Vụ Phùng Quang Thanh và truyền thông Việt Nam

Vụ Phùng Quang Thanh và truyền thông Việt Nam

Blog VOA

Nguyễn Hưng Quốc

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh

Mấy tuần qua, trên các phương tiện truyền thông xã hội, đặc biệt là facebook, tin tức khiến người ta chú ý và bình luận nhiều nhất là về Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng của Việt Nam. Thoạt đầu, có tin ông bị ám sát, sau đó, tin ông chết vì ung thư phổi trong bệnh viện Georges Pompidou của Pháp.  Mà không phải chỉ có người Việt Nam. Ngay cả hãng thông tấn Đức Deutsche Press-Agentur (DPA) cũng loan tin ông qua đời. Chính quyền Việt Nam phải lên tiếng cải chính.

Mới đây, báo chí trong nước loan tin ông Phùng Quang Thanh đã bay từ Pháp về Việt Nam với tình trạng sức khoẻ rất tốt. Tuy vậy, tin đồn về cái chết của ông vẫn tiếp tục râm ran trong dư luận. Người ta vạch ra những sự mơ hồ và không đáng tin cậy trong các bản tin đăng trên báo chí Việt Nam: Chỉ có những lời tường thuật chung chung chứ không có một bức ảnh nào của Phùng Quang Thanh cả. Thật ra, cũng có. Có một bức ảnh ông đứng sau chiếc xe Lexus ra phi trường đón. Nhưng trong bức ảnh ấy, hình của Phùng Quang Thanh rất mờ. Người ta nghi ngờ đó không phải là ông.

Thực tình, tôi không quan tâm đến chuyện Phùng Quang Thanh chết hay sống. Ông chết hay sống, tình hình chính trị Việt Nam, đặc biệt trong quan hệ với Trung Quốc, cũng không có gì thay đổi. Người này mất thì người khác lên thế. Chính sách của Việt Nam ít khi lệ thuộc vào một người, ngay cả khi người ấy đang ở một vị thế rất cao là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Điều khiến tôi quan tâm nhiều nhất là vấn đề truyền thông của Việt Nam. Về phương diện này, có mấy vấn đề cần được chú ý:

Thứ nhất, chúng ta thấy rất rõ sự vụng về của giới truyền thông Việt Nam. Trước sự vắng mặt của Phùng Quang Thanh trong các buổi lễ lớn tại Việt Nam và trước sự ngạc nhiên và tò mò của dư luận, người ta hoàn toàn im lặng. Mãi đến khi tin đồn về cái chết của ông lan rộng, người ta mới lên tiếng cải chính. Nhưng sự cải chính cũng không thuyết phục. Ai cũng thấy một điều: Chỉ cần đưa một bức ảnh mới của Phùng Quang Thanh trong bệnh viện, mọi người sẽ an tâm ngay tức khắc. Vậy mà người ta không làm. Ngay cả khi loan tin Phùng Quang Thanh đã về nước, người ta cũng không đăng một bức ảnh nào cụ thể cả khiến dư luận vẫn tiếp tục xôn xao và thắc mắc. Nếu mục tiêu chính của bộ máy truyền thông nhà nước là để tuyên truyền và an dân, trong mấy tuần vừa qua, có thể nói bộ máy ấy hoàn toàn thất bại.

Thứ hai, mặc dù nắm trong tay hơn 800 tờ báo các loại cũng như tất cả các cơ quan truyền thông chính thống khác (như truyền thanh và truyền hình), chính quyền Việt Nam cũng không làm chủ được dư luận. Hơn nữa, càng ngày họ càng ở thế bị động. Thường, họ không phải là người loan tin mà chủ yếu là người cải chính. Bởi vậy, khi có điều gì thắc mắc, nơi dân chúng tìm kiếm tin tức không phải là các cơ quan ngôn luận lề phải mà là báo chí thuộc lề trái, nhiều nhất là trên mạng internet. Tôi có một số bạn, khá đông, hầu hết đều thuộc giới trí thức, ở Sài Gòn có và Hà Nội cũng có, nói giống nhau: để nắm tin tức hàng ngày, điều họ thường làm nhất là vào facebook hoặc các blog nổi tiếng chứ không phải là mở các trang báo của đảng. Những chuyện họ bàn tán nhiều nhất những lúc gặp nhau cũng vẫn là những chuyện được đề cập trên những trang mạng ấy. Có thể nói chính quyền Việt Nam đã thua cuộc ngay trên chính sân chơi mà họ muốn hoàn toàn độc quyền.

Thứ ba, như là hệ quả của đặc điểm thứ hai ở trên, càng ngày các phương tiện truyền thông xã hội càng phổ biến và càng quan trọng. Ngoài các tin tức liên quan đến Phùng Quang Thanh, một ví dụ tiêu biểu nhất về tầm ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông xã hội là vụ chặt cây xanh ở Hà Nội cách đây mấy tháng. Dư luận ồn ào đến độ chính quyền Hà Nội phải ra lệnh ngưng ngay việc chặt cây và sau đó, tiến hành kiểm điểm và kỷ luật một số cán bộ liên hệ. Có thể xem các trang truyền thông xã hội ấy là một đối trọng của ngành truyền thông nhà nước. Nghe nói hiện nay ở Việt Nam có khoảng một phần ba dân số, tức khoảng 30 triệu người, thường xuyên sử dụng internet. Chắc không phải ai cũng lên internet để đọc tin tức. Nhưng con số ấy chắc cũng không ít. Điều rất dễ thấy: với số người đọc đông đảo như vậy, internet sẽ là một trận tuyến quan trọng của trào lưu dân chủ hoá Việt Nam.

Thứ tư, trong cuộc chiến giữa báo chí chính thống và truyền thông xã hội, nhà nước Việt Nam chỉ có một cách duy nhất để chiến thắng: minh bạch. Lý do khiến nhiều người tìm kiếm tin tức trên internet là vì họ không tìm thấy ở đâu khác. Lý do khiến cái gọi là báo lề trái thu hút sự quan tâm của dân chúng hơn báo lề phải là vì trên báo chí lề phải người ta chỉ thấy toàn những sự dối trá. Lý do khiến người ta tin và lan truyền các tin đồn, đôi khi hoàn toàn sai sự thật, là bởi vì người ta không tin vào các cơ quan truyền thông chính thống. Sống ở Tây phương đã lâu, tôi chưa bao giờ thấy dân chúng đồn đãi bất cứ chuyện gì trong đời sống chính trị nước họ. Tất cả những gì họ bàn luận đều là những chuyện được công khai hoá trên các cơ quan truyền thông chính thức. Giới chính trị gia biết rõ điều đó nên họ thường xuyên tổ chức các cuộc họp báo để cung cấp thông tin và giải đáp các thắc mắc của dân chúng.

Có thể nói chính sự thiếu minh bạch làm nảy sinh các tin đồn và sự lan rộng của các tin đồn dần dần bào mòn sự tin tưởng của dân chúng đối với chính phủ. Cũng có thể nói sự tồn tại phổ biến của các tin đồn về chính trị là một trong những bằng chứng rõ nhất tố giác một xã hội thiếu dân chủ .

Gặp nữ tài tử khai sinh nghề nail cho cộng đồng Việt tại Mỹ

Gặp nữ tài tử khai sinh nghề nail cho cộng đồng Việt tại Mỹ

Nguoi-viet.com

*40 năm hội ngộ của Weimar Hope Village – chiếc nôi nghề nail của người Việt tị nạn


Ngọc Lan/Người Việt

WESTMINSTER, Calif. (NV) – “Nhớ đến trại Weimar là nhớ đến những ân nghĩa người Mỹ dành cho mình, dạy học tiếng Anh, dạy học đánh máy, dạy lái xe, dạy nghề nail, tất cả giúp cho mình nhiều lắm để hòa nhập vào đời sống nơi đây.” Ông Trần Dật, 80 tuổi, hiện ở Glendale, bày tỏ suy nghĩ.

Ông Dật, 80 tuổi, cựu phi công trong Quân Lực VNCH, là một trong số đông những người có mặt tại tòa soạn Nhật Báo Người Việt vào trưa Chủ Nhật, 26 Tháng Bảy, để cùng tham dự buổi hội ngộ đầu tiên của những người từng trải qua ngày tháng sống tại Weimar Hope Village, nơi được xem là chiếc nôi của nghề nail của người Việt tị nạn từ 40 năm trước.

40 năm vẫn muốn nói một lời tạ ơn

40 năm – thời gian bằng nửa đời người – có được một lần hội ngộ, để gặp lại những người xưa năm cũ, để được nói một lời cám ơn những ân tình nhận được trong những ngày tháng lao đao nhất, quả thật có nhiều cảm xúc.

Những người từng ở Weimar Hope Village năm 1975 gặp lại sau 40 năm (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Bà Trương Kim Dung, hiện ở Laguna Niguel, người khởi xướng cho buổi gặp gỡ đặc biệt này, cho biết: “Lý do để 40 năm mới tổ chức được buổi này là vì khi ra khỏi trại, mọi người đi tản mác khắp nơi, không liên lạc được với ai, nên sự thân mật gần gũi không đủ mạnh để tổ chức được điều gì. Đến dịp 40 năm vừa rồi cứ nghe trên đài trên báo nói nhiều quá nên lòng tôi cũng hơi xốn xang, tôi nghĩ mình phải có một dịp để cám ơn tổ chức “Food For the Hungry”, cám ơn những người đã giúp mình từ những ngày đầu đến Mỹ nên tôi cố gắng viết thư liên lạc, để chuẩn bị nhiều thứ cho ngày họp mặt này.”

Nghe hỏi “Cô nhớ gì nhất trong những ngày ở trại Weimar?”, bà Dung chùng giọng, “Tôi đến Mỹ khi đó mới 26 tuổi, cùng hai đứa con, chồng thì mất trước đó, nên tâm trạng không vui. Thế nên khi đứng đâu ngồi đâu cũng tìm, cũng nhìn những gì gợi quê hương, vì vậy mà những hàng thông ở Weimar, mùi thông ở Weimar là thứ làm tôi nhớ nhất, bởi nó làm tôi nhớ nhà.”

Với ông Nguyễn Cao Đạt, người con trai thứ ba của cựu thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, thì Weimar Hope Village mang đến nhiều kỷ niệm không quên, bởi ông chính là “thiện nguyện viên đầu tiên đặt chân vào trại này cùng cựu Đại Tá Không Quân Jack Bailey.” Ngày đó, Nguyễn Cao Đạt mới là một thanh niên 19 tuổi.

Ông Đạt kể: “Khởi đầu Weimar Hope Village vốn là một nhà thương. Khi người ta không còn dùng nó làm bệnh viện nữa thì tổ chức ‘Food For the Hungry’ mướn chỗ này để đưa người Việt Nam tị nạn đến. Khi đó cựu Đại Tá Không Quân Jack Bailey liên lạc với bố tôi là Nguyễn Cao Kỳ nói rằng ông muốn giúp những người tị nạn Việt Nam, đặc biệt là những người Không Quân. Bố tôi nói làm gì được cho người tị nạn bố tôi đều sẵn sàng. Tôi nghe được cuộc nói chuyện giữa hai người nên nói với bố là tôi tình nguyện đi với ông Bailey.”

“Có thể nói tôi là người thiện nguyện đầu tiên bước chân vào trại này, lúc đó chưa có ai hết. Tôi cùng ông Bailey đến đây sắp xếp mọi thứ trước khi đón mọi người đến. Rồi nhiều người cùng đến giúp đỡ, trong đó có Bác Sĩ Larry Ward, có tài tử Tippi Hedren…” Ông Đạt nhớ lại.

40 năm, lần đầu gặp lại, ông Đạt thấy “vui lắm, đặc biệt lắm.”

Ông nói, “Ngày đó mình còn trẻ, có nhiều người cũng trẻ như mình, giờ bao nhiêu năm gặp lại thấy vui, thấy quý lắm. Đặc biệt nhất là con nuôi của ông Jack Bailey là cậu Minh, 40 năm mình mất liên lạc với nhau, vậy mà hôm nay nhờ buổi này mà mình mới gặp lại nối lại tình bạn tình anh em ngỡ như đã mất.”

Cũng cùng cảm xúc đó, ông Trần Dật bày tỏ, “Gặp lại những người từ 40 năm trước thấy rất xúc động. Có người ở Sacramento xuống, có người ở tiểu bang khác về. Gặp nhau vui lắm. Vui nhất là mình còn sống để được nhìn thấy mọi người, chứ nhiều người đã mất rồi. Ngày đến trại tôi mới 40, giờ đã 80 rồi còn gì.”

Nữ tài tử Tippi Hedren (ngồi, bên phải), người mang nghề nail đến cho người Việt tị nạn từ năm 1975

và những học viên nghề nail đầu tiên trên đất Mỹ, hội ngộ sau 40 năm. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Bà Ánh Vũ, 67 tuổi, ở Thousand Oaks thuộc Ventura County, tỏ ra rất vui khi nhớ lại ngày tháng cũ: “Nhớ lại thời đó cái gì cũng làm, ai kêu gì mình cũng giúp. Ban đêm ban khuya có loa gọi đi thông dịch, mình cũng đi. Tôi cũng đi học nail cùng mọi người để giúp thông dịch cho những người không biết tiếng Anh nữa.”

Bà Ánh nghỉ hưu từ 7 năm trước, sau một ngày duy nhất đi làm nail và 32 năm liên tục làm việc cho ngân hàng. Bà nói, “Tôi không có thói quen nghĩ về những điều đau buồn đã qua. Những gì không vui hãy cứ để nó trôi qua. Tôi chỉ muốn hướng đến những gì tốt hơn, và giúp mọi người với tất cả khả năng mình có.”

Tại buổi gặp gỡ, những người có mặt nhắc nhiều đến Bác Sĩ Larry Ward, người sáng lập tổ chức “Food For The Hungry”, tổ chức đã giúp đỡ cho các gia đình tị nạn Việt Nam tại Weimar Hope Village.

Bà Cao Thị Hoa Đào, hiện ở Elk Grove, từng là thư ký của Bác Sỹ Larry Ward từ những ngày còn ở Sài Gòn, cũng có mặt tham dự buổi hội ngộ 40 năm. Bà nói trong sự xúc động, “Được hiện diện ở đây tôi muốn cám ơn người sáng lập ra hội ‘Food for the Hungry’ mà tôi may mắn được làm thư ký cho ông từ lúc còn ở Việt Nam. Tôi tin rằng ông vẫn còn đâu đó quanh chúng ta, hướng về chúng ta để giúp chúng ta như ông đã từng.”

Nhiều giọt nước mắt đã lăn trên những gương mặt hằn nhiều vết nhăn của thời gian, không kể đàn ông hay phụ nữ, khi nghe người này, người kia nhắc lại, ôn lại ký ức xưa, kể từ những phút cuối cùng họ trắng tay, mất gia đình, mất sự nghiệp, mất cả quê hương.

