Cuộc Sống không cho ai quá nhiều.

Cuộc Sống không cho ai quá nhiều.

Ở một đất nước giàu có của Châu Âu, có một cô ca sĩ rất nổi tiếng. Tuy mới chỉ 30 tuổi nhưng danh tiếng cô đã vang dội khắp nơi, hơn nữa cô có một người chồng như ý và một gia đình hạnh phúc mỹ mãn.

Một lần, sau khi tổ chức thành công một đêm diễn, cô ca sĩ cùng chồng và con trai bị đám đông người hâm hộ cuồng nhiệt bao quanh. Mọi người tranh nhau chuyện trò với cô. Những lời lẽ tán tụng khen ngợi tràn ngập cả sân khấu.

Có người khen cô tuổi nhỏ chí lớn, vừa tốt nghiệp đại học đã bước chân vào nhà hát tầm cỡ quốc gia và trở thành nữ ca sĩ trụ cột của nhà hát. Có người tán tụng rằng mới có 25 tuổi mà cô đã được lựa chọn là một trong 10 nữ ca sĩ có giọng háy opera xuất sắc nhất thế giới. Có người lại ngưỡng mộ cô có người chồng tuyệt vời, một cậu con trai kháu khỉnh, dễ thương.

Trong khi mọi người thi nhau bàn luận, cô ca sĩ này chỉ im lặng lắng nghe, không thể hiện thái độ gì. Khi mọi người nói xong cô chậm rãi nói:

Trước tiên, tôi cảm ơn những lời ngợi khen của mọi người dành cho tôi và những người trong gia đình tôi. Tôi hy vọng có thể chia sẻ niềm vui này với mọi người.

Nhưng các bạn chỉ nhìn thấy một số mặt trong cuộc sống của tôi còn một số mặt khác, các bạn vẫn chưa nhìn thấy. …Cậu con trai của tôi mà mọi người khen là bé kháu khỉnh, đáng yêu, thật bất hạnh, nó là 1 đứa trẻ bị câm. Ngoài ra, nó còn có một người chị tâm thần và thường xuyên bị nhốt ở nhà.

Mọi người đều ngơ ngác, sửng sốt nhìn nhau, dường như rất khó chấp nhận một sự thật như thế. Lúc này, cô ca sĩ mới điềm tĩnh nói với mọi người:

“Tất cả những chuyện này nói lên điều gì? Có lẽ chúng nói lên một triết lý, đó là, Thượng đế rất công bằng, ngài không cho ai quá nhiều thứ bao giờ.”

Thượng đế rất công bằng , ngài không cho ai quá ít, cũng không cho ai quá nhiều. Vì thế, đừng nên chỉ nhìn thấy hoặc ngưỡng mộ những thứ người khác có, mà nên nghĩ và trân trọng những thứ bạn đang có, cho dù đó không phải là những vinh quang tột đỉnh.

Vậy nên, nếu ai hỏi bạn “ Bạn có hạnh phúc không?” Bạn hãy trả lời rằng :”Mình hạnh phúc. Hạnh phúc theo cách sống và những gì mình đang có trên đời này.“

S.T.

NHÌN SÂU HƠN

NHÌN SÂU HƠN

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Đôi khi bạn có thể thấy rất nhiều điều chỉ bằng một cái nhìn.  Đây là một trong những câu nói lừng danh của danh thủ bóng chày Yogi Berra.  Đây tất nhiên là một diễn đạt rất khéo, nhưng đáng buồn là, có lẽ gần như mọi chuyện lại trái ngược.  Hầu như chúng ta nhìn rất nhiều mà chẳng thực sự thấy được bao nhiêu.  Thấy có nhiều ý nghĩa hơn là có một thị lực tốt.  Đôi mắt chúng ta có thể mở rộng nhưng chúng ta cũng có thể chỉ thấy được rất ít.

Tôi luôn luôn suy ngẫm về hình ảnh thánh Phaolô trong kinh thánh nay sau khi ngài hoán cải.  Chúng ta luôn cho rằng thánh Phaolô bị mù vì thị kiến mình thấy, nhưng, theo tôi, bản văn kinh thánh còn ngụ ý xa hơn nữa.  Kinh thánh viết rằng Phaolô bò dậy với đôi mắt mở to, nhưng không thấy gì.  Điều này không nhất thiết phải là chứng mù thể lý.  Có thể ngài thấy được về mặt thể lý, nhưng không thể thấy được ý nghĩa những gì trước mắt mình.  Phải có người đến và mở mắt Phaolô, không phải chỉ để ngài lại có thể nhìn thấy về mặt thể lý, nhưng đặc biệt là ngài có thể thấy sâu hơn vào mầu nhiệm Chúa Kitô.  Nhìn thấy, thực sự thấy, mang nhiều nghĩa hơn là có đôi mắt lành lặn về thể lý và mở to.  Chúng ta tất cả đều thấy vẻ ngoài của sự vật sự việc, nhưng cái bên trong ẩn dưới đó, thì không tự động mà thấy được.

Ví dụ như, chúng ta thấy điều này trong các phép lạ chữa lành của Chúa Giêsu.  Trong Tin mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu nhiều lần làm phép lạ chữa lành.  Ngài chữa lành người què, người điếc, người câm, người cùi, và hai phụ nữ vì các lý do khác nhau mà không thể mang thai.  Điều quan trọng phải thấy nơi những phép lạ khác nhau này, là hầu như luôn có có một sự gì đó cao hơn sự chữa lành thể xác.  Chúa Giêsu đang chữa lành cho người ta theo một cách thâm sâu hơn, ngài đang chữa lành người què để họ có thể bước đi trong tự do và phụng sự Thiên Chúa . Ngài chữa lành người điếc để họ có thể nghe thấy Tin mừng.  Ngài chữa lành người câm để họ có thể mở miệng chúc tụng tôn vinh.  Và Ngài chữa lành những người son sẻ để họ có thể đem sự sống mới sinh sôi.

Chúng ta thấy điều này gần như rất rõ ràng những khi Chúa Giêsu chữa lành những người mù.  Ngài cho họ không chỉ là cái nhìn thể lý, ngài mở mắt họ để họ có thể nhìn sâu hơn.  Nhưng đây chỉ là một hình tượng.  Làm sao giải nghĩa cho thấu đáo đây?  Làm sao ân sủng và giáo huấn của Chúa Giêsu giúp chúng ta nhìn một cách sâu sắc hơn đây?  Tôi xin đưa ra một số gợi ý:

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua những gì quen thuộc đến nhìn qua sự kinh ngạc kỳ vỹ.

G.K Chesterton từng khẳng định rằng sự quen thuộc là ảo ảnh lớn nhất và bí mật cuộc đời là học biết nhìn vào những gì quen thuộc cho đến khi chúng trở lại thành không quen thuộc.  Chúng ta mở đôi mắt mình hướng đến chiều sâu khi mở lòng mình ra với kinh ngạc kỳ vỹ.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua hoang tưởng và tự vệ đến nhìn qua sám hối và vun đắp.

Không ngẫu nhiên khi lời đầu tiên của Chúa Giêsu trong các Phúc âm tóm lược là từ ‘sám hối’ một từ đối lập với ‘hoang tưởng’.  Chúng ta mở mắt mình ra hướng đến chiều sâu, khi chúng ta chuyển vần từ tư thế tự vệ đến một tư thế vun đắp.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua sự ghen tỵ đến nhìn qua sự ngưỡng mộ.

