Chiến Hữu

Chiến Hữu

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

“Tôi nhân danh sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà xin hứa sẽ trở lại với đồng bào.”

Trung úy Đỗ Lệnh Dũng

Tưởng gì chớ sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà, cấp bực làng nhàng, như ông Dũng, tôi quen cả đống.  Bạn cùng khoá độ vài trăm, cùng đơn vị khoảng vài chục, và cùng trại (tù) chắc … vài ngàn!

Tôi đã nghe vô số thằng kể lại những giờ phút cuối cùng của đơn vị mình, nhưng chưa thấy ai bị lâm vào hoàn cảnh bi đát – và giữa lúc thập tử nhất sinh – vẫn “tuyên bố” một câu (ngon lành) dữ vậy.  Cỡ Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu (vào giờ phút chót) cũng chỉ âm thầm … đào ngũ thôi, chứ chả hề có mở miệng nói năng gì ráo trọi – với bất cứ ai.  Còn Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ thì ồn ào hơn chút đỉnh, cho nó đã miệng, rồi cũng chuồn êm – không lâu – sau đó.

Trường hợp của Đỗ Lệnh Dũng thì hơi khác.  Cách hành xử của ông cũng khác.  Bảnh hơn thấy rõ. Coi:

Đúng nửa đêm 24/11/1974, trái đạn 82 ly đầu tiên rót vào trong vòng đai Đồng Xoài.  Với đại pháo và T-54 yểm trợ, hai trung đoàn của Sư Đoàn 7 của Bắc Quân – sử dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung –  đã chiếm được chi khu này, vào rạng sáng 7/12/1974.

Buổi chiều cùng ngày, trong khi đang cùng những quân nhân còn sống sót tìm cách thoát khỏi vòng vây, trung úy Đỗ Lệnh Dũng (bỗng) thấy một đoàn người – toàn là đàn bà và trẻ con nhếch nhác, với tay nải hòm xiểng, lôi thôi, lếch thếch – nằng nặc đòi đi theo toán quân của ông, để trốn ra khỏi vùng đất (sắp) được … hoàn toàn giải phóng.

Tháng 6, 1965: Đồng Xoài, Vietnam. Nguồn: AP/Horst Faas

Trước nguy cơ dân chúng có thể bị thiệt mạng oan uổng trong lúc giao tranh, và để thuyết phục mọi người nên ở lại nhà cho được an toàn, trung úy Dũng đã dõng dạc nói với mọi người:

Tôi nhân danh sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà xin hứa sẽ trở lại với đồng bào.”

Và Đỗ Lệnh Dũng đã trở lại thực, chỉ vài ngày sau, như là một … tù binh!  Ngay sau đó, ông bị đấu tố trước Toà Án Nhân Dân Huyện Đôn Luân (một tên gọi khác, mỹ miều hơn, của Đồng Xoài) rồi bị đưa từ Nam ra Bắc –  theo đường mòn Hồ Chí Minh – để … học tập cải tạo. Gần muời năm sau, năm 1982, Đỗ Lệnh Dũng lại được chuyển trại từ Bắc vào Nam (chắc) cho dễ thăm nuôi.

Cuộc đời rõ ràng (và hoàn toàn) không may của trung úy Đỗ Lệnh Dũng đã được ghi lại bởi nhà văn Lê Thiệp bằng một cuốn sách, dầy đến bốn trăm trang, lấy tên của chính ông làm tựa. Tác phẩm này được nhà xuất bản Tiếng Quê Hương viết lời giới thiệu như sau:

“Đỗ Lệnh Dũng không chỉ là câu chuyện về chiến tranh, dù nhân vật chính là một chiến binh mất tích giữa chiến khu D sau một trận đánh dữ dội. Đây là câu chuyện về những oan khiên khắc nghiệt mà người dân Việt Nam phải trải gần trọn thế kỷ qua cho đến ngày nay.”

“Nhân vật chính giã từ cha mẹ khi tròn 18 tuổi và lúc được gặp lại cha mẹ thì đã gần tới tuổi ngũ tuần.  Thời gian xa cách là lửa đạn, là những ngày lê gót trên con đường mòn vượt rừng núi Trường Sơn từ Nam ra Bắc, là những năm tháng đoạ đầy tại những trại tù …”

“Dù chỉ là một góc cạnh giữa muôn ngàn góc cạnh của một thời bão táp, câu chuyện vẫn là bằng cớ vô giá về thảm trạng con người bị tước đoạt trọn vẹn tuổi trẻ, tình yêu gia đình và mọi điều kiện an bình của cuộc sống.”

Cuốn Đỗ Lệnh Dũng đã được ra mắt tại thành phố San Jose, California.  Hôm đó, tôi được hân hạnh nhìn thấy Trung Úy Dũng và Thiếu Tá Đặng Vũ Khoái – chỉ huy trưởng Chi Khu Đôn Luân – người mà không mấy ai tin là còn có thể sống sót, sau khi đơn vị này bị tràn ngập bởi địch quân.

Thiếu tá Khoái cho biết nhờ tác phẩm này mà trong thời gian qua, một số những người lính năm xưa – đang tản mát khắp năm Châu – đã tìm lại được nhau.  Và ông nghẹn ngào khi giới thiệu với mọi người, vài quân nhân khác của đơn vị hiện (cũng) đang có mặt trong buổi ra mắt sách.

Ảnh: NXB Tiếng Quê Hương

Tôi ngồi ở cuối hội trường, không nhìn được rõ nét mặt của những nhân vật này nhưng có thể đoán được rằng mắt họ đều ngấn lệ.  Tôi cũng là một cựu chiến binh, cũng có cái may mắn lớn lao còn sống sót sau cuộc chiến vừa qua, và thoát thân được đến một nơi an bình nên cảm thông (thấm thía) tình cảm xúc động này.

Trong giây phút đó chắc chắn mọi người đều cảm thấy an ủi và ấm lòng, trước cảnh trùng phùng bất ngờ (và khó ngờ) đến thế.  Cái cảm giác sung sướng vì sự may mắn (hiếm hoi) của mình đã theo tôi suốt cả buổi chiều hôm ấy, và đã cùng với tôi đi vào giấc ngủ.

Nửa khuya, tôi thức giấc. Tôi vẫn luôn thức giấc vào giấc đó.  Và đó cũng là lúc mà tôi hay lò dò trở về … chốn cũ!  Như một công dân “part – time” của nước Hoa Kỳ, tôi chưa bao giờ sống hết mình và hết tình nơi quê hương mới.  Hơn nửa đời lưu lạc, tôi vẫn cứ sống mộng mị –  theo kiểu “ngày ở / đêm về” – như thế.

Tôi thường trở về Đà Lạt.  Đây là nơi mà tôi đã lớn lên, và đã ướp đẫm tuổi thơ (cũng như tuổi trẻ của mình) bằng rất nhiều đặc sản của núi rừng: nuớc hồ Xuân Hương, sương mù, phấn thông vàng, mùi cỏ khô của Đồi Cù, cùng với hàng trăm loại hương hoa man dại.

Có dạo, tôi hay trở về những đồi trà, đồi bắp, đồi khoai mì – bao quanh trại cải tạo Tân Rai –  ở Blao.  Tôi cùng lũ bạn tù cứ đi trong nắng sớm, trên những con đường mịn màng (thơm nồng mùi đất) sau một đêm mưa.  Cũng có khi tôi về lại Sài Gòn, ghé thăm một người bạn đồng đội, chỉ vừa mới biết sơ, qua một bài báo ngắn – của ký giả Bùi Bảo Trúc:

“Sáng nay mở e-mail ra đọc, tôi nhận được từ một người không hề quen biết, không kèm theo một giòng chữ nào, bức hình một người đàn ông mà tôi cũng chưa gặp bao giờ.  Hình chụp người đàn ông đang ngồi trên giường có trải chiếu, đằng sau là bức tường loang lổ, hoen ố những vết đen mốc.  Ông có một bộ ria, tóc dầy và đen, một mắt to, một mắt nhỏ mà tôi nghĩ là bị hư, chỉ còn một con.  Ông không còn chân tay.  Hai chân bị cụt trên đầu gối.  Và hai tay cụt ở trên khuỷu tay, gần nách.”

“Trong hình có ghi tên ông.  Ông tên là Thìn, Nguyễn Văn Thìn.  Năm sinh được ghi là 1952.  Hàng chữ phía dưới cho biết ông là thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa.  Đơn vị cuối của ông là Trung Đoàn 49, Sư Đoàn 25 Bộ Binh.  Cấp bậc của của ông là Trung Sĩ Nhất.  Ông sinh năm 1952, tuổi Thìn nên tên cũng là Thìn.  Ông không còn chân tay.  Từ 30 năm nay, ông không có chân, cũng không có tay.”

“Ông làm sao sống nổi qua bằng ấy năm không có hai chân mà cũng không có cả hai tay.  Tôi tưởng tượng, không khó khăn lắm, cũng vẫn thấy ra được những khó khăn của ông.  Trong một chế độ thân thiện với ông, ông cũng đã vô cùng bất hạnh vì thiếu con mắt, thiếu hai tay, lại thiếu luôn cả hai chân.  Huống chi trong một khung cảnh không thân thiện nếu không muốn nói là thù nghịch, thì ông còn khổ biết là bao nhiêu nữa.  Tôi không dám tưởng tượng thêm ra những chuyện khác trong đời sống hàng ngày của ông, nếu đó có thể gọi được là một đời sống.”

Thương binh Nguyễn Văn Thìn. Nguồn: OntheNet

Người bạn đồng đội luôn luôn nhìn tôi với đôi mắt u buồn và lắc đầu ra dấu, như có ý nói là đừng đến thăm nhau nữa: “muộn mất rồi.”  Mãi sau này tôi mới biết là … muộn thật!  Trong những trang sổ tay cũ, khi viết về trung sĩ Nguyễn Văn Thìn, cách đây khá lâu, tôi đã có dịp phổ biến địa chỉ của ông: nhà số 9/8 đường Bông Sao, phường 5, quận 8, Sài Gòn.

Độ một tháng sau, có độc giả báo cho tôi biết là họ đã gửi quà về biếu ông Thìn nhưng không còn … kịp nữa.  Ông bạn của tôi đã qua đời, vài tuần, trước đó!

Có đêm thì tôi về miền Trung, phần quê hương khốn khó mà trước đây tôi chưa bao giờ có dịp ghé qua, để thăm một đồng đội khác:

“Tôi phải vượt đường xa tít tăp từ Huế tìm đến nơi 1 anh Thương Binh mù hai mắt, cụt 2 tay lẫn 2 chân gần Lăng Cô … Tôi nhìn thấy anh Dương Quang Thương nằm xấp ngay ngạch cửa.  Tôi lên tiếng chào, anh bật ngồi dậy hỏi tôi là ai?”

“Qua những phút giây trao đổi, tôi thấy anh khóc, những dòng nước mắt lăn ra từ hai hố mắt sâu thẳm ấy làm tôi phải khóc theo.  Nghe tiếng người lạ, vợ anh từ sau hè chạy lên trên tay còn cầm nắm rau dền hoang vừa mới ngắt về để lo bữa ăn chiều, chị chào hỏi tôi rồi rót nước mời tôi uống …”

“ Thoạt đầu tôi chỉ nói tôi là người mang tiền và thuốc tây đến cho anh do bà con từ bên Úc đóng góp gửi về. Tôi gởi anh 100 đô Úc và 5 hộp thuốc tây.  Anh đã rưng rưng khóc lần nữa và cảm ơn nhiều lắm đến bà con ở Úc và Hội. Sau một hồi tâm sự anh nhắn gửi lời cảm ơn đến người điều hành Hội mà gia đình anh thường thư từ qua lại nhiều năm nay.  Tôi xúc động quá và cho biết là: Thưa anh chị chính tôi đây…  Nghe đến đó anh quờ quạng hai cái cùi tay còn lại lết thật nhanh về hướng tôi và ôm lấy tôi mà khóc.”

“ Vợ anh cũng khóc.  Tôi cũng khóc.  Người chạy xe ôm cũng khóc theo…  Sự hy sinh của anh quá lớn, hai mắt, hai tay và hai chân cho tổ quốc còn cá nhân chị đã hy sinh cả cuộc đời cho những người mà cả tổ quốc phải tri ân.  Chị đã khóc nhiều lắm vì những khó khăn đè nặng thân phận của người phụ nữ ốm o gầy còm cố vươn vai suốt hơn ¼ thế kỷ gánh gồng, ẵm bồng tắm rửa, đút ăn và những cơn lũ lụt khủng khiếp phải cõng chồng chạy tìm sinh lộ… Ra tới đầu ngõ, tôi và anh xe ôm vẫn còn khóc… “(Nguyễn Cảnh Tân, “Nỗi Sầu Riêng Hay Cái Đau Chung,” Việt Luận, 27 Oct. 2006).

