PHÉP MẦU YÊU THƯƠNG

PHÉP MẦU YÊU THƯƠNG

HẠT NẮNG

Trong các cảm xúc của con người, có lẽ tình yêu là cao thượng và quý giá nhất. Chỉ có tình yêu mới có đủ sự thần kì, huyền diệu để thay đổi con người theo hướng tích cực. Bởi tình yêu, tự nó đã mang một sứ vụ cao trọng vô vàn mà Thiên Chúa đã trao đặt sẵn trong lòng người – những đứa con từ tình yêu của Ngài.

Dường như yêu và được yêu là nhu cầu vượt trên hết mọi nhu cầu của con người. Vừa mới hình thành trong cung lòng mẹ, thai nhi đã cần đến tình yêu và luôn cảm nhận tình yêu qua những lần vuốt ve, thủ thỉ qua thành bụng..Đến khi được sinh ra, đứa con còn đỏ hỏn đã thương tìm bầu sữa ngọt lành của mẹ, thèm được mẹ ủ ấp, vỗ về. Lớn hơn chút nữa, lúc tập ăn, tập chập chững những bước đầu đời, đứa con ấy cũng cần lắm những nâng đỡ, dạy dỗ từ cha me, gia đình. Bước vào đời, người ta cần nhiều thứ, nhiều năng lực, điều kiện để hội nhập xã hội, nhưng có lẽ chỉ có tình yêu mới làm cho con người cảm thấy đáng sống, và cũng chỉ duy nhất tình yêu mới có thể nâng con người dậy trước những vùi dập của cuộc đời.
Trong đêm tối, mưa gió dữ dội, một cụ già với đôi chân cụt nằm vắt người trên tấm ván mục có gắn bánh xe, gồng mình choải đôi tay thật nhanh xuống đất, lăn đi trên đoạn đường vắng ngắt dọc nghĩa trang. Một cô gái nhỏ chạy xe lướt qua, chợt rùng mình nghĩ rằng mình vừa thấy ma. Vừa sợ hãi, vừa tò mò, cô bé cứ ngoái đầu nhìn lại, xem “con ma” đã biến mất chưa. Nhưng kì lạ là “con ma” ấy vẫn mồn một trước mắt, cứ choải người đi, mỗi lúc một mệt mỏi hơn.

Bần thần một lúc, cô bé vòng xe lại, nhìn kỹ “mảnh người” không trọn người ấy, rồi bất giác cho tay vào túi, sờ tờ năm chục đồng duy nhất còn lại, rồi lại buông ra, lưỡng lự. Cô nghĩ về bữa ăn sáng ngày mai và những chi tiêu phải tính tới. Nhưng nhìn “mảnh người” kia cứ trằn đi khó nhọc dưới mưa, lòng cô lại thổn thức, và cuối cùng cô đã dúi tờ tiền ấy vào tay ông cụ với câu nói: “Chúa thương ông lắm!”. Có lẽ suốt đời, cô bé cũng không quên được gương mặt sững sờ và hai giọt nước mắt bất chợt trào ra hoà lẫn trong cơn mưa đêm ấy. Chỉ nghĩ đơn giản là chút sẻ chia để an ủi nhau và cám ơn trời đã cho mình lành lặn, nhưng cô bé không ngờ mình lại nhận được một niềm hạnh phúc tràn ngập trong lòng – một niềm vui chẳng thể mua được bằng ngần ấy tiền.

Một thanh niên mang căn bệnh thế kỉ HIV – AIDS, không nén được nước mắt khi cô điều dưỡng trạc tuổi mình nắm lấy đôi tay gầy gò của anh, an ủi, xoa dịu anh giữa cơn đau nhót người vì tia lửa điện diệt virus HPV (human papillomavirus: vi rút gây bệnh mồng gà) – hậu quả từ “trận” quan hệ đồng tính. Dường như cô thấu hiểu được nỗi đau trong anh, nỗi đau từ nơi thân xác thấm sâu vào tâm hồn. Cảm giác cô đơn, buồn tủi, cảm giác sợ kì thị làm anh bẽn lẽn mím chặt môi, không dám để tiếng rên i ỉ trong miệng phát ra kẻo mọi người nghe thấy. Khi anh nằm trên chiếc giường ấy, phơi nơi kín đáo nhất để được điều trị, anh thấy tất cả những sự thật của bản thân cũng bị phơi bày như chính căn bệnh của mình. Chỉ khi thấy được tình thương, sự nỗ lực từ những người điều trị cho anh, anh mới thấy mình sống lại thêm lần nữa, để nói lên quyết tâm trong lòng – quyết tâm lánh xa con đường sai cũ và sống xứng đáng hơn với hi vọng của mọi người.

Những con người ấy “thèm” tình yêu đến là vậy! Một chút yêu thương thôi cũng đủ cho họ cảm thấy mình vẫn còn tồn tại trong mắt mọi người, vẫn còn được làm người giữa một thế giới đầy miệt thị, rẻ khinh, chỉ biết đánh giá con người qua vật chất.
Tình yêu có sẵn trong lòng người, khi cho đi, yêu thương không những không vơi mà còn dâng đầy lên trong lòng gấp nhiều lần. Sống nơi thế gian này, có lẽ tình yêu là dòng nước thanh tẩy duy nhất nâng cao tâm hồn, làm cho ta có những lời nói, cử chỉ, hành động đẹp. Tình yêu giúp con người loại bỏ những xung đột, chia rẽ, tranh chấp, và giúp cá nhân bớt đi khuyết điểm, lỗi tội.

Tình yêu tha nhân đạt đến mức siêu huyền khi ta yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi mình. Lòng yêu thương ấy không làm ta mù quáng, chấp nhận, thoả hiệp với những hành động gian ác của kẻ thù; trái lại , ta vẫn lên án và tìm cách ngăn chặn chúng.

Chỉ có tình yêu mới cảm hoá được trái tim chai sần, sỏi đá, mới làm cho tan chảy được sự lạnh lùng, cứng nhắc của một con người. Tình yêu giúp ta được sống thật với giá trị ta đang là. Khi trái tim ta đang ngụp lặn trong vũng sâu tội lỗi, chỉ cần một ánh mắt yêu thương, một bàn tay nâng đỡ cũng đủ giúp ta thêm sức mạnh phi thường để tức thì được “mọc cánh” bay lên. Và giữa những khoảng xám tối của cuộc đời, chỉ tình yêu mới là ngọn đèn soi, lắp sáng những nẻo khuất ấy – tình yêu là động lực duy nhất!

Như hạt muối có thể hoà tan nhưng không bao giờ biến chất, người Ki-tô hữu cũng không thể chỉ biết co cụm trong lo âu, chỉ biết thương xót và nhìn thấy cuộc đời riêng mình. Cần cúi xuống gần hơn với nỗi đau khổ của tha nhân – nỗi đau khổ nơi những con người còn rên xiết trong đói khát, bị giằng xé nội tâm do tội lỗi – những con người ấy không có gì để bám víu, để đặt niềm tin và để được sống đúng phẩm giá của mình…

Mong sao, mọi người biết yêu thương nhau như chính Đấng Cứu Chuộc đã dành trọn Tinh Yêu cho ta – một tình yêu không vị lợi, không toan tính, không nề hà hiến dâng chính mạng sống Người. Chúng ta hãy cùng học để biết yêu mến, học để biết cho đi nhưng không và lãnh nhận nhưng không trong trường học Giêsu, biết đặt mình đơn sơ, phó thác vào đôi cánh tay quyền năng, yêu thương che chở của Người trong tâm tình bé thơ như Chúa muốn.

( Trích tập san GHXHCG số 18)

Phim tài liệu Vietnamerica trong mắt khán giả trẻ

Phim tài liệu Vietnamerica trong mắt khán giả trẻ

Vietnamerica là bộ phim tư liệu 90 phút không chỉ dành riêng cho cộng đồng người Việt tị nạn, mà cho tất cả những ai yêu chuộng và khát khao tự do.

Vietnamerica là bộ phim tư liệu 90 phút không chỉ dành riêng cho cộng đồng người Việt tị nạn, mà cho tất cả những ai yêu chuộng và khát khao tự do.

Một bộ phim tài liệu nói về những thuyền nhân Việt Nam vực dậy sau đau thương từ những chuyến vượt biển tìm tự do đầy nghiệt ngã tới những thành tựu rực rỡ đóng góp cho quê hương thứ hai sau 4 thập niên tị nạn chính trị tại Hoa Kỳ được ra mắt ở thủ đô Washington DC ngày 17/10/15 đánh dấu 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam.

Vietnamerica là bộ phim tư liệu 90 phút không chỉ dành riêng cho cộng đồng người Việt tị nạn, mà cho tất cả những ai yêu chuộng và khát khao tự do.

Một phân đoạn trong phim dài 18 phút được trích ra dự thi các liên hoan phim quốc tế đã dành được một số giải thưởng và được chọn trình chiếu tại 15 buổi liên hoan phim trên thế giới.

Đạo diễn Scott Edwards (phải) và Nhà sản xuất Nancy Bùi tức Triều Giang (phía sau bên phải).
Đạo diễn Scott Edwards (phải) và Nhà sản xuất Nancy Bùi tức Triều Giang (phía sau bên phải).

Bộ phim gợi nhớ biến cố 30/4/75 khiến hơn 2 triệu dân Việt bỏ nước ra đi, tạo nên một trong những làn sóng thuyền nhân lớn nhất và đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại với hàng trăm ngàn người đã bỏ mình trên biển vì bão, vì đói, hay vì hải tặc.