Gặp người khai sinh nghề nail cho cộng đồng Việt

Có lẽ nhân vật được chú ý nhiều nhất, được mọi người vây quanh chụp hình nhiều nhất trong buổi hội ngộ của Weimar Hope Village chính là nữ tài tử Tippi Hedren, người được xem là khai sinh ra nghề nail cho cộng đồng Việt tại Hoa Kỳ từ năm 1975.

85 tuổi, nhưng nét đẹp quý phái, sang trọng vẫn rạng rỡ trên gương mặt của người diễn viên nổi tiếng trong cuốn phim kinh dị The Birds của đạo diễn Alfred Hitchcock. Không chỉ vậy, vẻ đẹp nhân hậu của một tâm hồn luôn hướng về những người đau khổ dường như lại vượt lên tất cả khi nhìn ngắm bà.

Tài tử Tippi Hedren, người có công mang nghề nail đến cho cộng đồng Việt Nam. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Trò chuyện với phóng viên Người Việt, bên cạnh là nữ tài tử Kiều Chinh, người cũng trải qua một thời gian ngắn ở Weimar Hope Village, bà Hedren kể lại những công việc mà bà đã làm để giúp đỡ tha nhân nói chung và người tị nạn Việt Nam buổi đầu nói riêng.

“Trong thời gian làm thiện nguyện cho ‘Food For The Hungry’, tôi đi vòng thế giới để giúp mọi người ở những nơi bị động đất, sóng thần, hay bất cứ tai ương nào. Khi Sài Gòn bị thất thủ, biết được có nhiều người Việt Nam vượt thoát trên những chiếc thuyền nhỏ, chúng tôi bèn mướn một chiếc tàu cùng thủy thủy đoàn của Úc đi vòng vòng trên biển China Seas để giúp cho những thuyền nhân.” Bà Herden bắt đầu câu chuyện.

Bà tiếp tục, “Chúng tôi cho họ thức ăn, quần áo, thuốc men. Nhưng do luật hàng hải quốc tế, nên những người Việt Nam không thể ở trên tàu được. Tuy nhiên chúng tôi có thể hướng dẫn họ đi đến những bến bờ nào an toàn vì tôi nghĩ nhiều thuyền không có la bàn, họ không biết nơi mình đến. Đó là một phần quan trọng trong số những việc mà chúng tôi làm.”

“Sang đến Mỹ, trại Weimar Hope Village ở miền Bắc California vốn là một bệnh viện trị lao trước đây nên rất lớn, có rất nhiều phòng. Họ dùng nơi đó cho người tị nạn ở. Rồi chúng tôi đi tìm sự đỡ đầu, tìm những thứ cần thiết để giúp cho người tị nạn như dạy họ lái xe, hướng dẫn họ thi lấy bằng lái, tìm việc làm… Tôi mang đến trại Weimar những người thợ dạy cắt may, dạy đánh máy để giúp cho những người chưa có việc làm có việc để học, để họ có được một nghề trong tay để mà đi kiếm việc.” Diễn viên Tippi Hedren nhớ lại.

Theo lời kể của bà Hedren, trong thời gian lui tới giúp đỡ cho những người tị nạn Việt Nam tại Weimar, bà làm bạn với khoảng 20 người phụ nữ khác ở đây, những người theo bà là “rất thân, rất tử tế, dịu dàng” và bà “thích họ lắm”.

Người phụ nữ có đôi mắt thật đẹp này nhớ tiếp, “Trong thời gian quen biết họ, tôi nhận ra là họ rất thích hai bàn tay tôi với những móng tay dài, được chăm chút kỹ lưỡng, và hay sơn màu san hô. Thế là tôi nghĩ, ồ, đây là cơ hội tuyệt nhất cho những người phụ nữ này đi học nghề nail, để trở thành những người thợ nail chuyên nghiệp.”

20 phụ nữ gốc Việt đầu tiên được học nghề nail

từ trại Weimar Hope Village 40 năm trước (Hình: Facebook củaWeimar Hope Village)

Nghĩ là làm. Nữ tài tử xinh đẹp Tippi Hedren bèn “đề nghị người thợ làm móng của tôi ở Los Angeles lên Weimar dạy cho những người phụ nữ đó làm nail. Cô ta đồng ý và mỗi tuần một lần cô ta lên Weimar dạy cho những người phụ nữ Việt Nam các bước làm móng, rồi họ thực tập làm với nhau, họ tập làm luôn trên cả tay của tôi.”

“Chúng tôi đã có một thời gian rất vui khi nhìn thấy một cơ hội đầy thú vị để trở thành thợ nail chuyên nghiệp. Nghề nail có thể là một nghề sang cả, một nghề mang đầy tính nghệ thuật.” Bà nói.

Bà tiếp tục kể lại chuyện của 40 năm trước, bằng giọng dịu dàng, “Người thợ nail của tôi tên là Dusty, tôi không nhớ họ cô ta. Cô ta thích công việc làm nail, thích cả việc dạy cho những người phụ nữ này làm nail. Nhiều người cũng thích cổ và theo học tới cùng, dù không phải tất cả.”

“Rồi chúng tôi mướn một chiếc xe bus chở họ đến một trường mà tôi quên tên rồi, ở phía Nam của Sacramento, để họ học tiếp lấy bằng. Họ đều đậu khi thi bằng tiếng Anh. Tôi nghĩ chương trình giúp đỡ cho những người tị nạn này đã rất thành công Họ đi ra khỏi Weimar, và đi làm.”

“Tôi vẫn giữ liên lạc với họ. Lúc đó nghe có người khoe mua nhà, người thì mua xe Cadillac. Tất cả đều như chuyện hoang đường, không tin được. Bởi vì thật không hề dễ dàng cho bất kỳ ai đặt chân đến một nơi xa lạ mà mình hoàn toàn không biết, ngay sau khi vừa bước ra khỏi sự hoang tàn cuộc chiến. Điều tuyệt vời nhất để nhìn về sự thành công của họ chính là ở chỗ họ đã từng cảm thấy rất sợ hãi vì họ mất tất cả mọi thứ, kể cả quê hương.” Người phụ nữ góp phần mang lại sự giúp đỡ lớn lao cho người tị nạn Việt Nam nói về những suy nghĩ đầy nhân bản của mình.

Trả lời cho câu hỏi, “Khi tìm người dạy nghề nail cho 20 người phụ nữ Việt Nam đầu tiên, bà có nghĩ đến việc nghề nail sẽ thành công và phát triển như hôm nay không?”

Bà Hedren tròn mắt, “Thật không thể tưởng tượng được. Hiện nay nail đã trở thành ngành công nghiệp mang lại hàng tỉ đô la. Tôi ước gì tôi có được một phần nào số tiền đó.”

“Tôi thật sự không ngờ nó lại thành công và phát triển đến mức như vậy. Tôi rất vui khi nghề nail đã mang sự thành công đến với những người thợ nail và cả gia đình của họ để có được cơ sở tài chánh vững vàng, để có cuộc một cuộc đời tươi đẹp nơi đây.” Bà mỉm cười.

Liên lạc tác giả: Ngoclan@ngươi-viet.com

Ông tướng Phùng Quang Thanh đi xem ‘giao lưu nghệ thuật’

Ông tướng Phùng Quang Thanh đi xem ‘giao lưu nghệ thuật’

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Mãi cho đến hôm Thứ Hai, truyền thông chính thống CSVN mới đưa tin kèm theo hình ảnh và video clips ông đại tướng bộ trưởng quốc phòng để giải tỏa các lời đồn đoán ông ta đã chết.

Tướng Phùng Quang Thanh ngồi cạnh Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng
tham dự buổi “giao lưu nghệ thuật” có chủ đề là “khát vọng đoàn tụ” ở Hà Nội.
(Hình: VnExpress)

Các báo ở Việt Nam đưa tin ông tướng Phùng Quang Thanh, bộ trưởng Quốc Phòng CSVN tới hội trường Bộ Quốc Phòng, buổi tối ngày 27 tháng Bảy, 2015, tham dự “chương trình giao lưu nghệ thuật” với chủ đề “Khát vọng đoàn tụ” nhân kỷ niệm “68 năm Ngày Thương Binh-Liệt sĩ do Ban Chỉ Đạo Quốc Gia 1237 phối hợp với Đài Truyền Hình Việt Nam, Trung Tâm Phát Thanh-Truyền Hình Quân Đội tổ chức.”

Chương trình này được truyền hình trực tiếp trên VTV1 thấy có sự có mặt của một số nhân vật hàng đầu của chế độ như ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang, phó chủ tịch Quốc Hội Tòng Thị Phóng, phó thủ tướng Vũ Đức Đam, chủ tịch MTTQ Nguyễn Thiện Nhân, trưởng Ban Dân Vận Trung Ương Hà Thị Khiết. Và đặc biệt, có mặt ông Phùng Quang Thanh.

Một vài đoạn video clips ngắn và một số hình ảnh được hệ thống báo đài nhà nước trưng ra để chứng minh một ông Phùng Quang Thanh bằng xương bằng thịt còn sống chứ không phải đã chết, kể cả chuyện bị ám sát, như những lời đồn đãi tràn lan trên mạng từ một tháng nay.

Cho tới khi báo chí trong nước đưa tin ông Phùng Quang Thanh về đến phi trường Nội Bài, Hà Nội, sáng ngày 25 tháng Bảy, 2015, vẫn có những lời nghi ngờ vì tấm hình duy nhất mà tờ Tuổi Trẻ trưng ra được chụp từ xa. Người được nói là ông Phùng Quang Thanh đứng lố nhố cùng với một số người phía sau chiếc Lexus SUV không được rõ nét, nên không đánh tan được ngờ vực.

Ông Phùng Quang Thanh qua Pháp chữa bệnh nghi là bị ung thư phổi nhưng ngụy trang dưới hình thức sang Pháp gặp bộ trưởng Quốc Phòng Pháp ngày 19 tháng Sáu. Ngay ngày hôm sau thì ông vào bệnh viện George Pampidou rồi được giải phẫu cắt “khối u” ở phổi và rồi bệnh viện ngày 10 tháng Bảy.

Trong khi đó, Ban Bảo Vệ Sức Khỏe Trung Ương ở Hà Nội thì loan tin dối trá là ông vào bệnh viện ở Paris ngày 24 tháng Sáu, khác với sổ bệnh nhân của bệnh viện nói trên.

Các tin tức liên quan đến sức khỏe, bệnh tật của những người cầm đầu chế độ độc tài đảng trị ở Việt Nam thường được che giấu kỹ lưỡng cho tới khi nào không thể che đậy được nữa thì mới xì ra một ít.

Nếu không có những lời đồn đại ông ta bị ám sát hoặc tin ông ta đi chữa bệnh rồi chết ở Pháp thì chuyện ông Phùng Quang Thanh mượn cớ sang Pháp chữa bệnh sẽ hoàn toàn không được thấy trên mặt báo chí chính thống của chế độ.

Tin ông Nguyễn Bá Thanh bị ung thư chạy sang Mỹ chữa bệnh ở Seattle chỉ được báo chí trong nước thuật lời quan chức “Ban bảo vệ sức khỏe trung ương” nói đến khi hình ảnh ông Nguyễn Bá Thanh nằm trên giường bệnh viện ở Mỹ truyền đi rộng rãi trên các diễn đàn thông tin “lề trái.”

Dù vậy, không hề có tấm hình nào của ông Nguyễn Bá Thanh nằm bệnh viện trên báo chí nhà nước CSVN. Thậm chí, ngày ông bị bệnh viện Mỹ “chê” tức là họ đã làm hết cách và khuyên ông về Việt Nam cho gia đình lo hậu sự, vẫn bị che giấu. “Ban bảo vệ sức khỏe trung ương” vẫn còn đưa ra các lời lẽ lạc quan cho đến ngày ông ta sắp chết về phương pháp điều trị phối hợp động Tây y. Và không hề có một tấm hình nào về ông Nguyễn Bá Thanh xuất hiện.

Chuyện sống chết và sức khỏe của ông Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh cuối cùng được nhiều báo điện tử ở Việt Nam đưa thông tin chỉ nhằm đối phó với các mạng xã hội.

Ông Phùng Quang Thanh, 66 tuổi, được một số nhà bình luận thời sự dự đoán ông là một trong mấy ứng viên vào các ghế chủ tịch nước hay tổng bí thư Đảng CSVN tại kỳ họp đại hội đảng dự trù tổ chức vào đầu năm 2016 tới đây.

Nếu ông có vấn đề sức khỏe nghiêm trọng thì tương lai chính trị của ông ta coi nhưng đóng lại. Không có những tai tiếng tham nhũng trực tiếp nhưng con trai ông, đại tá Phùng Quang Hải, Chủ tịch Hội đồng thành viên của Tổng Công Ty 319 Bộ Quốc Phòng CSVN, bị trang mạng “Chân Dung Quyền Lực” đưa ra nhiều hình ảnh, tài liệu để “giới thiệu” tài sản kếch xù và đời sống xa hoa trụy lạc của một “ông giời con” tại Bộ Quốc Phòng.

Nếu không có ông bố chống lưng, ông con Phùng Quang Hải không thể có cơ hội thâu tóm những hợp đồng khổng lồ để vơ vét hàng triệu đô la cho bố con nhà ông. Bây giờ, ít ra, người ta thấy ông Phùng Quang Thanh còn ngồi trên ghế bộ trưởng Quốc Phòng, ủy viên Bộ Chính Trị và phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương, đại biểu Quốc Hội, cho đến đầu năm 2016, nếu ông ta không chết trước đó. (TN)

Những Kỷ Niệm Nhỏ

Những Kỷ Niệm Nhỏ

Tổng thống Wilson của Hoa Kỳ, người đã đưa nước Mỹ can thiệp vào thế chiến thứ I, là người rất thận trọng đối với những kỷ niệm nhỏ.

Lần kia, ông và phu nhân cùng với nhiều nhân vật cấp cao trong chính phủ dừng lại một thành phố thuộc tiểu bang Montana.

Cảnh sát làm hàng rào không cho bất cứ ai đến gần vị tổng thống. Nhưng, không hiểu làm thế nào mà có hai cậu bé đã chui lọt hàng rào cảnh sát để đến gần chỗ ngồi của tổng thống. Hai cậu bé ngắm nhìn một cách say sưa vị nguyên thủ quốc gia. Một cậu bé tìm cách tặng cho kỳ được lá cờ nhỏ bé của nước Mỹ mà em đang cầm trên tay. Cảnh sát cố tình ngăn chận cậu bé, nhưng bà Wilson đã đưa tay đón lấy lá cờ và vẫy tay em một cách nhiệt tình.

