THƯ GỞI CHÚA GIÊSU TỪ BỆNH VIỆN UNG BƯỚU

THƯ GỞI CHÚA GIÊSU TỪ BỆNH VIỆN UNG BƯỚU

Chúa Giêsu giầu lòng thương xót ơi,

Hôm nay con viết thư cho Chúa, bỗng nhớ trong thánh kinh có đoạn nói về việc Chúa mới sinh ra đã phải chạy trốn sang Ai Cập và các anh hài bị giết, làm trái tim con quặn thắt: “Ở Rama, vẳng nghe tiếng khóc than rên rỉ: tiếng bà Rakhen khóc thương con mình và không chịu cho người ta an ủi, vì chúng không còn nữa.” (Mt 2,18)

Mùa hè năm nay, nhóm thiện nguyện Tín Thác chúng con được một linh mục mà cuộc đời cũng khốn khổ như Chúa, hướng dẫn đến một nơi, mà nơi ấy tất cả các bà mẹ, kể cả các ông bố nữa, đã cạn nước mắt rồi. Họ không thể khóc như bà Rakhen được nữa. Hay nói đúng hơn là họ cố gắng nuốt những giọt nước mắt, để dành sức lực chăm sóc cho những đứa con mình, mà dù có đổ bao nhiêu tiền của công sức chạy chữa thì phía trước vẫn là một màn đen vô vọng…

Nơi ấy là Khoa Ung Thư Nhi của Bệnh Viện Ung Bướu Sài Gòn, Chúa đã đến đó chưa?

Theo con số thống kê mới nhất, ở Việt Nam mỗi ngày trung bình có 250 người qua đời vì ung thư, trong đó gần hai phần trăm là trẻ thơ, có nghĩa là gần một ngàn bốn trăm linh hồn bé thơ rời bỏ mặt đất này mỗi năm. Tội quá Chúa nhỉ!

Thôi, con mời Chúa đi với con. Khi chúng con tới nơi ấy thì quá đông, quá ngột ngạt! Cái đông đúc, chen chúc, bức bách và ngột ngạt tràn cả ra hành lang. Nhóm chúng con cố gắng len lỏi vất vả lắm mới đem quà vào trong các phòng bệnh được, thì nhận ra lúp xúp những bé thơ, với cái đầu tròn vo, trọc lóc. Giá như trong hoàn cảnh khác thì đó là sự ngộ nghĩnh. Nhưng nơi này đó là nỗi đau, là cùng tận nỗi đau Chúa ạ!

Con nhớ lại buổi sáng Chúa Nhật 18/1/2015, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp gỡ giới trẻ Philippines tại Sân Thể Thao Đại Học Đường Thánh Tôma ở thủ đô Manila. Một em gái đã được cứu khỏi đời sống bụi đời, đã hỏi ĐTC một câu hỏi rất thực tế và đầy thương tâm, rồi nghẹn ngào đến trào nước mắt khóc: “Có rất nhiều trẻ em bị cha mẹ mình bỏ rơi, có rất nhiều em trở thành nạn nhân của ma túy, đĩ điếm, và nhiều điều kinh khủng xẩy ra cho chúng. Tại sao Thiên Chúa lại để cho những điều ấy xẩy ra cho những trẻ em vô tội? Và tại sao lại có rất ít người giúp chúng con?”

Và ĐTC đã trả lời: “Cái cốt lõi của câu em hỏi, hầu như không có câu trả lời. Chỉ khi nào cả chúng ta nữa có thể khóc về những gì em đã nói thì chúng ta mới có thể tới gần chỗ trả lời cho câu hỏi ấy. Tại sao trẻ em chịu khổ quá nhiều? Tại sao trẻ em lại chịu khổ? Khi tâm can có thể tự vấn và kêu lên thì bấy giờ chúng ta mới có thể hiểu được một điều gì đó.

”. Bước chân vào đây, chúng con cũng tự hỏi: “Tại sao trẻ em chịu khổ quá nhiều? Tại sao trẻ em lại chịu khổ?”

Không thể lý giải nổi lý do nào mà trẻ thơ mới chút xíu đã bị ung thư, và ung thư nhiều đến thế. Những chứng ung thư làm chúng con lạnh hết người: ung thư máu, ung thư võng mạc, và ung thư xương nữa…

Đời bệnh nhân ung thư khủng khiếp nhất là những cơn đau. Chúng con đã chứng kiến những cơn đau rúc rỉa thịt xương đó trong hành trình thiện nguyện, đau đau đến mức cuối cùng phải dùng đến moọc phin để làm tê liệt những giây thần kinh, để giảm đau trong chốc lát. Trong những giây phút thống khổ ấy, người thân chỉ biết ôm lấy bệnh nhân như muốn sẻ chia phần nào nỗi đau, và càng đau khổ hơn vì thấy mình bất lực, không thể làm gì hơn để giảm nỗi đau cho người bệnh. Thế mà những cơn đau ấy đổ xuống trẻ thơ. Hình dung thôi chúng con cũng thấy rùng mình sợ hãi!

Lúc đó chỉ còn biết khóc thương, khóc than và giơ tay lên khẩn nài: “Xin dâng lên lòng thương xót Chúa, những vết thương… xin Chúa thương tha thứ chữa lành, nhận chìm con vào lòng Chúa xót thương

Không dừng lại ở chỗ khóc thương sụt sùi, chúng con đã cố gắng trong khả năng có thể, mang tới cho 200 bé nơi đây chút quà, sữa tươi và một phong bao lì xì.

Chúa biết không, khi chọn quà cho các em, một bác sĩ đã tư vấn nên tặng các em sữa tươi cho nhẹ nhàng, bởi thể trạng của các em, nhiều trẻ loại sữa quá giàu đạm và chất bổ sẽ khiến các em không tiếp nhận và dội ngược ra, thì sẽ rất mệt. Trao bao lỳ xì cho các em vui, với cảm giác được thêm tuổi mới trong đời, nhưng thiết thực là để bữa trưa này, cha hoặc mẹ các bé có chút tiền mua hộp cơm có thêm miếng thịt, ăn cho có sức khỏe để chăm sóc người không còn sức khỏe.

Nhà nào có người bị bệnh ung thư là kiệt quệ, là sạch cửa nhà, bán mọi thứ trong nhà để chạy thầy chạy thuốc cho bệnh nhân. Tại nơi này có những người mẹ ròng rã bao năm tháng chỉ ăn cơm từ thiện thôi, Chúa ạ. Ăn uống thiếu thốn, suy dinh dưỡng, mẹ đi chăm con mòn mỏi yếu ớt xanh xao như tàu lá chuối, đứa con bị ung thư xương nằm thóp thoi trơ cái đầu trọc lóc, đến là khốn khổ.

Chắc Chúa còn nhớ, trong suốt mấy năm trời, nhóm thiện nguyện chúng con cũng trợ giúp 80 phần cơm mỗi ngày cho các bệnh nhân hoặc người nuôi bệnh. Bây giờ phải đi nhiều nơi để gieo rắc hạt giống lòng Chúa thương xót qua những chuyến công tác bác ái nơi vùng sâu vùng xa, cho nên chúng con chỉ tổ chức những chuyến thăm viếng như hôm nay được thôi, Chúa ạ!

Chúa gởi thêm nhiều người có lòng xót thương đến với chúng con để cùng chung tay góp sức xoa dịu nỗi đau của những con người nghèo khổ nhé! Con xin lỗi Chúa trước, nếu Chúa đưa đến những đại gia, những chức sắc, những người tiền bạc rủng rỉnh đi làm việc thiện mà muốn cho cả làng biết, muốn nêu tên trên bảng vàng, muốn khắc danh tính vào bằng tri ân, muốn được liệt vào danh sách các ân nhân… thì chúng con không nhận đâu đấy nhé! Dù họ có tiền rừng bạc biển, quyền cao chức trọng, thì cũng không có chỗ trong nhóm thiện nguyện nhỏ bé của chúng con đâu!

Nằm chèo kheo ở bậc nghỉ cầu thang là một người đàn ông gầy gò xương xẩu, ngủ khò khò bất chấp kẻ lại người qua, con cứ tưởng là Chúa đang nằm đó chứ! Bỗng anh giật mình ngồi phắt dậy, vồ cái túi lép kẹp dùng làm gối kê đầu, nhìn xung quanh ngơ ngác. Đợi người đàn ông định thần trở lại, chúng con đến lân la trò chuyện, mới biết anh tên Thành, quê mãi Vĩnh Long, có đứa con điều trị ở đây, cháu bị ung thư máu.

Lau giọt lệ, anh thở dài: “Mọi sự là vô vọng rồi, vì cơ thể cháu không tiếp nhận hóa chất truyền vô được nữa!” Đêm qua anh nhắn vợ lên thay phiên để anh về quê chuẩn bị sẵn sàng đón con về trong tình huống xấu nhất. Anh phải giấu vợ, sợ chị tuyệt vọng. Anh tới góc cầu thang ngủ vội lấy sức sau cả tháng thức trắng bên con, rồi sẽ bắt xe đi về dưới. Mấy sào ruộng anh đã bán hết để cứu con, mà công cốc hoàn công cốc. Anh bảo dù khó khăn đến đâu, cũng sẽ kiếm cái áo tử tế cho con khi đón nó về. Đau lắm, đau buốt trong tim mà giấu vợ, trìu mến ôm hôn con rồi ra đi. Chúa có thấy nỗi đau nào hơn thế không?

Kể cho Chúa nghe những đau đớn đó, lòng chúng con cũng trĩu buồn. Cảm ơn Chúa đã gởi những phần quà từ tấm lòng xót thương của những anh chị em từ khắp nơi, bớt ăn tiêu chi chút, dành dụm gởi về để chúng con lên đường trao tặng cho những mảnh đời rách nát, bệnh tật, nghèo túng…

Có chi tiết nhỏ này có lẽ sẽ làm Chúa vui hơn : ấy là chúng con đã hì hục ngồi trong góc cầu thang bơm những trái bong bóng to đẹp rực rỡ sắc mầu trao tặng các em. Những trái bóng đủ hình dạng sắc màu làm mắt đám trẻ sáng lên, quên đi cơn đau trong chốc lát. Nhìn thấy nhiều em cứ cà cái đầu trọc lóc vào trái bóng, ôm khư khư trái bóng như sợ nó bay mất, thương đến là thương. Thật xót xa khi hóa chất vào cơ thể các em chế ngự tế bào độc của chứng ung thư, thì cũng chính là tước đi hết mái đầu xanh của trẻ. Thương chúng quá!

Tuy nhiên, người mục tử ân cần dặn thiện nguyện viên chúng con khi đến nơi này hãy dằn lại nỗi đau lòng, ráng tươi lên, đem niềm vui nụ cười như một kỷ niệm đẹp cho các bé. Chúng con làm vậy được không Chúa?

Người mục tử linh hướng từng chia sẻ với chúng con: ra đi, đem niềm vui cho anh em nghèo khổ và trẻ thơ bệnh tật yếu đau, nhưng đồng thời cũng là để nhận thức ra cái cõi hạn hẹp nơi con người. Biết sự bất lực của mình mà gửi gắm sự cậy trông tín thác vào thiên Chúa. Ra đi cũng để thấy mình còn được Chúa thương rất nhiều. Còn thân hình đầy đủ, còn đi lại nói năng bình thường, còn sức khỏe… đó là món quà quý nhất Chúa trao ban mà con đâu biết trân trọng, đâu thấy mình hạnh phúc. Con cứ lao đầu tìm tiền tài danh vọng của cải chức tước địa vị… đến khi ngã quỵ vì ốm đau bệnh tật, lúc đó mới thấy tất cả là hư vô, là con số không, nếu không có sức khỏe.

Rời Khoa Nhi Bệnh Viện Ung Bướu, ám ảnh chúng con là nụ cười ngây thơ trên những gương mặt tròn trịa với cái đầu cũng tròn xoay, như những dấu chấm tròn vo giữa cuộc đời này. Những dấu chấm ngây thơ không hề biết rằng cuộc đời các em có thể chấm hết bất cứ lúc nào…. Hữu hạn mong manh quá đỗi. Bỗng thấy mắt cay xé, con nhớ lại lời ĐTC Phanxicô nói với giới trẻ: “Chúa Giêsu trong Phúc Âm đã khóc. Ngài đã khóc thương người bạn Lazarô qua đời. Người đã khóc cho gia đình mất đứa con gái của họ. Người đã khóc khi thấy người mẹ góa đem người con trai của bà đi an táng.Và Người đã động lòng đến chảy nước mắt, đã cảm thương khi thấy đoàn lũ dân chúng không có chủ chiên. Nếu các bạn không biết khóc các bạn không thể trở thành Kitô hữu tốt lành.

