Huyện Cẩm Giàng nói không có chuyện máy xúc cán dân
|
Người dân không cho di chuyển máy xúc khỏi hiện trường – Ảnh: Tiến Thắng
|
![]() Chiều tối 10-7, bà Châm tỉnh táo và đã có thể hút sữa – Ảnh: Tiến Thắng
|

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
|
Người dân không cho di chuyển máy xúc khỏi hiện trường – Ảnh: Tiến Thắng
|
![]() Chiều tối 10-7, bà Châm tỉnh táo và đã có thể hút sữa – Ảnh: Tiến Thắng
|
CĂN TÍNH NGƯỜI MÔN ĐỆ CỦA THẦY GIÊSU
Am 7, 12-15; Ep 1, 3-14; Mc 6, 7-13
Hẳn nhiên, ai cũng biết rằng phàm là người thì cần phải có cơm ăn, áo mặc và những dụng cụ để phòng thân. Cơm, áo, gạo, tiền … là những mối lo âu thiết thực nhất hay nói đúng hơn đó là nỗi sợ của con người. Đơn giản dễ hiểu đó là thực chất nếu như con người thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu tiện nghi cơ bản cho cuộc sống thì con người không sống được cũng như chẳng làm được gì.
Ta thấy vật chất, tiền bạc … rất gần và rất cần cho con người cũng như những người gọi là môn đệ đi theo Chúa. Cần và cần nhiều nữa là khác thế nhưng hôm nay ta bắt gặp hình ảnh hay nói cách khác là lời mời gọi hay nói đúng hơn là lệnh truyền của Thầy Giêsu : Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo (Mc 6, 8.9).
Người môn đệ sống như thế nói thẳng ra là “chết chắc” vì chẳng có cái gì gọi là phòng thân cả. Sống như thế nghĩa là sống chỉ biết ngày hôm nay, ngày mai có ngày mai lo !
Thoạt đầu, khi nghe những lời ấy ta cảm thấy khó chịu, cảm thấy sốc thế nhưng Nước Thiên Chúa là như vậy đó ! Nước Thiên Chúa là Nước không phải thuộc thế gian để người người lo phòng thủ, lo vun vén cho mình được càng nhiều càng tốt.
Nói hơi lý thuyết một chút, lời mời gọi của Thầy Giêsu gởi các môn đệ quả là chí lý, là có căn cơ, có cơ sở chứ không phải là lời mời gọi vu vơ. Căn tính của người môn đệ, của thành viên Nước Thiên Chúa, của công dân Nước Trời là như vậy. Nước Trời, Nước Thiên Chúa dành cho những tâm hồn đơn sơ, bé mọn và mãi luôn tín thác vào Thiên Chúa. Người đó sẽ không hề phải phụ thuộc vào thế gian, không phải quỵ lụy thế gian cũng như không hề có ý định hay ý định vun vén thế gian vào lòng mình.
Thật ra, thật giằng co khi con người sống ở giữa thế gian mà lại mời gọi họ từ bỏ những gì thuộc về họ, thuộc về thế gian. Đơn giản dễ hiểu là con người cần tiền, cần vật chất, cần quyền, cần danh để sống giữa cuộc đời. Nay lại bảo phải từ bỏ e rằng khó.
Chính khi nghe lại lời mời gọi này, ta lại bắt gặp hình ảnh của ta về căn tính người môn đệ chân chính của Chúa.
Nếu như cuộc sống của ta, ta cảm thấy bình an, ta cảm thấy đủ với những gì ta đang có thì ta thật hạnh phúc bởi lẽ ta đã thấy đủ. Khi ta tạm gọi là “dừng cuộc chơi” nghĩa là khi ta ý thức được chuyện không phải thủ cái gì cho đời ta cả.
Chắc có lẽ, chính có ta mới lượng giá được căn tính người môn đệ có ở trong ta như thế nào ?
Có khi ta biện minh rằng ta cần cái này cái kia cho cuộc sống để rồi ta chạy đi tìm, đi sắm, đi trang bị. Nực cười là ta quá lo lắng để ta đi tìm những cái để thủ cho đời ta mà những thứ đó chính ta tự nghĩ ra.
Giản đơn nhất để thấy điều đó là thi thoảng ta chịu khó dọn cái phòng của ta. Thật ngạc nhiên khi ta thấy cứ ngày mỗi ngày cái phòng của ta chật lại và đường đi hẹp lại vì ta vun vén quá nhiều. Ta không chỉ lo cho ngày mai mà lo cả lo cho ngày mốt, ngày kia, ngày kìa nữa … có những thứ mà ta cố sắm nhưng chẳng bao giờ xài đến, chẳng bao giờ đụng đến cả.
Hay là, ta thử dừng lại để ta dọn lòng ta thử. Khi dọn lòng, ta sẽ thấy lòng ta vẫn còn đó bề bộn, vẫn còn bừa bãi bởi những thứ làm cho ta nặng nề không thanh thoát đủ để bước lên đường rao giảng Tin Mừng như Chúa mời gọi. Có khi lòng ta còn nặng nề bởi sự sân hận, bởi sự ganh ghét anh chị em đồng loại.
Có lẽ, hài nhất và thực tế nhất đó chính là chuyện Chúa bảo là anh em không được mặc hai áo. Hai áo ở đây ta có thể hiểu được cả về cái áo vật chất và cả cái áo tâm hồn của ta.
Chúa đã trang bị, Chúa đã cho ta cái áo thật tinh tuyền nhưng rồi ta lại tự trang bị cho ta những cái áo giáp. Những cái mà ta tìm, ta trang bị xem ra không phù hợp với cái y phục tiệc cưới Nước Trời mà Chủ tiệc cưới mời gọi. Những cái áo mà ta trang bị nó được thêu dệt nên bởi sự giả tạo, sự giả dối của ta nhằm che mắt thiên hạ cũng như mắt Chúa. Thế nhưng, duy chỉ mình Chúa mới là người nhìn thấy suốt lòng ta, thấu suốt những chiếc áo của đời ta.
Về chiếc áo vật chất theo cách hiểu bình thường như Chúa nói đó. Chúa mời gọi mỗi người hãy sống hết lòng đơn giản, đừng trang bị cho mình hai áo cũng như những chiếc áo lụa là gấm vóc … Hãy mặc lấy cho mình một chiếc áo thôi, còn mọi chuyện khác Chúa sẽ quan phòng và Chúa sẽ an bài.
Nhắc đến chuyện này, tôi cũng cảm thấy ngượng về chính bản thân mình. Có khi tôi cũng tự nghĩ rằng mình sống giản đơn, ít quần áo nhưng xem ra còn nhiều hơn bậc thầy của mình mấy bậc.
Tôi có một người thầy, phải nói rằng Thầy là mẫu gương cho sự thanh thoát, nhẹ nhàng từ “cấu hình” cho đến “hình thể”. Cấu hình của Thầy thật mỏng manh, mảnh mai… nhìn vào Thầy, ai ai cũng thấy được một sự hãm mình về chuyện ăn uống. Và thật là như thế ! Thầy giản đơn từ cách ăn cho đến kiểu mặc. Nhìn tới nhìn lui, Thầy chỉ có đúng 3 bộ đồ trong người chứ không tìm thấy hơn nữa.
Quả chăng, Thầy chính là người gần nhất để tôi soi rọi đời mình. Nhìn Thầy, có khi chợt nhận ra rằng mình còn vun vén hơn Thầy của mình nhiều.
Và hôm nay, bắt gặp trang Tin Mừng mà Thầy Giêsu nói về căn tính người môn đệ, tôi không còn giật mình nữa mà giật bắn cả mình và thót cả tim khi nhìn lại bản thân mình về vật chất. Có khi đã được nghe nhiều, nói nhiều, dạy nhiều nhưng những bài học đó cũng như lời mời gọi của Thầy bị tôi bỏ ngoài tai. Chính vì bỏ ngoài tai lời của Thầy Giêsu nên tôi cứ mãi miết lo lắng cho mình về sự đời. Nhưng, nhìn thực tế, Chúa có để cho ai phải đói, phải không có cơm ăn áo mặc đâu mà ta lại cứ mãi lăn tăn. Chính vì ham hố, chính vì thiếu niềm tin vào Thầy Giêsu để rồi ta cứ lăn tăn đi tìm, trang bị cho mình những thứ phù du, nay còn mai mất.
Ta sẽ mang theo được gì khi đi đến mộ phần ?
Cũng nghe nhiều nhưng mới đây, nghe một bác dược sĩ già đam mê âm nhạc đã diễn tả lòng mình qua ca khúc quen thuộc của cố nhạc sĩ họ Trịnh :
“Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Để một mai vươn hình hài lớn dậy
Ôi cát bụi tuyệt vời
Mặt trời soi một kiếp rong chơi
Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Để một mai tôi về làm cát bụi
Ôi cát bụi mệt nhoài
Tiếng động nào gõ nhịp không nguôi
Bao nhiêu năm làm kiếp con người
Chợt một chiều tóc trắng như vôi
Lá úa trên cao rụng đầy
Cho trăm năm vào chết một ngày”
Tất cả cũng trở về cát bụi, tất cả cũng chỉ là phù vân để rồi ta cứ mãi chạy đi tìm và lấp đầy lòng ta cát bụi và phù vân.
Tạ ơn Chúa vì ngày hôm nay Chúa lại nhắc nhớ ta về thân phận con người, cách riêng về căn tính của người môn đệ.
Xin Chúa thêm ơn cho ta để ta rũ bỏ tất cả những gì là vướng bận ta không trở thành người môn đệ chân chính. Xin cho ta có một tâm hồn trẻ bé để luôn luôn tín thác đời ta trong tay Chúa vậy.
Tác giả: Huệ Minh
THẾ GIỚI ĐANG ĐI VỀ ĐÂU ?
Tác giả: Lm. PX. Ngô Tôn Huấn
Câu hỏi đặt ra không liên quan gì đến vấn đề chính trị, kinh tế, quân sự của thế giới , mà chủ yếu là suy tư về vấn đề luân lý và đạo đức ( moral & ethics) của thế giới hôm nay mà thôi
Thật vậy, những ai quan tâm đến luân lý , đạo đức thì phải ngao ngán trước thực trạng suy đồi nghiêm trọng về cả hai mặt này của thế giới hôm nay, đặc biệt là ở những quốc gia có truyền thống Kitô Giáo, như Ý , Đức, Pháp , Tây Ban Nha, Ái Nhĩ Lan ( Ireland) Anh Quốc, Canada và Hoa Kỳ. Đây là những quốc gia có đông người theo Kitô Giáo ( Công Giáo, Chính Thống, Tin Lành, Anh Giáo) nhưng nay lại sống phản Kitô giáo ( anti-Christianity) cách rõ nét khi cho phép những thực hành vô luân vô đạo như làm ngơ cho sách báo, phim ảnh khiêu dâm được tự do lưu hành, cho li dị, phá thai và hôn nhân đồng tính ( same sex marriage)
Đây là một thực trạng đáng buồn, đáng xấu hổ cho những ai thành tâm muốn sống cốt lõi của niềm tin Kitô Giáo và hãnh diện là tín hữu Kitô.(Christians)
Sở dĩ thế, vì con người khác thú vật nhờ có đời sống tâm linh, có ý thức luân lý ,đạo đức, khác biệt với loài vật chỉ có bản năng và hoàn toàn vô tri.Và đó là lý do tại sao vấn đề luân lý, vấn đề thưởng phạt chỉ đặt ra riêng cho con người mà thôi.
