Tàu cá Việt Nam bị tàu Trung Quốc tấn công gần Hoàng Sa

Tàu cá Việt Nam bị tàu Trung Quốc tấn công gần Hoàng Sa

Một chiếc thuyền của ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chìm gần quần đảo Hoàng Sa hồi tháng 5/2014. Đã xảy ra nhiều vụ đụng độ của các tàu Trung Quốc với tàu của ngư dân Việt ở khu vực này.

Một chiếc thuyền của ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chìm gần quần đảo Hoàng Sa hồi tháng 5/2014. Đã xảy ra nhiều vụ đụng độ của các tàu Trung Quốc với tàu của ngư dân Việt ở khu vực này.

15.06.2015

Tàu cá Việt Nam đụng độ với tàu Trung Quốc gần quần đảo Hoàng Sa hồi tuần trước, nêu bật những căng thẳng đang sôi sục giữa hai nước cộng sản, ngay giữa lúc lãnh đạo hai bên đang thảo luận việc cải thiện mối quan hệ song phương.

Hãng tin Bloomberg hôm 14/6 tường thuật rằng tàu Trung Quốc đã phun vòi rồng gây hư hại cho 1 tàu cá Việt Nam hôm 7 tháng 6, trong khi tờ Thanh Niên hôm qua tường thuật rằng 3 ngày sau sự cố vừa kể, một tàu cá Việt Nam khác bị tấn công, sau đó nhiều thiết bị và số lượng cá đánh bắt được trên chiếc tàu đều bị tịch thu.

Báo Lao Động cho biết tàu đầu tiên là tàu cá QNg 95193 TS do ông Phạm Trung Kiên thuộc xã Bình Châu, làm chủ.

Tờ Thanh Niên hôm qua thuật lời ngư dân trên hai tàu cá Việt Nam cho biết họ đã bị tàu Trung Quốc tấn công trong khi đang hoạt động trên ngư trường truyền thống gần quần đảo Hoàng Sa.

Báo này trích lời một ngư phủ tên Bùi Tấn Đoàn, 23 tuổi, thuật lại rằng anh và một thuyền viên khác tên Cao Xuân Ly, bị thương sau khi tàu Trung Quốc phun vòi rồng vào tàu của anh trong suốt 2 giờ đồng hồ hôm 7 tháng 6. Trên tàu lúc đó có 13 ngư dân.

Trả lời phỏng vấn của tờ Thanh Niên hôm thứ Bảy sau khi trở về quê ở Quảng Ngãi, anh Đoàn cho biết thân tàu bị hư hại, và tàu bị tràn nước.

Anh Đoàn kể rằng thuyền viên Việt Nam đã ra dấu hiệu xin tàu Trung Quốc ngưng xịt nước, nhưng cuộc tấn công vẫn tiếp tục giữa lúc những người trên tàu tìm cách tát nước ra khỏi tàu. Anh Đoàn cho biết xương chân trái của anh bị gãy và bác sĩ nói anh sẽ không đi được trong 3 tháng tới.

Trong một vụ việc khác hôm 10 tháng 6, chủ chiếc tàu thứ nhì bị tấn công, thuyền trưởng Nguyễn Văn Phú thuật lại rằng anh cùng 10 thuỷ thủ trên tàu bị tấn công và tài sản cũng bị tịch thu.

Anh Phú, 29 tuổi, nói 4 tàu Trung Quốc đã bao vây tàu cá của anh có số hiệu QNg 90657 TS. Từ trên tàu 6 người Trung Quốc đã xuống 2 tàu có màu trắng sọc đỏ trên thân có ghi chữ Trung Quốc, rồi lao về phía tàu cá Việt Nam, kẹp chiếc tàu này từ 4 phía.

Báo chí Việt Nam kể rằng các thuyền viên trên tàu cá Việt Nam “bị dồn về phía mũi tàu, rồi bị dùng áo trùm đầu”. Sau đó tàu bị cướp hết tôm cá, phía Trung Quốc đã phá hỏng nhiều dụng cụ trên tàu trước khi bỏ đi. Theo báo Lao Động, số hải sản, trang thiết bị bị cướp phá ước lượng lên tới 550 triệu đồng.

Các vụ đụng độ như thế này này đã trở nên thường xuyên hơn quanh quần đảo Hoàng Sa, nơi có sự hiện diện hùng hậu của các tàu Trung Quốc.

Giáo sư Lê Hồng Hiệp thuộc Viện Đại học Quốc gia ở Saigon nói rằng những vụ chạm trán ấy ‘đã diễn ra từ lâu, nhưng mãi tới bây giờ mới được tường thuật bởi vì chính phủ Việt Nam muốn lên tiếng phản đối và tìm cách bảo vệ ngư dân.’

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hứa sẽ tài trợ cho ngư dân để xây tàu chắc chắn hơn để có thể tự vệ tốt hơn.

Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình hôm 11/6 nhắc lại rằng nhà chức trách Việt Nam đã ‘có các biện pháp cần thiết’ để tăng sức ép buộc tàu thăm dò dầu khí Trung Quốc, tàu 517, rời khỏi vùng biển của Việt Nam.

Nguồn: Bloomberg, Tuoi Tre, Thanh nien.

“Gia đình là gì?”

“Gia đình là gì?”

Người Mỹ đã dùng danh từ FAMILY trong khi người Việt chúng ta gọi là GIA ĐÌNH. Mời bạn đọc một mẫu chuyện dưới đây để tìm hiểu giá trị của Family như thế nào nhé. FAMILY là gì?

Tôi va phải một người lạ trên phố khi người này đi qua. “Ồ xin lỗi”, tôi nói.

Người kia trả lời: “Cũng xin thứ lỗi cho tôi, tôi đã không nhìn cô” . Chúng tôi rất lịch sự với nhau.

Nhưng ở nhà thì mọi chuyện lại khác. Tối nọ, lúc tôi đang nấu bếp thì cậu con trai đến đứng sau lưng. Tôi quay người và đụng vào thằng bé làm nó ngã chúi xuống sàn nhà. ”Tránh ra chỗ khác” – tôi cau mày nói. Con trai tôi bước đi, trái tim bé nhỏ của nó vỡ tan. Tôi đã không nhận ra là mình đã quá nóng nảy

Khi đã lên giường, tôi nghe một giọng nói thì thầm: “Khi đối xử với người lạ con rất lịch sự, nhưng với con mình con đã không làm như vậy. Hãy đến tìm trên sàn nhà bếp, có những bông hoa đang nằm ở cửa. Đó là những bông hoa mà con trai con đã mang đến cho con. Tự nó hái lấy những bông hoa này: nào hoa hồng, màu vàng và cả màu xanh. Nó đã yên lặng đứng đó để mang lại cho con điều ngạc nhiên, còn con thì không bao giờ thấy những giọt nước mắt đã chảy đẫm lên trái tim bé nhỏ của nó”.

Lúc này thì tôi bật khóc. Tôi lặng lẽ đến bên giường con trai và quì xuống: “Dậy đi, con trai bé nhỏ, dậy đi. Có phải những bông hoa này con hái cho mẹ không?”. Thằng bé mỉm cười: “Con tìm thấy chúng ở trên cây kia. Con hái cho mẹ vì chúng đẹp như mẹ. Con biết là mẹ thích lắm, đặc biệt là bông hoa màu xanh”.

Thế bạn có biết từ family có nghĩa là gì không?

FAMILY = Father And Mother, I Love You

Bạn có cảm động không khi đọc xong mẫu chuyện nói trên? Chắc hẵn là phải có rồi. Tôi nghĩ thế! Mời bạn đọc thêm một câu chuyện có thật khá cảm động khác dưới đây:

Một người đàn ông, trong lúc đang chùi cho láng chiếc xe hơi của anh ta, đứa con trai 4 tuổi của anh ta nhặt một hòn đá và rạch vào bên hông xe.Trong cơn tức giận, anh ta chụp lấy tay đứa con trai và đánh vào tay nó nhiều lần mà không nhận ra rằng anh ta đang đánh bằng cái mỏ lết

Tại bệnh viện, đứa bé mất hết các ngón tay vì xương thịt dập nát. Khi đứa trẻ thấy bố nó… Với đôi mắt đau buồn, nó hỏi: “Bố ơi các ngón tay con đâu rồi?”. Anh ta rất đau lòng, không nói nên lời và trở lại bên xe, đá vào chiếc xe nhiều lần.

Suy sụp bởi hành động vô ý thức của mình…., ngồi trước chiếc xe hơi, anh ta nhìn vào vết xước trên hông xe….. thằng bé đã viết: “Con Yêu Bố, bố ơi!”. Ngày hôm sau, người đàn ông tự tử…

Giận dữ và yêu thương không có giới hạn, hãy chọn YÊU THƯƠNG để có một cuộc sống xinh tươi và đẹp đẽ.

Đồ vật được sản xuất để XỬ DỤNG và con người được thọ tạo để YÊU THƯƠNG….

Vấn nạn của một phần thế giới hôm nay lại là…. Con người bị XỬ DỤNG còn đồ vật thì được YÊU THƯƠNG !!!

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Cách Mạng Mùa Thu: Oán thù chồng chất!

Cách Mạng Mùa Thu: Oán thù chồng chất!

Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm

Năm 2015 này đánh dấu 70 năm kể từ Việt nam dành lại được nền tự chủ độc lập thóat khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp sau biến cố đảo chính vào ngày 9 Tháng Ba, 1945 (1945 – 2015). Nhưng đến ngày 19 Tháng Tám năm đó, thì người Việt Minh Cộng Sản lại tổ chức một “cuộc cướp chính quyền” và tuyên bố ngày đó là khởi sự cho “Cách Mạng Mùa Thu” ở nước ta – theo khuôn khổ “Cách Mạng Tháng Mười” của Liên Xô bắt đầu vào năm 1917.

Sau 70 năm, thời gian đã đủ nguôi ngoai lắng đọng để cho người Việt chúng ta có thể bình tâm luận định về biến cố lịch sử đày dãy những tang thương thống khổ – với biết bao nhiêu máu và nước mắt của hàng triệu người lương dân vô tội đã đổ ra tại khắp nơi trên quê hương đất nước mình.

Nói chung, thì cũng chỉ vì cái chủ trương cuồng tín quá khích gọi là “bạo lực cách mạng”, “chuyên chính vô sản” mà người cộng sản du nhập từ Liên Xô và Trung Cộng vào đất nước ta ngay từ năm 1945, nên mới xảy ra bao nhiêu cuộc thảm sát hàng lọat những người quốc gia yêu nước mà người cộng sản gán cho đủ các thứ nhãn hiệu xấu xa như : “ quân ngụy”, “việt gian”, “phản quốc”, “phản động”, “lưu manh”,“tay sai ngọai bang” v.v… Để rồi họ ra tay truy lùng, trừ diệt khủng bố cực kỳ dã man tàn bạo, không mảy may xót xa thương tiếc đối với người anh em cùng một nòi giống da vàng máu đỏ như chính mình.

Bài viết này nhằm ghi lại những cuộc thảm sát rùng rợn đó và tìm hiểu nguồn gốc sâu xa của những hành vi cực kỳ tàn ác man rợ do người cộng sản cố tình gây ra ngay kể từ lúc họ mới nắm được chính quyền trong tay kể từ năm 1945 cho đến ngày nay. Xin trình bày một số vụ thảm sát điển hình theo thứ tự thời gian xảy ra lần lượt tại khắp các miền Trung, Nam, Bắc.

I-Những cuộc khủng bố tàn sát man rợ do người cộng sản gây ra tại khắp các nơi trong nước.

1-Vụ thảm sát tín đồ Cao Đài tại Quảng Ngãi Tháng Tám và Tháng Chín, 1945.

Ngay sau khi Việt Minh Cộng Sản chiếm được chính quyền trong tay vào Tháng Tám, 1945, thì tại nhiều làng xã thuộc các huyện Bình Sơn, Đức Phổ, Mộ Đức, Nghĩa Hành trong tỉnh Quảng Ngãi đã đồng lọat xảy ra các cuộc tàn sát tập thể (mass killing) tổng cộng lên đến gần 3,000 tín đồ Cao Đài. Có vùng người dân “bị giết hết cả già trẻ lớn bé mà mồ chôn tập thể cùng khắp các miền quê…” Sự việc này đã được Giáo Hữu Ngọc Sách Thanh tại Hoa Kỳ trình bày chi tiết trước Ủy Hội Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc gần đây vào Tháng Tư, 1999.

Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài có bảng liệt kê danh tánh các nạn nhân lên đến con số 2,791 người. Và trong tài liệu nghiên cứu có nhan đề là “Colonial Caodaists” do sử gia Janet Hoskins biên sọan, thì cũng ghi nhận con số 2,791 nạn nhân này. Danh sách này cũng được ghi nơi Đài Tưởng Niệm thiết lập từ năm 1956 tại Quảng Ngãi – mà sau năm 1975 chính quyền cộng sản đã cho triệt hạ phá bỏ hết tất cả mọi dấu tích đi.

Người đồ tể khét tiếng trong vụ thảm sát này có tên là Đặng Bửu sau này giữ chức vụ hiệu trưởng Trường Chính Trị Nguyễn Ái Quốc ở Hà nội.

So với cuộc thảm sát tại Huế hồi Tết Mậu Thân 1968, thì cuộc tàn sát này tại Quảng Ngãi năm 1945 cũng thật là khủng khiếp ghê rợn không kém – nhưng mà nó lại ít được công chúng ở miền Nam trước năm 1975 biết đến. Nhưng có dấu hiệu lạc quan là gần đây giới học giả quốc tế cũng đã có điều kiện tìm hiểu nhiều về vụ thảm sát năm 1945 này.

Nhân tiện, cũng xin ghi thêm là nhà ái quốc Tạ Thu Thâu cũng đã bị Cộng Sản giết hại tại Quảng Ngãi hồi mùa thu năm 1945, vào lúc ông trên đường trở lại miền Nam sau cuộc viếng thăm miền Bắc vài tháng trước đó.

2-Những vụ khủng bố tiêu diệt người quốc gia yêu nước tại miền Nam trong thời gian từ 1945 đến 1947.

Tại miền Nam vào năm 1945, thì tuy không có vụ tàn sáp tập thể có quy mô lớn như tại Quảng Ngãi, nhưng lại có vô số những cuộc ám sát khủng bố giết hại những người quốc gia yêu nước do cán bộ cộng sản theo khunh hướng Đệ Tam Quốc Tế gây ra. Và tổng số các nạn nhân bị giết hại trong các năm 1945, 1946 và 1947 có thể lên đến hàng nhiều ngàn người.