Cậu bé khác cảm thấy buồn hiu vì em không có gì để dâng tặng cho tổng thống. Em cố gắng mò mãi trong túi quần và cuối cùng lôi ra được một đồng xu nhỏ. Em cố gắng vượt qua mọi chướng ngại để chạy đến trao cho tổng thống. Em sung sướng vô cùng, bởi vì chính tổng thống Wilson là người chìa tay ra để đón nhận món quà của em với tất cả trang trọng.

Năm năm sau, tổng thống Wilson qua đời. Bà Wilson xếp đặt lại các đồ dùng quen thuộc của chồng. Mở chiếc ví của ông, bà thấy có một bọc giấy được giữ gìn cẩn thận. Tháo chiếc bọc giấy, bà nhận ra ngay tức khắc đồng xu nhỏ mà cậu bé đã tặng cho chồng bà cách đây năm năm. Ông quý đồng xu nhỏ ấy đến độ đi đâu ông cũng mang nó theo.

Thiên Chúa cũng đối xử với chúng ta như thế. Ngài giàu có biết bao, nhưng những đồng xu nhỏ mà chúng ta trao tặng cho Ngài, Thiên Chúa đón nhận và cất giữ như báu vật… Một Thiên Chúa giàu sang dường như không ưa thích của cải dư dật của chúng ta cho bằng những đồng xu nhỏ của lòng thành, sự quảng đại, những âm thầm hy sinh, phục vụ quên mình của chúng ta…

Chúa Giêsu đã cho chúng ta thấy được cái nhìn trang trọng của Chúa đối với lòng thành của con người. Lần kia, Ngài vào đền thờ và quan sát những người đang dâng cúng tiền của. Ai ai cũng bỏ tiền vào hòm, chợt có một người đàn bà góa chỉ bỏ có một đồng xu nhỏ. Vậy mà Ngài đã tuyên bố: Người đàn bà này đã dâng cúng nhiều hơn ai hết, bởi vì trong khi mọi người bố thí những của dư thừa của mình, còn người đàn bà nghèo này lại dâng cúng tất cả những gì mình có để độ nhật…

Thiên Chúa luôn trân trọng và quý mến tất cả những gì chúng ta dâng tặng Ngài. Những lễ vật càng đơn sơ, nhỏ bé dưới mắt người đời, càng có giá trị trước mặt Chúa. Chỉ có Chúa mới thấy được giá trị của những âm thầm đau khổ, của những hy sinh quên mình từng ngày, của những việc làm vô danh…

Sách Lẽ Sống

Tên Sát Nhân Trung Thành

Vê-bích, một tên sát nhân, ngày kia hắn đã dùng đá ném chết ông Phi-bua. Hai người con trai của ông Phi-bua là Pin-tô và Xê-bat yêu cầu quan tòa phải xét xử công bằng. Tên sát nhân đã giết cha họ thì cũng phải bị án tử hình.

Trước mặt quan tòa, Vê-bích đã thú nhận tội lỗi. Anh ta chỉ xin một ân huệ là về nhà trong ba ngày để thu xếp việc gia đình. Rồi sau đó anh hứa sẽ trở lại thụ án.

Ðang lúc quan tòa do dự không muốn tin ở lời hứa của tên tử tội, thì trong đám khán giả có người lên tiếng:

– Tôi xin đứng ra bảo đảm cho lời cam kết của tội nhân. Nếu sau ba ngày hắn không trở lại, tôi sẽ chết thay.

Sau ba ngày, tội nhân trở lại và tuyên bố:

– Tôi đã giải quyết xong mọi việc trong gia đình. Giờ đây tôi trở lại để chịu chết. Tôi trung thành với lời cam kết, để người ta không thể nói: chữ tín trung không còn trên mặt đất nữa.

Sau lời phát biểu của tử tội, người đàn ông đứng ra bảo lãnh cho hắn tiến ra giữa đám đông và tuyên bố:

– Phần tôi, sở dĩ tôi đứng ra bảo lãnh cho người này, là vì tôi không muốn để cho người ta nói: Lòng quảng đại không còn trên trái đất này nữa.

Sau hai lời tuyên bố trên, mọi người đều lặng thinh. Dường như ai cũng đang cảm thấy được mời gọi thể hiện những gì là cao cả nhất trong lòng mình.

Từ đám đông, bất ngờ Pin-tô và Xê-bát tiến ra và nói với quan tòa:

– Thưa ngài, chúng tôi xin tha cho kẻ đã giết cha chúng tôi, để người ta không thể nói: Lòng tha thứ không còn hiện hữu trên mặt đất nữa.

* * *

Câu chuyện trên đây muốn nhắc chúng ta rằng: giữa một xã hội khô héo tình người, giữa một xã hội mà những giá trị tinh thần và đạo đức đang bị chết nghẹt, thì chứng từ của người Kitô hữu cần thiết hơn bao giờ hết.

Kitô hữu phải sống thế nào để người ta có thể nói: Niềm tin vào cuộc sống, ý nghĩa của cuộc đời vẫn còn cháy sáng giữa thế gian.

Kitô hữu phải sống thế nào để người ta có thể nói: chữ tín thành, lòng quảng đại, sự tha thứ vẫn còn ngự trị khắp nơi trong xã hội.

Kitô hữu phải sống thế nào để người ta có thể nói: Thiên Chúa vẫn luôn luôn yêu thương con người.

Kitô hữu phải sống thế nào để người ta có thể nói: con người vẫn có thể yêu thương nhau và sống cho nhau.

Chân Lý Á Châu

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Tư Lệnh lực lượng Tuần Duyên Mỹ sẽ đến thăm Việt Nam

Tư Lệnh lực lượng Tuần Duyên Mỹ sẽ đến thăm Việt Nam

Ảnh chụp từ website của báo Tuổi Trẻ ngày 27/7 cho thấy Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius và Thứ Trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh.

Ảnh chụp từ website của báo Tuổi Trẻ ngày 27/7 cho thấy Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius và Thứ Trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh.

27.07.2015

Đại sứ Mỹ tại Hà Nội Ted Osius cho biết đương kim Tư Lệnh lực lượng Tuần Duyên Hoa Kỳ sẽ đi thăm Việt Nam vào tháng 9 tới đây.

Các báo Tuổi TrẻThanh Niên của Việt Nam hôm nay tường thuật Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam cho biết như vậy trong cuộc gặp gỡ với Thứ Trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh hôm nay.

Cuộc họp diễn ra bên lề một hội thảo quốc tế về các lực lượng gìn giữ hoà bình đươc tổ chức trong cùng ngày, thứ Hai 27/7.

Tin cho hay ông Nguyễn Chí Vịnh hoan nghênh chuyến đi thăm của Tư Lệnh Lực lượng Tuần duyên Mỹ, và ngỏ lời cảm ơn Đại sứ Osius đã thăm hỏi sức khoẻ của Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, mà theo báo chí tại Việt Nam, đã trở về nước sau một thời gian chữa bệnh tại một bệnh viện ở Paris.

Hôm 19/7 hãng thông tấn DPA của Đức tường thuật rằng Đại Tướng Phùng Quang Thanh đã qua đời tại Paris sau khi điều trị bệnh ung thư phổi, nhưng sau đó đã đính chính tin này.

Báo chí Việt Nam cũng tường thuật rằng từ khi về nước, Tướng Phùng Quang Thanh đã gặp các giới chức cao cấp nhất trong chính phủ, nhưng tình trạng sức khoẻ của Tướng Thanh vẫn còn là một nghi vấn, sau khi ông không xuất hiện để tham dự lễ dâng hương tại Đài Tưởng niệm các Liệt sĩ, và cũng không dẫn đầu đoàn đại biểu quân uỷ trung ương đến thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo lịch trình đã được loan báo trước đó.

Trong mấy năm qua, Lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ với sự phối hợp chặt chẽ của Bộ Ngoại giao và Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, đã giúp Việt Nam tăng cường khả năng kiểm soát hàng hải bằng cách huấn luyện cảnh sát biển Việt Nam.

Trong cuộc tiếp xúc giữa Đại sứ Mỹ và Thứ Trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, hai bên bày tỏ hài lòng về sự tiến triển của các quan hệ hợp tác Mỹ-Việt.

Nguồn: Thanh Nien, Tuoi Tre.

Sự bí ẩn của các nhà lãnh đạo cộng sản

Sự bí ẩn của các nhà lãnh đạo cộng sản

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-07-27

07272015-the-secret-of-the-communi-leaders.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

File photo

Ông Phùng Quang Thanh cuối cùng đã xuất hiện trong một buổi lễ tại Bộ quốc phòng vào tối ngày 27/7. Việc này xóa đi đồn đoán là ông đã bị chết vì bệnh tật hay bị ám sát. Tuy nhiên người ta vẫn đặt câu hỏi là tại sao những chuyện bình thường như đi chữa bệnh lại được truyền thông nhà nước Việt nam loan truyền một cách nhỏ giọt và không có hình ảnh nào trong thời đại của phim ảnh kỹ thuật số?

Và không chỉ là hành tung của ông Phùng Quang Thanh, mà đời sống của nhiều lãnh đạo trong thế giới cộng sản xưa và nay cũng thường được bao bọc bởi một lớp màn bí ẩn. Tại sao như vậy?

Sức khỏe lãnh tụ là bí mật quốc gia

Luật sư Nguyễn Văn Đài sống ở Hà nội, nhận xét về cách thức công bố không rõ ràng về tình trạng sức khỏe của các lãnh đạo đảng cộng sản hiện nay:

Đó gọi là di sản hay cái gì đó từ xa xưa để lại. Tức là từ sức khỏe, từ đời sống cá nhân của những người cộng sản luôn luôn được giấu kín và bưng bít. Và tất cả những thông tin mà họ đưa ra nó phải theo ý đồ của ban tư tưởng trung ương, bây giờ là ban tuyên giáo. Họ không thể công khai cuộc sống của họ cho người dân biết được. Đấy coi như là bí mật quốc gia, ngày xưa xem như là bí mật quốc gia, sức khỏe hay là những hoạt động của các vị lãnh đạo của họ, qui định từ cấp nào, bộ chính trị hay là cấp nào đấy từ trung ương trở lên là thuộc hàng bí mật.”

Ngoài ra ông cũng nêu lên một giả thuyết về sự cạnh tranh quyền lực, theo đó các phe phái giấu diếm thông tin để chờ thời cơ. Ông lấy ví dụ là chuyện Đại tướng Lê Đức Anh đã từng biến mất một khoảng thời gian dài trước khi xuất hiện trở lại vào thời điểm mà các đối thủ chính trị của ông đã bị loại trừ.

Nhà văn Thùy Linh, sống ở Hà nội cho rằng con đường đi đến quyền lực của các viên chức cộng sản không bao giờ là chuyện minh bạch cho nên tất cả những gì bao quanh cuộc sống của họ cũng bí ẩn.

“Với những vị trí, những chức vụ trong đảng cộng sản, nó không có một sự minh bạch nào cả cho nên là tất cả những gì đi theo nó đều được phủ lên một cái màn rất bí ẩn. Cái ghế ngồi của từng vị trí không được chọn lựa một cách minh bạch. Những gì kèm theo vị trí đó, như cuộc sống cá nhân đều phải che phủ bởi sự bí ẩn.”

Sự bí ẩn là bản chất của chế độ cộng sản

Nhà bất đồng chính kiến Tiến sĩ Hà Sĩ Phu hiện sống ở Đà Lạt thì cho rằng chuyện không nói lên sự thật là bản chất của chế độ:

Đại tướng Phùng Quang Thanh đến hội trường Bộ Quốc phòng tối ngày 27/07/2015

Đại tướng Phùng Quang Thanh đến hội trường Bộ Quốc phòng tối ngày 27/07/2015. Ảnh: Việt Dũng/TT

Về mặt vĩ mô mà nói thì cộng sản đương nhiên là phải nói dối, như lời của ông Gorbachev, ông ấy nói cộng sản đương nhiên phải nói dối. Đấy là cái tổng thể của cái chủ nghĩa. Còn riêng cái chuyện các lãnh tụ tại sao lại phải giữ bí mật, cái gì cũng bí mật, từ ông Nguyễn Ái Quốc trở đi, thì cái đó là họ phải bịp dân thôi, phải tạo ra cái hào quang. Cái đường đi nước bước của họ để vì đảng là chính. Quần chúng nhân dân mà biết thì sẽ không được, thế cho nên họ phải giấu.”

Về cái hào quang của người cộng sản mà Tiến sĩ Hà Sĩ Phu vừa nhắc tới, người ta đã từng nói nhiều đến việc thần thánh hóa các lãnh tụ của họ. Từ vị lãnh tụ đầu tiên thiết lập nhà nước cộng sản là Lenin ở Liên xô cũ trở đi. Cách đây khá lâu tờ báo An ninh thế giới của cơ quan công an tại Việt nam có đưa tin về một cơ quan lưu giữ và nghiên cứu bộ não của ông Lenin. Theo báo này thì về nguyên tắc Lenin là người xuất chúng nhất của nhân loại. Tại Triều tiên thì những câu chuyện huyền thoại về gia đình của lãnh tụ Kim Nhật Thành được tuyên truyền rất rộng rãi. Còn tại Việt nam thì ngay trong thế kỷ 21 này, việc tôn vinh ông Hồ Chí Minh là một vị thánh cũng rất phổ biến.

Các lãnh tụ độc tài và sức khỏe

Người ta cho rằng với thói quen dùng hình ảnh mạnh mẽ và thánh thần như thế, các lãnh tụ cộng sản, cũng như các vị đứng đầu các thể chế độc tài đều rất e ngại chuyện đưa hình ảnh bị bệnh tật của mình ra công chúng. Nhà báo Đoan Trang nhận xét rằng:

Tất cả các lãnh tụ ở các nước độc tài đều sợ bị dân chúng thấy là mình ốm yếu. Hoặc là sợ lộ những hình ảnh ốm yếu của mình trước dân chúng. Tức là họ sợ lộ ra là mình yếu thì không còn đủ sức để lãnh đạo dân chúng nữa, dân chúng sẽ lật đổ mình.”

Điều này cũng từng được một tác giả Mỹ là Giáo sư Bruce Bueno de Mesquita nhận xét trong một bài viết cách đây khá lâu. Trong bài viết về chuyện các nhà lãnh đạo độc tài thường hay giữ kín bệnh tật của mình được nhà báo Thủy Trúc dịch ra tiếng Việt cách đây 3 năm, ông Mesquita liệt kê một loạt những vị lãnh tụ độc tài từ thế giới cộng sản cũ cho đến các vị nắm độc quyền cai trị quốc gia ở Mỹ Latin, châu Phi, châu Á. Trong danh sách đó người ta thấy cả các vị đương còn sống như ông Tập Cận Bình bên Trung quốc, hay ông Fidel Castro bên Cuba.