Nhìn vào thực trạng của thế giới hôm nay, người ta phải đau buồn vì các quốc gia có truyền thống Kitô Giáo nói trên đang tiến nhanh, tiến mạnh trên đường suy thoái đạo đức và luân lý, khi họ làm ngơ –hay tệ hại hơn nữa- là cho phép những thực hành mà tự bản chất là phi luân, vô đạo, như cho phép kỹ nghệ dâm ô ( pornography) tự do tung hoành, gây tác hại tinh thần cho giới trẻ và người lớn, cho phá thai, li dị , và nay là hôn nhân đồng tinh, (same sex marriage) như một thách đố có tác dụng phá đổ nền tảng gia đình dựa trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ.
Gia đình -từ ngàn xưa- là nên tảng của mọi xã hội con người, là hy vọng của mọi dân tộc, – và cách riêng- là tương lai của Giáo Hội. Gia đình chỉ có ý nghĩa trọn vẹn khi có người làm cha, làm mẹ, làm chồng làm vợ. Con cải phải có cha có mẹ thì mới thực sự cảm nhận mình là con cái.
Vậy mà nền tảng gia đinh dựa trên những tương giao căn bản cần thiết nói trên đang bị các xã hội bệnh hoạn trên đây phá đổ, khi họ cho định nghĩa lại ý nghĩa và mục đích của hôn nhân để cho phép hôn nhân đồng tính.
Điều này, trước hết, hoàn toàn đi ngược lại mục đích của Thiên Chúa khi tạo dựng con người có nam có nữ và truyền cho họ mệnh lệnh “ phải sinh sôi nẩy nở cho thật nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất.” ( St 1: 28).
Đây là nên tảng luân lý, đạo đức và là mục đích của hôn nhân giữa một người nam và một người nữ từ khi có con người trên mặt đát này.
Vậy mà nay các xã hội bệnh hoạn nói trên cho phép hai người nam hay hai người nữ kết hôn, và gọi đó là hôn nhân như hôn nhân của một người nam và một người nữ từ xưa đến nay, thì làm sao chu toàn được mục đích nói trên của hôn nhân theo ý muốn của Thiên Chúa; nếu các quốc gia có truyền thông Kito Giáo nói trên còn tin có Thiên Chúa là Đấng tối cao, đã tạo dựng muôn loài muôn vật hữu hình và vô hình ?
Nếu tin có Thiên Chúa thì phải thi hành những gì Ngài mong muốn cho con người sống và làm để được chúc phúc ngay từ ở đời này trước khi được cứu độ để vào Nước Trời vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu mai sau.
Do đó, cho muc đích sống theo đường lối của Thiên Chúa, con người phải sống một đời sống luân lý và đạo đức, để phân biệt mình với những kẻ vô thần ( atheists), không tin có Thiên Chúa và luân lý phổ quát ( universal moral).
Liên can đến vấn đề hôn nhân đồng tính, nếu cha mẹ của những người đang tán thành hôn nhân đồng tính, cũng là những người đồng tính, thì làm sao sinh ra được họ, để giờ đây họ nhắm mắt bịt tai công nhận hôn nhân giữa hai người đồng tính ? cha mẹ của họ phải là một người nam và một người nữ kết hôn đúng nghĩa với nhau thì mới sinh ra họ, và xã hội con người ở khắp nơi mới tồn tại cho đến ngày nay.
Nay vì muốn chiều theo ý muốn ngang trái của một thiểu số người sinh ra với khuynh hướng bất thường về phái tính ( abnormally sexual tendency), người ta đã tán thành và cho phép hôn nhân đồng tính như một định chế tương đương với hôn nhân truyền thống giữa một người nam và một người nữ, như thực trạng của xã hội loài người từ xưa đến nay.
Chúng ta không lên án những người sinh ra với khuynh hướng khác thường nói trên. Nhưng chúng ta không thể công nhận việc công khai sống chung của họ là hôn nhân, như đại đa số những người bình thường khác , đã kết hôn cho mục đích duy trì nòi giống, và chu toàn trách nhiệm của hôn nhân theo ý muốn của Thiên Chúa, là Đấng đã tạo dựng con người có nam có nữ và đã se kết họ trong giao ước hôn nhân để công tác với Chúa trong chương trình sáng tạo nhằm có đông con người sinh ra trong trần thế này.
Chúa Kitô , khi xuống trần gian làm Con Người, cũng đã chọn sinh ra trong một gia đình có mẹ thật là Đức Trinh Nữ Maria, thụ thai nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, và có cha nuôi là Thánh Cả Giuse. Đức Trinh Nữ Maria và Thánh Giuse chắc chắn là những người bình thường về mọi mặt như mọi con người khác. Hai ông bà kết hôn vì phong tục tập quán của xã hội Do Thái và cũng vì thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa chọn cho Con Một của mình là Chúa Giê su- Kitô sinh r a bởi Đức Trinh Nữ Maria nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Nhưng trước mặt người đời, Mẹ Maria không thể có con mà không có chồng. Vì thế, Thánh Giuse đã được chọn để đóng vai người chồng của Mẹ Maria trước mặt người đời. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, hai ông bà đều là những người yêu mến đức đồng trinh và muốn tôn vinh Thiên Chúa với đời sống khiết tịnh vẹn toàn của mình.
Thánh gia thất Chúa Giê su, Mẹ Maria và Thánh Giuse là khuôn mẫu cho mọi gia đình nhân loại. Gương mẫu cho mọi con cái , cho những người làm cha ,làm chồng, làm vợ và làm mẹ .Đây là thánh ý của Thiên Chúa cho những ai được ơn gọi sống bậc hôn nhân để làm cha, làm chồng, làm vợ và làm mẹ để nuôi dạy con cái là kết quả và là muc đích của hôn nhân thánh thiện theo kế hoạch của Thiên Chúa, được Chúa Giê su nâng lên hàng bí tích với lời dạy sau đây:
Để trả lời những người Biệt phái đến hỏi Chúa Giê su xem người ta có được phép li dị không , Chúa đáp: Các ông không đọc thấy điều này sao ? “Thuở ban đầu, Đấng tạo hóa đã làm ra con người có nam có nữ, và Người đã phán : vì thế người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt . Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân li.” ( Mt 19: 4-6)
Trên đây là giáo huấn của Chúa Giê su mà Giáo Hội có bổn phận truyền dạy cho con cái mình tôn trọng và thi hành để được cứu rỗi.Giáo huấn này không ai được phép cắt nghĩa cách khác và thay đổi vì bất cứ lý do nào.
Mới đây, trong dịp tiếp kiến các Giám mục của Công Hòa Đô-mi-nícan ngày 28 tháng 5 vừa qua , Đức Thánh Cha Phanxi cô đã nói với các giám mục như sau:
“ Chúng ta hãy tiếp tục phô bày vẻ đẹp của hôn nhân Kitô giáo : kết hôn trong Chúa là một hành động của đức tin và đức ái: qua đó người phối nhẫu với tự do ưng thuận, trở thành phương tiện chuyên chở phép lành và ơn phúc của Thiên Chúa cho Giáo Hội và xã hội.” ( Let us continue to present the beauty of Christian matrimony : to marry in the Lord is an act of faith and love, in which the spouses- through their free consent , become a means of passing on the blessing and grace of God for the Church and society. ( L ‘Osservatore Romano , number 23, Friday , June 5, 2015)
Như thế, hôn nhân Kitô giáo không thể là hôn nhân giữa hai người nam hay hai người nữ có khuynh hướng đồng tính được, mà phải là hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, theo ý muốn của Thiên Chúa, Đấng tạo dựng con người có nam có nữ; và cũng là truyền thống đã có từ bao thế hệ qua trong mọi nền văn hóa, phong hóa của mọi dân tộc trên thế giới từ xưa đến nay.
Đây là vấn đề có liên quan mật thiết đến luân lý và đạo đức, là nền tảng của đời sống con người, chứ không phải là vấn đề tôn trọng quyền sống của cá nhân ai như người ta đang nại ra để cho phép hôn nhân đồng tính.
Đó là vấn đề luân lý, đạo đức, vì luân lý phổ quát dạy mọi người là phái tính ( sexuality) chỉ tự nhiên giữa một người nam và một người nữ tự do kết hôn với nhau theo truyền thống và phong hóa của mọi dân tộc.
Dó đó, hai người nam hay hai người nữ mà có liên hệ phái tính với nhau thì đây là điều trái tự nhiên ( unnatural) và vô luân ( immoral)
Tác giả Sách Lê vi đã lên án sự phối hợp phái tính trái tự nhiên nói trên như sau:
“ khi người đàn ông nào nằm với một người đàn ông như nằm với đàn bà, thì cả hai đã làm điều ghê tởm…” ( Lê vi 20: 13)
Như vậy, công nhận cho hai người đàn ông hay hai đàn bà kết hôn có nghĩa công nhận sự vô luân về phái tính; hay nói khác đi, công nhận sự chung đụng xác thit giữa hai người nam hay hai người nữ là điều cũng tự nhiên như sự chung đụng của một người nam và một người nữ kết hôn trong mọi gia đình nhân loại từ xưa đến nay ?
Nếu thế thì những việc vô luân khác như thủ dâm ( masturbation) loạn dâm =loạn luân ( incest) ấu dâm ( child prostitution) và thú dâm (sodomy), thông dâm ( fornification) ngoại tình ( adultery)… đều không còn là những hành vi vô luân nữa, vì chúng đều xuát phát từ những khuynh hướng hay ước muốn vô trật tự và vô luân ( inordinate, immoral)) của con người !, tương tự như huynh hướng đồng tính bất thường mà người ta đang cho phép người có khuynh hướng này kết hôn, tức là công nhận việc ăn nằm của họ là không có gì ngăn trở về luân lý !!!
Đây rõ rệt là một suy thoái nghiêm trọng về luân lý hôn nhân, và luân lý phổ quát ( universal moral) của các xã hội bệnh hoạn nói trên. Chắc chắn Giáo Hội sẽ không bao giờ cho phép hay công nhận loại hôn nhân đồng tính này , vì nó vừa sai trái nặng về mặt luân lý – và nghiêm trọng hơn nữa- là đi ngược lại với ý muốn của Thiên Chúa về ý nghĩa và mục đích của bí tích hôn phối mà Giaó Hội có bổn phận bảo vệ và thi hành không chút nhân nhượng.
Giáo Hội không lên án những người có khuynh hướng đồng tính, nhưng không thể cho phép họ sống chung như vợ chồng được, vì việc sống chung này là điều trái tự nhiên và vô luân. Do đó, những ai đang sống trong tình trạng này thì không được đến với hai bí tích hòa giải và Thánh Thể, mặc dù họ vẫn có thể đến nhà thờ để cầu nguyện và tham dự Thánh Lễ cùng với các giáo dân khác.
Sau hết, một điểm thắc mắc không thể bỏ qua là những đứa trẻ được các cặp hôn nhân đồng tình này nhận làm con nuôi, thì chúng sẽ nghĩ gì về việc chúng chỉ có hai bà mẹ hay hai người cha trong gia đình? Và gương xấu này sẽ tác hại ra sao khi các trẻ đó lớn lên với hai người cha hay hai người mẹ??? Nếu chúng cũng là những đứa trẻ sinh ra với khuynh hường tính dục khác thường như người nuôi dạy chúng, thì không nói làm chi. Những nếu chúng- mà đa số chắc chắn như vậy- là những trẻ sinh ra với mọi khuynh hướng bình thường, thì việc sống chung với những người bất bình thường kia sẽ là một tai hại lớn cho chúng về mặt tình thần, tình cảm và luân lý. Như thế, những kẻ cho phép hôn nhân đồng tính sẽ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về những tai hại tinh thần, tình cảm và ý thức luân lý của các trẻ được nuôi dạy trong môi trường đồng tính.
