Chiếc nhẫn rớt giữa dòng đời …

Chiếc nhẫn rớt giữa dòng đời …

image

Năm 2014 vừa qua, ông Billy Ray Harris – một người lang thang không nhà (homeless) 55 tuổi, ăn xin tại đầu một con đường ở TB Kansas . Một cô gái tên Sarah Darling đi ngang qua, cho vào trong chén của ông một ít tiền, nhưng cô không chú ý rằng chiếc nhẫn trên tay cũng vô tình rơi vào chén.

image

Sau khi Billy thấy, ông muốn bán chiếc nhẫn đi, có chủ tiệm ra giá 4000 đô-la. Đối với một người lang thang mà nói, đó đúng là một số tiền to lớn, nhưng Billy nghe xong lại do dự…

Sau mấy ngày cân nhắc, Billy quyết định đem chiếc nhẫn trả lại cho người đã mất. Ông ngồi đợi và trả nhẫn lại cho Sarah.

image

Khi Sarah nhận lại chiếc nhẫn đã mất của mình, cô vô cùng cảm kích, bởi vì đó là chiếc nhẫn đính hôn của cô, ý nghĩa vô cùng to lớn. Để tỏ lòng cảm ơn, Sarah và người chồng hứa hôn của mình quyết định quyên tiền cho Billy, giúp ông có một cuộc sống bình thường như mọi người. Lúc ấy, hai người cho rằng có lẽ được vài ngàn thôi, không ngờ nhiều người sau khi nghe câu chuyện đó, đều rất cảm động, ba tháng sau đã quyên được gần 190.000 đô-la.

image

Billy dùng số tiền đó mua nhà, mua xe, nhưng vận may vẫn chưa hết.

Sau khi câu chuyện của Billy được truyền thông đưa tin, người chị thất lạc 16 năm thấy ảnh ông trên tivi, cuối cùng đã tìm được ông. Ông cứ nghĩ rằng người chị này đã qua đời.

image

Billy và vợ chồng Sarah

Billy và người nhà đoàn tụ.

Cứ như vậy, Billy không chỉ có tiền, tìm lại được gia đình, mà còn có người bạn tốt là Sarah và gia đình cô.

image

Sau khi Sarah kết hôn, cô có một đứa bé. Cô nói sẽ kể cho con của cô rằng Billy đối với gia đình cô quan trọng thế nào. Hơn nữa, câu chuyện chân thật này sẽ giúp đứa trẻ hiểu được điều gì là đúng, điều gì là sai. Như vậy, nhiều người đã hợp sức để thay đổi cuộc đời một người xứng đáng với sự trợ giúp đó.

image

Bây giờ, khi mọi người nhìn thấy Billy, họ không phải bố thí nữa, mà là nắm tay ông, chúc mừng ông.

Billy nói, khi nhớ lại nỗi khổ trước kia, ông vô cùng cảm tạ các vị Thần đã cho ông cơ hội này, cho ông quay lại cuộc sống của một người bình thường. Ông sẽ sống thật tốt, để những người trợ giúp ông biết tấm lòng của họ không hề uổng phí.

Đây thật giống một câu chuyện thần thoại, các vị Thần để một kẻ lang thang nhặt được chiếc nhẫn, thử thách lòng tham của ông, kết quả kẻ lang thang vượt qua được cám dỗ, từ đó về sau sống một cuộc sống hạnh phúc.

image

Qua câu chuyện này, phải chăng có thể nghĩ rằng, khi chúng ta làm việc tốt, bằng cách này hay cách khác, chúng ta sẽ luôn nhận được những điều tốt đẹp

đáp trả . . . ?

NGUỒN GỐC TÊN SÀI GÒN

NGUỒN GỐC TÊN SÀI GÒN

Trần Văn Giang

Lời mở đầu :

Sài gòn là thành phố lớn nhất Việt Nam, nằm cạnh sông Sài gòn ở tọa độ 110°45′ Bắc, 106°40′ Đông (hay là 10.75, 106.667); và cách Hà nội 1760 cây số về phía Nam.

Trước khi “bị” người Việt chiếm ngụ vào thế kỷ 16,  Sài gòn có tên là “Prey Nokor,” là một hải cảng chính của Cam Bốt.  Sài gòn từng là thủ đô của chính quyền thực dân Pháp ở Đông dương, và sau đó cũng là thủ đô của chính thể Cộng hòa miền Nam Việt Nam từ năm 1954 cho đến năm 1975.  Sau năm 1975, Sài gòn được đổi tên là Thành Phố Hồ Chí Minh (?)

Tên nguyên thủy theo tiếng Khmer

Tên nguyên thủy của Sài gon là “Prey Nokor” và là lãnh thổ của người Khmer (Cam bốt). Theo tiếng Phạn (Sankrit nagara), Prey Nokor có nghĩa là “thành phố rừng” (Prey = rừng; Nokor = đất, thành phố). Ngày nay nhiều người Khmer ở Cam bốt và cả dân sắc tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu long nhiều khi vẫn còn gọi Sài gòn là Prey Nokor.

Sài gòn tên nguyên thủy theo tiếng Việt

Ngay sau khi người Việt ồ ạt đến mở mang và định cư tại Prey Nokor, thành phố này đã được người Việt gọi là “Sài gòn.” Có rất nhiều gỉa thuyết, tranh luận về nguồn gốc tên thành phố bằng chữ Việt (Sài gòn). Các tranh luận về lịch sử của danh từ “Sài gòn”sẽ được bàn thêm ở phần dười dây.

Trước khi thực dân Pháp đến Việt Nam, triều đình Huế dùng tên chính thức của Sài gòn là “Gia định.” Năm 1862, người Pháp bỏ chữ “Gia định” và thay vào đó bằng chữ “Sài gòn.”

Trên sử liệu (có lưu lại trên qua bản viết, in), người Việt đọc và viết chữ “Sài gòn” thành 2 chữ và 2 âm rõ rệt; tuy nhiên Pháp (và người tây phương) đã “tây phương hóa” 2 chữ “Sài gòn” thành một  chữ “Saigon” để cho họ dễ đọc và dễ viết.

Sài gòn theo quan điểm Việt Nam – Trung Hoa

Có người cho rằng chữ “Sài” được mượn từ tiếng Trung hoa (Tiếng Quan thọai đọc là “Chái”) có nghĩa là “củi, cành cây – firewood, twigs…)” còn chữ “Gòn” (tiếng Quan thọai đọc là “Gùn”) có nghĩa là “cọc, cây gậy – stick, pole, boles…) Chữ “Gùn” bị chuyển hóa dần thành ra “Gòn” tương tự như “bông gòn – cotton stick, cotton plant.”

Có người lại cho rằng tên “Sài gòn” phát nguyên từ các cây bông gòn người Khmer trồng chung quanh Prey Nokor mà ngày nay chúng ta vẫn còn thấy rất nhiều ở quanh vùng Cây mai, Trương Vĩnh Ký…

Có một điểm lạ lùng là người Hoa sống ở Việt Nam cũng như ờ Trung quốc không dùng tên gọi “Sài gòn” (tiếng Quảng đông đọc là “Chaai-Gwan; tiếng Quan thọai đọc là “CháiGùn”) để gọi “Sài gòn” (mặc dù, như đã nói ở trên, nhiều sử liệu có ghi là người Việt mượn tiếng Trung hoa để đặt tên cho Sài gòn). Chính người Hoa lại gọi “Sài gòn” “Sai-Gung” (tiếng Quảng đông) và “XĩGòng” (tiếng Quan thọai).

Sài gòn theo quan điểm của người Khmer

Có một số tài liệu của Cam bốt cho là chữ “Saigon” chuyển hóa từ “Sai Con;” Và Chữ “Sai Con” đã chuyển hóa từ tiếng 2 chữ Khmer “Prey Kor” có nghĩa là “Rừng cây Kapok” (prey = rừng; kor = cây kapok). Nên để ý và đừng lầm lẫn chữ “Prey Nokor”“Prey Ko” (Ko = rừng cây kapok; Nokor – thành phố, đất).

Quan điểm của người Khmer ẩn tàng một ý có mục đích thuyết phục là họ đã có mặt ở đó (Sài gòn) trước khi người Việt đến định cư; tuy nhiên quan điểm này không gỉai thích được là tại sao chữ Khmer “prey” lại đổi thành chữ “Sài.” Bởi vì, hiển nhiên, cách đọc của hai chữ này hòan tòan khác biệt với nhau!

Sài gòn theo quan điểm của người Quảng đông

Một gỉa thuyết đưa ra bởi học gỉa Vương Hồng Sển, một người Việt gốc Hoa ở Sài gòn, là nguồn gốc từ tiếng Quảng đông của danh từ “Sài gòn” lấy từ chữ “Chợ lớn” mà người Quảng đông đọc là “Tai-Ngon” có nghĩa là “bến tầu, cảng” (?)

Tên hiện nay của Sài gòn

Sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản (30 tháng 4 năm 1975), chính quyền CS đổi tên thành phố Sài gòn là Thành Phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) (?) Tuy nhiên, đa số người dân Sài gòn vẫn gọi tên thành phố với cái tên quen thuộc cũ: “Sài gòn.” Ngòai ra, hiện nay, tên “Sài gòn / Saigon” còn được dùng rất nhiều trong sách vở; được dùng cho các tên tựa sách, được dùng đặt tên cho các công ty thương mại.

Lịch sử đất (lãnh thổ) Sài gòn

Khởi đầu Sài gòn chỉ là một làng đánh cá rất nhỏ của người Khmer.  Người Khmer đã sống ở đó nhiều thế kỷ trước khi có người Việt đặt chân đến mở mang và định cư.  Người Khmer dùng “Prey Nokor” như một hải cảng thuộc về vương quốc Cam bốt.

Năm 1623, vua Chey Chetta II  (1618-1628) của Cam bốt đã cho phép những người Việt chạy lánh nạn “Trịnh Nguyễn phân tranh” đến tạm trú và định cư quanh vùng Prey Nokor.  Từ sau khi đó, có rất nhiều đợt di cư rất lớn của người Việt đến vùng Prey Nokor mà vương quốc Cam bốt không đủ mạnh để ngăn chặn họ.  Dần dà, Prey Nokor bị biến thành đất đai của người Việt; và sau cùng “Prey Nokor” biến thành “Sài gòn!”