Ông Mesquita cho là trong xã hội độc tài luôn có mầm mống một cuộc nổi dậy, cho nên nếu tin tức về sức khỏe suy yếu của lãnh tụ được loan truyền thì dễ có nguy cơ loạn lạc. Ông dẫn chứng chuyện trong một thời gian dài vào thập niên 1990 ở Trung quốc người ta không biết ông Đặng Tiểu Bình còn sống hay đã chết. Trước đó nữa, người ta cũng không biết ông Mao Trạch Đông sức khỏe như thế nào trước khi mất. Và tất cả những việc đó là nhằm để giữ ổn định cho đảng và nhà nước cộng sản Trung quốc. Ở Việt nam người ta cũng cho rằng hồ sơ sức khỏe của ông Hồ Chí Minh cũng bị giấu đi trước khi ông qua đời.

Song song với chuyện giấu giếm bệnh tật, các nhà lãng đạo độc tài cũng thường được cho là hay chứng minh sức mạnh thể lực cường tráng của mình như ông Putin hay biểu diễn những trò thể thao, còn ông Mao Trạch Đông, người sáng lập ra nhà nước cộng sản Trung quốc đã bơi qua sông Trường Giang vào tuổi 73 để chứng minh thể lực khỏe mạnh của mình.

Với sự xuất hiện của truyền thông điện tử, việc giữ sự bí ẩn của các lãnh tụ cộng sản trở nên khó hơn. Theo Luật sư Nguyễn Văn Đài thì sự minh bạch của những người cầm quyền ở Việt nam có khá hơn lúc trước.

Nhà văn Thùy Linh thì không đồng ý như thế vì bà cho rằng chủ nghĩa cộng sản luôn là tư tưởng lạc hậu so với thời đại. Và bà nói thêm là bà cũng không để ý đến câu chuyện vừa qua của ông Phùng Quang Thanh, chỉ khi nào các vị lãnh tụ Việt nam được bầu lên một cách minh bạch thì bà mới để ý đến.

II Giáo Dục Giải Phóng Con Người : Nội dung & Ảnh hưởng(bài 2)

II Giáo Dục Giải Phóng Con Người : Nội dung & Ảnh hưởng(bài 2)

Đoàn Thanh Liêm

Trước khi đề cập đến nội dung của chủ trương “Giáo dục Giải phóng Con người” của Paulo Freire, người viết xin được kể sơ lược về cái duyên hạnh ngộ với nhà tư tưởng nổi danh này, xuất thân từ xứ Brazil là quốc gia đông dân nhất của Châu Mỹ La Tinh. Đó là vào cuối năm 1970, trong dịp tham dự một hội nghị quốc tế tại Paris, nhằm thành lập Institut Oecuménique au service du Développement des Peuples ( INODEP = Viện Đại kết Phát triển các Dân tộc), tôi đã được gặp đích thân Paulo Freire là một thuyết trình viên chính của Hội nghị, mà ông cũng còn được bàu là vị chủ tịch của INODEP nữa. Người tầm thước với bộ râu tóc dài đã điểm muối tiêu của người đã bước vào tuổi ngũ tuần, Paulo Freire có lối nói thật say mê sôi nổi, lôi cuốn như là một thi sĩ, mà lại diễn giải quan điểm lý luận của mình với niềm xác tín sâu sắc của một triết gia. Cử tọa gồm nhiều nhân vật đại diện từ khắp năm châu đều chăm chú theo dõi bài nói chuyện quan trọng, mà đày nhiệt tình của ông. Rồi qua năm 1972, lúc tôi đến Geneva để trao đổi gặp gỡ với một số vị tại văn phòng trung ương của Hội Đồng Tôn Giáo Thế Giới (WCC World Council of Churches), thì tôi cũng gặp lại Paulo Freire đang phụ trách về vấn đề giáo dục của tổ chức này.

Mùa hè năm 1971, vào dịp đến tham dự một cuộc hội thảo khác nữa tại Mindanao Philippines, thì tôi thấy sinh viên ở đây chuyền tay bán cho nhau cuốn sách “The Pedagogy of the Oppressed”, ấn bản địa phương đơn giản, chỉ có ruột sách, chứ không có bìa riêng theo kiểu tự làm lấy, cho nên giá rất rẻ, có 2 US$ một cuốn thôi. Và dĩ nhiên là tôi cũng đã mua vài cuốn để đem về cho các bạn ở Việt nam. Chuyện nhỏ này lại càng khiến tôi chăm chú theo dõi tư tưởng và đường lối giáo dục của Paulo Freire suốt từ hồi năm 1970 cho đến nay.

A – Nét chính yếu của tư tưởng và hành động của Paulo Freire.

Có thể nói Paulo Freire luôn nhất quán về cả phần lý thuyết, cũng như thực hành trong đường lối Giáo dục, nhằm giúp khối quần chúng bị áp bức tìm ra cho mình một phương cách cụ thể, hữu hiệu để tự giải thóat khỏi thân phận của người bị áp bức, bị tha hóa do các điều kiện khách quan của môi trường xã hội, cũng như chủ quan nội tại của bản thân mình. Quan điểm của ông có tính chất triệt để, dứt khóat là : Xã hội đương thời ở châu Mỹ La tinh, cũng như ở nhiều nơi khác đều do bao nhiêu bất công, áp bức bóc lột tạo ra nỗi lầm than cơ cực triền miên cho đa số quần chúng nhân dân. Và không khi nào mà giới thống trị lại chịu tự nguyện đứng ra chủ động việc cải thiện các định chế xã hội vốn bảo vệ các đặc quyền đăc lợi cho riêng họ.

Như vậy, chỉ khi nào chính cái đại khối quần chúng là nạn nhân của sự áp bức thống trị tệ hại đó, mà nhất quyết dấn thân vào công cuộc giải phóng kiên trì để tự cứu thóat lấy mình, thì xã hội mới có cơ may được xây dựng tốt đẹp, và con người mới phục hồi được nhân phẩm cao quý cho từng cá nhân được. Nói khác đi, chỉ khi nào chính quần chúng nhân dân mà được thức tỉnh giác ngộ về vai trò làm chủ nhân đích thực của xã hội, và cùng đồng lòng lăn xả vào cuộc tranh đấu giải phóng đó, thì họ mới có được một tương lai tươi sáng viên mãn, như từng mơ ước từ bao nhiêu thế hệ xưa nay.

Với niềm xác tín như thế, Paulo Freire đã nhập cuộc với xã hội quê hương mình, bằng cách phát triển phương thức giáo dục tráng niên, thúc bách cho các học viên cần phải có sự suy nghĩ với thái độ phê phán (critical thinking = conscientization) về hiện trạng xã hội, mà họ là nạn nhân của bao nhiêu áp bức bất công. Và rồi từ đó, chính họ sẽ ra tay hành động, nhằm biến đổi xã hội hủ lậu đó đi (transformative action). Do lối suy nghĩ và hành động cụ thể, cấp tiến như vây, mà ông đã bị phe quân nhân cầm quyền ở Brazil bắt giữ, rồi trục xuất đi ra khỏi nước vào năm 1964.

Trong thời gian sống lưu vong, ông có dịp đúc kết các suy nghĩ và hoạt động của mình, để rồi trình bày trong 2 cuốn sách xuất bản hồi cuối thập niên 1960, và được nhiều người đánh giá rất cao. Đó là cuốn sách đầu tiên có nhan đề  “ Education, the Practice of Freedom”, và đặc biệt là cuốn “The Pedagogy of the Oppressed”. Ta sẽ phân tích chi tiết rành mạch hơn về tác phẩm quan trọng này trong một đoạn sau. Và ông đã kiên trì tiếp tục tìm kiếm trong suốt cuộc đời còn lại, nhất là kể từ ngày được trở về lại quê hương vào năm 1980, để khai triển cho thêm phong phú hơn nữa cái chủ trương giáo dục có tính cách khai phóng và nhân bản cao độ này.

Tác giả Henry A Giroux nhận định về Freire rằng : “ Thực ra, ông là người đã kết hợp được điều mà tôi gọi là cả hai thứ ngôn ngữ phê phán với thứ ngôn ngữ khả thể” (In effect, Freire has combined what I call the language of critique with the language of possibility).

B – Giới thiệu tác phẩm “ Giáo dục của Người bị Áp bức”.

Trong cuốn sách 160 trang ngắn gọn, xúc tích với chỉ có 4 chương này, Paulo đã phân tích khá rành mạch, dứt khoát về chủ trương kiên quyết không thỏa hiệp với nền thống trị đàn áp, vẫn ngự trị lâu đời trong xã hội đương thời, đặc biệt là tại châu Mỹ La tinh là quê hương bản quán của ông. Và sau khi cuốn sách ấn bản tiếng Anh ra đời vào năm 1970, tác giả lại còn có nhiều dịp trao đổi với các thức giả khắp thế giới, và từ đó ông đã hoàn chỉnh hơn quan điểm và lý luận của mình, như được trình bày trong nhiều cuốn sách và bài báo xuất bản vào thập niên 1980-1990 nữa. Ta có thể tóm gọn tư tưởng của ông trong mấy khía cạnh chính yếu sau đây :

1 / Giáo dục đại chúng cốt yếu là một cuộc đối thoại giữa” người dậy” và “người đi học” (a dialogue between the educator and the learner), trong đó phải có sự tương kính lẫn nhau giữa hai phía (mutual respect). Paulo Freire đặc biệt phê phán cái lối dậy học “nhồi nhét”, mà ông gọi là “banking concept”, tức là chỉ có người dậy chủ động chuyển mớ kiến thức vào đầu óc của học viên, y hệt như việc ký gửi các số tiền vào nơi chương mục tại ngân hàng (making deposits). Như vậy, thì người học viên hoàn toàn đóng vai trò “thụ động” của một đối tượng, chứ không hề được khuyến khích để chủ động phát huy óc sáng tạo và sự suy nghĩ có tính cách phê phán (critical thinking), để mà có thể tự mình khám phá ra hoàn cảnh bị áp bức của mình và rồi đưa đến một hành động thích đáng.

Thay vào đó, tác giả đề ra cái khái niệm “Giáo dục đặt vấn đề” (problem-posing concept of Education), trong đó cả hai phía người dậy và người học đều cùng hợp tác với nhau trong một quá trình hỗ tương (a mutual process), nhằm cùng nhau khám phá thế giới, và chung với nhau cố gắng vươn tới một mức độ nhân bản viên mãn hơn (their attempt to be more fully human).

2 / Cuộc đối thoại này không phải chỉ nhằm đào sâu sự hiểu biết, mà còn là một phần làm thay đổi nơi thế giới. Tự bản thân, sự đối thoại là một loại hoạt động có tính hợp tác bao gồm sự tôn kính (a co-operative activity involving respect). Quá trình này quan trọng, vì nó giúp tăng thêm sức mạnh cho cộng đồng và đồng thời lại xây dựng nên nguồn vốn xã hội  (enhancing community and building social capital), mà lại đưa dẫn chúng ta đến hành động cho công lý và phát triển nở rộ về phương diện nhân bản (human flourishing) nữa.

Cơ sở cụ thể cho hệ thống giáo dục căn cứ vào sự đối thoại này chính là nơi các“câu lạc bộ văn hóa” (culture circle), trong đó các học viên và người phối trí hợp cùng nhau bàn thảo về những” chủ đề khởi sinh” (generative themes), mà có ý nghĩa trong bối cảnh cuộc sống thực tiễn của người học viên. Các chủ đề này liên hệ tới thiên nhiên, văn hóa, công việc làm và các tương quan xã hội, thì đều được khám phá ra qua sự tìm kiếm chung nhau giữa nhà giáo dục với học viên. Rồi các chủ đề đó được sử dụng làm căn bản cho cuộc đối thoại trong phạm vi sinh họat nội bộ của câu lạc bộ. Từ đó, mà dần dần diễn ra quá trình cấu tạo được ý thức phê phán (critical consciousness) nơi các học viên tham gia, với tư cách là chủ thể của xã hội, mà chính họ đang cùng nhau ra sức xây dựng với quyết tâm của cả tập thể của mình.

3 / Tính chất độc đáo trong tư tưởng của Paulo Freire chính là việc ông đã khôn khéo tổng hợp đến độ nhuần nhuyễn được kinh nghiệm của những nhà tư tưởng tiền bối, và đem áp dụng vào đường lối giáo dục của ông. Điển hình là phép biện chứng của triết gia Hegel giữa “ông chủ và đày tớ”, thì đã được Freire áp dụng trong lối “giải thóat khỏi các hình thức độc đóan trong giáo dục”(liberation from authoritarian forms of education). Chủ thuyết hiện sinh của Jean Paul Sartre và của Martin Buber, triết gia Do Thái đã giúp Freire đưa ra khái niệm về “ sự tự biến đổi của người bị áp bức để tiến vào trong lãnh vực của tình trạng liên chủ thể tiến bộ” (the self-transformation of the oppressed into a space of radical intersubjectivity). Kể cả thuyết duy vật lịch sử của Karl Marx cũng ảnh hưởng tới quan niệm của Freire về lịch sử tính của các mối quan hệ xã hội (historicity of social relations).

Và chủ trương “Thần học giải phóng” cũng ảnh hưởng rõ rệt đến quan điểm của Freire, khi ông cho là “Tình yêu thương là điều kiện thiết yếu cho một nền giáo dục đích thực”. Rồi quan điểm cách mạng chống đế quốc của Ernest Che Guevara và Frantz Fanon, tác giả cuốn sách nổi tiếng “Les Damnés de la Terre”, cũng ảnh hưởng đến sự phân tích của Freire về tình trạng trầm đọng (sedimentation) của tư tưởng của giới áp bức thống trị, mà vẫn còn hằn sâu nơi não trạng của chính bản thân lớp người nạn nhân bị áp bức. Và rồi từ đó, ông đã dấn thân hết mình vào công cuộc tranh đấu chống lại chế độ thực dân đế quốc ở khắp mọi nơi.

C – Ảnh hưởng của tư tưởng Paulo Freire trên thế giới.

Có thể nói Paulo Freire là mẫu “con người tri hành hợp nhất” theo lối nói của Vương Dương Minh là nhà tư tưởng nổi danh của Trung quốc ngày xưa. Ông không chỉ đơn thuần là một lý thuyết gia, mà còn là một con người dấn thân hoạt động hết mình cho lý tưởng giải phóng con người. Chủ trương Giáo dục của ông tuy rất cương quyết dứt khoát, triệt để tiến bộ, nhưng đày tính nhân bản ôn hòa, khác hẳn với khuynh hướng quá khích, bạo hành của lớp người cộng sản Marxist tại châu Mỹ La tinh, cụ thể như Che Guevara, Fidel Castro. Vì thế mà đại bộ phận quần chúng nhân dân tại khu vực quê hương ông, vốn theo Thiên chúa giáo, thì đã tiếp nhận tư tưởng của Freire một cách nồng nhiệt, phấn khởi.