HIỀN PHỤ

HIỀN PHỤ

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Tình cha núi thái cao vời,
Trao duyên kết nối, ơn trời phú ban.
Tình yêu đắp đổi nồng nàn,
Cha trao mẹ đón, muôn vàn yêu thương.

Đời con có chỗ tựa nương,
Mẹ cha sinh dưỡng, bên giường ấm êm.
Mỏi mòn canh thức từng đêm,
Say mê giấc ngủ, êm đềm bên cha.

Vững chân cột trụ mái nhà
Vòng tay ấm áp, hải hà dấu yêu.
Ơn cha nghĩa mẹ cao siêu,
Một đời chung thủy, thiên triều khắc ghi,

Dù cho gian khó lo chi,
Lao công vất vả, cũng vì đàn con.
Tình cha duyên mẹ sắt son,
Cha nâng mẹ đỡ, vuông tròn thánh gia.

Xứng danh tiếng gọi là cha,
Thiện tâm công đức, ngợi ca rạng ngời.
Mừng ngày Hiền Phụ, cha ơi,
Tạ ơn Thiên Chúa, muôn đời chúc khen.

Ngày Hiền Phụ (Father’s Day), dân nước Hoa Kỳ dành ngày Chúa Nhật thứ ba của tháng Sáu để đặc biệt tôn vinh các người cha.

Thật là sung sướng khi được sống trong tổ ấm gia đình có mẹ có cha. Cha là cột trụ, mẹ là mái che. Mẹ cha, thuận vợ thuận chồng thì con cái được ấp ủ trong yêu thương đùm bọc. Một gia đình lý tưởng gồm ba thành viên: Cha, mẹ và con cái. Con cái là hoa quả của tình yêu. Sự liên kết giữa cha mẹ và con cái tạo nên một thế vững chân kiềng. Tình yêu được thăng hoa, trao đổi và thánh hóa nên hoàn thiện.

Hôm nay chúng ta tôn vinh tất cả những người làm cha. Được gọi là ‘cha’ là một đặc ân tuyệt vời. Tiếng gọi ba ơi, cha ơi, thầy ơi, daddy ơi và tía ơi… nghe thật là thân thương trìu mến. Con cái rất quý mến và tôn trọng cha. Trong đời sống, chúng ta biết có rất nhiều người cha gương mẫu, biết chu toàn bổn phận, chăm lo và gầy dựng cho đời sống gia đình, yêu vợ thương con. Mong là ‘Cha mẹ hiền lành để đức cho con’. Các người cha đôi khi cũng nên tự vấn rằng mình đã sống đúng tư cách của một người cha hay chưa? Vì có rất nhiều người cha đã đang sa đà rơi vào nghiện ngập, bài bạc, hút sách, si tình, bỏ bê vợ con, ăn chơi trác táng và chỉ lo tìm thỏa mãn cuộc sống riêng tư. Con cái sẽ bị nhiễm độc: ‘Đời cha ăn mặn, đời con khát nước’ hay lại ‘cha nào con nấy’.

Hiện hữu trên đời, ai cũng có một người cha ruột thịt. Chúng ta biết rằng không phải tất cả mọi người cha đều tốt và hoàn thành trách nhiệm của mình. Kinh nghiệm cuộc sống xã hội hôm nay cho chúng ta thấy đang có quá nhiều đổi thay trong quan niệm sống. Ảnh hưởng của cá nhân chủ nghĩa và tục hóa hưởng thụ, đã có biết bao gia đình đang phải sống trong cảnh đổ vỡ chia xa. Đời sống hôn nhân gia đình bị rơi vào sự bế tắc và khủng hoảng. Có rất nhiều gia đình, mẹ đóng hai vai và không cần bóng dáng đàn ông. Dần dần, chỗ đứng của người cha trong gia đình không còn là trụ và là nóc nữa. Người ta thường nói: ‘Con có cha như nhà có nóc’. Có nguy cơ lỗi thời!

Tiếng ‘CHA, DADDY’ rất là cao đẹp. Cha là thần tượng của con cái. Cuộc sống dài hay ngắn không quan trọng. Mỗi người cha hãy cố gắng sống với danh hiệu ‘cha’ của mình. Dù trong hoàn cảnh nào, chúng ta đều có cơ hội nên tốt, làm tốt và sống tốt hơn. Không có khi nào trễ, nếu chúng ta biết bắt lại từ đầu. Quay đầu là bờ. Tôi xin chia sẻ một câu truyện nhỏ. Con cái của chúng ta tuy nhỏ bé nhưng luôn ngưỡng mộ những người cha biết lo cho gia đình. Vai trò người của cha trong đời sống gia đình quan trọng hơn bao giờ hết. Nó đòi hỏi một sự hy sinh, nhiệt tình và hướng thiện.

Truyện kể: Cô bé đứng bên một đám đông, trong khi ba của cô trình bày về một sự thật việc Chúa Giêsu đã đánh động thay đổi đời sống của ông. Ông đang minh chứng làm thế nào mà Chúa đã cứu và giải thoát ông khỏi lối sống cũ như một tay nghiện ngập. Hôm đó, có một người hay chỉ trích cũng đứng trong đám đông. Ông ta không thể chịu nổi khi nghe những chứng cứ về tôn giáo vô nghĩa này. Nên ông la to:“Tại sao ông già dịch không câm miệng và ngồi xuống. Ông chỉ đang mơ màng”.

Bất chợt, ông đa nghi này cảm thấy có cái gì đang níu kéo tay áo của ông. Ông ta nhìn xuống và thấy một cô bé. Cô bé nhìn ông ngạc nhiên trong khóe mắt và nói: “Thưa ông, đó là ba của cháu mà ông đang nói tới đó. Ông đã nói rằng ba cháu là người mơ mộng phải không? Để cháu kể về ba của cháu. Ba của cháu là một tay nghiện và mỗi đêm khi trở về nhà, ba đã đánh đập mẹ của cháu. Mẹ khóc suốt đêm. Và thưa ông, chúng cháu thường không có quần áo tốt để mặc, vì ba cháu tiêu xài và trả tiền rượu whiskey hểt rồi. Đôi khi, cháu không có giầy để mang khi đến trường. Nhưng bác nhìn nè, đây là giầy mới và quần áo mới! Bây giờ ba cháu đã có công việc tốt”. Cô bé chỉ qua phía bên kia và nói: “Bác có thấy người đàn bà đang mỉm cười kia không? Mẹ của cháu đó! Mẹ không còn khóc qua đêm nữa. Bây giờ mẹ vui lắm! Rồi cô bé nắm tay xác tín. Cô bé nói: Chúa Giêsu đã làm thay đổi đời ba cháu. Chúa Giêsu đã đổi thay gia đình của cháu. Thưa ông, nếu ba của cháu đang mơ mộng, xin ông đừng đánh thức ba cháu dậy.”

Những người cha như là những mắt xích nối kết truyền gieo sự sống đời này qua đời khác. Cha là dụng cụ Thiên Chúa đã quan phòng sắp đặt để sự sống được nối dài. Cha đã cộng tác vào công trình sáng tạo và hoàn thành sứ mệnh. Một sứ vụ cao cả và nhiệm mầu. Cám ơn cha đã truyền cho con sự sống.

Chúng con cũng biết ơn và tôn vinh tất cả những ai mang danh hiệu là cha, cha tinh thần, cha đỡ đầu, cha linh hướng và cha nuôi… Xin dâng lời tạ ơn Thiên Chúa. Cầu xin cho các người Cha được chu toàn bổn phận, trách nhiệm và nêu gương sáng cho lũ cháu đàn con. Xin Thánh Cả Giuse là mẫu gương của sự khiêm nhường, nhịn nhục và đơn sơ thánh thiện phù trợ và bảo vệ. Xin Thiên Chúa gìn giữ và chúc phúc lành cho tất cả các người cha đang hiện diện với chúng con đây.

Chúng con cũng nài xin lòng nhân lành Chúa đón nhận tất cả các linh hồn những người cha đã qua đời, được vào nơi hằng sống hưởng phúc trường sinh. Amen.

SÓNG GIÓ TRONG CUỘC ĐỜI

SÓNG GIÓ TRONG CUỘC ĐỜI

Tác giả: Lm. Inhaxio Trần Ngà

Suy niệm Tin Mừng Mác-cô (4, 35- 41)

Khi Chúa Giê-su cùng các môn đệ xuống thuyền sang bờ bên kia biển hồ, một trận cuồng phong nổi lên dữ dội, nước xô ập vào thuyền. Các môn đệ hoảng hốt đối phó với sóng to gió lớn. “Trong khi đó, Chúa Giê-su dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ” như chẳng có gì xảy ra. (Mc 4,38)

Đối diện với tình thế vô cùng nguy khốn, các môn đệ sợ hãi đánh thức Chúa Giê-su dậy và lên tiếng trách móc, như thể Chúa Giê-su là người vô cảm vô tâm: “Thầy ơi! Chúng ta chết đến nơi rồi mà Thầy chẳng quan tâm sao?” (Mc 4,38)

Trình thuật này gợi lên nơi chúng ta hai vấn nạn:

  1. Tại sao Thiên Chúa  để cho “sóng gió” xảy ra trong đời người?
  2. Tại sao Thiên Chúa như thể “ngủ quên” trước lời kêu cứu của con người?

Có nhiều khó khăn, thách thức, tai ương, hoạn nạn… xảy ra trong đời người, ta tạm gọi chung những thứ này là “sóng gió.” Khi gặp phải những cơn sóng gió này, nhiều người vội kêu cầu Chúa cứu giúp và nếu không được toại nguyện, thì họ quay ra oán hận Chúa, từ bỏ Chúa. Người ta oán trách Chúa đủ điều: Tại sao Chúa để cho tôi phải gặp khó khăn, gian khổ, đau thương thế này? Tại sao Chúa để cho vô vàn sóng gió xảy ra trên thế giới? Nếu Chúa là Đấng nhân từ, là Người Cha tốt lành, sao Chúa để cho sự dữ xảy ra?

Tại sao Thiên Chúa để cho “sóng gió” xảy ra?

Thiên Chúa là Người Cha nhân từ, rất mực tốt lành và hết lòng yêu thương hết mọi người. Thiên Chúa có lý do chính đáng khi để cho sóng gió, gian truân xảy ra trên địa cầu. Không ai dò thấu tư tưởng của Thiên Chúa. Tuy nhiên, dưới góc nhìn thiển cận của người phàm, ta nhận thấy rằng:

Trần gian là trường huấn luyện, chứ không phải là thiên đàng

Nhờ kiên trì giải những bài toán khó mà đầu óc học sinh được mở mang và các em trở thành học sinh giỏi; nhờ những khổ luyện trong quân trường mà các tân binh trở thành những chiến sĩ chiến đấu can trường và đạt nhiều thắng lợi vẻ vang; nhờ những giờ tập luyện kiên trì và nghiêm ngặt mà các vận động viên điền kinh giật được những huy chương vàng; nhờ dày công nghiên cứu liên lỉ ngày đêm mà các nhà khoa học cống hiến cho đời những phát minh tuyệt diệu…

Nếu xoá bỏ hết những bài toán khó trong các trường học, bỏ hết những rèn luyện gian khổ trong quân trường, bỏ hết những bài tập nghiêm ngặt cho các vận động viên và các nhà khoa học không còn miệt mài khổ công nghiên cứu nữa… thì còn đâu là văn minh, tiến bộ, phát triển trên địa cầu này?

Nếu trần gian này không có khó khăn, thách thức, gian khổ… mà chỉ có dễ dàng, thoải mái, cầu được ước thấy… thì trần gian này đã là thiên đàng rồi; khi đó, người ta không cần ngưỡng vọng một thiên đàng thứ hai. Khi đó, người ta không cần rèn luyện, tu tâm sửa tính để mong đạt tới thiên đàng thượng giới. Bấy giờ, phẩm chất con người sẽ thấp kém hơn nhiều.

Bấy giờ, mọi người đều tha hồ vui hưởng thiên đàng hạ giới này, đều đắm mình trong lạc thú, tha hồ ăn nhậu, chơi bời trác táng cho thoả mãn những đòi hỏi vô độ của thân xác… Như thế, chắc chắn loài người sẽ sa đoạ và lún sâu vào vũng lầy tội lỗi.

