Khủng hoảng di dân tràn sang Hy Lạp và Macedonia

Khủng hoảng di dân tràn sang Hy Lạp và Macedonia

Những người di dân đang đợi cảnh sát Macedonia cho phép đi qua biên giới giữa Hy Lạp và Macedonia.

Những người di dân đang đợi cảnh sát Macedonia cho phép đi qua biên giới giữa Hy Lạp và Macedonia.

Giữa lúc người tỵ nạn từ Syria và các nước khác bị xâu xé vì chiến tranh tìm đường từ Hungary đi sang nước Đức và các điểm đến khác ở Châu Âu, hàng ngàn người khác đang bị kẹt ở Hy Lạp và Macedonia, mà không hề biết khi nào họ có thể tiếp tục cuộc hành trình.

Cao Ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc cho hay khoảng 30.000 người di dân đã tới Hy Lạp, kể cả từ 15.000 tới 18.000 người chỉ trên đảo Lesbos mà thôi, trong khi 7.000 người tỵ nạn Syria đã tới Macedonia, một nước cộng hoà thuộc Nam Tư cũ.

Bộ trưởng Nội vụ lâm thời của Hy Lạp Yiannis Mouzalas được Pháp tấn xã dẫn lời nói trên một đài phát thanh ở địa phương rằng tình hình trên đảo Lesbos “sắp bùng nổ”.

Hãng thông tấn Reuters nói cơ quan tỵ nạn LHQ đã ra lời kêu gọi khẩn cấp nói rằng con số người tỵ nạn tìm đường lánh nạn trên khắp Địa Trung Hải để tới Châu Âu sẽ lên tới 400.000 người trong năm nay.

Bà Melissa Fleming, người phát ngôn của Cao Uỷ Tỵ nạn LHQ, được Reuters dẫn lời nói với các nhà báo ở Geneve hôm nay rằng các nước EU phải thiết lập ‘một hệ thống bảo đảm tái định cư”, trong đó mỗi nước cam kết sẽ nhận một con số di dân nhất định.

AFP tường thuật rằng họ có thông tin là Chủ tịch Ủy Hội Âu Châu Jean-Claude Juncker dự kiến ra mắt một kế hoạch vào ngày mai, theo đó Đức sẽ nhận 31.000 người di dân, Pháp nhận 24.000 người và Tây Ban Nha 15.000 người.

Phó Thủ Tướng Đức Sigmar Gabriel nói với báo chí hôm qua rằng nước ông có khả năng tiếp nhận tới 500.000 người tỵ nạn mỗi năm trong vài năm tới.

Đức trước đây nói rằng họ dự kiến sẽ nhận tới 800.000 người tỵ nạn trong năm nay.

Bà Suu Kyi kêu gọi quốc tế giám sát bầu cử Myanmar

Bà Suu Kyi kêu gọi quốc tế giám sát bầu cử Myanmar

Lãnh tụ đối lập Myanmar Aung San Suu Kyi phát biểu tại bang Shan ở miền nam Myanmar, ngày 6/9/2015.

Lãnh tụ đối lập Myanmar Aung San Suu Kyi phát biểu tại bang Shan ở miền nam Myanmar, ngày 6/9/2015.

Lãnh tụ đối lập Aung San Suu Kyi kêu gọi nên có một cuộc giám sát quốc tế để theo dõi cuộc tổng tuyển cử ở Myanmar vào tháng 11 này.

Đây là cuộc bầu cử đầu tiên tính từ nhiều thập niên nay từ khi quân đội lên cầm quyền, cho tới khi chế độ quân phiệt kết thúc vào năm 2011.

Trong một băng video tải lên hôm nay trên trang Facebook của chính đảng của bà, là Liên minh Dân chủ Toàn quốc, gọi tắt là NLD, nhà đấu tranh cho dân chủ lâu năm nói rằng cuộc bầu cử này là lần đầu tiên trong nhiều thập niên mà nhân dân Miến Điện có cơ hội mang lại những thay đổi thực sự.

Bà Suu Kyi nói “đây là một cơ hội mà chúng ta không thể bỏ lỡ. Chúng tôi hy vọng rằng cả thế giới hiểu được việc có được các cuộc bầu cử tự do và công bằng quan trọng như thế nào đối với chúng tôi, và đảm bảo các kết quả của một cuộc bầu cử như vậy phải được tất cả các bên liên quan tôn trọng. ”

Bà nói thêm “hãy giúp chúng tôi bằng cách quan sát những gì đang diễn ra, trước các cuộc bầu cử, trong các cuộc bầu cử, và đặc biệt quan trọng sau khi diễn ra bầu cử. Đây là đóng góp lớn nhất mà quý vị có thể làm cho hoà bình và tiến bộ của nước này.”

Hôm này là ngày đầu tiên của chiến dịch vận động chính thức cho cuộc bầu cử ngày 8/11 để bầu ra quốc hội mới và quốc hội đó sẽ chọn tổng thống.

Đảng NLD được dự kiến sẽ đoạt được nhiều thắng lợi trong cuộc bầu cử này. Nhưng bà Suu Kyi không hội đủ điều kiện để trở thành tổng thống, vì một điều khoản trong Hiến Pháp loại trừ bà vì bà có hai người con trai có quốc tịch nước ngoài.

1,001 lý do Gởi Tiền Về Việt Nam

1,001 lý do Gởi Tiền Về Việt Nam

Nguoi-viet.com

Đằng-Giao/Người Việt

CLAREMONT, California (NV) Giáo sư Đại Học Pomona, Thái Cẩm Hưng, hoàn tất công trình nghiên cứu về một đề tài ai ai trong chúng ta cũng đã, đang và sẽ làm, nhưng không hề hiểu biết chi tiết về việc ấy: Gởi tiền về Việt Nam.

Cuốn sách có tựa đề ‘Insufficient Funds,’ tạm dịch là “Không Đủ Tiền.”

Cuốn sách mới của Giáo Sư Thái Cẩm Hưng.(Hình do ông Thái Cẩm Hưng cung cấp)

“Không đủ tiền” đã lập tức nhận được giải thưởng Sách Hay Nhất Năm 2015 về Á Châu của Hội Xã Hội Học Hoa Kỳ.

Giáo sư Hưng trả lời nhật báo Người Việt: “Tựa này là do một Việt kiều ở Virginia gặp tôi tại Việt Nam đề nghị.”

“Anh ta kể một hôm ra ATM rút tiền nhưng không được, chỉ thấy biên nhận có dòng chữ: “INSUFFICIENT FUNDS:  SORRY YOU CANNOT WITHDRAW MONEY AT THIS TIME. (Không đủ tiền: Xin cáo lỗi, quí vị không thể rút tiền bây giờ).”

Các nhà phê bình gọi đây là một “cuộc nghiên cứu thành công rực rỡ mang tính bước ngoặt,” một tường thuật về tài chánh của người di dân, một “đóng góp lớn lao cho sự hiểu biết của chúng ta về sinh hoạt kiều hối, theo thông cáo báo chí của Đại Học Pomona.

“Tôi nảy ý định viết cuốn sách này là vì tôi nhìn thấy sự tiêu xài gần như vô độ của Việt kiều khi về nước,” giáo sư Hưng nói.

 

 

Giáo Sư Thái Cẩm Hưng trong một buổi thuyết Giảng.  (Hình: Pomona.edu)

“Cho nên tôi muốn tìm hiểu để coi có nguyên nhân gì khiến họ làm như vậy, nguyên nhân sâu xa hơn là khoe khoang, “lấy le””.

Cũng là người Việt di cư, vượt biên đến Mỹ đầu thập niên 1980, nghiên cứu này có ý nghĩa sâu xa cho chính bản thân tác giả.

“Lớn lên trong hoàn cảnh nghèo khó ở tiểu bang Mississippi, tôi từng chứng kiến cảnh cha mẹ tôi gởi tiền về Việt Nam để rồi người nhà trong nước lâm vào cảnh phá sản, mất cả chì lẫn chài,” giáo sư Hưng thuật chuyện.

Một trong những điểm đáng chú ý, ông nhận định rằng rất nhiều mối quan hệ gia đình của người Việt đã bị “tài chánh hóa,” nghĩa là nền tảng tình cảm gia đình được xây dựng dựa trên tiền bạc.

Gởi tiền về cho thân nhân ở Việt Nam là cách biểu lộ tình thương.

Rất đông gia đình gốc Việt ở nước ngoài gởi tiền cho thân nhân với giá quá đắt, bất chấp sự bấp bênh tài chánh của họ ở ngay tại đây.

Những gia đình này làm chỉ vừa đủ “trên mức nghèo,” theo ấn định của chính phủ là $23,000/năm cho gia đình bốn người, hoặc $14,000/năm cho một người.

Thế mà, vì gởi tiền về Việt Nam, họ phải chịu sống cảnh nghèo nàn, túng thiếu. Họ tự đặt mình vào một tầng lớp mà các nhà xã hội học gọi là “the missing class,” một giai cấp bị lãng quên, trong các cuộc thảo luận về an sinh xã hôi hoặc cơ hội tìm việc làm, giáo sư Hưng ghi nhận.

“Họ tiện tặn, không dám tiêu xài để gởi tiền trên mức họ làm ra cho nên trong khi họ có thể trợ giúp cho thân nhân ở Việt Nam có được cuộc sống thoải mái, bao nhiêu người đã mang công, mắc nợ.”

“Đây là một hy sinh lớn.”

“Khổ nỗi, rất hiếm người nhận tiền ở Viêt Nam thấu hiểu được sự hy sinh này bởi vì chả bao giờ người gởi lại nói thật hoàn cảnh tài chính của mình, của những người đã sang đến Mỹ.”

“Họ muốn để người nhà nghĩ rằng họ đã đạt được “giấc mơ Mỹ” và đón nhận sự nể phục và tôn kính của thân nhân.”

Ở chương Sáu, sách bàn về chuyên gởi tiền lâu dần thành một thói quen.

“Đa số, khi đã gởi tiền vài lần thì thân nhân bắt đầu có hy vọng, trông mong, nên người gởi buộc phải tiếp tục gởi vì không muốn người nhà thất vọng.”

Chương Bảy bàn về tình tạng những đòi hỏi của người trong nước bị cám dỗ bởi những nhu cầu vật chất phải xài đồ ngoại một cách thiếu thực tế nên tạo áp lực thân nhân nước ngoài.

Chương Chín đề cập đến những câu chuyện thương tâm: Một ông và một bà coi việc gởi tiền như một bổn phận, vì gởi quá nhiều tiền trong thời gian dài nên lâm vào hoàn cảnh phá sản.

Xấu hổ và mặc cảm với thân nhân đã khiến họ không dám liên lạc nữa; họ cắt đứt với gia đình. Trong lúc ấy, gia đình ở Việt Nam không hiểu lý do gì.

“Ở góc nhìn khác, khi về nước, những Việt kiều này thường tiêu tiền phung phí khiến thân nhân không thể ngờ rằng Việt kiều người nhà của mình lại có thể lâm vào cảnh túng thiếu ở nước ngoài được.”

 

Tác giả Thái Cẩm Hưng.  (Hình do ông Thái Cẩm Hưng cung cấp)

“Tôi xin nhấn mạnh, cuốn sách này hoàn toàn không phê bình hay châm biếm những người gởi tiền được đề cập mà là để chúng ta cảm thông cho họ, cho hoàn cảnh của họ.”

“Tôi có hai cảm giác rất trái ngược khi viết cuốn ‘Tiền không đủ,” một là buồn và một là thích thú. Buồn cho những cảnh sống quá thê thảm và tạm bợ, còn thích thú là vì những tình thương sâu đậm qua sự hy sinh cho thân nhân.”

Giáo sư Hưng nêu rằng, người di cư có những lợi điểm hơn những sắc dân khác như dân da trắng hoặc da đen nghèo vì họ có chỗ để cho và tiêu xài.

Người Việt di cư tìm được giá trị và nhân phẩm mà họ không thể có được nếu không có quê hương nghèo nàn để quay lại.”

“Tôi cảm động vô cùng khi nghe về quyết định của một số người. Có người cố tình lấy hết tiền trong thẻ tín dụng để gởi về Việt Nam bởi vì họ có được sự hài lòng.”

Nhân phẩm, cảm giác thương yêu gia đình, cảm giác thành đạt là những gì chúng ta tìm được khi giúp đỡ thân nhân ở Việt Nam.