Cụ thể là những nhân vật trí thức có tên tuổi thuộc khuynh hướng Đệ Tứ Quốc Tế (thường được gọi là Trotskystes) thì đều bị giết hại như: Trần Văn Thạch, Hồ Văn Ngà, Phan Văn Hùm v.v… Còn phải kể đến những vị lãnh đạo chính trị nổi tiếng cũng đều bị Cộng Sản chém giết, điển hình như nhân sĩ Bùi Quang Chiêu, vợ chồng bác sĩ Hồ Vĩnh Ký và Nguyễn Thị Sương, luật sư Dương Văn Giáo. v.v…

Tệ hại nhất là vụ sát hại Giáo Chủ Hùynh Phú Sổ người sáng lập Phật Giáo Hòa Hảo ở miền đồng băng sông Mekong – do người Cộng Sản thực hiện vào Tháng Tư, 1947. Sự việc động trời này đã gây ra mối hận thù dai dẳng kinh khiếp cho hàng triệu tín đồ Hòa Hảo tại khắp miền Nam.

Đối với các tín đồ Cao Đài tại miền Đông Nam Bộ cũng vậy, cán bộ Cộng Sản cũng ra tay tàn sát đến cả hàng ngàn nạn nhân nữa.

Chỉ riêng có một ngày 13 Tháng Mười, 1947, thì đã có đến con số 300 nạn nhân bị Việt Minh Cộng Sản ra tay sát hại tại khu vực Hóc Môn, Thủ Đức chỉ cách thành phố Sài Gòn có chừng vài chục cây số mà thôi.

Người chủ chốt phát động các cuộc tàn sát này chính là Tướng Nguyễn Bình (tên thật là Nguyễn Phương Thảo) do Trung Ương ở Hà Nội phái vào miền Nam để phụ trách điều hành guồng máy chính trị và quân sự tại đây.

3-Những vụ sát hại các thành viên ưu tú của các đảng Đại Việt, Duy Dân và Quốc Dân Đảng ở miền Bắc.

Tại miền Bắc, thì các đảng phái quốc gia như Đại Việt, Duy Dân, Quốc Dân Đảng đều lần lượt bị người Cộng Sản dùng mọi thủ đọan tàn bạo thâm độc mà tiêu diệt cho bằng hết. Điển hình là các lãnh tụ nổi danh như Trương Tử Anh của Đại Việt, Lý Đông A của Duy Dân và vô số những đảng viên ưu tú khác của Quốc Dân Đảng cũng đều bị ám hại bằng cách thủ tiêu hay giam giữ ngặt nghèo trong các trại tù đến nỗi phải bỏ xác nơi xa xôi hẻo lánh – mà thân nhân không hề được thông báo để lo việc ma chay chôn cất và cúng giỗ. Có thể nói tổng số nạn nhân bị sát hại như vậy ở miền Bắc trong thời gian từ năm 1945 đến 1954 phải lên đến con số nhiều ngàn người.

Xin ghi lại vài trường hợp bị bắt giam rồi bị sát hại rất thương tâm của mấy nhân vật rất nổi tiếng như sau:

A-Nhà văn Khái Hưng.

Khái Hưng là một nhà văn nổi tiếng từ thập niên 1930 trong Nhóm Tự Lực Văn Đòan do nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam khởi xướng. Vào năm 1940, Khái Hưng và họa sĩ Nguyễn Gia Trí bị thực dân Pháp bắt đi an trí tại vùng quê xa Hà nội. Năm 1947, ông đang ở nhà nhạc phụ trong huyện Trực Ninh, Nam Định, thì bị công an Việt Minh đến bắt đi và sát hại rồi vất xác xuống dòng sông Ninh Cơ chỗ gần bến đò Cựa Gà.

B-Bộ trưởng Chu Bá Phượng.

Ông Chu Bá Phượng sinh năm 1908 tại Bắc Giang là một kỹ sư đã từng tham gia vào công trình thiết lập đường xe lửa Đông Dương vào hồi thập niên 1930. Ông còn là một người trong thành phần lãnh đạo nòng cốt của Quốc Dân Đảng. Năm 1946, ông Chu Bá Phượng giữ chức bộ trưởng Kinh Tế trong Chính Phủ Liên Hiệp trong đó có ông Hồ Chí Minh làm chủ tịch, ông Nguyễn Hải Thần làm phó chủ tịch, ông Nguyễn Tường Tam làm bộ trưởng Ngọai Giao. Cuối năm 1946, vì các nhân vật quốc gia như Bảo Đại, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam đều đào thóat ra nước ngòai, nên chỉ còn có một mình ông Chu Bá Phượng bị kẹt lại và phải đi theo văn phòng chính phủ di tản lên chiến khu ở Việt Bắc.

Không bao lâu sau, ông Phượng bị đem đi quản chế ngặt nghèo tại vùng Hà Giang, Sơn La. Và từ cuối năm 1960, thì gia đình ông ở Hà Nội không hề nhận được bất kỳ tin tức nào của ông nữa. Mấy chục năm sau vào đầu thập niên 1990, con cháu mới nhờ người sử dụng ngọai cảm mà tìm được hài cốt của ông tại nơi rừng núi hoang vắng vùng Việt Bắc giáp giới với Trung Quốc và cải táng đem về quê nhà ở miền xuôi.

Giám đốc công an ở miền Bắc thời đó chính là ông Lê Giản, ông này phải chịu trách nhiệm nghiêm trọng về các cuộc đàn áp và giết chóc này.

II-Tìm hiểu nguyên do tại sao người cộng sản lại gây ra những vụ tàn sát với quy mô rộng lớn khủng khiếp như thế?

Trước khi đi sâu vào vấn đề, ta cần phải tĩnh trí để nhận định tình hình xã hội chính trị thực tế ở nước ta vào thời kỳ trước năm 1945 đại khái như thế này:

1-Không hề có sự ân óan thù hận nào giữa người cộng sản với người không Cộng Sản cả. Bởi lẽ vào lúc đó, tất cả hai nhóm đều là những người yêu nước và cùng hành động giống nhau là chống thực dân Pháp. Như vậy là tất cả đều ở cùng chung một phe để đối nghịch chống lại cái ách đô hộ của người Pháp để cùng dành lại nền độc lập tự chủ cho người Việt Nam. Và cả hai nhóm đều bị chính quyền Pháp đàn áp, bị bắt giam chung với nhau trong cùng một nhà tù nữa. Vì cùng có tinh thần yêu nước như nhau, lại cùng là nạn nhân khốn khổ vì sự tàn ác của đế quốc thực dân, cho nên giữa người cộng sản và không cộng sản lúc đó lại có sự thương yêu đùm bọc liên đới gắn bó chặt chẽ với nhau nữa.

Điều này khác hẳn với hai phe Quốc Gia và Cộng Sản ở bên Trung Quốc, vì hai phe đánh phá giành giật, giết chóc lẫn nhau suốt trong mấy chục năm kể từ cuối thập niên 1920 cho đến năm 1949, thì phe Cộng Sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo mới tòan thắng và buộc phe Quốc Dân Đảng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu phải rút lui qua đảo Đài Loan. Từ đó mà phe Cộng Sản thắng trận phát động chiến dịch trả thù những người thua trận nào mà còn bị kẹt lại ở nội địa Trung Quốc. Tình trạng này chỉ xảy ra tại Việt Nam năm 1975 sau khi quân đội Cộng Sản từ miền Bắc xâm chiếm được tòan thể lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa.

2-Ấy thế mà tại sao vào năm 1945, khi có chính quyền nắm trong tay được rồi, thì người Cộng Sản lại ra tay tận diệt người quốc gia một cách tàn bạo man rợ đến thế?

Câu trả lời cho vấn nạn này có thể thật ngắn gọn như sau: Đó là do họ áp dụng triệt để cái chủ trương “Bạo Lực Cách Mạng” (the Revolutionary Violence) mà họ học tập được từ Trung Ương Đệ Tam Quốc Tế Comintern do Liên Xô lãnh đạo.

Ngay từ thập niên 1920 cho đến năm 1945, thì đã có đến hàng trăm cán bộ cao cấp của đảng Cộng Sản Việt Nam được đào tạo rất bài bản tại Trường Đông Phương tại Moscow do Comintern điều hành. Tại đây, họ được học rất kỹ về kỹ thuật gọi là “agitprop = agitation – propaganda” – tức là tổ chức vận động quần chúng, tuyên truyền và đặc biệt về phương thức gây bạo lọan để tạo thời cơ cướp chính quyền. Họ cũng học được kỹ thuật xây dựng guồng máy công an mật vụ theo mô hình của Liên Xô để kềm kẹp dân chúng một khi họ đã nắm giữ được chính quyền.

Nói vắn tắt là Cộng Sản Việt Nam được Comintern đào tạo hương dẫn rất kỹ về mọi thủ đọan tinh vi để thiết lập được một chế độ độc tài chuyên chính vô sản (proletarian dictatorship). Do đó mà họ đã không từ bỏ bất kỳ một thủ đọan tàn ác vô nhân đạo nào – miễn sao đạt được mục đích tối hậu của đảng Cộng Sản là nắm vững được chính quyền trong gọng kềm sắt thép của mình.

Trái lại, các đảng phái quốc gia khác, thì không hề có được sự huấn luyện đào tạo hay sự yểm trợ vật chất tinh thần nào từ phía ngọai quốc tương tự như của Comintern cấp phát dồi dào cho đảng cộng sản Việt Nam.

Do đó mà từ năm 1945, Cộng Sản đã mặc sức tung hòanh ở Việt Nam với đủ mọi thứ đòn phép thâm độc và quỷ quyệt để vô hiệu hóa và tiêu diệt được mọi sức đối kháng của các đảng phái quốc gia hay của các tổ chức tôn giáo.

III-Tóm lược

Ta có thể tóm lược bài viết này bằng mấy nét chính yếu như sau:

1-Trước năm 1945, những người yêu nước dù là Cộng Sản hay không Cộng Sản, thì đều cùng theo đuổi một mục tiêu là đánh đổ chế độ thực dân Pháp để giành lại nền độc lập cho Việt Nam.

Thế nhưng, từ khi người Cộng Sản nắm giữ được quyền hành trong tay, thì ngay tức khắc họ ra tay tiêu diệt những người yêu nước khác để dành độc quyền riêng cho mình trong mọi lãnh vực chính trị, kinh tế cũng như văn hóa tinh thần. Đó là một thứ độc tài chuyên chế tòan trị (totalitarian dictatorship).

Hâu quả tai hại trầm trọng nhất của chủ trương này là đã phá hoại tận gốc rễ cái nền nếp nhân bản, nhân ái truyền thống của dân tộc Việt Nam chúng ta.

2-Dĩ nhiên là trong cái xã hội do thực dân, phong kiến tạo lập ra, thì có đầy rẫy những bất công áp bức. Nhưng vì người Cộng Sản đã cuồng tín du nhập cái chủ trương “hận thù giai cấp”, “bạo lực cách mạng” của Liên Xô và Trung Quốc vào đất nước ta, cho nên mới gây ra không biết bao nhiêu tang thương khổ nhục chết chóc cho tòan thể dân tộc ròng rã suốt 70 năm qua.

Như cha ông chúng ta từ xưa vẫn cảnh báo rằng “Lấy óan báo óan, óan ấy chập chùng”. Thì rõ ràng từ năm 1945 đến nay, đảng Cộng Sản đã liên tiếp gây ra biết bao nhiêu điều oan trái, khốn khổ cho cả hàng mấy chục triêu gia đình lương dân vô tội. Đó là một cái tội tày đình mà “Trời không dung, Đất không tha” cho người Cộng Sản vẫn còn cực kỳ ngoan cố mãi được.

3-Bài viết này là một lời nhắc nhở cho giới lãnh đạo chóp bu Cộng Sản ở Hà Nội phải biết phục thiện và thành khẩn công khai nhận lỗi của mình trước tòan thể dân tộc và dám có can đảm nói lên sự xám hối ăn năn về các tội ác man rợ kinh khủng như thế.

Có làm được như vậy, thì họ mới xứng đáng đón nhận được sự khoan dung tha thứ của đại khối dân tộc Việt Nam vậy./

Westminster California, Tháng Sáu 2015

Tài liệu tham khảo

Bài viết này được xây dựng trên những chứng từ của một số gia đình nạn nhân bị cộng sản sát hại với sự tham khảo từ một số bài nghiên cứu nghiêm túc mới đây của các chuyên gia sử học quốc tế. Cụ thể xin được trưng dẫn ra như sau đây :

1-Nhiều thư của ông Chu Bá Phượng viết về cho con vào cuối thập niên 1950 lúc ông bị quản chế tại Việt bắc. Búc thư sau cùng viết vào cuối năm 1960, sau đó thì biệt tăm luôn.

2-Thông tin do gia đình cụ Lê Quang Sách cung cấp. Cụ Sách năm nay đã 88 tuổi, cụ là người thóat chết trong vụ thảm sát gần 3,000 tín đồ Cao Đài tại Quảng Ngãi vào Tháng Tám và Tháng Chín, 1945.

3-Về các tư liệu lấy từ Internet, thì đặc biệt có các tài liệu sau đây:

A-Vụ tàn sát tín đồ Cao Đài tại Quảng Ngãi vào Tháng Tám và Tháng Chín, 1945 (tiếng Việt). Do tổ chức của Giáo Hội Cao Đài phổ biến trên Trang Nhà “Hành Trình về Chân Lí Đạo” vào ngày 21/3/2015.

B-“Caught between Propaganda and History” by Shawn McHale, 2014. Tài liệu dài 10 trang là bài Điểm sách về cuốn “Lịch sử Nam bộ Kháng chiến” được đăng trong Tủ sách “Cold War International History Project”

C-“Autopsy of a Massacre” – “On a Political Purge in the Early Days of the Indochina War” (Nam Bộ 1947)  by Francois Guillemot, 2010. Tài liệu này dài 40 trang là một bài nghiên cứu rất công phu về sự khủng bố và tàn sát vì lí do chính trị ở miền Nam được đăng trong European Journal of Asian Studies.

