Gia đình Mỹ-Việt bán Pizza ở Lạc Dương, Đà Lạt

Gia đình Mỹ-Việt bán Pizza ở Lạc Dương, Đà Lạt

Nguoi-viet.com

Trần Tiến Dũng/Người Việt

ĐÀ LẠT (NV) Trong tình trạng ham thích một cách hỗn độn các loại ẩm thực du nhập từ Âu Mỹ ở Việt Nam hiện nay, đến người Sài Gòn cũng cảm thấy bất ngờ khi biết rằng ở kề bên ngọn núi Lang Bian, thị trấn Lạc Dương heo hút lại có một lò bánh pizza đúng khẩu vị Mỹ gốc Ý.

Gia đình Mỹ-Việt mở lò bánh pizza ở thị trấn Lạc Dương- Đà Lạt.
(Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Khi ông chủ làng du lịch Cù Lần, Văn Tuấn Anh nói rằng sẽ mời chúng tôi ăn trưa bằng bánh pizza, chúng tôi tưởng mình nghe lầm, có người còn cho rằng chắc là món bánh xèo miền Trung thay tên đổi họ cho thêm phần vui lạ.

Nhưng khi cô gái người K’ Ho tên là RoLăn đưa chúng tôi đi dọc theo con đường lớn của thị trấn, trước mặt chúng tôi cái lò bánh pizza hiện ra với hình dáng không khác gì mọi cái quán hủ tiếu hay bún bò.

Giữa trưa, trong cái nắng nhưng lạnh của xứ Lạc Dương-Đà Lạt, lò bánh pizza không có một người khách nào. Phải một lúc sau người phụ nữ trung niên mặc tạp đề đầu bếp mới bước ra chào khách từ trong cái nhà lợp tôn có từ thời Đà Lạt trước 1975.

Chúng tôi chưa kịp biết bà là chủ hay chỉ là người thợ làm bánh thì đã bị cái bếp nướng bánh pizza xây bằng gạch thô, ống khói làm bằng mấy miếng tôn thiếc hút mất cái nhìn.

Bánh pizza được làm từ các nguyên liêu tươi sạch của cao nguyên
Đà Lạt. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Nhưng ấn tượng nhất vẫn là nguyên cái đầu trâu treo trang trí ngay trên lò bánh rất ư đúng kiểu quán trong một thị trấn của phim cao bồi miền Viễn Tây Hoa Kỳ.

Cả đoàn chúng tôi ngồi vào cái bàn được làm bằng miếng gỗ thông thô. Người đàn bà nướng bánh không nói không rằng gì với khách, bà tiếp tục làm cái việc nhồi bột bánh. Khi miếng bánh pizza với đầy đủ các phụ phẩm cần thiết, bà tiến lại mở cửa lò nướng bánh, lúc đó bà mới hỏi bằng giọng của người xứ Quảng. “Các anh mua mấy cái?”

Chúng tôi nhìn ánh lửa củi bừng cháy khi gió lùa vào trong lò, không cần tốn công sức thổi lửa cực nhọc thì đoán biết người xây lò nướng bánh này đúng là tay làm bánh có hạng.

Một lúc sau, chúng tôi được dịp tiếp xúc với ông chủ lò bánh. Người đàn ông trung niên này là một công dân Hoa Kỳ chính hiệu. Ông tên James Reelick, sinh ra và lớn lên ở Connecticut.

Ông cho biết, ông học ngành thảo mộc, ở Mỹ ông làm việc trong một công ty trồng hoa của gia đình. Ông đến Đà Lạt năm 2007 và chọn gắn bó với núi rừng Lang Bian-Lạc Dương từ đó.

Có không một ngày nào đó nông dân Lạc Dương ăn bánh pizza
của ông Mỹ thay cơm? (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Khi được hỏi vì sao ông đưa một thứ bánh đặc thù văn hóa Âu Mỹ đến một cái nơi mà món bánh mì du nhập có tuổi hơn trăm năm còn “khó sống” cạnh tranh bún, cơm và rau. Ông thành thật cho biết. Để tồn tại ở cao nguyên Lâm Viên tuyệt đẹp này, ông đã làm nhiều nghề nhưng khi rơi vào thế bí thì cái lò bánh pizza này lại cứu ông.

Người dân ở Lạc Dương gọi ông với cái tên thân mật là ông Tây Pizza. Ông giới thiệu cho chúng tôi biết người thợ phụ đang nướng bánh là vợ ông, một người phụ nữ quê Quảng Nam, bà có 2 đứa con riêng và hiện giờ có chung với ông một bé gái ba tuổi.

Ông cho biết, ông hiểu “hoàn cảnh khó” của cái bánh pizza rất Mỹ khi xuất hiện ở thị trấn miền núi này và ông cũng không ngờ sức sống của cái bánh pizza này lại vượt qua mọi trở ngại về văn hóa, chính trị… để trở thành quen thuộc với người dân Lạc Dương, khách du lịch và các du khách nước ngoài đến thành phố Đà Lạt.

Cái lò nướng bánh pizza trang trí đầu trâu cũng ra phong cách
miền Viễn Tây Mỹ. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Hiện tại nguồn thu nhập chính nuôi sống gia đình Mỹ-Việt của ông là lò bánh pizza và trong ông đang ấp ủ một số dự án du lịch nghỉ dưỡng khác mà ông tin rằng sẽ góp phần biến Lạc Dương- Đà Lạt thành một thị trấn đa văn hóa, bởi không đâu ở Việt Nam có phong cách văn hóa Tây phương bằng Đà Lạt.

Chúng tôi được mời ăn bánh, miếng bánh được nướng và cắt ngay trên một miếng gạch tàu của người Việt. Người đàn bà Việt được chồng Mỹ truyền nghề làm bánh pizza này tuy ít nói nhưng vẫn hỏi chúng tôi cho ra cái điều mà chị thắc mắc rằng: Bánh chị làm có ngon không, so với pizza ở Sài Gòn có bằng không?”

Chúng tôi trả lời cho chị yên lòng là bánh rất ngon. Rồi chị phân bua, trong các loại nguyên liệu làm bánh chỉ trừ dầu ô liu là đồ nhập, mọi thứ khác như cà chua, trứng, thịt, hải sản đều được chọn từ nguyên liệu tươi sạch của Đà Lạt.

Đoàn chúng tôi 6 người, ăn tất cả 3 cái bánh pizza của ông Tây, cảm giác lạ miệng, no; và rõ ràng thật thú vị khi nghĩ tới viễn cảnh một ngày nào đó các nông dân Đà Lạt gốc Bắc-Trung-Nam cùng bà con người dân tộc thiểu số ở vùng núi Lang Bian, Lạc Dương này mà chọn ăn bữa trưa bằng thức ăn nhanh pizza Mỹ.

Báo cáo về Tình Hình Nhân Quyền tại Việt Nam năm 2014.

Báo cáo về Tình Hình Nhân Quyền tại Việt Nam năm 2014.

*      *     *

Cũng như mọi năm, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam có trụ sở chính tại miền Nam California vừa cho công bố vào đầu tháng 5/2015 Bản Báo Cáo về Tình Hình Nhân Quyền tại Việt Nam trong năm 2014. Bản Báo Cáo năm 2014 được trình bày khá chi tiết trải dài trong 90 trang kèm theo nhiều hình ảnh về các nhân vật đã tích cực tham gia tranh đấu cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền ở trong nước – với 2 ấn bản Việt ngữ và Anh ngữ.

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ XXI Ngày Nhân Quyền Việt Nam được tổ chức tại Thủ đô Washington DC vào đúng ngày 11 tháng 5 vừa qua, ấn bản tiếng Anh của Bản Báo Cáo này đã được phổ biến rộng rãi đến tận tay các Dân biểu, Nghị sĩ và các giới chức hàng đầu trong chính phủ Hoa Kỳ cũng như đại diện các cơ quan tranh đấu nhân quyền, giới truyền thông báo chí v.v…

Đặc biệt, trong Phần Phụ Lục một danh sách ghi rõ tên tuổi của hàng mấy trăm các tù nhân lương tâm hiện đang bị giam giữ trong các nhà tù ở Việt nam – cũng như của những tù nhân mới được trả tự do nhưng vẫn còn bị quản chế theo dõi ngặt nghèo ở Việt Nam.

Quí bạn đọc có thể tìm kiếm đày đủ các chi tiết của Bản Báo Cáo này trên địa chỉ website của Mạng Lưới Nhân Quyền VN như sau đây : www.vietnamhumanrights.net

Giới thiệu sách: Hồng phúc nước Mỹ

Giới thiệu sách: Hồng   phúc   nước   Mỹ

Nguyên tác tiếng Anh  :  American Grace

Tác giả : Robert D. Putnam & David E. Campbell

Nhà xuất bản : Simon & Schuster ấn hành năm 2010

Người giới thiệu : Đòan Thanh Liêm

Đây là một cuốn sách biên sọan rất công phu của hai nhà nghiên cứu xã hội học nổi danh hiện nay tại Mỹ. Cuốn sách trình bày những nhận định thật sâu sắc về sự biến chuyển trong đời sống tâm linh và văn hóa của người dân Mỹ, đặc biệt trong vòng 50 năm vào cuối thế kỷ XX gần đây.  Các tác giả đã dựa trên những thống kê, điều tra (survey), phỏng vấn gần đây nhất, và đã tham khảo đủ thứ tư liệu có giá trị trong suốt quá trình tìm hiểu cân nhắc, để rồi đi tới được những nhận định tổng hợp rành mạch về một trong những vấn đề rất quan trọng và phong phú của khu vực xã hội dân sự hiện nay tại nước Mỹ.

Tác giả thứ nhất, Robert Putnam là giáo sư kỳ cựu tại đại học Harvard, từng là khoa trưởng của Kennedy School of Government và là chủ tịch Hiệp hội Khoa học Chính trị Hoa kỳ. Ông cũng là tác giả của khá nhiều cuốn sách, trong đó cuốn “Bowling Alone : The Collapse and Revival of American Community” xuất bản năm 2000 thuộc lọai sách bán chạy nhất (bestseller). Trong cuốn này, tác giả cảnh báo về sự giảm sút nghiêm trọng về nguồn vốn xã hội (social capital) trong xã hội nước Mỹ vào cuối thế kỷ XX.

Tác giả khác, David Campbell cũng là một giáo sư tại đại học Notre Dame danh tiếng ở Indiana và là một chuyên gia về tôn giáo, chính trị và chính sách công cộng. Ông này cũng là tác giả của một số cuốn sách, trong đó có cuốn được nhiều người chú ý : “Why we vote : How Schools and Communities Shape Our Civic Life ?”

Ngay nhan đề tòan bộ của cuốn sách dài tổng cộng trên 680 trang cũng đã cho người đọc hình dung được giá trị của công trình nghiên cứu khoa học rất công phu, đồ sộ và nghiêm túc của hai tác giả lừng danh này, nhan đề đó ghi chi tiết như sau :

American Grace

How Religion Divides and Unites Us

(Hồng phúc nước Mỹ : Tôn giáo chia rẽ và kết hợp giữa chúng ta như thế nào).

Cuốn sách được phân bố chủ yếu trong 15 chương dài 550 trang, kèm theo 2 phần phụ lục và phần ghi chú xuất xứ dài khỏang 100 trang. Xin ghi tiêu đề của một số chương đáng chú ý như sau :

*Chương 1 : Sự Phân cực và Đa nguyên tôn giáo ở Mỹ (Religious Polarization and Pluralism).

*Chương 6 : Những sáng kiến đổi mới trong Tôn giáo  (Innovations in Religion).

