Nhà đầu tư tiếp tục lo ngại về tình hình kinh tế Trung Quốc

Nhà đầu tư tiếp tục lo ngại về tình hình kinh tế Trung Quốc

VOA


Các nhà đầu tư theo dõi thông tin chứng khoán trên bảng điện tử tại một trung tâm môi giới ở Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang.

Mil Arcega

26.08.2015

Chứng khoán Mỹ hôm thứ ba đã tăng giá trở lại trong một thời gian ngắn, nhưng chỉ số Dow Jones đã giảm thêm gần 1,3% vào lúc kết thúc ngày giao dịch. Các nhà phân tích cho rằng sóng gió hiện nay trên các thị trường chứng khoán trên thế giới phát xuất từ những mối lo ngại là kinh tế Trung Quốc có lẽ đang gặp phải những sự khó khăn lớn hơn so với dự đoán trước đây.

Hôm thứ ba Trung Quốc đã giảm lãi suất 0,25% và nới lỏng những qui định về tỉ lệ ngân khoản dự trữ của các ngân hàng để bơm thêm tiền vào hệ thống tài chánh nhằm kích thích nền kinh tế. Tuy đã góp phần làm cho các thị trường ở Âu Châu và Hoa Kỳ được bình ổn đôi chút, những hành động đó vẫn chưa đủ để ngăn chận đà tuột dốc của các thị trường chứng khoán ở Á Châu.

Ông Kevin O’Leary, một nhà phân tích của Quỹ Đầu tư O’Shares, cho rằng sở dĩ như vậy là vì triển vọng tăng trưởng của Trung Quốc vẫn còn u ám.

“Thay vì nghĩ rằng Trung Quốc tăng trưởng với tỉ lệ 8%, chúng tôi nghĩ rằng họ sẽ tăng trưởng 5% hoặc 6%. Đó là mức tăng trưởng thấp hơn 20% so với dự đoán.”

Ông Eric Wiegand, một nhà quản trị đầu tư cấp cao của công ty tài chánh US Bank, cho rằng tình hình đó khiến cho một số nhà đầu tư né tránh những sự bất trắc trong thị trường cổ phiếu ở Trung Quốc, và thay vào đó, họ tìm mua những loại trái phiếu bán với giá rẻ.

“Đối với các nhà đầu tư Mỹ, chúng tôi nhận thấy điều này đang tạo ra những cơ hội. Chúng tôi vẫn tin là vẫn còn những sự hấp dẫn rất lớn của các loại trái phiếu khi nói tới thị trường cổ phiếu quốc nội.”

Tuy nhiên, nếu Trung Quốc không ổn định được tình hình, bất kỳ sự hồi phục nào của các thị trường Âu Châu và Hoa Kỳ cũng đều không thể kéo dài. Ông Nicholas Lardy, một chuyên gia hàng đầu của Mỹ về kinh tế Trung Quốc, cho biết như sau.

“Tôi nghĩ rằng lý do chính khiến cho Trung Quốc quan trọng nhiều như vậy là Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới. Đây là nền kinh tế ngoại thương lớn thứ nhì thế giới. Do đó, nếu thành tích kinh tế của Trung Quốc bị yếu kém, phần còn lại của thế giới sẽ phải trả một cái giá.”

Đối với các thị trường tài chánh trên khắp thế giới, sự dao động của giá cả mỗi lúc một lớn. Điều đó có thể thấy rõ tại Phố Wall hôm thứ ba, khi chỉ số Dow Jones tăng tới 3,5% trong những vụ mua bán lúc ban đầu để rồi tụt mạnh xuống tới mức âm vào lúc kết thúc ngày giao dịch.

12 GIÁ TRỊ SỐNG THEO TỔ CHỨC UNESCO

12 GIÁ TRỊ SỐNG THEO TỔ CHỨC UNESCO

Giá trị sống của bạn là những điều mà bạn cho là quan trọng trong cách bạn sống và làm việc: Chúng chi phối việc xác định thứ tự các ưu tiên hoặc ra quyết định của bạn, và, trong sâu thẳm, có lẽ chúng là cái thước đo mà bạn sử dụng để thấy được rằng cuộc sống của bạn có tiến triển theo cách bạn muốn nó diễn ra không.

Giá trị sống trả lời câu hỏi “Tại sao ?” hay “Vì sao ?” một người nào đó làm điều này hoặc không làm điều kia. Ví dụ như một người chạy xe vượt đèn đỏ để nhanh hơn vài chục giây, mà không để ý rằng điều đó có thể nguy hiểm đến tính mạng của bản thân hay của người khác, như vậy trong hành động này, người đó đánh giá cao giá trị “thời gian” mà bỏ qua giá trị “an toàn”.
Sau đây là 12 giá trị sống được nêu ra bởi UNESCO.

1/ HÒA BÌNH

Hòa bình không đơn giản chỉ là vắng bóng chiến tranh, mà là khi chúng ta đang sống hòa thuận và không có sự tranh đấu với nhau.

Hòa bình còn có nghĩa là sống với sự tĩnh lặng và thư thái của nội tâm.

Hòa bình bắt đầu từ nơi mỗi người chúng ta. Xuyên qua sự tĩnh lặng và sự suy nghĩ đúng đắn về ý nghĩa của mọi việc, chúng ta có thể tìm được nhiều cách mới mẻ và sáng tạo để nâng cao hiểu biết về các mối quan hệ và sự hợp tác với tất cả mọi người.

2/ TÔN TRỌNG

Tôn trọng trước hết là tự trọng – là biết rằng tự bản chất bạn cũng là người có giá trị như bất kỳ người nào khác. Một phần của tự trọng là nhận biết những phẩm chất của chính bản thân mình. Tôn trọng chính bản thân là nền tảng làm tăng trưởng về sự tin cậy lẫn nhau. Khi chúng ta tôn trọng chính mình thì cũng sẽ dễ dàng để tôn trọng người khác hơn, và những ai biết tôn trọng sẽ nhận lại đuợc sự tôn trọng. Hãy biết rằng mỗi người đều có giá trị và khi thừa nhận giá trị của người khác thì thế nào cũng chiếm được sự tôn trọng nơi người khác.

Một phần của sự tôn trọng là ý thức rằng bạn có sự khác biệt với người khác trong cách đánh giá, và biết sẳn sàng lắng nghe người khác.

3/ HỢP TÁC

Hợp tác là khi mọi người biết làm việc chung với nhau và cùng hướng về một mục tiêu chung. Một người biết hợp tác thì có những lời lẽ tốt đẹp và cảm giác trong sáng về người khác cũng như đối với nhiệm vụ. Hợp tác phải được chỉ đạo bởi nguyên tắc về sự tôn trọng lẫn nhau.

Một người biết hợp tác sẽ nhận được sự hợp tác. Khi có yêu thương thì có sự hợp tác. Khi nhận thức được những giá trị của cuộc sống, bạn có khả năng tạo ra sự hợp tác.

Sự can đảm, sự quan tâm, sự chăm sóc, và sự đóng góp là sự chuẩn bị đầy đủ cho việc tạo ra sự hợp tác.

4/ TRÁCH NHIỆM

Trách nhiệm là việc bạn góp phần của mình vào công việc chung. Trách nhiệm là đang thực hiện nhiệm vụ với lòng trung thực.

Một người có trách nhiệm thì biết thế nào là phải, là đẹp, là đúng, nhận ra được điều gì tốt để góp phần. Quyền lợi gắn liền với trách nhiệm . Trách nhiệm là đang sử dụng tiềm lực, tài nguyên của chúng ta để tạo ra những thay đổi tích cực. Muốn có hòa bình, chúng ta phải có trách nhiệm tạo ra sự yên ổn. Muốn có một thế giới hài hòa, chúng ta phải có trách nhiệm chăm sóc thiên nhiên. Một người được coi là có trách nhiệm khi người ấy đồng ý góp phần để gánh vác công việc chung với các thành viên khác.

5/ TRUNG THỰC

Trung thực là nói sự thật. Khi trung thực bạn cảm thấy tâm hồn trong sáng và nhẹ nhàng. Một người trung thực và chân chính thì xứng đáng được tin cậy.

Trung thực được thể hiện trong tư tưởng, lời nói và hành động thì sẽ đem lại sự hòa thuận. Trung thực là sử dụng tốt những gì được ủy thác cho bạn. Trung thực là cách xử sự tốt nhất, đó là một mối dây gắn kết tình bạn.

Khi sống trung thực, bạn có thể học và giúp người khác học cách biết trao tặng. Tính tham lam đôi khi là cội rễ của sự bất lương. Đó là đủ cho những người cần, nhưng không bao giờ thỏa mãn cho kẻ tham lam. Khi nhận thức mối quan hệ với nhau có tầm quan trọng như thế nào thì chúng ta nhận ra được giá trị của lòng trung thực.

6/ KHIÊM TỐN

Khiêm tốn là ăn ở, nói năng, làm việc một cách nhẹ nhàng, đơn giản và có hiệu quả. Khiêm tốn gắn liền với lòng tự trọng. Khiêm tốn là khi bạn nhận biết đúng khả năng, uy thế của mình, nhưng không khoác lác khoe khoang. Khi bạn khiêm tốn, tính kiêu ngạo phải trốn xa.

Một người khiêm tốn tìm được niềm vui khi lắng nghe người khác. Khi quân bình được giữa tự trọng và khiêm tốn, bạn có được sức mạnh tâm hồn để tự điều khiển và kiểm soát chính bản thân mình. Khiêm tốn tạo nên một trí óc cởi mở và bạn có thể nhận ra sức mạnh của bản thân và khả năng của người khác.