D-“The Viet Minh Elimination of National Parties and Groups (1945-47)” by Human Rights Watch, April 23, 2013. Tài liệu dài 17 trang viết chi tiết về việc Việt minh tiêu diệt các đảng phái chính trị tại miền Nam trong giai đọan 1945 – 1947./

Đoàn Thanh Liêm

Sau cái chết sẽ là gì?

Sau cái chết sẽ là gì?

Mo Costandi

BBC

“Cái này phải bẻ mạnh một chút nữa mới gỡ ra được,” Holly Williams, một người làm dịch vụ tang lễ nói trong lúc cô cố gắng duỗi các ngón tay, cùi chỏ và cổ tay của John.

“Thường thì công việc của tôi sẽ dễ dàng hơn nếu thi thể còn mới”.

Sinh ra trong một gia đình kinh doanh dịch vụ tang lễ ở phía bắc Texas, Williams, 28 tuổi, tính đến nay đã xử lý khoảng 1.000 thi thể.

Công việc của cô bao gồm việc đưa các thi thể từ khu vực Dallas-Forth Worth về nơi chuẩn bị cho tang lễ.

“Hầu hết những người chúng tôi mang về là từ các nhà dưỡng lão, nhưng cũng có người chết do bị bắn hay tai nạn giao thông,” cô nói.

“Đôi khi có người đã chết nhiều ngày hoặc nhiều tuần mới được phát hiện ra và thi thể của họ đã bắt đầu bị phân huỷ, khiến công việc của tôi trở nên khó khăn hơn”.

John đã chết khoảng 4 giờ trước khi thi thể của ông được đưa đến nhà tang lễ.

Khi còn sống, ông làm việc tại một mỏ dầu và là người khá khỏe mạnh. Ông bỏ thuốc lá từ hàng chục năm trước và cũng ít uống rượu. Thế nhưng cơn đau tim vào một buổi sáng tháng Giêng đã khiến John ngã quỵ và qua đời ở tuổi 57.

Giờ đây, nằm trên chiếc bàn sắt của Williams, thi thể của John đã chuyển lạnh và ngả màu tím-xám, dấu hiệu cho thấy quá trình phân huỷ đã bắt đầu.

Tự phân hủy

Thế nhưng cơ thể của người chết không ‘hoàn toàn chết’ mà vẫn chứa nhiều sự sống ngay trong quá trình phân huỷ.

Nhiều nhà khoa học xem thi thể là một hệ sinh thái xuất hiện ngay sau khi chết và chuyển hoá qua nhiều giai đoạn sau khi quá trình phân huỷ bắt đầu.

Quá trình phân huỷ bắt đầu chỉ vài phút sau khi chết, bắt đầu bằng giai đoạn ‘tự phân’.

Ngay sau khi tim ngừng đập, các tế bào sẽ không còn được cung cấp oxygen. Enzyme bắt đầu tiêu hoá màng tế bào và rò rỉ ra ngoài trong lúc các tế bào bị tan rã.

Điều này thường bắt đầu đầu tiên ở gan, vốn giàu enzyme, và ở não, nơi có tỷ lệ nước cao. Dần dần, tất cả các mô đều bị tiêu huỷ theo cách này.

Các tế bào máu bị tổn thương sẽ bắt đầu trào ra khỏi cách mạch máu bị vỡ và khiến da đổi màu.

Nhiệt độ cơ thể cũng bắt đầu giảm cho đến khi bằng với nhiệt độ xung quanh. Sau đó, xác bắt đầu cứng dần, bắt đầu từ mí mắt, hàm, cơ cổ, cho đến tay chân.

Ở người sống, thành phần tế bào cơ có thể co duỗi nhờ hoạt động của hai loại protein có cấu tạo dạng sợi là actin và myosin, vốn di chuyển sát nhau.

Sau khi chết, các tế bào này bị mất nguồn cung cấp năng lượng và ngưng hoạt động khiến các cơ bị cứng lại, còn các khớp xương không duỗi gập được nữa.

Trong giai đoạn đầu, hệ sinh thái xác chết thường chỉ bao gồm vi khuẩn sinh sống trên và trong cơ thể.

Cơ thể chúng ta chứa một lượng lớn vi khuẩn, từ bề mặt cơ thể cho đến nội tạng. Tuy nhiên nơi chứa nhiều vi khuẩn nhất là ruột, nơi sống của hàng nghìn tỷ vi khuẩn thuộc hàng trăm hay thậm chí hàng nghìn họ khác nhau.

Hệ miễn dịch ngưng hoạt động

Tháng Tám 2014, Gulnaz Javan, một nhà khoa học pháp y từ Đại học Bang Alabama tại Montgomery đã cùng các đồng nghiệp công bố kết quả nghiên cứu về cái mà họ đặt tên là ‘thanatomicrobiome’ (bắt nguồn từ từ thanatos, tức ‘cái chết’ trong tiếng Hy Lạp).

“Nhiều mẫu nghiên cứu của chúng tôi đến từ các vụ hình sự,” Javan nói. “Nhiều người chết vì tự vẫn, bị mưu sát, dùng ma tuý quá liều hoặc tai nạn giao thông, và tôi đã lấy mẫu mô từ đó. Do vấn đề đạo đức nên chúng tôi cần được sự đồng ý khi lấy các mẫu mô đó.”

Hầu hết nội tạng đều được bảo vệ trước vi khuẩn khi chúng ta còn sống.

Tuy nhiên ngay sau khi chết, hệ thống miễn dịch ngưng hoặc động, khiến vi khuẩn tự do lan ra khắp cơ thể.

Vi khuẩn làm haemoglobin trong máu chuyển thành sulfhaemoglobin (Hình: Science Photo Library)

Vi khuẩn thường bắt đầu lan ra từ ruột, tại các đoạn tiếp giáp giữa ruột non và ruột già.

Không bị kiềm chế, chúng bắt đầu đánh chén ruột trước, từ trong ra ngoài, sau đó đến các mao quản của hệ tiêu hoá và các hạch bạch cầu, lan sang gan và lá lách, rồi từ đó lên tới tim và não.

Javan và nhóm của bà đã lấy mẫu xét nghiệm từ gan, lá lách, não, tim và máu từ 11 thi thể của những người đã chết từ 20 – 240 tiếng đồng hồ. Nhóm nghiên cứu sử dụng hai công nghệ xét nghiệm DNA tối tân khác nhau, kết hợp với các thông tin sinh học để phân tích và so sánh thành phần vi khuẩn trong mỗi mẫu phẩm

Các mẫu xét nghiệm lấy từ các bộ phận cơ thể khác nhau của cùng một thi thể rất giống nhau, trong khi các nội tạng giống nhau từ nhiều thi thể lại rất khác nhau.

Điều này có thể là do cấu tạo khác biệt của các quần thể vi khuẩn trong từng thi thể, hoặc do thời gian chết khác nhau.

Một nghiên cứu từng chỉ ra rằng dù các quần thể vi khuẩn trải qua nhiều thay đổi sau cái chết, sự thay đổi này là khá đồng đều, giúp các nhà nghiên cứu có thể ước tính khá chính xác được thời gian chết từ ba ngày đến 2 tháng.

Nghiên cứu của Javan cũng cho thấy các vi khuẩn tràn vào gan 20 giờ sau khi chết và chúng cần khoảng 58 giờ để lan ra khắp các nội tạng.

Như vậy, sau khi chúng ta chết, vi khuẩn sẽ lan ra khắp cơ thể một cách hệ thống, và các bác sỹ pháp y có thể dựa vào thời gian vi khuẩn lan từ nội tạng này sang nội tạng khác để ước tính thời gian chết.

“Sau cái chết, cấu tạo các quần thể vi khuẩn thay đổi,” Javan nói.

“Vi khuẩn lan sang tim, lên não và cuối cùng mới đến các cơ quan sinh sản”.

Có một điều rõ ràng là các nhóm thành phần vi khuẩn khác nhau thì liên quan đến các giai đoạn phân hủy khác nhau.

Hoạt động của vi khuẩn thay đổi hàng giờ trong xác chết (Hình: Getty Images)

Phân huỷ tự nhiên

Đối với hầu hết chúng ta, hình ảnh thi thể là một điều đáng sợ. Nhưng đối với các thành viên tại Trung tâm Nghiên cứu Pháp y Ứng dụng ở đông nam Texas, việc tiếp xúc với tử thi là chuyện thường nhật.

Đi vào hoạt động từ năm 2009, trung tâm này nằm tại một khu rừng thuộc sở hữu của Đại học Sam Houston State (SHSU).

Vào cuối năm 2011, các nhà nghiên cứu từ SHSU là Sibyl Bucheli và Aeron Lynne đã cùng các đồng nghiệp đã mang hai thi thể đến đây và quan sát sự phân huỷ trong môi trường tự nhiên.

Sau khi quá trình tự phân bắt đầu và vi khuẩn đã lan ra khắp nội tạng, xác bắt đầu bị thối rữa.

Các mô mềm bắt đầu chuyển hoá thành khí, chất lỏng và muối.

Quá trình thối rữa bắt đầu ngay trong thời gian đầu, nhưng thực sự rõ rệt khi vi khuẩn kỵ khí tham gia hoạt động.

Việc thối rữa liên quan tới sự chuyển vai trò hoạt động từ các loài vi khuẩn ưa khí, vốn cần oxygen để sống, sang các loài kỵ khí, vốn không cần đến oxygen.

Chúng ăn các mô cơ thể, làm lên men chất đường rồi từ đó sinh ra khí methane, hydrogen sulphide và ammonia tích tụ trong cơ thể, làm trương phồng khoang bùng và đôi khi cả các bộ phận cơ thể khác.

Điều này khiến cơ thể bị chuyển màu rõ rệt hơn.

Trong lúc các tế bào máu tiếp tục rò rỉ ra từ các mạch máu đã tan rã, các vi khuẩn kỵ khí tiếp tục biến các phân tử haemoglobin, vốn từng đưa oxygen đi khắp cơ thể, thành sulfhaemoglobin.

Sự hiện hữu của loại phân tử này trong cơ thể khiến màu da thi thể chuyển sang màu xanh đen đặc trưng cho thấy việc phân hủy đang diễn ra.

Ký sinh trùng

Các loại khí tiếp tục tích tụ trong cơ thể, gây phồng rộp bề mặt da.Tiếp đến sẽ là giai đoạn từng mảng da lớn bong ra, chỉ còn dính hờ vào cơ thể đang phân rã.

Cuối cùng các lượng khí và các lớp mô đã chảy nước thoát ra khỏi cơ thể, mà thường là qua đường hậu môn và các lỗ tự nhiên khác cùng các vết da rách trên cơ thể. Đôi khi áp suất quá lớn khiến khoang bụng phình to tới mức nổ toác ra.

Việc sưng phồng lên thường được coi là dấu hiệu cho thấy quá trình chuyển từ giai đoạn đầu sang giai đoạn sau của quá trình phân hủy, và một nghiên cứu khác gần đây cho thấy việc chuyển biến này được xác định bằng việc thay đổi trong thành phần vi khuẩn trong xác chết.

Cơ thể trong quá trình phân huỷ trở thành hệ sinh thái của vi khuẩn, côn trùng và các loài ăn xác.

Hai loài thường gắn với quá trình phân huỷ là ruồi nhặng.

Ruồi nhặng phát hiện ra mùi thi thể bằng ăng-ten trên đầu, sau đó hạ cánh xuống thi thể và đẻ trứng và các khe hở.

Mỗi con ruồi có khả năng đẻ 250 trứng, và trứng sẽ nở thành giòi trong vòng 24 tiếng.

Giòi bò nhung nhúc làm nhiệt độ bên trong xác chết tăng cao (Hình: Science Photo Library)

Những con giòi này ăn xác và trở nên lớn hơn, cho đến khi chúng đủ sức chui ra khỏi cơ thể và phát triển thành ruồi.

Quy trình này tiếp tục cho đến khi chúng không còn gì để ăn.

Nếu hội tụ đủ các điều kiện cần thiết, một thi thể phân huỷ sẽ có một số lượng lớn giòi bên trong.

Các ‘đàn giòi’ tỏa nhiều nhiệt, khiến nhiệt độ bên trong cơ thể lên 10 độ C.

Nếu như chim cánh cụt thường xuyên di chuyển để giữ ấm thì những con giòi này lại di chuyển liên tục để hạ nhiệt.

Sự hiện diện của ruồi thu hút các loài săn mồi khác như bọ cánh cứng, kiến, nhện, vốn ăn trứng ruồi và ấu trùng. Kền kền và các loài ăn xác khác cũng có thể bị lôi cuốn.

Nếu không có các loài ăn xác, những đàn giòi này sẽ ăn hết các mô mềm rất nhanh.

Nhà khoa học Carl Linnaeus ghi lại trong một nghiên cứu năm 1767: “Ba con ruồi có thể tiêu thụ hết xác chết của một con ngựa nhanh không kém gì một con sư tử”.

Có thể dùng thiết bị bay phía trên phân tích đất để phát hiện ra thi thể bị chôn vùi bên dưới (Hình: Getty Images)

Đất màu mỡ

Xác chết bị phân huỷ giúp làm thay đổi thành phần hoá học của phần đất bên dưới, tạo nên những thay đổi có thể duy trì trong nhiều năm.

Những phần còn lại trong cơ thể mang lại chất dinh dưỡng cho đất, và sự di chuyển của giòi giúp mang phần năng lượng bên trong lan ra một môi trường rộng hơn.

Toàn bộ quy trình này tạo nên một ‘đảo thi thể phân huỷ’ – một khu vực đất đai màu mỡ.

Theo một ước tính, trung bình, một cơ thể người có 50-75% là nước và mỗi kg xác khô thải ra 32g nitrogen, 10g phosphorous, 4g potassium và 1g magnesium ra đất.

Các loài giun đất và các loài thực vật nhờ đó trở nên khoẻ mạnh hơn.

Những nghiên cứu về những thay đổi đối với môi trường xung quanh có thể giúp các nhà điều tra lần ra những thi thể bị chôn trong các vụ án mạng.

Việc nghiên cứu lớp đất quanh mộ cũng giúp ước tính tốt hơn thời gian chết.

Một nghiên cứu hồi năm 2008 chỉ ra rằng chất khoáng vô cơ phosphorous rỉ từ cơ thể vào trong đất ở mức cao nhất vào 40 ngày sau khi chết, trong khi đối với nitrogen là 72-100 ngày.

Hiểu biết rõ hơn về những quy trình này sẽ giúp các nhà nghiên cứu pháp y một ngày nào đó ước tính chính xác hơn thời gian một thi thể được chôn cất trong một ngôi mộ bí mật.