*Chương 7 & 10 : Những đỏan văn minh họa : Sắc tộc, Giới tính và Tôn giáo  –  Tôn giáo và Chính trị đan kẽ với nhau ra sao? (Vignettes)

*Chương 11 : Tôn giáo trong Đời sống Chính trị nước Mỹ (Religion in American Politics).

*Chương 15 cuối cùng : Hồng phúc nước Mỹ : Một dân tộc bao dung nối kết những chia cách tôn giáo như thế nào (America ‘s Grace : How a Tolerant Nation Bridges Its Religious Divides)

A – Mấy nét chính yếu trong cuốn sách.

Nhìn qua cuốn sách, ta có thể ghi nhận một số điểm như sau :

–          Từ lâu, người Mỹ vẫn có niềm tin tôn giáo sâu sắc, nhưng cũng rất khác nhau trong cách hành đạo. Mà họ lại có tinh thần bao dung đặc biệt về tôn giáo. Trong mấy thập niên gần đây, bối cảnh sinh họat tôn giáo đã thay đổi rõ rệt.

–          Từ đầu thập niên 1960, nước Mỹ đã trải qua 3 cuộc chấn động thật mạnh mẽ về mặt tôn giáo. Trước hết, trong thập niên 1960 việc hành đạo bắt đầu giảm sút nhiều. Rồi vào thập niên 1970 và 1980, đã xảy ra phong trào phản ứng bảo thủ với sự phát triển mạnh mẽ của phái hữu, thường được gọi là truyền thống “ Tin Lành Evangelical”. Và từ thập niên 1990, thì giới trẻ bắt đầu tách khỏi sự liên kết giữa tôn giáo với chủ trương chính trị bảo thủ, họ xa rời các giáo hội, nhưng lại không nhất thiết từ bỏ niềm tin tôn giáo.

–           Hậu quả là đang có sự phân cực mỗi ngày một lớn rộng – hàng ngũ bảo thủ và thế tục phóng khóang mỗi bên đều có sự gia tăng về số lượng người theo, cùng lúc với số người ôn hòa ở vào phía giữa hai bên. Số người tự xếp mình không sinh họat với một nhà thờ nào – được tác giả gọi là “nones”- đã gia tăng trong vài chục năm gần đây từ 5% lên đến trên 25%, nhất là trong lớp người trẻ.

–          Với nhiều hôn nhân kết hợp giữa người theo tôn giáo khác nhau (Interfaith marriage), trong các gia đình đã có sự chấp thuận dễ dàng về sự khác biệt trong nếp sống tôn giáo. Tác giả nêu ra mô hình “Nguyên lý Dì Susan” (Aunt Susan Principle) để diễn tả hiện tượng trong nhà có một bà dì đạo đức, thánh thiện, nhưng mà lại có niềm tin tôn giáo khác biệt với đa số trong gia đình.

–          Trong suốt cuốn sách, người đọc có thể dễ dàng nhận ra những khám phá thật lý thú đến ngạc nhiên của các tác giả, điển hình như : * Có đến khỏang 40% các gia đình kết hôn giữa người thuộc tôn giáo khác nhau – * Có đến một phần ba dân Mỹ đã thay đổi tôn giáo cách này hay cách khác – * Cả những người sùng đạo cũng tin tưởng rằng người theo tôn giáo khác vẫn được lên thiên đàng – * Người theo đạo thường cũng là người láng giềng tốt và tham gia nhiều hơn vào các việc từ thiện nhân đạo…

–          Trong nhiều thập niên sắp tới, đây có thể coi như là cuốn sách quan trọng nhất trình bày về đời sống tôn giáo ở nước Mỹ, và cũng là một tài liệu thiết yếu cho sự tìm hiểu về văn hóa trong xã hội Mỹ hiện nay vậy.

B – Giới thiệu một vài chương điển hình.

Chương 9 : Tính Đa dạng, Sắc tộc và Tôn giáo (trang 260-319)

(Diversity, Ethnicity, and Religion)

Là một dân tộc gồm nhiều thế hệ người di dân từ các địa phương khác nhau trên thế giới tới lập nghiệp tại nước Mỹ, nên quốc gia này có tính chất đa dạng nổi bật về mặt chủng tộc, cũng như về truyền thống tôn giáo và văn hóa. Nói chung, thì người Mỹ có tinh thần tôn giáo cao độ (high religiosity) kết hợp với sự đa dạng về sắc tộc và chủng tộc (ethno-racial diversity). Người Tin Lành Da đen và người Do Thái đều có sự liên kết chặt chẽ về mặt chủng tộc và tôn giáo; mà hơn nữa, họ cũng thường có sự đồng nhất trong họat động chính trị.

Người Mỹ gốc Latinh hiện đang góp phần làm gia tăng ảnh hưởng của đạo Công giáo La mã trong xã hội Mỹ. Người di dân gốc từ miền Bắc Âu châu và nước Đức vẫn giữ được truyền thống của Tin Lành theo giáo phái Lutheran.

Và trong số người da trắng, thì từ ba chục năm nay, tỉ lệ chống hôn nhân dị chủng, cũng như nạn kỳ thị đánh giá thấp đối với người da đen đã giảm bớt đáng kể, hiện chỉ còn chừng 5% vẫn giữ thành kiến kỳ thị này.

Chương 13 – Tôn giáo và tính cách Láng giềng tốt (trang 442-492)

(Religion and Good Neighborliness)

Cuộc điều tra rất quy mô lấy tên là “Faith Matters Survey” thực hiện năm 2006 cho ta thấy rằng : người sùng đạo thì tham gia công việc thiện nguyện nhiều hơn và lại đóng góp vào các dự án từ thiện nhân đạo hơn là người không có niềm tin tôn giáo. Người ngoan đạo lại còn tham gia tích cực vào công tác phục vụ cộng đồng tại lối xóm địa phương nơi họ sinh sống.

Bằng nhiều biểu đồ thiết lập rất công phu, tác giả chứng minh sự đóng góp cho xã hội dưới nhiều hình thức như tiền bạc, thời gian công tác thiện nguyện do lớp người sùng đạo thực hiện thường xuyên. Tác giả còn nêu ra sự tín nhiệm của quần chúng thì thường ở mức cao đối với những người có lòng sùng đạo.

Các tác giả cũng xác nhận sự quan sát của nhà nghiên cứu thời danh Alexis de Tocqueville thực hiện vào hồi đầu thế kỷ XIX tại Mỹ rằng : “Tôn giáo đóng góp nhiều cho nền dân chủ ở nước Mỹ”. Bởi vì thông thường người Mỹ ngoan đạo nào thì cũng là một láng giềng tốt và là người công dân tích cực nữa. Lý do chính yếu là do sự gắn bó mật thiết với sinh họat trong cộng đòan tín hữu, nên người sùng đạo dễ dàng hưởng ứng với họat động từ thiện xã hội, thêm vào với công tác thuần túy tôn giáo.

Chương 15 –Nhận định tổng kết : Hồng phúc nước Mỹ (trang 516 -550)

(America’s Grace: How a Tolerant Nation Bridges Its Religious Divides)

Nước Mỹ chia rẽ về phương diện tôn giáo, nhưng so với các lãnh vực khác như chủng tộc, giai cấp hay chính trị, thì sự chia rẽ này cũng lại nhỏ hơn nhiều. Đa số người Mỹ vẫn coi Tôn giáo là một chất keo (glue) gắn liền các thành phần dân tộc lại với nhau. Và các nhà lãnh đạo quốc gia từ Tổng thống Jefferson hồi xưa cho đến Obama ngày nay, thì đều nói tới Thiên chúa, mỗi khi phải lên tiếng kêu gọi sự đòan kết của dân tộc trước những biến cố nghiêm trọng nào. Tu chính án số 1 vẫn được tôn trọng để bảo đảm tính chất đa nguyên về tôn giáo trong xã hội Mỹ. Thống kê mới nhất năm 2006 cho ta thấy có đến 80% người Mỹ coi trọng sự đa dạng về tôn giáo (religious diversity).

Trong nội bộ mỗi gia đình, thì đang có những người có niềm tin tôn giáo khác nhau, mà vẫn thuận thảo chấp nhận sự khác biệt đó. Mà trong số mấy bạn bè thân thiết nhất, thì cũng luôn có người bạn lại có niềm tin khác với mình. Tác giả còn nêu ra mô hình “Nguyên lý Bạn Al của tôi” (My Friend Al Principle) – cũng tương tự như “Nguyên lý Dì Susan” đã ghi ở trên – để làm nổi bật sự thân thiết trong mối quan hệ giữa bạn hữu, mặc dầu họ có niềm tin tôn giáo khác nhau.

Rõ ràng là Tôn giáo được coi như lãnh vực riêng tư của mỗi cá nhân (privacy), mà mọi người khác đều phải tôn trọng. Và đa số người Mỹ ngày nay đều công nhận rằng : “ Cũng có những chân lý căn bản ở trong nhiều tôn giáo khác ”,  chứ không phải chỉ duy nhất trong tôn giáo riêng của mình, thì mới có chân lý mà thôi.

Nói vắn tắt lại, các tác giả lạc quan trước sự kiện là nhờ mạng lưới các mối liên hệ thân thiết giữa các cá nhân đan kết chặt chẽ dày đặc với nhau, mà xã hội nước Mỹ ngày nay đang bảo đảm được tình trạng đa nguyên về tôn giáo. Các mối liên hệ thân thiết trong gia đình, cũng như giữa bạn hữu ngòai xã hội đã giúp cho sự kết hợp được tính cách đa dạng tôn giáo với lòng sùng đạo của các tín đồ theo đuổi các niềm tin tôn giáo khác nhau. Và đó mới chính là “Hồng phúc của nước Mỹ” ở vào đầu thế kỷ XXI vậy.

C – Một công trình nghiên cứu được đánh giá cao.

Cuốn sách American Grace vừa mới ra mắt công chúng chưa đày một năm, mà đã được nhiều thức giả và giới phê bình đánh giá rất cao.  Cụ thể như sử gia Doris Kearns Goodwin, thì bà ghi rằng : “Đây là một công trình vĩ đại, một mô tả dựa trên nền móng của sự nghiên cứu đồ sộ… Rõ rệt, đó là một chiến thắng.”

Học giả Cornel West thuộc Trung tâm Nghiên cứu  người Mỹ gốc Phi châu, Đại học Princeton, thì viết : “ American Grace tức thời đã trở thành một văn bản đúng tiêu chuẩn. Cuốn sách rất cần thiết cho sự tìm hiểu về nền văn hóa tôn giáo đa nguyên của chúng ta. Và sách này cũng gợi hứng cho chúng ta phải đào sâu thêm nữa nền dân chủ đại kết của chúng ta” (our ecumenical democracy).

Giáo sư Jim Cullen dậy tại Trường Fieldston, New York, thì viết : “ Bức thông điệp chính yếu của American Grace  là :” Những chia rẽ xã hội vì lý do tôn giáo trong lối sống ở Mỹ thì rõ rệt là không quan trọng bằng vai trò của Tôn giáo như là một thứ chất keo dính có khả năng gắn chặt trong xã hội “.

Vào đầu năm 2011, trong một cuộc phỏng vấn khá dài với chương trình “Faith and Leadership” (Niềm Tin và Lãnh đạo), tác giả Robert Putnam đã có dịp nhấn mạnh thêm rằng : “ Tác giả David Campbell và tôi đều có ấn tượng sâu sắc về mức độ các tôn giáo ở Mỹ đã luôn cố gắng thích nghi và rất sáng tạo từ nhiều thế kỷ nay. Đó là khía cạnh độc đáo gần như duy nhất của nước Mỹ, nếu so sánh với những nơi khác trên thế giới…” Giáo sư Putnam cũng lại cảnh giác rằng : “ Những tôn giáo mà không chịu thích nghi đổi mới, những tôn giáo mà quá dính líu với chính trị, thì nhất định là không thể tồn tại lâu bền được”.