7/ GIẢN DỊ

Giản dị là sống một cách tự nhiên, không giả tạo. Giản dị là chấp nhận hiện tại và không làm mọi điều trở nên phức tạp. Người giản dị thì thích suy nghĩ và lập luận rõ ràng. Giản dị dạy chúng ta biết tiết kiệm – biết thế nào là sử dụng tài nguyên, tiềm năng một cách khôn ngoan; biết hoạch định đường hướng cho tương lai. Giản dị giúp bạn kiên nhẫn, làm nảy sinh tình bạn và khả năng nâng đỡ lẫn nhau.

Giản dị là hiểu rõ giá trị của những vật chất dù nhỏ bé nhất trong cuộc sống.

8/ KHOAN DUNG

Khoan dung là tôn trọng qua sự hiểu biết lẫn nhau. Hòa bình là mục tiêu, khoan dung là phương pháp. Có khoan dung là bạn trở nên cởi mở và chấp nhận sự khác biệt với những vẻ đẹp của nó.

Mầm mống của sự cố chấp là sợ hãi và dốt nát. Hạt giống khoan dung và yêu thương cần được vun trồng bởi lòng trắc ẩn và sự ân cần quan tâm đến nhau. Người khoan dung thì biết nhìn thấy điều tốt nơi người khác cũng như trong các tình huống. Khoan dung là nhìn nhận cá tính và sự đa dạng trong khi vẫn biết đối phó với các mầm mống gây chia rẽ hoặc bất hòa và tháo gỡ ngòi nổ của sự căng thẳng được tạo ra bởi sự dốt nát.

9/ ĐOÀN KẾT

Đoàn kết là sự hòa thuận giữa các cá nhân trong một nhóm, một tập thể hay một tổ chức. Đoàn kết tồn tại được nhờ sự chấp nhập và hiểu rõ giá trị của mỗi người, cũng như biết đánh giá đúng sự đóng góp của mỗi người đối với tập thể. Sự thiếu tôn trọng dù là nhỏ cũng có thể là lý do làm cho mất đoàn kết.

Đoàn kết được xây dựng qua việc chia sẻ các mục tiêu, niềm hy vọng và viễn tượng tương lai. Khi đoàn kết lại thì nhiệm vụ lớn dường như trở nên dễ dàng thực hiện. Đoàn kết tạo nên kinh nghiệm về sự hợp tác, làm gia tăng sự hăng hái trong nhiệm vụ và tạo ra một bầu khí thân thiện. Đoàn kết tạo ra cảm giác hạnh phúc êm ái và gia tăng sức mạnh cho mọi người.

10/ TÌNH YÊU THƯƠNG

Yêu người khác nghĩa là bạn muốn điều tốt đến với họ. Yêu là biết lắng nghe, là biết chia sẻ. Khi bạn yêu thương trọn vẹn, giân dữ sẽ tránh xa. Tình yêu là giá trị làm cho các mối quan hệ trở nên tốt hơn.

11/ TỰ DO

Tất cả mọi người đều có quyền tự do. Trong sự tự do ấy, mỗi người có bổn phận tôn trọng quyền lợi của những người khác. Tự do tinh thần là một kinh nghiệm khi bạn có những suy nghĩ tích cực về tất cả, kể cả về chính bản thân.Tự do thuộc lãnh vực của lý trí và tâm hồn.

Tự do là một món quà quý giá. Chỉ có thể tự do thật sự khi các quyền lợi quân bình với những trách nhiệm. Có tự do thực sự khi mọi người có được quyền bình đẳng.

12/ HẠNH PHÚC

Hạnh phúc là trạng thái bình an của tâm hồn khiến con người không có những thay đổi đột ngột hay bạo lực. Khi bạn trao hạnh phúc thì nhận được hạnh phúc. Khi bạn hy vọng, đó là lúc hạnh phúc. Khi bạn yêu thương sự bình an nội tâm và hạnh phúc chợt đến ngay. Nói những lời tốt đẹp về mọi người đem lại hạnh phúc nội tâm. Những hành động trong sáng và quên mình sẽ đem đến hạnh phúc. Hạnh phúc lâu bền là trạng thái của sự hài lòng bên trong.

Khi hài lòng với chính mình, bạn sẽ cảm nhận được hạnh phúc. Khi những lời nói của bạn là “những bông hoa thay vì những hòn đá”, bạn đem lại hạnh phúc cho những người tiếp xúc với bạn.

– “Hạnh phúc sinh ra hạnh phúc. Buồn rầu tạo ra buồn rầu.”

====================//

( Nguồn : sưu tầm từ internet )

LÀM SAO ĐỂ VIỆT NAM “CHỊU PHÁT TRIỂN”?

LÀM SAO ĐỂ VIỆT NAM “CHỊU PHÁT TRIỂN”?

NGUYỄN TƯỜNG THỤY


Chuyên gia kinh tế cao cấp Phạm Chi Lan phát biểu tại hội nghị (Ảnh: HC)

Mô hình kỳ lạ nhất thế giới

Tại hội nghị kết nối các doanh nghiệp nhỏ và vừa toàn quốc tổ chức ngày 8/8 tại Đà Nẵng, bà Phạm Chi Lan đã đưa ra mấy nét chấm phá về bức tranh kinh tế hiện nay của Việt nam. Rằng gia nhập ASEAN 20 năm nay rồi mà Việt Nam vẫn còn nằm trong nhóm 4 nước lạc hậu nhất trong khối (cùng với Lào, Campuchia và Myanmar). Rằng so với 10 năm trước, qui mô DN chỉ còn 1 nửa và có xu hướng… li ti hóa – theo cách nói của Ts Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam…

Bà Phạm Chi Lan chỉ ra một số nguyên nhân như công nghệ ở hàng thấp nhất (trong số các nước tham gia TPP) dẫn đến năng lực cạnh tranh kém, doanh nghiệp không thể tiếp cận với chính sách khuyến khích của nhà nước. Bà cho rằng, công nghệ thấp không hoàn toàn thuộc trách nhiệm của doanh nghiệp mà phải được Nhà nước ưu tiên quan tâm. Thế nhưng “hệ thống chính sách của chúng ta nói rất nhiều, rất hay về đổi mới công nghệ nhưng trên thực tế, rất nhiều doanh nghiệp cho biết họ không thể tiếp cận được với những chính sách khuyến khích của Nhà nước. Chỉ ai tự có năng lực thì mới tự đổi mới công nghệ được thôi chứ còn họ “quên” đi tất cả những cái của Nhà nước, bởi vì chi phí để nhận được ưu đãi có khi lại còn lớn hơn cả mức được ưu đãi. Đó là điều rất đau gây cản trở cho sự phát triển công nghệ của chúng ta!”

“Chi phí để nhận được ưu đãi có khi lại còn lớn hơn cả mức được ưu đãi” – ý kiến này của bà Phạm Chi Lan cho thấy bóng dáng cái gì đã cản trở khiến doanh nghiệp không mặn mà với chính sách khuyến khích của Nhà nước cũng như cơ hội do FTA (Hiệp định thương mại tự do) đem lại. Rồi bà cho biết, đó là nạn tham nhũng. Khi làm ra 1 đồng thì mất tới 1,02 đồng cho chi phí bôi trơn, tức là làm ra không đủ để bôi trơn thì “doanh nghiệp còn gì để tái đầu tư, để mở rộng được? Và doanh nghiệp sẽ co lại vì họ làm được 1 nhưng có những ông khác không làm gì cả mà tước đoạt của họ hơn 1 thì tội gì họ làm nữa”. Bà Phạm Chi Lan gọi đây thuộc chi phí ngoài pháp luật, là một chỉ số xếp hạng về thể chế, mà Việt Nam ở thứ hạng rất kém.

Có vẻ đã quá thất vọng về tương lai của nền kinh tế VN, bà Phạm Chi Lan “tiết lộ” ý kiến của các chuyên gia Ngân hàng thế giới cho rằng VN là nước “không chịu phát triển”:

“Một số chuyên gia World Bank còn nói đùa Việt Nam có lẽ là mô hình kỳ lạ nhất thế giới. Trên thế giới chia ra gồm nước phát triển, nước đang phát triển, nước chậm phát triển nhưng Việt Nam có lẽ là mô hình đặc biệt nhất. Đó là nước… không chịu phát triển! Đầu tư nhiều đến thế, ODA nhiều đến thế (20 năm qua lượng ODA đổ vào Việt Nam lên tới gần 90 tỉ USD) nhưng đến bây giờ vẫn không phát triển được thì chỉ có thể là… không chịu phát triển”.

Không phải chưa có ai nghĩ đến cái mô hình kỳ lạ ấy nhưng các chuyên gia của WB là người nói ra, và biểu đạt một cách rất ấn tượng. Họ vạch ra đúng bản chất của nền kinh tế VN rất thật, rất hài lẫn cả đau xót và chua chát nữa.

Bà Phạm Chi Lan đã chỉ ra rất đúng nguyên nhân làm cho nền kinh tế VN trì trệ, không phát triển được, đó là tham nhũng. Tham nhũng sinh ra kém về năng lực cạnh tranh, qui mô danh nghiệp ngày càng teo đi, công nghệ thấp, làm cho các chính sách khuyến khích của nhà nước, các kết quả đàm phán FTA không tới được các doanh nghiệp.