Theo thống kê của Ngân Hàng Thế Giới, trong năm 2015, ước tính số tiền Việt kiều ở Mỹ gởi về Việt Nam là $6.8 tỷ trong tổng số $12 tỷ từ các nước khác.

Năm 2008, giáo sư Thái Cẩm Hưng cho phát hành cuốn sách khác mang tựa đề “For Better or for Worse: Vietnamese International Marriages in the New Global Economy,” tạm dịch: “Tốt Hơn hay Tệ Hơn: Những Cuộc Hôn Nhân Quốc Tế của Người Việt Trong Bối Cảnh Kinh Tế Toàn Cầu Mới.”

Phụ lục:

Ước Tính Tiền Gởi Về Việt Nam Năm 2015: $12 tỷ

American Samoa: $1 triệu

Úc: $1 tỷ

Áo: $15 triệu

Azerbaijan: $1 triệu

Bangladesh: $80 triệu

Belarus: $1 triệu

Bỉ: $10 triệu

Bulgaria: $2 triệu

Cambodia: $111 triệu

Canada: $843 triệu

Trung Quốc: $124 triệu

Cộng Hòa Czech: $209 triệu

Đan Mạch: $47 triệu

Phần Lan: $25 triệu

Pháp: $53 triệu

Đức: $647 triệu

Guam: $2 triệu

Hong Kong: $53 triệu

Hungary: $14 triệu

Iceland: $3 triệu

Ấn Độ: $2 triệu

Ireland: $7 triệu

Italy: $21 triệu

Nhật: $167 triệu

Bắc Hàn: $2 triệu

Nam Hàn: $522 triệu

Lào: $34 triệu

Malaysia: $109 triệu

Moldova: $1 triệu

Mông Cổ: $1 triệu

Hà Lan: $58 triệu

Tân Caledonia: $4 triệu

Tân Tây Lan: $26 triệu

Na Uy: $72 triệu

Philippines: $1 triệu

Ba Lan: $12 triệu

Nga: $52 triệu

Cộng Hòa Slovak: $6 triệu

Tây Ban Nha: $6 triệu

Thụy Điển: $74 triệu

Thụy Sĩ: $58 triệu

Thái Lan: $62 triệu

Timor-Leste: $1 triệu

Ukraine: $11 triệu

Anh: $124 triệu

Mỹ: $6.8 tỷ

Uzbekistan: $2 triệu

(Nguồn: Migration and Remittances Factbook 2015 – World Bank)

Báo Việt Nam đả kích phóng viên bị tước thẻ hành nghề

Báo Việt Nam đả kích phóng viên bị tước thẻ hành nghề

VOA

Nhà báo Đỗ Hùng của tờ Thanh Niên điện tử bị cách chức, rút thẻ hành nghề vì

Nhà báo Đỗ Hùng của tờ Thanh Niên điện tử bị cách chức, rút thẻ hành nghề vì “đụng chạm đến những biểu tượng thiêng liêng của dân tộc như Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp”.

VOA Tiếng Việt

08.09.2015

Một tờ báo ở trong nước mới viết rằng việc nhà báo Đỗ Hùng của tờ Thanh Niên điện tử bị cách chức, rút thẻ hành nghề là “bài học cho kẻ ngông cuồng”, và là “quả báo” vì “đụng chạm đến những biểu tượng thiêng liêng của dân tộc như Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp”.

Tờ Năng lượng mới (Petro Times) còn dẫn lời “nhiều người cho rằng, hình thức xử lý đó là xác đáng, là luật pháp đã được thực thi”.

Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn hôm 4/9 đã ký quyết định thu hồi thẻ nhà báo đối với ông Đỗ Hùng, Phó Tổng thư ký tòa soạn điện tử báo Thanh Niên, một ngày sau khi báo này “triệu tập phiên họp khẩn” để miễn nhiệm chức vụ đối với ông.

Bộ hay được các phóng viên gọi là 4T cũng yêu cầu tờ báo có số người đọc thuộc loại lớn ở Việt Nam phải nộp lại thẻ của nhà báo này trước ngày 18/9.

Cả báo Thanh Niên cũng như Bộ Thông tin và Truyền thông đều không nêu ra lý do cụ thể vì sao ông Hùng lại bị cách chức.

Trong bài viết đăng trên mục “Xã hội” hôm 8/9, tờ Năng lượng mới viết thêm rằng “Đỗ Hùng đã có nhiều lần sử dụng blog và mạng xã hội đăng tải những bài viết có nội dung sai trái, gây bức xúc trong cộng đồng suốt 2 năm qua”.

Tờ báo là cơ quan ngôn luận của ngành dầu khí Việt Nam còn sử dụng từ như “anh ta” hay gọi tên không chức danh để đề cập tới nhà báo Đỗ Hùng cùng với cách viết mang tính cáo buộc, một chiều, như thường thấy trong các thông tin về tội phạm mà công an Việt Nam từng phát cho báo chí.

Hiện trang Facebook cá nhân của ông Hùng không còn truy cập được, và VOA Việt Ngữ không thể liên lạc với ông để xin phỏng vấn.

Các nhà báo ở trong nước nhận định với VOA Việt Ngữ rằng nhà báo này vấp phải “sự cố” trên sau khi đăng một đoạn viết trên trang Facebook nhân ngày Quốc khánh 2/9, trong đó có nhắc tới ông Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Trong khi nhiều người cho rằng đoạn viết ngắn sử dụng toàn dấu sắc có tính chất hài hước, một số người khác lại nghĩ rằng nó giễu cợt những đóng góp của hai nhân vật trên.

Đoạn đó là một trong 5 bài viết bị tờ Petro Times nêu lên, coi đó là “một phần nhỏ trong những hành vi sai trái, những nội dung xấu mà Hùng phát tán trên Internet”.

Tờ báo này viết thêm: “Hùng treo trên facebook của mình bài “Quốc khánh” với sự giễu cợt, đả kích, xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cả ý nghĩa thiêng liêng của cuộc Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9”.

Trong khi đó, blogger Đoan Trang, một người từng làm báo ở Việt Nam, viết trên trang Facebook cá nhân: “Không biết tuyên giáo và tòa soạn báo Thanh Niên căn cứ vào đâu để xử lý cách chức, thu hồi thẻ của một nhà báo đã viết một status hài hước trên facebook”.

Trong khi đó, nhiều phóng viên cũng đặt câu hỏi như blogger này, đồng thời bày tỏ lo ngại về nghề đầy rủi ro ở Việt Nam cũng như việc các nhà báo bị “vạ miệng” trên Facebook thời gian qua.

Một nhóm thậm chí còn lên tiếng vận động Bộ 4T trả lại thẻ nhà báo cho ông Hùng.

Những người anh hùng không phải của chế độ

Những người anh hùng không phải của chế độ

Kính Hòa, phóng viên RFA

RFA

Vẫn có những anh hùng trong sự đổ vỡ Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg10205894.jpg

Thân nhân đón những người tù được đặc xá hôm 31/8/2015 tại Hà Nội.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Khi mạnh yếu có lúc khác nhau

Nhưng hào kiệt đời nào cũng có

Nguyễn Trãi

Bình Ngô Đại Cáo

Những anh hùng không phải của chế độ

Cuối tháng tám, đầu tháng chín, như mọi năm, truyền thông Việt Nam tràn ngập những hình ảnh, phim ảnh đầy màu sắc về những ngày đại lễ. Năm nay những hình ảnh đó còn long trọng hơn vì thời gian đã trôi qua đến 70 năm.

Những đoàn người diễu binh cùng cờ đỏ.

Những lời ca tụng những người anh hùng.

Nhưng cũng có những người anh hùng không đứng trong đoàn diễu binh đó.

Trên không gian truyền thông blog là những hình ảnh cũng đầy màu sắc khác, đó là hai anh em ông Đoàn Văn Vươn trở về sau hơn 3 năm tù.

Trong loạt ảnh của tác giả Hoàng Anh, người ta thấy hai anh em ông Vươn ăn mặc chỉnh tề tươi cười trong sắc pháo của dân làng chào đón hai ông, như những người anh hùng. Rồi dân làng long trọng dựng rạp mở tiệc chiêu đãi hai người anh hùng của họ.

Có điều gì bất thường khi dân chúng đón những người tù trở về như những anh hùng?

Một blogger bình luận rằng đó chính là lòng dân! Lòng dân và lòng chính quyền không là một.

Trong một bài viết mang tính trào lộng, blogger Hiệu Minh lại một lần nữa so sánh câu chuyện vụ án Làng Tiên Lãng của ông Vươn ngày nay, với câu chuyện vụ án Đồng Nọc Nạn thời mồ ma thực dân Pháp. Cùng là những người nông dân nổi dậy chống bất công, nhưng người nông dân thời thực dân được tha bỗng, còn người nông dân Đoàn Văn Vươn phải thụ án tù.

“ Tù nhân chính trị là thành phần không thể kiếm chác ở họ, mà chỉ có thể dùng để đổi chác cho mục đích khác, nên họ không thuộc diện đặc xá bình thường.
– Luật sư Lê Công Định”

Đứng ở một góc nhìn tương đối khác, nhà văn Sương Nguyệt Minh, dù cho rằng sự hoan hỉ của dân chúng trong những tấm hình chụp hai anh em ông Vươn ngày được tự do về làng là Người ta vui mừng vì thấy đồng cảm, nhưng đồng thời tác giả cũng cho rằng sự vui mừng đó cũng thể hiện tính pháp quyền của nhà nước hiện hành, Ông Sương Nguyệt Minh viết rằng:

Ông Đoàn Văn Vươn được đặc xá, ra tù trước thời hạn không chỉ là niềm vui của gia đình, dòng họ nhà ông mà còn là nỗi hân hoan của những người dân bình thường quan tâm đến “Sự kiện cống Rộc – Tiên Lãng”. Người ta có niềm tin công lý đã được thực thi đúng đắn, hợp lý rằng: Việc anh em ông Vươn chịu vòng lao lý là thể hiện tính bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật nghiêm minh. Còn việc các ông được đặc xá trở về với đời sống công dân tự do thường nhật lại thể hiện tính nhân đạo của nhà nước pháp quyền.

Ngay lập tức, dường như để phản bác nhà văn Sương Nguyệt Minh về tính nhân đạo pháp quyền của nhà nước hiện tại, đêm mùng 1, rạng sáng ngày đại lễ mùng 2 tháng chín, cơ quan công an của nhà nước Việt Nam câu lưu Tiến sĩ Nguyễn Quang A 15 giờ đồng hồ tại sân bay Nội bài mà không có bất kỳ lý do nào.

Nhà báo Huy Đức nhận xét rằng hành động đó là một thông điệp phản chính trị.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A cũng được bạn bè ông đón như một người anh hùng.

Bàn về luật pháp Việt Nam

Như vậy nhà nước pháp quyền có tồn tại ở Việt Nam như nhà văn Sương Nguyệt Minh viết hay không?

Có một bài báo rất dài trên báo chí chính thống Việt Nam phân tích các bản Hiến pháp và những phát ngôn trong đó, để nói rằng nước Việt Nam ngày nay là một quốc gia tôn trọng các quyền cơ bản của con người.

Song nhà báo Huy Đức nhận xét rằng chính quyền mà nhân sự và mô hình chính trị không được quyết định bởi lá phiếu của người dân thì chỉ mới có được một phiên bản khác của nền thực dân.

Tại Việt Nam hiện nay người ta vẫn nói rằng việc bầu cử là việc của dân nhưng do đảng cộng sản quyết định.

Nhưng tại sao với một sự độc tôn cai trị, đảng cộng sản cần gì phải đặt ra cái gọi là luật pháp cho thêm phần phức tạp?

Blogger, Tiến sĩ Nguyễn Thị Từ Huy trích lời vị Tổng thống nổi tiếng của Tiệp Khắc sau giai đoạn toàn trị cộng sản:

doanvanvuon-7.jpg

Anh em ông Đoàn Văn Vươn trong ngày được đặc xá.

Các bộ luật – ít nhất là trong một số lĩnh vực – chỉ là cái mặt nạ, chỉ là một khía cạnh của thế giới giả tạo. Thế thì tại sao lại cần pháp luật? Cũng cùng lí do như ý thức hệ: Nó cung cấp một cây cầu biện hộ giữa hệ thống và các cá nhân, nó giúp họ tham gia vào cấu trúc quyền lực và phục vụ những đòi hỏi độc đoán của bộ máy quyền lực một cách dễ dàng hơn.