Nhận thức của chúng ta trở nên méo mó bất kỳ lúc nào chúng ta đi từ trạng thái hạnh phúc của ngưỡng mộ đến trạng thái bất hạnh của ghen tỵ.  Tầm nhìn của chúng ta được thoáng đãng rõ ràng khi chúng ta vui mừng trong ngưỡng mộ.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua chua cay đến nhìn qua đôi mắt được thanh luyện và mềm dịu bởi thương tâm.

Cội rễ của chua cay là thương tích và cách để thoát khỏi chua cay là thương tâm.  Nước mắt gột sạch tầm nhìn của chúng ta bởi nước mắt làm mềm đi trái tim bị chai cứng bởi tổn thương.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua ảo tưởng và ái kỷ đến nhìn qua cảm kích và cầu nguyện.

Một trong những chuyển vần then chốt trong đời sống tâm linh của chúng ta là sự chuyển vần từ ảo tưởng sang cầu nguyện, một chuyển biến tận cùng giải thoát chúng ta khỏi mong muốn nén vào bản thân mình tất cả những gì đẹp đẽ, nhưng biết cảm kích vẻ đẹp vì chính nó mà thôi.  Chúng ta chỉ có thể thấy và cảm kích vẻ đẹp khi ngừng ham muốn nó.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua tính toán đến nhìn qua sự chiêm ngắm.

Khát khao muốn được có vị thế khiến chúng ta nhìn ra thế giới với đôi mắt khắc khoải, bất mãn. Chúng ta chỉ biết để tâm và thấy được sự phong phú của thời khắc hiện tại khi sự bất an trong chúng ta được xoa dịu làm thinh bởi cô tịch.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua giận dữ đến nhìn qua sự tha thứ.

Không một điều gì làm hoen ố tầm nhìn của chúng ta cho bằng cơn giận.  Nó là thứ bệnh gây suy nhược nhất với mọi nhãn cầu.  Và không điều gì tẩy sạch tầm nhìn của chúng ta cho bằng tha thứ.  Không một ai mang ác cảm trong lòng mà lại nhìn cho công thẳng được.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua dục vọng và thèm khát đến nhìn qua lòng biết ơn.

Dục vọng và thèm khát bóp méo cái nhìn của chúng ta.  Lòng biết ơn phục hồi cái nhìn đó.  Lòng biết ơn cho cái nhìn thấu suốt.  Người có lòng biết ơn nhất mà bạn biết, có cái nhìn tốt nhất về tất cả những người mà bạn biết.

“Tình yêu là đôi mắt!” Vậy nên, lời khôn ngoan này của các nhà thần nghiệm trung cổ, có lẽ nên được thêm vào tự điển y khoa về khoa đo thị lực hiện thời.  Nhìn sao cho thẳng, cho đúng, cho thật, có nhiều chiều kích hơn chúng ta thường tưởng.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Lời nguyền chính trị

Lời nguyền chính trị

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-07-06

07052015-political-curse.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Ông Nguyễn Văn Linh được truyền thông chính thống Việt nam xem là cha đẻ của cái gọi là “đổi mới,” chuyển đổi chính sách kinh tế bao cấp sang việc chấp nhận thực tế thị trường

Ông Nguyễn Văn Linh được truyền thông chính thống Việt nam xem là cha đẻ của cái gọi là “đổi mới,” chuyển đổi chính sách kinh tế bao cấp sang việc chấp nhận thực tế thị trường

File photo

Hai nhà chính trị

Tên tuổi hai nhà chính trị Việt nam được giới blogger nhắc đến nhiều trong tuần qua là cựu Thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ vừa từ trần, và ông Nguyễn Văn Linh nguyên Tổng bí thư đảng cộng sản, được giới chức Việt nam kỷ niệm 100 năm ngày sinh một cách trọng thể.

Người ta nhắc nhiều đến ông Trần Quang Cơ vì khí phách của ông như lời một blogger bình luận, là ông chống lại ý kiến của những người đứng đầu nước Việt nam ở giai đoạn đầu thập niên 90 trong chính sách đối ngoại với Trung quốc. Ông từ chối nhận lãnh chức vụ Bộ trưởng ngoại giao, điều mà ông Nguyễn Vĩnh vốn là một thuộc cấp của ông cho là rất hiếm hoi trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp. Người ta nhắc tới ông Cơ nhiều nhất là về quyển hồi ký của ông liên quan đến hội nghị Thành Đô dẫn đến bình thường hóa quan hệ với Trung quốc. Quyển hồi ký không được in ở Việt nam mà chỉ lưu truyền trên mạng, trong đó ông đề cập nhiều đến những nhân nhượng quá đáng mà các nhà lãnh đạo đảng cộng sản lúc ấy dành cho Trung quốc.

Nếu ông Trần Quang Cơ được nhiều trang blog không chịu sự kiểm soát của đảng nhắc tới, thì trên báo chí chính thống người ta ít nhắc tới ông, mà thay vào đó là ông Nguyễn Văn Linh. Ông Linh được truyền thông chính thống Việt nam xem là cha đẻ của cái gọi là “đổi mới,” chuyển đổi chính sách kinh tế bao cấp sang việc chấp nhận thực tế thị trường. Rất nhiều lời tán dương ông Linh trên báo chí Việt nam, đặc biệt có một bài báo chạy hàng chữ đậm rằng ông Linh là người… Không chấp nhận đa nguyên đa đảng!

Ngược lại với báo chính thống, ông Linh bị nhiều chỉ trích trên các trang blog.

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn cho rằng ở thời buổi hiện nay mà gióng lên ý tưởng của ông Linh rằng không chấp nhận đa nguyên đa đảng là một điều lạ.

Còn danh hiệu cha đẻ của đổi mới cũng được các blogger hoài nghi rằng có phải chính ông Linh là kiến trúc sư của cái gọi là đổi mới ấy hay không, vì gần 30 năm sau, nhiều tài liệu được công khai, người ta thấy rằng ông Linh không phải là một người can đảm đi đến những quyết định chính trị như vậy. Hơn nữa có nhiều bằng chứng cho thấy ông Linh lại là một người bảo thủ với nhiều nỗi sợ hãi khi chứng kiến chủ nghĩa cộng sản sụp đổ khắp nơi trên thế giới vào giai đoạn những năm 1989-1990. Chính điều này đẩy ông thành kẻ mà nhiều người cho rằng có tội khi chủ trương ký hiệp định Thành Đô với Trung quốc. Trang blog Bauxite Việt nam bình luận:

Đánh giá một nhân vật lịch sử chính là phải đứng ở góc độ dân tộc, chứ không phải trên lập trường của một đảng: Người đó đã làm gì cho đất nước, chứ không phải đã làm gì cho đảng. Lịch sử đã đánh giá Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống nghiêm khắc như thế nào, sẽ đánh giá những kẻ đang tâm bán đứng dân tộc qua thỏa thuận Thành Đô, mà di lụy của nó cho đến nay vẫn chưa biết hết, như thế ấy.

Còn Tiến sĩ Hà Sĩ Phu thì cho rằng ông Linh là kẻ có tội nhiều hơn công:

“Cuối cùng do sự bố trí của phe thân Trung Cộng ông Nguyễn Văn Linh đã cầm đầu phái đoàn đi sang Thành Đô, là hành động vô cùng tệ hại, đưa Việt Nam vào một quỹ đạo không thể ra được. Tôi nghĩ rằng ông Nguyễn Văn Linh đổi mới cũng chẳng qua là cứu Đảng thôi nhưng cũng do chuyện cứu Đảng mà trình độ lại non và quan điểm lại bảo thủ nên cuối cùng phải đi vào quỹ đạo Thành Đô cho nên cái tội nhiều hơn công rất nhiều.”

Và cuối cùng khi bàn về cái gọi là đổi mới, thì Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn xem đó chẳng phải là điều gì hay ho, vì vốn cuộc sống luôn cần một sự đổi mới.