Vâng, Chúa Giêsu ơi! Con đang khóc đây!

Chúa cùng khóc với con nhé!

Thiện Nguyện Tín Thác

Bình Thạnh

2015

Sư trụ trì tự tử vì thiếu nợ và nghi dùng ma túy đá

Sư trụ trì tự tử vì thiếu nợ và nghi dùng ma túy đá

Nguoi-viet.com

HẢI DƯƠNG (NV)Công an phát hiện bức thư tuyệt mệnh và một số dụng cụ để sử dụng ma túy đá cùng một túi chứa chất màu trắng nghi là ma túy đá trong phòng nơi nhà sư tự tử.

Theo tin Người Lao Ðộng, ngày 8 tháng 7, 2015, Ðại Ðức Thích Thanh Huy, tên thật là Trần Trọng Hòa (40 tuổi), quê ở quận 3, Sài Gòn, trụ trì chùa Quang Minh, ở thôn Mạc Xá, xã Minh Tân, huyện Nam Sách, đã được an táng tại chùa.


Ngôi chùa nơi sư trụ trì tự tử. (Hình: Thanh Niên)

Tin cho hay, trước đó vào ngày 6 tháng 7, 2015, sư trụ trì này được phát hiện chết nằm sấp trong phòng nghỉ tại chùa, thi thể đang trong giai đoạn phân hủy.

Qua tiến hành khám nghiệm hiện trường và tử thi của công an huyện Nam Sách cho thấy, trên cổ nạn nhân có vết rãnh hằn, phía trên chỗ nạn nhân nằm có một dây ni lon, một đầu buộc vào tấm gỗ trên trần nhà, một đầu dây buông. Cùng với đó là bức thư tuyệt mệnh của nhà sư viết ngày 28 tháng 6, một giấy viết tay ghi ngày 3 tháng 7 về các khoản nợ của nhà sư. Ðồ đạc trong phòng sư thầy không có sự xáo trộn.

Ðặc biệt, điều gây xôn xao dư luận là trong quá trình khám nghiệm hiện trường, cơ quan chức năng còn phát hiện một số dụng cụ để sử dụng ma túy đá và một túi chứa chất màu trắng, nghi là ma túy đá. Người dân nơi đây cho biết, đã từ lâu cả làng thường xuyên bàn ra tán vào về việc sư trụ trì chùa Quang Minh này nghiện ma túy. (Tr.N)

Việt Nam bắt nhân viên sân bay ‘chôm’ đồ của hành khách

Vit Nam bt nhân viên sân bay ‘chôm’ đ ca hành khách


Bảng thông tin chuyến bay bên trong sân bay quốc tế Nội Bài ở Hà Nội.

Bảng thông tin chuyến bay bên trong sân bay quốc tế Nội Bài ở Hà Nội.

09.07.2015

Cơ quan Công an Hà Nội đã bắt giữ một nhân viên tại sân bay quốc tế Nội Bài, trong bối cảnh gia tăng các khiếu nại về tình trạng mất cắp hành lý tại sân bay.

Nghi phạm là người giám sát vận chuyển hàng hóa và hành lý của hành khách, và đã làm việc tại sân bay được 6 năm.

Theo thông tin do Công an Hà Nội cung cấp, nghi phạm và các đồng nghiệp khác đã thực hiện 10 vụ trộm cắp hành lý.

Trong đó, vụ đánh cắp mới nhất là vào tháng 11 năm 2014 với 4 chiếc điện thoại di động trị giá 8 triệu đồng Việt Nam (khoảng 370 USD).

Ngoài ra, nghi phạm còn đánh cắp những hàng hóa có giá trị khác như nước hoa và các phụ kiện thời trang đắt tiền.

Trước đó, khoảng giữa năm 2014, nhân viên này đã thông đồng với đồng nghiệp khác để ăn trộm nhiều điện thoại di động và mang bán tới hơn 54 triệu đồng Việt Nam (khoảng 2.500 USD).

Hiện nay, các cơ quan công an đang điều tra để xác định những đối tượng khác có liên quan đến các vụ trộm cắp này.

Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam cũng cho biết, chỉ riêng trong năm 2014 đã nhận được báo cáo về 48 trường hợp trộm cắp hành lý tại sân bay và đã xảy 23 trường hợp kể từ đầu năm 2015 đến nay.

Cục trưởng Lại Xuân Thanh đầu tuần trước đã yêu cầu các cơ quan hữu quan chung tay ngăn chặn tình trạng mất cắp hành lý ở các sân bay của Việt Nam, gây bức xúc trong dư luận.

Nguồn: Xinhua, VnExpress, ANTD

Mỹ đã gửi một thông điệp sai lầm cho Việt Nam

Mỹ đã gửi một thông điệp sai lầm cho Việt Nam

tuankhanh

RFA

Tuần này Tổng thống Obama sẽ có một cuộc gặp với người đứng đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng, ngay tại Nhà Trắng. Cuộc họp này là một sự kiện kỳ ​​lạ – một phần vì Trọng không phải là một người đứng đầu nhà nước, nhưng lại thay mặt cho người có vị trí cầm quyền cao nhất, theo hiến pháp của Việt Nam hiện nay – mà phần kỳ lạ khác do Việt Nam đã nỗ lực rất ít trong thời gian gần đây để xứng đáng được phần thưởng là một cuộc họp trong phòng Bầu dục (Oval Office) của Nhà trắng. Việt Nam vẫn còn là một nhà nước độc tài và phi dân chủ triệt để, cai trị bởi một đảng duy nhất, đứng đầu đảng đó hiện nay là ông Trọng, và việc sách nhiễu, tra tấn, và đàn áp tôn giáo là quy tắc hành động.

Tổng thống Obama hy vọng đạt được gì?

Trong khả năng của mình, Chính phủ Mỹ không bao giờ e ngại bộc lộ việc nâng cao mối quan tâm về quyền con người với Hà Nội. Tổng thống Obama đã từng công khai vinh danh các tù nhân chính trị trong các diễn văn. Các đại sứ và các đặc phái viên của ông cũng được chỉ thị để làm sao nhấn mạnh được mối quan tâm về quyền con người trong tất cả các trao đổi ngoại giao.

Vấn đề là các thông điệp đó rõ ràng là không nhận được tiếp nhận.

Cáh đây vài tuần, Tony Blinken, Cố vấn An ninh Quốc gia của Nhà Trắng, và hiện là thứ trưởng Ngoại giao, theo chỉ thị của Tổng thống Obama đã đến Hà Nội. Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao, Blinken đã nhấn mạnh với chính phủ Việt Nam về các vấn đề nhân quyền và bày tỏ quan ngại về việc bỏ tù hoặc sách nhiễu những người bất đồng chính kiến. Ông Blinken cũng kêu gọi Hà Nội chứng minh tốt hơn việc cam kết cải cách. Nhưng rồi, ông trở về Mỹ mà không nhận được một cam kết nào về nhân quyền, không có hứa hẹn nào, và cũng không có chuyện phóng thích tù nhân chính trị.

Chuyến đi của Blinken chỉ cách một tuần, sau chuyến đi của Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ, ông Tom Malinowski, người chịu trách nhiệm chính về các vấn đề nhân quyền, đến Việt Nam để tổ chức một cuộc đối thoại nhân quyền. Malinowski và phái đoàn của ông đã gặp gỡ với chính phủ và các quan chức cấp cao an ninh, bày tỏ sự quan tâm về vấn đề tù nhân chính trị. Nhóm của ông Malinowski cũng đến thăm các địa điểm giam giữ, gặp gỡ các nhà lãnh đạo tôn giáo. Malinowski cũng nói với chính phủ Việt Nam điều rất xưa cũ mà các đời đại sứ Mỹ cũng đã làm trong nhiều năm qua: đó là cải cách nhân quyền là  phần cần thiết của việc xiết chặt ngoại giao với chính phủ Mỹ.

Những chuyến đi đó không thể gọi là thành công – tuy vậy, chính quyền Obama vẫn đang trải thảm đỏ vào thứ ba.

Hà Nội không chỉ từ chối đưa ra các lới hứa hoặc cam kết nào trong quá trình đối thoại, mà trong chuyến thăm của ông Malinowski, các nhân viên an ninh mật vụ còn sách nhiễu các nhân vật bất đồng chính kiến ​​và một blogger nổi tiếng, Nguyễn Chí Tuyến (được gọi là Anh Chi). Ông Tuyến đã bị tấn công dã man bởi những tên côn đồ – là những công an viên mặc thường phục. Hình ảnh của blogger đó bị đập vào đầu cùng với khuôn mặt đẫm máu đã nhanh chóng được chia sẻ bởi giới bất đồng chính kiến trên internet. (On May 19, another activist, Dinh Quang Tuyen, was assaulted in Ho Chi Minh City / bản tin quốc tế về sự kiện này, có thể tìm thấy bằng từ khoá tiếng Anh trên).

Quốc hội Mỹ đã đánh giá Hà Nội quá cao. Một phái đoàn lưỡng đảng của các thành viên của Quốc hội Mỹ, thuộc Uỷ Ban Các vấn đề Đối ngoại (House Foreign Affairs Committee – HFAC) đã được cử đến thăm Việt Nam trong khoảng thời gian tương tự như Malinowski, trong đó những nhân vật tầm cỡ như Eliot Engel, đảng Dân chủ và Matt Salmon, đảng Cộng hoà, thuộc tiểu ban về Á châu của HFAC. Phái đoàn này cũng đã nêu lên những lo ngại của mình về tình hình nhân quyền ở Việt Nam, và những ngôn ngữ này cũng được nhắc lại thêm từ một phái đoàn khác tới Hà Nội, dẫn đầu bởi các nghị sĩ, bà Nancy Pelosi và ông Sandy Levin. Họ cũng nói về vấn đề Việt Nam không đưa ra được một hứa hẹn cải cách nào, rồi sẽ làm tổn hại mối bang giao Việt-Mỹ.

Nhưng điều đáng nói là các cuộc đối thoại này dường như cũng không giúp Việt Nam tạo được bất kỳ hành động có ý nghĩa nào để thật sự cải thiện nhân quyền.

Các quan chức Bộ Ngoại giao vẫn nhấn mạnh rằng, áp lực, và những nỗ lực ngoại giao, vẫn trong tiến trình. Họ nói rằng các vụ truy tố người bất đồng chính kiến đã ít đi, và Hà Nội cũng đã phê chuẩn hai hiệp ước về quyền con người. Trong một bài bình luận trên tờ Politico vào ngày 8 tháng 6 (*), ông Malinowski nói rằng “Dưới ánh đèn sân khấu của các cuộc đàm phán TPP, Việt Nam đã trả tự do cho các tù nhân lương tâm, từ con số 160 người cách đây hai năm, xuống còn khoảng 110”. Ông cũng so sánh số người bất đồng chính kiến lên tiếng phản ứng một cách ôn hoà vào năm 2013 là đến 61, và chỉ có “một trường hợp” trong năm 2015.

Đúng là có những bước tiến nhỏ. Vâng, số lượng tù nhân chính trị ở Việt Nam quả đã giảm đi khoảng 50 người kể từ năm 2013, nhưng không phải ai trong số họ cũng may mắn nhận được từ thành quả của cải cách. Nhiều trường hợp, người được trả tự do chỉ đơn giản là hoàn thành thời gian thụ án của họ và ra ngoài, bị quản chế, buộc phải im lặng. Bất kỳ hoạt động chính trị hay thái độ bất đồng chính kiến nào cũng ​có thể đưa họ trở lại nhà tù. Trong mọi trường hợp, danh sách Bộ Ngoại giao đưa ra vẫn không đầy đủ: Human Rights Watch phân tích cho thấy có hơn 200 người bị đưa vào tù trở lại trong năm 2013, và tổng số tù nhân chính trị ở Việt Nam hiện nay có ít nhất là 135 người. Và trong khi bề ngoài, có vẻ như giới bất đồng chính kiến có bị kết án ít hơn, vẫn còn nhiều trường hợp mà chính phủ Việt Nam sử dụng như một phương thức mới, được chứng minh qua các đánh đập ông Nguyễn Chí Tuyến. Giới bất đồng chính kiến ​​Việt Nam hiện nay nói rằng việc bị hành hung bởi những tên côn đồ, thật ra là công an mặc thường phục, đang là một kiểu thông dụng.