Hàng trăm doanh nghiệp nhỏ và vừa trong cả nước tham dự hội nghị kết nối do Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam tổ chức tại Đà Nẵng ngày 8/8 (Ảnh: HC)

Gốc rễ của vấn đề

Nhưng đâu là nguyên nhân của nguyên nhân, nghĩa là cái gì đẻ ra tham nhũng thì không thấy bà Chi Lan nói tới. Không phải bà không biết mà bà không thể nói toạc ra trong một hội nghị như thế. Tuy nhiên, bà cũng hé mở khi nói tới vai trò của Nhà nước: “Việt Nam cũng phải cạnh tranh với Nhà nước của các nước khác về thể chế, môi trường kinh doanh, năng lực điều hành nền kinh tế vĩ mô…”. Bà cũng dè dặt hy vọng: “Nhà nước sẽ phải thay đổi nhiều về hệ thống luật pháp, chính sách trong nước cho phù hợp với các cam kết. Và từ đó đổi mới kinh tế sang hệ thống kinh tế thị trường đầy đủ sẽ giúp cho môi trường kinh doanh tại Việt Nam tốt hơn, bình đẳng hơn!”

Trở lại vấn đề tham nhũng. Tham nhũng từ đâu ra? Ai nuôi dưỡng nó? Rõ ràng, nó lợi dụng các kẻ hở của cơ chế, nó được bao che, câu kết chặt chẽ thành một hệ thống kiên cố từ trung ương đến cơ sở. Tất cả những tệ nạn, những yếu kém của nền kinh tế và các lĩnh vực khác của xã hội sinh ra từ chế độ độc tài. Mọi biện pháp nếu đưa ra cũng chỉ là chữa cháy, mà chữa không khéo, thì càng chữa, đám cháy càng lan to. Với thể chế này, tham nhũng không thể chấp dứt hoặc bị đẩy lùi. Vì vậy, trước khi nghĩ đến các biện pháp thì phải nghĩ đến việc đổi mới chính trị đã. Đây mới là gốc rễ của vấn đề.

Đổi mới kinh tế cần phải đi đôi với đổi mới chính trị. Năm 1986, mới chỉ đổi mới (thực chất là sửa sai) một phần, gỡ bớt rào cản cho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phát triển, VN đã đạt được một số thành tựu, cứu được đất nước “đứng bên bờ vực thẳm” nhưng cũng chỉ dừng tại đó vì không có sự đổi mới về chính trị. Mác có một luận điểm đúng, đó là “quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất”. Khi quan hệ sản xuất không phù hợp, nó trở thành lực cản của sự phát triển. Sẽ tới một mức độ nào đó, cái vỏ chật hẹp ấy phải vỡ ra ngoài ý muốn của con người.

Cái vỏ ấy đang được những người bảo thủ cố gắng níu giữ, gia cố, hàn vá. Biết đó là lực cản nhưng họ không đủ can đảm để thay đổi, điều đó có nghĩa là họ “không chịu phát triển”.

Hiến pháp 2013 vẫn xác định Đảng CSVN là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, vẫn xác định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và vẫn xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

Xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, VN đã phải trả giá quá đắt. Trong lĩnh vực kinh tế thì thành phần kinh tế Nhà nước là thành phần duy nhất xảy ra tham nhũng, tham nhũng một cách khủng khiếp, là nơi đốt tiền ngân sách tàn bạo nhất, làm khánh kiệt ngân sách quốc gia. Cán bộ to tham nhũng lớn, cán bộ nhỏ tham nhũng vừa, còn nhân viên thì ăn cắp. Thành phần kinh tế tư nhân không có tham nhũng vì không ai tự ăn cắp của mình. Nhưng họ phải chơi trong một sân chơi bất bình đẳng trước đối thủ được hưởng nhiều ưu đãi về vốn, đỡ bị sách nhiễu hơn về thủ tục, chi phí bôi trơn cũng thấp hơn và đặc biệt là không phải chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh của mình, nếu được “coi là” không có sai phạm mà chỉ yếu kém về năng lực. Nếu bị cách chức, hoặc buộc về hưu sớm thì họ vẫn còn một tài sản khổng lồ do tham nhũng mà có. Còn trong kinh tế tư nhân nếu kinh doanh thua lỗ thì chịu phá sản, không những mất hết vốn đầu tư mà còn lâm vào cảnh nợ nần.

Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt. Số doanh nhân nào còn tồn tại được là những người có năng lực kinh doanh (trừ những công ty được người nhà nước dựng nên làm “sân sau” hay kinh doanh có sự hậu thuẫn của người nhà nước). Ngược lại, các nhà quản lý kinh tế được nhà nước bổ nhiệm, cho dù họ không có tài cán gì cả.

Nói như thế để thấy rằng, quản lý kinh tế nhà nước như hiện nay thì quá đơn giản trong khi làm kinh tế tư bản, tư doanh đòi hỏi những yêu cầu khắt khe và đầy may rủi.

Kinh tế nhà nước thì tham nhũng, kinh tế ngoài quốc doanh bị chèn ép không ngóc đầu dậy được làm cho bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế VN hết sức ảm đạm. Còn những người ra sức cổ vũ cho nền kinh tế định hướng XNCH, lạc quan tếu về tương lai của nền kinh tế VN thì chính họ cũng chẳng tin. Họ nói vì lợi ích cá nhân của họ mà thôi.

Không chỉ lĩnh vực kinh tế, tất cả các lĩnh vực khác của xã hội như y tế, giáo dục, hành chính, tư pháp đều cho thấy một viễn cảnh bi đát. Tham nhũng len lỏi vào tất cả các bộ phận của guồng máy vận hành xã hội mà chưa bao giờ đẩy lùi được nó, ngược lại, càng ngày nó càng lấn tới. Hết nghị quyết này đến nghị quyết khác, hết lãnh đạo này đến lãnh đạo khác hô hào chống tham nhũng, nhưng tệ nạn này ngày càng lan rộng và nguy hiểm như HIV đã phát triển đến giai đoạn cuối. Chống không được, các vị đành lắc đầu than thở “sâu nhiều quá”, “ăn của dân không từ một cái gì”.

Làm sao để VN “chịu phát triển”?

Làm thế nào để thay đổi tình trạng tụt hậu hiện nay. Điều này có nhiều chuyên gia nhận ra nhưng không dám nhắc tới, mà ai nhắc tới thì bị cho là suy thoái, thậm chí phải gánh chịu hệ lụy, đó là phải cải tổ thể chế. Bà Phạm Chi Lan chẳng đã cho rằng chỉ số xếp hạng về thể chế của VN xếp ở mức rất thấp, rằng VN cần phải cạnh tranh về thể chế đó sao?

Mong muốn đủ thứ nhưng cứ luẩn quẩn với chủ nghĩa Mác – Lê Nin, với định hướng XHCN thì VN không bao giờ thoát ra khỏi tình trạng hiện nay, vì tham nhũng và mọi sự tiêu cực, trì trệ khác được sinh ra và nở rộ từ thể chế hiện tại.

Thể chế hiện nay không nên nói là lỗi thời, không còn phù hợp mà là sai lầm. Chưa cần phân tích, lý luận, chỉ cần quan sát cũng thấy rõ CHXH là hoang tưởng. Không phải ngẫu nhiên mà Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu đồng loạt sụp đổ trong vòng vài năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Không phải ngẫu nhiên mà xét riêng trong một quốc gia bị chia cắt, trước đó, nền kinh tế và mọi lĩnh vực xã hội khác là như nhau, thế nhưng nửa nào theo XHCN thì khốn khó, ì ạch, còn nửa kia phát triển với tốc độ rất nhanh. Điều này ta có thể thấy rõ khi so sánh giữa Bắc với Nam Việt Nam, CHDC Đức với CHLB Đức trước đây và Bắc Triều Tiên với Hàn Quốc, Trung Hoa lục địa với Đài Loan hiện nay.

Để chứng tỏ cho thế giới biết VN từ “không chịu phát triển” trở thành “chịu phát triển”, cần phải cải tổ thể chế hiện nay. Đó là cách cứu VN thoát khỏi vùng trũng của thế giới. Cần phải xây dựng một nền dân chủ đa nguyên. Tất nhiên, không phải mọi sự tồi tệ sẽ nhanh chóng chấm dứt khi chuyển sang nền dân chủ nhưng nó sẽ được kiểm soát dần dần cùng với quá trình hoàn thiện của thể chế mới. Khi ấy sẽ có những cơ chế kiểm soát lẫn nhau, có tam quyền phân lập, có nhà nước pháp quyền. Khi người dân được làm chủ thực sự, thấy chính quyền, tài sản chung của xã hội cũng là của mình thì họ mới quan tâm, mới đóng góp được tâm huyết, tài năng thực sự vào việc quản lý đất nước. Khi ấy VN mới khả dĩ nói đến thoát khỏi mô hình kỳ lạ nhất thế giới, mới có thể nói với các chuyên gia Ngân hàng thế giới rằng chúng tôi đã “chịu phát triển”.

19/8/2015

NTT

 

CHÚA TRONG ANH EM

CHÚA TRONG ANH EM

Bà quí tộc Elizabeth quì cầu nguyện trong nhà thờ, bỗng như có tiếng Chúa nói thì thầm bên tai: “Con hãy xây nhà cho Ta cư ngụ”. Xác tín đây là lời Chúa nói riêng cho mình, bà mau mắn xây một nhà nguyện.

Nhưng cho dù nhà nguyện đã được xây xong, bà vẫn nghe tiếng Chúa nói cũng một lời như vậy: “Con hãy xây nhà cho Ta cư ngụ”. Thầm nghĩ rằng Chúa muốn xây nhà nguyện lớn hơn, đẹp hơn, cho xứng với Người, vì sự giàu có Chúa ban cho bà còn quá dư thừa. Thế là bà đi sang vùng bên cạnh tìm mua một miếng đất lớn hơn và mướn người xây nhà nguyện đẹp hơn, lộng lẫy hơn. Bà Elizabeth nghĩ thầm là lần này Chúa phải vui lòng lắm, vì không ai trong vùng có ngôi nhà đẹp hơn.