Tại Phi châu cũng vậy, trong nhiều dịp đến làm việc tại châu lục này, nhất là tại mấy nước trước đây cũng là thuộc địa của Bồ Đào Nha, như Angola, Mozambique, Guinea Bissau, Paulo Freire đã được đón tiếp một cách rất thân tình trân trọng, bởi lẽ ông cùng chia sẻ cái thân phận của người dân đã từng phải sống dưới sự thống trị hà khắc của các chánh quyền thực dân đế quốc trước kia, cũng như của các chế độ độc tài bản xứ trong giai đoạn độc lập tự chủ hiện nay.

Tại Á châu, ông cũng được đón tiếp tại nhiều nơi như Ấn độ, Papua New Guinea, và có nhiều dịp trao đổi với các giới chức hoạt động trong lãnh vực giáo dục, cũng như hoạt động cộng đồng.

Đã có nhiều quốc gia thiết lập các Viện Nghiên cứu Paulo Freire (Paulo Freire Institute = PFI) nhằm cổ võ và quảng bá tư tưởng của ông về lãnh vực cải cách giáo dục tráng niên, cũng như thúc đảy công cuộc tranh đấu cho công bằng xã hội trên phạm vi toàn cầu. Điển hình như PFI tại Nam Phi, tại Tây Ban Nha, tại Phần Lan, tại đảo quốc Malta, và dĩ nhiên tại Brazil là quê hương của ông.

Riêng tại Mỹ, thì có FPI đặt tại đại học UCLA ở thành phố Los Angeles California. Viện nghiên cứu này được thiết lập năm 2002 và rất hoạt động với việc xây dựng những mạng lưới liên kết giới học giả, nhà giáo,  nhà họat động xã hội, nghệ sĩ và các thành viên của cộng đồng. Thông qua các cuộc gặp gỡ trao đổi thường xuyên, tất cả các thành viên và các thân hữu của Viện FPI đều dồn nỗ lực vào việc xây dựng công bằng xã hội, và sử dụng giáo dục như là một phương tiện để tạo sức mạnh cho khối quần chúng bị áp bức, bị khuất phục tại khắp nơi trên trái đất.

Ngòai ra, cũng còn phải kể đến các Diễn Đàn Paulo Freire (bi-annual PF Forums) được tổ chức mỗi năm 2 lần, nhằm mở rộng và nâng cao sự nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm của những thức giả vốn theo đuổi đường lối giáo dục tiến bộ do Paulo Freire đã dày công khai phá từ trên nửa thế kỷ nay.

D – Thay lời kết luận.

Có thể nói Paulo Freire là một con người tòan diện, vừa có trình độ suy tư lý luận rất thâm hậu, mà cũng vừa là con người dấn thân họat động suốt đời, không bao giờ mệt mỏi. Ông được quần chúng mến phục, không những do các tác phẩm sâu sắc về triết lý giáo dục, về phương pháp vận động khích lệ cho tầng lớp người bị áp bức bóc lột, mà còn vì cái nhân cách sáng ngời, cái tinh thần khiêm cung hòa ái, và nhất là vì tấm lòng tha thiết yêu mến tột cùng đối với nhân quần xã hội nữa.

Quả thật, Paulo Freire là một tiêu biểu rất xứng đáng, là niềm tự hào cho tầng lớp sĩ phu trí thức của xứ Brazil, cũng như của tòan thể châu Mỹ La tinh vậy./

California, Tiết Trung Thu Canh Dần 2010.

Đoàn Thanh Liêm

Paulo Freire và chủ trương “Giáo Dục Giải phóng Con người”

Paulo Freire và chủ trương “Giáo Dục Giải phóng Con người”

( Paulo Freire : 1921 – 1997)

Paulo Freire sinh năm 1921 tại Brazil. Ông học Luật và Triết học, nhưng lại dấn thân vào công cuộc giáo dục đặc biệt cho giới tráng niên, nhằm gây ý thức cho đại chúng phải mạnh dạn tự giải thoát  mình ra khỏi tình trạng áp bức nặng nề, tàn bạo của xã hội đương thời. Vì có tư tưởng và hành động cấp tiến như vậy, nên ông bị giới quân nhân cầm quyền bắt buộc phải sống lưu vong ở nước ngoài, từ năm 1964, mãi cho đến năm 1980, ông mới có thể trở về quê hương mình được.

Tại nước Chi lê, ông đã làm việc cho tổ chức văn hóa Unesco của Liên Hiệp Quốc, và Viện Cải cách Ruộng đất của chánh phủ Chi lê. Ông còn được mời tới làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu về Phát triển và Biến đổi xã hôi thuộc đại học Harvard ở Mỹ (Center for Studies in Development and Social Change). Rồi sau này làm giám đốc chương trình giáo dục của Hội đồng Tôn giáo thế giới (World Council of Churches) tại Geneva, Thụy sĩ.

Năm 1970, ấn bản tiếng Anh “The Pedagogy of the Oppressed” (Giáo dục của Người bị Áp bức) của Paulo Freire đã gây một tiếng vang lớn trong giới giáo dục và hoạt động xã hôi khắp thế giới. Sau trên 40 năm, thì đã có hàng triệu cuốn được phổ biến rộng rãi qua nhiều lần tái bản, và hàng mấy chục bản dịch ra các thứ tiếng khác nữa. Ông là người đã cổ võ cho ý niệm “ Conscientizacao’ nguyên văn tiếng Bồ đào nha, mà bây giờ đã trở thành thông dụng khắp thế giới với tiếng Anh là “Conscientisation” (= Consciousness Raising, Critical Conciousness). Ta có thể diễn tả ý niệm này là :  Sự thức tỉnh Ý thức và Suy nghĩ có tính cách phê phán.

Quả thật, chủ trương giáo dục có tính chất cách mạng triệt để của ông đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các phong trào giáo dục và xã hội cùng khắp thế giới. Và tư tưởng triết học của ông cũng ảnh hưởng đến nhiều ngành học thuật như thần học, xã hội học, nhân chủng học, sư phạm, ngữ học thực hành và nghiên cứu văn hóa (applied linguistics & cultural studies).

Có thể nói : Paulo Freire là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất về bộ môn giáo dục vào cuối thế kỷ XX ( the most influential thinker about education).

Bài viết này nhằm giới thiệu tư tưởng độc đáo và dứt khoát của ông. Đồng thời cũng lược qua về ảnh hưởng của tư tưởng này trong thế giới hiện đại, đặc biệt là tại các quốc gia vốn xưa kia là thuộc địa của thực dân Tây phương ở Châu Mỹ La tinh, Châu Phi và Châu Á. Để bạn đọc có thể dễ dàng theo dõi quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Paulo Freire, là một nhân vật tiêu biểu của trào lưu thức tỉnh và vận động xã hội tại Châu Mỹ La tinh là quê hương của ông, người viết xin được dàn trải việc trình bày trong 2 bài như sau :

Bài 1 / – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh vào cuối thế kỷ XX.

Bài 2 / – Cốt lõi chủ trương “Giáo dục giải phóng” & Ảnh hưởng trong thế giới hiện đại.

I – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh.

Châu Mỹ La tinh (Latin America) là khu vực nằm ở phía nam của nước Mỹ, mà xưa kia hầu hết đều là các lãnh thổ nằm dưới sự cai trị của hai nước Tây ban nha và Bồ đào nha. Hiện nay khu vực này có chừng 30 nước với tổng số dân là trên 560 triệu. Chỉ có Brazil với dân số trên 190 triệu là nói tiếng Bồ đào nha. Còn lại, thì tất cả đều nói tiếng Tây ban nha. Trừ một số rất nhỏ xưa kia là thuộc địa của Pháp, Anh, Hòa lan, thì vẫn còn nói tiếng như tại “mẫu quốc” cũ của họ.

Có tới 70% dân chúng trong khu vực theo đạo Thiên chúa giáo La mã (Roman Catholic). Và chừng 15% theo đạo Tin lành.

A – Tình trạng bất ổn trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

Kể từ thập niên 1960 trở đi, khu vực này đã trải qua nhiều biến động về chính trị kinh tế, cũng như về mặt văn hóa xã hội thật sôi động, nhiều khi đưa đến những tranh chấp tàn bạo đẫm máu, do các chế độ độc tài thiên hữu, quân phiệt hay thiên tả gây ra. Nhiều cuộc đảo chính đã liên tục xảy ra, khiến cho xã hội luôn bất ổn định, và chế độ độc tài quân phiệt dễ có cơ hội được củng cố, và người dân bị dồn vào thế bị động, không thể hợp nhau góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển quốc gia được.

Lại nữa, vào giữa thời chiến tranh lạnh, nên phía Liên Xô đã tìm nhiều cách để gây ảnh hưởng của chủ thuyết cộng sản tại đây; điển hình là tại Cuba từ khi Fidel lên nắm chánh quyền năm 1959 và đã ngả hẳn về phía Liên Xô. Chúng ta hẳn đều còn nhớ việc Liên Xô cho đem thiết trí lọai hỏa tiễn tại Cuba nhằm hướng vào nước Mỹ, khiến xúyt gây nên cảnh chiến tranh giữa hai siêu cường Nga-Mỹ vào năm 1962, trước sự đối đầu nẩy lửa của hai lãnh tụ Kruschev và Kennedy.

Mà phía Mỹ, thì cũng tìm mọi cách can thiệp nhiều khi rất nặng tay tàn bạo, để bảo vệ toàn thể khu vực được gọi là“cái sân sau” (backyard) của riêng nước Mỹ; điển hình như có bàn tay của CIA trong việc lật đổ chế độ thiên tả của Tổng thống Salvador Allende tại Chi lê năm 1973. Rồi sau này vào thập niên 1980, thì phe Sandinista khuynh tả đã lên nắm được chánh quyền ở Nicaragua, với sự trợ giúp đắc lực của Cuba cộng sản cũng như của Liên Xô. Và chánh quyền Mỹ dười thời Tổng thống Reagan đã ra tay can thiệp mạnh bạo, để giúp phe đối lập Contras lập lại thế cờ tại đây. Đại khái đó là vài nét đại cương về ảnh hưởng của chiến tranh lạnh tại khu vực Châu Mỹ La tinh, từ hồi thập niên 1960 cho đến khi khối Liên Xô bị tan rã kể từ 1990.

B –  Sự nhập cuộc của Giáo hội công giáo La mã.

Về phía Thiên chúa giáo, thì do ảnh hưởng của tinh thần đổi mới của Công đồng Vatican 2, trong giới tu sĩ và giáo dân tại khu vực đã có sự chuyển biến rất mạnh mẽ trong sự nhận thức, cũng như trong hành động của Giáo hội công giáo. Điển hình như trường hợp của Tổng giám mục Helder Camara của Brazil; ông là người rát năng động trong việc phục vụ và tranh đấu cho khối đa số nghèo túng, đến nỗi bị chụp mủ là “vị giám mục đỏ” (the red bishop). Ông nói chua chát như sau : “Khi tôi cho người nghèo ăn, thì người ta gọi tôi là một ông thánh. Khi tôi hỏi tại sao người nghèo lại không có thực phẩm, thì người ta gọi tôi là một người cộng sản!” Giám mục Camara và cầu thủ Pele’ là hai người xứ Brazil mà được biết đến nhiều nhất trên thế giới.

Lại có trường hợp vị Giám mục cấp tiến Oscar Romero ở nước El Salvador, ông còn bị chánh quyền cho dùng tay chân ám sát, ngay giữa lúc ông  đang cử hành thánh lễ an táng cho bà mẹ của một người bạn vào năm 1980. Và đã có đến 250,000 người đến tham dự lễ an táng của vị mục tử kiên cường này, mà họ coi như là một vị thánh tử đạo (Martyr).

Cũng tại El Salvador, vào cuối năm 1980 đã xảy ra việc sát hại 4 nữ tu người Mỹ, do bàn tay của nhân viên công lực nhà nước. Sự kiện này đã gây sự phẫn nộ tột cùng của báo chí và công luận nước Mỹ, đến độ tạo thành áp lực buộc chánh phủ Mỹ phải có biện pháp răn đe mạnh mẽ đối với chánh quyền tàn bạo của El Salvador.

Cũng phải kể thêm về trường hợp của vị linh mục Camilo Torres ở nước Colombia, ông là một tu sĩ cấp tiến, được đào tạo tại đại học công giáo nổi tiếng Louvain bên nước Belgium ở Âu châu. Vì áp lực nặng nề từ phía chánh quyền Colombia, ông phải thóat ly theo hẳn phe du kích chống chánh phủ, và đã bị hạ sát vào năm 1966 trong một cuộc đụng độ với quân đội. Tên tuổi của Camilo Torres, cũng như của Che Guerava bị hạ sát năm 1967 tại Bolivia, thì đã trở thành một huyền thoại lôi cuốn giới trẻ trong toàn thể khu vực Châu Mỹ La tinh từ trên 40 năm nay.

Nhân tiện, cũng cần phải ghi lại cái thủ đọan cực kỳ độc ác là “làm mất tích” (disappearance), bằng cách thủ tiêu những người chống đối, mà cơ quan an ninh tại nhiều nước trong khu vực sử dụng, để đàn áp phong trào tranh đấu cho dân chủ tự do tại các nước này. Điển hình là tổ chức Các Bà Mẹ có con bị mất tích ở Argentina, đã liên tục trong nhiều năm tháng đến tụ hợp với nhau tại một quảng trường Plaza de Mayo trong thành phố thủ đô, để đòi hỏi chánh quyền phải cho công bố về các vụ mất tích này. Các tổ chức tranh đấu bảo vệ nhân quyền quốc tế như Hội Ân xá Quốc tế (Amnesty International) cũng đã thâu thập được khá nhiều chứng từ về các trường hợp “ người bị mất tích” (disappeared persons) tại nhiều quốc gia trong vùng, mà có nơi con số này lên tới nhiều ngàn người. Rõ ràng chế độ độc tài nào dù theo phe tả như cộng sản, hay theo phe hữu như chế độ quân phiệt, thì cũng đều tàn bạo độc ác như thế cả.

C – Nền Thần học Giải phóng.