Như thế, những khó khăn, thách thức trên cõi đời này có tác dụng như những bài luyện tập cần thiết để rèn luyện con người trở nên can trường mạnh mẽ, tốt lành thánh thiện, có nhiều phẩm chất cao đẹp, xứng đáng đạt tới thiên đàng thượng giới trong tương lai.

Tại sao Thiên Chúa như thể “ngủ quên” trước lời kêu cứu của con người?

Nếu ta xin bất cứ điều gì Chúa cũng ban, thì trần gian sẽ là thiên đàng hạ giới nên không ai còn ngưỡng vọng thiên đàng thượng giới nữa và khi đó, nhiều hậu quả tai hại sẽ từ đó xảy ra như đã nói trên đây .

Nếu ta xin bất cứ điều gì Chúa cũng ban thì ai nấy đều chạy đến với Chúa để xin ăn chứ không phải khổ công làm việc. Thế là vô tình Chúa biến hết thảy mọi người thành những kẻ ăn xin.

Nếu ta xin bất cứ điều gì Chúa cũng ban thì vô số người sẽ tuôn về với Chúa và như thế, Thiên Chúa trở nên một Ông Thần Tài, chuyên dùng ân huệ, lợi lộc để dụ dỗ người ta đến đầu phục mình.

Bấy giờ, người ta sẽ tôn thờ Chúa không phải vì lòng yêu mến mà chỉ vì tìm kiếm lợi lộc cho bản thân mình.

Thiên Chúa là Người Cha khôn ngoan, nên khi chúng ta xin cá, thì thay vì cho cá, Chúa lại cho chiếc cần câu.

Ý tưởng này đã được một tác giả diễn tả cách chí lý như sau:

“Tôi xin sức mạnh… và Ngài đã cho tôi gặp khó khăn để trui rèn tôi nên mạnh mẽ.

Tôi xin khôn ngoan… và Ngài đã cho tôi những vấn đề (như những bài toán khó) để giải quyết, nhờ đó tôi trở thành người khôn ngoan.

Tôi xin tiền của… và Ngài đã cho tôi khối óc và bắp thịt để làm việc, nhờ đó tôi trở nên giàu có.

Tôi xin được ‘bay’… và Ngài đã cho tôi những trở ngại phải vượt qua (như máy bay phải vượt qua sức cản của không khí) nhờ đó tôi được ‘bay cao’…

Thế là, tuy không trực tiếp lãnh nhận những gì tôi xin… nhưng tôi có được tất cả những thứ tôi cần” (Khuyết danh).

Lạy Chúa Giê-su,

Xin cho chúng con sẵn sàng dấn thân vào thế giới này như thể tham gia vào một trường huấn luyện vĩ đại và vui lòng chấp nhận “sóng gió” trong cuộc đời như những bài luyện tập cần thiết để trui rèn chúng con thành những người có đạo đức và phẩm chất cao đẹp, hầu mai sau xứng đáng được đội vòng nguyệt quế hoan hỉ bước vào thiên quốc.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Điều trần về nhân quyền, tôn giáo Việt Nam tại Hạ viện Hoa Kỳ

Điều trần về nhân quyền, tôn giáo Việt Nam tại Hạ viện Hoa Kỳ

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2015-06-18

06182015-vn-right-viola-hearing-in-hous.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tại buổi điều trần từ trái ngồi : Điếu Cầy, Hoàng Tứ Duy, mục sư Nguyễn Mạnh Hùng, tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng và bà Đoàn Thị Hồng Anh

Tại buổi điều trần từ trái ngồi : Điếu Cầy, Hoàng Tứ Duy, mục sư Nguyễn Mạnh Hùng, tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng và bà Đoàn Thị Hồng Anh

RFA

Một buổi điều trần về đàn áp tôn giáo và những vi phạm nhân quyền khác của Việt Nam đã diễn ra hôm qua, thứ Tư ngày 17, trước Tiểu Ban Nhân Quyền hạ viện Hoa Kỳ ở thủ đô Washington.

Chủ tọa buổi điều trần hôm qua là dân biểu Chris Smith thuộc nhóm Vietnam Caucus, các đại diện dân cử quan tâm đến Việt Nam, chủ tịch Tiểu Ban Nhân Quyền, cũng là tác giả dự luật nhân quyền cho Việt Nam từng được hạ viện nhiều lần thông qua.

Cùng dân biểu Chris Smith còn có sự hiện diện của hai vị dân cử thường lưu ý quốc hội về những vi phạm tín ngưỡng và quyền con người của Việt Nam, đó là dân biểu Alan Lowenthal và dân biểu Dana Rohrabacher.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, giám đốc điều hành BPSOS, cũng là phát ngôn nhân của Liên Minh Cho Một Việt Nam Tự Do Và Dân Chủ, cho biết trong buổi điều trần hôm nay ông sẽ là người trình bày về tình trạng vi phạm tự do tôn giáo và về dự thảo luật tôn giáo của Việt Nam:

Và cuộc điều trần này là để chuẩn bị cho cuộc tổng vận động vào ngày mai, dự trù khoảng 700 đến 800 người Việt từ 28 tiểu bang và 7 quốc gia khác nhau. Mục tiêu kỳ này là cài những điều kiện nhân quyền, trong đó đặc biệt hai điều kiện lớn. Thứ nhất là quyền của người lao động thành lập hoặc là tham gia các nghiệp đoàn tự do và độc lập. Thứ hai là quyền tự do tôn giáo, cài vào trong cuộc thương thảo đàm phán về mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Cộng vào đó, chúng tôi cũng kêu gọi Việt Nam là phải trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm. Đó là 3 mục tiêu chính của cuộc tổng vận đợng hôm nay, ngày mai và ngày thứ Sáu thì chúng tôi sẽ tiếp xúc với Ủy Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế cũng như Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, bộ phận đặc trách về dân chủ, nhân quyền và lao động.

” Mục tiêu kỳ này là cài những điều kiện nhân quyền, trong đó đặc biệt hai điều kiện lớn. Thứ nhất là quyền của người lao động thành lập hoặc là tham gia các nghiệp đoàn tự do và độc lập. Thứ hai là quyền tự do tôn giáo, cài vào trong cuộc thương thảo đàm phán về mậu dịch giữa Hoa Kỳ và VN

TS. Nguyễn Đình Thắng”

Người thứ hai được mời ra điều trần trước Tiểu Ban Nhân Quyền hạ viện hôm thứ Tư là blogger Điều Cày Nguyễn Văn Hải, từng trải qua án tù 6 năm rưỡi và qua 11 trại giam trong nước, nói rằng có hai vấn đề ông muốn trình bày:

Dân biểu Chris Smith (bên phải) thuộc nhóm Vietnam Caucus chủ tọa buổi điều trần. RFA

Dân biểu Chris Smith (bên phải) thuộc nhóm Vietnam Caucus chủ tọa buổi điều trần. RFA

Ngày hôm nay trước quốc hội Hoa Kỳ thì tôi muốn nói với các vị trong quốc hội rằng ở Việt Nam toàn bộ hệ thống truyền thông nằm trong tay chính quyền cộng sản, người dân không có phương tiện gì để cất lên tiếng nói của mình. Bất kỳ ai có quan điểm có ý kiến khác biệt thì đều có thể bị ghép vào những Điều Luật như 258, 88, 79 , bị bắt và bị bỏ tù với bản án hàng chục năm mà chính tôi cũng là một nhân chứng.

Thứ hai là vấn đề tù nhân lương tâm. Là người đã trải qua 11 nhà tù, qua 6 năm rưỡi, tôi biết rằng các bạn tôi trong tù gần đây liên tục tuyệt thực. Vì sao như vậy? Đó là chính vì chế độ giam giữ rất hà khắc của chính quyền cộng sản. Cụ thể họ đã ban hành Thông Tư 37 của Bộ Công An, triển khai hàng loạt những khu giam giữ mới, hình thức giam giữ hoàn toàn không được ghi trong Luật thi hành án hình sự. Cho nên chúng tôi muốn nói với các vị đại biểu quốc hội yêu cầu Việt Nam phải làm rõ cái Thông Tư 37, rằng Hoa Kỳ không chấp nhận Việt Nam sử dụng những Điều Luật bị dấu kiến để đàn áp tù nhân như vậy.

Đến từ Việt Nam, Canada

Ngoài thứ ba, mục sư Nguyễn Mạnh Hùng đến từ Việt Nam, sẽ tường trình về những vụ đàn áp các tôn giáo trong nước, trong đó có Hội Thánh Chuồng Bò mà ông là quản nhiệm. Một điều trần viên khác là bà Đoàn Thị Hồng Anh. Bà Hồng Anh là vợ ông Nguyễn Thành Năm, giao dân Cồn Dầu, năm 2010 bị công an tra tấn đến chết vì tranh đấu chống lại chủ trương của chính quyền Đà Nẵng muốn xóa sổ Giáo Xứ Cồn Dầu. Bà Hồng Anh cùng hai con trốn sang Thái Lan, vừa qua được chấp nhận cho tị nạn và định cư tại Mỹ:

” Tôi đến cuộc điều trần tôi muốn nói về cái chết của chồng tôi và những sự việc ở Cồn Dầu. Chồng tôi chết vì dân phòng và công an Đà Nẵng đàn áp chồng tôi.

Bà Hồng Anh”

Tôi đến cuộc điều trần tôi muốn nói về cái chết của chồng tôi và những sự việc ở Cồn Dầu. Chồng tôi chết vì dân phòng và công an Đà Nẵng đàn áp chồng tôi.

Được biết trong số những người ghi tên tham dự Ngày Vận Động Nhân Quyền Cho Việt Nam 18 tháng Sáu, khoảng 30 người đã đến sớm để tham dự buổi điều trần hôm qua:

Hình ảnh những người tham dự buổi điều trần tại Tiểu Ban Nhân Quyền hạ viện Hoa Kỳ ở thủ đô Washington.

Hình ảnh một số người tham dự buổi điều trần tại Tiểu Ban Nhân Quyền hạ viện Hoa Kỳ ở thủ đô Washington.

Tôi là Dan Trần, từ Dallas, Texas, đến đây với mục đích vận động quốc hội về nhân quyền cho Việt Nam.

Tôi tên là Đặng Thành Tiến cùng với anh Sơn và anh Cơ từ Canada đến đây để ủng hộ cho phong trào dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam. Coi như tất cả là 6 người.

Chiến dịch tổng vận động nhân quyền cho Việt Nam lần này có sự tham dự của một số người trẻ khắp nơi, điển hình như:

Em tên Nguyễn Khuê Tú đến từ Vancouver Canada. Hai tuần vừa rồi em đã điều trần ở quốc hội Canada. Hôm nay em tới quốc hội Hoa Kỳ để tham dự và để học hỏi thêm. Em thấy cuộc điều trần rất thành công.

Tôi tên Đinh Thị Ngọc Tuyết, đến từ Kentucky, ngày hôm nay tôi có mặt ở đây để lắng nghe điều trần những vi phạm nhân quyền của chính quyền Việt Nam đối với công dân của chinh họ. Sau 40 năm thì không chỉ lắng nghe mà chúng ta có những hành động thiết thực để chính quyền Hoa Kỳ áp lực Việt Nam thay đổi tình trạng nhân quyền cho đồng bào của mình ở Việt Nam.

Đến từ Nebraska, cô Cung Hoàng Kim, thiếu nữ Mỹ gốc Việt đầu tiên đoạt vương miện Miss Nebraska USA, hoa hậu tiểu bang Nebraska, cho biết trong tư cách một phóng viên đài truyền hình NBC tiểu bang Nebraska, cô sẽ làm MC cho một trong ba ngày tổng vận động này:

Có một buổi lễ ở Kennedy Center Hoàng Kim sẽ làm MC , sẽ giới thiệu buổi lễ đó và Hoàng Kim rất hân hạnh tới Washington DC hôm nay. Hoàng Kim nhớ là ba mẹ và gia đình của Hoàng Kim tới nước Mỹ để có tự do, dân chủ, nhân quyền và công lý. Đó là chuyện mình có thể nói hôm nay và ngày mai ở DC.

Để đẩy mạnh tiến trình vận động nhân quyền cho Việt Nam, hôm nay ngày 18 tháng Sáu, khoảng năm chục nhóm người Việt cùng vào điện Capitol , gặp gỡ tiếp xúc với khoảng 200 vị dân cử Mỹ hay nhân viên lập pháp của họ. Mục đích những cuộc tiếp xúc này là hướng sự quan tâm và vận động cài những điều kiện nhân quyền, tự do tôn giáo, tù nhân lương tâm, quyền lợi người lao động Việt Nam vào nghị trình thảo luận TPP giữa hành pháp Washington và chính phủ Hà Nội.