Việc thao túng các toà án và các công tố viên thông qua con đường chính trị, những giới hạn kiềm chế khả năng bào chữa của luật sư trong quá trình bảo vệ thân chủ của mình, các phiên toà thực chất là xử kín và những hành độc đoán của lực lượng an ninh, quyền lực của các lực lượng này còn cao hơn pháp luật, và cách áp dụng rộng đến mức vô lí những điều luật cố tình soạn thảo một cách mù mờ.

Bà Nguyễn Thị Từ Huy viết tiếp:

Tôi sử dụng câu trả lời của Havel, được nêu lên từ nửa thế kỷ trước mà giờ đây vẫn còn rất đúng cho trường hợp Việt Nam, để nói rằng: mô hình chính trị Việt Nam là một mô hình ngoại lai hoàn toàn, copy hoàn toàn từ nước ngoài, nhập khẩu hoàn toàn từ ngoại quốc, nó là sản phẩm của thái độ sùng ngoại tuyệt đối của bộ máy lãnh đạo.

Trong mô hình mà bà Từ Huy nói rằng ngoại lai hoàn toàn đó, tác giả Phạm Tuấn Xa thấy rằng không những nó có luật mà còn là một rừng luật. Tác giả viết trong bài Luật rừng và rừng luật:

Nhà nước Cộng sản Việt Nam là Nhà nước ban hành một “Rừng luật” – Mỗi năm Quốc hội họp 2 lần – mỗi lần kéo dài từ 30 – 45 ngày chỉ để thông qua luật, sửa đổi luật và pháp lệnh. Tất cả mọi hoạt động xã hội dù nhỏ nhất cũng được luật hóa có vể rất nghiêm, rất minh bạch… Nhưng thực chất chỉ nhằm củng cố địa vị độc tôn của Đảng để bảo vệ khối tài sản khổng lồ của cán bộ Đảng từ địa phương đến Trung ương, và dựa vào đó Đảng dễ dàng cai trị.

Những tù nhân lương tâm và những đổ vỡ xã hội

Nếu câu chuyện tù tội của người nông dân Đoàn Văn Vươn là một câu chuyện vui, thì số phận những người tù chính trị trong đợt đặc xá nhân ngày đại lễ năm nay lại không được như thế.

Sau nhiều lời đồn đoán, cả trong lẫn ngoài nước, cả người Việt lẫn không phải Việt, không có một người tù chính trị nào được ân xá.

Luật sư Lê Công Định, một cựu tù chính trị nhận xét:

Tù nhân chính trị là thành phần không thể kiếm chác ở họ, mà chỉ có thể dùng để đổi chác cho mục đích khác, nên họ không thuộc diện đặc xá bình thường. Do vậy, xin đừng ngạc nhiên hay buồn bã vì không tù nhân chính trị nào được trả tự do trong dịp này.

Hiểu rõ sự vận hành của một hệ thống đặc thù như vậy tại Việt Nam, thì sẽ không thắc mắc như các phóng viên ngoại quốc gần đây trước tin tức đặc xá này.

Một sự đặc thù khác trong sự vận hành của chế độ tại Việt Nam được blogger Viết từ Sài gòn nêu lên, nói đúng hơn là kết quả của sự vận hành của chế độ cộng sản tại Việt Nam, góp phần làm cho đảng cộng sản duy trì sự cai trị của mình, đó là sự mê tín của dân chúng vào đảng cộng sản.

“ Chính quyền sử dụng bạo lực với dân, chính quyền đạp lên pháp luật. Pháp luật đó không có tác dụng, bây giờ người ta noi gương chính quyền mà sử dụng bạo lực.
– Nhà văn Phạm Đình Trọng “

Sự mê tín vào đảng Cộng sản này được tích tụ một cách tiệm tiến trong quá trình tồn tại, nó chuyển hóa từ sợ hãi sang thỏa hiệp và cuối cùng là cơ hội. Nghĩa là với cách quản lý đầy sắc máu, nhà nước Cộng sản đã đẩy đại bộ phận nhân dân đến chỗ sợ hãi, đánh mất chính mình để tồn tại. Và đến một lúc nào đó, người ta cảm thấy những bất công, vô lý là chuyện bình thường, không có gì đáng bàn, người ta chấp nhận, thỏa hiệp với bất công, xem bất công và đàn áp như một lẽ đương nhiên. Và một khi đã xem điều đó là đương nhiên, người ta dễ dàng thích nghi để tìm ra cơ hội có lợi cho bản thân. Những kẻ cơ hội trong chế độ Cộng sản đều là những kẻ có khuynh hướng phát triển như trên.

Sự sợ hãi mà Viết từ Sài gòn đề cập được tạo nên bởi một thiết chế đặc trưng của các chế độ toàn trị, trong đó có chế độ cộng sản, là sự sử dụng một bộ máy công an khổng lồ. Việc này cũng không nằm ngoài những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa cộng sản mà những lý thuyết gia của nó đề cập từ buổi khởi đầu của chủ nghĩa này, đó là việc sử dụng bạo lực. Việc sử dụng bạo lực lâu ngày dài tháng đã tạo nên một xã hội bạo lực. Trong một lần trao đổi với chúng tôi, nhà văn Phạm Đình Trọng nói rằng:

Cái này đặc biệt nghiêm trọng, đáng báo động. Một xã hội bạo lực đang thắng thế và cái sự thắng thế này nó bắt đầu từ chính quyền. Chính quyền sử dụng bạo lực với dân, chính quyền đạp lên pháp luật. Pháp luật đó không có tác dụng, bây giờ người ta noi gương chính quyền mà sử dụng bạo lực. Chính quyền dùng bạo lực với dân quá phổ biến và trở thành bình thường. Việc đó trở thành một khuôn mẫu ứng xử của xã hội thì bây giờ người dân người ta cũng ứng xử như thế thôi.

Một xã hội bạo lực chính là một sự đổ vỡ về văn hóa, và cũng vô cùng nguy hiểm như Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc nhận xét:

Những sự tụt hậu về kinh tế có thể được khắc phục nếu không phải trong vài năm thì cũng vài chục năm, nhưng những sự đổ vỡ trong văn hoá và đặc biệt trong đạo đức và quan hệ giữa người với người thì rất khó hàn gắn và để lại rất nhiều di hại.

Và cuối cùng, blogger Viết từ Sài gòn cho rằng dù được sự hậu thuẫn bởi sự mê tín của dân chúng, nhưng đảng cộng sản cũng phải đối mặt với nguy hiểm gây ra bởi chính họ vì Khi mà tấm thẻ đảng trở nên rẻ rúng, khi mà quyền lực đảng đã rơi vào tay tài phiệt và mafia, khi mà tính đảng không còn thiêng liêng như những ngày người ta chấp nhận đói khổ, rúc rừng, chịu sốt rét và bom đạn, cái chết để đi theo đảng.

Trong tâm thức khá bi quan về sự đổ vỡ người ta sẽ cảm thấy một tia hy vọng khi nhìn qua trang blog Một góc nhìn khác của người cựu tù chính trị Trương Duy Nhất khi ông kể rằng cô con gái nhỏ của ông không chú ý cảnh duyệt binh trong ngày đại lễ mà quan tâm đến chuyện công an ở sân bay Nội bài đã trả tự do cho Tiến sĩ Nguyễn Quang A hay chưa!

Cần một Quốc khánh mới cho VN

Cần một Quốc khánh mới cho VN

Võ Thị Hảo

RFA

  • Đặc xá cướp giết hiếp. Giam giữ tù lương tâm

Đợt đặc xá quy mô lớn của chính quyền VN trước 2/9/2015 với số lượng 18.298 tù hình sự đã khiến dư luận được một phen ngỡ ngàng.

Có phạm nhân giết người, tòa phạt 14 năm tù, nay ở  chưa được một nửa thời hạn đã tha bổng(có dư luận cho rằng do cô ta có thân hình bốc lửa và ở tù giùm cho một con ông cháu cha) !

Tội trộm cướp, tham nhũng, cướp giết hiếp, ma túy đều được đặc xá một cách  rộng rãi khác thường.

Riêng người có lương tâm, vô tội, chỉ đấu tranh cho sự thật và tự do nhân quyền như Trần Huỳnh Duy Thức, anh Ba Sàm, Tạ Phong Tần, Nguyễn Ngọc Già, Bùi Hằng.. và nhiều người khác thì cho đến nay vẫn bị giam cầm dù người VN và thế giới đã nhiều lần lên tiếng phản đổi.

Cung cách quản lý xã hội như vậy chính là đặc trưng của 70 vận hành chính thể sau cách mạng tháng 8 và quốc khánh 2/9.

  • 70 năm dân thành “khách trọ“

Những ngày cuối tháng 8/2015, người VN chứng kiến tại Malaysia một sự kiện mà dù đã gần một thế kỷ mơ ước và gẳng gỏi, người VN cũng không thể có được. Người dân đã thực hiện quyền làm chủ đất nước và vận mệnh của mình bằng cách rầm rộ xuống đường biểu tình yêu cầu thủ tướng đương nhiệm Najib Rajak của họ phải từ chức chỉ vì phát hiện ra ông ta có dấu hiệu tham nhũng. Chính quyền không đàn áp họ, vì đó là quyền đương nhiên của dân, không ai có quyền xâm phạm.

Trong khi ở VN, nhà cầm quyền đàn áp tất cả những người ôn hòa bày tỏ nguyện vọng chống TQ xâm lấn lãnh hại, dân oan đi khiếu kiện và những người chống tham nhũng, những trí thức bất đồng chính kiền.

Đó là nghịch cảnh rõ ràng tố cáo bản chất của nền chính trị, thể hiện người dân là khách trọ hay là chủ trên đất nước của mình.

Người dân trong một nước tôn trọng dân chủ và nhân quyền thì mới thực sự có đất nước.

Tại VN, dân không có quyền tự do ngôn luận, không có quyền thay đổi thể chế chính trị và nhà cầm quyền khi họ không làm những cảm kết trước dân, người dân đương nhiên chỉ là những kẻ  phải lưu vong trên chính Tổ quốc của  mình.

VN là một trong những thể chế chính trị độc tài cộng sản cuối cùng trên thế giới đã dùng những thủ đoạn khôn khéo để tồn tại, Cái gọi là thành quả đổi mới – thực chất là đổi mới nửa vời chỉ cốt để cứu thể chế chính trị cộng sản toàn trị VN khỏi sụp đổ dây chuyền theo hệ thống xã hội chủ nghĩa,  nới một chút nút thắt cổ người dân để họ làm kinh tế rồi bóc lột của họ tận xương tủy để làm giàu cho cá nhân.

Mặc dù đời sống kinh tế của người VN hiện nay có cao hơn so với thời cách đây 70 năm, nhưng trong cùng một thời gian đó, kinh tế các nước có cùng xuất phát điểm thấp như VN trong khu vực đã tăng cả 7, 8 lần.

Với bộ máy tham nhũng hiện nay, chi thường xuyên đã chiếm tới 72% ngân sách, tiền trả nợ lên tới 25%, chỉ còn khảng 3% ngân sách là chi cho đầu tư phát triển. Quan chức chính quyền, cơ quan đoàn thể nay còn không thèm giấu bộ mặt vô liêm sỉ, trơ trẽn tha hồ cấu kết với nhau cướp đoạt tiền của dân trên mọi lĩnh vực từ thuế phí chí, buộc dân phải hối lộ, đổi tiền lấy chữ ký trên mọi lĩnh vực, kể cả vay tiền nước ngoài hay cho phép đầu tưcng xuyên thất thoát, kém hiệu quả. Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng nói „ Cứ vay tiền ào ào thì không phát triển đất nước, trả nợ không được thì đến ngày là sụp“.

  • “Một cổ ba tròng“

Tỉ lệ thuế và phí dân VN phải chịu  đóng/GDP cao từ 1,5 đến 3 lần các nước trong khu vực. là để nuôi tới 3 bộ máy chồng chéo chéo chức năng, nhiệm vụ với nhau: đảng cộng sản, chính phủ, các tổ chức  đoàn thể, chính trị xã hội trong Mặt trận tổ quốc từ TW tới địa phương.