Tóm lại, việc chỉ trích chính phủ tại Việt Nam tức phải đối mặt với mối nguy nan khôn lường; sự nguy hiểm chỉ đơn giản thay đổi hình thức mà thôi.

Tổng thống Obama lẽ ra không nên tưởng thưởng cho sự áp bức nhân quyền bằng cách gặp gỡ với Tổng Bí thư Trọng. Nhưng nếu phải làm, thì ông Obama cần phải đẩy mạnh hơn nữa trên các mối quan tâm về quyền con người – đặc biệt là nếu hai nước đang có kế hoạch công bố một cấp độ mới trong quan hệ ngoại giao.

Nếu không, thông điệp sẽ là: “Chúng tôi muốn bạn cải cách, nhưng chúng tôi cũng sẽ tưởng thưởng cho bạn ngay cả khi bạn không cải cách gì.”

John Sifton

(giám đốc bộ phận Châu Á của Human Rights Watch)

——————————————————-

(*) Nguyên văn: Op-ed: tức cách dùng chữ tắt của báo chí Mỹ, nguyên cụm là “opposite the editorial page”, tức nhận định, bình luận về một sự kiện vừa qua.

Tựa gốc: Wrong messages to Vietnam

Nguồn: Huffington Post

Xuân Vũ, Củ Chi & Wikipedia

Xuân Vũ, Củ Chi & Wikipedia

RFA

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

“People in the developing world don’t always understand how Wikipedia is created. It’s such a credible website, it comes so high up the search rankings—people think it’s just another encyclopedia.”

Nhiều người ở các quốc gia đang phát triển không phải lúc nào cũng hiểu cách thức wikipedia được tạo ra. Đó là một website được tin cậy, đến độ thứ hạng tra cứu thông tin qua nó đứng ở mức rất cao –  người ta nghĩ rằng nó là một dạng tự điển bách khoa.

Andreas Kolbe, Wikipedia editor

Cuối đời, tôi hơi hốt hoảng khi chợt nhớ ra rằng mình chưa được đi du lịch lần nào ráo trọi. Trước khi chuyển qua từ trần, có lẽ, cũng nên thử nghỉ hè một chuyến cho nó giống với (phần đông) thiên hạ!

Gọi điện thoại hỏi qua mấy hãng du lịch, và được khuyên rằng nếu không rành tiếng Anh tiếng Pháp thì đừng có bầy đặt qua Tây qua Úc làm chi (cho má nó khi) cứ qui cố hương cho nó chắc ăn. Thủ tục xin chiếu khán vào Việt Nam, bây giờ, thoáng lắm.

Những địa điểm họ đề nghị nên đến “tham quan” cũng đều vô cùng hấp dẫn:

  • Lăng Bác
  • Tượng Đài Mẹ Việt Nam Anh Hùng
  • Địa Đạo Củ Chi

Giữa tôi và ông Hồ Chí Minh không có mâu thuẫn gì lớn. Xích mích, đụng chạm, cãi cọ (nho nhỏ) cũng không luôn. Vào thăm lăng Bác âm u cho biết (nó âm u tới cỡ nào) cũng tốt thôi nhưng kẹt cái là phải ra tuốt luốt tận Thủ Đô Của Lương Tâm Nhân Loại thì xa xôi và lôi thôi quá. Đã thế, cứ theo dư luận thì nạn rạch hành lý của du khách ở phi trường Nội Bài “nổi cộm” hơn ở Tân Sơn Nhất rất nhiều lần (nên) tôi đành … thôi vậy!

Tượng Đài Mẹ Việt Nam Anh Hùng lớn nhất Đông Nam Á thì chắc chắn là một “kỳ quan” của thế giới rồi. Không được xem (qua) quả là điều đáng tiếc. Tuy nhiên, theo báo chí thì dù mới khánh thành nó đã bị bong gạch hết trơn rồi.

Lý do, theo ông Nguyễn Như Công, giám đốc Ban quản lý Dự án đầu tư xây dựng tỉnh Quảng Nam: “vì lượng người đổ về tham quan quá đông” nên cái nền chịu đời không thấu.

Ông Công khiến tôi trộm nghĩ (“không mợ chợ cũng đã đông rồi”) mình bon chen vào xem làm gạch của tượng đài vỡ nặng hơn nữa thì dám bị nghi rằng đây là “âm mưu phá hoại của bọn thù địch nước ngoài,” chứ chả phải đùa đâu.

Lôi thôi có thể bị mời vô phường hay vô đồn để “làm rõ” là bỏ mẹ, hay (dám) bỏ mạng luôn. Ngày nào mà không có người đã “tự tử” ở trụ sở phường, hay trong đồn công an Việt Nam, đúng không?

Thôi thì đi chỗ khác chơi cho nó lành. Tôi quyết định sẽ đi thăm Địa Đạo Củ Chi. Trước khi đến nơi tưởng cũng nên google thử chơi một cú. Wikipedia ghi rõ:

Địa đạo Củ Chi là một hệ thống phòng thủ trong lòng đất ở huyện Củ Chi, cách Thành phố Hồ Chí Minh 70 km về hướng tây-bắc. Hệ thống này được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đào trong thời kỳ Chiến tranh Đông DươngChiến tranh Việt Nam. Hệ thống địa đạo bao gồm bệnh xá, nhiều phòng ở, nhà bếp, kho chứa, phòng làm việc, hệ thống đường ngầm dưới lòng đất.

Hệ thống địa đạo dài khoảng 200 km và có các hệ thống thông hơi vào các vị trí các bụi cây… tầng cuối cùng cách mặt đất 8-10m. Ðường lên xuống giữa các tầng hầm được bố trí bằng các nắp hầm bí mật. Bên trên nguỵ trang kín đáo, nhìn như những ụ mối đùn, dọc đường hầm có lỗ thông hơi. Liên hoàn với địa đạo có các hầm rộng để nghỉ ngơi, có nơi dự trữ vũ khí, lương thực, có giếng nước, có bếp Hoàng Cầm, có hầm chỉ huy, hầm giải phẫu… Còn có cả hầm lớn, mái lợp thoáng mát, nguỵ trang khéo léo để xem phim, văn nghệ.

Trời, đất, qủi thần ơi – hồi đó – sao cán bộ cách mạng giỏi dữ vậy cà? Ở dưới tuốt địa đạo cả chục thước mà không ai bị  ngộp nước ráo trọi; đã vậy, họ còn làm kho chứa vũ khí, bệnh viện giải phẫu, và rạp để chiếu phim hay trình diễn văn nghệ nữa kìa.

Vậy mà bây giờ hễ cứ mưa là thủ đô Hà Nội trở thành Hà Lội, và thành phố Hồ Chí Minh (rực rỡ tên vàng) cũng bớt rực rỡ rất nhiều vì lụt lội – theo tin loan của báo Pháp Luật, số ra ngày 09 tháng 5 năm 2015: “Mưa nửa tiếng đường ngập như sông, xe cộ bì bõm trong nước cống… Trên đường đường Nguyễn Văn Quá (đoạn qua phường Đông Hưng Thuận, quận 12), sau cơn mưa lớn, tuyến đường này ngập ngụa nước đen ngòm, bốc mùi nồng nặc hơn 500m.”

Mưa Hà Nội. Ảnh: infonet.vn

Blogger Cao Huy Huân (VOA) còn cho biết thêm chi tiết: “ Theo thông tin từ Trung tâm Điều hành chương trình chống ngập nước, từ đầu năm 2015 đến nay, khu vực trung tâm TP được xác định còn 68 điểm ngập, so với năm 2011 số điểm ngập trên nhiều hơn 10 điểm. Công tác chống ngập thời gian qua cứ loay hoay với câu chuyện xóa, giảm điểm ngập này lại phát sinh điểm ngập khác, thời gian qua tại TP đã phát sinh tới 29 điểm ngập.”

Mưa Sài Gòn. Ảnh: wikivn.org

Khoảng cách rất gần giữa Sài Gòn và Củ Chi, và rất xa giữa “khả năng của chính quyền cách mạng” hồi thời chiến với thời bình khiến tôi hơi nghi ngại – nghi ngại về mức độ khả tín và khả xác của Wikipedia! Lò dò thêm một chập tôi tìm ra được một nguồn tài liệu khác viết về Củ Chi, qua ghi nhận của một nhà văn: Xuân Vũ.

Ông không có tên trong Wikipedia, tất nhiên, dù đã để lại cho đời “một gia tài văn chương đồ sộ gần 50 tác phẩm” – theo ghi nhận của nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh:

“Xuân Vũ (1930-2004) là một nhà văn mà các tác phẩm cả về lượng lẫn phẩm đều nổi trội. Ông viết nhiều thể loại, từ những hồi ký đến truyện dài, từ những truyện phong tục đồng quê của Nam Bộ thời xa xưa đến những truyện theo sát thời sự từ thuở kháng chiến chống Pháp đến lúc vượt Trường Sơn vào Nam…

Một bộ hồi ký gồm 5 cuốn mà Xuân Vũ viết qua ký ức của Dương Đình Lôi ‘2000 Ngày Đêm trấn Thủ Củ Chi’ cũng là một chứng tích của một cuộc chiến mà những chiến công tưởng tượng và những anh hùng là người có tên có tuổi thực nhưng được thổi phồng với những việc làm mà óc tưởng tượng cũng phải khó khăn lắm để sáng tạo ra.”

Tôi vào hệ thống thư viện ở thành phố San Jose, California, và tìm được ngay bộ sách này:

Title 2000 ngày đêm trấn thủ củ chi / Xuân Vũ & Dương Đình.
Author Xuân Vũ.
Publication Information Glendale, CA : Đại Nam, 1991-
Description v. <1-7 > ; 21 cm.
Note Volumes 1-4 published by Trời Nam ; Volumes 5-7 published by Đại Nam.
Subject Vietnamese War, 1961-1975 — Tunnel warfare.  

Vietnamese War, 1961-1975 — Vietnam — Củ Chi (Quận)

Củ Chi (Vietnam : Quận) — History.

Té ra trọn bộ tới bẩy cuốn lận, chớ không phải năm. Mẹ ơi, mấy ngàn trang sách thì đọc chắc tới tết hay dám tới chết luôn – không chừng. Mới coi qua đôi dòng “LÁ THƯ GỞI CHO MỘT NỮ ‘DŨNG SĨ’ ĐẤT CỦA CHI” mà tác giả viết thay cho lời tựa thấy cũng đủ thấy “chóng mặt” rồi:

Hoa Kỳ, ngày 24 tháng 8 năm 1991

Em Bảy Mô thân mến,

Bất ngờ anh bắt gặp một quyển sách tiếng Anh viết về địa đạo Củ Chi trong đó có đề cập tới em và hình em nữa. Xem xong quyển sách này anh cười phì vì nó hài hước và bịp bợm quá lẽ, anh không muốn nêu tên sách và tác giả ra đây vì họ không đáng cho anh gọi là nhà văn, mà họ chỉ đáng được gọi là những thằng bịp…

Anh tự hỏi tại sao tác giả quá ngây ngô để bị lừa một cách dễ dàng rồi trở lại lừa độc giả của họ một cách vô lương như thế. Nhưng cho dù họ bịp được toàn nhân loại đi nữa, họ cũng không lừa được anh và em, những kẻ đã từng đổ mồ hôi và máu trên mảnh đất này. Riêng anh thì đã tử thủ mặt trận: Hai ngàn ngày đêm, không vắng mặt phút nào. Để nói cho độc giả biết rằng bọn Cộng Sản đã bày trò bịp thế gian một lần nữa, sau vụ đường mòn xương trắng và khuyên những người nhẹ dạ chớ có mắc lừa, anh quyết định viết quyển sách này.