Năm 1698,  triều đình Huế (Chúa Minh – Nguyễn Phúc Chu) sai tướng Nguyễn Hữu Cảnh vào trấn nhậm vùng đất Sài Gòn-Gia Định. Kể từ thời điểm đó, miền đất này chính thức trở thành một đơn vị hành chính thuộc lãnh thổ Việt Nam.  Nguyễn Hữu Cảnh tách vùng đất Sài Gòn-Gia Định (và sau đó là vùng đồng bằng sông Cửu long) ra khỏi vương quốc Cam bốt.  Cam bốt vì quá yếu nên không có một kháng cự nào.  Nguyễn Hữu Cảnh được xem như những người đi tiên phong trong giai đọan bành trướng lãnh thổ của Việt nam về phía nam và tây nam.

Năm 1859,  thành phố Sài gòn bị người Pháp chiếm đóng lần đầu tiên.  Cũng bắt đầu từ giai đọan thực dân, người Pháp đã xây dựng nhiều cơ sở, dinh thự theo cấu trúc của văn minh tây phương.  Vì vậy Sài gòn còn được gọi là “Hòn Ngọc Viễn Đông,” (the Pearl of the Far East) “Tiểu Paris” (Little Paris).

Năm 1954, quân Pháp bị Việt Minh đánh bại ở trận Điện Biên Phủ và họ rút lui khỏi Việt Nam.  Từ trước đó (năm 1950), thay vì công nhận chính quyền CS, người Pháp ngầm ủng hộ Bảo Đại lập chính phủ và chọn Sài gòn là thủ đô.  Kể từ năm 1950 Sài gòn và vùng Chợ lớn (nơi có số rất đông người Hoa tập trung) được gộp chung lại thành một đơn vị hành chánh gọi là “Đô thành Sài gòn.”

Sau khi Việt Nam chính thức được chia làm 2: Bắc Việt (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) và Nam Việt (Việt Nam Cộng Hòa). Sài gòn là thủ đô của miền nam Việt Nam dưới chính phủ Ngô Đình Diệm.

Sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt năm 1975, thành phố Sài gòn đặt dưới sự kiểm sóat của CS Bắc Việt.

Năm 1976, sau khi thống nhất quốc gia Viêt Nam xong, CS đổi tên chính thể của nước Việt Nam là “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” và đổi tên thành phố Sài gòn thành Thành Phố Hồ Chí Minh.  Thực ra, sau 30 tháng 4 năm 1975, thành phố Sài gòn (và Chợ lớn), tỉnh Gia định và 2 quận ở ngọai ô Sài gòn (thuộc 2 tỉnh khác nhau nằm sát Sài gòn) đã được gộp chung lại thành TP HCM.  TP HCM rộng 809 dặm vuông (hay là 2,095 cây số vuông) trải dài từ Củ chi (cách biên giới Việt Miên 20 Km) cho đến Cần giờ gần biển Nam Hải.  Khỏang cách từ điểm cực bắc (Phú Mỹ Hưng, quận Củ chi) cho đến điểm cực nam (Long Hoa, quận Cần giờ) là 120 cây số; và từ điểm cực đông (Long bình, quận 9) đến điểm cực tây (Bình chánh, Quận Bình chánh) là 46 cây số.  Mặc dù TP HCM là tên gọi chính thức trên giấy tờ hành chánh, nhưng đại đa số người dân sống ở Sài gòn vẫn gọi thành phố qua cái tên quen thuộc là Sài gòn.  Chữ “Sài gòn” còn thấy trên bảng hiệu của các cửa tiệm thương mại, ngay cả tại Hà nội, thí dụ như “Saigon thời trang,” “Kiểu Sài gòn…” bởi vì người Việt trong nước hiện nay nghĩ về chữ “Sài gòn” như là một cái gì tượng trưng cho “văn minh, thời thượng…”

Ngày hôm nay, trung tâm thành phố Sài gòn vẫn còn vẻ giữ tráng lệ với các đại lộ có những hàng cây xanh rợp bóng, thanh lịch, với nhiều dinh thự cơ sở có di tích lịch sử được xây dựng từ thời các đời vua Nguyễn, thời thực dân và thời VNCH như Đồn Cây mai (do danh tướng Nguyễn tri Phương xây dựng), nhà thờ Đức Bà và dinh Độc lập (tên mới là dinh Thống Nhất!)…

Xe của dân bị biến thành rác ở bãi nhà nước

Xe của dân bị biến thành rác ở bãi nhà nước

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam
2015-06-10

06102015-priva-mbike-in-poli-storage.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Hàng nghìn xe dầm mưa, dãi nắng tại một bãi giữ xe vi phạm trên địa bàn quận Long Biên, Hà Nội

Hàng nghìn xe dầm mưa, dãi nắng tại một bãi giữ xe vi phạm trên địa bàn quận Long Biên, Hà Nội

Photo courtesy Xaluan.com

Trường hợp xe của người dân bị cảnh sát giao thông thổi phạt, sau đó tạm giữ xe và mang về bãi xe của nhà nước bỏ mặc nắng mưa, xe nhanh chóng xuống cấp, khi bị thu là xe tốt, khi lấy ra là chiếc xe không thể xài được đang làm nhức nhối người dân.

Chuyện này có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính vẫn là sự thiếu trách nhiệm đã thành một căn bệnh trầm kha của ngành công an giao thông nói riêng và các ban ngành trực thuộc nhà nước nói chung. Trong thời gian gần đây, tình trạng xe bị tạm giam một thời gian trở thành khối sắt vụn đang làm nhức nhối người dân thủ đô Hà Nội.

Bãi tạm giữ xe cũng là nơi “luộc xe”

Một người tên Thành, sống ở quận Hà Đông, Hà Nội, chia sẻ: “Quá trình xử phạt phải có đầy đủ các thứ, như nơi cất giữ xe. Như việc bắt giữ xe máy là nhằm mục đích buộc anh mang tiền đến nộp phạt. Trái với mục tiêu xử phạt. Cũng như nhà tù là để chặn đứng hành vi của anh chứ không phải để hành hạ. Một khi anh hành hạ người tù cũng như hành hạ chiếc xe trong bãi tạm giữ như vậy thì không còn gì để bàn!”.

Theo ông Thành, trước đây hai tháng, con gái ông bị công an giao thông thổi phạt ở đầu cầu Thắng Long, sông Hồng và bị giữ xe vì lý do không mang theo bằng lái mặc dù cô gái này đã có bằng lái xe gắn máy, có đội mũ bảo hiểm và có giấy tờ xe hẳn hoi. Sau khi kiểm soát một số thứ trong xe, họ kết luận còi xe không đạt tiêu chuẩn, đèn xi-nhan không đạt tiêu chuẩn, mũ bảo hiểm cũng không đạt tiêu chuẩn và mẫu mã xe có sự thay đổi vì có dán thêm decal hình con chim phượng hoàng. Mức phạt lên đến hai triệu năm trăm ngàn đồng.

Vì thất nghiệp, gia đình cũng không mấy thoải mái về tài chính nên con gái ông Thành phải chấp nhận để xe trong bãi tạm giữ của công an, đợi nhận lương hằng tháng, tích lũy đủ mới nộp phạt và mang xe về. Không bàn về chuyện kiểm tra, thổi phạt vô cớ của cảnh sát giao thông khi con gái ông không hề phạm lỗi trong lúc tham gia giao thông, ông Thành muốn nhấn mạnh về tình trạng chiếc xe sau khi lấy ra khỏi bãi tạm giữ của công an.

Theo mô tả của hai cha con ông Thành thì không thể nào gọi đây là bãi tạm giữ xe được mà phải nói chính xác nơi hàng ngàn chiếc xe của dân đang bị phơi mưa phơi nắng để mục dần theo thời gian và là một cái bãi rác thải công nghiệp. Nghĩa là không riêng gì xe máy mà bất kì thứ gì bỏ vào đây đều có thể mục nát bởi cây cỏ um tùm, dộ ẩm cao, không có mái che, kẽm gai và dây leo quấn khắp nơi, xe cộ bỏ chồng chất, đùn ép nhau trong bãi khiến cho lớp vỏ sơn bên ngoài nhanh chóng bị bong tróc, hệ thống dây điện, ống dẫn xăng gặp nhiệt độ cao cũng nhanh chóng thoái hóa, chảy nhựa, làm cho xăng và dầu nhớt chảy ra loang lổ trên mặt đất.

Xe máy vẫn là phương tiện giao thông chính ở Việt Nam

Xe máy vẫn là phương tiện giao thông chính ở Việt Nam

Nói không may, chỉ cần ai đó vô tình để rơi tàn thuốc vào đây hoặc dây điện chập tạo ra tia lửa sẽ lập tức biến bãi xe thành một đám cháy để từ đó lan tỏa khu vực lân cận. Nhìn bãi tạm giữ xe của công an chẳng khác nào bãi rác công nghiệp. Đó là chưa muốn nhắc đến trò luộc xe của nhiều viên công an.

Trò luộc xe này diễn ra không mấy kín đáo nhưng chẳng ai dám nói gì. Một chiếc xe mới toanh với mọi phụ tùng đều chính hãng, khi vào bãi giữ xe, chỉ trong vòng nửa ngày sau, những phụ tùng chính hàng bị tháo mở, thay vào đó là những thứ phụ tùng lô, khi lấy ra, chiếc xe chạy èo ọp, cà rịch cà tàng chẳng giống thứ gì. Và bất kì người nào bị tạm giữ xe cũng vấp phải kinh nghiệm đáng sợ này.

Ông Thành đặt câu hỏi: Vì sao xe ở trong bãi cùa ngành công an mà lại để bị luộc? Ai có thể vào trong khuôn viên quản lý của công an để luộc xe của dân? Liệu công an giao thông và những viên công an có liên quan đến bãi tạm giữ xe này có liên đới, có toa rập với nhau để luộc xe của dân?

Đương nhiên là câu hỏi của ông Thành không có ai trả lời được ngoài các quan chức ngành công an, trong đó, ông Trần Đại Quang Bộ trưởng Bộ Công an và ông Đinh La Thăng, Bộ trưởng Bộ Giao thông vân tải phải là những người có trách nhiệm trả lời với dân bằng mọi giá.