Còn một điều khác nữa là bản chất của cái gọi là đổi mới là quay về với những gì đúng đắn hợp lẽ tự nhiên, phá đi những rào cản mà chính những người cộng sản tạo ra cho dân tộc và cho chính mình. Để nói về giai đoạn thay đổi đó, ngôn ngữ của đảng cộng sản hay dùng từ cởi trói, nhưng dường như là không có người lạ nào trói họ cả.

30 năm sau

Những quyết định chính trị trong những năm 1989-1990 đã định hình nước Việt nam với hoàn cảnh đối ngoại, và những xáo trộn xã hội đặc biệt của nó.

Sự thành công của ông Nguyễn Văn Linh, hay là sự thất bại của ông Trần Quang Cơ đã để lại một nước Việt nam gắn chặt về ý thức hệ với Trung quốc ngày nay.

Blogger Song Chi viết bài Nước còn hay mất. Bà cho rằng trong thời buổi hiện đại hiện nay, một kịch bản Trung quốc đưa quân xâm lược để đặt Việt nam thành quận huyện là khó có thể xảy ra. Tuy vậy với sự lệ thuộc Trung quốc ngày càng nhiều về kinh tế, văn hóa, bên cạnh sự cam kết chính trị trung thành với ý thức hệ của giới lãnh đạo,… thì Trung quốc cũng không cần dụng binh làm gì.

Sự lệ thuộc văn hóa Trung quốc lên đến đỉnh điểm trong hàng loạt công trình xây Văn miếu thờ Khổng Tử trong thời gian qua. Điều mà nhà báo Danh Đức gọi là Dịch xây Văn Miếu. Ông viết trên trang blog của thời báo Kinh tế Sài gòn:

Không phải là bài ngoại, song cái gọi là “văn hóa tương đồng” nhất định phải có giới hạn của nó, chứ không thể cứ “đánh đồng làm một” mãi. Trong lịch sử, quả là Nho giáo đã chiếm vị trí quan trọng ở Việt Nam, song ảnh hưởng đó cũng đã kết thúc hơn 100 năm nay rồi và Việt Nam đang là một quốc gia độc lập, nên không thể tùy tiện hay vì bất cứ lý do gì khác mà tái du nhập những di tích của sự lệ thuộc đó.

Cựu Thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ

Cựu Thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ 1927 – 2015

Có thể là Nho giáo không còn ảnh hưởng nhiều trong xã hội Việt nam, nhưng trên bình diện chính trị ý thức hệ, dường như một cụm từ khác đã thay thế, đó là xã hội chủ nghĩa. Điều mà blogger Cánh Cò mượn lời các quan chức Bắc Kinh mà gọi đó là một …. Đại cục vô hình mà tới giờ dường như các nhà lãnh đạo Việt nam chưa thoát ra được.

Và chính ý thức hệ đó trở thành một trở ngại cho công cuộc cải cách giáo dục mà nhiều trí thức Việt nam lo lắng hàng chục năm nay.

Trang blog Bauxite Việt nam kể lại câu chuyện đối thoại giữa nhóm Đối thoại giáo dục do Giáo sư Ngô Bảo Châu chủ xướng và một số ý kiến phản biện.

Nhóm Đối thoại giáo dục đề nghị một điều quan trọng trong cải cách Đại học là thành lập Hội đồng ủy thác để điều hành. Tiến sĩ Ngô Doãn Đãi cho rằng đề nghị này không thể thực hiện được vì theo luật giáo dục Việt nam thì Đảng cộng sản lãnh đạo các trường Đại học.

Một người tham gia phản biện nhóm Đối thoại giáo dục là dịch giả Đinh Bá Anh, lại cho rằng hiện nay nền giáo dục Việt nam không thể cải cách được vì nó không chịu một sức ép nào cả. Ông cho rằng nó có thể được cải cách nếu có một ý chí chính trị mạnh mẽ nào đó, nhưng ông tiếp lời là chuyện đó chưa xảy ra vì hiện nay chính trị Việt nam là một nền chính trị chịu sức ép từ nhóm lợi ích chứ không có viễn kiến.

Có lẽ câu chuyện cải cách giáo dục lại một lần nữa đi vào bế tắc.

Đứng trước tình trạnh xã hội chính trị hiện nay, Giáo sư Nguyễn Đình Cống cho rằng có một điều gì đó như là một lời nguyền mà nước Việt đang gánh chịu, lời nguyền đó theo ông xuất hiện sau khi cuộc chiến Việt nam tương tàn kết thúc:

Có thể những người cầm đầu phe bại trận đã không có một lời nguyền nào nhưng hàng vạn, hàng chục vạn những người khác đã công khai hoặc bí mật nguyền rủa vì cho rằng họ bị đối xử bất công, tàn bạo, bị phản bội lời hứa và lòng tin. Đó là những người bị triệu tập vào các trại cải tạo, bị giam giữ không kết án, bị tước đoạt tài sản và tự do, bị ép buộc đến các vùng kinh tế mới, bị trở thành “thuyền nhân”với không biết bao nhiêu tai họa.

Giáo sư Nguyễn Đình Cống là người công khai tuyên bố rằng muốn cho Việt nam phát triển thì phải từ bỏ chủ nghĩa cộng sản và ý thức hệ Mác Lê Nin, nền tảng của cấu trúc nhà nước Việt nam hiện tại.

Trong lãnh vực tư pháp, cấu trúc nhà nước ấy không chấp nhận sự cân bằng quyền lực như ở mô hình các quốc gia theo thể chế tư bản dân chủ. Đó cũng là điều mà Luật sư Nguyễn Văn Thân cho rằng nó làm cho Việt nam không thể xây dựng nên nhà nước Pháp quyền được. Ông viết:

Muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền thì trước hết phải có sự phân quyền giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp và một hệ thống tư pháp thật sự độc lập. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay vẫn đứng trên pháp luật và cai trị một cách tùy tiện. Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Trương Hòa Bình là một thành viên Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản thì làm sao tòa án có thể độc lập?

Nhưng mô hình mới nào cho Việt nam để thoát khỏi bế tắc?

Tác giả Vũ Hoàng Nguyên viết trên trang Ngàn Lau rằng cần phải thận trọng, đừng lập lại sai lầm của những người cộng sản nữa:

Cần phải xác định một điều là không có cơ chế nào trên thế giới này hoàn hảo. Chúng ta không đi tìm một cơ chế hoàn hảo bởi nếu chúng ta vẫn mang tư tưởng tìm một cơ chế hoàn hảo thì tự chúng ta sẽ lập lại sai lầm của đảng cầm quyền hiện giờ, tức là đưa đất nước dân tộc vào Xã Hội Chủ Nghĩa mà chính những người lãnh đạo không biết cái Xã Hội Chủ Nghĩa đó ra sao, khi nào được hình thành. Chúng ta cũng không đem bất cứ cơ chế của quốc gia nào đó vào áp dụng trên dân tộc của mình bởi chúng ta sẽ vấp phải sai lầm mà đảng CSVN đang sai lầm.

Nhưng cho đến bao giờ?

LS Nguyễn Văn Thân viết rằng so với những mầm mống dân chủ hình thành ở nước Anh trước đây thì Việt nam đã muộn đến 800 năm.

Con Cái Thời Nay

Con Cái Thời Nay

Huy Phương

Xem tin tức ở Việt Nam chúng ta thường nghĩ đến lúc đạo lý đã suy đồi. Thời gian qua, số vụ án con cái giết cha mẹ đang có chiều hướng gia tăng. Trên báo chí, không thiếu tin tường thuật những vụ án mạng tàn bạo do những đứa con bất hiếu thẳng tay đâm chém cha mẹ dù chỉ với những bất bình nhỏ.