Họ bảo rằng bề dài địa đạo là hai trăm dậm. Em có tin không ? Sự thực Củ Chi có mấy khúc địa đạo còn tạm xài được trước khi Mỹ vô (1964) ? Quận Củ Chi là một quận nhỏ gồm mươi lăm xã cách Sài gòn hai chục cây số đường chim bay, nhưng nó là cửa ngỏ đi vào Sài gòn cho nên có hai bên Quốc Gia lẫn Cộng Sản đều tử chiến ở đây, một chiến trường khốc liệt nhất Miền Nam trong cuộc chiến tranh lần thứ hai của nước ta. Nếu tính bề châu vi thì quận Củ Chi đo được chừng năm mươi cây số. Như vậy bề dài của địa đạo ít nhất bốn lần chu vi Củ Chi. Họ còn viết rằng địa đạo đã lập thành một vòng đai thép bao quanh căn cứ Đồng Dù và người cán bộ mặt trận có thể ở dưới địa đạo nghe nhạc đang đánh ở trên căn cứ này. Cụ thể là ông Năm Phạm Sang ngồi đàn dưới địa đạo mà nghe Bon Hope diễn kịch ở trên đầu hắn.

Quyển sách ma này nói láo, nói bậy hoặc nói nhầm hầu hết về những gì đã xảy ra ở Củ Chi trong vòng năm năm (1965-1970) anh và em có mặt ở đó. Nhưng ở đây anh chỉ nhặt ra vài ba điểm quá ư ngu xuẩn của tác giả mà một người đã dám cầm bút viết nên sách dù kém tài đến đâu cũng không thể có được.

Ví dụ họ viết rằng anh Tám Lê và vợ là Thị Thắm mổ xẻ thương binh dưới địa đạo. Xin hỏi: “Làm cách nào để đem thương binh xuống đó ? ” Nên biết rằng miệng địa đạo chỉ hẹp bằng cái khay trầu thôi. Người thường tuột xuống đó còn phải lách chứ không dễ dàng. Thương binh, nếu nặng thì nằm trên cáng, còn nhẹ thì băng bó đầy mình làm sao tụt xuống được? Và nếu có tụt xuống được thì nằm ở đâu, dụng cụ gì, đèn đóm nào dùng cho cuộc giải phẫu.

Đó là chưa nói đến cái không khí ác độc ở dưới địa đạo. Người khỏe mạnh bất đắc dĩ phải xuống địa đạo thì chỉ trong vài tiếng đồng hồ là đã mệt ngất ngư rồi: vì không đủ dưỡng khí! Nếu bị kẹt vài giờ dưới đó thì con người đã trở thành miếng giẻ rách, còn khi bò lên được thì đã quên hết tên họ mình. Vậy sau khi được giải phẫu, thương binh phải sống dưới đó làm sao?

Du khách được ăn uống thử dưới địa đạo những món ăn của cư dân địa đạo trước đây. Ảnh và chú thích: wikipedia

Đó là chưa kể những việc lặt vặt khác như thương binh phóng uế hoặc thủ tiêu những băng đầy máu me. Những người chưa từng ở địa đạo nghe mấy vị này mô tả chắc sẽ nghĩ rằng cuộc sống dưới địa đạo khỏe khoắn như ở trong nhà lầu có máy điều hòa không khí.

Xin thưa câu chuyện không đẹp tai cho lắm: Một lần nọ khi chui xuống địa đạo chúng tôi bị quân Việt Nam Cộng hòa chốt trên đầu không lên được. Rủi thay một nữ cán bộ có đường kinh. Nếu ở trên mặt đất thì dù không kịp dùng băng vệ sinh người đàn bà vẫn không toát ra mùi gì (xin lỗi) nhưng ở dưới địa đạo gặp trường hợp này mọi người đều ngặt mình như sắp chết vì cái mùi uế tạp kia. Người chưa từng ở địa đạo không thể biết rằng đánh một cái rắm dưới đó chẳng khác nào bỏ một trái bom nguyên tử…

Em Mô thân mến,

Chúng ta hãy cùng nhau cúi hôn mảnh đất Củ Chi đau khổ của chúng ta hiện nay đang nhục nhã vì bị bọn Cộng Sản đem ra làm trò bịp thế gian…

Cái gì chớ “bịp” thì là nghề của “bọn Cộng Sản” mà, và Wikipedia (tiếng Việt) thì đúng là mảnh đất lý tưởng để cho mấy ổng múa gậy vườn hoang.

Bi ẩn thi hài thánh nữ đẹp như mỹ nhân

Bi ẩn thi hài thánh nữ đẹp như mỹ nhân

Mấy trăm năm qua đi, dung nhan thánh nữ Bernadette vẫn tuyệt vời như khi bà qua đời ở tuổi 35, dù không hề được ướp xác.

Trên thế giới có rất nhiều hiện tượng nhục thân bất hoại, thi hài nguyên vẹn sau hàng trăm, hàng nghìn năm, đa số có thể lý giải bằng khoa học. Thế nhưng với hiện tượng nhục thân bất hoại của thánh nữ Bernadette và một số vị thánh, nhà tu hành khác thì các nhà khoa học vẫn phải đau đầu bởi sự kỳ lạ dường như mang tính chất thần linh.

Thánh nữ Bernadette là ai?

Người được nhà thờ Thiên chúa giáo La Mã 2 lần phong thánh này là con gái đầu lòng của một gia đình thợ may nghèo ở Louders, miền nam nước Pháp, từ nhỏ đã ốm yếu vì bệnh hen. Vào năm 1858, khi 14 tuổi, cô bé nhìn thấy Đức Mẹ hiện ra với mình trong một cái hang gần sông Gave, khi cô nhặt củi ở đó, nên về kể với mẹ.

Bernadette thời thiếu nữ. Bà là vị thánh đầu tiên của Thiên chúa giáo có hình chụp lúc còn sống.

Tin đồn lan ra, và dĩ nhiên rất nhiều người không tin. Trong vòng 5 tháng sau đó, cô bé còn được thị kiến Đức Mẹ thêm 17 lần, khiến đám đông đổ về hang ngày một đông. Điều đó khiến cô thiếu nữ gặp nguy hiểm bởi sự cảnh cáo, đe dọa của nhà chức trách. Tuy nhiên, Bernadette vẫn trung thành với những gì mình nhìn thấy thay vì tuyên bố mình nói dối như nhà chức trách yêu cầu.

Người dân càng tin vào Bernadette hơn khi có một dòng suối chảy ra từ hang do cô đã dùng tay đào theo chỉ dẫn của Đức Mẹ, và nước suối ấy được cho là chữa khỏi bệnh cho nhiều người. Trong một lần hiện ra với Bernadette, Đức Mẹ nói muốn xây một nhà thờ tại đây, nhưng nhà chức trách tìm cách ngăn cản, cũng như đóng dòng suối lại. Nhưng tiếng tăm về Bernadette và Đức Mẹ trong hang đã đến tai hoàng hậu nước Pháp, và bà đã can thiệp để nhà thờ được xây dựng.

Bernadette khi đã là nữ tu.

Năm 22 tuổi, Bernadette được vào tu viện đúng như khao khát của cô, dành hết tâm sức để thờ Thiên chúa và làm những việc thiện nguyện. Nữ tu sĩ qua đời ở tuổi 35 (năm 1879) sau một thời gian dài bệnh tật. Vào năm 1913, Bernadette được Giáo hoàng Pius X phong thánh, mộ của bà lần đầu tiên được mở ra và mọi người ngạc nhiên bởi thi hài vẫn y nguyên như lúc còn sống. Do hoàn cảnh chiến tranh (chiến tranh thế giới thứ nhất 1914-1918), các nghi thức bị gián đoạn nên đến năm 1919, mộ của bà lại được mở ra lần nữa để hoàn tất các nghi lễ.

Lúc này, Bernadette đã qua đời được 30 năm. Bác sĩ phẫu thuật Tourdan, người chứng kiến sự việc, kể lại: “Quan tài được mở ra dưới sự chứng kiến của nhiều người, trong đó có tôi. Thi thể thánh nữ trong trang phục yêu thích của bà không hề có mùi xú u. Khuôn mặt, bàn tay và cẳng tay lộ ra bên ngoài. Đầu bà nghiêng sang một bên, miệng hé mở để lộ hàm răng trắng. Hai tay đặt trên ngực, lớp da vẫn hoàn hảo”.

Theo mô tả của những người khác, đầu gối bên trái của thánh nữ nhỏ hơn bên phải do ảnh hưởng của chứng bệnh lao xương mà bà mắc phải. Trang phục của bà hơi ẩm ướt, cỗ tràng hạt bà cầm cũng như tượng thánh bằng đồng trên ngực đã rỉ sét, nhưng lạ kỳ là da thịt lại vẹn nguyên, các khớp xương vẫn mềm mại và da vẫn đàn hồi, tươi tắn. Thánh nữ Bernadette được thay y phục mới và mai táng trở lại.

Thi hài thánh nữ Bernadette được đặt trong quan tài kính.

Năm 1925, Đức Giáo hoàng Pius XI phong thánh lần nữa cho Bernadette, và mộ bà lại được mở ra lần thứ ba. Người phụ nữ qua đời ở tuổi 35 vẫn mang dung nhan thánh thiện, đẹp đẽ như đang nằm ngủ, duy có da mặt hơi sẫm hơn một chút do bị lau rửa lần trước. Sau khi bọc sáp gương mặt và đôi tay, di hài được đưa vào quan tài bằng pha lê đặt ở nhà nguyện tại Lourder cho đến tận ngày nay cho mọi người kính ngưỡng.

Lourder – quê hương Bernadette đã trở thành một trong những điểm hành hương lớn nhất của các tín đồ Thiên chúa giáo, và dòng suối nhỏ được bà đào theo chỉ dẫn của Đức Mẹ vẫn cung cấp nước cho khách thập phương đến tận ngày nay.

Bí ẩn của thi thể không rữa nát

Đã có vô số thi thể cổ xưa được người đương đại phát hiện trong tình trạng nguyên vẹn: những bậc đế vương, những người giàu có, những thiền sư đắc đạo, những người sống ở vùng băng giá. Sự hoàn hảo của những thi thể này được khoa học lý giải nguyên nhân rất dễ dàng: Những tảng băng tạo thành cái tủ lạnh khổng lồ khiến những xác chết nằm trong đó được bảo quản tươi nguyên sau nhiều thế kỷ.

Những thi hài được ướp xác bằng cách rút hết nội tạng, được quấn và nhồi bằng nhiều loại dầu, thảo dược có tác dụng chống phân hủy. Còn các vị cao tăng thường “tự ướp xác” mình bằng cách nhịn ăn nhiều ngày, chỉ uống loại nước thuốc đặc biệt để ngừng trao đổi chất, làm sạch cơ thể, khiến người gầy rộc chỉ còn da bọc xương trước khi họ viên tịch trong tư thế thiền định.

Đặc điểm chung của những xác ướp đó là tuy không bị rữa nát, chúng cứng đơ, khô quắt, bị rút hết nước, và màu da xám xịt hoặc đen sì. Thực ra cũng có một ngoại lệ, đó là xác ướp của Tân Truy phu nhân, vợ một vị quan triều Hán ở Trung Quốc cách đây 2.000 năm, được phát hiện năm 1972. Thi thể người phụ nữ qua đời lúc 50 tuổi này vẫn đầy đặn, mặt tuy đã phân hủy nhưng còn khá rõ các nét, da còn khá mềm và ẩm, có khớp vẫn cử động được, đáng ngạc nhiên là nội tạng vẫn đầy đủ, thậm chí trong ruột và dạ dày vẫn còn hàng trăm hạt dưa.

Thi hài 2.000 năm của Tân Truy phu nhân.

Dù kỳ lạ nhưng sự “bất hoại” của Tân Truy phu nhân vẫn được giới nghiên cứu lý giải rõ ràng: thi thể bà đã được bảo quản cực kỳ khoa học với 20 lớp vải quấn quanh, ngâm trong dung dịch chống phân hủy bao gồm cả chu sa, thủy ngân và thạc tín, đặt trong 4 lớp quan tài. Có đến 5 tấn than được đổ quanh và thi hài được chôn sâu 15 mét dưới lòng đất.

Tóm lại, gần như tất cả những thi thể tồn tại qua thời gian đều là kết quả của sự bảo quản kỳ công, hoặc thi hài tình cờ được ở trong môi trường đặc biệt để vi khuẩn và sự oxy hóa không “tác quái” được. Nhưng điều đó không đúng với trường hợp thi thể thánh nữ Bernadette. Khi qua đời, bà chỉ ở địa vị một nữ tu sĩ bình thường, thậm chí bị mẹ bề trên ghét bỏ, nên thi thể được mai táng hoàn toàn theo cách bình thường, không có một tác động nào nhằm mục đích bảo quản thi hài.

Dung nhan của thánh nữ Bernadette hiện nay vẫn tươi đẹp như đang ngủ.

