5 người cùng gia đình chết trong nhà ở Minnesota

5 người cùng gia đình chết trong nhà ở Minnesota

Nguoi-viet.com

MINNEAPOLIS, Minnesota (AP)5 người cùng một gia đình, trong đó có ba trẻ em, được tìm thấy đã chết hôm Thứ Năm, tại căn nhà bên bờ hồ ở khu ngoại ô trung lưu thuộc miền Tây Minneapolis.

Cảnh sát trưởng lâm thời Mike Siitari thông báo với báo chí về cái chết của 5 người cùng một gia đình ở gần Minneapolis. (Hình: AP/Jim Mone)

Cảnh sát tin rằng đây là vụ giết người rồi tự sát.

Cảnh sát trưởng lâm thời Mike Siitari cho biết, nhân viên của ông đến kiểm tra gia đình này vào lúc 12 giờ 21 trưa, sau khi không ai nghe tin hoặc trông thấy họ trong suốt nhiều ngày.

Các em nhỏ trong gia đình vắng mặt ở trường suốt hai ngày qua.

Ông Siitari không nói rõ họ chết trong trường hợp nào nhưng thêm rằng, cái chết của họ “không là mối đe dọa hay nguy hiểm nào đối với cộng đồng.”

Ông thêm: “Hiển nhiên đây là biến cố hết sức bi thảm mà phải cần một thời gian mới hiểu rõ hết được.”

Căn nhà các nạn nhân ở khu trung lưu Greenwood với dân số vài trăm người, nằm bên bờ hồ Lake Minnetonka, cách Minneapolis khoảng 20 dặm về hướng Tây.

Thị Trưởng Debra Kind của thành phố Greenwood nói, bà không biết rõ về gia đình này nhưng cho rằng “tin này rất đáng bận tâm.”

Bà Kind nói: “Tôi hy vọng rằng những ai đang có ý định tự tử thì nên tìm sự giúp đỡ, vì đây là một thảm kịch không cần thiết.” (TP)

Những Ngày Thủ Đô Tưng Bừng Phố Xá

Những  Ngày  Thủ  Đô  Tưng  Bừng  Phố  Xá

Bút ký Đoàn Thanh Liêm

Như đã có nhiều dịp thưa với quý bạn đọc trước đây, mỗi năm cứ vào dịp mấy tháng 4, 5 và 6, tôi thường từ California đi qua khu vực miền Đông nước Mỹ để tiếp tục công việc nghiên cứu về luật pháp và xã hội tại Thư viện Quốc hội Mỹ. Đồng thời cũng tham gia hội thảo với mấy đại học tại các tiểu bang lân cận với thủ đô Washington.

Tôi thật có duyên với cái thành phố thủ đô này, và luôn giữ được nhiều kỷ niệm tươi vui đẹp đẽ với Washington kể từ ngày tôi được cử đi du học tu nghiệp tại đây trong năm 1960-61, dưới trào cuả Tổng thống Eisenhower và Kennedy. Hồi đó, Washington thật là thanh bình êm ả, chưa hề bị nạn khủng bố đe doạ như bây giờ.

A – Kỷ niệm êm đẹp tại khu “Đồi Capitol” (Capitol Hill)

Image result for images of capitol hill

Mổi buổi sáng, từ nhà trọ ở gần khu Toà Bạch ốc cuả Tổng thống, tôi lên xe bus đi lên trụ sở Quóc hội hết có 10 xu và trong 10 phút là tới nơi. Điện Capitol nằm trên một ngọn đồi không cao lắm, nhưng có cáí nóc vòm cao chót vót với hình dáng thật uy nghi thanh tú theo đường nét kiến trúc cuả Hy lạp thuở xưa, mà từ thật xa ai cũng có thể nhìn thấy được. Rõ ràng là trụ sở cuả các Đại biểu Quốc hội trông bề thế trội vượt hẳn, so với toà nhà cuả người lãnh đạo ngành Hành pháp cuả nước Mỹ.

Khu vực đồi Capitol là một trong những nơi thu hút rất đông khách du lịch, cũng như các phái đoàn từ khắp nơi đến gặp gỡ trao đổi với các Dân biểu, Nghị sĩ là các Đại diện cuả người dân.

Hằng ngày, bất kể vào muà nắng hay mưa, lúc nào cũng có từng đoàn, từng đòan người già trẻ, lớn bé lũ lượt có mặt trên khắp các con đường trong công viên bao quanh trụ sở chính, cũng như cuả hàng chục building làm văn phòng và trụ sở hội họp cho các nhân viên thuộc ngành Lập pháp. Ngoài ra cũng phải kể đến trụ sở cuả Tối cao Pháp viện, cũng như ba toà nhà thật lớn cuả Thư viện Quốc hội. Mỗi building như vậy gồm nhiều tầng lầu và vô vàn phòng ốc với đày đủ tiện nghi cho công việc chuyên môn, cũng như cho sinh hoạt cuả hàng bao nhiêu vạn con người làm việc ngày đêm không kể giờ giấc. Có toà nhà như Rayburn building thuộc Hạ Viện thì thật là đồ sộ lớn lao như cả một thành phố với đày đủ mọi cơ sở như nhà bưu điện, ngân hàng, nhà ăn, phòng vệ sinh, tầng hầm làm garage để xe…, với cả bốn mặt đều quay ra phía có công viên cây cối xanh tươi thật là mát mắt.

Bên phiá Thượng viện cũng như bên phía Hạ viện, mỗi bên đều có 3 building thật lớn, mà các vị dân cử muốn đi họp các phiên khoáng đại tại trụ sở chính ở điện Capitol, thì phải đi bằng đường hầm, trong đó có xe điện chuyên chở, thì mới kịp tham gia việc thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội được. Vì mỗi Dân biểu hay Nghị sĩ đều phải làm rất nhiều công việc phức tạp, cho nên họ đều cần đến sự phụ tá cuả các nhân viên riêng cuả mình, như vậy họ mới theo dõi đày đủ và kịp thời được các diễn tiến trong các loại phiên họp cuả Quốc hội qua các màn ảnh truyền hình trực tiếp, rồi khi nào cần đích thân đến tham dự, thì họ mới di chuyển qua đường hầm, từ văn phòng làm việc để đến phòng họp khoáng đại cuả toàn thể Quốc hội lưỡng viện, cuả riêng từng Viện, hay cuả riêng Uỷ ban chuyên môn cuả mình.

Vào năm 1960, khi đi tập sự tại đây, tôi đã nhiều lần đi lại qua hệ thống xe điện ngầm trong đường hầm này, vừa sạch sẽ vưà được chiếu đèn sáng như ban ngày, mà trải dài khắp nơi dưới lòng đất thuộc khu vực đồi Capitol. Bây giờ chỉ khác là vì vấn đề an ninh kiểm soát rất nghiêm ngặt, nên sự đi lại di chuyển trong khu vực cũng khó khăn phức tạp, mà lại tốn thời giờ hơn trước rất nhiều.

Vì Thư viện chỉ mở cưả cho công chúng đến tham khảo từ lúc 8.30 sáng cho đến 7.00 chiều, nên mỗi ngày trước giờ ra Thư viện, tôi thường đi rảo bộ khắp phố phường từ lúc 6.00 sáng, để vưà tập luyện thân thể giữ gìn sức khỏe, vưà  “tìm thăm lại chốn xưa”, nơi tôi đã từng cư trú và đi học đã trên 50 năm trước.

Cụ thể, mấy bữa nay, tôi đã đi bộ suốt từ khu vực gần với Đại học George Washington University dọc theo đại lộ Pennsylvania để tới khu vực cuả toà nhà Madison là một trong 3 building thuộc Thư viện Quốc hội. Lộ trình dài đến trên 5 cây số, xuyên qua không biết bao nhiêu cơ sở thuộc chánh phủ liên bang, các cơ sở tư nhân nội điạ cũng như ngọai quốc, rồi đến đủ các thứ viện bảo tàng, các công viên các đài kỷ niệm, cũng như các khu thương xá… Mới có 7 giờ sáng, mà xe cộ cũng như khách bộ hành đã nườm nượp xuôi ngược  cùng khắp các nẻo đường. Nhất là  loại xe do các phái đoàn thuê bao để chuyên chở du khách phương xa, thì họ tranh thủ đi rất sớm cho kịp với chương trình thăm viếng lúc nào cũng dày đặc các mục thăm viếng nhiều hấp dẫn, nơi các di tích lịch sử cũng như vô vàn những cơ quan, trụ sở cả cuả chánh phủ, lẫn cuả các tổ chức tư nhân về văn hoá, xã hội hay tôn giáo v.v…Khác với ở New York, tuy rất đông du khách, nhưng coi bộ có vẻ xô bồ hỗn tạp; tại thủ đô tôi thấy khách viếng thăm thường có vẻ thanh lịch, chững chạc hơn, cả về lề lối ăn mặc cũng như về phong cách giao tế đi đứng, nhất là họ luôn di chuyển thành từng đoàn với nhiều nhân viên hướng dẫn giải thích cặn kẽ về lai lịch các cơ sở và di tích trong chương trình thăm viếng.

B – Đi thăm lại chốn xưa trường cũ.

Đáng chú ý nhất đối với tôi là tôi đã tìm đến khu vực nằm trên con đường mang tên chữ F, nơi giao điểm với con đường mang tên số 19 (F and 19th street) trong khu Northwest, gần với Toà Bạch Ốc. Đây là nơi tôi đã ở trọ hồi năm 1960 – 61. Nó toạ lạc sát với cơ sở downtown cuả Đại học “American University (AU), và cũng gần với Đại học “George Washington University” (GWU). Vì thế mà vào lúc đó, tôi đã có thể đi bộ có mấy trăm thước là đến được các lớp học buổi tối tại hai Đại học này. Nhưng mà tôi đã không thể nào thấy lại được “căn nhà xưa kia” nưã. Mà thay vào đó là một toà nhà building khá lớn, chiếm đến cả một nưả block khu phố, mà trước đây là nơi tọa lạc cuả cả chục căn nhà 2-3 tầng lầu cũ kỹ với giá thuê  vừa với túi tiền cuả các sinh viên du học như bọn tôi.