Luật lệ chồng chéo

Một cựu cảnh sát giao thông không muốn nêu tên, đang sống ở phố Hàng Bạc, Hà Nội, chia sẻ: “Khi làm việc với công an giao thông thì người dân mình nên tự đề nghị họ viết thông tin về tình trạng chiếc xe vào biên bản, giấy tờ để sau này có cơ sở để làm việc với họ. Vì dù mình muốn hay không thì công an cũng nắm quyền trong tay về pháp luật. Cái mà mình có thể trông đợi đó là yêu cầu của người dân về việc minh bạch hơn trong mọi thứ, cần có thông tin rõ ràng, chiếc xe đó ở tình trạng như thế nào để sau này có bằng chứng mà đối chiếu. Luật mình quá chồng chéo…”.

Theo ông này, sở dĩ có chuyện bắt xe, nhốt xe vô tội vạ của công an giao thông, biến một chiếc xe đang đi trở thành chiếc xe hỏng hóc, phá hoại tài sản của dân như vậy là do luật pháp chồng chèo, tham nhũng và chiếm dụng đất vẫn là ung nhọt gây nhức nhối xã hội.

Ở khía cạnh tham nhũng thì miễn bàn, lợi dụng vào sự sơ hở của luật giao thông và người dân thiếu hiểu biết về pháp luật bởi mỗi năm có hàng ngàn văn bản dưới luật ra đời chẳng đâu vào đâu. Ngành công an nói chung và công an giao thông nói riêng đã hù dọa người đi đường để ăn đút lót, nhét tay hoặc làm những phiếu phạt sai luật để thu giữ xe, tạo ra nguồn thu.

Nếu như được nhét tiền hối lộ thì bản thân viên công an giao thông đứng đường sẽ có tiền tươi, trường hợp giam xe, chủ xe nộp tiền vào kho bạc, thì viên công an giao thông sẽ có tiền khác thông qua chuyện luộc phụ tùng xe của dân. Vì chỉ có hai khoản này mới bù lỗ cho số tiền đút lót cho cấp trên khi vào ngành hoặc mua chỗ đứng đường.

Và chuyện giam xe trong bãi là một chỉ tiêu bắt buộc, phải có một số lượng xe nhất định bị giam nhằm đảm bảo khoản thu cho ngân sách ngành và giữ bãi. Trong trường hợp ngược lại, nếu lâu ngày không có xe trong bãi, bãi sẽ bị nhà nước trưng thu để mở rộng xây dựng, bán cho các dự án. Chính vì vậy, chất đầy xe trong bãi, nằm chồng chất với nhau mặc cho mưa dầm nắng cháy, mặc cho chiếc xe rệu rã, hoen gỉ là cách tốt nhất để giữ bãi đất trống cho ngành, cho cơ quan.

Vô hình trung, những chiếc xe phương tiện làm ăn của người dân lại thực hiện đến hai chức năng: Bổ sung ngân sách ngành và ngân sách nhà nước; Làm phương tiện giữ bãi cho cơ quan công an để đến khi cần thiết, họ sẽ biến bãi đất này thành những chung cư hoặc một loại văn phòng nào đó có tính hợp lệ.

Ông cựu cảnh sát giao thông này đưa ra kết luận: Một khi tham nhũng và vô trách nhiệm còn hoành hành thì người dân mãi mãi là những con cá trên thớt!

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

Đầy tình người trong lễ tang của một tân tòng

Đầy tình người trong lễ tang của một tân tòng

Triết Giang

1/6/2015

Chúng tôi khởi hành từ Hà Nội sáng sớm ngày 3-1-2015 về Thái Bình để dự lễ tang của một tân tòng: cụ Giuse Phạm Ngọc Thung, sinh năm 1920, mới gia nhập đạo Chúa ngày 4-5-2014 tức là mới tròn 8 tháng.

Trên xe có đủ các thành phần từ linh mục chính xứ Thái Hà, linh mục linh hướng Tông đoàn Gioan Phaolô 2, anh chị em trí thức, doanh nhân…Về đến gần gia đình tang quyến, chúng tôi thấy có rất nhiều xe với biển số từ nhiều tỉnh thành. Hóa ra, không phải chỉ có chúng tôi mới là người ngoại tỉnh. Khi chúng tôi tới nơi thì Đức Cha FX. Nguyễn Văn Sang đang chủ sự lễ an táng cùng với cả chục linh mục. Các cha đi cùng chúng tôi vội thay lễ phục để tham gia đoàn đồng tế. Có cả hàng ngàn người tham dự. Sân nhà chỉ đủ chỗ cho các nữ tu và vài đội kèn đồng và tang quyến, còn tất cả phải đứng tràn ra kín hết con đường đi.

Đức Cha FX. Nguyễn Văn Sang đã có bài giảng rất hay trong lễ an táng cụ Giuse. Sau khi ca ngợi tấm gương của Cụ Giuse đã sống theo Huấn từ của Đức Bênêdictô XVI: “Người Công Giáo tốt cũng là người công dân tốt”, Đức Cha đã nhắc lại bài thơ đề dưới bức tranh tặng Cụ khi Ngài chủ sự lễ Rửa tội cho Cụ cách đây 8 tháng:

Làm con Thiên Chúa Ba Ngôi
Làm con Hội thánh đời đời quang vinh
Cuộc đời sinh tử, tử sinh
Thánh Linh nhân ái, kết tình anh em
Và Ngài thêm: Bây giờ biết nói gì thêm
Chỉ mong một chữ được lên Thiên Đàng

Cha chính xứ Gia Lạc- người đã đỡ đầu cho Cụ Giuse thay mặt Đức Cha chủ sự nghi thức tiễn biệt. Đức Cha và các cha lần lượt vảy nước phép trên quan tài người quá cố trong tiếng ca trầm buồn của các nữ tu. Thay mặt gia đình, lương y Phạm Cao Sơn đã vô cùng cảm động khi thấy các Đức Cha, các cha, các nam nữ tu sĩ và cộng đoàn đã đến chia buồn và cầu nguyện cho bố ông- một tân tòng, mới gia nhập đạo Chúa. Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt ở tậ Châu Sơn, Ninh Bình cũng gửi vòng hoa về viếng. Ông Sơn nói: “Dân gian thường bảo: “ trẻ làm ma, già làm hội. Bố của chúng con sinh năm 1920, đến nay đã sống gần tròn thế kỷ. Vậy là chúng con phải vui vì Chúa đã cho bố cúng con tuổi đại thọ. Gia đình chúng con cũng tự hào, vì bố của chúng con đã được Chúa thương gọi làm con cái của Người và hôm nay lại được Đức Cha, Quý cha, Quý nam nữ tu sĩ, Quý cộng đoàn, anh em cha bác đến cầu nguyện tiễn đưa bố chúng con về với Chúa. Chúng con vô cùng đội ơn”.

Ba đội kèn đồng, 1 đội chiêng của xứ Phú Lạc, 1 đội trống lần lượt cử những bài tiễn đưa linh hồn Giuse về nơi an nghỉ. Nghĩa trang của xã cách nhà khoảng 2km, nhưng các đoàn hội và người đưa đi rải kín đường đi. Các đoàn hội và người đưa tang phải đứng cả ở trên đê, chỉ có linh mục chủ sự lễ hạ huyệt, các nữ tu và gia quyến mới được đi vào nghĩa trang vì mặt bằng không đủ chỗ. Hai ngôi mộ bằng đá vừa xây xong có Thánh giá bằng đá khá lớn, nổi bật ở nghĩa trang vì đây là nghĩa trang của người không Công Giáo. Tôi đi cạnh hai người, một người nói ở tận Quảng Ninh vừa về sáng nay để kịp tiễn đưa Cụ Giuse, một người bên Nam Định sang vì có chịu ơn của lương y Phạm Cao Sơn đã khám chữa bệnh miễn phí trong các dịp ông Sơn đi khám từ thiện ở Bùi Chu. Nhiều người dân ở địa phương nói với chúng tôi rằng, lễ tang của Cụ Giuse quá trọng thể, quá linh đình, cả tỉnh Thái Bình cũng khó có đám tang nào sánh bằng. Họ nói, chỉ có người Công Giáo mới đối xử với nhau được như thế chứ tiền của nào mua được tình người. Chúng tôi lần lượt rắc những bông hoa trên quan tài của Cụ như một lời tiễn biệt.

Một triết gia đã nói, muốn biết người ta sống thế nào, hãy trông đám tang của họ. Vâng, nếu nhìn vào đám tang của Cụ Giuse với cả hàng ngàn con người đủ các thành phần từ mọi miền đến chia buồn, hàng trăm vòng hoa viếng của các hội đoàn, giáo xứ, dòng tu thì có thể nói, Cụ Giuse- một tân tòng đã sống một cuộc đời tử tế và công chính. Nguyện xin Chúa nhân từ sớm cho linh hồn Giuse được hưởng dung nhan Người trên nước Trời.

Cảm nhận của Cô Giáo Tân Tòng

Cảm nhận của Cô Giáo Tân Tòng

Monica

5/29/2015

Sáng nay 30.5.2015, trong Thánh lễ An táng Bà Maria Nguyễn Thị Phỉ, 66 tuổi, Giáo xứ Kim ngọc hân hoan đón nhận thêm 10 Tân Tòng.

Trong 10 học viên ấy, có 8 anh chị đã tốt nghiệp đại học. Có Cô giáo đang dạy học tại Trường Trung học phổ thông, có Chị cử nhân kinh tế làm ở Công ty A, có Anh kỹ sư công nghệ thông tin làm ở Công ty B…

Sau 6 tháng học giáo lý do Cha xứ Thầy xứ các Nữ tu hướng dẫn, các dự tòng có thêm nhiều hiểu biết giáo lý đồng thời mỗi ngày có thêm lòng yêu mến Chúa, Đức Mẹ và Giáo Hội. Họ đón nhận các Bí tích khai tâm trong niềm vui của toàn thể cộng đoàn. Hiệp thông cầu nguyện để đức tin của các Tân tòng này được: “bén rễ trong Đức Kitô, được xây dựng trên nền tảng Đức Kitô và được củng cố trong đức tin” (Cl 2, 7).

Đức tin được bén rễ trong cội nguồn là Bí Tích Thánh Tẩy, làm cho các Tân tòng từ con người trở thành con Thiên Chúa. Các bí tích khai tâm, như chiếc kiềng ba chân giúp các Tân tòng xây dựng đời mình một cách vững chắc trong Đức Kitô. Và một khi được xây dựng bởi hồng ân các bí tích, cách riêng ba bí tích khai tâm, các Tân tòng có thể thay đổi đời sống trong Đức Kitô, sẵn sàng tiếp bước theo Người.