Môi trường nơi đặt thi thể bà cũng hoàn toàn bình thường, nghĩa là những thi thể khác đặt ở đó vẫn rữa nát nhanh chóng theo quy luật tự nhiên. Các nhà khoa học không lý giải được tại sao, còn những người tin vào tâm linh thì cho rằng, chính hồng ân của Thiên chúa và Đức Mẹ đã tạo ra phép lạ cho người con gái thánh thiện của các ngài.

Nữ á thánh Anna Maria Taigi.

Không chỉ Bernadette, một số vị thánh khác của Thiên chúa giáo cũng có thi thể bất hoại, chẳng hạn nữ á thánh Anna Maria Taigi, người Italy, qua đời năm 1837 ở tuổi 68. Bà không phải là một tu sĩ, mà là bà mẹ 7 con nhận được ơn tiên tri của Thiên chúa, thấy được quá khứ và tương lai. Bà sống cuộc đời đạo đức, cống hiến và được Giáo hoàng Benedikt XV phong á thánh vào năm 1920. Mặc dù qua đời khi tuổi đã cao và đến nay đã hơn 175 năm trôi qua, gương mặt vị á thánh này vẫn tròn đầy, căng mịn, rất tươi đẹp.

Thánh Johannes Bosco.

Thánh Johannes Bosco (1786-1859) cũng được hậu thế chiêm ngưỡng trong quan tài kính với thần thái không khác lúc còn sống. Ông là một linh mục Pháp, người sáng lập nhà dòng Salesianer, được Giáo hoàng Pius XI phong thánh và tuyên xưng là Thánh quan thầy của các linh mục. Những vị thánh khác như Francis Xavier (1506-1552), di hài đang được lưu giữ tại Ấn Độ, Jean Marie Baptiste Vieanney (1786-1859)… cũng nổi tiếng là nhục thân bất hoại dù không hề được ướp xác.

Theo Xzone

Tài khoản Facebook ở Việt Nam dễ bị đánh cắp

Tài khoản Facebook ở Việt Nam dễ bị đánh cắp

Nguoi-viet.com

LONDON 8-7 (NV) – Tài khoản cá nhân trên mạng xã hội Facebook tại Việt Nam không an toàn vì có nhiều người kêu ca bị đánh cắp mật khẩu và trang cá nhân.

Một người ở Hà Nội chỉ vào hình “Lưỡi bò” bị cắt trên một trang cá nhân Facebook khi có các căng thẳng chủ quyền Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

Theo một bản tường trình của tổ chức tư nhân tư vấn bảo mật SecDev tại Canada được đài BBC tường thuật lại thì “Vấn nạn đánh cắp tài khoản Facebook tại Việt Nam đang lan tràn như một ‘đại dịch.’

Tường trình công bố ngày 6/7/2015 của SecDev cho biết trong 15 người dùng Facebook tại Việt Nam được SecDev liên lạc thì có một người từng bị đánh cắp tài khoản và 6 người khác quen biết một ai đó từng mất tài khoản.

Trên Facebook mấy ngày gần đây, người ta thấy có những người đấu tranh dân chủ tại Việt Nam khuyến cáo đừng vào trang cá nhân của người đó nữa vì mật khẩu đã bị đánh cắp. BBC thuật lại từ tường trình SecDev nói rằng, số lượng bình luận có từ khóa liên quan đến “hacking” trên trang cộng đồng của Facebook tiếng Việt cũng tăng thường xuyên trong 3 năm trở lại đây.

Một trong các phương thức được tin tặc sử dụng phổ biến nhất tại Việt Nam, theo tường trình vừa kể, là tạo đường link giả mạo để yêu cầu người dùng đăng nhập lại tên và mật mã. Một phương thức cũng phổ biến không kém là giả mạo danh tính để kết bạn với bạn bè trên Facebook của nạn nhân và yêu cầu giúp đỡ.

Một cách phức tạp hơn là dùng mã độc để ghi lại thông tin được nhập trên bàn phím của điện thoại lẫn máy tính của nạn nhân và từ đó ghi lại địa chỉ email, tên đăng nhập, mật mã.

Theo SecDev, số lượng lớn các tài khoản bị đánh cắp không phải do tin tặc có trình độ cao, mà là do thói quen cá nhân lẫn các yếu tố văn hóa của người dùng Facebook tại Việt Nam.

“Sự chủ quan và thói quen vay mượn phi chính thức của giới trẻ tại Việt Nam đã tạo nên một môi trường hoạt động lý tưởng cho tin tặc,” Bản tường trình viết, được BBC kể lại. Để dập tắt vấn nạn tin tặc, giới trẻ Việt Nam “cần nhanh chóng đề cao cảnh giác cũng như tăng cường các biện pháp an ninh mạng”.

Hiện nay, có khoảng hơn 31 triệu người Việt Nam sử dụng mạng xã hội Facebook để trao đổi thông tin, tăng 50% so với năm 2014 khi điện thoại thông minh càng ngày càng phổ biến khắp nơi trên cả nước. Người ta không cần đến máy điện toán để lên internet vì điện thoại thông minh cũng có luôn tính năng này.

Văn thư của Bộ Công An CSVN  yêu cầu các công ty cung cấp dịch vụ Internet tại Việt Nam ngăn chặn mạng xã hội Facebook. (Hình: Internet)

Theo SevDev, 95% người có tài khoản Facebook tại Việt Nam ở độ tuổi 15-24 tuổi. Tổ chức này dẫn một báo cáo nói Việt Nam bị nhiều đợt tấn công mạng “từ những nhóm tin tặc được chính quyền hậu thuẫn và các nhóm dân tộc chủ nghĩa” hơn bất cứ nước nào khác trên thế giới trong năm 2014.

“Phần lớn các cuộc tấn công có liên quan đến tranh chấp chủ quyền trên biển ở với Trung Quốc,” SevDev viết.

Khi thấy các thông tin “lề trái” xuất hiện tràn làn trên Facebook, ngay từ năm 2009, bộ Công an CSVN đã gửi văn thư đến 10 công ty cung cấp dịch vụ internet tại Việt Nam đòi hỏi họ “áp dụng các biện pháp kỹ thuật chặn triệt để đối với 8 trang mạng” trong đó có Facebook.

Hành động của chế độ Hà Nội cho thấy họ cố gắng đối phó với các thứ thông tin “ngoài luồng” vì chúng chứng tỏ nhà cầm quyền hoặc che đậy sự thật, hoặc dối trá bịp bợm người dân.

Vì sự ngăn chặn không có tác dụng nên trong một phiên họp chính phủ hồi giữa Tháng Giêng vừa qua, chính ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng nhìn nhận sự thất bại khi khả năng của công an mạng và đám “dư luận viên” vừa có giới hạn, vừa không ai sợ, không ai tin.

Cái mà chế độ Hà Nội, qua chỉ thị của ông Nguyễn Tấn Dùng, có thể làm được là phải cố gắng đưa tin “kịp thời để định hướng” dư luận, nhờ vậy mà “người dân có lòng tin”, bởi vì các mạng xã hội là “nhu cầu thiết yếu, không thể ngăn cấm”.

Ngày 15/7/2013, nhà cầm quyền CSVN đưa ra nghị định 72 cấm người sử dụng internet ở Việt Nam phổ biến lại các thông tin từ các nguồn khác. Mục đính chính của nghị định này là ngăn chặn phát tán các thứ thông tin có hại cho chế độ Hà Nội.

Từ đó đến nay, các mạng xã hội trên internet, gồm cả Facebook, vẫn được các người tại Việt Nam trao đổi, dẫn lại các thông tin từ bất cứ nguồn này trên thế giới gây được chú ý của người đọc.

Để đối phó với các trường hợp đánh cắp mật khẩu hoặc bị “kẻ gian” chiếm đoạt tài khoản cá nhân, một tổ chức có tên makeuseof.com (http://www.makeuseof.com/tag/check-accessing-facebook-account/ đề nghị 16 bước kiểm chứng để xem tài khoản (account) của mình có bị kẻ gian xâm nhập hay không, đồng thời lấy lại quyền kiểm soát của mình. (TN)

Bắc Kinh dọa Hà Nội: Gần với Mỹ hơn, sẽ bị trả thù

Bắc Kinh dọa Hà Nội: Gần với Mỹ hơn, sẽ bị trả thù

Nguoi-viet.com

BẮC KINH 8-7 (NV) – Bắc Kinh bắn tiếng cho Hà Nội biết là nếu tiến gần hơn với Hoa Thịnh Đốn, được hiểu là để đối phó Trung Quốc, thì coi chừng sẽ gặp phải các đòn trả thù từ phương Bắc.

Phó tổng thống Mỹ Joe Biden phát biểu trong khi ông tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng đứng nghe nhân dịp ông Trọng được đãi bữa ăn trưa ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ hôm Thứ Ba 7/7/2015. (Hình: AP Photo/Manuel Balce Ceneta)

“Cái mối quan hệ mật thiết hơn giữa Việt Nam và Hoa Kỳ mà một phần là nhắm (đối phó) với Trung Quốc, sẽ kéo theo các đòn đánh trả của Trung Quốc.” Bài bình luận của tờ Hoàn Cầu Thời Báo ngày 8/7/2015 viết. “ Điều này sẽ tạo ra ap lực cho cả ba phía mà khi nó diễn tiến, Việt Nam có thể là kẻ phải chịu nhiều thiệt hại nhất.”

Hoàn Cầu Thời Báo là một phó bản của tờ Nhân Dân Nhật Báo, cái loa tuyên truyền của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Cả hai tờ báo này cùng chia chung một trụ sở ở Bắc Kinh. Mỗi khi có bài bình luận gì, vì tế nhị, không đăng trên Nhân Dân Nhật Báo thì đẩy sang đăng trên Hoàn Cầu Thời Báo.

Mỗi khi có bất cứ biến cố, sự kiện gì liên quan tới Việt Nam mà họ đánh hơi thấy có thể bất lợi cho Trung Quốc, tờ Hoàn Cầu Thời Báo đều nhanh chóng có những bài bình luận hoặc chửi bới, hoặc đe dọa Việt Nam, kể cả quân sự, dù lãnh tụ hai nước mỗi khi gặp nhau đều hô hò “16 chữ vàng” và “tinh thần 4 tốt.”

Ngày 7/7/2015, tổng thống Mỹ Barack Obama tiếp ông tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng tại Phòng Bầu Dục trong Tòa Bạch Ốc dù ông không phải là người cầm đầu chính phủ hoặc tổng thống, chủ tịch nước như thông lệ tiếp khách. Cả hai ông thảo luận nhiều vấn đề, từ nhân quyền đến Biển Đông, hiệp định đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), trong mối quan hệ giữa hai nước.

“Báo chí tây phương đã diễn dịch quá đáng cuộc viếng thăm (của ông Nguyễn Phú Trọng) trong tầm nhìn địa chính trị. Họ coi cuộc thăm viếng như một nghi thức ngoại giao phối hợp giữa Việt Nam với Mỹ chống lại Trung Quốc và đây cũng là một chiến thắng của Mỹ trong chủ trương đối phó với Trung Quốc về mặt chiến lược.” Hoàn Cầu Thời Báo kể lể.

Với những nhận định như thế, Hoàn Cầu Thời Báo nói, một số nhà quan sát Mỹ và một số trí thức muốn gồm cả Việt Nam vào trong phe chống Trung Quốc. Tuy nhiên “Mục tiêu này có vẻ luôn luôn hiện ra ở chân trời, nhưng sẽ không bao giờ đến được.”

Theo Hoàn Cầu Thời Báo, Hoa Thịnh Đốn muốn Hà Nội phối hợp với họ trong chính sách xoay trục về Á Châu – Thái Bình Dương và tăng cường áp lực với Trung Quốc, trong khi Hà Nội hy vọng thân cận hơn với Hoa Thịnh Đốn có thể giúp họ đối phó với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông. Nhưng “điều này không hoàn toàn tượng trưng cho mối quan hệ Hoa Kỳ- Việt Nam.”

Báo này dọa rằng Việt Nam ngày càng bị áp lực chính trị từ Mỹ nên “tạo ra thử thách lâu dài cho sự ổn định” của chế độ Hà Nội. Hoàn Cầu Thời Báo nói trong khi là một trong những nước xuất cảng nhiều sang Mỹ nhưng cũng vì vậy mà phải “đối phó với sự xâm nhập chính trị của Tây phương.”