Tôi vẫn còn nhớ năm 1960 lúc đó, tôi cùng thuê phòng chung với anh Cao Hớn Cơ là một đồng nghiệp cùng làm việc với tôi tại Quốc hội Việt nam, thì mỗi tuần lễ hai chúng tôi chỉ phải trả chung nhau có 12 dollars mà thôi. Anh Cao Hớn Cơ sau này qua làm việc bên Bộ Ngoại giao, và anh đã qua đời tại Saigon sau năm 1975. Nhân tiện, tôi cũng xin ghi lại hồi đó còn có các anh Lê Văn Hội, Trịnh Văn Xuân, Bùi Văn Chuyết và  Bùi Duy Quang cũng cùng trọ tại khu nhà này với anh Cơ và tôi. Mà nay, theo tôi được biết, thì cả ba anh Hội, Xuân và Chuyết cũng đều đã xa lià cõi thế này mất rồi. Hiện chỉ còn lại anh Quang đang nghỉ hưu ở thành phố San Francisco, cũng gần với nhà của bác sĩ Bùi Duy Tâm là bào huynh cuả anh.

Về Đại học George Washington, thì bây giờ đã mở mang gấp bội, với không biết bao nhiêu là cơ sở rất gần với trụ sở cuả Bộ Ngoại giao Mỹ, với ga metro có cái tên đọc lên rất ngộ nghĩnh là “Foggy Bottom” (Hố Sương Mù). Tôi cũng không còn tìm thấy cơ sở cũ cuả Trường Luật mà xưa kia tôi đã từng theo học mấy lớp như “Cases on Legislation” và “Legislative Drafting” trong khuôn viên của GWU tại đây.

Mà tôi cũng không thể nào tìm được dấu vết cuả cơ sở downtown của Đại học American University là nơi tôi theo học hai lớp về môn chính trị và kinh tế học, cụ thể là : “Pressure Groups and Propaganda” và “Economic Development in East Asia”.

Quả thật đã có biết bao nhiêu đổi thay tại khu vực Northwest cuả thành phố Washington DC, cả về phương diện con người cũng như về cảnh trí, trong vòng nưả thế kỷ qua. Ôi cái lẽ vô thường trong cõi nhân sinh là như thế đó.

Bài viết đến đây kể đã  dài rồi, mà tôi còn ở lại thành phố này cho đến đầu tháng Sáu mới di chuyển đến nơi khác. Vậy tôi xin hẹn sẽ viết tiếp thêm về chuyện “Người và Việc” tại thủ đô Washington trong vài bài sau nưã nhé ./

Viết lần đầu tại Stafford Virginia 15 Tháng Năm 2010,

Bổ túc tại Costa Mesa California, Thang Chín 2015.

Đoàn Thanh Liêm

Một trường hợp đi, về, và gặp nạn

Một trường hợp đi, về, và gặp nạn

GS Nguyễn Văn Tuấn

10-9-2015

Câu chuyện được tác giả Vũ Thị Nhuận thuật lại dưới đây là một trường hợp tiêu biểu của tình trạng đối xử không tốt với người đi học ở nước ngoài về (1). Câu chuyện nghe quen thuộc: sinh viên nhận được học bổng nước ngoài đi học; về nước thì không được trọng dụng và trù dập; khi nạn nhân rời trường sang một trường khác thì bị trường cũ kiện ra toà để … đòi tiền. Mà, tiền thì của nước ngoài. Đáng chú ý là câu chuyện xảy ra ở miền Tây Nam Bộ, nơi bị thiệt thòi nhất về giáo dục và khoa học, và rất cần các chuyên gia lành nghề.

Câu chuyện hơi dài, nhưng tôi tóm lược các sự kiện chính như sau:

1. Năm 20XX (không thấy nói rõ), cô Vũ Thị Nhuận, lúc đó là giảng viên của ĐH Cần Thơ, nhận được học bổng từ ĐH Kyushu để theo học tiến sĩ ngành sinh hoá. Sau khi hoàn tất chương trình học, Ts Vũ Thị Nhuận về ĐH Cần Thơ.

2. Khi về ĐH Cần Thơ, Ts Nhuận không được bổ nhiệm vào làm việc đúng chuyên môn. Theo như đơn mô tả, Ts Nhuận có những ý kiến “không giống họ” (họ ở đây có nghĩa là hội đồng khoa học của trường), nên chị bị trù dập và cô lập. Họ còn nói rằng Ts Nhuận “không làm việc bằng những tiến sĩ khác, không cống hiến nhiều bằng người có trình độ.”

3. Vì chịu không nổi sự cô lập, nên Ts Nhuận làm đơn xin nghỉ việc, và xin đi làm nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ ở Viện Y Khoa của Đại học Tokyo (không thấy nói năm nào). Tuy nhiên, trong đơn thấy nói rằng ngày 10/3/2011, Ts Nhuận đệ đơn xin nghỉ việc, nhưng ĐH Cần Thơ không trả lời.

4. Đến tháng 10/2014 thì Ts Nhuận được ĐH Y Dược Cần Thơ bổ nhiệm làm giảng viên. Tháng 11/2014, ĐH Cần Thơ phản ứng bằng cách cắt bảo hiểm xã hội, và đâm đơn kiện đòi bồi thường 569 triệu đồng (tức khoảng 28,000 USD). Đọc qua đơn kiện của ĐH Cần Thơ rất buồn cười, sai chính tả tùm lum cả.

Thế là Ts Vũ Thị Nhuận viết đơn cầu cứu đến Bộ trưởng Phạm Vũ Luận. Không biết ông bộ trưởng sẽ giải quyết sao, nhưng tôi thấy những trường hợp như thế này khá phổ biến. Mấy hôm trước báo Tuổi Trẻ có đi một loạt bài về tình trạng các du học sinh được đào tạo bài bản ở nước ngoài về nhưng không được trọng dụng. Nhiều du học sinh khi về nước cảm thấy hụt hẫng (3), và một số lại tiếp tục ra đi không hẹn ngày quay lại.

Chuyện đòi tiền cũng khá phổ biến. Khi không bổ nhiệm người ta đúng vị trí và chuyên môn (có thể hiểu là một cách “đày đoạ” hay hạ nhục), để khi nạn nhân chịu không nổi phải ra đi, thì giở chiêu trò … đòi tiền. Phải nói chiêu trò này tuy rất thô và rất thấp, nhưng có hiệu quả tuyệt vời trong việc làm nhụt chí nạn nhân. Riêng trường hợp của cô Vũ Thị Nhuận thì tôi không rõ đòi tiền gì, khi cô ấy được phía Nhật đài thọ chi phí học hành và ăn ở. Đòi tiền không phải của mình thì quả là rất lạ.

Vả lại, tôi thấy trường hợp cô Nhuận dù có rời ĐH Cần Thơ thì cô ấy vẫn làm ở Cần Thơ (ĐH Y Dược), chứ có đi ra nước ngoài đâu mà mất. Không cống hiến được cho ĐH Cần Thơ thì cống hiến cho ĐH Y Dược Cần Thơ. Nhìn “bức tranh lớn” thì Cần Thơ (và Việt Nam) không hề đánh mất cô Nhuận. Vậy thì việc kiện đòi tiền cô ấy có vẻ như là một thái độ trả đũa, thua trong việc dụng nhân tài thì kiện cho bõ ghét. Nếu thế thì phải nói rằng việc đâm đơn kiện của ĐH Cần Thơ là một hành động quá thấp của một trung tâm mang danh học thuật.

Việt Nam đang ra sức mời gọi các chuyên gia từ nước ngoài về đóng góp cho khoa học nước nhà. Ngoại trừ những người dỏm và nổ, những nhà khoa học chân chính ở nước ngoài sẽ suy nghĩ trăm lần trước khi đáp lời kêu gọi khi những sự việc như trường hợp của Ts Vũ Thị Nhuận xảy ra khá thường xuyên. Người trong nước mà còn chưa được trọng dụng thì làm sao thuyết phục được người ở ngoài nước. Miền Tây lúc nào cũng kêu là thiếu chuyên gia, nhưng trớ trêu thay chuyên gia thứ thiệt thì lại không được trọng dụng!

Tôi phải nói thêm rằng ở nước ngoài, người ta đang có trào lưu “săn” người tài trong lĩnh vực nghiên cứu y khoa (4). Các viện nghiên cứu và đại học — không chỉ ở Mĩ mà khắp thế giới, từ Nhật sang Úc và Âu châu — đều có chiến dịch săn lùng các nhà khoa học có chuyên môn cao. Ngay cả Viện Garvan cũng đang có chiến dịch này. Người ta xem đó là một “cuộc chiến” giữa các viện nghiên cứu, cuộc chiến để giành người xuất sắc. Ấy thế mà ở Việt Nam, nơi rất rất thiếu những người có chuyên môn về khoa học cơ bản như cô Nhuận, thì lại có những trường đại học trù dập người tài, và có lẽ đó là lí do giải thích tại sao đất nước này khó khá nổi.

____

Nguồn:

(1) Đơn kêu cứu (BVN).

(2) Có thể xem tài liệu qua facebook

(3) Hụt hẫng ngày trở lại… (TT).

(4) The Battle for Biomedical Supremacy (NYT).

(5) Tôi phải nói thêm rằng nếu cô Nhuận đồng ý, nhóm chúng tôi sẽ rất hân hạnh thảo luận với cô về tham gia một lab nghiên cứu ở ĐH Tôn Đức Thắng.

ĐƯỜNG LỐI CỦA CHÚA (2)

ĐƯỜNG LỐI CỦA CHÚA (phần 2)

Tác giả: Nhà Văn Hương Vĩnh

Nữ Thánh Rita Cascia

(Nữ Thánh Rita Cascia)

Thánh Rita Cascia (1381-1457) 76 tuổi, người nước Italia (Ý), nữ tu Dòng Thánh Augustinô. Thánh Rita sinh năm 1381, tại thành Cascia thuộc tỉnh Umbria, nước Ý. Cha mẹ có tinh thần đạo hạnh, cảm ơn Chúa đã cho sinh con như món quà quí.