Thanh Trúc tường trình từ Rayburn House, Washington.

Con đường tháo chạy của đại gia đỏ

Con đường tháo chạy của đại gia đỏ

Giáo Già (Danlambao)…Có những con đường tháo chạy chánh thức. Còn có những con đường đen và con đường vòng bên ngoài luật pháp, hay chen qua các kẻ hở của luật pháp, khiến bây giờ người ta có thể nhận diện và nhận dạng các đại gia đỏ lũ khủ trà trộn trong cộng đồng nhiều người đã thấy nhưng không chịu điểm mặt…

Thị trấn Buford thuộc Tiểu bang Wyoming, miền Trung nước Mỹ, nằm trên đường nối liền hai thành phố lớn NewYork và San Francisco, nằm trên cao độ 8000, có diện tích rộng khoảng 40.000m2, với nửa năm lạnh buốt và xa chốn phồn hoa đô thị, cho tới đầu tháng 4 năm 2012, chỉ có 1 cư dân duy nhứt là ông Don Sammons, 61 tuổi. Ông này từng mua Buford vào năm 1992 và trở thành Thị trưởng của thị trấn kể từ năm 2007. Buford đã một thời có đến hai ngàn dân.

Ngày 5 tháng 4 năm 2012, một cuộc đấu giá thị trấn được tổ chức bởi công ty độc lập Williams & Williams thu hút nhiều khách, không chỉ cư dân Mỹ mà cả người từ 46 quốc gia trên thế giới tấp nập kéo đến để xem và tham gia đấu giá.

Hàng loạt hãng thông tấn, báo chí, nổi tiếng của Mỹ và các nước như BBC, CNN, Telegraph… cùng có mặt. Chủ nhân thị trấn là ông Don Sammons đã chấp bút giá mua một cách chóng vánh trong cuộc đấu giá diễn ra chỉ 11 phút, từ 100 nghìn ấn định ở mức đầu tiên, lên đến 900 nghìn đôla về tay ông Phạm Đình Nguyên, sinh năm 1975, từ Sài Gòn bay sang Hoa Kỳ tham dự, để trở thành cư dân duy nhất, với một cửa hàng tiện lợi, một trạm xăng, một trạm điện thoại, một cửa hàng bách hoá, một căn nhà 3 phòng ngủ, một nhà kho, nhà đậu xe, với khoảng 1.000 lượt người ghé qua mỗi ngày.

Ngày 3.9 Thị trấn Buford nổi tiếng với 1 công dân duy nhất này chính thức đổi tên thành PhinDeli tổ chức buổi khai trương long trọng bao gồm cả việc phân phối các mẫu cà phê PhinDeli miễn phí cho khách tham dự, với nhiều quan chức của tiểu bang Wyoming, kể cả Thống đốc tiểu bang. Sau đó, ông Nguyên, chủ tiệm kiêm thị trưởng, thuê một người Mỹ trông lo tất cả hoạt động của thị trấn.

Theo số liệu của National Association of Realtors (NAR) thì doanh nghiệp bán nhà cho người nước ngoài đến Mỹ trong năm 2010 có số thu 82 tỉ đôla, so với năm 2009 là 60 tỉ. Việc người nước ngoài vào Mỹ mua nhà không phải là chuyện lạ vì luật ở đây cho phép dễ dàng; nhưng việc bán một thị trấn nhỏ trong lúc khủng hoảng nhà đất ở Mỹ còn kéo dài lại được một doanh nhân từ Việt Nam bay qua mua với giá cao là điều ngạc nhiên cho nhiều người. Do vậy đã có dư luận cho rằng đây là cuộc tháo chạy ngoạn mục, cắm sào cho con đường tháo chạy đang được các đại gia đỏ cho tiến hành, qua nhiều dạng thức khác nhau; điển hình như trong thập niên trước, nhiều đại gia từ Việt Nam qua Mỹ mua nhà tại những khu mới xây cất ở ngoại ô Sacramento, thủ phủ Tiểu bang California, để đầu tư. Họ mua nhà trả hết một lần bằng tiền mặt rồi cho thuê, khi giá nhà lên cao họ bán đi kiếm lời. Có nhiều nơi đại gia mua nhà cho con là du học sinh ở đi học, rồi nhờ “luật sư” tìm các kẻ hở của luật pháp cho con lưu cư hợp pháp, rồi đưa thêm người trong gia đình nhập cư, làm cuộc tháo chạy trước. Cũng với dụng ý tháo chạy, một số công ty từ Việt Nam đã qua Mỹ mua khách sạn, cơ sở thương mại ở California, Texas…

Một trường hợp rất đáng lưu ý là đại gia đỏ Tràm Bê, chủ tịch công ty chế biến thực phẩm Son Son Co. ở Việt Nam, vào năm 2009, đã mua khu thương mại Wallco Shopping Mall, rộng 50 mẫu, toạ lạc tại thành phố Cupertino, cạnh San Jose, California, với giá 64 triệu đô trả bằng bằng tiền mặt. Theo những nguồn tin chưa được phối kiểm thì đây là những địa điểm rửa tiền của các đại gia đỏ, khởi đầu cho cuộc tháo chạy trong tương lai Việt Nam bị biến thành một lãnh thổ tự trị của Tàu, theo “Thỏa Ước Thành Đô”, hoặc nỗ lực “Chống Tàu Diệt Việt Cộng” của toàn dân Việt thành công.

Mới đây tin tức dồn dập đưa lên các hệ thống truyền thông và các trang mạng điện tử cho biết một đại gia đỏ lừng lẫy, tên Henry Nguyễn, con rễ của Thái Thú Nguyễn Tấn Dũng, đã bỏ số tiền lớn, trong số ít nhứt 100 triệu đô la, để mua lại quyền sở hữu Câu Lạc Bộ Chivas USA [theo Sports Illustrated ngày 30/9], đội banh đang chơi trong Câu Lạc Bộ MLS.

Được biết, sau khi hoàn tất việc mua Chivas USA, các ông chủ sẽ đóng cửa CLB này trong tối thiểu hai năm để tái thiết lại, từ việc kiếm sân vận động mới, đổi tên cũng như thương hiệu của đội banh. Đội banh sẽ vẫn ở Los Angeles nhưng họ sẽ phải xây sân vận động tại khu vực này. Do vậy, nó được đổi tên thành Los Angeles Football Club (Los Angeles FC) và dự kiến sẽ tham gia tranh tài vào năm 2017. Đồng thời, một sân banh sẽ được xây cất và hoàn thành vào năm 2017 [xem hình], với chi phí lên đến 250 triệu mỹ kim; có 22 ngàn chỗ so với các cầu trường túc cầu khác trong hiệp hội túc cầu Bắc Mỹ MLS.

Vài cuộc tháo chạy tiêu biểu của các đại gia đỏ nêu trên làm sáng hơn cuộc tháo chạy theo con đường “du học sinh” ra nước ngoài để “cắm sào”. Theo thống kê của Cục Đào tạo với nước ngoài (Bộ GD&ĐT), CSVN hiện có trên 100.000 du học sinh (DHS) theo học tại 49 quốc gia và vùng lãnh thổ; nhiều nhất là Úc (khoảng 25.000 người). Xếp thứ nhì là Mỹ (14.888 người), kế tiếp là Trung Quốc (12.500), Singapore (7.000), Anh (6.000), Pháp (5.540), Nga (5.000), Nhật Bản (3.500). Trong đó khoảng 90% đi học bằng kinh phí tự túc.

Số DHS sau khi tốt nghiệp đều tìm cách định cư tại nước sở tại. Nhiều DHS không muốn về lại Việt Nam là nét tiêu biểu cho cuộc tháo chạy. Nếu việc vượt biên ngày trước được thực hiện bằng cách “mua bãi” với 6 lượng vàng; hoặc đi “bán chánh thức” thì cũng phải nộp ít nhứt 10 lượng vàng cho công an; thì du học ngày nay chỉ cần chứng minh tài chính và khả năng chi trả học phí, ăn ở, trung bình khoảng 30,000 USD/năm; con số được coi như quá rẻ cho các đại gia đỏ.

Cuộc tháo chạy này coi như có sự đồng thuận của Mỹ. Đúng vậy, chính Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam David Shear đã cho biết ông vui mừng nhận thấy Việt Nam tiếp tục đưa một số lượng lớn sinh viên đến Hoa Kỳ để học đại học [Xem hình 24/28 sinh viên Việt Nam vừa tốt nghiệp khóa điện tử và cơ khí theo học bổng IVS tại ĐH Portland State, Oregon]. Được biết, số sinh viên Việt Nam học tập và nghiên cứu tại Mỹ đứng đầu con số sinh viên nước ngoài từ khu vực Đông Nam Á. Theo Viện Giáo dục Quốc tế của Mỹ (IIE) hồi cuối những năm 90, mới chỉ có hơn 1.500 sinh viên Việt đi du học tại Mỹ và tăng trưởng đều đặn kể từ đó. Việt Nam lọt vào top 20 quốc gia có nhiều du học sinh nhất ở Mỹ trong niên khóa 2006-2007 và lọt vào top 10 kể từ năm 2010-2011…

Hơn nữa, vào ngày 30 tháng 11 năm 2012, Hạ viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu chấp thuận Dự Luật STEM-HR 6429. Tên chính thức của dự luật này là Trình độ Khoa Học, Công Nghệ Học, Kỹ Thuật Học hay Toán Học (tức Science, Technology, Engineering or Mathematics, viết tắt là STEM). Dự luật này sẽ cấp 55.000 thẻ xanh cho các sinh viên du học đạt được những trình độ cao cấp sau khi học xong ở các trường đại học Hoa Kỳ. Dự luật này đã đóng dấu ấn cho con đường tháo chạy của các đại gia đỏ. Nó cho biết người hôn phối và các con của đương đơn, của chương rình STEM, sẽ được cấp chiếu khán phi-di-dân để ở Mỹ và sau đó, người hôn phối hoặc cha mẹ của chương trình STEM có thể nộp đơn bảo lãnh họ qua chương trình đoàn tụ gia đình bình thường. Đó chỉ là con đường tháo chạy chánh thức. Còn có những con đường đen và con đường vòng bên ngoài luật pháp, hay chen qua các kẻ hở của luật pháp, khiến bây giờ người ta có thể nhận diện và nhận dạng các đại gia đỏ lũ khủ trà trộn trong cộng đồng nhiều người đã thấy nhưng không chịu điểm mặt.

Giáo Già

Đối ngoại hữu kỳ tâm, đối nội vô tâm giả”.

Image result for hình ảnh trái tim chúa giêsu

“Đối ngoại hữu kỳ tâm, đối nội vô tâm giả”.

(Người có trái tim ở bên ngoài,

bên trong lại không có tim)

Năm 1597, lệnh bắt đạo trên đất Nhật thật gắt gao. Chỉ trong một tuần lễ, mọi cơ sở Công Giáo đều bị triệt hạ, giáo sĩ bị bắt gần hết, giáo dân bị phân tán và khủng bố tàn tạ.

Tại vùng Odawara, Kamakura, người ta bắt được 2 linh mục trẻ tuổi là Simauchi và Uzawa cùng nhiều ảnh tượng giải về Tokyo. Quan đại thần Tsukamoto nhặt trong đống ảnh tượng một mẫu ảnh: người gì mà để trái tim ra ngoài !

Quan đại thần Tsukamoto là một nhà nho uyên bác có óc thực tế, thích tìm hiểu. Ông cầm mẫu ảnh trái tim coi qua rồi vứt vào sọt rác; nhưng đến tối, ông nhớ lại và nghĩ bức ảnh kỳ lạ kia hẳn có một ý nghĩa nào đó. Ông lượm lại bức ảnh để trên bàn và suy nghĩ. Trời đã về khuya mà quan vẫn ngồi bất động một mình với bức ảnh trước mặt. Mãi đến gần một giờ sáng, vị đại thần mới thở ra nhẹ nhàng khoan khoái, tay cầm bút lông ghi dưới bức ảnh mấy chữ : “đối ngoại hữu kỳ tâm – đối nội vô tâm giả”. Từ đó quan đại thần Tsukamoto đặt bức ảnh Trái Tim trên bàn làm việc một cách kính cẩn.