Một Cô Giáo Tân tòng đã có những cảm nhận chân thực sâu sắc muốn chia sẻ với mọi người trong ngày hồng ân của mình và các bạn.

Ngày mai, tôi sẽ được làm con Chúa, cảm giác lúc này thật khó diễn tả, lo lắng có, hồi hộp có nhưng trên hết đó là niềm vui, sự hân hoan. Những cảm xúc, hình ảnh lần lược xuất hiện như một thước phim.

Tôi biết đến Chúa lúc nào nhỉ? Giáng sinh – cái đêm Giáng sinh cách đây lâu lắm rồi khi tôi còn bé tí được anh trai chở đi chơi. Thật đẹp, thật lung linh, thật đông đúc, náo nhiệt – đó là những gì tôi cảm nhận được. Tôi nhớ lúc đó tôi còn được xem một hoạt cảnh về Chúa giáng thế nữa thì phải, xem thì xem vậy thôi chứ chẳng hiểu gì. Đêm đó tôi vui lắm, trẻ con mà, được đi chơi là thích nhất còn gì.

Rồi sau này khi lớn lên, bước chân vào giảng đường đại học, tôi lại có dịp, à không, nói chính xác hơn là tôi bắt buộc phải tìm hiểu về Đạo Công Giáo, về Đức Giêsu Kitô. Vì sao ư ? Vì có liên quan đến môn học của tôi, tôi không muốn bị thi lại đâu, vì vậy tôi phải tìm hiểu thôi, mà cũng chỉ là tìm hiểu trên sách vở. Lúc đấy, Đạo Công Giáo, Phật giáo hay Hồi giáo thì cũng như nhau thôi, chẳng có gì đặc biệt đối với tôi cả.

Nhớ lần đầu tiên khi đọc kinh Lạy Cha trong quyển kinh nhỏ của ông anh ở cùng dãy trọ, tôi đã thốt lên rằng “ Trời ơi, cái gì mà khó đọc, khó hiểu quá vậy nè, làm sao mà thuộc nỗi.”. Ấy thế mà giờ đây kinh Lạy Cha tôi lại thuộc làu, đôi lúc còn đọc trong vô thức. Trong một lần tranh luận với nhóm bạn về tôn giáo, tôi còn hùng hổ tuyên bố không bao giờ lấy chồng đạo (ở đây tôi muốn nói đến Đạo Công Giáo), nghĩ lại cảm thấy buồn cười. Suy nghĩ đó của tôi có thay đổi một tí khi gặp và quen anh – lấy chồng đạo cũng chẳng sao. Tôi sẽ không theo đạo, đạo ai nấy giữ.

Anh không bao giờ bắt buộc tôi phải theo đạo nhưng anh dẫn tôi đi lễ cùng anh, chở tôi đi hành hương Đức Mẹ Tàpao. Anh còn chỉ tôi làm dấu thánh giá, kể cho tôi những mẫu chuyện về Chúa. Lần đầu tiên vào nhà thờ, tôi cảm thấy rất xa lạ, nói đúng hơn là không dám bước vào, cũng không hiểu tại sao tôi lại có cảm giác sợ. Tôi cảm thấy lạc lõng, không biết làm gì trong khi mọi người đọc kinh, cầu nguyện, chỉ muốn ra khỏi nhà thờ ngay tức khắc nhưng lại không dám.

Nhưng dần dần, tôi lại thích đi lễ cùng anh, cái cảm giác lạ lẫm, sợ hãi ban đầu biến mất. Tôi thích nghe những bài hát được xướng lên trong buổi lễ. Tôi thích nghe Cha giảng về đạo làm con, về tình yêu của Đức Giêsu Kitô, về mầu nhiệm của Đức Chúa Trời. Tôi thích những bài học, những lời chỉ bảo, dạy dỗ mà cha gửi gấm trong từng bài giảng…

Và giờ mặc dù không có anh, tôi vẫn đi lễ, xa lạ thay bằng cảm giác thân quen, không còn cảm thấy lạc lõng. Tôi hiệp lời cầu nguyện và cùng với mọi người hát lên những lời ca ca ngợi Thiên Chúa. Giờ tôi cũng học, cũng tìm hiểu về Đạo Công Giáo, nhưng khác là nếu như trước kia tôi học vì tôi buộc phải học, học để biết, học để thi, thì giờ đây, tôi học với một niềm tin đang lớn dần trong tôi – niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng tạo dựng trời đất, muôn loài, tin vào Đức Giêsu Kitô Con Một Thiên Chúa, vì yêu thương con người mà chịu đóng đinh, chết trên cây Thánh giá để chuộc tội cho thiên hạ.

Chúa ơi, chỉ sáng mai thôi, con sẽ thực sự là con của Ngài. Con hèn mọn, nhỏ bé và yếu đuối và con cũng xin thú nhận đức tin của con cũng mong manh vô cùng; xin Chúa hãy đón nhận con, yêu thương con và tha tội cho con; xin Chúa hãy mở lòng con để con đón nhận Ngài được trọn vẹn trong niềm hân hoan, xin Chúa ban cho con sức mạnh để tránh xa tội lỗi, sống theo Thánh ý của Ngài, xin Chúa hãy hãy củng cố đức tin trong con.

Đêm nay, tôi sẽ khó ngủ vì cảm giác vừa lo lắng, vừa vui mừng và ngày mai sẽ là một ngày vô cùng đặc biệt đối với tôi.

Cô giáo Mônica

PHÚC THẬT

PHÚC THẬT

Khá mệt vì sức khỏe hạn chế, bạn bè vẫn cố gắng ngồi bên nhau để nhâm nhi ly cà phê sáng. Ngồi với nhau vẫn là những câu chuyện tình đời, có khi là câu chuyện về những mảnh đời bất hạnh và có khi có cả những câu chuyện Tin Mừng.

Hôm nay, anh em lại chia sẻ với nhau về trang Tin Mừng. Tin Mừng hôm nay thật sự quá quen thuộc với mỗi người Kitô hữu. Từ bé, tôi cũng đã nghe đoạn Tin Mừng hôm nay : Bản Hiến Chương Nước Trời. Bảng Hiến Chương Nước Trời hay còn gọi là Tám Mối Thật.

Rất giản đơn để có thể hiểu, Chúa đi thẳng vào vấn đề chứ không phải quanh co theo kiểu cách thế gian thường dùng.

“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,vì Nước Trời là của họ.

Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.

Rất dễ hiểu để nhận ra rằng cái phúc mà Chúa nói cho con người đó chính là cái phúc của Nước Thiên Chúa chứ không phải như phúc của con người.

Chia tay anh em về nhà, trên chiếc võng trong phòng đu đưa qua lại, hình ảnh về trang Tin Mừng cũng như những chia sẻ của anh em về cái phúc Nước Trời lại trở lại với tôi trong suy nghĩ rất đời thường.

Chính bản thân tôi, đã hơn một lần hay nói cách khác là đã quá nhiều lần chạy theo cái phúc của thế gian. Vẫn cứ tưởng chừng rằng những lời khen, những lời ca tụng của người đời sẽ làm mình vinh quang, hạnh phúc … thế nhưng, tất cả những lời khen ấy, những cái phúc theo kiểu thế gian mà người ta dành cho nhau vẫn chỉ ở chót lưỡi đầu môi.

Nhiều lần, như một con thiêu thân, tôi cũng đã quên mình để bay vào những cuộc vui. Tưởng chừng những cuộc vui ấy nó sẽ mang lại cho mình sự bình an. Nhưng có lẽ ngược lại, cuộc vui tàn và tôi lại trở về nhà trong căn phòng cô đơn. Chợt nhận ra chỉ còn mình tôi và Chúa và chỉ còn mình Chúa với tôi chứ không còn ai khác.

Bộc bạch của nhạc sĩ Đức Huy cũng thấm thía : “Tìm một con đường, tìm một lối đi, ngày qua ngày đời nhiều vấn nghi … Rồi cuộc vui tàn, một mình bước đi. Nhiều lần tôi về, nhiều lần ướt mi … Tình Yêu chiếu ánh sáng vào đời, tôi hy vọng được ơn cứu rỗi …”

Đức Huy đã nói lên chân đích của cuộc đời, rồi cuộc vui nào cũng tàn cả. Những cuộc vui ngay cả với những bậc vị vọng trong Xã Hội cũng như Giáo Hội rồi cũng qua đi. Sau bức phông hào nhoáng của cuộc đời vương giả đó lại là một cuộc đời thật của mình.

Giật mình soi mình trước mặt Chúa và đáy lòng mình, tôi nhận ra rằng chỗ hào nhoáng, chỗ quyền quý cao sang không phải là của mình, đó là chỗ của những người khác. Chỗ của tôi là chỗ của những người khuyết tật, những phận đời kém may mắn, những mảnh đời gặp đầy rủi ro.

Nhìn lại mình, phận mình cũng thế ! gặp nhiều rủi ro nhưng may mắn hơn một số anh chị em tật nguyền đó là nhờ ơn Chúa mà tôi có được ngày hôm nay.

Giật mình tỉnh ra mới thấy được chỗ đứng của mình đó chính là chỗ đứng của những người nghèo khổ bất hạnh. Đứng về phía họ, ở bên họ và ở với họ có lẽ là hạnh phúc hơn với những nơi hào nhoáng sang trọng.

Chia sẻ với những nơi hào nhoáng đó cũng có gì khác hơn là góp phần đánh bóng tên tuổi cho những người hào nhoáng. Chia sẻ với những người nghèo, những nơi lặng thầm không ai biết nhưng có lẽ tình cảm đậm sâu hơn.

Giữa sự chọn lựa để đánh bóng tên tuổi cho người khác hay xoa dịu vết thương lòng cho người nghèo đây ? Thôi thì đứng về phía người nghèo để ít ra cũng được hưởng cái mối phúc quan trọng nhất mà Chúa mời gọi mỗi người chúng ta.

Không phải sống nghèo nhưng phải mang trong mình cái tâm hồn nghèo thật sự để rồi có Chúa đong đầy, có Nước Trời làm gia nghiệp.

Con người, ai cũng thế, có những lần mình chìm trong cái tôi của mình, mình chìm trong cái danh vọng của mình để quên đi căn tính đời mình, quên đi Nước Trời chính là nơi mà mình đi tìm.