Nếu kể chuyện nghịch nữ hoặc nghịch tử ở Việt Nam, hẳn phải mất hàng nghìn trang giấy: Tơ Đênh Triệu (Quảng Nam) say rượu giết cha. Đặng Hùng Phương (Vĩnh Long) giết cha rồi đem lên Sài Gòn phi tang. Trần Văn Kiệt (Tây Ninh) đâm cha sau một lần cãi vã. Lê Văn Lực (Thanh Hóa) chỉ vì lời mắng “đồ ăn hại” đã đoạt mạng cha mình. Nguyễn Xuân Hậu (Lào Cai) chỉ vì bị la không chịu lo sửa soạn Tết đã đâm chết cha. Nguyễn Khả Đ. (Rạch Giá) giết mẹ rồi giấu xác trong lu nước. Nguyễn Thị Phin (Tây Ninh) giết mẹ chiều 30 Tết để lấy tiền, vàng. Nông Văn Thùy (Bắc Giang) xin tiền không được, đã vung chày sát hại mẹ. Bùi Minh Đạt (Hà Nội) vì mâu thuẫn đất đai, đã dùng dao chém nhiều nhát vào cổ, đầu, tay mẹ khiến nạn nhân tử vong tại chỗ. Lê Văn Phước (Đồng Nai) trong lúc tắm rửa, vệ sinh cho người mẹ 82 tuổi bị tai biến, đã liên tục chửi bới và đánh đập khiến bà cụ tử vong…

Chúng ta những người Việt đang sinh sống ngoài Việt Nam, ở Hoa Kỳ hay các nước khác thường cho là mình may mắn không phải sống ở cái đất nước đạo lý suy đồi, luân thường bại hoại. Nước Mỹ có 320 triệu dân, nửa năm chưa xảy ra một vụ án mạng con giết cha mẹ, đất nước Việt Nam chỉ có 90 triệu dân, tuần nào cũng có chuyện cha mẹ bị con đâm chém. Nhưng như thế có phải cha mẹ người Việt sống ở Mỹ, đời sống được bảo vệ và có hạnh phúc hơn không? Sở dĩ chúng tôi trình bày như vậy, vì giữa văn hóa Việt và Mỹ có những phần khác biệt.

Nhà văn Lâm Ngữ Đường trong “Một Quan Niệm Về Sống Đẹp” (Nguyễn Hiến Lê dịch) đã cho rằng người cao niên ở Mỹ về già vẫn làm việc hăng hái, vì họ theo chủ nghĩa cá nhân một cách thái quá, tự đắc, muốn độc lập, cho sự nhờ vả con cái là tủi nhục. Trong các quyền của công dân không có cái quyền của cha mẹ được con cái phụng dưỡng. Tại phương Tây, ông già bà lão không muốn xen vào đời sống của con, lánh mặt trong một nơi nào đó, tự lo cho cái ăn ngủ của mình. Người Trung Hoa (và người Á Đông?) không có cái quan niệm cá nhân độc lập, mà cho rằng những người trong gia đình có bổn phận giúp nhau, nếu về già mà phải nhờ cậy con, có điều chi mà xấu hổ!

Bản năng của muôn loài là thương yêu và bảo vệ con. Con gà mẹ dùng đôi cánh che chở cho bầy gà con trước sự hung hiểm của diều hâu. Con chim bay xa tha mồi về mớm cho con non nớt yếu đuối bên bờ tổ. Hung dữ như cọp beo cũng không có loài nào ăn thịt con. Nhưng muôn loài cũng không có cái cảnh nào có đàn con đi kiếm thức ăn cho những người sinh nở ra chúng lúc họ về già, không còn khả năng săn nhặt, nằm chờ chết trong hang ổ. Nhà văn Lâm Ngữ Đường cho rằng, “Người nào cũng yêu con, nhưng người có văn hóa mới biết thương yêu cha mẹ!”

Ở Mỹ, trong giờ hành chánh mà một đứa con lang thang ngoài đường, thì cảnh sát lập tức kết tội cha mẹ của chúng, nhưng một cụ già bị bỏ ngoài đường thì người ta tìm đến sở xã hội, liệu có ai truy tìm và lên án những đứa con.

Chúng ta phải chờ vài ba thế hệ nữa may ra, chứ hiện nay, các bậc cha mẹ người Việt ở Mỹ, tâm lý vẫn chưa sẵn sàng, còn cảm thấy tổn thương và đau khổ, than trách khi bị con cái đẩy ra khỏi nhà. Những vị cao niên Mỹ không ai than phiền vì con cái không quan tâm hay “bỏ rơi” mình. Đối với họ, con trên 18 tuổi đã ra khỏi gia đình, vì muốn cho con tự lập, có khi muốn con đi học xa, thăm hỏi, quan tâm là điều tốt, nhưng cha mẹ không bao giờ kỳ vọng nơi con cái khi mình về già, trông đợi sự giúp đỡ của con. Cha mẹ và con cái từ đây hết còn bổn phận với nhau. Do đó, họ chuẩn bị để dành tiền, đầu tư, mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm “sức khỏe lâu dài,” chuẩn bị “hậu sự” cho mình.

Như vậy các bậc cha mẹ này không còn cảm thấy đau khổ vì những lý do về con cái.

Trái lại người Việt hay Á Đông luôn cho rằng trong trăm nết thì chữ hiếu đứng đầu (Bách hạnh hiếu vi tiên). Theo Phật Giáo thì “tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật.” Khi thấy con cái đối xử với mình tệ bạc thì đem lòng ai oán, nhất là vào buổi giao thời, vẫn thường so sánh lối sống của gia đình ngày xưa, với lối sống “Mỹ hóa” bây giờ của con cái, và cũng vì chính sự đổi thay quá nhanh chóng của con cái, sinh ra ở Mỹ, hay chịu lối sống Mỹ quá sớm, hoặc là dùng chữ gia đình “vô phước” như cách than phiền của nhiều vị.

Quí vị đã có dịp lui tới chuyện trò với các vị cao niên người Việt trong các nhà dưỡng lão, đã thường biết đến nỗi buồn của họ, không phải vì tiền, vì danh mà vì một nỗi cô đơn, chỉ vì con cái không ngó ngàng đến họ. Khi tôi muốn kể nỗi lòng của một vị cao niên buồn bã, cô đơn trong một nhà dưỡng lão, trên trang báo, thì ông cụ chấp tay vái tôi, “Thôi xin ông, con tôi mà biết tôi kể lể với ông thì chúng hành tôi đến chết mất!”

– Một gia đình, khi người cha qua đời, những đứa con thấy mẹ thui thủi một mình, khuyên mẹ bán ngôi nhà rồi về ở với chúng nó. Như một trái bóng, bà bị đưa qua đưa lại giữa những đứa con, và chỗ ở cuối cùng của bà bây giờ là nhà dưỡng lão!

– Một bà cụ khi bị đưa vào bệnh viện, rồi nhà hưu dưỡng, vì lo xa, bà làm thủ tục trao cho cô con gái duy nhất, ngôi mobile home của bà, nhưng chỉ ít lâu sau, cô này bán ngôi nhà lấy tiền bỏ túi. Khi khỏe mạnh được trở về nhà, bà phải đi “share” phòng cho đến lúc qua đời.

– Một gia đình lúc người cha mất, bà mẹ vội vã sang tên ngôi nhà cho hai cô con con gái. Cô chị trả cho em một nửa số tiền để lấy hẳn ngôi nhà, và mời bà mẹ ra khỏi nhà. Lý do: Hạnh phúc gia đình của riêng cô. Người mà cô chọn là chồng, chứ không phải mẹ!

