Công việc bảo vệ sự sống tại Việt Nam

Công việc bảo vệ sự sống tại Việt Nam

Hoàng Dung, thông tín viên RFA

08092015-life-protct-activites.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tổ chức Y tế Thế giới-WHO, Việt Nam là một trong 3 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới.

Tổ chức Y tế Thế giới-WHO, Việt Nam là một trong 3 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới.

AFP

Hoạt động của một số các bạn trẻ tại Việt Nam với danh xưng ‘bảo vệ sự sống’ được tiến hành lâu nay; khi mà theo Tổ chức Y tế Thế giới-WHO, Việt Nam là một trong 3 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới.
Công tác đó tiến triển ra sao và mục tiêu giúp giảm bớt nạn phá thai trong nước đạt được mức nào?

Tiến triển của hoạt động ‘bảo vệ sự sống’.

Phong trào ‘bảo vệ sự sống’ phát triển mạnh mẽ trên thế giới và đã có từ lâu. Ở Việt Nam phong trào này mới được xây dựng và phát triển khoảng hơn 20 năm nay và khởi đi từ thành phố Huế và hiện nay thì đã có khắp cả nước.

Còn một bạn trẻ trong nhóm bảo vệ sự sống ở giáo xứ Thái Hà, thành phố Hà Nội cho biết.

“Nhóm bảo vệ sự sống tại Thái Hà thì từ năm 2009 đến nay các hoạt động về bảo vệ sự sống gồm có: truyền thông, tư vấn thuyết phục và các hoạt động an táng thai nhi vẫn duy trì đều đặn, trong đó gồm ¼ là người già và trung tuổi còn là lại các bạn trẻ. Hoạt động bảo vệ sự sống ở Hà Nội thì gồm có truyền thông, trong truyền thông thì có các hoạt động như thuyết trình ở các giáo xứ, giáo họ về bảo vệ sự sống chống phá thai, ngoài ra còn có các hoạt động quần chúng như các ngày lễ ngày 8 – 3, ngày Valentina ..tổ chức đi xe đạp phát tờ rơi. Ngoài ra có trang Web và Facebook. Còn có văn phòng tư vấn ở nhà xứ Thái Hà, do cha Quỳnh trực tiếp tư vấn hoặc cũng có thể qua Fanpage của nhóm, bên cạnh đó còn có các tình nguyện viên đến trực tiếp các bệnh viện để gặp gỡ các trường hợp nạo phá thai để tư vấn mong họ giữ lại các thai nhi. Còn có các ngôi nhà mở để các thai phụ để các bạn gần sinh đến đó để chăm sóc. Hoạt động cuối cùng là mỗi buổi tối có các bạn trẻ đến các bệnh viện xin các thai nhi về tắm rửa, khâm liện cho các em và an các thai nhi. Nhờ có những hoạt động”

” Nhóm bảo vệ sự sống tại Thái Hà thì từ năm 2009 đến nay các hoạt động về bảo vệ sự sống gồm có: truyền thông, tư vấn thuyết phục và các hoạt động an táng thai nhi vẫn duy trì đều đặn, trong đó gồm ¼ là người già và trung tuổi còn là lại các bạn trẻ

Một bạn trẻ trong nhóm BVSS”

Anh Trịnh Nguyễn một người trong nhóm bảo vệ sự sống Gioan Phaolo II ở Nghệ An nhớ lại.

“Em tham gia trung tâm BVSS Gioan Phaolo II từ năm 2008 khi đó em còn là sinh viên trường CĐSP Nghệ An, lúc đó phong trào đang trên đà phát triển mạnh, tuy nhiên đến năm 2011 khi một số thành viên nòng cốt của nhóm bị bắt như anh Fx Đặng Xuân Diệu, Pet Trần Hữu Đức, Ant Đậu Văn Dương, Jb Hoàng Phong…và bị quy chụp là tuyên truyền chống phá nhà nước cũng như hoạt động chống phá nhà nước, lúc đó nhà cầm quyền CS Nghệ An cũng quy chụp trung tâm BVSS Gioan Phaolo II là phản động và dùng nhiều cách để phá hoại nên trung tâm sau đó không lâu đã tan rã.”

Sự tan rã của nhóm bảo vệ sự sống Gioan Phaolo II đối với anh Trịnh Nguyễn như là một sự mất mát tinh thần vô cùng lớn.

Nhóm Bảo vệ sự sống ở Hà Nội tuần hành kêu gọi bảo vệ sự sống và chống phá thai

Nhóm Bảo vệ sự sống ở Hà Nội tuần hành kêu gọi bảo vệ sự sống và chống phá thai

“Sự tan rã của trung tâm đối với em, nó như là một sự mất mát rất lớn vì đó cũng là bao tâm huyết mà em và mọi người đã xây dựng, thực sự khi nghe tin đó em đã không cầm được nước mắt.”

Thành quả

Công việc bảo vệ sự sống là một việc cần sự dấn thân, tuy nó không lớn lao gì, nhưng việc đó cũng đã mang lại sự sống cho các em bé được cứu từ tay tử thần hoặc cũng giúp cho các em được chết như một con người.
Tuy thời gian trung tâm bảo vệ sự sống Gioan Phaolo II chỉ hoạt động trong một thời gian ngắn, nhưng những việc mà các thành viên trong nhóm làm được cụ thể như lời anh Trịnh Nguyễn sau đây.

“Thời gian em tham gia cũng được 3 năm từ năm 2008 – 2011, trong thời gian đó em cũng là thành viên như bao thành viên khác, nhưng em cũng đã cộng tác với mọi người để giúp cho nhóm đã cứu sống được hơn 30 em bé dưới bàn tay của tử thần và chôn cất được hơn 50.000 thai nhi bé bỏng bị bố mẹ của họ từ chối sự hiện diện của họ trên cõi đời này.”

Bạn trẻ trong nhóm bảo vệ sự sống ở Hà Nội tiếp lời.

” Thời gian em tham gia cũng được 3 năm từ năm 2008 – 2011, trong thời gian đó em cũng là thành viên như bao thành viên khác, nhưng em cũng đã cộng tác với mọi người để giúp cho nhóm đã cứu sống được hơn 30 em bé dưới bàn tay của tử thần và chôn cất được hơn 50.000 thai nhi

anh Trịnh Nguyễn”

“Từ năm 2009 đến nay Từ năm 2009 đến nay nhóm bảo vệ sự sống Thái Hà Hà Nội đã an táng cho khoảng 14.000 thai nhi tại nghĩa trang Thạch Bích và khoảng 33.000 thai nhi tại nghĩa trang Từ Châu. Nhóm cũng đang cưu mang và chăm sóc cho khoảng gần 200 em nhỏ ở các nhà mở.”

Tác động.

Phong trào bảo vệ sự sống ở Việt Nam còn non trẻ nên hiệu quả của nó có thể chưa cao, nhưng không thể phủ nhận được những công việc được thực hiện giúp cho thêm nhiều người đã quan tâm hơn đến việc bảo vệ các thai nhi, không phá thai bừa bãi.

Bạn trẻ trong nhóm bảo vệ sự sống ở Hà Nội cho biết.

“Tôi nghĩ là từ năm 2009 đến nay, thì hiệu quả của chúng tôi đạt chưa cao, nhưng trong phạm vi thành phố Hà Nội nó cũng góp một tiếng nói trong thảm trạng nạo phá thai để giúp bảo vệ sự sống cho các thai nhi”.

Tuy hiện nay trung tâm mẹ là trung tâm bảo vệ sự sống Gioan Phaolo II đã tan rã, nhưng bên cạnh đó lại còn đang có nhiều trung tâm khác đã được thành lập và hiện đang hoạt động rất mạnh ở Nghệ An.
Anh Trịnh Nguyễn cho biết thêm.

“Trong thời gian tham gia bảo vệ sự sống, ngoài việc đi đến các bệnh xin xin các thai nhi về chôn cất, đi tư vấn các thai phụ bỏ ý định phá thai, nuôi dạy các thai phụ cũng như chăm sóc các em nhỏ thì chúng em còn tổ chức các buổi thắp nến cầu nguyện cho BVSS ở các giáo xứ để giúp mọi người thức tình, từ đó nhiều nhóm BVSS  thành lập ở một giáo xứ ở GP Vinh, như nhóm ở GX Bột Đà, ở xứ Yên Lý, xứ Chân Thành và có một sự kiện đáng nhớ là vào tháng 7 năm 2009 nhóm chúng em đã tổ chức đi bộ 2 ngày với hơn 70km để cầu nguyện cho phong trào BVSS cũng như thức tỉnh mọi người cùng chung tay góp sức để BVSS, từ đó mọi người đã chú ý đến hơn đến chúng em và công việc bảo vệ sự sống”.

Theo Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, tỉ lệ nạo phá thai ở Việt Nam là khoảng 300.000 ca mỗi năm. Trong đó có khoảng 20% ở độ tuổi vị thành niên. Trung bình cứ mỗi một đứa bé được sinh ra thì có một bào thai bị phá bỏ. Việt Nam là nước đứng thứ 3 trên thế giới và đứng thứ nhất ở Đông Nam Á về tình trạng nạo phá thai.

Một Tấm Huân Chương Cho Sâu & Chuột

Một Tấm Huân Chương Cho Sâu & Chuột

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Còn nói đến Tạp Chí Cộng Sản thì càng tệ hại hơn. Ít ra anh báo Nhân Dân không ai đọc nhưng còn sử dụng được vào một số việc “tế nhị” khác. Còn anh cơ quan ný nuận của đảng thì chẳng dùng được vào việc gì…

Nguyễn Dương

Thông Tấn Xã Việt Nam vừa hân hoan loan một tin vui:

“Sáng 4-8, tại Hà Nội, Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 85 năm Ngày Tạp chí ra số đầu tiên (5-8-1930 / 5-8-2015) và đón nhận phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước – Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ hai.”

Giữa thời đại internet, báo bổ ở khắp mọi nơi – trên toàn thế giới – đang dẫy chết hàng loạt mà Tạp Chí Cộng Sản vẫn sống hùng, sống mạnh để  “đón nhận phần thưởng cao qúi” thì quả là một kỳ tích vô cùng đáng kể, và đáng nể.

Cả làng báo Việt Nam đều xuýt xoa chia mừng, và râm ran tán thưởng, chỉ riêng có mỗi ông Nguyễn Dương (nghe đâu là bạn bè của Trương Duy Nhất, hay chính thằng chả không chừng) là không biểu đồng tình. Ổng chê cái tạp chí này “là cơ quan đánh bóng lư đồng” và “chả có ma nào đọc” cả!

Châm chọc và mỉa mai đến vậy mà (chắc) vẫn chưa đã miệng nên đương sự còn viết cả một bài báo dài thòng (“Những Chiếc Lồng Son”) với rất nhiều lời lẽ cay đắng, cùng dè bỉu. Bài này tuy dài thiệt nhưng vì trang S.T.T.D bữa nay còn trống (hoàn toàn) nên xin được “ịn” lại toàn văn, nghĩa là “copy & paste” nguyên con,” để đọc … cho nó đã:

Sáng nay gặp mấy thằng bạn dân báo lề đảng “khạnh khẹ” nhau: Mày làm báo TW sướng thật, đi đến đâu cũng được ở nhà to, hưởng lộc lớn, chẳng bù cho bọn tao suốt ngày phải cắp cặp chạy theo. Tay kia không phải vừa: Bọn ông cũng đâu thua gì, cũng ăn trên ngồi trước thiên hạ.

Hỏi ra mới biết các chú báo đảng địa phương Sài Gòn đang phân bì thiệt hơn với mấy bác báo đảng TW vì các anh í  vừa được về ở nhà to, được trang bi xe cộ, phương tiện tác nghiệp tân thời hơn.

Nhà Khách Báo Nhân Dân Ở Tam Đảo. Nguồn ảnh: toa-soan-bao-nhan-dan-tam-dao-hotel

Số là tạp chí Cộng sản (TCCS), cơ quan lý luận và chính trị của TW đảng CSVN (cơ quan thường trực miền Nam, số 19 Phạm Ngọc Thạch, P6, Q3, Tp HCM) và báo Nhân dân (ND), cơ quan TW của đảng CSVN (cơ quan thường trú tại Tp HCM, số 40 Phạm Ngọc Thạch, P6, Q3, Tp HCM) vừa được dọn về nhà mới.

Đúng là không hẹn mà gặp, cả hai anh phát ngôn của đảng cùng chọn một con đường khá đẹp nằm ở trung tâm Sài Gòn để đặt bản doanh của mình. Tuy chỉ là cơ quan thường trực ở Tp HCM nhưng cả hai đều tọa lạc trong tòa nhà cao hơn chục tầng, mới xây dựng khang trang khiến người qua lại phải choáng ngợp.

Khi tôi đứng chụp hình trước cơ quan thường trú báo ND, một anh mặc áo quần tươm tắt chạy ra cự nự đầy vẻ nghiệp vụ báo chí “ông chụp hình đây làm gì?”

Ảnh: Nguyễn Dương

Tôi nói xạo: Thấy tòa nhà đẹp quá em chụp về in lịch. Hắn ta khoái chí cười hè hè. Mặc dù không được các ảnh mời “nhân dân” vào chơi xem nhà mới, nhưng tôi đoán chắc rằng trong đó là những căn phòng sang trọng với máy lạnh mở suốt ngày, bàn ghế bóng ngời, các bộ máy vi tính, laptop đời mới trưng bày la liệt.

Đúng là những con họa mi ở đây cả phần hồn lẫn phần xác được chăm lo nơi đến chốn, “nắng không đến đầu, mưa không đến tóc”. Thảo nào các chú chim trống, các ả chim mái ở đây lại “hót” hay đến thế.