Vây những kẻ đang nhắm mắt công nhân hôn nhân đồng tình sẽ trả lời thế nào về nan đề nói trên, liên quan đến các trẻ em được các người đồng tính nhận nuôi dạy trong các gia đình bất bình thường của họ ?
Tóm lại, định nghĩa lại hôn nhân để công nhận hôn nhân giữa hai người nam hay hai người nữ là một suy thoái nặng nề về luân lý và đạo đức cần phải quan tâm và lên tiếng trước thực trạng đáng buồn của thế giới tục hóa hiện nay.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
Nguyễn Quang Dy
Ngày nay, các bác sỹ thường khuyên chúng ta phải kiểm tra sức khỏe định kỳ nếu không muốn bị đột tử (vì tim mạch) hay mắc các bệnh nan y (như ung thư). Trong “thế giới phẳng”, Tom Friedman cũng khuyên các doanh nghiệp phải kiểm tra sức khỏe thường xuyên, nếu muốn tồn tại và phát triển. Không biết giới trí thức Việt có kiểm tra sức khỏe và khám bệnh thường xuyên không, và có thừa nhận bệnh tật của mình không?

Có lẽ việc này cần hơn là “định nghĩa lại trí thức”. Tại sao phải định nghĩa lại? Chẳng lẽ lâu nay chúng ta không biết trí thức là gì, là ai, và làm gì. Đã qua rồi cái thời ông Mao điên rồ và xảo quyệt nói bậy: “trí thức không giá trị bằng cục phân”, hay cái thời mấy ông Việt Minh ngây ngô và cuồng tín, bắt chước ông Mao: “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Họ không hiểu vùi dập trí thức là đồng nghĩa với tự sát quốc gia.
Tuy đã qua rồi, nhưng hệ quả của nó vẫn còn, bởi căn nguyên là cực đoan và cuồng tín chưa chết, vẫn còn lẩn khuất trong chính chúng ta. Nếu chịu khó quan sát, ta có thể nhận diện một số căn bệnh mãn tính điển hình của giới trí thức và văn nghệ sĩ Việt. Họ là thành phần ưu tú của quốc gia, làm đầu tàu thúc đẩy tiến bộ xã hội, nên cần quan tâm và khám bệnh, cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen (mấy ông này uống và hút dữ lắm!).
Những nhận xét dưới đây có thể đúng, có thể sai, có thể bổ sung, có thể tranh luận, nhưng là cần thiết. Đừng vội phủ định hay khẳng định ngay.
Hay định kiến và chia rẽ
Người ta hay nói (nửa đùa nửa thật) rằng một người Việt thì không thua kém một người nước khác, nhưng ba người Việt thì chắc thua kém một người nước khác. Bởi vì ba người Việt thường không hợp sức mà còn chia rẽ, tự phân hóa và vô hiệu hóa nhau. Không hiểu vì sao tính cá thể của người Việt rất cao, nhưng tính cộng đồng rất thấp. Đây là một nghịch lý mang bản sắc Việt Nam (không giống người Trung Hoa). Cũng chưa thấy tài liệu nghiên cứu nào phân tích xem đây là do tính bản địa, hay là do ảnh hưởng của văn hóa Pháp (xin lỗi mấy ông tây nhé!) Chỉ biết rằng người Việt có tiếng là hay định kiến và chia rẽ, hay cãi nhau không ai chịu ai. Càng trí thức, càng hay cố chấp và chia rẽ khỏe. Chưa thể lý giải ngay được, nhưng có thể do cực đoan và bảo thủ. Làm việc nhóm rất khó, không phát huy được nội lực và không kết nối được năng lượng (synergy). Rất khó đồng thuận để có tiếng nói chung. Có lẽ vì biết như vậy nên cụ Hồ mới nhấn mạnh đoàn kết “như con ngươi của mắt mình”, nghĩa là không đoàn kết thì mù luôn. Hy vọng Việt Nam không phải là một “thung lũng mù”!
Gần đây, đáng mừng là đã xuất hiện một số hội đoàn độc lập theo hướng dân chủ hóa và cởi mở hơn, như xã hội công dân. Nhưng đáng buồn là các hội đoàn mới này cũng khó phát triển nhanh và mạnh được. Không phải chỉ vì số lượng ít, nguồn lực thiếu thốn, bị chính quyền ngăn cản, mà bản thân nội bộ cố chấp và chia rẽ, rất khó đồng thuận để có tiếng nói chung. Nghe nói vừa mới hình thành đã cãi nhau rồi. Chưa cần bên ngoài phá, bên trong đã tự phân hóa rồi. Có lẽ cũng vì vậy mà hòa hợp và hòa giải dân tọc mới khó thế. Khi nói đến dân trí, người ta thường hiểu theo nghĩa cộng đồng chứ không phải từng cá thể. Nếu cứ định kiến và chia rẽ như vậy thì làm sao có thể nâng cao dân trí, làm sao có thể “thoát Trung”?
Không chịu lắng nghe
Theo nguyên lý truyền thông, lắng nghe quan trọng hơn cả nói, để thu lượm và sàng lọc thông tin cần thiết. Phải bình tâm mới lắng nghe được người khác, để hiểu được cả những điều người khác không nói ra. Điều này càng quan trọng trong thời đại bùng nổ truyền thông kỹ thuật số. Muốn lắng nghe phải khiêm tốn, chân thành, nhạy cảm. Người ta nói xã hội càng “high-tech” thì con người càng phải “high-touch”. Ta thường làm ngược lại. Gần đây, Việt Nam được xếp vào nhóm nước vô cảm nhất thế giới (trong khi chưa “high-tech”). Đa số người Việt, nhất là giới trí thức, chỉ thích nói cho người khác nghe, mà không chịu lắng nghe người khác nói. Một số người còn hay “xoa đầu” và dạy bảo người khác (nhất là đối với lớp trẻ). Họ thường vô cảm, không hiểu được người khác muốn gì, nghĩ gì. Thế hệ già không hiểu thế hệ trẻ. Bắc – Nam, trong – ngoài, không hiểu được nhau. Thói quen không chịu lắng nghe có thể do thái độ ngạo mạn, coi thường người khác, luôn cho mình là đúng, ai không giống mình là sai.
Trong bộ máy công quyền trước đây, người ta quen độc quyền thông tin theo cấp bậc. Có một thời, chỉ có lãnh đạo mới được đọc “bản tin tham khảo” (lấy từ các hãng thông tấn nước ngoài). Thời ấy đã qua rồi, nhưng hệ quả của nó vẫn còn, vì hệ tư tưởng cũ chưa thay đổi. Một khi trong đầu đã chứa định kiến gì, thì người ta hay cố chấp, luôn phủ định hoặc khẳng định, mà không cần lắng nghe để tìm hiểu sự thật. Không chịu lắng nghe và chia sẻ thông tin thường dẫn đến định kiến và chia rẽ. Điều đáng nói là không phải chỉ có những người cộng sản (cuồng tín) mà cả những người chống cộng (cực đoan) đều mắc phải căn bệnh mãn tính này. Trí thức mà định kiến và cực đoan thì còn nguy hiểm hơn cả người khác.
Học giả nhiều hơn học thật
Chưa thấy ở đâu người ta coi trọng bằng cấp và học hàm học vị một cách cực đoan như ở Việt Nam. Giới thiệu ông trí thức nào mà thiếu cái tít “GSTS” là toi. Trong khi đó dân chúng gọi GSTS là “gà sống thiến sót” (xin lỗi không phải tôi nói!). Vì vậy, nhu cầu “học giả” và làm “bằng giả” trở thành một thị trường ngầm phát đạt, như một khối u mãn tính, làm mấy đời bộ trưởng giáo dục đành chào thua. Điều đáng nói là nó không chỉ phổ biến trong nhà trường mà còn trong giới công chức và trí thức. Một quốc gia có trên 90 triệu dân (một nguồn tài nguyên quý mà chắc nhiều nước thèm muốn) nhưng chất lượng nguồn nhân lực đang khủng hoảng đến mức báo động. Chúng ta không lo giới trí thức Việt nhỏ bé, nhưng rất lo chất lượng dân trí còn thấp, bị phân hóa và vô hiệu hóa quá nhiều và quá lâu. Vì vậy, trí thức thật thì ít, trí thức giả thì nhiều. Giới trí thức Việt giống như một bức tranh “mosaic” nhiều màu sắc khó tả, rất đặc thù chẳng giống ai, mang đậm “bản sắc” Việt Nam.
Nguồn gốc trí thức Việt đại khái có mấy thế hệ. Thế hệ những người “học tây” thời trước (cả Bắc lẫn Nam) là trí thức thật, nhưng vừa quá ít vừa “quá date” (passé rồi), nếu chưa chết hoặc không nhanh chân ra nước ngoài thì cũng đã bị vô hiệu hóa bởi thời thế hoặc thời gian. Thế hệ “thiếu sinh quân” (thời chống Pháp) được chọn đi học Trung Quốc/Liên Xô, đa số đã trở thành quan chức, một số khác có tài đã trở thành trí thức thật, nhưng nay đã về hưu. Thế hệ “học Đông Âu” (thời chiến tranh với Mỹ), tuy đông nhưng bị phân hóa, đa số thực dụng buôn bán kinh doanh giàu lên nhanh như “tướng soái”, một số trở thành tư bản đỏ (đang lũng đoạn thị trường), nhưng vẫn giữ cái mũ phó tiến sĩ hoặc tiến sĩ dổm, một số khác có tài theo đuổi khoa học nghệ thuật, thường bị vô hiệu hóa, hoặc phải nhập quốc tịch nước khác. Thế hệ đi học các nước “phương tây” (sau chiến tranh) ngày càng đông và đa dạng, đa số kinh doanh, một số làm công chức, một số khác làm cho nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài. Trí thức người Việt sống ở nước ngoài là một nguồn nhân lực quan trọng, có nhiều nhân tài, có lòng ái quốc, có thể đóng góp nhiều hơn cho đất nước và làm cầu nối với thế giới, nhưng chưa được thực sự trân trọng.
Im lặng trùm chăn
Trong bối cảnh xã hội chuyển đổi, đầy biến động và rủi ro, giới trí thức thường là đội ngũ tiên phong dẫn dắt xã hội đổi mới và phát triển. Nhưng đáng tiếc, giới trí thức văn nghệ sĩ Việt đã bị “thui chột” sau những kinh nghiệm đau buồn như “cải cách ruộng đất” và “nhân văn gia phẩm”, nên đa số thường “trùm chăn”, không dám lên tiếng, vì sợ. Đây là cái sợ tiềm tàng đã đi vào tiềm thức ít nhất hai thế hệ, nên muốn thoát khỏi nó phải cam đảm để phản tỉnh. Đến nay, hệ thống kiểm soát và kiểm duyệt (văn hóa tư tưởng) về cơ bản vẫn chưa thay đổi, với hồ sơ nhân quyền đang là vấn nạn trong quan hệ với Mỹ và phương Tây (giống như vấn đề MIA trước đây). Trong bối cảnh đó, giới trí thức văn nghệ sĩ “trùm chăn” là dễ hiểu. Quá trình phản tỉnh để thoát khỏi nỗi sợ không đơn giản, tùy thuộc vào hoàn cảnh mỗi người. Có những người đến cuối đời mới dám lên tiếng nói ra sự thật (như tác giả “Đèn Cù”).