Cũng trong cuộc phỏng vấn này, giáo sư Putnam còn giải thích rõ ràng thêm :  “Người Thiên chúa giáo da đen (Black Christians) có thái độ khá là khoan dung, hơn là người Thiên chúa giáo da trắng, đối với người Muslim. Tại sao vậy? Đó là do có người Muslim da đen ở Mỹ. Nhiều người da đen có Dì Susan theo đạo Muslim (Muslim Aunt Susan). Và tại nhiều nơi trong nước Mỹ mà vẫn còn sót lại nạn bất khoan dung về tôn giáo, cụ thể như đối với người theo đạo Mormon hay đạo Phật. Đó là vì chúng ta chưa có nhiều những Dì Susan theo đạo Mormon hay theo đạo Phật…” (Mormon Aunt Susan, Buddhist Aunt Susan).

Để tóm tắt lại, người viết xin nhắc thêm một lần nữa rằng : Đây là một cuốn sách nghiên cứu rất có giá trị về sinh họat tôn giáo trong xã hội Mỹ ngày nay ở vào đầu thế kỷ XXI. Các tác giả đã dày công sưu tầm nghiên cứu, và nghiêm túc phân tích nhận định tòan diện vấn đề theo đúng với phương pháp khoa học, khách quan và vô tư.

Và xin trân trọng giới thiệu cuốn sách quý báu này đến với quý bạn đọc muốn tìm hiểu sâu xa hơn về sinh họat của dòng chính trong xã hội nước Mỹ hiện nay vậy./

California, tháng Bảy năm 2011

Đòan Thanh Liêm

Mỹ Hết Lý Do Giúp VNCS

Mỹ Hết Lý Do Giúp VNCS

Vietbao.com

Kiểu tráo bài ba lá của CSVN đã bị bể mánh. Kiểu đi du dây của CSVN cũng bị đứt dây. Mỹ không còn lý do gì nữa để giúp VNCS lấy lại biển đảo bị Trung Cộng chiếm cứ. Đừng nói Ngoại Trưởng Kerry người “nhiệt tình” ủng hộ Mỹ bình thường hoá bang giao và giao thương với CS Hà nội, ngay Đệ Nhứt Phu Nhân Mỹ Michelle Obama đầu ấp tay gối với TT Obama giả sử có năn nỉ, ỉ ôi TT Obama và dù Mỹ có tung hạm đội, tăng cường tàu chiến tuần tra vùng Biển Đông, chống TC lập vùng nhân dạng phòng không đi nữa — Mỹ cũng không giúp VN giành lại chủ quyền ở Biển Đông. Lý do:

Một, về tâm lý chánh trị, chánh quyền Mỹ không thể thuyết phục công luận để Mỹ giúp VNCS. Chánh quyền Mỹ là chánh quyền của dân, vì dân, do dân, do dân bầu. Mà CSVN chửi mắng Mỹ thậm tệ thì làm sao chánh quyền có thể đi ngược lại lòng dân, lấy tiền thuế của dân giúp, đưa quân nhân Mỹ giúp bảo vệ Biển Đông của CSVN là chế độ đã chửi mắng Mỹ thâm tệ gần đây.

Thực tế đã cho thấy CSVN đã theo đuôi TC một cách rõ ràng như hai với hai là bốn rồi. Bằng cớ rõ rệt nhứt là sau chuyến đi của Tổng bí thư CSVN sang Bắc Kinh, diện kiến Tâp cận Bình, thì CSVN chuyển hướng ngoại giao với Mỹ ngược 180 độ. Tiêu biểu nhứt là Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng đọc bài diễn văn 30/4 tại Saigon trong cuộc duyệt binh, chửi mắng Mỹ là “đế quốc”, là “dã man” và cám ơn CS Nga Tàu giúp CS Bắc Việt đáng cho “ Mỹ cút, Nguỵ nhào”, chửi còn bạo hơn thời chiến tranh chống Mỹ cứu nước nữa.

Theo tinh lý hiến pháp, luật pháp Mỹ, Mỹ chưa bao giờ giúp quân sự cho một chế độ CS. Nhưng mấy năm nay vì vấn đề TC bành trướng lấn chiếm Biển Đông, Mỹ gia giảm có phát triễn họp tác toàn diện với VNCS, chỉ hứa bán vũ khí sát thương từng vụ cho CSVN. Bây giờ CSVN chửi mắng Mỹ như vậy, hỏi có tổng thông, ngoại trưỏng, bộ trưởng quốc phòng, đại sứ, nghị sĩ, dân biểu nào giả câm, giả điếc mở miệng đề nghị Mỹ giúp VNCS trong vấn đề biển đảo ở Biển Đông.

Hai, về hiện tình tương quan quân sự, nếu Mỹ giúp cho VNCS là nối giáo cho TC. Hiện nay hai bộ trưởng quốc phòng của CS TQ và VN tuy hai nhưng là một rồi. Ngày 15/5 vừa qua Bộ trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh của VNCS và Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn của TC “ hồ hởi, phấn khởi” gặp nhau ở biên giới, ca ngợi hai Quân đội “quyết tâm hợp tác, đoàn kết hữu nghị, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển triển kinh tế của nhân dân ở hai nước.” Cả hai hôn hít nhau, siết chặt tay như hai người đồng tinh luyên ái, chứng tỏ hợp tác chiến lược hết súc toàn diện và thấm thía”. Tin VOA cho biết hai người còn còn trồng cây lưu niệm, chứng kiến cuộc tuần tra chung của lực lượng biên phòng hai phía, Tướng Toàn còn tặng cho Tướng Thanh một chiếc bình gốm mà báo chí của Đang Nhà Nước CSVN ca ngợi đó là “đặc trưng phong cách Trung Hoa”.

Với tình thế đó, nếu Mỹ chia xẻ tin tình báo với quân đội, cảnh sát biển, bán vũ khí kỹ thuật cao và mật cho VNCS là giao trứng cho ác, nhắm con mắt cũng biết là quân đội VNCS sẽ chia xẻ, chuyển giao bí mật cho TC.

Ba, về tình hình Biển Đông, VN không có một vai trò kinh tế, chánh trị, quân sự, ngoại giao nào thiết yếu cho Mỹ trong chiến lược chuyển trục quân sự về Á châu Thái bình dương. Vị trí địa lý vhiến thuật của VN có thể thành tiền đồn kiểm soát đường hàng hải huyết mạch từ Eo Biển Mã Lai đi lên, Cảng Cam Ranh Mỹ cần thời Chiến tranh VN bây giờ đã lỗi thời vì chiến lưọc, chiến thuật đã thay đổi, chánh yếu là dùng không lực và hải lực của hàng không mẫu hạm, Mỹ có cả thảy 11 chiếc và dự trù chuyển 60% về đây.

Về kinh tế, VNCS cần thị trường Mỹ, chớ Mỹ không cần VN làm nơi bỏ vốn đầu tư. Trong khi VNCS qua lệ thuộc kinh tế của TC. VNCS không thể thoát Trung về kinh tế. Bất chấp cuộc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, kim ngạch thương mại Việt-Trung tăng 17% hồi năm ngoái, lên tới 58,77 tỉ đôla, theo các dữ liệu của nhà nước Việt Nam. Nhưng mức thâm hụt mậu dịch của Việt Nam với Trung Quốc gia tăng lên tới gần 29 tỉ trong năm 2014, so với năm trước đó chỉ có 23,7 tỉ đôla.

Bốn, Mỹ ngăn cản TC ở Biển Đông của VN, hoàn toàn không phải vì VN. Mỹ chuyển trục quân sự về Á châu Thái bình dương và ngăn chận TC chiếm cứ Biển Đông vì quyền lợi tự do hàng hải trước tiên là của Mỹ và đồng minh của Mỹ, Nhựt, Nam Hàn, chớ không phải vì muốn giúp cho VN tái chiếm lại biển đảo. Có thế thấy trong suốt 7 ngày USS Fort Worth, tàu chiến cận duyên lớp Freedom của Mỹ tiến vào gần khu vực quần đảo Trường Sa mà TC đang xây cất các công trình, Mỹ cũng tự chế không đi sâu vào bên trong hải phận quá 12 hải lý của các đảo và bải đá mà TC đang chiếm. USS Fort Worth cũng thông báo qua radio để nhắc nhở phía Trung Quốc rằng chiến hạm Mỹ đang hoạt động trong vùng biển quốc tế. TC cũng vậy, tàu Yancheng Type 054A của TC theo dõi chặt chẽ nhưng không có hành dộng cản trở nào. Tin mới đây hai bên tàu của Mỹ và TC đều biết và tỏ ra tuân thủ hiệp ước của Mỹ và TC đã ký để tránh đối đầu trong những tao ngô, bất trắc.

Và quan trọng nhưt là Mỹ lúc nào cũng tuyên bố không đứng phía bên nào trong các tranh chấp, chỉ khuyên dùng biện pháp ngoại giao và luật biển như chính Mỹ cũng không có ký gia nhập luật biển, thử hỏi khuyên ai.

Trong khi Á châu Thái bình dương căng thẳng vì TC xây Vạn lý Trướng Thanh Bắng cát ở Biển Đông, và toan lập vùng nhân dang phong không trên không phận vùng này, Ngoại Trưởng Mỹ Kerry đi Bắc Kinh gặp Chủ Tịch Tâp cận Bình, hai bên không có một lời nào về Biển Đông. Quyền lợi của Mỹ và TC vạn lần lớn hơn đối với Biển Đông, hai siêu cường nương nhau làm bá chủ trong vùng, có lợi hơn để đụng chạm vì một vấn đề nhỏ.

Năm và sau cung, CSVN ắt phải đi với TC. Ắt phải đi với TC vì con đường CSVN đi không phải do CSVN chọn, mà do Đảng CS Trung Quốc sấp sếp, vạch ra, dàn dựng. CSVN về ý thức hệ như đệ tử đối với quan thầy TC, về tổ chức chánh quyền như thần tử đối với long nhan là Hán Triều. Hai đảng, nhà nước CS tách người dân Việt qua một bên, nhà cầm quyền hoàn toàn của đảng, vì đảng, do đảng. Người dân hoàn toàn không có tiếng nói trong thương lượng và đảng nhà nước không cần mất thì giờ giải trình một thoả ước quốc gia đại sư như thế cho quốc dân.

Khi Tổng bí Thư Đảng CSVN đi triều kiến TC, cùng đi theo gần hết những người nắm quyền bính của Đảng Nhà Nước CSVN. Trọng đi với 1/3 thành viên của Bộ Chánh trị gồm Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Đinh Thế Huynh; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân; Ủy viên Bộ Chính trị, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh; Ủy viên Bộ Chính trị, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang; Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Trần Quốc Vượng; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh; Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Hoàng Bình Quân.

Mỹ hoàn toàn hết lý do giúp VNCS dù TT Obama quen thuật hùng biện nói đạo lý nghe cho êm tai, là chống kẻ mạnh TC hiếp VN yếu. Nhưng bây giờ kẻ yếu ấy đã theo phe mạnh là TC và chửi mắng Mỹ công khai, trịch thượng, thì dù có uống cả kí lô thuốc liều, TT Obama, Quốc Hội Mỹ cũng thể liều mạng chánh trị giúp cho một chế độ CS chửi mắng Mỹ thậm tệ hơn thời Chiến tranh VN nữa./.