Cô muốn dâng mình đi tu, nhưng cha mẹ lại bắt cô lập gia đình. Ban đầu cô hơi bực mình, nhưng Rita hiểu đây là Ý Chúa, nên cô bằng lòng. Rita kết hôn năm 12 tuổi, với một thanh niên quý tộc. Anh ta là người khô đạo, thường xuyên hành hạ vợ mình. Tuy nhiên, với tâm hồn đạo hạnh, Rita vẫn yêu thương, làm tròn bổn phận của người vợ.

Cuối cùng, vì đức hạnh của Rita, người chồng đã thay đổi nếp sống và tận tâm yêu mến bà. Đời sống gia đình kéo dài được 18 năm. Chúa đã chúc lành cho Rita và cho bà sinh 2 con trai. Bà trở thành người vợ và người mẹ tốt lành tận tụy.

Vì có sự bất hòa trong đại gia đình dòng họ, một hôm, chồng bà đã bị kẻ thù giết chết, bà rất đau khổ, nhưng trong tinh thần Công Giáo, bà tha thứ cho kẻ thù đã giết chồng.

Hai con trai của bà khi đến tuổi được phép mang khí giới, không giống như mẹ, chúng quyết tâm nuôi mộng giết kẻ thù để trả hận cho cha mình. Bà lại đau khổ, khuyên can các con và vì biết không thể làm lay chuyển được kế hoạch giết người của chúng, bà đã ngày đêm cầu xin Chúa cất chúng về khi chúng đang còn trong ân sủng của Chúa và chưa phạm tội ác. Chúa đã nhận lời bà. Trong một năm, cả 2 đứa lìa đời.

Sau khi con chết, bà xin vào tu trong nhà dòng nữ Augustinô ở Cascia, nhưng nhà dòng đã 3 lần từ chối không nhận bà. Bà tha thiết cầu nguyện đêm ngày xin Chúa cho bà được thuộc về Chúa như người Bạn Trăm Năm. Sau cùng, 3 vị thánh (Gioan Tẩy giả, Augustinô, Nicholas Tolentino) hiện ra dẫn bà tới nhà Dòng Madalena, đưa bà vào trong, bà mới được nhận vào tu.

Trong 40 năm ở nhà dòng, bà sống trong cầu nguyện và chiêm ngắm, hầu hạ người bệnh và người nghèo, làm việc tay chân được bề trên chỉ định. Bà ước ao chia sẻ những khổ đau cùng Chúa Kitô nên sau 25 tu, Chúa đã ban cho bà được chia sẻ một chút là cho một cái gai trong mũ gai của Chúa cắm vào trán bà. Từ đó, trên trán của bà có vết thương rướm máu.

Các bề trên của bà nghĩ rằng đó là hiện tượng bệnh phong cùi, nên tách riêng bà ra khỏi cộng đoàn nhà dòng và cho bà sống trong một căn phòng nhỏ trong góc tu viện. Bà mang vết thương nầy trong 15 năm, âm thầm chịu đựng ngày đêm và cảm tạ những ơn Chúa Giêsu Kitô đã đặc biệt ban cho bà. Bà bị đau đớn khổ sở cho đến lúc nhắm mắt lìa đời ngày 22 tháng 5 năm 1457.

Người ta gọi bà Thánh Rita là “Người đem hòa bình, Thánh của những trường hợp vô vọng, Bà Thánh xin nhiều quá” (“Peacemaker”, “Saint of the Impossible”, the “Saint Who Asks Too Much”).

Năm 1900, bà được phong thánh, và được coi như “Viên ngọc quí của thành Umbria”. Lòng sùng kính Nữ Thánh Rita không những lan ra khắp nước Ý mà còn ra nhiều nước khác, nêu gương cho phụ nữ mọi thời, mọi nơi, qua nhiều giai đoạn…

III .- ĐƯỜNG LỐI CỦA CHÚA

Ngoài những trường hợp đặc biệt như Thánh Sư Huynh André Bessette và Nữ Thánh Rita Cascia, những giáo dân bình thường như các NT DB, LVC và NĐN trình bày trên đây, đã được Chúa Quan Phòng an bài sống đạo trong cuộc đời thường theo đường lối của Ngài mà không ai hiểu được.

Tu xuất

Ba NT đó thuộc Hội CCSHHN. Ba Vị đã có một thời gian tu học ở Chủng Viện An Ninh thuộc Tổng Giáo Phận Huế.

Sau nhiều năm tháng tìm hiểu ƠN GỌI của mình, qua sự cầu nguyện và tự vấn lương tâm, cũng như nhiều buổi tham vấn với các linh mục linh hướng, quý Vị nhận rõ Thánh Ý Chúa  muốn quý Vị thay đổi hướng đi của đời mình nên đã hồi tục và sống đạo giữa giòng đời, làm chứng nhân cho Chúa Kitô.

Vậy những giáo dân xuất thân từ những chủng viện hay những dòng tu thường được gọi là “tu xuất”. Từ ngữ nầy mang ý nghĩa “tiêu cực” hay “tích cực” tùy theo tầm nhìn khác nhau.

Theo LM Ngô Tôn Huấn:

“Nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô và qua bí tích rửa tội, người tín hữu Chúa Kitô trở nên “giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa  để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh  em ra khỏi miền  tối tăm  vào nơi  ánh sáng diệu huyền. Xưa anh  em chưa phải là một dân. Nay anh  em đã là dân của Thiên Chúa; xưa anh  em chưa được hưởng lòng thương xót (của Chúa), nay anh  em đã được thương xót” (1 Pr 2: 9-10).

Và cũng theo LM Ngô Tôn Huấn:

“Tuy nhiên, sống trong Giáo Hội, người tín hữu không có chung một chức năng và nhiệm vụ  như nhau. Ngược  lại, theo Thánh Phaolô,  thì  “anh  em là thân thể Chúa Kitô, và mỗi người là một bộ phận. Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các Tông Đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác…” (1 Cor 12: 27-28).

LM Ngô Tôn Huấn còn nhận xét:

Giáo dân là thành  phần Kitô hữu  đông đảo nhất trong Giáo Hội không thuộc về hàng giáo sĩ  hay tu sĩ, nhưng nhờ phép rửa “đã trở nên Dân Thiên Chúa  và tham dự vào  chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Chúa Kitô theo cách thức của họ. Họ là những người đang thực hiện sứ mạng của toàn dân Kitô giáo trong Giáo Hội và trên trần gian theo phần vụ riêng của mình” (Ánh Sáng Muôn Dân, 31)

Vì vậy, các giáo dân “tu xuất” mà trong phạm vi bài viết nầy là những Cựu Chủng Sinh, cách riêng các CCS Tổng Giáo Phận Huế, đang sống Ơn Gọi của mình theo nhiều cách thế khác nhau, theo “những đồng bạc” mà Chúa trao ban cho họ để làm sinh lợi.

Có người là Giáo Sư Đại Học, Khoa Học Gia. Có người là Bác Sĩ, Nhạc Sĩ, Văn Thi Sĩ, Kỹ Sư, Luật Sư, Bình Luận Gia…Có người chỉ là giáo dân tầm thường trong các Giáo Xứ, đảm trách những phần vụ như Giáo Lý Viên, dạy Việt ngữ hoặc thực thi công tác truyền thông trong Giáo Xứ, có khi trên bình diện quốc gia hay quốc tế…   Nói chung đại đa số sống đời sống giáo dân tốt đẹp để làm “Chứng Nhân cho Chúa giữa giòng đời” theo những ân huệ họ được nhận lãnh trong những năm tháng ở trong nhà Chúa! Họ là những cánh tay “nối dài” của các giáo sĩ.

Họ thực hành điều mà theo LN Ngô Tôn Huấn: “Tuy khác nhau về địa vị và trách nhiệm, nhưng cả bốn thành phần giáo sĩ, tu sĩ  và giáo dân (bậc độc thân và bậc có gia đình)  đều chung sứ mạng loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô cho những người chưa nghe biết, để tất cả đều được hy vọng cứu độ vì “Thiên  Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tim 2:4).

Gương Chứng Nhân của Song Thân Nữ Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu

Trong bài “Tựa” quyển sách “MỘT TÂM HỒN”, Kim Thiều viết tại Quần Phương, ngày 24/4/1948 như sau:

Tháng 9 năm 1843, trên con đường dốc và gồ ghề lên nhà Dòng Thánh Bernard xây trên ngọn núi, người ta trông thấy bước đi không nhọc, một thanh niên trạc độ 20 tuổi, dáng bộ rát tư lự và như đang mơ mộng đắm theo một lí tưởng cao khiết của đời sống, đôi mắt nhìn sâu và đượm vẻ rầu rầu, tỏ lộ một tính tình ôn tồn hoà nhã.

Phong cảnh đẹp oai hùng và tráng quan chiêm của dãy núi Alpes, làm nẩy nở trong tâm hồn người trai tráng hàng trăm nghìn tư tưởng quảng bác. Nguồn cảm dũng ứa lên như nước triều dâng, xúc động tấm lòng tri ân Đấng Thiên Chúa uy quyền phép tắc, người thanh niên tấm tắc khen ngợi….. phải dừng bước giờ lâu và để rơi những giọt ngọc… Rồi lại bước đi, đi tới ngọn non xây nhà Dòng. Nhà Dòng như ngọn hải đăng tung ra xa xa tứ phía ánh sáng hi vọng và bác ái.

Cha Bề Trên Dòng phải ngẩn lạ khi nhìn người khách trẻ trung đến thăm: hình dung đẹp oai, nét mặt thẳng thắn, tỏ rõ một linh hồn trung chính và to lớn. Cha tiếp đãi rất lịch thiệp. Cha vấn an quí thân phụ, quí quán và quí danh. Qúi danh cậu là Louis-Martin, sinh ngày 22 tháng 8 năm 1823 ở thành Bordeaux nơi từ mẫu ở hồi hiền phụ sung chức Đại Uý trong đoàn quân pháo thủ binh giặc ở Tây Ban Nha. Hiện nay gia quyến ở tỉnh Alencon, mà cậu là trưởng tử.

(Chân Phước  Louis Martin – Thân Phụ Nữ Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu)

Có phải vì muốn du lịch, muốn lên thăm nhà Dòng mà người trai anh tuấn kia bước đi đường miền cảnh đẹp như ru, nhưng xa xăm và hiểm trở? Từ Normandie đến Suisse nhiều lần phải chống gậy dò từng bước. Không, không phải người thanh niên ấy muốn du lịch, muốn đến xin tạm trú một đêm ở ngọn núi hiu quạnh này đâu. Người thanh niên muốn xin ở tu trọn đời.