Bên cạnh đa số im lặng trùm chăn (silent majority), có một thiểu số lớn tiếng (vocal minority). Những người đã định cư ở nước ngoài thường “dũng cảm” hơn và “lớn tiếng” hơn những người trong nước. Một số quá khích và nôn nóng muốn thay đổi ngay. Một số khác trong lòng còn nặng hận thù và cố chấp, chỉ thích chửi nhưng không đề ra được giải pháp. Ai cũng muốn thay đổi, nhưng nếu không có giải pháp khả thi, thì thành viển vông. Vì vậy, cần tránh cả khuynh hướng “trùm chăn” lẫn “quá khích”. Nếu bình tâm nhìn kỹ thì quá trình dân chủ hóa trên thế giới tuy đa dạng và phức tạp, nhưng có quy luật, cần thời gian. Qua kinh nghiệm nhiều nước đã chuyển đổi (trong 40 năm qua) người ta thấy cách tốt nhất là đấu tranh ôn hòa, thông qua “Bất tuân Dân sự”. Phong trào dân chủ gần đây tại Hong Kong là một ví dụ, khác nhiều so với thời Thiên An Môn. Trong thời đại toàn cầu hóa và truyền thông kỹ thuật số, muốn đấu tranh hiệu quả phải có dân trí cao, ứng dụng công nghệ cao, dùng “sức mạnh mềm” đối phó với “sức mạnh cứng”, biết kết nối quốc tế để vận dụng sức mạnh toàn cầu (global synergy).
Hội nhập quốc tế chậm
Trong thời đại toàn cầu hóa, giới trí thức đáng lẽ phải hội nhập quốc tế nhanh hơn những nhóm người khác, để dẫn dắt họ trong quá trình đổi mới và phát triển. Đáng tiếc, giới trí thức Viêt hội nhập quốc tế hơi chậm so với các nước khác đang chuyển đổi. Có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, chính sách kiểm soát và kiểm duyệt chặt chẽ với các quy định lạc hậu, không khuyến khích và tạo điều kiện cho giao lưu, hội nhập quốc tế. Thứ hai, bị đóng cửa quá lâu nên giới trí thức bị “nội địa hóa” quá nhiều, một số mang tâm lý bài ngoại, không quen hội nhập. Thứ ba, hàng rào ngôn ngữ và văn hóa cũng làm cho việc giao lưu, hội nhập của trí thức với thế giới bên ngoài khó khăn. Tuy nhiên, thế hệ trí thức trẻ học tại các nước Phương Tây sau này ngày càng đông, riêng học tại Mỹ đến nay là 16.500 người (sau 20 năm). Họ không bị hàng rào ngôn ngữ và văn hóa cản trở, giao lưu và hội nhập dễ dàng. Đây là một nguồn nhân lực và một lớp trí thức mới quan trọng, nhưng chưa được coi trọng đúng mức.
Trong thời đại toàn cầu hóa và truyền thông kỹ thuật số, liên kết và giao lưu quốc tế vô cùng quan trọng, giúp cho những người trí thức mở rộng tầm nhìn, không kỳ thị dân tộc, ngăn ngừa xu hướng dân tộc cực đoan và bạo lực giữa các quốc gia. Theo kinh nghiệm phát triển của nhiều nước, chỉ khi nào giới trí thức trưởng thành như một thế lực mạnh trong xã hội, và nhân tài được trọng dụng như tài sản quốc gia, thì đất nước đó mới thực sự phát triển. Nhưng trước hết, giới trí thức Việt cần chữa trị các bệnh mãn tính nói trên.
NQD. 7/7/2015
Chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc chết dần. Nhà cầm quyền tìm kiếm sự hỗ trợ trong truyền thống
Maciej Michalek – Lê Diễn Đức dịch

86 triệu đảng viên Cộng Sản Trung Quốc vào đảng vì quyền lợi hơn là lý tưởng – Ảnh: TVN24
Các phương tiện truyền thông Trung Quốc đưa tin rằng các tổ chức của đảng Cộng Sản sẽ sớm được dạy về văn hóa truyền thống và lịch sử của đất nước họ. Trung Quốc từ lâu đã không hoàn toàn tuân theo con đường cộng sản và ngày càng công khai trở lại với truyền thống, điều này có ý nghĩa rằng – dần dần sẽ có sự thay đổi hệ tư tưởng của siêu cường Châu Á này.
Vào tuần trước người ta thông báo rằng trong các trường học quan trọng nhất cho công chức ở Trung Quốc đã đuợc cung cấp sách giáo khoa về văn hóa truyền thống và lịch sử Trung Quốc. Tổng cộng có 21 cuốn sách – bao gồm cả sách nói về “ưu thế quốc tế” của văn hóa Trung Quốc – đây là môn mới đối với đối tượng giảng dạy của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, dự kiến sẽ đưa vào chương trình ngay từ tháng 9.
Chính quyền mới, truyền thống cũ
Trong thời gian ngắn tới đấy sẽ có một môn học gọi là “guoxue” (quốc học), một môn có kiến thức rộng nói về di sản nền văn minh Trung Quốc, bao gồm lịch sử, triết học, nghệ thuật và văn học. Tuy nhiên Đảng Cộng Sản Trung Quốc kể từ khi nắm chính quyền vào năm 1949, luôn có vấn đề với truyền thống dân tộc.
Sự lây lan sự nhiệt tình cách mạng và tạo ra một xã hội xã hội chủ nghĩa mới được kết hợp với những chỉ trích của quá khứ và Nho giáo được nói tới cho giới triết học xã hội và chính trị Trung Quốc như là nguồn gốc làm suy yếu nhà nước. Các giai đoạn đỉnh cao của cuộc chiến với lịch sử của chính mình đã diễn ra trong những năm 60 và 70, khi, trong cái gọi là “Cách mạng Văn hóa”, ở Trung Quốc người ta đã phá hủy các tòa nhà lịch sử, di tích, cổ vật, sách cũ.
Trên cửa miệng là cách mạng, trong tim là người Trung Quốc
Mặc dù vậy, cá nhân Mao Trạch Đông thích văn học cổ điển Trung Quốc, và các nhà lãnh đạo tiếp theo cũng bắt đầu mạnh dạn hơn gắn bó với văn hóa và truyền thống cổ xưa. Khổng Tử và những lời dạy của ông cuối cùng đã chính thức giành lại vị thế một di sản vô giá của quốc gia, mà minh chứng là việc đặt tên của triết gia này cho các trung tâm xúc tiến mở ra trên toàn thế giới nhằm quảng bá ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc, tức là các Viện Khổng Tử. Các nhà nghiên cứu Trung Quốc ngày càng đưa nhiều các triết lý Trung Quốc khác như Pháp gia, Đạo giáo và Mặc gia, trên cơ sở đó tìm cách cố vấn cho chính quyền Bắc Kinh.
Có thể lưu ý rằng chính sách đối ngoại của Trung Quốc ngày càng được tiến hành phù hợp với các giả định tư tưởng của chính trị truyền thống hơn là học thuyết cộng sản. Bởi vì trong vị trí của cách mạng và chính sách tương phản xuất hiện các hành động được cân nhắc và dài hạn, trong đó, ít nhất là về mặt lý thuyết, các giá trị được nhấn mạnh như sự hài hòa, đạo đức và tìm kiếm lợi ích lẫn nhau.
Phong cách hoạt động mới có thể được nhìn thấy trong một số ví dụ, làm thế nào Bắc Kinh tìm cách biến đổi môi trường quốc tế hiện nay. Trước sự bá quyền thế giới của Mỹ, Trung Quốc tìm cách giảm dần vai trò của Mỹ và gia tăng ảnh hưởng của mình thông qua những tổ chức quốc tế mới như Ngân hàng Châu Á Đầu tư Hạ tầng và Tổ chức Hợp tác Thượng Hải, cũng như ký kết thỏa thuận thương mại tự do với Hàn Quốc và các nước Đông Nam Á.
“Dân tộc không có phẩm hạnh không thể kéo dài”
Sự tiến dần tới di sản văn hóa vĩ đại của Trung Quốc có lý do của nó. Ý thức hệ cộng sản, mặc dù vẫn được giảng dạy trong tất cả các trường học, đã nhàm chán và không còn truyền cảm hứng. Đa số các đảng viên mới của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đang đông hơn bao giờ hết, gia nhập đảng vì mong muốn cải thiện triển vọng nghề nghiệp của họ chứ không phải từ sự nhiệt tình tư tưởng.
Đồng thời, với dân tộc Trung Quốc đang bị thay đổi nhanh chóng về nhân khẩu học, xã hội và kinh tế, ngày càng trở nên khó khăn để tìm ra một la bàn đạo đức để họ có thể gắn bó với người dân. Phao cứu của xã hội không tôn giáo và đời sống với một ý thức hệ ngày càng yếu đi là “sự trở lại với cội nguồn của mình”, bởi vì nếu không có nó họ “không thể biết chính mình”, như Chủ tịch Tập Cận Bình giải thích.
Phá sản tư tưởng
Tuy nghiên, đối với Đảng Cộng sản, quảng bá truyền thống và văn hóa Trung Quốc khá khó khăn, vì những ý tưởng của Nho giáo, Đạo giáo, và các tư tưởng triết học khác mâu thuẫn với ý thức hệ Cộng Sản. Do đó, việc từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản ở Trung Quốc được thực hiện một cách kín đáo, để xã hội không có ấn tượng rằng quyền lực độc tài hiện nay là một hệ tư tưởng phá sản.
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc từ nhiều thập kỷ nay cố gắng giả vờ rằng họ không thay đổi hướng đi mà chỉ thực hiện sự điều chỉnh liên tục. Kết quả là, ngày nay dễ dàng nhận ra rằng, những gì liên quan đến ý thức hệ cũ chủ yếu chỉ ở tên gọi và biểu tượng của nhà nước.
Nhiều khuôn mặt của chủ nghĩa xã hội
Bằng cách này, hệ thống chính trị chính thức của nhà nước vẫn là “chủ nghĩa xã hội” nhưng mang “đặc sắc Trung Quốc”. Đó là cách xác định thuận tiện, để trên một mặt, cho thấy sự liên tục với sự khởi đầu của cuộc khởi nghĩa cách mạng ở Trung Quốc, mặt khác có thể được diễn dịch tự do theo những cần thiết chính trị. Thật vậy, “đặc sắc Trung Quốc” là gì, không ai biết, và chỉ có Đảng mới có thể quyết định.
Tương tự như vậy, trong kinh tế vẫn được gọi là “thị trường’ nhưng “xã hội chủ nghĩa”. Trên lý thuyết, hệ thống này có nghĩa là Trung Quốc tham gia vào kinh tế thị trường, nhưng thông qua các đối tượng quốc doanh. Trong thực tế ở Trung Quốc đang hoành hành chủ nghĩa tư bản tham lam dựa trên sở hữu tư nhân, và tăng nhanh lối sống tiêu dùng được “phát minh” tại các nước giàu có ở châu Âu và Hoa Kỳ.
Chủ nghĩa xã hội Trung Quốc – lý thuyết và thực hành
Có bao nhiêu lý tưởng cộng sản và chủ nghĩa xã hội đang hiện diện trong cuộc sống hàng ngày của người dân Trung Quốc? Thực tế cho thấy trong nhiều khía cạnh, ít hơn so với dân chủ và tư bản chủ nghĩa ở Ba Lan.
Ở Trung Quốc, tiếp cận với giáo dục miễn phí ở một mức độ đạt yêu cầu gần như là ảo, còn được nhà nước trả tiền cho học đại học rất khó khăn. Hệ thống an sinh xã hội, bao gồm lương hưu trí, không thích hợp, cộng với chính sách một con và tăng dân số, sự cứu rỗi duy nhất là phải tư nhân hóa một phần của nó.