– Nếu bạn đọc thấy một người phụ nữ luống tuổi thường đi xe đạp trong khu Little Saigon, đó là người mẹ có bốn đứa con, bà đang ở nhà “share” vì không đứa con nào chịu “nuôi” mẹ.

Hầu hết những nhân vật trong câu chuyện này là quý bà, vì trong buổi giao thời này, còn mang tâm lý “nội trợ,” không biết lái xe, không biết Anh ngữ, và tình thương con cái còn nhiều như thuở còn ở Việt Nam, còn các ông thì dễ sống hơn. Mặt khác là bậc cha mẹ người Việt ở Mỹ không biết là các con đổi thay quá nhanh.

Phần đông những bậc cha mẹ ở Mỹ lâm vào cảnh ngộ trên vì có con cái sinh ra ở Mỹ hay được đem đến Mỹ quá sớm, và con cái có bằng cấp càng cao, giàu có càng nhiều thì hình như càng không nghĩ đến chuyện mình phải có bổn phận phụng dưỡng cha mẹ già. Không những phụng dưỡng cha mẹ già mà còn như lường gạt, lừa đảo các bậc sinh thành như những câu chuyện thường xảy ra trong cộng đồng Việt Nam mà chúng tôi trình bày ở trên. Cái cảnh trong gia đình nghèo, anh chị em thương nhau, con cái hiếu với cha mẹ, hình như chúng ta vẫn thường thấy trong đời. Những đứa con lớn lên ở Việt Nam, đã qua cái cảnh thiếu ăn, cha tù đày, mẹ vất vả ngược xuôi, hẳn trong lòng chúng còn một chỗ tựa cho cha mẹ.

Những câu chuyện con, dâu, con rể mời cha mẹ ra khỏi nhà không thiếu ở đây, nhan nhản, chẳng khác gì những thảm cảnh con cái giết cha mẹ ở Việt Nam. Gia đình người Việt ở Mỹ chưa thấy cảnh cha mẹ chết dưới tay con, nhưng khổ đau u sầu do con cái gây nên thì không thiếu, “Giết nhau chẳng cái Lưu Cầu, giết nhau bằng cái u sầu độc chưa?”

Cuối cùng bài học chưa thuộc của tuổi già vẫn là: “…Người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong chờ báo đáp. Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.” (Chu Dung Cơ).

Bài học thứ hai là đừng bao giờ “dốc túi” cho con quá sớm trước khi nhắm mắt.

Thực ra, “Nuôi con mới biết lòng cha mẹ, về già mới biết lòng con cái.”

Trong chúng ta ai thực sự đã chuẩn bị cho tuổi già như người bản xứ, thôi thì trăm sự, đường cùng phải nhờ đến ông nhà nước.

Huy Phương

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Nỗi lo sợ không tên

Nỗi lo sợ không tên


Chuyện kể rằng, một người nọ sau khi từ giã cõi đời và được về bên Thượng Đế, anh ta mạo muội xin phép Thượng Đế cho anh ta được sống lại một vài giai đoạn trong đời anh ta. Sau khi suy nghĩ và thấy anh này cũng có một đề nghị hơi lạ, Thương Đế đã đồng ý.

Anh ta xin tiếp, “Thưa Ngài, sau mỗi quãng đời, xin cho con được dừng lại và về gặp Ngài để hỏi một vài thắc mắc có được không?” Thượng Đế cũng tỏ vẻ vui lòng ưng thuận. Vậy là người này trở lại kiếp người.

1/ Anh ta làm lại một cậu học trò với bao bận rộn với việc học hành, nhưng cũng không ít vui chơi hồn nhiên giải trí. Nhưng khi phải vượt qua những kỳ thi, thì cậu học trò lại tỏ ra lo sợ. Cậu ta lo sợ bị thi rớt, sợ bị điểm thấp, sợ bị chúng bạn chê cười…

Cậu ta xin dừng cuộc đời lại đó và đi hỏi Thượng Đế. “Thưa Ngài, tại sao con phải lo sợ những chuyện thi cử?”

“Con lo sợ chúng vì con đã nhìn cuộc đời của con như thể chỉ có chuyện thi cử mà quên đi những chuyện khác xung quanh con,” Thượng Đế trả lời.

2/ Anh ta trở lại dương thế và tiếp tục làm người.
Giai đoạn này, anh ta có người yêu, lập gia đình, có con và tưởng chừng như anh ta đã vượt qua những nỗi lo sợ của thời trẻ con. Thế nhưng, anh ta vẫn lo sợ. Anh sợ vợ anh phản bội, con anh không đủ sức khỏe, công việc làm ăn không ổn định.

Anh dừng cuộc đời lại và đi hỏi thượng đế. “Thưa Ngài, dù biết rằng con đã không nhìn cuộc đời như trước đây nữa, nhưng sao con vẫn lo sợ?”

Thượng Đế đáp, “Con lo sợ vì con muốn sở hữu chúng vĩnh viễn; con không muốn bị mất chúng. Con nên nhớ, điều gì con càng muốn nắm giữ, thì con càng lo sợ chúng bị mất đi.”

3/ Trở lại cuộc sống dương thế lần thứ ba, giờ đây ở tuổi cao niên, sau bao tháng ngày sợ hãi, lo lắng, ông già trông bình an và chấp nhận hơn. Ông không lo sợ bị mất vợ và lo lắng cho con cái như trước đây.

Nhưng trong tâm thức ông, một nỗi lo âu, sợ hãi vẫn ám ảnh ông. Nỗi lo sợ của ông không còn là nỗi lo liên quan đến “cơm áo, gạo tiền” như trước đây, nhưng ông lại sợ bị lãng quên những công trạng của thời trai trẻ; ông lo những thành quả ông góp cho đời sẽ bị mất dấu tích. Kỳ lạ thay, ông lại lo không còn được cảm nếm những nỗi lo sợ của thời học trò, của thời thiếu niên, của người thanh niên mà ông đã trải qua.

Ông quá tò mò nên quay về hỏi Thượng Đế, “Thưa Ngài, tại sao những điều lúc trước làm con lo sợ, thì bây giờ con lại sợ không còn được cảm nếm những nỗi sợ ấy nữa?”

Thượng Đế đáp, “Con yêu! Chừng nào con còn sống trong quá khứ, muốn quay trở lại quá khứ; và chừng nào con còn lo nghĩ về tương lai, muốn làm chủ lấy tương lai, thì con còn sống trong sợ hãi.

S.T.

Đức Giáo hoàng đi thăm tù nhân, người nghèo ở Nam Mỹ

Đức Giáo hoàng đi thăm tù nhân, người nghèo ở Nam Mỹ

Đức Giáo hoàng vẫy chào phóng viên ở Rome khi ông lên máy bay hđến thủ đô Quito, Ecuador, ngày 5 tháng 7, 2015.

Đức Giáo hoàng vẫy chào phóng viên ở Rome khi ông lên máy bay đến thủ đô Quito, Ecuador, ngày 5 tháng 7, 2015.

Đức Giáo hoàng Phanxicô, vị giáo hoàng đầu tiên xuất thân từ Nam Mỹ, quay trở lại châu lục này hôm Chủ nhật để bắt đầu một chuyến thăm kéo dài tám ngày tới Ecuador, Bolivia và Paraguay.

Vị giáo hoàng 78 tuổi Dòng Tên sẽ không ghé thăm quê hương Argentina của ông trong chuyến đi này, nhưng dự định sẽ về lại vào năm sau. Đó là chuyến xuất ngoại thứ chín của ông kể từ khi lên ngôi Giáo hoàng hơn hai năm trước.