Trong làng báo chí mọi người vẫn khẳng định: Làm báo ND là sướng nhất. Quanh năm suốt tháng chỉ việc đi dự hội nghị, khai trương, động thổ, trao huân chương… Đi đến đâu các anh báo ND đều được trọng vọng, ăn trên ngồi trước.

Các cơ quan từ TW đến địa phương họp hành, khai trương gì báo nào cũng có thể bỏ qua nhưng báo ND thì không bao giờ dám thất lễ.  Tôi có anh bạn trước đây chỉ làm báo địa phương làng nhàng, thế nhưng từ khi được chuyển qua làm phóng viên thường trú của báo ND là khác hẳn; ăn nói cũng khệ nệ, cha chú hơn, nhưng đổi lại chẳng còn bài viết nào ra hồn, tay nghề cũng lụn bại từ  ấy.

Thế nhưng, nếu cho đọc giả bình chọn thì có lẽ tờ ND là báo tào lao nhất, tẻ nhạt và… xạo nhất. Hầu như trên tất cả các sạp bán báo đều không thấy bóng dáng anh ND.

Nói không ngoa, báo chí cách mạng thời hoạt động bí mật còn kiếm dể hơn kiếm một tờ báo ND ngày nay. Viết đến đây tôi chợt nhớ đến một bài viết ngắn trên blog có tên laothayboigia, trong đó có câu: Từ khi các gia đình Việt dùng quen giấy vệ sinh cuộn, báo Nhân dân càng trở nên khó tiếp cận với quần chúng.

Còn ông hàng xóm của tôi đã gần 30 năm tuổi Đảng nói một câu rất “thiệt tình”: Bọn tau bây giờ đọc báo ND chỉ đọc mục… cáo phó.

Thử hỏi bao nhiều vụ tham ô, tham nhũng lớn có anh phóng viên báo ND nào mò ra đâu, bao nhiêu chuyện bức xúc, khẩn thiết của người dân các anh có lên tiếng đâu. Các anh chỉ nói theo kiểu “định hướng”, vuốt đuôi. Các anh chỉ giỏi lo chuyện trên trời, bận phân tích bao giờ kinh tế Mỹ sụp đổ, tỷ lệ thất nghiệp của châu Âu tăng cao so với cùng kỳ năm trước, lo Gaddafi còn trụ lại được bao lâu nữa…

Thực tế là ngày nay báo ND chỉ được “lưu hành” trong các cơ quan nhà nước, các chi bộ mà phần lớn là  moi tiền của ngân sách ra mua, đa số người ta đọc báo ND là đọc chùa, chứ chẳng mấy ai  bỏ tiền túi ra mua cả. Nực cười là báo làm ra không bán được nhưng bộ sậu báo ND vẫn sống khỏe, hưởng mọi bổng lộc của đảng ban phát, sống trên đầu trên cổ người khác. Tiền đó ở đâu ra??

Còn nói đến TCCS thì càng tệ hại hơn. Ít ra anh báo ND không ai đọc nhưng còn sử dụng được vào một số việc “tế nhị” khác. Còn anh cơ quan ný nuận của đảng thì chẳng dùng được vào việc gì vì ở đây chỉ toàn là những cây bút cỡ đại tá, tiến sĩ Nguyễn Văn Quang.

Phối cảnh Tòa nhà Tạp chí Cộng sản. Tọa lạc tại số 19 đường Phạm Ngọc Thạch,

phường 6, quận 3, TP HCM. Ảnh: PVV.COM

Những chuyện đơn giản mấy ảnh làm cho phức tạp lên với mớ lý luận chỉ để hù dọa mấy anh các bộ chưa xóa mù chính trị. Các anh cứ nhai đi nhai lại mớ tín điều cũ rích, ngồi mơ mộng bao giờ thì chủ nghĩa tư bản giãy chết.

Không quá khi nói rằng đây là cơ quan đánh bóng lư đồng, chân đèn. Các anh suốt ngày ca ngợi sự ưu việt, bách chiến bách thắng của CN Mác – Lê Nin, các anh tô son, vẽ thêm râu cho ông Mác, ông Hồ mà ngay các ông ấy có sống dậy cũng không nhận ra mình.

Xin thưa các anh TCCS. Sản phẩm các anh làm ra chẳng ma nào đọc đâu, từ Bộ chính trị cho đến mấy anh đảng viên quèn đều biết tỏng các anh nói xạo, là đồ ba trợn nhưng họ buộc phải nuôi các anh, vỗ béo các anh vì các anh là những con vẹt đầu đàn, các anh có nhiệm vụ là người lĩnh xướng cho dàn đồng ca của hàng triệu con vẹt khác.

Thú thật tự thâm tâm tôi các anh làm gì thì mặc xác các anh, hôm nay các anh cưỡi voi thì rồi ngày mai các anh cũng xuống chó. Thế nhưng thằng dân đen tôi không thể nào không uất khi đối lập với hình ảnh ăn trơn mặc trắng, nhà cao cửa rộng của các anh là cảnh bần cùng của người dân. Trong những chiếc lồng son của các anh các anh có thấy được nỗi cơ cực của người dân nghèo như thế này không:

– Bệnh viện quá tải, 7 bệnh nhân/giường: Thông tin này được ông Lương Ngọc Khuê – Cục    trưởng Cục Khám chữa bệnh (Bộ Y tế) đưa ra tại Hội nghị sơ kết công tác y tế 6 tháng đầu năm của khu vực phía Bắc, tổ chức ở Hà Nội ngày 13.9.2011 (Dân Việt).

– Quá tải bệnh viện, bệnh nhân nằm gầm giường, hành lang: Hầu hết bệnh viện tại TP HCM đều  trong tình trạng quá tải, bệnh nhân nằm kín các hành lang. Ở các bệnh viện nhi, trẻ em nằm một giường 4-5 cháu, thậm chí người nhà phải giành nhau một chỗ ở gầm giường để trải chiếu cho bé nghỉ (Vnexpress).

– Quá tải bệnh viện lên đến con số “khủng” 364% (Lao Động).

– Bệnh viện Báo động xuống cấp, quá tải. Bệnh nhân… mặc áo mưa truyền nước biển (ykhoanet.com).

– 30 HS nghỉ học chăn bò do… trường xuống cấp: Hơn 30 em học sinh đã tốt nghiệp tiểu học ở thôn Mai Hạ (xã Mai Đình, Hiệp Hòa, Bắc Giang) không được nhận vào trường huyện bạn – THCS Đông Tiến, với lí do cơ sở vật chất của trường đã xuống cấp (Tiền Phong).

– Một trường học đã hết chỗ để xuống cấp: Đó là trường Tiểu học Liên Trì, xã Bình Hiệp, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi). Ngôi trường này có 6 phòng học cấp 4 được xây dựng từ hơn 40 năm trước nên hiện đã hết chỗ để… xuống cấp. Trong số 6 phòng học thì đã có 3 phòng bị mưa lũ làm sập hoàn toàn, các phòng còn lại thì tường bị nứt toác, cửa sổ chắp vá đủ loại ván, nhiều thanh gỗ trên trần bị mối gặm gần hết làm mái ngói cong vẹo có nguy cơ chờ… sập. Hằng ngày 200 học sinh phải “bám trường, bám lớp” dù tính mạng luôn bị rình rập (Thanh Niên).

– Vừa học vừa lo… trường sập: Hơn 400 học sinh và giáo viên trường Tiểu học số 1 Triệu Phước (xã Triệu Phước, Triệu Phong, Quảng Trị) ngày ngày vừa học vừa nơm nớp lo sợ khi phải ngồi bên những chiếc bàn mục ruỗng chỉ chờ gãy, những tấm ngói thủng lỗ chỗ nhìn thấu mặt trời (Dân Trí).

– Một trường mầm non 40 tuổi xuống cấp trầm trọng (Đất Việt).

Nói vậy thôi chứ có bao giờ các anh chị gặp những “cảnh đời” như thế. Các anh chi có đau ốm gì thì đã có bệnh viện tư nhân, bệnh viện quốc tế lo, con cái của anh chị đều được “cơ cấu” vào các trường điểm, trường chuẩn quốc gia, quốc tế. Các anh chị cứ yên tâm mà luyện thanh, luyện giọng để cất cao tiếng hót ca ngợi đảng, ca ngợi chế độ.

Chào thân ái và sẽ quyết toán!

Người Cùng Khổ NGUYỄN DƯƠNG

(Nguồn: Trương Duy Nhất blog)

Trương Duy Nhất blog đã bị đóng từ lâu nhưng bài viết thượng dẫn thì có thể tìm thấy nơi nhiều trang mạng khác. Thiệt là một bài báo thấm thía. Chỉ tiếc là cách dùng từ, đôi chỗ (“những con họa mi” –  “những chiếc lồng son”) có hơi bị … cliché!

Ông Trương Tấn Sang chơi chữ tân kỳ hơn thấy rõ. Chủ Tịch Nước gọi những người làm báo – kiểu như báo Nhân Dân và Tạp Chí Cộng Sản – là một “bầy sâu,” chớ không phảì là “bầy chim họa mi.”

Tương tự, ông Nguyễn Phú Trọng cũng “tân kỳ” không kém. Ông mô tả đây là một … bầy chuột. Tuy thế, vì bầy chuột này có công trạng làm loa tuyên truyền cho chế độ nên không bị “ném” mà còn được tuyên dương – vẫn theo như bản tin (thượng dẫn) của TTXVN:

“Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đến trao Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ hai tặng tập thể cán bộ, công chức, viên chức người lao động của Tạp chí Cộng sản.”

Thỉnh thoảng lại mang huân chương đem trao cho cả bầy sâu hay lũ chuột, rồi kêu gọi chúng phải là “lực lượng đi đầu trong đấu tranh phòng chống tham nhũng” thì quả là một chuyện khôi hài – một kiểu giễu dai, và diễu dở!

Cầm tay em anh hỏi

“Cầm tay em anh hỏi
Đường nào lên Thiên Thai,
Đường nào lên Thiên Thai,
Đường nào lên Thiên Thai?
Nơi hoa xuân không hề tàn,
Nơi bướm xuân không hề nhạt,
Nơi tình xuân không úa màu bao giờ.”

(Nhạc: Hoàng Nguyên/Lời: Hồ Hoàng Phương – Đường Nào Lên Thiên Thai)

(Mt 14: 5-8/17: 3-4)

Trần Ngọc Mười Hai

Cầm gì thì cầm, tay hoặc chân của ai đó cũng chẳng sao. Thế nhưng, chớ có “cầm nhầm” thứ gì khác, kẻo không những chỉ mình em, mà cả thế giới đều lên tiếng.

Hỏi gì thì hỏi, hỏi-han hay han-hỏi điều gì, cũng đừng nên hỏi các đấng bậc nhà Đạo những câu như thế! Bởi, chưa cần nghe anh hỏi, Đấng bậc tôi tớ của các bầy tôi đây sẽ tranh nhau mà trả lời. Ngoại trừ các chi tiết về Lưu Nguyễn, rượu Đào, suối Ngọc ở đâu đó, như câu hát cứ liên hồi, rằng:

“Ngày xưa sao Lưu Nguyễn,

gặp đường lên Thiên Thai,

Nhạc vàng ai mê say,

Rượu Đào ai ngây ngây

Suối Ngọc reo dưới bước chân đi,

Tiếng Nhạc tiên quyến luyến xiêm y,

ôi làm sao lạc vào được Thiên Thai.”

(Hoàng Nguyên/Hồ Hoàng Phương – bđd)

Bởi, như lời bọn tôi vừa nói, anh hoặc em có hỏi cho nhiều, thì nghệ-sĩ ở đời cũng chỉ có thể bảo ban với em hoặc anh những điều rằng:

“Anh nào biết đường lên Thiên Thai,

khi trời đất còn vương thương đau,

khi hồn anh chưa biết sẽ về đâu

Anh nào biết đường lên Thiên Thai,

khi lòng còn như băng buốt giá

Và tình còn e ấp, nói không thành lời.”

(Hoàng Nguyên/Hồ Hoàng Phương – bđd)

Thế đó, là chuyện ngày xưa. Còn, hôm nay và mai ngày, chỉ cần anh cất tiếng hoặc ầm ừ đôi ba chữ, chứ chẳng cần biết anh có cầm tay hay cầm chân ai đó không, cũng sẽ có đấng bậc này nọ ví von Thiên Thai với Nước Trời, ngay tức thì.

Thế nhưng, trước khi đi vào chi tiết những gì chưa hỏi đã trả lời một “chia sẻ”; nay, mời bạn và mời tôi, ta nghe sơ những chuyện “chưa hỏi đã có đáp án” như sau:

“Hai chàng trai nọ cầm tờ giấy xét nghiệm ở bệnh viện ra cửa đọc mà chẳng hiểu, bèn ngơ ngác đầy chất hỏi han, như sau:

-Tình-hình cậu thế nào? Có khả-quan không thế?

-Không dám “khả quan” đâu! Bác-sĩ khám tớ xong bèn kết luận bằng chữ BT tức “bó tay” to đùng thế này làm sao khả với quan được cơ chứ!

-Không bằng tớ đâu! Tình-hình của tớ còn tệ lậu hơn nữa.

-Ấy chết! Cậu nói gì mà “lậu” với tệ? Thế, ỗng nói là cậu bị lậu sao?

-Lại cũng không dám đâu! Chả lậu liếc gì đâu. Chả là, ngài phê cho tớ mấy chữ RLTH có nghĩa “Ruột lòi tới háng”, thế có chết không cơ chứ!