Tờ báo nêu ra một thực tế là trong khi Việt Nam coi Trung Quốc như một sự thử thách cho an ninh quốc gia thì họ lại “hưởng sức mạnh kinh tế nhờ Trung Quốc cũng như sự hậu thuẫn của hệ thống chính trị Cộng sản của Trung Quốc.”

Tờ báo đe rằng “Khi chiến lược căn bản của Việt Nam là cổ võ phát triển kinh tế xã hội như Trung Quốc và họ sẽ đạt được thành quả tối đa nếu chiến lược đó đừng đi ngược lại các tranh chấp Biển Đông.”

“Không nước nào được hưởng lợi khi mời Mỹ chen vào các cuộc tranh chấp với Trung Quốc. Thật ra, điều đó báo hiệu thất bại.” Tờ Hoàn Cầu Thời báo dọa.

Khác với tờ Nhân Dân Nhật báo, tờ Hoàn Cầu Thời Báo cho độc giả bình luận thoải mái. Trong phần bình luận của độc giả dưới bài bình luận nói trên, ít nhất có 25 lời bình luận đối chọi nhau từ bênh đến sỉ vả Bắc Kinh. (TN)

TÔI BẮT ĐẦU BIẾT… NÓI DỐI !

TÔI BẮT ĐẦU BIẾT… NÓI DỐI !

Thủa nhỏ, tôi được dạy rằng, phải sống trung thực không dối trá với bản thân
mình và với mọi người vì đó là con đường sáng duy nhất của kiếp người.
Khi đó, tôi chưa hiểu thế nào là trung thực, thế nào là dối trá mà chỉ biết rằng
những hành động nào của tôi làm vừa lòng người lớn, được khen là ngoan ngoãn thì
đấy là những hành động trung thực. Nhưng đến một hôm, tôi đã biết sự thật trong
những lời khen ấy.

Tôi bắt đầu biết nói dối, những lời nói dối chân thành nhất của đời mình. Tôi có
người bạn quanh năm lênh đênh trên con tàu nhỏ, đã cũ, đi câu mực, đánh cá trên
biển, vài tháng mới trở lại đất liền vài ngày.
Một lần, anh đi biển và thời tiết thay đổi đột ngột khiến biển động dữ dội.
Nhà anh chỉ còn người mẹ già ốm yếu. Vì quá lo lắng cho con trai, bệnh tim tái
phát khiến bà phải vào viện trong tình trạng hôn mê. Khi đó gió biển gào thét dữ
dội.

Các bác sĩ quyết định phải mổ ngay nhưng họ không thể tiến hành ca mổ trong lúc
bà mẹ lâm vào tình trạng hôn mê, suy kiệt tinh thần hoàn toàn.
Trong những lúc tỉnh táo ngắn ngủi, bà thều thào hỏi đã hết bão chưa, con trai bà đã về chưa?

Khi đó có một người làng bên cho biết đã tìm thấy mãnh vỡ của con tàu nhà bà dạt vào bờ biển.

Bà hỏi các bác sĩ nhưng không ai trả lời.
Tôi đứng ở đó và thật rồ dại khi trung thực kể cho bà nghe rằng cơn bão khủng
khiếp lắm, kéo dài vài ngày nữa mới thôi, con tàu đã bị vỡ, sóng xô vài mảnh vào
bờ, con trai bà (bạn thân của tôi) không biết số phận ra sao?
Các bác sĩ không kịp cản tôi.

Câu chuyện tôi vừa kể đã đánh gục những sức lực yếu ớt cuối cùng của bà. Bà nấc
nhẹ và thiếp đi. Bác sĩ bó tay. Tôi tình cờ phạm phải một tội ghê ghớm mà suốt
đời tôi không tha thứ cho mình. Sau khi tan bão người bạn tôi sống sót trở về do
một chiếc tàu khác cứu.
Anh không trách tôi mà chỉ gục bên mộ mẹ khóc nức nở.Sự trung thực ngu ngốc đã
vô tình khiến tôi phạm sai lầm khủng khiếp.

Trong truyện ngắn nổi danh ” Chiếc lá cuối cùng” của O.Henrry, một bệnh nhân tin
chắc mình sẽ chết. Cô đếm từng chiếc lá rụng của tán cây ngoài cứa sổ và tin
rằng đó là chiếc lá đồng hồ số phận của cô.
Khi chiếc lá cuối cùng rơi xuống, cô sẽ chết. Nhưng chiếc lá cuối cùng không bao
giờ rụng xuống. Cô gái bình phục, sống khỏe mạnh mà không biết rằng chiếc lá
cuối cùng đó chỉ là một chiếc lá giả do một họa sĩ muốn cứu cô vẽ lên vòm cây
trơ trụi.

Như vậy sự thật không phải được nhìn thấy bằng mắt, được cảm nhận bằng tri thức.
Nếu tôi không kể về cơn bão tôi thấy, mảnh ván tàu vợ tôi được nghe thì có lẽ
người mẹ ốm yếu ấy không chết.
Nếu như không có chiếc lá giả kia, cô gái sẽ chết vì bệnh tật và vì tuyệt vọng.
Sự thật trong đời sống con người phải đồng nghĩa với tình yêu nữa. Chỉ có điều
gì cứu giúp con người, làm cho con người mạnh mẽ lên, hướng con người về ánh
sáng… điều đó mới là sự thật.

Còn tất cả những hành động, những lời nói cho dù đúng với mắt mình thấy, tai
mình nghe, tri thức của mình hiểu nhưng chúng khiến cho người khác, hoặc cho
niềm tin cuộc sống, mất đi sức mạnh tinh thần dẫn đến việc hủy hoại đời sống thì
đều không phải là trung thực.Nếu chúng là sự thật, đó là sự thật của một con quỷ
không biết yêu thương con người.

Một lời nói dối trong tình yêu có thể cứu người và một lời nói thật phũ phàng có
thể giết người. Tất nhiên chúng ta sẽ chọn lời nối dối chân chính.
Tuy vậy để phân biệt khoảng cách giữa những lời nói này cũng là một điều khó
khăn và tùy thuộc vào từng hoàn cảnh đặc biệt. Bạn có biết nói dối thế nào để
lời nói dối ấy là lời nói dối chân thành, chứa đầy tình yêu thương con người?

Đơn giản thôi.Bạn hãy giữ lấy một trái tim tha thiết với cuộc đời và đồng loại.

Khuyết Danh

Anh chị Thụ Mai gởi

Suy Tư Về Việc Hoa Kỳ Chấp Thuận Hôn Nhân Đồng Giới

Suy Tư Về Việc Hoa Kỳ Chấp Thuận Hôn Nhân Đồng Giới

TRẦM THIÊN THU

Ngày 26-6-2015, Hoa Kỳ đã hợp pháp hóa việc hôn nhân đồng giới. Một tiếng sét ngang tai đối với người Công giáo. Chúng ta nên làm gì?

Hôn nhân truyền thống là điều tốt lành của Thiên Chúa, sự thiết lập này được thể hiện qua việc kết hợp của một người nam và một người nữ, nhờ đó mà xã hội phát triển. Nhưng người ta không tin như vậy. Đa số thất vọng với quyết định của Hoa Kỳ về việc chấp nhập hôn nhân đồng giới. Kinh khủng quá!

Cơn cám dỗ này là sự hôi thối sỉ nhục trong góc thánh thiện, là đào hố sâu dưới chân chúng ta, là cú đá ngược bất ngờ khiến chúng ta thất vọng. Nhưng chúng ta vẫn khả dĩ làm tốt hơn bằng cách ấp ủ Tám Mối Phúc:

Hãy vui mừng, không chỉ trong quyết định, mà còn vui mừng trong Chúa, và hãy tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh. Chúa Giêsu nói: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế” (Mt 5:11).

Vui mừng cái gì? Hãy chú ý những điều quan trọng: Thiên Chúa vẫn hiện hữu, không phải Ngài không biết, nhưng Ngài làm ngơ và chờ đợi chúng ta ăn năn sám hối; sự chết và sự phục sinh của Đức Kitô vẫn mãi là sức mạnh cứu độ đối với mọi người; Tin Mừng vẫn làn tỏa khắp nơi; Tòa án Tối cao hoặc Quốc hội Hoa Kỳ không thể chống lại Giáo Hội của Đức Giêsu Kitô, vì Ngài đã xác định với giáo hoàng tiên khởi: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16:18). Chắc chắn “không có gì tách chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô” (Rm 8:35). Nước Thiên Chúa sẽ ngự đến – và vẫn có những công việc để chúng ta làm trong Giáo Hội và trong xã hội ngày nay.

HÃY SÁM HỐI. Hiện nay một cơn cám dỗ khác đang nhắm vào các sức mạnh về chính trị, xã hội, triết học, tâm linh, để chống lại Giáo Hội và giáo huấn luân lý. Thánh Phaolô khuyên chúng ta khi tham gia cuộc chiến thiêng liêng: “Anh em hãy tìm sức mạnh trong Chúa và trong uy lực toàn năng của Người. Hãy mang toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa, để có thể đứng vững trước những mưu chước của ma quỷ. Vì chúng ta chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là với những quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm này, với những thần linh quái ác chốn trời cao. Bởi đó, anh em hãy nhận lấy toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa; như thế, anh em có thể vận dụng toàn lực để đối phóđứng vững trong ngày đen tối” (Ep 6:10-13). Chúng ta nên làm gì và có thái độ thế nào khi xã hội loại bỏ các giá trị đạo đức? Hành động trái ngược đã bộc lộ nỗi sợ hãi và dịnh kiến. Đam mê của chúng ta có nguồn gốc từ tội lỗi liên quan tình dục, lãnh đạm với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, thói tham lam, thói giả hình, tính vị kỷ,… Tu thân rồi mới tề gia, sau đó mới khả dĩ trị quốc và bình thiên hạ. Bắt đầu là điều khó, bắt đầu từ chính mình lại càng khó hơn. Nhưng ai cũng PHẢI bắt đầu. Tu thân là sửa tính nết, canh tân lối sống, sám hối tội lỗi: “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an” (Mt 5:5).

HÃY SUY NGHĨ LẠI. Hãy suy nghĩ về những gì mình đã làm, đang làm và sẽ làm. Hôn nhân đồng giới là trái tự nhiên, là “cặp đôi KHÔNG hoàn hảo”.

Một vấn đề đòi hỏi suy nghĩ nghiêm túc là việc ly hôn, ly thân và tái hôn. Kinh Thánh nói nhiều về hôn nhân. Sách Khôn Ngoan cảnh báo: “Họ quả không coi trọng mạng sống và xem thường cuộc hôn nhân trong sạch. Người này giăng bẫy sát hại người kia, người ta giết nhau bằng thủ đoạn hoặc làm khổ nhau vì chuyện ngoại tình. Nơi đâu cũng hỗn loạn: đổ máu và giết người, cướp giật và lừa đảo, nhũng lạm, bất tín, bạo loạn, bội thề. Vàng thau lẫn lộn, bội nghĩa vô ân, tâm hồn nhơ nhuốc, dục tình đồi bại, rồi hôn nhân hỗn loạn, ngoại tình và phóng đãng” (Kn 14:24-26). Thiên Chúa quả quyết: “Ta ghét việc rẫy vợ, và kẻ lấy thói bạo tàn làm áo che thân. Hãy coi chừng và chớ phản bội!” (Mlk 2:16). Và Chúa Giêsu dạy: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19:6; Mc 10:9). Đó là Ngài nói về hôn nhân lưỡng tính (một nam và một nữ) chứ không là hôn nhân đồng tính (một nam và một nam, hoặc một nữ và một nữ). Thế nhưng người ta nới lỏng Luật Chúa và không tôn trọng lời thề hôn nhân. Người ta coi thường Thánh Ân nên không muốn tuân giữ Thánh Luật. Sự mâu thuẫn đã làm đảo lộn trật tự xã hội vì người ta muốn thoát ra khỏi Giáo Hội. Giáo Hội cấm ly hôn chứ không cấm tái hôn, nhưng chỉ tái hôn khi một người không còn (qua đời) chứ không tái hôn sau khi ly hôn.

Ai khao khát sự công chính thì sẽ được mãn nguyện: “Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng” (Mt 5:6). Nhưng khao khát thì phải hành động chứ không “há miệng chờ sung rụng”.