Lạ thay, khi cầu nguyện bà vẫn còn nghe tiếng van nài khẩn thiết: “Con hãy xây nhà cho Ta cư ngụ”. Bà thưa với Chúa:

– Con đã xây cho Chúa ngôi nhà đẹp nhất, lớn nhất vùng này rồi. Chúa muốn con xây nhà như thê’ nào đây? Xây một vương cung thánh đường nhất nước này chăng?

Tiếng Chúa thì thầm trả lời:

– Con hãy nhìn qua bên kia cửa sổ xem, con đang thấy gì ?

– Dạ con thấy một gia đình đang nương tựa dưới gốc cây bên lề đường.

Và tiếng Chúa nhỏ nhẹ:

– Con hãy xây cho họ một căn nhà, đó là con xây nhà cho Ta.

***

Chúng ta dễ bị cám dỗ hành xử như bà quí tộc Elizabeth trong câu chuyện trên. Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ biết nhìn thấy Ngài qua những kẻ bé mọn, nghèo hèn: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25:40).

Nhìn thấy Chúa trong anh chị em là điều khó và làm một việc gì đó cho anh chị em xung quanh như thể làm cho Chúa thì lại càng khó hơn. Nhưng dù khó hay dễ, mỗi người Kitô đều được mời gọi phục vụ Chúa nơi anh chị em.

Thiên Chúa đã ban cho một trái đất đủ nuôi sống cho mọi người. Đừng trách Chúa đã tạo ra nghèo khổ, chỉ nên trách mình đã khóa từ tâm. Xã hội còn nhiều người đói, vì chúng ta không dám chia sẻ điều mình dư thừa.

Thánh Giacôbê đã cảnh tỉnh: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2:17). Không có lời nào rõ ràng hơn. Chúng ta đã sống đức tin của mình thế nào? Biết bao lần chúng ta muốn tránh né không làm một việc gì đó cho anh chị em mà lại muốn đọc kinh luôn mãi. Đừng để Chúa quở trách: “Dân này thờ kính Ta bằng môi miệng mà lòng chúng lại xa Ta” (Mt 15:8).

Mẹ Thêrêsa Calculta bị cuốn hút bởi những con người đau khổ, nghèo đói, bệnh tật. Dưới mắt của Mẹ, đó không chỉ là những người đáng thương, mà còn là hiện thân của chính Chúa Giêsu đau khổ

Chắc chắn sẽ có những lần Chúa Giêsu đi ngang qua đời ta, như vị vua giả trang làm người hành khất. Đến ngày phán xét, chúng ta đừng giả vờ ngạc nhiên khi nghe biết mình đã để Ngài đi qua với hai bàn tay trắng.

***

Lạy Chúa, tội lớn nhất là tội thiếu sót: đã không làm điều mình phải làm. Xin cho con biết mở rộng lòng ra, đón nhận tất cả những ai đang cần đến con. Xin cho con biết phục vụ tất cả, phục vụ thật sự và hữu hiệu vì tình yêu Chúa. Amen.

Ngọc Nga sưu tầm

Vài câu chuyện vặt của anh tài xế taxi trước ngày Quốc Khánh

Vài câu chuyện vặt của anh tài xế taxi trước ngày Quốc Khánh

Mục: Lang Thang Internet

Trần Hồng Phong

Sáng nay có một phiên tòa, nên tôi đi taxi cho lịch sự. Đoạn đường chỉ vài cây số, mà mấy câu chuyện của anh taxi sao nghe thấy thật quá. Lại toàn những khía cạnh báo chí ít quan tâm, nên xin kể ra đây giúp vui mọi người. Cam đoan hoàn toàn là thật, chỉ có bớt chứ không nói thêm. Giá có bác quan to nào chịu khó vi hành, sẽ dễ dàng kiểm chứng là đúng.

Câu chuyện thứ nhất: Không nghề nào sướng bằng cảnh sát giao thông

Lên xe, thấy có vụ va quẹt ngoài đường, anh tài xế nói “nói thiệt với anh không nghề nào sướng bằng nghề cảnh sát giao thông. Muốn thổi xe nào thì thổi, muốn nói lỗi nào thì nói. Mình dám cãi không. Mà xe ô tô thì cứ dính vào là bạc triệu. Nó nói lỗi rồi đòi cưa đôi. Thay vì phải ký giấy phạt, rồi đi đóng triệu hai (1,2 triệu đồng), thì chi 600 là xong. Ngày nào tụi tôi dính cảnh sát coi như lỗ”.

Câu chuyện thứ hai: Bọn cướp ác quá

Anh kể tiếp: “Bây giờ bọn cướp ác quá. Cướp có cái điện thoại bất quá mấy triệu bạc mà đạp chết con người ta”.

Tôi hỏi: “Là sao? Anh lái taxi chắc nhiều lần thấy cướp giật đồ”.

– Thấy hoài chứ gì. Mà cảnh sát giao thông đứng đó nhìn chứ có làm gì đâu. Thì đó là chuyện của cảnh sát cơ động mà. Hôm rồi tôi chở một con nhỏ cầu 50 triệu chưa chắc đã lành được cái mặt”.

– Là sao?

– Con nhỏ đang chạy xe máy gọi điện thoại. Thằng cướp nó chạy qua giựt. Thay vì chỉ giựt điện thoại, nó sợ con nhỏ la cướp nên đạp quá mạnh vào bánh trước xe. Xe té chà mặt con nhỏ trên nền đường nát bét. Tội nghiệp nó”.

Câu chuyện thứ ba: Lo sợ chuyện tội phạm bùng phát sau ngày Quốc khánh

Anh lại nói: “Để rồi anh coi. Sau ngày Quốc khánh sắp tới (2/9) rồi sẽ biết tình hình phức tạp thế nào?”

Tôi lại hỏi: Là sao?

– Hôm qua tôi đọc báo, thấy đặc xá đợt này 18.000 phạm nhân trên cả nước. Thử hỏi anh trong số 18.000 ngàn người này liệu có mấy người hoàn lương, sống lương thiện được. Cùng lắm là 2.000 chứ gì. Mà người đã có tiền án xin việc ai mà dám nhận. Lại chẳng đi cướp giật, ăn trộm à. Mà không thả ra thì tiền đâu mà mấy ổng nuôi hoài”.

Câu chuyện thứ tư: Lương 45 triệu cũng không giàu được

Tôi nói: Ừ. Bây giờ xin việc khó quá. Cử nhân ra trường không có chỗ làm.

– Hôm rồi tôi chở con nhỏ có vẻ sang trọng. Nó nói sắp qua Úc làm việc trở lại.

Tôi hỏi: Là sao?

– Con nhỏ đó nó học bên Úc về. Nó đi làm lương 45 triệu tháng nhưng nó chê. Nói cha mẹ con bỏ ra trên 2 tỷ cho con đi du học. Mà bây giờ lương có 45 triệu tháng thì con có làm 10 năm cũng không trả được tiền đầu tư của cha mẹ, mà cũng không thể nào dư giả được. Nên con qua Úc làm lại, bên đó con làm được 3000 đô/tháng.

– Trời, lương 45 triệu mà còn chê. Nhiều người cầu được 15, 20 triệu mà không có.

– Thì đó là nó nói vậy. Mà nói thiệt với anh như anh em mình đi làm nuôi vợ con, thì lương có 50 triệu tháng thì một năm cũng chỉ dư cùng lắm trăm triệu. Cày cả chục năm may ra là mua được căn hộ chung cư hạng xoàng. Chẳng bao giờ giàu nổi mà mơ. Đó là giả tỷ như vậy.

Tôi cười: Thì cũng có biết bao nhiều người giàu có đó thôi.

– Những người muốn giàu thì phải làm ăn kinh doanh. Mà kinh doanh thì hoặc là phá sản, hoặc là giàu. Còn không nữa thì phải đi theo con đường công chức cán bộ, làm quan.

Câu chuyện đến đây thì hết vì chiếc taxi đã đến nơi. Tôi xuống xe, tính tiền. Anh taxi nhận tiền, nói “Cám ơn anh. Chúc anh mọi việc tốt đẹp”.

Tự do ngôn luận trách nhiệm và đạo đức

Tự do ngôn luận trách nhiệm và đạo đức

Triết học Đường phố

Joseptuat

(Tranh biếm hoạ chính trị của nghệ sỹ Kuang Biao)

(Tranh biếm hoạ chính trị của nghệ sỹ Kuang Biao)

Có một vài người đang phê phán những người ủng hộ “tự do ngôn luận” là vô trách nhiệm và không có đạo đức. Vậy ai đó cho tôi biết trách nhiệm và đạo đức của những kẻ đang cấm “tự do ngôn luận” ở xã hội này?

Tôi thấy ở đây họ không phê phán con người cụ thể, mà họ đang phê phán quyền “tự do ngôn luận” là tệ hại và xấu xa.

Ngay tự bản chất các quyền căn bản không mang trong nó trách nhiệm và đạo đức. Nếu bạn phê phán tự do ngôn luận là vô trách nhiệm và vô đạo đức chẳng khác nào bạn chỉ tay lên mặt trời và mắng rằng: thật là vô trách nhiệm và thiếu đạo đức. Hãy thận trọng cách đánh tráo vấn đề kiểu này, vì đôi lúc nguyền rủa những người ủng hộ “tự do ngôn luận” một cách nào đó bạn cũng lầm tưởng tự do ngôn luận là vô trách nhiệm và thiếu đạo đức.

Trách nhiệm và đạo đức không có ở con chó, không có ở con bò, không có trong không khí, trong lửa, trong nước, bởi vì đó là chuẩn mực do con người đặt ra, và nó dùng để đánh giá con người cụ thể, chứ không phải để quy chụp về những điều hiển nhiên.

Điều hiển nhiên đó là: mọi người sinh ra đều bình đẳng, và đều phải được hưởng những quyền căn bản của con người. Và các quyền căn bản không thể bị cấm đoán vì nó cần thiết cho một xã hội văn minh, giàu mạnh như con người cần không khí và nước.

Và còn một điều hiển nhiên nữa là: con người dù là bậc tu hành, nhà tri thức, khoa học, chính trị gia, kẻ phạm tội… thì vẫn có những người vô trách nhiệm và không có lương tâm. Và nếu một bậc tu hành của một tôn giáo nào đó sống vô trách nhiệm, thiếu đạo đức thì không đồng nghĩa tôn giáo đó là xấu xa và tội tệ. Bởi thế, không có chuyện người ủng hộ “tự do ngôn luận” vô trách nhiệm và thiếu đạo đức thì quyền được nói, được viết, được hát là vô trách nhiệm và không đạo đức.

Quyền con người như tiền bạc, tự thân tiền bạc không xấu, không tốt và ai đó chê tiền vì cách hành xử của người dùng tiền thì đó là người ngu.

Nói gọn thế này:

Nếu bạn phê phán một quyền căn bản nào đó của con người là xấu xa, không thích hợp cho một đất nước, thì bạn đang coi người dân trong đất nước đó không phải là con người.

Danh phải chính!

Danh phải chính!

“Nhà nước chuyên chính vô sản hay nhà nước XHCN KHÔNG có tính CHÍNH DANH, không được MỘT lá phiếu bầu của dân. Nó sẽ không tự buông ‘mác lê’ quy hàng mà sẽ cố thủ đến cùng. Động lực của nó chính là đặc quyền đặc lợi quá lớn, được quyền tự tung tự tác phè phỡn vơ vét trên sự đau khổ của dân chúng”.

____

VIẾT NHÂN DỊP CMT8 VÀ QUỐC KHÁNH 2/9

Phương Nguyễn

25-08-2015

Tính chính danh của nhà lãnh đạo, của nhà nước, nói nôm na là “ai đặt ông lên làm vua, làm tổng thống, làm chủ tịch”

Thời phong kiến, các vị vua Trung hoa và Việt Nam tự xưng mình là “thiên tử”, là con trời. Tính chính danh của ngôi vua là do trời “chỉ định“. Thêm vào đó là đạo đức của người “quân tử” ngày xưa phải là phải “trung quân ái quốc”, trung với vua là yêu nước. Phải hành xử theo câu “quân xử thần tử thần bất tử bất trung” là vua biểu chết mày phải chết hông được cãi.

Vì là con trời nên ngôi vua phải được truyền cho cháu trời, chắt trời… là lẽ đương nhiên. Và tuy hằng ngày các vị Thiên tử này đều được tung hô vạng tuế nhưng triều đại nào cũng bị diệt vong do hôn quân vô đạo và kém cỏi. Mỗi lần thay đổi “thiên tử” là một lần dấy động binh đao.

Ngày nay, đa số các nước trên thế giới theo chê độ dân chủ, tức là nhà nước do dân bầu lên. Các nước còn vua thì cũng theo chế độ quân chủ lập hiến, là chính phủ cũng do dân bầu, và thật sự điều hành đất nước, chứ không phải là nhà vua. Một Tổng thống, một thủ tướng ở các nước dân chủ ngày nay tính chính danh của họ là ở các lá phiếu bầu của người dân. Ai được dân thích thì làm, dân ghét thì xuống, nhự nhàng êm đẹp và không có vụ truyền ngôi nối ngôi gì cả. Dễ thấy là các nước này dù có thay đổi các nhà lãnh đạo thì đất nước họ luôn ổn định bền vững. Tất cả là ý muốn của người dân.

Và ở các nước theo chủ nghĩa CỘNG SẢN có một thứ nhà nước có tên gọi là “Nhà nước chuyên chính vô sản” hay “nhà nước xã hội chủ nghĩa”. Theo lý thuyết của Mác-Lê thì nhà nước XHCN này là do giai cấp vô sản đứng lên làm cách mạng, “cướp” được chính quyền và thiết lập nền chuyên chính vô sản. Nhiệm vụ của nó là xây dựng chế độ mới và “chuyên chính đối với các phần tử thù địch chống lại nhân dân”

Đó, nhà nước chuyên chính vô sản này nó tự cướp chính quyền, nó tự đưa nó lên làm nắm quyền, ai chống đối nó thì chính thị là “các phần tử thù địch chống lại nhân dân”.

Nhà nước XHCN lại thích bày ra việc bầu cử, qua đó tạo tính chính danh cho mình và để khoe là ta “dân chủ gấp triệu lần bọn tư bản!”. Bầu hay không bầu gì thì cũng là Đảng nắm chính quyền.

Nhà nước chuyên chính vô sản hay nhà nước XHCN KHÔNG có tính CHÍNH DANH, không được MỘT lá phiếu bầu của dân. Nó sẽ không tự buông “mác lê” quy hàng mà sẽ cố thủ đến cùng. Động lực của nó chính là đặc quyền đặc lợi quá lớn, được quyền tự tung tự tác phè phỡn vơ vét trên sự đau khổ của dân chúng.

Sự chịu đựng của dân đã gần đến mức tận cùng rồi!

Ngày tàn của bạo chúa sẽ luôn luôn rất khó coi!

Cơn lốc chứng khoán và sự trú ẩn vào đồng đô la

Cơn lốc chứng khoán và sự trú ẩn vào đồng đô la

Nam Nguyên, phóng viên RFA

RFA

Cơn lốc chứng khoán và sự trú ẩn vào đồng đô la Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg10204811.jpg

Các nhà đầu tư chứng khoán theo dõi giá cổ phiếu trên bảng điện tử tại một sàn chứng khoán ở Hà Nội hôm 25/8/2015.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Tỷ giá tăng kịch trần ở các ngân hàng thương mại, trên thị trường chợ đen giá đô la vượt mức 22.900đ. Trong khi đó thị trường chứng khoán Việt Nam lao dốc thê thảm. Phải chăng Việt Nam đang thực sự rơi vào cơn lốc xoáy tiền tệ Trung Quốc.

Trả lời phỏng vấn của Nam Nguyên vào tối 25/8/2015, TS Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, Đại học Quốc gia Hà Nội nhận định rằng, toàn bộ các thị trường lớn trên thế giới đang có sự điều chỉnh, Trung Quốc chỉ là một nhân tố. Tình hình liên quan đến giá dầu, cuộc chiến về giá dầu của Ả Rập Saudi và Iran.

Nhà nghiên cứu này cho rằng, tình trạng giá dầu giảm phản ánh nhiều thứ hơn, vừa là sự cạnh tranh nguồn cung của các nước sản xuất dầu, vừa là sự giảm nguồn cầu của Trung Quốc cũng làm cho giá giảm. TS Nguyễn Đức Thành tiếp lời:

“Tôi nghĩ đấy là một yếu tố lớn, còn việc Trung Quốc phá giá đồng tiền thì nó chỉ phản ánh cái kết cục hiện nay là sự khó khăn của nền kinh tế Trung Quốc. Cá nhân tôi không cho rằng Trung Quốc chủ động phát động một cuộc chiến tranh tiền tệ, bởi vì Trung Quốc đang ở thế bị động chứ không phải thế chủ động trong vấn đề giảm giá. Sự giảm giá phản ánh nội tại nền kinh tế Trung Quốc đang suy yếu một cách nhanh hơn chính họ có thể tưởng tượng được, cũng như là giới quan sát có thể tưởng tượng được.

Đây chính là điều khó vì thế giới đang đứng trước cái ngưỡng của sự điều chỉnh. Tôi cho rằng nền kinh tế Việt Nam, thị trường kinh tế Việt Nam cũng đang trong khuynh hướng chung như vậy. Tôi không cho rằng Việt Nam hiện nay đang bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh tiền tệ của Trung Quốc. Bởi vì hiện nay chính sách của Việt Nam rất là rõ sau việc Trung Quốc bất ngờ điều chỉnh. Tuy nó cũng tạo ra một số bất ngờ nhưng bản thân chúng tôi, cũng như các nhà hoạch định chính sách khác của Việt Nam đã nhận ra được vấn đề cốt lõi là sự bị động, thụ động của chính phía Trung Quốc và những điều chúng tôi phân tích liên quan đến giá dầu giảm.”

“ Cá nhân tôi không cho rằng Trung Quốc chủ động phát động một cuộc chiến tranh tiền tệ, bởi vì Trung Quốc đang ở thế bị động chứ không phải thế chủ động trong vấn đề giảm giá.
– TS Nguyễn Đức Thành”

Đánh giá về các biện pháp hạ giá đồng tiền Việt Nam và nới biên độ tỷ giá vừa qua của Ngân hàng Nhà nước, ông Bùi Kiến Thành chuyên gia tài chính hiện sống và làm việc ở Hà Nội nhấn mạnh tới thực tế sức khỏe nền kinh tế Việt Nam. Ông nói việc phá giá đồng bạc Việt Nam không hẳn chỉ là ảnh hưởng ngoại lai, mà Ngân hàng Nhà nước đã có cơ hội nhân thể Trung Quốc phá giá, để có thể vượt ra ngoài cam kết không hạ giá quá 2% trong năm 2015. Với các quyết định phá giá 1% và nới biên độ mua bán đồng đô la thêm 2% lên mức 3% là khá lớn. Chuyên gia Bùi Kiến Thành đặt câu hỏi:

“Nhưng mục đích để làm gì, nếu nói mục đích để khuyến khích hàng Việt Nam xuất khẩu thì Việt Nam có hàng gì mà xuất khẩu. Những mặt hàng tỷ lệ nội địa hóa lớn thì đâu có bao nhiêu, chỉ là nông sản thủy sản không phải là các mặt hàng chủ lực. Ngoài ra mình xuất khẩu giày dép may mặc thì nguyên liệu nhập khẩu gia công rồi xuất khẩu, tỷ lệ phần nguyên liệu nhập khẩu sẽ tăng giá lên vì đồng bạc Việt Nam mất giá, đồng đô la mua nguyên liệu sẽ đắt lên. Như vậy cộng trừ lại chưa chắc gì nó ảnh hưởng tốt cho vấn đề làm giảm giá thành của Việt Nam để tăng năng lực xuất khẩu lên. Điều này phải thận trọng chứ không phải là áp dụng một cách máy móc những nguyên lý về tiền tệ mà các nước khác áp dụng, Việt Nam mình hoàn cảnh nó khác.”

Đối với thông tin thị trường chứng khoán Việt Nam hoảng loạn mà báo chí gọi là ngày đen tối, phiên giao dịch lao dốc ngày 24/8/2015 đã làm tổng vốn hóa thị trường bị mất 60 ngàn tỷ đồng tương đương khoảng 3 tỷ USD. Nếu so với đỉnh cao giữa tháng 7 thì đến hết ngày 24/8 thị trường chứng khoán Việt Nam đã mất khoảng 7,6 tỷ USD.

Tình hình không sáng sủa

Nhận định về tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam với các biểu hiện tiêu cực vừa qua, TS Nguyễn Đức Thành nhận định:

“Tôi cho là sự điều chỉnh ở đây là do thị trường đón nhận các tin mà có thể cảm thấy là tiêu cực của bầu không khí chung đối với thị trường tài chính thế giới, sự bất ổn của Trung Quốc, kể cả các thị trường lớn như Mỹ, bản thân các nhà đầu tư cũng có những kỳ vọng mà có thể nó tiêu cực theo môi trường hiện nay thì họ có những sự điều chỉnh của họ. Thế còn diễn biến xa hơn, tôi không có khả năng dự báo được xa hơn, vì là nó tùy thuộc rất nhiều vào những kỳ vọng và tính toán của các nhà đầu tư và quan điểm của họ về tương lai, không chỉ Việt Nam mà của thế giới nữa…sự điều chỉnh hiện nay theo tôi là ngắn hạn cục bộ thôi.”

Trong câu chuyện với chúng tôi, chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành có cách nhìn rất tiêu cực về thị trường chứng khoán Việt Nam. Ông nói:

“Thị trường chứng khoán Việt Nam không phải là một thị trường thật mà là thị trường ảo. Giá chứng khoán dựa trên đầu cơ chứ không dựa trên sức khỏe doanh nghiệp, chỉ cần một tín hiệu không tốt thì mấy ông đầu cơ bỏ chạy. Mấy ông bán ra nhiều mà không có người mua thì tất nhiên chứng khoán phải xuống. Còn nếu những doanh nghiệp thực sự ăn nên làm ra tốt thì lại khác. Nhưng cũng có trường hợp doanh nghiệp có fundamental tốt nhưng bị ở trong tình trạng gọi là náo loạn bị stampede đạp nhau mà chạy, lúc đó là khủng hoảng những anh tốt cũng bị tai nạn do sự đạp lên nhau mà chạy thôi.”

“ Thị trường chứng khoán Việt Nam không phải là một thị trường thật mà là thị trường ảo. Giá chứng khoán dựa trên đầu cơ chứ không dựa trên sức khỏe doanh nghiệp, chỉ cần một tín hiệu không tốt thì mấy ông đầu cơ bỏ chạy
– Chuyên gia Bùi Kiến Thành”

Cùng với cơn lốc chứng khoán, giá đô la tại các ngân hàng đã tăng hết biên độ cho phép tức 22.547 đồng. Trong khi đó ở thị trường chợ đen người mua đô la phải chịu giá tới 22.900 đồng, đây là mức chênh lệch khá cao. Chuyên gia Bùi Kiến Thành  nhận định:

“Đây là biểu hiện của vấn đề trú ẩn, thấy đồng tiền Việt Nam đương yếu như thế thì phải tìm cách trú ẩn, mua đô la hay mua vàng trú ẩn trong khi nền kinh tế bất ổn. Chuyện này xảy ra thường xuyên trong tất cả các nền kinh tế không riêng gì Việt Nam. Khi thấy tình hình kinh tế bất ổn rồi, những người có tiền không đầu tư vào chứng khoán được, vào bất động sản được, không đầu tư vào doanh nghiệp được, người ta muốn bảo vệ giá trị đồng tiền thì người ta mua đô la, mà khi người mua nhiều mà người bán ít thì tự nhiên giá nó lên… Vì vậy phải làm sao cho nền kinh tế phát triển để có nơi cho người có tiền có thể đầu tư.”

Kết thúc câu chuyện với chúng tôi, chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành nhận định rằng, Việt Nam cần nhìn vào tình hình nội tại của mình như thế nào để làm việc, chứ không phải nhìn vào vấn đề tỷ giá trên thế giới. Chắc chắn với tình hình cả thế giới bị xáo động như thế này, nếu các nước khác người ta co lại không nhập khẩu, Việt Nam dù có xuất khẩu gì thì cũng bị teo tóp lại. Như vậy tình hình kinh tế Việt Nam từ giờ đến cuối năm không sáng sủa chút nào, mà dùng chính sách tỷ giá tiền tệ để giải quyết vấn đề kinh tế Việt Nam thì nó chỉ có tác dụng rất hạn chế.

Ông Bùi Kiến Thành cho rằng giải quyết kinh tế Việt Nam là làm sao cho doanh nghiệp phát triển, làm sao sản xuất ra những mặt hàng có thể bán được với giá phải chăng, giá cạnh tranh. Theo ông, hiện giờ Việt Nam chưa làm được và làm sao có thể làm được khi một loạt rào cản đang bao vây doanh nghiệp, từ quản lý hành chính khó khăn cho tới nạn tham nhũng và điều gọi là chi phí quan hệ chiếm tỷ lệ quá lớn trong giá thành sản xuất.

Bình Thuận: Gia đình 6 người tự làm đám tang cho mình

Bình Thuận: Gia đình 6 người tự làm đám tang cho mình

Nguoi-viet.com

BÌNH THUẬN (NV) – Bảng cáo phó to đùng ghi chữ “oan hồn” mà không ghi thông tin gì về tên tuổi, ngày giờ của người đã qua đời. Bên trong nhà xuất hiện khá nhiều người mặc đồ tang, khiến dư luận xôn xao.


Nơi tổ chức đám tang “kỳ lạ” ở thành phố Phan Thiết. (Hình: Tuổi Trẻ)

Tuổi Trẻ loan tin, vào lúc 9 giờ sáng ngày 24 tháng 8, 2015, nhiều người dân ở khu vực cầu Dục Thanh thuộc phường Phú Trinh, thành phố Phan Thiết đều khi bất ngờ nhìn thấy phía trước tiệm cầm đồ Kim Lợi, ở đường Trần Phú treo cờ tang và đặt 2 vòng hoa phía trước cửa tự tổ chức đám tang cho… 6 người còn sống.

Phía trên tường nhà dán bảng cáo phó ghi chữ “oan hồn” mà không ghi thông tin gì về tên tuổi, ngày giờ của người đã qua đời. Bên trong nhà xuất hiện khá nhiều người mặc đồ tang đi lại trong không khí buồn thê thảm nhưng không thấy xuất hiện giọt nước mắt nào.

Tin cho hay, nhiều người hàng xóm thấy vậy chạy sang chia buồn thì được chủ nhà thông báo họ tự tổ chức làm tang lễ cho các thành viên đang còn sống khỏe mạnh trong gia đình mình!

Bà Nguyễn Thị Tuyết Hạnh (51 tuổi), chủ tiệm cầm đồ Kim Lợi cho biết, bà và 5 thành viên khác trong gia đình mặc đồ tang vì chồng bà là ông N.Đ.L. (52 tuổi) ngoại tình với em dâu của bà.

“Khi bị bắt quả tang, ông ấy đã trốn đi rồi gọi giang hồ đến đe dọa giết chúng tôi. Con gái tôi ở Sài Gòn biết chuyện đã đổ bệnh. Gia đình tự làm đám tang trước cho mình để mọi người biết sự việc. Nếu chúng tôi có chết bất ngờ thì đây là nguyên nhân,” bà Hạnh nói.

Bà Hạnh cho biết thêm, khi ông L. ra khỏi nhà có mang theo 2 xe hơi, trong đó 1 xe là của gia đình, 1 xe là do khách hàng cầm cố.

Trong khi đó, ông L. đã làm đơn tố cáo gởi lên công an thành phố Phan Thiết cho rằng, các thành viên trong gia đình mình nghe theo lời thầy bói nên đã giam lỏng ông trong nhà để chữa bệnh, trừ tà. Ông L. đã phải trốn đi khỏi căn nhà này.

Do đám tang quá lạ, rất đông người dân hiếu kỳ ùn ùn kéo tới xem, gây ùn tắc giao thông tại khu vực. Đến 11 giờ cùng ngày, công an đã đến vận động gia đình bà Hạnh tháo bỏ cờ tang, vòng hoa và bố cáo. Tuy gia đình bà đã chấp hành, song các thành viên trong nhà vẫn còn mặc đồ tang và đã đóng chặt cửa. (Tr.N)

TÔI LÀ AI MÀ PHÁN XÉT

TÔI LÀ AI MÀ PHÁN XÉT

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Có lẽ câu được trích nhiều nhất của Giáo hoàng Phanxicô là khi ngài trả lời câu hỏi trực diện về một vấn đề luân lý đặc biệt nghiêm trọng và bất định.  Câu trả lời lừng danh gây nhiều tranh cãi của ngài là: Tôi là ai mà phán xét?

Dù nhận định này thường được xem là nói đùa và không nghiêm trọng lắm, nhưng thực sự, đây là một lời có căn cứ vững vàng.  Dường như, chính Chúa Giêsu cũng nói một điều về căn bản là tương tự. Ví dụ như, khi Đức Giêsu nói chuyện với ông Nicôđêmô, Ngài đã nói một chuyện căn bản: Ta không phán xét ai.

Nếu Tin mừng theo thánh Gioan là khả tín, thì như thế Chúa Giêsu không phán xét ai.  Thiên Chúa không phán xét ai.  Nhưng phải xét theo bối cảnh.  Điều này không có nghĩa là không có bất kỳ phán xét luân lý nào, và không có nghĩa là hành động của chúng ta không cần quan tâm đến sự kiểm soát đạo đức.  Có phán xét, nhưng không phải là phán xét tưởng tượng trong tâm thức chung.  Theo những gì Chúa Giêsu nói với chúng ta trong Tin mừng thánh Gioan, thì phán xét như thế này:

Ánh sáng, chân lý, và tinh thần Thiên Chúa đến trong thế giới.  Chúng ta phán xét bản thân dựa theo cách chúng ta sống ra sao trước những sự này: Ánh sáng Thiên Chúa đã đến thế gian, nhưng chúng ta chọn sống trong bóng tối.  Đó là quyết định của chúng ta, phán xét của chúng ta.  Chân lý Thiên Chúa đã được mặc khải, nhưng chúng ta chọn sống trong sai trái, trong dối trá.  Đó là quyết định của chúng ta, phán xét của chúng ta.  Và tinh thần của Thiên Chúa đã đến thế gian, nhưng chúng ta chọn sống ngoài tinh thần Chúa, và ở lại trong một tinh thần khác.  Đó cũng là quyết định của chúng ta, phán xét của chúng ta.  Thiên Chúa không phán xét ai.  Còn chúng ta phán xét nhau.  Do đó, chúng ta có thể nói rằng Thiên Chúa không lên án ai, nhưng chúng ta lại chọn lên án nhau.  Và Thiên Chúa không trừng phạt ai, nhưng chúng ta chọn trừng phạt nhau.  Phán xét luân lý tiêu cực là thứ chúng ta tự áp đặt cho mình.  Có lẽ điều này hơi mơ hồ trừu tượng, nhưng không phải vậy.  Chúng ta biết điều này trong cuộc sống, chúng ta cảm nhận trong mình cái nhãn cho những hành động của chúng ta, một ví dụ là: Chúng ta phán xét bản thân nhờ Thần Khí như thế nào:

Tinh thần của Thiên Chúa, Thần Khí, không phải là một sự trừu tượng và không thể nắm bắt.  Thánh Phaolô, trong thư gởi tín hữu Galat, đã mô tả Thần Khí bằng những khái niệm rất rõ ràng, để không bị thói tự lập luận làm cho mơ hồ và nhập nhằng.  Ngài mô tả và xác định Thần Khí như thế nào?

Để làm rõ mọi sự, trước hết, thánh tông đồ đưa ra một tương phản bằng cách nói những sự gì không phải là Thần Khí.  Thánh Phaolô nói rằng, tinh thần của Thiên Chúa, không phải là tinh thần chìu theo bản thân, ham mê nhục dục, ghen tỵ, kình địch, chống đối, nóng giận, sinh sự, say sưa, bè phái.  Bất kỳ lúc nào, chúng ta nuôi dưỡng tính cách này trong đời mình, thì chúng ta đừng tự lừa dối bản thân rằng mình đang sống trong tinh thần Thiên Chúa, bất chấp chúng ta có giữ đạo thường xuyên, sốt sắng, và thành khẩn đến đâu chăng nữa.  Thánh Phaolô nói, Thần Khí là tinh thần nhân đạo, vui mừng, hòa bình, nhẫn nại, tử tế, tốt lành, khả tín, ân cần, và khiết tịnh.  Chỉ khi sống trong các nhân đức này, thì chúng ta mới sống trong tinh thần Thiên Chúa.

Vậy nên, phán xét là như thế này: Tinh thần của Thiên Chúa (nhân đạo, vui mừng, hòa bình, nhẫn nại, tử tế, tốt lành, khả tín, ân cần, và khiết tịnh) đã được bày tỏ cho biết.  Chúng ta có thể chọn sống trong những nhân đức này hay có thể chọn sống trong những thứ đối lập (chìu theo bản thân, ham mê nhục dục, ghen tỵ, kình địch, chống đối, nóng giận, sinh sự, say sưa, bè phái.)  Một chọn lựa dẫn chúng ta sống với Thiên Chúa, và chọn lựa kia dẫn chúng ta xa khỏi Chúa.  Và chọn lựa đó là của chúng ta, chứ không phải từ bên ngoài.  Chúng ta phán xét chính mình.  Thiên Chúa không phán xét ai.  Thiên Chúa không cần phải phán xét.

Khi xem xét từ quan điểm này, chúng ta làm rõ được một số hiểu lầm gây rối loạn trong tâm thức các tín hữu cũng như trong tâm thức của những người chỉ trích.  Chúng ta thường nghe lời chỉ trích này: Nếu Thiên Chúa là toàn thiện, toàn mến, và hoàn toàn thương xót, thì làm sao Thiên Chúa có thể kết án con người đời đời trong hỏa ngục?  Một câu hỏi có căn cứ, dù không thực sự đủ suy tư.  Tại sao?  Bởi Thiên Chúa không phán xét ai, Thiên Chúa không trừng phạt ai.  Thiên Chúa không kết án ai xuống hỏa ngục.  Những điều này là chúng ta gây ra cho mình.  Chúng ta tự phán xét mình, tự trừng phạt mình, và tự đẩy mình vào đủ loại hỏa ngục bất kỳ lúc nào chúng ta chọn không sống trong ánh sáng, chân lý và tinh thần Thiên Chúa.  Và phán xét này là do chúng ta tự gây ra, trừng phạt này là do tay chúng ta, và lửa hỏa ngục là bởi chúng ta mà ra.

Chúng ta rút được một số bài học từ việc này.  Trước hết, như chúng ta vừa thấy, sự thật Thiên Chúa không phán xét ai, giúp cho chúng ta làm rõ biện thần luận của chúng ta, nghĩa là giúp giảm đi tất cả những hiểu lầm quanh lòng thương xót Thiên Chúa, và xóa bỏ lời cáo buộc rằng một Thiên Chúa hoàn toàn thương xót lại có thể kết án con người đời đời trong hỏa ngục.  Và hơn nữa, đây là một thách thức mạnh mẽ đòi chúng ta phải bớt phán xét đi, hãy để lúa và cỏ lùng tự phân loại theo thời gian, để ánh sáng phán quyết bóng tối, để sự thật phán xét sai lầm, và như giáo hoàng Phanxicô, chúng ta hãy bớt vội vàng phán xét nhân danh Thiên Chúa, và hãy biết nói rằng: “Tôi là ai mà phán xét?”

Rev. Ron Rolheiser, OMI

DUYÊN TÌNH HAY DUYÊN NỢ?!

DUYÊN TÌNH HAY DUYÊN NỢ?!

(Tâm lý hôn nhân)

Trần Mỹ Duyệt

Khi thấy vợ chồng nào chia tay “đường ai nấy đi”, chấm dứt một đoạn đường mà họ đã vai kề vai sánh bước bên nhau sau những năm chồng vợ, người đời thường nói, họ đã “duyên nợ đã hết!” Và người trong cuộc thì ai cũng dựa vào định kiến “duyên nợ” ấy để tự an ủi mình, hoặc để tự bào chữa cho mình sau những đổ vỡ ấy.

Nhưng thực tế, khi hai người sau một thời gian tìm hiểu nhau, yêu nhau tha thiết, và kết hôn với nhau, đã sinh con, đẻ cái rồi vì một lý do nào đó bỏ nhau, chia tay nhau, coi nhau như kẻ thù thì đâu là “duyên”, đâu là “ tình”, và đây là “nợ”?!

Thí dụ, một bà được thân nhân bảo lãnh qua Mỹ, và dĩ nhiên, có chồng bà cùng đi. Nhưng cái trớ trêu trong trường hợp này, là bà thừa biết, khi vợ chồng sang được đến Hoa Kỳ, chắc chắn ông sẽ li dị bà rồi chờ sau khi thành công dân Mỹ, sẽ về Việt Nam đưa người tình của ông qua Mỹ với ông. Chuyện ông ngoại tình thì bà cũng biết, các con ông bà cũng đã biết, và đúng hơn, chính các con bà đã khuyên bà đừng đưa ông qua Mỹ để bị ông lợi dụng mà thêm đau khổ! Nhưng bà trả lời: “Đó là duyên nợ. Tao nợ ba chúng mày bây giờ tao phải trả. Trả trước hay trả sau, nếu có cơ hội thì trả cho xong, như vậy sẽ nhẹ nhõm những ngày còn lại.”

Nếu có ai thắc mắc về món nợ mà bà đã nợ với ông, thì được bà cho biết, thuở còn yêu nhau, ông đã hy sinh cái học bổng để ở lại bên bà, và để cưới được bà. Bà cho đây là một món nợ bà đã nợ chồng bà. Bà muốn trả món nợ ấy bằng cách nhân cơ hội được người nhà bảo lãnh, cho ông ta một vé máy bay qua Mỹ.