Than vãn ỉu xìu xìu một hồi, hai chàng trai gặp cô y-tá đầy chữ nghĩa bèn ráp tới hỏi và han thêm lần nữa, bèn được câu “đáp án” rất sáng tỏ như thế vầy:

-Các anh “cầm nhầm” kết-quả rồi! Đâu nào “cho em xin”… Anh đây Bác-sĩ phê hai chữ BT có nghĩa là “Bình thường” chứ chẳng phải bó tay bó chân gì hết đó! Còn, anh đây mấy chữ RLTH có nghĩa là “Rối loạn tiêu hoá”, chứ chẳng có gì hết đó. Uống viết thuốc xôi là xong ngay…”

Quả là đáp-án của dân “chuyên-nghiệp” khi thấy thiên-hạ những hỏi han như thế. Riêng nghệ-sĩ xưa, hay đưa ra câu hỏi không rõ có tính chuyên-nghiệp không mà sao cứ hát mãi những lời rằng:

“Nhìn trong đôi mắt đẹp,
lòng chợt vui như say;
kìa đường lên Thiên Thai,
kìa đường lên Thiên Thai
Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây,
tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,
Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.”

(Hoàng Nguyên/Hồ Hoàng Phương – bđd)

Nghe hát rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta đi thẳng vào vấn-đề về hỏi-han “Đường Nào Lên Thiên Thai” hay “đường nào dẫn đến Nước Trời, ở đâu đó?

Hễ cứ hỏi, là có thưa. Những thưa cùng hỏi rất tận-tình như bao giờ. Thế nên, hôm nay đây, thay vì trả-lời câu: “Đường nào lên Nước Trời hoặc Thiên Thai? Thì, đấng bậc ở chốn chóp bu nhà Đạo lại nói về đức tính đích-thực của các kẻ tin đang sống ở chốn Nước Trời, như sau:

“Đức Phanxicô nói rằng muốn nên chứng nhân đích thực trong đời sống Kitô hữu đòi phải có 3 đặc tính.

Trong bài giảng thánh lễ sáng hôm qua 11.06 tại nguyện đường Santa Marta, Đức Giáo Hoàng nói đến 3 đặc tính đó là: “Hành trình, phục vụ, lãnh nhận nhưng không.

Hành trình.

Đức Giáo Hoàng nhắc đến bài đọc Tin Mừng trong ngày nói về việc Chúa Giêsu sai các môn đệ ra đi loan báo Tin Mừng. Là một môn đệ của Chúa đòi hỏi phải mang lấy sứ mạng ra đi loan báo Tin Mừng.

Nếu người môn đệ không đi ra và không làm cho người khác lãnh nhận bí tích Rửa tội thì người ấy chưa phải là môn đệ đích thực của Chúa Giêsu. Người ấy thiếu sinh khí truyền giáo. Anh ta không thể ra khỏi chính mình để mang lại những điều gì tốt lành cho người khác.

Các môn đồ của Chúa Kitô cần phải lên đường mang lấy Tin Mừng, cần có một hành trình nội tâm không ngừng tìm kiếm Chúa, qua đời sống cầu nguyện và suy niệm. Nếu người môn đệ không theo đuổi cách thức này, công cuộc rao giảng Tin Mừng sẽ nên suy yếu.

Phục vụ.

Đức Giáo Hoàng nói đến đặc tính thứ hai nơi người kitô hữu đó là phục vụ. Không phục vụ không phải là Kitô hữu. Một người môn đệ không biết phục vụ người khác thì không phải là Kitô hữu. Người môn đệ cần phải theo những gì Chúa Giêsu rao giảng như được mời gọi nơi hai trụ cột của Kitô giáo: 8 Mối Phúc Thật và ‘Chứng thư’ như được liệt kê trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu chương 25.”

Nếu cuộc sống của chúng ta không biết phục vụ thì không có giá trị gì trong đời sống Kitô hữu. Người môn đệ đích phải biết phục vụ người khác đặc biệt là những người bị bỏ rơi.

Lãnh nhận Nhưng-không.

Đức Giáo Hoàng nói đến đặc-tính thứ 3 cần phải có nơi đời sống Kitô hữu đó là ‘nhưng không’. Đức Giáo Hoàng nhắc lại những lời của Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng “anh em đã được nhận nhưng không thì cũng hãy trao ban nhưng-không”.

“Thật buồn khi thấy có những Kitô hữu đã quên đi Lời này của Chúa Giêsu. Thật buồn khi thấy trong các cộng đoàn, giáo xứ, các dòng tu, giáo phận đã quên đi điều này. Vì như thế hóa ra ơn cứu độ đến từ sự giàu có, từ sức mạnh của con người.”

“Niềm hy vọng của ta đặt nơi Chúa Giêsu Kitô. Ngài ban cho ta niềm hy vọng để không bao giờ thất vọng. Niềm hy vọng giúp chúng ta vững mạnh lên đường; niềm hy vọng giúp chúng ta ra khỏi cái tôi ích kỷ của mình để phục vụ người khác; niềm hy vọng làm cho chúng ta nên giàu có chứ không bó hẹp nơi thế giới vật chất chóng qua này”. (theo zenit)

Thế đấy, là cuộc sống ở Nước Trời rất như thế. Như thế và như vậy, giống hệt một khẳng- định của thánh-nhân hiền-lành nhà Đạo từng lập đi lập lại rằng:

Sau khi đã loan Tin Mừng cho thành ấy

và nhận khá nhiều người làm môn đệ,

hai ông trở lại LýtRa, Icôniô và Antiôkia.

Hai ông củng cố tinh thần các môn đệ,

và khuyên nhủ họ giữ vững đức tin.

Hai ông nói:

“Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa.”

Trong mỗi Hội Thánh,

hai ông chỉ định cho họ những kỳ mục,

và sau khi ăn chay cầu nguyện,

hai ông phó thác những người đó cho Chúa,

Đấng họ đã tin.”

(Cv 14: 22-23)

Sống ở chốn Thiên-Thai/Nước Trời, thì như thế. Còn, đường lên Thiên-Thai/Nước Trời thì sao? Và đây, mời bạn và mời tôi, ta nghe tiếp đoạn khác ở trình-thuật Tin Mừng thánh Mát-thêu như sau:

Bấy giờ Đức Giêsu nói với các môn đệ của Người:

“Thầy bảo thật anh em,

người giàu có khó vào Nước Trời.

Thầy còn nói cho anh em biết:

con lạc đà chui qua lỗ kim

còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.”

Nghe nói vậy,

các môn đệ vô cùng sửng sốt và nói:

“Thế thì ai có thể được cứu?”

Đức Giêsu nhìn thẳng vào các ông và nói:

“Đối với loài người thì điều đó không thể được,

nhưng đối với Thiên Chúa,

thì mọi sự đều có thể được.”

(Mt 19: 23-26)

Hỏi rằng: ta hiểu câu trên như thế nào? Phải chăng người muốn nói: muốn vào chốn Thiên-Thai/Nước Trời, phải trở nên nghèo khó, bé nhỏ, sống túng-thiếu chứ không sang giàu hoặc dư dật? Bởi, nếu đã giàu sang/dư dật rồi, lại sẽ khác.

Sống ở chốn Thiên-thai/Nước Trời, là sống tình-trạng thanh-thoát, trống-trải để rồi sẽ không có gì và sẽ chẳng còn gì để sợ mất và cũng chẳng có gì để phải lo “con bò trắng răng”. Dù, mối lo đó lại sẽ là mối lo và sợ những người giàu-có đến chiếm hữu/rút rỉa những gì mình có.

Sống tình-huống Thiên-Thai/Nước Trời, là có sống rất thật nhưng không chỉ cho mình mà cho người khác. Là, như thánh Phaolô khi xưa từng bảo: “Tôi sống nhưng không phải tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.

Sống tình-huống Thiên-Thai/Nước Trời là sống giống như câu ca vẫn tiếp-tục hát:

“Nhìn trong đôi mắt đẹp,
lòng chợt vui như say;
kìa đường lên Thiên Thai,
kìa đường lên Thiên Thai.

Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây,
tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,
Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.”

(Hoàng Nguyên/Hồ Hoàng Phương – bđd)

À thì ra, cả trong Đạo lẫn ngoài đời đều công-nhận: “Hồn anh lạc vào tận tim ai”, thế mới là Thiên-Thai/Nước Trời ở phía trước. Có vào tận “tim anh” hay “tim em” cũng sẽ không khó như “Lạc đà chui qua lỗ kim” đâu. Cái khó, là lòng người chẳng muốn “đưa hồn lạc” vào đâu đó, dù chốn đó có là Thiên Thai hay Nước Trời, nhiều con tim rất vang hoặc rất ngọc.

Bởi lẽ, Thiên Thai/Nước Trời, vẫn cứ là và sẽ là chốn miền ta cùng sống trong và sống với cộng-đoàn dân con Đức Chúa ở xã hội. Bởi lẽ, Thiên-Thai/Nước Trời ở đây, lúc này, chính là cộng-đoàn ta chung sống, trong đó có giúp giùm, đùm bọc, không ngại ngần.

Cộng-đoàn Thiên-Thai/Nước Trời, lại chính là Thánh-hội ở trần-gian, trong đó không còn ai chỉ mỗi lo-toan, tranh giành, kèn-cựa đạp nhau mà tiến chức, lên lương hoặc nắm trọn quyền. Ở chốn Thiên Thai/Nước Trời hôm nay hay mai ngày, là ở với cộng-đoàn có Thánh Thần Chúa soi sáng, ngự trị.

Cộng-đoàn Thiên-Thai/Nước Trời, vẫn là và sẽ là chốn thánh-thiêng, trong đó có vị thánh Đá Tảng rất Phêrô, từng kêu lên vui sướng, những câu nói rất trung-thực như:

Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay!

Nếu Ngài muốn,

con xin dựng tại đây ba cái lều,

một cho Ngài, một cho ông Môsê,

và một cho ông Êlia.”

(Mt 17: 3-4)

“Thật là hay! nếu Người muốn mà sao người người nay chẳng nhớ đến ai để rồi người người cùng tôi sẽ đóng lều để ở, mà chỉ nhớ có Môsê hoặc Êlya thôi? Thế đó là vấn đề. Chính đó, là nỗi chết. Bởi thế nên, Đức Giêsu lại đã phản-hồi bằng câu nói rất đáng nhớ, mà rằng:

Ông còn đang nói,

chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông,

và có tiếng từ đám mây phán rằng:

“Đây là Con yêu dấu của Ta,

Ta hài lòng về Người.

Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!”

Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng,

ngã sấp mặt xuống đất.

Bấy giờ Đức Giêsu lại gần, chạm vào các ông và bảo:

“Trỗi dậy đi, đừng sợ!”

Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa,

chỉ còn một mình Đức Giêsu mà thôi.”

(Mt 14: 5-8)

Xem như thế, tức như thể bảo: Thiên-Thai/Nước Trời không ở đâu khác, ngoài Đức Giêsu, là Con Thiên Chúa. Bởi, Ngài là tất cả trong mọi sự. Có nghe và làm theo lời Ngài dạy, tôi và người rồi ra, ai ai cũng đạt chốn Thiên Thai Nước Trời, vẫn mong muốn.

Để minh-chứng và minh-hoạ điều này, tức: chỉ một điều rằng: Thiên-Thai/Nước Trời là chốn miền ta đang sống hiện-tạiở đây, ngay lúc này không gồm tóm chỉ mỗi chuyện tốt đẹp mà thôi, nhưng vẫn có những chuyện không hay ho, thực-tế như trang nhật-ký của vị y-sĩ thuộc loại thượng-thừa, như sau:

“Đêm trực lúc 0 giờ

Một người đàn ông đến cấp cứu vì đau quặn bụng. Khi mình đến khám, ông ta cứ luôn miệng nói: Tôi quen anh giám đốc A. Tôi có làm ăn với chị trưởng phòng B. Có lẽ do ông ta nghĩ rằng, khi nói ra những mối quan hệ ấy, mình sẽ làm việc chu đáo hơn. Mình đã đáp lời rằng :

-Anh có thể thôi nói tên và chức vụ của người khác. Anh hãy nói về chính anh đi, tên, chức vụ và bệnh của anh.

Ông ta trố mắt ra nhìn mình, phải mất vài phút sau ông ta mới có thể bắt đầu khai bệnh.

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta cũng hay như vậy, bạn nhỉ? Cứ vỗ ngực tự hào chứng tỏ với nhau rằng : tôi là con ông D, cháu bà C, tôi quen biết ông E và có mối quan hệ thân thiết với bà F, thay vì chúng ta nói về chính mình. Nhưng một người trưởng thành thật sự lại là người luôn tự đứng vững trên đôi chân mình, can đảm chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình, không dựa vào ai cả, không đổ thừa ai cả.

0 giờ 30 phút

Một người phụ nữ 70 tuổi, được đưa đến phòng cấp cứu trong tình trạng suy kiệt nặng, da xanh niêm nhạt, thở ngáp cá, toàn thân khai mùi phân dãi. Khi mình xử trí cấp cứu xong, mình hỏi hai người con gái ăn bận rất bảnh bao và thơm tho : Bệnh nhân bị bệnh gì trước đây, điều trị ở đâu, và diễn tiến nặng bao lâu rồi?

Mình đã ngỡ ngàng khi nhận được một câu trả lời : Bệnh tim mạch và u hạch gì đó không rõ, mẹ tôi đã khó thở cả tháng nay rồi, nhưng tôi nghĩ không sao nên không đưa đi khám bệnh.

– Hai chị là con ruột?

– Ừ con ruột.

Mình im lặng thở dài khi kết quả xét nghiệm và MSCT trả về là bệnh Lymphoma ác tính di căn não, di căn phổi, đái tháo đường, suy thận… Làm sao mà cứu chữa? Mẹ thì chỉ có một trên đời.