Trong chương trình Tạp chí Thanh Niên VOA hôm nay, 3 khán giả trẻ trong cộng đồng tị nạn chính trị lớn nhất tại Mỹ đã xem qua Vietnamerica khi phim được ra mắt tại thành phố họ sinh sống sẽ chia sẻ với chúng ta những ấn tượng về bộ phim và ý nghĩa của nó đối với lịch sử thuyền nhân Việt Nam cũng như đối với các thế hệ người Việt tị nạn. Trà Mi xin giới thiệu khách mời của chương trình: Thị trưởng Tạ Đức Trí của thành phố Westminister bang California, nơi có đông người Việt sinh sống nhất nhì nước Mỹ; anh John Hùng Vũ hoạt động trong ngành bảo hiểm tại Denver bang Colorado; và chị Christine Quỳnh Nguyễn kinh doanh địa ốc ở Houston bang Texas.

 Chrisine Quỳnh: Ba của Christine là đại úy an ninh quân đội. Khi mất nước, ba bị ở tù 11 năm. Tuổi thơ của Christine không hy vọng, không tương lai. Christine trải qua thời niên thiếu rất khổ cực. Vì thế, khi xem phim Vietnamerica, Christine rất xúc động khi thấy nhiều người phải trải qua giữa cái sống và cái chết vì hai chữ tự do. Cuốn phim này khích lệ tinh thần chúng ta khi nhìn lại tại sao chúng ta có mặt ở đây, chúng ta phải cố gắng thế nào để không hổ thẹn với những người đã đi trước.

Trà Mi: Anh Hùng là một thuyền nhân, anh có nhìn thấy chính mình và người thân của mình qua những phút phim tài liệu này không?

Hùng Vũ: Xem cuốn phim gợi lại quá khứ mình đã đi qua, không biết làm sao diễn tả được vì nó làm sống lại những phút giây đối đầu với tử thần khi mình trên con thuyền nhỏ rời Việt Nam đi tìm tự do.

Trà Mi: So với các phim tài liệu khác về lịch sử cuộc chiến Việt Nam, Vietnamerica có điểm nào đặc biệt nổi bật?

Tạ Đức Trí: Bộ phim này đã lột tả hết tất cả sự hy sinh và cái giá mà các thuyền nhân Việt Nam đã trải qua trên hành trình tìm tự do. Ưu điểm của bộ phim là các nhân vật trong phim không cần phải đóng. Họ đều là những chứng nhân minh chứng cho những kinh nghiệm kinh hoàng. Đây là một bộ phim có thể đánh động được lương tâm của thế giới.

Ông Trần Tú Thanh, một nhân vật trong phim Vietnamerica nói: "Chúng tôi đã mất tất cả. Chúng tôi đã mất nước. Mất tài sản. Mất các thành viên trong gia đình. Và tuổi trẻ của tôi. Tất cả tuổi trẻ của tôi sau 15 năm tù cộng sản."
Ông Trần Tú Thanh, một nhân vật trong phim Vietnamerica nói: “Chúng tôi đã mất tất cả. Chúng tôi đã mất nước. Mất tài sản. Mất các thành viên trong gia đình. Và tuổi trẻ của tôi. Tất cả tuổi trẻ của tôi sau 15 năm tù cộng sản.”

Trà Mi: Người Việt đã trải qua quá nhiều thương đau và nước mắt và một số phụ huynh lưỡng lự không muốn cho thế hệ trẻ thấy những điều tàn khốc ấy qua các bộ phim tài liệu. Là thế hệ trẻ, các anh chị chia sẻ thế nào về điều này?

Tạ Đức Trí: Tôi cũng hiểu suy nghĩ của các phụ huynh. Tuy nhiên, theo thiển ý của tôi, các em nên xem những bộ phim về chính nguồn gốc của mình để hiểu lý do cộng đồng người Việt có mặt và phát triển tại Mỹ cũng như hiểu giá trị của sự tự do mà thế hệ đi trước đã phải trải qua.

Trà Mi: Có ý kiến cho rằng chiến tranh đã chấm dứt 4 thập niên, Việt-Mỹ cũng bình thường hóa quan hệ 20 năm nay thì nhắc nhớ những nỗi đau đó để hận thù dai dẳng có ích lợi gì đâu, hãy để thế hệ trẻ hướng tới chân trời sáng lạng phía trước. Với quan điểm đó, các anh chị có suy nghĩ thế nào?

Tạ Đức Trí: Tuy nhiên, Việt Nam sau 40 năm vẫn chưa có nhân quyền-tự do, các nhà tranh đấu dân chủ trong nước vẫn đang bị đàn áp, bắt bớ. Với chính sách độc tài của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, tập thể người Việt tị nạn tại hải ngoại không thể nào làm ngơ, không quan tâm. Vì vậy, sự ra đời của bộ phim càng làm cho chúng ta quan tâm nhiều hơn về thực trạng tại Việt Nam, cố gắng nhiều hơn nữa để tranh đấu với hy vọng Việt Nam sẽ sớm có tự do-dân chủ trong tương lai.

Trà Mi: Khát vọng nào cũng có cái giá của nó, khát vọng tự do cũng vậy, vì sao phải nêu bật cái giá của tự do. Nếu có một người trẻ nêu câu hỏi này, chị Christine sẽ trả lời thế nào?

Christine Quỳnh: Chúng ta phải đề cao tinh thần bất khuất của người Việt để cho thế hệ mai sau hiểu nguồn gốc sự có mặt của chúng ta ở đây và những giá trị chúng ta có được hôm nay không phải tự nhiên mà có. Chúng ta phải nên trân quý.

Trà Mi: 90 phút phim dĩ nhiên không thể khắc họa lại tất cả những nghiệt ngã, những mất mát đau thương để đánh đổi lấy tự do. Qua lăng kính Vietnamerica, các anh chị thấy những khía cạnh nào đã được soi rọi đầy đủ và những khía cạnh nào cần lột tả thêm để thế hệ sau được nhìn rõ một bức tranh toàn cảnh, trực diện về lịch sử thuyền nhân tị nạn Việt Nam?

Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh chia sẻ câu chuyện trong phim VietnAmerica.
Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh chia sẻ câu chuyện trong phim VietnAmerica.

Hùng Vũ: Bộ phim đã nói lên được khát vọng của con người cần được tự do. Là một thuyền nhân, mình nghĩ nếu cuốn phim có thể nói thêm về hành trình tìm tự do gian khổ, khó khăn như thế nào thì sẽ xác thực hơn ý nghĩa của việc đi tìm tự do.

Trà Mi: Bộ phim ra mắt giữa bối cảnh các mốc kỷ niệm lịch sử và giữa cuộc khủng hoảng người tị nạn trên thế giới. Là một người tị nạn Việt Nam, từ bộ phim này, các anh chị muốn chia sẻ thông điệp gì tới những người tị nạn trên thế giới”?

Tạ Đức Trí: Tất cả người tị nạn đều có khát vọng tìm tự do, mưu cầu hạnh phúc tương lai. Với khát vọng đó, chúng tôi rất hy vọng rằng các quốc gia sẽ chào đón, giúp đỡ người tị nạn. Hai chữ tự do sau thế kỷ 21 này vẫn là một thứ trân quý nhất cho nhân loại. Cũng vì hai chữ tự do mà cộng đồng người Việt tại hải ngoại đã vươn lên hình thành và phát triển.

Trà Mi: Khát vọng tự do cho bản thân và gia đình giờ đã đạt thành, với những người còn đang hướng tới nó, các anh chị có thể làm gì để có thể truyền tiếp khát vọng của họ?

Christine Quỳnh: Ước mong rằng khi thành công ở Mỹ, chúng ta nên truyền bá lại cho con cháu mình có được tinh thần giống thế hệ của chúng ta, lúc nào cũng phấn đấu.

Nhà văn Dương Thu Hương kể lại cuộc sống dưới chế độ cộng sản trong VietnAmerica.
Nhà văn Dương Thu Hương kể lại cuộc sống dưới chế độ cộng sản trong VietnAmerica.

Tạ Đức Trí: Tập thể người Việt hải ngoại chúng ta luôn sẵn sàng hỗ trợ các nhà đấu tranh dân chủ trong nước. Chúng ta hãy tiếp tục chia sẻ những thông tin cần thiết về một chính thể tự do thật sự. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, chúng ta có thể chia sẻ cho đồng bào trong nước về một bộ máy chính trị tự do, dân chủ bầu cử để người dân trong nước hiểu được thế nào là tự do-dân chủ thật sự, giá trị của một nền chính trị dân chủ quan trọng như thế nào để giúp cho quốc gia đó phát triển một cách toàn diện.  Chúng ta thấy nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam sau 40 năm vẫn áp dụng chính sách độc tài , đàn áp tôn giáo, bắt bớ trí thức trẻ. Người trí thức trong nước chưa thể nói lên sự quan tâm của mình về hiện trạng đất nước thì thử hỏi làm sao Việt Nam có thể phát triển một cách toàn diện? Cho nên, chúng tôi rất hy vọng các bạn trẻ trong cộng đồng tại hải ngoại hãy quan  tâm nhiều hơn nữa về tình hình Việt Nam. Sự dấn thân của các bạn là một động lực hỗ trợ thêm cho giới trẻ trong nước. Chúng tôi biết nhiều bạn trẻ trong nước hiện nay cũng rất quan tâm về sự tự do-dân chủ trong nước chưa có và các bạn cũng có khát vọng để thay đổi. Chúng tôi xin đồng hành với các bạn trẻ tại Việt Nam để tranh đấu cho hai chữ tự do.

Trà Mi: Thông điệp về khát vọng tự do đó cũng chính là điểm nhấn của bộ phim tài liệu Vietnamerica mà 3 khán giả trẻ tham gia chương trình hôm nay đã cảm nghiệm và chia sẻ với thính giả đài VOA. Cảm ơn các anh chị rất nhiều.

Arizona: Xe đâm xuống hồ, chết cả gia đình 5 người

Arizona: Xe đâm xuống hồ, chết cả gia đình 5 người

Nguoi-viet.com

TEMPE, Arizona (AP)Trọn cả gia đình, gồm ba em nhỏ, tử nạn, sau khi chiếc xe loại SUV của họ đâm xuống một hồ nước nằm ở ngoại ô thành phố Phoenix, Arizona. Cảnh sát cho hay, có dấu hiệu cho thấy người cha lái xe đã cố tình lao xe xuống hồ.

 Nhân viên công lực điều tra hiện trường nơi một xe SUV lao xuống hồ Town Lake ở gần Phoenix, Arizona. (Hình: AP/The Arizona Republic)

Bé Nazyiah Baxter, 2 tuổi, mới đầu được đưa vào bệnh viện trong tình trạng nguy kịch nhưng sau đó qua đời trong cùng ngày.

Nhân viên cấp cứu được gọi đến hồ Tempe Town Lake vào khoảng 12 giờ 15 sáng Chủ Nhật, sau khi người qua đường trông thấy chiếc SUV lao xuống hồ.

Phát ngôn viên cảnh sát Tempe, ông Michael Pooley, nói: “Cảnh sát có mặt tại hiện trường thật nhanh. Ba người lập tức nhảy xuống nước, một ngư dân cũng nhảy theo.”

Cảnh sát đưa lên khỏi nước hai bé, Zariyah Baxter, 1 tuổi, và Nazyiah.

Kế đó họ vớt ông Glenn Edward Baxter, 27 tuổi, và bà Danica Baxter, 25 tuổi.

Ông Pooley cho biết tiếp, “người của chúng tôi làm hô hấp nhân tạo cho đến khi xe cứu thương đưa cả bốn nạn nhân vào bệnh viện,” nơi hai phụ huynh và bé Zariyah từ trần.

Tại bệnh viện, các nhà điều tra trong khi làm việc để nhận diện bà Danica Baxter; bấy giờ mới phát giác còn thiếu một em thứ ba là bé trai Reighn Baxter, 3 tuổi.

Cảnh sát trở lại chiếc xe còn chìm dưới nước và tìm thấy xác bé trai lúc 10 giờ sáng, đang còn ngồi trong ghế dành cho trẻ em ở băng sau.

Cảnh sát hiện chưa rõ nguyên nhân đưa đến tai nạn.

Được biết hồ Tempe Town Lake nằm trong thành phố đại học nơi có trường Arizona State University, Tempe. Town Lake là hồ nhân tạo khánh thành từ năm 1999, có thể chứa được đến 1 tỉ gallon nước. (TP)

Đại Hội Mẹ La Vang tại Las Vegas 2015

Đại Hội Mẹ La Vang tại Las Vegas 2015

Ghi ngắn của Đoàn Thanh Liêm

DoanThanhLiemĐại Hội Mẹ La Vang năm 2015 vừa diễn ra trong 3 ngày 16, 17 và 18 tháng Mười tại Đền Thánh Mẹ La Vang nơi thành phố Las Vegas thuộc tiểu bang Nevada. Đây là Đại Hội lần thứ VIII quy tụ đến trên 6,000 giáo dân đến từ nhiều tiểu bang lân cận, đặc biệt là từ California. Nhiều thánh lễ trọng thể đã được liên tiếp cử hành trong Đại Hội với sự chủ tế của Đức Cha Joseph A. Pepe là vị Giám mục sở tại và hai vị Giám mục đến từ Việt nam là Đức Cha Giuse Vũ Văn Thiên giáo phận Hải Phòng và Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống giáo phận Phan Thiết. Với sự đồng tế của trên 30 vị Linh mục đến từ nhiều địa phương ở hải ngọai cũng như ở Việt nam.

Chủ đề của Đại Hội năm nay là: “Cùng Mẹ Sống Chứng Nhân Hy Vọng”. Chủ đề này đã được phản ánh thật rõ nét trong các bài thuyết giảng tại buổi lễ cũng như trong các bài thuyết trình tại các cuộc hội thảo. Đặc biệt trong bài thuyết giảng vào Chủ nhật 18 tháng Mười, Đức Cha Vũ Duy Thống đã nhấn mạnh đến sứ mệnh tận tâm phục vụ trong mọi hòan cảnh của các tín hữu Công giáo – để góp phần vào công cuộc rao giảng Tin Mừng của Chúa Kitô tại khắp nơi trên thế giới.

216193-Dai-Hoi-La-Vang-1-4

Cụ thể Đức Cha Thống cũng nhắc đến tinh thần hy sinh của các anh chị thiện nguyện viên trong Ban Ẩm Thực để phục vụ các bữa ăn cho tòan thể cộng đồng hành hương – mà tổng số lên đến năm sáu ngàn người trong suốt 3 ngày của Đại Hội – cũng như của rất nhiều em trong tổ chức Thiếu Nhi Thánh Thể, các Nữ Tu và các thành viên của Hội Đồng Mục Vụ đã không quản ngại công lao khó nhọc trong việc bảo đảm trật tự vệ sinh cũng như giữ được bàu không khí trang nghiêm đạo đức trong suốt các buổi lễ và hội thảo.

Cũng nên ghi thêm là các ca đòan từ nhiều giáo xứ ở xa như từ California cũng đã liên kết với nhau thành một ca đòan tổng hợp với số ca viên lên tới 50 – 60 người. Các thành viên đều được tập luyện riêng với nhau trong từng ca đòan cơ hữu của mình theo các bài hát đã được thỏa thuận chọn lựa từ trước – nhờ vậy mà đến khi các đơn vị này ráp nối lại chung với nhau thì mới đạt được sự ăn ý nhịp nhàng với nhau trong một ban hợp ca duy nhất.

Dai-Hoi-La-Vang-2-4

So với Đại Hội Thánh Mẫu được tổ chức vào đầu tháng 8 mỗi năm tại Missouri, thì Đại Hội La Vang tại Las Vegas vừa mới mẻ, nhỏ bé và khiêm tốn hơn nhiều. Nhưng nếu ta chú ý đến quá trình thành lập và phát triển của Đền Thánh Mẹ La Vang Las Vegas, thì từ một nơi trước đây là khu đất hoang do các thành phần vô gia cư chiếm đóng gây tình trạng mất an ninh lộn xộn hỗn tạp với nạn ma túy, cướp bóc hòanh hành mà nay – do cố gắng kiên trì của tu sĩ và giáo dân Việt nam trong vòng chua đày 20 năm qua – chúng ta đã có một cơ sở truyền giáo thật có triển vọng tốt đẹp như ta thấy giữa vùng đất xưa kia là sa mạc của tiểu bang Nevada này.

Một phần do vị trí của Las Vegas tương đối gần gũi với California là nơi có rất đông giáo dân ở cả hai khu vực phía bắc như San Jose, San Francisco và khu phía nam như Orange County, San Diego – mà đi xe đến viếng Đền Thánh Mẹ La Vang thì chỉ mất chừng 6 – 7 giờ, nên nhiều bà con có thể đi lại thuận tiện dễ dàng – nhất là đối với các vị cao niên với sức khỏe yếu kém không thể đi đường quá xa xôi mệt nhọc được. Thứ nữa là vào giữa tháng Mười, thì khí hậu tại Las Vegas vào mùa thu đã mát dịu nhiều, chứ không còn nóng bức như vào mùa hè với nhiệt độ oi ả nóng bức lên đến trên 100 độ F nữa.

Dai-Hoi-La-Vang3

Mặt khác nữa, đó là khách hành hương có thể nghỉ ngơi tại các khách sạn tương đối tiện nghi với giá thật nhẹ nhàng, đặc biệt dành cho các tập thể. Điển hình là có đến mấy chục xe bus lọai lớn cỡ 50 chỗ ngồi do các đòan thể như Hội Cao Niên, Liên Minh Thánh Tâm, Legio v.v… tổ chức, thì năm nào cũng có rất đông giáo dân từ California hưởng ứng tham gia. Đó là chưa kể đến con số hàng mấy trăm những xe hơi cá nhân do các gia đình tự tổ chức riêng với nhau nữa.

Rõ ràng là cộng đòan tương đối nhỏ bé khiêm tốn với chưa đến một ngàn gia đình tín hữu của Giáo xứ Mẹ La Vang tại Las Vegas (cả hai đều viết tắt là LV cả, nên thật dễ nhớ) – mà đã có những cố gắng hy sinh vượt bậc để tổ chức được một Đại Hội Thánh Mẫu hàng năm rất là thành công có sức thu hút được nhiều ngàn khách hành hương từ khắp nơi đến tham dự – như trong Đại Hội lần thứ VIII năm 2015 này.

Và đó cũng là một điểm son rất đáng phấn khởi, là niềm hy vọng tươi sáng cho tòan thể đại gia đình công giáo Việt nam ở hải ngọai – đặc biệt là ở phía bờ biển miền Tây (West Coast) của nước Mỹ vậy./

Costa Mesa California, ngày 19 tháng Mười 2015

Đoàn Thanh Liêm

Cô gái Việt Nam ơi!

Cô gái Việt Nam ơi!
Từ thuở sơ sinh lận đận rồi,
Tôi biết tình cô u uất lắm,
Xa nhau đành chỉ nhớ nhau thôi.

Cô chẳng bao giờ biết bướm hoa,
Má hồng mỗi tiết mỗi phôi pha,
Khi cô vui thú, là khi đã
Bồng bế con thơ, đón tuổi già.

Cô gái Việt Nam ơi!
Ngọn gió thời gian đổi hướng rồi,
Thế hệ huy hoàng không đủ xóa
Nghìn năm vằng vặc ánh trăng soi.

Tôi đến đây tìm lại bóng cô,
Trở về đường cũ, hái mơ xưa,
Rau sam vẫn mọc chân rào trước,
Son sắt, lòng cô vẫn đợi chờ.

Dải lúa cô trồng nay đã tươi,
Gió xuân ý nhị vít bông cười…
Ai hay lòng kẻ từng chăm lúa,
Trong một làng con, đã héo rồi!

Cô gái Việt Nam ơi!
Nếu chữ hy sinh có ở đời,
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi.

HỒ DZẾNH (1916-1991)

Từ Nghĩa trang Quốc gia Arlington Hoa Kỳ nghĩ về chiến tranh VN

Từ Nghĩa trang Quốc gia Arlington Hoa Kỳ nghĩ về chiến tranh VN

Hoà Ái, phóng viên RFA
2015-10-20

Nghĩa trang Quốc gia Arlington Hoa Kỳ

Nghĩa trang Quốc gia Arlington Hoa Kỳ

AFP

<

Nghĩa trang Quốc gia Arlington tại Washington DC hiện là nơi yên nghĩ của hơn 400 ngàn tử sĩ và người thân của họ. Những người lính này không chỉ ngã xuống vì lý tưởng tự do của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ mà còn đã hy sinh cho nền hòa bình, dân chủ của thế giới. Vào hôm 17/10/2015, một phái đoàn người Mỹ gốc Việt viếng thăm nghĩa trang này. Hòa Ái ghi nhận cảm xúc của những người có mặt trong lần “Tảo mộ Mùa thu” năm nay.

Hòa vào dòng người đông đúc đến thăm Nghĩa trang Quốc gia Arlington trong một ngày cuối tuần đầu mùa Thu năm 2015, nhiều gương mặt trong phái đoàn người Mỹ gốc Việt bùi ngùi xúc động. Họ chậm rãi từng bước chân xuyên qua các dãy mộ thẳng tắp với lòng tri ân sâu sắc những người lính đã bỏ mình nơi trận địa khắp thế giới vì cuộc sống thanh bình của nhiều người, trong đó có chính họ. Họ lặng lẽ viếng ngôi mộ tập thể có mộ bia với tên của các binh sĩ Hoa Kỳ và những người lính thuộc QLVNCH đã hy sinh trong một tai nạn trực thăng tại chiến trường miền Nam VN vừa tròn đúng 50 năm.

“ Hôm nay, các cộng đồng, các cô chú bác đến viếng thăm nghĩa trang này, tôi rất cảm ơn đã nhớ và đến thăm con tôi. Một chút nào hồi tưởng lại việc làm có ý nghĩa của một chiến sĩ VN mà chết đi để lại tiếng thơm cho cộng đồng mình. Và đối với những người lính thì đó là một danh dự, sự tự hào của người VN rất kiên cường, bất khuất

Thân mẫu của Hạ sĩ TQLC Bình Lê”

Cựu Trung tá Hải quân Hoa Kỳ Tuấn Nguyễn, đại diện Ban tổ chức cho Đài ACTD biết Hội Quân Nhân Mỹ gốc Việt và cộng đồng người Việt từ các tiểu bang duy trì viếng thăm “Tảo mộ Mùa thu” hằng năm ở Nghĩa trang Quốc gia Arlington để tri ân và nhắc nhở những thế hệ người Mỹ gốc Việt tiếp nối về các anh hùng thuộc QLVNCH và Quân lực Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh VN cũng như những binh sĩ Mỹ gốc Việt đã ngã xuống ở chiến trường Afghanistan và Iraq.

Lần theo bước chân của phái đoàn người Mỹ gốc Việt, chúng tôi dừng lại ở phần mộ của các chiến sĩ gốc Việt đã tử nạn ở mặt trận các quốc gia Trung Đông. Thân mẫu của Hạ sĩ Thủy quân Lục chiến Bình Lê chia sẻ cảm xúc của bà trong lần viếng mộ đứa con trai duy nhất đã ra đi vĩnh viễn khi tuổi đời còn rất trẻ:

“Hôm nay, các cộng đồng, các cô chú bác đến viếng thăm nghĩa trang này, tôi rất cảm ơn đã nhớ và đến thăm con tôi. Một chút nào hồi tưởng lại việc làm có ý nghĩa của một chiến sĩ VN mà chết đi để lại tiếng thơm cho cộng đồng mình. Và đối với những người lính thì đó là một danh dự, sự tự hào của người VN rất kiên cường, bất khuất. Con tôi được chôn trong Nghĩa trang Quốc gia này, tôi cảm thấy nơi yên nghỉ của con mình rất bình yên và đẹp đẽ. Tôi cứ nghĩ con tôi ở trong 1 ngôi nhà mới. Thỉnh thoảng tôi đến thăm và hôn con tôi. Và thế là tôi sống”.

Trong lần viếng Nghĩa trang Quốc gia Arlington năm nay, một số người trong phái đoàn Người Mỹ gốc Việt còn dành thời gian đến viếng khu an nghĩ của các chiến sĩ Bắc-Nam Hoa Kỳ trong cuộc Chiến tranh giữa các Tiểu bang hay còn gọi là “Nội chiến Hoa Kỳ” từ năm 1861 đến năm 1865. Phía sau Nhà tưởng niệm Tướng Robert Lee chỉ huy Quân đội Phương Nam là ngôi mộ của các chiến sĩ vô danh, nơi chôn chung hài cốt của 2111 tử sĩ cả 2 miền Nam-Bắc. Tại lô 16 trong nghĩa trang này còn có gần 500 mộ phần của các tử sĩ miền Nam. Và tại đây, tượng đài Tưởng niệm những người lính miền Nam-Confederate Memorial được xây vào năm 1914. Trong ngày khánh thành có sự hiện của Đại tá Robert E. Lee, cháu nội của vị “bại Tướng” Lee, người đã thảo lá thư ngỏ ý kết thúc cuộc nội chiến Hoa Kỳ. Các lá cờ của phe “thua trận” miền Nam vẫn tung bay tại nghĩa địa và các khu lưu niệm trong ngày Chiến sĩ Trận vong Hoa Kỳ hằng năm.

“ Cuộc nội chiến Hoa Kỳ nổi tiếng khắp thế giới là hậu quả của nó ít có nước nào theo được. Là vì sau cuộc nội chiến, người sống không bị trả thù và người chết cũng được đối xử bình đẳng. Tất cả các nghĩa trang của miền Nam được tu bổ, được kính trọng. Và đặc biệt tại Nghĩa trang quốc gia Arlington, những tử sĩ của miền Nam được chia sẻ phần đất với những tử sĩ của miền Bắc

Thiếu tá Đạt Nguyễn/QLVNCH”

Có mặt trong Nghĩa trang Quốc gia Arlington, cựu Thiếu tá Đạt Nguyễn, thuộc QLVNCH bày tỏ cảm nhận của ông về sự xúc động khi nghĩ đến nơi an nghĩ vĩnh hằng của các tử sĩ Nam-Bắc trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ hồi giữa thế kỷ 19:

“Cuộc nội chiến Hoa Kỳ nổi tiếng khắp thế giới là hậu quả của nó ít có nước nào theo được. Là vì sau cuộc nội chiến, người sống không bị trả thù và người chết cũng được đối xử bình đẳng. Tất cả các nghĩa trang của miền Nam được tu bổ, được kính trọng. Và đặc biệt tại Nghĩa trang quốc gia Arlington, những tử sĩ của miền Nam được chia sẻ phần đất với những tử sĩ của miền Bắc. Đó là bước đầu và chính là chìa khóa của sự hòa hợp hòa giải dân tộc mà họ chỉ tốn một thời gian 18 năm để hàn gắn tất cả những đổ vỡ do cuộc nội chiến mang lại”.

Nghĩa trang Quốc gia Arlington mở cửa suốt 365 ngày trong năm để đón những dòng người đến viếng. Ngôi mộ các chiến sĩ vô danh cả 2 miền Nam-Bắc trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ có lẽ được viếng thăm nhiều nhất. Khách viếng nghĩa trang không tìm hiểu binh lính 2 miền Nam-Bắc đã thắng và thua như thế nào nhưng họ đề cao tinh thần nhân văn và tính nhân bản của người dân Mỹ luôn ghi ơn các tử sĩ đã đổ xương máu trong cuộc nội chiến vì 1 đất nước Hoa Kỳ hùng cường trên thế giới của ngày hôm nay.

Nhiều người Mỹ gốc Việt viếng thăm Nghĩa trang Quốc gia Arlington chạnh lòng nhớ về tượng “Thương Tiếc” dựng trước cổng Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa bị kéo đổ sau ngày 30/4/1975. Nghĩa trang này là nơi yên nghĩ của hàng chục ngàn binh sĩ miền Nam. Và dù chiến tranh VN đã kết thúc 40 năm qua nhưng sự khác biệt giữa Nghĩa trang Liệt sĩ TP.HCM với Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa còn quá xa. Họ ngậm ngùi tự hỏi phải chăng đến khi mộ phần của những người lính Nam-Bắc VN không còn sự khác biệt thì đó là thời điểm trang sử mới hòa hợp hòa giải dân tộc được mở ra cho những người còn sống?

KHÔNG GIAN CHỮA LÀNH CỦA THINH LẶNG

KHÔNG GIAN CHỮA LÀNH CỦA THINH LẶNG

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Quyển sách mới đây của Robyn Cadwallander, “Nữ ẩn sĩ” (The Anchoress) kể về Sarah, một phụ nữ trẻ chọn khép mình khỏi thế giới và sống như một ẩn sĩ (như Julian thành Norwich vậy).  Đây không phải là đời sống dễ dàng và cô sớm ra mình phải đấu tranh với lựa chọn này.  Cha giải tội cho cô là cha Ranaulf, một tu sĩ trẻ, không nhiều kinh nghiệm.  Mối liên hệ giữa họ cũng không dễ dàng. Cha Ranaulf là người ngại ngùng và ít nói nên Sarah thường thấy chán khi gặp cha, cô muốn cha nói thêm, muốn cha đồng cảm hơn và đơn giản muốn cha hiện diện rõ hơn với cô.  Họ thường xuyên bàn luận, hy ít nhất là Sarah thường cố moi thêm lời nói và đồng cảm từ cha Ranaulf.  Nhưng bất kỳ lúc nào cô cố gắng làm thế, cha Ranaulf đều gián đoạn buổi xưng tội và rời đi.

Một ngày nọ, sau một buổi xưng tội cực kỳ đáng chán khiến cha Ranaulf cứng lưỡi và Sarah giận dữ, cha chỉ đóng cánh cửa tòa giải tội, một phản ứng thông thường của cha khi căng thẳng, khi có điều gì đó trong cha không muốn cho cha bỏ đi.  Cha biết là mình phải cho Sarah một điều gì đó, nhưng cha không có lời lẽ nào để làm được.  Và, khi không có gì để nói ngoài cảm giác mình buộc phải rời đi, cha đơn giản là ngồi đó trong thinh lặng.  Ngược đời thay, sự bất lực câm nín của cha lại đạt được một điều mà những lời nói của cha không làm được, đó là một bước đột phá.  Lần đầu tiên, Sarah cảm thấy sự quan tâm và đồng cảm của cha, cũng như sự hiện diện của cha với mình.

CHUA LANHVà lời văn của Cadwallander mô tả đoạn này như sau:

“Cha hít một hơi thật sâu rồi từ từ chậm rãi thở ra.  Cha không còn điều gì để nói, nhưng cha không để cô ấy ở đây một mình trong tâm trạng cay đắng được.  Vậy nên cha vẫn ngồi lại trong tòa giải tội, cảm nhận sự trống trải của phòng xưng tội quanh mình, cảm nhận sự thất bại của việc học, của những từ ngữ mà cha đã ghi khắc trong đầu, trang này đến trang khác, tầng này đến tầng khác.  Cha không thể mở miệng, nhưng cha có thể ở lại, và cha làm thế.  Cha bắt đầu cầu nguyện trong thinh lặng, nhưng không biết bắt đầu thế nào, không biết phải xin gì.  Cha bỏ cuộc, và thở chậm rãi từ từ.

Sự thinh lặng bắt đầu như một điều gì đó thật vụn vặt và đáng sợ, đậu trên rìa cửa sổ tòa giải tội, nhưng khi cha Ranaulf ngồi đó trong tĩnh mịch, nó dần dần, rất chậm rãi, lớn lên, và tràn khắp gian phòng, cuộn chặt quanh cổ và vòng lấy lưng cha, cuốn quanh đầu gối và đôi bàn chân cha, tràn lên các bức tường, lấp đầy các ngóc ngách, len lỏi vào cả các khe tường đá.…  Sự thinh lặng trườn qua các khe hở và len vào cả gian phòng bên trên.  Dường như nó thật êm ái mềm mại.  Nó tràn ra và vững vàng, nó chiếm lấy mọi khoảng không.  Cha Ranaulf ngồi bất động, không nhúc nhích, cha đã mất hết mọi khái niệm về thời gian.  Mọi sự cha biết là một có một phụ nữ đang cách cha một sải tay, trong bóng tối, và đang thở.  Vậy là đủ.

Khi ánh nến trong gian phòng mờ dần đi, cha nhúc nhích, cha nhìn vào bóng tối.

‘Chúa ở cùng con Sarah.’ ‘Và ở cùng cha.’ Giọng của cô tươi sáng hơn, thân thiết hơn.”

Có một ngôn ngữ vượt ngoài ngôn từ.  Sự thinh lặng dành chỗ cho ngôn ngữ đó.  Đôi khi chúng ta cảm thấy bất lực không thể nói được gì có ý nghĩa, chúng ta phải đi trở vào sự vô tri và vô lực, nhưng khi ở lại trong tình trạng này, sự thinh lặng tạo một không gian cần thiết cho một điều thâm sâu hơn xuất hiện.  Nhưng thường, lúc đầu, thinh lặng thật không dễ dàng gì.  Nó bắt đầu “như một sự đáng sợ vụn vặt” và dần lớn lên thành hơi ấm xua tan đi căng thẳng.

Nhiều lần chúng ta không có lời nào đáng để nói.  Chúng ta, ai cũng cảm nghiệm việc đứng bên giường người hấp hối, tham dự một đám tang, đứng trước một tâm hồn tan vỡ, hay rơi vào thế bí khi cố gắng vượt qua tình huống căng thẳng trong quan hệ, lại thấy mình cứng lưỡi, không có từ nào để nói, rồi cuối cùng rơi vào thinh lặng, biết rằng nói bất kỳ điều gì cũng chỉ làm trầm trọng thêm nỗi đau đớn này.  Trong tình thế bất lực đó, bị hoàn cảnh làm câm nín, chúng ta học được một điều: Chúng ta không cần phải nói gì, chỉ cần ở đó.  Sự hiện diện thinh lặng, bất lực của chúng ta là điều đang cần.

Và tôi phải công nhận, đây không phải là điều dễ học đối với tôi, không phải là điều theo khuynh hướng của tôi, và thực sự nhiều khi tôi không làm thế khi đáng ra phải làm.  Cho dù tình thế có ra sao đi nữa, tôi luôn cảm thấy mình phải nói lên một điều gì đó có ích, một điều gì đó giúp giải quyết căng thẳng này.  Nhưng tôi đang học được rằng, hãy để sự bất lực lên tiếng, và cũng học được rằng điều này thật mạnh mẽ biết bao.

Tôi nhớ có lần, khi còn là một linh mục trẻ, đầy kiến thức học được trong chủng viện và háo hức chia sẻ kiến thức đó, tôi ngồi trước một người có tâm hồn đang bị tan vỡ, tôi cố gắng tìm câu trả lời và thấu suốt trong đầu mình, tôi không tìm thấy gì, cuối cùng tôi xin lỗi thú nhận sự bất lực của tôi với người đối diện.  Câu trả lời của cô làm tôi kinh ngạc, và dạy tôi một điều mà tôi không hề hay biết trước đây.  Cô đơn giản nói rằng: Sự bất lực của cha là món quà quý báu nhất cha có thể chia sẻ với con ngay bây giờ.  Con cám ơn cha.  Không một ai kỳ vọng bạn có chiếc đũa thần để chữa lành những phiền muộn của họ.

Đôi khi, thinh lặng lại thành một sự êm ái mềm mại len lỏi và chiếm lấy, lấp đầy mọi khoảng không

Rev. Ron Rolheiser, OMI

: ngocnga_12 gởi

NHẪN

NHẪN

Người biết nhẫn là người hoà hiệp
Sống bình tâm ăn nói cũng nhẹ nhàng
Họ luôn luôn thanh thản trước nguy nan
Và lịch sự lẹ làng ngoài xã hội

Người biết nhẫn làm trọng tài lúc rối
Chẳng giận hờn trách móc kẻ chung quanh
Nét căm thù không bộc lộ phát nhanh
Nói hoà nhã vui cùng niềm vui bè bạn
Người biết nhẫn sống hài hòa bình thản
Biến những lời gay gắt trở thành không
Biết can ngăn khi sự việc nổ phồng
Hoá giận dữ hoà đồng cho vui vẻ
Người biết nhẫn không bao giờ chia rẽ
Đưa bạn bè xích lại sát gần nhau
Chỉ cho nhau sai trái buổi ban đầu
Hay an ủi vỗ về người lầm lỗi
Người biết nhẫn trong cuộc chơi mở lối
Với tấm lòng hàn gắn kịp can ngăn
Sống hiếu đời hoà giải mọi lỗi lầm
Để tình bạn đời đời thêm gắn bó
Người biết nhẫn là người không thách đố
Mọi ưu phiền giải tỏ biến thành vui
Đem tấm lòng rộng mở với mọi người
Không chèn ép biết hoà mình chung cảnh ngộ ….!

Anh chi Thu Mai goi

Thông báo về bác Alan

Thông báo về bác Alan

ALANKính thưa quí vị,

Chúng tôi rất đau đớn loan báo để qui vị cùng biết là chồng và trưởng nam của gia đinh chúng tôi, Ái, ALAN PHAN đã được đưa vào cấp cứu tại bệnh viện Fountain Valley tối thứ Ba ngày 14 tháng 10 trong tình trạng hôn mê. Dù đã được cứu chữa, Ái vẫn không tỉnh lại và bác sĩ cho biết không có hy vọng hồi sinh nên gia đình Ái (vợ Ái(Melissa) và hai con của Ái) đã chấp nhận rút ống dưỡng khí vào ngày thứ hai này 19 tháng 10. Theo qui định của nhà thương, ICU chỉ cho vợ con được vào.

Vì vậy, sau đó khi Ái (ALAN) được đưa về nhà quàn, gia đình chúng tôi sẽ xin thông báo sau để quí vị đến viếng lần cuối.

Admin

Ngày 18/10/2015

————————————

Kính gửi BCA,

Vừa qua bác Alan có trở bệnh và hiện nay tình trạng sức khỏe của bác đang diễn ra rất xấu. Ngay lúc này, gia đình và bạn bè của bác vẫn đang cầu nguyện cho bác, do đó, dù là một sự hy vọng từ phép màu, nhưng cũng mong mọi người hãy chung tay nguyện cầu cho bác mau bình phục và sớm trở lại với trang Gocnhinalan.com thân thuộc của chúng ta.

Chân thành cám ơn.

Admin

http://www.gocnhinalan.com/bai-tieng-viet/thong-bao-ve-bac-alan.html

Ông Robert Funseth và ngưòi tù chính trị Việt nam.

Ông Robert Funseth và ngưòi tù chính trị Việt nam.

Tác giả: Phùng văn Phụng 

Theo tin từ báo Người-việt :

“Ông Robert L. Funseth, một nhà ngoại giao kỳ cựu của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và được xem như là một ân nhân của chương trình H.O vừa mất sáng nay, Thứ Sáu ngày 25 Tháng Chín, 2015 lúc 10 giờ 20 tại bệnh viện ở Arlington, Virginia. Hưởng thọ 89 tuổi”.

“Ông bị té từ ngày Labor Day, té trong nhà, không ai biết. Vài ngày sau thân nhân mới biết ra, và cảnh sát đến nhà, mở cửa. Vì hàng xóm không thấy báo picked up trước nhà nên hàng xóm mới gọi con cháu của ông ở xa và họ kêu cảnh sát đến, cảnh sát mở cửa thì mới thấy ông té trong nhà chắc cũng 1,2 ngày rồi.”

Funsett

 

 

 

 

Di ảnh ông Robert  L. Funseth

Ông Robert Funseth từng giữ chức Phụ tá Ngoại trưởng Hoa Kỳ và là Phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trong thời chiến tranh Việt Nam.

Với nỗ lực không ngừng của ông Funseth, sau bảy năm, kể từ năm 1982, chính phủ Hoa Kỳ và nhà cầm quyền Việt Nam đã ký xong bản thỏa hiệp vào ngày 30 Tháng Bảy năm 1989 đồng ý đưa 300,000 tù nhân chính trị, những cựu quân nhân VNCH cùng gia đình họ, đến định cư tại Hoa Kỳ theo Chương trình H.O (Humanitarian Operation).

Ông là người “được trao trách nhiệm đàm phán với giới lãnh đạo Hà Nội để yêu cầu thả tù chính trị và cho họ cùng với gia đình sang Hoa Kỳ định cư (báo Nguoi-viet)

Ông Robert Funsett nhớ lại: Khi tôi được đề cử về làm việc cho văn phòng Đặc trách Tỵ Nạn của Bộ Ngoại Giao kế hoạch cứu tù chính trị được đạt trong khuôn khổ của Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự và nằm dưới sự hổ trợ của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc .

Năm 1982 tôi gặp ông Trợ Lý Bộ Trưởng Hà Văn Lâu và đưa đề nghị cho thân nhân của những người đang cư ngụ tại Mỹ và thành phần tù chính trị được nộp đơn định cư “

Gặp gỡ rất nhiều lần khác nữa mãi đến ngày Ngày 30/07/1989, Phụ tá Robert Funsett và thứ Trưởng Vũ Khoan ra thông báo chung loan báo hai bên thoả thuận về ” một chương trình tái định cư tại Hoa Kỳ những người được thả ra từ các trại “cải tạo” và gia đình mà có ý muốn di cư sang Hoa Kỳ”

Tâm Tình Tri Ơn

Sau năm 1975, đa số viên chức, quân nhân của Việt Nam Cộng Hòa “thơ ngây” đi trình diện, rồi ở tù khổ sai trong các trại cải tạo miền rừng núi Bắc Việt (Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Hà Giang, Cao Bằng…hay ở trong các miền rừng núi âm u của miền Trung , hay nhiều trại cải tạo ở vùng xa vùng sâu ở miền Nam v.v..). Sống trong trại cải tạo, trong nhà tù của cộng sản, bị đói triền miên, còn phải lao động vất vả cuốc đất, trồng khoai, cày bừa, trồng lúa dưới trời nắng như đổ lửa vào mùa hè, trời lạnh thấu xương dưới những cơn mưa phùn gió bấc hai ba tháng liên tục vào mùa đông, sống chết không biết ngày nào, lúc đó mới biết hy vọng được đi Mỹ từ trong các trại cải tạo là nguồn an ủi vô biên, động viên cho anh em lý do hy vọng để tiếp tục sống.

Đến khi được về với gia đình, họ đâu có được tự do, luôn luôn có người theo dõi, kiểm soát, kềm kẹp .

Mỗi sáng thứ hai phải trình diện công an, trong tuần qua làm gì, gặp ai, nói gì.

Đi đâu khỏi phường, khỏi quận cũng phải xin phép công an.

Khi cần họ bắt chúng tôi, những tù chính trị, đào đất, làm mương, đấp đường đi, cơm nước phải tự túc mang theo .

Nếu không có ông Funsett thì cuộc đời của tù chính trị và con cháu ngày hôm nay sẽ ra sao?

Tất nhiên ai cũng biết là rất khổ sở, con cái không được học hành tới nơi tới chốn. Làm ăn lam lũ, không đủ sống. Còn bị công an theo dõi trông chừng kiểm soát, đâu có làm ăn gì được.

Khó khăn, nghèo đói, khổ sở là tất yếu.

Đa số những tù nhân chính trị có trình độ lớp 11 trở lên vì có Tú Tài I mới được đi sĩ quan Thủ Đức, mang cấp bậc chuẩn úy. Ngày xưa, trước năm 1975 muốn đậu Tú Tài I rất khó khăn thường kết quả các kỳ thi chỉ khoảng 30 phần trăm thi đậu, còn 70% thi rớt.

Thành phần đi tù sau năm 1975 thông thường là thành phần ưu tú của người miền Nam. Thành phần này cộng sản không dung, mà nhà nước cộng sản còn muốn tống xuất tất cả những quân nhân, công chức có trình độ, có khả năng dưới chế độ VNCH ra khỏi Việt Nam (khoảng 300,000 người)

Vì sao vậy? vì họ dùng “ hồng hơn chuyên” hầu như đa số người tài được đào tạo từ chế độ Việt Nam Cộng Hòa hay ở Mỹ, Pháp, Anh, Úc đều bị loại trừ vì nghi ngờ, không tin cậy họ. Thành phần ưu tú này khi ra nước ngoài họ đã đem tài năng, sức lực đóng góp rất nhiều cho các nước mà họ định cư, các nước đã cưu mang họ trong bước đầu khó khăn và con cái của thành phần ưu tú này đã rất thành công trong môi trường mới nếu không tốt nghiệp Đại Học thì cũng làm ăn khá giả hơn so với đất nước mà họ đã sinh ra, đã loại trừ họ, không cho con cái họ học hành vì thuộc thành phần “ ngụy quân, ngụy quyền”.

Còn ở trong nước cùng dòng máu da vàng, cùng ngôn ngữ, cùng huyết thống nhưng do lòng căm thù, nghi ngại họ đã bị phân biệt đối xử, không phải chỉ công chức, quân nhân dưới chế độ cũ mà ngay cả thành phần làm ăn khá giả cũng bị loại trừ bị đánh tư sản và con cháu ba đời của họ cũng bị loại trừ không cho học hành và không được làm nghề nghiệp đúng với khả năng của họ.

Định cư ở đất nước văn minh, họ tìm thấy được sự tự do, bình an và hạnh phúc thực sự vì họ không bị kỳ thị cũng như bị làm khó dễ, kiểm soát, canh chừng như ở Việt Nam.

Khoảng ba trăm ngàn H.O. thành phần ưu tú miền Nam bị tống xuất đi Mỹ chưa kể số người ưu tú khác như kỹ sư, bác sĩ, kỹ nghệ gia, thương gia giỏi thành công ở miền Nam đều tìm các trốn chạy khỏi chế độ cộng sản như vậy có phải :

Đó là một hiện tượng “chảy máu chất xám” vĩ đại chưa từng có bao giờ trong lịch sử Việt nam.

Lòng khoan dung của người Mỹ

Nếu không căm thù lấy sự khoan dung để đối xử với người miền Nam thì ngày nay chắc chắn chẳng có ai sống lưu vong ở nước ngoài, cùng nhau chung lo xây dựng đất nước, tài năng họ được trọng dụng thì ai lại bỏ đi . Nếu học được bài học khoan dung của người Mỹ trong cuộc nội chiến Nam Bắc của Mỹ bắt đầu vào ngày 12 tháng 04 năm1861. Bốn năm sau ngày 9 tháng 04 năm 1865, tướng Lee của miền Nam đầu hàng tướng Grant của miền Bắc. Tướng bại trận và binh lính miền Nam được đối xử tử tế, không có ai bị đi tù mà mồ mả của tử sĩ miền Nam cũng được tôn trọng .

Nếu lấy tình thương đối xử với nhau thay vì lấy căm thù, phân biệt đối xử thì ngày hôm nay đất nước đã phát triển đâu có thua gì Đài Loan, Đại Hàn, Thái Lan…mà sự chia rẻ trong dân tộc cũng đã được hòa giải từ lâu rồi.


Tượng vị tướng Robert E Lee

Tại sao người Mỹ đã đối xử với đối phương có lòng khoan dung và tha thứ như vậy, nhờ đó mà nước Mỹ đã đoàn kết được dân tộc và giữ vai trò lảnh đạo thế giới như ngày hôm nay. Phải chăng họ đã thấm nhuần tinh thần Ki tô giáo: “ Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ đã ngược đãi anh em” (Mt 5 câu 44)

Tác giả: Phùng Văn Phụng 

10/2015

Đọc bài dưới đây mới thấy sự hoà hợp, hòa giải thực sự đúng nghĩa.

Nước Mỹ sau nội chiến và bài học hòa hợp dân tộc của Nguyễn Hòa Bình

Robert Funseth, ân nhân của HO, qua đời ( báo Nguoi-viet.com)

Là người Việt Nam!

Là người Việt Nam!
Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Cách đây khoảng 10 năm, sau một chuyến đi xa, trên đường trở lại California, vợ chồng chúng tôi và hai người bạn đang ngồi chờ đổi máy bay tại phi trường Atlanta, thì bất chợt một ông Việt Nam trung niên, áo vest, thắt cà vạt, tiến về phía ghế ngồi của chúng tôi. Một cách mừng rỡ và vội vã, không kể người trước mặt mình là đàn ông hay đàn bà, quen hay lạ, y thọc tay về phía chúng tôi: – “Các bác là người Việt Nam!” Không đợi câu trả lời, quơ được bàn tay của chúng tôi đưa ra một cách phản xạ, y lắc đấy lắc để.

Phải nói là chúng tôi phản ứng quá chậm hay gần như không có phản ứng gì.

Cho đến lúc người đàn ông lạ mặt này thấy không mấy phấn khởi với cuộc làm quen này, quay lưng đi, chúng tôi vẫn ngồi yên tại chỗ, lặng lẽ và ngao ngán không nói một câu gì. Phải, chúng tôi là người Việt Nam, nhưng cuộc gặp gỡ với một người Việt Nam kỳ này không đem lại điều gì hứng thú cho chúng tôi, qua ngôn ngữ và cách xử thế, chúng tôi thấy có một khoảng cách khá lớn, và cũng là người Việt Nam, nhưng tôi cảm thấy y không giống tôi, ngoài một thứ ngôn ngữ đã khá dị ứng, con người này như đến từ một xứ sở nào khác.

Như thế, ít ra tôi cũng đã hiểu vì sao một người Tàu ở Hồng Kông trước năm 1999 chỉ nhận họ là người Hồng Kông, hay sau 1949, những người Tàu ở Đài Loan, cho rằng mình là người Đài Loan (“Trung Hoa Dân Quốc” hay “Trung Hoa Đài Bắc”) để khỏi nhầm với Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Hoa lục địa hay Cộng Sản Trung Hoa). Hẳn không một người Nam Hàn nào thích hiểu lầm họ là người Bắc Hàn (được Việt Nam gọi là Triều Tiên) và trước đây giữa người Đông và người Tây Đức mặc dầu nguồn gốc của họ là người Đức. Người ta không thể phủ nhận nguồn gốc của mình nhưng có thể phủ nhận chính thể đương thời và lựa chọn quốc tịch cho mình.

Chỉ có hai tiếng Bắc Kỳ thôi, và chỉ trong vòng 30 năm, người Việt Nam cũng đã chọn chỗ đứng rõ ràng khi phân biệt ai là Bắc Kỳ cũ, Bắc Kỳ mới, ai là Bắc Kỳ “chín nút” (54), ai là Bắc Kỳ 75! Nếu trong câu chuyện nói, còn có chút gì kỳ thị, thì chúng ta cũng không nên trách, đây không phải là chuyện đoàn kết dân tộc, mà là chuyện văn hóa và chính kiến, nó phát xuất từ những khổ đau và bất hạnh mà con người ta phải gánh chịu, qua những thăng trầm của lịch sử.

Tôi là người Việt Nam, và những ngày còn nhỏ, tôi vẫn thường hãnh diện mình là người Việt Nam, với “bốn nghìn năm văn hiến,” “con Rồng cháu Tiên,” lớn lên trong thời loạn lạc, người chẳng ra người, ta lại được hãnh diện thêm vì quê hương mình “rừng vàng biển bạc,” thủ đô “là đỉnh cao trí tuệ của loài người,” “đánh thắng ba đế quốc sừng sỏ!” “mỗi buổi sáng thức dậy ước mơ mình trở thành một người Việt Nam,” “Việt Nam dân chủ gấp vạn lần các nước Tây phương,” “vị thế Việt Nam tiếp tục được nâng cao trên trường quốc tế!” thì không còn gì để có thể hãnh diện hơn được nữa!

Gom tất cả tinh hoa của người Việt trên thế giới để làm những tác phẩm vĩ đại để ca tụng con người Việt Nam là điều không khó, vì những khuôn mặt thành đạt vẻ vang này ở nước ngoài, sau ngày phải bỏ nước ra đi, chúng ta không chỉ có hàng chục nhân vật đủ làm một tác phẩm mà con số này có thể lên đến hàng trăm, hàng nghìn người. Nhưng nếu tập họp họ lại, xếp hàng ngay ngắn như trong một cuộc “diễu hành,” có một mỹ nhân mặc quốc phục dẫn đầu cầm một tấm bảng lớn mang dòng chữ “Tôi là người Việt Nam” thì điều này quả còn quá nhiều gượng ép.

Đồng ý nguồn gốc họ đều là những người Việt Nam, có người bỏ nước ra đi từ ngày chủ thuyết Cộng Sản đến Việt Nam, nhưng cũng có người sinh ra ở nước ngoài, mỗi người có một cuộc đời, hoàn cảnh, tình cảm và chính kiến khác nhau. Nếu có ai hỏi họ: – “Ông bà là người Việt Nam?” thì câu trả lời sẽ là: – “Phải, tôi là người Việt Nam! Nhưng đó là câu chuyện cách đây 40 năm. Đó là một câu chuyện dài!”

Trong chúng ta, ai cũng có một câu chuyện dài phải được kể lại, hay bây giờ mới được kể lại!

Những nhà tuyên truyền thường nhắc đến tình tự dân tộc, biểu tượng từ một tiếng đàn bầu, một tiếng hò trên sóng nước để gợi cho con người nhớ đến quê hương. Người ta lập lại mãi câu nói “quê hương chỉ một” hay anh em đi xa là “khúc ruột ngàn dặm” và không ngừng kêu gọi một sự trở về tha thiết, – “Nếu đi hết biển thì đến đâu hở mẹ!”- “Đi hết biển thì sẽ trở về làng cũ!” Vì sao con chim phải bay trở lại cái lồng đã giam hãm nó, có khi là cái thòng lọng hay cái cũi nhốt của một con vật. Đó là con người của tự do, có ý thức, không phải chiếc xe lửa chạy lui tới trên đường ray.

Có người đem chuyện người Việt lưu lạc của Kiến Bình Vương Lý Long Tường (1136-1175) là con thứ sáu của vua Lý Anh Tông, đã cùng họ hàng vượt biển Bắc vào đầu thế kỷ thứ 13 vì bị phe cánh Trần Thủ Độ hãm hại, sau đó trôi giạt đến Cao Ly, để nói chuyện người Việt trở về tìm lại nguồn cội. Xin quý vị yên tâm đi, không cần phải nói chuyện đạo lý, nhân nghĩa, Cộng Sản thôn tính miền Nam mới nửa thế kỷ, dòng dõi Lý Long Tường bỏ nguồn cội đã bảy tám thế kỷ này. Thời gian hãy còn quá sớm để cho những người Việt lưu lạc tha phương trở về.

Hình ảnh tìm về cội nguồn hẳn là đã được ca ngợi rất nhiều.

Truyền thống dân gian cho rằng loài cá hồi trở về đúng nơi chúng được sinh ra để đẻ trứng, nhưng cuộc nghiên cứu đã cho thấy hành động quay lại nơi ra đời này đã được thể hiện phụ thuộc vào ký ức khứu giác và thói quen, hẳn không hề có ý nghĩa về cội nguồn. Và trong một câu chuyện khác, hàng năm vào mùa Xuân, những đàn én từ phương Nam đã bay trở về nhà nguyện San Juan Capistrano (California) và về phía Nam Mỹ là để trốn mùa Đông giá rét. Đến mùa nắng ấm, chúng lại bỏ gác chuông nhà thờ để ra đi, không hề có có ý niệm trở về hay qui cố hương.

Nếu câu hỏi đặt cho một người và câu trả lời dành cho một người, nó mang một ý nghĩa khác, nhưng khi chúng ta tập trung họ lại, cố tình hướng dẫn họ thành một đám đông và mở đường, sắp xếp cho họ có chung một câu trả lời theo dụng ý của những nhà đạo diễn, tôi cho đây là điều thiếu đạo lý.

Vả lại, điều dễ thấy rõ, hàng chục người vừa tuyên bố mình là người Việt Nam ở đây đều nằm trong 3 triệu người, bỏ nước ra đi, bằng lý do này hay lý do khác; họ không có nổi một tờ giấy tùy thân hay một “sổ đăng ký hộ khẩu thường trú” của chế độ đương thời, vậy thì họ là ai, người Việt nhưng người Việt nào? Câu trả lời gần như được xếp chung một loại “thấy sang bắt quàng làm họ!” Quơ vào những cái quả thực không phải của mình. Mục đích của người làm phim đã quá rõ ràng. Chẳng qua là khán giả của loại chương trình này quá dễ dãi, họ dễ chấp nhận một cái vui nhỏ, một cái cười cợt dính ngoài môi, để quên đi những điều cốt lõi mà họ đang được mời tham dự, mà nội dung đã được tính toán, có dụng ý chính trị, của ông chủ chi tiền.

Phải chăng trong không khí rộn ràng của màu sắc, âm nhạc, da thịt, phấn son, ít ra trong một thời gian ngắn người ta quên được những khuôn mặt Việt Nam cần phải được cởi áo che tại Nhật, hàng nghìn khuôn mặt phụ nữ khổ đau xấu hổ không dám nhìn ai trên quê hương nhầy nhụa hôm nay.

Rõ ràng là chế độ tham lam, ham muốn chạy theo những thành công nhất thời của mỗi con người không phải trong xã hội của mình để áp đặt hai chữ Việt Nam, mà không chịu xây dựng được một con người tử tế ngay trong xã hội của mình.

Chúng ta hãy nghe phát biểu của ông Lê Kiên Thành, con trai ông Lê Duẫn, cố bí thư thứ nhất đảng CSVN, trên vietnam.net trong vài ngày gần đây: “…tôi cứ băn khoăn mãi. Hôm trước mở báo ra tôi cứ bị ám ảnh hình ảnh hai ông già đi ăn trộm gà bị bắt, bị đánh hộc máu mồm ra, rồi bắt ngậm con gà chết. Tôi cứ bàng hoàng, tự hỏi: ‘Chẳng lẽ đây là người Việt Nam chúng ta?’”

Văn chương về nỗi đau con người giành Nobel 2015

Văn chương về nỗi đau con người giành Nobel 2015

RFA

Trong bối cảnh Nga đang căng thẳng với Mỹ, cùng nhiều nước Châu Âu, không ít người tin rằng việc trao giải Nobel Văn Chương 2015 cho bà Svetlana Alexievich là có động cơ chính trị. Nhưng bên cạnh đó, rất nhiều người được biết về bà Svetlana Alexievich, đã hiểu rằng cuối cùng là Nobel cũng đã chọn đúng được một con người đã âm thầm cống hiến cho các số phận và biên niên sử về đổ nát và cai trị trên thế giới này.

Và có lẽ để tránh gây ra những tranh cãi không cần thiết, tên của bà Svetlana Alexievich chỉ bất ngờ được xướng lên vào giờ chót, vượt qua các tên tuổi được đề cử năm nay là Haruki Murakami (Nhật), Ngugi Wa Thiong’o (Kenya), Jon Fosse (Na Uy), Joyce Carol Oates (Mỹ). Trong số những cái tên đề cử của Nobel Văn chương 2015, tỉ lệ cá cược phần thắng giành cho bà Svetlana Alexievich là rất ít ỏi. Thậm chí, bà Alexievich chỉ nhận được tin mình đoạt giải Nobel trước bản tin chính thức loan ra, cách đó 15 phút.

Đoạt giải Nobel Văn chương, nhưng nhiều tờ báo vẫn quen gọi bà Svetlana Alexievich là nhà báo, bởi việc bà đã bỏ ra nhiều năm để đi, tìm hiểu và ghi chép về những số phận con người trãi qua chiến tranh và sự cai trị chế độ Sô Viết cũ. Khi có người hỏi rằng bà có phải chỉ đang làm công việc chép lại lịch sử như một nhà báo hay không, bà Svetlana Alexievich dã lập tức trả lời rằng “tôi ghi lại lịch sử, nhưng bằng cảm xúc với những con người đã sống sót qua lịch sử”.

Số phận của bà Alexievich chứng kiến nhiều nghịch cảnh. Bà người Belarus, nhưng sinh ra tại Ukraine vào năm 1948. (mẹ bà là người Ukraine.) Khi cha của bà đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự của mình, gia đình chuyển lại cho Belarus, nơi Alexievich học báo chí tại Đại học Minks. Nhưng nhờ vậy mà bà lại có cơ hội nhìn và cảm nhận được toàn bộ về chiến tranh, xung đột, thảm kịch ở Liên Xô cũ, cũng như các nước chịu ách thống trị của cộng sản Nga. Giới nghiên cứu và sinh viên vẫn luôn coi các tác phẩm của bà Alexievich là nguồn cảm hứng quanh các đề tài Chiến tranh thế giới II, Chiến tranh Xô-Afghanistan và các thảm họa Chernobyl.

Công việc của bà Alexievich được giới thiệu ở giải Nobel như một điều mới mẻ. Chưa bao giờ Nobel Văn chương lại nhìn thấy công việc của một nhà văn nào như bà. Bà không sáng tác, bà vẽ lại thế giới, làm đầy những phần bị mất hoặc sẽ lãng quên cùng nỗi đau và tội ác. Trong thông cáo của mình, Viện Hàn lâm Thụy Điển đã nói về nhà văn 67 tuổi này “Giải thưởng xin dành cho cho các tác phẩm đầy âm điệu của bà, một tượng đài ẩn nhẫn và quả cảm trong thời đại chúng ta”.

Thư ký thường trực mới của Viện Hàn lâm Thụy Điển, Sara Danius nói rằng 40 năm nghiên cứu con người của Liên Xô, mà nhà báo Belarus Svetlana Alexievich làm nên là “một cái gì đó vĩnh cửu, một cái nhìn thoáng qua để thấu đạt cõi đời đời.”

Nhà bình luận văn học Sarah Begley viết trên tờ Time rằng bà Alexievich là một bậc thầy về lịch sử truyền miệng. Khi phỏng vấn những người lính, phụ nữ và người dân về những cuộc đời của họ, bà Alexievich đã viết lại một cách tài tình, khiến cho câu chuyện của họ sống động trong một hình thức văn chương quyến rũ nhất.

“Tôi đã tìm kiếm một thể loại mà sẽ là thích hợp nhất để chuyển tải được cái nhìn của tôi về thế giới, để truyền đạt được cách tai tôi nghe, mắt tôi thấy về cuộc sống này”, bà Alexievich viết trên website của mình như vậy, “Tôi đã cố gắng tìm kiếm và cuối cùng chọn một thể loại là để con người cất lên tiếng nói của chính họ.”

Alexievich trở thành người phụ nữ thứ 14 giành được giải Nobel về văn học, nhà báo đầu tiên và những nhà văn đầu tiên của dòng văn chương phi hư cấu, trong nửa thế kỷ qua. Lúc này bà Alexievich đang viết diễn từ của mình, để đọc tại lễ trao giải Nobel vào 10 tháng 12 tới đây trong sự lo ngại của chính quyền Belarus và Nga, bởi bà là người luôn viết và nói về những thứ mà cả hai chính quyền này đều muốn dân chúng phải lãng quên.

Bà Alexievich cũng là một trong những trí thức đấu tranh ôn hoà, chán ghét độc tài và cộng sản. Khi báo chí Nga bình luận, tỏ vẻ muốn “giành” giải Nobel của bà cho dòng văn học Nga, bà Alexievich đã tuyên bố với báo giới rằng “Tôi mang trong mình một phần đời của Belarus, một phần của văn hoá Nga và còn lại thuộc về thế giới. Tôi yêu điều tốt đẹp, sự nhân ái của đời sống Nga, gồm cả văn chương, ballet, âm nhạc… Nhưng tôi không thể yêu nổi phần của Satlin, Beria, Putin và Shoigu” (chú thích: Sergei Shoigu là Bộ trưởng Quốc phòng Nga hiện nay). Vì không chấp nhận được xu hướng độc tài ở Belarus, bà Alexievich rời đi và định cư ở Tây Âu từ nhiều năm nay, viết sách bằng tiếng Nga. Alexievich đã dành nhiều năm sống bên ngoài Belarus, sau khi chỉ trích rằng Tổng thống Alexander Lukashenko cũng đang học đòi phong cách độc tài không khác gì Putin.

Cuộc đời của bà Svetlana Alexievich cũng cô đơn như những nhân vật trong tác phẩm của bà. Trong khi cả thế giới lên tin tức về một người mang văn hoá Nga, văn hoá Belarus vừa đoạt giải Nobel Văn chương, nhưng tất cả giới quan chức của Belarus và Nga đều im lặng như tờ, không khác gì Trung Quốc nghe tin Đức Đạt Lai Lạt Ma được trao giải Nobel Hoà Bình. Khi được hỏi về điều này, bà Svetlana Alexievich nói “chính quyền Belarus lâu nay đã coi như tôi không tồn tại, họ đã không cho phát hành sách của tôi, và tôi cũng không được quyền nói trước công chúng ở bất cứ đâu”.

Trước bà Svetlana Alexievich, nữ văn sĩ người Đức Herta Muller, cũng là người ẩn nhẫn và kiên định với văn chương và thái độ tố cáo tội ác của cộng sản, cũng đã nhận giải Nobel vào năm 2009.

Kể từ tháng 1, nàm 2006, khi Hội đồng nghi viện của Uỷ Hội Châu Âu (gồm 46 quốc gia) thông qua nghị quyết 1481 tại Strasbourg (Pháp), khẳng định chủ nghĩa cộng sản chính là tội ác chống lại con người, dường như, văn chương phản ánh nỗi đau con người dưới các loại chế độ cộng sản luôn được trân trọng vinh danh. Đây là chi tiết mà nhiều báo tiếng Việt trong nước vẫn không muốn nhắc đến.