The Greatest Speech- Bài diễn thuyết hay nhất từ Charlie Chaplin gửi tới nhân loại

The Greatest Speech- Bài diễn thuyết hay nhất từ Charlie Chaplin gửi tới nhân loại

httpv://www.youtube.com/watch?v=4nCfzblfjOc&feature=player_embedded

“Nhà độc tài vĩ đại” (The Great Dictator – công chiếu năm 1940) đã trở thành một trong những phim hay nhất mọi thời đại. Và bài diễn văn trong phim đã trở thành một trong những diễn văn hay nhất mọi thời đại.

The Great Dictator là bộ phim đầu tiên dám thẳng thắn cười nhạo, chế giễu Hitler cùng chế độ của tên tướng người Đức tàn bạo này. Qua bộ phim Chaplin cũng bày tỏ tình cảm của mình đối với người dân Do Thái – những người đã chịu rất nhiều khổ cực dưới chế độ chuyên quyền của Hitler trong giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ hai. Vốn là một nghệ sĩ đa tài, trong The Great Dictator Chaplin giữ tới 5 vai trò chính bao gồm Đạo diễn, Biên kịch, Diễn viên chính, Nhà sản xuất và Nhà soạn nhạc, đồng thời đây cũng là một trong những bộ phim được sản xuất tại chính studio của Chaplin.

Bộ phim có năm đề cử Oscar và từng được gửi tới tận tay cho Hitler thưởng thức, sau khi biết tin ông ta có xem bộ phim này thì Chaplin nói rằng “Tôi sẽ đánh đổi mọi thứ để biết được ông ta đang nghĩ gì.”. Dường như hai con người này có một mối quan hệ kỳ lạ, phải không?

Pháp phá vụ buôn lậu ngà voi lớn dính tới Việt Nam

Pháp phá vụ buôn lậu ngà voi lớn dính tới Việt Nam

Giá ngà voi đã tăng nhanh chóng mặt trong những năm gần đây, lên mức khoảng hơn 1.500 đôla Mỹ một kg (khoảng 30 triệu đồng).

Giá ngà voi đã tăng nhanh chóng mặt trong những năm gần đây, lên mức khoảng hơn 1.500 đôla Mỹ một kg (khoảng 30 triệu đồng).

Quan chức hải quan Pháp hôm 11/6 cho biết đã chặn đứng việc vận chuyển 136 kg ngà voi từ Cộng hòa Dân chủ Congo trên đường tới Việt Nam.

Đây là lần ngăn chặn vụ vận chuyển ngà voi lậu lớn nhất ở Pháp trong gần một thập kỷ. Hồi tháng 12 năm 2006, giới hữu trách nước này cũng đã phát hiện 600 kg “vàng trắng”

Hơn một chục ngà voi được cưa thành 37 miếng nhỏ, và  được giấu trong các thùng phía dưới các đĩa nhôm nhằm tránh bị máy soi phát hiện.

Đồ thủ công mỹ nghệ chế biến từ ngà voi vẫn là những mặt hàng “ăn khách” ở các quốc gia châu Á như Việt Nam, Thái Lan, và Trung Quốc.

Giá ngà voi đã tăng nhanh chóng mặt trong những năm gần đây, lên mức khoảng hơn 1.500 đôla Mỹ một kg (khoảng 30 triệu đồng).

Các nhà hoạt động cho rằng việc mua bán lậu ngà voi đã đẩy đàn voi hoang ở châu Phi tới cảnh tuyệt chủng.

Điểm mặt

Ngoài việc nhiều gia đình người Việt sử dụng ngà voi để trang trí trong nhà, Việt Nam thời gian qua đã bị nhắc tên nhiều trên truyền thông quốc tế vì tình trạng mua bán sừng tên giác và các loại động vật hoang dã khác để làm thuốc.

Các nhân vật tranh đấu bảo vệ môi trường đề nghị áp dụng các biện pháp chế tài thương mại đối với Việt Nam vì Hà Nội đã không hành động để chống lại nạn mua bán sừng tê giác.

Báo cáo của các tổ chức bảo vệ môi trường nói rằng có “các bằng chứng  cho thấy Việt Nam và các nhân viên ngoại giao Việt Nam nằm ở trung tâm của một hoạt động mua bán sừng tê giác bất hợp pháp qui mô lớn, góp phần gây ra vụ khủng hoảng săn bắt tê giác trái phép lớn nhất trong vòng hơn 30 năm.”

Tuy nhiên, các giới chức Việt Nam đã phủ nhận tố cáo cho rằng Việt Nam là động lực thúc đẩy các hoạt động mua bán sừng tê giác trái phép.

Theo AFP, VOA

Chẳng lẽ cứ luôn mãi là “quân tốt thí” trên bàn cờ thế giới?

Chẳng lẽ cứ luôn mãi là “quân tốt thí” trên bàn cờ thế giới?

Lang Thang Internet


Linh Tiến Khải

Từ mấy tuần qua tin tức về tình hình tại Biển Đông xem ra dồn dập và nóng bỏng, lôi kéo sự chú ý của các phương tiện truyền thông quốc tế.

Hôm mùng 2 tháng 6 vừa qua nhật báo Shimbun của Nhật Bản có đăng bài bình luận bàn về tình hình Biển Đông, và đưa ra ra câu hỏi: liệu tổng thống Barack Obama có thực sự muốn cản ngăn hành động cướp biển phi pháp của nhà nước Bắc Kinh hay không, và nếu có thì tới mức độ nào. Trong các tháng qua toàn thế giới đều chứng kiến thái độ ngoan cố, lì lợm, vô liêm sỉ của Nhà nước cộng sản Trung Quốc, ngang nhiên ngồi xổm trên luật pháp quốc tế, và công khai ăn cướp biển đảo của các nước vùng Đông Nam Á. Nó cho thấy Nhà nước Bắc Kinh càng ngày càng cương quyết nhận vơ Biển Đông là của mình, và đặt chủ quyền trên Biển Đông, bằng cách gấp rút xây các căn cứ và sân bay quân sự trên các đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các đảo khác đã cướp được của Việt Nam, với sự đồng loã phản quốc bán nước của Nhà nước cộng sản Hà Nội. Với các hoạt động gấp rút ấy quân cướp Trung Cộng muốn đặt thế giới trước những sự kiện đã rồi. Nhưng việc xây 7 đảo nhân tạo trái phép ấy trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam đã gây ra làn sóng tranh luận trên chính trường Hoa Kỳ cũng như trong nội bộ quân đội nước này. Ngay từ năm ngoái Hải quân Mỹ đã kêu gọi chính quyền Washington nhanh chóng đưa máy bay và tầu chiến vào khu vực các đảo bị Bắc Kinh chiếm đoạt phi pháp.

Từ tháng 5 vừa qua quân đội Hoa Kỳ đã bắt đầu cho máy bay do thám và tàu chiến hiện đại thực hiện các vụ trinh sát, giữ gìn tự do hàng hải ở Biển Đông. Và trong các ngày từ 17 đến 21 tháng 5 vùa qua Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Thái Bình Dương đã tổ chức một cuộc diễn tập tác chiến đổ bộ tại Hawaii với sự tham dự quan sát của các giới chức quân đội cao cấp của 20 quốc gia. Ngày 27 tháng 5 Tân chỉ huy Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương, đô đốc Harry Harris gọi các yêu sách của Trung Quốc là “lố bịch”. Phát biểu trong buổi lễ nhận chức ngày 27 tháng 5 đô đốc Harris nói: “Hoa Kỳ sẽ tái lập thế cân bằng ở Thái Bình Dương. Lực luợng kết hợp của chúng tôi sẽ làm việc chặt chẽ với các đồng minh và bạn bè ở khu vực. Nếu được yêu cầu chúng tôi sẽ chiến đấu ngay buổi tối hôm nay để bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ tại khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Hiện diện và phát biểu trong buổi lễ ông Ashton Carter, Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, nhắc lại lập trường của Mỹ là phản đối bất kỳ hành động quân sự nào của Trung Quốc trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Ông nói: trước tiên chúng tôi muốn giải quyết các tranh chấp trong hòa bình và yêu cầu Trung Quốc ngưng ngay việc cải tạo đất ở Biển Đông dựa trên các yêu sách của họ. Thứ hai, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục bay, di chuyển và khai triển hoạt động ở bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép, như đã từng làm trên toàn thế giới này. Cuối cùng, với các hành động của mình Trung Quốc đang đứng ngoài hai tiêu chuẩn quốc tế, đó là đe đọa an ninh khu vực Á châu Thái Bình Dương và vi phạm nguyên tắc “tiếp cận không cưỡng chế” mà các nước trong khu vực đang theo đuổi.”

Hoa Kỳ cũng tuyên bố rằng nếu Trung Cộng không dừng hoạt động xây đảo nhân tạo phi pháp, thì chính quyền Mỹ sẽ đưa tầu chiến vào khu vực 12 hải lý của các đảo đá, mà Trung Quốc chiếm đoạt trái phép.

Mới đây nhất ngày mùng 2 tháng 6 vừa qua trong buổi đón tiếp và trao đổi với các đại diện giới trẻ hoạt động xã hội Đông Nam Á thuộc tổ chức “Chương trình thân hữu các sáng kiến của giới trẻ lãnh đạo Đông Nam Á” tại tòa Bạch Ốc, tổng thống Barack Obama kêu gọi Nhà nước cộng sản Trung Quốc tôn trọng luật pháp quốc tế, và ngưng ngay các hành động “thúc cùi chỏ”, ăn hiếp các quốc gia láng giềng để bành trướng thế lực tại Biển Đông. Nếu Trung Quốc không từ bỏ kiểu hành động này, dùng sức mạnh của một nước lớn để tranh giành chủ quyền và dựa vào lực lượng hải quân thay vì pháp luật, thì nền kinh tế Á châu sẽ không còn thịnh vượng nữa.

Trước mắt, Hoa Kỳ đưa ra chiến lược “Cost Imposing” kết hợp các biện pháp ngoại giao, quân sự và tuyên truyền tạo dư luận quốc tế bằng cách liên tục công bố các hình ảnh Trung Quốc xây dựng các đảo nhân tạo trái phép ở Biền Đông để buộc Trung Quốc phải trả giá mắc mỏ cho các tham vọng của mình. Đồng thời chính quyền Whasington cũng thắt chặt các mối quan hệ với các đồng minh châu Á Thái Bình Dương và các nước Đông Nam Á, gia tăng năng lực phòng vệ biển đảo, và mong Lực lượng phòng vệ Nhật Bản tham gia nhiệm vụ tuần tra ở Biển Đông.

Dọc dài lịch sử suốt 70 năm của mình Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chỉ biết xung phong làm “quân tốt thí” cho Liên Xô và Trung Cộng, hết hy sinh xương máu của nhân dân, rồi lại ký kết các công hàm bán nước cho Trung Quốc. Năm 1975 tập đoàn cộng sản Hà Nội đã rước 10 sư đoàn tầu cộng vào Bắc Việt để dồn quân tiến chiếm miền Nam. Sau đó vơ vét tất cả nhũng gì có thể vơ vét được để trả nợ cho Bắc Kinh. Giờ đây, bốn mươi năm sau khi đặt ách thống trị độc tài sắt máu trên cả nước, và để vuột mất bao nhiêu dịp may thoát ách nô lệ, chẳng lẽ đảng cộng sản Viêt Nam cứ luôn mãi ngu đần cúi đầu làm “quân tốt thí” trên bàn cờ thế giới hay sao?

http://vi.radiovaticana.va/news/2015/06/05/chẳng_lẽ_cứ_luôn_mãi_là_quân_tốt_thí_trên_bàn_cờ_thế_giới/1149347

Tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần đã ngưng tuyệt thực

Tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần đã ngưng tuyệt thực

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-06-14

06142015-polit-pris-ta-p-tan-stop-hunger.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tổ chức Ân Xá Quốc Tế vào ngày 8 tháng 6 vừa qua phát động cuộc vận động khẩn cấp vì tình trạng của tù nhân lương tâm blogger Tạ Phong Tần, người tuyệt thực kể từ ngày 13 tháng 5

Tổ chức Ân Xá Quốc Tế vào ngày 8 tháng 6 vừa qua phát động cuộc vận động khẩn cấp vì tình trạng của tù nhân lương tâm blogger Tạ Phong Tần, người tuyệt thực kể từ ngày 13 tháng 5

File photo

Tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần được gia đình cho biết tuyệt thực trong trại giam từ ngày 13 tháng 5. Hôm nay 14 tháng 6, thân nhân đến Trại 5 Yên Định, Thanh Hóa để tìm hiểu tình hình thực tế của cô và được biết cuộc tuyệt thực đã ngưng cách đây 10 hôm.

Tuy nhiên tình trạng giam giữ đối với những tù nhân chính trị ở Việt Nam vẫn đáng quan ngại; và biện pháp tuyệt thực để đấu tranh trong nhà tù như của cô Tạ Phong Tần vừa qua luôn được nhiều người quan tâm đồng hành.

Tin mới nhất

Những người quan tâm đến tình hình của tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần trong suốt tháng qua tỏ ra lo lắng về sức khỏe của cô. Trong chuyến đi thăm cô lần này ngoài hai người em là anh Tạ Minh Tuấn và chị Tạ Minh Tú còn có một số nhà hoạt động khác ở Việt Nam cùng đi.

Người trực tiếp được gặp tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần là cô em Tạ Minh Tú. Sau khi thăm gặp chị từ trại giam ra, chị Tạ Minh Tú cho biết thông tin mới nhất:

“Tình hình ổn rồi, chị Tần ngưng tuyệt thực từ ngày 4 tháng 6. Hôm  nay có những anh chị ủng hộ con đường dân chủ nhân quyền cũng chung chí hướng với chị Tần ủng hộ đến ngay trước trại giam đễ cùng đòi hỏi quyền lợi được gặp chị và khuyên chị ngưng tuyệt thực.

Trong đó khi gặp tôi cũng báo cho chị là các anh chị 3 miền tụ về để ủng hộ cho chị và bên ngoài người ta đang có cuộc vận động từ trong và ngoài nước ( yêu cầu) nhà cầm quyền phải trả tự do cho chị Tần. Chị gửi lời cám ơn.