Sau 70 năm cách mạng Tháng tám thành công, dân một cổ thêm ba tròng. Tiền thuế của dân đã phải trả cho giới cai trị bóc lột và để bảo vệ cho một chế độ xã hội bất công. Ông Nguyễn Công Khế, nguyên Tổng Biên tập Báo Thanh niên đã nhận định rằng từ 50- 70% ngân sách nhà nước đã rơi vào túi quan tham. Người dân sẽ bị đàn áp nếu không chịu nô lệ, nhẫn nhục đóng thuế, phí nuôi bộ máy cai trị.

Lấy tiếng rằng nông dân được miễn giảm tiền thuế sử dụng đất nông nghiệp,, nghe tưởng rằng nhà nước nhân đạo lắm, nhưng trên thực tế khác hẳn. Nông dân phải gánh trên 1.000 loại phí và lệ phí! Sự tham lam tàn bạo này chưa từng có trong lịch sử VN.

Sáng 10/8/2015, báo cáo  Ủy ban thường vụ QH tại phiên thảo luận dự thảo Luật phí và lệ phí cho biết, như với nông nghiệp, dù vừa qua đã ra soát bỏ nhiều loại nhưng vẫn còn 937 khoản phí và 90 lệ phí. Ông Nguyễn Sinh Hùng than: „một quả trứng mà gánh tới 14 loại phí thì đúng là …trời đất ơi(theo Vnexpress 10/8/2015 „Nông dân vẫn chịu trên 1000 loại phí và lệ phí“) .

Những lời hứa trịnh trọng được nêu trong Tuyên ngôn độc lập về thực thi quyền tự do, bình đẳng, quyền con người, điều đã khiến người VN tin và do đó đã dốc toàn lực ra ủng hộ Việt Minh và đảng cộng sản, qua 70 năm, càng ngày càng chứng minh rằng đó chỉ là mớ giấy lộn, một lá bùa hữu hiệu để chính quyền cộng sản độc tài cướp đoạt quyền con người, quyền tự chủ của người dân mà thôi.

  • Đặc trưngThời đại Hồ Chí Minh: huynh đệ tương tàn, tụt hậu xa so với thế giới, dân bị nô lệ hóa

Về việc tự vỗ ngực khen ngợi và che giấu những tội ác của mình, ít ai bằng đảng cộng sản VN. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói không một chút căn cứ thực tế :“ Thời đại Hồ Chí Minh là thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử VN, đánh dấu kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.

Trong khi đó, chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thừa nhận là VN đang đứng chót bảng xếp hạng tỏng nhóm ASEAN-6, thậm chí có lĩnh vực còng thấp hơn cả Lào, Campuchia, Myanmar, ba nước được coi là kém phát triển nhất trong khối.

Lời vỗ ngực tự khen trên của Nguyễn Phú Trọng cũng không khác gì lời tự khen trên xương máu những nạn nhân trong cải cách ruộng đất của Hồ Chí Minh cách đây gần 70 năm tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội VNDCCH: Luật cải cách ruộng đất của chúng ta là chí nhân chí nghĩa, hợp lý hợp tình…“.

* Cần cách mạng thể chế

70 năm minh chứng sự bất lương của thể chế độc tài cộng sản là đã quá đủ..

Thậm chí không một nỗ lực cải cách nào có thể thay đổi được nó về bản chất. Những người muốn cài cải cách như Trần Xuân Bách, Võ Văn Kiệt đã có quyền lực lớn nhưng cũng bó tay hoặc bị hãm hại vì cải cách là đụng đến quyền lợi riêng nhiều quan chức, chưa kể có một bộ máy tình báo Hoa Nam đứng đằng sau.

Nguyên nhân nào đã khiến người VN ngày nay nổi tiếng thế giới, nhiều nơi phải ghê tởm người VN khi VN liên tục xuất khẩu sự vô văn hóa, gái điếm, trộm cắp, buôn lậu, ma túy, sự giết chóc ra toàn thế giới? Những ác quỷ tàn sát cả mẹ cha, chồng vợ, bạn bè, thân chỉ vì vài đồng bạc từ đâu ra?

Đều là những sản phẩm của con đường vạch ra từ 70 năm trước.

Khi xã hội không có công bằng, người dân không tương lai, và hình mẫu của họ là những quan chức dối trá, cướp ngày thì được vinh thân phì gia, nhiều người dân, đặc biệt là lớp trẻ, sẽ tuyệt vọng và noi gương quan chức, cũng sống như ác quỷ.

Vì thế, cần một ngày Quốc khánh khác cho VN. Không phải quốc khánh đau thương và lọc lừa 2/9.

VTH

Người Việt tử vong trong vụ ẩu đả đẫm máu ở Nhật

Người Việt tử vong trong vụ ẩu đả đẫm máu ở Nhật

Camera giám sát an ninh quay được cảnh vụ ẩu đả.

Cảnh sát ở Osaka, Nhật Bản, đang điều tra một vụ giết người sau một cuộc ẩu đả hôm 6/9 làm 1 người Việt thiệt mạng.

Khoảng 11 giờ đêm (giờ địa phương), một người phụ nữ lái xe qua hiện trường đã gọi cảnh sát để thông báo một vụ ẩu đả giữa một nhóm 4-5 người cầm dao và gậy bóng chày và một người đàn ông nằm trên mặt đất.

Khi cảnh sát đến hiện trường, họ phát hiện một người đàn ông nằm bất động với nhiều vết đâm ở bụng và ngực. Người đàn ông này được đưa tới bệnh viện nhưng đã chết.

Camera giám sát an ninh cho thấy có tổng cộng 6 kẻ tấn công chạy trốn khỏi hiện trường.

Trang tin Nippon News cho biết, 2 người khác, cũng được cho là công dân Việt Nam, được tìm thấy trong tình trạng chảy máu nghiêm trọng và ngã quỵ gần một tòa nhà chung cư.

Một nhân chứng tận mắt chứng kiến vụ việc cho biết, tất cả những người tham gia ẩu đả đều là người Việt.

Nhân chứng này nói: “Họ ngã gục trong một vũng máu. Tất cả đều là người Việt. Đó là một cuộc ẩu đả giữa những người Việt”.

Cảnh sát cho biết, cả 3 nạn nhân đều sống trong cùng một khu chung cư. Cảnh sát cũng đang điều tra để xác định danh tính người đàn ông thiệt mạng.

Theo Japan Today, Tokyo Reporter, TBS News, Nippon News

TĨNH LẶNG – QUÀ TẶNG CHO CUỘC SỐNG

TĨNH LẶNG – QUÀ TẶNG CHO CUỘC SỐNG

Một chàng trai trẻ chiều nào đi làm về ngang qua con sông cũng thấy một người đàn ông trung niên chăm chỉ ngồi câu cá.  Anh đến gần và hỏi chuyện:

–   Chào bác, bác câu cá mỗi ngày có được nhiều không?

–   Cám ơn cậu.  Cũng được khá nhiều – người đàn ông đáp.

–   Sao bác không bán cá mua lưới để có thể bắt được nhiều cá hơn – cậu thanh niên gợi ý.

–   Bắt được nhiều cá hơn, rồi làm gì? – người đàn ông thắc mắc.

–  Bác có thể bán cá để có tiền mua tàu và lưới đánh cá, để đánh bắt được nhiều cá hơn nữa – chàng thanh niên nhiệt tình dẫn ý.

–   Bắt được nhiều cá hơn nữa, rồi làm gì? – người đàn ông hỏi tiếp.

–   Để bác trở nên giàu có, để đời sống nhẹ nhàng và hạnh phúc – cậu thanh niên đáp với vẻ tâm đắc.

–   Thế cậu không thấy hiện tại tôi đang sống rất nhẹ nhàng và hạnh phúc với cái cần câu này sao? – người đàn ông hỏi gợi ý cách bình thản.

***********************************

Cậu thanh niên cứ tưởng mình đang đề xuất một cao kiến cho người đàn ông đang câu cá, ai ngờ đề xuất đó chỉ là một con đường lòng vòng để tìm cái ông đang sẵn có: nhẹ nhàng và hạnh phúc.  Tại sao?  Phải chăng cậu không đủ tĩnh lặng để nhận ra điều đó?

Rời bỏ câu chuyện, ta trở về với đời sống thường ngày.  Đường đi xe cộ ào ào; về đến gần nhà tiếng ca hát, loa phát thanh inh ỏi; vào trong nhà cũng rầm rộ vì người lớn lo công việc, trẻ con chơi giỡn la hét; ngồi trong phòng một mình vẫn ồn ào bởi bao tính toán lo toan việc nhà, việc công ty, việc nọ, việc kia kéo đến trong đầu; thậm chí khi đi ngủ cũng vẫn ồn ào bởi những chộn rộn của ngày sống xâm nhập cả vào trong giấc mơ!  Đã bao giờ bạn rơi vào tình cảnh như thế chăng?  Tại sao lại có những vội vã ồn ào quá sức như vậy?

Do môi trường sống và làm việc thay đổi?  Trước đây nhịp sống chậm rãi, yên ả hơn.  Giờ học có, giờ làm có, giờ nghỉ ngơi có, giờ giành cho người thân bạn bè có, giờ phút giành riêng cho mình cũng có.  Thời nay, mọi thứ cứ tất bật trong vòng xoáy của sự thay đổi chảy trôi, khiến đời sống trở nên quá vội vàng gấp gáp.  Đâu đâu cũng có sự xuất hiện của công việc.  Làm việc ở công ty đã đành, làm việc ở nhà, làm việc lúc chuyện trò, lúc xem tivi, trong bàn ăn, thậm chí trước khi ngủ cũng tranh thủ làm thêm chút việc.  Tất cả ưu tiên dành cả cho công việc đến nỗi đôi khi quên mất mình làm việc là để làm gì.  Do vậy, náo động ồn ào cũng nhiều hơn.  Đôi khi quá mệt cũng đành thở vội một hơi để rồi tiếp tục công việc, tiếp tục cuộc sống, nếu không sẽ bị ‘tụt hậu’ so với nhịp sống hiện đại.  Có người chơi chữ cách hóm hỉnh: hiện đại nên hại điện, môi trường hiện đại ấy ngốn hết thời gian tâm trí con người.  Nhưng đâu phải ai cũng nghĩ thế.

Phải chăng do tính cách mỗi người?  Người thiên về hoạt động, ưa thích náo nhiệt thì cho đó là bình thường, thế mới là cuộc sống hiện đại, phải biết tranh thủ thời gian.  Người có đầu óc trầm tư suy tưởng, thích nhẹ nhàng trầm lắng thì cho đó là xô bồ ồn ào.  Thế nhưng, dù thích hoạt náo, dù ưa trầm lặng, ai rồi cũng có lúc thấy mình bị cuốn sâu vào vòng xoáy của môi trường sống hiện đại quá náo nhiệt, vội vã ấy, để rồi có lúc chợt nhận thấy mình bị mất hút trong cơn lốc công việc, cơn lốc thị trường sản xuất và tiêu thụ.  Đến lúc nhận ra thì đã bị cuốn vào quá sâu và quá lâu; mệt nhoài, kiệt quệ, quay trở ra còn tốn công tốn sức hơn, thôi thì “đành theo lao” vậy!  Điều gì khiến họ lâm vào tình cảnh ấy?

Phải chăng họ thiếu những giây phút tĩnh lặng?  Tĩnh lặng đủ để biết mình cần giành thời gian cho những mối tương quan thân tình với con người, với bạn bè, tĩnh lặng đủ để hiện diện cùng người thân, tĩnh lặng đủ để đối diện với chính mình, với cõi lòng của mình.  Tĩnh lặng đủ để nhận ra mình đã hành xử thế nào trong các tương quan, để biết mình đã ưu tiên điều gì trong các chọn lựa, và để thấy đâu là ý nghĩa đích thực của những gì mình đang nỗ lực thực hiện hầu mong mang lại cho đời sống của bản thân, gia đình, người thân, bạn hữu sự ấm êm hạnh phúc.

Nếu bạn thấy nhịp sống của mình quá vội vã, đây là lúc bạn cần giây phút tĩnh lặng; nếu bạn chưa nhận thấy mình đang sống ra sao, hơn lúc nào hết bạn cần giây phút tĩnh lặng để nhìn biết mình đang sống thế nào.  Vì lẽ đó, tĩnh lặng là cần thiết và ích lợi cho đời sống.