Cha Bề Trên hỏi :

Cậu đã học mãn khoá La tinh chưa?

– Lạy cha, chưa.

– Đáng tiếc thật, đó là một điều kiện cốt yếu để nhận vào Dòng, nhưng cũng không lo, cậu về học thêm và sau đó chúng tôi sẽ hân hạnh được nhận cậu.

Người khách bất mãn của chúng ta lộn đường trở xuống. Ngày ấy cuộc đời cậu đáng gọi là cuộc lưu ly; nhưng trong tâm trí cậu đã cảm thấy rằng: Dòng Thánh Bernard chỉ là kỉ niệm êm ái trong cuộc đời cậu. Cuộc đời cậu, Đức Chúa Trời đã có một chương trình khác.

Cũng trong thành Alencon, mấy năm sau, một buổi sáng mát dịu dàng, trên đường phố trở lại Dòng thánh Vincent de Paul, ngọn cây, ngành cây hai bên vỉa hè rung rung theo gió, xô đi giồ lại như giùng giằng… ngần ngại… một thiếu nữ dáng thuỳ mị nết na, gương mặt tươi tỉnh gợn nhiều nét đoan chính và can trường, tên cô là Marie-Guérin (Marie-Azélie Guérin Martin), cùng với bà mẹ nhẹ nhàng gót sen bước lại phía nhà các bà Sơ (Soeur). Lòng thiếu nữ ôm đã lâu một chí tu tác, nhưng chợt trông thấy cô, bà Bề Trên được ơn soi sáng ngay, nên sau mấy lời niềm nở cười nói chào hỏi, bà trả lời dứt khoát rằng: Chúa không muốn.

(Chân Phước Marie-Guérin – Thân Phụ & Thân Mẫu Nữ Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu)

Cô Marie-Guérin ngậm ngùi trở lại nhà, ở cùng chị cả và một em trai – người em trai này được nhắc đến nhiều lần trong Truyện Một Tâm Hồn.

Hiểu là việc tu không thành, cô thiếu nữ không nghĩ gì đến tu nữa. Ngày đêm cô thầm thì trong lòng lời cầu xin chất phác này:

“Lạy Chúa, con không dám làm bạn trăm năm Chúa như chị con, con vui lòng kết duyên trao ngãi với người thế gian đề hoàn thành ý Chúa. Trong bậc vợ chồng, xin Chúa cho con được sinh nhiều con cái: con sẽ cho đi tu hết.”

Chúa đã để dành cho cô một thanh niên xứng đáng trao gửi hồn xác mà chúng ta vừa đọc trên. Và một ngày đã định, ngày 13 tháng 8 năm 1853, trong nhà thờ Đức Bà thành Alecon, ngươi ta thấy cử hành trọng thể lễ cưới cô Marie-Guérin đẹp duyên cùng cậu Louis-Martin.

Chính chiều ngày lễ cưới, Louis-Martin đã tỏ ra lời tâm huyết cùng bạn trẻ: mình ước ao gìn giữ và chỉ yêu dấu bạn như em yêu dấu nhất thôi… Nhưng qua mấy tháng tâm tình trao đổi, Louis-Martin hiều thấu tâm ý bạn, mơ ước bạn, thì đã đồng tâm hiệp ý cùng bạn ước mơ thấy có đàn con nhởn nhơ nô chơi để vui ấm cửa nhà và rồi cho đi tu hết. Lúc ấy, như thánh Tobias, đã có thể cầu xin cùng Chúa:

Lạy Chúa, Chúa biết lòng tôi, tôi đi kết bạn chỉ vì ao ước có dòng dõi để chúc tụng Chúa đời đời

Tổ uyên ương ấy nở được 9 bông hoa trắng: 4 bông vừa nở, thiên-đàng ngắt ngay lấy đem về làm cảnh, còn 5 bông sau lần-lượt hái dâng cho hai dòng: Dòng Kín và Dòng Thăm-Viếng.

Têrêsa là út của 6 chị 2 anh: chị Louise, chị Pauline, chị Hélène sống có 4 năm, chị Céline, chị Mélanie-Thérèsa sống được 3 tháng. Hai anh: Louis được 5 tháng và Jean-Baptiste được 9 tháng thi mất cả.

……

(Nữ Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu)

Về cô gái út này, một văn hào giá trị đã viết:

Têrêsa là một vị truyền giáo lạ lùng của đời này, có tiếng nói đanh thép và vô địch, có cuộc đời vui tươi và dịu ngọt mãi, linh hồn nào đã có lần được nếm mùi dịu ngọt ấy quyết không còn muốn giam cầm mình trong vũng nước bùn lạnh hôi tanh tội lỗi.”

Về cha mẹ của Têrêsa, một cha dòng Tên đã viết trên đầu cuốn truyện MỘT TÂM HỒN dịch sang tiếng Bồ Đào Nha trước nhất lời đề tặng này:

Muôn đời kính nhớ thân phụ phúc hậu chị Têrêsa Hài Đồng GIÊSU, đáng là mô phạm cho bậc làm cha mẹ trong các gia đình Công giáo”.

Câu đề tặng đó, đủ để khen ngợi quý thân phụ Têrêsa, khen ngợi cái tinh thần truyền giáo muôn cách cũng bằng khen ngợi cái tinh thần giáo hoá đàn con nên lành thánh.

Hai Ông Bà Louis và Marie-Azélie Martin được tuyên bố “Bậc Đáng Kính” ngày 26 tháng 3 năm 1994 bởi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

Họ được phong Chân Phước ngày 19 Tháng 10 năm 2008: Đức Hồng Y Jose Saraiva Martins – Đặc Sứ của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI – chủ sự thánh lễ phong Chân Phước trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Têrêsa ở thành phố Lisieux.

Ngày 27 tháng 6 năm 2015, tại một Hội Nghị Công giáo của các Hồng Y ở Roma, Đức Thánh Cha Phanxicô đã phê chuẩn nghị định phong Thánh cho Chân Phước Louis và Chân Phước Zélie Martin. Thánh Lễ phong Thánh sẽ được diễn ra vào Chúa nhật, ngày 18 tháng mười 2015 tới đây ở Roma.

Trong mọi hoàn cảnh, Kitô hữu phải luôn luôn tâm niệm Lời Chúa như dưới đây:

Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA. (Is 55, 8-9)

Vancouver BC Canada

Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời

(15/8/2015)

ĐƯỜNG LỐI CỦA CHÚA (1)

ĐƯỜNG LỐI CỦA CHÚA ( phần 1)

Tác giả: Nhà Văn Hương Vĩnh

Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA.

Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi chừng ấy.

(Is 55, 8-9)

Hè về! Hè về!

Vào những thập niên 50 – 70, bài hát “Hè Về” của Hùng Lân trở nên quen thuộc mỗi độ Xuân tàn và Hè sang. Những câu hát dễ thương dưới đây thường vang vọng trên cửa miệng của đám học sinh non dại thời bấy giờ:

Trời hồng hồng sáng trong trong

Ngàn phượng rung nắng ngoài song

Cành mềm mềm gió ru êm

Lọc mầu mây bích

Ngọc qua mầu duyên

Đàn nhịp nhàng hát vang vang

Nhạc hoà thơ đón hè sang.


Hè về trong khóm trúc mềm đầu bờ

Hè về trong tiếng sáo diều dật dờ

Hè về gieo ánh tơ.

Bâng khuâng nghe nắng đùa mây trắng đàn chim cánh đo trời

Phân vân đôi mái chèo lữ thứ thuyền ai biếng trôi

Xa xa lớp lúa dồn cao sóng vàng leo dốc chân đồi

Thanh thanh hương sen nồng ướp gió trắng khi chiều rơi.”

…….

Ở Bắc Mỹ, “hè về” là dịp cư dân miền Tây đi du lịnh miền Đông vì khí hậu mùa hè ở đây dễ chịu hơn thời tiết băng giá mùa đông!

Trong bối cảnh đó, mỗi dịp hè, tôi thường “thiên di” từ miền Tây sang miền Đông Canada để thay đổi không khí, đồng thời thăm viếng gia đình sinh sống nơi đây. Mùa hè nầy, tôi “thiên di” một tháng (giữa tháng 7 – giữa tháng 8/2015).

I.- THÀNH PHỐ MONTREAL

Thành Phố với trăm tháp chuông

Điểm dừng chân đầu tiên của tôi là Thành Phố Montreal, vốn rất thân quen với tôi. Từ thời xa xưa, Thành Phố Montreal được mệnh danh là “Thành phố với trăm tháp chuông” (Ville aux cent clochers), vì rải rác trong Thành Phố, xuất hiện rất nhiều ngôi thánh đường Công Giáo.

Montreal là thành phố thuộc tỉnh bang Québec – cái nôi của Giáo Hội Công Giáo ở Bắc Mỹ. Rất nhiều con đường ở Montreal còn mang tên các vị Thánh Công Giáo.

Đền Thánh Giuse Montreal và Thánh Sư Huynh André Bessette

(Đền Thánh Giuse Montreal)

Khi đến Montreal, du khách không thể không đi kính viếng Đền Thánh Giuse Montreal. Ngoài địa điểm du lịch, Đền Thánh Giuse còn là nơi linh thiêng để nhiều người đến cầu khẩn xin ơn với Thánh Giuse và rất nhiều người được toại nguyện, kể cả những người ngoài Công Giáo.

Ðền Thánh Giuse Montréal gồm nhiều kiến trúc khác nhau, tạo thành một ngọn đồi thánh thiêng chiếm lãnh trên 500 mẫu tây.

Ngay cạnh nhà tiếp đón du khách có một tháp chuông cao với một bộ chuông gồm 56 chuông lớn nhỏ khác nhau. Trọng lượng bộ chuông lên tới 11 tấn. Bộ chuông này do Chính phủ Pháp đặt làm để trang trí trên Tháp Eiffel tại Thủ Ðô Paris, nhưng vì lý do kỹ thuật, nhà sản xuất Paccard et Frères đã dâng tặng Ðền Thánh năm 1955, nhân kỷ niệm 50 năm xây cất Đền Thánh.