HÃY SẮP ĐẶT LẠI. Chúng ta đang “sống lưu vong” và “lữ hành trần gian”. Một thanh niên Miến Điện đến Hoa Kỳ vài tháng trước. Anh ta nói rằng ở Miến Điện, các Kitô hữu bị hạn chế xây dựng nhà thờ và trường học. Hành vi thù địch về xã hội và chính trị đã khiến anh chống đối, anh phải trốn sang Indonesia. Tại đây, anh bị tù 7 tháng vì không có giấy tờ tùy thân. Nhờ tổ chức World Relief, anh được đến Hoa Kỳ, phải “vật lộn” với ngôn ngữ mới và văn hóa mới, trong khi phải nuôi sống gia đình với số lương bèo bọt. Nghĩa là anh ta phải sắp xếp lại mọi thứ để sớm thích nghi với hoàn cảnh mới với mọi thứ mới.

Đó là một dạng sống lưu vong, dù xã hội Hoa Kỳ vẫn cho phép tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, tôn trọng nhân quyền, cho phép công dân tham công việc gia quản trị. Tự do luôn có sẵn hầu như ở mọi nơi trên thế giới. Kiến tạo hòa bình là điều tốt chung: “Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5:9). Nói chung, chúng ta phải sắp xếp lại quan điểm và hoạt động chính trị.

HÃY VƯƠN XA. Vấn đề hôn nhân đồng giới đã được hợp pháp hóa ở Hoa Kỳ, chúng ta buồn nhưng chúng ta lại có cơ hội để xây dựng các mối quan hệ đơm hoa kết trái với những người ghét các Kitô hữu: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5:44; Lc 6:27). Về điểm này, người Công giáo chúng ta bị coi là mối đe dọa đối với chính trị. Chúng ta “mất mát” về vấn đề hôn nhân đồng giới, mối đe dọa đã không còn. Chúng ta hãy mong đợi những cơ hội mới để có dịp chia sẻ về Lòng Chúa Thương Xót: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5:7). Đó chính là Tin Mừng vậy.

HÃY TỰ HÀO. Thánh Phaolô động viên: “Hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hoà. Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an, sẽ ở cùng anh em” (2 Cr 13:11). Vả lại, chính Thiên Chúa đã kêu gọi chúng ta ngay trong bước ngoặt lịch sử này – Hoa Kỳ chấp thuận hôn nhân đồng giới. Trong quá khứ, Giáo Hội hồi thế kỷ IV có trách nhiệm suy tư vầ bản chất của Đức Kitô, Giáo Hội hồi thế kỷ XVI có trách nhiệm suy tư về mối quan hệ giữa đức tin và công việc, còn hiện nay, Giáo Hội có trách nhiệm suy tư về vấn đề giới tính. Điều chúng ta dạy và việc chúng ta làm trong thời đại chúng ta sẽ định hình tư tưởng của Giáo Hội và cuộc sống đối với các thế hệ tương lại.

Đây không chỉ là lời kêu gọi đối với các vị lãnh đạo quốc gia và Giáo Hội, mà còn đối với mỗi gia đình Kitô giáo. Dù chúng ta có đi vận động hành lang ở sảnh Quốc hội hay không để xem việc buôn bán người hoặc dạy trẻ em về tặng phẩm tình dục quý giá thế nào, chúng ta vẫn đang củng cố và định hình giáo huấn của Giáo Hội về giới tính.

Chúng ta đang bước vào tương lai chưa biết sẽ đáng quan ngại hay hay không, nhưng cần có lòng khiêm nhu và tự tin: “Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp” (Mt 5:4). Đức Kitô là Thiên Chúa Ngôi hai và vẫn là Hoa Tiêu điều khiển Con Tàu Giáo Hội. Phúc cho ai chân nhận điều này, vì họ sẽ được Nước Trời làm gia nghiệp đời đời!

MARK GALLI

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ ChristianityToday.com)

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Chuyện của danh ca Lệ Thu

Chuyện của danh ca Lệ Thu

1. Cuộc đời tôi như một tờ giấy trắng, được tạo hóa vẽ lên đó những đường nét rõ ràng và tôi chưa một lần đi ngược lại quy luật tự nhiên. Tôi tin mọi thứ đều do trời định cả. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ trở thành một ca sĩ. Ngay cả khi bén duyên ca hát rồi, tôi cũng chẳng mơ được gọi hai tiếng “danh ca”. Bước lên sân khấu, tôi cứ thế hát bằng tất cả xúc cảm, bằng tâm hồn mình. Có lẽ vậy mà tiếng hát tôi còn được thính giả yêu quý tới giờ. Vì giọng hát theo thời gian sẽ khác đi nhưng tâm hồn trong tiếng hát thì bất biến.

Tôi may mắn được sinh ra trong một gia đình khá giả. Bên nội, bên ngoại đều khá giả. Mẹ tôi trải qua 8 lần sinh nở nhưng các anh chị tôi không được hưởng phúc phận, cứ lên 3 là mất. Chỉ có tôi là đứa con duy nhất nhận được toàn bộ tình thương, chăm sóc của cả gia đình. Mẹ lúc nào cũng âu yếm gọi tôi “Em ơi”, “cô ơi”. Tôi có một cuộc sống đầy đủ trong căn nhà đúng kiểu làng quê miền Bắc ngày đó. Một căn nhà ba gian, có ao thả cá, có vườn cây hoa trái rộng bát ngát.

Tuổi thơ tôi bình yên trôi. Tôi hầu như không biết đến sự khốc liệt của chiến tranh, đi học ở đình làng gần nhà, sau đó chuyển từ Hà Đông lên Hà Nội. Thấy tôi mê nhạc, gia đình cho tôi đi học đàn. Nhưng nghĩ, con gái mà học guitar sợ “ngổ ngáo” quá nên bố mẹ gởi tôi vào trường dòng từ lúc lên 5 cho tôi học piano. Đam mê được thỏa nguyện tạo nên trong tôi tình yêu vô cùng trong âm nhạc. Mặc nhiên đến mức tôi chưa bao giờ nghĩ mình lại có thể khác đi. Ca hát, với tôi là duyên số, là phước phần trời định. Gia đình tôi, các chú, các cậu đều hát rất hay. Tôi hát chẳng là gì so với họ nhưng chắc không ai có cái nghiệp như tôi.

Mẹ tôi là vợ lẽ, sống dưới quyền mẹ cả, phải chịu đựng đủ điều. Đủ thứ việc trong nhà, cụ phải dang tay cáng đáng, chẳng bao giờ được nghỉ tay. Năm tôi 10 tuổi, mẹ con tôi chuyển vào Sài Gòn sinh sống.

Nhà tôi hồi đó nằm trên đường Phan Đình Phùng, cạnh nhà có một ông thầy dạy nhạc. Tôi thường nghe tiếng nhạc phát ra từ nhà ông rồi cứ thế véo von hát theo. Bạn bè, bà con lối xóm cứ thế kéo sang đứng chật trước cửa nhà, trầm trồ: “Ôi, con bé này hát hay quá!”. Tôi nghe thì biết vậy chứ có hiểu thế nào là hát hay hoặc chưa hay đâu. Có người kêu tôi, đi thi hát đi. Tôi tò mò hỏi thế thi hát là thi như thế nào? Họ bảo lên đài phát thanh ghi tên, rồi đứng trong phòng kính có đặt một tấm gương cho mình nhìn vào và hát. Trí óc non nớt của một đứa con gái 13, 14 tuổi ăn chưa no, lo chưa tới, chưa từng đến phòng thu, làm sao có thể hát trước một tấm gương phản chiếu hình ảnh của mình trong một căn phòng kín như thế? Tôi sợ nên không dám đi thi.

Lần sắp thi tú tài, nhân dịp sinh nhật một nhỏ bạn tổ chức trên sân thượng phòng trà Bồng Lai, mấy cô bạn trong nhóm của tôi thúc: “Ê Oanh, mày lên hát tặng con Liên một bài sinh nhật đi!”. Toàn bạn bè chơi với nhau, có gì đâu mà ngại. Tôi liền đứng lên hát bài Tà áo xanh (Dang dở) của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Trong vô thức tự nhiên tôi hát bài đó thôi chớ không nghĩ chuyện kiêng kỵ gì hết. Tự dưng đâu, giọng hát tôi “lọt tai” ông chủ phòng trà. Ổng bèn ngỏ lời mời tôi đi hát.
Gia đình tôi gia giáo, biết chắc là mẹ không thể nào chấp nhận chuyện này nên tôi thẳng thừng từ chối.
Ông thuyết phục tôi rằng: “Em có giọng hát rất hay và lạ. Không cần thức khuya đâu. Em cứ đến đây lúc 8 giờ, hát vài bài rồi 9 giờ về. Cứ nói với mẹ là đến nhà bạn thảo luận bài”. Kèm theo đó, ông trả cho tôi một số tiền khá lớn so với hình dung của tôi thời ấy.

Thế là tối tối, tôi giấu mẹ đi hát. Nhiều khi tôi mặc cả đồng phục ở trường đi hát luôn. Khi ông chủ phòng trà hỏi, tôi muốn được gọi như thế nào thì cái tên Lệ Thu lập tức bật ra như được định sẵn trong đầu mình. Kỳ thực, tôi cũng biết, chữ “lệ” mang nghĩa buồn lắm, là nước mắt và mùa thu cũng sầu không kém. Thế nhưng “lệ” ở đây còn có nghĩa là mỹ lệ, là một mùa thu rất đẹp. Đến giờ tôi vẫn không hiểu tại sao cái tên này lại được bật lên một cách tự nhiên như thế.

2. Xế nhà tôi có anh hàng xóm thích tôi lắm. Mỗi lần ăn cơm xong, có tráng miệng lúc trái na, lúc trái cam, anh không ăn mà để dành cho tôi. Thấy tôi đi qua, ảnh không dám đưa tận tay, chỉ quẳng cho tôi và tôi cũng hồn nhiên nhận. Ảnh và tôi học khác trường. Bốn năm trời ảnh cứ đạp xe đứng ngóng tôi trong những giờ ra chơi vậy đó. Tối nào tôi cũng đi hát khiến ảnh tò mò. Độ đâu vài tháng, anh biết được và đem mách mẹ tôi. Cụ nghe chuyện, nổi trận lôi đình. Cụ sợ tôi khổ do vướng phận “xướng ca vô loài”, rồi vướng chuyện trai gái này nọ. Tôi đứng im re nghe cụ rầy, không dám giải thích tiếng nào hết.

Bẵng đi ba bốn hôm, không thấy tôi đến, nghĩ là có chuyện, ông chủ phòng trà tìm đến tận nhà. Mẹ tôi cấm ngặt. Ông thuyết phục mẹ tôi rằng, tôi có giọng hát rất hay và lạ, mong mẹ đừng để lỡ cơ hội và tài năng của tôi. Thấy mẹ còn lo lắng, ông mời mẹ lên phòng trà mục sở thị. Mẹ tôi mất ăn mất ngủ mấy ngày liền mới quyết định đi thử. Bữa đó, gia đình tôi đông người đi xem lắm. Bác tôi cứ liên tục đay nghiến mẹ: “Tại sao cô lại để cho nó đi hát chứ?”. Coi tôi bước lên bục hát vài bài rồi xuống, mẹ tôi còn tưởng là lừa cụ do đâu nghĩ mọi chuyện dễ dàng vậy mà được trả thù lao cao thế. Đi vài đêm, nghe thính giả vỗ tay rần rần, cụ bắt đầu lay chuyển và đồng ý, với điều kiện phải cho cụ theo. Suốt hai năm như vậy, cụ mới cảm thấy yên tâm để tôi đi một mình.

