Tu là buông bỏ hay hoán chuyển?

Tu là buông b hay hoán chuyn?

Một bữa nọ, hai thầy trò cao tăng ngồi nói chuyện với nhau:

Đệ tử: Thưa thầy, đạo Phật khuyên người ta buông bỏ mọi thứ đúng không?

Sư phụ: Không đúng!

Đệ tử: Rõ ràng có câu “buông bỏ tất cả” đấy thôi?

Sư phụ: “Buông bỏ tất cả” để làm gì?

Đệ tử: Đúng thế, đệ tử cũng thấy rất nghi ngờ! Đệ tử thấy Phật giáo luôn nhìn vấn đề tiêu cực.

Nhiều người hỏi đệ tử: “Nếu mọi sự đều buông bỏ thì lấy đâu ra tiền? Quần áo?

Mọi người đều không làm việc thì thế giới này sao có thể tồn tại?”

Sư phụ: Mọi sự buông bỏ thì dẫn đến sụp đổ, cái gì cũng không buông bỏ thì cũng dẫn đến sụp đổ.

Đệ tử: Như vậy phải làm thế nào?

Sư phụ: Thay thế và hoán chuyển

Đệ tử: Nhờ thầy chỉ rõ cho con!

Sư phụ: Con có thể kêu một người ăn mày cam tâm cho con số tiền đang nắm chặt trong tay họ không?

Đệ tử: Không thể được.

Sư phụ: Con có thể dùng hòn sỏi đổi lấy số tiền trong tay người ăn mày không?

Đệ tử: Con nghĩ không được.

Sư phụ: Tại sao?

Đệ tử: Vì tiền đáng giá hơn.

Sư phụ: Vậy nếu dùng vàng để đổi thì sao?

Đệ tử: Vậy thì được.

Sư phụ: Tại sao?

Đệ tử: Vì vàng đáng giá hơn.

Sư phụ: Vì thế, cách buông bỏ đơn giản nhất chính là hoán chuyển.

Nguyên nhân khiến người ta không buông bỏ là vì không giành được thứ tốt hơn.

Dùng thức ăn chay thay cho thức ăn mặn, con sẽ buông bỏ được con dao mổ;

dùng bố thí thay cho giành giật, con sẽ buông bỏ được lòng tham;

dùng tín ngưỡng thay cho hư vô, con sẽ buông bỏ được nỗi trống rỗng;

dùng trí tuệ thay cho ngu dốt, con sẽ buông bỏ được cố chấp;

dùng chánh niệm thay cho tạp niệm, con sẽ buông bỏ được ngông cuồng;

dùng nhẫn nại thay cho báo thù, con sẽ buông bỏ được giận dữ;

dùng yêu thương thay cho tham lam, con sẽ buông bỏ được.. đau tim.

Tu hành không phải là buông bỏ, mà là để hiểu lẽ hoán chuyển.

Con nhỏ không mắt

Con nhỏ không mắt

Hai sinh viên Y khoa ở Zurich – thành phố lớn nhất của Thụy Sĩ – nhân dịp kỳ nghỉ Giáng sinh, đáp phi cơ từ Zurich đi Lisbon – thủ đô của Bồ Đào Nha -, rồi từ Lisbon đáp xe đò ngược lên Fatima.  Hai sinh viên này, một Công Giáo, một Tin Lành, cả hai đều 20 tuổi.

Anh sinh viên Tin Lành là con duy nhất của một gia đình khá giả ở Zurich. Anh muốn đến Fatima để tạ ơn Đức Mẹ, vì nhờ ơn Đức Mẹ anh qua khỏi một căn bệnh nguy hiểm, mà theo các bác sĩ, không hiểu nổi theo cách thức thông thường.

Chiều 24-12-1967,  hai anh tới Lisbon và lúc 22giờ30 thì tới Fatima. Trời gió lạnh. Mưa lâm râm. Công trường trước Thánh đường vắng vẻ, mênh mông…. Trong nhà nguyện – nơi Đức Mẹ hiện ra 6 lần cách đây 50 năm – chỉ có vài chục người đang đọc kinh, cầu nguyện… Hai anh vào Nhà Nguyện được ít phút, còn đang mải mê ngắm nhìn tượng Đức Mẹ Nữ Vương Mân Côi, thì một phụ nữ trẻ bước vào, trên tay bồng đứa con nhỏ, đầu và nửa mặt trên bưng kín, nằm gọn trong bộ đồ ấm mùa đông.  Bà đến trước tượng Đức Mẹ Nữ Vương Mân Côi, lộ vẻ đau khổ, lâm râm khấn cầu, nâng đứa con dâng cho Đức Mẹ, rồi hạ xuống, nước mắt chan hòa..  Những người có mặt đều nhìn mẹ con bà với vẻ cảm thông, thương xót. Một bà trong đám lại gần, hỏi đứa nhỏ bệnh tật, ốm yếu ra sao? Bà mẹ trẻ trào nước mắt, lật cái khăn bịt đầu đứa nhỏ ra: Trời ơi, một con nhỏ, mặt nhẵn thín, không có mắt, chỉ có mũi và miệng.  Từ trán đến mũi, miệng và hai tai, là một làn da thịt nhẵn nhụi.

Bà mẹ đau khổ thều thào trong nước mắt:  “Lạy Mẹ, xin Mẹ thương con, xin Mẹ thương con nhỏ tội nghiệp. Xin Mẹ hãy nhớ, khi xưa sinh hạ Chúa Hài Đồng, Mẹ sung sướng ẵm nhìn xiết đứa con vàng ngọc vào lòng. Còn con và con nhỏ này? Đau khổ biết bao, Mẹ ơi! Con gởi gấm nó cho Mẹ, Mẹ đừng nỡ để nó đui mù suốt đời ”.  Bà nấc lên. Rút xâu chuỗi ở túi. Lần hột. Các người có mặt nãy đến giờ đứng nghe chăm chỉ… Có bà lại còn xụt xùi, chùi nước mắt… Rồi một bà đứng ra nói: “Thôi, xin tất cả các bà, chúng ta cùng nhau đọc một chuỗi kinh kính Đức Mẹ Nữ Vương Mân Côi, cầu cho mẹ con bà này ”.  Đọc kinh đến nửa mùa, quãng một giờ sáng  (25-12-1967),  con nhỏ dẫy dụa, rên rỉ, khóc. Bà mẹ lật tấm khăn bịt đầu, xem có chuyện chi mà nó khóc. Vừa lật tấm khăn lên, bà há miệng, ớ một tiếng lớn, đầy kinh ngạc… Mọi người bỏ cả đọc kinh, xúm lại quanh hai mẹ con, thì ớ kìa: ngay bên dưới trán con nhỏ, xuất hiện hai lỗ nhỏ xíu, rồi từ đó hai đường nứt nhỏ cứ lớn dần dần, lan ra phía bên tai, rồi hai con mắt hiện ra… Con nhỏ ngỡ ngàng, nhìn má, nhìn mọi người… như một tạo vật vừa từ trời rớt xuống…Mọi người sửng sốt, reo hò, mừng rỡ, túm tít chung quanh hai mẹ con, cười cười, nói nói, hỏi han đủ truyện, quên cả ván kinh đang đọc giở…

Hai anh sinh viên được chứng kiến tận mắt chuyện lạ . Cảm xúc vô cùng. Sau khi về lại Zurich, cả hai anh nhất trí khước từ mọi sự, ngoại trừ việc học hỏi thêm về Chúa.  Hai tháng sau, cả hai anh bỏ Đại học. Cả hai cùng đi Nam Mỹ, giúp việc truyền giáo trong một Nhà thương cùi. Anh sinh viên Tin Lành đã gia nhập Công Giáo… Vì lòng khiêm tốn, hai anh xin ẩn danh.

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

THƯ GỬI MẸ LÊN TRỜI

THƯ GỬI MẸ LÊN TRỜI

Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J.

Mẹ Maria kính yêu,

Việc Mẹ được đặc ân lên trời cả hồn và xác là biến cố trọng đại và ý nghĩa cho toàn thể nhân loại. Trọng đại vì đó là phần thưởng tuyệt hảo mà Thiên Chúa đã dành riêng cho Mẹ; ý nghĩa vì Mẹ là người khởi đầu của Hội Thánh viên mãn, là niềm vui và hy vọng lớn lao cho dân thánh trong cuộc lữ thứ trần gian.  Trên quê trời, Mẹ tiếp tục mời gọi chúng con bước theo Thầy Giêsu để mai này chúng con cũng được cùng Mẹ hưởng niềm vui Thiên quốc.  Hôm nay (15/08) cả Giáo Hội chung chia niềm vui này với Mẹ để tán dương Thiên Chúa!

Còn nhớ ngày sứ thần truyền tin, Mẹ đã thưa tiếng “xin vâng” để trở thành Mẹ Thiên Chúa.  Mẹ chấp nhận thánh ý để cùng với Con của Mẹ lao tác trong chương trình cứu độ.  Chiêm ngắm hành trình Mẹ theo chân Thầy Giêsu, Con Mẹ, ai ai cũng nhận ra tình yêu và lòng tín thác tuyệt đối mà Mẹ dành cho Thiên Chúa.  Đúng như lời hát du dương của Mẹ: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, Thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi!”  Không vui mừng hớn hở sao được bởi Mẹ thật diễm phúc vì hoa trái trong lòng Mẹ là Đấng cứu độ trần gian.  Cả cuộc đời, Mẹ luôn ngân nga tiếng hát ấy với niềm vui thiêng liêng và lòng xác tín thẳm sâu!

Trên dương thế, Mẹ chẳng xa rời Đức Giêsu.  Mẹ và Thầy Giêsu như hình với bóng.  Lúc nào Mẹ cũng quảng đại cộng tác trong công cuộc cứu độ của Thiên Chúa.  Có thể nói Mẹ là đóa hoa hướng dương luôn hướng về ánh Mặt Trời.  Đóa hoa ấy luôn đầy tràn ân phúc vì Đức Chúa ở cùng Mẹ.  Nhờ đó, Thiên Chúa ban cho Mẹ vô nhiễm khi hoài thai, đồng trinh vẹn sạch khi làm mẹ và ơn thăng thiên cả xác lẫn hồn.  Mẹ cũng được gìn giữ khỏi bị hư nát trong mồ giống như Con của Mẹ.  Chúng con hãnh diện lắm, mừng vui lắm khi Mẹ được đưa lên trời cả hồn và xác!  Giờ đây Mẹ biết không, chúng con sung sướng chạy đến với Mẹ để nhờ Mẹ chuyển cầu cho chúng con trước nhan thánh Chúa.

Mẹ ơi!  Đã từ lâu Giáo Hội có những thánh lễ nói về giây phút chấm dứt cuộc đời dương thế của Mẹ đấy.  Mừng với Mẹ vì ai cũng tin rằng lần ra đi của Mẹ phải tốt đẹp, không chút đớn đau.  Rồi dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh, ngày 1/11/1950, Đức Piô XII long trọng tuyên bố: “Đức Maria, Mẹ Vô Nhiễm của Thiên Chúa trọn đời đồng trinh, sau cuộc sống trần gian này, đã được phúc vinh quang Thiên đàng cả hồn và xác.”  Mẹ ơi, Ngài còn nói với chúng con rằng: “Chúng ta hãy nài xin Mẹ rất thánh của mọi phần tử của Chúa Kitô mà Ta đã tín thác hiến dâng loài người cho Trái Tim Mẹ.  Ngày nay ở trên trời, thân xác và linh hồn Mẹ toả sáng trong vinh quang, hiển trị cùng với Con của Mẹ.” (“Corporis Mystici”, 29-6-1943).

Trái tim hiền mẫu của Mẹ luôn ước mong từng người con hãy tin yêu Chúa Giêsu.  Mẹ cầu mong chúng con cũng được hưởng niềm vui Thiên Quốc như Mẹ.  Ước gì chúng con luôn được ở trong Trái Tim nhân hiền của Mẹ.  Mẹ ơi!  Chúng con tin rằng thân xác sẽ sống lại trong ngày sau hết.  Nếu tin yêu Chúa Giêsu Kitô, chúng con chắc chắn sẽ được sự sống đời đời, Mẹ nhỉ!  Khi ấy, Mẹ-con mình sẽ trùng phùng vui sướng, hạnh phúc vô bờ!  Hơn nữa, khi chiêm ngắm Mẹ lên trời cả hồn và xác, chúng con còn xác tín rằng: thân xác sẽ được cứu độ.  Cho dẫu cuộc sống gian trần còn nhiều khổ đau thân xác và tâm hồn, nhưng nhờ Mẹ, chúng con sẽ được Thiên Chúa nhận lời đưa vào cuộc sống vĩnh hằng, thưa Mẹ!