Một hôm, người bạn tên Osaki đến chơi, hỏi :

– Bạn lại thích ảnh tượng của bọn tà đạo rồi sao ?

Quan đại thần Tsukamoto trả lời :

– Đứng về mặt chính trị của triều đình thì tôi không dám phản kháng. Nhưng về mặt văn hóa và nhân đạo thì tôi rất thích bức ảnh này. Phải chăng bức ảnh này đã nói lên chương trình và hành động cùng lối xử thế tổng quát của Kitô giáo. Để ông bạn coi : đối với thiên hạ, tha nhân bên ngoài thì “Hữu Tâm”, còn với bản thân mình thì “Vô Tâm”. Cho nên họ mới vẽ trái tim để ra ngoài… Nghĩa là phải đem hết trái tim của mình mà phục vụ xã hội, giúp ích cho đời ; còn về phần mình thì hy sinh xả kỷ, đừng bao giờ lo riêng cho mình, phải diệt cái ngã vị kỷ. Đem hết trái tim ra giúp đời giúp người. Nội bức ảnh nầy tôi thấy đầy đủ hơn cả cái học Từ Bi của Phật, khoan dung hơn cái Nhân Thứ của Khổng, cao siêu hơn cái Vô Ngã của Lão, mạnh mẽ hơn cái học Dũng thuật của Thần Đạo Nhật bản vậy. Một tôn giáo dạy phụng sự nhân loại, yêu thương mọi người, còn bản thân mình thì không màng tới, không quan tâm đến tư lợi, thì quả là chính đạo.

Ông Osaki cảm phục sự diễn đạt của bạn. Không ngờ Đạo Công Giáo lại hàm chứa một triết lý nhân sinh cao siêu như vậy. Từ đó hai ông trở nên những người bạn chí thân và đã âm thầm nhận phép Rửa Tội, đồng thời vận động triều đình thả hai linh mục… (Trích “Phúc”)

Thánh Tâm (聖 心) còn gọi là “Rất Thánh Trái Tim” nghĩa là trái tim thuộc về Đức Chúa (hoặc Đấng thiêng liêng). Khi nói về Thánh Tâm Chúa Giêsu là chúng ta phải luôn luôn hiểu bao gồm cả con người Chúa Kitô. Việc tôn thờ Thánh Tâm là nòng cốt của Đạo Công Giáo, như các Đức Piô XI và Piô XII đã nói: “Tôn thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu là điểm cốt yếu của đạo chúng ta (summa religionis nostrae)”. Trong việc tôn thờ này, đức tin Kitô giáo vẫn nguyên tuyền vì đưa con người tới Chúa Ba Ngôi nhờ sự hợp nhất với Chúa Kitô, Đấng Trung Gian.

Việc tôn thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu, mời gọi chúng ta theo gương Người. Hiến dâng cho Thánh Tâm Chúa, vì trong Thánh Tâm Chúa, chúng ta tìm được tình yêu thúc đẩy chúng ta yêu mến Chúa và tận hiến hoàn toàn cho tha nhân. Đúng như câu nói của vị quan người Nhật: “Đối ngoại hữu kỳ tâm, đối nội vô tâm giả”.

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

BI KỊCH CỦA MỘT GIA ĐÌNH CHÍNH TRỊ GIA

BI KỊCH CỦA MỘT GIA ĐÌNH CHÍNH TRỊ GIA

Kim Hà

Nguồn: Spiritdaily.com

(Hai cha con PTT Joe Biden và con trai Beau)

Phó Tổng Thống Hoa Kỳ là ông Joe Biden vừa mất một người con trai là anh Beau Biden, 46 tuổi. Anh bị bịnh ung thư óc và qua đời ngày 30/5/2015 vửa qua. Anh là một luật sư, một bộ trưởng Tư Pháp của tiểu bang, một chính trị gia sáng giá và một tín hữu Công giáo ngoan đạo. Anh để lại người vợ trẻ và hai người con nhỏ, một trai, một  gái.

Tổng Thống Obama đã nói rằng:

“Anh Beau là một người Công giáo tốt lành và bác ái, một người ngoan đạo và trung thành. Anh đã làm cho cuộc sống của những người khác được tốt hơn. Anh sẽ sống lại trong trái tim của mọi người.”

Thật sự gia đình anh Beau và cha anh là Phó Tổng Thống Joe Biden trải qua một thảm kịch quá bi thương.

Vào ngày 17 tháng 5 năm 2015, khi đến nói chuyện trong buổi lễ tốt nghiệp của Đại Học Yale University, Ông Joe Biden đã tiết lộ rằng:

“Năm 1972, vợ tôi là Neilia, và đứa con gái 1 tuổi của tôi là Naomi đã bị tai nạn xe và chết ngay, còn hai con trai tôi là Beau, 3 tuổi, và Hunter, 2 tuổi thì bị thương nặng và nằm bịnh viện.”

“Lúc đó, tôi mới có 30 tuổi và vửa mới được bầu làm Thượng Nghị Sĩ của Hoa Kỳ. Lúc đó tôi là người trẻ tuổi thứ hai trong lịch sử của Thượng Viện Hoa Kỳ. Điều ấy làm cho tôi có nhiều tham vọng. Trong cuộc đời nếu bạn không cẩn thận thì bạn cứ nghĩ rằng mình thành công. Tuy nhiên, mọi sự có thể thay đổi hoàn toàn trong một nhịp đập của trái tim.”

“Sau khi trúng cử Thượng Viện được 6 tuần thì cả thế giới của tôi thay đổi mãi mãi. Trong lúc tôi đang ở tại thủ đô Washington, D.C. để thuê nhân viên cho văn phòng thì tôi nhận được một cú điện thoại. Vợ tôi và ba con của chúng tôi đang đi mua sắm quà cho mùa Giáng Sinh.  Một cái xe tractor-trailer đụng vào xe vợ tôi và làm cho vợ tôi và con gái tôi chết ngay lập tức. Và họ nói rằng không biết hai con trai tôi có thể sống sót được không?”

“Từ đó, tôi phải lái xe 4 tiếng đồng hồ mỗi ngày từ Washington, DC về lại Wilmington, Delaware suốt nhiều tuần lễ để thăm nom hai con trai tôi ở bịnh viện. Sở dĩ  tôi phải vất vả đi lại vì tôi muốn ôm hôn các con tôi mỗi buổi tối và ôm hôn chúng mỗi buổi sáng của ngày hôm sau. Tôi muốn ở bên giường bịnh viện của các con tôi. Bởi vi tôi nhận nhức rằng một đứa trẻ có thể giữ những  ấn tượng quan trọng trong tâm hồn. Có những điều quan trọng mà chúng muốn nói với cha mẹ, có thể trong suốt 12 hay 24 tiếng đồng hồ, rồi chúng sẽ quên đi. Và khi chúng quên là quên luôn.”

“Sau tai nạn đau thương ấy, tôi không còn muốn tuyên thệ nhận chức Thượng Nghị Sĩ nữa. Lẽ ra tôi phải tuyên thệ chung với các đồng nghiệp vào năm 1973 nhưng tôi không muốn đến Washington, D.C. nữa. Tôi chỉ muốn ở lại với Beau và con trai khác của tôi. Cuối cùng thì tôi vẫn tuyên thệ nhưng ngay tại giường bịnh của Beau.”

Ông Biden nói chuyện được 2 tuần sau thì con trai của ông là Beau Biden chết. Beau là con đầu lòng của ông, mới có 46 tuổi.

Ông Joe Biden lại vừa phát biểu:

“Tôi có một mối liên hệ mật thiết với các con của tôi, đó là một hồng ân vì nếu không có sự mật thiết ấy thì tôi không biết mình có thể sống sót vượt qua khỏi những sự đau khổ mà tôi đã trải qua hay không? Ai biết được liệu mình có thể trân quý những giây phút đẹp đẽ và quý báu trong cuộc đời hay không?”

Khi còn sống, anh Beau Biden đã từng nói:

“Một trong những ký ức sớm nhất và đẹp nhất ở bịnh viện là ba tôi luôn ở bên cạnh tôi. Ba tôi chăm sóc cho anh em tôi. Ba không muốn tuyên thệ nhận chức. Ba bảo:

‘Tiểu bang Delaware có thể có một thượng nghị sĩ khác nhưng các con của tôi không thể có một người cha khác.’

Tuy nhiên, những chính trị gia nổi tiếng khác cũng đã trải qua những bi kịch trong cuộc đời như TNS Ted Kennedy, Mike Mansfield, Hubert Humphrey… đã khuyên can ba tôi là hãy phục vụ tổ quốc. Vì thế ba tôi đã tuyên thệ ngay tại giường bịnh của tôi. Là một người cha độc thân, ba quyết định luôn ở cạnh chúng tôi để cho chúng tôi lên giường ngủ vào buổi tối, luôn ở bên cạnh chúng tôi khi chúng tôi thức dậy sau khi có một giấc mơ hãi hùng. Ba làm các món ăn điểm tâm cho chúng tôi. Ba hy sinh lái xe 4 tiếng đồng hồ từ Washington, D.C về nhà trong 4 tiếng đồng hồ mỗi ngày.”

Phó Tổng Thống Joe Biden nói rằng:

“Con trai tôi, Beau đã chiến đấu với bịnh ung thư óc với lòng chân thành, can đảm và sức mạnh. Bây giờ nhìn lại, tôi thấy sự thật, lý do thật là sở dĩ tôi lái xe đi về mỗi tối là vì tôi cần các con tôi hơn là chúng cần tôi.”

“Có những người đã viết và nói rằng về tôi rằng:

‘Joe Biden không thể là một nhân vật chính trị nghiêm túc. Nếu ông ta nghiêm chỉnh thì ông phải ở lại thủ đô Washington nhiều hơn, tham dự các biến cố chính trị nhiều hơn. Ông ta không thể là một  chính trị gia nghiêm túc được vì ông ta vội vã về nhà ngay sau khi bầu bán.’

“Tuy nhiên tôi thấy mình không thiếu gì cả.”

Suy niệm:

Mỗi gia đình đều có những bi kịch riêng. Nếu không hiểu thì dễ phán xét. Ông Joe Biden đã chịu cực khổ để vừa trở nên một người cha cô đơn tốt lành trong một tình huống đau buồn và khó khăn như thế, vừa chu toàn nhiệm vụ phục vụ tổ quốc. Xin Chúa chúc phúc cho gia đình ông!

Xin Chúa chúc phúc cho linh hồn anh Beau Biden! Xin Chúa an ủi và cứu giúp gia đình anh Beau. Amen. RIP!

Kim Hà
31/5/2015

 

Làn sóng mới người tỵ nạn chính trị từ VN (1)

Làn sóng mới người tỵ nạn chính trị từ VN (1)

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2015-06-18

06182015-the-vn-new-wav-of-refug.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Sau tám năm chờ đợi, chiều thứ Ba 25/11 vừa qua thêm 39 người Việt cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan đã đặt chân xuống phi trường quốc tế Vancouver của Canada. Đây là đợt thứ nhì. Đợt đầu tiên với 28 người đã tới Vancouver hôm 13 tháng 11, 2014.

Sau tám năm chờ đợi, chiều thứ Ba 25/11 vừa qua thêm 39 người Việt cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan đã đặt chân xuống phi trường quốc tế Vancouver của Canada. Đây là đợt thứ nhì. Đợt đầu tiên với 28 người đã tới Vancouver hôm 13 tháng 11, 2014.

Từ khi VN tiến hành cải cách về kinh tế vào năm 1986, cho dù nền kinh tế đã phần nào phát triển. Tuy vậy trước việc chính quyền VN tiếp tục, bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ và tôn giáo, thì đến nay vẫn có một làn sóng ngầm không ít những người đấu tranh tìm đường trốn khỏi VN để xin tỵ nạn vì lý do chính trị và tôn giáo.

Cuộc sống hiện nay của họ ra sao và những người này còn sẽ tiếp tục đấu tranh hay không?

Trong bài thứ nhất, Anh Vũ sẽ giới thiệu về chặng dừng chân đầu tiên của những người tỵ nạn này ở Thái lan và Campuchia.

…Buộc phải rời bỏ quê hương

Sau khi chiến tranh VN kết thúc, do sự sai lầm trong các chính sách chính trị và kinh tế của nhà cầm quyền cộng sản, đã dẫn đến một làn sóng người VN lên đến gần một triệu người bỏ nước ra đi để tìm kiếm cơ hội tỵ nạn ở nước ngoài.