Tuần trước mình có đi dự đám tang của một bệnh nhân rất thân. Và đã chứng kiến những giọt nước mắt ăn năn của người con út.

– Bác sĩ biết sao không, cả bốn tháng nay tôi chưa gặp mẹ, dù nhà tôi và nhà mẹ cách có vài bước chân. Ai ngờ trưa hôm thứ 7, nhận điện thoại báo mẹ đã mất rồi… Giá như tôi …

Thật, càng lớn tuổi, mình càng sợ trực cấp cứu. Không phải vì sức khoẻ vì chuyên môn hay vì áp lực phải tiếp xúc phơi nhiễm với những bệnh lây nhiễm hay vì có thể bị hành hung bất cứ lúc nào. Mà vì cứ phải chạm vào thật sâu bên sau mỗi con người dù mình không muốn…

1 giờ sáng

Bệnh nhân nam 23 tuổi, cơ thể gầy teo, nấm trắng đầy miệng đến cấp cứu vì tiêu chảy. Khi mình giải thích tình hình bệnh và đề nghị nhập viện thì bệnh nhân không chịu vì không có tiền.

– Em điện thoại kêu ba mẹ vào viện đi.

– Ba mẹ em li dị hồi em còn nhỏ xíu. Em sống với bà, mà bà ở tuốt dưới Vĩnh Long, em nói thiệt, em bị nghiện ma tuý đá và bị nhiễm HIV.

– Nhưng nếu em không nằm viện thì phải làm sao?

– Em cũng không biết nữa.

Nhìn cơ thể bệnh nhân chi chít những hình xăm, mái tóc nhuộm vàng khè … sao mà khác quá với cách bệnh nhân trả lời.

– Em chỉ nghĩ mình đau đến đây để bác sĩ cấp cứu…

Mình lại thở dài, dù tiếng thở dài chẳng làm đêm ngắn lại. Phần lớn những người sa ngã và lầm lạc thường được lớn lên trong gia đình không có hạnh phúc, cha mẹ ly dị, hay nghiện rượu, cờ bạc và thuốc lá. Có bao giờ mỗi bước chân đi, mỗi quyết định trong cuộc đời, chúng ta đều cẩn trọng? Sinh con rất dễ, nhưng nuôi dưỡng con lại rất khó! Khó vô cùng.

2 giờ sáng

Một thanh niên sỉn rượu đến để may những vết thương vùng mặt và lưng do bị chém. Khi điều dưỡng hỏi phần hành chính, thì anh ta nạt nộ đập bàn : Sao không khâu liền đi, cứ hỏi mấy cái vớ vẩn làm gì?

– Muốn khâu thì phải làm hồ sơ khai tên tuổi bị đánh ở đâu chứ, rồi còn phải kí tên yêu cầu khâu chứ.

– Tao (cóc) khai. Bây giờ tao hỏi tụi mày có khâu không thì bảo? Tụi mày có tin tao chém tụi mày bây giờ không?

Mấy anh bảo vệ nghe ồn ào, báo ngay cho công an. Và thanh niên sỉn rượu vừa thấy bóng công an lập tức bỏ chạy. Mới đó còn hùng hổ đòi đâm đòi chém …Thật, những người có xu hướng hung bạo và dễ kích động thường là những người sống trong sự sợ hãi và yếu đuối.

Vì sao khi đi trên phố mấy thanh niên trẻ hay nẹt bô rồ ga? Vì sao giữa đám đông mấy người trung niên kia ăn bận diêm dúa trang điểm cầu kì? Bởi vì trong sâu thẳm họ khát khao được chú ý, khát khao được công nhận… nhưng họ chẳng có gì đặc biệt, buộc họ phải hành động như thế. Họ lạc loài!

3 giờ sáng

Một người đàn ông, 50 tuổi được đưa vào cấp cứu vì đau đớn vùng hạ sườn phải. Ông ta la hét inh ỏi:

– Bác sĩ đâu rồi? Tụi bây chết hết rồi hả? Tao vào bệnh viện cả tiếng rồi mà chẳng thấy tụi bây đâu…

– Bác sĩ đây, anh mới vào mà, y tá còn chưa kịp lấy dấu hiệu sinh tồn…

Người nhà vội nói bệnh nhân và quay qua nói với mình : Bác sĩ thông cảm, tại ảnh bệnh ung thư đường mật di căn gan, di căn hạch giai đoạn cuối rồi nên đau đớn và hay la hết. Bệnh Viện C đã cho về, khuyên gia đình, bệnh nhân muốn ăn gì thì cứ cho…

Đêm dường như sâu hơn với tiếng thở dài.

Nỗi đau niềm thống khổ là có thật, luôn hiện diện bên trong mỗi con người. Ai cũng đau cũng khổ, có người nhờ nỗi đau mà vượt lên được chính mình, tìm ra được con đường giải thoát và an lạc, nhưng cũng có người bị chết chìm trong đó. Lẽ thường, khi người ta gần đến bên kia con dốc cuộc đời, cận kề cái chết, người ta sẽ buông bỏ hết những sân si, người ta sẽ chấp nhận và mỉm cười… Đằng này …

Bốn giờ sáng

Một người phụ nữ đến cấp cứu vì đau đầu ngủ không được. Trong khi mình đang viết bệnh án thì nghe bà ta kêu lên: Chú bác sĩ và cô y tá kia, mau trả điện thoại lại cho tôi.

– Bà coi lại cẩn thận đi, tụi con đâu có lấy điện thoại của bà.

– Cô nói gì? Chỉ có cô và chú bác sĩ kia lại gần tôi… Không cô thì chú kia lấy. Báo bảo vệ hay công an ngay đi.

Bệnh nhân ngồi bật dậy, khác với lúc mới vào nhăn nhó khó chịu mệt mỏi.

– Ôi mẹ ơi, mẹ nói cái gì kì lạ vậy? Con giữ điện thoại của mẹ đây. Tại con đi đóng tiền tạm ứng nhập viện nên mẹ không biết.

– Vậy hả? Tao tưởng hai đứa này nó ăn cắp.

Bé Khánh vừa định lên tiếng, mình vội ngăn lại và thì thầm: Thôi bỏ đi em.

Mình nhớ một câu chuyện trong Phúc Âm, có người đến hỏi: Nếu ai đó tát vào má con thì sao? Chúa Giêsu đã trả lời : Con hãy đưa luôn má còn lại cho người ta tát. Và nếu có ai xin con cái áo khoác bên ngoài, con cũng hãy cởi luôn cái áo khoác bên trong mà cho.

Thường chúng ta chỉ đến với Thượng Đế khi bị đau khổ, mất mát, muốn mà chưa được…Và khi chúng ta bị ức hiếp bị bắt nạt, chúng ta mong là luật công bằng, luật nhân quả được thực thi.

Nhưng Thượng Đế luôn im lặng. Ngài dạy: Hãy tha thứ, hãy cho đi nhiều hơn. Bởi chỉ những người yếu đuối, thiếu thốn, bị bỏ rơi … mới dùng đến bạo lực và đi xin. Ngài Đạt Lai Lạt Ma từng nói: Cây lúa nào hạt non hạt lép thì nó đứng thẳng vươn cao. Còn những cây lúa nặng trĩu hạt luôn oằn mình xuống dưới thấp. Cái Tôi của ai nhỏ bé thì tâm-lượng người đó mênh mông! (trích Nhật-ký của Giáo sư Tôn Thất Tùng)

Nghe kể chuyện thực-tế ở chốn Thiên-Thai/Nước Trời rồi, giờ đây mời bạn và mời tôi, ta đi vào vườn hoa văn-nghệ có những câu hát không xa vời thực-tế như câu ca do nghệ-sĩ trích ở trên cứ hát đi hát lại mãi rằng:

“Nhìn trong đôi mắt đẹp, lòng chợt vui như say;
kìa đường lên Thiên Thai, kìa đường lên Thiên Thai
Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây, tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,
Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.”

(Hoàng Nguyên/Hồ Hoàng Phương – bđd)

Hát thế rồi, hẳn bạn và tôi, ta đã tìm ra con đường lên Thên-Thai nay cứ sống sự thật cuộc đời, với đời và trong đời, giữa mọi người.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn cứ sống một đời rất thực;

Nhưng ít khi hỏi người, hỏi mình

tự bao giờ.

Em còn nhỏ làm sao mà biết được

“Em còn nhỏ làm sao mà biết được”

Áo cơm hành bủn rủn thiên tài.”

(Dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mai Tá, lược dịch

Áo cơm hành bủn rủn thiên tài, vẫn là Tình Yêu tuyệt vời, Lời Chúa phán. Áo cơm ấy, Tình-Yêu này, lại vẫn được diễn-tả theo kiểu cung cách rất thời thượng mà bậc thánh-hiền còn viết mãi đến hôm này.

Hồi đầu thập niên bẩy mươi, một trong các ấn bản của nhà sách Readers Digest thời bấy giờ đã thuật lại sự kiện về chiếc phản lực cơ lâm nạn rơi xuống vùng núi Andes, chỉ một ít người còn sống và họ phải ăn thịt lẫn nhau để tồn tại.

Trong buổi thảo luận về khía cạnh luân lý đặt ra với hiện tượng “khác thường này, các nhà thần học đã bàn về tư thế của Giáo hội bên sau hiện tượng ‘người ăn thịt người, để sống còn’. Câu hỏi mà tác giả bài viết lúc ấy đưa ra, là: Giáo hội quan niệm thế nào về luân thường đạo lý khi gặp trường hợp ‘người ăn thịt người’?

Dù có ai đưa ra luận cứ vững chắc nào để bênh vực cho tục ‘ăn thịt người để sống sốt’, thì cảnh tượng đứng đứng ngồi ngồi gắp từng miếng thịt của người đồng hành, đưa lên miệng, cũng đủ khiến ta lợm giọng, rất ghê tởm. Cũng như vậy, khi ta rước Mình Máu Cha, người ngoài Đạo có thể nghĩ và gán cho ta mũ chụp là “tội đồ, mọi rợ chuyên ăn thịt người khác”. Tức, tội đồ đi Đạo dám ăn cả thịt và uống cả máu Đức Chúa của mình.

Có lẽ, người ngoài Đạo cũng cho rằng: ta còn mừng kính việc ăn Mình và Máu Đức Giê-su, là ta còn mang tiếng trở thành kẻ ‘ăn thịt người’. Truyền thống Giáo hội xưa nay vẫn luôn thận trọng khi sử dụng ngôn từ chỉ việc Đức Giê-su hiện diện nơi Thánh Thể.

Dẫu có thế nào đi nữa, dứt khoát ta vẫn không phải là ‘kẻ ăn thịt người’. Trăm ngàn lần như thế. Bởi, có bao giờ ta ăn tim gan, phèo phổi hoặc xương, óc của Đức Chúa, bao giờ đâu. Giáo lý trong Đạo, tuy đề cập đến sự hiện diện đích thực, bằng xương bằng thịt, của Đức Chúa nơi Thánh Thể, rất thật.

Nhưng, ta có qui về Đức Giêsu đâu! Tín lý trong Đạo chỉ nói về Đức Kitô, Đấng đã hiến trọn con người của Ngài cho ta. Điều ấy có thật. Nhưng, Ngài muốn ta ăn thịt Ngài như cơm bánh hằng sống, thức ăn miên trường chủ yếu tháp nhập con người của ta vào với bản thể của Ngài. Hiển nhiên là như thế.

Ở đây, sự phân biệt danh phận và tên gọi của Đức Chúa là điều rất cần. Thánh Thể là Bí tích thánh thiêng về mầu nhiệm Phục sinh. Khi cử hành Tiệc Thánh Thể, ta vinh danh Đức Kitô đã sống lại, và hiện Ngài đang thực sự có mặt với ta, ở trong ta. Đây là sự có mặt trọn vẹn dưới dạng thức bánh và rượu. Hai chất thể phàm tục đã trở thành Mình thánh và Máu thánh của Ngài trong buổi Tiệc của Lòng Mến.

Truyền thống đạo giáo vẫn công khai tuyên xưng đặc tính chất loại của Mình Thánh. Như thế, không có nghĩa là đã giúp ta suy tư đầy cảm tính. Là Công giáo, ta tin Đức Kitô được Đức Chúa cất nhắc khỏi sự chết và Ngài đã sống lại thật và đang thực sự hiện diện với ta, bằng xương bằng thịt, ở đây, trong Tiệc Lòng Mến này.

Thế còn, vấn đề ý nghĩa ‘quà tặng’ của Thánh Thể, thì sao?

Nói cụ thể, chương 6 Tin Mừng thánh Gioan là thiên nghị luận bàn nhiều về Thánh Thể. Đằng khác, cũng trong chương này, thiên nghị luận của thánh sử là để đề cao sự thống khổ, cái chết của Đức Giê-su và sứ mạng của ta biết noi theo con đường Ngài đã đi.

Đức Giêsu, trong cương vị một Môsê mới, không chỉ ban tặng cơm bánh hằng sống cho con người, mà thôi. Ngài còn trao ban chính Thân mình của Ngài, qua sự thống khổ, cái chết và sự sống lại vinh hiển, nữa. Chính vì lý do này, Hội thánh Cha vẫn nối kết sự kiện Vượt Qua với việc cử hành Tiệc Thánh Thể. Đây là Tiệc của Lòng Mến, nơi đó ta ăn mừng và tôn kính Thân Mình rất thánh của Đức Chúa.