Sau cùng, chúng con muốn cùng với Mẹ dâng lời “Ngợi khen” Thiên Chúa: “Linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa, … Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn!”  Chính Người đã ban cho Mẹ nên Hiền mẫu tuyệt vời trên dương thế, nên Đức Mẹ rạng ngời trên Thiên quốc.  Hôm nay và ở đây, Mẹ vẫn đang hát vang bài ca ấy để cầu mong từng người con dù sống dưới trần gian, nhưng hãy hướng tâm trí về Quê Trời.  Nơi ấy Mẹ đang vẫy gọi và cầu nguyện cho mỗi người chúng con!

Lạy Mẹ Maria, trên Thiên quốc, xin Mẹ đoái nhìn đến cuộc sống lữ hành của chúng con.  Xin Mẹ nhắc nhớ chúng con đừng quá mê man với cuộc sống chóng qua mà quên mất thực tại Nước Trời.  Bên ngai tòa Thiên Chúa, xin Mẹ cầu thay nguyện giúp cho chúng con có sức mạnh thần linh để chúng con một lòng tin yêu Thiên Chúa.  Được như thế, chắc chắn chúng con sẽ gặp được Mẹ, để Mẹ dẫn chúng con đến hưởng nhan thánh Chúa.  Amen.

Chúc mừng đặc ân Mẹ được Thiên Chúa đưa lên trời cả hồn và xác!

Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J.

Trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ

Trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-08-10

08102015-stone-stael-still-eroded-comma.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tượng đài Hồ Chí Minh được làm bằng hợp kim đồng có chiều cao là 7,2 m

Tượng đài Hồ Chí Minh được làm bằng hợp kim đồng có chiều cao là 7,2 m được đặt trước mặt UBND TPHCM.

kienthuc.net

Thần kinh khốn nạn

Blogger Nguyễn Tường Thụy ghi lại từ trang mạng của cơ quan tuyên giáo của đảng cộng sản Việt nam rằng hiện ở Việt nam có 158 tượng chủ tịch Hồ Chí Minh, và từ đây cho đến năm 2030 chính phủ Việt nam sẽ cho xây cất thêm 58 tượng ông Hồ Chí Minh nữa.

Tượng đầu tiên trong số 58 tượng này chính là nằm trong công trình quảng trường của tỉnh Sơn La với kinh phí dự trù là 14 ngàn tỉ đồng.

Thông tin về bức tượng tốn kém này làm nổ tung truyền thông Việt nam, không chỉ từ giới blogger độc lập mà cả từ truyền thông chính thống của nhà nước.

Câu bình luận đầy giận dữ của giáo sư Toán học Ngô Bảo Châu được loan truyền trên không gian blog theo tốc độ của ánh sáng:

“Trẻ con ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1400 tỷ để xây tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh”.

Tác giả Bạch Cúc cũng chia sẻ sự phẫn nộ trên trang Bauxite Việt Nam:

Tôi không hiểu tại sao đến giờ phút này người ta vẫn còn có thể trâng tráo và tàn nhẫn trên nỗi thống khổ của đồng bào mình đến vậy? Thay vì phung phí tiền thuế của dân để xây dựng những tượng đài xa hoa vô tích sự, thì sao người ta không xây dựng trường học, bệnh viện, triển khai những chính sách giúp dân an cư lập nghiệp, giảm thiểu số người buôn bán gánh bưng; người già, người khuyết tật đơn độc được vào nhà an dưỡng chứ không phải là lê la ngoài đường mưu sinh vất vả với xấp vé số!

Tác giả Võ Xuân Sơn viết trên trang của mình với một giọng văn gần như ngơ ngác, ông hỏi rằng tại sao chuyện món nợ công khổng lồ đang treo lơ lững trên đầu quốc gia, bao nhiêu người dân đang sống dưới mức nghèo khổ, ăn cơm không thịt,… mà người ta lại bỏ 14 ngàn tỉ để xây tượng đài?

” Trẻ con ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1400 tỷ để xây tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh

Giáo sư toán học Ngô Bảo Châu”

Theo blogger Nguyễn Tường Thụy thì nếu so sánh với số tiền mà nhóm NO-U, một nhóm dân sự độc lập tại Việt nam, dùng để xây dựng lớp học cho trẻ em nghèo trên vùng núi tỉnh Yên Bái thì số vốn mà tỉnh Sơn La dùng để xây tượng ông Hồ Chí Minh có thể dùng để xây được 14 nghìn lớp học như thế.

Blogger nhà văn Phạm Đình Trọng viết bài Hãy dừng ngay những tượng đài tham nhũng. Sau khi liệt kê những công trình tượng đài tiền tỉ khác đã làm xong như Bà mẹ Việt nam anh hùng tại Quảng Nam, Văn miếu khổng tử tại Vĩnh phúc,… Ông viết:

Chính quyền với những cá nhân từ cấp thấp đến cấp cao dấm dúi tham nhũng, không ai bảo được ai, không ai trị được ai. Đến nay chính quyền tham nhũng đó đã tiến tới tập thể công khai tham nhũng bằng việc ném hàng trăm, hàng ngàn tỉ tiền thuế mồ hôi nước mắt của dân vào những công trình không những vô bổ mà còn phản văn hóa nhân loại, phản đạo lí dân tộc, phản cả sự trung thực của lịch sử đất nước. Tiền đầu tư công trình càng lớn thì tiền lại quả để những người có chức, có quyền chia nhau càng lớn.

Nói về câu tuyên bố của giáo sư Ngô Bảo Châu, blogger Cánh Cò viết rằng ông đã tìm ra một loại hệ thống thần kinh mới mang tên Thần kinh khốn nạn.

Người đặt bút ký quyết định cho tỉnh Sơn La xây dựng bức tượng tiền tỉ của ông Hồ Chí Minh là Phó thủ tướng Vũ Đức Đam.

Cánh Cò bình luận về ông Đam dựa trên câu nói của giáo sư Ngô Bảo Châu:

Rõ ràng là GS Châu chơi chữ. Không thể nào một ông Phó Thủ tướng lại mắc bệnh thần kinh, có nghĩa là tâm thần không bình thường, ký những quyết định đi ngược lại với nhân văn, với đạo lý dân tộc. Ông chỉ có thể “khốn nạn” trong ý thức. Ông không xem trẻ em lê lết trong các mái trường không thua chuồng trại súc vật đầy dẫy tại các tỉnh biên giới mà Sơn La là một điển hình của sự nghèo túng cùng cực. Ông không hề nghĩ tới hàng chục ngàn hộ thiếu ăn quanh năm và đối với họ chỉ cần đủ ăn đã là hạnh phúc. Đối với họ Hồ Chí Minh chỉ là một cục đá được đẽo gọt chỉ để đứng nhìn sự thống khổ, kiệt quệ của họ, những người quanh năm không biết tới một mẩu thịt là gì.

Cánh Cò cho rằng loại thần kinh này đã nằm trong cơ cấu di truyền của hệ thống cộng sản, và những người cộng sản có loại thần kinh này tưởng tượng ra rằng người dân đang đói rách có thể ngắm tượng ông Hồ Chí Minh, người được tuyên truyền là cha già dân tộc, để thay cơm.

Còn một chút này

Cánh Cò kết luận rằng dự án bức tượng ngàn tỉ này không phải chỉ là sự lãng phí mà còn là sự phá hoại, phá hoại những tình cảm cuối cùng của người dân miền núi chất phác dành cho ông Hồ Chí Minh.

Những tình cảm đó được blogger Hiệu Minh ghi nhận như sau:

Hình ảnh cụ Hồ trong phần đông dân chúng là một người giản dị, sống có đạo đức và chẳng có chút gì cho riêng mình. Dù là tuyên truyền thì hãy để hình ảnh đẹp ấy sống mãi trong trái tim thế hệ sau.

Những người hay rao giảng trên bục về đạo đức Hồ Chí Minh không tham ô, trộm cắp, độc ác với đồng chí, thì Hồ Chí Minh sẽ muôn đời sống mãi mà không cần đến tượng đài và đền chùa, hao phí tiền bạc của người nghèo, hay những câu khẩu hiệu giăng đầy giữa phố đông người.

Nhưng có những người không đồng ý với hình ảnh một ông Hồ Chí Minh giản dị. Họ cho rằng ông chẳng giản di chút nào vì thuở sinh thời ông cũng đã để cho mọi người ca ngợi ông hết lời, dán hình ảnh ông khắp nơi, và thậm chí là ông viết sách ca ngợi chính ông nữa.

” Thấy bảo bà con trên đó mong lắm. Mong ngày mong đêm, muốn có cấy tượng đài rõ hoành tráng, với tượng Bác Hồ cao to lồng lộng, để dân khắp tỉnh cứ mỗi cuối tuần thì kéo nhau đến, đem mỳ luộc, bắp nướng ra ăn rồi ngắm cho thỏa nỗi ước ao…Trẻ em cởi truồng đến coi cũng cứ thích”

Trên blog của nhà văn Đào Hiếu, một tác giả khác viết một cách mỉa mai về cái gọi là tình cảm của đồng bào nghèo miền núi tỉnh Sơn La đối với việc xây tượng đài ông Hồ Chí Minh:

Thấy bảo bà con trên đó mong lắm. Mong ngày mong đêm, muốn có cấy tượng đài rõ hoành tráng, với tượng Bác Hồ cao to lồng lộng, để dân khắp tỉnh cứ mỗi cuối tuần thì kéo nhau đến, đem mỳ luộc, bắp nướng ra ăn rồi ngắm cho thỏa nỗi ước ao. Có mưa to, gió lớn, lũ ống lũ quét chi cũng hổng quản. Nhà cửa tạm bợ, trường lớp xụp xụp cũng không răng. Trẻ em cởi truồng đến coi cũng cứ thích. Vì rứa nên bà con mới kiến nghị với đảng bộ và chính quyền trên đó lâu rồi. Đòng chí bí thơ hay chủ tịch tỉnh đó nói rứa. Nguyện vọng bà con, chớ có phải các đòng chí lãnh đạo phịa ra mô.

Những dòng chữ mỉa mai này dường như là để trả lời cho một tuyên bố của một vị phó chủ tịch phó chủ tịch hiệp hội qui hoạch và phát triển đô thị Việt nam, Tiến sĩ Đào Ngọc Nghiêm. Ông Nghiêm nói rằng không thể nói rằng vì đói nên phải mua cơm trước, và tượng đài sẽ là động lực cho sự phát triển (sic.)

Cũng phải ghi nhận rằng có người cũng ủng hộ câu nói của ông Nghiêm, họ nói rằng tượng đài sẽ thu hút khách du lịch đến để tham quan thắng cảnh.

Cuộc chiến tuyên truyền

Blogger Người buôn gió lại nhìn nhận câu chuyện dựng tượng ông Hồ Chí Minh ở Tây bắc từ một góc độ khác. Theo ông Tây bắc vốn là nơi có sự đa dạng về sắc tộc và tính ngưỡng, đồng thời cũng là nơi mà Tinh lành và Thiên chúa giáo phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây, và điều này đã làm cho những người cộng sản lo sợ, và hình tượng ông Hồ Chí Minh được đưa vào vùng này như là một vũ khí tinh thần chống lại tôn giáo và tín ngưỡng,… Tuy nhiên Người Buôn gió nhận xét:

Không có ý xúc phạm vong linh của ông HCM. Nhưng sự thực là ở nơi nào tượng đài của ông xuất hiện, hình ảnh của ông được quảng bá, tư tưởng của ông được truyền tụng ca ngợi. Ở đó đạo đức đều băng hoại. Đây hoàn toàn không phải lỗi của ông. Mà do những kẻ lợi dụng biến ông thành một phương tiên chiến tranh tôn giáo, tín ngưỡng. Biến ông thành công cụ, vũ khí để xâm lược tư tưởng. Để đè bẹp, lấn át tôn giáo khác trong tâm trí người dân. Nhằm mục đích làm bền vững sự cai trj của mình bằng thủ đoạn.