Vẫn mang trong mình phần con nhiều hơn phần người, vẫn mang trong mình cái tôi quá lớn để vẫn đi tìm những cái phúc của trần gian. Chỉ có Phúc Nước Trời mới là phúc vĩnh cửu mà thôi.

Lạy Chúa, xin cho con vượt qua cuộc vui của thế gian sống tâm hồn nghèo khó thật sự và sống với người nghèo thật sự để con được hưởng Nước Trời như Chúa đã hứa.

Mic Thanh Châu

Hãy ‘cám ơn’ Trung Quốc

Hãy ‘cám ơn’ Trung Quốc

Tàu nạo vét của Trung Quốc trong vùng biển quanh đảo Đá Vành Khăn, thuộc quần đảo Trường Sa ở Biển Đông. Các chuyến bay trinh sát của Mỹ gần những bãi cạn mà Trung Quốc đang cải tạo cho thấy mấy mươi chiếc tàu đang ráo riết tiến hành hoạt động lấy đất lấp biển.

Tàu nạo vét của Trung Quốc trong vùng biển quanh đảo Đá Vành Khăn, thuộc quần đảo Trường Sa ở Biển Đông. Các chuyến bay trinh sát của Mỹ gần những bãi cạn mà Trung Quốc đang cải tạo cho thấy mấy mươi chiếc tàu đang ráo riết tiến hành hoạt động lấy đất lấp biển.

Nguyễn Hưng Quốc

10.06.2015

Từ đầu năm 2014 đến nay, Trung Quốc ra sức bồi đắp và tái tạo các bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa mà họ chiếm của Việt Nam vào năm 1988 thành những hòn đảo nhân tạo đủ lớn để làm căn cứ quân sự với hải cảng và phi trường cho các loại máy bay, kể cả máy bay phản lực. Báo chí Tây phương xem những hòn đảo nhân tạo này như một vạn lý trường thành bằng cát Trung Quốc sẽ sử dụng như những căn cứ quân sự nhằm chiếm cứ các hòn đảo còn lại ở Trường Sa và khống chế toàn bộ Biển Đông. Hầu như ai cũng nhận định giống nhau: đó là những việc làm nguy hiểm có thể đẩy các tranh chấp trong khu vực thành những xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và các quốc gia liên hệ gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei cũng như, sau các quốc gia ấy, là Mỹ và các đồng minh của Mỹ.

Những nguy hiểm ấy dĩ nhiên là có thật. Tuy nhiên, một mặt, tôi không mong chiến tranh sẽ bùng nổ, mặt khác, tôi lại cho những việc xây dựng ấy là điều may mắn cho Việt Nam.

May mắn thứ nhất là chúng thu hút sự quan tâm của quốc tế trước các âm mưu bành trướng của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trước, ai cũng biết Trung Quốc có tham vọng chiếm gần trọn Biển Đông. Họ không hề giấu giếm tham vọng ấy. Nó được công khai hoá qua con đường 9 đoạn hoặc con đường lưỡi bò mà họ công bố trước thế giới. Tuy nhiên, người ta vẫn xem lời tuyên bố ấy như những dự định và với dự định, cuộc chiến chỉ dừng lại phạm vi ngôn ngữ, hay nói cách khác, những cuộc khẩu chiến. Bây giờ, với việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo, người ta nhận ra dự định ấy không phải chỉ là một ước mơ. Nó đang được Trung Quốc biến thành hiện thực và hiện thực ấy khiến cho thế giới không khỏi lo lắng. Hệ quả đầu tiên là phần lớn các quốc gia thuộc khối ASEAN (trừ Lào và Campuchia) cảm nhận rõ hơn nguy cơ xâm lấn của Trung Quốc và từ đó, đoàn kết hơn trong nỗ lực chống lại dã tâm xâm lấn ấy.

May mắn thứ hai là chúng thúc đẩy Mỹ phải chính thức nhảy vào cuộc tranh chấp trên Biển Đông. Trong mấy tháng vừa qua Mỹ thường xuyên theo dõi sát sao mọi chuyển biến trong quá trình xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Trường Sa. Trong cuộc hội nghị thượng đỉnh về an ninh châu Á – Thái Bình Dương ở Shangri-la, Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter phê phán một cách thẳng thắn và gay gắt các hành động khiêu khích của Trung Quốc trên Biển Đông. Sự phê phán của Mỹ nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của hai quốc gia đồng minh là Nhật và Úc. Trong chuyến đi thăm Việt Nam ngay sau đó, Bộ trưởng Ashton Carter và Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Phùng Quang Thanh đã ký bản “Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng” nhằm định hướng cho việc phát triển quan hệ giữa hai nước trong tình hình mới. Liên quan đến quốc phòng, có hai sự kiện mới đáng chú ý trong quan hệ song phương ấy: Một là Mỹ sẽ viện trợ cho Việt Nam 18 triệu Mỹ kim để mua tàu tuần tra cao tốc của Mỹ; và hai là, cả Bộ trưởng Carter lẫn thượng nghị sĩ John McCain đều hứa hẹn Mỹ có thể sẽ nới lỏng hơn nữa việc bán vũ khí cho Việt Nam để Việt Nam có thể tự vệ trong các cuộc tranh chấp trên Biển Đông.

May mắn thứ ba là việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo tại Trường Sa sẽ làm thức tỉnh giới lãnh đạo Việt Nam. Lâu nay, bất chấp các âm mưu xâm lấn của Trung Quốc, chính quyền Việt Nam vẫn khăng khăng lặp đi lặp lại mấy khẩu hiệu dối trá và cũ rích về “4 tốt” (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt) và 16 chữ vàng (Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai). Năm ngoái, khi Trung Quốc cho giàn khoan Hải Dương 981 vào thềm lục địa Việt Nam, có lẽ chính quyền Việt Nam phần nào đã thức tỉnh. Từ đó, việc lặp lại các khẩu hiệu trên có chiều hướng giảm dần. Nhưng dù sao việc mang giàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam cũng ít nguy hiểm hơn việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo và quân sự hoá chúng: từ các căn cứ ấy, việc đánh chiếm các hòn đảo khác ở Trường Sa do Việt Nam làm chủ sẽ trở thành dễ dàng hơn rất nhiều. Đó là chưa kể đến việc, trên cơ sở sự hiện hữu của các hòn đảo nhân tạo ấy, Trung Quốc sẽ tuyên bố thành lập vùng nhận diện hàng không trên toàn bộ Biển Đông.

Khi cho việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo ở Trường Sa sẽ “thức tỉnh” giới lãnh đạo Việt Nam, tôi có hai hàm ý: Một, trước đó, họ chưa biết; và hai, họ quan tâm và tha thiết đến việc bảo vệ chủ quyền cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Với hàm ý thứ hai, có thể sẽ có một số người cho là tôi nhẹ dạ: theo họ, trên thực tế, giới cầm quyền Việt Nam đã đầu hàng hoặc thậm chí, bán đứng Biển Đông cho Trung Quốc. Tôi cố không tin như vậy. Một số người thì có thể, nhưng rất khó tin cả một tập thể đông đảo đến gần 200 người trong Ban chấp hành Trung ương đảng đều đang tâm làm việc đó. Tôi nghĩ, sẽ thuyết phục hơn, nếu chúng ta cho: Một, họ biết nhưng mức độ biết còn hạn chế, chưa thấy hết toàn cảnh những hiểm hoạ đến từ phương Bắc; hai, họ biết nhưng có ảo tưởng là cùng chia sẻ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc sẽ nhẹ tay, không đẩy họ vào thế đường cùng; ba, họ biết nhưng họ theo đuổi sách lược kềm chế và nhân nhượng với hy vọng có đủ thời gian để tìm liên minh cũng như trang bị thêm khí giới chuẩn bị cho những chiến tranh mà theo một số quan sát viên quốc tế, “không thể tránh khỏi”.  Thôi thì, rộng lượng, chúng ta thiên về khả năng thứ ba.

Tuy nhiên, sách lược kềm chế và nhân nhượng cũng phải có giới hạn của chúng: kềm chế và nhân nhượng đến mức nào? Trước, vào năm 2011, tôi đã đặt ra vấn đề ấy trong bài “Nhịn đến chừng nào?”.

Gần đây, trong bài “Phải ấn định một lằn ranh cho Trung Cộng”, nhà báo Ngô Nhân Dụng cũng đặt ra vấn đề tương tự. Ông viết: “người Việt Nam phải xác định một lằn ranh, nếu Trung Cộng bước qua thì sẽ phản ứng quyết liệt. Một chính phủ Việt Nam biết bảo vệ danh dự và chủ quyền dân tộc không thể để cho Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục lấn lướt. Phải xác định trước cả thế giới “lằn ranh” của lòng kiên nhẫn. Nêu rõ những hành động nào của Trung Cộng sẽ được coi là bước qua lằn ranh đó, công bố cho cả vùng Ðông Nam Á và các cường quốc có quyền lợi trong vùng biết rõ. Lằn ranh này được xác định là “bước đường cùng,” tới đó thì nước Việt Nam không thể chịu đựng với lòng nhẫn nhục. Phải báo trước nếu Bắc Kinh bước qua lằn ranh đó thì sẽ sinh chuyện lớn.”

Lâu nay, giới lãnh đạo Việt Nam vẫn lần khân trong việc công bố những giới hạn của sự kềm chế và nhân nhượng của họ. Sự kiện Trung Quốc xây dựng các hòn đảo nhân tạo buộc họ phải suy nghĩ đến những điều đó. Hoặc, nếu họ vẫn có ảo tưởng về lòng tốt của người bạn láng giềng cùng theo chủ nghĩa xã hội thì họ sẽ thức tỉnh và quay lại lo toan cho chủ quyền và tương lai của đất nước.

Tôi cho những sự kiện vừa xảy ra là một điều “may mắn” và chúng ta cần “cám ơn” Trung Quốc là vì thế.