Ngoài ra chất lượng và tiếp cận chăm sóc sức khỏe cộng đồng đang ở mức rất thấp. Như vậy cũng chưa đủ, ở Trung Quốc rất hiếm hoi việc trợ cấp – ở Ba Lan thì thành luật – đối với học sinh, sinh viên, hoặc những người khuyết tật.
Bức tranh của “chủ nghĩa xã hội” ở Trung Quốc được bổ sung khoảng cách tài chính khổng lồ giữa người giàu nhất và nghèo nhất tạo ra trong ba thập kỷ qua – sự tập trung của cải vào giới giàu có nhất trong xã hội Trung Quốc ngày nay thậm chí còn lớn hơn ở Hoa Kỳ.
Kết thúc chủ nghĩa cộng sản và sự khởi đầu là gì?
Trở lại cội nguồn của tư tưởng chính trị ở Trung Quốc không có nghĩa là Trung Quốc lại áp dụng hệ tư tưởng Nho giáo ở vị trí của hiện tại, được xem là Cộng Sản. Trung Quốc có thể sẽ vẫn còn tiếp tục lâu dài với cờ đỏ và búa liềm.
Bởi vì, sự thay đổi hệ tư tưởng chính trị Trung Quốc dựa trên việc ngày mỗi đưa vào tuyên truyền và giáo dục nhiều đối tượng khác như tư tưởng Nho giáo. Nhìn thấy rõ ràng trong hành vi của Tập Cận Bình, người mà đồng thời vừa nói đến di sản vĩ đại của quá khứ, đứng đầu là tư tưởng của Khổng Tử, vừa ca ngợi chủ nghĩa cộng sản là con đường duy nhất đúng cho đất nước.
Đề cập đến nguồn gốc của mình chủ yếu là để thực hiện một chính sách rõ ràng. Thứ nhất, đánh giá cao thành tựu kinh tế sẽ làm cho Đảng Cộng sản Trung Quốc có sự cảm thông và ủng hộ của xã hội. Thứ hai, nuôi dưỡng trong xã hội kiến thức về di sản và niềm tự hào dân tộc. Thứ ba, nhấn mạnh Trung Quốc khác biệt với các nước khác và không cần phải lấy khuôn mẫu từ nước ngoài, bởi vì Trung Quốc có cái của riêng mình, tốt hơn.
Nho giáo bị khủng bố và ám ảnh
Một số người Trung Quốc nói rằng Nho giáo ở Trung Quốc tồn tại trong hai hình thức – bị bức hại bởi nhà cầm quyền khi họ cố gắng để áp đặt một hệ tư tưởng khác, hoặc bắt bớ người dân khi chính phủ sử dụng nó để căn cước hóa chế độ chuyên chế.
Dù thế tranh luận thế nào thì quan điểm này đúng hay không cũng hoàn toàn phù hợp với kinh nghiệm của những người Cộng Sản Trung Quốc. Vào thời Mao Trạch Đông Nho giáo bị tấn công và phá hủy, và bây giờ họ đang cố gắng chọn lọc sử dụng để củng cố quyền lực của mình. Chính quyền muốn tồn tại phải đưa ra cho người dân một cái gì đó nhiều hơn là các trích dẫn từ chủ nghĩa Marx và sách đỏ của Mao Trạch Đông.
Bản Việt ngữ © Lê Diễn Đức
—————————————————————————————-
Dịch từ tiếng Ba Lan bài được đăng trên trang Web của TV tin tức Ba Lan TVN24 ngày 11 tháng 7 năm 2015 tại link: http://www.tvn24.pl/chiny-odchodza-od-komunizmu-i-siegaja-do-tradycji,558226,s.html
Nguyễn Khắc Mai
11-07-2015
(Vấn đề “xin, cho”: dấu chỉ hủ lậu của văn hóa Việt)
Nhiều lần, tôi đã thưa với các vị lãnh đạo rằng chớ nhục nhã đi xin xỏ các nước tiên tiến giàu có: “xin công nhận cho chúng tôi quy chế kinh tế thị trường”, mà hãy quay về xin với nhân dân “hãy làm kinh tế thị trường cho đúng nghĩa, thực chất, văn minh và lành mạnh.” Các nước tiến bộ, giàu mạnh, họ không xin xỏ như vậy.
Nhà nước của họ, và các chính đảng dân tộc, dân chủ của họ, phấn đấu để tạo ra luật lệ cần thiết và đầy đủ về mọi yếu tố của kinh tế thị trường để cho nhân dân, trong đó bộ phận dân làm doanh nhân có đầy đủ mọi điều kiện để làm kinh tế thị trường đúng nghĩa và lành mạnh văn minh. Ít thấy những nước Nhật, Hàn, Singapore, Indonesia, Ấn…đi van nài như vậy. Khi đất nước của họ có nền kinh tế thị trường đúng nghĩa rồi thì không cần xin xỏ ai nữa. Cố nhiên, họ không cần cho mọc cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” làm gì. Tôi xin lưu ý cái sự mọc đuôi là một dấu hiệu của thoái hóa. Cứ xem “Trăm năm cô đơn” thì rõ.
Lần này tại “Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế” ở Hoa Thịnh Đốn, anh một lần nữa, lặp lại, như nhiều vị lãnh đạo khác khi ra nước ngoài.Báo chí đưa tin, tại đây, “Tổng bí thư kêu gọi Mỹ sớm công nhận nền kinh tế thị trường của Việt Nam…” (Báo Tuổi trẻ (Sài gòn)10-7-2015). Cớ sao anh không nói rõ với họ, các chính đảng yêu nước, các cấp chính quyền Việt Nam phấn đấu tạo ra mọi luật lệ văn minh để Việt Nam nhanh có nền kinh tế thị trường đặng hợp tác bình đẳng và có hiệu quả với Mỹ cũng như với các nước khác. Tôi nghĩ, chắc rằng anh có thể “tin tưởng” hơn, khi đi Mỹ về, hãy thúc đẩy thay đổi thể chế, làm kinh tế thị trường cho đàng hoàng, không đánh tráo khái niệm. Riêng cái yếu tố, tôi cho là cơ bản, quan trọng nhất của kinh tế thị trường là quyền sở hữu, thì chúng ta đang rất lạc hậu, lúng túng. Vì thế lại tìm cách đánh tráo khái niệm. Trong khi chính Mác đã điều chỉnh nhận thức cho phù hợp, khi cuối đời ông khẳng định: “Các nhà sản xuất (doanh nhân) chỉ trở nên tự do,một khi họ có quyền sở hữu: đất đai, nhà xưởng, tàu bè, ngân hàng, tín dụng…”(dẫn theo Marx sa vie et son oeuvre, Jean Eleinstein, nxb Fayard.) Tôi lại xin trích một mệnh đề có ý nghĩa triết học về pháp quyền. Mác nói: “Khi, cùng với sự phát triển về mọi mặt của các cá nhân, sức sản xuất cứ càng ngày càng tăng lên, và tất cả các nguồn của cải công cộng đều tuôn ra dồi dào, thì chỉ khi đó người ta mới có thể vượt hẵn ra khỏi cái giới hạn chật hẹp của pháp quyền tư sản.” (C.Mác, Phê phán cương lĩnh Gotha). Vậy thì ta phải loại bỏ tư duy Mác Lê lạc hậu và xuyên tạc đi. Chớ vội nhảy cỡn vào cái gọi là pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Và ta có thể sống, làm việc chân thực, không đánh lừa bằng cách đánh tráo khái niệm. Anh cứ thử nghĩ mà xem, ngay ở những nước trong G7, hai yếu tố và điều kiện cơ bản và quan trọng nhất là con người phát triển toàn diện, và nền kinh tế tuôn trào dồi dào cũng còn lâu mới tới, mà biết khi nào thì có con người toàn diện…Thế mà họ cũng chỉ dám cải tiến từng bước nền pháp quyền “tư sản”, có ai dám phiêu lưu và ngu muội để tuyên bố phải có một nền pháp quyền khác đâu. (Nhân nói tư sản, ĐCSVN hiểu một cách sai lầm rằng tư sản là giai cấp bóc lột. Thực ra tư sản có nghĩa là con người của xã hôi văn minh đô thị và công nghiệp! Xã hội Tây phương mấy trăm năm nay họ điều tiết xã hội theo hướng đó, cải tiến từng bước để có một xã hội văn minh đô thị và công nghiệp, hiện đại rồi hậu hiện đại. Họ chính là bài học, như Mác và Ăng ghen nói là “những thực tế văn minh của những dân tộc hiện đại” mà những người cộng đồng chủ nghĩa phải bắc chước và học hỏi.
Nhân anh học được câu nói hay của Roosevelt về lòng tin tưởng, tôi nghĩ là ta phải hướng cái tin tưởng của ta vào những gì là hợp lý và tốt đẹp cho Dân tộc. Tôi cũng tin rằng, nếu chúng ta sửa đổi thể chế cho tận cùng, chớ nửa vời, chớ “giáo điều ba rọi” chúng ta sẽ xây dựng được nền kinh tế thị trường lành mạnh, văn minh khiến nội lực Việt Nam lớn lên. Một nền kinh tế thị trường văn minh, lành mạnh, chỉ có trong một xã hội dân chủ phát triển, nhân dân thật sự là chủ thể của xã hội, họ có mọi quyền tự do, không còn là thân phận thứ dân, thường dân, thần dân như họ đang phải hứng chịu.
Anh từ Mỹ về, hãy đem những “thực tế văn minh tiến bộ của một Dân tộc hiện đại” làm bài học cho Việt Nam. Hãy từ bỏ cách nghĩ thực chất là của Liên Xô và Trung Cộng, chúng mớm cho ta kèm theo với vũ khí và lương thực, rằng Mỹ là đế quốc sài lang, là kẻ thù nguy hiểm nhất. Thế mà cái kẻ chúng ta coi là bạn bè chí cốt là Tàu lại từng đem quân xâm lược nước ta (chúng không xâm lược sao vẫn chiếm những cao điểm của chúng ta, lấn chiếm biên giới nước ta, cướp Hoàng Sa và một phần Trường Sa của chúng ta!). Chúng ta vẫn chơi với Tàu và chỉ đàng hoàng bình đẳng với họ khi biết hợp tác cùng những nước văn minh giàu mạnh như Mỹ… khiến cho nội lực Việt Nam lớn mạnh. Anh học sử chắc anh biết bài học minh triết về nhu cầu lớn, mạnh nhanh của Phù Đổng. Dân tộc ta, khi bước vào một khúc quanh của lịch sử, thì bài học “lớn nhanh lên” bao giờ cũng phải tâm niệm. Chúng ta đã học lấy những thực tế kém văn minh và cố giữ chúng lại coi đó là bản chất và phẩm chất, cho nên, nay đang trở nên lạc hậu rất xa so các nước trong vùng… Thành ra ngày nay trước sự uy hiếp của Tàu, chúng ta đang gặp rất nhiều khó khăn lớn. Làm sao để đi nhanh, nếu không vứt bỏ cái ba lô nặng trĩu đầy những thứ phế thừa, lại không chịu cắt bỏ những dây dợ ràng buộc vô lối, vô nghĩa.