” Những tượng đài to lớn hoành tráng xa xỉ được xây dựng nhiều chừng nào thì cái tư duy lụn bại và dấu hiệu nhũng lạm ngày càng phình to không thể che dấu được chừng đó. Cứ để thế đi, phản bác làm gì. càng nhiều tượng đài chừng nào, thì thể chế đó càng mau xuống hố chừng đó

Blogger Kinh Thư “

Nhưng mấy ai nhìn thấy tượng đài HCM là công cụ, vũ khí của ĐCSVN dựng lên để làm biến dạng bản sắc dân tộc của người miền núi.

Điều đó còn đáng phẫn nộ hơn. Sự huỷ hoại văn hoá, xâm chiếm tín ngưỡng, tôn giáo sẽ làm băng hoại nền tảng đạo đức con người. Khi đã mất đi bản sắc truyền thống, thay thế vào đó bằng một hình tượng nhất thời, cả dân tộc ấy sẽ chả còn gì là con người nữa. 1400 tỷ là con số lớn, nó sẽ còn lớn hơn nữa khi hàng năm phải vặn óc ra tổ chức những sự kiện để nhồi nhét hình tượng HCM tiếp tục vào đầu dân tộc Tây bắc qua cái sân khấu khu tượng đài này.

Người buôn gió hỏi rằng cần bao nhiều tiền để sau này khôi phục bản sắc văn hóa của người miền núi Tây bắc?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn cũng thấy rằng chiến dịch xây tượng đài ông Hồ Chí Minh là một phần của cuộc chiến tranh tuyên truyền của đảng cộng sản, nhưng nhận xét của ông có phần mềm mỏng hơn:

Tôi nghĩ tượng đài là một phương tiện tuyên truyền. Trong một thể chế toàn trị, người đứng đầu đảng hay Nhà nước (hay nói chung là lãnh tụ) là hiện thân của chế độ; yêu thương lãnh tụ cũng là yêu thương chế độ toàn trị. Để làm cho quần chúng yêu thương lãnh tụ, cần phải kiểm soát trái tim và đầu óc của họ. Việc kiểm soát phải qua bộ máy tuyên truyền. Mà, một phương tiện tuyên truyền hữu hiệu là kích thích thị giác, làm cho đám đông nhất trí với lí tưởng của nhà cầm quyền. Do đó, xây tượng đài lãnh tụ là một chiến lược rất “nhân văn” để kiểm soát tâm và trí của quần chúng.

Ông cũng nhận xét rằng không chỉ các quốc gia cộng sản mà các quốc gia độc tài tân thời cũng ham thích tượng đài lãnh tụ như là Irak thời ông Saddam, rồi các quốc gia Trung Phi hay Trung Á. Giáo sư Tuấn so sánh với sự tuyên truyền cho các nhà chính trị ở các quốc gia tư bản, và ông thấy rằng họ cũng có xây tượng đài nhưng ít tốn kém, và cái chính là họ cần sự thuyết phục chứ không phải kiểm soát tâm trí của dân chúng.

Giáo sư Tuấn còn có một nhận xét là nhiều bức tượng anh hùng dân tộc ngày xưa được xây dựng dưới thời Việt nam cộng hòa trước năm 1975 đã được thay thế bằng ông Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông. Nhưng điều quan trọng nhất về các tượng đài xã hội chủ nghĩa là tính chất vô hồn của nó:

Các nhân vật trong tượng đài XHCN thì thường được cho mập ú (không giống người Việt), lực lưỡng (như ông Tây), tay lúc nào cũng giơ cao, có khi tay cầm búa hoặc lưỡi liềm (rất ghê), có khi tay nắm lại như sắp đánh lộn, có khi tay mang súng trông rất hung dữ như sắp bắn ai, mặt thì lúc nào cũng vênh váo, v.v. Tóm lại, những bức tượng đó chẳng giống thần thái của người Việt chút nào cả.

Ông viết thêm là cái cánh tay giơ lên của ông Hồ Chí Minh ở Việt nam không khác gì cả cánh tay ông Mao Trạch Đông bên Trung quốc, hay ông Kim Nhật Thành bên Bắc Triều tiên.

Sắc sắc không không

Không rõ là cuộc chiến tuyên truyền bằng tượng đài của đảng cộng sản Việt nam, hay Trung quốc, hay Bắc Triều tiên có thành hay không, nhưng nhiều tượng đài lãnh tụ cộng sản đã bị kéo sập sau khi chủ nghĩa này bị thất bại ở châu Âu.

Blogger Kinh Thư viết rằng:

Những tượng đài to lớn hoành tráng xa xỉ được xây dựng nhiều chừng nào thì cái tư duy lụn bại và dấu hiệu nhũng lạm ngày càng phình to không thể che dấu được chừng đó.
Cứ để thế đi, phản bác làm gì. càng nhiều tượng đài chừng nào, thì thể chế đó càng mau xuống hố chừng đó. Khỏi nhọc công
.

Một tác giả lại so sánh cảnh hỗn loạn xây đền chùa thời Phật giáo mạt kỳ, và cảnh người cộng sản xây dựng tượng ông Hồ Chí Minh bằng hai khái niệm Vô tướng của đạo Phật và Hữu tướng của chủ nghĩa cộng sản:

Chùa nhiều, Phật lớn, không sư đạo

Đảng mạnh, Bác to, chẳng đảng viên

Một người khác thì mượn câu nói của người xưa để cảnh báo:

Trăm năm bia đá cũng mòn,

Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ!

TQ bác bỏ chỉ trích của Mỹ về tự do đi lại ở Biển Đông

TQ bác bỏ chỉ trích của Mỹ về tự do đi lại ở Biển Đông

Chiến đấu cơ Super Hornet AF / A-18F của Mỹ chuẩn bị cất cánh từ boong tàu sân bay USS George Washington trong cuộc diễn tập hải quân thường niên trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Chiến đấu cơ Super Hornet AF / A-18F của Mỹ chuẩn bị cất cánh từ boong tàu sân bay USS George Washington trong cuộc diễn tập hải quân thường niên trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Phản bác những lời chỉ trích của Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ John Kerry hồi tuần trước về những hạn chế của Trung Quốc đối với tự do hàng hải và không lưu trong khu vực, Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm nay nói với hãng tin Reuters rằng tự do hàng hải và tự do bay ngang qua không có nghĩa là tàu chiến và máy bay chiến đấu nước ngoài có thể vi phạm chủ quyền lãnh thổ và an ninh của họ.

Bắc Kinh nói tự do hàng hải trong khu vực là điều thiết yếu bởi vì đây là một tuyến đường biển quan trọng.

Tuần trước, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry nói trước một hội nghị quy tụ các nhà lãnh đạo khu vực ở Kuala Lumpur rằng việc xây cất những cơ sở trên những đảo tân tạo cho ‘những mục tiêu quân sự’ đang làm tăng căng thẳng và khiến cho các nước khác cũng có tuyên bố chủ quyền chồng lấn quân sự hoá khu vực này.

Ông Kerry còn chỉ trích những ‘sự hạn chế’ mà Trung Quốc đã thiết lập trong mấy tháng gần đây, nói rằng Hoa Kỳ sẽ không chấp chận bất kỳ sự hạn chế nào đối với quyền tự do hàng hải và tự do bay ngang qua khu vực.

Các giới chức quân sự Philippines nói rằng Bắc Kinh đã nhiều lần cảnh cáo phi cơ quân sự của Philippines phải rời khỏi vùng không phận gần các đảo nhân tạo do Trung Quốc xây tại quần đảo Trường Sa.

Hải quân Trung Quốc cũng đã 8 lần cảnh cáo phi hành đoàn của một máy bay trinh sát Poseidon của Mỹ khi máy bay này bang ngang qua khu vực hồi tháng 5, theo tin của phóng viên CNN có mặt trên máy bay của Mỹ.

Những động thái này đã làm gia tăng căng thẳng trong khu vực. Mới đây Ấn độ cũng đã lên tiếng bênh vực lập trường của Việt Nam và Philippines và các nước khác trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông.

Báo Business Insider của Ấn Độ hôm nay dẫn lời Quốc vụ Khanh đặc trách Ngoại vụ, người có mặt tại cả hai hội nghị Đông Á và Hội nghị các Ngoại trưởng ASEAN ở Malaysia, nói rằng : “Chúng tôi chia sẻ các quan tâm do các đồng nghiệp của chúng tôi trong khối ASEAN nêu lên về những diễn tiến trong tình hình Biển Đông. Quyền tự do hàng hải và bay trên không phận các vùng biển quốc tế, kể cả ở Biển Đông, các hoạt động thương mại và tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên dựa trên các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, kể cả Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 là những vấn đề quan tâm của tất cả chúng tôi.”

Các nguồn tin chính thức nói rằng những lý do gọi là lịch sử mà Trung Quốc viện ra để tuyên bố chủ quyền trên hầu hết Biển Đông là ‘không có cơ sở’ và những hoạt động cải tạo đất xây đảo nhân tạo của Trung Quốc tại đây là bất hợp pháp, đi ngược lại các chuẩn mực và luật pháp quốc tế.

Theo Reuters, Business Insider.

Tại sao chế độ độc tài có thể tồn tại ở Việt Nam?

Tại sao chế độ độc tài có thể tồn tại ở Việt Nam?

Triết học Đường phố

Joseptuat

“Ôi! Cái đất nước gì mà quái lạ, chó mèo còn quan trọng hơn người.” “Ôi! Cái đất nước gì bất ổn! Tuần nào cũng có biểu tình, hôm thì nhóm này, mai lại tới nhóm khác xuống đường, chả yên bình tí tèo nào! Như vậy thì sao mà yên ổn làm ăn?”

Người Việt dưới chế độ cộng sản vẫn thường khó hiểu với những điều mắt thấy, tai nghe ở những đất nước tự do như vậy đó. Phần lớn người dân chúng ta quen với cảnh luồn cúi, vâng dạ với chính quyền, trong suy nghĩ mình chỉ là thân phận dân đen, rồi suốt ngày nhìn thấy trên bề mặt cảnh yên lặng mà không biết rằng nó có được là do sợ hãi, vô cảm, rồi lầm tưởng về mình và thế giới xung, nên thấy cảnh sinh hoạt của một xã hội tự do thì xem họ giống như một giống dân khó hiểu, nhiều người còn bảo là lạc hậu. Tôi ban đầu cũng thấy không quen với cảnh sinh hoạt của đất nước tự do, nhưng rồi ngồi ngoài quan sát, nghiền ngẫm thì mới phát giác ra rằng: giá trị của tự do mang đến cho con người thật tuyệt vời.

Chỉ có một xã hội có tự do, quyền con người được luật pháp tôn trọng và bảo vệ, thì quyền lợi của những con vật thú cưng mới được như vậy. Nói cho vui thì quyền lợi của mấy chú thú cưng chỉ là ăn theo quyền con người mà thôi. Không chỉ thể, khi xã hội có tự do người dân cũng trở nên nhạy bén và phản ứng tích cực hơn với các vấn đề xã hội, các vấn đề chính trị. Đặc biệt là tầng lớp trẻ, tôi thấy họ nhạy bén với các quyết định của chính phủ một cách tuyệt vời. Tôi đã chứng kiến những cuộc biểu tình của tầng lớp sinh viên về các quyết định của chính quyền như vấn đề kinh tế, hay ban hành những cải cách giáo dục có vẻ có lợi cho một nhóm người…

Nhìn người thì ngẫm tới mình! Khi bắt đầu có những nhận thức mới về tình hình xã hội, trong đầu tôi luôn có một trăn trở về sự tồn tại của ĐCS ở VN. Tại sao chế độ độc tài này có thể tồn tại khi mà thế giới ngoài kia đã và đang chối bỏ nó từ gốc tới ngọn? Tại sao người dân VN mình lại tuân phục chính quyền như vậy, trong khi phần lớn người dân trên thế giới được sống trong tự do, hiểu rõ quyền của mình, và hiểu rõ vị trí của chính quyền trong xã hội như thế nào? Cho đến hôm nay câu hỏi đó vẫn đeo bám, và thật khó để tìm một câu trả lời chính xác cho vấn đề trên. Tôi nghĩ nhiều người đã viết về nó, bàn về nó, ở đó tôi thấy họ vẽ lên chế độ này là một chế độ tàn ác, giỏi tuyên truyền mị dân. Có nhiều người bảo tại dân trí VN mình thấp, không hiểu về quyền lợi, và trách nhiệm của mình trong xã hội. Tôi nghĩ cả hai nguyên nhân trên đều đúng, nhưng nó chưa đủ đối với tôi, tôi chưa thấy thỏa mãn, vì thế tôi muốn góp một chút suy tư của mình, nhằm trả lời cho câu hỏi trên.

Trước khi bàn về sự tuân phục của dân VN với chế độ cộng sản, tôi muốn mời mọi người gọi đúng danh xưng cho chính quyền cộng sản, đúng như những gì nó đang thể hiện. Tôi không thích tính mập mờ, cái gì đúng với bản chất của nó, thì phải gọi đúng tên nó. Cái bàn mà gọi là cái ghế, con voi gọi là con chuột, con chim gọi là con thằn lằn thì không thể nào chấp nhận được. Mọi vật tồn tại đều có bản chất riêng của nó, vì thế hãy gọi đúng tên nó như nó là. Cũng không vì trong hiến pháp ghi rằng chính quyền này là chính quyền của dân, do dân, và vì dân, thì dù chính quyền muốn làm trời làm đất chi thì đó vẫn là chính quyền của nhân dân. Nếu con chuột khoác trên mình bộ lông con mèo, mà có thể gọi nó là mèo chứ không phải chuột thì đúng là nhầm lẫn tai hại, và ngớ ngẫn.

Vậy chính quyền cộng sản là chính quyền của dân, do dân, vì dân, hay là một chính quyền độc tài? Chưa hề có một chính quyền nhân dân nào, mà lại đi bắt bớ, khủng bố, bỏ tù những người khác quan điểm với mình? Không thể nào có một chính quyền nhân dân, mà lại cướp đi tự do, quyền con người của họ? Không thể nào có một chính quyền nhân dân, mà lại cai trị bằng nỗi sợ hãi, bằng bạo lực, bằng lừa dối? Và chưa bao giờ có một chính quyền nhân dân, lại bắt bớ những người chống ngoại xâm, và xem ngoại xâm là bạn, là hàng xóm? Cuối cùng là chính quyền này chưa bao giờ được nhân dân bầu lên, nó chỉ là chỉnh quyền chỉ định, đề cử từ Đảng Cộng Sản. Tất cả những gì đang thể hiện chỉ cho thấy bản chất của một chính quyền độc tài. Vì thế, tên của chính quyền độc tài sẽ được thay thể cho cụm từ chính quyền cộng sản trong bài viết này.

Tại sao dân chúng Việt Nam lại tuân phục chính quyền độc tài?

Tôi nghĩ một chế độ độc tài có thể cầm quyền được khi và chỉ khi họ điều khiển được phần lớn người dân trong xã hội. Tôi không dùng từ kiểm soát, mà tôi dùng từ điều khiển, y như chúng ta điều khiển đồ chơi điện tử của mình. Tôi nghĩ chế độ này luôn chủ động trong các trò chơi chính trị với người dân, họ biết rõ dân chúng cần gì, ghét gì, lo gì, muốn gì bởi đơn giản họ ở trong đầu phần lớn người dân chúng ta. Nhưng làm thế nào chính quyền có thể điều khiển người dân?

Để có thể điều khiển dân chúng, thiết nghĩ họ cần điều khiển tư tưởng, hay nói chính xác là họ biến ý muốn của họ, quyền lợi của họ một cách nào đó chính là tư tưởng hợp lý trong chúng ta. Tư tưởng chúng ta sinh ra ý tưởng, ý tưởng tạo ra ý chí, ý chí thúc đẩy chúng ta hành động. Vậy tư tưởng đến từ đâu? Tư tưởng đến từ gia đình, nhà trường, xã hội, từ kinh nghiêm cuộc sống, từ tôn giáo. Tất cả những vật liệu trên tạo ra tư tưởng, nên chỉ cần chính quyền kiểm soát những thứ đó thì có thể tạo ra được một số lớn dân chúng theo ý muốn. Vậy thật sự thì chính quyền này cần những gì trong thành phần xã hội, để biến họ, quyền lợi của họ, sự tồn tại của họ thành tư tưởng hợp lý trong đầu người dân?

Nắm quyền giáo dục!

Giáo dục chính là điều đầu tiền để chính quyền tạo ra những con người tuân phục họ. Bởi thế, ở VN không có những trường học do tư nhân thành lập từ cấp tiểu học đến trung học phổ thông là như vậy. Đến cả đại học nếu có được thành lập cũng phải nằm dưới quyền kiểm soát của bộ giáo dục, và bị theo dõi rất chặt chẽ từ người của bộ này. Chúng ta thừa hiểu được tầm quan trọng của giáo dục trong tiến trình phát triển một con người, vì phần lớn những tư tưởng giáo điều được nuôi dưỡng, và lớn lên trong thời gian nay.

Nắm được giáo dục, cũng là nắm được 50% thành công để tạo ra những con người theo ý muốn của chính quyền. Không khó hiểu phần lớn những người VN trong giai đoạn cắp sách tới trường, lại thường rất sủng mộ Hồ Chí Minh, và tin tưởng vào ĐCS. Ở giai đoạn này, phần lớn học sinh VN bị nhồi vào đầu những điều vô lý nhưng lại được dạy là rất bình thường: Yêu tổ quốc, yêu đất nước là yêu đảng, nghe theo đảng. Chống đảng, dù có vì dân, vì đất nước, vì tổ quốc thì là phản bội tổ quốc, phản động, người xấu. Thế nhưng, đời sống một con người đâu thể mãi bó hẹp trong môi trường giáo dục, và cũng đâu chỉ tiếp nhận tư tưởng từ giáo dục nhà trường, ở ngoài kia cũng là một nơi để tư tưởng của họ được nảy sinh, phát triển. Vì thế, điều thứ hai cần làm để điều khiển tư tưởng, đó chính là kiểm soát báo chí, truyền thanh, truyền hình, và nay là cả Internet.

Kiểm soát thông tin!

Thông tin được tiếp nhận qua các giác quan, và cả từ kinh nghiệm sống. Khi chúng ta được đón nhận những thông tin đúng sự thật, chúng ta sẽ có được những tư tưởng đúng đắn, và sẽ có hành động hợp lý, và chính đáng. Nhưng khi thông tin bị bóp méo, bị kiểm duyệt, thì cái mà chúng ta tiếp nhận lại là những viên gạch, những thanh sắt nhốt chúng ta trong một vùng ý thức nào đó. Bởi thế, để có thể điều khiển người dân, chính quyền độc tài cấm các tờ báo, các truyền hình, truyền thanh tư nhân. Và hầu hết, các cơ quan truyền thông đều bị kiểm soát của ban tuyên giáo, một cơ quan đại diện cho tiếng nói nhất quán của ĐCSVN, hay đúng hơn là quyền lợi của giới lãnh đạo.

Đương nhiên, việc kiểm soát thông tin trong thời đại Internet đúng là một việc làm không hề dễ như chưa có nó. Để có thể làm mất ảnh hưởng của những thông tin trái chiều trên mạng xã hội, chính quyền lại chơi trò tung hỏa mù. Tung thật nhiều tin có tính chất mờ hồ lên mạng, khiến người đọc nhiều khi khó phân biệt được đâu thật, đâu giả. Và đó là cách làm cho tâm trí chúng ta nghi ngờ những tư tưởng của mình, và đa số chọn cách chờ đợi sự thật rõ ràng, mới bắt đầu hành động. Điều kì là ở con người là tư tưởng nhiều khi tự nó phát triển, cho cả khi bị nhốt kín trong 1 vùng không gian và thời gian nào đó. Để ngăn chặn những tư tưởng tự do này, chính quyền độc tài cần nỗi sợ hãi.

Cai trị bằng nỗi sợ hãi

Cai trị bằng nổi sợ hãi nói ra có vẻ trừu tượng, hiểu đơn giản là biến lực lượng công an, quân đội thành công cụ đàn áp người dân. Tư tưởng con người dù rất quan trọng để hình thành nên một nhân cách, nhưng hầu như nó luôn cúi phục các bản năng của mình. Một trong những bản năng đó, phải nói đến là bản năng sống. Trước khi chọn lựa một hành động gì, phần lớn chúng ta thường tự hỏi mình: cái này có lợi gì cho ta không? Nếu hành động điều này thì lợi ít hay hại ít? Nó làm tốn hại gì đến mình, gia đình mình không? Đó chính là sự trỗi dậy của bản năng sống khi chúng ta đứng trước những hành động mà mình chưa nắm bắt rõ vấn đề.

Không phải có những người bình thường họ rất yếu ớt, rất lười biếng, nhưng khi bản năng sống bị nguy hãi, hay ở trong những tình huống cận kề giữa sống và chết, chúng ta thấy họ thật mạnh mẽ, và phi thường đó sao. Đó chính là bản năng sống. Hiểu rõ được vấn đề đó, chính quyền này đã lan truyền nỗi sợ hãi trong dân chúng, cho thấy sự tàn ác của lực lượng an ninh, để bất kì kẻ nào muốn nổi loạn đều phải đắn đo suy nghĩ. Và hầu như, phần lớn chấp nhận im lặng để được yên thân.

Chống đối, dù chống đối hình thức nào đều bị đàn áp, khủng bố, trù dập. Những câu chuyện hàng ngày chúng ta đọc trên báo chí, trên mạng xã hội có thể nó tố cáo tội ác chính quyền, nhưng nó cũng giúp lan truyền nỗi sợ hãi đến dân chúng. Kiểm soát tư tưởng bằng nỗi sợ còn hưu hiệu hơn bằng văn học, thơ ca, âm nhạc, hay bất kì một hình thức tuyên truyền nào khác.

Bên cạnh độc quyền giáo dục, độc quyền thông tin, độc quyền sử dụng bạo lực để điều khiển tư tưởng người dân, chính quyền độc tài cần độc quyền sở hữu tài sản quốc gia, trong đó có đất, nước, xăng dầu, điện… Bởi đơn giản, khi những nhu cầu căn bản như ăn uống mà còn bị phụ thuộc vào chính quyền, thì dân chúng bắt buộc phải dẹp bỏ những tư tưởng chống đối. Tuy nhiên, có một vấn đề đặt ra là: từ khi chính quyền này mở cửa với thế giới bên ngoài, dẹp bỏ nền kinh tế tập trung, và chấp nhận nền kinh tế thị trường, dù còn rất méo mó vì phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì đã tạo ra một tầng lớp dân chúng có của ăn, của để.

Khi những nhu cầu căn bản không còn là vấn đề trong cuộc sống, bình thường chúng ta sẽ hướng đến những nhu cầu cao hơn. Để điều khiển đám dân chúng giàu có này, chính quyền lại lôi về những tư tưởng bên tây, bên tàu cho dân chúng đua đòi. Bọn họ lôi về những tư tưởng này, nhưng lại bóp méo chúng, biến chúng thành những tư tưởng có lợi cho sự tồn tại của họ. Không phải dân chúng VN ngày hôm nay, có một phần lớn người trẻ chỉ biết sống hướng thụ một cách điên rồ đó sao. Đua đòi cách sống của người Mỹ, người Nhật nhưng lại học trên bề mặt, áp dụng một cách khờ khạo đến ngu dại, mà chẳng hiểu rõ về chủ nghĩa thực dụng là gì? Hướng thụ là gì? Hay hiện sinh là gì?

Nhiều người thường đổ lổi cách sống hoang dại trên của một đại bộ phận dân chúng VN là của các nước tư bản, mà không hiểu đó lại là ý đồ của chính quyền, họ truyền tuyền tư tưởng này đến với đám người lắm tiền nhiều của qua phim ảnh, báo chí. Một mặt thì giả vờ lên án trên các diễn đàn, nhưng mặt khác thì khuyến khích họ sống như thế mới là thời đại, phong cách, cá tính…

Viết ra những dòng này không phải là đổ lổi hết tất cả mọi vấn nạn xã hội lên đầu chính quyền độc tài, một phần trách nhiệm cũng thuộc về chúng ta, những người luôn bị động trong cuộc chiến chống độc tài. Hãy hiểu rõ mình, và hiểu rõ kẻ thù đó vẫn luôn là phương châm của người viết, và hi vọng bài viết dù chỉ là một chút suy tư nhưng phần nào đó để các bạn có cái nhìn đúng về chế độ độc tài. Họ có thật sự ngu dốt, ngớ ngẩn, thần kinh như những gì chúng ta đang mạt sát họ từng ngày trên các trang mạng hay không? Hay đó lại chỉ là một trò chơi khác trong việc điều khiển các tư tưởng của chúng ta.

Đã đến lúc những người yêu tự do, yêu quyền con người, ủng hộ dân chủ phải thay đổi cách đối đầu với chính quyền độc tài. Đừng bị động để họ ra trò chơi, rồi để chúng ta tung hứng, mà hãy chủ động hơn trong vai trò phản biện của mình. Thiết nghĩ, chỉ có ở thể chủ động, chúng ta mới biết mình đang ở đâu trong cuộc chiến chống độc tài, và mới biết nên phát động phong trào, chiến dịch nào? Có tinh thần chống độc tài, yêu các giá trị tự do thôi chưa đủ, mà còn phải hiểu rõ về nó, và hiểu rõ về mình, thì mới hi vọng đến một ngày VN thật sự tự do, và con người VN mới sống đúng địa vị là một con người.

___

Mời đọc lại: Điều gì khiến các chế độ độc tài vẫn tồn tại? (BBC).

Video bài thuyết trình ”Hành Trang & Lý Tưởng” của Luật sư Têrêsa Trần Kiều Ngọc

Video bài thuyết trình ”Hành Trang & Lý Tưởng” của Luật sư Têrêsa Trần Kiều Ngọc

VietCatholic Adelaide

Ls. Têrêsa Trần Kiều Ngọc sinh quán tại giáo xứ Phước Tỉnh, Bà Rịa, Vũng Tàu. Lúc còn nhỏ theo gia đình vượt biển tìm tự do và được định cư tại Adelaide, Nam Úc.

Ls. Kiều Ngọc hiện là luật sư trưởng luật sư đoàn Kiều Ngọc tại Adelaide và là giáo dân thuộc Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam, tiểu bang Nam Úc

Mời qúi vị nghe bài thuyết trình của một luật sư trẻ, lớn lên tại Úc, nói tiếng Việt rất sành sõi, nói về Ơn Gọi tận hiến của Cô và hành trang, lý tưởng

httpv://www.youtube.com/watch?v=fy0bsn-xC6o

Teresa Trần Kiều Ngọc: Hành Trang và Lý Tưởng

CUỘC SỐNG

CUỘC SỐNG

Không có thứ ta muốn,

Không muốn thứ ta có,

Không có thứ ta thích,

Cũng không thích thứ ta có.

Thế nhưng ta vẫn sống và yêu.

Đó là cuộc sống…

 

Bạn tốt nhất

Là người mà bạn có thể cùng ngồi đung đưa trước hiên nhà,

Không nói lời nào cả,

Vậy mà khi rời khỏi, bạn vẫn cảm giác như đó là cuộc trò chuyện thú vị nhất mà bạn từng có.

 

Ta thường chẳng biết mình có gì cho đến khi đánh mất chúng,

và cũng chẳng biết mình thiếu gì cho đến khi chúng đến.

 

Trao ai hết tình yêu thương của bạn không có nghĩa rằng chắc chắn họ cũng sẽ thương yêu bạn!

Đừng trông đợi tình yêu như một sự đáp trả;

Hãy chỉ đợi cho nó lớn lên trong tim họ,

Nhưng nếu không được như vậy, thì hãy vui vì nó đã lớn lên trong tim bạn.

 

Có khi chỉ mất một phút để phải lòng ai đó,

một giờ để bắt đầu cảm thấy thích,

và một ngày để bắt đầu yêu,

Nhưng lại phải mất một đời để có thể quên được họ.

 

Đừng tìm kiếm nơi vẻ đẹp bề ngoài; chúng có thể đánh lừa bạn.

Cũng đừng tìm kiếm nơi của cải vật chất; vì ngay cả những thứ đó rồi cũng sẽ ra đi.

Hãy tìm kiếm người có thể khiến bạn mỉm cười,

Vì chỉ cần có nụ cười thì ngày ảm đạm cũng trở nên tươi sáng.

Hãy tìm người có thể khiến trái tim bạn mỉm cười!

 

Cầu cho bạn

Đủ hạnh phúc để trở nên dịu dàng nhân hậu,

Đủ nếm trải để trở nên kiên cường mạnh mẽ,

Đủ nỗi buồn đế biết cảm thông,

Và đủ hy vọng để trở nên hạnh phúc.

 

Hãy luôn đặt mình vào hoàn cảnh của người khác.

Điều gì làm bạn tổn thương,

thì cũng có thể sẽ làm tổn thương họ.

 

Người hạnh phúc nhất

Không hẳn là người có được những thứ tốt nhất;

Mà chỉ là người biết tận dụng tất cả những gì đến với họ.

Hạnh phúc sẽ đến

Với những ai từng rơi lệ,

Từng tổn thương,

Từng tìm kiếm,

Và từng cố gắng,

Bởi chỉ có họ mới có thể hiểu được tầm quan trọng của những người đã từng chạm vào cuộc đời họ.

Khi bạn chào đời, bạn khóc và mọi người xung quanh nhìn bạn mỉm cười.

Hãy sống cuộc đời mình thế nào để khi chết,

Mọi người xung quanh than khóc, và bạn mỉm cười.

 

Hãy gửi thông điệp này

Cho người có ý nghĩa đối với bạn,

Cho người đã chạm vào cuộc đời bạn bằng cách này hay cách khác,

Cho người có thể khiến bạn nở nụ cười khi bạn thật sự cần nó,

Cho người có thể giúp bạn nhìn thấy mặt tích cực của vấn đề khi bạn thật sự thất vọng,

Và cho người mà bạn muốn họ biết rằng bạn trân quý tình bạn của họ.

 

Nếu không làm vậy, cũng đừng lo lắng,

Sẽ chẳng có điều tồi tệ nào xảy đến với bạn đâu,

Chỉ là bạn vừa lỡ mất cơ hội

Làm cuộc sống ai đó tươi sáng hơn với thông điệp này mà thôi…

Bùi Tín: Khi cây cổ thụ bị trốc rễ

Bùi Tín: Khi cây cổ thụ bị trốc rễ

VOA

Bùi Tín

Cây cổ thụ lớn nhất thế giới, Trung Quốc, có số dân đông nhất thế giới, đang bước vào thời kỳ cáo chung, thời kỳ rẫy chết, không có gì có thể cứu vãn khỏi số Trời đã định vậy.

Số Trời đây là quy luật đào thải của mọi sự vật trên đời, quy luật sinh – lão – bệnh – tử của mỗi đời người; quy luật sinh – hưng – thịnh – suy – vong – phế – diệt của mỗi chế độ, mỗi triều đại ngự trị trong xã hội loài người, không một con người nào, một chế độ chính trị nào thoát khỏi cái định mệnh khắc nghiệt cay đắng ấy.

Đây là một loạt quan điểm, nhận định, bình luận chính trị gần đây nhất của nhiều mạng thông tin có cơ sở ở Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản, Hoa Kỳ, của nhiều nhà bình luận chính trị Trung Quốc ở hải ngoại, của các mạng Minh Huei, Bo Xun (tiếng Hoa), cũng như của nhà báo – nhà bình luận Trung Quốc Gordan G. Chan, tác giả cuốn sách The Coming Collapse of China (Sự sụp đổ sắp tới của Trung Quốc), được tái bản nhiều lần.

Cũng mới đây mạng Đại Kỷ Nguyên, cơ quan ngôn luận của Pháp Luân Công Đạo Pháp do Đạo sư Lý Hồng Chí sáng lập, đã đi đầu trong phong trào Tam Thoát – Thoát Đảng, Thoát Đoàn, thoát Đội và Thoát mọi loại tổ chức khác của Đảng CS Trung Quốc mà Ông cho là tà giáo man rợ, là tội ác chống nhân loại.

Hiện con số người tuyên bố công khai Tam Thoát đã lên đến 221.000.000 người, làm biến đổi sâu sắc so sánh lực lượng giữa đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và đại khối nhận dân Trung Quốc lương thiện.Trên Đại Kỷ Nguyên hiện đang đăng bài “Đảng CS Trung Quốc vong » cho rằng ĐCSTQ không thể cưỡng lại số phận đã được định đoạt là giải thể, tiêu vong trong thời gian không xa. Chiến dịch “diệt hổ đập ruồi, săn cáo» đang ở hồi kết thúc, không thể nào xuống lưng hổ vì “kỵ hổ nan hạ» (cưỡi hổ thì khó xuống).

Màn chót ngay trước mắt là triệt con hổ Thượng tướng Quách Bá Hùng và con trai là tướng Quách Chính Cương, vì Quách từng là Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự TƯ, cánh tay phải của Giang Trạch Dân, bị tống giam khi đang cải trang làm phụ nữ để tìm cách thoát sang Hồng Kông.

Mạng Minh Huei còn nhận địng rằng sau cuộc họp Bộ Chính trị ở Bắc Đới Hà mùa hè này, Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Nước Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn sẽ gạt Trương Cao Lệ, Lưu Vân Sơn và Trương Đức Giang, cả 3 hiện nằm trong Ủy ban Thường Vụ Bộ Chính trị gồm 7 ủy viên ở chóp bu quyền lực, là thế lực cuối cùng phò Giang Trạch Dân, để ngay sau đó diệt chính Giang, coi là đòn ân huệ để giải thể luôn ĐCSTQ, chuyển sang mang một tên mới – “Đảng Xã hội Dân chủ” hoặc “Đảng Dân tộc Trung Hoa”, như trước đây Lý Thụy Hoàn, một ủy viên kỳ cựu của Bộ Chính trị đã gợi ý, sau khi đảng CS Liên Xô bị giải thể hồi cuối năm 1991. Hiện nay, Tập Cận Bình đang kết chặt với Vương Kỳ Sơn và Thủ tướng Lý Khắc Cường trong Thường vụ Bộ Chính trị, và với 2 Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự TƯ là 2 Thượng tướng Phạm Tường Long và Hứa Kỳ Lương, thay thế Từ Tài Hậu đã chết và Quách Bá Hùng vừa sa lưới.

Một bản tiểu sử dài của Giang Trạch Dân được phổ biến rộng rãi trong 6 tháng qua, chỉ rõ Giang xuất thân từ một gia đình đại Hán gian từng phục vụ phát xít Nhật thời Uông Tinh Vệ, đã tự nhận là con nuôi liệt sỹ, gia đình cách mạng CS nòi để leo lên đỉnh cao quyền lực và phá nát Đảng CS không có cách gì cứu vãn nổi.

Đại Kỷ Nguyên còn cho biết trong tháng 7/2015 Tập Cận Bình quy định tất cả các cán bộ đảng viên CS phải làm lễ tuyên thệ “trung thành với Hiến pháp”, từ bỏ lệ tuyên thệ trung thành với Đảng CS và học thuyết CS, từ đó đưa đảng vào “lãnh cung», tử vong vĩnh viễn.

Không phải ngẫu nhiên mà từ hơn một năm nay các Tòa án Trung Quốc tiếp nhận đơn của mọi công dân kiện cáo về việc người thân của họ trong Đạo Pháp Luân Công bị sát hại trong lao tù, các bộ phận cơ thể được rao bán khắp mọi nơi. Hiện nay đã có 80 vạn lá đơn kiện đích danh ông Giang Trạch Dân về tội ác này do chính Giang đề xướng và thực hiện qua bộ máy 610 – được thành lập ngày 10 tháng 6 năm 1999 – trên tinh thần Đảng CS theo Duy Vật chống mọi tà giáo Duy Tâm.

Tuy không phải từ những nguồn tin chính thức được tin cậy hoàn toàn, tôi vẫn thu thập, ghi chép, bình luận các thông tin trên đây với tất cả sự thận trọng dè dặt cần thiết, để các bạn đọc của VOA rộng đường tham khảo và theo dõi thêm.

Nếu như ĐCSTQ thật sự tiêu vong trong thời gian tới, khi cây cổ thụ Trung Quốc bị đổ trốc rễ, như số phận Đảng CS Liên Xô hồi cuối năm 1991, thì không ai có thể hình dung rõ sau đó hậu quả đối với tình hình Đông Nam Á và toàn thế giới sẽ ra sao.

Trung Quốc sẽ vẫn còn là một thực thể hay sẽ vỡ ra thành các mảnh lớn nhỏ khi nó có đến hàng trăm dân tộc với tiếng nói, nguồn gốc, tôn giáo khác nhau?

Chắc chắn sẽ là tin tốt lành cho nhân dân Việt Nam khi cái họa bành trướng tệ hại sẽ có cơ chấm dứt để nhân dân ta có thể sống hoàn toàn độc lập tự do, hòa hiếu, hợp tác và cùng phát triển với mọi nước xa gần.

Nước cờ Thoát Trung, gắn bó với các bạn bè dân chủ xa gần, bẻ lái chiến lược lúc này thật đúng lúc, đúng thời cơ, là cao kiến, hợp lòng dân, đúng theo vận nước vậy.

Đọc chuyện Tàu để hiểu chuyện Việt Nam

Đọc chuyện Tàu để hiểu chuyện Việt Nam

GS Nguyễn Văn Tuấn

Tôi (và chắc nhiều bạn khác) vẫn hay nghĩ rằng chỉ cần tìm hiểu tình hình bên Tàu cộng là chúng ta có thể hiểu và biết tình hình Việt Nam, kể cả những bất cập và sự kiện man rợ xảy ra trong quá khứ. Thật vậy, các bạn hãy đọc bài dịch dưới đây, các bạn sẽ thấy VN đã áp dụng một cách rập khuôn các thủ đoạn dã man của Mao Trạch Đông vào VN như thế nào.

Bài này cho rằng Mao Trạch Đông đã cho triển khai triệt để một số thủ đoạn để triệt tiêu đường sống (hay nôm na là bóp bao tử) của công chúng và buộc công chúng phải phục tùng ông. Có 5 thủ đoạn chính:

• chế độ hộ khẩu;
• chế độ tem phiếu;
• chế độ lí lịch;
• chế độ cải tạo; và
• chế độ cơ quan đơn vị.

Đọc qua 5 thủ đoạn này, có lẽ các bạn thuộc thế hệ của tôi sẽ kêu lên kinh ngạc: sao mà giống VN thế! Thực sự thì cũng không ngạc nhiên, vì VN chỉ rập khuôn theo Tàu mà thôi. VN không có cách mạng văn hoá, nhưng cũng có những chiến dịch tương tự ở qui mô nhỏ hơn. VN cũng có chế độ hộ khẩu, và cho đến bây giờ vẫn còn duy trì chế độ này dù không dã man như trước đây. May phước là chế độ tem phiếu đã đi vào dĩ vãng, nhưng cũng đủ để lại những di chứng kinh hoàng. Chế độ cải tạo đã gây biết bao kinh hoàng của người miền Nam sau 1975, và một số người miền Bắc trước đó.

Nhiều người nói rằng VN không còn chế độ lí lịch, nhưng sao khi tiếp xúc với bà con, bạn bè, đồng nghiệp, tôi thấy chế độ này vẫn còn tồn tại nhưng dưới hình thức khác. Rõ ràng là việc bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng vẫn dựa vào màu đỏ của lí lịch. Người công giáo không được phục vụ trong ngành công an (?) Còn Việt kiều, thì tôi nghe nói (chứ chưa có chứng cứ cụ thể) là Nhà nước phân biệt 2-3 nhóm. Nhóm miền Nam đi vượt biên là xấu nhất; nhóm miền nam đi du học trước 1975 là xấu chút chút; còn nhóm miền Bắc đi du học hay lao động nước ngoài là tốt. Như vậy là vẫn có sự kì thị có hệ thống và có tổ chức, chứ chủ nghĩa lí lịch chưa hết ở VN. VN sẽ chẳng bao giờ khá nổi với chủ nghĩa lí lịch chỉ dành ưu tiên cho đảng viên — tôi có thể tiên lượng khẳng định như thế.

Chế độ quản lí cấp vi mô như cơ quan đơn vị, theo tôi thấy, vẫn còn được duy trì. Chẳng hạn như sinh viên hay nhân viên tham gia biểu tình chống Tàu cộng là bị “hỏi thăm” ngay tại trường đại học hay cơ quan. Trường hợp tiêu biểu là Nguyễn Phương Uyên, em ấy chẳng bị bị đuổi học mà còn bị triệt tiêu đường học. Chưa thấy nước nào đối xử với công dân man rợ như thế. Có khi quan chức cấp trung tham gia kí các thỉnh nguyện thư chống Tàu bị cơ quan cô lập ngay. Do đó, các thủ đoạn mang nặng “Mao tính” này vẫn còn tồn tại ở VN, dù dưới hình thức khác và cường độ dã man có phần giảm chút so với trước đây.

Sự việc xảy ra trong quá khứ thì chúng ta chẳng muốn khơi dậy làm gì, nhưng không được quên (vì đó là một phần lịch sử). Tôi nghĩ những ai đang ra sức lấy điểm bằng cách áp dụng 5 thủ đoạn trên để đàn áp người dân yêu nước, đàn áp sinh viên, đàn áp đồng nghiệp, v.v. nên đọc bài dưới đây, và suy nghĩ lại việc làm của mình. Những ai đã sống đủ thời gian và trải qua những thời gian đau khổ sẽ chứng nghiệm một qui luật rằng: những kẻ làm những việc ác ôn trong quá khứ thì trong tương lai gần họ hoặc gia đình họ sẽ chịu những hình phạt nặng nề như những gì họ gây ra cho người khác, y như câu mà người phương Tây hay nói what goes around comes around (có lẽ dịch là “gieo nhân nào thì gặt quả đó”).

____

Nghiên cứu Lịch sử

06-11-2013

Cách mạng văn hóa là tội của ai?

Hidematsu Hiyoshi [1]

(trao đổi với giáo sư Mao Vu Thức)

Trong thời đại Mao Trạch Đông, dân chúng không có quyền tự do ngôn luận, tự do theo đuổi nghề nghiệp, tự do cư trú và tự do đổi nơi cư trú. Điều mà người dân có thể làm chỉ là sự phục tùng. Bởi vì “kẻ không phục tùng không có cơm ăn”, ai không phục tùng thì phải “đói mà chết dần”. Tất cả bi kịch cũng như mọi chuyện hoang đường xuất hiện trong thời Cách mạng Văn hóa không phải là trách nhiệm và lỗi lầm của nhân dân Trung Quốc (trong đó có giáo sư Mao Vu Thức[2]). Tạp chí Minh Kính số tháng 8 đăng bài “Kỉ niệm một vị nữ thánh” của Ngô Giá Tường.[3] Trong bài có nhắc đến chuyện kinh tế gia Mao Vu Thức phát biểu trong lễ kỉ niệm tròn 90 năm ngày sinh Vương Bối Anh[4] rằng “Bi kịch Cách mạng Văn hóa dù do lãnh tụ vĩ đại Mao Trạch Đông đích thân đạo diễn, cộng thêm nhóm tứ nhân bang cùng những kẻ tay sai trợ ác cùng lắm cũng chỉ mấy trăm người. Vậy mà cả nước sáu bảy trăm triệu người điên cuồng vào cuộc. Có một nửa trách nhiệm ở người dân.

Nếu Mao Trạch Đông và lũ bốn tên sang Hoa Kì làm việc đó thì khẳng định là làm không nổi”.[5] Giáo sư Mao có dũng khí phản tỉnh như vậy thực đáng ca ngợi. Vậy mà người viết bài này quả thật không dám đồng ý với phát biểu cho rằng nhân dân phải gánh một nửa tránh nhiệm về bi kịch Cách mạng Văn hóa và nếu như là ở Mĩ thì không thể tiến hành được cuộc cách mạng đó. Chúng tôi cho rằng quan điểm đó có vấn đề về logic rất đáng được trao đổi thêm.

“Kẻ không phục tùng không có cơm ăn”

Cách mạng Văn hóa sở dĩ có thể phát động và lôi cuốn dân chúng – việc này hoàn toàn có quan hệ với thể chế chính trị Trung Quốc. Dưới thời Mao, dân không chỉ mất quyền tự do ngôn luận. Đến quyền tự do chọn nghề nghiệp, tự do cư trú và di chuyển cũng chả có. Mỗi một người đều trở thành “chiếc đinh ốc” trong cỗ máy quốc gia. Còn Nhà nước thì trở thành người chủ nhân công duy nhất, người kinh doanh của tất cả các xí nghiệp. L.Trotsky nói từ 1937: “Trong những nước mà Nhà nước là người thuê nhân công duy nhất, phản kháng đồng nghĩa với việc “từ từ chết đói”. Nguyên tắc xưa cũ “kẻ không lao động không được ăn” đã bị thay thế bởi nguyên tắc mới “kẻ không phục tùng không được ăn”[6] (sách “Đường đến nô dịch”). Trong một xã hội như thế, việc mà dân chúng có thể làm chỉ có thể là phục tùng và phục tùng. Bởi vì “kẻ không phục tùng không được ăn”, kẻ không phục tùng thì sẽ đối diện với uy hiếp của cái chết phải “từ từ chết đói”.

Ta hãy xem tình cảnh xã hội Trung Quốc thời Mao. Chính quyền mới được thành lập sau 1949. Trong thập niên những năm 50 hàng loạt các cuộc vận động chính trị và trấn áp phản cách mạng do Mao phát động đã tiêu diệt triệt để giai cấp trí thức thân hào trong xã hội Trung Quốc truyền thống.
Những chức năng có tính truyền thống của xã hội Trung Quốc theo đó cũng tiêu vong. Trên một cơ sở như thế Mao đã sử dụng năm thủ đoạn kể sau để khống chế chặt chẽ xã hội dưới tay mình.

Thủ đoạn thứ nhất – Chế độ hộ khẩu

Chế độ hộ khẩu kiểu Trung Quốc phân tách thành thị và nông thôn. Nông dân suốt đời bị cầm cố ở nông thôn, các hộ dân quê không có cách nào để dời lên thành phố. Không có hộ khẩu thành phố thì không có chỗ làm, không có hộ khẩu thành phố thì không có phân phối lương thực, không có hộ khẩu thành phố không những không làm được bất cứ việc gì mà chính ra là không thể sinh tồn. Dân thành phố cũng bị cầm cố tại chính nơi cư trú của mình.

Việc chuyển chỗ ở giữa các thành phố cũng vì chế độ hộ khẩu mà chịu sự khống chế hoàn toàn. Chế độ hộ khẩu đó dẫn đến vấn đề bất bình đẳng về mức sống, việc làm, đi học giữa nông thôn và thành phố. Vậy nhưng chỗ giống nhau về quyền lợi chính trị mà dân nông thôn và dân thành phố được hưởng đều là “không có gì”.

Chế độ hộ khẩu Trung Quốc còn có một công năng khác, đó là thông qua hộ khẩu cưỡng chế những ai không phục tùng hay có kiến giải độc lập về nông thôn tiếp thu giáo dục lao động cải tạo. Sự khác biệt giữa thành phố và nông thôn kiểu như thế hoàn toàn là do con người tạo nên. Những ai có hiểu biết về thời kì lịch sử đó đều thấy rõ như thế

Thủ đoạn thứ hai – Chế độ tem phiếu phân phối

Mao Trạch Đông dùng chế độ phân phối tem phiếu để nắm chặt trong tay mình nguồn nhu yếu phẩm phục vụ đời sống nhân sinh. Bất cứ một số lượng tiêu dùng nhu yếu phẩm nào cần thiết cho sinh hoạt đều được phân phối, người dân không thể tự do có được các nhu yếu phẩm đó. Khi mua lương thực không những cần có sổ mà còn cần cả tem phiếu, có tiền cũng không mua được định mức quy định theo tháng. Điều cần phải chỉ rõ là, phiếu lương thực còn chia thành loại phiếu thông dụng toàn quốc, loại phiếu dùng ở địa phương các tỉnh và loại phiếu dùng cho các thành phố. Trừ loại phiếu lương thực thông dụng toàn quốc ra, hai loại sau chỉ có thể dùng trong phạm vi các tỉnh các thành phố.

Người ta không thể xoay trở được nếu như không có phiếu lương thực. Chỉ riêng với chế độ phiếu lương thực đã có thể khống chế được quyền tự do hành động của dân chúng. Nhưng chế độ phân phối của Mao gồm một nội dung hết sức rộng rãi. Tất cả đều được phân phối theo phiếu – có phiếu dầu ăn, phiếu vải, phiếu trứng, phiếu đường, phiếu thịt, phiếu máy khâu, phiếu xe đạp,… Đến tết có phiếu hàng tết.Đủ loại tem phiếu quán xuyến toàn bộ đời sống người dân Trung Quốc.

Thủ đoạn thứ ba – Chế độ hồ sơ lí lịch

Chế độ hồ sơ lí lịch không xa lạ đối với mỗi người dân Trung Quốc. Cho dù anh học ở trường, công tác ở các đơn vị cơ quan hay về hưu ở nhà (về hưu hồ sơ lí lịch được chuyển về khối phố hoặc công xã nơi đương sự sinh sống). Hồ sơ lí lịch theo liền với từng người cho đến hết đời. Chức năng của chế độ hồ sơ lí lịch không thua kém gì một sự theo dõi ngầm của cơ quan công an. Trường học và cơ quan sẽ ghi vào hồ sơ nếu đương sự bị kỉ luật.

Những nhận xét hay giới thiệu mà chính đương sự không được đọc thấy hay không được chính đương sự xác nhận cũng được phê viết vào hồ sơ lí lịch. Tính cách tiêu cực hay tích cực của những lời phê đó ảnh hưởng đến đến cuộc sống giữa xã hội của chủ nhân bộ hồ sơ. Những ai có dũng cảm phàn nàn, nêu ý kiến hay phát ngôn trái lạ đều bị ghi vào trong hồ sơ lí lịch. Còn như việc sẽ chịu xử lí như thế nào thì chỉ còn trông chờ vào may rủi. Chế độ hồ sơ lí lịch phi nhân tính đó trên thực tế đã tước đi quyền tự do ngôn luận.

Thủ đoạn thứ tư – Chế độ giáo dục lao động cải tạo

Giáo dục lao động cải tạo được nói là một loại xử phạt hành chính nhưng trên thực tế rất gống với xử phạt hình sự. Chế độ giáo dục lao động có tính tùy tiện, nó có thể do một đơn vị cơ quan quyết định. Như thế chế độ giáo dục lao động khiến cho các cơ quan đơn vị trở nên rất gần với một cấp tư pháp nhưng tùy tiện và vô pháp luật. Mặc dù nói là xử phạt hành chính và được gọi là “trị bệnh cứu người” nhưng những người bị bắt đi lao động không những mất quyền tự do nhân thân đồng thời họ cũng trở thành “tiện dân” của xã hội và chịu sự kì thị.

Nghiêm trọng hơn là khi mãn hạn lao-giáo rồi người ta vẫn có thể cưỡng chế người bị giáo dục bằng lao động đó ở làm việc tại chỗ. Trên thực tế đó là một thứ tù không kì hạn, suốt đời bị giam thân cảnh tù, mất hẳn tự do. Việc có thể tùy ý thực hiện chế độ lao-giáo đối với dân chúng là biểu hiện của sự khủng bố chính trị thời Mao.

Thủ đoạn thứ năm – Chế độ cơ quan đơn vị

Dưới thời Mao, “cơ quan/đơn vị” trên thực tế chính là chỗ để khống chế cá nhân. Quyền tự do theo đuổi nghề nghiệp bị tước bỏ, tất cả mọi người đều nhận công tác theo sự sắp xếp của nhà nước. Người ta không có quyền chọn công việc và cũng không có quyền từ chối công việc được phân công. Nhà nước không cho phép tùy ý từ chức hay đổi công tác. Mỗi một người suốt đời làm việc ở những vị trí công tác đã được phân công.

Tiền lương do nhà nước quy định. Tình trạng đi làm cả đời không có tăng lương là rất nổi bật. Một khi anh rời khỏi đơn vị hoặc bị đơn vị khai trừ đồng nghĩa với việc hoặc là anh đã ra khỏi cái xã hội mà Mao đang khống chế hoặc là anh bị cái xã hội đó khai trừ. Anh sẽ lâm cảnh đường cùng, mất hết nền tảng sinh hoạt. Trong cái chế độ cơ quan-đơn vị đó, để sinh tồn kiếm sống nuôi gia đình anh chỉ có thể phục tùng và phục tùng.

Nhân dân Trung Quốc không có tội và cũng không có trách nhiệm về Cách mạng Văn hóa.Thời đại Mao Trạch Đông chính là dùng những thủ đoạn như thế để khống chế toàn bộ xã hội Trung Quốc. Cộng thêm vào đó là hết cuộc vận động chính trị trị này đến cuộc vận động chính trị kia. Tất cả khiến cho nhân dân Trung Quốc thực không có lấy một cơ hội nào để thở lấy hơi nữa. Cách mạng Văn hóa trong suốt quá trình của nó xem ra rất là hỗn loạn nhưng cả xã hội vẫn được khống chế chặt trong tay Mao. Mà Cách mạng Văn hóa là một cuộc vận động chính trị nhằm giải quyết chuyện người thừa kế quyền lực.

Nói cách khác Mao phát động Cách mạng văn hóa là nhằm mục đích biến giang sơn của một đảng thành giang sơn của một nhà, chuẩn bị cho Giang Thanh tiếp nối quyền hành[7] (Xem Lưu Thông, “Mục đích của Cách mạng Văn hóa – Xác lập người thừa kế quyền hành”). Trong Cách mạng Văn hóa, từ trên xuống dưới, từ trong đảng đến người ngoài đảng tất cả đều bị cuốn vào trong đó. Người bị cuốn vào không biết nguyên do sự việc nhưng kẻ phát động thì từng bước hướng cuộc vận động đi đến mục tiêu đã dự định trước.

Nhiều lãnh đạo cấp cao bị cuốn vào mà không sao hiểu được nguyên do, họ lại còn đứng đó hô hào học tập. Họ cảm thấy chuyện dường như là “cách mạng gặp phải vấn đề mới”. Nhiều lãnh đạo bị lôi ra phê đấu bắt đầu công việc tự kiểm thảo đi kiểm thảo lại. Mao Trạch Đông bày đặt mê hồn trận, khiến cho đám đông những là “đối tượng của cách mạng” từ to đến nhỏ không biết phải như thế nào cho phải, suốt này hoảng hốt giữa rầm trời tiếng hô khẩu hiệu và tiếng hô đả đảo. Trong một không khí khủng bố chính trị như thế, quần chúng dân đen không chút quyền hành sống khác gì chết. Họ đến nói năng cũng phải giữ mồm, không cẩn thận là bị hàng xóm thậm chí chính vợ (chồng) con cái mình phản ánh, tố giác.

Trong thời buổi Cách Văn hóa, ai cũng run sợ cho bản thân, ngay cả người thân cũng không được tin. Lúc bấy giờ, “tin tưởng” đã trở thành từ đồng nghĩa của từ “nguy hiểm”. Bạn bè tri âm trở thành người cáo giác, người dám nói thẳng chẳng khác gì đang đào huyệt cho mình. Cả nước từ trên xuống dưới chỉ mỗi Mao là người hưởng quyền “tự do ngôn luận” ghi trong hiến pháp. Mọi công dân của cộng hòa quốc này đều đã bị tước bỏ quyền phát ngôn. Mọi hành động đều chờ chỉ huy của Mao, vạn vật sinh trưởng cũng nhờ sự tưới tắm của “lời dạy của chủ tịch” (ngữ lục).

Trong những năm tháng gọi là “cách mạng” đó, mở miệng là “muôn năm”, kiểm thảo ngày nào cũng có, tự sát trở thành ước mơ. Tất cả là để làm gì? Vận động quần chúng là để chặn đánh tâm lí phản nghịch của quần chúng. Vận động lãnh đạo cao cấp là để chống lại “lửa bất bình” nơi họ, làm cho họ cụp tai cúi đầu cam nô lệ. Mao gây bao án oan, bức đồng chí không ngừng tự kiểm thảo. Mao muốn tinh thần “tội tổ tông” thấm sâu vào thần dân. Chỉ như thế thì mới có thể khiến cho dự trù chính trị của mình thực hiện thông suốt. Ham sống sợ chết là thiên tính của con người.

Trong một xã hội mà không khí khủng bố nhuốm mùi tanh của máu, dân chúng xô dạt theo dòng lớn là chuyện không khó hiểu cả về tình lẫn về lí. Hẵng xem một người tài năng tót vời như Quách Mạt Nhược đã phải sống một cuộc sống run rẩy kinh hãi ra sao là đủ biết quần chúng thường dân vì sao lại phải “ngây cuồng”. Hẵng xem biết bao nhà văn nổi tiếng bỗng chốc tất cả cùng im lặng tập thể, gác bút tập thể là đủ thấy Mao Trạch Đông đã không chế thành công xã hội Trung Quốc đến mức nào. Cũng đủ để thấy dân chúng vì sao phải “ba phải a dua”. Bởi vì họ chỉ mỗi việc phải phục tùng, “ngây cuồng” hay “ba phải vào hùa” là kết quả của việc phải phục tùng. Không thế thì sẽ “dần dần chết đói”.

Dám chắc giáo sư Mao Vu Thức cũng ở trong đội ngũ đó. Đó quyết không phải là tội lỗi và trách nhiệm của nhân dân Trung Quốc (gồm cả giáo sư trong đó). Quả đúng như giáo sư đã nói: “Nếu Mao Trạch Đông và lũ bốn tên sang Hoa Kì làm Cách mạng Văn hóa thì khẳng định là làm không nổi”. Sở dĩ những việc tương tự Cách mạng Văn hóa không thể phát động nổi ở Mĩ là bởi vì chế độ chính trị quốc gia này không cho phép các nhà chính trị muốn làm gì thì làm. Điều còn quan trọng là, các nhân vật chính trị ở Mĩ là do dân chúng bỏ phiếu chọn ra.

Tất cả những người đó (bao gồm cả tổng thống) đều phải chịu trách nhiệm trước dân chúng. Thế nên chính trị gia tại Mĩ không thể hành động khinh suất hay tùy ý trái phản ý dân. Ai cũng biết chính trị Trung Quốc thời Mao và chính trị Hoa Kì không giống nhau. Vậy đương nhiên là ngón nghề của Mao làm sao mà thi hành được ở Hoa Kì! Bản thân Mao cũng biết rõ điều đó. Sau lúc Liên Xô hạ bệ Stalin, chính Mao từng nói nếu như ở các nước phương Tây thì đã không có chuyện kiểu Stalin.[8]

Thế nhưng Mao hoàn toàn không rút ra bài học gì cả. Sau vụ Watergate, Richard Nixon bị điều trần. Bill Clinton vì chuyện quan hệ ngoài hôn nhân mà bị quốc hội điều tra và ông đã buộc phải xin lỗi dân Mĩ.

Ngược lại Mao chưahề có một lời xin lỗi nào về những việc sai lầm của mình. Bành Đức Hoài[9] dũng cảm vì dân cuối cùng cũng chỉ là “Tôi không uống thuốc của Mao Trạch Đông” “Tôi không ăn cơm của Mao Trạch Đông”.[10] Một nguyên soái chiến công hiển hách cũng chỉ biết dùng cách đó để phản kháng thì còn yêu cầu được người dân phải làm thế nào?

Một chế độ tốt đẹp có thể khiến một người xấu không dám làm việc hư, một chế độ bất lương có thể khiến người tốt làm việc xấu.

Đây là lí do vì sao người ta yêu cầu phải cải cách thể chế. Giả sử, nếu xưa kia các bậc tiên hiền buổi đầu nước Mĩ kiến quốc không dựng nên chế độ dân chủ, nếu G.Washington sau 8 năm làm tổng thống không sáng suốt và dứt khoát rút lui khỏi đời sống chính trị, nếu không có việc những người kế thừa Washington thể chế hóa hành động của ông, nếu Washington thực hiện triệt để chế độ chính trị kiểu Mao thì hoàn toàn có thể khẳng định – việc xuất hiện thảm cảnh Cách mạng Văn hóa hay việc nảy sinh bi kịch tương tự bi kịch của những Trương Chí Tân[11], Vương Bối Anh là hoàn toàn có thể.

Vì vậy, tất cả những bi kịch hay những chuyện hoang đường xuất hiện trong Cách mạng Văn hóa chỉ có thể là trách nhiệm của kẻ phát minh Mao Trạch Đông. Nếu không sẽ là không công bằng đối với lịch sử và cũng là một điều sỉ nhục đối với người dân Trung Quốc – những kẻ không có chút quyền kinh tế và quyền chính trị nào trong tay.

Lê Thời Tân dịch từ nguyên bản tiếng Trung
(Nguồn: tạp chí Thế giới mới số 14-2013 (1031) ngày 22-4-2013)
đăng lại từ trang khoavanhoc-ngonngu.edu.vn
________________________________________
[1]Học giả Nhật gốc Hoa. Bài đăng trên 《明鏡月刊》nhan đề “文革”究竟誰之罪:與茅于軾先生商榷” (xin xem city.mirrorbooks.com).

[2]茅于軾 (Mao Yushi 1929- ), nhà kinh tế học Trung Quốc đương đại. Năm 1958 bị quy “phái hữu” đình chỉ công tác. Trong Cách mạng Văn hóa bị khám nhà và đấu tố rồi bắt đi lao động. Nhận Giải thưởng kinh tế học Milton FriedmanLiberty Prize của Mĩ năm 2012.

[3] 吳稼祥(Wu Jiaxiang 1955 – ), nhà nghiên cứu kinh tế học, từng thỉnh giảng tại Đại học Harvard. Sau sự kiện mùa xuân Thiên An Môn bị bắt giam. Mãn hạn tù năm 1992. Ngô là một trong những học giả đề xuất sớm nhất ý hướng cải cách xí nghiệp quốc doanh và thực hiện chế độ cổ phần ở Trung Quốc.

[4] 王佩英(Wang Peiying 1915-1970), nguyên là một nữ nhân viên ngành đường sắt, do phản đối Mao Trạch Đông mà bị bắt vào viện chữa bệnh tâm thần. Trong Cách mạng Văn hóa bị gán tội phản cách mạng, nhét gạch vụn vào mồm và giong phố đấu tố. Sau đó bị phán quyết “lập tức tử hình”. Cuộc xử bắn ngày 27/1/1970 được truyền hình làm gương. Năm 1980 sửa án sai, kết luận bị bệnh nhân tâm thần không nên kết án hình sự. Năm 2011 kết luận lại Vương vô tội và rút lại lời kết luận Vương mắc bệnh tâm thần.

[5] Xem Ngô Giá Tường, 《雖億萬人,吾往矣 – 紀念一位聖女》đăng trên《明镜月刊》số tháng 8/2010 (kì 6), tr.78.

[6] Xem Vương Minh Nghị dịch, 《通向奴役之路》, Trung Quốc Xã hội Khoa học Xuất bản xã, 1997, tr.116 (The Road to Serfdom của Friedrich August von Hayek có bản dịch tiếng Việt Đường về nô lệ của Phạm Nguyên Trường, Hà Nội, Nxb Tri thức –ND).

[7]Xem劉松,《文化大革命的目的-確立繼承人》introng日本大學大學院國際關係研究科《大學院論集》, kì 11, 2001, tr.61~85. Hoặc xem 關心 dịch,《毛澤東最後的革命》, Thinker Publishing (HK) Limited xuất bản, 2009, tr.328 (tức cuốn Mao’s Last Revolution của Mac Farquhar và Roderick – ND)

[8] Xem《鄧小平文選》, quyển 2, tr.333

[9] Bành Đức Hoài (1898-1974), nguyên soái, từng là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Chống lại chính sách Đại nhảy vọt của Mao từ Hội nghị Lư Sơn (1959). Bị quy tội phản đảng cách chức và kỉ luật. Trong Cách mạng Văn hóa bị đấu tố đánh đập rồi quy tội gián điệp. Bị thầm vấn hàng trăn lần. Mắc bệnh không được chạy chữa, chết ngày 29/11/1974. Trước lúc chết xin được gặp vợ đã li hôn đang lao động cải tạo ngoại ô Bắc Kinh nhưng bị vợ từ chối. Bình đựng tro cốt ghi thành họ tên khác. Được khôi phục danh dự năm 1978. Ghi chép trong tù xuất bản thành sách nhan đề “Bành Đức Hoài tự thuật” (ND).

[10] Xem 馬輅,佩璞,馬秦泉,《彭德懷廬山起禍》(Bành Đức Hoài – Tội khởi từ Hội nghị Lư Sơn), Nhã Lâm xuất bản xã, 1990, tr.36.

[11] Trương Chí Tân (1930-1975), đảng viên Đảng cộng sản Trung Quốc. Bị bắt tù từ 1969 cho đến 1975 vì dám phê phán sùng bái cá nhân và bệnh tả khuynh. Khác biệt giữa hai người phụ nữ Trương Chí Tân và Vương Bối Anh ở chỗ Trương trước sau không phủ nhận tư cách đảng viên của mình, trong lúc Vương sớm xin ra khỏi đảng. Trương trước lúc đem ra tử hình đã bị tra tấn đến phát điên nhưng vẫn bị cho là giả vờ trong lúc Vương khi đưa ra bắn bị xem là điên. Vương bị siết cổ khi đem ra pháp trường còn Trương bị cắt yết hầu trước khi xử tử. Năm 1978 Trương được khôi phục danh dự, năm 1979 công nhận liệt sĩ (ND).

Virus ‘Bông hồng Việt Nam’ lây lan ở Indonesia

Virus ‘Bông hồng Việt Nam’ lây lan ở Indonesia

Các đường link cài mã độc đã được đưa lên một số trang Facebook trong các diễn đàn đóng của Indonesia.

Các đường link cài mã độc đã được đưa lên một số trang Facebook trong các diễn đàn đóng của Indonesia.

Một virus ẩn dưới hình ảnh đồi trụy có tên gọi ‘Vietnam Rose’ (Bông hồng Việt Nam) đã lây nhiễm máy tính của hàng nghìn người sử dụng Facebook ở Indonesia.

Người sử dụng mạng xã hội ở Indonesia đang kêu gọi các Facebooker ở nước này cảnh giác trước virus đang “làm mưa, làm gió” ở nước này suốt nhiều ngày qua.

Máy tính bị nhiễm “Vietnam Rose” sau khi người sử dụng nhấp chuột vào các đường link với các hình ảnh đồi trụy trên Facebook.

Sau đó, máy bị nhiễm sẽ tự động bị cài các mã độc, rồi sau đó tài khoản Facebook của họ sẽ bị chiếm giữ và các đường link sẽ tự động bị cài đặc trên của họ trên mạng xã hội này.

Chưa rõ nguồn gốc của virus này, và liệu nó có xuất xứ từ Việt Nam hay không. Nhưng hiện phần lớn người sử dụng bị ảnh hưởng sinh sống ở Indonesia.

Các đường link cài mã độc đã được đưa lên một số trang Facebook trong các diễn đàn đóng của Indonesia.

Đây không phải là lần đầu tiên người sử dụng Facebook của Indonesia bị lừa vì virus đồi trụy như vậy.

Suốt từ đầu năm cho tới cuối năm ngoái, một virus có tên gọi là “Drunk Girls” (Các cô gái say xỉn) cũng đã gây nhiễm nhiều máy tính ở nước này.

Một chuyên gia diệt virus của Indonesia được trích lời nói rằng “Vietnam Rose nguy hiểm hơn 9 lần so với Drunk Girls”.

Virus “Bông hồng Việt Nam” được cho là xuất hiện trên trang Facebook từ tháng trước, và con số người sử dụng mạng bị ảnh hưởng vẫn chưa thuyên giảm.

Theo CNN, JKT

Người Phi kêu gọi người Việt tẩy chay hàng Trung Quốc

Người Phi kêu gọi người Việt tẩy chay hàng Trung Quốc

Nguoi-viet.com

MANILA 7-8 (NV) – Một tổ chức người Phi Luật Tân kêu gọi người Việt Nam cùng với dân Phi tẩy chay hàng Trung Quốc nhất là các loại hàng giá rẻ, phẩm chất thấp trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền biển đảo.

Người dân Phi Luật Tân đi biểu tình chống Trung Quốc bá quyền bành trướng. (Hình: EPA)

Một tổ chức tại Phi Luật Tân có tên là ‘Movement and Alliance to Resist China’s Aggression in the West Philippine Sea’ (MARCHA) mới đây kêu gọi như vậy vì cả hai nước cùng có một kẻ thù chung là Trung Quốc trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo trên Biển Đông.

Một trong những việc có thể làm được hiện nay là tẩy chay các loại hàng hóa của Trung Quốc, đặc biệt là các loại quần áo, vải vóc giá rất rẻ so với đồ sản xuất nội địa, bán đầy ngập khắp nơi ở cả Việt Nam và Phi Luật Tân.

Người Phi Luật Tân đã biểu tình rất nhiều lần trước tòa đại sứ và tổng lãnh sự của Trung Quốc, phản đối hành động bá quyền bành trướng của Trung Quốc.

Tổ chức MARCHA lập một trang mạng phổ biến các tin tức liên quan đến đấu tranh chống Trung Quốc xâm lược và tổ chức biểu tình trên nước Phi kêu gọi mọi người tẩy chay hàng hóa Trung Quốc, nay thì kêu gọi thêm người Việt Nam cùng phối hợp hành động.

Hàng hóa nội địa của Việt Nam từ nông sản đến các hàng kỹ nghệ không ngóc đầu lên nổi ngay tại thị trường Việt Nam vì các loại hàng tương tự được tuồn từ Trung Quốc sang và bán với giả rẻ hơn nhiều, dù phẩm chất tồi hơn, nhiều khi có thể độc hại.

“Đây là một trong những phản ứng của chúng tôi trước một số hành động có thể coi là xâm lược của Trung Quốc đối với Philippines như lấn chiếm lãnh hải; phá hoại môi trường với các hoạt động lấn biển; xâm lược về mặt xã hội với các loại thuốc lậu đưa vào Philippines; xâm lược về mặt chính trị với sự can thiệp vào chính trường Philippines; xâm lược về mặt kinh tế qua việc đổ hàng hóa rẻ mạt sang Philippines, gây thiệt hại cho các ngành công nghiệp địa phương”. Ông Roilo Golez, nghị viên thành phố Paranaque từng là dân biểu, nói với đài VOA.

Hồi Tháng 7 và Tháng sáu trước đó, MARCHA cũng đã từng có các cuộc biểu tình kêu gọi tẩy chay hàng Trung Quốc.

Chế độ Hà Nội vốn mắc kẹt trong “16 chữ vàng” và “4 tốt”, cần chỗ dựa vào Bắc Kinh để tồn tại nên việc để cho người dân tự do biểu tình chống Trung Quốc hay biểu tình kêu gọi tẩy chay hàng hóa Trung Quốc là chuyện khó có thể xảy ra. Nhiều người tham dự biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội và Sài Gòn từng bị bắt giữ, đánh đập và tù tội.

Trong cuộc phỏng vấn của đài VOA, ông Golez nói rằng  “Chúng tôi kêu gọi người Việt cùng sát cánh với chúng tôi. Chúng ta cần phải giúp đỡ lẫn nhau vì cùng có chung đối thủ là Trung Quốc. Ngành may mặc của nước này đang cạnh tranh với chúng ta, và việc tẩy chay này cũng sẽ giúp cho ngành may mặc địa phương. Ngoài cuộc tẩy chay này, chúng tôi còn ủng hộ Việt Nam trong vấn đề chủ quyền lãnh hải, nhất là khi năm ngoái Trung Quốc đưa giàn khoan dầu hơn một tỷ đôla vào thềm lục địa của Việt Nam. Liên minh của chúng tôi có nói với chính quyền rằng chúng ta cần phải học tập Việt Nam, làm theo gương Việt Nam. Tuy nhiên, bản thân chúng tôi cũng nêu gương bằng cách đưa Trung Quốc ra tòa trọng tài Liên Hiệp Quốc cũng như mạnh mẽ phản đối Bắc Kinh xây đảo ở biển Đông”.

Trong một số cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Phi Luật Tân vừa qua, người ta thấy có một số người là người Việt Nam. (TN)