Khi rời Rome, Đức Giáo hoàng cho biết ông muốn nêu bật hoàn cảnh của những người nghèo khổ ở ba nước mà ông tới thăm, “đặc biệt là trẻ em thiếu thốn, người già, người mắc bệnh, người bị giam giữ, người nghèo, những người là nạn nhân của nền văn hóa hay tiêu xài rồi vứt bỏ.”

Giáo hội Công giáo La Mã có khoảng 1,2 tỉ giáo dân với một phần lớn ở khu vực châu Mỹ Latin. Ecuador, Bolivia và Paraguay là ba trong số những nước nghèo nhất và nhỏ nhất của Nam Mỹ.

Ecuador những tuần gần đây đã xáo động vì những cuộc biểu tình chống chính phủ, một phần nhằm phản đối lời kêu gọi của Tổng thống Rafael Correa tăng thuế thừa kế. Những nhà lãnh đạo biểu tình đã kêu gọi tạm ngưng biểu tình trong thời gian diễn ra chuyến thăm của Đức Giáo hoàng để thể hiện sự nể trọng.

Đức Giáo hoàng dự định sẽ cử hành Thánh Lễ bằng tám thứ tiếng vào sáng sớm ngày thứ Hai. Sau đó trong chuyến đi, ông định sẽ đến thăm một nhà tù bạo lực ở Bolivia, gặp gỡ những người thu gom rác ở Bolivia và dừng chân tại một khu nhà ổ chuột ở Paraguay hay bị ngập lụt.

 

Ăn cơm Australia, thờ ma China

Ăn cơm Australia, thờ ma China

GS Nguyễn Văn Tuấn

Sáng hôm qua có chuyện phải đi chợ, và thấy hai cảnh hay hay, nên ghi lại cái note. Cảnh thứ nhất là trái vải của VN đã có mặt ở Sydney (với cái giá hơi đắt, 16 đôla/kí). Cảnh thứ hai là thấy một nhóm activists (nhà hoạt động) vận động người Úc lên tiếng ngăn chận chính sách mà họ cho là thù hận với Tàu. Thấy cách họ làm làm tôi phải nhại câu nói nổi tiếng trước 1975 và đặt tên cho họ là “Ăn cơm Australia, thờ ma china”.

Ở Úc, cũng như trong các xã hội dân chủ khác ở phương Tây, có rất nhiều nhóm đấu tranh cho rất nhiều vấn đề họ quan tâm. Có những nhóm đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội, có nhóm đấu tranh để được quyền mua súng, có nhóm mời gọi người ta theo đạo, có nhóm đấu tranh đòi giảm học phí, v.v. Nói chung là rất phong phú, thật sự là một xã hội tự do và dân chủ, ai cũng có tiếng nói (còn nói có ai nghe hay không là chuyện khác). Phương thức làm việc của họ cũng đơn giản. Họ thường xuất hiện trong các trung tâm shopping, thường là kê một cái bàn, và một đống tờ rơi để phát cho người qua đường. Có khi họ cũng có những thảo luận bỏ túi với người quan tâm.

Nhưng sáng qua tôi thấy có một nhóm … lạ. Lạ là vì họ đấu tranh cho Tàu. Nói là “nhóm”, nhưng trong thực tế chỉ có 3 người, tất cả đều là da trắng tóc vàng, chứ không phải tóc đen da vàng. Trong khi chờ đèn xanh qua đường, tôi nghe loáng thoáng họ hỏi một người là “Bạn có quan tâm đến tình hình Chính phủ Úc càng ngày càng tỏ thái độ thù địch với Tàu?” Anh chàng kia nói “Không”. Anh chàng tuyên truyền nhấn mạnh “Bạn không quan tâm? Nó có ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả chúng ta và sự tồn tại của Úc”. Anh chàng kia trả lời tỉnh queo: “Không, tôi không quan tâm, và tôi nói cho anh biết nhé: tôi không thích China, OK.”

Thấy không chiêu dụ được anh kia, anh ta quay sang tôi, và cũng hỏi câu đó: Bạn có quan tâm. Tôi thấy chắc phải tiêu ra vài phút với anh chàng này, tôi tạm gọi là anh chàng China. Chàng China hỏi tôi là có biết Chính phủ Úc đang có chính sách thù địch với Tàu, tôi trả lời là biết. Chàng China hỏi tôi vậy chứ biết, thì phải làm gì. Tôi nói rằng tôi hoàn toàn ủng hộ Chính phủ Úc trong nỗ lực ngăn chận sự bành trướng của Tàu.

Anh chàng China có vẻ khựng lại và nói rằng đó là một chính sách nguy hiểm vì sẽ đẩy Úc đối đầu với Tàu, không tốt cho kinh tế Úc. Tôi trả lời rằng Úc và Tàu đã làm ăn mấy mươi năm nay, trong thời gian đó có lúc “up”, có lúc “down”, nhưng chưa bao giờ kinh tế Úc bị đe doạ như bây giờ. Đe doạ là vì Tàu đang mua mỏ, mua nhà, và mua đất của Úc, để rồi mai mốt con cháu chúng ta khó có khả năng mua được một căn nhà để ở. Tôi hỏi anh China rằng anh có muốn thấy cái viễn cảnh anh hay con cháu anh phải đạp xích lô cho mấy người Tàu cộng ngay trên đất Úc này không?

Anh ta nói rằng Chính phủ Úc không bán mỏ cho Tàu là một sai lầm vì kinh tế Úc cần Tàu, ngay cả Mĩ còn chơi với Tàu mà Úc dám chống Tàu là tự sát. Tôi không đồng ý, vì mối quan hệ Mĩ – Tàu không đơn giản như anh ta nghĩ. Còn Tàu là một nước chauvin, nó đang bành trướng, nó đang thực hiện cái gọi là “giấc mơ China” của Tập Cận Bình, và nếu giấc mơ đó thành hiện thực thì đó là thảm hoạ cho thế giới vì một chế độ fascist mới sẽ xuất hiện, và vì thế phải ngăn chận Tàu.

Anh China hỏi tôi là bằng chứng Tàu bành trướng ở đâu? Tôi vỗ vai anh China và nói anh thử đọc tình hình Biển Đông nhé, Tàu nó đang muốn nuốt hết vùng biển Đông Nam Á, nó đang xây thành phố nhân tạo trên đảo mà nó ăn cướp từ Việt Nam, nó đang ăn cướp ngư dân Việt Nam, Phi Luật Tân. Tôi nói thêm rằng anh China làm nghề tuyên truyền này mà không biết đến những việc Tàu nó làm ở Biển Đông thì tốt nhất là anh China nên đi đọc thêm. Thấy tôi nói một mạch, có đầu có đuôi, và có vẻ am hiểu tình hình, nên anh chàng China khựng lại vì thấy rõ ràng là khó tuyên truyền với tôi, nên tỏ vẻ lảng đi …

Nhưng tôi không tha. Tôi hỏi lớn anh chàng China đang làm cho ai, ai đứng đằng sau việc làm của anh. Tôi nói rằng tôi không nói anh là người của Tàu cộng, nhưng anh China đang làm lợi cho Tàu cộng. Tôi hỏi anh rằng anh đang ăn lương hay trợ cấp của ai? Của Úc phải không? Tôi bắt đầu nóng máu, tôi đưa mắt nhìn quanh (lúc này đã có đông người chú ý), rồi nói lớn: tôi đây này, và các bạn đang đứng chung quanh tôi đây, chúng tôi đã và đang đóng thuế để nuôi những người như anh, để rồi các anh quay lại chống lại chúng tôi, các anh thấy như thế là hợp lí không?