Châu Mỹ La tinh này lại còn là nơi phát sinh một trào lưu tư tưởng đặc biệt sôi nổi sinh động, đó là nền “Thần học giải phóng”          ( Liberation Theology). Đó là cả một phong trào của các giáo sĩ và giáo dân phản ứng không khoan nhượng trước thực trạng xã hội đày rẫy bất công áp bức, bóc lột trong xã hội các quốc gia trong khu vực. Họ lục tìm trong Kinh thánh và trong Giáo huấn chân truyền của Giáo hội công giáo từ xưa nay, để xây dựng được một nhận thức đứng đắn, trung thực về vai trò dấn thân nhập cuộc của Giáo hội trong công trình giải thoát con người và xã hội khỏi các định chế chính trị xã hội hủ lậu, phản động và vô luân trong xã hội đương thời. Trừ một số nhỏ thiên về phía marxit cộng sản quá khích, còn đa số giáo sĩ và giáo dân đều giữ vững lập trường tranh đấu ôn hòa, bất bạo động của tôn giáo. Hệ thống tư tưởng tiến bộ này luôn được sự hưởng ứng của quần chúng giáo dân và giới chức sắc của giáo hội, mà tiêu biểu sáng ngời nhất là “Hội Đồng Giám mục Châu Mỹ La tinh (CELAM = the Latin American Episcopal Conference). Dưới sự thôi thúc của những vị lãnh đạo năng nổ, nhiệt tình như Helder Camara, Hội Đồng này đã biểu quyết thông qua chủ trương rất tiến bộ là : “ Giáo hội phải dứt khoát chọn lựa đứng về phía người nghèo” ( Church’s Option for the Poor).

D – Vai trò của giới trí thức và văn nghệ sĩ.

Trong khi đó, thì giới hàn lâm đại học (Academia), cũng như giới văn nghệ sĩ, đều sôi nổi góp phần vào công cuộc dấn thân phục vụ xã hội, mà điển hình là sự đóng góp thật là vĩ đại của Paulo Freire với chủ trương “Giáo dục Giải phóng Con người” như đã được trình bày rất khúc chiết trong cuốn “Pedagogy of the Oppressed”. Ta sẽ đề cập chi tiết vế tư tưởng này trong một bài sau.

Cũng cần phải ghi thêm về ảnh hưởng của phong trào trí thức tả phái phát xuất từ Âu châu, đặc biệt là từ thập niên 1950, đối với tư tưởng và hành động của học giới và văn nghệ sĩ tại Châu Mỹ La tinh. Khuynh hướng “Bài Mỹ” (Anti-Americanism) từ Âu châu đã làm tăng thêm sự hậm hực, ân óan vốn có sẵn từ lâu đời đối với sự thống trị và khuynh lóat của chánh sách bá quyền (hegemony) của nước Mỹ đối với tòan thể các quốc gia và lãnh thổ yếu thế, mà lại bị chia rẽ, phân tán ở phía Nam bán cầu (hemisphere). Lâu lâu, người ta vẫn nghe thấy dân chúng tại đây hô thật to cái khẩu hiệu “Yankees, Go Home” (Người Mỹ, Hãy Cút Đi!) mỗi khi có phái đòan cao cấp của Mỹ đi qua một số thành phố lớn. Điển hình là vụ phản đối rầm rộ, đến độ xô xát bạo hành đối với Phó Tổng thống Nixon của Mỹ trong chuyến viếng thăm Nam Mỹ vào năm 1958.

Lại nữa, chánh phủ Mỹ vì luôn bênh vực che chở cho giới tài phiệt Mỹ làm ăn buôn bán khai thác tại các nước trong khu vực, nên đã cho thiết lập và ủng hộ các chánh quyền cực hữu, độc tài mà được đặt tên một cách mỉa mai là “Banana Republics”, vì chuyên làm tay sai cho các đại gia chuyên môn khai thác trồng chuối để xuất cảng về Mỹ, hoặc khai thác các nguồn lợi thiên nhiên khác, để thu về được một số lợi nhuận khổng lồ cho các tập đòan kinh tế có độc quyền khai thác, mà điển hình là United Fruit.

Trước tình trạng bất ổn căng thẳng như thế, ta không lạ gì với sự chống đối quyết liệt như của những lãnh tụ mới đây như Tổng thống Hugo Chavez của Venezuela đối với nước Mỹ. Và qua đó, chúng ta có thể hiểu rõ thêm về phản ứng dứt khóat và triệt để của giới trí thức như Paulo Freire trong bối cảnh chung của khu vực Châu Mỹ La tinh vậy./

( Bài 2 :  Giáo dục Giải phóng : Nội dung và Ảnh hưởng)

Vì yêu …

Vì yêu …

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

nguoi-yeu

Khi làm việc gì, ta thường được thúc đẩy bởi một động cơ nào đó. Động cơ ấy thêm sức cho ta, giúp ta được mạnh mẽ để thực thi và hoàn thành những dự tính của mình. Hơn bất kỳ một động cơ nào khác, tình yêu – vốn là một sự huyền nhiệm khôn tả – có một sức cuốn hút và khiến người ta trở nên “vô địch” trong những hành vi của mình. Chẳng ai biết tình yêu là gì, không ai có thể định nghĩa được tình yêu. Người ta chỉ có thể nhận ra nó như một cái gì đó từ một nơi bí ẩn xuất hiện vào lúc không ngờ làm điên đảo con người, làm mất hết lý trí, làm người ta chẳng hiểu nổi được mình. Đã có biết bao giai thoại về những câu chuyện tình lâm ly bi đát, hạnh phúc có, đau buồn có. Và cứ hệt như một điều được mọi người công nhận, áng thơ nào không có chút tình, áng thơ ấy chẳng có gì hay; câu chuyện nào chẳng có chữ yêu, câu chuyện ấy chẳng đủ sức làm co thắt lòng người. Vốn dĩ tình yêu đã là một điều khó hiểu trong số những gì khó hiểu nhất, càng suy nghĩ về nó, đào sâu, nghiên cứu về nó, ta lại càng như rơi vào một mê cung với bao điều khiến ta phải tròn xoe đôi mắt.

Vì yêu, ta sẵn sàng thay đổi chính mình. Một lối sống, một cung cách hành xử bị cho là thâm căn cố đế của ta, sẽ chẳng bao giờ ta chịu thay đổi cho đến khi ta yêu. Tình yêu ta dành cho ai đó sẽ khiến ta vui mừng và hớn hở lột xác khỏi con người cũ của mình. Ta bắt đầu chăm chút hơn về diện mạo. Ta tự nhận thấy mình phải đẹp hơn trong mắt người khác. Ta bỗng dưng sống có ý thức hơn, có trách nhiệm hơn. Ta muốn mình phải giỏi hơn. Ta cũng có động lực phải vượt qua tất cả những khiếm khuyết của mình để làm hài lòng người mình yêu, để “lấy điểm” trong mắt họ. Ta bắt đầu nghĩ đến tương lai. Suy nghĩ của ta cũng trở nên chín chắn cách lạ thường… Tất cả những điều đó diễn tả một niềm vui lớn lao trào ứ trong con tim của ta. Phải, có một hạnh phúc nào đấy không tên đang khuấy động bên trong con người ta, khiến ta thấy trời đất như đổi khác, trời đông lạnh lẽo bỗng hóa nên nắng xuân ấm áp chan hòa. Yêu một người là muốn gắn kết đời mình với người ấy và một cách tự nhiên, ta tự nhủ mình phải gọt dũa mình để hai bên có thể hòa hợp với nhau. Bởi thế, nếu ai cho rằng mình yêu mà không có chút biến đổi nào, người ấy chưa thực sự yêu.

Vì yêu, ta dường như có đủ sức mạnh để nếm trải tất cả những gian lao thử thách. Cái kỳ lạ của tình yêu nằm ở chỗ, nó có thể khiến người ta hạnh phúc khi phải hy sinh. Chẳng ai thích hy sinh, vì hy sinh có nghĩa là chịu thiệt thòi, mất mát. Nhưng hy sinh trong tình yêu lại khiến cho người ta thấy hạnh phúc và hân hoan. Con đường xa, lầy lội vì cơn mưa lớn có là gì đối với hai người yêu nhau. Núi cao sông dài có là gì khi con tim đã trao nhau. Nghìn năm chờ đợi có là chi khi lòng ta đã tìm thấy chỗ đáp. Tình yêu là thế, nó làm cho người ta sẵn sàng bỏ đi cái tôi, cái ngã, cái cao ngạo của mình mà không hề cảm thấy quá khó khăn hay vất vã. Bởi thế, ta sẵn sàng bị chê là “sến” khi nói những lời ngọt ngào dành cho nhau. Ta chẳng ngại xấu hổ khi tỏ tình với nhau. Ta cũng nhanh chóng cúi mình nói lời xin lỗi, dù có khi ta chẳng có  lỗi gì. Tình yêu gắn liền với một chút nhịn, một chút hy sinh, một chút từ bỏ. Có lẽ vì thế mà hoa hồng có gai, sô-cô-la vừa ngọt lại vừa đắng. Và chính tình yêu cũng được lớn lên nhờ những điều ấy. Không có một tình yêu nguyên vẹn nào sẵn tồn tại từ trời rơi xuống. Tình yêu cũng hệt như một ngọn đèn, biết chăm chút cho nó thì nó cháy, bỏ bê nó thì nó lụi tàn. Mà để có thể chăm chút cho nó, ta phải hy sinh nhiều lắm!

Người ta thường nói, khi yêu, ta phải cố gắng cố gắng để có được nhau trong cuộc đời. Điều đó đúng lắm! Nhưng sự huyền nhiệm của tình yêu vốn dĩ không có nguyên tắc: có đôi khi, chính vì yêu mà ta phải mạnh dạn để cắt đứt, để chia tay. Yêu nhau và đến được với nhau là hai chuyện khác nhau. Ta luôn mong muốn chúng là một, nhưng cuộc đời đâu phải lúc nào cũng thỏa đáp mong muốn của ta. Yêu là tiếng nói của con tim, còn việc san sẻ cả cuộc đời với nhau lại tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố. Lý trí không thể điều khiển được con tim, nó không thể cấm cản hành vi của con tim, nhưng nó lại có đôi mắt sáng để rọi vào từng cảm xúc của con tim. Biết là sẽ đau, rất đau, nhưng ta đành phải chấp nhận để một cuộc tình dang dở có một cái kết buồn. Ta làm thế, không phải vì ta không còn yêu, nhưng chính vì chữ yêu mới khiến ta đi đến quyết định ấy. Vì sao ư? Vì yêu thì mong muốn điều tốt đẹp cho người mình yêu, là xem người mình yêu hơn cả mình, chứ không phải tìm thỏa mãn cho chính mình. Chia tay vì một điều tốt đẹp quý giá hơn, đúng đắn hơn là một sự chia tay rất cao cả. Nó đòi hỏi một nghị lực lớn, một sự trưởng thành và cả một tình yêu – sự hy sinh vĩ đại.

Còn có biết bao điều phải nói về tình yêu! Người ta đã viết về nó, nói về nó trong suốt cả một lịch sử dài rồi mà còn chưa diễn tả đủ. Mãi mãi, tình yêu luôn là cái khiến ta bận tâm, dù ta có muốn hay không. Ai đã yêu thì sẽ rõ: nó còn hơn những gì có thể được nói hay biểu lộ ra. Nó làm biến đổi người khác, nó khiến người khác thích hy sinh, nó giúp người khác can đảm để làm điều mà họ chưa bao giờ muốn làm. Nó mang đến hạnh phúc cho người ta, nhưng nó cũng là nhân tố khiến người ta đau đến vô cùng. Nó đến như một kẻ trộm, chẳng ai chờ ai mong, nhưng nó cứ ở lì trong trái tim ta, chẳng chịu buông rời. Thế giới này trở nên phức tạp cũng vì chữ yêu, nhưng nó cũng trở nên phong phú nhờ chữ yêu.

Vì yêu…

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

5 “chuyện lạ” ở đất nước Nhật Bản

5 “chuyện lạ” ở đất nước Nhật Bản

Dường như người Nhật Bản rất thấm nhuần và áp dụng giáo lý đạo Phật trong cuộc sống hằng ngày, cho nên họ quí trọng xem con người đều bình đẳng vì cùng có Phật tánh như nhau, chứ không dựa vào dáng vẻ giàu nghèo bên ngoài, thường xuyên làm chuyện phải có lợi ích cho người khác, cũng như không dám trộm cắp, hại người, để được nghiệp quả tốt.

Chuyện thứ nhất: Trung thực

Ở Nhật, bạn khó có cơ hội bắt taxi để đi một cuốc đường dài. Vì sao? Các bác tài sẽ tự chở bạn thẳng đến nhà ga tàu điện ngầm, kèm lời hướng dẫn “Hãy đi tàu điện ngầm cho rẻ”.

Sự trung thực của người Nhật in đậm nét ở những “mini shop không người bán” tại Osaka. Nhiều vùng ở Nhật không có nông dân. Ban ngày họ vẫn đến công sở, ngoài giờ làm họ trồng trọt thêm. Sau khi thu hoạch, họ đóng gói sản phẩm, dán giá và để thùng tiền bên cạnh. Người mua cứ theo giá niêm yết mà tự bỏ tiền vào thùng. Cuối ngày, trên đường đi làm về, họ ghé đem thùng tiền về nhà. Nhẹ nhàng và đơn giản. Các con đường mua sắm, các đại siêu thị ở Hokkaido, Sapporo hay Osaka… cũng không nơi nào bạn phải gửi giỏ, túi xách.

Quầy thanh toán cũng không đặt ngay cổng ra vào. Người Nhật tự hào khẳng định động từ “ăn cắp vặt” gần như đã biến mất trong từ điển. Nếu bạn đến Nhật, toàn bộ các cửa hàng sẽ tự động trừ thuế, giảm 5 – 10% khi biết bạn là khách nước ngoài.

Chuyện thứ hai: Không ồn nơi công cộng

Nguyên tắc không gây tiếng ồn được áp dụng triệt để tại Nhật. Tất cả đường cao tốc đều phải xây dựng hàng rào cách âm, để nhà dân không bị ảnh hưởng bởi xe lưu thông trên đường. Osaka bỏ ra 18 tỷ USD xây hẳn 1 hòn đảo nhân tạo để làm sân bay rộng hơn 500ha ngay trên biển. Lý do đơn giản chỉ vì “người dân không chịu nổi tiếng ồn khi máy bay lên xuống”.

Tại các cửa hàng mua sắm, dù đang vào mùa khuyến mãi, cũng không một cửa hàng nào được đặt máy phát ra tiếng. Tuyệt đối không được bật nhạc làm ồn sang cửa hàng bên cạnh. Muốn quảng cáo và thu hút thì cách duy nhất là thuê một nhân viên dùng loa tay, quảng cáo với từng khách.

Chuyện thứ ba: Nhân bản

Vì sao trên những cánh đồng ở Nhật luôn còn một góc nguyên, không thu hoạch? Không ai bảo ai, những nông dân Nhật không bao giờ gặt hái toàn bộ nông sản mà họ luôn để phần 5 – 10% sản lượng cho các loài chim, thú trong tự nhiên.