Bên cạnh đó là Nguyện Ðường Khấn Thánh Giuse với 8 phù điêu lớn do điêu khắc gia người Canada Joseph Guardo thực hiện năm 1948, theo TÁM tước hiệu mà truyền thống Công Giáo vẫn suy tôn Thánh Giuse: Ðấng Bảo Trợ các Gia Ðình, Bổn Mạng giới Thợ Thuyền, Đấng Bảo Trợ các Tâm Hồn Thanh Khiết, Bổn Mạng Người Chết Lành, Đấng Nâng Ðỡ những ai Ðau Khổ, Niềm Hy Vọng của Bệnh Nhân, Đấng Xua Đuổi thần dữ và Ðấng Bảo Trợ Giáo Hội.
Dọc theo hành lang nguyện đường, treo la liệt trên tường hàng ngàn chiếc nạng, và những bia đá cẩm thạch mà các người hành hương đã để lại hầu tri ân Thánh Giuse, vì họ đã được lành bệnh lạ thường nhờ sự chuyển cầu của Thánh Nhân trước tòa Chúa.
Từ hành lang nguyện đường nhỏ, tiến sang phía tay phải là ngôi mộ lớn bằng đá cẩm thạch màu đen huyền, nơi an nghỉ của Sư Huynh André. Vì có quá nhiều phép lạ xảy ra nhờ lời chuyển cầu của thày André, nên Đức Gioan Phaolô II đã suy tôn Thày lên bậc Chân Phước ngày 23 tháng 5 năm 1982. Và Đức Biển Đức XVI suy tôn lên hàng Hiển Thánh ngày 17/10/2010.

(Thánh Sư Huynh André Bessette)

Bên cạnh đó là Nhà Thờ Hầm (The Crypt Church). vì nằm dưới Vương Cung Thánh Ðường, có trên 1,000 chỗ ngồi, được xây cất năm 1916.
Chính giữa cung thánh là tượng Thánh Cả Giuse, cao 2m75, nặng 2, 3 tấn, do nghệ sĩ người Ý là ông A. Giacomini, đã tạc bằng đá hoa cương màu trắng rất quý hiếm gọi là carrara.

Trên những bức tường nhà thờ hầm là những tranh màu bằng kính (The Stained Glass Windows) mô tả những giai đoạn chính trong cuộc đời Thánh Cả Giuse. Ðây là công trình nghệ thuật của hai nghệ sĩ Canada – ông Perdriau và ông O’ Shea – hoàn thành năm 1919.
Từ nhà thờ hầm bước ra là cầu thang máy cuốn để lên trên lầu. Đây là phòng nghỉ chân cho khách hành hương. Bên ngoài là ban công khá cao, có thể phóng tầm mắt để nhìn bao quát thành phố Montréal trước mặt. Phía đối diện là trường trung học Notre Dame, nơi mà Sư Huynh André đã phục vụ như một người gác dan cổng trường trên 40 năm.
Sau đó lên lầu là khu triển lãm nhỏ về cuộc đời Sư Huynh André. Ngoài những bức tranh trên tường chụp căn nhà bé nhỏ tồi tàn Sư Huynh đã cất tiếng khóc chào đời, cho đến những tài liệu, những hình ảnh chụp lúc sinh thời và khi qua đời, người ta thấy có 4 phòng lớn:

– Phòng I mô tả cảnh thày André làm người gác dan suốt 40 năm tại cổng trường trung học Notre Dame (1870-1909).

– Phòng II là văn phòng nơi Sư Huynh đón tiếp và săn sóc các bệnh nhân.

– Phòng III là căn phòng ngủ đơn sơ, có một giường cá nhân, một bàn nhỏ và chiếc ghế, một cái dù (cái ô) đen treo trên tường.

– Phòng IV là một phòng nhỏ bằng sắt mạ đồng, có lan can chung quanh, chính giữa có đặt trái tim đã khô của Sư Huynh trong một hộp nhỏ bằng vàng. Ðây là truyền thống lâu đời của nước Pháp và nước Ý, thường lấy trái tim của các bậc vĩ nhân nổi tiếng để dân chúng tri ân và tôn vinh.
Bên cạnh phòng nghỉ chân là cả một khu vườn rất rộng, cây cối và hoa cảnh cắt xén mỹ thuật, do kiến trúc sư phối cảnh Frederick G. Todd thiết kế để dựng 14 chặng đàng Thánh Giá, với những bức tượng màu trắng rất mỹ thuật do hai nghệ sĩ Ercolo Barieri và Louis Parent tạc bằng đá cẩm thạch quý giá. Những bức tượng 14 đàng Thánh gia này với kích thước như một người trung bình được chiếu sáng ban đêm do một hệ thống ánh sáng do chuyên viên Jean d’Orsay nghiên cứu.

Tại khu vườn này có một tương Chúa Kitô Phục sinh, dưới chân tượng là một hệ thống phun nước khá lớn, giúp người hành hương có những giây phút trầm lặng suy tư về cuộc đời.
Kế đó là Bảo Tàng Viện chiếm cả một khu vực lớn cạnh Vương Cung Thánh Ðường với chủ đề Thánh Gia Thất Chúa Kitô, Ðức Mẹ và Thánh Giuse, chiếm cả hai tầng lầu mênh mông là một công trình thu thập các tác phẩm nghệ thuật quý giá, qua nhiều năm khác nhau, khởi đầu từ khi xây cất đền thờ nhỏ đầu tiên từ năm 1905.
Bước vào bảo tàng viện, người ta sẽ bị choáng ngợp bởi một bức tranh sơn dầu thật lớn do nghệ sĩ André Bergeron thực hiện cùng với rất nhiều tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sĩ Canada và hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Có 2 khu vực khác nhau:

Bảo tàng viện bằng sáp do nghệ sĩ Joseph Guardo thực hiện năm 1955, gồm 10 cảnh sinh hoạt của Thánh Gia Thất, với 76 bức tượng bằng sáp, với kích thước giống như người thật.

Bảo tàng viện Giáng Sinh, bao gồm 330 máng cỏ do các nghệ sĩ của 130 quốc gia trên khắp thế giới thực hiện. Từ chủ đề Chúa Kitô Giáng Sinh, mầu nhiệm Ngôi Hai Nhập Thể đã được các nghệ sĩ của các quốc gia Âu Châu, Mỹ Châu, Phi Châu, Á Châu và Châu Thái Bình Dương tìm nguồn cảm hứng và thể hiện bằng rất nhiều hình thức khác nhau…Những máng cỏ bằng gỗ, bằng pha lê, bằng kiếng, bằng vải, sơn dầu, tranh thủy mạc, bằng sứ, bằng sành v.v… đã nói lên tinh hoa và văn hóa của mỗi dân tộc.

Tại đây có hai bộ hang đá máng cỏ của Việt Nam: một bằng rễ cây đẽo gọt rất tinh vi mỹ thuật và một tranh sơn mài vẽ Chúa Kitô, Ðức Mẹ và Thánh Giuse dưới y phục và dáng vóc người Việt nam. Hai hang đá máng cỏ này do Nhà văn Phạm Ðình Khiêm, Sàigòn, kính tặng bảo tàng viện năm 1992.

Ngoài ra còn có các máng cỏ từng quốc gia như Nhật Bản, Phi Luật Tân, Tiệp Khắc, Pháp, Ðức v.v…

Điểm nổi bật nhất của Đền Thánh là Vương Cung Thánh Ðường kính Thánh Giuse, dài 105 mét, rộng 65 mét, chiều cao từ nền đến mái vòm 60 mét, nếu tính chung từ nhà thờ hầm đến chóp đỉnh thánh giá 319 mét, đường kính mái vòm bên trong 26 mét, mái vòm bên ngoài 39 mét.

Toàn bộ Vương Cung Thánh Ðường cao 263 mét sánh với mặt biển. Đây cũng là ngọn tháp cao nhất thành phố Montréal. Năm 2005, nhân dịp kỷ niệm 100 năm khởi công xây dựng, chính phủ Canada đã ghi Đền Thánh Giuse Montreal vào sổ các Danh Lam Thắng Cảnh Lịch Sử Quốc Gia.

Quả thật Chúa Quan Phòng thật kỳ diệu, đã sử dụng những con người tầm thường, bé nhỏ, ít học, bình dân như Sư Huynh André – vị sáng lập Ðền Thánh Giuse Montréal – để thực hiện giữa trần gian những chương trình vĩ đại của Ngài.

Sống chứng nhân trong cuộc đời thường

Hai tuần lễ ở Montreal đã mang lại cho tôi một niềm thích thú lớn lao là được diện kiến hai Niên Trưởng (NT) của Hội Cựu Chủng Sinh Huế Hải Ngoại (CCSHHN). Đó là các NT DB và LVC. Hai Vị nầy đã ngoại bát tuần. NT DB tương đối còn khoẻ mạnh và minh mẩn hơn NT LVC.

Tôi gặp hai Vị ở nhà NT DB – một căn nhà khang trang – là nơi NT DB và Phu Nhân sinh sống. Hai Vị có 6 người con và 11 cháu gồm 8 nội và 3 ngoại.

Hằng ngày, các con gái hay con dâu mang thức ăn lại cho hai Vị. NT DB chỉ cắm nồi cơm điện là xong. Riêng Phu Nhân của NT phải ngồi xe lăn. Hôm đó Phu Nhân ngồi xe lăn ở trong phòng ngủ, nhìn ra ngôi vườn phía sau và tràng hạt trên tay. Mỗi ngày không biết Phu Nhân đã lần bao nhiêu tràng chuỗi.

NT DB cho biết hằng ngày con gái/dâu, có khi cả cháu nữa, phụ giúp Phu Nhân tắm rửa. Riêng mùa hè, mỗi khi tốt trời, chiều chiều các cháu nội/ngoại thay nhau đẩy xe lăn đưa Phu Nhân ra đường dạo chơi! Đó là cảnh tượng không phải mọi gia đình VN ở hải ngoại có thể thực hiện được. Tạ Ơn Chúa!

Đối với cả hai NT DB và LVC, tuy đã lớn tuổi, nhưng trang mạng CCSHHN là niềm vui của hai Vị và không ngày nào hai Vị không truy cập.