Vấn đề đặt thêm hôm nay, là: tại sao ta lại được trao ban cho quà tặng có một không hai ấy? Tiệc Thân Mình rất thánh của Đức Chúa không mang dáng dấp của một lễ hội dành cho một nhóm người nào đó, rất ưu đãi. Đây cũng không phải là việc sùng kính riêng tư, rất trầm buốn. Đây chẳng có nghĩa của một thứ gì đó nhằm đảm bảo cho ta ơn cứu rỗi riêng lẻ, của từng người.

Tiệc Thánh Thể mang ý nghĩa đích thực là ở chỗ: tiệc ta nhận lãnh Thân Mình Đức Chúa để bổ sức giúp cho kẻ tin vào Đức Kitô biết dấn bước ra đi, theo con đường khổ hạnh của Ngài. Ra đi, để biến đổi thế giới đương đại. Ra đi, luôn mang theo tình thương yêu dâng trào và sự công chính Chúa ban, vì Đức Kitô, nhân Danh Đức Kitô, cho Đức Kitô.

Hội thánh, người của Đức Chúa, vẫn luôn nối kết những gì ta sẽ hành động sau tiệc Thánh Thể với những gì ta cử hành việc ăn uống trong buổi Tiệc mừng. Điều này có nghĩa, là: người dự tiệc sẽ hối hả ra đi chăm lo nuôi sống những người đang đói thức ăn. Đang thiếu nước uống, trên thế giới.

Điều này còn có nghĩa: đa số chúng ta quyết giúp đỡ các người anh người chị khác, những nhóm người vẫn thực hiện công tác thiện nguyện, rất âm thầm. Điều này cũng có nghĩa, là: khi nghĩ đến các ứng viên ta sẽ bầu làm lãnh đạo hay thủ trưởng, ta buộc họ phải bận tâm lo toan cho nhiều người đau khổ, phiền muộn tại xứ sở, địa phương, và cả ở xã hội.

Trước đây, cố bề trên tổng quyền Dòng Tên, linh mục Pedro Arupe đã có lần bộc bạch rằng: Bao lâu, ở đâu đó trên thế giới, còn có người đói thức ăn, thèm khát nước uống, thì việc cử hành tiệc Thánh Thể của ta ở bất cứ nơi nào trên quả đất này, vẫn như còn thiếu thứ gì đó, theo một cách nào đó. Bởi, đôi lúc, ta vẫn cứ ảo tưởng cho rằng: Tiệc Thánh Thể có phép mầu thần thông của một ảo thuật gia, biến đổi được tất cả.

Đấy cũng là điểm nhấn mà Giê-su Đức Chúa đặt nặng trong Tin Mừng hôm nay, khi quả quyết: Ngài tặng ban Thân Mình Ngài cho sự sống của thế giới, đang tồn tại. Tiệc Thánh không biến ta thành những tay “tội đồ” ăn thịt người. Dứt khoát, không phải thế. Ngàn lần không là như thế. Tiệc Thánh còn có nghĩa thực tế, là: biến ta trở nên triệt để hơn. Triệt để, trong quyết tâm tiếp tục hiên ngang tồn tại làm con dân của Đức Chúa khắp nơi, trên địa cầu này.

Trong cảm-nghiệm tình thương-yêu rất như thế, ta lại sẽ ngâm tiếp lời thơ, rằng:

“Em còn nhỏ làm sao mà biết được,

Áo cơm hành bủn rủn thiên-tài.

Học thói người xưa ta cạo đầu bán tóc,

Chưa đủ tặng em nửa chiếc áo dài.”

(Nguyễn Tất Nhiên – Vài Đoạn Viết Ở Đinh Tiên Hoàng)

Cuối cùng thì, có cạo đầu bán tóc nhiều chăng nữa, cũng chỉ để chứng-tỏ tình thương yêu anh tặng cho em, cho mọi người. Cả một đời.

Lm Richard Leonard sj biên soạn –

Mai Tá, lược dịch

Tin Mừng (Ga 6: 51-58)

Khi ấy, Đức Giêsu nói với người Do Thái rằng: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”

Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” Đức Giêsu nói với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.”

KỶ NIỆM XƯA CẢM ĐỘNG:

KỶ NIỆM XƯA CẢM ĐỘNG:

Tiểu Tử

Anh tôi nằm bịnh viện Saint Camille đã được mười bữa. Chiều hôm qua, ảnh gọi điện thoại về nhà, nói: «Thằng tây nằm chung phòng ra nhà thương rồi, ngày mai chủ nhựt, mầy vô đây anh em mình nói chuyện chơi». Nghe giọng ảnh “có thần” nên tôi vui vẻ trả lời: «Dạ! Mai em vô. Vợ con em đi Mỹ, chớ không thì em cũng chở tụi nó vô thăm anh». Tôi nghe ảnh cười khịt:  «Một mình mầy cũng đủ cho tao vui rồi…».

Phòng anh tôi là loại phòng hai giường ở lầu ba. Ông già người Pháp cỡ hơn tám mươi tuổi nằm chung phòng với anh tôi rất khó tánh. Ổng không thích có nhiều ánh sáng vào phòng nên volet cửa sổ lúc nào cũng chỉ hé lên một chút thôi. Thấy ổng quá già lại hay gắt gỏng nên mấy cô y tá cũng nhân nhượng, chỉ kéo volet lên cao trước giờ bác sĩ trưởng đi thăm bịnh nhân, rồi lại hạ thấp xuống, sau đó! Mỗi lần tôi vào thăm anh tôi, mặc dầu chúng tôi nói chuyện nho nhỏ với nhau, ổng cũng lăn qua trở lại thở dài. Có khi còn lấy gối bịt lỗ tai nữa!

Anh tôi nói: «Tao chưa bao giờ nghe nó… tằng hắng với tao một tiếng!» .

Ông Tây đó xuất viện, chắc anh tôi nghe… nhẹ lắm nên mới vội vã gọi tôi vào chơi, để nói chuyện mà không cần giữ gìn ý tứ gì hết!

Hôm nay, volet cửa sổ được kéo lên hết nên để lộ trời cao lồng lộng và phòng đầy ánh sáng… Thấy tôi, anh tôi vui vẻ nói: «Mừng quá! Hổm rày, cứ làm thinh, bực mình thấy mụ nội! Bữa nay, tụi mình nói chuyện tự do, cho nó đã!».

Tôi nhìn anh tôi mà thấy thương: mới ngoài sáu mươi mà đã già xọm. Bao nhiêu năm tù đày của VC đã ăn mòn cơ thể của ảnh đến nỗi từ khi ảnh qua Pháp sum họp với vợ chồng tôi, ảnh cứ bịnh lên bịnh xuống hoài. Cũng may là ảnh không có vợ con nên không có những cái lo của người có gánh nặng gia đình. Và cũng may là ảnh chỉ có một mình tôi là em đã có cuộc sống ổn định nên ảnh không phải cưu mang một đứa em nào khác.

Hai anh em tôi nói chuyện vui vẻ một lúc, bỗng anh tôi nhìn trời qua khuôn kiếng cửa sổ rồi nói: «Trời đẹp quá, Cu!».

Tôi còn đang ngẩn ngơ không biết ảnh nói với ai thì ảnh cười khịt khịt: «Mầy quên mầy hồi nhỏ tên là Cu hả? ».

Tôi bật cười: cả một trời dĩ vãng bỗng hiện về rất rõ, với những hình ảnh thuở nhỏ ở nhà quê, có bà mẹ một mình trồng rau trồng cải nuôi hai thằng con, đứa lớn tên Hai đứa nhỏ tên Cu… Tôi nhìn anh tôi mà nghe rưng rức ở trong lòng. Tôi “Dạ” như cái máy! Anh tôi nói: «Bác sĩ nói anh ra ngoài chút chút được».

Tôi lại “Dạ” nhưng vẫn còn thấy tôi đang ở quê tôi, ở trong cái nhà tranh vách đất có giàn bầu vắt lên mái tranh che sàng nước nằm bên góc bếp… Tôi nói “Vậy hả anh” mà vẫn còn đứng trong vườn rau của mẹ với mấy cây mít cây ổi cây xoài, vẫn còn nhìn cái giếng có cây cần vọt để kéo nước và cái gàu đeo lủng lẳng ở đầu cây sào dài… Tôi chỉ giật mình dạ lớn khi nghe anh tôi gọi: «Cu! Ê … Cu!».

Ảnh nhìn tôi, mỉm cười: «Tao muốn mầy đưa tao đi một vòng».

Tôi “Dạ” rồi vội vã bước ra cửa. Ảnh ngạc nhiên: «Đi đâu vậy?». Tôi trả lời: «Em đi lấy cái xe lăn!».

Ảnh bật cười: «Không cần xe lăn xe liếc gì hết. Mầy lại đây, tao chỉ cho».

Ảnh tằng hắng mấy tiếng rồi nói tiếp: «Mầy đỡ tao dậy cạnh giường. Đọ… Mầy xây lưng lại thụt sát vô cạnh giường ở giữa hai chân tao nè. Đọ… Rồi mầy rùn người xuống cho tao ôm cổ mầy. Mẹ… Mầy ăn thứ gì mà mầy lớn con quá hổng biết! Rồi! Tao ôm chắc rồi! Bây giờ, mầy choàng hai tay ôm hai bắp vế của tao đây, vừa xóc nhẹ để lấy trớn vừa đứng lên. Đọ… Như vậy, người mình gọi là ‘cõng’. Ở xứ nầy, tao chưa thấy ai cõng ai hết. Có lẽ người ta không biết cõng, mầy à!».

Tôi cõng anh tôi, nhẹ hều. Ảnh nói: «Hồi nhỏ, tao cõng mầy mòn lưng, mầy đâu có biết!».

Một xúc động bỗng dâng tràn lên cổ, tôi vừa nuốt xuống vừa siết chặt hai chân anh tôi như muốn ôm lấy hết con người của ảnh để cám ơn, cái con người đang nằm trên lưng tôi đây, cái người anh đã hy sinh suốt cuộc đời không chịu lập gia đình chỉ vì muốn nuôi thằng em ăn học cho đến nơi đến chốn! Ảnh đã cõng tôi trong thời tuổi nhỏ, về sau, ảnh vẫn tiếp tục cõng tôi – dù dưới hình thức khác – cho đến ngày tôi thành nhân ra đời. Biết bao giờ tôi cõng lại anh tôi suốt hai mươi mấy năm trời như vậy?

Chúng tôi ra hành lang. Gặp một cô y tá, cô ta vội nói: «Để tôi lấy cho ông một chiếc xe lăn!».

Tôi lắc đầu: «Khỏi cần! Cám ơn cô! Anh tôi muốn tôi cõng như vầy».

Cô ta mỉm cười bỏ đi, vừa đi vừa nhìn lại, vẻ ngạc nhiên. Anh tôi nói: «Mầy thấy không? Ở xứ nầy, người ta không biết cõng là gì!».

Thật vậy, đi dài dài theo hành lang, gặp ai cũng bị nhìn với một nụ cười như muốn nói “Làm gì ngộ vậy há!” Tiếng của anh tôi vẫn đều đều nho nhỏ bên tai: «Hồi đó, năm mầy ba tuổi là năm mầy bịnh hoài nên mầy cứ nhề nhệ nhề nhệ đeo theo má đòi ẵm. Chiều nào má cũng nói “Hai! Mầy cõng thằng Cu đi hàng xóm cho má nấu cơm coi!” Vậy là dầu tao đang tưới rau tao cũng quăng đó, cõng mầy đi vòng vòng. Hồi đó, lúc nào mầy cũng ở truồng, còn tao, dầu đã hơn mười tuổi, nhưng lúc nào cũng ở trần, chỉ khi nào đi học mới máng lên mình cái áo sơ-mi. Thành ra, khi cõng mầy tao thương ở cái chỗ là nghe con cu của mầy mềm mềm nằm gọn trên da lưng tao. Nhiều khi thương quá, tao xoay người lại hun mầy trơ trất làm mầy nhột mầy cười đưa mấy cái răng non nhỏ như hột gạo! Mầy coi! Vậy mà đã hơn năm mươi năm rồi chớ bộ!».

Tôi im lặng nghe anh tôi kể mà trong đầu thấy như đang nhìn ngay trước mắt cảnh thằng anh cõng thằng em đi quanh quanh để người mẹ rảnh tay lo nấu bữa cơm chiều… … Đẹp quá! Anh tôi lại nói: “Thiệt ra, tao đâu có cõng mầy đi đâu xa. Đi lòn lòn qua mấy liếp rau mấy bờ mía rồi qua lò bánh tráng của dì Sáu Lộc. Đứng xớ rớ một chút là dì Sáu hay chị Hai Huê con của dỉ cho một cái bánh tráng nướng thơm phức”.

Ngừng một chút, anh tôi hỏi:

“Mầy còn nhớ chị Hai Huê không?”

Tôi đáp: “Dạ có. Hồi đó, chỉ ra sư phạm rồi dạy tụi em ở tiểu học”.

Anh tôi tằng hắng: “Ờ! Chỉ đó! Má khen chỉ lắm, nói: con nhỏ dễ thương, đi làm có lương mà chỉ sắm có hai cái áo dài, hỏi nó thì nó nói nó để dành tiền cất một cái quán cho má nó ra bán bì bún ít cực hơn là xay bột tráng bánh”.

Đến đây thì tôi nhớ rõ cái quán của dì Sáu Lộc: Quán nhỏ nằm cạnh cây gõ trước lò bánh tráng. Bì bún ngon có tiếng. Có điều là dì Sáu không bán rượu đế mà cũng không cho khách hàng mang rượu đế đến quán! Dân nhậu phàn nàn thì dì Sáu nói: «Tôi ghét thứ đó lắm! Cũng tại ba cái đế đó mà ông nhà tôi ba ngù té xuống bàu chết không ai hay!».