Câu hỏi được nêu lên ở đây phải chăng đó là một món nợ mà bà phải trả? Không hẳn thế. Hoàn toàn không? Bà chẳng nợ gì ông cái học bổng ấy, vì đó là quyết định của ông, và vì ông muốn được bà. Âu cũng là cái giá của tình yêu. Hoặc cũng có thể ông nghĩ rằng nếu ông xa bà trong thời gian du học, ông sẽ mất bà về tay một người đàn ông khác, nên để chắc ăn, ông đã ở lại. Nếu suy nghĩ như vậy mà ông bỏ học bổng thì đâu bà có nợ nần gì ông. Đó chẳng qua là tại ông thiếu tự tin, và thiếu niềm tin vào người yêu mình! Hay tại ông muốn làm một cú chơi ngông để chinh phục trái tim người yêu?!

Hoặc như thiếu nữ kia đã cưu mang một chàng trai nghèo, gặp hoàn cảnh khó khăn. Giúp cho học hành, chung sức xây dựng một gia đình hạnh phúc, nhưng sau khi đã thành danh thì phản bội vợ bằng những cuộc tình khác thì thiếu nữ này “nợ” người chồng phản bội kia cái gì? Kết luận sau cùng thường cho rằng, những món nợ ấy bắt nguồn từ kiếp trước. Những suy nghĩ như vậy dựa vào triết lý của nhà Phật vì tin rằng cái duyên, ngay cả cái duyên chồng vợ là “một ràng buộc đã định sẵn trong đời người ta.” (Từ Điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản Hồng Đức, 2009). Linh mục Anthony Trần Văn Kiệm, trong Từ Điển Văn Học Việt Nam cũng định nghĩa chữ duyên như sau: “nên vợ chồng theo số trời định”. Ở trong định nghĩa này, ông nhắc đến hai chữ “duyên hương lửa” và “duyên nợ.” ( Lm. Anthony Trần Văn Kiệm. Từ Điển Văn Học Việt Nam, phần thứ nhì – cuốn 1, in lần thứ nhất 2007.)

Nhưng nếu hỏi các bạn trẻ, những đôi vợ chồng trẻ ngày này khi hai vợ chồng chia tay nhau thì các bạn ấy gọi hành động này là gì? Câu trả lời là, ly dị – divorce. Mà divorce được định nghĩa là “the legally ending of a marriage “their marriage ended in divorce”. (Longman – Dictionary of American English,  third edition, 2004). Một kết thúc đời hôn nhân một cách hợp pháp, được luật pháp công nhận. Đơn sơ chỉ có thế.

Nếu coi hôn nhân là một định chế của xã hội, thì việc chấm dứt hôn nhân một cách hợp pháp theo định chế ấy là đúng, nhưng hôn nhân không chỉ là một khế ước, một lời hứa trước mặt quan tòa hay người chứng giám. Hôn nhân còn mang một ý nghĩa cao hơn tiềm ẩn trong tâm linh, trong định luật tự nhiên mà Thượng Đế đã ghi tạc vào lòng mỗi người. Mọi nền văn hóa, và qua mọi thời đại việc cử hành hôn nhân luôn pha lẫn giữa những truyền thống xã hội và các nghi lễ tâm linh. Hơn hai ngàn năm trước, khi trả lời về vấn nạn ly dị, Đức Kitô đã nói với những người chủ trương ly dị những lời này:

“Các ông hẳn chưa đọc rằng Ngài đã tạo dựng họ từ ban đầu CÓ NAM VÀ NỮ, và phán,

‘BỞI THẾ, NGƯỜI ĐÀN ÔNG SẼ LÌA BỎ CHA MẸ MÌNH VÀ KẾT HỢP VỚI VỢ MÌNH,

VÀ CẢ HAI SẼ TRỞ THÀNH MỘT XƯƠNG THỊT’?

Vì thế họ không còn là hai, nhưng một xương thịt.

Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, con người không được phân ly” (Mt 19:4-6).

Qua câu trả lời của Đức Kitô, chúng ta tìm thấy ý nghĩa tiềm ẩn của duyên phận theo tư tưởng nhà Phật, và ý nghĩa “nên vợ chồng theo số trời định” trong định nghĩa của linh mục Trần Văn Kiểm.  Nhưng cần hiểu rằng, Thượng Đế không buộc hai người lại với nhau, rồi bắt người này phải trả món nợ tiền kiếp của người kia. Duyên tình hay duyên số ở đây là những hoàn cảnh, những điều kiện thuận lợi sẵn có mà hai người có thể đến với nhau, tìm hiểu, yêu thương và kết hôn với nhau.

Cốt lõi của cái “duyên” – sự liên kết mà Thượng Đế muốn có nơi hai người là tình yêu chung thủy.

Vì thế, sự chọn lựa ấy của hai người được gọi là một ràng buộc mang tính vĩnh viễn, dựa trên nền tảng vững bền là tình yêu. Nó cũng nói lên sự quyết định rõ ràng, mạnh mẽ, và trưởng thành của hai người khi tiến tới hôn nhân.

Vì đặc tính chính của tình yêu là hy sinh, là vĩnh cửu. Và hôn nhân được xây dựng trên tình yêu.

Như vậy, nếu không chấp nhận sự tan vỡ của hôn nhân là một phần của định mệnh.

Không chấp nhận coi hôn nhân như một món nợ (duyên nợ) mà hai người nợ nhau dù ở kiếp này hay kiếp trước phải trả.

Chúng ta phải có tư tưởng như thế nào trước những đổ vỡ ngày càng nhiều của đời sống hôn nhân?

Chúng ta có cần phải đề cập tới thời gian tìm hiểu, lý do bước vào hôn nhân, nhất là mình đã suy nghĩ, đã sống, đã hành động như thế nào trong hôn nhân không?

“Tình yêu như trái phá.

Con tim mù lòa” (Trịnh Công Sơn)

Cộng thêm quan niệm yêu cuồng, sống vội, nhiều bạn trẻ đã lao vào tình yêu một cách mãnh liệt, mù quáng như con thiêu thân trước ánh đèn. Họ tỏ ra thiếu trưởng thành, ngay cả thiếu suy nghĩ chín chắn trong yêu đương.

Những mối tình này nếu có dẫn đến đổ vỡ sau khi kết hôn mà đổ tại duyên số thì là một lối cắt nghĩa gượng gạo, tội nghiệp cho chữ nghĩa.

Nhiều ông chồng bỏ vợ con vì một bóng hồng khác đẹp hơn, hấp dẫn hơn, rồi cho rằng tại duyên số.

Hoặc nhiều người vợ bỏ chồng con chạy theo một người đàn ông khác giầu hơn, đẹp trai hơn, có địa vị hơn chồng mình rồi cũng lấy duyên số ra để tự bào chữa:

“Duyên nợ tôi với chồng tôi đã hết. Tôi đã trả món nợ ấy với ông 10, 20, hoặc 30 năm nay rồi!”

Lý do nào bước vào hôn nhân?

Vì tình yêu chân thật hay có những lý do tiềm ẩn như tiền, tài, danh vọng, nhan sắc, và dục vọng?

Hoặc do sức ép của gia đình, của bạn bè, của xã hội?…

Nếu bước vào hôn nhân với những lý do như thế và khi đổ bể mà đổ thừa cho duyên số, thì cũng rất tội nghiệp cho hai chữ duyên số. Đúng ra, một hoặc hai người trong trường hợp này phải đối diện với sự thật để nhận ra rằng hôn nhân họ không đi đến kết quả vì họ kỳ vọng ở tiền, tài, danh vọng, và nhan sắc cũng như dục vọng.

Đây không phải là yêu, không phải là nền tảng của hôn nhân.

Sau cùng bạn đã bước vào hôn nhân với tinh thần trách nhiệm, với nhận thức về những khó khăn sẽ gặp phải và đã hành động như thế nào trước những khó khăn ấy?

Bỏ chạy, trốn thoát, nguyền rủa, bực tức, hoặc đổ lỗi cho nhau.

Nếu bạn giải quyết những khó khăn của hôn nhân theo suy nghĩ này, theo cảm tính này, thì dù hôn nhân của bạn có khởi đầu đẹp đến mấy đi nữa, cũng sẽ đưa đến một kết quả không như ý bạn muốn.

Hôn nhân là một hành trình của hai kẻ yêu nhau.

Họ đi bên nhau, chia sẻ với nhau tất cả những niềm vui và nỗi buồn, những thành công và thất bại.

Trong hôn nhân không có thứ hạnh phúc một mình.

Không có chuyện người chồng hạnh phúc mà người vợ không hạnh phúc hay ngược lại.

Tóm lại, đây chỉ là một lối nhìn, một suy tư về những gì mà thường ngày chúng ta vẫn đối diện khi nghĩ về hôn nhân, khi nói về hôn nhân, và khi va chạm với đời sống thực của hôn nhân.

Nhưng dù gì đi nữa, thì sự đổ vỡ của một cuộc tình không thể qui hướng cho số mệnh, cho duyên nợ.

Nó phải có những lý do đến từ cả hai vợ chồng.

Chỉ khi nào suy nghĩ như vậy, chúng ta mới tìm được câu trả lời cho những khó khăn thường gặp phải trong đời sống hôn nhân.

Thự tế hơn, mời bạn tham dự một Khóa Nazareth để hiểu hơn về tình yêu, về hôn nhân, và về những lối giải quyết khi gặp những khó khăn trong hôn nhân.

Bạn có thể vào trang nhà www.giadinhnazareth.org để biết thêm chi tiết về Khóa Nazareth sẽ được tổ chức vào đầu tháng 10 năm nay.