(Vi Anh)

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm Việt Nam

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm Việt Nam

Ông Ashton (Ash) Carter làm bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ từ tháng 2/2015

Các nguồn tin cho hay Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter theo kế hoạch sẽ thăm Việt Nam đầu tuần tới.

Nguồn tin của BBC nói ông Carter sẽ tới Việt Nam vào ngày 31/5 từ Singapore, nơi ông tham dự diễn đàn an ninh khu vực Đối thoại Shangri-La.

Chi tiết chuyến thăm còn được giữ kín, nhưng ông được tin sẽ ở thăm Việt Nam hai ngày.

Ông bộ trưởng sẽ có các cuộc hội kiến với lãnh đạo chính phủ, nhà nước và quân đội Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ quốc phòng giữa hai nước cựu thù.

Trong các cuộc tiếp xúc, chủ đề Biển Đông cũng được trông đợi sẽ nằm cao trên bàn nghị sự, nhất là sau khi Hoa Kỳ đã có các động thái phản đối cách hành xử hung hăng và quá trình xây đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Biển Đông.

Ông bộ trưởng được trông đợi sẽ nhắc lại rằng Hoa Kỳ cổ súy tự do đi lại tại khu vực này.

Năm 2012, ông Leon Panetta, người lúc đó là bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, cũng có chuyến thăm Việt Nam ngay sau khi tham dự Đối thoại Shangri-La.

Không rõ lần này ông Carter có tới thăm Cam Ranh như ông Panetta đã làm trong chuyến thăm lịch sử của mình hay không.

Quan hệ với Trung Quốc

Tham dự Đối thoại Shangri-La lần này còn có hai Thượng nghị sỹ Hoa Kỳ John McCain và Jack Reed.

Bộ trưởng Leon Panetta có ‘chuyến thăm lịch sử’ tới Cảng Cam Ranh năm 2012

Khác với Bộ trưởng Carter, hai ông tới Singapore từ Việt Nam, nơi họ có chuyến thăm trong tuần này.

Ông McCain là dân biểu Cộng hòa tiểu bang Arizona và là chủ tịch Ủy ban Quân lực thuộc Thượng viện Hoa Kỳ trong khi ông Reed, dân biểu Dân chủ Đảo Rhode, là thành viên cao cấp của ủy ban này.

Thông cáo từ văn phòng của ông Reed nói hai ông sẽ có các cuộc gặp với lãnh đạo Việt Nam tại Hà Nội và TP HCM để “thảo luận các vấn đề an ninh và kinh tế khu vực” châu Á-Thái Bình Dương.

Bên cạnh hai nhân vật chủ chốt này, đoàn Hoa Kỳ còn có thêm thượng nghị sỹ Joni Ernst (đảng Cộng hòa, bang Iowa), và Dan Sullivan, (đảng Cộng hòa, bang Arkansas).

Một điều đáng chú ý là hai ông McCain và Reed đều chia sẻ quan ngại về các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông.

Hôm thứ Năm tuần trước, hai ông đã gửi thư lên Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter yêu cầu rút lại lời mời Trung Quốc tham dự cuộc tập trận hải quân “Rim of the Pacific” — gọi tắt là RIMPAC — tại Hawaii năm 2016.

Bức thư của hai ông thượng nghị sỹ gọi quyết định mời Trung Quốc là sai lầm và “trước hành động khiêu khích của CHND Trung Hoa tại biển Hoa Đông và Biển Đông, chính phủ Mỹ cần xem xét các phương án chính sách khiến Trung Quốc phải trả giá về thái độ gây bất ổn chứ không phải khen thưởng họ”.

Các hoạt động cơi nới xây đảo nhân tạo của Trung Quốc đang gây căng thẳng trong khu vực.

Tờ Wall Street Journal hôm 12/5 đưa tin Lầu Năm Góc đang cân nhắc điều chiến đấu cơ và hải quân tới khu vực tranh chấp trong phạm vi 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đang xây.

Cuộc đời

Cuộc đời

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

Khi một trẻ thơ lọt lòng mẹ, người ta nói: em bé “chào đời”. Khi một người trút hơi thở cuối cùng, người ta bảo: người này “tạ thế”. “Chào” là tâm tình của người mới đến. “Tạ” là cử chỉ của người sắp đi xa. Khi chào đời, em bé nào cũng có bàn tay nắm chặt; khi tạ thế, người nào cũng để bàn tay buông xuôi. Bàn tay nắm chặt là bàn tay tự tin, muốn khẳng định mình; bàn tay buông xuôi là bàn tay mệt mỏi, thấy mọi sự đều vô nghĩa. Khoảng thời gian từ lúc chào đời đến khi tạ thế, người ta gọi là cuộc đời. Cuộc đời có khi ngắn, có khi dài. Có những người trường thọ cao niên, sống đến trên một thế kỷ, nhưng cũng có người đoản mệnh duyên đơn, chỉ sống một thời gian rất ngắn. Dù đời ngắn hay dài, đã sống trên đời, con người cần phải biết đối nhân xử thế. Dù trường hay đoản thọ, con người sống phải nhân có nghĩa với người xung quanh. Không chịu học hỏi, khi vào đời sẽ gặp những thất bại cay đắng. Thiếu kinh nghiệm, khi lập nghiệp sẽ phải trả giá khôn lường.

Cuộc đời này cũng được gọi là thế gian. Nơi đó con người, dù muốn hay không, đều bị thảy vào “chợ đời” đầy bon chen tính toán. Cái “chợ đời” này rất mênh mông và oan nghiệt. Vì là “chợ đời”, nên người ta lấy lời lãi, vật chất làm tiêu chuẩn cho mọi mối tương quan. Anh em, họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp bỗng trở nên những đối tác, những bạn hàng trong vòng xoay của cơm áo gạo tiền. Vì tiền bạc, tình vợ chồng trở nên phai nhạt đến mức không thể chung sống. Vì đất đai, anh em huynh đệ trở thành kẻ thù đến độ chẳng muốn thấy mặt nhau. Vì cuộc đời nghiệt ngã như vậy, nên càng có tuổi, người ta càng còng lưng xuống. Còng lưng là biểu hiện của đau xương cốt, nhưng cũng là hậu quả của gánh nặng cuộc đời.

Lúc chào đời cũng như lúc tạ thế, người ta đều khóc. Khởi đầu cuộc sống, đứa trẻ khóc trong tiếng cười của cha mẹ và người thân. Kết thúc cuộc đời, người ra đi trong tiếng khóc của gia đình, làng xóm. Khóc là biểu hiện của nỗi buồn, nhưng cũng là dấu hiệu của niềm vui. Có thể tiếng khóc chào đời là vì nhận ra cuộc sống đầy đau khổ. Có thể giọt lệ khi hấp hối là giọt lệ của niềm vui vì đã có một cuộc đời mãn nguyện. Thế rồi, suốt thời gian gọi là cuộc đời ấy, nước mắt với nụ cười đan xen với nhau, xem ra nước mắt nhiều hơn nụ cười. Người có chí khí biết cười trong mọi hoàn cảnh. Sau mỗi lần gục ngã, họ chỗi dậy, tiếp tục bước đi, lấy những thất bại làm bài học kinh nghiệm, lấy những khó khăn luyện rèn ý chí. Lửa thử vàng, gian nan thử đức, qua những thất bại đau khổ, con người như thép đã tôi, trở nên cứng cáp vững vàng. Đã sinh vào cuộc đời, cần phải chấp nhận lao vào gian khó, như miếng thép phải chấp nhận vào lò lửa và rèn giũa để trở nên khí cụ sắc bén, nhờ đó mà trở nên hữu dụng trong đời. Khi tạ thế, có những người mãn nguyện bình an, nhưng cũng có những người trăn trở khó nhắm mắt. Có thể đó là những “món nợ” đời chưa trả, bởi mình đã trót “vay”. Có thể đó là trách nhiệm chưa vuông tròn đối với những gì mình được trao phó. Khi hiện hữu trong cuộc đời này, mỗi người đều có bổn phận phải hoàn thành. Khi nhắm mắt xuôi tay, cũng là lúc được triệu hồi để làm một cuộc thống kê về những điều đã làm hay đã không làm khi sống ở đời.

Đối với người tin Chúa, khoảng giữa từ khi “chào đời” cho đến “tạ thế”, họ còn qua một cuộc “tái sinh”, đó là bí tích Thanh Tẩy. Nhờ nước và Thánh Thần, họ được sinh ra một lần nữa để làm con cái Chúa. Khi được thanh tẩy, họ khởi đầu hành trình Đức Tin. Hành trình này song song với hành trình cuộc đời. Phép Thanh Tẩy cũng cho họ tước vị làm “công dân Nước Trời”, nghĩa là tuy sống dưới trần thế, họ đã thuộc về vương quốc của Chúa Giêsu, trở nên môn đệ của Người. Tuy vậy, nguyên việc được thanh tẩy chưa đủ để họ được bước vào vương quốc vĩnh cửu ấy. Bởi lẽ ai muốn vào Nước Trời phải qua cửa hẹp. Cửa rộng rất thênh thang, dễ vào nhưng lại dẫn tới trầm luân, đau khổ. Cửa hẹp chật chội, khó qua nhưng lại dẫn tới niềm vui, sự sống. Nhờ Đức Tin, người tín hữu sống giữa đời mà không hoàn toàn thuộc về đời, như bông hoa sen từ bùn vươn lên mà thanh thoát chẳng vương mùi bùn. Người tin Chúa sống giữa cõi trần, mà có một trái tim thanh sạch, giữa bon chen mà tâm hồn thanh thản, giữa thung lũng nước mắt mà vẫn có thể nở nụ cười.

Cuộc đời con người, từ khi “chào đời” đến khi “tạ thế” cũng đươc ví như một cuốn sách. Mỗi ngày sống là một trang. Nội dung cuốn sách ghi lại những lời nói việc làm, những tâm tư tình cảm. Ta có thể viết những trang thật đẹp, khi đó là những hành động nghĩa hiệp, cao cả, mang lại niềm vui cho đời, nhưng ta cũng có thể viết những trang rất xấu khi đó là những hành động ích kỷ, gây tai họa cho người xung quanh. Đáng tiếc, trên đời này, người ta học cái xấu thì chăm hơn cái tốt, người ta tiếp thu lối sống láu cá, mưu mô thì dễ hơn tập luyện đạo đức, thân thiện. Giữa chợ đời bon chen, tiếng ồn ào của dối gian luôn mạnh mẽ hơn tiếng nói của công lý, kẻ mạnh luôn chèn ép người yếu thế nghèo nàn. Vì vậy mà cuốn sách cuộc đời còn mang nhiều trang tối tăm nhơ nhuốc.

Con người sinh ra ở đời, có lúc chào đời và có khi tạ thế. Vì vậy, người ta gọi cuộc sống là “chốn khách đày”. Đời chỉ là chốn tạm, người ta đến rồi đi, chẳng phải là nơi vĩnh cửu, cũng không là quê hương mãi mãi. Tuy chỉ là đời tạm, những ai đi qua đều có thể để lại dấu ấn đời mình cho các thế hệ mai sau. Có những người đã để lại cho hậu thế tấm gương tốt đẹp về lòng nhân ái bao dung, hễ nhắc đến tên người ta ngả mũ chào; nhưng lại có những kẻ sống ác đức, các thế hệ sau nhắc đến tên để phỉ nhổ. Có những người suốt đời cống hiến hy sinh, để lại những công trình đem lại ích lợi cho toàn thể nhân loại, nhưng lại có những người để thời gian trôi đi vô ích, không làm được gì ngay cho bản thân và gia đình. Người công giáo tin rằng, lúc tạ thế không phải là chấm dứt, nhưng đó là một cánh cửa mở ra để bước vào cuộc sống mới. Người công giáo cũng tin rằng, những điều tốt đẹp ta làm ở đời này, sẽ đi cùng với ta về đời sau, nơi đó, hạnh phúc sẽ tràn trề, vinh quang sẽ bất diệt và tình yêu tồn tại mãi mãi. “Hổ chết để lại da, người ta chết để lại tiếng”. Điều còn lại khi thân xác đã tiêu tan trong lòng đất, đó là lòng nhân hậu, sự thánh thiện và tình yêu mến ta dành cho mọi người khi còn sống. Những điều này không tiêu tan với thời gian, nhưng muôn đời tồn tại.

Cuộc đời này chỉ là chốn tạm. Nước Trời là quê hương vĩnh cửu, là hạnh phúc Chúa dành cho những ai yêu mến và trung thành với Ngài. Chúa Giêsu cam đoan với chúng ta, Người đi trước để chuẩn bị cho chúng ta chỗ ở trong nhà Cha của Người (x. Ga 14,1-4). Ở nơi quê hương vĩnh cửu này, bàn tay không còn nắm chặt để khẳng định uy quyền, cũng không còn buông xuôi vì ê chề thất vọng, nhưng sẽ giơ cao để ca tụng Chúa, trong tình hiệp thông với các thiên thần và các thánh nam nữ trên trời.

Bàn tay buông xuôi khi lìa đời nhắc bảo ta rằng, con người chẳng có công trạng gì trước mặt Chúa, nhưng mọi sự ta làm đều do ơn Chúa thương ban. Vì thế, nếu thân phận con người còn nhiều tội lỗi, Chúa lại nói với Chúng ta: “Đức tin của con đã cứu con” (x. Mc 5,34). Lòng nhân hậu bao dung của Chúa giúp chúng ta nghị lực để tiếp tục bước đi trong cõi đời đầy gian nan này.

(Nguồn: WHĐ)

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Ô mai gót

Ô mai gót”

“Việt Kiều là giống ngớ ngẩn nhất Trần gian”. Tôi nghĩ thế khi ba mùa hè liên tiếp gần đây, liên tục đón cả đại gia đình các em, các cháu tôi từ bên kia bờ đại dương về lại Sài Gòn.

Năm 1975, cũng như bao nhiêu gia đình khác, gia đình tôi cũng trong cơn chấn động kinh hoàng của lịch sử, của thời cuộc. Hai mẹ con tôi quyết định ở lại đón ba tôi đi tập kết trở về( nghe nói cũng làm lớn trong quân đội Bắc Việt và không hề nghĩ đến chuyện vợ lẽ, con thêm)… Chỉ bốn đứa em sau cùng cha dượng của tôi quyết tâm xuống tàu vượt biển.

Chuyến đi vất vả nhưng trót lọt, sau ít năm tị nạn tại Hong Kong, cả 5 được  chính phủ chấp nhận định cư tại Mỹ.

Bằn bặt gần 30 năm sau thì mọi người lần lượt tìm về thăm má già và anh cả là tôi. Sau đó thấy Việt Nam tuy nghèo khổ, lệ thuộc Trung Cộng, nhưng không đến nỗi man ri, mọi rợ như trí óc họ hình dung, và còn dây mơ rễ má với mảnh đất quê hương, nên hai năm một lần, mỗi gia đình gồm cha, mẹ, và hai hoặc ba đứa con lại trở về.

Lần đầu tôi nhìn thằng cháu đích tôn gọi tôi bằng bác, hoàn toàn là người Việt , máu đỏ da vàng, không lai căng, lai kiết gì hết. Nó chào tôi, mắt dửng  dưng xa lạ:

– Hai!

Tôi bất bình sửa lại:

– Hai, ba gì, mày phải gọi đầy đủ là “Thưa bác Hai, con mới về”, nghe chưa?

– Ồ, mẹ nó bênh vực: – Nó chào anh mà, “Hai”! Cũng như “hê lô” là tiếng chào bình thường của người Mỹ thôi, không phải nó bày đặt gọi tên anh đâu.

Ra vậy, buổi trưa hôm sau nó đi đâu về, mồ hôi ướt rượt trên khuôn mặt trắng trẻo, bụ sữa của tuổi …20, tôi yêu qúa, liền bảo, giọng đon đả:

– Đi ăn cơm con!

Nó trả lời bằng tiếng Việt , giọng ráo hoảnh cộc lốc:

– Chưa bây giờ !

– Trời, tôi cười phá lên, nếu nói đầy đủ phải là: “Thưa bác, bây giờ con chưa ăn ạ, vậy mà không hiểu nó nói tiếng Việt kiểu gì mà cùn cằn, cộc lốc như vậy.

Nghe tôi kể lại, mẹ nó đỏ mặt chữa thẹn:

– Thì nó quen với tiếng Mỹ mà: Not now có nghĩa là nó sẽ ăn nhưng chưa phải là lúc này. Vì có thể mới về lại nhà mình, khẩu phần ăn sáng thay đổi, không phải sữa và ốc miu (oak milk) nữa, nên bây giờ nó chưa đói.

-Lại còn thế nữa, tôi lẩm bẩm – Đúng là đồ lai căng, nửa An Nam nửa…American có khác, ai lại uống sữa với ốc miu bao giờ? Tào tháo đuổi cho thì… “quấn ra sòn” suốt ngày.

Đang chí chóe tranh luận trong nhà, tôi bỗng nghe thằng em nó gọi giật giọng:

– Mẹ! chết đuối!

– Trời đất, cả tôi và má nó té ngửa, tưởng mấy đứa mon men ra hồ chơi rồi rơi tòm xuống nước, không biết bơi nên có đứa nào bị chết rồi.
Ba chân, bốn cẳng chạy ra, cả ba chúng tôi đứng chắn ngang thằng Bé, hỏi giật giọng:

– Đâu đâu, ai chết đuối?

Thằng bé đưa tay chỉ, miệng ú ớ;

-Đó đó…chết đuối …

Điểm mặt vẫn đủ mọi thành viên trong nhà, cả tôi và em gái, cháu ruột cùng ngẩn ra rồi cười phá lên khi thấy chiếc xuồng cột ở bờ sông tự dưng bị đứt dây, trôi ra xa bờ và dần dần chìm xuống làn nước hồ mênh mông.

Thay vì mách bác, mách mẹ là chìm xuồng, thì nó la chết đuối, làm quả tim tôi bắn ra khỏi lồng ngực.

Trở lại nhà, thằng lớn lúc này mới thay quần áo, vừa thay nó vừa càu nhàu:

– Sài Gòn nóng qúa, con bắt chước bác Hai, cởi truồng vẫn cứ nóng.

Lại đến lượt anh em tôi phì cười, vì rõ ràng nó vẫn mặc quần xoọc rất bảnh  trên người, chỉ cởi trần giống tôi.

Nhớ lại tối đầu tiên ngủ tại nhà, dù tôi và má đã thu xếp chỗ ngủ tươm tất cho cả 5 thành viên nhà nó. Vậy mà sáng hôm sau, đầu tóc bù xù, mắt đỏ kè, vừa ngồi dạy trên giường, ra phòng khách, nó cự nự:- Nhà này lắm chuột qúa, họ chạy lung tung suốt đêm làm con không ngủ được.

-Ôi đúng là cái giống Việt Kiều ngố, ai lại gọi chuột là họ, coi chuột như người vậy? Bốn chân phải khác hai chân chứ?

Chưa kể con út nhìn thấy bà ngoại lúi húi rửa một đống tô, chén tú hụ, nó không đỡ một tay, còn ngớ ngẩn hỏi:

-Ngoại giặt chén à, sao ngoại không giặt bằng máy mà lại giặt bằng tay vậy? Làm vậy đâu có sạch?

Trong khi bà nó ngơ ngẩn nhìn cháu gái chẳng hiểu mô tê ất giáp gì thì mẹ nó đứng đằng sau giải thích:

-Bà ngoại đang rửa chén bằng tay đó con, ở Việt Nam không có máy rửa chén như ở Mỹ đâu con à, nên đa số làm bằng tay hết.

Nó lật đật chạy về phía bếp và tỏ rõ sự thất vọng vì tuyệt nhiên không thấy một chiếc máy nào hết. Trong khi theo mẹ nó giải thích thì máy rửa chén là một bộ phận không thể thiếu được trong bất cứ gia đình nào ở Mỹ. Ngay từ khi thiết kế bếp nấu, người Mỹ đã gắn luôn chiếc máy rửa bát vào phía dưới bồn rửa cạnh vòi nước để vận hành. Ăn xong chỉ cần cho chén vào máy, đổ xà phòng vào là máy tự xúc, rửa, tráng, lau khô đến mức nóng rẫy, sạch bong mới thôi ,đâu có ướt lẹp nhẹp như chén ngoại rửa?

– Ờ, cứ cho Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu hơn Mỹ đi, nhưng làm sao nó lại có thể nhầm từ rửa chén thành giặt chén được cơ chứ? Hệt thằng anh nó vậy, bảo vào ăn cơm nó lại lật đật chạy vào phía vòi nước bảo: con phải giặt tay, giặt đầu cho cu (cool) đã …Bố ai mà hiểu được?

Cả con mẹ nó cũng thế xa nước gần 40 năm ,ở nhà đã nói tiếng Việt sành sỏi, rành rẽ rồi mà đi với tôi, nó nói gì mà cả má và tôi đều không hiểu, nếu không có thằng chồng đi kèm làm phiên dịch tiếng Việt ra tiếng … Việt:

Đơn giản má biểu:

– Con cho má ra chợ bến Thành mua ít đồ gửi về ngoải cho ông bà thông gia nghe con

Vậy mà nó trả lời:

– Con không “mếch sua” đâu nha. Bộ má tưởng ở American tụi con không “in náp” hả?

Nghĩa là, theo lời thằng chồng phiên dịch lại, vợ nó không chắc chắn sẽ đưa mẹ đi được( Make sure), vì ở bên Mỹ cả gia đình nó ở cùng nhà với bố mẹ chồng, đầy đủ hết, chẳng thiếu thứ gì ( enough)

Đang đi đường, tất nhiên là thuê taxi tự lái, vì cả nhà nó chả ai chịu đi xe ôm cả. Đường đông, người đi qua đi lại nườm nượp như mắc cửi, thỉnh thoảng con vợ lại cự nự chồng:

-Kìa “pát” đi anh, sắp tới rồi, đó đó, ở “con nờ” đó.

Tôi ngồi sau cũng không sao hiểu nổi thứ tiếng pha trộn nửa Việt Nam , nửa Mỹ của nó, nếu cậu em rể không xởi lởi giải thích :

– Dạ, ý nhà em giục em băng ngay qua đường đi (Pass), chứ chờ hết xe mới đi như ở Mỹ thì chờ đến tối cũng không xong. Còn cái địa chỉ mà vợ chồng em định đến ở ngay góc đường( conner) anh à.

Bước chân vào khu biệt thự sang trọng( khác hẳn nhà tôi), thằng bé phát biểu:

– Ở Việt Nam toàn làm nhà bằng gạch nhỉ? Ở Mỹ nhà chỉ làm bằng củi thôi, đẹp lắm, nhưng mà không chắc chắn bằng.

– Trời! Tôi trợn mắt hỏi: – Nhà gì mà làm bằng củi, bộ nhà ở giữa rừng sao?

Ba nó cười bảo: Nhà bằng gỗ chứ con, đâu phải củi?

Nó chất vấn: – Thì “út” (Wood) mà

Hóa ra tiếng Mỹ dịch ra tiếng Việt cũng rắc rối thật, thể nào mà lũ em, lũ cháu tôi, mang tiếng là Việt Kiều mà ngố ơi là ngố, , nói bằng từ Việt Nam là ngố toàn phần , ngố đến mức ông bà, cô bác đến thăm đều nói tiếng Việt mà cả ba anh em nhà nó cứ ú ớ như vịt nghe sấm, như dã tràng nghe…tôn giáo bể. Chả trách có lúc bị gọi chệch là vịt kều.

Ngó trên, ngó dưới , trên lầu, dưới sân, em gái tôi nhấm nháy gọi tôi ra một  góc vườn, bảo, giọng bồi hồi, xúc động: .

– Anh Hai xem kỹ đi, biệt thự này em định mua để má và anh Hai cùng sắp nhỏ ở đó. Nhà rẻ qúa chừng, chỉ cần anh Hai nói má mạnh dạn bán căn nhà đang ở đi, dọn đến đây, thiếu bao nhiêu, vợ chồng em phụ giúp.

– Ủa- Tôi trừng mắt la lớn, khi nhớ ra gốc tích căn nhà:- Coi bộ em khùng hả?. Biệt thự này tuy đẹp nhưng gốc gác là của một tay cán bộ cộng sản cướp nhà đó. Nó không ở được nên mới tìm cách bán rẻ bán tháo, nhưng những người chủ cũ đâu để cho ai yên, đêm đêm họ vẫn kéo về mà.

-“Ô mai gót”, em tôi la: -Sao lại có chuyện lạ dzậy? Em đi từ 75 mà, em đâu  biết . Anh Hai nói rõ cho em nghe được hông?

Tôi thủng thẳng kể:

– Gia đình này có 9 người, 6 trai, 3 gái cùng người mẹ già. Họ giàu lắm, vì cả 6 con trai đều là thiếu tá, đại tá trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Một người con gái mở tiệm vàng . Ngày 29-4, người con trai cả mang xe Jeep về để đón má, đưa cả nhà di tản, nhưng người mẹ lo cho bố mẹ già và bầy em 9 đứa ở Bắc nên do dự không đi…Khi cách mạng vào, họ bị kiểm kê tài sản và dĩ nhiên là mất trắng. Bà mẹ lúc này mới hiểu rõ bản chất của cách mạng, đặc biệt qua xum họp gia đình , biết bố mẹ đã bị đấu tố trong cải cách rụộng đất, chết tức tưởi, các em ai cũng nghèo nàn túng kiết, nên cố giấu 10 lượng vàng dung thân. Không ngờ tay công an ở kế bên rình mò theo dõi và cũng giỏi “bắt nọn” đã bắt bà phải khai ra số vàng cất giấu, dù bà van lậy như tế sao, đưa nó một lượng , coi như cống nạp, vậy mà nó đòi “ăn chia sòng phẳng” 50/50. Đau khổ, uất hận bà đành phải đưa thêm 4 cây vàng cho nó…

Vậy mà vẫn không yên. Thấy căn biệt thự của bả đẹp, nó tuy chỉ là phó đồn công an phường, một vợ một con, đã có căn nhà hai tầng , tổng cộng 100 m2 , vẫn rắp tâm cướp không căn nhà của bà. Lấy cớ kiểm tra hộ tịch, nửa đêm nó dựng cả nhà dạy, cho quân lục soát, khám xét, xem có giấu vàng ở đâu không? Vàng không có nhưng hở tờ tiền đô nào nó cũng cướp, vì cho đó là tiền của đế quốc Mỹ…Bị o ép, dồn nén đến ngạt thở, một đêm cuối năm 1979, cả nhà bà bảy người liều lĩnh vượt biên ( ba anh con trai đang học tập cải tạo), vài hôm sau, xác nổi lên cùng 193 người nữa ở mũi Cát Lái, nó lấy cớ “ bảo quản  nhà vắng chủ”, dọn sang ở, rồi chiếm luôn…Dù đã phải cống nạp cho thủ trưởng , mua chức mua quyền, không còn là cấp phường nữa mà là cấp quận , thành phố , nhưng đêm nào nó cũng gặp ác mộng. Lúc thì bà chủ nhà về đòi nó trả lại 5 cây vàng. Lúc thì con gái bà trừng trừng nhìn nó trong đêm (Khi nó cho quân kiểm kê, niêm phong tiệm vàng), rồi vợ chồng nó cãi cọ, ly hôn, 3 đứa con nó, đứa lành lặn thì bỏ học, đua đòi , ăn chơi trác táng, đứa đui què sứt mẻ, cả khuôn mặt có đủ các bộ phận tai, mũi, mồm, chỉ trừ đôi mắt. Làn da trắng nhợt kéo thẳng từ trán xuống đến sống mũi trông ngây độn, kỳ quái…

Biết là bị quả báo, nó sợ hãi bán tống bán tháo cho người khác, nhưng người này ở chưa đầy một năm cũng luôn gặp ác mộng nên bỏ không cả mấy năm trời rồi tiếp tục sang tên chủ mới. Từ đó đến nay, đã 30 năm, căn nhà này có tới cả chục chủ, nhưng chả ai ở quá 3 năm ,dù cúng giỗ cầu siêu, xây miếu thờ v.v vẫn trong cảnh thấp thỏm, lo âu. Trong khi giá nhà đất lên vèo vèo thì giá nhà này vẫn đứng yên.

Nghe tôi nói, em tôi lè lưỡi:

– “Ô mai gót”, em tưởng nhà sạch thì mua, chứ gặp “nai me” thường xuyên thì chết à?

– Ồ tôi ngán ngẩm giải thích, nhà rộng, sạch sẽ, sáng sủa nhưng giữa thành phố thì làm gì có nai hả em?

Chồng nó đứng phía sau từ lúc nào, nghe tôi nói vậy liền cười tủm tỉm đỡ lời:

– Nightmare là gặp ác mộng ấy chứ anh. Nếu có nai thật thì tốt qúa rồi, đâu  có gì phải sợ?

Ngày hai vợ chồng và 3 đứa con trở lại Mỹ, tôi và má mua một túi quà cho nó, trong đó không thể thiếu được món ô mai, món mà hồi nhỏ nó rất thích và thường ngước đôi mắt to tròn, đen ánh lên hỏi mỗi khi hai mẹ con đi xa về:

-Má , má và anh Hai có mua ô mai cho con không má?

Còn bây giờ sau gần 40 năm trở về, đầu hai thứ tóc mà hơi một tí là nhắc: “Ô mai gót”. Tuy không biết quả gót là quả gì nhưng cứ nghĩ đến số quà nó đem từ Mỹ về, nào Chà là, nho khô, hạt dẻ cười, táo tàu, v.v hai mẹ con lại động viên nhau phải kiếm cho bằng được để làm quà cho nó cũng như ông bà thông gia, gọi là “hương vị quê hương”

Tìm khắp chợ Bến Thành rồi các chợ xung quanh cả tuần lễ liền, không ai biết quả gót là quả gì. Ai cũng bảo: “Ở Việt Nam chưa bao giờ nghe thấy, chắc ở tận bên tàu, chứ Việt Nam chưa hề nhập về”.

Khệ nệ trở về trên chiếc xe máy cũ kỹ, nhìn thấy túi quà, đủ các loại ô mai xấu, ô mai cóc, ô mai me , ô mai khế, ô mai mơ v.v mỗi túi một cân, cả nhà phát hãi , không khảo mà xưng cùng la tướng lên: “Ô mai gót”.

Má tôi ngại ngùng giải thích:

– Không có ô mai gót đâu con, má biết mày thích loại đó, nên ngày nào cũng nhắc tới, mà má tìm rạc cẳng không có con à.

Đang mải mê sắp xếp đồ đạc cùng sắp nhỏ, bỗng dưng nó cười chảy nước mắt , thay vì ôm chồng lại ôm chầm lấy má:

– Ôi má ơi, con nói tiếng Mỹ mà. Oh, my god, nghĩa là “chúa ơi” , đâu phải con thèm ô mai mà má và anh mua nhiều thế này, cả nhà con ăn bao giờ cho hết? Với lại xách nặng thế này, con đem lên máy bay sao được hả má?

Đến nước này, thay vì kêu chúa như nó vẫn làm, tôi buộc phải kêu trời khi nhận ra sự nhầm lẫn tai hại của mình: Đúng là vịt kìu, sao nó không nói tiếng Việt thuần chủng là “trời ơi”, “chúa ơi” mà lại nhập khẩu cái tiếng Mỹ chết tiệt ấy để tôi hiểu lầm cơ chứ. Oh, my god!

Sacramento Oct 2014

T.K.T.T

NIỀM VUI TUỔI GIÀ

NIỀM VUI TUỔI GIÀ

ĐOÀN THANH LIÊM

Thế hệ chúng tôi đang ở vào lứa tuổi 70 – 80, đã về nghỉ hưu để mà an tâm dưỡng trí được rồi. Cuộc đồi quả thật đã nhiều phen lận đận nổi trôi theo vận nước – vốn từng bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh liên tục suốt 30 năm (1945 – 1975). Và rồi sau đó là chế độ độc tài chuyên chế cộng sản – và bây giờ là cuộc sống định cư ở nước ngòai.

Nhiều người được cái may mắn có con cháu thành đạt, lại có lòng hiếu thảo – nên được các cháu chăm lo săn sóc cho thật là chu đáo từ việc ăn uống, áo quần đến chuyện nhà ở, và gia đình cả ba bốn thế hệ con cháu lại thường có dịp xum họp quây quần bên nhau v.v… Nhờ vậy mà gia đạo có phần được an vui, yên ấm. Đó là niềm an ủi thật lớn lao quý báu cho tuổi già sinh sống xa quê hương bản quán của mình vậy.

Không còn bị vướng mắc với chuyện phải chật vật bươn chải lo toan kiếm sống cho bản thân và cho gia đình với các món “cơm áo gạo tiền” gì gì nữa, nên chúng tôi có thật nhiều thời gian rảnh rỗi – mà có một vài người lại còn than phiền, đại khái như “không biết phải làm cái gì cho hết ngày hết giờ”…Lại nữa, người lớn tuổi thường ít ngủ, hay nằm trằn trọc trên giường, hoặc thức giấc nhiều lần trong đêm để mà lo chuyện “xả cái bàu tâm sự mau bị đày ứ” ấy đi.

Nhưng cũng có người biết chấp nhận cái quy luật muôn thuở của cuộc sống trên cõi đời này, đó là chuyện “Sinh, Lão, Bệnh, Tử” – tức là cái tiến trình lão hóa do tính chất sinh học khách quan – mà không một sinh vật nào, kể cả bất kỳ con người nào mà lại có thể vượt thóat khỏi được. Nhờ vậy mà họ an tâm vui vẻ tìm cách thích nghi êm thắm với cái quá trình khuôn thước đó.

Trong vòng vài chục năm gần đây, nhờ sự phổ biến rộng rãi của Internet, nên các bạn lớn tuổi của tôi đã có thêm được một nguồn vui mới – khiến làm tăng thêm phẩm chất của cuộc sống – và như vậy là có thêm điều kiện để thực hiện được cái lý tưởng “Sống lâu và Sống có ích” như nhiều người đã tâm niệm từ bấy lâu nay.

Bài viết này nhằm ghi lại cái kinh nghiệm bản thân của một số huynh trưởng và bạn bè thân thiết – mà tôi thường gặp gỡ hay trao đổi qua mạng lưới điện tóan tòan cầu trong thời gian gần đây.

Nói chung, thì môi trường sinh họat ở nước ngòai có tính cách thông thóang hơn – cả về mặt vật chất như thực phẩm, dịch vụ chăm sóc y tế, vệ sinh môi trường thiên nhiên … được bảo đảm trong lành hơn – và cả về mặt văn hóa tinh thần cũng thỏai mái hơn vì không bị công an mật vụ nhòm ngó, kiểm sóat hạn chế mặt này mặt khác. Do đó, mà cuộc sống có được phẩm chất cao hơn (high quality of life) – bà con được tự do sinh họat thỏai mái dễ chịu hơn, thơ thới vô tư hơn.

1 – Trước hết là trường hợp của nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh và của Giáo sư Phó Bá Long.

Cả hai vị này đều đã từ giã cõi đời cách đây không lâu. Nhưng họ đã sống rất thọ và ở tuổi 85 – 87, các vị vẫn còn hăng say nghiên cứu viết lách – mà đặc biệt là sử dụng internet khá thường xuyên trong việc giao tiếp với bà con bạn hữu hay tra cứu tham khảo tài liệu để viết báo viết sách. Nhà báo Sơn Điền còn tham gia viết báo thường xuyên khi đã tới tuổi thượng thọ 90 – ông chỉ ngưng viết vào hơn một tháng trước khi qua đời vào tháng 8 năm 2012 vì tuổi già kiệt sức. Mỗi lần tôi đến San Jose, thì đều ghé thăm ông tại khu cư xá bên cạnh thương xá Lion trên đường King với Tully. Ông luôn giữ được sự bình tĩnh sáng suốt tinh tường của một nhà báo kỳ cựu – mà có tay nghề dễ đến trên 60 năm.

Còn Giáo sư Long, thì vào cuối đời ông vẫn hăng say với nhiều công chuyện về giáo dục và văn hóa. Cụ thể là ông lo việc phổ biến cho công chúng tại Mỹ bản dịch tiếng Anh từ cuốn Hồi ký của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường nguyên tác bằng tiếng Pháp “ L’excommunié “ (Kẻ bị khai trừ). Ông Long là môn sinh của Luật sư Tường tại trường Bưởi Hanoi hồi trước năm 1945, và rất mến phục sự uyên bác của vị giáo sư dậy môn văn chương này. Trước khi mất vào năm 2009, ông Long vẫn liên lạc qua e-mail với tôi và ông thúc giục tôi phải chú ý thực hiện rất nhiều việc này chuyện nọ.

2 – Hai nhà văn Uyên Thao và Trần Phong Vũ với Tủ sách Tiếng Quê Hương.

Hai nhà văn kỳ cựu này đã bước vào tuổi bát tuần, nhưng từ nhiều năm nay các anh đã miệt mài làm việc để cống hiến cho độc giả đến trên 50 đầu sách trong Tủ sách Tiếng Quê Hương được ấn hành tại hải ngọai. Nhà văn Uyên Thao bị bệnh thật ngặt nghèo – phải cắt đi đến quá nửa cái bao tử – ấy thế mà suốt ngày đêm vẫn bám sát máy computer – để lo viết bài giới thiệu cũng như biên tập, nhuận sắc cho những cuốn sách do các tác giả trao phó cho việc xuất bản. Anh được bà con trong vùng thủ đô Washington mến mộ vì sức làm việc dẻo dai kiên trì liên tục từ trên cả chục năm nay.

Nhà văn Trần Phong Vũ là bạn học với tôi từ tuổi niên thiếu hồi trước năm 1945  tại thị xã Thái Bình – đến nay tình bạn giữa chúng tôi tính ra đã tới trên 70 năm rồi. Anh là người được bà con ở California đánh giá cao vì rất tháo vát năng nổ trên lãnh vực truyền thông báo chí, đài phát thanh, truyền hình… Và đặc biệt là anh sát cánh với Uyên Thao – người bạn đồng nghiêp lâu năm trong ngành phát thanh và báo chí trước đây ở miền Nam Việt nam – để cùng điều hành Tủ sách Tiếng Quê Hương.

Cả hai anh đều sử dụng nhuần nhuyễn kỹ thuật hiện đại của Internet, nhờ vậy mà công việc nghiên cứu, biên tập và sáng tác của các anh luôn có năng suất rất cao. Rõ ràng là hai anh đã có niềm say mê với sách vở chữ nghĩa và hiện đang sống thật sung mãn trọn vẹn cái tuổi của lớp người cao niên vậy.

3 – Các bạn đồng môn tại Trường Bưởi & Chu Văn An .

Các bạn cùng học chung với tôi lớp Đệ Nhất Ban Tóan tại Trung học Chu Văn An ở Hanoi niên khóa 1953 – 54, thì nay đều đã bước vào cái tuổi 80 cả rồi. Hiện nay, còn có tới trên 20 bạn vẫn giữ liên lạc được với nhau qua thư từ, điện thọai hay e-mail. Mùa hè năm 2012 vừa qua, tôi ghé qua Paris, thì gặp lại khá nhiều các bạn vốn đã sinh sống tại đó từ trên 50 năm nay – cụ thể là các bạn Phạm Xuân Yêm, Vũ Dương Tuyền, Bạch Lý Từ (em thày Bạch Văn Ngà). Và mấy bạn mới qua đây sau năm 1975 như Đỗ Đăng Di, Võ Thế Hào.

Trong buổi gặp nhau đông đủ tại nhà bạn Yêm ở thị trấn Bourg-la Reine, chúng tôi đã thỏa chí với đủ thứ chuyện hàn huyên tâm sự – nhắc lại bao nhiêu kỷ niệm của tuổi trẻ thơ mộng từ cái thời 60 năm trước trên đất Bắc. Và đặc biệt, chúng tôi lại còn nói chuyện qua điện thọai với nhiều bạn khác như Bùi Thiệu Tường ở Montréal Canada, Vũ Ngọc Óanh ở San Jose California, Vũ Tiến Thông, Vũ Hữu Bao ở Texas, Ngô Đình Thuấn ở Washington DC v.v… Bạn Di là trưởng lớp vẫn giữ được cái tác phong của con chim đầu đàn nhằm giữ vững cái mối tình keo sơn gắn bó giữa anh em chúng tôi – nhất là bạn lại rất siêng năng với chuyện thông tin liên lạc của các thành viên trong Nhóm qua Internet.

Nhân tiện, cũng xin ghi thêm về sinh họat của các Phân Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trường Bưởi – Chu Văn An tại nhiều địa phương như ở Nam và Bắc California, ở Texas, ở Washington DC, ở Canada, ở Paris v.v… Mỗi năm, hầu hết các Phân Hội này đều tổ chức các buổi Hội Ngộ Mùa Xuân, Mùa Hè và còn ấn hành các cuốn Đặc san hoặc Kỷ yếu để ghi lại những kỷ niệm thân thương trìu mến về Trường Xưa, Bạn Cũ nữa. Và nhờ qua Internet, mà việc thông tin liên lạc được mau lẹ và phổ biến rộng rãi cùng khắp nơi trên thế giới nữa. Quả thật Internet là một phương tiện thật đắc lực để giúp củng cố và tăng cường cái tình bạn từ thuở thiếu thời giữa các bạn đồng môn chúng tôi mà đều xuất thân từ trường Bưởi – Chu Văn An vậy đó.

4 – Sinh họat của các Hội đòan khác.

Tôi tham gia sinh họat với nhiều hội đòan như Hội Ái Hữu Hành chánh Tài chánh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Hội Ái Hữu Luật khoa VN, Mạng Lưới Nhân Quyền VN … Và nhất là tôi còn hay viết bài gửi đăng trên nhiều báo giấy cũng như báo điện tử on-line tại nhiều nơi trên thế giới.

Trong khi sinh họat với các tập thể như vậy, lớp người lớn tuổi như chúng tôi lại được các bạn trẻ tiếp sức – mà các bạn trẻ thì thường là rất thành thạo về kỹ thuật điện tóan – nhờ vậy mà họat động của tập thể chúng tôi đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, có khi còn vượt quá sự mong ước của các thành viên nữa. Kết cục là anh chị em được tăng thêm niềm lạc quan phấn khởi sau những thành tựu thật tốt đẹp như thế.

Mà còn hơn thế nữa, lớp con cháu thuộc thế hệ thứ 2, thứ 3 trong gia đình thì lại còn nhuần nhuyễn gấp bội trong việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật về điện tóan – nên các cháu thường ra sức tiếp trợ về chuyên môn cũng như mua sắm máy móc hiện đại giúp nâng cao năng suất công việc của chúng tôi rất nhiều. Thành ra, tòan bộ gia đình gồm cả hai ba thế hệ đều cùng tập trung vào công chuyện xã hội nhân đạo cũng như tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền ở Việt nam nữa.

Qua việc hỗ trợ kỹ thuật cũng như tài chánh như thế, các cháu có thêm cơ hội để hiểu biết thấu đáo hơn về tâm sự cùng ước vọng của thế hệ người lớn tuổi – và từ đó mà có thêm sự thông cảm và quan tâm sâu sắc hơn đối với những vấn đề sinh tử của bà con ruột thịt của mình ở bên quê nhà. Và hệ quả là cái hố cách biệt giữa hai thế hệ già và trẻ trong cùng một gia đình (Generation Gap) cũng có cơ may được giảm bớt đi rất nhiều nữa.

5 – Kinh nghiệm cá nhân về sự tìm kiếm tài liệu trên Internet.

Nhân tiện, tôi cũng xin ghi vắn tắt về chuyện truy cập tìm kiếm thông tin tài liệu trên Internet. Phải nói rằng nhờ có Internet mà chúng ta có thể tìm được bất kỳ tài liệu nào liên hệ đến chủ đề mình đang theo đuổi nghiền ngẫm – nguồn thông tin đó lắm khi quá phong phú dồi dào đến nỗi có khi mình đâm ra nghi ngờ lúng túng không còn biết đúng sai ở chỗ nào nữa. Tuy nhiên, nếu mà giữ được sự bình tĩnh kiên nhẫn cần thiết, thì ta vẫn có thể tìm cách sàng lọc từ cái khối lượng thông tin hỗn độn đó để rút ra được những tài liệu khả tín, chính xác – khả dĩ có thể khai thác và sử dụng được cho bài viết của mình.

Việc này thường được gọi là “sự tiếp nhận có chọn lọc” (the selective reception) – đó là phương cách hiệu quả nhất cho bất kỳ cuộc truy tầm nghiên cứu nghiêm túc nào vậy.

Nói vắn tắt lại, nhờ khôn khéo áp dụng những tiến bộ mới trong thời đại Internet ngày nay ở vào đầu thế kỷ XXI, mà lớp người cao niên đang có triển vọng đạt tới được năng suất cao hơn ở mọi lãnh vực sinh họat cũng như tranh đấu góp phần với bà con tại quê nhà – trong công cuộc xây dựng một xã hội thật sự tiến bộ, nhân bản và nhân ái theo trào lưu phổ biến của thế giới hiện đại.

– Vấn đề là chúng ta phải thực sự có quyết tâm bền chí để cùng kết hợp với thế hệ trẻ là lớp con cháu nơi mỗi gia đình – trong việc hội nhập êm thắm với dòng chính của xã hội nơi chúng ta đã chọn lựa để mà định cư sinh sống lâu dài – sau khi thóat khỏi chế độ độc tài chuyên chế tòan trị do người cộng sản áp đặt trên quê hương bản quán là nơi chôn nhau cắt rốn của mình.

– Nhờ có việc hội nhập tốt đẹp như vậy, mà chúng ta còn kêu gọi thêm được sự hỗ trợ thật quý báu và hiệu quả từ phía nhân dân các quốc gia văn minh dân chủ trên thế giới – trong ý hướng cùng góp phần vào công cuộc tranh đấu trường kỳ cho chính nghĩa tự do, dân chủ và phẩm giá con người của đồng bào ruột thịt Việt Nam chúng ta hiện đang sinh sống trên quê hương đất nước mình nữa.