Từ năm 1986, đảng CSVN phải thực hiện một cuộc cải cách kinh tế để thoát ra khỏi bờ vực phá sản. Đời sống kinh tế trong nước có khá hơn, cũng như sau đó các trại tỵ nạn của người Việt ở nhiều nơi trên thế giới bị đóng cửa, các nước không còn muốn nhận thuyền nhân nữa; khi đó cuộc khủng hoảng người tị nạn Việt nam tưởng như đã chấm dứt.

Tuy vậy ít người biết rằng từ đó đến nay, vẫn còn một làn sóng người Việt nam tị nạn chính trị mới. Nhiều người trong số họ buộc phải bỏ nước ra đi, mà các nước trong khu vực Đông Nam Á là chặng dừng chân đầu tiên của họ.

Theo số liệu thống kê, hiện tại ở Thái lan đang có khoảng 950 người tỵ nạn, tương tự ở Campuchia cũng có đến gần 200 người.

Nói về lý do khiến bản thân phải chạy sang Campuchia để tỵ nạn, ông Hồ Văn Chỉnh cho chúng tôi biết:

” Trước đây tôi ở tỉnh Vĩnh long, tôi đã bị chính quyền VN bắt cóc từ Campuchia đưa về VN bỏ tù. Sau khi tôi vượt ngục và trốn sang đây thì tôi bị kết án vắng mặt 17 năm, vì liên quan đến việc đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ và đòi đa nguyên, đa đảng

ông Hồ Văn Chỉnh”

“Trước đây tôi ở tỉnh Vĩnh long, tôi đã bị chính quyền VN bắt cóc từ Campuchia đưa về VN bỏ tù. Sau khi tôi vượt ngục và trốn sang đây thì tôi bị kết án vắng mặt 17 năm, vì liên quan đến việc đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ và đòi đa nguyên, đa đảng.”

Anh Hoàng Đức Ái một nhà tranh đấu ở Nghệ An bị truy đuổi nên buộc phải bỏ nước ra đi đến Thái lan, anh nói:

“Lý do tôi phải đến Thái lan tỵ nạn là do tôi là 1 trong 8 người ở Nghệ An đã rải truyền đơn tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội.”

Thân phận tỵ nạn này còn dành cho những người sắc tộc H’mông, vì bị chính quyền đàn áp buộc họ phải từ bỏ tôn giáo mà họ tin theo. Một thầy truyền đạo người H’mông đang tỵ nạn ở Thái lan, yêu cầu được dấu danh tính cho chúng tôi biết. Ông nói:

Một gia đình dân tộc theo đạo Tin Lành, từ vùng Tây Nguyên chạy sang Thái Lan xin tị nạn năm 2010. Sau đó gia đình của anh Siu A Nem và 7 người con khi đến Canada tháng 7 năm 2014 (RFA)

Một gia đình dân tộc theo đạo Tin Lành, từ vùng Tây Nguyên chạy sang Thái Lan xin tị nạn năm 2010. Sau đó gia đình của anh Siu A Nem và 7 người con khi đến Canada tháng 7 năm 2014 (RFA)

“Quê quán của tôi ở VN là ở Lào cai, vì lý do ở VN tôi là một lãnh đạo tôn giáo, đã đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo cũng như tranh đấu chống việc chính quyền cướp đất của cộng đồng người H’mông chúng tôi.”

Khó khăn nơi “đất khách quê người”

Những khó khăn của những người bỏ nước ra đi tìm đường tỵ nạn ở nước ngoài khó mà kể hết, vì đối với họ tất cả đều mới lạ. Nói về những khó khăn hiện nay, anh Hoàng Đức Ái ghi nhận:

“Khó khăn thứ nhất là về công việc, mình không có việc làm. Thứ 2 là chính quyền Thái lan họ không cho mình nhập cư, nên nếu mình ra ngoài làm việc thì sợ họ bắt, vì nếu bị họ bắt thì chắc chắn sẽ nguy hiểm. Thứ 3 là vấn đề ngôn ngữ, vì không có ngôn ngữ thì rất khó khăn cho mình.”

Thầy truyền đạo người H’mông tiếp lời:

” Quê quán của tôi ở VN là ở Lào cai, vì lý do ở VN tôi là một lãnh đạo tôn giáo, đã đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo cũng như tranh đấu chống việc chính quyền cướp đất của cộng đồng người H’mông chúng tôi

Một thầy truyền đạo người H’mông”

“Ở Thái lan này thì cuộc sống nói chung cũng có nhiều cái khó khăn lắm, một là mình phải cố gắng đi kiếm việc làm, song vì mình là người sống bất hợp pháp nên người thuê mình làm họ ép giá rất là thấp. Cũng vì Thái lan họ không ký cái Công ước Quốc tế năm 1951 để bảo vệ người tỵ nạn, vì thế chúng tôi sang lánh nạn ở đây thì sự nguy hiểm luôn thường trực 24/24.”

Những khó khăn thì chồng chất như vậy, song việc có được Cao ủy tỵ nạn LHQ (UNHCR) cứu xét để cấp quy chế tỵ nạn cho những người tỵ nạn hay không thì là cả một vấn đề lớn và cũng hết sức khó khăn. Anh Hoàng Đức Ái khẳng định:

“Hiện tại, tình hình những người tỵ nạn ở Trung Đông hay những người tỵ nạn ở VN cũng rất là nhiều, mà Cao ủy (tỵ nạn) ở đây thì làm việc hết sức chậm trễ. Cho nên các hồ sơ tỵ nạn sau này càng lâu hơn vì số người tỵ nạn ngày càng đông. Như lịch phỏng vấn của tôi cũng đã dời lại 2-3 lần, bây giờ cũng đã hết 1 năm rồi.”

Kể cả những trường hợp đã được chấp nhận cho hưởng quy chế tỵ nạn ở Campuchia, song quyết định đó cũng không có hiệu lực. Từ đó dẫn đến tình cảnh những người này vẫn phải sống một cuộc đời vô tổ quốc từ nhiều năm nay. Từ Campuchia, ông Hồ Văn Chỉnh nói với chúng tôi:

“Sau khi UN rút quân thì họ giao tôi lại cho phía Capuchia và họ cấp cho tôi một cái giấy do Phó Thủ tướng ký, nhưng cái giấy này không có hiệu lực gì hết. Bây giờ thì họ khong công nhận, mà họ chỉ công nhận giấy nhập tịch thôi. Do đó hiện tại cuộc sống của chúng tôi cũng hết sức khó khăn và ở Campuchia bây giờ chúng tôi không có tương lai gì hết.”

Tuy nhiên, ở miền đất mới đa số những người tỵ nạn vẫn không từ bỏ công việc đấu tranh của mình, họ vẫn tiếp tục tham gia công việc đấu tranh trong điều kiện có thể. Anh Hoàng Đức Ái bày tỏ:

“Đối với những người tỵ nạn như tôi hay một số người bạn ở đây, hàng ngày vẫn theo dõi tình hình ở VN để tiếp tục đồng hành đấu tranh với những người đấu tranh trong nước. Đặc biệt là đối với các bạn trẻ, bằng những bài viết trên các trang blog.”

” Hiện tại, tình hình những người tỵ nạn ở Trung Đông hay những người tỵ nạn ở VN cũng rất là nhiều, mà Cao ủy (tỵ nạn) ở đây thì làm việc hết sức chậm trễ. Cho nên các hồ sơ tỵ nạn sau này càng lâu hơn vì số người tỵ nạn ngày càng đông

Anh Hoàng Đức Ái”

Thầy truyền đạo người H’mông cho chúng tôi biết hiện tại số người H’mông tỵ nạn về vấn đề tôn giáo ở Thái lan có khoảng 350 người và ông vẫn tiếp tục đấu tranh để bảo vệ quyền lợi cho bà con sắc tộc H’mông ở trong nước. Ông nói:

“Tôi vẫn tiếp tục hoạt động về niềm tin tôn giáo ở đây. Trước tình hình cộng sản VN đã ngăn cấm không cho đồng bào hoạt động tôn giáo tự do theo ý muốn của người dân thì tôi cũng tìm hiểu các thông tin về vấn đề này để viết các báo cáo để cho các tổ chức Nhân quyền biết, để lên tiếng bảo vệ đồng bào H’mông của chúng tôi.”

Về nguyện vọng chung của những người tỵ nạn hầu như cũng giống nhau, tất cả đều mong nhận được sự giúp đỡ của cộng đồng người Việt nam ở khắp nơi trên thế giới và mong muốn nhanh chóng được đi định cư ở nước thứ 3. Ông Hồ Văn Chỉnh cho biết:

“Bây giờ cộng đồng thế giới hãy lên tiếng để giúp chúng tôi được đi định cư ở nước thứ 3, vì chỉ có thế chúng tôi mới có tương lai cho con cái sau này. Cho đến giờ tôi đã tỵ nạn ở đây 15 năm rồi, mà họ không cho chúng tôi nhập tịch gì hết. Chẳng biết tương lai của chúng tôi sẽ ra sao nữa.”

Được biết không phải chỉ có ở các nước Đông Nam Á, nhất là Thái lan mới có những người VN tỵ nạn về các lý do chính trị và tôn giáo. Tại một số quốc gia thuộc các châu lục khác hiện nay cũng có người tỵ nạn Việt Nam.

Trong bài sau, mời quý vị đón nghe phần tường trình của thông tín viên Tường An từ Paris, về cuộc sống của những người tỵ nạn đến từ VN ở Âu châu và Úc châu.

THỬ THÁCH TRONG CUỘC ĐỜI

THỬ THÁCH TRONG CUỘC ĐỜI

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Trong đời ta gặp nhiều trường hợp giả vờ rất đáng yêu.  Chẳng hạn bà mẹ trẻ giả vờ trốn đứa con nhỏ, để nó phải lo âu đi tìm.  Và khi thấy nó đã lo âu đến độ tuyệt vọng, sắp khóc đến nơi, bấy giờ bà mẹ mới xuất hiện.  Vừa thấy bà mẹ xuất hiện, đứa trẻ vui mừng khôn xiết.  Và nó càng yêu mến, càng bám chặt lấy mẹ nó hơn nữa.

Chúa Giêsu cũng có nhiều lần giả vờ như thế.  Lần giả vờ được minh nhiên ghi lại trong Tin Mừng là khi Người cùng hai môn đệ đi trên đường Emmaus.  Khi đã đến nơi, Người giả vờ muốn đi xa hơn, làm cho các môn đệ phải tha thiết nài nỉ Người mới chịu ở lại.  Khi Người ở lại, các môn đệ vui mừng khôn xiết.  Và niềm vui lên đến tuyệt đỉnh khi các môn đệ nhận ra Người lúc bẻ bánh.

Hôm nay tuy Tin Mừng không minh nhiên ghi lại, nhưng ta có thể đoán biết Chúa Giêsu đang giả vờ.  Vì sóng to gió lớn dập vùi làm cho thuyền chòng chành nghiêng ngả, nước tràn vào đến nỗi thuyền có nguy cơ bị chìm đắm, trong khi đó các tông đồ xôn xao chạy ngược chạy xuôi, hò hét nhau tìm cách tát nước ra.  Giữa khung cảnh như thế, làm sao có thể nằm ngủ ngon lành được.  Chỉ có thể là giả vờ. Việc giả vờ của Chúa phát xuất do tình yêu.

Vì yêu thương ta, Chúa muốn ta đáp lại tình yêu thương của Chúa. Đó là định luật thông thường trong tình yêu.  Khi yêu ai cũng muốn được đáp trả.  Chúa không đi ra ngoài định luật thông thường đó.  Người tha thiết yêu ta.  Người mong ta yêu mến gắn bó với Người, nên đôi khi Người giả vờ lãng quên để ta nhớ mà chạy đến với Người, gắn bó với Người hơn.  Như bà mẹ muốn đứa con tỏ ra cần đến mẹ, tha thiết đi tìm mẹ, hốt hoảng khi không thấy mẹ, Chúa cũng mong ta cần đến Chúa, tha thiết đi tìm Chúa và hốt hoảng lo âu khi thấy vắng bóng Chúa.

Vì yêu thương ta, Chúa muốn rèn luyện ta nên người. Để rèn luyện ta, Chúa gửi những thử thách tới.  Cuộc đời ví như mặt biển cả mênh mông.  Mỗi người là một con thuyền lênh đênh trên mặt nước. Sóng gió là những thử thách trong cuộc đời.  Những thử thách Chúa gửi đến giúp ta trưởng thành ở ba phương diện.