Chẳng ai có thể bắt bạn tĩnh lặng được, cũng như bạn chẳng thể tĩnh lặng nếu bạn không muốn, và đôi khi dẫu rất muốn bạn cũng chẳng thể tĩnh lặng.  Vì lẽ đó, tĩnh lặng là một quà tặng.

Thế nhưng, dù bạn có muốn nhận nhưng không được trao, bạn cũng chẳng thể nhận được; trái lại, dù người trao muốn trao nhưng bạn không muốn nhận, bạn cũng chẳng có.  Vì lẽ đó, hãy nhận khi được trao và hãy biết xin để được trao và bạn có thể nhận được.

Bạn đã nhận được món quà tĩnh lặng chưa?  Nếu chưa, vậy hãy mau mắn xin đi.  Nếu đã xin mà vẫn chưa có, hãy mở lòng ra để đón nhận.  Mở lòng bằng cách hãy giành một vài phút giây mỗi ngày để tĩnh lặng, nhìn lại ngày sống của mình, xét xem những gì bạn đã nghĩ, đã nói và đã làm có thực sự mang lại ý nghĩa cho đời sống của bạn, của người thân, bạn bè.  Chúc bạn có được những giây phút tĩnh lặng đủ để giúp bạn nhận ra đâu là ý nghĩa của việc mình đang làm, cách mình đang sống và đâu thực sự là hạnh phúc của đời mình.  Chúc bạn gặp được cơ hội để nhận ra ý nghĩa và giá trị đích thực của lối suy nghĩ và cách hành động của mình, như người đàn ông trong câu chuyện trên.

Vinh Sơn Phạm Văn Đoàn, S.J.

http://dongten.net

Hoa Tím Bằng Lăng

Hoa Tím Bằng Lăng

Nguyễn Duy-An

Vì chiều cao “rất khiêm tốn” của mình, tôi cứ phải loay hoay điều
chỉnh cái máy video cầm tay, cố gắng thâu lại hình ảnh của Tuân đang
từ từ bước lên khán đài nhận bằng kỹ sư để mai mốt mang về Việt Nam
“vinh quy bái tổ”. Tuân là đứa con “rất đặc biệt” của chúng tôi. Vợ
chồng tôi mới cưới nhau được 10 năm nhưng Tuân năm nay vừa tròn 22
tuổi! Gia đình bên vợ và người ngoài cứ nghĩ nó là con riêng của tôi
mang theo từ Việt Nam; và chúng tôi nghĩ Tuân cũng tin như thế, vì mỗi
lần gọi điện thoại về Việt Nam nó vẫn gọi mẹ tôi là bà nội.

Tuy nhiên, Tuân vẫn một lòng kính trọng Oanh như mẹ ruột, và vợ tôi cũng rất thương yêu và lo lắng cho nó ngay cả trước khi chúng tôi nên vợ thành chồng.
Sau bao nhiêu lần thử nghiệm và biết chắc chắn tôi không thể có con;
thay vì buồn phiền, Oanh lại săn sóc cha con tôi nhiều hơn. Đã mấy
tháng nay nàng chạy ngược chạy xuôi lo thu tục giấy tờ để tuần sau
chúng tôi về Việt Nam nhận một đứa cháu gái của tôi làm con nuôi. Ngày
nhận được kết quả thử nghiệm xác định tôi không thể có con, Oanh đã âu
yếm nhìn tôi thỏ thẻ: “Ngay từ đầu em vẫn tin anh. Em không buồn đâu
anh ạ! Em chấp nhận số phận, nhất là chúng mình đã có Tuân… Tuy
nhiên, em nghĩ chúng mình cũng nên nhận thêm một đứa con nuôi cho vui
cửa vui nhà. Nếu anh đồng ý, em sẽ lo giấy tờ để chúng mình nhận một
đứa con của chú Khang làm con nuôi. Mình nuôi cháu vẫn tốt hơn…” Đó
là lý do Oanh sắp xếp để ngay sau khi Tuân ra trường, chúng tôi sẽ về
Việt Nam thăm gia đình và nhất là đưa Tuân về thăm lại mộ Trang, người
mẹ ruột của Tuân đã ra đi trong tủi nhục ngày nó mới được 3 tháng
tuổi, và Tuân trở thành “con trai” của tôi từ hơn hai mươi năm về
trước tại Bình Giả, Việt Nam.

o0o

Ngày đó tôi cũng khoảng tuổi của Tuân bây giờ… Tôi trở về Bình Giả
năm 1979, sau mấy năm gồng mình cầm cự với nghề “gõ đầu trẻ” tại một
trường tiểu học ở vùng kinh tế mới thuộc tỉnh Sông Bé. Tôi thương đám học trò nghèo đói nhiều lắm nhưng chính tôi cũng không chịu nổi cảnh
đói nghèo vì lương không đủ ăn nên đành phải bỏ trường về quê ăn bám
gia đình sống qua ngày. Sau mấy năm vừa dạy học, vừa làm rẫy sống lây
lất qua ngày, sức tôi đã kiệt quệ! Tôi đã “cắt hộ khẩu” ở trường cũ,
nhưng không xin “nhập hộ khẩu” tại Bình Giả vì tôi trở về với ý định
tìm đường vượt biên. Đã mấy năm rồi, bà con trong làng ai cũng biết
tôi đi dạy học ở vùng “Kinh Tế Mới”, và thỉnh thoảng vẫn về quê thăm
cha mẹ cũng như xin thêm gạo, bắp… nên không ai thắc mắc hay hỏi han
giấy tờ tạm trú. Mùa mưa năm đó, ngoài việc chuẩn bị dầu nhớt cho
chuyến vượt biên chung với một số bạn bè ngoài Láng Cát, tôi vẫn theo
các em làm rẫy, làm ruộng, và nhất là vào rừng kiếm măng tre. Trong
một dịp mò mẫm giữa rừng tre, tôi đã gặp lại anh Thành, một người trốn
trại cải tạo, đang lẩn trốn trong rừng để tìm cách liên lạc với người
vợ mới cưới được mấy tuần trước ngày anh đi học tập. Hôm đó trời trở
cơn giông đột ngột, tôi chạy vội tới một gốc cây bằng lăng để trú mưa
vì lúc đi rừng tôi quên không mang theo áo mưa. Lúc tới được gốc “cây
cổ thụ”, tôi đã “hồn vía lên mây” khi nghe tiếng gọi tên mình vọng
xuống từ ngọn cây:

– Toàn. Toàn phải không?

Tôi ngơ ngác kiếm tìm xem ai đã gọi mình, nhưng trời đã tối mịt vì cơn
mưa trong rừng nên chẳng thấy gì. Tôi sợ quá, đang định chạy trốn thì
một sợi giây thòng xuống từ một cành bằng lăng rậm rạp phía trên
đầu… Một bóng người trùm kín trong chiếc áo mưa cũ kỹ, vừa tuột
xuống vừa lên tiếng:

– Mình đây. Thành đây.

Anh Thành đã xuống đất. Tôi đứng chết sững ngó đăm đăm người “đàn anh”
nổi tiếng đẹp trai và hào hùng của mấy năm về trước, bây giờ ốm yếu da
bọc xương, đen đủi hốc hác đang run cầm cập vì đói và rét. Tôi ngập
ngừng:

– Trời ơi! Đúng là anh Thành đây mà. Sao anh ra nông nỗi này?

– Mình trốn trại cải tạo về đây đã mấy tuần rồi nhưng không dám về nhà
vì sợ bị bắt lại. Trời xui đất khiến cho mình gặp được Toàn ở đây.
Đúng là số mình chưa chết.

– Anh đừng nói gở. Bây giờ anh tính sao?

– Toàn có gì ăn không? Hơn hai tuần nay mình…

Tôi chỉ định đi kiếm măng vài tiếng đồng hồ nên chẳng mang theo gì
ngoài con dao cán dài để đào măng. Cũng may trong túi còn gói thuốc lá
và mấy miếng kẹo cao-su (chewing gum). Sau khi kể cho tôi nghe sơ qua
về cuộc đào thoát từ trại cải tạo, anh bẻ một cành hoa bằng lăng mầu
tím, khắc một dấu hiệu đặc biệt lên đó và nhờ tôi mang về cho Trang,
vợ anh, đang ở với cha mẹ chồng trên Xuân Mỹ, Làng Ba. Tôi vội vàng
trở về, hẹn hôm sau sẽ dẫn người nhà của anh vô rừng sớm. Thấy tôi trở
về với một cành hoa bằng lăng mầu tím, mẹ và em gái tôi ngạc nhiên
lắm, nhưng tôi cũng chẳng giải thích. Tôi dò hỏi đứa em gái về Trang,
vợ của anh Thành. Lúc đó tôi mới biết chuyện anh Thành trở về Bình Giả
sau năm 1975 với một cô gái người miền Nam, bổn đạo mới. Gia đình anh
Thành không chấp nhận nhưng cũng đành xin cha xứ làm phép cưới cho hai
người mấy tuần trước ngày anh ấy lên đường đi “học tập”. Năm đó Trang
mới 17 tuổi, nhưng vì loạn lạc, gia đình chẳng còn ai nên đã theo
người yêu là anh Thành trở về Bình Giả. Niềm vui chưa trọn vẹn thì
hoàn cảnh ngang trái đã chia cách đôi vợ chồng trẻ hơn bốn năm nay.
Trang ở với gia đình cha mẹ chồng như một chiếc bóng cô đơn bên đường,
mòn mỏi đợi chờ ngày chồng trở lại!

Tôi mang cành hoa bằng lăng mầu tím lên Xuân Mỹ tìm nhà anh Thành. Hai
bác tỏ vẻ khó chịu khi tôi hỏi thăm và muốn gặp Trang. Về sau tôi mới
hiểu là ở Bình Giả đâu có ai mang hoa tới nhà cho con gái; hơn nữa,
nàng lại là một người con gái đã có chồng! Từ nhà bếp đi lên, nhìn
thấy tôi cầm cành hoa bằng lăng mầu tím trong tay, nàng đứng sững sờ
nhìn tôi, miệng ấp úng nói không nên lời. Tôi vội vàng lên tiếng:

– Có người nhờ tôi trao cành hoa này cho Trang. Có dấu hiệu khắc trên đó.

Trang cầm cành hoa rồi bật khóc nức nở:

– Trời ơi! Anh Thành! Anh đã gặp anh Thành…

Bác gái vừa đỡ Trang ngồi xuống bên cạnh, vừa dồn dập hỏi tôi:

– Cậu Toàn gặp thằng Thành nhà tôi ở mô rứa? Công an đang truy nã nó
mấy tuần nay. Trang nín đi con. Tai vách mạch rừng. Chết! Chết cả nhà
bây giờ! Ngày nào cũng có người tới nhà hạch hỏi về nó. Ông đóng cửa
lại mau đi. Khổ thân con tôi!

Tôi thầm thì kể lại cuộc gặp gỡ anh Thành trong rừng hồi chiều cho hai
bác và Trang nghe. Cuối cùng cả nhà quyết định sẽ chuẩn bị một số thức
ăn và thuốc men rồi tờ mờ sáng hôm sau Trang xuống nhà tôi đi vào rừng
tìm gặp anh Thành. Nếu có ai hỏi thì nói là gia đình tôi thuê nàng đi
làm cỏ lúa ở Đồng Tròn. Bác trai cũng muốn đi theo nhưng không dám vì
sợ hôm sau công an lại tới nhà làm việc.

Suốt một tuần liền, ngày nào Trang cũng “đi làm thuê” cho tôi để vào
rừng gặp gỡ anh Thành. Cám cảnh trước hoàn cảnh hiện tại, sau mấy ngày
bàn bạc cùng gia đình, tôi đã quyết định nhường chỗ trên ghe cho anh
Thành. Chúng tôi cũng sắp xếp cho anh Thành theo xe bò của một người
quen ở Hòa Long đi lấy cọc tiêu để tránh gặp gỡ những người quen, rồi
tôi đón anh ấy ra Long Hương “ở nhờ” nhà một người bạn thân của tôi để
chờ ngày ra đi. Hơn hai tháng trời, tôi và Trang trở thành những người
đi buôn chuyến. Thực ra, tôi chỉ chở Trang ra Long Hương gặp chồng, có
khi ở đó một hai ngày trong lúc tôi đi Hố Nai, Gia Kiệm… lo việc
riêng. Người trong làng đã bắt đầu đồn đãi về việc tôi và Trang đi
buôn chung với nhau, nhất là còn đi qua đêm nữa! Mẹ tôi buồn lắm! Mặc
dầu tin tôi, nhưng “lời ong tiếng ve” đồn thổi nhiều chuyện ly kỳ hấp
dẫn về chúng tôi nên bà rất khổ tâm. Cha mẹ của anh Thành có vẻ bình
tĩnh hơn vì nghĩ rằng những lời đồn đãi đó sẽ làm người ta quên dần
chuyện anh Thành trốn trại cải tạo. Tôi vẫn xem Trang như một người
bạn thân vì tôi cũng chỉ hơn nàng một tuổi, còn anh Thành thì xem tôi
như một đứa em ruột, “một vị cứu tinh” đã dám liều mình cưu mang và
giúp đỡ anh trong cơn hoạn nạn.