Ô nhiễm môi trường ở Việt Nam

Ô nhiễm môi trường ở Việt Nam

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-06-09

06092015-gene-asse-of-envir-pollu-vn.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Một người bán ve chai thu gom bao nylon hoặc các thứ gì may ra có thể bán được dọc theo một con kênh bị ô nhiễm nặng tại Hà Nội, ngày 20 tháng mười năm 2006

Một người bán ve chai thu gom bao nylon hoặc các thứ gì may ra có thể bán được dọc theo một con kênh bị ô nhiễm nặng tại Hà Nội, ngày 20 tháng mười năm 2006

AFP

<

Ô nhiễm môi trường là vấn nạn chung của nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam… Trước thảm trạng đó các nước đều phải có biện pháp khắc phục trước khi phải trả giá đắt lúc mà ô nhiễm vượt quá mức được giới chuyên môn gọi là ‘điểm tới hạn’.

Thực tế ô nhiễm tại Việt Nam ra sao? Và biện pháp giải quyết được tiến hành thế nào?

Bài học Trung Quốc

‘Phát triển bằng mọi giá bất chấp đánh đổi môi trường’ là điều mà giới chuyên gia nêu ra qua thực tế Trung Quốc. Đây là nơi được mệnh danh ‘công xưởng sản xuất’ của thế giới từ mấy thập niên qua.

Chính các cơ quan chức năng chuyên về môi trường của Trung Quốc trong thời gian gần đây phải thừa nhận tình trạng môi trường không khí, nước, đất bị hủy hoại sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy về mặt kinh tế và xã hội.

Bộ trưởng Bảo vệ Môi trường Trung Quốc hiện nay, ông Trần Cát Ninh, lên tiếng thừa nhận những phản đối về môi trường ô nhiễm sẽ gây ra bất ổn xã hội, từ đó có thể khiến bất ổn chính trị.

Việt Nam cũng được cho là đang theo ‘vết xe đổ’ của Trung Quốc: chạy theo chỉ tiêu tăng trưởng mà không quan tâm đúng mức đến môi trường. Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, người quan sát kỹ tình hình ô nhiễm tại Việt Nam trong nhiều năm qua, có đánh giá về điểm này:

“ Về mức độ phát triển cũng như ô nhiễm, Việt Nam chỉ rập khuôn đi theo con đường của Trung Quốc. Trung Quốc từ khi mở cửa từ năm 1979 trở đi, chúng ta thấy rõ ràng tình trạng mà như hiện nay có những ngày thành phố Bắc Kinh người dân không hề thấy ánh sáng mặt trời. Và một số khói bụi từ các nhà máy sản xuất ở Vân Nam có nhiều lần được khám phá ra ở thành phố Seattle tận bên Hoa Kỳ, phía tây Thái Bình Dương. Điều đó chứng tỏ mức độ ô nhiễm đó.

Việt Nam mở cửa từ năm 1986, nghĩa là chừng 10 năm sau Trung Quốc. Và Việt Nam chập chững đi vào khủng hoảng về môi trường giống y hệt như của Trung Quốc. Điều này có thể càng ngày càng tệ hại hơn vì có thể nói hầu hết các cơ sở sản xuất hạng nặng như cơ sở sản xuất gang thép, cơ sở sản xuất điện năng dùng than đá và đặc biệt hai cơ sở khai thác bô xít lớn ở Tân Rai và Nhân Cơ. Và dự trù còn có thêm 6 cơ sở nữa tại Daknong; thì chúng ta thấy rõ với qui trình sản xuất lạc hậu, với não trạng sản xuất như người Trung Quốc đã làm cho đất nước Trung Hoa thì tình trạng của Việt Nam có thể càng ngày càng mau trầm trọng hơn, càng mau nguy kịch hơn nếu chúng ta không có biện pháp nào để giải quyết vấn đề.”

Về mức độ phát triển cũng như ô nhiễm, Việt Nam chỉ rập khuôn đi theo con đường của Trung Quốc. Trung Quốc từ khi mở cửa từ năm 1979 trở đi, chúng ta thấy rõ ràng tình trạng mà như hiện nay có những ngày thành phố Bắc Kinh người dân không hề thấy ánh sáng mặt trời

TS Mai Thanh Truyết

Chuyên gia môi trường thuộc Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, giáo sư Lê Huy Bá, đưa ra đánh giá về điều được nói là ‘vết xe đổ’ của Trung Quốc trong vấn nạn ô nhiễm môi trường:

“Bởi vì mình là dạng các nước xã hội chủ nghĩa với nhau; nói chung không hoàn toàn giống nhau nhưng cũng có phần tương đối đúng vì đang phát triển với khát vọng phát triển về kinh tế mạnh mẽ mà không coi trọng về môi trường sẽ dẫn đến những chuyện khó xử.

Nếu làm mạnh tay cách đây 10 năm thì đỡ lắm rồi; bây giờ mạnh tay thì cũng tốt thôi nhưng chỉ có tính chất vớt vát, chữa cháy thôi!”

Thực tế ô nhiễm tại Việt Nam

Qua theo dõi tình hình môi trường tại Việt Nam, tiến sỹ Mai Thanh Truyết hiện sinh sống tại bang California, có những đánh giá cụ thể về tình trạng ô nhiễm của các lĩnh vực khác nhau như sau:

“Đứng về tổng thể thì tất cả môi trường: không khí, đất, cũng như nước mặt, nước ngầm càng ngày càng tệ hại.

Giờ cao điểm trên đường phố TPHCM (donre-hochiminhcity-gov)

Giờ cao điểm trên đường phố TPHCM (donre-hochiminhcity-gov)

Nói về không khí thì ngày nay Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh hay Sài Gòn cũ, chúng ta không còn thấy những bàn tay, bộ mặt trong trắng mà chỉ những bộ mặt như người ninja của Nhật bản- bịt mặt, đeo găng tay. Thứ nhất vì bụi ô nhiễm quá cao. Theo tiêu chuẩn của Liên hiệp quốc, tiêu chuẩn của hạt bụi đường kính 10 micro meter quá nhiều nên phải bịt mặt. Ngoài nguồn bụi là nguồn khí độc thải ra do hằng triệu xe máy hai bánh. Nguồn xăng ở Việt Nam có độ octane cao, nhưng trong thực tế pha nhiều benzene. Do đó khí benzene tồn tại trong không khí; mà khí benzene là một khí có nguy cơ tạo ra ung thư. Cũng do vậy ‘tầng ozone mặt đường’ tức từ 1-2 thước chứa nhiều hóa chất độc hại trong có có benzene. Thực tế cho thấy hằng năm tỷ lệ người mắc bệnh phổi tăng cao, đặc biệt trẻ em dưới 5 tuổi.

Qua 19 năm phát triển Việt Nam có trên 265 khu gọi là khu chế xuất hay là khu phát triển công nghiệp. Khu chế xuất Tân Thuận là khu đầu tiên. Với trên 265 khu như thế từ bắc chí nam, và ở thành phố Hồ Chí Minh chẳng hạn còn có trên 20 ngàn cơ sở sản xuất lẫn lộn trong khu dân cư khiến cho khí thải, chất thải rắn và chất thải lỏng đều ‘không được’!

Đối với mặt nước, các chất phế thải lỏng do không có hệ thống thanh lọc, xử lý do đó nguồn nước thải đi vào các sông rạch. Đến nay chúng ta thấy rõ các sông Đuống, sông Luộc quanh Hà Nội cũng như hệ thống kênh rạch trong nội thành Sài Gòn hầu như biến thành những dòng sông đen.

Các nước xã hội chủ nghĩa với nhau; nói chung không hoàn toàn giống nhau nhưng cũng có phần tương đối đúng vì đang phát triển với khát vọng phát triển về kinh tế mạnh mẽ mà không coi trọng về môi trường

GS Lê Huy Bá

Đó là một hệ lụy mà nếu không giải quyết thì ngay cả sông Đồng Nai, sông Sài Gòn sẽ biến thành dòng sông đen vì nguồn chảy tự nhiên, sự điều tiết tự nhiên, sự thanh lọc thiên nhiên đã đến ‘điểm tới hạn’.

Đối với đánh giá về ‘điểm tới hạn’ của tình trạng ô nhiễm mà tiến sỹ Mai Thanh Truyết nêu ra; giáo sư Lê Huy Bá tại Sài Gòn có ý kiến:

“Điểm tới hạn thì nói cũng hơi quá. Có một số kênh rạch ở thành phố (Sài Gòn) thì tới hạn thật; nhưng môi trường đất chưa đến mức tới hạn. Về nước sông thì có một số sông tới hạn nhưng có một số sông thì chưa như sông Đồng Nai chưa tới hạn, còn sông Sài Gòn thì gần đến tới hạn. Kênh rạch của thành phố quá tới hạn chứ không phải tới hạn. Không khí của nông thôn còn sạch, không khí của thành thị rất bụi gần mức tới hạn. Tại các khu công nghiệp của thành phố thì tới hạn rồi, khu nông thôn thì chưa, còn khu ngoại thành mà có các khu công nghiệp thì tới hạn rồi.

Các trục giao thông chính ô nhiễm bụi đã tới hạn.”

Thực thi luật pháp

Tương như như nhiều nước khác trên thế giới, chính phủ cũng như các cơ quan chức năng tại Việt Nam cho ban hành luật cũng như những qui định pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Vậy việc thực thi và công tác kiểm tra, chế tài trong lĩnh vực môi trường ở Việt Nam lâu nay ra sao?

Tiến sỹ Mai Thanh Truyết đưa ra nhận định:

“Chính cơ chế này tạo ra một tập thể cán bộ từ trên xuống dưới cùng nhóm lợi ích với nhau ‘tham nhũng’. Lấy ví dụ giản dị là việc khai thác bô xít tại Tân Rai và Nhân Cơ hoàn toàn không qua nghiên cứu tác động môi trường nên vừa qua bùn đỏ nhiều lần tràn xa xã Tân Thắng cách Bảo Lộc 15 cây số. Mặc dù trong bộ Luật Môi trường, bộ Luật Đầu tư, luật xây dựng các cơ sở sản xuất hóa chất đều có ghi cần phải nghiên cứu tác động môi trường cũng như phải có hệ thống xử lý chất phế thải nhưng điều đó hầu như không xảy ra tại Việt Nam.”

Đối với mặt nước, các chất phế thải lỏng do không có hệ thống thanh lọc, xử lý do đó nguồn nước thải đi vào các sông rạch. Đến nay chúng ta thấy rõ các sông Đuống, sông Luộc quanh Hà Nội cũng như hệ thống kênh rạch trong nội thành Sài Gòn hầu như biến thành những dòng sông đen

TS Mai Thanh Truyết

Một người sinh sống và hoạt động trong ngành môi trường ở Việt Nam như giáo sư Lê Huy Bá cũng chỉ ra những bất cập tồn tại lâu nay trong nước về tình trạng thực thi luật pháp bảo vệ môi trường:

“Nói chung luật, qui định dưới luật khá đầy đủ, nhưng ngay cả luật, nghị định đôi lúc chồng chéo nhau như qui định về chất thải nguy hại người ta cũng cãi nhau khiến cho các cơ sở quản lý luật pháp ở cấp tỉnh, huyện khó thực thi.