Chuyện thứ tư: Bình đẳng

Mọi đứa trẻ đều được dạy về sự bình đẳng. Để không có tình trạng phân biệt giàu nghèo ngay từ nhỏ, mọi trẻ em đều được khuyến khích đi bộ đến trường. Nếu nhà xa thì xe đưa đón của trường là chọn lựa duy nhất. Các trường không chấp nhận cho phụ huynh đưa con đến lớp bằng xe hơi.

Việc mặc đồng phục vest đen từ người quét đường đến tất cả nhân viên, quan chức, cho thấy một nước Nhật không khoảng cách. Những ngày tuyết phủ trắng nước Nhật, từ trên cao nhìn xuống, những công dân Nhật như những chấm đen nhỏ di chuyển nhanh trên đường. Tất cả họ là một nước Nhật chung ý chí, chung tinh thần lao động.

Văn hóa xếp hàng thấm đẫm vào nếp sinh hoạt hàng ngày của người Nhật. Không có bất cứ sự ưu tiên. Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu một ngày ở Nhật, bạn thấy người xếp hàng ngay sau lưng mình chính là Thủ tướng.

Chuyện thứ 5: Nội trợ là một nghề.

Ở Nhật Bản, hàng tháng chính phủ tự trích lương của chồng đóng thuế cho vợ. Do đó, người phụ nữ ở nhà làm nội trợ nhưng vẫn được hưởng các tiêu chuẩn y như một người đi làm. Về già, vẫn hưởng đầy đủ lương hưu.

Độc đáo hơn nữa là nhiều công ty áp dụng chính sách, lương của chồng sẽ vào thẳng tài khoản của vợ. Vai trò của người phụ nữ trong gia đình vì thế luôn được đề cao, tôn trọng.

Khi báo chí chỉ là công cụ của nhà cầm quyền

Khi báo chí chỉ là công cụ của nhà cầm quyền

Song Chi.

RFA

Giữa muôn vàn tin tức, sự kiện tiêu cực có, tích cực có (mà phần lớn là tiêu cực) xảy ra trong đời sống xã hội VN thời gian gần đây, thông tin về tinh trạng sức khỏe của ông Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là một trong những thông tin khiến người Việt trong và ngoài nước hết sức quan tâm.
Sau hơn một tháng “biến mất” một cách bí ẩn mặc cho mọi lời đồn đoán, đến ngày hôm qua, 25.7, ông Đại tướng được báo chí VN loan tin đã về đến Hà Nội từ Paris sau chuyến đi điều trị bệnh tại Pháp. Dù báo chí đã đưa tin, và báo Tuổi Trẻ còn có được một tấm hình quý hiếm chụp từ xa hình dáng một nhân vật trông hao hao ông Phùng Quang Thanh tại sân bay Nội Bài, nhưng không vì thế mà dư luận bớt nghi ngờ. Bởi nếu thực sự ông Phùng Quang Thanh còn sống và khỏe mạnh, chỉ cần một động tác đơn giản là để báo chí chụp cận mặt ông ấy hoặc để cho ông ấy xuất hiện ít phút trên truyền hình, nhà cầm quyền cũng không làm được.
Nhưng khác với nhiều người cho rằng dư luận đã thắng thế và nhà cầm quyền hoàn toàn bị động, lúng túng, vụng về trong suốt màn kịch về sự “mất tích và xuất hiện cũng như không” của ông Phùng Quang Thanh, người viết bài này lại nghĩ khác.
Đúng là xung quanh sự việc của ông Đại tướng, báo chí “lề dân” và các trang mạng xã hội tha hồ thoải mái, nhanh nhạy đưa tin, bình luận, săm soi trong lúc báo “lề đảng” bị trói tay, đưa thông tin gì, bao giờ đưa, đưa như thế nào…hoàn toàn phụ thuộc vào sự cho phép của đảng và nhà nước. Và đúng là nhà cầm quyền lúng túng trước cơn bão dư luận, cứ phải biện minh, bào chữa, và hễ đưa ra thông tin gì để bào chữa thì bị dư luận cầm kính lúp soi, vạch ra đủ thứ phi lý, mâu thuẫn, sai sót, khiến người dân càng nghi ngờ thêm. Nhưng cuối cùng đảng và nhà nước cộng sản VN vẫn dắt mũi được dư luận và đạt được mục đích của họ, đó là vẫn không ai biết được thực sự chuyện gì đã xảy ra cho ông Phùng Quang Thanh. Ông có thực sự phải vào bệnh viện Georges Pompidou ở Paris để trị bệnh không, và nếu có thì có đúng là bệnh về phổi, ông còn sống hay đã chết, sinh mạng chính trị của ông sắp tới sẽ ra sao cũng như nguyên nhân thực sự vì sao nhà cầm quyền phải ra sức giấu diếm, che chắn đằng sau câu chuyện này là gì.
Cũng giống như trước kia, với trưởng hợp của ông Nguyễn Bá Thanh, nguyên Trưởng Ban Nội chính Trung ương, phó trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Cho dù báo chí “lề dân” có phanh phui được việc ông Nguyễn Bá Thanh đang điều trị ung thư tại một bệnh viện ở Mỹ, có cả hình, thậm chí còn có thông tin ông bị đầu độc phóng xạ, buộc nhà cầm quyền phải lên tiếng, hay các trang mạng biết trước cả thông tin ông sẽ được đưa về VN ngày giờ nào…Nhưng tóm lại, vẫn không ai được nhìn hay nghe thấy hình, tiếng trực tiếp từ ông Nguyễn Bá Thanh kể từ lúc ông bị bệnh, dù ở nước ngoài hay lúc đã về nước, ông có thực sự chết vì bệnh rối loạn sinh tủy như tin chính thức cho hay, và chết vào ngày giờ nào (vì có người còn đặt nghi vấn trên chiếc máy bay từ Mỹ về có một vật rất giống cái hòm)…
Nghĩa là mặc dù nhà cầm quyền bị động, phải vất vả hết phủ nhận, chối cãi đến biện minh, nhưng cuối cùng, kẻ bị dắt mũi vẫn là nhân dân.
Cũng may mà thời bây giờ có internet, có tai mắt của người dân ở khắp nơi trong và ngoài nước mà đảng “ta” còn dắt mũi được dư luận như vậy, huống gì trước kia khi chưa có internet.
Có thể có những người cho rằng chuyện ông Phùng Quang Thanh còn sống hay đã chết, chết vì lý do gì thì có liên can gì đến ai, thêm hay bớt một quan chức, lại là một ông quan có tiếng thân Tàu thì có gì là quan trọng. Khi cả một hệ thống độc đảng độc tài “hèn với giặc ác với dân” vẫn còn tồn tại thì việc sống hay chết, lên hay xuống của một cá nhân cũng chẳng thay đổi được gì. Có thể nhưng lại cũng không hẳn là thế. Bởi trong tình hình hiện nay, mỗi một biến động xảy ra cho một cá nhân thuộc hàng cao cấp trong bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản VN đều cho thấy tình hình nội bộ bên trong đang rối ren như tơ vò, đấu đá lẫn nhau quyết liệt để tranh giành quyền lực cũng như hé lộ những bước đi chập chờn, nghiêng ngả của họ trong sự lựa chọn giữa ngã ba đường quốc tế, có ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước và dân tộc, tức là ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của từng người dân VN.
Quan trọng không kém, người dân cần phải biết rằng mình có quyền được biết sự thật mọi chuyện xảy ra cho đất nước và trong xã hội. Từ nguyên nhân vì sao giá xăng dầu tăng, tiền thuế của nhân dân đóng góp đi đâu, vì sao, cơ chế như thế nào mà một tay quan chức vụ không cao như Giang Kim Đạt (nguyên quyền Trưởng phòng Kinh doanh của Công ty TNHH MTV vận tải Viễn Dương Vinashin, thuộc Tập đoàn Vinashin) mà còn có thể tham nhũng đến gần 19 triệu USD và sẽ bị trừng phạt ra sao…cho đến tình trạng sức khỏe của một vị tướng, Bộ trưởng Bộ quốc phòng…tât cả đều phải minh bạch. Bởi vì chính nhân dân chứ không phải cái đảng cộng sản mới là chủ nhân thực sự của đất nước này, chính người dân phải đóng thuế nuôi cái bộ máy cầm quyền này.
Sự việc thứ hai, cũng thu hút sự quan tâm của dư luận, là vụ thảm sát khiến 6 người trong một gia đình chết thảm tại Bình Phước. Hai sự việc chẳng liên quan gì đến nhau, và lý do quan tâm của người dân vì vậy cũng hoàn toàn khác nhau, nhưng lại cho thấy những điểm chung mà hệ quả là từ một chế độ độc tài, không có một nền báo chí tự do, dân chủ. Đó là báo chí chỉ được đưa tin theo những gì mà nhà nước cho phép. Trong vụ sức khỏe của Đại tướng Phùng Quang Thanh là nguồn tin từ cấp nhà nước, còn trong vụ án mạng tại Bình Phước là tin tức do công an cung cấp.
Ở các nước tự do, dân chủ trong khi đang điều trị bệnh hoặc tệ nhất, sau khi điều trị xong trở về, một nhân vật cỡ Bộ trưởng Bộ quốc phòng như ông Thanh phải có “nghĩa vụ” xuất hiện trước truyền thông bằng cách này cách khác đề thông báo cho nhân dân an tâm rằng mình vẫn còn sống, vẫn minh mẫn, vẫn có thể tiếp tục làm việc. Còn trong những vụ án, đặc biệt án gây chấn động dư luận như vụ án tại Bình Phước, cảnh sát phải có nghĩa vụ họp báo ngay tức khắc để thông tin chính xác cho báo chí và sau đó thường xuyên cập nhật tin tức, chứ không phải đợi mấy ngày sau mới họp báo rồi còn trách báo chí đưa tin không đúng điểm này điểm kia.
Cả hai sự việc đều cho thấy lòng tin của người dân đối với nhà cầm quyền đã sút giảm một cách nghiêm trọng, trừ một thiểu số vẫn cứ nhà nước nói gì là nghe là tin nấy, bây giờ đối với đa số người VN nhà nước nói gì cũng không tin hoặc chỉ tin một phần nào. Trong câu chuyện về ông Phùng Quang Thanh, người dân hoàn toàn có lý do để nghi ngở bởi mới trước đó không lâu, nhà cầm quyền cũng tìm cách che chắn xung quanh vấn đề sức khỏe của một ông Thanh khác, ông Nguyễn Bá Thanh. Và lần này nhà cầm quyền cũng lại có thái độ loanh quanh dấu đầu hở đuôi, vụng về không khác. Còn trong vụ án Bình Phước, người dân nghi ngờ vì sao phá án quá nhanh, có bị tác động gì từ sức ép của dư luận không, vì sao có quá nhiều điểm còn nghi vấn, vì sao không cho thực nghiệm lại hiện trường… Nhưng lý do trên hết vẫn là vì từ trước tới nay đã có quá nhiều vụ án oan sai, người bị bắt thừa nhận tội ác dù không thực hiện chỉ vì bị nhục hình, bị bức cung.
Sự mất lòng tin này là hậu quả mà nhà cầm quyền xứng đáng nhận lãnh, bởi đã hàng triệu triệu lần dối trá bưng bít, bóp méo sự thật với nhân dân.
Trong một chế độ độc tài, số phận của mọi người dân-từ những thân phận tầm thường như những nghi phạm trong vụ án Bình Phước cho tới một nhân vật chính khách cấp cao như ông Phùng Quang Thanh đều hết sức mong manh. Càng leo cao càng bấp bênh. Đến lúc đảng không cần nữa thì cho sống hay chết, lúc nào mới được chết, cho thân bại danh liệt theo kiểu nào là tùy đảng. Số phận của ông Phùng Quang Thanh và phản ứng của số đông dân chúng trong suốt thời gian qua may ra có thể khiến cho những nhân vật khác trong bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản VN phải suy nghĩ, rằng trung với đảng có ngày cũng bị chính các đồng chí của mình hãm hại, mà dân thì oán ghét. Chi bằng trung với dân với nước, khi còn tại vị cố gắng sống cho tử tế, tìm cách thoát khỏi đảng hoặc ít nhất, tìm cách lái đảng đi theo con đường dân chủ hóa, thoát Trung, gần với các nước dân chủ để cứu nước, thì còn được lòng dân. Có dân bên cạnh lo gì không làm được tất cả.
Không phải đợi đến bây giờ, từ những vụ việc như thông tin về tình trạng sức khỏe và sinh mệnh chính trị của Đại tướng Phùng Quang Thanh hay vụ án Bình Phước, mới cho thấy sự cần thiết phải có một nền báo chí tự do dân chủ. Không có một nền báo chí tự do, độc lập, nhà cầm quyền còn dắt mũi người dân dài dài, đảng còn thao túng đất nước dài dài, từ cái thuở xa xưa xung quanh nhân thân, lý lịch, cái chết của ông Hồ Chí Minh cho tới tận bây giờ. Không có báo chí tự do dân chủ, một vụ án hình sự như Bình Phước, khó mà biết được liệu có oan sai hay ít nhất, có bỏ lọt tột phạm, nguyên nhân vụ án có thực là vì ghen tuông cộng với tiền bạc hay có ai đứng đẳng sau thuê giết người vì lý do khác…; cho tới những “nghi án chính trị” như kiểu Nguyễn Bá Thanh, Phùng Quang Thanh, có thực là những vụ triệt hạ lẫn nhau bằng đủ mọi cách mờ ám v.v…

Tất nhiên, có một nền báo chí tự do không đủ, phải có một thể chế chính trị đa đảng, tam quyền phân lập để hạn chế quyền lực trong tay một đảng lãnh đạo duy nhất.

Và cuối cùng về phía người dân, bài học nhỏ cho những ai còn một lòng một dạ tin vào nhà cầm quyền, vào hệ thống báo chí của đảng, đó là khi phải sống trong một chế độ độc tài toàn trị ở đó luật pháp hay báo chí đều nằm trong tay nhà cầm quyền, người ta phải tập cách “đọc giữa hai dòng chữ” từ những gì mà nhà nước nói, báo chí của đảng nói, tập phân tích, phán đoán sự việc bằng cái đầu của mình, thay vì cứ nhất nhất tin theo.

Những câu hỏi về ông Phùng Quang Thanh

Những câu hỏi về ông Phùng Quang Thanh

Nguyễn An Dân

27-07-2015

Ông Phùng Quang Thanh có xuống sân bay Nội Bài ?

Hơn một tháng kể từ khi ông Bộ Trưởng Quốc Phòng Việt Nam- Phùng Quang Thanh “mất tích” trước công chúng và truyền thông, sáng ngày 25/07/2015, theo báo đảng thì “Ông Thanh đã về đến sân bay Nội Bài và khỏe mạnh, vẫn giữ tác phong đĩnh đạc và tươi cười vẫy tay chào mọi người khi bước xuống cầu thang máy bay”.