Anh Thành và một số bạn bè của tôi đã ra đi đột ngột trước ngày dự
tính vì công việc “bến bãi” bị đổ bể. Sau một tuần không thấy tin tức
gì về chiếc ghe đó, chúng tôi yên chí anh Thành đã ra khơi bằng yên.
Tôi lại theo bạn bè tìm cách mua lại một chiếc ghe cũ ở Cần Giờ, đút
lót xin giấy tờ tạm trú và bắt đầu công việc sửa chữa chuẩn bị một
chuyến đi mới. Công việc bề bộn nên gần ba tháng sau tôi mới trở về
thăm gia đình. Mẹ tôi vừa khóc vừa kể cho tôi nghe về hoàn cảnh của
Trang. Nàng đã có thai, bụng càng ngày càng lớn. Anh Thành coi như mất
tích vì không có tin tức gì. Bà con trong họ chất vấn nàng nhiều lần
về đứa bé trong bụng. Lúc đầu cha mẹ anh Thành tin Trang, nhưng không
biết làm sao để giải thích. Mọi người đổ tiếng xấu cho tôi và nàng.
Dần dà cả gia đình nhà chồng cũng tin lời đồn đãi của thiên hạ, nhất
là chờ mãi không thấy tin tức gì của anh Thành nên bắt đầu hạch hỏi và
coi khinh nàng. Hai bác đã xuống nhà nói chuyện với mẹ tôi, có vẻ
trách móc và đặt vấn đề tại sao chính tôi cũng trốn biệt từ mấy tháng
nay. Mẹ tôi chỉ biết ngồi khóc vì tủi nhục! Em gái tôi cũng nửa tin
nửa ngờ nên đã tìm gặp Trang để hỏi cho ra lẽ. Nó tin lời giải thích
của Trang nên càng ngày càng thân với nàng.

Tuổi trẻ bồng bột và nhiều tự ái nên tôi đã lên gặp cha mẹ anh Thành
đôi co và cãi vã với cả gia đình và giòng họ anh ấy để bênh vực cho
Trang, nhưng rồi mọi người lại càng khinh bỉ và ghét bỏ Trang nhiều
hơn trước. Quá tủi nhục và hổ thẹn, Trang đã liều mình tự tử! Cũng may
người nhà phát giác kịp thời và cứu chữa cho nàng và bào thai trong
bụng. Mặc dầu được cứu sống nhưng Trang trở nên lầm lì ít nói, sống
vật vờ như một cái xác không hồn giữa sự khinh ghét của giòng họ nhà
chồng.

Lúc bấy giờ em gái tôi cũng mới mang thai nên đã bàn với mẹ xin cho
Trang về ở chung cho đỡ buồn và cùng đỡ đần giúp đỡ nhau trong lúc bầu
bì cho có chị có em. Chính vì lòng tốt của em gái tôi mà cả làng đều
nghĩ đứa con trong bụng Trang là của tôi. Mỗi lần tôi về thăm, Trang
khóc nức nở không phải vì nỗi tủi nhục khi bị mọi người phỉ báng,
nhưng nàng khóc vì đã làm hại danh dự của gia đình tôi. Lại một lần
nữa, mẹ tôi gọi hai đứa lên hỏi han ngọn nguồn, và khi nghe chúng tôi
thề thốt không hề có tà ý với nhau, mẹ tôi đã “ngồi xổm trên dư luận”
để nhận Trang làm con tinh thần trong khi mọi người nghĩ rằng mẹ tôi
làm thế để tránh tiếng vì bà đã biết chắc chắn bào thai trong bụng
Trang là cháu nội của bà. Mẹ tôi âm thầm ngậm đắng nuốt cay để an ủi
vỗ về Trang, mong cứu vớt một linh hồn vì mẹ tôi sợ rằng Trang lại
liều mình tự tử như mấy tháng trước. Ôi! Mẹ đã hy sinh chịu nhục vì
con và vì thương một người côi cút trong cơn hoạn nạn. Con xin cúi đầu
bái phục lòng can đảm của mẹ cho đến trọn đời.

Trước ngày ra đi, tôi đã trở về để từ giã gia đình. Ngay khi biết tin
tôi sắp sửa ra đi, Trang đã khóc nức nở và chuyển bụng sinh con. Vì
bao nhiêu biến cố xẩy ra dồn dập suốt thời kỳ mang thai, Trang đã trải
qua một đêm dài đau đớn, quằn quại đến kiệt sức nên y tá trong làng đề
nghị phải đưa nàng đi cấp cứu ở bệnh viện để mổ. Đáng lẽ sáng hôm sau
tôi phải trở lại Cần Giờ để chuẩn bị ra đi, nhưng tôi đi không đành
nên đã lỡ một “chuyến đò”. Tôi theo mẹ và Trang ra bệnh viện. Trong
lúc làm thủ tục giấy tờ trước khi đưa Trang lên bàn mổ, người ta đòi
phải có thân nhân ký tên trong giấy tờ nên tôi đã đứng ra lo liệu…
Cũng có thể vì lầm lẫn, và cũng có thể do số phận an bài nên các bác
sĩ và y tá đã ghi tên tôi là “chồng” của Trang trong hồ sơ bệnh lý. Đó
là lý do tại sao Tuân trở thành con tôi! Khi nghe tin Trang đi mổ, cha
mẹ anh Thành cũng ghé thăm và xin lỗi mẹ tôi vì những hiểu lầm trước
đây. Mẹ tôi cũng không chấp nhất gì nên mọi người đều vui vẻ.

Sau hai tuần Trang được xuất viện, trở về nhà với mẹ tôi. Mẹ tôi bàn
qua với hai bác việc lên cha xin rửa tội cho cháu, và chính tờ giấy
bệnh viện ghi tên tôi là cha đứa nhỏ đã gây nên sóng gió ồn ào cả xứ
đạo. Cha xứ lắng nghe, nhưng Ban Hành Giáo và bà con trong họ anh
Thành quyết liệt phản đối. Họ đến nhà hạch hỏi mẹ tôi đủ điều. Tuổi
trẻ háo thắng nên tôi đã nổi nóng đuổi hết mọi người và quyết định
chẳng thèm xin rửa tội cho Tuân nữa! Tôi chỉ muốn mọi người để cho
chúng tôi yên nhưng miệng người không phải dễ “khóa”! Tôi ngang tàng
chấp nhận sự dèm pha của mọi người và cứ hiên ngang ngẩng đầu tiếp tục
chạy mánh tìm ghe lo chuyện vượt biên lần nữa. Lần này tôi quyết định
sẽ đưa mẹ con Trang cùng đi.

Tôi có thể “đạp dư luận xuống bùn đen” để sống, nhưng Trang phải âm
thầm than khóc từng đêm, nức nở đè nén “nỗi oan Thị Kính” từng giờ
từng phút nên đã bị băng huyết cho đến chết, và chết trong tủi nhục
vào một đêm tôi vắng nhà! Tôi trở về nhìn xác Trang nằm im bất động mà
thấy lòng muốn nổi loạn. Tôi biết chắc chắn những phút cuối đời Trang
đã phải quằn quại trong đớn đau tủi nhục! Tôi đã thực sự thù ghét mọi
người trong xứ khi biết tin “người ta” không muốn cho tôi chôn Trang ở
nghĩa trang giáo xứ vì bà con trong làng nghĩ rằng Trang đã tự tử! Tôi
không hiểu tại sao cả xứ lại lên án và “trừng phạt” thân xác một người
đã chết trong khi hằng tuần ở nhà thờ vẫn đọc kinh “Thương Người Có 14
Mối, Thương Xác 7 Mối”, trong đó có ghi rõ việc “chôn xác kẻ chết!”
Đâu có ai hiểu được nỗi đau đớn và tủi nhục đã gặm nhấm tim gan Trang
từng giây từng phút vì bị cả làng, cả xứ kết tội oan ức, và nhất là sự
dằn vặt nàng phải gánh chịu vì đã “gieo họa” cho gia đình tôi! Đâu có
ai ở gần kề bên Trang trong những giây phút cuối đời của nàng để “kết
án” nàng đã “liều mình tự tử”!!! Mẹ tôi muốn lên xin cha xứ giúp đỡ
nhưng tôi đã điên lên phản đối. Tôi nhờ bạn bè ở xa về đào huyệt chôn
Trang trong một góc rẫy của gia đình tôi ở mép rừng. Tôi đã bỏ xưng
tội, bỏ lễ cả mấy năm trời vì lòng thù hận vẫn chưa nguôi! Đã nhiều
đêm tôi gục đầu dưới tượng chịu nạn van xin lòng nhân từ hay thương
xót của Chúa thay đổi trái tim “thù hận” của tôi, và tôi cũng xin Ngài
thương tha cho những người đã kết tội “oan” cho chúng tôi! Tôi chỉ
thật sự trở về với Chúa như “một con chiên lạc” mấy tuần trước ngày
vượt biên…

Cháu Tuân tuy mồ côi mẹ nhưng được bú nhờ sữa của em gái tôi cũng mới
sinh được vài tháng nên cháu vẫn lớn lên theo ngày tháng trong tình
thương yêu đùm bọc của gia đình tôi. Tôi vẫn đi đi, về về tìm mối làm
ghe vượt biển. Những hôm ở nhà, thỉnh thoảng tôi bế Tuân ra rẫy, đến
ngồi bên mộ Trang khấn nguyện. Công việc làm ghe càng ngày càng khó
khăn nên mãi 4 năm sau tôi mới thành công. Trước khi lên đường, tôi đã
vô rừng tìm kiếm và đào được một cây bằng lăng nhỏ đem trồng bên mộ
Trang để làm kỷ niệm. Lúc bấy giờ Tuân đã chạy nhanh, nói sõi và lúc
nào cũng quấn quít bên tôi những ngày tôi về quê.

Cuối cùng tôi quyết định sẽ dẫn Tuân cùng đi mặc dầu mẹ tôi can ngăn
nhiều lần. Tôi đã đi và tôi đã đến. Chính nhờ sự liều lĩnh của tôi mà
Tuân có được ngày hôm nay. Tôi hãnh diện vì sự thành đạt của Tuân. Tôi
mang ơn Oanh vì nàng đã tận tình yêu thương săn sóc “cha con” tôi từ
bao nhiêu năm qua. Nếu không có tình yêu và lòng vị tha thông cảm của
Oanh, tôi đã ngã quỵ trong cô đơn nơi xứ lạ quê người, và Tuân lại một
lần nữa thành trẻ “mồ côi”!

Nhìn hình ảnh Tuân hiên ngang bước lên khán đài, tôi cảm động rưng
rưng nước mắt. Tôi không khóc khi Trang chết. Tôi không khóc khi phải
chôn nàng ở mép rừng thay vì chôn ở nghĩa trang của giáo xứ. Tôi không
khóc khi từ giã mẹ già và gia đình ra đi, nhưng giờ này tôi khóc vì
biết chắc chắn Tuân đã trưởng thành, và mấy ngày nữa sẽ về thăm mộ mẹ
đang nằm cô đơn hiu quạnh dưới gốc cây bằng lăng “cha con tôi” đã
trồng trước ngày “biệt xứ”.

o0o

Oanh đứng nép sát vào người tôi, run run cảm động nhìn Tuân đốt
hương cắm lên mộ Trang rồi quỳ xuống gục mặt khóc thật to. Tôi dìu
Oanh đến cạnh gốc cây bằng lăng đã bị đốn từ mấy năm trước, chỉ còn
một số chồi non mới lên được vài mét. Tôi kinh ngạc khi khám phá ra
một cành bằng lăng mới chớm vài nụ hoa mầu tím. Tôi với tay bẻ rồi
cùng Oanh đến quỳ bên cạnh Tuân, nhẹ nhàng đặt cành hoa mầu tím trên
ngôi mộ của Trang. Tuân ngẩng mặt lên nhìn hai chúng tôi khẽ nói: |  |

– Con biết mẹ con đang mỉm cười bên kia thế giới. Con xin thay mặt cha
mẹ quỳ lạy ba má đã nuôi con nên người.

Tuân nhẹ nhàng trao cho tôi tờ giấy thử nghiệm mẫu DNA xác định nó và
tôi không phải “cha con”!

Nguyễn Duy-An

Văn hóa giáo dục Việt Cộng dạy con người tàn ác, mất nhân tính

Văn hóa giáo dục Việt Cộng dạy con người tàn ác, mất nhân tính

Giáo Già (Danlambao)Văn hóa giáo dục Việt Cộng sau thời gian quá dài của 40 năm lộng hành nhồi sọ, “dạy con người tàn ác, mất nhơn tính”, đang bị một học sinh 14 tuổi cho là “cải lùi”, để tuổi trẻ và thế hệ thứ 3 dũng cảm bước lên làm lịch sử “cải tiến”…, để tới lúc, dù có thể là rất lâu, một tỷ lệ cao hơn học sinh Việt Nam có thể công khai, lớn tiếng chỉ trích Bộ Giáo dục và bất kỳ cơ quan nhà nước nào làm ăn tồi tệ…, để cái chính quyền gian ác, bất tài, thất đức… hiện nay bị đẩy lùi vào chỗ dơ bẩn nhứt của lịch sử.

*

Trong bài viết “Tại Sao Họ Lại Hung Ác Đến Vậy”, Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc [xem hình], trên blog của đài VOA, ngày 25/8/2015, cho biết (xin trích nguyên văn):

Tối ngày 8 tháng 8 vừa qua, trong một quán karaoke ở Hải Phòng, nghĩ là anh Nguyễn Tuấn Định nhìn “đểu” mình, một số thanh niên dùng tuýp sắt đánh anh đến bị chấn thương sọ não, phải chở vào bệnh viện cấp cứu. Chưa đã cơn giận, các thanh niên này còn chạy đến bệnh viện dùng dao chém chết anh Định ngay trên băng-ca lúc chờ bác sĩ khám và chữa.

Mấy ngày sau, ở Bến Tre, Huỳnh Văn Phương và Lê Văn Tèo, cả hai đều 35 tuổi, đi xe gắn máy, bị đụng quẹt vào xe của anh Phạm Văn Phường, 25 tuổi. Phương và Tèo nhào xuống đánh anh Phường. Chưa đủ, Phương và Tèo chạy vào một căn nhà dọc đường lấy dao ra cắt cổ anh Phường. Nạn nhân chết ngay tại chỗ.

Ra đường thì thế; ở nhà có an toàn hơn không? Không. Cũng trong mấy tháng vừa qua, ở Việt Nam xảy ra mấy vụ giết người, ở đó, cả gia đình đều bị giết.

Như vụ giết người tại Nghệ An, chẳng hạn. Vy Văn Mằn vào vườn của anh Lô Văn Thọ hái trộm mấy trái chanh, bị anh Thọ bắt gặp. Hai người cãi vã nhau. Mằn nhào đến đánh anh Thọ. Chưa đủ. Mằn chụp con dao chém liên tục vào đầu anh Thọ khiến anh Thọ chết tại chỗ. Vợ anh Thọ, chị Lê Thị Yến thấy vậy sợ hãi ôm con chạy trốn. Mằn rượt theo. Gặp bà Chương, mẹ anh Thọ, Mằn chém chết; sau đó, chém chị Yến và cả đứa con chị địu trên lưng, mới một tuổi. Như vậy, chỉ vì mấy trái chanh, Vy Văn Mằn giết cả gia đình anh Lô Văn Thọ, kể cả một em bé sơ sinh.

Vụ giết người ở Nghệ An xảy ra chưa bao lâu thì đến vụ giết người cũng tàn độc không kém ở Bình Phước. Nguyễn Hải Dương, 24 tuổi, bị gia đình người yêu phản đối, bèn rủ bạn đến nhà người yêu cũ, giết sáu người trong gia đình, kể cả người mình từng yêu. Chỉ có một em bé chưa tới hai tuổi là được tha mạng.

Rồi xảy ra vụ án ở Yên Bái. Vì một sự tranh chấp nhỏ trên mảnh đất làm nương, Đặng Văn Hùng, 26 tuổi, xô xát với anh Trần Đức Long. Bị đánh, Anh Long bỏ chạy, Hùng rượt theo, chém tới tấp vào đầu vào cổ anh Long nhiều nhát. Chị Hoa, vợ anh Long, bỏ chạy. Hùng rượt theo, chém chị chết. Chưa hết. Hùng chạy vào nhà anh Long, chém chết em vợ anh Long. Cũng chưa hết. Thấy con trai anh Long, mới hai tuổi, đang đứng trên giường, Hùng “tiện tay” nhào đến chém mấy nhát khiến bé chết ngay tại chỗ.

Sau đó Giáo sư Quốc viết thêm: “Ở trường học, chỉ cần một chút xích mích, học sinh, kể cả học sinh nữ, ẩu đả và hành hạ nhau trước cái nhìn dửng dưng của các học sinh khác”.

Đi tìm nguyên nhơn của sự tàn ác mất nhơn tính đó, không tìm đâu xa, chỉ nhìn từ 40 năm trở lại đây, kể từ ngày Cộng sản Bắc Việt hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam, ngày 30-4-1975, hẳn ai cũng thấy việc VC giáo dục con trẻ như thế nào, và văn hóa VC thể hiện trong các tác phẩm văn chương như thế nào.

Xin nói qua một chút về chuyện giáo dục. Ở nhà trường, VC đã dạy tuổi thơ tinh thần gian ác ngay từ khi con trẻ vào lớp 1 bậc tiểu học. Trong quyển giáo khoa lớp 1, khi dạy toán cộng chúng đã dùng xác người để dạy học trò: “5 tên ngụy + 2 tên đế quốc bị bắn chết = 7”. Chỉ với bài toán cộng này mọi người nhận ra tính cách tàn bạo của nền giáo dục VC trong mục đích “dùng giáo dục học đường trang bị cho trái tim và khối óc tuổi thơ lên 5 lên 6 chuyện giết người”. Chúng đã nhồi sọ tuổi thơ; dạy tuổi thơ dửng dưng với chuyện giết người.

Trong khi trước đó, ở các lớp học của Việt Nam Cộng Hòa, cô giáo thường cho học sinh làm toán, đại khái như: Bà bán hàng mua 1 con gà $4 và 1 con vịt $3; tổng cộng là 3$+$4=$7; bà đem ra chợ bán, 1 con gà $5 và 1 con vịt $4; tổng cộng là $5+$4 = $9; nhờ đó bà lời được $9-$7 = $2. Nhìn qua bài toán này VC kết luận: “Bà bán hàng tượng trưng cho tư bản, chúng đã bóc lột của nhân dân $2”.

Để rồi từ đó, dạy tuổi thơ căm thù tư bản, căm thù những kẻ đã bóc lột nhân dân, làm cho nhân dân nghèo đói, khiến tuổi thơ ủng hộ cuộc “cách mạng giải phóng nhân dân khỏi bàn tay bóc lột của tư bản, khỏi cảnh nghèo đói, xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu đẹp”.

Chưa hết, chính Đinh Thế Huynh (sinh năm 1953, quê Nam Định), Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội đồng lý luận trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI; từng là Tổng biên tập báo Nhân dân, Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam; lúc còn là một kẻ viết văn, trong bài viết “Trâu Cũng Đánh Mỹ”, được cho cô giáo dùng dạy học sinh trong lớp học, có nội dung được sao chụp lại đính kèm.

Trên lãnh vực giáo dục VC đã bịa chuyện để “nhồi sọ nhân dân” ngay từ lúc “nhân dân” còn quá nhỏ, chưa biết “đâu đúng, đâu sai”, chẳng những nghe cô giáo “dạy sao biết vậy”, lại còn hãnh diện về “kỳ tích” đánh Mỹ, giết Mỹ, của trâu; trâu còn biết giết Mỹ, sao em không biết giết Mỹ; trâu còn căm thù Mỹ, sao em không căm thù Mỹ. Trẻ thơ đâu biết “giết Mỹ” là “giết người” và “giết người” là “tàn ác”. Trẻ thơ bị nhồi sọ như vậy đó, khiến cho lớn lên con người mất hết nhơn tính, để rồi xem chuyện “giết người” là chuyện dửng dưng, không chút áy náy.

Bước sang lãnh vực văn học, sự tàn ác còn được thể hiện khủng khiếp hơn nữa. Xin kể qua một chút về kẻ được gọi là nhà văn Tạ Duy Anh, trong tác phẩm của mình ông này viết:

“… Quân ta ào lên, bắt giết, đâm, giẫm đạp. Một mụ nguỵ cái, ngực để trần, miệng há ra ú ớ. Niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực mình. Mình găm vào ngực mụ cả loạt khiến ngực mụ vỡ toác mà mặt mụ vẫn chưa tắt hy vọng. Giết người lúc ấy sao thấy sướng thế! Một thằng nguỵ bị mình xọc lê vào bụng, nghe ‘thụt’ một cái. Mình nghiến răng vặn lê rồi trở báng súng phang vào giữa mặt hắn. Hắn lộn một vòng, gồng mình giãy chết như con tôm sống bị ném vào chảo mỡ.”

Không cần biết đó là chuyện có thật hay hư cấu, nhưng sự tàn ác của nó đã đến tận cùng của khủng khiếp. Chính cái tàn ác khủng khiếp đó đã tiêm nhiễm vào não trạng của bọn công an và côn đồ xã hội chủ nghĩa, khiến đâu đâu người ta ai cũng thấy sự tàn ác khủng khiếp của bọn cầm quyền xã hội chủ nghĩa, từ tên quản giáo trong các trại tù “cải tạo”, cho đến tên công an trên đường phố trấn áp người biểu tình chống Trung cộng xâm chiếm đất nước, đàn áp dân oan khiếu kiện, hay ôn hòa bày tỏ nguyện vọng, đấu tranh cho nhân quyền, đấu tranh dân chủ hóa Việt Nam…, hay nhẹ nhàng như đón chào người tù lương tâm mãn hạn tù.

Điển hình như cuối tháng 8 năm 2015 vừa qua, ngày 28 tháng 8 năm 2015, đoàn người đón tù nhân lương tâm Trần Minh Nhật mãn hạn tù trở về bị hành hung (xem hình 1); trong số này có ông Lê Đình Lượng bị đánh đập gây thương tích (hình 2), cựu tù nhân lương tâm Trương Minh Tam cũng bị hành hung (hình 3), anh Chu Mạnh Sơn bị đánh đổ máu đầu (hình 4) [Nguồn ảnh: Fb Thúy nga/Trần Khắc Đạt]…

Nhìn lại 40 năm qua, trong thời gian đầu, sự nhồi sọ và bạo lực gian ác của kẻ cầm quyền xã hội chủ nghĩa có khiến người dân Miền Nam sợ hãi; nhưng sự gian dối càng lúc càng lộ liễu và sự sợ hãi cũng càng lúc càng phai lạt, nhứt là kể từ thế hệ thứ hai, ánh sáng “cởi mở” rọi vào các hóc hiểm của lòng tham và ngang ngược ngụy biện xã hội chủ nghĩa đã không còn như trước, người dân đã lần hồi “sáng mắt”. Họ không còn tin nghe những gì VC nói. Họ đã tận mắt thấy những gì VC làm.

Đến thế hệ thứ ba, nhờ cuộc “giao lưu” với hải ngoại; đặc biệt nhờ nếp sống hải ngoại và truyền thông quốc tế dễ dàng truyền vào quốc nội; nhứt là nhờ internet, sự bưng bít và lừa gạt dư luận của VC không còn bị hơn 700 tờ báo và các đài truyền thanh truyền hình nhà nước VC “bịp” được nữa.