Nhân anh trích câu nói hay của Roosevelt, giá mà anh mời tôi đi cùng. Tôi sẽ mách cho anh một câu nói của Thomas Jefferson, cha đẻ của Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ: “Nếu biết hài hòa minh triết vào quyên lực, chúng ta sẽ ít dùng quyền lưc, mà hiệu quả lớn.” Ở Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội hiện có đôi câu đối, một vế của nó là: Dưỡng Minh Triết Dĩ Kế Trị, Thăng Long Kinh Trường Tụ Tinh Hoa. (Nghĩa cũng thâm thúy chẳng kém gì, nuôi dưỡng minh triết để nối tiếp cuộc trị bình, kinh đô Thăng Long mãi mãi quy tụ tinh hoa). Minh triết là tinh hoa của tư tưởng Việt. Nếu biết hài hòa với kiến thức đúng đắn, hợp lý và kinh nghiệm tốt đẹp hiện đại, chúng ta sẽ không cần Mác Lê mà vẫn có những kim chỉ nam tốt nhất để định hướng cho phát triển và phục hưng dân tộc, chạy đua rút ngắn cái thời gian đã mất. Người ta có thể nói hay ở diễn đàn,nhưng kết quả lại chỉ đo ở việc làm. Hãy nâng Dân lên, để Dân là chủ thể làm được mọi việc tốt lành cho những quan hệ tốt đẹp với “Mỹ”. Vì Mỹ cũng là đẹp.
Sau cùng tôi muốn thưa với anh chút hiểu biết về cái gọi là mặt tối của văn hóa: tinh thần “xin, cho”. Văn hóa Việt Nam ghi lại nhiều dấu tích của tinh thẫn xin cho. Các triều đình phong kiến luôn giành cho mình quyền lực tuyệt đối, và cả ngàn năm nuôi dưỡng tinh thần xin cho. Thần dân chỉ cắn rơm cắn cỏ van xin. Với Bắc quốc dẫu có đánh thắng họ rồi cũng sai sứ đi cầu phong. Khi Hồ Chí Minh lãnh đạo đất nước tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội, thì vẫn sai các ủy viên bộ chính trị “cắp rá đi xin ăn” (lời của Lê Thanh Nghị) khắp các nước xã hội chủ nghĩa!
Trong xã hội ta hiện nay tinh thần xin cho vẫn tràn ngập. Bởi thể chế của chúng ta xây dựng trên triết lý đảng lãnh đạo (mà đảng trong thời đại dân chủ, nhưng độc tôn, độc quyền ,độc nguyên), nhà nước quản lý (mà nhà nước không tam quyền phân lập, gần đây trước tình hình phổ biến của thời đại, không thể cứ quê mãi, nên đã đánh tráo khái niệm này để đánh lừa đông đảo người dân thiếu học, khi chỉ cho là sự phân biệt giữa ba cơ quan quyền lực (!), dân làm chủ. Làm chủ của dân chỉ là hình thức, mọi chuyện đều phải xin đảng, xin nhà nước. Ở những nước văn minh, tiên tiến, họ đề cao triết lý “La suprême du Peuple”- Quyền tối thượng của nhân dân, nên người dân, xã hội dân sự có thực quyền, tinh thần xin cho được thay thế bởi tinh thần dân chủ, dân quyền. Vậy nên hai cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đã khẳng định: “Nước được độc lập mà không có dân quyền cũng vô nghĩa.” Dẫu Hồ Chí Minh có lúc nói được những câu nghĩa lý, như trong bài Dân vận, ông nói “Bao nhiêu quyền hạn và lực lượng đều ở nơi Dân”. Nhưng thể chế không tốt, luật lệ thiếu sót, rút cục Dân vẫn chỉ là thân phận kẻ đi xin mà thôi.
Loại bỏ tinh thần đi xin, kiến taọ một tinh thần tự lập, tự chủ, phải xây dựng nền văn hóa mới, nền chính trị mới. Liệu từ Mỹ về, anh có trí, có dũng có tâm để Đại hôi XII là sự khép lại một thời kỳ trì trệ, xin xỏ,mở ra một thời kỳ mới của phục hưng, phát triển, dân tộc và dân chủ của Việt Nam hay không.”Ny pagadi” (tiếng Nga: hãy chờ xem)./.
Tác giả gửi choviet-studies ngày 10-7-15
12-07-2015
Một sự kiện khá thú vị và phản ảnh tình nghĩa của đảng CSVN là trong chuyến Mĩ du vừa qua mà báo chí ít nhắc đến, đó là bác Trọng có buổi gặp mặt với một số người lãnh đạo đảng cộng sản Hoa Kì (1). Bác Trọng còn mời John Bachtell, đương kim Chủ tịch Đảng CS Hoa Kì, viếng thăm Việt Nam, và ông ấy đã vui vẻ ok. Có lẽ chúng ta hơi ngạc nhiên là trong một đất nước như Mĩ mà đảng cộng sản vẫn tồn tại và hoạt động, nhưng chính sự tồn tại đó là cơ hội cho Việt Nam …
Tôi thử dùng google để tìm hiểu chút ít về đảng cộng sản Hoa Kì (The Communist Party of USA, hay CPUSA) thì thấy có vài thông tin thú vị. Khác với đảng CSVN dùng búa liềm làm biểu tượng, CPUSA dùng búa và cái vòng tròn có vẻ giống như cọng dây xích có răng làm biểu tượng (2). Màu đỏ của CPUSA có vẻ tối hơn (giống như máu hơn) là màu đỏ của đảng CSVN và đảng CS Tàu.
CPUSA ra đời khá lâu (từ thập niên 1920), và đã trải qua nhiều sóng gió. Thời gian hưng thịnh nhất (thập niên 1930-1940), CPUSA có gần 100 ngàn đảng viên (nhưng trong lịch sử đảng con số chưa bao giờ vượt qua 100 ngàn). Nghe nói thời đó có 3 dân biểu Quốc hội Mĩ thuộc đảng Dân chủ là đảng viên của CPUSA. Đến nay thì số đảng viên CPUSA chỉ còn 2000-3000 người mà thôi. Đảng chỉ có 2 người làm việc có lương, phần còn lại đều làm việc thiện nguyện vì lí tưởng cộng sản.
Trong thời chiến, CPUSA xuống đường biểu tình chống can thiệp của Mĩ ở Việt Nam. Có lẽ do nghĩa cử đó mà bác Trọng lần này dành ra một buổi để tiếp kiến đồng chí của ông trong CPUSA. Kể ra đó cũng là nghĩa cử đẹp của phía VN, ăn ở có trước có sau, không quên những người từng giúp đỡ, dù chỉ là gián tiếp, trong quá khứ. Nếu đảng CSVN dùng tiền viện trợ của Mĩ để giúp đỡ cho CPUSA phát triển thì còn hay hơn nữa.
Thể chế Mĩ chắc chắn có nhiều cái dở, nhưng cái hay của nó là các đảng đối lập có quyền tồn tại và hoạt động chính thức. Trong cái guồng máy sặc mùi tư bản chủ nghĩa như Mĩ mà CPUSA tồn tại và hoạt động suốt 80 năm cũng là đáng tự hào quá đi chứ. Không biết sau chuyến Mĩ du lần này, bác Trọng có nghĩ đến việc phục dựng các đảng mà bác Linh đã khai tử trước đây (3).
____
(1) Tổng bí thư dự ra mắt dự án đại học Fulbright (VNN).
(3) “Bên thắng cuộc” của Huy Đức.
Cát Linh, phóng viên RFA
2015-07-10

Công trình tượng phật khổng lồ cao 15,2 m, nặng hàng trăm tấn tại chùa Sắc Thiên Vương, thôn Tô Xuyên, xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ bất ngờ đổ sập hôm 7/7/2015.
Courtesy photo
Your browser does not support the audio element.
Không khó khăn để tìm thấy hàng loạt những con đường, những cây cầu nói riêng và nhiều những công trình khác chung ở khắp các tỉnh thành Việt Nam có chất lượng không như mong đợi của người dân. Chỉ trong vòng 3 tháng vừa qua, báo chí trong nước đã lên tiếng phản ảnh 4 công trình xây dựng bị hư hại ngay sau khi vừa khánh thành. Trong đó có cả công trình chỉ mới xong và bàn giao 50% tiến độ thì đã có tình trạng xuống cấp. Các cơ quan chức năng và người dân có nhận định gì qua những công trình này.
Tất cả những công trình có giá trị tiền tỷ đó đều được thực hiện ở các tỉnh thành, địa phương. Đặc biệt phần lớn đó là những xây dựng nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu xã hội của người dân vốn đã có cuộc sống khó khăn thuộc các huyện, tỉnh hoặc khu vực bên ngoài thành phố lớn.
Tiến sĩ Phạm Sĩ Liêm, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây Dựng cũng xác nhận phần lớn đều là những công trình xây dựng thuộc về tỉnh và địa phương:
” Gần đây lại có những chuyện rất đáng lo ngại mà hiện nay dư luận rất lo là chất lượng của các mặt đường bộ, cao tốc dùng vốn vay ODA để làm bị lún xuống rất nặng nề, vừa mới xây xong không bao lâu thì chất lượng mặt đường kém.
-TS Phạm Sĩ Liêm”
“Những công trình thuộc đầu tư công, phần lớn là thuộc các tỉnh và địa phương, chứ còn của trung ương thì không có tình trạng ấy.”
Trong một bài viết gần đây của trang báo điện tử thuộc Bộ xây dựng có phản ảnh về con đường nối từ quốc lộ 1A đến xã Quỳnh Đôi và nối đường du lịch sinh thái biển Quỳnh Bảng có chiều dài 9,5 km. Công trình này có trị giá gần trăm tỷ và mới chỉ hoàn thành 50%, mặc dù thời gian thi công tính đến nay là 8 năm.
Một ví dụ khác đó là công trình thoát nước kênh Ba Bò ở Bình Dương, có vốn đầu tư là 345 tỷ đồng vừa khánh thành xong, sau một cơn mưa lớn thì đã có hiện tượng lún, nứt ở khắp nơi. Hoặc ngôi trường phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm ở thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam được đầu tư với kinh phí hơn 120 tỷ đồng hư hỏng sau một học kỳ sử dụng.
Ông Liêm xác nhận tình trạng này cũng như thừa nhận mối lo ngại từ người dân:
“Gần đây lại có những chuyện rất đáng lo ngại mà hiện nay dư luận rất lo là chất lượng của các mặt đường bộ, cao tốc dùng vốn vay ODA để làm bị lún xuống rất nặng nề, vừa mới xây xong không bao lâu thì chất lượng mặt đường kém.”
Tiến sĩ Phạm Sĩ Liêm cho rằng có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tình trạng tiêu cực trên:
“Có nhiều nguyên nhân. Một là họ dùng cái câu ‘Tân quan tân chính sách’. Công trình đó có khi là của ông quan cũ, xây dựng chưa xong chưa hoàn chỉnh thì ông quan mới đến thay. Cái thứ hai là hấp tấp trong các dự án như thế này.”

Đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai bị nứt, lún mặt đường. Courtesy photo.
Hấp tấp theo hàm ý của ông Liêm còn có nghĩa là bằng mọi cách để dự án đó ra đời:
“Một dự án như thế thì có thể một số quan chức có thể kiếm chác trong dự án đó. Thế cho nên họ làm thế nào cho dự án đó ra đời. Trong quá trình xây thì họ đòi hỏi các khoảng của các nhà thầu các nhà cung ứng thiết bị, chứ không phải họ quan tâm đến ích lợi của bản thân công trình ấy lắm.”
Một nguyên nhân khác mà theo ông Liêm là do từ sự quản lý và phân cấp ban ngành:
“Hiện nay ở VN chính phủ phân cấp cho chính quyền các tỉnh rất nhiều quyền. Các quyền họ thực hiện nhiều khi chính phủ trung ương không kiểm soát được.”