Nhiều người thấy điều đó nhưng cách quản lý của mình (Việt Nam) trì trệ, không linh hoạt và ‘trên bảo dưới không nghe’. Ngoài ra không phải tất cả nhưng còn có một số chưa thống nhất.”

Giáo sư Lê Huy Bá nêu ra một số dẫn chứng:

“Ví dụ để theo dõi ô nhiễm không khí, có khoảng 6-7 trạm quan trắc tự động nhưng nay hư hết rồi, không còn chính xác nữa; nhưng mấy năm rồi cứ để như thế; không đầu tư thêm, không sửa chữa, không thay thế gì cả.

Ví dụ thứ hai là vấn đề quản lý lưu vực sông, cách đây gần mười mấy năm rồi có lập ra Ban Quản lý Lưu vực Sông nhưng có hoạt động gì đâu. Mỗi tỉnh có cách quản lý riêng, không ai nói ai được cả, không thống nhất với nhau. Mỗi tỉnh muốn đi một mình, có khi dẫm đạp lên nhau, có khi lại để cả khoảng trống, không ai lo cả!”

Cảnh báo cũng như thực tế cho thấy nếu chỉ hô hào suông mà không có biện pháp ngay từ lúc này thì một khi ô nhiễm đạt ‘điểm tới hạn’ thì đã quá muộn và giá phải trả sẽ đắt gấp nhiều lần so với hiện nay.

Tuy nhiên hầu như mọi cảnh báo của giới khoa học vẫn không được các nhà quản lý đất nước tại Việt Nam nghe như chính thừa nhận của giáo sư Lê Huy Bá; một chuyên gia trong ngành ngay tại Việt Nam.

Mục Khoa học- Môi trường kỳ này tạm dừng tại đây. Hẹn gặp lại các bạn trong chương trình kỳ tới.

‘Luật rừng’ giao thông trên đường phố Sài Gòn

‘Luật rừng’ giao thông trên đường phố Sài Gòn

Nguoi-viet.com

Văn Lang/Người Việt

SÀI GÒN (NV) – Giao thông trên đường phố Sài Gòn thường xuyên nhìn thấy những các vụ đụng xe gắn máy, va chạm nhẹ, nhưng do cách cư xử mà có khi chuyện này biến thành chuyện kia. Chuyện không lớn biến thành chuyện nhỏ, còn chuyện nhỏ có khi lại biến thành chuyện đau lòng.

Giao thông chật chội ở Sài Gòn là nguyên nhân của những vụ đụng xe, sau đó
có thể dẫn tới ấu đả và người thiệt mạng. (Hình: Văn Lang/Người Việt)

Nếu như ở Mỹ nếu hai chiếc xe hơi đụng nhau nhẹ, nghĩa là không ai bị thương, không ai chết, thì hai người chủ xe có thể xuống xe bắt tay nhau, cùng ngồi chờ bảo hiểm, cảnh sát và có thể xe cứu thương hụ còi chạy tới liền sau ít phút.

Nhưng Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông một thời, bây giờ rất khác. Khác vì sau bốn mươi năm “Cộng Sản từng ngày,” tâm tính con người cũng có nhiều thay đổi.

Xin kể về những câu chuyện trên đường phố Sài Gòn, để góp thêm một cái nhìn nữa về diện mạo của Sài Gòn muôn mặt!
Chết vì quá lương thiện

Chuyện đầu tiên không thể không nhắc tới là câu chuyện về anh D, người thanh niên 22 tuổi, quê Phú Yên.

Rời quê nhà vô Sài Gòn, anh D chỉ mang theo một ước mơ đơn giản, lương thiện là làm thuê kiếm tiền gởi về cho cha mẹ già nuôi hai em ăn học.

Nhưng giấc mơ của anh D đã sớm gẫy gánh một cách tức tưởi, chỉ vì một vụ va chạm nhẹ trên đường phố Sài Gòn.

Bữa đó, cuối tuần, anh D cùng hai người bạn đi chơi bằng xe Honda. Trên đường, không may anh D đụng xe nhằm một em nhỏ chạy ra đường.

Vụ đụng xe cũng nhẹ, nhưng vốn bản tính lương thiện, thay gì như dân thành phố thường rú ga bỏ chạy thì anh D lại cùng hai người bạn dừng xe, hỏi thăm, rồi chở em bé khoảng 3 tuổi, cùng mẹ của em vô bệnh viện Triều An, gần Xa Cảng Miền Tây để bác sĩ khám và chụp X quang.

Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình Sài Gòn (Sùng Chính), nơi tiếp nhận đa số
bệnh nhân bị tai nạn giao thông, hoặc do đâm chém nhau, số bị tai nạn do lao
động thì rất ít. (Hình: Văn Lang/Người Việt
)

Bác sĩ sau khi khám cho bé, đã kết luận cho anh D cũng như mẹ bé biết, là em chỉ bị xây xước nhẹ phần mềm không có gì đáng ngại.

Trong khi anh D ngồi chờ đóng viện phí cho bé, thì người nhà của bé gọi điện báo tin cho thân nhân của họ biết.

Lập tức, gần chục thanh niên hung hăng phóng xe tới bệnh viện, và câu duy nhất họ hỏi là, “Thằng nào chạy xe đụng cháu tao?”

Khi anh D đứng ra nhận, không thèm nói thêm lời nào. Nhóm thanh niên nhào tới, dùng nón bảo hiểm đập và đấm đá anh D tới tấp, khiến anh gục xuống. Hai người bạn anh D chạy tới can ngăn, cũng bị đánh xịt máu phải bỏ chạy.

Khi toán người nhà hung hãn kia đánh đã tay, bỏ đi thì người ta mới dám tới khiêng anh D vô phòng cứu cấp. Bác sĩ trực chỉ định chuyển gấp lên bệnh viện chợ Rẫy. Nhưng anh D đã chết mà không kịp nói một lời nào với ai.

Dư luận ồn ào, căm phẫn chuyện bảo vệ bệnh viện để người ta đánh chết người ngay trong khuôn viên bệnh viện mà không can thiệp.

Nhưng không thấy ai nhắc tới khía cạnh đáng buồn nhất của câu chuyện. Đó là, lâu nay thường khi đụng xe trên đường thì người gây tai nạn thường rú ga bỏ chạy, bỏ mặc nạn nhân.

Nhưng anh D đã dừng xe, cùng bạn đưa hai mẹ con em bé tới bệnh viện khám. Chính vì đàng hoàng mà anh D chết, nếu anh D cũng lưu manh, vô cảm như bao nhiêu kẻ khác thì có lẽ anh cũng đã sống “mạnh giỏi” như bao nhiêu kẻ không có trái tim khác.

Sống chết mặc bây

Mặc dù Việt Nam có luật là, nếu ai bỏ mặc không trợ giúp người khác trong khi người đó rơi vào tình trạng nguy hiểm, khẩn cấp thì sẽ bị pháp luật truy tố.

Nhưng chúng tôi đã chứng kiến sự việc từ một chuyến xe đêm.

Đó là, trên quốc lộ tuyến từ miền Tây về Sài Gòn. CSGT phải ra đứng giữa đường trong đêm, dùng đèn pin ra hiệu cho xe chạy trên đường dừng lại. Nhưng khi tài xế tới gần, phát hiện ra có vụ tai nạn giao thông, và có người phải đưa đi bệnh viện cứu cấp, thì họ liền “đánh tay lái” và chạy luôn.

Thấy vậy, chúng tôi liền hỏi bác tài xe khách mà chúng tôi đang đi, sao không dừng xe giúp người bị nạn thì được trả lời, “Máu me tùm lum, chết luôn trên xe thì còn xui nữa. Chưa kể thủ tục rắc rối lắm, tụi tôi chạy mướn, đúng giờ đúng tuyến, còn lo ‘tăng bo’ mà nuôi vợ con, ai giúp mình đâu?”

Và ở Việt Nam, luật thì vậy, nhưng cũng chưa bao giờ nghe có ai bị truy tố về tội không giúp người bị nạn trong lúc nguy cấp.

Trong khi, luật “rừng xanh” thì đầy.

Chạy xe, vô ý thức phóng qua vũng nước, văng nước dơ lên người đi đường. Lập tức bị ba bốn tay “yên hùng” dí đuổi tới cùng. Và chỉ vì cái tội mất dạy, làm văng nước lên người khác mà lãnh một dao chí mạng, tử vong du hí luôn.

Người bạn của chúng tôi kể, mười năm trước, trên một chuyến xe buýt, anh nhường chỗ cho hai mẹ con cô gái kia. Bà mẹ đã trọng tuổi, nói với con gái ,“Con cám ơn chú đi con, người tốt bây giờ hiếm lắm!”

Nhưng một người bạn khác của chúng tôi, cũng có kể là hai lần anh bị đụng xe trên đường, thì người gây tai nạn đều dừng xe hỏi thăm, cũng như được người đi đường giúp đỡ. Và chỉ sau khi anh bình tĩnh coi xét lại, thấy mình không bị gì, đồng ý cho người gây lỗi đi thì lúc đó người dân bên đường mới “thả” cho người kia đi.

Người tốt ở Sài Gòn, có lẽ chẳng bao giờ hết. Nhưng có lẽ một phần tại cơ chế quản lý xã hội thiếu sự khoa học và minh bạch. Cũng như mấy vị “phụ mẫu chi dân” thích nói một đàng làm một nẻo, tạo ra một xã hội – thượng bất chính hạ tất loạn!

Giao dịch ngầm với Trung Quốc: Việt Nam thua đủ đường

Giao dịch ngầm với Trung Quốc: Việt Nam thua đủ đường

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Năm 2014, nhập siêu trong quan hệ thương mại với Trung Quốc là 43.8 tỷ Mỹ kim chứ không phải chỉ là 28.9 tỷ Mỹ kim như Việt Nam công bố. Xuất cảng sang Trung Quốc cũng có chênh lệch.