Cái quán đó về sau giao cho vợ chồng cô cháu gái của dì Sáu trong nom và được cất rộng ra thành tiệm cà phê, người ta gọi là tiệm “Cây Gõ”…

Ở cuối hành lang bịnh viện là khuôn kiếng rộng. Nhìn xuống dưới thấy nắng đầy… Cây cỏ được cắt xén sạch sẽ đẹp mắt. Tia nước tưới vườn tự động quét qua quét lại coi mát rượi. Anh tôi im lặng nhìn một lúc rồi nói: «Hồi đó, chiều nào đi học về, tao cũng phải đi tưới vườn rau. Mới có mười tuổi mà tao mạnh lắm! Cái gàu nước lớn như vậy mà tao xách chạy bon bon. Phải nói là nhờ có cây cần vọt tao mới kéo nổi cái gàu ra khỏi giếng, chớ nếu kéo bằng sợi dây dừa thì chắc tao chịu thua».

Có lẽ sợ tôi quên nên anh tôi tả cây cần vọt. Tôi vẫn để ảnh nói vì tôi thấy ảnh đang sung sướng với những hình ảnh đẹp của quê hương, cái quê hương ngàn trùng xa cách… Tiếng của anh tôi vẫn đều đều bên tai: «Cần vọt là hai cây tre lớn bằng bắp chân đóng dính chắc vào nhau bằng những thanh ngang coi giống như một cái thang. Chân cái thang đó được chôn đứng cách giếng độ hai ba thước. Trên đầu có một cốt tròn xỏ qua hai thân tre. Bắc dính chắc trên cái cốt đó là một thân tre dài, đầu to là đầu nặng nằm đụng đất, đầu nhỏ chỉ lên trời coi giống như một đòn bẩy hay một cái đu nhún lên hạ xuống của trẻ con. Đó là cái cần. Trên đầu cần là một cây sào bằng tầm vông dài xuống gần miệng giếng, đầu dưới của sào có cái móc để móc cái gàu. Muốn lấy nước, người ta kéo cây sào thòng gàu xuống giếng đợi gàu đầy nước là kéo gàu lên, cây cần làm đòn bẩy giúp cho người kéo nước không phải ráng sức. Hay quá!»

Tôi nói đẩy đưa, cố ý để cho anh tôi nghỉ: «Dạ. Em còn nhớ cây cần vọt chớ! Hồi em lớn lên, em vẫn phụ anh tưới rau cho má, anh quên sao? Em còn nhớ hồi đó phần của em là lo tưới và châm sóc giàn bầu của má”.

Ảnh cười khịt khịt: “Ờ… giàn bầu. Trái dài lòng thòng, đi ngang phải cúi đầu để tránh…”

Rồi giọng của ảnh như vui lên: “Bầu luộc là món mà tụi mình ăn hằng ngày, mầy nhớ không? Bữa cơm nào cũng có bầu luộc, mẻ cá kho và một tô nước luộc bầu. Nước luộc bầu không có con tôm con tép gì hết, chỉ có chút muối, chút tiêu và mấy cọng hành… vậy mà tụi mình chia nhau húp ngon lành, hén Cu!”.

Tôi bồi hồi nhớ lại cảnh anh em tôi húp nước luộc bầu, nhứt là cái cử chỉ của anh tôi khi ảnh đưa tô sành mẻ miệng, xây chỗ miệng tô còn lành, nói: “Húp ở đây nè, Cu!”. Cha ơi…! Sao mà nó đẹp!

Thấy gần trưa, tôi cõng anh tôi đi lần về phòng. Bỗng ảnh nói: “Ý! Má kêu kìa!”.

Rồi ảnh nghẻo đầu buông thõng hai tay! Tôi đang hốt hoảng chưa biết phải làm sao thì gặp ông bác sĩ trưởng trong thang máy bước ra. Tôi vội vã gọi: “Bác sĩ! Bác sĩ! Ông coi dùm coi! Anh tôi bị gì rồi!”.

Bác sĩ rờ đầu rờ cổ anh tôi rồi lôi tôi chạy lại phòng trực y tá. Bác sĩ hướng vào trong nói “Cứu cấp”. Mấy cô y tá phóng ra đỡ anh tôi qua giường sắt có bánh xe rồi đẩy nhanh về phòng, theo sau là xe dụng cụ thuốc men. Vào phòng, một cô y tá đẩy nhẹ tôi ra ngoài, nói:  “Ông đừng vào. Cảm phiền đứng đợi ở đây.” Rồi đóng cửa lại. Tôi tỳ người vào tường, nhìn quanh bối rối: hành lang trống trơn bỗng như rộng mênh mông…

Một lúc lâu sau mấy cô y tá mở cửa đẩy giường đẩy xe ra, nói chuyện tỉnh bơ. Đi sau cùng là bác sĩ trưởng. Ổng vỗ vai tôi, nói: “Không có gì hết! Chỉ bị xúc động mạnh thôi. Ông vào được rồi.”.

Tôi nói “Cám ơn” rồi thở dài nhè nhẹ như vừa trút một gánh nặng. Nhìn thấy tôi bước vào, anh tôi mỉm cười, mắt ảnh ngời sáng, nhưng ảnh vừa đưa tay ra dấu vừa nói: “Thôi! Mầy về đi! Để tao ngủ một chút”.

Nói xong, ảnh nhắm mắt mà trên môi vẫn còn nguyên nụ cười. Tôi biết: ảnh đang đi vào giấc ngủ với những hình ảnh đẹp!

Tôi bước ra, đóng nhẹ cửa lại. Hành lang dài tung hút. Chắc cũng đến giờ cho bịnh nhân ăn nên phảng phất có mùi đồ ăn. Tôi bỗng nghe thèm vị ngọt của nước luộc bầu mà anh em tôi chia nhau húp năm chục năm về trước, bây giờ sao vẫn còn nhớ. Và lạ thiệt! Nước luộc bầu quá tầm thường như vậy mà sao cũng mang đầy mùi vị của quê hương?

Tôi nuốt nước miếng…

Tiểu Tử

Tôi lên tiếng để bảo vệ đất nước tôi và thực thi quyền làm chủ của tôi!

Tôi lên tiếng để bảo vệ đất nước tôi và thực thi quyền làm chủ của tôi!

FB Xuân Sơn Võ

07-08-2015

Cách đây 15 năm, khi đang học ở Mỹ, tôi ở nhà của GS Yeung. Bố mẹ vợ của GS Yeung thường chở tôi đi chơi. Tôi hết sức ngạc nhiên khi đi hoài trên những con đường cao tốc mà không thấy trạm thu phí nào. Khi tôi hỏi về điều đó, ông bố vợ GS Yeung nói: chúng tôi đóng thuế, chính phủ phải có trách nhiệm xây dựng đường sá.

Một lần, GS Yeung đi công tác vắng 1 tuần. Tôi xin ông cho tôi vào bệnh viện ở. Bệnh viện của GS Yeung là bệnh viện trong ngày, không có phòng lưu bệnh. Tối tối, không còn ai ở đó, bệnh viện lại không có hàng rào. Mọi người hướng dẫn tôi cách sử dụng hệ thống an ninh, và đặc biệt, hướng dẫn tôi cách gọi cảnh sát khi có trường hợp khẩn cấp.

Họ bắt tôi thực tập, và đặt giả thiết là cảnh sát sẽ đến sau 5 phút, họ hướng dẫn tôi phải làm gì trong 5 phút ấy. Tôi hỏi lại: vậy lỡ họ không đến thì sao, lỡ sau 1 giờ họ mới đến thì sao? Tôi nhớ mãi câu trả lời của một nhân viên của GS Yeung: Họ ăn lương từ tiền thuế của chúng tôi, họ phải có mặt khi chúng tôi cần họ. Nếu họ không đến, nếu họ chậm trễ, chúng tôi sẽ kiện họ.

Sinh ra và lớn lên trong một chế độ mà tôi luôn được dậy, tôi chính là người chủ của đất nước. Tôi nhận thức rằng, đất nước này như một ngôi nhà. Đảng, Chính phủ là cha, là mẹ. Bổn phận làm con, tôi luôn phải biết ơn Đảng, ơn Chính phủ khi mình vẫn còn tồn tại, khi mình có cơm ăn, áo mặc, khi mình biết đọc chữ… Câu nói “ơn Đảng, ơn Chính phủ” là câu cửa miệng của nhiều người. Bổn phận làm con, tôi không được phán xét cha mẹ. “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung, phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu”.

Tương tự vậy, cái gì xấu xa, cái gì gây thiệt hại, đích thị đó là tàn dư của phong kiến, thực dân, sau này là đế quốc, phản động, và gần đây là các thế lực thù địch, là diễn tiến hòa bình… Khái niệm làm chủ đất nước dần được hiểu theo nghĩa đóng thuế, đóng phí, đóng tiền lao động công ích, đóng góp cái gì bảo đóng, họp tổ dân phố là luôn phải đồng ý, tới ngày lễ là phải treo cờ, đến ngày bầu cử, cán bộ phường gọi là phải đi bầu sớm, cán bộ gợi ý bầu cho ai thì bầu cho người đó, chủ trương chính sách đưa ra thì phải nhiệt liệt hưởng ứng… Nếu khác đi, nếu nghi ngờ, lăn tăn thì không phải là làm chủ.

Và, cái tinh thần làm chủ đất nước ấy dậy tôi rằng, ngân sách là tiền của Đảng, của Nhà nước. Lãnh đạo sử dụng tiền đó để xây dựng và bảo vệ đất nước này. Đừng nghi ngờ, đừng thắc mắc, đừng hỏi tại sao. Đó không phải là việc của tôi. Việc của tôi là đọc những gì lãnh đạo cho đọc, nói những những gì lãnh đạo cho nói, làm những gì lãnh đạo bảo làm, hi sinh cho lí tưởng mà lãnh đạo ca ngợi.

Trở lại câu chuyện tôi đi học ở Mỹ. Với tôi khi ấy, chuyện kiện cảnh sát, chuyện nói các quan chức phải làm thế này thế khác, rồi tiền ngân sách là tiền đóng thuế của người dân… là những tư tưởng rất phản động.

Nhưng rồi, tôi để ý, cứ mỗi khi các quan chức của chúng ta lên TV, nói rằng dứt khoát không có chuyện tăng giá, là y như rằng giá sẽ tăng ngay sau đó, khi họ nói, rằng không có tham nhũng, là y như rằng bao nhiêu tiền, tài sản bị mất… Dần dần, cứ như là qui luật, khi lãnh đạo khẳng định điều gì, thì sự thật ngược lại, khi lãnh đạo phủ nhận chuyện gì, chuyện đó đúng. Do vậy, tôi không thể không đặt câu hỏi.

Thì ra, đất nước này thực sự là của tôi, của những người dân như tôi, nó không thể là của riêng ai cả. Ngoài cha mẹ đẻ ra tôi, chẳng có ai khác làm cho tôi tồn tại trên cõi đời này. Để cho tôi có thể kiếm cái ăn, cái mặc, người đầu tiên giúp tôi là cha mẹ tôi, sau đó là thầy cô tôi, các đàn anh, đàn chị, các đồng nghiệp. Tôi cần biết ơn những người đó, chứ không phải ơn cái gì đó xa vời vợi.

Thì ra tiền ngân sách thực sự là tiền của tôi, của đồng bào tôi đóng góp vào. Đồng tiền ấy phải phục vụ cho lợi ích của tôi, của đồng bào tôi. Mọi hành động nhắm chiếm riêng những đồng tiền đó đều là ăn cắp, ăn cướp tiền của tôi và đồng bào tôi. Những kẻ ăn cắp, ăn cướp ấy phải bị vạch mặt và trừng trị.

Rồi tôi nhận thức được rằng, nếu tôi cứ im lặng, nếu tôi không cùng mọi người lên tiếng chống lại bọn ăn cắp, bọn đục khoét, có nghĩa là tôi góp phần đưa đất nước này đến sự diệt vong. Nếu tôi không chống lại cái xấu, có nghĩa là tôi nuôi dưỡng cái xấu.

Khi nhận thức được như vậy, tôi lên tiếng. Tôi lên tiếng để bảo vệ đất nước tôi, để thực thi quyền làm chủ đất nước của tôi. Nhưng một số kẻ bảo rằng, tôi phản động.

Ai mới là người yêu nước, và ai là kẻ phản động?

Thăm dò dư luận: Chỉ có Việt Nam ưa Putin

Thăm dò dư luận: Chỉ có Việt Nam ưa Putin

Nguoi-viet.com

WASHINGTON (NV)  – Một tổ chức thăm dò dư luận đưa ra kết quả cho thấy chỉ còn có người Việt Nam là có vẻ ưa được tổng thống Nga Vladimir Putin, ngược hẳn với người dân khắp thế giới.

Tổng Thống Vladimir Putin. (Hình: Mikhail Klimentyev/AFP/Getty Images)

Ngày Thứ Tư vừa qua, tổ chức thăm dò dư luận PEW, trụ sở tại Hoa Thịnh Đốn, công bố kết quả thăm dò dư luận qua phỏng vấn tất cả 45,435 người tại 39 quốc gia trên thế giới khắp 5 châu lục để tổng kết ý kiến mọi người về tổng thống Nga  Vladimir Putin.

Nhìn chung, kết quả không mấy ai ngạc nhiên vì ông này đang có những hành động bá quyền bành trướng, cướp một phần nước Ukraine làm các nước Đông Âu rúng động, nhớ lại thời kỳ nằm trong gông cùm đỏ. Nền kinh tế của Nga và khu vực Âu châu đang bị ảnh hưởng nặng vì các biện pháp trừng phạt hành động của Nga.