Còn ở cấp địa phương, mà ông Liêm gọi đó là một khoảng sơn hà thì ở đó, ông cho rằng không có sự chặt chẽ trong quá trình giám sát:
“Còn ở địa phương thì quyền của người đứng đầu chính quyền địa phương to lắm nhưng giám sát thì lỏng lẻo. Có giám sát nhưng lỏng lẻo nên họ lợi dụng những việc ấy để gây ra những hậu quả như thế.”
Liên quan chặt chẽ và đóng vai trò rất quan trọng trong suốt thời gian thi công của công trình là bộ phậm giám sát qua nhận định của ông Liêm:
“Ở Việt Nam hiện nay chế độ giám sát không chuyên nghiệp. Và những những nhân viên giám sát này nhiều khi bị mua chuộc.”
Do đó, theo ông Liêm, nếu muốn nâng cao chất lượng công trình xây dựng thì phải xây dựng chế độ giám sát như ở các nước phát triển khác.
Hiện tại, ông Liêm cho biết số người làm việc trong ngành giám sát công trình ở Việt Nam là rất ít. Thường là chủ đầu tư tự giám sát hoặc nhà thầu tự giám sát. Vì lợi ích có liên quan nên dẫn đến sự giám sát không tốt:
“Bộ kế hoach đầu tư vừa rồi đưa ra một chủ trương cũng rất hay, là bây giờ khoáng cho các tỉnh, thành 1 số tiền trong 5 năm rồi tự lo lấy. Tỉnh nào cũng thế, nhiều hay ít chính phủ không thêm nữa.”
Theo ông Liêm, điều này sẽ thúc đẩy hiệu quả của đầu tư hơn.
Với người dân thì có lẽ cái họ cần là chất lượng an toàn đối với một công trình hơn là hoàn thành trong thời gian nhanh chóng. Một người dân làm nghề lái taxi không muốn nêu tên cho biết:
” Như hầm Thủ Thiêm, cứ theo tiêu chuẩn thế này thế kia, dí người ta quá bây giờ nghe nước nó rò rỉ, chính bản thân mình không dám chui qua. Không biết nó sập lúc nào.
-Một tài xế taxi”
“Thật ra không cần thiết phải làm hối thúc. Cứ làm sao cho nó bền, chắc, lâu dài và thẩm mỹ. Đó là điều quan trọng nhất.”
“Như hầm Thủ Thiêm, cứ theo tiêu chuẩn thế này thế kia, dí người ta quá bây giờ nghe nước nó rò rỉ, chính bản thân mình không dám chui qua. Không biết nó sập lúc nào.”
Chính vì chứng kiến quá nhiều công trình kém chất lượng nên đã gây cho họ cảm giác bất an, ngay cả những công trình hợp tác với nước ngoài.
“Hiện tại ở sài gòn thì công trình lớn nhất đang được mọi người quan tâm là công trình tàu điện ngầm. Hiện tại chưa biết thế nào. Nếu công trình này đưa vô hoạt động thì tất nhiên sẽ giảm được lượng giao thông quá tải, người dân đi lại thuận tiện hơn. Nhưng thật sự rất băn khoăn là không biết công trình này khi xây xong, đi vào giai đoạn đầu thì có an toàn không?”
Thật ra, trước khi nói đến thời gian, chất lượng, thẩm mỹ, giá trị thì điều mà người dân cần nhất là sự minh bạch. Họ mong được lên tiếng đối với những gì có liên quan đên đất nước mình.
“Người đứng ra giải quyết vấn đề phải trong sạch, vì nước vì dân. Chứ không phải cứ đưa phong bì bỏ túi là duyệt. Bất kỳ một dự án nào cũng phải minh bạch, công khai. Đưa lên báo chí cho dân chúng xem thế nào, duyệt hay không duyệt.”
Và quan trọng hơn hết, họ bao giờ từ chối những mục đích thật sự phục vụ cho nhu cầu của người dân, của xã hội.
“Nếu đúng giá trị thực tế và phục vụ được cho lợi ích của người dân, của cộng đồng thì ủng hộ hết mình.”
Khủng hoảng Hy Lạp: Hủy họp thượng đỉnh
Việc thảo luận về lần cứu trợ thứ ba cho Hy Lạp hôm thứ Bảy chưa đi đến kết quả
Cuộc họp thượng đỉnh của toàn bộ các thành viên Liên minh châu Âu (EU), dự kiến diễn ra vào Chủ Nhật, đã bị hủy trong lúc các cuộc đàm phán “rất khó khăn” về thỏa thuận cứu trợ lần ba cho Hy Lạp đang tiếp diễn.
Bộ trưởng tài chính các nước trong khu vực dùng đồng euro đã hoãn đàm phán hồi đêm hôm qua và sẽ sớm trở lại thương thảo.
Chủ tịch Hội đồng Âu châu Donald Tusk nói cuộc họp của các lãnh đạo khối các nước dùng đồng euro sẽ diễn ra vào lúc 14:00GMT và “kéo dài cho tới khi chốt lại được việc đàm phán về khủng hoảng Hy Lạp”.
Nếu không đạt được một thỏa thuận thì người ta cho rằng Hy Lạp sẽ phải ra khỏi khối sử dụng đồng euro.
Các cuộc đàm phán dai dẳng hôm thứ Bảy đã kết thúc mà không đạt được thỏa thuận gì, và người đứng đầu Nhóm các Bộ trưởng Tài chính Khu vực Đồng tiền chung châu Âu (Eurogroup), ông Jeroen Dijsselbloem, nói rằng các cuộc đàm phán là “rất khó khăn”.
“Chúng tôi đã thảo luận sâu rộng về các đề án của Hy Lạp; vấn đề về tính khả tín và lòng tin đã được bàn tới, và tất nhiên là cả các vấn đề về tài chính nữa, nhưng chúng tôi vẫn chưa thể đi đến kết quả,” ông Dijsselbloem nói với các phóng viên.
“Rất khó khăn, nhưng quá trình làm việc vẫn đang tiến triển.”
Phó Chủ tịch Ủy ban châu Âu, Valdis Dombrovskis, nói “rất khó có khả năng” đạt được kết quả trong cuộc họp Chủ Nhật để các bên có thể chính thức tiến tới đàm phán về gói cứu trợ thứ ba.
NGHỆ THUẬT BẮT LỖI VÀ NHẬN LỖI
Giáo sư Trần Văn Khê được mời dự buổi sinh hoạt của Hội Truyền bá Tanka Nhật Bản, tổ chức tại Paris (Pháp). Tham dự hầu hết là người Nhật và người Pháp, duy chỉ mình ông là người Việt.
Diễn giả hôm đó là một cựu Thủy sư Đề đốc người Pháp đã mở đầu bài thuyết trình bằng câu: “Thưa quý vị, tôi là thủy sư đề đốc đã sống ở Việt Nam 20 năm mà không thấy một áng văn nào đáng kể.
Nhưng khi sang nước Nhật, chỉ trong vòng một, hai năm mà tôi đã thấy một rừng văn học, trong đó Tanka là một đóa hoa tuyệt đẹp, chỉ cần nói một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu tình cảm với chỉ 31 âm tiết. Chỉ hai điều này thôi, các nước khác không dễ có được…’”.
Những lời phái biểu này đã chạm đến lòng tự trọng dân tộc của Giáo sư Trần Văn Khê.
Khi đến phần giao lưa, ông xin phép đuợc bày tỏ:
“Thưa Ông Thủy sư Đề đốc, ông nói rằng ông đã ở Việt Nam hai mươi năm mà không thấy áng văn nào đáng kể. Tôi là người Việt, khi nghe câu đó tôi đã rất ngạc nhiên.
Chẳng biết khi ngài qua Việt Nam. ngài chơi với ai mà chẳng biết một áng văn nào của nước Việt? Có lẽ ngài chỉ chơi với những người quan tâm đến chuyện ăn uống, chơi bời, hút xách…
Phải chi ngài chơi với giáo sư Emile Gaspardone thì ngài sẽ biết đến một thư mục gồm 1.300 sách báo về văn chương Việt Nam mà giáo sư đã in trên Tạp chí Viễn Đông bác cổ của Pháp. Hay nếu ngài gặp ông Maurice Durand thì sẽ có dịp đọc qua hàng ngàn câu ca dao Việt Nam mà ông ấy đã cất công sưu tập…
Nếu ngài làm bạn với những người như thế, ngài sẽ biết rằng nước tôi không chỉ có một, mà có đến hàng vạn áng văn kiệt tác…
Ngài nói trong thơ Tanka, chỉ cần một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu tình cảm. Tôi chỉ là nhà nghiên cứu âm nhạc nhưng với kiến thức văn chương học thời trung học cũng đủ để trả lời ngài: Việt Nam có câu:“Đêm qua mận mới hỏi đào / Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?”. Trai gái thường mượn hoa lá để bày tỏ tình cảm.
Còn về số âm tiết, tôi nhớ sử Việt Nam chép rằng ông Mạc Đĩnh Chi thời nhà Trần đi sứ sang nhà Nguyên (Trung Quốc), gặp lúc bà phi của vua Nguyên vừa từ trần. Nhà Nguyên muốn thử tài sứ giả nước Việt nên mời đọc điếu văn. Mở bài điếu văn ra chỉ có 4 chữ “nhất”. Mạc Đĩnh Chi không hốt hoảng mà ứng tác đọc liền:
“Thanh thiên nhất đóa văn
Hồng lô nhất điểm tuyết
Thượng uyển nhất chi hoa
Dao trì nhất phiến nguyệt
Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!
(Nghĩa là:
Một đám mây giữa trời xanh
Một bông tuyết trong lò lửa
Một bông hoa giữa vườn thượng uyển
Một vầng trăng trên mặt nước ao
Than ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!
– tất cả chỉ 29 âm chứ không cần đến 31 âm”.
Khi giáo sư Khê dịch và giải nghĩa những câu thơ này thì khán giả vỗ tay nhiệt liệt.
Ông thủy sư đề đốc đỏ mặt, nói: “Tôi chưa biết gì về người vừa nói, chỉ biết ông là một nhà âm nhạc. Nhưng khi ông nói và dẫn chứng, tôi biết mình đã quá sai khi vô tình làm tổn thương giá trị văn chương của dân tộc Việt Nam, tôi xin lỗi cả dân tộc Việt Nam’”.
(thương tiếc CÂY ĐẠI THỤ của nền Văn hóa Việt Nam – Giáo sư Trần Văn Khê)
S.T.
20 SỰ THẬT VỀ CUỘC SỐNG GIÚP BẠN TRƯỞNG THÀNH HƠN
Cuộc sống luôn chứa đựng những sự thật phũ phàng mà có thể bạn không muốn chấp nhận, nhưng nếu dũng cảm đối mặt, bạn sẽ trưởng thành hơn. Hãy đọc 20 sự thật về cuộc sống dưới đây và cùng suy ngẫm nhé!
1. Có thể tiền không phải là tất cả, nhưng có tiền thì mọi thứ luôn dễ dàng hơn.
2. Cuộc đời cũng giống như Facebook vậy. Mọi người sẽ like vấn đề trong status của bạn, nhưng sẽ không ai giải quyết giúp bạn cả, vì ai cũng bận cập nhật status của mình.
3. Đời không như là mơ. Hãy sẵn sàng để đương đầu với những thử thách ở phía trước.
4. Đừng dựa dẫm vào bất kỳ ai trên đời này bởi vì ngay cả cái bóng của bạn cũng rời bỏ bạn những lúc tối tăm.
5. Sẽ đến lúc bạn gặp thất bại. Nhưng hãy nhớ rằng không ai thành công mà chưa từng thất bại. Điều quan trọng là bạn có đủ dũng khí để đứng dậy?