Hàng Trung Quốc vẫn ồ ạt tràn vào Việt Nam theo đủ mọi đường: chình ngạch,
tiểu ngạch và buôn lậu. (Hình: VOA)

Tại cuộc thảo luận về việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội-ngân sách năm 2014 và sáu tháng đầu năm 2015, ông Mai Hữu Tín, một đại biểu Quốc Hội Việt Nam đã công bố những nghiên cứu riêng, cho thấy các số liệu về xuất cảng và nhập cảng trong quan hệ thương mại với Trung Quốc mà Tổng Cục Thống Kê Việt Nam công bố, đều có sự chênh lệch rất lớn so với những số liệu mà Tổng Cục Thống Kê Trung Quốc công bố.

Chẳng hạn theo Tổng Cục Thống Kê Trung Quốc, năm 2014, Trung Quốc xuất cảng sang Việt Nam số lượng hàng hóa trị giá 63,7 tỷ Mỹ kim, trong khi Tổng Cục Thống Kê Việt Nam chỉ ghi nhận đã nhập cảng số lượng hàng hóa trị giá 43,9 tỷ Mỹ kim từ Trung Quốc. Chênh lệch giữa số liệu hai bên là gần 20 tỷ Mỹ kim.

Cũng vì vậy, chênh lệch trong nhập siêu từ Trung Quốc tăng thêm 15 tỷ Mỹ kim (43,8 tỷ Mỹ kim) so với mức nhập siêu từ Trung Quốc mà Việt Nam công bố (28,9 tỷ Mỹ kim).

Tương tự, theo Tổng Cục Thống Kê Trung Quốc, năm 2014, Trung Quốc nhập cảng từ Việt Nam số lượng hàng hóa trị giá 19,9 tỷ Mỹ kim, trong khi Tổng Cục Thống Kê Việt Nam chỉ ghi nhận đã xuất cảng số lượng hàng hóa trị giá 14,9 tỷ Mỹ kim sang Trung Quốc. Chênh lệch giữa số liệu hai bên là khoảng 5 tỷ Mỹ kim.

Sự chênh lệch đó cho thấy Việt Nam không chỉ thua thiệt mà còn đối mặt với nhiều nguy cơ khác.

Các số liệu của Tổng Cục Thống Kê Trung Quốc cho thấy, nhập cảng từ Trung Quốc chiếm tới 38% tổng kim ngạch nhập cảng của Việt Nam trong năm 2014, chứ không phải là 30% như Tổng Cục Thống Kê Việt Nam công bố. Do đó, mức độ phụ thuộc của kinh tế Việt Nam vào nguyên liệu, vật liệu, phụ liệu của Trung Quốc lớn hơn mức từng được dự liệu.

Chênh lệch giữa số liệu hai bên về hàng hóa nhập cảng từ Trung Quốc cho thấy đã có hơn 20 tỷ Mỹ kim hàng hóa từ Trung Quốc tràn vào thị trường Việt Nam mà không phải chịu thuế nên Việt Nam không thống kê được. Việt Nam không chỉ thất thu về thuế nhập cảng mà khối lượng hàng nhập cảng lậu từ Trung Quốc tiếp tục đẩy các doanh nghiệp Việt Nam đến chỗ lụn bại.

Còn chênh lệch giữa số liệu hai bên về hàng hóa xuất cảng sang Trung Quốc cho thấy, Việt Nam không kiểm soát được những loại hàng hóa chiến lược cấm xuất cảng. Những loại hàng hóa chiến lược cấm xuất cảng này chủ yếu là tài nguyên, khoáng sản của Việt Nam.

Ông Tín nhận định, chính các giao dịch ngầm giữa các băng nhóm tại Việt Nam với thương nhân Trung Quốc đã tạo ra sự chênh lệch lớn cả về nhập cảnh lẫn xuất cảng trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Tuy những giao dịch ngầm này đã được cảnh báo từ lâu nhưng chưa rõ vì sao, chính quyền Việt Nam vẫn không ngăn chặn được. Ông Tín lưu ý, nếu sử dụng số liệu của Tổng Cục Thống Kê Trung Quốc thì tính về tổng thể, trong các năm từ 2012 đến 2014, Việt Nam không xuất siêu mà vẫn tiếp tục nhập siêu như 20 năm trước đó.

Bởi nhập siêu tiếp tục kéo dài, tăng nhanh, số lượng hàng hóa nhập cảng càng lúc càng lớn sẽ khiến Việt Nam khó kiềm giữ được tỷ giá giữa đồng Việt Nam và Mỹ kim.

Ông Tín ví von, quốc gia nào cũng cần một tấm áo giáp để bảo vệ nền kinh tế của mình và bảo đảm sự cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp với nhau nhưng trong quan hệ với Trung Quốc, tấm áo giáp đó càng ngày càng nát. (G.Đ)

THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

“Chỉ có Tình Yêu mới đáp đền Tình Yêu” – Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu

Trong một cuộc phỏng vấn, Mẹ Têrêsa Calculta đã phát biểu như sau:

Trong 20 năm phục vụ người nghèo, càng lúc tôi càng ý thức rằng: Cô đơn là căn bệnh khủng khiếp nhất của con người. Ngày nay, người ta đã tìm ra được thuốc chữa bệnh phong cùi. Bệnh nào cũng có thể có thuốc để chữa. Nhưng nếu người ta không biết chìa bàn tay ra để phục vụ và không có được một quả tim biết yêu thương thì con người sẽ không bao giờ chữa lành được căn bệnh khủng khiếp này.

Ai cũng đã hơn một lần hiểu được thế nào là cô đơn: một đứa bé rời gấu áo mẹ để cắp sách đến trường, một người ngoại quốc đặt chân đến một xứ sở xa lạ, một người bệnh nằm liệt giường lâu năm, một người tàn tật bị hạn chế trong các quan hệ với người khác v.v… Có lẽ không ai thoát khỏi sự cô đơn.

Chính Chúa Giêsu cũng cảm nghiệm sâu sắc niềm đau ấy. Mang lấy thân phận con người, chia sẻ khổ đau với con người, Ngài cũng không thoát khỏi cô đơn. Nỗi niềm ấy đã dâng cao trong nhiều giờ phút cuối đời Ngài khi bị treo lơ lửng trên không, làm trò cười cho những người xung quanh, Chúa Giêsu lại còn cảm thấy như bị chính Chúa Cha bỏ rơi. Ngài đã đi đến tận cùng sự cô đơn của con người. Nhưng cũng chính trong những giờ phút ấy, Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta chân lý tối hậu của Kitô giáo. Chân lý đó là “Thiên Chúa là Tình Yêu.” Qua thái độ tin phục và tín thác, Chúa Giêsu đã tỏ bày cho chúng ta thấy rằng: Chỉ trong Thiên Chúa Tình Yêu, con người mới tìm gặp được bản thân và thắng vượt được sự cô đơn.

***********************

Qúy vị và các bạn thân mến,

Hôm nay lễ Trái Tim Chúa Giêsu.  Năm 1698 – Tám năm sau ngày Thánh nữ Magarita Maria Alacoque, một nữ tu thuộc Dòng Thăm Viếng tại Pháp quốc qua đời, người ta khám phá được một tập sách có tựa đề: Tôn sùng Trái Tim Chúa Giêsu.  Tập sách đã khơi dậy những tâm tình sốt sắng của nhiều người Pháp đương thời đối với Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Năm 1765, theo nhu cầu của hàng giáo sĩ, Giáo Hội tại pháp đã cho thiết lập lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu.  Điều đáng ghi nhận là lễ này được phát sinh vào thời kỳ được mệnh danh là Thế kỷ của Ánh sáng.  Ánh sáng mà các triết gia của thế kỷ 18 đề cao chính là ánh sáng của khoa học và lý trí.  Nhiều người nhân danh lý trí để bác bỏ mọi tình cảm đạo đức và ngay cả niềm tin.  Do đó, lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu là một nhắc nhở cho con người thời đại về Tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu vượt qua mọi lý giải của khoa học và lý trí của con người.  Triết gia Pascal đã nói như sau: “Chính trái tim cảm nhận được Thiên Chúa, chứ không phải lý trí.”  Đức tin là thế đó!  Thiên Chúa cho anh trái tim chứ không phải lý trí để cảm nhận được Ngài.  Phép lạ của Con Một Thiên Chúa chính là trở thành người anh em của chúng ta, với một trái tim nhạy cảm đối với nỗi khổ đau của chúng ta.  Sự mới mẻ mà Chúa Kitô đã mang đến cho nhân loại là đã tỏ bày cho chúng ta một Thiên Chúa với một trái tim biết đập bằng những nhịp đập của trái tim con người.

Đó là tất cả lý do tại sao Giáo Hội không ngần ngại khẳng định trong Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng rằng: “Vui mừng và hy vọng, khổ đau và thử thách của con người cũng chính là vui mừng và hy vọng, khổ đau và thử thách của Giáo Hội.”  Giáo Hội chỉ có thể trung thành với Chúa bằng cách chia sẻ hoàn toàn cuộc sống của con người mà thôi.  Chỉ bằng một sự cảm thông và chia sẻ như thế, Giáo Hội mới có thể tỏ bày Trái Tim của Chúa Giêsu, hình ảnh trọn hảo của Thiên Chúa.  Trái Tim của Chúa Giêsu là một trái tim biết rung lên những nhịp của lắng nghe và cảm thông.

Với trái tim ấy, Ngài mời gọi chúng ta chờ đợi và nhận biết gương mặt của Thiên Chúa trong mỗi người anh em chúng ta, nhất là những người mà khổ đau làm cho biến dạng.

Với một trái tim ấy, Ngài cho chúng ta hiểu được rằng: Chính Thiên Chúa là Tình Yêu.

Với trái tim ấy, Ngài ban cho chúng ta sức mạnh cần thiết để đáp trả lại Tình yêu của Thiên Chúa bằng chính Tình yêu của chúng ta dành cho người anh em.

Với trái tim ấy, Ngài mời gọi chúng ta đặt tất cả tin tưởng và phó thác vào Tình yêu vô biên của Thiên Chúa.

***********************

Lạy Trái Tim Chúa Giêsu, Ngài đã cho chúng con một quả tim mới, một Thần khí mới, xin dạy

con biết yêu như Ngài đã yêu để đền đáp lại tình yêu mà trái tim Ngài đã dành cho con.

Sưu tầm