Riêng NT LVC rất vui mỗi khi vào trang mạng CCSHHN và NT đã đọc rất kỹ những tin tức cũng như những bài chia sẻ trên đó. NT đã đọc với niềm thích thú và ghi nhớ nhiều điều! Một điểm hơi buồn là sức khoẻ của NT LVC không được khả quan lắm: tai nghe không rõ, mặc dù có mang máy thính thị trên tai, đi đứng hơi khó khăn và phần nào hơi lẫn nên các con đã kiếm một viện dưỡng lão thích hợp để NT vào đó ở, kể từ sau lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, hầu NT được săn sóc chu đáo hơn.

II.- NEW JERSEY VÀ PHILADELPHIA

Trong hai tuần lễ ở New Jersey, Hoa Kỳ, tôi có dịp ghé thăm NT NĐN ở Thành Phố Philadelphia, tiểu Bang Pennsylvania, đồng thời kính viếng Đền Nữ Thánh Rita.

Sống đạo giữa giòng đời

NT NĐN thuộc Hội CCSHHN với 10 năm tù CS vì là một cựu sĩ quan cấp tá của Quân Lực VNCH. Trong lúc NT đi tù, Phu Nhân đã buôn bán tần tảo trong thời gian bao cấp, kinh tế khó khăn, để nuôi 11 người con – 5 trai và 6 gái còn nhỏ dại (không kể một cháu gái qua đời lúc mấy tháng tuổi).

Ngoài việc 7 người con vượt biên 3 lần từ trước, NT, Phu Nhân và 1 người con được qua Mỹ theo diện H.O. năm 1990. Riêng 3 người con đã lập gia đình phải ở lại chờ bảo lãnh và đến Mỹ đầu năm 2001.

Ngoài 11 con, hiện nay NT và Phu Nhân có 11 dâu/rễ, 30 cháu nội/ngoại, 7 cháu dâu/rễ và 7 chắt. Hiện NT có 3 gia đình ở 2 tiểu bang xa, còn lại 8 gia đình các con, 7 gia đình các cháu ở Philadelphia và New Jersey, cách xa nhau khoảng 30 phút lái xe. Con cháu chịu khó học hành và thành đạt.

Sau vài năm định cư tại đây, gia đình NT có ra một Tập san nội bộ “Gia Đình LÒNG MẸ”, tự thực hiện: từ chụp hình, viết bài, ghi lại những tin sinh hoạt gia đình trong tháng, sưu tầm các đề tài giáo dục, lay-out, in ấn và đóng thành tập khá đẹp, mỗi 2 tháng phổ biến 1 số, do NT và các con phụ trách, làm phương tiện liên lạc và giáo dục, đã ra từ số 1 đến số 100. Hiện nay vì NT tuổi già sức yếu nên bài vở liên lạc được thay đổi bằng những tâm tình và lời khuyên qua hệ thống e-mail trên cell phone, giản dị, tiện lợi và nhanh chóng hơn.

Hằng năm, vào những dịp Tết, Giáng Sinh hay sinh nhật của hai Vị, các con bàn bạc việc tổ chức những buổi họp mặt để chung vui cùng hai Vị. Ngoài ra mỗi năm vào dịp nghỉ hè, tất cả đều quy tụ về Philadelphia họp mặt thường niên và cùng nhau chia sẽ những biến cố vui buồn. Khi có việc cần bàn thảo, các con trai bàn việc với trưởng nam, còn các con gái bàn việc với trưởng nữ. Tất cả con cháu dâu rễ đoàn kết và rất thương yêu nhau. Đó là điều rất quí hiếm, một ân ban của Chúa!

Theo lời Đức Cha Giacôbê Giáo Phận Vĩnh Long lúc Ngài còn sống thì NT thực là cha xứ của một Gíáo Xứ thu hẹp, nhưng rất sống động. Đúng là một Giáo Hội bé nhỏ tại gia!

Đến nay được 15 năm, NT và Phu Nhân sống trong một căn phòng đôi thuộc cao ốc Seniors Housing của Chính Phủ Hoa Kỳ, ở tầng lầu 16, nhìn ra con sông Delaware thơ mộng mà bên kia là Tiểu Bang New Jersey.

Căn nhà của NT và Phu Nhân chẳng khác nào một phòng tu ở trong Đan Viện. Hằng ngày, ngoài việc lần hạt, hai Vị đều đọc Kinh Thần Vụ sáng, trưa, chiều và tối.

Riêng Phu Nhân là một thành viên Dòng Ba Cát Minh nên trước đây mỗi ngày Phu Nhân theo gương Cha Thánh Piô lần 40 chuỗi, nhưng nay vì tuổi già nên Phu Nhân chỉ còn lần 12 chuỗi thôi. Vào lúc 3 giờ trưa mỗi ngày, Phu Nhân quỳ gối dang hai tay lần chuỗi Lòng Thương Xót Chúa!

Hằng ngày NT và Phu Nhân tham dự Thánh Lễ ở Đền Nữ Thánh Rita. NT giúp lễ và làm thừa tác viên Mình Thánh Chúa: điều đó phụ giúp các cha ở đây rất nhiều.

Vào mùa hè, chiều chiều NT và Phu Nhân tản bộ nơi công viên gần cư xá, để tăng chất luợng cho sức khoẻ.

Đền Nữ Thánh Rita Cascia ở Philadelphia

(Đền Nữ Thánh Rita Cascia ở Philadelphia)

Tại Thành Phố Philadelphia, Tiểu Bang Pennsylvania, nước Hoa Kỳ, có đền kính Nữ Thánh Rita – một trong 3 địa điểm hành hương của Giáo Phận Philadelphia, xây từ năm 1907,  và do các cha dòng Thánh Augustinô trông coi.

Người khởi xướng là linh mục Villanova dòng Thánh Augustinô. Cha có ý định xây dựng ngôi nhà thờ cho giáo xứ 10 ngàn người Ý di cư tới Mỹ ở ngoại ô Thành Phố Philadelphia. Để đặt tên ngôi thánh đường, họ chọn Thánh Nữ Rita là người Ý, mới được phong thánh năm 1900. Các linh mục dòng tổ chức các tuần cửu nhật để giáo dân trong xứ cầu xin và tạ ơn.

Năm 1915, tầng trên Đền Thánh hoàn tất và đã trở thành Trung Tâm Tôn Kính Nữ Thánh Rita trên nước Mỹ.

Ngày nay, sau những thế hệ ban đầu, lòng sùng kính Nữ Thánh Rita vẫn còn tiếp tục và phát triển. Tại đền này, tầng lầu trên là nhà thờ, tầng dưới là đền kính Nữ Thánh Rita.

Hằng ngày có rất nhiều người tại địa phương cũng như từ phương xa đến xin bà Thánh Rita khẩn cầu cùng Chúa cho họ. Vì nhiều người đã nhận được ơn lạ nên Nữ Thánh Rita được mang danh hiệu là “Vị Thánh cầu bầu cho các hoàn cảnh vô phương cứu vãn.”

Nhiều gia đình Việt Nam ở Philadelphia cũng ở trong số những người được Nữ Thánh Rita cầu bàu cùng Chúa nhận lời họ kêu xin.

Địa chỉ của Đền Nữ Thánh Rita:Shrine of Saint Rita of Cascia 1166 South Broad Street, Philadelphia, PA 19146 .

Xin xem tiếp phần 2

Việt Nam sửa đổi các luật cho phù hợp với cam kết trong TPP

Việt Nam sửa đổi các luật cho phù hợp với cam kết trong TPP

RFA
2015-09-09

Trong chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ, tại Thủ đô Washington DC hôm 9/9/2015  Chủ tịch Quốc hội Việt Nam tái khẳng định hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương nhất quán của Việt nam. Ông Hùng đã phát biểu như vậy khi gặp gỡ Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Michael Froman.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh rằng, Quốc hội Việt Nam nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc xem xét sửa đổi các luật cho phù hợp với những cam kết trong TPP Hiệp định Đối tác XuyênThái Bình Dương.

Theo giới quan sát, phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Việt Nam tái xác định sự kiện Việt Nam chấp nhận cải tổ chính trị, trong đó có việc công nhận hình thức công đoàn độc lập và người lao động có quyền chọn lựa tham gia.

Cùng ngày hôm qua 9/9, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã có cuộc gặp thân mật với Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry. Theo tin Thống Tấn xã Việt Nam, trao đổi về vấn đề Biển Đông, hai bên nhất trí tăng cường hợp tác nhằm duy trì hòa bình, ổn định trên Biển Đông vì lợi ích chung của khu vực và thế giới. Phía Hoa Kỳ nhất trí với lập trường của Việt Nam trong việc giải quyết các tranh chấp, bằng biện pháp thương lượng hòa bình, dựa trên nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.

Ngoài ra Ngoại trưởng John Kerry cho biết sẽ tăng cường hợp tác với Việt nam và các nước trong khu vực trong việc bảo vệ, gìn giữ và khai thác có hiệu quả tài nguyên sông Mekong. Hoa kỳ cũng giúp đỡ Việt Nam trong việc đối phó với những nguy cơ của biến đổi khí hậu, nhất là vấn đề nước biển dâng cao hiện nay.

Ngoại trưởng John Kerry cho biết sẵn sàng  giúp đỡ Quốc hội Việt Nam trong quá trình xây dựng, sửa đổi các bộ luật phù hợp với Hiến pháp mới 2013; tăng cường hợp tác với Việt Nam trong các vấn đề nhân đạo và khắc phục hậu quả chiến tranh như chất da cam Dioxin và rà phá bom mìn còn sót lại.

Lại cưỡng chế đất, đánh người ở Phúc Đồng, Long Biên, Hà Nội

Lại cưỡng chế đất, đánh người ở Phúc Đồng, Long Biên, Hà Nội

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-09-10

 

09102015-land-conflict.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tập đoàn Him Lam cưỡng chế đất tại phường Phúc Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội để làm sân golf

Tập đoàn Him Lam cưỡng chế đất tại phường Phúc Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội để làm sân golf

Facebook/NguyenVinh

Một vụ tranh chấp, xô xát đất đai vừa xảy ra vào ngày 9 tháng 9 vừa qua tại phường Phúc Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

Chính quyền cưỡng chế cho doanh nghiệp

Thông tin về vụ việc liên quan tranh chấp đất đai mới nhất xảy ra trên địa bàn thủ đô Hà Nội được một số facebooker quan tâm loan đi, thế nhưng mãi một ngày sau chúng tôi mới có thể liên lạc với gia đình người trong cuộc.

Cháu Hoàng Công Thiện, con của ông Hoàng Công Kiểm, chủ nhân của hộ gia đình có đất tranh chấp  vào trưa ngày 10 tháng 9 trình bày lại sự việc như sau:

“ Hôm qua bên Sân Golf họ thuê công an quận, và công an phường Phúc Đồng tổng cộng chừng 600 người trong khi gia đình cháu chỉ có mười mấy người thôi. Họ đến nhà mà giấy thu hồi đất không có, giấy đền bù không có, giấy cưỡng chế không có. Họ không có một giấy tờ gì và nói xuống để bảo vệ thi công; thế nhưng họ không bảo vệ thi công mà xộc vào nhà. Họ lôi người nhà cháu ra, cứ 10 người khênh một người nhà cháu lên xe đưa về phường Phúc Đồng. Trong khi khênh người đưa về phường họ đã đánh mẹ cháu gãy xương sườn số 7, em cháu có thai 6 tháng bị đạp vào người này còn kêu đau. Quanh nhà bị quây tôn. Ngày hôm qua trong khi bắt người họ thu hết điện thoại, còn mấy cái đang sạc pin trong nhà họ cũng vào cướp hết”

Vụ việc chưa được giải quyết thỏa đáng

Vào cuối tháng 7 vừa qua, trên facebook xuất hiện đơn kêu cứu của  cháu Hoàng Công Thiện. Theo đó gia đình từ năm 1988 đến nay sống trên khu đất 4 ngàn mét vuông tại tổ 3, phường Phúc Đồng, Quận Long Biên yên ổn không tranh chấp với ai;  thế nhưng khi có dự án Sân golf của Tập đoàn Him Lam, thì mảnh đất được ra giá; gia đình không đồng ý với giá được đưa ra dù tăng lên đến lần thứ ba và cơ sự đã xảy đến như lời của Hoàng Công Thiện:

“ Đất đai của nhà cháu gồm 4 ngàn mét vuông gồm 1 ngàn mét đất ở, và 3 ngàn mét đất đường đi. Họ quây mất 3 ngàn mét đất đường đi. Gia đình ở tại tổ 3 Phường Phúc Đồng này từ năm 1988 đến nay. Gia đình có giấy đất khai hoang và xác nhận của công an ở từ năm 1988, cũng có giấy đóng thuế nhà đất từ năm 1988 đến bây giờ. Tranh chấp xảy ra cách 6 tháng đổ về đây; thấy bảo rằng Sân Golf có đưa cho phường và quận đền bù cho gia đình 3 tỷ; nhưng gia đình chẳng thấy 3 tỷ đó đâu mà lại bị đẩy vào đất vô chủ. Thế nhưng gia đình có đầy đủ giấy tờ xác nhận đó không phải là đất vô chủ. Phường giờ nói đền bù 3 ngàn mét rơi vào 600 triệu; nhưng ra phường không giải quyết, lên quận không giải quyết; lên thành phố lại bảo về huyện.”

Vụ việc xảy ra lần thứ nhất được cho biết vào ngày 8 tháng 7 với một lực lượng chức năng gồm chừng 200 người. Và vào ngày 9 tháng 9 vừa qua số người tăng gấp ba theo như trình bày của người trong cuộc.

Chánh văn phòng, kiêm phát ngôn nhân quận Long Biên, ông Đàm Văn Huân, vào chiều ngày 10 tháng 9, trả lời câu hỏi của Đài RFA về vụ việc gia đình ông Hoàng Công Kiểm thuộc quận này như sau:

“ Gia đình ông Hoàng Công Kiểm không thuộc diện giải phóng mặt bằng mà cản trở thi công nên chúng tôi đến để bảo vệ thi công. Còn chuyện đánh người và bắt người không có.”

Nguyên trưởng Ban Giải phóng Mặt bằng Quận Long Biên, ông Nguyễn Thiệu Sơn đồng thời là quận ủy viên cũng có ý kiến về vụ việc đất đai của gia đình ông Hoàng Công Kiểm tại tổ 3 phường Phúc Đồng, quận Long Biên, Hà Nội:

“ Tôi khẳng định với ông việc cưỡng chế đối với ông Kiểm hoàn toàn đúng trình tự và qui định của pháp luật. Còn ông Kiểm muốn khiếu nại hoặc tố cáo, hoặc khởi kiện thì pháp luật Việt Nam rất dân chủ, ông có quyền khởi kiện hoặc khiếu nại, hoặc tố cáo ra các cơ quan pháp luật của Việt Nam như Tòa án Nhân dân quận, thành phố hoặc tối cao hoặc cơ quan hành chính như ủy ban nhân dân quận, ủy ban nhân dân thành phố. Tất cả những việc đó sẽ được giải quyết bằng những quyết định và bản án theo qui định của pháp luật.”

Nhiều vụ còn ‘treo’

Vụ việc đất đai của gia đình ông Hoàng Công Kiểm tại Phúc Đồng, Long Biên, Hà Nội là một trong rất nhiều vụ việc mà người dân trong cuộc phẩn uất vì cho rằng họ bị lấy đất một cách bất công.

Một nhà hoạt động tại Hà Nội, anh Trương Văn Dũng, cho biết về điểm này:

“ Ở Việt Nam những vụ việc cá nhân như của gia đình ông Hoàng Công Kiểm thì nhiều lắm; nói cho hết là từ nam ra bắc kia.”

Một vụ việc liên quan đến nhiều hộ gia đình người dân đến nay vẫn còn dằng dai là dự án Ecopark tại ba xã Cửu Cao, Xuân Quang, Phụng Công, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Người dân phản đối việc chính quyền thu hồi đất canh tác của họ để giao cho công ty tư nhân Việt Hưng để triển khai dự án. Trong khi dân chưa đồng ý thì chính quyền địa phương mạnh tay cưỡng chế.

Ngay tại quận Hà Đông, thành phố Hà Nội người dân Dương Nội cũng tiếp tục đấu tranh đòi lại đất đai được xem là tư liệu sản xuất của họ; thế nhưng chính quyền địa phương quyết thu hồi để làm dự án mà suốt gần chục năm qua vẫn còn treo.

Đại hội Đảng ở Việt Nam và nhân tố Trung Quốc

Đại hội Đảng ở Việt Nam và nhân tố Trung Quốc

Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng trong cuộc gặp hồi giữa năm ngoái, khi căng thẳng trong quan hệ Việt - Trung dâng cao vì giàn khoan dầu 981.

Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng trong cuộc gặp hồi giữa năm ngoái, khi căng thẳng trong quan hệ Việt – Trung dâng cao vì giàn khoan dầu 981.

VOA Tiếng Việt

09.09.2015

Bộ Chính trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam đang bị chia rẽ sâu sắc và chưa đạt được đồng thuận về một số vấn đề, trong đó có biển Đông, quan hệ với Trung Quốc cũng như việc lựa chọn ban lãnh đạo tương lai, một chuyên gia nghiên cứu Việt Nam nhận định.

Giáo sư Carl Thayer nói thêm từ Australia rằng việc bất đồng như vậy có thể dẫn tới việc hoãn Đại hội 12 và dời sang một ngày khác muộn hơn.

Việt Nam tổ chức Đại hội đảng 5 năm một lần, và đại hội lần thứ 12 dự kiến sẽ diễn ra vào đầu năm 2016, nhưng ngày giờ cụ thể tới nay vẫn chưa được công bố.

Theo giáo sư kỳ cựu, chuyên nghiên cứu về Việt Nam, việc chuẩn bị cho đại hội quan trọng lần này nhằm bầu chọn đội ngũ lãnh đạo mới cho Việt Nam đã diễn ra “rất thầm lặng so với 8 đại hội trước đó tính từ khi thống nhất đất nước”.

Về các động thái đó, giáo sư Carl Thayer nhận định: “Điều gì giải thích cho các diễn biến, như sự chuẩn bị lặng lẽ một cách bất thường cho Đại hội Đảng, chậm trễ trong việc tổ chức hội nghị tiếp theo của Ban chấp hành Trung ương và việc hoãn công bố Sách trắng Quốc phòng? Lời giải thích khả dĩ nhất là sự chồng chéo của hai vấn đề gây tranh cãi – yếu tố Trung Quốc (Chủ tịch kiêm Tổng Bí thư Tập Cận Bình được cho là sẽ thăm Hà Nội vào tháng 10 hoặc tháng 11) và việc lựa chọn ban lãnh đạo mới của Việt Nam”.

Với hai nhiệm kỳ làm thủ tướng, ông Dũng sẽ có các kinh nghiệm kinh tế và quốc tế vô song cho vị trí Tổng Bí thư. Ông Dũng cũng ít khả năng sẽ để cho ý thức hệ ràng buộc ông ấy trong khi đối phó với Trung Quốc. Ông đã mạnh lẽ tiếng tiếng bảo vệ chủ quyền và dọa sẽ có hành động pháp lý quốc tế đối với Trung Quốc trong khi xảy ra cuộc khủng hoảng liên quan tới giàn khoan dầu [của Trung Quốc] hồi năm ngoái.

Giáo sư Carl Thayer nhận định.

Ông Carl Thayer cũng nhắc tới khả năng sẽ xảy ra một điều “chưa từng có tiền lệ trên chính trường Việt Nam”.

Ông cho rằng hiện có nhiều đồn đoán cho rằng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang tìm cách trở thành Tổng Bí thư kế nhiệm ông Nguyễn Phú Trọng và muốn được miễn áp dụng quy định phải nghỉ hưu ở tuổi 65.

“Với hai nhiệm kỳ làm thủ tướng, ông Dũng sẽ có các kinh nghiệm kinh tế và quốc tế vô song cho vị trí Tổng Bí thư”, giáo sư nghiên cứu về Việt Nam nhận định tiếp.

