Nhiều tiến sĩ kỹ sư nhưng không làm nổi ốc vít
httpv://www.youtube.com/watch?v=cJajbysfFVY

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
httpv://www.youtube.com/watch?v=cJajbysfFVY
Tác giả: Lm. Inhaxio Trần Ngà
(Suy niệm Tin Mừng Mác-cô (5, 21-43) trích đọc vào Chúa Nhật 13 thường niên)
Có một ông vua rất đỗi giàu sang và vô cùng quảng đại. Nhà vua có một kho tàng đầy ắp những báu vật mọi người hằng mơ ước. Nhà vua tuyên bố với thần dân rằng bất cứ ai muốn lấy bất cứ thứ gì trong kho tàng vô tận của vua thì cứ lấy, miễn là phải dùng một loại chìa khoá rất đặc biệt mới mở được kho tàng. Chìa khoá ấy, vua cũng chỉ cho biết là đang nằm trong tầm tay mọi người. Tiếc thay, người ta không biết đó là chìa khoá thần kỳ và chưa mấy ai đem ra sử dụng.
Khi nghe tin nầy, nhiều người nao nức hỏi: Vị vua đại lượng đó là ai? Kho tàng nằm ở đâu? Chìa khoá nào mở được kho tàng, xin mau mau cho biết.
Đức vua đó chính là Thiên Chúa quyền năng. Kho tàng của Ngài là vô vàn phúc lộc không bao giờ vơi cạn. Chìa khoá để mở kho tàng ấy là lòng tin. Ai có lòng tin mạnh mẽ, người đó có thể mở được cửa kho tàng và chiếm lấy những gì mình muốn. Ai không có lòng tin, thì đành bó tay và chẳng thu lượm được gì.
Hai sự kiện thánh sử Mác-cô thuật lại trong Tin Mừng hôm nay minh chứng cho chân lý nầy:
Trường hợp người phụ nữ bị bệnh băng huyết
Một người phụ nữ bị băng huyết đã mười hai năm, đã lắm phen tìm thầy chạy thuốc nhưng bệnh của bà vẫn vô phương cứu chữa. Nay gặp Chúa Giê-su, bà mừng như người sắp chết đuối vớ được tấm phao.
Vì luật cấm những người mang thứ bệnh nhơ uế như bà tiếp cận với người khác (Lv 15, 25) nên bà không dám công khai gặp Chúa Giê-su, chỉ len lén tiến lại phía sau lưng Ngài, tự nhủ lòng rằng: “Mình chỉ cần sờ được vào áo Ngài thôi là sẽ được cứu.” Và điều nhiệm mầu đã xảy ra: bà vừa đụng vào áo Chúa Giê-su thì tức khắc huyết cầm lại và bà được chữa lành.
Chúa Giê-su biết có một năng lượng từ mình xuất ra nên quay lại tìm hiểu và khi người phụ nữ thú nhận việc bà vừa làm, Chúa Giê-su bảo: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”
Chính Chúa Giê-su xác nhận lòng tin là chìa khoá thần kỳ mở ra cho người đàn bà kho tàng chứa đựng điều mà bà khao khát: được chữa lành chứng bệnh nan y.
Trường hợp ông trưởng hội đường
Ông trưởng hội đường đang cùng Chúa Giê-su tiến vội về nhà để nhờ Chúa cứu chữa đứa con gái đang hấp hối, thì người nhà của ông này chạy đến báo cho ông biết rằng con gái ông chết rồi, đừng phiền Chúa đến nhà làm gì mất công.
Nghe vậy, Chúa Giê-su động viên ông ta: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.“ Tin là được. Thế rồi, nhờ lòng tin, con gái ông đã được cứu sống.
Một lần nữa, Tin Mừng chứng tỏ cho thấy lòng tin là chìa khoá đem lại ân sủng nhiệm mầu: đứa con gái thân yêu chết rồi nay được cứu sống!
Còn nhiều sự kiện khác được ghi lại trong Tin Mừng chứng tỏ cho thấy phải có lòng tin thì mới đạt được điều mong muốn và không có lòng tin thì chẳng được gì (Mt 13, 58). Lòng tin có thể chuyển núi dời non. Với lòng tin, người ta có thể làm được tất cả như lời Chúa Giê-su dạy: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi nầy: “rời khỏi đây, qua bên kia!” nó cũng sẽ chuyển qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được” (xem thêm: Mt 17, 19-20; Mt 15, 28; Mt 21, 21-22).
Quả vậy, điểm lại những khuôn mặt đạt được thành công lớn lao trên thế giới, ta thấy rằng nguyên nhân chính giúp họ thành đạt là nhờ mạnh tin. Vững tin rằng mình sẽ làm được thì sẽ được như ý.
Như thế, lòng tin là bí quyết để thành công trên đường đời, và cũng là chìa khoá mở vào kho tàng ân sủng của Thiên Chúa.
Lạy Chúa, lòng tin của chúng con còn yếu kém nên chẳng thu hoạch được gì. Xin ban thêm lòng tin để chúng con có thể mở được kho tàng ân sủng của Chúa.
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
Tác giả: Lm. Vinh Sơn, scj
Kn 1,13-15;2,23-24; 2Cr 8,7.9.13-15; Mc 5,21-43
Họa sĩ Holman Hunt (1827 – 1910) vẽ xong bức tranh Đức Giêsu đang đứng gõ cửa một ngôi nhà nhỏ. Ông mời bạn bè đến góp ý xem có gì sai sót.
Thấy bức họa, các bạn trầm trồ khen ngợi và không thấy có gì sai. Ông Hunt cứ thúc dục các bạn xem kĩ lại. Cuối cùng, một hoạ sĩ còn rất trẻ lên tiếng : “Thưa Ngài, tôi thấy có một sai lỗi trên bức danh hoạ. Ngài đã quên không vẽ tay cầm hay ổ khoá nơi cửa”.
Hunt đáp: “Này bạn, khi đức Giêsu gõ cửa nhà bạn, thì cửa phải mở từ bên trong”.
Bà góa mắc bệnh băng huyết và của ông trưởng hội đường tên là Giarô có người con bệnh nặng sắp qua đời đã mở cửa tâm hồn mình bằng niềm tin như Tin Mừng Mc 5,21-43 ghi lại:
Hai phép lạ xảy ra nhờ có lòng tin mà Đức Giêsu xác nhận. Với người phụ nữ đau khổ góa bụa bệnh băng huyết có lòng tin vững vàng : “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con” (Mc 5,34) như mỗi lần chữa lành bệnh tật, Ngài thường khẳng định: “Niềm tin của con đã cứu chữa con” (Mt 9,22; Lc 8,48; 17,19; 18,42…). Ðược lành bệnh, được phục hồi, người được chữa lành không chỉ tìm lại được sức khỏe thể lý nhưng còn có cuộc sống mới trong niềm tin và họ đã tuyên xưng.
Còn ông Giarô, Ngài nâng đỡ ông hãy vững lòng tin: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi” (Mc 5,36), khi ông muốn ngã quỵ vì nhận được tin dữ như sét đánh ngang tai: “Con ông đã chết rồi ” (Mc 5,35).
Sống đức tin là mở cửa tâm hồn dám sẵn sàng đi ra khỏi chính mình để gặp Chúa tin và đi theo tiếng gọi của niềm tin, sẵn sàng đi ra khỏi tư tưởng áp đặt đám đông để sống thực cho những đòi hỏi của đức tin. Sống đức tin đích thực là sẵn sàng lội ngược dòng như bà góa vượt qua lề luật để gặp, sờ áo Chúa và ông Giarô vượt qua thân phận chủ hội đường mà đến với Đức Kitô.
Thánh Augustinô đã suy niệm: “Có đức tin là tin những gì chúng ta không thấy và phần thưởng của đức tin là thấy những gì chúng ta tin”. Bà góa tin rằng sờ vào áo thầy thôi là được khỏi, và bà đã được như lòng tin muốn, ông Giarô tin rằng Thầy sẽ chữa lành con ông đang bị bệnh, còn lạ lùng hơn, ngay cả con ông đã chết vẫn được sống như ông mong ước khi tin vào Thầy.
Ngày hôm nay, với cái nhìn tổng quát cuộc sống, mỗi chúng ta đều mang bệnh tật: có thể về thể xác như mang các cơn bệnh, có thể là những thứ bệnh tâm lý như lo lắng, cô đơn, cay đắng, giận hờn, stress, có thể là những cơn bạo bệnh tâm linh khi sống mất phương hướng hoang tàn trong cuộc đời, còn tệ hơn nữa là chết về tâm hồn… Thế nhưng chúng ta lại có vẻ bề ngoài như người mạnh khỏe, có xu hướng che giấu bệnh tật và thương tích của mình và vì thế cơn bệnh luôn hiện diện và hoành hành trong chúng ta thầm lặng, có lúc bùng phát như cơn bệnh ung thư. Chúng ta luôn cần được chữa lành như người phụ nữ mang bệnh tật đến với Đức Giêsu với niềm tin vào Ngài, như người cha Giarô xin Thầy đến bên con gái đang bị bệnh gần chết với niềm tin con ông được sống.
Thật thế, mỗi giây phút cuộc đời, với tất cả tình trạng của mình, chúng ta hãy chạy đến với Thầy: “Như trẻ thơ đặt hết niềm tin nơi Chúa” (Tv 131,1)
Và xác tín rằng: “Ai tin ở Người thì được sống…” (Ga 3,15)
Lm. Vinh Sơn,
Sài Gòn, 27/06/2015
Hội Nhà báo ĐLVN ra tuyên bố số 6 phản đối công an đàn áp ông Phạm Chí Dũng
Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-06-29

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam chính thức ra mắt hoạt động vào ngày 4 tháng 7 năm 2014.
File photo
Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, một tổ chức xã hội dân sự không thuộc Nhà nước, hôm nay ra tuyên bố số 6 phản đối Công an Thành phố Hồ Chí Minh đàn áp chủ tịch hội là ông Phạm Chí Dũng.
Theo nhận định thì biện pháp của công an nhằm loại bỏ tờ báo của hội mà sau chưa đầy một năm ra đời đã thu hút được nhiều độc giả quan tâm tình hình đất nước, muốn biết sự thật.
Thực tế đàn áp
Tuyên bố nhắc lại việc chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, ông Phạm Chí Dũng trong hai ngày 25 và 26 tháng 6 vừa qua bị nhân viên an ninh ép đi làm việc.
Đây không phải là lần đầu tiên mà trong vòng chưa đầy hai năm kể từ cuối năm 2013 sau khi công khai từ bỏ đảng Cộng sản Việt Nam, rồi tham gia thành lập Hội Nhà báo Độc lập, ông Phạm Chí Dũng từng bị triệu tập gần 20 lần, bị bắt giữ một số lần, bị tịch thu hộ chiếu cấm xuất cảnh. Và cơ quan an ninh thường xuyên theo dõi ông.
Một người biết vụ việc của chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, nhà báo Võ Văn Tạo, từ Nha Trang cho biết:
“ Về yêu cầu của bên Công an đối với anh Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập yêu cầu phải dẹp bỏ tờ Việt Nam Thời báo- tờ báo mạng của Hội Nhà báo Độc lập, thì tôi cũng biết thông tin này. Ngay tối anh Dũng được thả ra sau khi bị bắt lúc sáng đến 5 giờ chiều mới được thả ra; sau đó có thông tin trên mạng Internet là công an yêu cầu anh như thế.
Công an hỏi về liên quan với nhà văn Nguyễn Quang Lập- Bọ Lập; họ lấy cớ vụ án của Nguyễn Quang Lập là chưa điều tra, nên muốn điều tra những quan hệ với nhà văn; nhưng chủ yếu là họ yêu cầu anh Dũng chấm dứt trang báo đó.”
Nhận định lý do
Bản thân chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, ông Phạm Chí Dũng cũng có nhận định là cơ quan an ninh muốn loại bỏ mạng Việt Nam Thời Báo của Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam:
” Cuối cùng họ đưa ra yêu cầu đóng trang Việt Nam Thời báo, và tôi hiểu là tiếp sau trang Việt Nam Thời báo là họ nhấn mạnh phải loại trừ vai trò ở Hội Nhà báo Độc lập đối với cá nhân tôi
ông Phạm Chí Dũng”
“ Họ mời tôi với cớ về vụ Nguyễn Quang Lập vì vụ đó chưa đình chỉ; nhưng tôi hiểu đó chỉ là cái cớ thôi vì hầu hết những câu hỏi không phải hỏi về Nguyễn Quang Lập mà hỏi về Hội Nhà báo Độc lập và trang Việt Nam Thời báo thôi. Cuối cùng họ đưa ra yêu cầu đóng trang Việt Nam Thời báo, và tôi hiểu là tiếp sau trang Việt Nam Thời báo là họ nhấn mạnh phải loại trừ vai trò ở Hội Nhà báo Độc lập đối với cá nhân tôi.”

Ông Phạm Chí Dũng trong một lần đi biểu tình phản đối Trung Quốc
Một người cho biết hằng ngày vẫn phải vượt tường lửa để vào mạng xem Việt Nam Thời báo của Hội Nhà báo Độc lập cho biết lý do phải tìm đến với tờ báo này:
“ Tại vì tờ báo đó là tờ báo đa chiều, nó tập hợp những bài viết, những quan điểm khác nhau và không giấu diếm những sự thật.
849 cơ quan báo đài của Nhà nước thì thông thường những bài viết ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà Nước cho dù đó là sự thật đi nữa cũng không được đăng lên. Những tiếng nói trái chiều hay không đúng chủ trương Nhà nước thì lại không được đăng tải. Cho nên tôi phải đi tìm những trang như Việt Nam Thời báo để tìm những tin tức, những sự thật để hiểu biết chính xác về tình hình của đất nước.”
Nhà báo Võ Văn Tạo đưa ra nhận định về lý do tại sao công an thẳng thừng đưa ra yêu cầu đối với chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam phải ngưng Việt Nam Thời báo:
“ Ở Việt Nam ai sống lâu năm ở thể chế này đều biết rằng mọi thứ mà không do Đảng cộng sản chủ trương lập ra thì đều bị coi là bất hợp pháp và là kẻ thù nguy hiểm của thể chế. Không chỉ hội Nhà báo, kể cả những hội thông thường nhất như Hội Làm vườn; bất cứ hội gì Đảng đều tìm cách cài cắm người mình vào. Từ lâu chúng tôi biết rằng những hội đó do Đảng lập ra chẳng qua chỉ là những thứ hình thức để xiềng xích tất cả những giai tầng trong xã hội thôi.

Trang mạng tờ Việt Nam Thời Báo ngày 29 tháng 6, 2015
Thế thì Hội Nhà báo Độc lập do anh Phạm Chí Dũng làm chủ tịch khi ra mắt thì như cái gai. Mà trong năm 2014 không chỉ có Hội Nhà báo Độc lập mà có một số hội đoàn, xã hội dân sự khác nữa như Công đoàn Độc lập, Hội Phụ nữ cũng độc lập… chừng trên 20 hội độc lập như thế và họ tự tuyên bố thành lập chứ không đăng ký vì có đăng ký cũng không bao giờ được công nhận; mà theo truyền thống là đăng ký với cơ quan Sở Nội vụ thì tôi tin chắc chắn họ sẽ cung cấp cho đăng ký vì những tổ chức đó không phải do Đảng lập ra. Nên Hội Nhà báo Độc lập như một cái gai đối với thể chế này và đối với an ninh.”
” Ở Việt Nam ai sống lâu năm ở thể chế này đều biết rằng mọi thứ mà không do Đảng cộng sản chủ trương lập ra thì đều bị coi là bất hợp pháp và là kẻ thù nguy hiểm của thể chế. Không chỉ hội Nhà báo, kể cả những hội thông thường nhất như Hội Làm vườn; bất cứ hội gì Đảng đều tìm cách cài cắm người mình vào
Nhà báo Võ Văn Tạo”
Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, nhà báo Phạm Chí Dũng, chia sẽ một số nguồn tin mà ông có được về mạng Việt Nam Thời báo của hội này:
“ Tôi có nghe những thông tin ( không biết có đúng không) là phía chính quyền đánh giá trang Việt Nam Thời báo và Hội Nhà báo Độc lập hiện nay có tầm ảnh hưởng khá rộng; đặc biệt ảnh hưởng đến cả khối công chức và người về hưu thành thử có thể đó là lý do họ không muốn tồn tại một chủ thể mặc dù đã được hiến định trong Hiến pháp năm 1992 và 2003. Họ không muốn tồn tại một Hội Nhà báo Độc lập bên cạnh một Hội Nhà báo Việt Nam. Và vẫn muốn giữ vai trò chuyên chế, độc tài về các hội đoàn dân sự của Nhà nước. Đó là nguồn thông tin riêng của tôi, tôi nghe được như vậy.
Một cơ sở nữa có lẽ lượng truy cập đối với Việt Nam Thời báo tăng đáng kể trong thời gian một năm vừa qua. Lượng truy cập bình quân hiện nay của Việt Nam Thời báo một ngày là từ 70- 80 ngàn; khi cao hơn có 100 ngàn một ngày. Có lẽ đó là một lý do để Nhà nước và ngành Công an cảm thấy lo ngại sự ảnh hưởng của trang Việt Nam Thời báo; đặc biệt là chúng tôi đặt ra yêu cầu trang Việt Nam Thời báo phải gia tăng tính phản biện về các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị và kể cả tôn giáo nữa; phản ánh sự thật khách quan và nói lên tiếng nói của người dân.
Tôi nghĩ rằng trong một xã hội mà người ta không quan tâm nhiều lắm, hay quan tâm rất ít về tự do ngôn luận và kể cả vấn đề tự do tư tưởng, tự do báo chí thì có lẽ người ta chưa quen với sự tồn tại của cơ chế xã hội dân sự và các tổ chức xã hội dân sự độc lập như là Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam.”
Báo chí Nhà nước và báo chí độc lập
Nhà báo Võ Văn Tạo cho biết trong thực tế tại Việt Nam có nhiều trang mạng của những người được gọi là ‘trí thức dấn thân’ cũng bị chặn tại Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều người quan tâm đến thông tin sự thật vẫn tìm cách vượt tường lửa để đến với các trang mạng đó và nhà báo Võ Văn Tạo cho rằng cuộc chiến giữa cơ quan tuyên truyền Nhà nước và truyền thông ‘lề dân’ không chịu sự kiểm soát nào là một cuộc chiến một mất, một còn.
“ Trong thời đại phát triển khoa học- kỹ thuật có Internet, có facebook và có các phương tiện truyền thông khác và rất khó chặn. Có những quốc gia như Trung Quốc họ cũng ngặt nghèo hơn nhưng tôi cho rằng cũng vẫn bị lọt vì theo tôi việc họ chặn thì vẫn cứ ngăn chặn nhưng cái đà tiến bộ của khoa học- kỹ thuật và tiếp cận của cộng đồng ‘trí thức dấn thân’ thì tôi cho rằng người ta vẫn tìm cách vượt qua.
Hiện nay ở Việt Nam một số trang web trang blog cá nhân mà mạnh dạn, tương đối thẳng thắn và can đảm cũng bị chặn; rất khó vào nhưng những người biết cách bày nhau để vào xem.”
Xin được nhắc lại Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam với tờ báo mạng Việt Nam Thời báo ra đời vào ngày 4 tháng 7 năm ngoái.
Chi tiết vụ bắt tù nhân vượt ngục ở New York
MALONE, New York (NV) – Trong lúc truy lùng tù nhân vượt ngục còn lại ở New York, một cảnh sát viên đã bắn David Sweat hai phát súng hôm Chủ Nhật, theo CNN, và tù nhân này đã bị bắt.

Cảnh sát New York đứng gác trước bệnh viện Alice Hyde, nơi tù nhân David
Sweat được cấp cứu. (Hình: AP Photo/Mike Groll)
Giới chức công lực cho biết, Trung Sĩ Jay Cook, thuộc lực lượng cảnh sát New York, là người trông thấy tù nhân David Sweat, và sau khi tù nhân này bỏ chạy, cảnh sát viên này đuổi theo.
“Đến một lúc nào đó, trong khi đang chạy trên cánh đồng, cảnh sát viên này thấy rằng David Sweat định chạy vào trong những hàng cây trong rừng, và có thể thoát thân. Thế là cảnh sát viên này bắn hai phát súng,” ông Joseph A. D’Amico, chỉ huy cảnh sát New York, nói với báo giới.
Tù nhân này, không có súng, bị bắn hai phát vào bụng. Tuy nhiên, cảnh sát cho biết vết thương không nguy hiểm đến tính mạng.
Một tấm hình mà đài CNN có được cho thấy thời điểm David Sweat bị bắt, người đầy máu, mặc một bộ quân phục ngụy trang, chứ không phải quần áo nhà tù.
Tù nhân David Sweat được đưa vào bệnh viện ở thị trấn Constable, phía Bắc New York, gần biên giới Canada.
“Tôi chỉ có thể nói rằng David Sweat đang đi về phía biên biên giới, vì nó rất gần,” ông D’Amico nói.
Tù nhân này bị bắt cách nơi Richard Matt bị bắn chết hôm Thứ Sáu khoảng 16 dặm về phía Bắc.
Chỉ có mình cảnh sát viên Jay Cook bắn David Sweat.
Sau khi được đưa vào bệnh viện Alice Hyde ở Malone để cấp cứu, tù nhân này được đưa vào bệnh viện Albany để chữa trị, bà Tania Allard, một phó giám đốc bệnh viện cho báo giới biết.
Bà Allard nói không biết bao giờ tù nhân Davide Sweat được đưa tới, nhưng nói rằng họ “đang chở” ông đến Albany.
“Chúng ta không muốn chuyện này xảy ra. Thế nhưng, khi nó đã xảy ra, thì đây là điều chúng ta muốn nó chấm dứt,” Thống Đốc New York Andrew Cuomo được trích lời nói. (Đ.D.)
Làn sóng người tỵ nạn chính trị từ Việt Nam (4)
Anh Vũ, thông tính viên RFA
2015-06-27

Một nhóm người Thượng Việt Nam từ Campuchia chạy qua Thái Lan.
RFA Photo
Your browser does not support the audio element.
Trong làn sóng những người Việt Nam đi tỵ nạn ở nước ngoài, không thể không nhắc đến những người Thượng Tây nguyên đang tỵ nạn ở Thái Lan. Cuộc sống của họ hiện nay ra sao và họ có những mong muốn gì?
Vì mất đất canh tác
Trong những năm 2001 đến 2007, trước hiện trạng đất canh tác dần dần bị rơi vào tay các đồn điền cao su của người Kinh di cư từ miền xuôi lên, cộng với sự cấm đoán ngặt nghèo của chính quyền đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, hàng loạt các cuộc biểu tình của người Thượng Tây nguyên đã nổ ra để đòi trả lại đất đai bị thu hồi và đòi nới rộng quyền tự do tôn giáo.
Để đối phó với các cuộc biểu tình đông người, chính quyền VN đã tiến hành nhiều đợt đàn áp nhằm vào người Thượng ở Tây Nguyên, từ đó nhiều người Thượng Tây nguyên tìm đường trốn chạy sang Campuchia để tìm qui chế tỵ nạn.
” Người Thượng mình hiện nay ở Thái Lan nếu gom lại thì có khoảng hơn 300 người. Chạy sang đây tỵ nạn vì mình không có tự do tín ngưỡng về tôn giáo, còn về đất đai của mình thì chính quyền họ đã cướp đi. Họ còn đàn áp những người có niềm tin tôn giáo, có người bị bắt bỏ tù và cũng có người đã chết trong tù.
-Ông R’Ma B’Lie”
Nói về lý do phải chạy sang Thái Lan tỵ nạn, ông R’Ma B’Lie người dân tộc Jarai, ở tỉnh Gia rai đến Thái Lan tỵ nạn vào tháng 12/2011 cho chúng tôi biết:
“Người Thượng mình hiện nay ở Thái Lan nếu gom lại thì có khoảng hơn 300 người. Chạy sang đây tỵ nạn vì mình không có tự do tín ngưỡng về tôn giáo, còn về đất đai của mình thì chính quyền họ đã cướp đi. Họ còn đàn áp những người có niềm tin tôn giáo, có người bị bắt bỏ tù và cũng có người đã chết trong tù.”
Ông Y Thoat Knul dân tộc M’Nông ở tỉnh Đaklac, một tín đồ Tin lành tiếp lời:
“Do sự truy đuổi của cộng sản VN nên tôi đã phải bỏ chạy sang Campuchia xin tỵ nạn. Trong thời gian ở trong trại tỵ nạn ở Campuchia tất cả những người Thượng đang tỵ nạn đã bị Cao ủy LHQ trục xuất về Việt Nam. Tôi không thể chấp nhận quay trở về VN vì nếu quay về VN thì sẽ bị cầm tù hoặc là chết. Chính vì thế tôi đã phải liều chết để chạy trốn sang Thái Lan để xin tỵ nạn.”
Ông Y Heo KNuil Ly dân tộc Ê đê ở tỉnh Đaklac đã chạy sang tỵ nạn tại Thái Lan từ năm 2008 nói với chúng tôi:
“Từ trại tỵ nạn ở Campuchia chúng tôi phải chạy trốn sang Thái Lan vào năm 2008, lý do tôi phải bỏ trốn khỏi đất nước quê hương tôi một phần cũng vì vấn đề chính trị. Trước việc đất đai của cha ông chúng tôi đã bị chính quyền thu hết thì chúng tôi đã đi biểu tình để phản đối cái đó và yêu cầu chính phủ Hà nội phải tôn trọng quyền của người Thượng ở Tây nguyên. Một phần nữa họ đã ghép tôi tội hoạt động tôn giáo Tin lành và họ đã ghét bỏ tôi nên buộc tôi phải chạy sang Campuchia để tỵ nạn.”
Nói về những khó khăn của những người Thượng Tây nguyên tỵ nạn ở Thái Lan đã và đang gặp phải trong thời gian vừa qua, ông Y Thoat Knul bày tỏ:

Ngày 20/03/2014, nhiều người dân tộc H’mong cũng đã tập trung phản đối phiên tòa kết tội hai người H’mong vi phạm điều 258. (Hình minh họa)
“Vì mình không có giấy tờ nên phải đi làm chui thôi, làm phụ hồ, làm rửa xe, làm đủ các công việc. Mỗi ngày phải làm việc từ 10-14 tiếng đồng hồ, không có nghỉ, phải chấp nhận làm nô lệ thôi. Với cuộc sống bơ vơ hiện tại thì khôngbiết tin vào ai, không biết phải làm gì và không biết mình sẽ rơi vào tay ai. Đó còn chưa kể đến chuyện ốm đau, bệnh tật và biết bao các thứ chuyện khác.”
Trước cuộc sống vô vàn khó khăn của họ như vậy, song việc cứu xét để chấp thuận quy chế tỵ nạn cho những người Thượng Tây nguyên hiện nay của Cao ủy LHQ cũng hết sức khó khăn. Ông R’Ma B’Lie khẳng định:
“Tình trạng người Thượng tỵ nạn ở đây hết sức là khó khăn, cuộc sống thì tạm bợ không có giấy tờ, về vật chất thì hết sức thiếu thốn. Còn thủ tục giấy tỵ nạn thì UN hoãn đi hoãn lại, có khi UN hẹn ngày phỏng vấn rồi họ hoãn lại sang ngày khác nữa. Trung bình một người thì họ hoãn tới 2-3 lần.”
Gia đình còn ở lại VN
Một trong những khó khăn của những người Thượng Tây nguyên tỵ nạn là gia đình, vợ con họ còn ở lại VN đã bị chính quyền phân biết đối xử và liên tục sách nhiễu. Ông Y Heo KNuil Ly bày tỏ:
“Trước khi tôi rời bỏ VN thì gia đình tôi còn ở lại VN hết, gia đình tôi có 02 cháu và một vợ và đã bị họ phân biệt đối xử rất khó nghe lắm. Họ bảo với con tôi là bố mày là phản quốc bán nước, còn vợ tôi là giáo viên thì bị họ làm khó dễ. Vừa rồi vợ tôi có nhắn cho tôi trên facebook rằng họ đang làm khó khăn cho mẹ con em ở nhà.”
” Trước khi tôi rời bỏ VN thì gia đình tôi còn ở lại VN hết, gia đình tôi có 02 cháu và một vợ và đã bị họ phân biệt đối xử rất khó nghe lắm. Họ bảo với con tôi là bố mày là phản quốc bán nước, còn vợ tôi là giáo viên thì bị họ làm khó dễ.
-Ông Y Heo KNuil Ly”
Song vượt lên các khó khăn của cuộc sống hiện tại, các sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng người Thượng Tây nguyên vẫn được duy trì thường xuyên. Ông R’Ma B’Lie cho hay:
“Việc sinh hoạt tôn giáo ở Thái Lan thì bây giờ chúng tôi đang làm lễ ở một nhà thờ người Thái của mục sư Phonchai. Hiện tại vào mỗi ngày chủ nhật vào buổi chiều thì tôi qua đó làm thông dịch cho nhà thờ để bà con người Thượng đang tỵ nạn ở Thái Lan.”
Tuy vậy, cũng có một số người cũng không có điều kiện để thực hiện mong muốn của họ. Ông Y Thoat Knul nói với chúng tôi:
“Bây giờ ở Thái Lan một thân một mình tôi không thể tham gia sinh hoạt về tôn giáo, vì hàng ngày bây giờ chỉ biết cắm đầu cắm cổ để đi làm nên không có thì giờ. Cũng vì ở chỗ tôi đang ở bây giờ cũng không có nhà thờ, không có hội thánh. Từ đây đi đến nhà thờ nếu đi bằng xe taxi 500-600 baht, cả đi cả về tới 1.000 baht thì lấy đâu ra tiền để đi.”
Bất kể ở trong hoàn cảnh nào song không ít những người Thượng Tây nguyên vẫn mong muốn được tiếp tục đấu tranh cho một nước VN có tự do và dân chủ một cách thực sự. Ông Y Heo KNuil Ly ghi nhận:
“Bây giờ thú thật việc đấu tranh thì hiện tại chưa có, song cũng rất muốn có một ai hoặc một tổ chức nào để tâm sự. Tôi muốn có một người nào đó thúc đẩy tôi để tham gia đấu tranh vì dân chủ, vì tôi nghĩ rằng chỉ khi nào đất nước mình có nhân quyền và dân chủ thì con người mình ở VN mới có được tự do. ”
Tình cảnh những người Thượng Tây nguyên đang tỵ nạn ở Thái Lan khó khăn là như vậy, song sự quan tâm của các tổ chức và cá nhân người Việt đối với họ còn ở mức hết sức khiêm tốn. Trong một tâm trạng buồn tủi, ông Y Thoat Knul nói về nguyện ước của ông và bà con người Thượng Tây nguyên đang tỵ nạn ở Thái Lan. Ông nói:
“Cuộc sống của chúng tôi rất mong manh, không biết sẽ đi đâu, về đâu khi mà Cao ủy LHQ đã bỏ rơi chúng tôi hoàn toàn. Chúng tôi bây giờ chỉ cầu mong tất cả cộng đồng người Việt ở Hải ngoại và các tổ chức hãy quan tâm đến sự sống của người Thượng tỵ nạn. Đây là lời nói chân thành từ đáy lòng.”
Chính quyền Hà Nội luôn cho rằng những người Thượng lợi dụng vỏ bọc tôn giáo nhằm hoạt động chính trị, từ đó có thể gây bất ổn và ảnh hưởng đến quyền lực của đảng CSVN. Trong lúc đó, những người Thượng ở Tây nguyên thì cho rằng các chính sách thiếu công bằng của chính quyền đã biến họ trở thành các sắc tộc thiểu số bị chèn ép ngay trên quê hương xứ sở của họ.
MỘT CÁI TÊN ĐÃ THÀNH DANH: TRẦN QUANG CƠ
28-06-2015
Tuy từ chối chức bộ trưởng Ngoại giao, ông Trần Quang Cơ vẫn là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất lên đường lối đối ngoại của Việt Nam – không phải bằng quyền lực, chức vụ mà bằng những gì ông bạch hóa trong cuốn Hồi Ức & Suy Nghĩ được “leak” ra hồi đầu thập niên 2000s. Cuốn hồi ký có giá trị cảnh báo nguy cơ Việt Nam rơi vào thời kỳ Bắc thuộc mới.
Năm 1991, ông Nguyễn Cơ Thạch chịu nhiều áp lực phải rời khỏi chính trường. Chiếc ghế bộ trưởng ngoại giao được chuẩn bị cho ông Trần Quang Cơ nhưng ông từ chối. Khi Quốc hội đã nhóm họp, ông Trần Quang Cơ vẫn “công tác” ở Lào. Ông Đỗ Mười tưởng ông Cơ “đòi” cái ghế ủy viên Bộ chính trị nên hứa là nếu ông Cơ nhận, Trung ương sẽ bổ sung. Ông Cơ kiên quyết từ chối.
Thật tình cờ, tôi nhận được điện thoại của đại sứ Đinh Hoàng Thắng báo ông Trần Quang Cơ đồng ý trả lời phỏng vấn khi đang ở trong Thành phỏng vấn Tướng Lê Đức Anh. Phải ngồi với cả hai mới thấy được sự khác nhau giữa họ về nhân cách, tầm nhìn; sự khác nhau giữa tham vọng quyền lực và lòng yêu quê hương đất nước.
Trong cuộc gặp vào chiều cùng ngày (có đại sứ Đinh Hoàng Thắng), tôi hỏi, vì sao ông lại không nhận chức bộ trưởng Ngoại giao. Ông Cơ thẳng thắn: “Lúc ấy, trong Bộ chính trị đã phân công cho Tướng Lê Đức Anh, Chủ tịch Nước, phụ trách quốc phòng, an ninh và ngoại giao. Tướng Lê Đức Anh là kiến trúc sư chính của Hội nghị Thành Đô. Nghị quyết Đại hội VII xác định đường lối ngoại giao đa phương. Nhưng chúng tôi biết rõ ‘phương ưu tiên’ của ông ta là ai, là ngược lại với chúng tôi, dẫu có nhận chức, trước sau cũng mất chức”. Tôi nói: “Tại sao anh không nhận chức rồi đấu tranh, nếu có mất chức vì bất đồng quan điểm thì lịch sử càng làm rõ ai công, ai tội”. Ông Trần Quang Cơ cười: “Cậu nghĩ là người ta sẽ cho tôi mất chức vì bất đồng quan điểm ư”. Khi ông Cơ nói điều đó, chưa xảy ra vụ “hai bao cao su” nhưng tôi cũng phần nào hiểu được.
Rồi các đồng nghiệp của ông Trần Quang Cơ sẽ đánh giá về sự nghiệp ngoại giao của ông. Nhưng, việc ông và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch bị gạt khỏi cuộc chơi hồi thập niên 1990s đã để lại một khoảng trống trí tuệ to lớn cho Hà Nội. Trong khoảng trống đó, người ta mặc sức sử dụng con ngoáo ộp “diễn biến hóa bình” những con ngoáo ộp “made in” Trung Quốc.
Chúng ta chỉ mới biết đến những mất mát ở thác Bản Giốc, bãi Tục Lãm, điểm cao 1509… Chúng ta còn rất ít biết đến những mất mát to lớn hơn: những cơ hội để cải cách chính trị; những cơ hội để cải cách kinh tế theo hướng thị trường; những cơ hội hội nhập sâu rộng hơn với các quốc gia tiến bộ; những cơ hội để ký BTA, đi trước Trung Quốc trong làm ăn với Mỹ.
Cho dù rất chia sẻ với quyết định của ông; vẫn kính trọng tài năng và tâm huyết của ông; không dám trách ông “bỏ cuộc chơi”… nhưng vẫn tiếc, vận nước vào những lúc khó khăn, lại quá thiếu vắng những con người tử tế.
Xin tiễn biệt ông. Ông ra đi nhưng người đời sẽ còn nhắc tên ông, một cái tên đã thành danh: TRẦN QUANG CƠ.
Vô trách nhiệm và vô cảm

Xã hội Việt Nam hiện nay có nhiều khuyết tật, nhưng hai khuyết tật chính, theo tôi, có ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng nhất đối với sự phát triển của đất nước là: Một, sự vô trách nhiệm của các cán bộ, kể cả các cán bộ lãnh đạo; và hai, sự vô cảm của dân chúng, kể cả các thành phần trí thức.
Đã có nhiều người viết và nói về sự vô cảm của dân chúng. Nói một cách tóm tắt, sự vô cảm ấy có ba biểu hiện chính.
Thứ nhất, vô cảm trước những đau khổ của người khác. Đã đành ở Việt Nam vẫn có những người quan tâm đến dân oan, đến những người bệnh tật và nghèo khổ trong xã hội. Nhưng rõ ràng đó chỉ là thiểu số, một thiểu số cực kỳ ít ỏi. Còn đại đa số thì vẫn dửng dưng. Tai nạn xảy ra ngoài đường: người ta dửng dưng. Vô số người không có đủ cơm ăn, áo mặc: người ta dửng dưng. Bao nhiêu người bị chà đạp: người ta dửng dưng. Hình ảnh tiêu biểu nhất cho loại dửng dưng này là các youtube ghi hình ảnh một số học sinh bị bạn bè đánh đập một cách tàn nhẫn: Tất cả những người chung quanh đều yên lặng đứng nhìn, không có chút nỗ lực can thiệp hay thậm chí, cũng không bày tỏ một thái độ nào cả. Họ nhìn một cách hờ hững như không có chuyện bất bình thường nào đang xảy ra ngay trước mắt mình cả.
Thứ hai, vô cảm các các tệ nạn trong xã hội. Ai cũng biết xã hội Việt Nam đầy những tệ nạn. Tệ nạn từ trong nhà đến trường học và ngoài xã hội. Tuy nhiên số người thực sự quan tâm rất ít. Thấy kết quả điều tra của quốc tế về chất lượng sống, ở đó, Việt Nam bị xếp vào dưới đáy cùng của thế giới, thậm chí, còn thua cả Campuchia và Lào, cũng không có mấy người động lòng. Mỗi người hầu như chỉ nhìn vào sự thành công hay thất bại của bản thân mình, còn tệ nạn xã hội nói chung là thuộc về trách nhiệm của những ai khác.
Thứ ba, vô cảm trước tình hình của đất nước. Ở đây lại có nhiều khía cạnh. Kinh tế Việt Nam càng lúc càng sa lầy trong nợ nần: người ta mặc kệ. Giáo dục Việt Nam càng ngày càng xuống dốc: người ta mặc kệ. Văn hoá càng lúc càng suy thoái: người ta mặc kệ. Đạo đức càng ngày càng suy đồi: người ta mặc kệ. Quan trọng nhất, Việt Nam càng ngày càng đối diện với nguy cơ bị Trung Quốc xâm lược: người ta cũng mặc kệ. Tất cả những thái độ mặc kệ ấy có một cái tên chung: sợ chính trị. Ai cũng né tránh chính trị. Người ta phó thác chuyện chính trị, từ đối nội đến đối ngoại, cho chính phủ và đảng cầm quyền. Người ta thừa biết chính phủ và đảng cầm quyền cũng đang bế tắc, không tìm ra một phương hướng hay sách lược nào để giải quyết cả, người ta vẫn bất chấp.
Tôi có khá nhiều bạn bè thuộc giới trí thức trong nước. Hỏi chuyện, ai cũng biết tất cả những nguy cơ mà Việt Nam đang đối diện, trong đó có cả nguy cơ mất nước, nhưng hầu như ai cũng chỉ thở dài ngao ngán: Trung Quốc bây giờ mạnh quá, làm sao chống lại được? Rồi thôi. Người ta xem đó như những chuyện không thể tránh khỏi. Và vì không thể tránh khỏi, chúng cũng không còn là vấn đề nữa. Sau đó, người ta an tâm tập trung hết tâm trí vào việc kiếm sống. Chuyện nước non như thuộc về ai khác.
Dân chúng như thế, còn cán bộ, kể cả cán bộ lãnh đạo thì sao? Thì ở đâu cũng thấy một điều: Vô trách nhiệm.
Biển hiện đầu tiên của tinh thần vô trách nhiệm ấy được nhìn thấy trong công việc làm hàng ngày của họ. Ví dụ gần đây nhất là những chuyện liên quan đến cây xanh ở Hà Nội. Thành phố chủ trương chặt hơn 7000 cây xanh mà không hề nghiên cứu cẩn thận những cây nào là đáng chặt. Đến lúc dân chúng phản đối kịch liệt, người ta mới dừng lại. Sau đó, trồng cây thế. Hứa trồng cây vàng tâm nhưng thực tế lại trồng cây mỡ, một loại cây rẻ tiền hơn. Cũng chưa hết. Sau trận dông lốc vừa rồi làm hàng ngàn cây bị bứng gốc đổ nhào, người dân mới phát hiện rễ những cây mới trồng còn để nguyên cả bao ny lông chung quanh. Đến lúc dân chúng tố cáo, người ta mới lén lút để cào đất và cắt các bao ny lông ấy ra. Tất cả diễn tiến chặt cây rồi trồng cây ấy cho thấy điều gì? – Sự vô trách nhiệm. Không phải chỉ những người thợ chặt cây hay trồng cây vô trách nhiệm mà cả giới lãnh đạo của họ, thậm chí, lãnh đạo của cả thành phố cũng vô trách nhiệm.
Những hành động vô trách nhiệm ấy xuất hiện ở khắp nơi: xây đường thì chỉ vài tháng, hay có khi, vài tuần là bị sụp lún. Trồng trụ điện thì không có cốt sắt nên cứ gặp gió lớn là bị đổ. Dây điện treo lằng nhằng và lòng thòng ngay trên đầu dân chúng cũng không ai để ý.
Nhưng nguy hiểm nhất là thái độ vô trách nhiệm đối với đất nước. Trong cái gọi là đất nước ấy, khía cạnh quan trọng nhất là độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ; trong khía cạnh ấy, yếu tố nòng cốt là các hiểm hoạ đến từ Trung Quốc. Chỉ nêu các sự kiện gần đây nhất làm ví dụ. Đó là việc Trung Quốc cho bồi đắp các bãi đá ngầm hoặc rạn san hô làm đảo nhân tạo. Việt Nam phản ứng ra sao? Cũng chỉ là những lời phản đối lấy lệ của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao. Ngay trên diễn đàn cuộc đối thoại Shangri-la ở Singapore vừa rồi, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh cũng không tham dự. Chỉ có Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh hiện diện. Nhưng ông Vịnh cũng không phát biểu gì cả. Ông chỉ làm một việc như ông tự nhận là “lắng nghe”. Như những diễn biến mới nhất liên quan đến cuộc tranh chấp ở Biển Đông là thuộc trách nhiệm của ai khác.
Theo dõi tin tức từ báo chí những tháng gần đây, người ta thấy rõ quốc gia có phản ứng gay gắt nhất trước hành động xây đảo nhân tạo ở Trường Sa chính là Mỹ. Cho máy bay vờn qua vờn lại chung quanh các hòn đảo nhân tạo ấy là Mỹ. Tố cáo và phản đối âm mưu xây đảo nhân tạo ấy của Trung Quốc cũng là Mỹ. Vận động dư luận thế giới, đặc biệt các quốc gia thuộc nhóm G7, để mọi người thấy rõ âm mưu của Trung Quốc cũng lại là Mỹ. Việt Nam, từ trước đến sau, giữ một sự im lặng rất khó hiểu.
Dường như nhà cầm quyền Việt Nam xem chuyện mang Trung Quốc ra các toà án quốc tế là trách nhiệm của Philippines và lên án các hành động xây dựng đảo nhân đạo trái phép ở Trường Sa là nhiệm vụ của Mỹ. Giới chức Việt Nam thì chỉ khoanh tay đứng nhìn.
Khoanh tay thật ra cũng là một hình thức bó tay.
Bó tay ngay cả trước khi nỗ lực làm một cái gì đó là một sự bó tay rất vô trách nhiệm.
Tác giả: Trầm Thiên Thu

Vài tháng qua, nhất là sắp sửa có Công nghị về Gia đình vào mùa Thu này, nhiều tin đồn cho rằng Giáo Hội sẽ nói hoặc không nói gì. Trong số đó có sự suy đoán về một số vấn đề Giáo Hội phải, nên, và sẽ có chính sách mới để hợp pháp hóa việc rước lễ đối với người Công giáo đã ly hôn, tái hôn, sống chung không hôn nhân, và các vấn đề nóng ngày nay là đánh giá tích cực về hôn nhân đồng giới. Trước đây không lâu, hồi thập niên 1960, lời đồn đại cũng cho rằng Giáo hội Công giáo sẽ gia nhập các nhóm Kitô giáo khác để chấp nhận việc ngừa thai. Thất đáng để nói vài điểm về thời gian đó.
Năm 1963, khi Thánh GH Gioan XXIII còn sống, ngài đã khởi xướng một nhiệm vụ đặc biệt để nghiên cứu về vấn đề ngừa thai. “Commission on Problems of the Family, Population, and Natality Members” (Nhiêm vụ về Vấn đề Gia đình, Dân số, và Sinh sản) là nhóm gồm các giáo sĩ, những người trong ngành y khoa hoặc tâm lý, có cả các cặp vợ chồng. Công việc của họ vẫn tiếp tục sau khi ĐGH Gioan XXIII qua đời, khi họ hoàn tất thì giao cho ĐGH Phaolô VI vào năm 1966. Đây là câu chuyện về Thông điệp “Humanae Vitae” (Sự sống Con người) rất thú vị.
Người ta nói rằng Giáo Hội có thể có chính sách cho phép các cặp vợ chồng dùng biện pháp tránh thai. Họ tranh luận từ một quy luật của tổng thể, nói rằng sử dụng biện pháp tránh thai trong hôn nhân của một số trường hợp, trong khi cứ mở ngỏ hành vi tính dục đối với việc tránh thai trong thời gian lâu dài sẽ khả dĩ chấp nhận về luân lý, với kế hoạch có con trong hôn nhân. Dĩ nhiên có thêm các vấn đề trong bản tường trình của họ, nhưng đây là sự tranh luận khó. Như định mệnh an bài, bản tường trình của họ – hoặc ít là một phần – được đưa ra cho báo giới biết trước khi ĐGH Phaolô VI đưa ra câu trả lời.
Tác giả George Weigel viết trong tiểu sử của Thánh GH Gioan Phaolô II rằng, khi chuẩn bị viết Thông điệp “Humanae Vitae”, Chân phước GH Phaolô VI đã có cuốn thần học luân lý của ĐGM Karol Józef Wojtyla người Ba Lan (về sau là GH Gioan Phaolô II). Tựa đề là “Yêu thương và Trách nhiệm”, ĐGM Wojtyla phản ánh về luân lý tính dục, ngài viết sau nhiều năm thường xuyên gặp gỡ giới trẻ và các cặp vợ chồng. Thật vậy, ngài được coi là một phần trong hội nghị về nhiệm vụ, nhưng hồi đó chính quyền Ba Lan không cho ngài ra khỏi nước. Ngài và một số linh mục bạn đã quy tụ và làm nhiệm vụ riêng. Ngài viết tường trình xác định giáo huấn lâu đời của Giáo Hội về việc ngừa thai. Sau đó, ngài đưa ra một loạt phản ánh về Thông điệp “Humanae Vitae”, xác nhận giáo huấn dẫn chứng nhiều.
Sau hai năm ban hành thông điệp của ĐGH Phaolô VI, tiếng đồn có khắp nơi, nhiều người cho rằng Giáo Hội sẽ cho phép ngừa thai, ít là đối với các cặp vợ chồng. Mọi thứ đã không như người ta dự đoán.
Như chúng ta biết, giáo huấn của Chân phước Phaolô VI đưa ra không có gì mới lạ. Đó là giáo huấn của Giáo Hội, dựa trên nền tảng Kinh Thánh, đã được dạy trong Giáo Luật, và không một thần học gia Công giáo nào trong lịch sử Giáo Hội đã có ý kiến ngược lại. Người ta tạo nên cơn bão lửa chỉ vì thiếu hiểu biết về nhiệm vụ cũng như thiếu suy nghĩ. Cùng với các sự thay đổi khác từ Công đồng Vatican II, vấn đề ngừa thai chỉ là mộng miếng nhỏ trong bảng câu đố xếp hình.
Một nhóm thần học gia thuộc Đại học Công giáo Hoa Kỳ đã kích động những người bất đồng quan điểm ở Hoa Kỳ, nhưng vấn đề đã được lan ra khắp thế giới. Mặc dù theo cách giới thiệu của một số người bất đồng ý kiến (nhóm Charles Curran), không có nhóm giám mục nào từ chối giáo huán, đa số phản đối nhiều người đã hy vọng có sự thay đổi.
Cuối cùng, như lịch sử đã chứng minh, giáo huấn của Chân phước GH Phaolô VI vẫn là chân lý. Từ viễn cảnh nào đó, điều đó có vẻ rất mầu nhiệm. Ngài đã có sứ vụ nghiên cứu vấn đề này, người ta tranh luậnđể thay đổi, và mọi người trên thế giới đang đi trên cùng một con đường tiến tới sự chấp nhận luân lý của việc ngừa thai. Ngài biết rõ cuộc tranh luận ngài phải đối mặt. Thật vậy, ngày nay không nhiều người tuân theo giáo huấn này. Nhưng sự tiên báo của ngài về việc sa sút ngày nay đang bắt đầu xuất hiện trong các cuộc tranh luận về vấn đề này.
LUKE
TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)
THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ TÔNG ĐỒ

Nhờ hồng ân Thiên Chúa, ngày 29 tháng 6 hằng năm, cả Giáo Hội vũ hoàn kính nhớ đặc biệt và mừng trọng thể cùng lúc lễ hai thánh tử đạo Phêrô và Phaolô, những cột trụ của Giáo Hội phổ quát Chúa Kitô. Theo truyền thống, Giáo Hội không bao giờ mừng vị này mà bỏ vị kia, nhưng luôn mừng kính với lòng biết ơn hai chứng nhân vĩ đại của Chúa Kitô, và đồng thời tuyên xưng long trọng về một Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, Công Giáo, và tông truyền.
Phêrô có tên gốc là Simon, người Galilê làm nghề chài lưới, sống ở Capharnaum bên hồ Tibêria. Phaolô có tên là Saolê, người Do thái lưu vong, sinh tại Tarsô miền Tiểu Á bởi cha mẹ là người thế giá, có quyền công dân Rôma. Cuộc đời của hai ông bị đảo lộn từ khi gặp Đức Kitô.
Thánh Phêrô, thủ lãnh các Tông Đồ, con người say mê Chúa Kitô, đã xứng đáng nghe lời này: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy” (Mt 16, 18). Trên tảng đá này, Chúa sẽ xây dựng đức tin mà Phêrô tuyên xưng. Phêrô lấy từ “tảng đá”, chứ không phải tảng đá lấy từ Phêrô. Phêrô, ngư phủ miền Galilêa, ít học, đã lập gia đình, theo Thầy Giêsu ngay từ buổi đầu sứ vụ, là người sau khi đã vượt qua những ngày đen tối của cuộc Thương Khó của Chúa Kitô, sẽ có trách nhiệm củng cố anh em trong đức tin và chăn dắt đoàn chiên của Chúa (x. Mt 16, 13-19). Còn thánh Phaolô, người Pharisêu sốt sắng, có nhiều điều để tự hào, về gia thế, học thức, về đời sống đạo hạnh. Ông chưa hề gặp mặt Ðức Giêsu tại thế, ông bách hại những người tin Chúa Kitô. Nhưng khi gặp Đức Kitô Phục Sinh với biến cố ngã ngựa trên đường Damas, ông trở nên tông đồ của ơn cứu rỗi đến từ đức tin, là “dụng cụ ưu tuyển” để mang Tin Mừng đến cho các dân tộc (x. Cv 9, 1-22).
Cả hai đều được Ðức Giêsu gọi, Phêrô được gọi lúc ông đang thả lưới bắt cá nuôi vợ con. Phaolô được chính Đức Giêsu Phục sinh gọi khi ông hung hăng tiến vào Ðamas, đang làm tông đồ không biết mỏi mệt của dân ngoại (x. Cv 9, 1-22). Cả hai đã từ bỏ tất cả để theo Chúa. Tất cả của Phêrô là gia đình và nghề nghiệp. Tất cả của Phaolô là những gì ông cậy dựa vênh vang. Bỏ tất cả là chấp nhận bấp bênh, tay trắng.
Cả hai đều đã từng có lần vấp ngã. Vấp ngã bất ngờ sau khi theo Thầy như Phêrô, trong phút giây quá tin vào sức mình. Ngã ngựa bất ngờ và trở nên mù lòa như Phaolô, trong lúc tưởng mình sáng mắt và đi đúng hướng. Vấp ngã nào cũng đau và in một dấu không phai mờ. Vấp ngã bẻ lái đưa con người đi vào hướng mới. Phaolô là chiếc bình được tuyển chọn, Phêrô giữ chìa khóa Nước Trời; cho dù người này là ngư phủ, người kia là kẻ bách hại. Phaolô đã bị đánh cho mù, cuối cùng thấy rõ hơn; Phêrô đã chối Chúa, sau tin vững vàng. Phaolô đã chọn tin vào Chúa Kitô sau khi phục sinh. Phêrô vị dân chài thay vì thả lưới bắt cá, nay trở thành kẻ lưới người ta.
Chương trình mầu nhiệm của Chúa Quan Phòng dẫn đưa Phêrô tới Roma, nơi đây ngài đổ máu như chứng tá sau cùng và cao cả nhất của đức tin và của lòng mến đối với Thầy chí Thánh “Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy” (Mt 16, 17). Như vậy ngài đã chu toàn sứ mệnh trở nên dấu hiệu của lòng trung thành với Chúa Kitô và của sự hiệp nhất tất cả Dân Chúa.
Phần Phaolô, trong hành trình truyền giáo, không ngừng rao giảng Chúa Kitô bị đóng đanh và lôi kéo nhiều nhóm người Á Châu và Âu Châu trở về với Chúa. Sau khi qua Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, ngài đến Roma. Và chính ở đây, ngài được phúc tử đạo để làm chứng cho Chúa Kitô. Chính ngài đã nói lên trong bài đọc thứ hai Thánh lễ hôm nay rằng: “Chúa đã gần gũi tôi và ban sức mạnh cho tôi, để qua tôi, việc rao giảng sứ điệp Tin Mừng được thực hiện và để các dân ngoại được nghe biết đến.” (2Tm 4, 17-18)
Phêrô và Phaolô đều yêu Ðức Giêsu cách mãnh liệt, vì họ cảm nhận sâu xa mình được Người yêu mến. “Này anh Simon, anh có mến Thầy không? Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21, 16). Cả Phaolô cũng yêu Ðấng ông chưa hề chung sống, vì Người là “Con Thiên Chúa, Ðấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2, 20). Phaolô đã không ngần ngại khẳng định: “Không gì có thể tách được chúng ta ra khỏi Tình Yêu của Ðức Kitô” ( Rm 8, 35.39).
Cả hai vị Tông Đồ đều hăng say rao giảng, bất chấp muôn vàn nguy hiểm khổ đau. Phêrô đã từng chịu đòn vọt ngục tù (x. Cv 5,40), còn nỗi đau của Phaolô thì không sao kể xiết (x. 2C 11, 23-28); “Tôi mang trên mình tôi những thương tích của Ðức Giêsu” (Gl 6, 1-7).
Cả hai hạnh phúc trong việc giữ gìn giáo lý tinh tuyền, nhưng cái phúc tử đạo còn hạnh phúc hơn. Nơi dương gian, vinh quang chỉ là ước muốn; chốn thiên đàng mọi sự thật nhãn tiền. Tiếng các ngài đã vang đến tận cùng trái đất, và thông điệp loan đi tới chân trời góc bể. Khắp nơi vang tiếng ngợi khen các ngài; các tín hữu nhẩm đi nhắc lại chiến thắng khải hoàn của các đấng.
Thật là hữu ích khi nhắc lại cho chúng ta vinh quang tử đạo của các hai đấng. Phaolô bị chặt đầu, Phêrô bị đóng đinh cắm đầu xuống đất. Hình thức tử đạo thật mầu nhiệm. Phêrô không dám chịu đóng đinh giống Thầy mình. Đó không phải là ông từ chối tử đạo, nhưng ông sợ nhận lấy cái chết giống Đấng Cứu Thế. Cả hai vị đã chết như Thầy, đã lấy máu mình mà làm chứng: thánh Phêrô bị dẫn đến nơi ông chẳng muốn (x. Ga 21, 18), chịu đóng đinh chết; thánh Phaolô đã chiến đấu anh dũng cho đến cùng, bị chém đầu; đã đổ máu ra làm lễ tế (x. 2Tm 4, 6). Thánh Phêrô được chôn cất ở chân đồi Vaticano; thánh Phaolô được an táng bên đường Ostiense.
Hội Thánh hôm nay vẫn cần những Phêrô và Phaolô mới, dám bỏ, dám theo, dám yêu, dám sống và dám chết cho Ðức Kitô và Tin Mừng. Hội Thánh vẫn cần những chiếc cột và những tảng đá. Với lòng ngưỡng mộ biết ơn các ngài, chúng ta quyết một lòng trung thành với đức tin đã lãnh nhận.
Lạy Nữ Vương Các Thánh Tông Đồ, cầu cho chúng con.
Thánh Phêrô và thánh Phaolô, cầu cho chúng con. Amen.
LM Antôn Nguyễn Văn Độ
Cuộc trốn chạy ‘đơn thương độc mã’ của Sweat
MALONE, N.Y. (AP) – Người bạn tù Richard Matt bị hạ sát, cuộc trốn chạy của David Sweat nay trở nên khó khăn hơn, nhất là trong bối cảnh cảnh sát gia tăng lực lượng, siết chặt vòng vây.

Một chốt chặn của cảnh sát trên Route 27, trong khu vực truy lùng người tù
đào tẩu thứ hai, David Sweat. (Hình: AP Photo/Mary Altaffer)
Richard Matt, từng thề “không để bị bắt sống,” bị bắn chết trong cuộc chạm mặt với cảnh sát biên phòng chiều Thứ Sáu, 26 Tháng Sáu.
Nay Sweat đơn thương độc mã lẩn trốn trong khi 1,200 cảnh sát viên ráo riết truy lùng một diện tích 22 dặm vuông, xuyên qua những cánh rừng già rậm rạp xung quanh nơi Matt bị hạ gục.
Cảnh sát tin rằng cuộc trốn chạy “solo” của Sweat trở nên khó khăn hơn vì thiếu ngủ, thiếu thực phẩm và côn trùng tấn công.
“Bất cứ ai chạy trốn luật pháp, chạy vào trong rừng, đều phải hiểu là chẳng bao giờ có thể ngủ đủ 8 tiếng một ngày. Sẽ chẳng bao giờ có đủ miếng ăn, đồng thời phải di chuyển liên tục.” Kevin Mulverhill, phát ngôn nhân Sở Cảnh Sát Quận Franklin County nói với báo chí. “Anh ta sẽ đuối sức và sẽ mắc sai lầm.”
Cảnh sát lý luận, điều tối thiểu khi 2 kẻ đào tẩu cùng trốn chạy là họ có thể thay phiên nhau nghỉ ngơi và canh gác. Nay chỉ còn một mình, Sweat thất thế thấy rõ.
Cuộc truy lùng của cảnh sát bước sang ngày thứ 21, lâu nhất trong lịch sử truy lùng tù đào tẩu New York, thì có biến chuyển mới. Một người dân đang kéo chiếc xe cắm trại của mình thì nghe tiếng nổ. Lúc đầu, người này tưởng bánh xe bị bể lốp. Ông xuống xe, nhìn tới nhìn lui, các bánh xe vẫn nguyên vẹn. Trở lại xe, lái tiếp khoảng 8 dặm, kiểm tra lần nữa thì thấy xe có vết đạn. Một nhóm cảnh sát đặc nhiệm được gởi đến, ngửi thấy mùi thuốc súng trong một cabin với cánh cửa hậu hé mở như có ai đó vừa thoát ra.
Một tiếng động nhẹ, tựa như tiếng ho. Số phận của Matt đã điểm. Một cảnh sát biên phòng nhìn thấy Matt, nổ súng. Matt đổ gục sau khi từ chối đưa tay đầu hàng theo lệnh cảnh sát.
Khẩu súng Matt cầm trong tay là khẩu shotgun, có lẽ lấy cắp từ một cabin khác. Cuộc trốn chạy của Matt và Sweat trong 21 ngày qua chủ yếu loanh quanh trong khu vực săn bắn và cắm trại.
Matt, qua đời vào ngày đầu tiên của tuổi 49, đang thụ án 25 năm tù đến chung thân tại nhà tù Clinton Correctional Facility. Tội danh của Matt là giết và chặt xác người boss cũ của mình.
Cư dân địa phương thở phào với tin Matt bị bắn hạ. Nhưng nỗi lo vẫn mới vơi đi một nửa. Sweat vẫn đang ngoài vòng pháp luật. Hình ảnh hàng đoàn cảnh sát đầy súng ống với trực thăng quần thảo trên trời cho thấy hiểm nguy vẫn còn.
Một cư dân địa phương nới với AP là gia đình anh quyết định sang nhà bà con ở đỡ vài ngày, an toàn hơn.
Ở một nơi xa, Buffalo, cũng trong New York, một người đàn ông khác cũng thở phào với tin Matt bị bắn hạ. Tuy nhiên, tin Matt trốn tù không làm ông ta ngạc nhiên. Louis Haremski, tên người đàn ông, từng là công tố viên đặc biệt trong phiên tòa truy tố Matt tội giết người năm 2008. Haremski nói rằng tin của chỉ điểm trong tù cho biết Matt từng có kế hoạch vượt ngục; và thề không để bị bắt sống.
Thi hài của Matt được giới điều tra mang đi giảo nghiệm tại Albany Medical Center.
Sweat, 35 tuổi, đang thụ án chung thân không cơ hội ân xá vì đã giết một cảnh sát viên tại Quận Broome hồi năm 2002. Cảnh sát tin rằng Sweat có súng trong người trong lúc trốn chạy.
Cảnh sát tiểu bang lập nhiều chốt chặn tại khu vực truy lùng, Malone và Duane, kiểm tra tất cả các xe qua lại, đồng thời rà soát theo phương pháp đan lưới, không để lọt bất cứ diện tích nào. Giới điều tra cho biết đã tìm thấy dấu vết khả nghi gần khu vực Matt bị bắn hạ, và họ cần lùng sục sớm trước khi cơn mưa lớn đổ xuống. Dự báo thời tiết cho biết Chủ Nhật sẽ có mưa.
“Chạy trốn, hay đầu hàng? Quyết định tùy thuộc nơi Sweat.” Cảnh sát cho biết.
“Nếu chấp nhận đầu hàng, chúng tôi sẽ còng tay và nhốt anh ta vào tù… Nếu chống cự hoặc chọn không tuân lệnh, hậu quả là của anh ta.” (Đ.B.)
HÔN LỄ TRONG THÁNH ĐƯỜNG.
Trong thánh đường, một hôn lễ đang được tổ chức.
Linh Mục xuất hiện với với bài giảng về hôn nhân Linh mục cầm tờ 100 đôla còn mới trên tay và nói:
“Có ai muốn được tờ tiền này không?”.
Không có tiếng trả lời…
Linh Mục nói:
“Đừng xấu hổ, ai thích thì hãy giơ tay lên”.
Một phần ba số người có mặt ở đó giơ tay.
Linh Mục vo tròn tờ tiền lại rồi hỏi:
“Bây giờ có còn ai thích sở hữu nó nữa không?”
Vẫn còn người giơ tay, nhưng đã ít đi một nửa.
Linh Mục vứt tờ tiền xuống đất, giẫm chân lên rồi nhặt lại.
Tờ tiền vừa bẩn vừa nhàu nhĩ.
Ông lại cất tiếng hỏi:
“Còn ai thích nữa không?”
Chỉ còn một người giơ tay…
Cha cố mời anh ta lên phía trên, trao cho anh tờ tiền và nói anh ta là người duy nhất đã giơ tay cả ba lần.
Lập tức mọi người trong Thánh đường đều cười to nhưng Linh Mục ra hiệu yên lặng.
Ông nói với chú rể:
“Hôm nay con cưới một cô gái con yêu nhất đời.
Nhưng giống như tờ tiền này, năm tháng trôi qua cộng thêm vất vả với gia đình, con cái… cô ấy sẽ không còn xinh đẹp như bây giờ. Nhưng thực tế, tiền vẫn là tiền, giá trị của nó chẳng hề thay đổi. Hy vọng con giống như chàng trai này, luôn hiểu giá trị và ý nghĩa đích thực, đừng vì vẻ bề ngoài mà đánh mất mọi thứ.”
Hình thức bên ngoài của mỗi người sẽ biến đổi theo thời gian, con người có thể già hơn và xấu đi, nhưng tâm hồn đẹp thì sẽ vỉnh viễn không thể thay đổi.
– Vào một buổi tối, nhìn vào cơ thể thon thả, mảnh mai của người con gái đang nằm bên cạnh anh. Giây phút đó, anh thề rằng, anh nhất định sẽ mang lại hạnh phúc cho cô.
Anh ta từ một kỹ sư xây dựng mới chân ướt chân ráo bước ra khỏi cánh cổng trường đại học, và sau đó xây dựng đội ngũ kỹ thuật của riêng mình. Bây giờ, đã trở thành ông chủ một công ty xây dựng có tiếng tăm trong thành phố.
Bên cạnh anh có quá nhiều cám dỗ của cuộc đời. Trong khi đó, vợ anh ngày càng xấu đi vì những vất vả gia đình..v.v. thân hình trở nên xồ xề, da dẻ cũng không hồng hào, mịn màng như trước. So với vô vàn kiều nữ bên cạnh anh, vợ anh thật quê mùa, ảm đạm.
Sự hiện diện của vợ nhắc nhở quá khứ tầm thường, thấp kém của anh.
Anh nghĩ cuộc hôn nhân này nên chấm dứt ở đây. Anh gửi vào tài khoản của vợ 500 triệu, mua cho cô một ngôi nhà ở trung tâm thành phố nhộn nhịp. Anh không phải người đàn ông vô lương tâm. Vì vậy, nếu như không sắp xếp cuộc sống ổn thỏa cho vợ anh sau này, anh sẽ cảm thấy vô cùng tội lỗi… Cuối cùng, anh chủ động đề nghị ly hôn.
Vợ anh ngồi đối diện, trầm tư nghe anh giải thích lý do ly hôn. Đôi mắt ấy rất đỗi dịu dàng. Nhưng 20 năm làm vợ chồng, anh quá hiểu rõ về cô, đằng sau đôi mắt hiền dịu ấy, anh biết rằng trái tim cô đang rỉ máu. Anh chợt nhận ra mình thật tàn nhẫn.
Ngày vợ anh đồng ý rời khỏi nhà. Công ty phải giải quyết một vài vấn đề, anh bảo cô đợi ở nhà, trưa về anh sẽ giúp cô chuyển nhà,chuyển đến căn hộ chung cư anh mua cho. Đồng nghĩa với việc cuộc hôn nhân kéo dài 20 năm sẽ kết thúc tại đây.
Buổi sáng ngồi trong phòng làm việc ,anh bồn chồn,thấp thỏm. Đến trưa, anh vội vã về nhà. Căn nhà được dọn dẹp sạch sẽ, vợ anh đã đi mất rồi. Trên bàn đặt chiếc chìa khóa nhà anh mua cho cô, sổ tiết kiệm 500 triệu đồng và một bức thư cô viết cho anh.
Đây là bức thư đầu tiên mà cô viết cho anh:
“Em đi đây, em về nhà mẹ. Chăn em giặt phơi khô rồi đấy, cất ở ngăn cuối cùng bên trái tủ quần áo. Trời lạnh anh nhớ lấy ra đắp. Giày da tất cả em đều đánh xi rồi nhé, nếu anh không tự mình đánh được thì mang đến tiệm ông Tư đầu ngõ ấy. Sơ mi treo ở phía trên, vớ, thắt lưng ở trong ngăn kéo phía dưới tủ. Mua gạo nhớ mua gạo tám thơm của Thái Lan, anh nhớ vào siêu thị mua nhé, mua bên ngoài anh không thạo người ta bán hàng giả cho đấy. Dì Hai mỗi tuần đều đến dọn dẹp nhà cửa một lần, cuối tháng anh nhớ gửi tiền cho dì ấy. Còn nữa, đồ cũ cứ cho ông Tư đầu ngõ nhé, ông ấy gửi về quê cho bọn trẻ con, chắc chúng nó sẽ vui lắm.
Dạ dày anh không tốt, em đi rồi anh nhớ uống thuốc đều đặn. Thuốc em nhờ người ta mùa từ Quảng Bình, có lẽ cũng đủ dùng nửa năm. Anh ra ngoài thường quên mang theo chìa khóa nhà, em gửi một chùm ở chỗ bảo vệ , lần sau nếu quên thì đến đấy lấy nhé. Buổi sáng đi ra ngoài anh nhớ đóng cửa sổ, mưa tạt vào sẽ làm ướt nhà đấy. Canh chua món mà anh thích em để ở trong tủ lạnh. Anh về nhớ hâm lại rồi hãy ăn nhé..v.v… Gửi anh, người em yêu nhất ”
Những dòng chữ xiêu vẹo nhưng tại sao nó cứ như những viên đạn bắn vào trái tim anh, mỗi viên đều mang theo tấm chân tình xuyên thẳng vào ngực đau nhói.
Anh từ từ đi vào nhà bếp. Mỗi đồ vật ở đây đều lưu giữ dấu tay, hơi thở của cô. Anh chợt nhớ về 20 năm trước, anh làm ở công trường xây dựng dầm mưa dãi nắng. Những ngày tháng bần hàn của cuộc đời đều có cô bên cạnh. Nhớ lại bát canh chua nóng hổi đã sưởi ấm trái tim anh trong những ngày mùa đông lạnh cắt da cắt thịt, nhớ lại giây phút anh đã từng hứa với lòng mình nhất định sẽ mang lại hạnh phúc suốt đời cho cô.
Anh quay người, nhanh chóng khởi động xe.
Nửa tiếng sau, cuối cùng anh cũng tìm thấy cô đang đợi tàu trở về quê.
Anh giận dữ nói: “Em muốn đi đâu? Anh làm việc mệt mỏi cả ngày, về đến nhà, đến cơm nóng cũng không có mà ăn. Em làm vợ như vậy à? Về nhà với anh ngay”
Anh trông rất hung dữ và thô lỗ.
Đôi mắt cô ướt nhòe, cô đứng lên, ngoan ngoãn theo sau anh đi về nhà. Giọt nước mắt xen lẫn niềm vui ……
Cô không biết rằng, lúc này đi trước cô, anh đang dằn lòng cố kìm nén những giọt nước mắt… Suốt quãng đường từ nhà đến đây, anh thực sự rất sợ, sợ không tìm thấy cô, sợ từ đây sẽ mất cô mãi mãi.
Anh tự trách mình sao lại ngu ngốc đến vậy, hóa ra đánh mất cô ấy cũng giống như anh đánh gãy xương sườn của mình… Hai mươi năm đồng cam cộng khổ, hai người đã buộc chặt cuộc đời mình vào nhau, mãi mãi không thể tách rời.
Tại thời điểm sai lầm, địa điểm sai lầm, chỉ cần gặp được đúng người, tất thảy mọi thứ đều sẽ đúng.
Giàu có thực sự không phải số tiền trong thẻ ngân hàng, mà là nụ cười hạnh phúc trên khuôn mặt bạn.
Tiền nhiều hay ít không quan trọng, quan trọng là tìm được một người toàn tâm toàn ý yêu thương bạn.
Trên thế giới này, hạnh phúc nhất là 3 từ: I Love you “Anh (em) yêu Em (anh)”, Ta Yêu Nhau.
Hiểu được bản thân mình muốn gì, thế giới mới có thể hiểu được bạn.
Bất cứ người phụ nữ nào trên thế gian này đều đc trải qua tuổi thanh xuân, thời kì đỉnh cao nhất về nhan sắc của mình nhưng rồi họ cũng phải làm vợ, làm mẹ, làm con dâu… phải đương chức trọng trách cao cả, trách nhiệm của 1 người đàn bà không ngoại trừ bất cứ ai. Tất cả mọi thứ rồi cũng phai tàn theo năm tháng, theo những sóng gió của cuộc đời theo quy luật của tạo hóa Người đàn ông người chồng thực thụ sẽ thấu hiểu, trân trọng và yêu thương người phụ nữ của đời mình đã hi sinh cả tuổi thanh xuân ấy để dành cho họ. Họ sẽ không chạy theo những hào nhoáng nhan sắc vô thường để đánh đổi bất cứ điều gì, Sống theo thời gian mới hiểu nhan sắc của phụ nữ là thứ vô thường trong cuộc đời, khi hi sinh đánh đổi điều đó họ đc những thứ còn ý nghĩa lớn hơn vô vàn nhưng nếu ko may gặp phải người chồng không thấu hiểu không trân trọng sự hi sinh đó thì bất hạnh vô cùng.
Hi vọng tất cả những người đàn ông, người chồng, người cha có con gái, đều hiểu đc sâu xa ý nghĩa câu chuyện này.