Những thử thách giúp ta biết mình hơn. Bình thường ta nghĩ mình chẳng kém thua ai.  Nhưng khi gặp thử thách mới biết mình thật yếu đuối.  Thánh Phêrô thấy Chúa đi trên mặt nước thì tưởng mình cũng đi được.  Nhưng chỉ được mấy bước đã chìm xuống.  Các tông đồ là những bạn chài đã quen với sóng nước.  Thế mà vẫn kinh hoảng trước bão tố.  Đã chứng kiến biết bao phép lạ Chúa làm, nhưng khi gặp gió bão vẫn hoảng kinh.  Thử thách giúp ta biết mình.  Biết mình để thêm khôn ngoan, thêm trông cậy và nhất là để biết rèn luyện bản thân cho tiến bộ hơn.

Thử thách giúp ta biết yêu mến, cậy trông vào Chúa hơn. Có thử thách ta mới biết sức mình, biết có những việc ở ngoài tầm tay của mình, chẳng ai có thể giúp mình ngoài Chúa.  Vì thế gặp nhiều thử thách giúp ta biết cậy trông phó thác vào Chúa hơn.  Gặp thử thách ta mới biết chẳng ai yêu thương ta bằng Chúa.  Chúa sẽ không để ta bị thử thách quá sức chịu đựng, nên ta sẽ biết yêu mến Chúa hơn.

Thử thách giúp đức tin vững mạnh. Chẳng có thử thách nào kéo dài mãi mãi.  Chúa chỉ cho thử thách một thời gian.  Rồi Chúa lại can thiệp để sóng yên biển lặng.  Khi sóng yên biển lặng rồi, các môn đệ càng vững tin nơi Chúa hơn.  Để từ nay các ngài không còn cuống quít lo sợ mỗi khi gặp gian nan nữa.  Đời sống mỗi người chúng ta cũng thế.  Ai càng gặp nhiều thử thách thì càng trở nên từng trải, vững vàng.

Đời sống không thể thiếu thử thách.  Hãy biết rằng Chúa cho phép thử thách vì yêu thương ta, để rèn luyện ta nên người.  Hơn nữa Chúa luôn ở bên ta.  Vì thế ta hãy vững tin, hãy cậy trông phó thác và hãy biết tận dụng những khó khăn để đức tin thêm vững mạnh.  Thử thách rồi sẽ qua đi.  Nhưng cách ta phản ứng trước thử thách lại tồn tại và tạo thành giá trị đời ta.  Ước gì mọi thử thách ta gặp trong đời đều biến thành cơ hội cho ta được thêm lòng cậy và lòng mến Chúa.

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Anh chị Thụ Mai gởi

Siêu dông: thói dối trá và bọn lưỡi gỗ

Siêu dông: thói dối trá và bọn lưỡi gỗ

Sau cơn dông hung hãn như cơn bão cấp 8, cấp 9, Hà Nội cây ngã hàng loạt và đã có hai người thiệt mạng. Lập tức báo Hà Nội Mới, cơ quan của Thành ủy Hà Nội đăng bài (xin xem ở đây) khẳng định những thiệt hại đó “cho thấy chủ trương thay thế, cải tạo cây xanh ở nhiều tuyến phố trên địa bàn Hà Nội là hết sức đúng đắn và cần thiết”! Hai bài sau đây, một của luật sư Trần Vũ Hải và một của nhà báo Lan Uyên, bóc trần thói dối trá và vạch mặt bọn lưỡi gỗ một cách đích đáng.

Bauxite Việt Nam

Thy gì sau trn lc kinh hoàng chiu 13.6.2015

Trn Vũ Hi

Cơn lốc chiều 13/6/2015 gây đổ khoảng 500 cây xanh, 2 người chết và nhiều người bị thương, nhiều xe hơi bị bẹp. Có vẻ cơn lốc này xảy ra đúng thời điểm sau khi ông Bí thư Hà nội và một ông Phó thủ tướng nói theo tinh thần, kết luận của thanh tra Hà Nội rằng sai sót trong vụ chặt cây ở Hà nội cùng chỉ dạng vừa vừa thôi, không lớn đâu, chỉ cần rút kinh nghiệm, kiểm điểm.

Nhiều người cho rằng việc chặt hạ và thay thế cây là cần thiết, cơn lốc này chứng minh chủ trương của Hà Nội đó. Sự thật của cơn lốc này đã cho thấy những điều sau:

1. Đây là cơn lốc lớn và có mức tàn phá kinh hoàng nhất trong nhiều thập kỷ qua ở Hà Nội.

2. Không chỉ cây đổ mà còn một loạt cột điện, cột đèn, biển quáng cáo các cỡ các loại, mái nhà, thậm chí móng nhà bị đổ, bị đứt, bị bật, gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ người đi đường và chung quanh không kém thậm chí còn hại hơn so với cây đổ.

3. Không chỉ cây xà cừ (được nhiều kẻ coi là tội đồ trong mùa mưa bão) đổ mà đủ loại cây các loại, lớn nhỏ đổ, trong đó có những cây trồng trong những dự án bất động sản hiện đại nhất Hà Nội. Đặc biệt những cây mới trồng và từng mệnh danh “vàng tâm quý hiếm” cũng đổ, trơ những gốc còn nguyên bao bì để chứng minh chủ trương thay thế cây đúng như thế nào.

4. 500 cây đổ trong cơn lốc khủng khiếp này, nhưng phần không ít cây đổ sẽ nhanh chóng được dựng lại. Trong khi 2000 cây xanh (mà phần nhiều là cây cổ thụ cần được bảo tồn theo luật định) được con người chặt hạ trong thời gian ngắn vừa qua tại Hà Nội vĩnh viễn không được phục hồi.

___

My ý kiến tiếp theo nhân cơn lc chiu 13/6/2015 ti Hà Ni

1. Đây là cơ hội tuyệt vời cho kiến trúc sư Nguyễn Thế Thảo tìm hiểu về chất lượng các công trình trên đường phố Hà Nội và các loại cây xanh đáng thay thế.

2. Chất lượng các cột điện, cột đèn, biển báo giao thông như thế nào, sao bị đổ nhiều thế.http://phapluattp.vn/…/giat-minh-voi-chat-luong-cot-dien-sa…

3. Cây xà cừ có đáng xá tội không, khi chiếm 10% cây trong nội thành nhưng chỉ có 4% cây đổ (34/800 cây đổ trong nội thành)?

4. Những nơi tập trung nhiều cây xà cừ như Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, Đường Láng hầu như không có cây đổ. Trong khi khu vực vừa thay thế hàng loạt cây xà cừ cổ thụ là phố Quang Trung, cây xà cừ bị đổ và được coi gây chết người.

5. Hai khu chung cư cao cấp nhất của một tập đoàn đều có cây bị đổ, nhưng ngay tối chủ đầu tư đã cho dựng lại và dọn dẹp như chưa xảy ra trận cuồng phong. Trong khi đến sáng nay, Hà nội vẫn còn ngổn ngang những vết tích của cơn lốc.

6. Hy vọng sau cơn lốc này kiến trúc sư Nguyễn Thế Thảo sẽ có bảng tổng kết, rút kinh nghiệm và các biện pháp cụ thể để đời thị trưởng Hà Nội sau sẽ không lặp lại những “sai sót” không đáng có. Đây có thể là đóng góp đáng giá nhất của ngài kiến trúc sư trước khi về vườn chăm sóc cây xanh và nhà của mình.

Chùm ảnh:

 

T. V. H.

Nguồn: http://xuandienhannom.blogspot.de/2015/06/tran-vu-hai-thay-gi-sau-tran-loc-kinh.html

Cht cây và cây đ: Ming lưỡi con người tàn ác như thiên tai

Lan Uyên

(VTC News) – Hu qu đ li ca cơn dông lc chiu 13/6 đến nay vn khiến nhiu người hong s, nhưng có l đáng s hơn chính là lòng người trong cơn dông đó.

Sự khó lường của thời tiết mà nhiều người gọi đó là hiện tượng “cực đoan” đang trở thành nỗi ám ảnh của con người. Thời tiết cực đoan hay lòng người cực đoan, khó lường, khó đoán… là vấn đề được đặt ra sau vụ dông lốc mới đây.

Thống kê của Sở Xây dựng Hà Nội cho thấy, trận dông lốc chiều 13/6 đã khiến 1.350 cây xanh bật gốc, làm 2 người chết, 7 người bị thương, 140 ngôi nhà bị tốc mái, 25 ôtô và nhiều xe máy bị hư hại… Hậu quả thật vô cùng khủng khiếp. Khủng khiếp hơn khi nó lại tiếp tục liên quan đến cả ngàn cây xanh vô tri ở Hà Nội.

Cảnh tan hoang sau trận cuồng phong ở Hà Nội

Mạng xã hội chia sẻ hàng loạt các hình ảnh tan hoang sau cơn dông lốc với đủ các lời bình luận. Sự tức giận, tiếng la ó, bất bình chủ yếu tập trung vào việc đổ tội cây xanh, đổ tội cho những người từng bảo vệ cây xanh trong vụ chặt hạ thay thế 6.700 cây của Hà Nội.

Cây gãy đổ, người đau thương… có liên quan gì đến nhau? Tất nhiên là có. Người ta đổi tại cây xanh Hà Nội mục ruỗng quá nhiều, loại cây rễ chùm bám nông nên dễ dàng bật gốc, đổ rạp… gây ra cơ sự. Một vài người lên tiếng, sau đó là đám đông ăn theo, la ó, chửi bới, đổ tội cho các cơ quan chức năng của Hà Nội không chịu chặt hạ, thay thế những cây “đáng bị thay thế” này.

Hàng ngàn, vạn hình ảnh được chia sẻ trên mạng xã hội với nhiều lời bình luận, ít thấy ai tỏ ra thương xót trước sự hoang tàn đổ nát của Hà Nội, phần nhiều còn có vẻ thích thú trước hậu quả đau lòng từ cơn dông đó.

Họ là ai? Có thể, phần lớn họ là những người đã từng bảo vệ đề án chặt cây xanh của Hà Nội mới đây, nay được dịp rủa xả những “người yêu cây xanh Hà Nội”, rằng thấy chưa, việc chặt cây là đúng, các người yêu cây sao không đứng ra bảo vệ cây trong dông tố; những lúc đó các người đang yên ấm ở đâu, để mặc cây gãy đổ…

Thôi thì đủ các loại phát ngôn, đủ những lời rủa xả, một làn sóng chửi bới ào ào, theo kiểu “tát nước theo mưa” được dịp tuôn ra. Rất có thể, trong đám đông chửi bới kiểu “ăn theo” đó, có nhiều người trước đây từng “ăn theo” trong vụ chửi bới phản đối chặt hạ cây xanh trong đề án 6.700 cây của Hà Nội mới đây.

Video: Người Hà Ni nháo nhác trong trn cung phong

Lại vẫn là hiệu ứng đám đông, một người chửi, mười người, rồi trăm ngàn vạn người chửi theo. Những người từng lên tiếng bảo vệ cây xanh trước đề án chặt hạ, thay thế 6.700 cây của Hà Nội mới đây bỗng chốc biến thành kẻ tội đồ. Không biết, cuộc chiến này ai thắng, ai thua? Hà Nội có hả hê không trước cơn dông trời ban đúng nghĩa, cứu vớt đề án đang bị thanh tra, kết tội?

Nhưng sự thật, việc cây đổ trong cuồng phong chiều 13/6 với những lùm xùm trong vụ chặt hạ thay thế cây xanh chẳng liên quan gì đến nhau. Đám đông la ó, chửi bới, chắc hẳn cũng không phải là những người thực sự quan tâm đến đề án chặt cây của Hà Nội, mà phần đông, chỉ là chửi cho “hợp thời”, kiểu “té nước theo mưa”.

Mới đây, một tờ báo của Hà Nội còn lên tiếng, bảo sau dông lốc mới thấy rõ sự đúng đắn của đề án chặt hạ thay thế cây xanh của Hà Nội thế nào.