Câu hỏi được PEW đặt ra là “Quý vị tin tưởng được bao nhiêu về việc tổng thống Nga Putin hành động đúng trong các vấn đề quốc tế?”

Theo kết quả thăm dò của PEW, nếu kể điểm trung bình thì câu trả lời tốt cho ông Putin là 24%, tức là khá thấp. Đa số người dân tại nhiều nước rất không ưa cách hành xử của ông Putin. Nước ghét nhất là Tây Ban Nha chỉ có 6%. Dân Ba Lan từng bị Nga cắm đầu chính trị dưới thời Cộng Sản ở Đông Âu chỉ có 9% trả lời thuận lợi cho ông.

Chỉ có người dân Nga với 88% là tin ông Putin đúng. Bên cạnh đó, tới 70% người Việt Nam cũng nghĩ như vậy trong khi nước có tỉ lệ cao thứ ba là Trung Quốc với 54%. Còn lại, vài nước có tỉ lệ dưới 50% và đa số dưới 30% hay thấp hơn.

Bị Tây phương cô lập, Matxcơva tìm đến các đồng minh cũ. Ngày 29 tháng 5, 2015, Liên Bang Nga và các nước trong Liên Hiệp Kinh tế Á-Âu ký một hiệp ước trao đổi mậu dịch tự do với Việt Nam trong bối cảnh quan hệ căng thẳng giữa Nga với Tây phương.

Vốn là một chư hầu cũ của Nga Xô, có rất nhiều người được gửi sang Nga du học về đủ mọi ngành. Võ khí các ngành của Việt Nam phần lớn do Nga cung cấp từ máy bay, tàu chiến đến trang bị bộ binh.

Trong bản thăm dò dư luận của PEW,  cũng đáng để ý là sự nhìn nhận tích cực của người Mỹ về Nga cũng giảm đi đáng kể. Trong khi năm 2011 có 49% người Mỹ tỏ thái độ thiện cảm với điện Kremlin, thì con số này đã giảm xuống chỉ còn 22% trong thăm dò mới nhất.

Ngược lại, niềm tin của người Nga đối với Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama cũng xuống thấp kỷ lục. Chỉ có 11% người Nga tin ông Obama đã giải quyết đúng đắn các vấn đề thế giới. Người tiền nhiệm của ông là Tổng thống George W. Bush cũng chịu số phận tương tự với chỉ 8%.

Hồi cuối năm ngoái, PEW đưa ra kết quả cuộc nghiên cứu về các vấn đề kinh tế tại gần 45 quốc gia cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia “mê” tư bản nhất trên thế giới, với 95% người Việt trong nước yêu chuộng chủ nghĩa tư bản.

Không một nước nào trong số các quốc gia được khảo sát vượt quá tỷ lệ 90%. Ngay cả Hoa Kỳ, nơi khái niệm xã hội chủ nghĩa có thể được dùng như một sự sỉ nhục, chỉ 70% số người được hỏi đồng ý rằng kinh tế thị trường tự do là mô hình kinh tế tốt nhất. (TN)

20 ĐIỀU CẦN GHI NHỚ ĐỂ CÓ MỘT CUỘC SỐNG TỐT ĐẸP HƠN

20 ĐIỀU CẦN GHI NHỚ ĐỂ CÓ MỘT CUỘC SỐNG TỐT ĐẸP HƠN

Trích EPHATA 653

Ai cũng mong muốn sống một cuộc đời thành công và hạnh phúc, nhưng điều đó không phải tự nhiên mà có được. Nếu muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn, hãy ghi nhớ 20 điều dưới đây:

1. Bạn sinh ra không phải để làm hài lòng tất cả mọi người. Vậy nên đừng quá bận tâm tới những gì người khác nói về bạn, hãy cứ là chính mình.

2. Nếu bạn muốn đạt được những thứ bạn chưa từng có, bạn phải làm những điều bạn chưa từng làm.

3. Nếu bạn tin rằng những đường chỉ tay nói lên số phận của bạn, thì bạn cũng đừng quên rằng, chúng cũng chỉ nằm trong lòng bàn tay bạn mà thôi.

4. Cuộc sống luôn cho bạn cơ hội thứ hai. Nó được gọi là ngày mai.

5. Toàn bộ đại dương cũng không thể làm đắm được một con tàu, trừ khi nước ngập vào trong. Tương tự, toàn bộ những gì tiêu cực trên đời, cũng không thể nào hạ gục được bạn trừ khi bạn cho phép nó thấm vào người mình.

6. Hãy học cách trân trọng những gì bạn đang có trước khi thời gian, dạy cho bạn biết trân trọng những gì bạn đã từng có.

7. Chính trải nghiệm chứ không phải thứ gì khác, là thứ làm nên con người bạn.

8. Hãy ở bên người làm cho bạn cười, ngay cả khi bạn mệt mỏi, không vui.

9. Đừng vội vàng từ bỏ người mà bạn yêu thương, bởi tình yêu đâu phải ai cũng may mắn tìm được nhau.

10. “Hãy đếm số tuổi của bạn bằng số bạn bè, chứ không phải số năm. Hãy đếm cuộc đời của bạn bằng nụ cười chứ không phải những giọt nước mắt” ( Ca sĩ John Lennon của nhóm The Beatles ).

11. Không có ai hoàn hảo cả. Đó là lý do tại sao bút chì có cục gôm.

12. Thứ đắt giá nhất trên đời này là lòng tin. Để có được có khi cần rất nhiều thời gian, nhưng để đánh mất thì chỉ cần vài giây ngắn ngủi.

13. Một cái đầu đầy nỗi sợ hãi sẽ không còn chỗ trống cho những ước mơ.

14. Tiền xu luôn gây ra tiếng động, nhưng tiền giấy lại luôn im lặng. Bởi vậy, khi giá trị của bạn tăng lên, hãy giữ cho mình khiêm tốn và ít nói đi.

15. Đôi khi bạn phải tự mình đứng dậy và bước tiếp, bởi không ai làm điều đó thay bạn đâu.

16. “Tôi không biết chìa khóa của thành công là gì, nhưng tôi biết chìa khóa của thất bại là cố gắng làm vừa lòng tất cả mọi người” ( Bill Cosby ).

17. “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng” ( Trịnh Công Sơn ).

18. Mỗi ngày hãy sống như thể đó là ngày cuối cùng của bạn.

19. Khóc cũng sống, cười cũng sống. Tại sao ta không chọn nụ cười để sống ?

20. Thứ quý giá nhất đối với mỗi người không phải là tiền bạc hay địa vị, mà chính là sức khỏe. Bởi vậy, hãy quan tâm tới sức khỏe trước khi quá muộn bạn nhé !

Nhận được từ Vui Sống Trên Đời

TẠ ƠN CHÚA

TẠ ƠN CHÚA

Trích EPHATA 653

Con tạ ơn Chúa vì chồng con cứ phàn nàn khi bữa cơm chưa dọn kịp, bởi lẽ anh ấy đang ở ngay bên cạnh con, chứ không phải ở bên một người đàn bà nào khác.

Con tạ ơn Chúa vì con con cứ càu nhàu khi phải phụ rửa chén đĩa cho con, bởi lẽ thằng bé đang ở nhà chứ không phải lêu lổng ngoài đường.

Con tạ ơn Chúa vì số thuế thu nhập mà con phải trả quá cao, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có một công việc tốt để làm.

Con tạ ơn Chúa vì có nhiều thứ phải dọn dẹp sau bữa tiệc nhỏ, bởi lẽ như thế nghĩa là con luôn được bạn bè quý mến đến chơi.

Con tạ ơn Chúa vì quần áo con bỗng chở nên hơi chật, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có đủ ăn.

Con tạ ơn Chúa vì cái bóng của con cứ nhìn con làm việc, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang sống tự do ngoài nắng.

Con tạ ơn Chúa vì sàn phòng cần quét, cửa sổ cần lau, máng xối cần sửa, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có một mái nhà để cư ngụ.

Con tạ ơn Chúa vì hóa đơn đóng tiền điện nước của nhà con quá cao, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang được sử dụng nhiều tiện nghi khá hiện đại.

Con tạ ơn Chúa vì người phụ nữ ngồi phía sau con trong Nhà Thờ hát sai, bởi lẽ như thế nghĩa là tai con vẫn còn nghe được rất tinh tế.

Con tạ ơn Chúa vì một đống đồ phải giặt ủi, bởi lẽ như thế nghĩa là con có đầy đủ quần áo để ăn mặc tử tế.

Con tạ ơn Chúa vì các cơ bắp của mình thấy mỏi mệt vào cuối ngày, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có sức để làm việc nhiều.

Con tạ ơn Chúa vì tiếng đồng hồ reo thật to vào sớm ban mai, bởi lẽ như thế nghĩa là con còn đi lại được, còn hít thở và cười nói, bởi lẽ như thế nghĩa là con vẫn đang còn sống mạnh khỏe.

Và cuối cùng, con tạ ơn Chúa vì đã nhận quá nhiều E-Mail gửi về, bởi lẽ như thế nghĩa là con vẫn còn có nhiều bạn bè đang nhớ đến con…

KHUYẾT DANH, bản dịch của cố giáo sư TRẦN DUY NHIÊN ( 1941 – 2009 )

Lá thư của tổng thống Lincoln gửi thầy giáo dạy con trai ông

Lá thư của tổng thống Lincoln gửi thầy giáo dạy con trai ông

 

Bức thư của cố tổng thống Mỹ Abraham Lincoln gửi thầy hiệu trưởng ngôi trường nơi con trai ông theo học. Được viết ra từ gần 200 năm trước, lại là ở nước Mỹ, nhưng bức thư vẫn giữ nguyên tính “thời sự” và gợi nhiều suy nghĩ cho chúng ta.

Con tôi sẽ phải học tất cả những điều này, rằng không phải tất cả mọi người đều công bằng, tất cả mọi người đều chân thật. Nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết cứ mỗi kẻ vô lại ta gặp trên đường phố thì ở đâu đó sẽ có một người chính trực, cứ mỗi một chính trị gia ích kỷ, ta sẽ gặp một nhà lãnh đạo tận tâm. Bài học này sẽ mất nhiều thời gian tôi biết, nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết rằng mỗi một đồng đô la kiếm được do công sức lao động của mình bỏ ra còn quý giá hơn nhiều so với 5 đô la nhặt được trên hè phố…

Xin hãy dạy cho cháu biết cách chấp nhận thất bại và cách tận hưởng niềm vui chiến thắng. Xin hãy dạy cho cháu tránh xa sự đố kị. Xin hãy dạy cho cháu biết được bí quyết của niềm vui chiến thắng thầm lặng. Dạy cho cháu biết được rằng những kẻ hay bắt nạt người khác nhất lại là những kẻ dễ đánh bại nhất.

Xin hãy giúp cháu nhìn thấy thế giới kỳ diệu của sách, nhưng cũng hãy cho cháu có đủ thời gian để lặng lẽ suy tư về sự bí ẩn muôn thuở của cuộc sống: đàn chim tung cánh trên bầu trời, đàn ong bay lượn trong ánh nắng và những bông hoa nở ngát bên đồi xanh.

Ở trường xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi trượt còn vinh dự hơn gian lận trong khi thi. Xin giúp cháu có niềm tin vào ý kiến riêng của bản thân, dù tất cả mọi người đều cho rằng ý kiến đó hoàn toàn sai lầm.

Xin hãy dạy cho cháu biết cách đối xử dịu dàng đối với những người hoà nhã và cứng rắn đối với những kẻ thô bạo. Xin tạo cho cháu sức mạnh để không chạy theo đám đông khi tất cả mọi người đều chỉ biết chạy theo thời thế.

Xin dạy cho cháu biết phải lắng nghe tất cả mọi người nhưng cũng cần phải sàng lọc những gì nghe được qua một tấm lưới chân lý để cháu chỉ đón nhận những gì tốt đẹp.

Xin hãy dạy cho cháu biết cách mỉm cười khi buồn bã. Xin hãy dạy cho cháu biết rằng không có sự xấu hổ trong những giọt nước mắt. Xin hãy dạy cho cháu biết chế giễu những kẻ yếm thế và cẩn thận trước sự ngọt ngào đầy cạm bẫy.

Xin hãy dạy cho cháu biết rằng có thể bán cơ bắp và trí tuệ cho người ra giá cao nhất, nhưng không bao giờ cho phép ai ra giá mua trái tim và tâm hồn mình.

Xin hãy dạy cho cháu ngoảnh tai làm ngơ trước một đám đông gào thét và đứng thẳng người bảo vệ những gì cháu cho là đúng. Xin hãy đối xử dịu dàng với cháu nhưng đừng vuốt ve nuông chiều cháu bởi vì chỉ có sự thử thách của lửa mới tôi luyện được những thanh sắt cứng rắn.

Xin hãy cho cháu biết rằng cháu phải luôn có niềm tin tuyệt đối vào bản thân bởi vì khi đó cháu sẽ có niềm tin tuyệt đối vào nhân loại.

Đây quả là một yêu cầu quá lớn, thưa thầy, nhưng xin thầy cố gắng hết mình. Nếu được như vậy thật là điều tuyệt vời đối với con trai tôi.