-Và đó mới đích thực là niềm vui lý tưởng trọn vẹn – với ý nghĩa cao quý trong cuộc sống của thế hệ người lớn tuổi như chúng ta hiện đang định cư tại những quốc gia văn minh trên khắp thế giới ngày nay vậy.

Westminster, California Hạ tuần tháng Bảy năm 2013

Đoàn Thanh Liêm

HÃY CẢM ƠN

HÃY CẢM ƠN

*   Hãy cảm ơn vì bạn chưa có tất cả những thứ bạn muốn;

Vì nếu bạn có rồi thì bạn còn gì để trông chờ và hy vọng nữa đâu.

*   Hãy cảm ơn vì nhiều điều bạn chưa biết;

Vì nếu bạn biết hết rồi thì bạn chẳng còn gì để học hỏi nữa sao?

*   Hãy cảm ơn những lúc khó khăn;

Vì nếu không có lúc khó khăn thì liệu bạn có trưởng thành được không?

*   Hãy cảm ơn vì bạn còn có những nhược điểm;

Vì nếu không còn nhược điểm gì thì bạn sẽ chẳng còn cơ hội để tiến bộ, để cải thiện bản thân.

*   Hãy cảm ơn những thử thách;

Vì nếu không có thử thách nào thì liệu cái gì có thể xây dựng nên sức mạnh và cá tính của bạn.?

*   Hãy cảm ơn những lỗi lầm bạn đã có;

Vì nếu bạn không có lỗi lầm gì thì cái gì sẽ dạy cho bạn những bài học đáng giá như thế đây.?

*   Hãy cảm ơn những khi bạn mệt mỏi;

Vì nếu bạn không khi nào mệt mỏi tức là bạn không làm việc gì hay sao.?

Thật là dễ nếu cảm ơn những thứ đẹp, nhưng cuộc sống bao giờ cũng tạo cơ hội cho mọi người cảm ơn cả những thứ chưa hoàn hảo nữa.

Suy nghĩ luôn, bạn có thể chuyển tiêu cực thành tích cực.

Nếu bạn biết cách biết ơn những thứ rắc rối của bạn thì chúng có thể giúp ích nhiều cho bạn.

Đọc được lời này trong tờ mục vụ khi

đi lễ ở Giáo xứ Đức Ki Tô Ngôi Lời Nhập Thể

Mỗi năm, khoảng 150,000 người ở Việt Nam bị ung thư

Mỗi năm, khoảng 150,000 người ở Việt Nam bị ung thư

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) – Mỗi năm, Việt Nam có từ 100,000-150,000 người mắc ung thư và khoảng 70,000 người chết vì căn bệnh này do liên quan đến ăn uống.

Người mắc bệnh ung thư ngày càng tăng. (Hình: Tuổi Trẻ)

Thông tin kể trên được công bố tại “Hội nghị khoa học lần thứ 20” tổ chức ở thành phố Sài Gòn vào ngày 21 tháng 5, một nhóm nghiên cứu của Bệnh Viện Quân Y 175 tổ chức.

Theo đó, trong 1,355 ca ung thư các loại được chẩn đoán và điều trị tại Trung Tâm Ung Bướu của Bệnh Viện Quân Y 175 từ tháng 1, 2005 đến tháng 10, 2009 cho thấy, tỉ lệ bệnh ung thư dạ dày, phổi, máu, hạch, gan, đại trực tràng ở nam giới có tỉ lệ cao hơn các bệnh ung thư khác.

Ở phụ nữ thì tỉ lệ mắc bệnh ung thư phổi, dạ dày, tử cung, vú, buồng trứng cao hơn.

Báo Tuổi Trẻ dẫn lời ông Đặng Huy Quốc Thịnh, phó giám đốc Bệnh Viện Ung Bướu Sài Gòn cho biết, số người bệnh ung thư đến điều trị tại đây đều tăng hằng năm với tốc độ ngày càng tăng rất đáng lo ngại.

Cụ thể, năm 2014 số bệnh nhân mắc bệnh ung thư được quản lý tại Bệnh Viện Ung Bướu Sài Gòn là khoảng 12,000 người. Thế nhưng, mới 5 tháng đầu năm 2015, số bệnh nhân ung thư được quản lý tại bệnh viện này đã lên tới gần 13,000 bệnh nhân.

Còn theo Cơ quan ghi nhận ung thư quốc tế Globocan, có trụ sở ở Pháp thì, năm 1998 tại Việt Nam có hơn 70,000 trường hợp mắc ung thư mới. Nhưng đến năm 2012, số ca mắc ung thư mới là trên 150,000.

Như vậy, chỉ trong 14 năm số người mắc bệnh ung thư tại Việt Nam đã tăng lên gấp đôi. Dù số cơ sở điều trị bệnh ung thư tại Việt Nam đã tăng hơn so với trước, nhưng hiện cơ sở điều trị bệnh ung thư nào cũng quá đông.

Ngoài ra, theo ông Thịnh còn có nhiều nguyên nhân khác khiến số người mắc bệnh ung thư gia tăng trong những năm gần đây là do số người hút thuốc, uống rượu bia nhiều, ăn thực phẩm bị mốc hoặc ăn những món chiên nướng, nướng đen, nhiều dầu béo, thói quen ăn thực phẩm phơi khô, muối mặn, những loại rau cải muối… đều có nguy cơ gây ung thư.

Đặc biệt, việc không kiểm soát được vệ sinh thực phẩm, thực phẩm có chứa những hóa chất độc hại, chẳng hạn lấy nguồn thịt đã bị thối rữa về ướp hóa chất độc hại để thịt dai hơn, thơm hơn, sau đó bán cho khách… cũng tăng nguy cơ ung thư.

Ông Thịnh cho biết thêm, theo số liệu nghiên cứu của Hiệp Hội Quốc Tế Phòng Chống Ung Thư (UICC) tại một hội nghị ở Úc năm 2014, có đến 30-50% các ca bệnh ung thư liên quan đến ăn uống, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam.

Hiện nay, ung thư phổi và ung thư gan đứng đầu ở cả hai giới nam và nữ tại Việt Nam do người Việt được xếp cao nhất, nhì trong khu vực về số lượng người hút thuốc lá, với hơn 50% dân số. Riêng phụ nữ bị ung thư phổi cao là do phải “hút thuốc thụ động” của những người xung quanh.

Ngoài ra, theo các chuyên gia, Việt Nam còn nằm trong khu vực có khả năng mắc bệnh viêm gan siêu vi B, siêu vi C rất cao. Nếu mắc các bệnh này mà điều trị không tốt, lâu ngày sẽ chuyển hóa thành ung thư gan. (Tr.N)

Nhiều tổ chức Xã Hội Dân Sự nêu 6 tội của công an

Nhiều tổ chức Xã Hội Dân Sự nêu 6 tội của công an

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) .- Mười chín tổ chức Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam gửi thư ngỏ cho Bộ trưởng Công An CSVN Trần Đại Quang nêu ra 6 tội của guồng máy đàn áp nhân dân và khuyến cáo phải thay đổi.

Bức thư ngỏ của 19 tổ chức Xã Hội dân Sự (XHDS) được phổ biến nhân chuyện 2 thành viên của xã hội dân sự là Nguyễn Chí Tuyến và Đinh Quang Tuyến bị công an thường phục CSVN chận đánh dã man ngay trên đường phố vào các ngày 11 và 19 tháng 5, 2015 vừa qua.

Bức thư nêu tóm tắt 6 tội chính của ngành công an, mà nhiệm vụ chính yếu thay vì bảo vệ nhân dân, giữ gìn an ninh trật tự, lại gây tội ác với nhân dân chỉ vì nhu cầu bảo vệ chế độ độc tài đảng trị.

Ông Nguyễn Chí Tuyến bị Công an CSVN hành hung tét đầu khi phụ tá Ngoại trưởng Mỹ đến Hà Nội đối thoại nhân quyền. (Hình: FB nguyễn Văn Đề)

Tội thứ nhất là bám chặt vào lời thề “Chỉ biết còn Đảng, còn mình”. Bức thư ngỏ của 19 tổ chức XHDS lên án rằng “Khẩu hiệu có tính nguyên tắc ấy ngoài ra còn giết chết lương tâm của những con người đang làm một nghề tự bản chất là cao quý lẫn cần thiết, và do đó mở đường cho bao thái độ kiêu căng hống hách, tham nhũng tống tiền, ứng xử vô luật (sử dụng côn đồ), hành động ám muội (giả dạng côn đồ), tàn bạo đối với nhân dân.

XHDS lên án tội thứ hai của công an  là “Chà đạp văn hóa đạo đức dân tộc” khi phá đám các đám tang của người dân, phá thối các cuộc tưởng niệm liệt sĩ chống ngoại xâm.

Tội thứ ba là “Đàn áp nhân dân đứng lên đòi quyền sống.” Dẫn chứng là đàn áp các cuộc biểu tình của dân oan khắp nơi trên cả nước. Dân bị nhà cầm quyền cướp đất cướp nhà rồi đền bù bằng những số tiền rất nhỏ, hoặc nhiều khi là không đền bù, đẩy người ta vào cảnh khốn cùng.

Tội thứ tư của công an là tra tấn, ép cung chết người. Báo cáo của nhà cầm quyền nói trong 3 năm qua hơn 260 người đã bị chết khi mới bị tạm giam trong đó không ít bị vu cho là tự tử mà không có một cuộc điều tra độc lập nào kiểm chứng.

Tội thứ năm là “Bạo hành đối với những người hoạt động nhân quyền”. Bức thư ngỏ nêu ra một số trường hợp điển hình như đàn áp các luật sư can đảm bảo vệ lẽ phải, đánh đập sách nhiễu hay ít nhất ngăn chặn những ai tham gia vận động nhân quyền.

Tội thứ sáu của công an là “Hành hạ các tù nhân lương tâm”. Bức thư ngỏ kể một số trường hợp điển hình như các tù nhân lê Công Định, Lê Thị Phương Anh bị khủng bố, tra tấn thể xác và tinh thần để kép cung.

“Hai trường hợp bức cung nổi tiếng nhất là buộc Nguyễn Văn Chưởng và Hồ Duy Hải vào tội giết người để nay bị tuyên án tử.” Bức thư ngỏ viết. “Một khi họ đã thụ án, công an tiếp tục cưỡng buộc nhận tội những tù nhân bất khuất, bằng nhiều biện pháp bất nhân bẩn thỉu như bỏ đói (Đặng Xuân Diệu), nhờ tù nhân hình sự đánh đập (Hồ Thị Bích Khương), biệt giam kỷ luật (Nguyễn Đặng Minh Mẫn), cắt thăm nuôi (Đinh Nguyên Kha), không chăm sóc y tế đầy đủ (Nguyễn Xuân Nghĩa), đày đi thật xa gia đình (Mai Thị Dung, Tạ Phong Tần). Đặc biệt là đầu độc cho chết trong tù (như Huỳnh Anh Trí, Đinh Đăng Định).”

Với những thành tích “còn đảng, còn mình” như thế, các tổ chức XHDS nói rằng coi dân “như kẻ thù chỉ làm suy giảm nguyên khí quốc gia, gây chán nản cho những công dân thiện chí, và dĩ nhiên chẳng thể nào làm đất nước phát triển. Rõ ràng công an đang bôi tro trét trấu vào mặt chế độ, đồng thời cho thấy công an chính là kẻ thù tàn hại Tổ quốc Dân tộc.” (TN)