Tuổi trẻ ngày nay, nhứt là các blogger, đã nhờ facebook, twitter… dũng cảm tiến lên “làm lịch sử”, vận động quốc tế cùng vạch mặt công an côn đồ lộng hành. Nhờ vậy, các nhà ngoại giao và báo chí thế giới ngày càng râm ran hơn về vai trò của công an và côn đồ trong nỗ lực bịt miệng người dân không chỉ bằng nhà giam mà còn bằng bạo lực đường phố [xem hình Ông Felix Schwarz, tham tán Chính trị và Nhân quyền đại sứ quán Đức đang thăm hỏi anh Nguyễn Chí Tuyến tại nhà riêng – hồi 10:45 ngày 12/05/2015].

Được biết, nói về chuyện “an ninh giả danh côn đồ đánh dân là hạ sách”, ngày 16-6-2015, phóng viên Hoà Ái của đài RFA cho biết [nguyên văn]: “Hiện ngày càng có nhiều các nhà hoạt động ở VN bị côn đồ tấn công và hành hung, điển hình là trường hợp anh Nguyễn Chí Tuyến và anh Đinh Quang Tuyến bị đánh hồi tháng 5 năm nay. Sau đây, Hòa Ái có cuộc trao đổi ngắn với 2 anh Nguyễn Chí Tuyến và Đinh Quang Tuyến về những vụ việc liên quan” [Xem hình Anh Đinh Quang Tuyến (trái) và anh Nguyễn Chí Tuyến (phải) sau khi bị đánh hồi tháng 5 năm 2015].

Hòa Ái: Xin được chào 2 anh Nguyễn Chí Tuyến và anh Đinh Quang Tuyến. Câu hỏi trước tiên, xin được hỏi anh Nguyễn Chí Tuyến rằng có phải vụ việc anh bị côn đồ hành hung hồi đầu tháng 5 vừa qua là lần đầu tiên không, thưa anh?

Anh Nguyễn Chí Tuyến: Lần này coi như lần đầu tiên bị hành hung và bị tấn công nặng. Còn những lần trước thì họ sách nhiễu bằng cách bắt bớ và trong lúc đi biểu tình thì chúng tôi coi đấy là bình thường thôi. Nhưng lần này bị tấn công, bị hành hung thì khá nghiêm trọng vì có thể chưa đến mức lấy tính mạng của tôi, tuy nhiên nếu bị nặng hơn một chút thì tôi có thể bị mất trí nhớ hoặc là thành người bị mắt lòa. Cho nên tôi nghĩ rằng đây là lần nguy hiểm nhất đối với tôi, kể từ trước đến nay.

Hòa Ái: Thưa anh Đinh Quang Tuyến, từ khi bị đánh hôm 19/5 và anh nói là “công an mật vụ tấn công”, sau đó anh phải trải qua một cuộc giải phẩu để nâng sụn mũi, hiện nay sức khỏe của anh ra sao?

Anh Đinh Quang Tuyến: Sau khi bị đánh hôm 19, ngày 20,21,22 thì vào bệnh viện. Chiều 22 mổ, 8 giờ tối xong. Sau khi mổ thì đau. Đau đến sáng 23 thì đỡ hơn. May mắn là sau khi mổ không có biến chứng nào hết. Ngày 24 thì tôi cảm thấy khỏe, tháo băng ra được mặc dù bệnh viện kêu để 5 ngày. Uống thuốc chừng 3-4 ngày sau thì cảm thấy không đau nữa. May là rất mau lành…”

Đó là vài trường hợp điển hình, nó không khiến tuổi trẻ nao núng, sợ hãi, vì sau đó cuộc đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền của hai anh Tuyến và nhiều bạn trẻ khác vẫn tiếp tục. Nó còn được tiến hành trên bình diện rộng hơn nữa. Trong cuộc đấu tranh đòi “diễn biến”, về mặt giáo dục, nhiều người đã làm gương thực hiện những “diễn biến” cụ thể, như hợp soạn “sách giáo khoa” dùng cho giáo viên dạy và cho học sinh học ở trường, mà không chờ đợi Bộ Giáo Dục và nhà nước CSVN làm.

Thật vậy, trong bài viết được cho đăng trên đài VOA, ngày 14.08.2015, phóng viên Khánh An cho biết: Nhà giáo Phạm Toàn, người lập ra nhóm Cánh Buồm, nói rằng: “Với hơn 10 năm làm việc nghiêm túc, nhóm đã hoàn thành bộ Sách giáo khoa tiểu học và cho ra mắt bộ sách này hôm 12/8. Bộ sách có sự tham gia của nhiều soạn giả nổi tiếng và được thông qua một ban duyệt bản thảo gồm nhiều nhà nghiên cứu, giáo sư, tiến sĩ. Nhóm đang bắt tay thực hiện bộ sách dành cho lớp 6 trở lên”.

Trong buổi hội thảo ra mắt “Sách Văn và Tiếng việt lớp 6” của nhóm Cánh Buồm hôm 12/8, đã bất ngờ gây thành tiếng vang sâu rộng trong dư luận. Nó cho biết, trong phần đặt câu hỏi, một học sinh lớp 8 tên Vũ Thạch Tường Minh, 14 tuổi, đã đứng lên phát biểu như sau [trích đoạn ghi âm được đăng tải lên mạng Youtube]: [Xem hình Vũ Thạch Tường Minh học sinh trường Hà Nội – Amsterdam đang phát biểu tại buổi ra mắt sách của nhóm Cánh Buồm. Ảnh và chú thích: RFA]

“Một điều mà con muốn nói với chính phủ Việt Nam, hay cụ thể hơn là Bộ Giáo dục, theo con, các vị bộ trưởng, thứ trưởng giáo dục không phải là nên áp dụng cả bộ sách này, mà là áp dụng cái lối giáo dục của bộ sách này vào giáo dục Việt Nam, bởi vì bây giờ giáo dục Việt Nam con thấy là, con không có tính từ nào khác nên con phải dùng tính từ này, là giáo dục Việt Nam bây giờ con thấy là quá ‘thối nát’ rồi. Mà suốt bao năm qua các vị cải đi, cải lại, cải tiến, cải lùi mà nó vẫn không thay đổi được kết quả gì cả. Nên bây giờ con muốn các vị bộ trưởng, thứ trưởng hãy thay đổi đường lối giáo dục của Việt Nam, có thể theo đường lối của Cánh Buồm cũng được, các vị có thể thay cả bộ sách giáo khoa cũng được. Các vị có thể nói là mất thời gian, nhưng con thấy là thời gian các vị cải tiến, cải lùi còn mất thời gian hơn. Giáo dục Việt Nam không cần cải cách gì nữa, giáo dục Việt Nam cần được cách mạng. Đó mới là điều các vị trong Bộ Giáo dục nên làm. Còn nếu bây giờ các vị không làm thì đến khi nào con thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục con sẽ làm”.

Phát biểu thẳng thắn, không lập luận, không lý lẽ, của một cậu bé 14 tuổi này, đã gây thành trận “bão” dư luận. Video clip ghi âm cậu bé đã được lan truyền nhanh chóng trên mạng xã hội. Nó được gần nửa triệu lượt người xem chỉ sau 4 ngày.

Từ một vài sự kiện cụ thể nêu trên, mọi người hẳn thấy những giọt máu trên đầu những nhà đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ hóa Việt Nam…, như Nguyễn Chí Tuyến, Đinh Quang Tuyến…, sẽ là những giọt nước làm đầy cái “ly đấu tranh”, hoàn mãn cuộc đấu tranh, như Giáo Già từng nói, sau 40 năm trầm luân vì độc đảng độc tài Cộng sản “40 bước tới… bước”.

Cũng vậy, nền văn hóa giáo dục Việt Cộng sau thời gian quá dài của 40 năm lộng hành nhồi sọ, “dạy con người tàn ác, mất nhơn tính”, đang bị một học sinh 14 tuổi cho là “cải lùi”, để tuổi trẻ và thế hệ thứ 3 dũng cảm bước lên làm lịch sử “cải tiến”…, để tới lúc, dù có thể là rất lâu, một tỷ lệ cao hơn học sinh Việt Nam có thể công khai, lớn tiếng chỉ trích Bộ Giáo dục và bất kỳ cơ quan nhà nước nào làm ăn tồi tệ…, để cái chính quyền gian ác, bất tài, thất đức… hiện nay bị đẩy lùi vào chỗ dơ bẩn nhứt của lịch sử.

6/9/2015

Nạn nhân chiến tranh VN lên tiếng về bức ảnh bé trai Syria chết đuối

Nạn nhân chiến tranh VN lên tiếng về bức ảnh bé trai Syria chết đuối

Bà Kim Phúc và phóng viên Nick Út đứng trước bức ảnh 'em bé naplam'

Bà Kim Phúc và phóng viên Nick Út đứng trước bức ảnh ’em bé naplam’

LHQ: Khủng hoảng người tị nạn là ‘thời khắc định hình’ cho châu Âu

07.09.2015

Bà Kim Phúc, bé gái trong bức ảnh do nhiếp ảnh gia Nick Ut của hãng AP chụp năm 1972 vào lúc cao điểm của chiến tranh Việt Nam, nói bà hy vọng cái chết của bé trai người Syria sẽ làm ‘cả thế giới thức tỉnh’.

Hãng tin CBC của Canada tường thuật rằng bà Kim Phúc phát biểu như vậy tại Winnipeg hôm qua, Chủ nhật, khi bà đến Nhà Thờ Baptit Grant Memorial để ký tên sách “Girl in the Picture – Cô gái trong bức Ảnh”.

Tại buổi sinh hoạt này, bà Kim Phúc nhắc tới tình cảnh hàng ngàn người tỵ nạn Syria và những hành động tội ác đã buộc họ phải rời bỏ quê hương ra đi tìm đường sống.

Từng là chủ đề của tấm ảnh được ’em bé napalm’ được thế giới biết đến, được cho là đã có tác động tới công luận quốc tế về chiến tranh Việt Nam, bà Kim Phúc nói tấm ảnh chụp xác của Alan Kurdi, cậu bé 3 tuổi người Syria, trôi giạt vào một bờ biển ở Thổ Nhĩ Kỳ, đã đặc biệt gây tiếng vang nơi bà, vì bà từng có kinh nghiệm về tác động mà những bức ảnh chụp các thảm hoạ có thể có đối với lịch sử.

Bà Kim Phúc chỉ mới 9 tuổi khi nhiếp ảnh gia Nick Ut chụp tấm ảnh một bé gái không quần áo với nét mặt kinh hoàng, vừa chạy vừa la hét sau khi bị bỏng bom Napalm trong chiến tranh Việt Nam năm 1972. Từ đó, Kim Phúc đã trở thành một biểu tượng sống của những thảm cảnh chiến tranh.

Nhiều sử gia cho rằng tấm ảnh của nhiếp ảnh gia Nick Ut, chụp 5 đứa trẻ Việt Nam chạy sau một cuộc tấn công bom napalm đã khơi dậy cho phong trào phản chiến. Tấm ảnh mang đã giúp Nick Ut đoạt Giải Pulitzer về ảnh phóng sự năm 1973.

Nghệ sĩ Ấn Độ Sudarsan Pattnaik tạo ra một tác phẩm trên cát ở bãi biển Puri miêu tả cậu bé chết đuối người Syria Alan Kurdi.

Nghệ sĩ Ấn Độ Sudarsan Pattnaik tạo ra một tác phẩm trên cát ở bãi biển Puri miêu tả cậu bé chết đuối người Syria Alan Kurdi.

Hãng tin CBC tường thuật về phản ứng của bà Kim Phúc khi xem bức ảnh của bé trai Syria nói rằng bà đã khóc rất nhiều khi xem tấm ảnh, và tự hỏi “tại sao lại có nhiều đứa trẻ vô tội phải chết như thế. Tôi hy vọng là bức ảnh này sẽ làm cả thế giới thức tỉnh.”

Nay định cư ở Canada, bà Phan Thị Kim Phúc góp tiếng cùng với nhiều tiếng nói khác, kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới hãy làm việc với nhau để giải quyết cuộc khủng hoảng tỵ nạn Syria.

Bà Kim Phúc nói bà hy vọng quê hương thứ hai của bà là Canada, và các nước khác trên khắp thế giới sẽ mở rộng vòng tay và mở cửa biên giới để đón nhận người tỵ nạn Syria.

Theo CBC, Thanh Nien.