HOANG ĐỊA – THAO TRƯỜNG CỦA NHÂN ĐỨC

HOANG ĐỊA – THAO TRƯỜNG CỦA NHÂN ĐỨC

Quân Trần, SJ

Có một lần được đến, sống và làm việc tại một nhà tĩnh tâm ngay giữa sa mạc của nhà Dòng trong suốt mùa hè, tôi chợt nhận ra một thói quen vô thức của mình: cứ tìm đến một góc vắng vẻ nhất và ngồi đó trong thinh lặng.  Nhiều khi tôi dùng thời gian ấy như là một giờ tâm sự với Chúa, nhưng cũng lắm khi chỉ để hồn phiêu lãng với những chùm tư tưởng khác nhau.  Điểm lạ là nơi tôi đến chẳng có dáng của hoa thơm, cũng không có bóng của cỏ lạ.  Có chăng chỉ là cái nắng chói chang chiếu rọi trên những gốc xương rồng cằn cỗi.  May lắm thì được yên vị trong một căn chòi nho nhỏ đủ làm dịu đi đôi chút cái gay gắt của trưa hè.  Ấy vậy mà cứ ngày này qua tháng nọ, nó dường như trở thành một chốn rất đỗi thân quen.  Và muôn lần như một, câu nói trong sách Luca cứ vọng về: “Đức Giêsu thường lui vào một nơi hoang vắng mà cầu nguyện” (Luca 5:16).  Ừ nhỉ, có gì hấp dẫn hay lãng mạn nơi hoang địa cơ chứ?  Nhìn quanh nhìn quất chỉ toàn một màu của cỏ úa, ban ngày thì nóng cháy thịt da, về đêm thì lạnh buốt tận xương tuỷ.  Người đã tìm gì trong hoang địa?  Thế đó tôi bắt đầu một cuộc tìm tòi.

Hoang địa, nơi tôi luyện đức khiên nhường.  Một ngày lang thang qua khắp nẻo đường.  Một ngày rộng tay với muôn vàn ân phúc.  Thành công có, thất bại có.  Giữa sự ồn ào của lời khen tiếng chê, thật khó mà nhận ra tiếng nói âm thầm của con tạo, của trái tim.  Đi hay ở, làm hay không, có dễ đâu mà nhận định ý Ngài?  Ấy là chưa kể cái êm đềm của đời thường sẽ làm lòng người mau quên và đôi chân chợt mỏi, chỉ muốn dừng lại bám rễ, chỉ muốn hài lòng với một chút vinh vang mờ nhạt.  Vào hoang địa thôi!  Bởi nơi ấy sẽ chẳng vang vọng những lời khen tiếng chê, sẽ chẳng bị âm thanh hỗn tạp của cuộc sống bao phủ.  Nơi ấy, thành công sẽ chẳng có cơ hội tạo hào quang và thất bại sẽ không còn cơ may làm nên những làn mây ảm đạm.  Tất cả chỉ là hư vô, là trống rỗng.  Trong im lặng tuyệt đối đó, liệu có cần không cho bao vất vả hầu đạt được những hứa hẹn hão huyền?  Khi trước mặt ta, sau lưng ta, bên phải, bên trái, bên trên, và bên dưới ta chẳng còn ai khác hơn là chính mình, trốn đâu cho được.  Mà khổ nỗi khi phải đối diện với chính mình, ta mới nhận ra được một sự thật phũ phàng nhất: ta chỉ là hư vô trước mặt Chúa.  Ta chỉ là một công cụ không hơn không kém.  Những tràng pháo tay không dứt hay những lời rủa xả lê thê của hôm qua không nói lên được con người thật của ta.  Rồi ta chợt thấu hiểu lời mời gọi tuyệt vời của hoang địa: hãy trở nên khiêm hạ; hãy nhận ra nguồn gốc của mọi sự vốn chẳng xuất phát hoặc chấm dứt nơi ta.  Có lẽ vì thế mà Đức Giêsu mê không khí của sa mạc.  Quả vậy, nơi đó đã nhắc nhở Ngài một sứ vụ to lớn hơn: tất cả vì sự cả sáng của Danh Cha.

Hoang địa, nơi hình thành và nung nấu niềm tin.  Dẫu nắng có gay gắt cỡ nào đi nữa thì từng khóm xương rồng vẫn còn đó.  Dẫu muôn vàn ngọn cỏ có nhuốm màu của lá úa, thì bên dưới vẫn hàm chứa cái khao khát của mầm sống, của ý chí muốn tồn tại.  Có ai đi giữa sa mạc mênh mông mà lòng không thèm khát một vạt nước vọt lên từ giữa những dải cát vô tình?  Hẳn ta còn nhớ một đoạn của Thánh Vịnh: “Người xẻ đá giữa sa mạc hoang vu, khiến nước tuôn tràn cho dân được uống” (TV 78:15).  Có ai vật vờ giữa cơn lạnh cắt da của trời đêm mà không mong muốn một ánh lửa bập bùng sưởi ấm?  Cái khao khát được uống nước của ân sủng, được sưởi ấm với tình yêu sẽ trổi mạnh hơn bao giờ khi ta đi vào sa mạc của tâm hồn.  Và đằng sau cõi thinh không, đằng sau sự đối đầu với những giới hạn của bản thân, lòng ta chợt bừng lên một niềm tin, một thao thức, một ước muốn theo Ngài.  Ta biết ta đã không lẻ loi.  Ta tin Ngài đang cùng ta dấn bước.  Và niềm tin ấy được nung nấu qua bao thử thách của trời trưa và bao cô quạnh của đêm dài.  Nếu không bước vào hoang địa, nếu lòng vẫn bị phủ tràn với muôn ngàn tín hiệu, thì e rằng cơ hội để hình thành và tôi luyện đức tin sẽ bị nhiễu đi.  Ra vậy, Đức Kitô đã rất có lý khi tìm đến nơi hoang vắng.

Hoang địa, nơi hun đúc lòng trông cậy.  Nhiều hôm ngồi tư lự ở góc vắng của nhà tĩnh tâm, tôi chợt thấy áo mình đẫm ướt mồ hôi.  Nắng và nóng quá đỗi.  Những cơn gió nhẹ thoảng qua bỗng nhiên trở thành một món quà quý giá.  Thoảng hoặc một vài giọt nước của một cơn mưa hiếm hoi biến thành báu vật.  Gió và mưa tuy hiếm nhưng vẫn đến đấy thôi.  Thiết nghĩ người lữ khách giữa hoang địa không vì sự hiếm hoi của chúng mà trở nên thất vọng.  Rất có thể họ còn đón nhận chúng cách trân quý hơn, tri ân hơn.  Cũng vậy, khi gặp gỡ nội tâm và Thiên Chúa giữa sa mạc khô cằn, lòng người lữ thứ luôn nung nấu những khát khao.  Chúng giống như quân canh mong chờ hừng đông đến hoặc như cái đấu ao ước được đong đầy, được lèn chặt.  Rồi hồn họ chợt vút cao ngong ngóng chờ trông con tạo.  Cái ‘kết hiệp’ tưởng như rất thường đã trở nên linh thánh hơn bao giờ.  Phải chăng Đức Kitô vào hoang địa ngày nào để nuôi dưỡng lòng trông cậy tuyệt đối vào Đấng mà Ngài hằng tuân phục tin yêu?

Hoang địa, chốn xuất phát của tình yêu, của hiến mình.  Lúc thanh vắng là lúc ta có thể đối thoại với chính mình.  Quả thế, khi thành công không là áp lực và thất bại chẳng là điều làm ta bận tâm, thì đấy là lúc ta trở nên chân thành nhất.  Ta sẽ tự hỏi chính mình xem ta có muốn tái đầu tư cho những gì ta đang đeo đuổi?  Ta sẽ tự vấn lương tâm xem hồn ta có thanh thản, tim ta có khao khát, có muốn tiếp tục yêu và sẵn sàng xả thân vì tình yêu?  Câu trả lời vào giây phút đó sẽ không mang hơi hướm của những lời chúc tụng bề ngoài hoặc những sợ hãi của bao thất bại ngập tràn.  Trong thinh lặng ta có cơ hội nhìn lại và chọn lựa cách kỹ lưỡng, để rồi khi trở về đời thường ta có một lời đáp rõ ràng hơn, mạch lạc hơn.  Hẳn ta còn nhớ, ta chỉ là một loài thụ tạo rất tầm thường.  Tình yêu ta dành cho nhau không phải lúc nào cũng ướm đượm hương thơm.  Trái lại, cũng có những phút giây ta ngậm phải những trái đắng và lòng ta thoáng xôn xao.  Thế nên lâu lâu có cơ hội nghiềm ngẫm về mối tình ta dành cho nhau cũng là một điều kỳ thú.  Đức Giêsu khi xưa đã yêu và yêu thật nhiều.  Nhưng tình yêu ‘nhân tính’ của Ngài không phải không gặp nhiều thử thách.  Và để đáp trả lời mời gọi tiếp tục yêu, để tìm lại cái đơn sơ, tinh tuyền và chân chất của con tim, hơn một lần Ngài đã vào hoang địa để suy nghĩ, để nguyện cầu.  Cũng chính qua những phút giây thần thánh đó, Ngài đã lựa chọn con đường yêu thương một cách tự do và mãnh liệt.  Bởi từ đáy thẳm tâm hồn, Ngài hiểu rõ Giêsu sẽ không còn là Giêsu nếu nơi Ngài thiếu vắng sự cho đi của trái tim.  Ngài đi vào sa mạc để rồi khi trở về lòng Ngài lại chân chất những ước mơ và thân xác Ngài lại một lần biến thành của lễ.

Hoang địa, nơi ẩn náu một kho tàng vô tận.  Bất chấp nắng hay mưa, nóng hay lạnh, từng đàn ong mật cứ vần vũ quanh đám cỏ hoang.  Những cánh chuồn, cánh bướm vẫn ưỡn lượn nhịp nhàng.  Về đêm tiếng dế rả rích tỉ tê như một điệu luân vũ tuyệt vời.  Cha giám đốc nhà tĩnh tâm cho biết bên dưới sự khô cằn của hoang địa lại là một cõi mênh mông trù phú của nguồn nước dồi dào cho bao thế hệ. Những làn nước mát trong mà tôi cùng bao người thao luyện viên tận hưởng đến từ một mạch ngầm quý giá.  Từng ngụm từng ngụm đi vào lòng mát lạnh.  Chưa bao giờ tôi lại quý nước hơn những ngày này.  Hỏi liệu có khi nào nguồn nước ấy vơi đi, cha cho biết có thể lắm, nhưng đã có bao chục ngàn con người dừng chân và nhà tĩnh tâm này đã đi vào năm hoạt động thứ 50 mà chưa ai phải vất vả kiếm tìm một nguồn nước mới.  Còn nữa cứ mải mê với cõi riêng của mình, hơn một lần tôi thấy bóng dáng của những chú nai tơ tuyệt đẹp, hay vẻ dềng dàng của mẹ con gấu đen hóm hỉnh, hoặc cái giả dạng tuyệt tác của các nàng rắn đất.  Chúng luẩn quẩn quanh tôi, chợt dừng lại ngõ sững rồi lại lững thững bước đi cứ như thể thế giới này lớn đủ, rộng đủ và hòa bình đủ cho mọi loài.  Xem ra cõi hoang vu đã dạy cho tôi những bài học mà chưa trường lớp nào từng dạy.  Nó cho tôi thấy một thế giới thật mà Thiên Chúa muốn tạo nên: một loại thế giới yêu thương nhau, chấp nhận lẫn nhau, vui vẻ chung sống và chia cho nhau những gì có thể.  Thế nên khi đi vào sa mạc của tâm hồn, tôi thấy lòng mình bừng lên những ước mơ.  Bởi bên dưới cái tưởng chừng khô cằn và nặng nề nhất lại là nơi tôi học hỏi nhiều nhất.  Có lẽ Đức Giêsu cũng có một tâm trạng giống tôi khi Ngài tìm vào nơi hoang vắng.

Nhà tĩnh tâm này, đã có bao con người đến rồi đi, đã có bao trái tim trở về, và đã có bao tâm hồn biến đổi.  Nếu nói đó là do công của các Cha linh hướng của trung tâm cũng chưa hẳn sai.  Nhưng sẽ không hoàn thiện khi ta không nhắc đến bối cảnh tuyệt vời của hoang địa, nơi mà mỗi thao luyện viên có dịp sống và lắng nghe tiếng thầm thì của tạo hoá qua những giây phút trầm mặc linh thánh.  Để rồi khi trở về với thế giới vội vã, họ biết đâu là con đường mà Thiên Chúa muốn họ đi, họ hiểu ý nghĩa của những vui buồn sướng khổ trong cuộc sống.  Họ đã được Thiên Chúa, qua thinh lặng của hoang địa biến đổi.  Họ không còn là họ của hôm qua, nhưng là của những lớp người mãi bước tới theo tiếng gọi của tình yêu.  Sa mạc cũng có lắm loại nhiều thứ.  Có loại là một thứ sa mạc nóng bỏng như tôi đã sống và làm việc trong mùa hè qua.  Nhưng cũng có thứ sa mạc lặng lẽ hơn, tinh tế hơn: thứ sa mạc của tâm hồn.  Thế nhưng dẫu ở đâu hay loại nào, chúng cũng đều là thao trường tuyệt vời cho bao nhân đức.

Bạn mến, có bao giờ bạn tìm đến với sa mạc nội tâm?  Có bao giờ bạn bắt chước Đức Giêsu dành một phần trong ngày để vào nơi hoang vắng?  Có bao giờ bạn ước ao được lớn dậy trong tình yêu và đời mình được nuôi dưỡng với bao nhân đức?  Nếu có thì đừng ngại đi vào hoang địa bạn nhé.  Vào đi, đừng sợ.  Chắc chắn khi vào rồi, bạn sẽ phát hiện ra nhiều điều mới lạ.  Khi ấy thói quen tìm nơi vắng vẻ mà tâm sự với Thượng Đế và trở về với lòng mình sẽ không bao giờ rời xa bạn nữa.  Và như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong, hồn bạn cũng sẽ trông mong được gần Chúa và tha nhân hơn bao giờ.

Quân Trần, SJ

http://www.donghanh.or