Anh chàng China nói lại: Nhưng anh không phải là người Úc. Làm tôi nóng mặt hơn và nói: Anh định nghĩa thế nào là người Úc? Là người định cư ở đây hơn 1000 năm trước? Nếu thế thì tôi và anh đều không phải là người Úc. Nếu định nghĩa là quốc tịch Úc, thì tôi là người Úc đây. Nhưng câu hỏi của anh lạc đề, vì câu hỏi đáng lẽ phải là tôi và anh đã và đang làm gì đem lại lợi ích cho đất nước này. Tôi đem lại lợi ích cho Úc, còn anh thì chống Úc và tôi xem đó là một việc làm thiếu suy nghĩ. Chào anh, tôi phải đi chợ cái đã. Ngạc nhiên là khi tôi hết câu đó, thấy vài người vỗ tay đồng tình. Một buổi sáng mát dạ.

Chế độ tự do dân chủ như Úc có cái hay là nó cho mọi người có quyền tự do ngôn luận và có quyền phát biểu ý kiến đi ngược lại chính quyền. Nhưng cũng chính cái thể chế này đang nuôi ong tay áo, và tôi chợt nhận ra câu “Ăn cơm Australia, thờ ma china” quá thích hợp cho những kẻ như anh chàng China đó. Buồn một điều là mình phải đóng thuế nuôi anh chàng vô dụng đó. Tôi chợt tự hỏi ở VN mình có bao nhiêu người đang ăn cơm Việt Nam mà thờ ma Tàu. Con số chắc là nhiều, nhưng khác với Úc là những kẻ này có thể đã chui sâu và leo cao trong hệ thống công quyền VN nên chúng rất nguy hiểm.

Chuyện về một cô gái

Chuyện về một cô gái

 

Tôi vẫn thường lân la đến các trụ sở Tòa án cấp huyện, cấp tỉnh, chỉ để xem lịch xét xử trong tuần, trong tháng. Mục đích của tôi là tìm một vài để tài để viết cho một tờ báo tỉnh lẻ. Một lần, tôi trông thấy một thanh niên. Nhìn sơ qua là biết anh đã bị viêm màng não từ thuở nhỏ. Cặp mắt anh vô hồn, miệng mấp máy những câu vô nghĩa và tay chân cứ động đậy vô thức. Anh ngồi trên chiếc xe lăn, do một người đàn bà có đôi mắt ti hí đẩy đi. Hỏi người thư ký phiên tòa mới biết. Anh là người Đài Loan, đến Tòa để tham dự phiên xét xử vụ ly hôn giữa anh và vợ, một cô gái Việt Nam.

Tôi thắc mắc:

– Luật pháp Việt Nam đâu cho phép người tâm thần kết hôn. Hơn nữa, đây là một vụ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, phải do Chủ tịch UBND tỉnh ký giấy kết hôn mới hợp pháp. Vậy mà tại sao…

Bà thư ký phiên tòa lườm tôi một cái sắc lẻm để ngắt ngang câu hỏi, rồi buông ra một câu nói rất lạnh lùng.

– Chuyện đó là do cấp trên quyết, ông là nhà báo nên giữ mồm giữ miệng.

Tôi chợt nhớ tới câu nói của ông Thường vụ Tỉnh ủy, phụ trách Ban Tuyên Giáo: “Không phải sự thật nào cũng viết báo”. Nên tôi biết phải làm gì để không làm cho “bầu trời chính trị ở Việt Nam không trở nên xám xịt”. Nhưng tôi vẫn tò mò vì sao họ phải ly hôn, nên bước vào phòng xử án để dự khán.

Cô vợ tên là Mai (tôi đã đổi tên thật của cô ta, để tôn trọng vong hồn của một người đã khuất). Số phận Mai giống như nàng Kiều của thời đại năm 2000. Nhà nghèo, Mai phải đi lấy một người chồng nước ngoài, để cho gia đình được đổi đời. Cho dù biết rất rõ, người chồng tương lai đang sống như một người điên dại và hoàn toàn bất lực về sinh lý. Vai trò của Mai ở xứ người không khác gì một bảo mẫu chăm sóc người bệnh tâm thần.

Tôi nhìn Mai đang đứng gần người chồng cứ lắc lư cái đầu, hai bàn tay cà kheo của anh ta hết giơ tên trời, rồi lại chỉ xuống đất. Hai con ngươi trong đôi mắt vô thần mắt hết lác (lé) ra ngoài, sau đó chụm vào gần nhau một cách tài tình đến mức người bình thường không thể nào bắt chước được. Trong khi đó, Mai – một cô gái có thân hình nhỏ nhắn, một gương mặt trái xoan, nước da bánh mật. Đó là vẻ đẹp “hương đồng gió nội” của các cô gái vùng sông nước Miền Tây Nam bộ.

Hồi nhỏ, tôi vẫn thường hay nghe mẹ tôi hát ru cho em tôi ngủ:

Ầu ơ… má ơi đừng gả con xa.
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu?!

Còn đối với cụ Nguyễn Du trong câu chuyện Đoạn Trường Tân Thanh, ngay từ những câu dạo đầu cũng phải thốt lên.

Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

Nét đẹp của Mai không qua nổi cặp mắt tinh đời của cha chồng. Ông biết rằng đứa con tật nguyền của mình không thể nào thực hiện chức năng của người chồng. Vì thế, ông lén lút vào phòng con dâu để không hoài của. Còn Mai phải âm thầm chịu đựng để cứu cái gia đình túng thiếu ở quê nhà xa tít.
Một hôm, người mẹ chồng của Mai bất ngờ vào phòng con trai và tận mắt chứng kiến cái cảnh cha chồng nàng dâu trên giường trong tư thế không một mảnh vải che thân. Bà đã nổi điên.

Phiên tòa xử vụ ly hôn lần đó là theo kế hoạch của bà mẹ chồng. Một là để cắt đứt mối quan hệ loạn luân của cha chồng nàng dâu, hai là đuổi cổ con đĩ về Việt Nam mà không phải phân chia tài sản.

* * *Như thường lệ, tôi vẫn lân la đến các trụ sở Tòa án để săn tin. Được biết tại xã X, một xã giáp biên với Canpuchia sắp đưa ra xét xử một vụ án “Lây truyền HIV cho người khác” theo Điều 117 của Bộ Luật hình sự.

Đến nơi, tôi tá hỏa vì người đứng trước vành móng ngựa lại là Mai.

Sau khi ly dị chồng, cô không dám về nhà vì sợ tai tiếng. Cô đành phải lên vùng biên giới để hành nghề bán bia ôm, kiêm luôn nghề bán dâm. Người mua dâm thường là những người bên kia biên giới. Nghề này đôi khi cũng túng thiếu, nên thỉnh thoảng Mai về tỉnh, vào bệnh viện để bán máu.

Một ngày kia, sau khi xét nghiệm máu, người ta đã thông báo cho Mai biết: Cô đã bị nhiễm HIV. Chán đời, cô sử dụng cái vốn trời cho của mình một cách hợt, buông thả: Một chầu nhậu cũng cho, một bát phở cũng cho, thậm chí cho không chỉ vì ông ấy có chức có quyền ở địa phương.

Tại phiên tòa, trong phần thẩm vấn, vị Hội thẩm nhân dân đặt ra một câu hỏi hết sức ngu ngốc:

– Tại sao bị cáo biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn có tình lây nhiễm cho người khác, trong đó có cả đảng viên, cán bộ xã ấp?

Thế là Mai bị tuyên án 5 năm tù. Có lẽ cô cũng không buồn vì án này vẫn còn nhẹ so với án tử đang treo lơ lửng trên đầu cô bởi triệu chứng căn bệnh SIDA ngày càng rõ dần.