Ngày ấy, con gái đến tuổi cập kê mà chưa cưới hỏi thì các cụ lo sốt vó. Tôi lại vướng nghiệp cầm ca nên mẹ tôi càng rầu. Thành ra, anh chàng kia mới quen tôi đâu được một tháng thì đem sính lễ tới nhà hỏi cưới tôi, cụ gật đầu gả liền. Thời đi học, cũng lãng mạn, làm thơ này nọ nhưng tôi chưa bao giờ biết yêu ai. Đùng một cái đi lấy chồng, mọi thứ kéo từ ngỡ ngàng này sang ngỡ ngàng khác. Tôi hơn hai mươi tuổi đầu mà chuyện bếp núc, chuyện làm dâu, chuyện vợ chồng cứ lóng nga lóng ngóng. Năm này qua tháng khác, riết người ta làm sao chịu nổi. Thành ra, tụi tôi mỗi người mỗi hướng. Tôi không thấy buồn gì hết. Tại hồi đó, tôi có biết yêu là thế nào đâu. Nhiều người cho rằng, cái tên và những bài tôi hát đồng cảm với cuộc đời tôi. Tôi cũng không hiểu vì sao nó lại vận vào mình. Để đến khi gặp người mình yêu thương thật lòng thì chuyện lại dở dở dang dang. Âu lỗi cũng ở mình và ở người. Tự ái và cái tôi lớn hơn sự cảm thông thì đành lỗi duyên giai ngẫu…

Ở tuổi này rồi, sự trải nghiệm khiến tôi thấm lẽ đời. Tạo hóa vốn dĩ rất công bằng, người cho tôi một chút nhan sắc, một chút tài năng thì phải lấy lại một cái gì đó. Và người lấy của tôi hạnh phúc trong cuộc sống riêng. Hôn nhân là chuyện nợ, chuyện duyên. Nếu có duyên nợ với nhau, sẽ cùng nhau đi hết một đoạn đường dài. Duyên nợ của tôi có lẽ chỉ đến đó, và chúng tôi đã trả cho nhau xong rồi. Định mệnh mà, có được làm lại cũng sẽ không thể thay đổi. Dẫu gì cũng đã cùng nhau qua một đoạn đường trần.
Tôi được nghe ở đâu đó rằng, hạnh phúc trong tầm tay mình và hiện hữu ở hiện tại. Quá khứ là gia sản của mỗi người, những gì có được ở hiện tại, dù là không may mắn nhưng tôi luôn bằng lòng với nó. Có câu danh ngôn vầy, hãy khép lại cánh cửa quá khứ và mở cánh cửa

3. Người Mỹ hay dùng thành ngữ “Born to be that way” để nói về vận mệnh. Có những người sinh ra để hưởng phú quý, có người số phận khổ sở,… còn tôi sinh ra để làm một nghệ sĩ. Chuyện trở thành một ca sĩ là điều tất yếu và nếu được chọn lại tôi sẽ vẫn làm như vậy.

Điều khiến tôi hối tiếc nhất là tôi đã sống chưa đủ đầy bổn phận với mẹ, với các con. Chưa đủ đầy ở đây là không trực tiếp chăm sóc, nhìn các con trưởng thành từng ngày. Có lẽ, tôi hơi ích kỷ… Không! Đúng ra là tôi ích kỷ. Đây có lẽ là lần đầu tiên tôi thổ lộ điều này. Tôi chỉ nghĩ cho mình, tự thương mình nhiều quá mà quên mất những điều người thân trông chờ và cần ở mình. Nếu được sống lại, có lẽ, tôi sẽ sống khác đi. Sẽ biết cách cân bằng hơn giữa công việc và gia đình thay vì lúc nào cũng chỉ miệt mài dồn sức cho công việc.

Cũng vì lẽ ấy nên tôi chưa từng nghĩ rằng một ngày nào đó tôi sẽ xa con cháu… Tôi yêu thương và muốn bù đắp cho chúng. Các con trưởng thành và xây dựng cuộc sống riêng ở đâu thì đó là nơi chúng phải gắn bó dài lâu. Với tôi, nơi nào được gần những người mình yêu thương, nơi đó chính là nhà.
Ở tuổi này rồi, thi thoảng tôi nghĩ đến chuyện trở về thế giới bên kia. Ai rồi cũng phải về thôi mà, phải không? Không phải vì tôi buồn, vì thiếu thốn, hiu quạnh hay bất cứ lý do nào khác. Danh vọng, tiền tài, gia đình, tôi may mắn được ơn phước cho đủ đầy rồi. Còn mong gì hơn? Chỉ là, cái đẹp biến mất khi dấu ấn vẫn còn, hẳn sẽ trọn vẹn hơn.
Hoàng Linh Lan (ghi)

Ca sĩ Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh năm 1943 tại Hải Phòng.
Cùng với Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu là một trong những giọng ca lớn của nền tân nhạc Việt Nam. Lệ Thu tuy không gắn với một nhạc sĩ nào, nhưng bà là người trình bày rất thành công nhạc của Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Cung Tiến… và nhiều nhạc phẩm tiền chiến, tình khúc 1954-1975 khác.
Trong những năm từ 1968 đến 1971, tiếng hát Lệ Thu là một trong những yếu tố đưa khách đến với các vũ trường Queen Bee, Tự Do và Ritz. Năm 1968, Lệ Thu về cộng tác với chương trình Jo Marcel tại vũ trường Queen Bee. Ngoài việc đi hát hằng đêm Lệ Thu còn ký giao kèo thu thanh băng nhạc cho Jo Marcel, khởi đầu cho một thời kỳ vàng son nhất trong cuộc đời đi hát của bà.
Lệ Thu còn tham gia các chương trình ca nhạc trên các đài phát thanh Sài Gòn, đài Quân Đội và Mẹ Việt Nam và thu âm nhiều băng nhạc.
Sau cuộc hôn nhân đầu đổ vỡ, Lệ Thu kết hôn với ký giả Hồng Dương nhưng hai người chia tay sau khi có một con gái tên Thu Uyển.
Trong sự kiện tháng 4 năm 1975, Lệ Thu quyết định ở lại Việt Nam vì còn mẹ, dù đã tới phi trường, bước chân đến máy bay nhưng lại quay về.
Tháng 11 năm 1979, Lệ Thu cùng con gái út vượt biển đến Pulau Bidong, sau đó sang Mỹ vào giữa năm 1980. Hai năm sau hai người con gái lớn của Lệ Thu đoàn tụ với Lệ Thu tại nam California.
Tại Hoa Kỳ, Lệ Thu tiếp tục đi hát, cộng tác với các vũ trường như Tự Do, Làng Văn và Maxim’s. Năm 1981 Lệ Thu thực hiện băng nhạc đầu tiên của mình ở hải ngoại mang tên Hát trên đường tử sinh. Tiếp theo là Thu, hát cho người gồm nhiều ca khúc đã gắn liền với tên tuổi của mình. Và cho đến nay Lệ Thu vẫn tiếp tục ca hát…

Cám Ơn Em​

MỜI ĐỌC CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG:

Tấm ảnh xao lòng và câu chuyện rất cảm động

Thưa bạn,

Tuần qua tôi nhận được tấm ảnh này, rồi sau đó nhận được câu chuyện dưới đây. Cả hai đều không thấy ghi tên tác giả và cả hai đều khiến tôi rất xúc động. Tôi nghĩ cần chia sẻ với nhiều người,

xin được gửi đến bạn…

Cám Ơn Em​

Tôi sinh ra tại một vùng quê hẻo lánh. Ngày qua ngày, cha mẹ tôi phải ra sức cày cấy trên mảnh ruộng khô cằn để nuôi hai chị em tôi ăn học.  Một ngày kia tôi lén ăn cắp mười lăm đồng trong ngăn kéo của cha để mua một chiếc khăn tay mà những đứa con gái trong làng đều có. Cha tôi phát hiện, ông lấy chiếc roi tre treo trên vách xuống, bắt hai chị em tôi quỳ trước mặt và hỏi rằng ai đã lấy cắp. Vì sợ hãi, tôi đã không dám dứng lên nhận lỗi. Cha tức giận định đánh cả hai chị em, ông đưa chiếc roi lên. Em níu tay cha lại và nói:
– Thưa cha, con trót dại…
Em nói loanh quanh, không giải thích được đã dùng số tiền ấy vào việc gì. Cha giận đến tái mặt nghĩ rằng em đã ăn chơi lêu lổng và quất liên hồi chiếc roi dài vào lưng em cho đến khi cha gần như không thở được nũa.  Đêm ấy, mẹ và tôi đã dỗ dành em. Nhìn thân hình đầy những lằn roi của em, tôi oà khóc. Em vội vàng nói:
– Chị ơi đừng khóc, kẻo cha nghe thấy cha sẽ đánh đòn chị đấy!

Năm ấy em vừa lên 8 và tôi 11 tuổi.
Năm em tôi được tuyển thẳng vào trường trung học thì tôi cũng trúng tuyển vào đại học. Chưa kịp vui với niềm mơ ước được chạm vào cánh cửa đại học thì tôi đã đối diện với nỗi lo lắng về học phí. Cha mẹ tôi không đủ tiền để cho hai chị em ăn học cùng một lúc. Em tôi quyết định bỏ học nhưng cha mẹ và cả tôi đều không đồng ý. Tôi nói:
– Em cần phải tiếp tục đi học để tìm cách thoát ra khỏi cảnh nghèo khó sau này. Chính chị mới là người không nên tiếp tục vào đại học.

Nhưng em đã bỏ nhà ra đi với vài bộ quần áo cũ và một ít muối mè trong chiếc túi sách nhỏ. Em đã lén đến bên giường tôi và để lại một mảnh giấy nhỏ bên gối tôi với lời nhắn nhủ: “Chị ơi, được vào đại học không phải là điều dễ dàng. Em sẽ tìm việc làm để gởi tiền về cho chị.”.
Tôi trào nước mắt, chẳng nói lên lời.  Năm ấy em mới 17 và tôi tròn 20.

Với số tiền ba tôi vay được trong làng cộng với số tiền gởi về của em, cuối cùng tôi cũng học xong năm thứ 3 đại học. Một hôm đang ngồi học trong phòng, một đứa bạn chạy vào gọi tôi và nói:
– Có người cùng làng đợi cậu ngoài kia.
Tôi chạy ra và thấy em đứng từ xa, quần áo lấm lem dầu nhớt. Tôi hỏi em:
– Sao em không nói với bạn của chị, em là em trai chị chứ?
Em cười đáp lại:
-Em sợ mọi người sẽ cười chị khi nhìn thấy bộ dạng nhếch nhác của em.
Tôi lặng người, nước mắt tuôn trào.
Em mỉm cười, đôi mắt ánh lên lấp lánh. Em đưa tay vào túi áo lấy ra một chiếc kẹp tóc hình con bướm và nói:
– Em thấy mọi cô gái đều cài nó trên tóc, vì thế em mua tặng chị!
Tôi không kìm được niềm xúc động, ôm chầm lấy em nức nở. Năm ấy tôi đã 23 và em mới 20.

Khi lần đầu tôi đưa bạn trai về nhà ra mắt cha mẹ, mọi thứ trong nhà đều rất sạch sẽ và ngăn nắp, ngay cả miếng cửa sổ bị bể cũng đã được lắp lại. Mẹ cho tôi biết trong khi dọn dẹp và thay khung cửa sổ, em đã bị miếng kính đâm vào tay chảy máu.
Tôi chạy vào tìm em. Nhìn vết thương trên tay em, tôi cảm thấy như có hàng ngàn mũi kim đâm vào tim mình. Tôi lấy thuốc và bông băng để băng lại vết thương cho em. Em cười:
– Em không muốn anh ấy chê nhà mình nghèo khổ!
Năm ấy em 23 và tôi 26.

Sau khi lập gia đình, tôi về sống với chồng ở thành phố. Vài năm sau, chồng tôi trở thành giám đốc của một xí nghiệp. Vợ chồng tôi muốn đưa em vào làm nhưng em từ chối vì sợ mọi người sẽ xì xầm bàn tán những lời không hay về chồng tôi.
30 tuổi, em lập gia đình với một cô gái trong thôn.
Năm tôi 40, cuộc hôn nhân tưởng chừng như mỹ mãn của tôi bị đỏ vỡ vì sự xuất hiện của một người đàn bà khác. Em vứt hết chuyện gia đình đến chăm lo cho các con tôi, vực tôi dậy sau những đắng cay nghiệt ngã. Rồi một ngày cả hai chúng tôi đều già nua, tóc bạc gần hết mái đầu. Em ngồi bên tôi nhắc lại chuyện xưa: Ngày ấy, chị em tôi mỗi ngày phải lội bộ hơn hai tiếng mới có thể đến trường. Một hôm, em làm mất chiếc giày. Một phần sợ cha đánh em, một phần biết mẹ không có tiền mua giày mới, tôi đã nhường cho em đôi giày của mình. Và cứ thế, mỗi ngày hơn bốn tiếng đi-về, chân tôi phồng rộp lên và rướm máu vì những viên đá nhọn trên mặt đường nóng bỏng. Từ đó em hứa với lòng phải chăm sóc và đối xử với tôi thật tốt.
Nước mắt tôi chợt ứa ra vì hạnh phúc. Năm ấy em chỉ vừa lên 5 !

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi