Vì sao chúng ta bị đối xử tệ?

Vì sao chúng ta bị đối xử tệ?

VietTuSaiGon

RFA

Trong một lần cà phê và trò chuyện ở Sài Gòn, nhà thơ Khúc Duy có kể cho tôi nghe một câu chuyện mà anh đọc được: Có một anh chàng vốn rất lương thiện, chỉ biết lo làm ăn và tìm cách hoàn thiện bản thân với cái nhìn cuộc đời rất xanh và lạc quan. Đùng một cái, anh ta bị vu khống, rồi bị ghép án oan, bị kết tội mười năm tù. Anh bắt đầu ngày tháng hoang mang và bi kịch của mình. Anh bắt đầu nguyền rủa cuốc sống trong những ngày ngồi tù.

Và rồi đùng một cái, mới ba năm, anh được thả ra, được minh oan, được đền bù danh dự và thiệt hại với một số tiền tương đối lớn. Anh bắt đầu thực hiện việc trả thù cuộc đời, anh đặt câu hỏi: “Kẻ nào đã đẩy ta vào tù?”. Và anh bỏ suốt quãng đời còn lại, gần bốn mươi năm cùng với số tiền có được nhờ đền bù danh dự để tìm kẻ đã hại anh. Nhưng anh vẫn không tìm ra được kẻ thù.

Đến ngày cuối cùng trong cuộc đời của anh, trên giường bệnh, anh gọi một người hàng xóm thân quen lại để thủ thỉ, anh nói rằng: “Tiếc quá, tôi đặt sai câu hỏi rồi! Giá như lúc đó tôi đặt câu hỏi ‘vì sao tôi được ra tù?’ thì tôi chỉ mất có ba năm trong tù, đằng này tôi đặt câu hỏi ‘vì sao tôi bị vào tù?’ nên suốt cuộc đời còn lại của tôi chưa bao giờ hết ngục tù. Tiếc thật!”.

Câu chuyện ngụ ý rằng cuộc đời này sẽ ra sao và sẽ đi đến đâu là do cách anh đặt câu hỏi về nó, với nó. Nếu anh đặt một câu hỏi thông minh, tử tế thì phần trả lời thông minh, tử tế phía sau sẽ là phần cuộc đời và số phận của anh. Cuộc đời tốt hay xấu tuy thuộc vào cách anh đặt câu hỏi và giải quyết với nó.

Không hiểu vì sao mấy ngày nay, sau khi đọc bản tin về việc cảnh sát Singapore đối xử tệ với những phụ nữ Việt Nam trong vấn đề nhập cảnh vào nước họ, rồi liên tưởng đến những tấm bảng ghi bằng tiếng Việt đại ý người Việt Nam phải ăn hết món mình đã gắp trong tiệc buffet và không được trộm cắp, xả rác bừa bãi… Chung qui là người viết nội dung này không mấy thiện cảm nếu không muốn nói là e dè, tránh trớ người Việt như một thứ dịch hủi nào đó. Phải công tâm để nhìn thẳng vào vấn đề mà nói như vậy!

Tự dưng, tôi lại nhớ đến câu chuyện kể trong một buổi cà phê của nhà thơ Khúc Duy, cách đây chừng 15 năm thì phải! Câu chuyện này mặc dù không liên quan gì mấy đến chuyện người Việt bị đối xử tệ ở nước ngoài nhưng nó khiến tôi phải suy nghĩ rất nhiều về cách đặt câu hỏi về số phận riêng chung cũng như định vị danh phận người Việt chúng ta trước thế giới bao la rộng lớn này. Phải chăng chúng ta đã đặt sai câu hỏi về thế giới và chúng ta đã giải quyết sai câu hỏi về lịch sử cũng như thân phận dân tộc để đi đến cái kết của ngày hôm nay?

Rất có thể điều đó đã xảy ra, chúng ta đã đặt câu hỏi và giải quyết câu hỏi bị sai. Dân tộc chúng ta có bề dày lịch sử chiến tranh cũng giống như nước Nhật, nhưng người Nhật, chính phủ Nhật đã biết đặt câu hỏi về tương lai của họ và biết nhìn nhận sự thất bại, sự nghèo nàn của quốc gia để cho con cháu của họ trả lời câu hỏi này bằng hiện tại quật cường. Và Hàn Quốc, Singapore hay nhiều nước khác cũng vậy, họ biết cách đặt câu hỏi và giải quyết câu hỏi trong tiến trình vận động của thế giới.

Họ không như chúng ta, tự ma mị mình bằng “rừng vàng biển bạc, tài nguyên phong phú”, bằng “người Việt Nam anh hùng, thông minh và giỏi giang” và bằng nhiều mỹ từ khác để nói về người Việt. Kết cục của sự ma mị này chính là chúng ta tự đánh lừa mình, đánh lừa tương lai của cả một dân tộc, quốc gia. Thay vì chúng ta nhìn vào sự lạc hậu của mình, hỏi vì sao chúng ta lạc hậu để mà nỗ lực học hỏi các nước tiến bộ, chúng ta lại xem mình là người thông minh, là “đỉnh cao trí tuệ”. Và kết cục của nó là một thứ đỉnh cao của tội ác và lòng dối trá.

Thay vì chúng ta thấy mình nghèo, được “điểm nhãn” cho cái nghèo hiện hình để mà xua nó bay đi bằng kiếm pháp dân chủ, tiến bộ, chúng ta lại khư khư ôm thứ lý luận mù mờ và tự dối lừa mình để dẫn đến hệ quả là nhiều thế hệ giỏi trộm cắp, toa rập nhưng rất dở làm kinh tế. Bằng chứng của việc này là nếu như không dựa vào thế lực đảng, không tàn phá tài nguyên, môi trường và không tùng xẻo quĩ đất để thổi phòng cái bong bóng bất động sản, liệu Việt Nam có được mấy tay nhà giàu và có được mấy kẻ nổi tiếng giàu có, “đại gia” như hiện tại?

Và tư duy lười biếng, hưởng thụ, trộm cắp, mánh khóe vặt, toa rập, đội trên đạp dưới đã đẩy chúng ta đến chỗ không sản xuất được một con ốc cho nên hình nhưng có những ông chủ có thể chơi ngông bằng cách đổi cả một khoản tiền tương đương với tài sản lớn của một người dân nước giàu có chỉ để đổi một con ốc. Cách chơi ngông này chỉ cho thấy chúng ta đã mất hết khả năng hoạch toán kinh tế và lương tri chúng ta cũng đã bị hỏng đến độ phung phí mồ hôi, xương máu và nỗi khổ của người khác một cách vô tư. Bởi chúng ta chưa bao giờ đủ sâu sắc để nhìn thấy mồ hôi và nước mắt của người khác dính trên đồng tiền mình đang cầm trên tay. Cũng như chúng ta chưa bao giờ đủ tự trọng để nhận ra là sự giàu có của chúng ta có nguồn gốc ăn cắp thiên nhiên, ăn cắp của nhân dân và ăn cắp của tổ tiên.

Chúng ta quen với việc ăn cắp giống như người thiểu số quen với đường rừng và ngư dân quen với tôm cá. Chính vì vậy, chúng ta tự đẩy căn tính dân tộc đến chỗ ăn cắp và lười biếng, cầu toàn và hèn nhát. Bởi khi sự ăn cắp thành bản chất, chúng ta rất dễ dàng ăn cắp bất cứ nơi đâu và ăn cắp bất cứ thứ gì bắt mắt… Cho đến lúc bị bắt, chúng ta vẫn cứ kêu trời vì nghĩ mình oan, mình không biết nên mới ăn cắp! Và sau khi chúng ta bị vạch tội ăn cắp, thay vì ăn năn, hối cãi, phản tỉnh, chúng ta vẫn xem như không có gì xảy ra và tiếp tục đứng lên đảm nhận những công việc mẫu mực, chúng ta tự xem mình là gương mẫu!

Mãi cho đến khi thế giới nhìn chúng ta như một thứ man di mọi rợ. Chúng ta lại trách tại sao thế giới chúng quanh đối đãi tệ với người Việt? Trong khi đó, câu hỏi xác đáng cần đặt ra là: Chúng ta đã sống như thế nào mà thế giới phải e dè, kinh hãi và coi thường chúng ta đến vậy?

Câu chuyện những phụ nữ Việt Nam, những cô gái Việt Nam sang Singapore bị hất hủi, bị đối xử tệ lại khiến chúng ta chỉ biết trách người khác tệ nhưng chúng ta cũng chẳng tỏ ra thương tình hay chia sẻ với các phụ nữ bị xử tệ. Trong khi đó, có bao giờ chúng ta tự hỏi chúng ta đã làm gì, đã mang đến đất nước văn minh này loại gió gì mà chúng ta bị ngăn chặn như một trận gió độc? Và tại sao những phụ nữ Việt Nam lại chọn con đường bán dâm ở nước ngoài mặc dù đây là con đường nguy hiểm và tủi nhục?

Câu hỏi này không chỉ riêng người dân tự hỏi, và người dân cũng không bao giờ tự hỏi và tự trả lời nổi những câu hỏi như thế này. Mà nhà cầm quyền phải có trách nhiệm đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi kịp thời trước khi chúng ta bị tuột xuống hố sâu, trước khi các chính khách của nước văn minh phải bụm mũi trước các nguyên thủ Việt Nam!

Đổi tù chính trị lấy thương mại và ngoại giao

Đổi tù chính trị lấy thương mại và ngoại giao

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-08-17

08172015-politi-pris-for-buis.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Ngày 25 tháng 3 năm 2015 tổ chức Bảo Vệ Ký Giả Quốc Tế (CPJ) mở chiến dịch "Tháo còng báo chí” (Press Uncuffed ), Tạ Phong Tần được nêu tên trong danh sách 9 người trên khắp thế giới

Ngày 25 tháng 3 năm 2015 tổ chức Bảo Vệ Ký Giả Quốc Tế (CPJ) mở chiến dịch “Tháo còng báo chí” (Press Uncuffed ), Tạ Phong Tần được nêu tên trong danh sách 9 người trên khắp thế giới

RFA files

Vào đầu tháng tám năm nay, tin từ gia đình của người nữ tù nhân chính trị Tạ Phong Tần cho biết là cơ quan công an Việt nam đã tiếp xúc với bà với lề đề nghị bà làm đơn xin đi Hoa Kỳ để được trả tự do. Tin này cùng với những thông tin về đợt đặc xá sắp tới nhân ngày quốc khánh Việt nam 2/9, làm nhiều người hy vọng là sẽ có một số tù nhân chính trị được thả trước thời hạn.

Hy Vọng

Luật sư Nguyễn Văn Đài, một cựu tù chính trị nhận xét những diễn biến xung quanh đợt đặc xá nhân ngày 2/9 năm nay:

Ngày hôm 15 vừa rồi thì ông Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch hội đồng đặc xá trung ương đã ngồi cùng với một ban liên ngành gồm Bộ công an, Tòa án tối cao, Mặt trận Tổ quốc, và Bộ tư pháp. Thì theo luật về đặc xá thì các cơ quan này họ sẽ tư vấn cho hội đồng đặc xá trung ương những trường hợp đặc xá đặc biệt. Ở đây chúng ta hiểu những trường hợp đặc xá đặc biệt là họ không có căn cứ trên tiêu chuẩn nào cả. Tức là có thể người đó không có nhận tội, không chịu cải tại, hay cái việc mà họ đánh giá hạnh kiểm, lao động trong trại là kém.

Việc ân xá đặc biệt nằm trong hai lý do. Một là vì lý do nhân đạo, hai là vì các mối quan hệ quốc tế của họ mà họ sẳn sàng đặc xá những tù nhân như vậy. Thì đây là trường hợp đầu tiên mà truyền thông chính thống Việt nam đưa tin về những trường hợp đặc xá đặc biệt.”

Tuy nhiên theo ghi nhận của anh Nguyễn Anh Tuấn, thành viên của tổ chức dân sự Voice thì chuyện đặc xá đặc biệt đã từng được truyền thông chính thống trong nước đề cập đến. Đó là vào năm 2013 khi ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sang thăm Hoa Kỳ.

Xung quanh chuyện có thả tù nhân chính trị vào ngày 2/9 tới đây hay không, Luật sư Nguyễn Văn Đài đề cập đến chuyện Bộ chính trị, cơ quan quyền lực nhất Việt nam đã họp vào lúc ông Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng đang ở Hawaii để đàm phán về Hiệp ước đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương:

Những cái chuyện này từ xưa đến nay rất hiếm khi xảy ra, bởi vì khi Bộ chính trị đã họp, để ủy thác một vị Bộ trưởng việc đàm phán với Hoa Kỳ, thì chắc chắn nó liên quan đặc biệt đến những vấn đề chính trị, những vấn đề nhân quyền.”

“ Việc ân xá đặc biệt nằm trong hai lý do. Một là vì lý do nhân đạo, hai là vì các mối quan hệ quốc tế của họ mà họ sẳn sàng đặc xá những tù nhân như vậy. Thì đây là trường hợp đầu tiên mà truyền thông chính thống Việt nam đưa tin về những trường hợp đặc xá đặc biệt

Luật sư Nguyễn Văn Đài”

Theo ông Đài thì ông hy vọng là sắp tới đây các tù nhân chính trị như bà Tạ Phong Tần, nhạc sĩ Việt Khang, ông Phạm Minh Vũ,… và một số người nữa sẽ được trả tự do.

Nhà báo Trương Duy Nhất, cũng là một người tù chính trị vừa được trả tự do trong năm nay cũng hy vọng là những người như ông Đài đề cập cùng với ông Trần Huỳnh Duy Thức sẽ được trả tự do. Ông nhận xét rằng trong chuyến thăm Việt nam vừa qua, ông John Kerry Ngoại trưởng Mỹ có lên tiếng về vấn đề nhân quyền, và vì thế ông Nhất rất hy vọng là người nữ tù chính trị Tạ Phong Tần sẽ được trả tự do.

“Khi Ngoại trưởng Hoa kỳ đã nêu tên thì những sức ép, những động thái đối với chính phủ Việt nam tất nhiên có đủ sức mạnh để chị Tần có thể đi.”

Nhưng một cựu tù chính trị khác là ông Nguyễn Tiến Trung lại có một nhận định tương đối khác:

“Theo Trung thì sẽ có một số trường hợp tù nhân chính trị được thả. Nhưng mà một số người được quốc tế chú ý đặc biệt như chị Tạ Phong Tần, hay anh Trần Huỳnh Duy Thức thì sẽ khó khăn hơn nhiều tại vì nhà nước Việt nam muốn các anh chị ấy ra nước ngoài chứ không phải ở trong nước, cho nên là nếu các anh chị ấy không muốn rời Việt nam thì Trung nghĩ là khó được đặc xá trong đợt này.”

Nhà báo Trương Duy Nhất lại cho rằng điều đó không thành vấn đề, ông chứng minh bằng trường hợp người tù chính trị Nguyễn Văn Hải Điếu Cày, một người bạn tù của ông được trả tự do sang Hoa Kỳ:

“Trước khi anh Hải Điếu cày đi thì Bộ công an họ cử một đoàn vào làm việc cũng theo như cái kiểu họ làm việc với chị Tạ Phong Tần bây giờ. Họ bảo anh ấy làm một cái đơn xin ra tù trước thời hạn, nhưng mà đời nào anh ấy làm! Rồi cuối cùng anh ấy cũng đi.”

Vô hiệu hóa và đổi chác

Trong lịch sử tù chính trị ở Việt nam trong vài chục năm trở lại đây đã có nhiều trường hợp người tù bước thẳng từ trại giam ra sân bay để đi ra nước ngoài, như ông Đoàn Viết Hoạt, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Hải,… Nói về việc này, anh Nguyễn Anh Tuấn tự đặt mình vào vị trí của nhà cầm quyền Việt nam:

“Mình cứ tưởng tượng mình là nhà nước thì mình sẽ chọn ai. Thứ nhất trong bối cảnh hiện nay sẽ chọn những người nào mà phía Mỹ gia tăng áp lực. Những người đó có thể là Trần Huỳnh Duy Thức, Tạ Phong Tần, Bùi Thị Minh Hằng, hoặc Anh Ba Sàm, tức là các trường hợp phía Mỹ người ta gia tăng áp lực nhiều. Một phương án nữa, ưu tiên của họ nữa là sẽ chọn những người mà họ tin rằng sau khi ra tù thì sẽ không còn tranh đấu gì được nhiều, ví dụ như hồi năm ngoái, trường hợp Đinh Đăng Định, khi đó đang bệnh tật, thì họ nghĩ rằng cho ra tù thì không sớm thì muộn cũng qua đời thôi, không thể đóng góp gì được nhiều nữa.”

“ Trường hợp anh Hải Điếu cày, rồi trước đây là trường hợp Cù Huy Hà Vũ, rồi anh Nguyễn Tiến Trung, những trường hợp này khi trả tự do thì đồng thời lúc đó lại có những thỏa ước giữa Việt nam và Mỹ

nhà báo Trương Duy Nhất”

Ông Nguyễn Tiến Trung cũng chia sẻ quan điểm này khi nói về những người tù bước thẳng từ trại giam ra sân bay quốc tế:

“Theo Trung thì có lẽ họ sợ những người đó có một sự ảnh hưởng lớn trong xã hội, hay họ sợ những người có thể trở thành lãnh tụ của phong trào dân chủ, nên không thể để trong nước mà phải trục xuất ra nước ngoài.”

Trở lại vấn đề công luận lâu nay nói rằng chính quyền Việt nam đổi chác số phận những người tù chính trị để lấy những quyền lợi thương mại, ngoại giao, nhà báo Trương Duy Nhất có nhận xét:

“Cái đó có đúng hay không thì phải hỏi các quan chức chính phủ, tôi không thể trả lời cái điều đó được. Nhưng mà sự việc nó xảy ra là như thế này: từ xưa đến giờ, một số nhân vật, một số vụ án nổi cộm, có hiệu ứng, ví dụ như trường hợp anh Hải Điếu cày, rồi trước đây là trường hợp Cù Huy Hà Vũ, rồi anh Nguyễn Tiến Trung, những trường hợp này khi trả tự do thì đồng thời lúc đó lại có những thõa ước giữa Việt nam và Mỹ!”

Chính quyền Việt nam chưa bao giờ công nhận chuyện đổi chác như vậy. Tuy nhiên trong bộ luật về đặc xá hiện hành, được ra đời vào năm 2007, có điều số 21 về những trường hợp đặc xá đặc biệt, điều này nói rằng những trường hợp đặc xá đặc biệt là để đáp ứng yêu cầu về đối nội, đối ngoại của Nhà nước.

Như vậy những lời bình luận về việc nhà nước Việt nam đổi tù chính trị lấy lợi ích ngoại giao bấy lâu nay không phải là không có cơ sở.

Trả lời chúng tôi rằng liệu khi nào thì chuyện này sẽ chấm dứt, Luật sư Nguyễn Văn Đài trả lời:

Việc này không phụ thuộc vào chính quyền cộng sản Việt nam, cũng không phụ thuộc vào Hoa kỳ. Mà việc này kết thúc khi nào là phụ thuộc vào nội tại phong trào dân chủ Việt nam. Khi phong trào dân chủ Việt nam tự mình đứng lên, đủ sức mạnh gây áp lực chính phủ Việt nam không được bắt người một cách tùy tiện, không chà đạp công lý và Hiến pháp nữa, thì lúc đó mới chấm dứt. Còn nếu như chúng ta, phong trào dân chủ Việt nam còn rất là yếu, phải trông chờ vào sức ép của Mỹ, EU hay là các nước khác thì chuyện mặc cả này sẽ tiếp tục diễn ra trong thời gian tới.”

Còn người cựu tù nhân chính trị trẻ tuổi Nguyễn Tiến Trung thì nói rằng nếu việc độc quyền cai trị của đảng cộng sản Việt nam vẫn còn tiếp tục thì việc đổi chắc đó sẽ không chấm dứt.

3 x 8 = 23.

3 x 8 = 23.

Nhan Uyên ham học hỏi, tính tình tốt bụng, là một đệ tử đắc ý của Khổng Tử.
Một ngày nọ, trên đường đi làm việc, Nhan Uyên thấy một đám đông ồn ào trước cửa tiệm vải.
Anh bước đến hỏi, mới biết là đang có tranh chấp giữa người mua và người bán vải.
Chỉ nghe người mua hét lớn: “Ba nhân tám là 23, sao ông cứ đòi ta 24 đồng?”
Nhan Uyên đến trước mặt người mua, lễ phép nói:
“Vị đại ca này, ba nhân tám là 24, sao có thể là 23 được? Anh tính sai rồi, không nên cãi lộn ầm ĩ nữa”.
Người mua không phục, chỉ thẳng mặt Nhan Uyên nói: “Ai cần ngươi phân xử hay sao? Ngươi biết tính toán sao? Muốn phân xử chỉ có cách tìm Khổng phu tử, đúng hay sai hãy để ông ấy định đoạt! Đi, ta hãy tìm ông ấy để phân xử!”
Nhan Uyên đáp: “Được. Nếu Khổng phu tử nói anh sai, vậy xử lý sao?”
Người mua nói: “Nếu ta sai, hãy lấy đầu ta. Nhà ngươi sai thì sao?”
Nhan Uyên trả lời: “Nếu tôi sai, tôi sẽ từ quan”. Hai người đánh cuộc với nhau như thế, cũng đã tìm gặp được Khổng Tử.
Khổng Tử hỏi rõ tình huống, rồi quay sang Nhan Uyên cười nói:
“Ba nhân tám là 23 đó! Nhan Uyên, con thua rồi, lấy mũ quan xuống đem cho người ta đi!”
Nhan Uyên trước giờ chưa bao giờ cãi lại sư phụ.
Nghe Khổng Tử nói mình sai, anh đành tháo mũ xuống giao cho người mua kia. Người mua nhận mũ, đắc ý rời đi.
Đối với lời phân xét của Khổng Tử, Nhan Uyên biểu hiện là tuân theo, nhưng trong tâm lại không phục.
Anh cho rằng Khổng Tử già rồi đâm ra hồ đồ, liền không muốn ở lại học tập Khổng Tử nữa.
Ngày hôm sau, Nhan Uyên quay lại lấy cớ nhà có việc muốn xin nghỉ học…
Khổng Tử rất rõ tâm tư Nhan Uyên, nhưng không nói gì, chỉ gật đầu đồng ý.
Trước khi đi, Nhan Uyên quay lại cáo biệt Khổng Tử. Khổng Tử muốn Nhan Uyên trở về nhà bình an, cũng dặn dò hai câu:
“Ngàn năm cổ thụ không náu thân, sát nhân không rõ chớ động thủ”.
Nhan Uyên đáp lại một câu: “Con xin ghi nhớ”, rồi rời đi.
Trên đường về, gió thổi mây dâng, sấm rung chớp giật, trời muốn đổ mưa to.
Nhan Uyên tiến đến một cây đại thụ mục rỗng bên ven đường, muốn tránh mưa.
Anh đột nhiên nhớ lại lời Khổng Tử đã nói: “Ngàn năm cổ thụ không náu thân”…
Nghĩ thầm, sư đồ nhất tràng, anh nghe theo lời sư phụ, tránh xa khỏi cái cây rỗng.
Vừa rời đi không xa thì nghe một tiếng sấm, sét đã đánh tan cây cổ thụ kia.
Nhan Uyên kinh ngạc: “Câu đầu sư phụ nói đã ứng nghiệm sao! Chẳng lẽ ta còn có thể sát nhân ư?”
Khi về tới nhà thì trời cũng đã khuya. Không muốn kinh động người nhà, Nhan Uyên dùng bảo kiếm mang theo bên người để đẩy chốt cửa phòng nơi thê tử của anh đang ngủ.
Đến bên giường, sờ lại thấy hai người nằm hai bên giường. Nhan Uyên vô cùng tức giận, giơ kiếm định chém, lại nghĩ đến câu nói thứ hai của Khổng Tử: “Sát nhân không rõ chớ động thủ”, bèn đốt đèn lên xem, hóa ra một người là thê tử, người kia là muội muội của anh.
Ngày hôm sau, Nhan Uyên quay trở lại, thấy Khổng Tử liền quỳ xuống nói:
“Sư phụ, hai câu người nói đã cứu ba người là con, vợ con và muội muội của con đó! Sao người lại biết trước chuyện sẽ xảy ra vậy?”
Khổng Tử đỡ Nhan Uyên dậy và nói: “Ngày hôm qua thời tiết khô nóng, đoán chừng sẽ có cơn dông, nên ta nhắc nhở con: “ngàn năm cổ thụ không ai náu thân”, con lại mang khí bực trong người, trên thân đeo bảo kiếm, cho nên ta khuyên con “sát nhân không rõ chớ động thủ”!”
Nhan Uyên vừa vái lạy vừa nói: “Sư phụ liệu sự như thần, đệ tử mười phần kính nể!”
Khổng Tử lại nói tiếp: “Ta biết rõ con xin phép về nhà nghỉ là mượn cớ, thật ra cho rằng ta đã già nên hồ đồ rồi, không muốn học ta nữa. Con nghĩ xem, ta nói ba nhân tám bằng 23 là đúng, con thua, bất quá là thua cái mũ quan kia, nếu ta nói ba nhân tám bằng 24 mới đúng, người mua kia thua, đây là một mạng người đó! Vậy con nói xem, chức vị quan trọng hay mạng người quan trọng hơn?”
Nhan Uyên bỗng nhiên tỉnh ngộ, quỳ gối trước mặt Khổng Tử mà thưa:“Sư phụ trọng đại nghĩa coi nhẹ tiểu tiết, đệ tử còn tưởng rằng Sư phụ vì lớn tuổi mà thiếu minh mẫn, đệ tử hổ thẹn vạn phần!”
Từ đó về sau, bất luận Khổng Tử đi đến đâu, Nhan Uyên theo đến đó không rời sư phụ.
Câu chuyện này gợi cho tôi nhớ tới ca từ trong một bài hát tuyệt vời của Khắc Lý Lâm:
“Nếu như mất đi bạn, được cả thế giới cũng để làm gì?”
Cũng như vậy, Đôi khi bạn tranh đấu giành được điều bạn cho là lẽ phải, Nhưng điều mất đi có lẽ còn quan trọng hơn;
Luôn luôn phân rõ sự tình nặng nhẹ”.
Đừng gắng sức tranh giành, rồi sau hối hận không kịp!
Rất nhiều chuyện không cần tranh giành,
Lùi một bước biển rộng trời cao.
Hơn thua với khách hàng, thắng ấy cũng là thua (khi sản phẩm mới cần đổi mẫu, bạn sẽ biết)
Hơn thua với ông chủ, thắng ấy cũng là thua (cuối năm lúc đánh giá thành tích, bạn sẽ biết)
Hơn thua với người già, thắng ấy cũng là thua (người ta không để ý tới bạn đâu, bạn vẫn phải tự mình làm thôi)
Hơn thua với bằng hữu, thắng ấy cũng là thua (làm không tốt sẽ mất đi một người bạn)
Lá trà nhờ nước sôi mới có thể tỏa ra mùi hương thơm ngát,
Sinh mệnh vượt qua bao trắc trở, mới để lại tiếng thơm cho đời…
Hiểu được điều đó sẽ luôn luôn cảm ơn cuộc đời… vậy là hạnh phúc nhất đấy.
Giáo dục là một vấn đề vô cùng trọng yếu!
Bất luận điều gì chưa rõ, hãy cùng nhau bàn bạc giải quyết.
Nếu không, sai một niệm có thể sẽ hỏng một đời…
S.T.

Thêm người bị tống giam vì “Lợi dụng tự do dân chủ..”

Thêm người bị tống giam vì “Lợi dụng tự do dân chủ..”
Nguoi-viet.com

THANH HÓA 16-8 (NV) – Nhà cầm quyền tỉnh Thanh Hóa vừa tống giam một dân oan, từng khiếu kiện, tố cáo suốt nhiều năm trời không được giải quyết thỏa đáng, với cáo buộc “xúc phạm, vu khống lãnh đạo.”

Ông Đinh Tất Thắng vừa bị Công an Thanh Hóa khởi tố, bắt tạm giam 3 tháng. (Hình: CA Thanh Hóa)

Theo một số báo tại Việt Nam, ông Đinh Tất Thắng, 72 tuổi, vừa bị Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Thanh Hóa “ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam.” Ông là cư dân ở thôn Quyết Thắng 2, xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân bị cáo buộc “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước…”

Ông Đinh Tất Thắng từng khiếu kiện suốt một thời gian dài từ 1999 đến 2008 cho những bất công mà ông và gia đình phải chịu đựng và không được giải quyết thỏa đáng. Không những vậy, ông còn bị nhà cầm quyền bỏ tù 9 tháng hồi tháng Giêng 2008 cũng với tội danh “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ…”

Theo báo chí ở Việt Nam tường thuật “Sau khi ra tù từ năm 2009 đến nay, Đinh Tất Thắng không chịu hối cải vẫn tiếp tục tái phạm. Từ tháng 6/2015 đến nay, Đinh Tất Thắng đã liên tiếp gửi đơn, thư tố cáo vu khống, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín cá nhân một số đồng chí lãnh đạo Trung ương, tỉnh Thanh Hóa và tập thể Huyện ủy, UBND huyện và Công an huyện Thọ Xuân.”

Ông Đinh Tất Thắng không phải là dân oan đầu tiên và duy nhất bị chế độ Hà Nội bỏ tù với cáo buộc như thế. Nhiều người đi khiếu kiện từ địa phương đến trung ương, cáo buộc nhà cầm quyền bao che tham nhũng và lợi dụng quyền thế để làm bậy, cướp ngang tài sản của dân. Nhưng họ đều thất bại, có khi phải tự thiêu vì quá uất ức.

Cho tới nay, các trụ sở tiếp dân của nhà cầm quyền, đặc biệt là cơ quan tiếp dân tại Hà Nội vẫn có hàng đoàn người chầu chực kêu oan trong vô vọng. Họ ăn ngủ ở lề đường, công viên từ năm này sang năm khác và không biết đến bao giờ.

Một trong những dân oan nổi tiếng sau trở thành người đấu tranh dân chủ rất cam đảm là bà Hồ Thị Bích Khương từng bị bỏ tù với cáo buộc “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ” theo điều 258 luật hình sự CSVN. Bà đã bị nhà cầm quyền CSVN kết án tù 3 lần mà lần sau cùng là tháng Giêng 2011 bà bị vu cho tội “Tuyên truyền chống nhà nước…” với bản án 5 năm tù kèm theo 3 năm quản chế.

Chế độ Hà Nội đang phải sửa đổi Bộ Luật Hình Sự theo áp lực của Hoa Kỳ để có thể gia nhập tổ chức Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Tuy nhiên, điều 258 của Bộ luật Hình sự hiện hành được chuyển thành điều 343 của “dự luật” hình sự đang được “lấy ý kiến nhân dân” để sửa đổi mà không mấy ai tin nó sẽ được bãi bỏ.

Nhà báo tự do, blogger Nguyễn Hữu Vinh được mọi người biết dưới bút danh “Ba Sàm”  bị nhà cầm quyền CSVN giam giữ từ đầu Tháng 5-2014 với cáo buộc “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ…” hiện vẫn không ai biết bao giờ sẽ bị lôi ra tòa kết án. (TN)

LÊN TRỜI CÙNG MẸ

LÊN TRỜI CÙNG MẸ

Kh 11, 19a; 12, 1-6a, 10ab; Tv 44, 10bc. 11. 12ab. 16; 1 Cr 15, 20-26; Lc 1, 39-56

Trở về với tuổi thơ tôi vẫn nhớ cái trò chơi “thiên đàng hỏa ngục”. Chơi cái trò con nít này, tôi và lũ bạn đọc cái câu này :

Thiên đàng hỏa ngục hai bên

Ai khôn thì dại, ai dại thì khôn

Đêm nằm nhớ chúa nhớ cha

Đọc kinh cầu nguyện giỗ cha linh hồn

Linh hồn phải nhớ linh hồn…

Đến khi gần chết được lên thiên đàng!

Câu vè đó như muốn nói lên trong tâm thức của con người sau khi chết là có thiên đàng và hỏa ngục. Giản đơn là khôn thì “khi gần chết” đã được lên thiên đàng rồi.

Thiên đàng, hình ảnh được sách Khải Huyền kể lại : Đền thờ Thiên Chúa trên trời đã mở ra. Và một điềm lạ vĩ đại xuất hiện trên trời: một người nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao: Bà đang mang thai, kêu la chuyển bụng, và đau đớn sinh con. Lại một điềm lạ khác xuất hiện trên trời: một con rồng đỏ khổng lồ, có bảy đầu, mười sừng, và trên bảy đầu, đội bảy triều thiên. Đuôi nó kéo đi một phần ba tinh tú trên trời mà ném xuống đất. Con rồng đứng trước mặt người nữ sắp sinh con, để khi Bà sinh con ra, thì nuốt lấy đứa trẻ. Bà sinh được một con trai, Đấng sẽ dùng roi sắt mà cai trị muôn dân: Con Bà được mang về cùng Thiên Chúa, đến tận ngai của Người. Còn Bà thì trốn lên rừng vắng, ở đó Bà được Thiên Chúa dọn sẵn cho một nơi. Và tôi nghe có tiếng lớn trên trời phán rằng: “Nay sự cứu độ, quyền năng, vương quyền của Thiên Chúa chúng ta, và uy quyền của Đức Kitô của Người đã được thực hiện”.

Hình ảnh người phụ nữ mà sách Khải Huyền nói đến đó chính là hình ảnh của Đức Trinh Nữ Maria. Thiên Chúa đã dọn sẵn hay như đặc ân mà Thiên Chúa trao ban cho Mẹ đó là : “Bà được Thiên Chúa dọn sẵn cho một nơi”.

Nơi Bà ở chính là Thiên Đàng. Và rồi Thiên Đàng đó được Chúa Giêsu trong hành trình rao giảng của mình đã nhắc đến.

Thiên Đàng vĩnh cửu đó được Chúa Giêsu gợi lên với hình ảnh rất dễ thương là như thửa ruộng có chứa viên ngọc quý, Thiên Đàng phải đi vào bằng cửa hẹp … hay nói một cách dễ thương như một tiệc cưới cho dễ hiểu. Tiệc Cưới Nước Trời, tiệc cưới Con Chiên đó được Chúa Giêsu cũng nhắc đến nhiều qua hình ảnh người mời tiệc, qua hình ảnh của anh chàng không mặc cái áo dự tiệc cưới … và có lẽ gần gụi nhất, dễ nhớ nhất đó chính là 10 cô trinh nữ trong câu chuyện chờ chàng rể đến.

10 cô trong câu chuyện rất dễ thương đó muốn nhắc nhớ mỗi người chúng ta là tỉnh thức, là khôn ngoan, là chờ đợi … Dĩ nhiên khi có đầy đủ dầu để thắp đèn thì khi chàng rể đến thì vào dự tiệc cưới Con Chiên.

Đức Maria, có thể nói rằng một trinh nữ khôn hơn các trinh nữ khôn ngoan trong dụ ngôn 10 trinh nữ nữa. Đơn giản và dễ hiểu và dễ thấy nhất đó chính là sự khôn ngoan lựa chọn cho mình một cung cách sống, lựa chọn cho mình một thái độ sống.

Dù là Mẹ của Đấng Cứu Độ trần gian nhưng Mẹ rất tỉnh để nhận ra đó là ơn huệ của Thiên Chúa dành cho Mẹ chứ không phải có cái ơn đó rồi Mẹ huênh hoang, mẹ cao ngạo. Từ lời nói đến thái độ sống, ta nhận nơi Mẹ sự khiêm nhu tột đỉnh.

Biết chị mình có thai sắp đến ngày sinh nở nhưng rồi Maria vượt khó để chia sẻ niềm vui Tin Mừng với gia đình người chị họ. Thái độ khiêm nhường, yêu thương mà ta bắt gặp rõ nét nhất đó chính là lời công bố của Mẹ :  “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi hoan hỉ trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi, vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ của Chúa. Này từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi có phước, vì Đấng toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại, và Danh Ngài là thánh. Lòng thương xót Chúa trải qua đời nọ đến đời kia dành cho những người kính sợ Chúa. Chúa đã vung cánh tay ra oai thần lực, dẹp tan những ai thần trí kiêu căng. Chúa lật đổ người quyền thế xuống khỏi ngai vàng và nâng cao những người phận nhỏ. Chúa đã cho người đói khát no đầy ơn phước, và để người giàu có trở về tay không. Chúa săn sóc Israel tôi tớ Chúa, bởi nhớ lại lòng thương xót của Ngài. Như Chúa đã phán cùng các tổ phụ chúng tôi, cho Abraham và dòng dõi người đến muôn đời”.

Lời kinh của Mẹ xem ra đơn giản, nhẹ nhàng nhưng thật sự để sống như những gì Mẹ nói, Mẹ dạy không phải là chuyện đơn giản.

Không đơn giản bởi lẽ quá giản đơn là con người vẫn thường cậy vào sức mình đang có, cậy vào những gì mình có như tiền tài, vật chất, quyền lực … Mẹ không như người đời nghĩ và tưởng : “Vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ”.

Tuyệt vời ! Tuyệt vời trong lối khiêm hạ, cách khiêm hạ của Mẹ. Chính khi Mẹ khiêm hạ, Mẹ để cho mình ra trống rỗng để Thiên Chúa lấp đầy, Thiên Chúa quan phòng cho đời Mẹ là Mẹ an tâm.

Thử hỏi cuộc đời của ta, bao lần ta nói ta khiêm nhường, ta khiêm hạ đó nhưng thực tế của cuộc sống, ta có mở lòng ra, ta có “khoét” cái con người cố hữu của ta, con người tự cao tự đại của ta để Thiên Chúa lấp đầy trong ta hay không ?

Bài học khiêm hạ vẫn là bài học khó cho mỗi người chúng ta. Chỉ có khiêm hạ và đặt cuộc đời mình vào lòng bàn tay của Thiên Chúa thì ta mới được hưởng cái phúc Thiên Đàng mà Thiên Chúa đã dành cho Mẹ.

Nhiều khi trong cuộc sống, ta khôn theo kiểu người đời chứ không phải khôn ngoan theo kiểu con cái Thiên Chúa. Khôn theo kiểu con cái Thiên Chúa không phải như khôn theo kiểu người đời.

Cuộc đời của con người, như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nói như chỉ là quán trọ. Mà thật là như thế bởi lẽ con người của chúng ta dù có kéo dài cỡ nào đi chăng nữa nhưng đến khi Thiên Chúa khép cuộc đời của chúng ta lại thì chúng ta cũng đành phải chấp nhận hay đón nhận thực tế xem ra phũ phàng của phận người.

Cả đời ky cóp, chắt chiu của cải vật chất nhưng khi nhắm mắt không được lên trời như Mẹ thì quả là quá uổng và luống công vô ích.

Con người rồi cũng phải đến ngưỡng cửa của cái chết nhưng với người Kitô hữu thì chết nhưng rồi sẽ sống lại để hưởng tôn nhan Chúa là Thiên Đàng như Đức Mẹ được Thiên Chúa cho hưởng. Thánh Phaolô vừa nhắc nhớ chúng ta : Đức Kitô đã từ cõi chết sống lại, là hoa quả đầu mùa của những kẻ yên giấc. Vậy sự chết bởi một người, thì sự kẻ chết sống lại cũng bởi một người. Cũng như mọi người đều phải chết nơi Ađam thế nào, thì mọi người cũng sẽ được tác sinh trong Đức Kitô như vậy. Nhưng ai nấy đều theo thứ tự của mình, hoa quả đầu mùa là Đức Kitô, đoạn đến những kẻ thuộc về Đức Kitô, những kẻ đã tin Người xuống thế.

Mỗi người, rồi cũng theo thứ tự của mình là cũng sẽ phải chết nhưng chuyện quan trọng là chúng ta có một chỗ trong cung lòng Thiên Chúa hay chúng ta có được một chỗ trong Thiên Đàng hay không mới là chuyện quan trọng.

Khổ một nỗi là nhiều khi phù phiếm trần gian, bả phù hoa của thế gian làm cho lòng ta trở ra khôn theo kiểu thế gian là ta cứ bám víu vào thế gian mà quên đi quê hương của ta ở trên Trời, ở Thiên Đàng. Và như vậy, ta lại phải xin Chúa cho ta ơn để ta nhận ra Thiên Đàng mà ta phải theo đuổi, cùng đích của đời ta.

Và, muốn vào Thiên Đàng, muốn lên trời cùng Mẹ. Muốn hưởng hồn và xác lên Trời như Đức Mẹ thì không có cách nào khác, con đường nào khác là khiêm hạ đặt đời mình trong bàn tay Thiên Chúa như Mẹ. Xin cho ta luôn luôn mặc lấy con người khiêm hạ như Mẹ Maria để sau này chúng ta cùng được Mẹ hưởng Thiên Đàng như Chúa hứa.

Tác giả: Huệ Minh

“Bộ trưởng Giáo dục” tương lai, đừng sợ!

“Bộ trưởng Giáo dục” tương lai, đừng sợ!

Đoan Trang

Thảo Gạo: Buổi hội thảo hôm đó mình cũng có mặt, cùng nhóm bạn của mình. Bạn mình là người up clip đó lên mạng, clip thì do một người bạn khác làm, còn mình là người đầu tiên chia sẻ clip về facebook. Bọn mình, tuổi đời lần lượt 23, 24, 25, khi nghe những gì cậu bé đó chia sẻ đều phấn khích, bởi em nói thẳng, bởi em nói những điều mà chưa chắc ba bọn mình và nhiều người lớn ở đó đã dám nói trong một hội thảo có cả “rừng an ninh”.

Vì sự phấn khích đó mà bạn mình nhiệt tình up clip lên mạng, nhìn cái cách bạn ấy đếm số người xem, số like thật là buồn cười. Ai mà ngờ được một thằng bé 14 tuổi nói vài lời bức xúc lại khiến số đông phấn khích đến như vậy. Mấy ngày qua, tốc độ lan truyền của clip đó chóng mặt, số người quan tâm và nói về cậu bé đó cũng rất đông. Đúng là thời buổi này, công thức để nổi tiếng rất đa dạng và… khó đoán.

Quay trở lại ngày hôm đó, khi tan hội thảo, mình có tìm gặp cậu bé, cậu đi cùng mẹ. Cả hai mẹ con em đều rất lịch sự và hợp tác. Mình giới thiệu bản thân và xin em cách thức để liên lạc, mẹ em gợi ý là nên cho cả facebook, số điện thoại và địa chỉ email, nhưng em quyết định ghi cho mình mỗi địa chỉ email. Nhưng chắc có lẽ em viết nhầm chỗ nào đó mà những ngày qua, tất cả những email của tụi mình đều không được hồi đáp.

Do vậy, nếu ai đó là người thân, người quen của Minh thì mong rằng hãy gửi cho mình cách thức để liên lạc với Minh. Hoặc giả như những dòng chữ này được Minh đọc thì xin em hãy inbox cho chị.

Chị chỉ muốn nói rằng nếu phản ứng của “một bộ phận dư luận” vừa qua gây tác động tiêu cực đến em thì chị rất lấy làm xin lỗi. Và nếu em có đọc những gì người ta bình phẩm không hay về em thì mong rằng em đừng vội vàng tin đó là thật mà nghi ngờ bản thân mình. Em có nhớ bác Phạm Toàn nói gì không? “Nhiều người lớn cho rằng mình đúng hơn trẻ nhỏ, để tự cho mình cái quyền áp đặt lên chúng, dạy bảo chúng…”.

Cậu bé mà chị gặp hôm đó cho chị cái ấn tượng mạnh mẽ, không nhất định vì những gì em nói ra là đúng, là chân lý mà bởi vì sự nhiệt tình em tỏa ra, sự tự chủ em cho thấy. Chị thật lòng tin, dù em có trở thành bộ trưởng hoặc ông nọ bà kia hay không, thì em cũng sẽ trở thành một con người có giá trị – hơn rất nhiều những người đang cho mình cái quyền phán xét, dạy bảo mọi thứ ngoài kia.

Theo FB Thảo Gạo

Đôi khi, phản ứng của “một bộ phận dư luận” thật đáng ngạc nhiên.

Khi nhà báo Mỹ Thomas A. Bass viết một loạt bài dài về tình trạng kiểm duyệt ở Việt Nam (năm 2014), ông cứ hí hửng tưởng đâu các bài viết của mình sẽ gây một làn sóng dư luận về vấn nạn kiểm duyệt văn hóa, xuất bản tại đất nước này. Điều khiến ông bất ngờ là khi các bản dịch của loạt bài được công bố, quả thật đã có một làn sóng, nhưng nói chung đó là sự phẫn nộ dành cho một tên “nhà báo-chỉ điểm” đã không bảo vệ nguồn tin, đã lôi tuột hết danh tính các nạn nhân của kiểm duyệt lên truyền thông, khiến cho họ có nguy cơ gặp rầy rà, phiền nhiễu với chính quyền sau đó.

Ông nhà báo Mỹ kêu trời: “Nhưng tại sao tôi phải chịu trách nhiệm về những gì chính quyền Việt Nam làm? Họ mới là kẻ kiểm duyệt. Họ mới là kẻ sẽ xử lý người này, trừng phạt người kia vì đã tiết lộ thông tin về kiểm duyệt ở Việt Nam”.

* * *

Ngày 12/8 vừa qua, tại một hội thảo giới thiệu sách của nhóm Cánh Buồm ở Hà Nội, em Vũ Thạch Tường Minh, học sinh trường Hà Nội-Amsterdam, phát biểu: “… Con không có tính từ nào khác nên con phải dùng tính từ này, là giáo dục Việt Nam bây giờ con thấy là quá ‘thối nát’ rồi. Mà suốt bao năm qua các vị cải đi, cải lại, cải tiến, cải lùi mà nó vẫn không thay đổi được kết quả gì cả…. Giáo dục Việt Nam không cần cải cách gì nữa, giáo dục Việt Nam cần được cách mạng. Đó mới là điều các vị trong Bộ Giáo dục nên làm. Còn nếu bây giờ các vị không làm thì đến khi nào con thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục con sẽ làm”.

Phát biểu của em Minh tạo nên không chỉ một mà nhiều làn sóng dư luận: Một bên hoan hỉ, khen ngợi cậu bé “hậu sinh khả úy”, tranh thủ đả kích thêm một nền giáo dục thối nát tới mức “thằng bé 14 tuổi nó cũng phải chửi”.

Một bên khác, đáng kinh ngạc thay, lại ném đá – nhưng không phải vào nền giáo dục nước nhà, vì chắc họ cũng thấy không thể tình trạng giáo dục Việt Nam hiện giờ là không thể đỡ nổi nữa.

Họ ném đá vào em Minh, vì cho rằng phát biểu như thế chỉ là thỏa mãn cái bức xúc cá nhân, tức thời, chứ chẳng mang lại điều gì tốt đẹp.

Họ cũng ném đá em, vì họ khẳng định một thằng bé 14 tuổi thì không thể phát biểu như thế được. Từ đây họ gợi ý rằng hẳn đã phải có những kẻ xấu, những người lớn xấu xa, cơ hội, phản động, thù địch “gài” cho em Minh có những phát ngôn “lạ”, không đúng lứa tuổi của em.

* * *

Họ đã suy đoán và gợi ý như vậy, thì chúng ta cũng có thể suy đoán và gợi ý như sau:

Phần tiếp theo hội thảo này, sẽ có những người lớn đến gặp gia đình em Tường Minh và khuyên nhủ:

“Anh chị ạ, vừa rồi chắc anh chị cũng biết là trên mạng, người ta có phản ánh chuyện cháu Minh nhà mình đi dự một cái hội thảo giáo dục gì đấy của nhóm Cánh Buồm… Rồi ở đấy cháu nó có phát biểu mấy câu, được hoan nghênh lắm. Thật ra nội dung thì cũng không có gì đâu, nhưng khổ cái là nó lại bị đưa lên mạng anh chị à. Rồi thì mạng người ta làm dữ quá, thế là ầm ĩ cả lên, bây giờ cái video đó phải tới hơn 200.000 lượt người xem.

Chúng tôi thì cũng không dám có ý kiến gì đâu, nhưng mà anh chị cũng biết rồi đấy, bây giờ tình hình xã hội nó phức tạp lắm. Tệ nạn thì nhiều, game online, chat sex, lừa đảo trên mạng… xểnh ra một cái là có chuyện. Nhiều vị cứ thương con, chiều con, cho nó giao du, cho nó lên mạng, đi chơi, v.v. nhiều rồi tới ngày xảy ra chuyện xấu, công an đến nhà hỏi, mới ngớ người “Chúng tôi có biết đâu, thường ngày cháu nó ngoan lắm mà”.

Chuyện dạy con thì nhà ta đây là gia đình trí thức, có ăn học có hiểu biết cả, chúng tôi không dám can thiệp. Nhưng chỉ xin nhắc để anh chị lưu ý, anh chị bảo ban cháu Minh, là lần sau tránh những hội thảo kiểu như vậy, mà nếu có đi dự thì nên hạn chế phát biểu linh tinh… Ấy, ý chúng tôi là nên hạn chế phát biểu tiêu cực, dễ bị bọn xấu nó lợi dụng, nó tung lên mạng, rồi thiên hạ lại ầm ĩ lên, phức tạp lắm mà chả giải quyết được việc gì cả… Anh chị công nhận không ạ?”.

Những người lớn đó cũng có thể sẽ đến gặp Ban Giám hiệu trường Hà Nội-Amsterdam nữa, để nhắc nhở, lưu ý các thầy cô về một trường hợp học sinh “có thể nói là cá biệt, dễ bị bọn xấu lợi dụng”.

Và sau đó Ban Giám hiệu nhà trường sẽ phải có biện pháp phối hợp giữa gia đình và nhà trường để tăng cường quản lý học sinh, nhất là về tư tưởng, tránh để các em bị thế lực thù địch tác động, lôi kéo, lợi dụng…

“Bộ trưởng Giáo dục”” tương lai ơi, đừng sợ. Và các thầy cô, Ban Giám hiệu trường Hà Nội-Amsterdam (trường cũ của tác giả bài này) cũng đừng e ngại điều gì từ những “người lớn” đầy tinh thần cảnh giác kia, nếu họ xuất hiện.

Một đứa trẻ trung thực và thông minh lớn lên sẽ là một công dân tốt.

Em Vũ Thạch Tường Minh tại hội thảo giáo dục của nhóm Cánh Buồm, chiều tối 12/8/2015 tại Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Đình Hà

* * *

Những suy đoán và gợi ý trên chắc chắn là có cơ sở thực tế hơn nhiều so với suy đoán và gợi ý rằng em Tường Minh đã bị người lớn nào đó gài bài.

Còn chuyện một cậu bé 14 tuổi có thể phát ngôn như em Minh hay không, thì có một câu chuyện có thật thế này:

Tháng 11/1989, nhân một kỳ bầu cử Quốc hội nào đó, toàn bộ khối học sinh lớp 6-7-8 của một trường cấp II tại Hà Nội được huy động ra ngoài đường diễu hành. Các em phải đi bộ khoảng 2 km từ cổng trường, vòng vèo qua khu Chợ Giời, ra phố Huế, rồi quay lại trường; vừa đi vừa đánh trống và hô khẩu hiệu: “Toàn dân bầu cử”, “Bầu cử là quyền và nghĩa vụ của công dân”…

Có một em học sinh lớp sáu, 11 tuổi, đã không hô mà còn cằn nhằn suốt buổi: “Bầu cử là gì? Trẻ con biết bầu cử là cái đếch gì mà các cô bắt bọn em đi thế này?”. Được cái em ấy không bị ai để ý. Bạn bè của em thì chỉ thấy được đi cùng nhau trên phố và gõ trống là vui rồi.

Em học sinh ấy còn viết thư gửi cô chủ nhiệm, có ghi một câu là “Em không thích tham gia các hoạt động phù phiếm, vô bổ”. Sau đó, em cũng quên bẵng lá thư ấy đi, cho đến một buổi họp phụ huynh cuối năm, cô chủ nhiệm mới gặp riêng mẹ em và khuyên nên chú ý đến trường hợp này. Cô nói: “Nó mới 11 tuổi, mà nó dùng từ lạ lắm chị ạ, nó bảo làm như thế là “phù phiếm, vô bổ”, nó không thích”. Cũng may, mẹ em chỉ kể lại chuyện đó cho em, và cả cô và mẹ đều không nhắc nhở gì em.

Nhưng đúng là em học sinh 11 tuổi đó đã dùng từ ấy thật, để nói về việc học sinh phải đi vận động bầu cử, cấp II thì phải làm “phụ trách Đội” cho cấp I, mùa hè thì không được nghỉ mà sáng nào cũng phải dậy từ 5h để ra tập thể dục tập thể cạnh bãi rác của khu phố…, và nhiều chuyện khác.

Em học sinh 11 tuổi ấy là người bây giờ ngồi viết những dòng này.

Đ.T.

Nguồn: http://www.phamdoantrang.com/2015/08/bo-truong-giao-duc-tuong-lai-ung-so.html

Vì sao chúng ta cứ thích bạo động?

Vì sao chúng ta cứ thích bạo động?

VietTuSaiGon

RFA

Thảm sát cả gia đình, va chạm xe với nhau, chưa biết đúng sai đã xông vào đánh người, khi có người can thì chạy vào nhà người khác rút dao ra cắt cổ người đụng xe đến chết, chỉ vì dành nhau mấy tấc đất đã vác rựa chém chết cả nhà… Đó là những hành xử của kẻ cố sát. Còn với những nạn nhân của bất công, họ đã làm gì? Có người dùng bình gas chế thành bom để chống lại cưỡng quyền, cũng có người cởi áo quần để thể hiện bất bình, thậm chí, mới đây, có người đã tự thiêu để chống bất công do nhà cầm quyền địa phương gây ra. Tất cả đều có kết cục đau lòng.

Và đứng trên góc độ thần kinh học để nhìn các trường hợp trên, hầu hết đều có lựa chọn không bình thường, có khuynh hướng bạo động. Hay nói cách khác, nếu người ta không bạo động với bên ngoài thì cũng bạo động với chính bản thân của họ. Tại sao người ta lại chọn cách này?

Trước tiên, nói về bạo động, bạo lực, những trường hợp giết người man rợ đều có xuất phát điểm từ tính ham bạo động, bạo lực và khi tính bạo lực, bạo động đẩy lên đến cao trào thì mọi chuyện đều có thể xảy ra, lúc đó kẻ bạo động không còn lường được mức độ tàn ác của hành vi mình tạo ra nữa.

Trường hợp tự thiêu, tự hành hạ thân xác để bày tỏ bất bình với nhà cầm quyền, ở đây không có bạo động với xã hội nhưng lại bạo động với chính bản thân, đẩy bản thân đến chỗ chết chóc. Bằng chứng là anh Phạm Thành Sơn ở thành phố Đà Nẵng đã chết và người phụ nữ vừa tự thiêu ở Quảng Ngãi cũng đang trong tình trạng ngàn cân treo sợi tóc. Tính mạng mất đi hoặc bị tàn tật suốt đời nhưng mục đích đấu tranh vẫn không đạt được, bất công vẫn cứ bất công.

Nhưng tại sao biết bất công người ta vẫn cứ bạo động với bản thân. Và tại sao con người Việt Nam ngày càng trở nên bạo động, manh động? Cả hai câu hỏi này cần được lý giải trên ba phương diện: Giáo dục; Chế độ chính trị và; Năng lượng cho cơ thể.

Ở khía cạnh thứ nhất, với nền giáo dục một chiều, lấy vật chất làm nền tảng đã mau chóng đẩy môi trường giáo dục Việt Nam đến chỗ thực dụng, bẩn thỉu, vô nhân đạo và dã man. Một môi trường mà ở đó con người được đào tạo không phải để thành một con người tiến bộ, có đầy đủ nhân cách mà là cái lò luyện thi, cái lò để sản xuất ra những con người bất chấp, sẵn sàng đạp lên mọi thứ để đạt mục đích vật chất. Hệ quả của quá trình giáo dục này là sau bốn mươi năm được gọi là “thống nhất đất nước”, thanh niên Việt Nam nói riêng và người Việt Nam nói chung trở nên man rợ hơn, bạo lực hơn và máu lạnh hơn.

Nhưng đó cũng chưa phải là vấn đề căn cốt, chính nền chính trị độc tài với định hướng một chiều của giới chóp bu chính trị đã mau chóng đẩy Việt Nam đến chỗ lạc hậu. Con người, ngoài nguy cơ có thể bị bần cùng ra, còn có một cơ hội đạp lên đồng loại, tùng xẻo tài nguyên và bán đứng người anh em để tồn tại, phát triển, để được gia nhập vào một nhóm lợi ích nào đó. Nếu không được như thế, con người sẽ mau chóng bị đạp từ chỗ không có quyền lực đến chỗ bị lợi dụng, bị bán rẻ, bị đàn áp, bị bức hại, bị chà đạp và cướp trắng.

Và ở cả hai trạng thái, chà đạp người khác và bị chà đạp, thái độ lựa chọn của cả hai sẽ là thô bạo, bất chấp đạo đức và lấy bạo lực, bạo động làm kim chỉ nam. Ở phía chà đạp người khác để đạt mục đích, nếu không dùng bạo lực hành động thì người ta cũng dùng bạo lực tư tưởng thông qua âm mưu, thông qua thủ đoạn bạo lực để triệt tiêu đối phương. Đáp lại, khi con người bị đàn áp, chà đạp lâu ngày cũng sẽ tuyệt vọng, mất thiện chí với đời sống và chọn bạo lực, bạo động như một thứ cứu cánh để tự làm nổ tung khối uất hận của bản thân.

Việc người ta chọn hành động tự thiêu, chọn làm bom tự sát hoặc cho nổ tung tất cả không những cho thấy tính bạo lực của kẻ thua thế đã tăng cao mà hành vi bạo động của họ còn chứng minh rằng họ đã tuyệt vọng tột cùng, họ không còn tin vào hệ thống cầm quyền đang cai trị bên trên họ nữa. Bởi lẽ, đúng với trình tự xã hội, nếu còn niềm tin, họ sẽ đi kiện, sẽ đưa ra trước công lý, công luận những bất công mình đang gánh chịu. Nghiệt nỗi, tòa án làm theo chỉ đạo của đảng, công an phục vụ đảng, báo chí do đảng đào tạo và phục vụ đảng, mọi thứ đều của đảng. Một khi đảng đụng chạm đến thì kiện được ai? Trông vào ai nữa? Con người không chọn bạo lực, bạo động đáp trả thì cũng chỉ còn nước ra thân ăn mày.

Mà ở đây, không có đảng cụ thể nào đứng ra cướp của dân, chỉ có những đảng viên, những quan chức trực thuộc đảng cướp của dân, gây bất công với dân. Đảng luôn bảo rằng chủ trương đường lối của đảng là đúng, chỉ có những sai lầm nhỏ sẽ điều chỉnh, do một số đảng viên chưa thấu đáo… Cách chối tội này cùng với hệ thống thuộc cấp ngày càng liều lĩnh, manh động và bạo lực của đảng cầm quyền đã đẩy nhân dân đến chỗ phản ứng manh động, bạo động. Đây là một hệ quả tất yếu!

Bên cạnh đó, nguồn lương thực, thực phẩm đầy rẫy độc tố có xuất xứ Trung Quốc tuồn vào Việt Nam cộng với công nghiệp rượu bia phát triển cũng là một phần nguyên nhân khiến cho lý trí con người trở nên căng thẳng, manh động. Chỉ có Việt Nam mới có thể có chuyện một ông thợ hồ, sau khi đóng mọi khoản thuế thông qua VAT cho mọi thứ ông ta mua mỗi ngày, chiều đến, ông ta tiếp tục lao vào quán nhậu để đóng một khoản thuế rất cao, vì thuế rượu bia và thuốc là là loại thuế ở nhóm chạm trần. Nhưng ông ta lại lựa chọn cách này.

Chỉ có Việt Nam mới có ba khoản thuế trong ngày, thuế xanh diễn ra vào buổi sáng, do các doanh nghiệp đóng, thuế đỏ diễn ra buổi trưa, trên bàn ăn sang trọng, trong những cú áp phe của giới chức, mafia đỏ và buổi chiều mới có khoản thuế vàng vọt của những người bần khổ tự lao vào quán nhậu mà đóng. Chuyện này chỉ có ở Việt Nam, tin là vậy!

Và, khi đời sống khốn khổ trùng vây, cựa đâu cũng bị áp bức, bất công, bóc lột ở đó thì bạo lực, bạo động và man rợ sẽ là môi trường mạnh nhất cho con người phát triển. Kẻ áp bức dùng bạo lực của kẻ mạnh, người bị áp bức dùng bạo lực để chống đối. Cuối cùng, đất nước cứ theo đà bạo lực mà đi tới. Đó là hệ quả của độc đảng, toàn trị và vô đạo đức. Không thể nói khác đi được!

 

Bộ Ngoại Giao Mỹ tài trợ cho đại học Fulbright Việt Nam

Bộ Ngoại Giao Mỹ tài trợ cho đại học Fulbright Việt Nam

Nguoi-viet.com

WASHINGTON 14-8 (NV) – Bộ Ngoại giao Mỹ tài trợ $2.5 triệu Mỹ kim để chuyển chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright ở Sài Gòn thành đại học độc lập và phi lợi nhận ngoại quốc đầu tiên tại Việt Nam.

Lễ tốt nghiệp chương trình thạc sĩ quản trị mà đại học Hawaii tổ chức riêng cho sinh viên Việt nam. (Hình: University of Hawaii)

Mới đây, nhà cầm quyền Hà Nội đã cấp giấy phép để Hoa Kỳ thành lập một đại học độc lập và phi lợi nhuận ngoại quốc đầu tiên và do Hoa Kỳ tài trợ cũng như giảng dạy theo khuôn mẫu của trường đại học Harvard danh tiếng của nước Mỹ.

Từ năm 1994, chính phủ Mỹ đã tài trợ một phần để thiết lập ở Sài Gòn một chương trình giảng dạy thạc sĩ về kinh tế “Fulbright Economic Teaching Program” liên kết với phân khoa quản trị hành chính công của viện đại học Harvard.

Nay thì chương trình này được mở rộng và biến thành một trường đại học gồm ba phân khoa dự trù sẽ khai khóa đầu tiên vào mùa thu năm 2016. Theo một bản tin của trường đại học Harvard, 3 phân khoa đó gồm phân khoa Quản trị và chính sách công quyền, phân khoa kỹ sư và khoa học ứng dụng, và phân khoa khoa học nhân văn, xã hội và khoa học tự nhiên.

Tại Việt Nam, ngoài hệ thống giáo dục đại học do nhà cầm quyền thiết lập, còn có một ít đại học tư được mở ra để đầu tư sinh lợi. Dù vậy, chúng đều có sự nhòm ngó kiểm soát của nhà cầm quyền chứ không được hoàn toàn độc lập. Nạn mua bán bằng cấp, mua điểm từng được đề cập trên báo chí tại Việt Nam.

Các đại học Mỹ, dù là đại học công lập hay đại học tư, đều mang tính cách độc lập từ quản trị đến giảng huấn. Một điều nổi trội của hệ thống giáo dục đại học Mỹ là khả năng nghiên cứu dẫn đến phát minh hay sáng kiến rất cao nhờ các ngân khoản tài trợ của cả chính phủ cũng như tư nhân. Các điều này là ước vọng của những người dự tính thành lập đại học Fulbright.

Các nhà làm chính sách ở Hoa Thịnh Đốn ca ngợi đại học Fulbriht sắp mở vào năm tới là một bước quan trọng trong việc phát triển quan hệ ngoại giao và giáo dục với Việt Nam.

“Đại học Fulbright sẽ trở thành tài sản tuyệt vời của Việt Nam vì với tự do giáo dục và cùng với nỗ lực cũng như liên kết với đại học Harvard để dẫn đến những gì sẽ được mang tới, chúng sẽ trở thành tài sản  đáng kể để nước này đem nền giáo dục lên một mức cao hơn.” Ngoại trưởng John Kerry đọc bài nói chuyện ở Hà nội ngày 7/8/2015 vừa qua nói như vậy nhân dịp ông đến đây dự kỷ niệm 20 năm hai nước thiết lập bang giao.

Hiện các viên chức quản trị đại học Fulbright Việt Nam đặt mục tiêu gây quỹ hoạt động cho trường là 100 triệu đô la để thu nhận 2,000 sinh viên cho 5 năm đầu tiên. Đến nay, họ mới chỉ nhận được hứa hẹn yểm trợ 40 triệu đô la.

Ngoài chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, đại học Hawaii cũng thành lập một chương trình đào tạo thạc sĩ quản trị (MBA) cho Việt Nam. Mới đây, khoảng 50 sinh viên đã tốt nghiệp chương trình này. (TN)

Nỗi vinh nhục của tượng đài

Nỗi vinh nhục của tượng đài

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Năm 1999, việc Trần Trường treo ảnh Hồ Chí Minh và cờ đỏ sao vàng trong tiệm băng nhạc của y đã đưa đến một cuộc biểu tình phản đối dữ dội của những người tỵ nạn Cộng Sản tại Nam California kéo dài 52 ngày đêm ròng rã. Trần Trường nghĩ rằng hành động của y đáng để cho Việt Cộng mang ơn, nhưng sự thật đây là một chuyện trắc nghiệm, gây hậu quả không ai lường trước được và lòng căm thù Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản bộc phát, dâng cao.

Tượng Lenin ở Kiev, Ukraine, bị kéo đổ hôm 8 Tháng Mười Hai, 2013.
(Hình: Anatoli Boiko/AFP/Getty Images)

Vào đầu Tháng Tám năm nay, chính quyền tỉnh Sơn La vừa tuyên bố sẽ xây tượng đài Hồ Chí Minh 1,400 tỷ tại đây. Chuyện chưa biết sẽ ra sao, nhưng từ ngày Sơn La có quyết định này, cả nước, và đồng bào hải ngoại không ngớt lên tiếng chê bai, chửi rủa hết lời. Hình ảnh xấu xa của Hồ Chí Minh và bọn cầm quyền vô lại, lại được đưa ra làm mục tiêu cho quần chúng ném đá, trát bùn. Phải chăng đây cũng là một lần trắc nghiệm nữa về hình ảnh của “Bác?”

Bọn bồi bút và ngay cả “chính Bác”(CB) vẫn thường tranh nhau viết về cuộc đời thanh liêm, đơn giản của “Bác.” Tiêu biểu nhất là chuyện “đôi dép râu.”

Trong thời gian kháng chiến, mà sau ngày trở về Hà Nội, “Bác” vẫn đi đôi dép cao su đã mòn vẹt, “bảo vệ” đề nghị với “Bác” mua một đôi dép mới để thay, nhưng “Bác” gạt đi cho là lãng phí! Anh em “bảo vệ” liền tráo một đôi dép khác, không mới để “Bác” khó nhận ra, nhưng còn tươm tất. Nhưng cuối cùng “Bác” cũng biết, và nằng nặc đòi bảo vệ trả lại đôi dép cũ cho “Bác!”

Trong thư gửi Báo Vệ Quốc Quân vào Tháng Ba, 1947, “Bác” có câu: “Tuyệt đối không đem của công dùng vào việc tư, không động đến cái kim sợi chỉ của dân; khi đến đóng, lúc kéo đi, phải giữ gìn nhà, vườn của dân cho sạch sẽ; mua bán phải công bình, mượn cái gì phải trả tử tế, hỏng cái gì phải bồi thường.”

Chuyện này, đám con cháu “Bác” chuyên làm ngược lại.

Trong di chúc trước khi “bước sang từ trần,” “Bác” đã dặn phải thiêu xác và rải tro đi khắp nước, tuy nhiên chúng nó không chịu thiêu “Bác” mà rình rang xây lăng mộ như các bậc vua chúa thời xưa. Số tiền tốn kém cho lăng này không bao giờ được tiết lộ, nhưng chỉ việc phải nhờ chuyên viên ướp xác Liên Xô, lăng chống được bom đạn, địa chấn, được xây dựng bằng đủ các thứ gỗ, đá, cây trồng quý giá vận chuyển từ khắp các địa phương trong nước, trong lúc còn chiến tranh thì tổn phí phải nói là không nhỏ.

Xây lăng xong, Bắc Việt phải nghĩ đến việc bảo vệ lăng.

Để bảo vệ lăng “Bác” một đơn vị quân đội được đặt tên là Đoàn 969 với quân số của một sư đoàn (10,000 người) do nhân dân đóng thuế nuôi, chỉ dùng cho mỗi việc bảo vệ một các xác khô. Bảo vệ là đúng, vì chúng ta còn nhớ, vào ngày 3 Tháng Hai, 2014, bốn thành viên của Pháp Luân Công đã mang búa tạ vào để đập bể lăng “Bác.”

Về chuyện “không động đến cái kim sợi chỉ của dân; …mua bán phải công bình, mượn cái gì phải trả tử tế, hỏng cái gì phải bồi thường” như lời “Bác” dạy thì chúng không thèm “động đến cái kim sợi chỉ của dân” nhưng tham ô, cướp đất, đuổi nhà, làm giàu trên chuyện tham ô, hối lộ khiến cho đảng càng ngày càng giàu mà dân mỗi năm mỗi đói.

Câu kinh nhật tụng của bọn tham ô vận dụng để xây tượng “Bác” là “nhằm đáp ứng nguyện vọng và tình cảm” của đồng bào các dân tộc, trong khi thật sự nguyện vọng của đồng bào xứ này là cầu cho có bữa cơm no, có trường cho trẻ em học đàng hoàng và đến trường khỏi đu dây “biệt kích!” Trong khi nguyện vọng của chính quyền là muốn có thêm tiền bỏ túi.

Chúng ta khó tưởng tượng ra là hiện nay trên cả nước đã có 134 tượng đài “Bác” xây dựng trong khuôn viên trụ sở cơ quan, đơn vị, trong đó có tới 45 tượng “Bác” với bộ đội Biên Phòng và “Bác” đứng ngồi tại các quảng trường là 31 cái.

Như vậy cũng chưa đủ, hiện nay chúng còn muốn xây thêm 58 tượng đài “Bác” nữa, theo đề nghị ở các tỉnh đủ loại như “Bác” đứng vẫy tay chào, “Bác” ngồi đọc sách, “Bác” với các cháu thiếu nhi, “Bác” với đồng bào dân tộc… Đại khái là sẽ có tượng đài “Bác” với thanh niên xung phong ở tỉnh Bắc Kạn; tượng “Bác” với nông dân ở Thái Bình; tượng “Bác” và bố “Bác” tại Bình Định… Các tỉnh được hưởng “xái” xây tượng đài là Bắc Kạn, Bắc Ninh, Bình Định, Đà Nẵng, Điện Biên, Hải Phòng, Hải Dương, Kiên Giang, Quảng Bình, Quảng Trị, Sơn La, Thái Bình, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc.

Ngay tại Tòa Đô Chánh cũ ở Sài Gòn trước đây đã xây tượng “Bác” ngồi đọc sách, có lẽ ngồi lâu sợ “Bác” đau lưng, không tiếc tiền của dân, Cộng Sản đập đi và thay vào đó là bức tượng “Bác” đứng, lại khánh thành tưng bừng, có các em chân dài múa may trước mặt “Bác.” Các tỉnh tranh nhau để được xây tượng “Bác.” Bắc Ninh nói: “Tỉnh có vinh dự đón Bác 18 lần, vậy mà chưa có tượng đài nào!” Hải Phòng cũng khiếu nại muốn dựng tượng Bác vì “Bác” đã chín lần về thăm Hải Phòng. Như vậy rồi đây, tượng “Bác” sẽ lềnh khênh, ra ngõ là “gặp anh… hồ!”

Sẽ có tượng “Bác” ở làng Sen, nơi Bác sinh ra; ở Pắc Bó nơi “Bác” tắm suối và gặp mẹ của Nông Đức Mạnh; ở số 66 Hàng Bông Nhuộm, nơi xảy ra mối tình “Bác” với Nông Thị Xuân; ở Phan Thiết, nơi “Bác” đi qua, ở bến Nhà Rồng nơi “Bác” lên tàu… Ôi làm sao kể xiết những dấu chân của “Bác” để lại!

Việt Nam sẽ điên đầu với những tượng đài!

Với chủ trương tôn sùng cá nhân, tượng đài các quốc gia Cộng Sản mọc lên như nấm sau cơn mưa. Từ Lenin, Stalin, cho đến Mao Trạch Đông, cha con nhà họ Kim II-sung, Kim Jong-il, và Hồ Chí Minh. Cũng theo thứ tự như thế, lần lượt các chế độ Cộng Sản tàn lụi trên trái đất, sẽ chôn vùi theo các tượng đài.

Những năm gần đây, thế giới đã muốn xóa bỏ dấu tích của quá khứ Cộng Sản. Năm 1991, sau khi Liên Xô sụp đổ một thời gian, hàng ngàn người tụ tập ở quảng trường Dushanbe (thủ đô của Tajikistan), kéo sập tượng Lenin. Năm 1994, chính quyền Hungary đã quyết định hạ tượng Karl Marx ở khuôn viên đại học Corvinus, và ở khắp nơi các tượng đài Lenin, Stalin đều đã bị phá bỏ.

Cuối năm 2012, Mông Cổ đã cho dỡ bỏ bức tượng Lenin cuối cùng khỏi thủ đô Ulan-Bator. Tháng Tám, 2013, tượng Lenin ở Kiev đã bị giật sập, khởi đầu từ đó, tượng của Lenin trở thành mục tiêu phá bỏ tại các thành phố Ukraina khác như Zhytomyr, Boyarka, Slavuta, Bila Tserkva, Khmelnitsky và Bila Tservka.

Trong khi ở Việt Nam, ông Lenin của nước Nga vẫn còn đứng ở vườn hoa nước mình!

Ngày nay Stalingrad đã trở lại với Volgograd, Leningrad đã trả lại cái tên cũ là Saint Petersburg.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày trở lại tên Sài Gòn là lúc dân chúng Việt Nam “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc…” chúng ta kéo nhau đi đập nát những tượng đài…

Nỗi nhục của tượng đài không phải là lúc bị lật đổ, mà cả những lúc được dựng lên trong nỗi ta oán của quần chúng. Đó cũng là một lối tiêu xài hoang phí của đám cầm quyền trên nỗi lầm than, cơ cực của những người dân sống chung quanh tượng đài.

Sài Gòn và Hà Nội

Sài Gòn và Hà Nội

Tạp ghi Huy Phương

Sau khi đi tù về vài năm, khoảng 1985, tôi có mở một tiệm làm hình và tráng phim gia công trên đường Lý Thái Tổ, Sài Gòn.

Nhờ vậy, ở đây tôi có dịp tiếp xúc với nhiều người đủ mọi tầng lớp xã hội và ở khắp mọi miền, nhất là dân miền Bắc, sau Tháng Tư, 1975, đổ xô vào Nam kiếm ăn rất nhiều. Vì dù miền Nam sau ngày “giải phóng” đã xuống cấp tột cùng, trông cũng còn khá giả, tươm tất hơn ở miền Bắc sau 20 năm dưới chế độ cộng sản.

Sài Gòn ngày nay. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Một ngày nọ, tôi gặp một người trung niên miền Bắc, trông mặt mày cũng khôi ngô, nhưng áo quần nhàu nát, làn da xanh mét như người thiếu ăn, anh vào tiệm, ngửa tay ra, nói mấy câu. Nghe giọng nói tôi biết ngay là người này ở ngoài Bắc mới vào, đang hành nghề xin ăn.

Tôi hỏi anh, “Tận ngoài Bắc, sao anh vào đây đi ăn xin?”

Không hề ngượng nghịu, anh nói rõ, “Vào đây xin 10 người cũng có được 6 người móc túi cho, lại chẳng bao giờ bị chửi bới. Ngoài Bắc, nhất là Hà Nội, thì đừng hòng! Có mà chết đói.”

Ðó là điều tôi nhận ra, như vậy là có sự khác biệt nhau giữa Sài Gòn và Hà Nội. Hà Nội đại diện cho miền Bắc và Sài Gòn phản ánh cho những đặc tính của miền Nam.

Cộng Sản vào không phải làm điện khí hóa cho nông thôn trở thành thành thị, nhưng thật tình đã “nông thôn hóa” thành thị, nên dân Sài Gòn thường trực bị cúp điện, nhiều nơi tìm cách đào giếng để kiếm nước và sẵn sàng bới sân gạch lên để trồng khoai lang cải thiện, hay như ông bạn tôi ở chung cư Thanh Ða, bớt chỗ sinh hoạt để nuôi hai con heo nái trên sân thượng.

Sài Gòn sau thời gian đổi tên, nguyên do chỉ vì cái bến Nhà Rồng chết tiệt, chẳng mấy chốc xuống gần bằng Hà Nội. Bằng Hà Nội hơn, nhất là sau khi họ ồ ạt “vào thành phố” như một câu hát của Trịnh Công Sơn, với những “cửa hàng thịt phụ nữ,” “cửa hàng chất đốt thanh niên” mọc ra, cái cảnh phơi áo quần trên cửa sổ, treo khăn lông trong “xe con,” nuôi heo, trồng rau ngay trong sân nhà, hay hai anh bộ đội lái xe khác chiều dừng xe ngay giữa lộ để nói chuyện với nhau, bất cần tiếng chửi của thiên hạ.

Mới thoạt nhìn, Sài Gòn bỏ ngỏ và bắt đầu nhếch nhác giống Hà Nội, nhưng sự thật trong gan ruột, hai thành phố đối cực, đối đầu này đang có những điều khác biệt, một bên là “nơi hang ổ cuối cùng và đâu cũng thấy tàn dư Mỹ Ngụy,” và Hà Nội, “thủ đô của lương tri, phẩm giá con người!” Vì vậy mà ngày nay, sau gần 40 năm “thống nhất” người ta còn đi tìm và thấy ra có quá nhiều khác biệt giữa Sài Gòn, Hà Nội. Cách biệt vì cách đối xử chính trị như vậy, trách sao Sài Gòn và Hà Nội không cách biệt về văn hóa, mặc dầu lúc nào hai bên cũng cho bên kia là “quê hương tù dày!” Tuy vậy, Hà Nội thắt lưng, buộc bụng, tẩy não, “dốc hết hạt gạo, cục muối cho miền Nam đánh Mỹ,” làm sao so được với Sài Gòn “bơ thừa sữa cặn!”

Nói về giáo dục, sau Tháng Tư, 1975, đồng bào và thầy cô giáo miền Nam hẳn đã biết loại văn hóa ăn nói vô lễ, thô tục của lũ trẻ miền Bắc mới vào Nam, vì miền Bắc không có khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” treo trong các lớp tiểu học. Ngày ra Bắc, lên tận Hoàng Liên Sơn, tôi đã trông thấy những nét văn hóa tiêu biểu, được viết bậy lên vách tường nhà trường tiểu học, chưa kịp xóa sạch, nói đến sự quan hệ của ngành công an và giáo dục: “Công An (đ.) Cô Giáo!”

Trên đường làng Cẩm Nhân, Yên Bái, chúng tôi đi ngang một nhà giữ trẻ của hợp tác xã, nghe tiếng trẻ khóc la và tiếng quát của một phụ nữ: “Bố mẹ chúng mày đéo cho lắm vào, để chúng mày làm khổ thân bà!” “Bà” đây là người giữ trẻ của hợp tác xã nông nghiệp, bà có nhiệm vụ giữ trẻ thì khỏi ra đồng như các hợp tác xã viên khác. Liệu lũ trẻ này lớn lên dưới sự chăm sóc của những người này này, ngôn ngữ của chúng sẽ ra sao?

Trên các blog và báo chí trong nước, đề tài “những sự khác biệt giữ Sài Gòn và Hà Nội” tương đối là một đề tài hấp dẫn.

Tôi dẫn một vài ví dụ:

Giao tiếp:

– Ở Sài Gòn, bạn dửng dưng khi thấy cô bán hàng cúi gập người chào bạn.
– Ở Hà Nội, bạn xúc động đến sững sờ khi thấy ai đó nói lời cảm ơn.

Hàng quán:

– Tô hủ tíu mì Sài Gòn được bưng ra với tô được đặt trên chiếc đĩa.
– Bát phở gà Hà Nội được khuyến mại với ngón tay cái của con bé bưng bê!

Ca ve:

– Khi bạn vừa thanh toán xong tiền cho cave…

Cave Hà Nội: “Cho em xin thêm 10 nghìn để còn đi xe ôm về.”
Cave Sài Gòn: “Em bớt cho anh 10 ngàn, lần sau nhớ kiu em nha!”

Nhà sách:

– Hà Nội: Nhân viên hách dịch.
– Sài Gòn: Vào đọc chùa thoải mái, nhất là các em bé, có thể ngồi tại chỗ đọc mà không sợ bị đuổi!

Trong quán ăn:

– Sài Gòn: “Vâng em làm ngay đây.”
– Hà Nội: “Làm gì mà cuống lên thế! Muốn nhanh thì xéo sang hàng khác!”

Bạn bè:

– Hà Nội: Hay để bụng, ghét mà trước mặt vẫn chơi, về nhà nói xấu.
– Sài Gòn: Mau huề, ghét là biến, không chạm mặt!

Nhưng liệu những sự khác biệt này kéo dài được bao lâu nữa? Bây giờ, Sài Gòn và Hà Nội đã bắt đầu đầu giống nhau, ảnh hưởng và bị đồng hóa, vì người Nam ra Bắc thì ít mà người Bắc vô Nam càng ngày càng đông, như một người tên Jor Dan viết trên blog: “Mỗi người có một cách suy nghĩ riêng. Nhưng đa phần chỉ nói yêu Hà Nội, nhưng lại thích được sống ở Sài Gòn. Ca sĩ Hà Nội vào Sài Gòn lập nghiệp nhiều quá còn gì!”

Sau gần 40 năm bây giờ hai thành phố này đã có những chuyện giống nhau. Ở đâu cũng kẹt xe kinh khủng, và sau một trận mưa, không chỉ ở thành phố “bác” mà ở Hà… cũng lội!

Vô kỷ luật:

Sinh viên:

– Hà Nội: Nhiều em cave trông như sinh viên.
– Sài Gòn: Nhiều em sinh viên trông như cave.

Giao thông:

– Sài Gòn: Bạn có thể vượt đèn đỏ thoải mái.
– Hà Nội: Bạn có thể lượn lờ trước mũi xe hơi.

Chúng ta không hy vọng gì Hà Nội và Sài Gòn sẽ mãi mãi khác nhau. Sự đồng hóa và việc di dân ồ ạt sẽ làm cho Sài Gòn càng ngày càng gần với Hà Nội. Ðiều rõ nhất là Hà Nội trước năm 1954 và Hà Nội bây giờ hoàn toàn khác nhau. Năm 1954, sau Hiệp Ðịnh Geneva, một số người đã mang sự thanh lịch của Hà Thành năm xưa đi xa, để “Hà Lội” ngày nay cho những người mới vào tiếp thu, từ giọng nói đến văn hóa cư xử đã hoàn toàn khác biệt.

Người Sài Gòn hôm nay sẽ không còn là người Sài Gòn của những ngày tháng cũ, tất cả chỉ còn là chuyện thời gian.

Chỉ sợ sau ngày Sài Gòn trở lại tên cũ, chất Sài Gòn sẽ không còn nữa.

“Đảng là hạnh phúc, là văn minh, là dân chủ, là hoà bình, là ấm no”

“Đảng là hạnh phúc, là văn minh, là dân chủ, là hoà bình, là ấm no”

FB Nhân Thế Hoàng

Qua khẩu hiệu “Đảng là hạnh phúc, là văn minh, là dân chủ, là hoà bình, là ấm no” được treo trước cổng một cơ quan nhà nước cho chúng ta thấy điều gì?

Từ khẩu hiệu trên nếu đem so sánh với thực tế, chúng ta có thể kết luận là: “thấy zậy mà không phải zậy à nghe.”

Giờ thử phân tích xem vì sao lại đưa ra kết luận trên nhé:

1. Nếu đảng là hạnh phúc thì sao dưới sự lãnh đạo của đảng, dân Việt hiện nay lại cảm thấy không hạnh phúc đến vậy. Với phần đông dân số sống trong nghèo khó, thu nhập không đủ cho chi tiêu hàng ngày thì hạnh phúc cái nỗi gì; chưa kể đến thực phẩm độc hại, môi trường ô nhiễm, thuế phí chồng chất, đường xá thì ổ gà, ổ voi…vv…Vậy lấy gì để khẳng định là hạnh phúc như khẩu hiệu mà đảng đưa ra đây?

2. Nếu Đảng là văn minh, thì sao dưới sự lãnh đạo của đảng, dân Việt lại thiếu văn minh đến vậy? Đi đến đâu thì trộm cắp, làm gái đến đó, thảm sát diễn ra như cơm bữa; cướp, giết, hiếp thì lộng hành như chốn không người, vượt đèn đỏ, xã rác, khạc nhổ nơi công cộng đã ăn sâu vào số đông dân số…vv…. Vậy như thế nào gọi là văn minh?

3. Nếu đảng là dân chủ thì sao mở miệng nói trái ý đảng đều bị quy vào thành phần suy thoái hoặc phản động? Tại sao dân không được chọn người dẫn dắt mình mà toàn là “đảng cử dân bầu”? Tại sao dân không có quyền lập hội nhóm, biểu tình…vv…. Vậy như thế nào gọi là dân chủ?

4. Nếu Đảng là hoà bình thì tại sao dưới sự dẫn dắt của đảng, ngư dân lúc ra biển toàn bị “tàu lạ” cướp phá, Hoàng-Trường Sa thì địch nó xây cả căn cứ quân sự trên đó, rồi thác bản giốc, ải nam quan giờ ở đâu? Vậy có phải cam chịu để họ cướp phá, muốn làm gì thì làm trên lãnh thổ của mình được gọi là hoà bình?

5. Nếu Đảng là ấm no thì sao dưới sự lãnh đạo của đảng Việt Nam giờ như một cái trại từ thiện khổng lồ đến vậy? Trẻ em miền núi phải bắt chuột để bữa ăn có thịt, dân đau ốm nằm chờ chết vì không tiền đi viện; trẻ em, người già đi bán vé số, ăn xin đầy đường, người dân phải bán cả nội tạng để cải thiện cuộc sống…vv….
Vậy ấm no mà đảng hứa mang lại cho dân sao những điều trên vẫn còn nhiều vô kể?
…………………

Một số người sẽ nguỵ biện rằng những trường hợp trên nước nào cũng có, rằng chỉ là con sâu làm rầu nồi canh, rằng sao toàn nhìn vào những điều tiêu cực để phán xét….nhưng bạn có công nhận rằng những điều kể trên nó hiếm xảy ra ở các nước văn minh (nơi không hề có khẩu hiệu như kiểu trên), trong khi ở nước ta thì nó hiện hữu đầy rẫy từ thành thị cho đến tận nông thôn, nhìn đâu cũng thấy tiếng kêu ai oán khắp nơi.

Có lẽ đảng nên đưa ra khẩu hiệu cho dễ hiểu rằng “các thành viên của đảng luôn được hưởng những điều trên” thì nó đúng hơn là dành cho dân. Người cộng sản làm cách mạng không phải là để đem lại hạnh phúc cho người dân, họ làm cách mạng để người dân mang lại hạnh phúc cho họ là khẩu hiệu đúng nhất hiện nay mọi người à!

Suy nghĩ nhân kỷ niệm 50 năm Chương Trình Phát Triển Quận 8 Sài gòn (1965 – 2015)

Suy nghĩ nhân kỷ niệm 50 năm Chương Trình Phát Triển Quận 8 Sài gòn (1965 – 2015)

Bài ghi ngắn của Đoàn Thanh Liêm

Mấy năm gần đây, tôi đã có dịp viết nhiều bài về các mặt sinh họat của chương trình phát triển cộng đồng này tại một quận ven đô Sài gòn hồi giữa thập niên 1960. Nay nhân kỷ niệm 50 năm ngày khởi sự Chương Trình Phát Triển Quận 8 vào trung tuần tháng Tám năm 1965, tôi xin ghi ra một số suy nghĩ đúc kết được gói ghém trong mấy mục ngắn gọn như sau đây:

1 – Vào năm 1965, quận 8 là một địa phương có nhiều khu nhà ổ chuột, có nơi nhà ở xen kẽ với những ngôi mộ vô thừa nhận. Dân Sài gòn thường biết đến các địa danh như Lò Heo, Trại Tế Bần, Sở Rác mà đều có chung một tên là Chánh Hưng. Vì tình hình mất an ninh ở nông thôn, nên bà con kéo về tá túc rất đông ở vùng ven biên đô thị tiếp giáp với các huyện Cần Đước, Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An. Có thể nói quận 8 lúc đó là một khu vực kém phát triển nhất của thành phố Sài gòn (the most depressed area). Đó là lý do tại sao anh chị em chúng tôi đã quyết định đến nơi đây và khởi sự một chương trình cải tiến xã hội từ năm 1965.

Và qua năm 1966, thì chương trình lại nới rộng địa bàn họat động qua hai quận 6 và 7 lân cận – với tổng số dân trong 3 quận là khỏang 500,000 người.

2 – Tính chất căn bản của Chương trình này là sự hợp tác giữa chánh quyền nhà nước và giới thanh niên tự nguyện đến phục vụ bà con tại địa phương.  Hồi đó, lớp bạn trẻ chúng tôi đều ở vào lứa tuổi từ 20 tới 30 – có người còn là học sinh trung học, có người là sinh viên đại học và một số huynh trưởng đã tốt nghiệp đại học.

Thọat đầu, anh chị em đầu đàn họp lại chung với nhau để cùng sọan thảo ra được một bản Dự án lấy tên là “Chương Trình Phát Triển Quận 8 Sài gòn” (CTPT.Q8). Dự án này được đệ trình lên văn phòng cấp trên và được vị Thủ Tướng Chánh Phủ lúc đó là Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ chấp thuận và giao cho Bộ Thanh Niên và Tòa Đô Chánh Sài gòn là hai cơ quan đứng ra bảo trợ và giám sát mọi họat động của Chương Trình.

Nói theo ngôn ngữ ngày nay, thì đây là một dự án của Xã hội Dân sự mà được chánh quyền nhà nước chấp thuận và theo dõi yểm trợ.

3 – Sau gần 6 năm họat động, chương trình đã đạt được nhiều thành quả tốt đẹp về nhiều mặt qua hàng trăm những dự án công tác lớn, nhỏ nhằm cải thiện môi trường sống nơi các xóm hẻm tối tăm lầy lội, chỉnh trang tái thiết gia cư – đặc biệt sau vụ tấn công hồi Tết Mậu Thân 1968 – mở mang giáo dục phổ thông, tổ chức những lớp dậy nghề, chăm sóc y tế v.v…

Mấu chốt của sự thành công này là do nơi các anh chị em cán bộ tự nguyện của chương trình đã gây được sự tin tưởng tín nhiệm và phấn khởi của số đông quần chúng nhân dân tại địa phương – để họ cùng hăng say tham gia “kẻ góp của, người góp công” vào vô vàn vô số những dự án cụ thể và thiết thực nhằm xây dựng cuộc sống mới tiện nghi thỏai mái cho tập thể cộng đồng sở tại.

Với phương thức hòa đồng vào trong môi trường quần chúng địa phương – qua lối sống “Tam Cùng” tức là Cùng Ăn, Cùng Ở, Cùng Làm với bà con tại chỗ – mà anh chị em cán bộ đã gây được mối thiện cảm của người dân – để rồi từ đó mà tiếp tục nhận lãnh thêm được những sáng kiến tích cực trong việc cải tiến dân sinh sao cho thật phù hợp với điều kiện đặc thù của từng địa phương xóm ngõ.

4 – Về mặt nhân sự tham gia chương trình, thì vì tính chất hòan tòan tự nguyện, nên các thành viên tham gia công tác tùy theo hòan cảnh thuận tiện cho cá nhân từng người một. Do đó, mà có người chỉ nhập cuộc với chương trình trong thời gian ngắn một vài tháng, có người thì tham gia lâu dài hơn và có người thì sinh họat bền bỉ với chương trình trong suốt 6 năm ròng rã. Đó là thành phần cán bộ tự nguyện cơ hữu của chương trình.

Còn thành phần các thân hữu do các đòan thể, tổ chức bạn gửi đến tham gia trong từng công tác ngắn hạn một vài ngày, thì rất đông đảo – có thể lên đến con số cả ngàn người trong 6 năm họat động của chương trình.

Nhưng thành phần chủ chốt vẫn là đại bộ phận đông đảo hàng ngàn, hàng vạn đồng bào địa phương – vì chính khối quần chúng này mới là chủ thể của mọi dự án công tác được gọi là “Phát Triển Cộng Đồng”. Đó là hàng nhiều trăm những dự án công tác mà do sáng kiến và nỗ lực của tòan thể dân chúng nơi cộng đồng sở tại góp phần vào việc cải thiện cuộc sống của mỗi thành viên trong chính cộng đồng đó vậy.

5 – Về mặt yểm trợ vật chất cũng như tinh thần, thì có thể liệt kê như sau:

A – Từ phía chánh quyền nhà nước.

Ngòai việc biệt phái một số nhỏ nhân viên công chức cho chương trình, thì chánh quyền còn cấp phát hai đợt ngân khỏan, tổng cộng là 30 triệu đồng. Cấp lãnh đạo là vị Bộ Trưởng Thanh Niên và nhất là vị Đô Trưởng Sài gòn đã luôn luôn khích lệ và yểm trợ tinh thần cho các anh chị em cán bộ tự nguyện chúng tôi.

B – Từ phía cơ quan Viện Trợ Mỹ USAID.

Qua sự giới thiệu của chánh quyền, cơ quan USAID đã cung cấp khá dồi dào cho chương trình phát triển chúng tôi các vật liệu xây dựng cơ bản như ciment, sắt và tôle. Nhờ vậy, mà chương trình mới có thể thực hiện được nhiều công trình xây dựng và tái thiết lên đến nhiều ngàn đơn vị gia cư, hai trường trung học và hàng trăm dự án chỉnh trang xóm ngõ v.v… trong cả ba quận 6,7 và 8 Sài gòn. Ngòai ra USAID còn trích ngân khỏan 10 triệu đồng vào giai đọan chót của chương trình trong các năm 1970 -71.

C – Từ phía các cơ quan từ thiện nhân đạo quốc tế.

Chương trình còn nhận được sự yểm trợ lin tinh về dụng cụ thiết bị đặc biệt cho các lớp dậy nghề như máy may, máy thêu đan, máy đánh chữ, dụng cụ sửa radio, TV v.v… từ nhiều cơ quan tư nhân quốc tế – điển hình như CARE, Catholic Relief Service, Vietnam Christian Service, Asian Christian Service, Adenauer Foundation, OXFAM, IVS v.v…

6 – Để tóm kết lại.

Kể từ ngày khởi sự CTPT Q8 vào năm 1965 đến nay là năm 2015, thì đã có biết bao nhiêu anh chị em trong số hàng trăm thiện nguyện viên – cũng như biết bao nhiêu thân hào nhân sĩ, các vị tôn trưởng cùng rất đông đồng bào địa phương trong cả 3 quận 6,7 và 8 đã rũ áo ra đi về miền miên viễn. Số người quá vãng quá nhiều, tôi không thể nào liệt kê ra đây cho hết được.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm này (1965 – 2015), tôi xin ghi lời thương tiếc chân thành đến tất cả quý vị cùng quý anh chị. Và xin cầu chúc quý vị cùng anh chị luôn được thanh thản nơi cõi Vĩnh Hằng.

Và tôi cũng xin gửi lời tri ân nồng thắm đến tất cả các ân nhân và cơ quan nhân đạo đã tận tình hỗ trợ cho chương trình phát triển chúng tôi trong thời gian chiến tranh vẫn còn tàn phá khốc liệt vào những năm xa xưa đó.

Và cuối cùng, tôi cũng cầu mong cho thế hệ hậu duệ của quý vị tôn trưởng, thân hào nhân sĩ ở địa phương cũng như của các anh chị em thiện nguyện viên sẽ giữ mãi được cái ngọn lửa thiêng liêng của lòng nhân ái nơi cha bác của mình – để mà tiếp tục công cuộc phục vụ nhân quần xã hội trong hòan cảnh hiện tại trên quê hương đất nước thân yêu ngàn đời của mình vậy.

Westminster California, Ngày 15 Tháng 8 Năm 2015

Đoàn Thanh Liêm