, sinh ở Việt Nam và chưa về Việt Nam nhưng mình không quên quý vị,