” Chị Tần ngưng tuyệt thực từ ngày 4 tháng 6. Hôm nay có những anh chị ủng hộ con đường dân chủ nhân quyền cũng chung chí hướng với chị Tần ủng hộ đến ngay trước trại giam đễ cùng đòi hỏi quyền lợi được gặp chị và khuyên chị ngưng tuyệt thực

chị Tạ Minh Tú”

Nói với chị chỉ được 10 phút thôi và chị cho biết những ngược đãi đối với chị vẫn không có gì thay đổi. Sức khỏe của chị vì vừa mới tuyệt thực nên không có gì khả quan lắm!”

Quan ngại

Cựu tù nhân lương tâm Phạm Thanh Nghiên hiện đang bị quản chế tại nhà ở Hải Phòng vào ngày 12 tháng 6 vừa qua cũng tuyệt thực một ngày để bày tỏ sự đồng hành cùng tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần trong nhà tù. Vào ngày 13 tháng 6 chị Phạm Thanh Nghiên chia sẻ sự quan tâm đối với người đang phải đấu tranh trong tù:

Có một người vừa trở về được vài tháng và họ cho biết khi chị Tần, Nguyễn Đặng Minh Mẫn và một số người khác vào thì họ sửa lại khu buồng giam kỷ luật; tức trong trại tù có khu kỷ luật và những tù nhân bị cho vi phạm kỷ luật thì bị nhốt vào đó 7 ngày, 10 ngày hoặc hằng tháng với những điều kiện rất khắc nghiệt. Tôi chưa bao giờ bị giam giữ trong những khu đó cả; nhưng những người tù từng ở với tôi nói lại rằng khi họ xây những trại giam đó thì những phần bệ nằm ( phần đủ cho một người tù nằm) được cho muối vào. Tôi không biết trong ngành xây dựng khi cho muối trộn vào xi măng để làm gì; nhưng những người kia nói lại với tôi là để khi vào mùa hè thì vào mùa hè như ở Thanh Hóa đã nóng rồi thì với kỹ thuật đó lại càng nóng hơn; vào mùa đông đã lạnh thì càng lạnh hơn.

Chị Tạ Minh Tú và Thượng tọa Thích Thiện Minh kêu gọi trả tự do cho blogger Tạ Phong Tần

Chị Tạ Minh Tú và Thượng tọa Thích Thiện Minh kêu gọi trả tự do cho blogger Tạ Phong Tần

Và cũng xin nói thêm là khi bị kỷ luật thì không được đắp chiếu mà chỉ có một bộ quần áo tù, không có đồ lót bên trong. Đến kỳ kinh nguyệt thì phải xin cán bộ trại giam mới có quần lót và băng vệ sinh. Đó là sự tra tấn vô cùng man rợ và trong thời gian tuyệt thực hằng ngày cán bộ trại giam vào hành hạ rất ghê gớm vì tôi chứng kiến trường hợp của chị Trần Ngọc Anh cũng như của tôi là mỗi ngày hai lần họ mang biên bản vào và bắt minh ký. Họ còn dùng nhiều hình thức khác để tra tấn tinh thần của mình. Vì chính là người từng ở trong đó nên tôi rất đồng cảm, tôi hiểu. Tôi cho rằng chị Tần là người phụ nữ phi thường.

Cô Phạm Thanh Nghiên cũng cho biết thông điệp của hành động tuyệt thực cùng với tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần:

“ Tôi muốn bằng khả năng hạn hẹp của mình do sức khỏe không tốt và đang bị quản chế là chỉ góp một chút tình cảm, tiếng nói để đồng hành với những đau khổ, khốn khó của chị Tạ Phong Tần người mà tôi rất yêu quí đang phải chịu trong nhà tù.

” Tổ chức Ân Xá Quốc Tế vào ngày 8 tháng 6 vừa qua phát động cuộc vận động khẩn cấp vì tình trạng của tù nhân lương tâm blogger Tạ Phong Tần, người tuyệt thực kể từ ngày 13 tháng 5″

Tôi cũng xin gửi đến thông điệp mà thông điệp này tôi cũng gửi đi cách đây 2 năm khi mà tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ tuyệt thực. Lúc đó mở đầu là bác sĩ Phạm Hồng Sơn sau đó đến tôi và nhiều người khác đồng hành với cuộc tuyệt thực của tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ. Thông điệp của tôi là không ai phải chịu cô đơn trên con đường tìm kiếm tự do và công bằng cho dù người đó đang ở trong chốn lao tù.”

Ủng hộ

Sau khi có tuyên bố tuyệt thực của cựu tù nhân lương tâm Phạm Thanh Nghiên nhằm đồng hành cùng Tạ Phong Tần, blogger Mẹ Nấm từ Nha Trang cũng công khai trên trang Dân Làm Báo là sẽ tuyệt thực ba ngày để chia sẽ cùng các tù nhân Tạ Phong Tần, Bùi thị Minh Hằng, Nguyễn Hữu Vinh, Trần Huỳnh Duy Thức, Ngô Hào, Trần Minh Nhật, Thái Văn Dung, Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương…

Từ khi có tin tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần tuyệt thực trong tù để phản đối sự ngược đãi tù chính trị của trại giam, nhiều người hiện ở nước ngoài cũng bày tỏ quan ngại và lên tiếng cho tình trạng của cô Tạ Phong Tần.

Tổ chức Ân Xá Quốc Tế vào ngày 8 tháng 6 vừa qua  phát động cuộc vận động khẩn cấp vì tình trạng của tù nhân lương tâm blogger Tạ Phong Tần, người tuyệt thực kể từ ngày 13 tháng 5.

Xin được nhắc lại cô Tạ Phong Tần năm nay 46 tuổi. Cô bị bắt từ tháng 9 năm 2011 và tháng 9 năm 2012 bị kết án 10 năm tù với cáo buộc ‘tuyên truyền chống nhà nước theo điều 88 Bộ Luật Hình sự Việt Nam trong phiên xử cùng với hai người cùng sáng lập Câu lạc Bộ Nhà báo Tự do là Điếu Cày Nguyễn Văn Hải và AnhbaSaigon PhanThanh Hải.

Từ khi bị kết án tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần đạ bị đưa qua ba nhà tù khác nhau ở Bình Dương, Đồng Nai và Thanh Hóa. Tại Trại 5 Yên Định, Thanh Hóa hiện có những nữ tù nhân lương tâm khác là Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Cấn Thị Thêu…

Cô Tạ Phong Tần vào dịp Ngày Quốc tế Phụ nữ năm 2013 được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vinh danh là một trong 10 phụ nữ can đảm trên thế giới.

Nhân ngày Tự do Báo chí Thế giới năm nay, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại nêu tên tù nhân Tạ Phong Tần cho rằng cô bị chính quyền Hà Nội bỏ tù một cách sai trái chỉ vì dán vạch trần tình trạng tham nhũng của chính phủ Hà Nội. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ kêu gọi chính quyền Việt Nam hiện nay trả tự do cho tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần.

“Em ra đi mùa thu! mùa thu không trở lại”,

“Em ra đi mùa thu! mùa thu không trở lại”,
“em ra đi mùa thu sương mờ giăng âm u

em ra đi mùa thu mùa thu không còn nữa
đếm lá úa mùa thu đo sầu ngập tim tôi.”

(Phạm Trọng Cầu – Mùa Thu Không Trở Lại)

Trần Ngọc Mười Hai

(Rm 12: 9-13)

Có trở lại hay không, thì thu mùa vẫn luôn là Mùa Thu, mùa của những úa vàng màu lá rất tình-tự. Tình-tự của thu mùa/mùa Thu lại dễ thấy, dễ bắt gặp ở câu ca tiếp theo đó, hát thế này:

“Ngày em đi, nghe chơi vơi não nề
qua vườn Luxembourg sương rơi che phố mờ
buồn này ai có mua?
Từ chia ly, nghe rơi bao lá vàng,
ngập giòng nước sông Seine,
mưa rơi trên phím đàn chừng nào cho tôi quên.”

(Phạm Trọng Cầu – bđd)

Ấy chết! sao lại “nghe chơi vơi não-nề”, rồi lại thấy những là “sương rơi che phố mờ”, “chia-ly”, “nghe rơi bao lá vàng”, “ngập giòng nước song Seine.” Ôi thôi! Là, thi-ca ngập tràn giòng chảy rất êm đềm để tôi, để bạn, để chúng ta không còn quên lãng những ngày “mùa Thu không trở lại”, được nữa rồi.

Thế đó, là những cảm-xúc, cảm-quan và cảm-nhận ở đời người, nơi thi-ca giòng chảy rất đời thường. Và dưới đây, lại là những xúc-cảm, xúc-động cùng chất xúc-tác ở giòng đời người đi Đạo, nay đã thấy. Thấy, như người viết trên truyền-thông/báo-chí, rất như sau:

“Rất ư là thường tình, chuyện bảo rằng: tôi hay có cái cảm-giác cần chuyển-tải khắp chốn/miền lời xin lỗi gửi đến với mọi người, cả khi lý-lẽ tôi đưa ra vẫn rất thừa, tuy đúng đắn. Đôi lúc, tôi cũng tỏ ra cứng-rắn với chính mình sau nhiều khoảnh-khắc thấy mình quá nhạy-cảm. Nên, tôi thích để lại một số ấn-tượng để mọi người thấy tôi là người có lý-trí chứ không chỉ mỗi xúc cảm tràn đầy mà thôi… Tuy thế, tôi vẫn thấy cảm-xúc vẫn là điều tốt đẹp cho mọi người. Nay, xin có đôi phút để ‘sáng-tỏ’ vấn-đề.

Trước nhất, chả khi nào tôi coi cảm-xúc là những gì bết bát, dù lý-lẽ hay lý-sự bao giờ cũng chễm-chệ ở trên. Thứ đến, đây không là cảm-tưởng của giới phụ-nữ khi nghĩ rằng nam-giới vẫn hay làm bọn tôi cảm thấy xấu-xa tệ-bạc đầy xúc-động và vì thế mới thấy rằng “đàn ông thường ở trên cơ bọn nữ tớ phận hèn này!” Điều đó không có nghĩa vơ đũa cả nắm bảo rằng: vốn dĩ là nữ-giới nên chúng tôi có làm thế nào đi nữa cũng vẫn bị mang tiếng là tạo vật lằng-nhằng đầy cảm-xúc. Nhưng, dù sao bọn tôi cũng nhận ra rằng: khi ta kiểm-soát được mọi cảm-xúc không để chúng khống-chế trên ta, thì khi đó ta sẽ hoàn toàn mạnh-khoẻ, bình thường dễ tạo cuộc sống cho chính mình. Và, đó cũng là thành-phần cấu-tạo nữ-tính theo sinh-lý với tất cả mọi chi-tiết về sinh-lý làm mục-tiêu….

Nói tóm lại, xúc-cảm dù mang tính nhiều xúc-động đi nữa, vẫn là dấu-hiệu của sự mạnh-khoẻ chứ không phải đau/yếu bao giờ hết…” (x. Tamara Rajakariar, Women and their feelings, MercatorNet 4/3/2015)

Vâng. Thế đó, là một quan-niệm ở đời. Với mọi người trong đời. Một đời người lại vẫn có những câu ca được người nghệ-sĩ diễn-tả bằng giòng chảy thi-tứ rất tiếp-tục, rằng:

“Hôm em ra đi mùa thu

mùa thu không trở lại

lá úa khóc người đi

sương mờ dâng lên mi

em ra đi mùa thu

mùa lá rơi ngập ngừng

đếm lá úa sầu lên

bao giờ cho tôi quên.”

(Phạm Trọng Cầu – bđd)

Cả thi-nhân lẫn nhạc-sĩ, có thể “không bao giờ quên” được những cảm xúc lê thê, sầu buồn nhất là vào lúc thấy rõ rằng: “Hôm em ra đi mùa thu”, thì đó là lúc tôi và anh đều sẽ “đếm lá úa sầu lên”, để rồi “bao giờ cho tôi quên.”

Ở nhà Đạo, đôi lúc cũng thấy rằàng: người đi Đạo và giữ Đạo đôi lúc cũng hay quên rất nhiều chuyện, như chuyện chính-yếu trong đời, được Đức Giáo Tông nhắc nhở ở lời nhắn nhủ vào hôm ấy, như sau:

 

“Gặp gỡ người cao niên, ốm yếu, bệnh-tật, Đức Giáo Tông có nhắc nhở rằng: người đau/yếu vẫn cứ theo chân Đức Giêsu Kitô khi Ngài vác thập-giá nặng, không như giới chức và giáo-dân ở một số cộng-đoàn giáo-xứ thường hay quên lãng, chẳng ai biết đến.

Hướng về những người trẻ có mặt hôm ấy, Đức Giáo Tông Phanxicô có nói rằng: tất cả chúng ta là tội-nhân vẫn được gọi mời “hãy vùng đứng lên với ân-huệ Chúa ban cho” cả sau khi ta gục ngã trong lỗi phạm. Và, điều quan-trọng là: Niềm vui, không thể mua bán ngoài phố chợ, nhưng là quà tặng từ Chúa Thánh Thần mình nhận được khi nguyện-cầu trong thinh-lặng….” (x. Bản tin trên The Catholic Weekley ngày 10/5/2015, tr. 7 có đầu đề là: Joy is a Gift of the Holy Spirit: Pope)

Thế đó, còn là cảm-xúc, cảm-tính lẫn cảm-tình cần có đối với mọi người, già/trẻ, lớn/bé, gái/trai cả ở trong Đạo lẫn ngoài đời. Một đời người, vẫn có đủ hỷ nộ ái ố, rất thất tình. Nhưng, cảm gì thì cảm, vẫn là những cảm-thông ta có với dân-gian mọi thời.

Với con dân trong Đạo, có thứ cảm-nhận mà người thường ở huyện hay lẫn lộn, chí ít khi đọc truyện kể hoặc suy-tư/nhận-định về các sự-kiện Đức Giêsu từng diễn-lộ với mọi người. Một cảm-nhận thường sai sót nhiều nhất, là khi người đọc trình-thuật, lại hiểu theo ý rất khác hẳn. Đó là điều, được đấng bậc thày dạy ở đại-học De Paul bên Mỹ, lại đã phân-định, như sau:

“Nên nhớ rằng: những điều ta định ra được ở một số trình-thuật Tin Mừng, thường có sự khác-biệt khi nhận-định về lòng tin. Những điều như thế lại thấy áp-dụng ở đây, ngang qua xác-định về sự khác-biệt giữa tính huyền-diệu và phép lạ hoặc sự lạ. Tính huyền-diệu/tuyệt vời, là điều gì đó tôi hoặc chúng ta không có giải-thích thoả-đáng nào, vào lúc ấy.

Trên thế-gian, vẫn có muôn vàn huyền-diệu/tuyệt-vời xảy ra ở quanh ta, khiến ta dễ dàng chấp-nhận mà không thắc-mắc gì hết.

Tôi không tin, là ta sống trong vũ-trụ khép kín trong đó ta hiểu hết mọi sự/mọi việc cách trọn-vẹn. Cả khi ta hiểu hoặc biết thế-giới, cách trọn-hảo thế nào đi nữa, đó vẫn là hiểu hoặc biết của riêng ta mà thôi. Bởi thế nên, tôi kỳ vọng sẽ tìm ra được muôn vàn sự việc mà tôi không hiểu rõ hoặc giải-thích được. Nhiều chương-trình truyền-hình vẫn thích gọi đó là bí-nhiệm hoặc bí-ẩn. Và, những gì tôi gọi là huyền-diệu/tuyệt-vời hoặc khúc-mắc/rắc rối, có những hiện-hữu trên đời theo cách khách-quan, chính là sự huyền-diệu, tức sự-việc đưa ta cảm-kích đến độ ưa-thích, là bởi vì ta không có giải-thích nào thoả-đáng về nó hết.

Khi mọi người tuyên-bố gọi sự huyền-diệu là sự lạ hay ‘phép lạ’, là họ đã có động-thái xuất tự lòng tin của họ mà ra. Và, họ tuyên-bố điều đó là cho chính họ, mà thôi. Thiên-Chúa vẫn hành-động cách trực-tiếp, ngay tức khắc trong hoàn-cảnh này, Ngài vẫn can-thiệp chuyện bình-thường ở ngoài đời cách đều-đặn, hoặc theo tiến-trình tự-nhiên để tạo sự huyền-diệu/lạ lùng ấy. Thế thì, bằng vào định-nghĩa về động-thái của lòng tin, tức động-tác diễn-giải cách cơ-bản vượt mọi bằng-chứng hoặc chẳng có chứng-cớ gì hết, cũng vậy.

Thành ra, không thể có cái-gọi-là ‘sự lạ’ hay ‘phép lạ’ một cách khách-quan được, trừ phi ta sống trong một thứ vũ-trụ tuyệt-đối khép kín, mà tất cả mọi tiến-trình và luật-lệ ta đều nắm vững. Khi ấy, mọi chuyện ta không thể giải-thích nổi sẽ là ‘phép lạ’ hoặc ‘sự lạ’, tức thứ xâm nhập của thế-lực siêu-nhiêu đi vào hệ-thống khép kín của thế-giới tự-nhiên. (xem John Dominic Crossan, Who is Jesus, Westminster John Knox Press 1996 p. 74-77)

Hiểu thế rồi, nay ta hãy mạnh-dạn đi vào vườn trình-thuật Tân Ước, để rồi sẽ bắt gặp giòng tư-tưởng chính-đáng những dặn rằng:

“Anh em hãy gớm ghét điều dữ,

tha thiết với điều lành;

thương mến nhau với tình huynh đệ,

coi người khác trọng hơn mình;

nhiệt thành, không trễ nải;

lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa.

Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng,

cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân,

và chuyên cần cầu nguyện.

Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh

đang lâm cảnh thiếu thốn,

và ân cần tiếp đãi khách đến nhà.”

(Rm 12: 9-13)

Suy thế rồi, nay ta hãy cùng nhau đi vào vùng trời truyện kể để thư-giãn. Thư và giãn,  bằng những lời lẽ rất “buông lỏng” để thể-hiện như lời dặn dò của ai đó, trong đời rằng:

– Có ai khen con đẹp, con hãy cảm ơn và quên đi lời khen ấy.

– Có ai bảo con ngoan, hãy cảm ơn và nhớ ngoan hiền hơn nữa.

– Với người òa khóc vì nỗi đau mà họ đang mang, con hãy để bờ vai của mình thấm những giọt nước mắt ấy.

– Với người đang oằn lưng vì nỗi khổ, con hãy đến bên và kề vai gánh giúp.

– Người chìa tay và xin con một đồng. Lần thứ nhất con hãy tặng họ hai đồng. Lần thứ hai hãy biếu họ một đồng. Lần thứ ba con phải biết lắc đầu. Và đến lần thứ tư con hãy im lặng, bước đi.

– Con hãy biết khen. Nhưng đừng vung vãi lời khen như những cậu ấm cô chiêu vung tiền qua cửa sổ.

– Lời chê bai con hãy giữ riêng mình.

– Nụ cười cho người. Con hãy học cách hào phóng của mặt trời khi tỏa nắng ấm.

– Nỗi đau. Con hãy nén vào trong.

– Nỗi buồn. Hãy biết chia cho những người đồng cảm.

– Đừng khóc than, quỵ lụy, van nài. Khi con biết ngày mai rồi sẽ đến. Có bầu trời, gió lộng thênh thang.

– Con hãy đưa tay. Khi thấy người vấp ngã.

– Cần lánh xa. Kẻ thích quan quyền.

– Bạn. Là người biết đau hơn nỗi đau mà con đang có.

– Thù. Là người quặn đau với niềm vui mà con đang có.

– Chọn bạn sai. Cả đời trả giá.

– Bạn hóa thù. Tai họa một đời.

– Con hãy cho. Và quên ngay.

– Đừng sợ bóng đêm. Đêm cũng là ngày của những người thiếu đi đôi mắt.

– Đừng vui quá. Sẽ đến lúc buồn.

– Đừng quá buồn. Sẽ có lúc vui.

– Tiến bước mà đánh mất mình. Con ơi, dừng lại.

– Lùi bước để hiểu mình. Con cứ lùi thêm nhiều bước nữa. Chẳng sao.

– Hãy ngước nhìn lên cao để thấy mình còn thấp.

– Nhìn xuống thấp. Để biết mình chưa cao.

– Con hãy nghĩ về tương lai. Nhưng đừng quên quá khứ.

– Hy vọng vào ngày mai. Nhưng đừng buông xuôi hôm nay.

– May rủi là chuyện cuộc đời. Nhưng cuộc đời nào chỉ chuyện rủi may.

– Hãy nói thật ít. Để làm được nhiều – những điều có nghĩa của trái tim.

– Nếu cần, con hãy đi thật xa. Để mang về những hạt giống mới. Rồi dâng tặng cho đời. Dù chẳng được trả công.

– Những điều cha viết cho con – được lấy từ trái tim chân thật. Từ những tháng năm lao khổ cuộc đời. Từ bao đêm chơi vơi giữa sóng cồn. Từ bao ngày vất vưởng long đong.

– Cha viết cho con từ chính cuộc đời cha. Những bài học một đời cay đắng.

– Cha gởi cho con chút nắng. Hãy giữ giữa lòng con. Để khi con cất bước vào cuộc hành trình đầy gai và cạm bẫy. Con sẽ bớt thấy đau và đỡ phải tủi hờn.

– Đừng hơn thua làm gì với cuộc đời, con ạ.

– Hãy để chị, để anh giành lấy phần họ muốn.

– Con hãy chậm bước dù là người đến muộn.

– Dù phần con chẳng ai nhớ để dành!

– Hãy vui lên trước điều nhân nghĩa.

– Hãy buồn với chuyện bất nhân.

– Và hãy tin vào điều có thật: “CON NGƯỜI SỐNG ĐỂ YÊU THƯƠNG”.

Đúng thế. Sống trong đời, với mọi người, chỉ để yêu và để thương hết mọi người. Dù, người ấy đã ra đi như người nghệ-sĩ từng hát nhiều vào hôm trước, bằng những câu như:

“Ngày em đi, nghe chơi vơi não nề

qua vườn Luxembourg sương rơi che phố mờ

buồn này ai có mua?

Từ chia ly, nghe rơi bao lá vàng,

ngập giòng nước sông Seine,

mưa rơi trên phím đàn chừng nào cho tôi quên.

Hôm em ra đi mùa thu

mùa thu không trở lại

lá úa khóc người đi

sương mờ dâng lên mi

em ra đi mùa thu

mùa lá rơi ngập ngừng

đếm lá úa sầu lên

bao giờ cho tôi quên.”

(Phạm Trọng Cầu – bđd)

Vâng. Đúng là như vậy. Như vậy, tức: ngày hôm nay, nếu em hoặc anh có “ra đi mùa thu” đi nữa, thì tôi đây vẫn vui tươi chứ không sầu buồn, dù hay quên.

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng đã ra đi

Và còn đi, đi mãi

Vào nhiều mùa thu hơn nữa.

“Em đừng khóc làm gì”,

Tin Mừng (Mc 4: 35-41)

Hôm ấy, khi chiều đến, Đức Giêsu nói với các môn đệ:

Chúng ta sang bờ bên kia đi!

Bỏ đám đông ở lại, các ông chở Người đi, vì Người đang ở sẵn trên thuyền; có những thuyền khác cùng theo Người. Và một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước. Trong khi đó, Đức Giê-su đang ở đàng lái, dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ. Các môn đệ đánh thức Người dậy và nói:

“Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?”

Người thức dậy, ngăm đe gió, và truyền cho biển:

“Im đi! Câm đi!”

Gió liền tắt, và biển lặng như tờ. Rồi Người bảo các ông:

“Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?

Các ông hoảng sợ và nói với nhau:

“Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?”

“Em đừng khóc làm gì”,

Cho nước mắt vu vơ

Dù đôi tay buông xuống

Chúng mình vẫn tin tưởng,

Chúng mình vẫn say sưa…”

(dẫn từ thơ Nguyên Sa)

Mai Tá lược dịch

Tin tưởng hay say sưa, vẫn là những tình-tự của con người nơi thế-giới nhà Đạo rất say sưa, nhiều tin tưởng. Hệt như truyện kể ở trình-thuật rất hôm nay.

Trình-thuật hôm nay, Đức Giêsu đã chứng-tỏ cho các vị gần cận, đi theo Ngài để thực-hiện một sứ-vụ rất tin-tưởng, đầy say sưa. Tin, đến độ không còn hãi sợ bất cứ thứ gì, kể cả chết đuối chết chìm giữa cơn phong-ba/bão táp của đời người.

Những tháng ngày đã qua, ai trong chúng ta hầu như cũng đã hơn một lần tiếp xúc với đủ mọi truyền thông đại chúng, rồi sau đó có tỏ-bày một tin-tưởng vào chuyện truyền-thông/vi-tính từng loan-báo. Truyền-thông hôm nay có đủ thứ để hấp dẫn người nghe, người đọc kéo về mà tin tưởng bằng đủ mọi cách. Có những cách, như: hội thoại ba chiều, điện đàm với truyền hình còn gọi là “face time”, hoặc “điện thư phát tiếng”, như Viber.

Đây là thành phần không thể thiếu trong cuộc sống đương đại. Cần thiết đến độ: nhiều lúc, ta không thể bỏ qua những tình huống vật vã khi phải giao tiếp với người đang ở bên kia đường giây điện thọai; cứ phải hét to những điều đã nói đi nói lại trong suốt cuộc điện đàm. Cuộc sống hiện thời là thế đó.

Cứ tưởng tượng, vào một ngày đẹp trời, Đức Chúa cài đặt  “điện thư phát tiếng” vào hệ thống giao lưu chốn Thiên đường, không hiểu mọi việc sẽ ra sao? Chẳng hạn như, ta đang tập trung cầu nguyện mà lại nghe có tiếng từ trời cao: “Cảm ơn con đã gọi, Ta là Thân Phụ Đức Chúa đây. Con hãy nhấn một trong các nút số sau đây: -Muốn xin điều gì, con hãy nhấn số “1”. -Muốn nói đôi lời cảm tạ, con nhấn số 2. –Nếu chỉ cần tả oán, than phiền một ai, con nhấn số “3”. -Về các chuyện khác, hãy nhấn số “4” cho Cha. Đơn giản, chỉ có thế”.

Có trường hợp, Đức Chúa hành xử theo lối xã giao thông thường, như: “Xin lỗi con, Cha đang bận giải quyết đôi chuyện cho người anh em của con. Tuy nhiên, lời cầu của con rất cần đối với Cha, nên con hãy chờ đấy, Cha sẽ trở lại nói chuyện với con trong vài phút nữa,”… thì ta sẽ hành xử ra sao?

Trường hợp tệ hơn, đang điện đàm mà lại thấy có tiếng nhắn, đối đáp như thế này: “Vi tính của Cha cho biết: con đã thầm cầu nguyện như thế đến 3 lần trong suốt ngày hôm nay. Gác máy lên đi con và trở lại gặp Cha ngày mai nhé” … hoặc “Văn phòng của Cha hôm nay đóng cửa vì là ngày Sabát, con hãy trở lại với Cha vào lúc  “Không” giờ từ Thứ Hai tuần tới, nhé. Hoặc giả, có chuyện gì khẩn cấp cần giải quyết ngay, con cứ đến gặp Linh mục chánh xứ, thầy Imam hoặc các vị Thượng tế trong vùng, cũng được…” Trường hợp nào ở đây cũng đều là gọi-đáp. Khi xưa, xảy ra trong giấc mộng. Hôm nay, qua kỹ thuật viễn thông, vi tính.

Bài đọc I và Phúc âm hôm nay cũng đều nói đến gọi và đáp, tương tự như chuyện ở trên. Nhưng được viết theo cung cách giản đơn, thích hợp với hiểu biết của người đương thời lúc ấy. Bài đọc I cho thấy: nhiều người vẫn nghĩ Lời Chúa gọi-mời nói chuyện với chúng ta cũng cùng một cách thức tương tự. Lúc nãy là giọng oang oang, lanh lảnh nhắn ta làm điều giản đơn, nhanh gọn.

Thánh Yoan ghi lại trình thuật theo phong thái giản đơn, tế nhị. Đọc bài ngài viết, hẳn ta đã rõ là các môn đệ tiên khởi cũng được gọi-đáp hỗ tương, hai chiều. Hai bên đối đáp không tỏ dấu bồn chồn, hối hả. Như thánh An-rê tông đồ chẳng hạn. Sở dĩ thánh nhân thuận theo chân Yêsu Đức Chúa là do nghe được lời khuyên của thánh Gioan Tẩy giả. Còn, Simôn Phêrô đến với Đức Kitô lại ngang qua lời truyền miệng của người anh em ruột thịt. Tức, nghe được đề nghị của An-rê, em mình.