6. Cơ hội giống như bình minh. Nếu bạn chờ đợi quá lâu, bạn có thể bỏ lỡ nó.
7. “Mọi người sẽ không bao giờ ngó ngàng đến lòng tự trọng của bạn, điều mà họ quan tâm chính là thành tựu mà bạn đạt được. Do đó, trước khi có được thành tựu thì bạn đừng nên quá chú trọng hay cường điệu lòng tự trọng của bản thân mình lên” – Bill Gates.
8. Nếu bạn không xây dựng ước mơ của mình, người khác sẽ thuê bạn xây dựng ước mơ của họ.
9. Có một số người bạn không nên gặp thì sẽ tốt hơn.
10. Ngoại hình và gia cảnh mãi là một khuôn khổ mà xã hội mang ra để nhận xét một con người.
11. Đường lâu ngày không đi sẽ mọc đầy cỏ dại. Người lâu ngày không gặp sẽ trở thành người dưng.
12. Chỉ mất hai năm để học nói, nhưng phải mất cả đời để học những gì không nên nói.
13. Người ta có rất nhiều nơi để đến, nhưng chỉ có một chốn để quay về – gia đình.
14. Bạn sẽ chẳng bao giờ nhận ra những thứ mình đang có quan trọng như thế nào cho đến khi bạn đánh mất nó.
15. Người bạn yêu chưa chắc đã yêu bạn. Hãy biết buông bỏ đúng lúc để tránh bị tổn thương.
16. Bạn có thể mua được một chiếc đồng hồ, nhưng bạn không thể mua được thời gian. Bởi vậy, hãy tận dụng từng giây phút bạn có.
17. Niềm tin giống như một tờ giấy, một khi đã nhàu nát sẽ không bao giờ phẳng phiu được nữa.
20. Ai rồi cũng sẽ phải chết. Bởi vậy hãy sống sao cho bản thân không phải hối tiếc bạn nhé.
Nếu bạn thấy bài viết này hữu ích và ý nghĩa, hãy chia sẻ với bạn bè nhé!
Anh chị Thụ Mai gởi
‘Post’ này chẳng tày ‘Post’ nọ!
Huy Phương
Cục Trưởng Cục Báo Chí Hoàng Hữu Lượng vừa mở miệng lòi ra cái khả năng hiểu biết thấp kém, khi nói rằng, “Thế giới có rất nhiều tờ báo bưu điện có tiếng như Washington Post, Bangkok Post. Bộ giữ lại cái tên báo Bưu Điện Việt Nam cũng với hy vọng sẽ tạo được uy tín và danh tiếng như vậy!”
Bộ đây là Bộ Thông Tin và Truyền Thông, và cái gọi là “The Vietnam Post News” (Báo Bưu điện Việt Nam) là báo của Tổng Công Ty Bưu Điện Việt Nam (Vietnam Post) có nhiệm vụ “thực hiện chức năng cơ quan ngôn luận của bộ; thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền vì sự nghiệp phát triển của ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ: tổ chức quản lý, xuất bản báo điện tử Infonet theo đúng tôn chỉ, mục đích và nội dung thông tin theo quy định của pháp luật.”
Rõ ràng hơn, nhân dịp kỷ niệm “90 năm ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam,” Thứ Trưởng Trương Minh Tuấn đã chúc Báo Bưu Điện Việt Nam, luôn giữ đúng tôn chỉ mục đích, đặc biệt, tờ Bưu Điện Việt Nam phải chuyên về bưu điện.”
Như vậy, không nghi ngờ gì nữa, tờ “The Vietnam Post News” là một tờ báo của ngành bưu điện mà vì chữ Post, Hoàng Hữu Lượng đã đem so sánh với Washington Post hay Bangkok Post. Theo kiến thức này thì New York Post hay Denver Post cũng là “cơ quan ngôn luận” của Sở Bưu Điện hai tiểu bang này.
Thực sự thì “Vietnam Post” của Hoàng Hữu Lượng chỉ là một loại báo đảng, báo bộ, báo ngành, báo tỉnh, báo huyện đang “trăm hoa đua nở” ở Việt Nam.
Nhưng trước hết Hoàng Hữu Lượng là ai? Sau một thời gian đi lính, năm 1982, y được bộ đội gửi theo học đại học Tổng Hợp Hà Nội, sau đó làm việc tại Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam thuộc Bộ Quốc Phòng, và được làm ký giả cho Tạp Chí Lịch sử Quân sự, đã có dịp phỏng vấn nhiều nhân vật quan trọng trong quân đội Cộng Sản. Nói chung, Hoàng Hữu Lượng có nhiều “hồng” nhưng chẳng có chút “chuyên” nào, kiến thức và chữ nghĩa của ông chỉ mục đích ca tụng đảng hết lòng. Nếu như Hoàng Hữu Lượng là một quan chức có văn bằng Tiến Sĩ Báo Chí, thì đã có người viết bài cho ông nói, đằng này có sao nói vậy, nên ngoài kiến thức “vẹt” rổn rảng như các thủ trưởng khác, khi cao hứng nói ra chuyện ngoài đề là lòi cái “ngu” ra ngay.
Lãnh đạo ngành báo chí, nhưng y vẫn bị ám ảnh bởi hai chữ “cho phép:
“- Nước ta hiện có 849 cơ quan báo in, 67 đài phát thanh-truyền hình với gần 200 kênh truyền hình, 98 cơ quan báo chí điện tử và 1,525 trang thông tin điện tử tổng hợp, 420 mạng xã hội được phép hoạt động với lượng truy cập cao, ảnh hưởng ngày càng lớn về thông tin.”
849 tờ báo đó là báo nào, nếu không là báo đảng, báo đoàn, báo mặt trận, báo bộ, báo huyện, báo xã mà mỗi tờ báo đều có một tên đảng ủy ngồi chồm hổm trong đó. Tạp Chí Cộng Sản là Cơ Quan Lý Luận và Chính Trị của Trung Ương Đảng CSVN. Báo Người Lao Động là tiếng nói của Liên Đoàn Lao Động TP.HCM. Bộ Công An thì có báo Công An từ Công An Nhân Dân (báo Bộ) cho đến báo Công An Thành Phố (Sài Gòn), Công An Đồng Nai, Công An Đà Nẵng. Bộ Tư Pháp thì có báo Pháp Luật Việt Nam, báo Pháp Luật TP.HCM. Báo Tiền Phong là cơ quan của đoàn TNCS HCM. Báo Thanh Niên là Diễn Đàn của Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam. Báo Thiếu Niên Tiền Phong là Cơ Quan Trung Ương Đoàn Thiếu Niên Cộng Sản HCM. Báo Phụ Nữ là Cơ Quan Liên Hiệp của Hội Phụ Nữ Việt Nam. Báo Phụ Nữ Thủ Đô Hà nội là Cơ Quan Liên Hiệp của Hội Phụ Nữ Hà Nội (cứ như vậy báo Phụ Nữ có mặt khắp nước…) Báo Cà Mau là cơ quan của đảng Bộ Đảng Cộng Sản tỉnh Cà Mau, Báo Hải Dương là cơ quan của đảng Bộ Đảng Cộng Sản tỉnh Hải Dương… Báo Người Cao Tuổi là cơ quan của Trung ương Hội Người Cao Tuổi Việt Nam (nằm trong mặt trận tổ quốc Việt Nam.) Báo Giác Ngộ là cơ quan của Giáo Hội PGVN (Quốc Doanh). Công giáo và dân tộc là tờ báo của Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo thành phố Sài Gòn. Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo này là một cơ quan được mặt trận tổ quốc Việt Nam thiết lập để vận động người công giáo thi hành những mệnh lệnh của đảng CSVN.
Trong 849 tờ báo này không hề có một tờ báo nào của tư nhân, nên chúng không mang còng của đảng thì cũng đội vòng kim cô của mặt trận, mà mặt trận là con của Đảng Cộng Sản.
Cũng đừng coi thường ông Cục Báo Chí Hoàng Hữu Lượng, ông khoe ông chỉ huy gần 35,000 cử nhân, tiến sĩ:
“Đến nay lực lượng báo chí đã có 35,000 người, trong đó có gần 18,000 là nhà báo chuyên nghiệp; tỉ lệ người làm báo có trình độ đại học và trên đại học là 95,9%.”
Hy vọng 35.000 người có trình độ đại học và trên đại học là 95,9% này không đến nỗi dốt như ông.
Nhiệm vụ của báo chí dưới chế độ Cộng Sản là gì? Cục trưởng Báo Chí xác định, “là một bộ phận của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản và theo sự phân công của hệ thống chính trị đó, báo chí có quyền lợi và trách nhiệm thông tin, tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng Cộng Sản và Hệ Thống Nhà Nước, đoàn thể dưới sự lãnh đạo của nó…” Thế là, nếu “thú cách hóa” thì nhà báo ấy là con vẹt, “vật cách hóa” nhà báo ấy là cái loa tuyên truyền treo đầu xóm. Con vẹt không có suy nghĩ chỉ biết lặp lại, và cái loa chỉ có khả năng truyền đi nguyên xi những cái gì nó nhận được!
Con vẹt, cái loa làm sao mà tự do suy nghĩ và có tự do phát biểu được.
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo ở trong nước phân biệt hiện nay có hai lối làm báo, “Làm báo nói láo ăn tiền” và “làm báo nói thật ăn đòn.” Nói xạo, ca tụng đảng, tâng bốc công ty, xí nghiệp, tạo thành tích láo thì có tiền bỏ túi, mà còn được lãnh huân chương lao động, hay trở thành “nhà báo nhân dân.”
Còn “nói thật ăn đòn” thì vô số kể:
Năm 1992, Vũ Kim Hạnh bị đình chỉ chức vụ Tổng Biên Tập báo Tuổi Trẻ, vì đã đụng tới Hồ Chí Minh, đăng tin của Hồ đã từng có vợ là người Trung Quốc.
Trần Quang Thành hiện đang định cư tại Tiệp Khắc là một nhà báo bị tạt acid khiến dung mạo bị dị dạng, thân thể bị hủy hoại 81%, chỉ vì dám viết bài phơi bày tham nhũng tại Việt Nam.
Năm 2008 Cộng Sản trừng phạt hai ký giả, giải nhiệm tổng biên tập và phó tổng biên tập báo Đại Đoàn kết vì báo có bài chỉ trích chính phủ và Đảng Cộng Sản cầm quyền.
Mới đây nhất, 2015, Kim Quốc Hoa, Tổng Biên Tập báo Người Cao Tuổi, bị cách chức và truy tố vì có những bài viết chống tham nhũng đụng tới đảng.
Làm báo đảng đã khổ vậy, còn làm báo “ngoài luồng” như các blogger thì bị kết tội phản quốc, gián điệp, chịu cảnh tù đày, đánh đập, bể đầu, hộc máu miệng, nhan nhản hằng ngày trên cái bãi rác có cắm bảng cấm “độc lập-tự do-hạnh phúc.”
Chánh án Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ Hugo Black (1886-1971) đã nói, “Chỉ có một nền báo chí tự do không bị áp chế thì mới vạch trần hữu hiệu những thủ đoạn lừa bịp của chính phủ. Trong nhiều trách nhiệm của báo chí, quan trọng nhất là phòng chống bất cứ một bộ phận nào thuộc chính phủ lừa dối nhân dân…”
Nếu Hoàng Hữu Lượng biết chuyện hai nhà báo Mỹ Bob Woodward và Carl Bernstein của tờ Washington Post đã làm cho Tổng Thống Richard M. Nixon phải rời Bạch Ốc trước nhiệm kỳ, thì đã chẳng nói năng kiểu “ếch ngồi đáy giếng” kiểu này! Và hơn nữa, con ếch này lại muốn to bằng con bò cơ!