* * *Mấy năm sau.

Tôi về Bạc Liêu và được mấy anh bạn đồng nghiệp thết đãi ở Nhà hàng công tử Bạc Liêu.

Một đám ma buồn ngang qua. Mấy ông bạn nhanh nhảu, chứng tỏ thạo tin.

– Chết vì SIDA đó! Hồi trước gia đình, giòng họ bà này giàu lắm, địa chủ mà! Cháu ba đời của công tử Bạc Liêu. Sau giải phóng, ông già của bà này là trung úy lính Sài Gòn, phải đi học tập cải tạo, rồi chết trong rừng. Mấy chục mẫu ruộng bị nhà nước tịch thu trong đợt cải tạo nông nghiệp ở Miền Nam. Thành ra, đang giàu trở thành nghèo rớt mùng tơi. Nghe lời thiên hạ! Bả lấy một thằng khùng ở Đài Loan để có ba ngàn đô cứu cái gia cảnh đang lâm vô cảnh bần cùng.

Tôi chợt bán tín, bán nghi lao ra xem cái cảnh đưa đám ma. Di ảnh người chết rõ ràng là Mai.

Tôi lặng người một lát. Sau đó tôi quay vô đám nhậu và uống nhiều đến mức mấy thằng bạn đồng nghiệp phải bái sư.

* * *

Tổng Biên tập mời tôi lên phòng ông và trả lại bản thảo. Mắt ông đo đỏ, ươn ướt:

– Bài này không đăng được, anh hiểu rồi đó!

Tôi vác bản thảo về nhà để lên bàn, rồi thắp một nén hương. Đợi cho nhang tàn, tôi đốt bản thảo và lầm thầm mấy câu:

– Mai ơi! Đây chỉ là một chút lòng thành với em. Ở suối vàng, mong em thảnh thơi. Mai mốt có đầu thai, em nên chọn những gia đình có công với cách mạng để mà sinh ra. Còn anh, chỉ làm bổn phận của một người cầm bút.

Một thời gian sau, tôi trả Thẻ nhà báo, trả thẻ hội viên Hội nhà báo để cho lòng được thanh thản./-

TRẦN ĐẶNG

CÓ NHỮNG LÚC TA CẦN IM LẶNG

CÓ NHỮNG LÚC TA CẦN IM LẶNG

1. Khi người khác buồn phiền, đau khổ

Biết vui với người vui, buồn với người buồn. Đó là động thái của người có giáo dưỡng, tri thức, biết điều, biết cư xử và thấu cảm. Không gì vô duyên hơn khi người khác khóc mà mình lại cười – hoặc ngược lại.

2. Khi người khác suy tư, lao động trí óc
Văn hào W. Goethe xác định: “Tài năng được nuôi dưỡng trong cô tịch”. Thấy người khác trầm tư mặc tưởng, đừng phá “khoảng riêng” của họ. Sự im lặng lúc đó thực sự cần thiết và có ý nghĩa.

3. Khi người khác không hiểu mình
Khi chưa được hiểu, chúng ta cần cởi mở và hòa đồng để người khác có thể hiểu mình hơn – dù không thể hiểu hết. Nhưng nếu bạn cảm thấy người ta thực sự không thể hiểu hoặc không muốn hiểu thì tốt nhất là im lặng. Nếu không, những gì bạn nói có thể gây “dị ứng” hoặc hiềm thù.

4. Khi người khác nói về vấn đề mình không am hiểu

Người khôn ngoan chỉ nói những điều mình biết rõ và hoàn toàn im lặng đối với những gì mình không biết hoặc mơ hồ. Nhà bác học A. Edison nói: “Điều chúng ta biết chỉ là một giọt nước, điều chúng ta không biết là cả đại dương”. Còn hiền triết Socrates thừa nhận: “Tôi không biết gì cả, đó là điều tôi biết rõ nhất”. Chỉ là người bình thường, chúng ta càng cần khiêm nhường mà biết im lặng.

5. Khi người khác khoe khoang, lý sự

Thùng rỗng kêu to. Càng hiểu biết người ta càng ít nói, thâm trầm và cảm thông. Trong 4 phép toán, phép trừ là… “dễ” nhất, nhưng lại đầy ý nghĩa. Chỉ vì ngu dốt nên mới độc đoán, khắt khe hoặc cố chấp. Khoe khoang và lý sự là “đặc điểm” của đầu óc nông cạn, thiển cận. Dốt thì hay nói chữ để cố che lấp khiếm khuyết của mình.

6. Khi người khác không cần mình góp ý kiến

Đừng bao giờ “xía” vào chuyện của người khác hoặc tò mò chuyện của họ. Vả lại, nói nhiều thì sai nhiều. Cibbon nói: “Đàm luận khiến người ta hiểu biết, nhưng im lặng là trường học của sự khôn ngoan”. Im lặng còn là yêu thương, tha thứ, và là cuộc sống.
“Im lặng, lắng nghe, ghi nhớ, hành động và khôn ngoan là 5 cung bậc khác nhau của trí tuệ”. Có thể coi đây là ngũ-cung-sống của cuộc đời. Tóm lại, im lặng là một nghệ thuật kỳ diệu và là cách thể hiện văn hoá cao cấp.

Anh chị Thụ Mai gởi

S.T –

Tượng Chúa Giê su vô gia cư lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng bên ngoài nhà thờ Detroit

Tượng Chúa Giê su vô gia cư lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng bên ngoài nhà thờ Detroit

Một bức tượng Chúa Giêsu vô gia cư đang ngủ trên ghế đá công viên đã được công bố trước nhà thờ Detroit phục vụ như là sự sưởi ấm cho người vô gia cư.

Tác phẩm điêu khắc bằng đồng này đã được công bố sau Đại Lễ Thánh Phê rô và Phao lô, Tông đồ, hôm Chúa Nhật, 28 tháng 6, tại nhà thờ Dòng Tên Giáo hội Công giáo ở trung tâm thành phố Detroit. Tác phẩm điêu khắc cho thấy một người đàn ông với kích cỡ như người thật nằm trên ghế đá công viên. Hai bàn chân nhô ra khỏi một tấm chăn có mang dấu đinh.

The Detroit Free Press cho biết nghệ nhân Timothy Schmalz đã tạo tác phẩm điêu khắc này. Những bản sao cũng được đặt tại Grand Haven, Michigan; Phoenix; Washington; Chicago; và Charleston, West Virginia.

Tu sỹ Gary Wright là giám quản giáo xứ của Detroit, nói rằng các giáo đoàn hy vọng việc đặt bức tượng này sẽ có “một sự kiện quan trọng cho thành phố.”

Jos. Tú Nạc, NMS

Màu Tím Tình Yêu -Nguyễn Ánh 9 -Hương Giang -JN & Phượng Hồng Phượng Tím -Anh Bằng- Hương Lan -NNS & Hoa Tím Người Xưa -Thanh Sơn -Như Quỳnh -JN

Màu Tím Tình Yêu -Nguyễn Ánh 9 -Hương Giang -JN

httpv://www.youtube.com/watch?v=9dJuc8-sGm0&list=PLA58A132ED3FF1056&feature=em-share_video_in_list_user

Phượng Hồng Phượng Tím -Anh Bằng- Hương Lan -NNS

httpv://www.youtube.com/watch?v=E7VpeoRyfMc&index=16&list=PLA58A132ED3FF1056

Hoa Tím Người Xưa -Thanh Sơn -Như Quỳnh -JN

httpv://www.youtube.com/watch?v=MOaZ1N9-cKc&list=PLA58A132ED3FF1056&index=5