Chắc chắn không ai phản đối việc chặt hạ, thay thế cây xanh của Hà Nội nếu như việc đó được thực hiện cẩn trọng, đúng mục đích “thay thế cây hỏng, mục ruỗng, cây có dễ bám nông…”. Không ai phản đối nếu Hà Nội làm việc đó công khai, minh bạch. Có điều, một số đơn vị, cá nhân đã sai phạm, đã mượn danh đề án để làm việc khuất tất, chặt cây tươi tốt, thay thế cây “mỡ” mà bảo “vàng tâm”, trồng cây còn nguyên lớp nilong bọc gốc…

Ai đó bảo, đừng “mượn gió bẻ măng”, bởi rõ ràng việc thiếu minh bạch trong vụ 6.700 cây xanh đã có kết luận rồi. Dông lốc lớn đổ cây đè chết người lại là câu chuyện khác. Gió mạnh đổ xe tải trên cầu Thanh Trì thì cũng sẽ làm đổ cây. Cây che chắn cho nhà cửa. Chặt hết cây, đổ nhà chết người khủng khiếp hơn nhiều…

Quả đúng, thay vì gán ghép việc này sang việc khác, hò nhau chửi bới cho hợp thời, có lẽ mỗi người hãy dành thời thời gian suy nghĩ, hiến kế cho nhà quản lý, cách nào đó để việc chặt hạ, thay thế cây đúng mục đích, để việc quản lý an toàn xây dựng, hành lang lưới điện… tốt hơn, tránh những hậu quả đau lòng từng xảy ra như chiều 13/6.

Xin đừng “gió chiều nào, theo chiều ấy”, đừng cực đoan như thời tiết. Cuộc sống vốn đã đầy những bất an, sẽ càng bất an hơn, khi chúng ta cứ hò nhau la ó, chửi bới kiểu phong trào mà không biết, đôi khi có những chính sách ra đời, chính do bị dẫn dắt bởi hiệu ứng đám đông. Hậu quả khi đó thật khó lường!

L. U.

Nguồn: http://vtc.vn/chat-cay-va-cay-do-mieng-luoi-con-nguoi-tan-ac-nhu-thien-tai.2.558022.htm

Tony Melendez – Never Be The Same

Tony Melendez – Never Be The Same

Một người thanh niên tên là Tony Melendez bỗng trở nên quen thuộc với nhiều người kể từ khi Ðức Gioan Phaolô II (nay là thánh G.P.II) đến viếng thăm tiểu bang California, Hoa Kỳ dạo mùa hè năm 1987.

Nhiều người đã chứng kiến buổi lễ tiếp đón Ðức Thánh Cha hôm đó và khó quên hình ảnh vô cùng cảm động khi vị Giáo Hoàng bước xuống từ một lễ đài cao để ôm hôn một người thanh niên đang hát với tiếng đàn Guitar của mình.  Ðiều gì đã làm cho khung cảnh ấy trở nên khác lạ và giây phút ấy đã trở nên luyến nhớ cho nhiều người?

Tony là hiện thân của niềm Hy Vọng.  Tony đã chào đời không có hai cánh tay.  Nhưng Tony đã vận dụng những ngón chân của mình để học đàn guitar.  Không những thế, anh còn dùng chân trong nhiều công việc khác như xếp quần áo, vắt một ly nước chanh.

Anh đã biết biến sự tàn tật kém may mắn của mình thành một khả năng thuần thục.

Ngạc nhiên trước khả năng lạ lùng ấy của anh, nhiều người đã hỏi anh: “Bí quyết nào đã giúp anh chẳng những chấp nhận chính mình để sống bình thường mà còn sử dụng guitar một cách tuyệt diệu như thế?”.

Anh đã trả lời như sau: “Tôi đã cầu nguyện : Lạy Chúa, xin nhận lấy con và dùng con theo thánh ý Chúa.  Tôi đã tự hiến cho Chúa như một của lễ sống động và Chúa đã nhậm lời tôi”.

·        Không ai trong chúng ta chọn lựa được sinh ra hay không sinh ra.

·        Không ai trong chúng ta chọn lựa làm đàn ông hay đàn bà.

·        Không ai trong chúng ta chọn lựa được làm người xinh đẹp hay xấu xí, thông minh hay ngu đần, khỏe mạnh hay bệnh tật, giàu sang hay nghèo hèn…

Dưới mắt người đời, mỗi người chúng ta đến trong trần gian này với cả một định mệnh.  Người ta vẫn nói: có người sinh ra dưới một ngôi sao xấu, có người sinh ra dưới một ngôi sao tốt, có người kém may mắn.

Nhưng trong ánh mắt Tình Yêu của Thiên Chúa, thì số phận nào cũng là một hồng ân cao cả.

Trong chương trình Quan Phòng của Ngài, mỗi người, dù nhỏ bé hèn mọn, dù tàn tật bất hạnh đến đâu, cũng đều có một chỗ đứng.  Do những bất trắc của thiên nhiên, hay do hậu quả của tội lỗi, nhiều người phải sinh ra với tất cả một gánh nặng của bất hạnh.  Nhưng Thiên Chúa không bao giờ bỏ cuộc vì những hư hỏng ấy, Ngài luôn có một chương trình cho mỗi người.

Lắm khi chúng ta thấy được những kỳ diệu của Thiên Chúa được thể hiện qua những bất hạnh, mất mát của con người.

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

Xin mở Youtube để nhìn thấy Kỳ Công của Thiên Chúa….

httpv://www.youtube.com/watch?v=zlZPYGBXQ44

Muốn chống lại Trung Quốc, Việt Nam cần phải làm gì?

Muốn chống lại Trung Quốc, Việt Nam cần phải làm gì?

Nguyễn Hưng Quốc

Trong bài “Ba kịch bản trên Biển Đông”, tôi nêu lên ba tình huống chính có thể xảy ra trong những năm sắp tới: Một, chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ; hai, chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam; và ba, Trung Quốc bất chiến tự nhiên thành, nghĩa là, họ cứ tiếp tục theo đuổi chính sách tằm ăn dâu trên Biển Đông và Việt Nam cứ tiếp tục nhịn nhục, cho đến một lúc nào đó, họ có được tất cả những gì họ muốn mà không cần gây chiến tranh với ai cả.

Cả ba tình huống ấy đều là những bi kịch, đặc biệt đối với phận một nước nhỏ và yếu như Việt Nam.

Vậy, có cách gì Việt Nam thoát khỏi những bi kịch ấy?

Theo tôi, có. Có nhiều biện pháp. Nhưng biện pháp đầu tiên sẽ phải là: dân chủ hoá.

Chính quyền Việt Nam lúc nào cũng cố tìm cách trì hoãn quá trình dân chủ hoá với ba lý do chính: Một là do dân trí còn thấp, dân chúng không biết cách hành xử thích hợp khi được tự do; hai là cần giữ sự ổn định về chính trị để kinh tế được phát triển; và ba, chính trị trong nước cần ổn định và mạnh mẽ để đối phó với hiểm hoạ xâm lược từ Trung Quốc.

Ở đây, tôi chỉ tập trung vào lý do thứ ba vừa kể. Theo tôi, đó chỉ là một nguỵ biện. Sự thật không phải độc tài mà chính dân chủ mới bảo đảm độc lập và chủ quyền của Việt Nam trong thế trận đối đầu với Trung Quốc.

Khẳng định như thế, tôi có bốn lý do chính:

Thứ nhất, chỉ có dân chủ và cùng với nó, sự minh bạch của chính phủ cũng như sự tự do, trước hết là tự do ngôn luận, của dân chúng, mới bảo đảm tránh được những chính sách sai lầm của nhà cầm quyền. Chúng ta dễ dàng thấy rõ điều này trong các chính sách kinh tế, xã hội, môi trường và giáo dục tại Việt Nam: Nhà nước cứ lẳng lặng làm, đến khi dân chúng phản đối, mới thú nhận là…sai sót. Trong lãnh vực quốc phòng cũng vậy. Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng như các cam kết khác của Việt Nam và Trung Quốc mà biểu hiện cụ thể nhất là các phương châm “4 tốt” và “16 chữ vàng” là những sai lầm tai hại, nhầm thù là bạn và gây nên sự mất cảnh giác không những của dân chúng mà còn của cán bộ các cấp trước những âm mưu xâm lấn hiểm độc của Trung Quốc. Ngay chính sách “ba không” (không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự; không tham gia liên minh; không liên minh với nước này để chống lại hay phá hoại nước khác) cũng là một chính sách dại dột bởi vì trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay không có nước nào thực sự cô lập, một nước nhỏ và yếu đang bị uy hiếp bởi một quốc gia giàu, lớn và mạnh hơn mình cả mấy chục lần lại càng không thể nào chọn thái độ tự cô lập, không liên minh với các quốc gia khác. Tuyên bố như thế chả khác gì đầu hàng hay tự trói tay mình trước trận đấu. Nếu Việt Nam có dân chủ và dân chúng có quyền góp ý, những sai lầm dại dột và tai hại ấy sẽ dễ dàng tránh khỏi.

Thứ hai, có dân chủ mới thực sự có sự thống nhất thực sự giữa chính quyền và nhân dân. Những sự thống nhất dưới một chế độ độc tài khi mọi người dân đều bị bịt miệng chỉ là một sự thống nhất giả. Cách đây mấy tháng, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, thấy dân chúng ai cũng ghét Trung Quốc, ông “lo quá”. Cái “lo” ấy rõ ràng phản ánh sự khác biệt to lớn giữa lãnh đạo và quần chúng. Sự khác biệt ấy cho thấy hai điều: Một, về phía giới lãnh đạo, họ không hiểu dân hoặc hiểu, nhưng làm ngơ và tiếp tục hô những khẩu hiệu hoang đường về mối quan hệ môi hở răng lạnh với Trung Quốc; và hai, về phía dân chúng, họ nhìn giới lãnh đạo như những kẻ nhu nhược, bất lực, thậm chí, bán nước, và hậu quả là, người ta đồng loạt quay lưng lại chính quyền. Đến lúc chiến tranh bùng nổ thật, sự quay lưng ấy là một tai hoạ. Ngày xưa, đối diện với nguy cơ xâm lược của nhà Minh, Hồ Quý Ly hỏi ý kiến con trai về phương sách đánh giặc. Con trai ông, Hồ Nguyên Trừng, đáp: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”. Khi dân không theo chính quyền, cái gọi là thống nhất trong những vấn đề liên quan đến Trung Quốc chỉ là một ảo tưởng. Mà không chỉ có tình cảm của dân chúng đối với Trung Quốc. Trong vô số các vấn đề khác, kể cả vấn để then chốt nhất là sự lãnh đạo mặc nhiên và độc tôn của đảng Cộng sản, dân chúng cũng bất đồng với giới lãnh đạo. Chỉ có dân chủ mới cho phép dân chúng nói lên sự thật và cũng buộc giới lãnh đạo nói sự thật: Trên căn bản của những sự thật như thế, người ta mới có thể nói đến sự đồng tâm và thống nhất.

Thứ ba, chỉ có dân chủ mới giúp Việt Nam tranh thủ được sự ủng hộ của thế giới. Ai cũng biết một sự thật đơn giản: trong trận đối đầu với một nước lớn và mạnh như Trung Quốc, Việt Nam cần phải nhận được sự hỗ trợ của càng nhiều quốc gia trên thế giới bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Nhưng trong thời đại ngày nay, không có một quốc gia dân chủ nào lại muốn hỗ trợ một chế độ độc tài. Không ai có thể phủ nhận được thực tế là hình ảnh của Việt Nam trên thế giới rất xấu với những vụ đàn áp nhân quyền thường xuyên xuất hiện trên các cơ quan truyền thông quốc tế.

Thứ tư, còn độc tài, Việt Nam càng không thể tạo thành liên minh với các quốc gia Tây phương, đứng đầu là Mỹ. Muốn liên minh, người ta phải có những điểm chung. Cái chung về các quyền lợi trên Biển Đông chỉ là một. Người ta cần một điểm chung sâu sắc và căn bản hơn: điểm chung của các bảng giá trị. Đó chính là quyền làm người. Trước đây, Lý Quang Diệu từng biện minh cho các chính sách độc tài của ông tại Singapore bằng cách đề cao những bảng “giá trị Á châu” vốn được xem là khác biệt hẳn với các bảng giá trị ở Tây phương. Càng ngày người ta càng thấy đó chỉ là một sự nguỵ biện. Hiện nay, người ta xem nhân quyền và việc tôn trọng nhân quyền là những giá trị phổ quát của nhân loại. Bởi vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi trong các cuộc đối thoại với Việt Nam, Mỹ cũng như các quốc gia Tây phương luôn luôn đề cập đến vấn đề nhân quyền. Họ xem việc tôn trọng nhân quyền là một điều kiện để ký kết các hiệp định thương mại. Đối với việc liên minh về quốc phòng, điều kiện ấy lại càng cần thiết hơn.

Có thể khẳng định: Sẽ không có nước nào sẵn sàng chung vai sát cánh với Việt Nam để đương đầu với Trung Quốc nếu Việt Nam cứ độc tài mãi.