Trong suốt thời kỳ ông Thanh “biến mất”, theo thông báo chính thức của Ban bảo vệ sức khỏe trung ương thì ông Thanh “đi Pháp từ ngày 24/06/2015 để chữa bệnh về phổi chứ không đi công vụ”.

Trong khi những lời diễn tả rất sinh động và gợi nên niềm tin trong lòng độc giả về việc trở về của ông Thanh tại sân bay thì phần hình ảnh lại trái ngược. Báo chí khi đưa hình đều chỉ đăng như nhau một hình ảnh “một người được gọi là Ông Phùng Quang Thanh” chụp từ xa, không rõ nét, của phóng viên báo Tuổi Trẻ đang chuẩn bị lên xe ở khu vực sân bay Nội Bài.

Cùng ngày, Báo Quân Đội Nhân Dân và website Bộ Quốc Phòng Việt Nam, đã không hề đưa tin gì về việc ông Thanh khỏe và đã về đến Việt Nam, hay là sức khỏe của ông đứng đầu Bộ Quốc Phòng không quan trọng đối với 2 cơ quan thông tin này, nên họ không cử phóng viên ra sân bay làm tin ?

Ngày 26/07/2015, một số báo chí Việt Nam có đưa tin tiếp là nhiều lãnh đạo đảng, chính phủ như ông Nguyễn Phú Trọng, Ông Trương Tấn Sang, Ông Nguyễn Xuân Phúc.. đến gặp và trò chuyện với ông Phùng Quang Thanh nhưng cũng không có hình ảnh nào khi các ông này gặp nhau.

Dư luận đang có nhiều đồn đoán về sự mất đoàn kết, chia rẻ giữa đảng và chính phủ, giữa các quan chức với nhau, đảng đã luôn nói “ đó là sự tuyên truyền sai trái của thế lực thù địch”. Như vậy một vài tấm hình các quan chức thăm viếng nhau sau hơn một tháng xa cách, sẽ là bằng chứng quan trọng thể hiện sự đoàn kết mà đảng luôn nhấn mạnh, tại sao không thực hiện và đưa lên cho công chúng xem để “phản bác thông tin sai trái của các thế lực thù địch” ?

Vì sao ông Thanh “biến mất

Bản tin chính thức cuối cùng về ông Thanh là trên báo Quân Đội Nhân Dân, ngày 20/6/2015 đã loan tin là “ông Thanh thăm và làm việc với Bộ Trưởng Quốc Phòng Pháp hôm 19/6, kèm theo ảnh chụp. Sau đó là một sự vắng bóng hoàn toàn, thậm chí kết quả ông Thanh đi Pháp thế nào, cũng hoàn toàn không có báo chí nào nhắc đến. Tại sao lại thông tin về chuyến công du và hợp tác này bị “lờ đi” ?

Đến khi dư luận bắt đầu rộ lên về việc ông Phùng Quang Thanh “biến mất” ban bảo vệ sức khỏe trung ương phát biểu, mà phần lớn “phát ngôn chính thức” là ông bác sĩ Phạm Gia Khải. Ông Khải đã nói Ông Thanh đi Pháp trị bệnh từ ngày 24/6/2015 sau khi chúng tôi hội chẩn, chứ không có đi Pháp vì công vụ.

Tin từ báo Quân Đội Nhân Dân và ông Phạm Gia Khải đều được coi là “chính thức”, có lẽ nào ông Thanh ngày 19/06/2015 bắt tay Bộ trưởng Quốc Phòng Pháp, ngày 20/06/2015 trở về Việt Nam, và sau 2 ngày “hội chẩn” thì ngày 24/06/2015 lại sang Pháp trị bệnh ? Vì sao ông Thanh đi Pháp công du giữa tháng 6/2015 mà ông Khải và truyền thông Việt Nam lại phủ nhận và “lờ đi” ?

“Thông tin chính thức” mà còn đá nhau như vậy nên đã làm rộ lên các thông tin đồn đoán, nào là Ông Thanh bị ám sát khi còn ở Pháp, cùng với các thông tin khác như bị bắt giam ở Việt Nam, đã tị nạn sang Trung Quốc vì “thuộc phe Thân Tàu”…

Về tin ông Thanh bị ám sát ở Pháp e rằng không thực tế. Ông Thanh đến Pháp trên tư thế quốc khách, nếu ông bị ám sát thật thì chính phủ và truyền thông Pháp phải vào cuộc và loan tin chính thức vì nó ảnh hưởng đến quốc thể của họ, đằng này phía Pháp không nói gì cả, cho thấy nhận định này thiếu sự hợp lý.

Về tin ông Thanh trốn sang Trung Quốc vì do bị “phe thân Mỹ” chèn ép thì cũng có đôi lời góp ý. Các phe phái trong đảng dù tranh chấp thế nào, nhưng trước công luận họ luôn giữ hình ảnh ổn định. Trung Quốc đang là kẻ xâm lược biển đảo Việt Nam, thì khả năng đảng để ông Thanh “sổng qua Trung Quốc” là rất thấp. Một vụ việc như thế lúc này sẽ làm quần chúng nhận định “có bao nhiêu quan chức cao cấp của đảng tư thông với địch”, điều này sẽ làm đảng mất uy tín nghiêm trọng và khó thể biện giải .

Nên tôi nhận định dù Ông Thanh có muốn trốn đi tị nạn chính trị ở Trung Quốc đi nữa, đảng cũng không cho phép điều đó xảy ra, dù phe thân Tàu hay thân Mỹ cũng thế.

Thông tin còn lại duy nhất là hiện ông Thanh đang bị giam lỏng nên không xuất hiện được. Thông tin này theo tôi có cơ sở căn cứ vào những diễn biến trong đảng và cách đảng thông tin về ông Thanh hiện nay.

Tiến có thể công, lùi có thể thủ

Trong cách thông tin về “bệnh nhân Phùng Quang Thanh” của đảng có những nét khác với cách thông tin về “bệnh nhân Nguyễn Bá Thanh” trước đây mà bạn đọc cần lưu ý, dù rằng đảng đang nói hai người khi biến mất đều “ đi chữa bệnh” như nhau.

Đảng khi thông tin về ông Bá Thanh, phát ngôn lạc quan nhất, như “ăn hết một tô cháo”, cũng đều lưu lại một đường lùi cho đảng, đó là “ bệnh suy tủy rất khó trị và sẽ còn diễn biến phức tạp”. Chính câu này nên nhiều người đã đoán trước là sau đó, đảng sẽ công bố ông Thanh chết, và kết quả đúng y như dư luận đánh giá.

Ngược lại, dù hình thức thông tin là như nhau, nghĩa là ông Phùng Quang Thanh cũng bệnh, cũng biến mất như ông Bá Thanh kia nhưng đảng vẫn nói “ông Thanh khỏe lắm, và đã vào Bộ Quốc Phòng làm việc, có ông A, bà B đến thăm trò chuyện vui vẻ”…nhưng không có hình ảnh.

Như vậy chứng tỏ các cuộc thăm viếng trò chuyện này e rằng không có thực. Nhưng đảng vẫn kiên trì nói ông Thanh khỏe, đã làm việc lại kiểu “không chừa đường lùi” cho đảng là ông Thanh sẽ được công bố chết (vì đã chết), như kiểu mô tả ông Bá Thanh kia. Thành ra tôi nghĩ ông Thanh quân đội vẫn còn sống và khỏe mạnh, chỉ là bị giữ lại ở đâu đó, có cái gì đó chưa xong nên chưa được tự do trước công chúng.

Ai đã bắt giữ ông Phùng Quang Thanh ?

Trong đảng đang có sự tranh chấp đường lối giữa 2 phe thân Tàu-Thân Mỹ như chúng ta đã biết, thì việc người ta đánh giá ông Phùng Quang Thanh thuộc phe thân Tàu cũng có lý do của nó, căn cứ vào những phát ngôn và ứng xử trong quan hệ Việt-Trung của ông này lâu nay.

Cũng trong tình thế Trung Quốc đang lấn lướt Việt Nam, và có khả năng cũng đang giật dây Campuchia gây hấn vùng Tây Nam Việt Nam, thì việc một ông bộ trưởng quốc phòng có xu hướng “thân Trung Quốc” trong cơ cấu lãnh đạo an ninh tối cao là điều mà phe thân Mỹ dĩ nhiên quan ngại.

Dân chúng cũng quan ngại, trong tháng 5/2015, đã có nhiều ý kiến cử tri, nhất là ở thành phố Đà nẵng, kiến nghị quốc hội chất vấn ông Phùng Quang Thanh, trên tư cách người có trách nhiệm cao nhất về an ninh quốc gia, phải chịu trách nhiệm gì trước hiện trạng Trung Quốc bành trướng Biển Đông (6).

Một khi quan điểm chính trị cũa ông Thanh làm phe thân Mỹ và quần chúng quan ngại như thế, việc bắt giữ để buộc ông Thanh trao lại quyền lực là vấn đề phải làm, chỉ còn là làm như thế nào?

Tôi loại trừ khả năng ông Thanh bị ám sát chết vì những lý do sau đây

– Khác với cái chết đầy nghi vấn khác gần đây của tướng Ngọ hay ông Bá Thanh, được hồ nghi là để ngăn chặn mở rộng điều tra vụ án tham nhũng-hối lộ cực lớn có dính đến một số quan chức tầm ủy viên Bộ Chính Trị nên nó có khả năng là thanh trừng bịt miệng (nếu không do bệnh). Còn ở đây, việc loại trừ ông Phùng Quang Thanh hoàn toàn là thay đổi xu hướng đối ngoại. Chúng ta cần phân biệt rõ ám sát để bảo vệ phe nhóm thì hay diễn ra, còn thay đổi xu hướng chính trị thì chỉ cần chính khách buông ra quyền lực thì sẽ ít bị ám sát.

– Trong bối cảnh nhóm thân Mỹ cần sự ủng hộ rộng rãi của ban chấp hành Trung Ương vì bầu bán sắp đến, việc ám sát một quan chức thuộc phía đối lập chỉ vì khác quan điểm chính trị trong lúc còn thỏa hiệp được là điều rất không khôn ngoan, và nó có thể gây phản tác dụng. Các quan chức cùng thân Trung Quốc khác như ông Thanh biết ông đã bị ám sát chết thì chỉ mau chóng đẩy họ vào hoàn cảnh đường cùng phải tự vệ quyết liệt, và nó sẽ không hay cho phe thân Mỹ

Chúng ta thấy hiện nay trong đảng đang có sự chuyển giao quyền lãnh đạo quân đội từ phe Thân Trung sang phe Thân Mỹ. Và vì thế, ông Thanh cần bị cô lập để tiến trình này được xúc tiến yên ả. Cũng như việc cho ông Thanh rời ghế lãnh đạo quân đội trong bối cảnh an ninh quốc gia bị Trung Quốc và Campuchia đe dọa có vẻ là một quyết định hợp lòng dân.

Có một nhận định khác cho rằng dù trong hơn 1 tháng qua, quá trình chuyển giao có xong thì cũng chưa thả ông Thanh ra được, vì phe thân Mỹ muốn gieo rắt sự khó hiểu cho tình báo Trung Quốc. Một khi chưa biết rõ quyết định của nhóm thân Mỹ về ông Thanh, thì phía Trung Quốc sẽ khó đưa ra quyết định chính xác để giải quyết vấn đề Việt Nam. Việc Tập Cận Bình ngỏ ý muốn sang thăm Việt Nam sắp đến chính là một phần để giải tỏa nghi vấn này và dễ dàng đưa ra quyết định chính xác chăng ?

Về đối nội, việc phe thân Mỹ kiên trì bắt giữ ông Thanh và cứ công bố ông Thanh khỏe, phải chăng là để “vừa đe dọa vừa trấn an” những nhân sự cao cấp khác trong đảng thuộc phe trung lập không trở cờ vào kỳ bầu bán ở Đại Hội Đảng 12 sắp đến ? đại loại như “Cỡ Phùng Quang Thanh mà còn bị chúng tôi tạm giữ, các ông khác thì chúng tôi ngại gì nếu cần” ?

Cũng vậy, về phía phe thân Trung Quốc, tôi nghĩ họ đồng ý thỏa hiệp cùng phe thân Mỹ công bố thông tin Thanh còn khỏe cũng là để trấn an người của phe này, đại khái là “ dù nhóm thân Mỹ có bắt giữ ông Thanh, nhưng hãy yên tâm là ông Thanh còn sống”.

Thế là cả hai bên đều đồng ý cùng nhau thông tin “ÔngThanh đã khỏe và đĩnh đạc, đã về bộ làm việc lại” nhưng không có hình ảnh nào, như chúng ta đã thấy trên báo chí của đảng.

Khi nào ông Thanh xuất hiện là câu hỏi hiện nay đang nóng. Tôi không dám đưa ra dự đoán vì các quyết định chính trị trong các thể chế độc tài thường chỉ mang tính ngắn hạn và bất định, tuy nhiên tôi có thể đánh giá việc ông Thanh xuất hiện sớm hay muộn nó phụ thuộc vào cuộc thăm viếng cao cấp của Việt-Trung sắp đến, vào kết quả của Hội Nghị TW Đảng 12 vào cuối năm, vào diễn biến biên giới Việt Nam-Campuchia, vào diễn biến biển Đông.

Và cũng còn một khả năng cuối cùng, là một ngày nào đó, đảng sẽ thông tin là ông Thanh ra đi vì một bệnh cấp kỳ nào đó như tim mạch, đột quỵ vào lúc kết cuộc của bàn cờ chính trị Việt Nam, Khi mà vai trò con xe của ông Thanh trên bàn cờ an ninh quốc gia đã không còn cần thiết. Cái mốc kết thúc ván cờ chuyển đổi xu hướng chính trị lần này là Đại Hội 12 của đảng.

_____

Các thông tin dẫn trong bài:

http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20150725/dai-tuong-phung-quang-thanh-da-ve-den-ha-noi/782886.html

http://nguyentandung.org/tin-moi-nhat-ve-suc-khoe-dai-tuong-phung-quang-thanh.html

http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20150726/tong-bi-thu-truc-tiep-tham-dai-tuong-phung-quang-thanh/783360.html

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/quan-doi/tang-cuong-hop-tac-quoc-phong-gop-phan-thuc-day-quan-he-doi-tac-chien-luoc-viet-phap/365010.html

http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/bo-truong-phung-quang-thanh-se-dieu-tri-o-phap-2-3-tuan-2015070217103184.htm

http://nguyentandung.org/sao-khong-thay-quoc-hoi-chat-van-bo-truong-quoc-phong.html