Nói chung, điều mà tác giả các bài đọc muốn gửi đến người nghe hôm nay, chính là: Đức Chúa mời gọi tất cả chúng ta hãy đến mà sống và phục vụ Chúa bằng nhiều kiểu cách và phương tiện. Có thể, vì muốn nắm bắt điều gì xác thực nên chúng ta vẫn mải mê, hy vọng. Vẫn cứ chờ đợi đường lối, chỉ đạo của bậc trên. Những chỉ đạo mang nặng sắc thái bi ai, kịch tính về thánh ý của Đức Chúa. Có người đạt sở nguyện. Người khác thảy đều như Anrê hoặc Simôn Phêrô. Nghĩa là, phần đông đều cảm nhận lời Chúa bằng nhiều cách nối kết hoặc ứng đáp khác thường.

Tựu trung, chúng ta thường hay chiều theo sở thích, ưa những chuyện ly kỳ, khúc mắc hơn là giản đơn. Nhưng, hãy nên để thời thời gian phụ giúp, kinh nghiệm cuộc đời sẽ tạo đường, chỉ lối dẫn đưa ta đến với phương cách chọn lựa mang nhiều hy vọng, tin tưởng và dễ thực hiện nhất.

Phúc âm hôm nay đặc biệt đưa ra một khía cạnh thật đáng khích lệ. Đó là: trường hợp của thánh An-rê tông đồ. Thánh nhân nhất quyết tuân theo những gì Yêsu Đức Chúa mời gọi. Thánh nhân đã sống trung thành với quyết định của mình. Ông nhận ra rằng đồng hành với Đức Yêsu là hành trình trải dài theo năm tháng. Để rồi chung cuộc, nhờ biết đáp ứng một cách tích cực, nên thánh nhân đã trở thành vị tông đồ rất chăm; chuyên lãnh vai trò tuyển mộ đồ đệ của Đức Chúa một cách kiên trì, bền bỉ.

Ngày nay, lời kêu gọi đối đáp mà Đức Chúa gửi đến chúng ta mang dáng dấp hơi khác thường. Thay vì mải mê tìm kiếm nơi chốn Đức Chúa ẩn mình trú ngụ, ta lại có nhiều cơ may hơn để cảm nghiệm cuộc sống “rất riêng“ của Ngài. Cảm nghiệm được như thế, tức là ta đã mời Ngài thiết lập cơ ngơi đến thường trú với ta trong cuộc sống miên trường. Dù cho, sự thể có biến đổi đến thế nào đi nữa, rồi ra mọi việc sẽ diễn tiến theo cùng kiểu cách; nghĩa là, cũng có gọi-đáp, không khác khi trước là bao.

Tựa như Samuel, An-rê và Simôn Phêrô lúc xưa, chắc chắn lời ứng đáp của ta với điều Chúa kêu mời phải dẫn đưa ta đến được mục tiêu Ngài muốn. Thái độ của ta chắc cũng không khác gì các đồ đệ của Đức Chúa hôm trước. Thực tế cuộc đời cho thấy: tất cả các lời mời gọi và ứng đáp đều kéo theo cái giá của nó. Và, cho dù với giá nào đi nữa, chúng ta cũng đều phải trả. Có thể chỉ là việc cỏn con, đột xuất. Cũng có thể bằng một giá phải trả, rất đắt.

Ứng đáp lời mời gọi của Chúa qua Đức Kitô không phải tất cả mọi người, dù thờ ơ hay sốt sắng, ai cũng có thể thực hiện được. Không phải ai cũng cậy sức mình, những tưởng sẽ hoàn thành việc ứng đáp lời mời của Đức Chúa trong nháy mắt.

Ứng đáp là việc nhiều khi không đơn giản. Nó đòi hỏi nhiều quyết tâm nơi người đáp ứng. Quyết yêu kẻ thù của mình; quyết lo cho nền hòa bình chân chính; quyết thứ tha những ai sai phạm điều gì với chính mình, gia đình mình. Đặc biệt hơn, quyết biến cải thế giới này thành nơi tốt đẹp cho mọi người cùng sống. Sống trong công bằng. Sống hạnh phúc.

Trong cuộc sống thường nhật, muốn ứng đáp cho phải Đạo, thường vẫn buộc ta phải trả một giá khá đắt. Đắt vì quanh ta có nhiều thứ mời mọc hấp dẫn hơn, ở nơi nào đó… khiến ta cứ mải mê săn tìm. Ứng đáp lời mời gọi của Đức Chúa là việc cần làm. Ta chỉ việc nối đường giây rất gọn với cội nguồn của sự sống, rất hấp dẫn. Bởi,  nguồn cội này sẽ đem cho ta nhiều ý nghĩa lớn lao hơn. Có đáp ứng với lời mời gọi từ nguồn sống như thế, sẽ nối kết chúng ta vào với thế giới hôm nay. Nối kết với vương quốc của Đức Chúa trong mai ngày.

Suy cho cùng, cuộc sống bao giờ cũng dẫy đầy những cuốn hút, mời mọc. Vấn đề là: ta có đủ tỉnh trí để nhận ra được lời mời gọi nào là chính đáng, lời nào viển vông. Khi đã nhận ra lời mời chính đáng rồi, việc còn lại phải là: ta có đủ tỉnh táo để đáp ứng cho phải phép không? Hoặc vẫn cứ lơn tơn như người tiền sử, chẳng bận tâm gì đến thông số, điện toán. Chẳng thiết tha đến việc bấm số trả lời khi Đức Chúa vẫn gửi “điện thư phát tiếng” cho mỗi người và mọi người. Trong từng cộng đoàn lớn nhỏ.

Suy thế rồi, ta ngâm lại những lời thơ còn-đó-nỗi-buồn, rằng:

“Dù quanh chúng mình chỉ là những hàng rào đố kỵ

Giữa một đêm không trăng,

Giữa một lòng chiều không đáy,

Em đừng khóc làm gì

Cho nước mắt vu vơ…”

(Nguyên Sa – Bài Thơ Ngắn)

Thơ có ngắn, cũng nói lên được những điều mà truyền-thông/vi-tính lâu nay vẫn muốn nói bằng đủ mọi phương-tiện. Phương-tiện ấy có là điện-thư phát tiếng hoặc điện đàm có truyền hình, nhất nhất đều bảo nhau:

“Dù đôi tay buông xuống

Chúng mình vẫn tin tưởng,

Chúng mình vẫn say sưa

Chúng mình vẫn nhìn vào mắt nhau

Để mở chân trời rất rộng…”

Chân trời ấy, hôm nay, lại là niềm tin không vu vơ. Không hàng rào đố kỵ. Nhưng vẫn tin nhau như từng tin vào Đức Chúa, rất Giêsu là Thầy mình.

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá lược dịch

Thấy gì từ đề xuất 3 cải cách đối với Đảng

Thấy gì từ đề xuất 3 cải cách đối với Đảng

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-06-12

Thấy gì từ đề xuất 3 cải cách đối với Đảng Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg4466727.jpg

Hình minh họa chụp năm 2011 tại Hà Nội.

AFP

Your browser does not support the audio element.

Nhóm chuyên gia của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại Saigon vừa có đề xuất khá đặc biệt gọi là “liên minh cải cách và phát triển cho Việt Nam gồm: Đảng, cơ quan dân cử, tư pháp, hành chính công vụ, kinh tế tư nhân.” Sự cải cách tập hợp này được xem như là điều kiện cần thiết để nền kinh tế Việt Nam có thể trở lại mức phát triển cao 7,5%-8%  trong mười năm tới.

“Không chịu uống thuốc đủ liều”

Theo Thời báo Kinh tế Saigon Online, tại cuộc tọa đàm về “Cải cách thể chế: từ tầm nhìn tới thực tiễn” do Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tổ chức ở Saigon sáng 10/6/2015, PGSTS Phạm Duy Nghĩa một thành viên của Chương trình đã nhận định rằng, thể chế của Việt Nam hiện nay không theo kịp yêu cầu cuộc sống. Học giả này ví von  nền kinh tế Việt Nam hiện nay như một người bệnh đã được định bệnh, kê toa cho thuốc nhưng lại không chịu uống đủ liều.

” Vấn đề ở Việt Nam là cách làm và hình thức làm, bước đi…cho nên những phản biện thẳng thắn đặt tất cả vấn đề ra thì người ta cho rằng nên làm trong một phạm vi hẹp, vừa phải vì Việt Nam chưa quen việc có môi trường để thực hiện dân chủ rộng rãi như ở các nước khác.
-LS Trần Quốc Thuận”

Đặt ra liên minh cải cách để hình thành mô hình phát triển mới, nhóm nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright đặt nặng tư duy cải cách cần thiết đối với Đảng Cộng sản. Vẫn theo SaigonTimes Online, một thành viên của nhóm, TS Huỳnh Thế Du đề xuất cải cách ba điểm mà Đảng trong vai trò lãnh đạo và dẫn đắt cần tập trung. Thứ nhất để định hướng chính sách quyết định đến sự phát triển của Việt Nam, để có chính sách tốt hợp lòng dân thì thảo luận chính sách phải công khai và để đạt mục đích này Đảng phải chấp nhận một xã hội cởi mở, chấp nhận vai trò phản biện của trí thức mạnh mẽ hơn.

Thứ hai là Đảng cần thúc đẩy cơ chế cạnh tranh, tìm ra nhân lực lãnh đạo có thực tài. Như vậy phải có một quá trình lựa chọn dân chủ, cởi mở, đựa trên nền tảng cạnh tranh.

Thứ ba là cần luật hóa vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng. Đảng cần gương mẫu là người đầu tiên tuân thủ chế độ pháp quyền, thượng tôn pháp luật.

Những đề xuất cải cách được cho là thẳng thắn đối với Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ có tính khả thi hay không trong cơ chế một đảng độc quyền ở Việt Nam. Chúng tôi sẽ lấy ý kiến chuyên gia theo từng điểm một.   Đối với điểm thứ nhất, Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội từ Sài Gòn nhận xét:

“Câu chuyện kêu gọi khuyến khích phản biện và giám sát thì Bộ Chính trị đã có có hai Nghị quyết 217, 218 để mà đặt vấn đề và tôi cho những việc đó cũng phù hợp với Hiến pháp 2013 là phát huy dân chủ, phát huy nhân quyền, tôi cho rằng điều đó không có gì trái. Nhưng vấn đề ở Việt Nam là cách làm và hình thức làm, bước đi…cho nên những phản biện thẳng thắn đặt tất cả vấn đề ra thì người ta cho rằng nên làm trong một phạm vi hẹp, vừa phải vì Việt Nam chưa quen việc có môi trường để thực hiện dân chủ rộng rãi như ở các nước khác.”

Đi đường vòng về tự do ngôn luận?

024_138495-250.jpg

Một bức tranh cổ động trên đường phố Sài Gòn, ảnh minh họa chụp trước đây. AFP PHOTO.

Việc kêu gọi Đảng chấp nhận một xã hội cởi mở, chấp nhận vai trò phản biện của trí thức mạnh mẽ hơn có thể hiểu là một cách nói khác đi đường vòng về tự do ngôn luận, tự do lập hội. TS Phạm Chí Dũng, nhà phản biện độc lập từ TP.HCM đưa ra nhận định:

“Vấn đề là cần phải có đề xuất cụ thể hơn nữa, chứ bây giờ chỉ đưa ra vấn đề xã hội cởi mở thì Đảng trước giờ vẫn nói xã hội cởi mở, vẫn có chủ trương phản biện, dân chủ từ trên xuống từ dưới lên và mới đây thì ông Trọng lại đưa ra lời kêu gọi trí thức đóng góp phản biện và ông Nguyễn Tấn Dũng cũng có Quyết định 501 xây dựng diễn đàn trí thức phản biện chuyên nghiệp giao cho Liên hiệp Hội Khoa học Kỹ thuật thí điểm xây dựng. Như vậy nếu như nhóm Chương trình Fulbright hay tổ chức nào khác không có đề xuất cụ thể hơn mà chỉ nói chung chung như vậy thì sẽ khó có thể thuyết phục được ai, đặc biệt là khó thuyết phục được đối tượng đang đề cập là Đảng và Nhà nước.”

Điểm thứ hai trong đề xuất cải cách của Chương trình Fulbright liên quan tới việc gọi là cơ chế cạnh tranh tìm nhà lãnh đạo thực tài, thông qua quá trình lựa chọn dân chủ. Luật sư Trần Quốc Thuận nhận xét:

“Câu chuyện cạnh tranh thi để giữ các chức vụ thì hiện nay có Bộ Giao thông Vận tải thực hiện rất mạnh mẽ. Nhưng cũng chỉ là cấp dưới Bộ còn thực hiện cạnh tranh rộng rãi thì cũng có đặt ra cho bầu cử ở cấp cơ sở phường xã chứ chưa đặt ra ở cấp cao hơn. Cho nên việc đặt ra là có bầu cử tranh cử tự do hay không thì có lẽ Đại hội Đảng 12 này chưa đặt ra được,”

Cùng một câu hỏi được nêu ra về tính khả thi của đề xuất: Đảng thúc đẩy cơ chế cạnh tranh, bầu cử dân chủ để lựa chọn nhân sự lãnh đạo. Ghi nhận một vài thí điểm thi tuyển ở cấp Vụ Cục Bộ GTVT hoặc ở cấp địa phương như Đà Nẵng, TS Phạm Chí Dũng nhấn mạnh:

“Vấn đề cạnh tranh vẫn là yếu huyệt rất lớn trong Đảng, trong nhà nước và chính phủ từ cấp trung ương tới cấp địa phương. Thành thử tôi nghĩ rằng vấn đề cạnh tranh đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là chỉ ở cấp nhỏ cấp địa phương.
-TS Phạm Chí Dũng”

“Vấn đề cạnh tranh vẫn là yếu huyệt rất lớn trong Đảng, trong nhà nước và chính phủ từ cấp trung ương tới cấp địa phương. Thành thử tôi nghĩ rằng vấn đề cạnh tranh đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là chỉ ở cấp nhỏ cấp địa phương.  Bởi vì muốn cạnh tranh được phải có con người cạnh tranh, muốn xây dựng được con người cạnh tranh phải xây dựng được cơ chế tổ chức cạnh tranh. Như đã thấy ở trong Đảng, trong nhà nước, trong bộ máy chính quyền gần như chưa có yếu tố cạnh tranh vẫn chỉ chủ yếu là cán bộ con ông cháu cha, hay mua quan bán chức là nhiều. Chưa có yếu tố thực tài nhân tài, chưa trải thảm đỏ chưa thu hút người tài mà tất cả chỉ là lời nói miệng mị dân mà thôi.”

Điểm thứ ba trong đề xuất cải cách ba điểm đối với Đảng Cộng sản, nhóm nghiên cứu Chương trình Fulbright TP. HCM cho rằng cần luật hóa vai trò và hoạt động của Đảng. Vì hơn ai hết Đảng cần gương mẫu là người đầu tiên tuân thủ chế độ pháp quyền, thượng tôn pháp luật. Đối với điểm này, LS Trần Quốc Thuận nhận xét:

“Câu đó người ta đã đặt ra và bàn nhiều trong khi làm Hiến pháp 2013 và Điều 4 vẫn tiếp tục ghi vai trò lãnh đạo của Đảng nhưng trong đó cũng ghi là Đảng chịu trách nhiệm về quyết định của mình, chịu sự giám sát của nhân dân. Điều này là tốt, cho nên Luật Mặt trận Tổ quốc vừa qua có người cũng đặt vấn đề này. Tuy nhiên Luật Mặt trận Tổ quốc cũng chưa đi thẳng vào là có nên giám sát Đảng hay không. Trên nguyên tắc Đảng là toàn quyền lãnh đạo và có giám sát triệt để các cơ quan chấp hành của Đảng. Ở Việt Nam cũng được hiểu như thế là gián tiếp giám sát Đảng, nhưng trực tiếp giám sát cá nhân Đảng Cộng sản giao cho xã hội, cho đoàn thể khác thì vấn đề đó Việt Nam chưa đặt ra.”

Cùng về vấn đề luật hóa vai trò và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nội dung ba điểm cải cách của nhóm nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright TP.HCM. Tiến Sĩ Phạm Chí Dũng nhận định:

“Vấn đề này không mới, người ta thường nói là có một tổ chức hoạt động trái pháp luật từ trước tới giờ, ai cũng thấy nhưng không ai dám nói, đó là tổ chức Đảng vì không có một luật nào cho Đảng cả. Tôi nghĩ đây là đề nghị đáng chú nhất của nhóm Chương trình Fulbright mặc dù đã có nhiều người nêu rồi. Đảng cần được luật hóa và đưa vào trong Hiến pháp và xây dựng nguyên một bộ luật về những điều kiện hoạt động riêng cho đảng cầm quyền. Tôi muốn nói là luật đó không chỉ áp dụng cho đảng cầm quyền hiện nay mà còn áp dụng cho những đảng cầm quyền cho những thế hệ sau này trong những năm sắp tới trong điều kiện có nhiều đảng hơn một đảng hiện nay.”

Theo tường thuật của SaigonTimes Online, diễn giả TS Huỳnh Thế Du thuộc nhóm nghiên cứu Chương trình giảng dậy kinh tế Fulbright TPHCM còn làm rõ hơn những góp ý cải cách với Đảng. Theo đó song song với những vấn đề mà Đảng cần tập trung cải cách vì là người định hướng chính sách quyết định đến sự phát triển của Việt Nam, Đảng cần tập trung một cách chủ động vào năm vấn đề mà ông gọi là năm cấu phần quan trọng của việc hình thành một liên minh cải cách và phát triển đúng nghĩa.

Đó là chuyên nghiệp hóa hoạt động của cơ quan dân cử và dân biểu; tạo dựng một nền hành chính công vụ chuyên nghiệp đủ năng lực quản lý và điều hành quốc gia; tạo dựng hệ thống tư pháp đủ quyền lực để bảo vệ công lý; xem kinh tế tư nhân trong nước như một đối tác liên minh của chính quyền trong việc tạo ra một Việt Nam thịnh vượng; thừa nhận sự tồn tại và vai trò tất yếu của các tổ chức xã hội; chấp nhận quyền giám sát nhà nước và thị trường của các các tầng lớp trong xã hội và giới truyền thông.

Vẫn theo tường thuật của Saigon Times Online, các chuyên gia khách mời tham dự Tọa đàm do Chương trình giảng dậy kinh tế Fulbright tổ chức trong đó có TS Trần Đình Thiên thuộc Viện Kinh tế Việt nam, LS Trần Hữu Huỳnh thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đều có chung nhận định là bộ máy hành pháp của Việt Nam hiện nay quá mạnh, trong khi tiếng nói của lập pháp và tư pháp quá yếu ớt nên cần phải có cơ chế mới để cân bằng.

Người đọc báo cảm nhận là đề xuất ba cải cách dành cho Đảng, cũng như thực hiện liên minh cải cách với năm cấu phần, với mục đích tối thượng để Việt nam chuyển đổi sang mô hình phát triển mới sẽ khó có khả năng thực hiện toàn phần, hay nói cách khác đó là một đề xuất ước mơ của giới học thuật. Các chuyên gia mà chúng tôi trao đổi nói rằng, cải cách như thế chẳng khác nào đổi tên chế độ chính trị hiện tại của Việt Nam, thực hiện tam quyền phân lập, bầu cử tự do dân chủ và người dân có đầy đủ dân quyền cũng như nhân quyền.

Ba kịch bản trên Biển Đông

Ba kịch bản trên Biển Đông

Chiến đấu cơ F/A-18 Hornet của Hải quân Mỹ cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz trong một cuộc tuần tra ở Biển Đông.

Chiến đấu cơ F/A-18 Hornet của Hải quân Mỹ cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz trong một cuộc tuần tra ở Biển Đông.

Nguyễn Hưng Quốc

Mấy tuần vừa qua, Mỹ liên tục lên án gay gắt việc Trung Quốc bồi đắp và xây dựng các đảo nhân tạo ở Trường Sa và kêu gọi Trung Quốc ngừng ngay tức khắc những hành động mà họ cho là phi pháp, khiêu khích và nguy hiểm ấy. Mặc kệ, Trung Quốc vẫn tiếp tục xây dựng, thậm chí còn đặt cả mấy khẩu pháo trên những hòn đảo nhân tạo ấy. Chuyện gì sẽ xảy ra trên Biển Đông?

Theo tôi, sẽ có một trong ba kịch bản sau đây:

Thứ nhất, Biển Đông sẽ châm ngòi cho cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ.

Điều này, thật ra, đã có nhiều người nói đến từ lâu. Một số học giả đưa ra các lý do khiến Trung Quốc sẵn sàng mở một cuộc chiến tranh với Mỹ, trong đó, có ba lý do chính: Một, là một nước có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, Trung Quốc cần khẳng định vị thế siêu cường của mình, ít nhất là trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, và sự khẳng định ấy chỉ có thể thực hiện được qua chiến tranh. Hai, sự phát triển kinh tế của Trung Quốc hiện nay đã bắt đầu khựng lại, sự phân hoá giàu nghèo càng ngày càng trở nên to lớn, sự bất mãn của dân chúng càng ngày càng sâu sắc, xu hướng đòi hỏi dân chủ càng ngày càng mạnh mẽ, Trung Quốc cần một cuộc chiến tranh để nâng cao chủ nghĩa quốc gia, thống nhất lòng dân và dập tắt mọi ngọn lửa phản kháng, từ đó, duy trì sự thống trị của đảng Cộng sản. Ba, để tiếp tục phát triển, Trung Quốc rất cần nhiên liệu mà Biển Đông, theo họ, là nguồn chứa dầu khí thuộc loại lớn nhất thế giới, do đó, họ xem việc chiếm cứ Biển Đông là một “lợi ích cốt lõi”, không thể nhân nhượng, ngay cả khi họ phải trực tiếp đối đầu với Mỹ.

Về phía Mỹ, có nhiều lý do để họ ngại một cuộc đối đầu quân sự như vậy. Chiến tranh ở Afghanistan và Iraq chưa chấm dứt. Tình hình chính sự ở Trung Đông vẫn còn ngổn ngang. Dân chúng Mỹ đã bắt đầu mệt mỏi với việc can thiệp ở nước ngoài. Tổng thống Barack Obama chỉ còn một năm rưỡi nữa là hết nhiệm kỳ, chắc chắn ông không muốn tham dự vào một cuộc phiêu lưu mới đầy bất trắc. Tổng thống kế tiếp cũng chắc không muốn mở đầu một nhiệm kỳ bằng chiến tranh. Đó là chưa kể kinh tế Mỹ, một mặt, vẫn chưa hồi phục hẳn; mặt khác, có quan hệ chặt chẽ với kinh tế Trung Quốc. Chỉ có hai lý do có thể khiến Mỹ vượt qua tất cả những sự khó khăn và trở ngại ấy: Một, Trung Quốc quyết định khống chế hoàn toàn con đường hàng hải đi ngang qua Biển Đông; và hai, Trung Quốc nổ súng trước vào máy bay hay chiến hạm của Mỹ.

Chuyện Trung Quốc nổ súng trước không phải không có khả năng xảy ra. Nó có thể xảy ra một cách cố ý với một sự tính toán rõ rệt từ nhà cầm quyền Trung Quốc nhưng cũng có thể xảy ra một cách ngẫu nhiên và bất ngờ, hay nói theo giáo sư Michael Auslin, như “một tai nạn” khi máy bay hoặc chiến hạm hai bên đụng vào nhau gây ra thương vong, từ đó, dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ từ cả hai phía và hậu quả là chiến tranh sẽ bùng nổ.

Một cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc chắc chắn sẽ vô cùng khốc liệt và rất dễ dẫn đến nguy cơ lan rộng thành chiến tranh thế giới, và đặc biệt, chiến tranh hạt nhân. Viễn cảnh ấy chắc chắn sẽ làm chột dạ mọi người. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn có thể khẳng định vị thế siêu cường trong khu vực của mình bằng một cuộc chiến tranh khác, ví dụ, chiến tranh với một nước đang tranh chấp nào đó. Đó là những nước nào? Có ba nước tranh chấp biển và đảo quyết liệt nhất với Trung Quốc: Nhật Bản, Philippines và Việt Nam. Trong ba nước ấy, mạnh nhất là Nhật Bản. Về quân sự, trừ vũ khí hạt nhân, có khi Nhật Bản còn mạnh hơn cả Trung Quốc. Hơn nữa, sau Nhật Bản là Mỹ. Có lẽ Trung Quốc sẽ không phiêu lưu vào cái nơi nguy hiểm và không nắm chắc phần thắng ấy. Nước yếu nhất là Philippines. Nhưng Philippines lại có liên minh về quốc phòng với Mỹ. Nếu Trung Quốc muốn tránh đương đầu với Mỹ, họ cũng sẽ không gây chiến với Philippines. Chỉ còn lại Việt Nam là vừa yếu vừa thân cô thế cô, dễ đánh nhất. Bởi vậy, chúng ta có kịch bản thứ hai: Chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Trong bài “Why A War Between China And Vietnam Is Inevitable” đăng trên tờ Business Insider vào tháng 7 năm 2011, Dee Woo cho chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam là chuyện không thể tránh khỏi. Ông cho cuộc chiến tranh ấy phục vụ lợi ích của chính quyền ở cả hai nước: Trung Quốc thì muốn chiếm trọn Trường Sa và, từ đó, Biển Đông, còn Việt Nam thì muốn làm lệch hướng sự quan tâm của dân chúng để không ai còn lên án những thất bại thảm hại về phương diện kinh tế và xã hội của nhà cầm quyền. Nhưng Dee Woo lại vẽ nên một viễn cảnh thê thảm của Việt Nam: sau khi tấn công cả trên biển lẫn trên đất liền, Trung Quốc sẽ phá huỷ toàn bộ các cơ sở hạ tầng của Việt Nam rồi rút về, để lại ở Việt Nam một cảnh tan hoang và thậm chí, nội chiến triền miên cả nửa thế kỷ sau cũng chưa chắc đã hồi phục được.

Viễn cảnh ấy, tuy bi quan, nhưng không có gì quá đáng. Tương quan lực lượng của Việt Nam và Trung Quốc hiện nay khác xa với thời chiến tranh biên giới vào năm 1979. Trung Quốc không những giàu hơn về kinh tế mà còn có kho vũ khí, khi tài cũng như các phương tiện phục vụ chiến tranh dồi dào và tối tân hơn Việt Nam cả mấy chục lần.  Việt Nam có đổ thêm bao nhiêu tiền để mua sắm vũ khí thì cũng không thể nào bắt kịp được Trung Quốc. Hơn nữa, cần lưu ý: Đánh nhau trên bộ người ta còn có thể sử dụng chiến thuật du kích và huy động chiến tranh nhân dân nhưng trên mặt biển, yếu tố quyết định nhất vẫn là vũ khí và kỹ thuật. Thua vũ khí và thua kỹ thuật là thua hẳn cuộc chiến. Chắc chắn chính quyền Việt Nam biết rõ điều đó nên họ vẫn tiếp tục chịu đựng và nhân nhượng. Nếu sách lược này kéo dài mãi, chúng ta sẽ có kịch bản thứ ba: Trung Quốc bất chiến tự nhiên thành.

Nên nhớ một trong những sách lược chính của Trung Quốc ở Biển Đông là sách lược tằm ăn dâu (salami slicing). Họ cứ lấn dần dần. Lấn đến cỡ nào Việt Nam cũng nhịn, đến một lúc nào đó, tất cả những gì họ muốn đều biến thành hiện thực. Họ tuyên bố về đường lưỡi bò bao trùm lên 80% diện tích Biển Đông của Việt Nam: Việt Nam nhịn. Họ đem giàn khoan đến thềm lục địa Việt Nam: Việt Nam nhịn. Họ tái tạo bãi đá ngầm thành đảo nhân tạo: Việt Nam nhịn. Một lúc nào đó, họ tuyên bố thành lập vùng nhận dạng hàng không: Việt Nam lại nhịn. Thậm chí, họ có thể chiếm nốt các hòn đảo khác ở Trường Sa: Việt Nam cũng vẫn tiếp tục nhịn. Đến lúc đó, thực tình họ chả cần đánh nhau với Việt Nam làm gì: Họ đã có tất cả những gì họ muốn. Và đến lúc ấy, mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Quốc không còn nữa. Chỉ còn mâu thuẫn trong nội bộ Việt Nam: giữa nhân dân và một chính quyền bất lực, nhu nhược và đớn hèn.