“Ông Dũng cũng ít khả năng sẽ để cho ý thức hệ ràng buộc ông ấy trong khi đối phó với Trung Quốc. Ông đã mạnh lẽ tiếng tiếng bảo vệ chủ quyền và dọa sẽ có hành động pháp lý quốc tế đối với Trung Quốc trong khi xảy ra cuộc khủng hoảng liên quan tới giàn khoan dầu [của Trung Quốc] hồi năm ngoái”.

Ông Carl Thayer cho rằng ông Dũng nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các Ủy viên Trung ương Đảng trong bối cảnh Bộ Chính trị đang bị chia rẽ sâu sắc, không chỉ vì sự ganh đua về mặt cá nhân mà còn về cả cách tiếp cận trong quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Theo giáo sư này, Việt Nam dự định đón tiếp cả Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Barack Obama vào cuối năm nay.

‘Cuộc chơi ba bên’

Trong khi đó, một tờ báo thuộc cơ quan Ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc từng đăng bài bình luận cho rằng 2015 sẽ là năm căng thẳng chính trị ở Việt Nam trong khi chuẩn bị cho Đại hội 12 với việc bầu ban lãnh đạo chóp bu mới, đồng thời nhận định rằng Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đang nhắm tới chiếc ghế Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thủ tướng đương quyền của Việt Nam có lẽ đang nhắm tới vị trí hàng đầu của đảng cầm quyền. Trong nền chính trị chia rẽ ở Việt Nam, ông Dũng, một đại diện của phe thân Mỹ, có lẽ sẽ mạnh mẽ thay đổi chiến lược quốc gia và chính sách ngoại giao của Việt Nam để hợp tác nhiều hơn với Mỹ.

Tờ Hoàn cầu Thời báo viết.

Tờ Hoàn cầu Thời báo nhận định: “Thủ tướng đương quyền của Việt Nam có lẽ đang nhắm tới vị trí hàng đầu của đảng cầm quyền. Trong nền chính trị chia rẽ ở Việt Nam, ông Dũng, một đại diện của phe thân Mỹ, có lẽ sẽ mạnh mẽ thay đổi chiến lược quốc gia và chính sách ngoại giao của Việt Nam để hợp tác nhiều hơn với Mỹ”.

Tờ báo cũng cho rằng Hoa Kỳ đang âm mưu sử dụng chiến thuật cách mạng màu cổ lỗ tại Việt Nam nhằm biến Hà Nội “thành một con tốt giống như Philippines để kiềm chế sự lớn mạnh của Trung Quốc”.

Hoàn cầu Thời báo cho rằng 2015 sẽ là “một năm sống còn” cho “cuộc chơi ba bên giữa Trung Quốc, Mỹ và Việt Nam”, và rằng trong năm nay, Trung Quốc “sẽ phải đối mặt với một tình thế còn căng thẳng hơn so với năm 2014” từ Việt Nam.

Ông Dương Danh Dy, cựu tổng lãnh sự Việt Nam ở Quảng Châu, nói với VOA Việt Ngữ rằng tờ Hoàn cầu Thời báo phản ánh quan điểm của chính phủ Trung Quốc.

Còn luật sư bất đồng chính kiến Lê Công Định nhận định trên Facebook: “Nếu đúng báo Hoàn Cầu viết như trích dẫn, thì rõ ràng Bắc Kinh đang lo ngại sự chuyển hướng chính sách ngoại giao của Việt Nam sang phía Mỹ dưới quyền lãnh đạo đảng và nhà nước của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Vậy Thủ tướng đang trở thành mối đe doạ của Bắc Kinh chăng? Giọng điệu của báo Hoàn Cầu thể hiện điều đó”.

Các loại rau quả tốt cho người cao máu, cao mỡ

Các loại rau quả tốt cho người cao máu, cao mỡ

Nguoi-viet.com

Dưa hấu: Là thứ ăn vặt tuyệt hảo – dưa hấu không chỉ là thực phẩm thân thiện cho người ăn kiêng mà nó còn giúp bảo vệ tim mạch!

Dưa hấu (Hình: Getty Images)

Nước cam: Uống 2 ly nước cam nguyên chất 100% mỗi ngày có thể giúp giảm huyết áp tâm trương. Nước cam còn chứa một chất chống ô xi hóa có tác dụng cải thiện chức năng mạch máu.

Bơ: Ăn quả bơ hàng ngày trong một tuần giảm được 17% cholesterol máu toàn phần. Hơn nữa, lượng LDL cholesterol “có hại” giảm đi và lượng HDL cholesterol “có lợi” tăng lên

Lựu: Nước ép lựu rất giàu chất chống ô xi hóa, giúp động mạch thông thoáng và máu lưu thông dễ dàng hơn.

Trái nam việt quất (cranberry): Nam việt quất rất giàu kali, giúp giảm cholesterol “có hại” và tăng cholessterol tốt trong cơ thể. Ăn thường xuyên loại trái cây này có thể làm giảm tới 40% nguy cơ bệnh tim.

Trái nam việt quất (cranberry) (Hình: Getty Images)

Súp lơ xanh: Súp lơ xanh giàu vitamin K rất cần thiết cho việc tạo xương và ngăn không cho can-xi làm tổn thương động mạch. Súp lơ xanh còn chứa nhiều chất xơ, giúp giảm huyết áp và giảm cholesterol.

Bông cải xanh (Hình: Getty Images)

Cải bó xôi: Kali và folat trong cải bó xôi giúp giảm huyết áp. Một phần ăn những loại rau có lá xanh thẫm (như cải bó xôi) mỗi ngày có thể giúp giảm 11% nguy cơ bệnh tim.

Măng tây: Măng tây là một trong những thực phẩm tự nhiên làm sạch động mạch tốt nhất. Nó cũng giúp “tẩy sạch” những cục huyết khối chết người.

Nghệ: Nghệ là loại gia vị có đặc tính kháng viêm mạnh. Chất curcumin mang lại cho nghệ màu vàng có tác dụng giảm viêm – nguyên nhân chính gây xơ vữa động mạch.

Quế: Chỉ một thìa quế giàu chất chống ô xi hóa mỗi ngày cũng giúp làm giảm mỡ máu, ngăn ngừa sự tích tụ mảng bám trong động mạch và giảm tới 26% cholesterol có hại. Bạn có thể rắc bột quế vào cà phê hoặc lên các món ăn.

THIÊN HẠ NÓI THẦY LÀ AI?

THIÊN HẠ NÓI THẦY LÀ AI?

Năm 1904, Hàn lâm viện Hoàng gia Anh đã tổ chức một cuộc triển lãm, và họa sĩ Cô-xê (Smith Kosse) đã trưng bày một bức ảnh tựa đề: “Người bị khinh chê chối bỏ.”  Họa sĩ vẽ Chúa Giêsu đứng trước nhà thờ chính tóa Thánh Phaolô, trong một khu phố đông đúc ở trung tâm Luân đôn, nhưng không một ai để ý tới Chúa.  Một người đàn ông vừa đi vừa đọc báo, suýt đâm thẳng vào Chúa.  Một khoa học gia bận bịu với những ống nghiệm, không nhìn lên Chúa.  Một chức sắc trong hàng giáo phẩm hiên ngang ngẩng đầu tiến bước, nhưng không thấy Đức Kitô.  Có một nhà thần học đang hăng say thuyết minh về Đức Kitô mà không nhìn về Người.  Duy chỉ có một nữ tu nhìn về Chúa, nhưng vẫn tiếp tục đi con đường của mình.

Ông Barclay (William Barclay), một học giả Kinh Thánh nổi tiếng đã bình luận về bức họa: “Những hoàn cảnh này thường xảy ra trong cuộc sống hôm nay.  Nếu Đức Kitô tái xuất hiện, có lẽ cũng chả ai chú ý tới.  Người ta còn bận tâm về đủ thứ chuyện cao sâu hơn là việc lưu tâm tới Chúa hoặc theo dõi Lời Chúa.  Chuyện đó lạ đời, nhưng lại thực sự xảy ra ngay lần Chúa xuống trần gian hai ngàn năm trước.  Sau một thời gian Chúa xuất hiện rao giảng Tin Mừng Cứu độ.  Người đã làm bao phép lạ sôi nổi, gây chấn động trong dân chúng, rồi Chúa hỏi các môn đệ xem người ta bảo Chúa là ai, thì mỗi người lại nói mỗi khác.  Người thì bảo là Gioan Tẩy Giả Phục Sinh, người nói là Êli, người khác bảo là một ngôn sứ…  Tất cả nói đúng nhưng chưa đủ.  Chỉ có Phêrô mới có thể nói đúng và đầy đủ về Chúa: “Thầy là Đấng Cứu Thế.”

Lời tuyên bố của Phêrô là câu trả lời Chúa Giêsu muốn có.  Nhưng Chúa cũng nói ngay đó là do Cha trên trời tỏ bày cho, chứ không phải nhờ học hỏi hay nghiên cứu.  Phêrô và các Tông đồ được ơn soi sáng, được dạy dỗ và hướng dẫn để hiểu biết sự thật về Đức Kitô, vì các ông là môn đệ Chúa, sẽ tiếp tục sự nghiệp Chúa nơi trần thế.  Lời tuyên bố này rõ ràng là một ơn mạc khải, vì chính Phêrô nói ra mà cũng không hiểu tường tận về lời mình nói.  Ngay lúc đó Chúa Giêsu đã nói cho các môn đệ về số phận của Người.  Chúa nói sẽ chịu đau khổ nhiều, bị bắt, bị hành hạ, bị giết chết, nhưng sau ba ngày sẽ sống lại.  Nghe vậy, các môn đệ khó chịu, các ông đã không để ý tới việc Chúa sẽ sống lại, và cho là Chúa thất bại, thua kẻ thù.  Vì thế, Phêrô kéo Chúa ra một chỗ và can ngăn Chúa đừng nói vậy, đừng để chuyện đó xảy ra.  Vì thế, Chúa Giêsu nổi giận mắng ông: “Satan, hãy lui đi!”

Chúa Cứu Thế sẽ cứu chuộc trần gian bằng thập giá.  Đó là điều quan trọng vì Chúa đòi buộc các môn đệ của Người cũng đi con đường này: “Ai muốn theo Thầy hãy bỏ mình đi, vác thập giá mà theo. Vì ai muốn cứu mạng mình thì sẽ mất.  Còn ai sẵn sàng bỏ mạng sống vì Thầy và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được sự sống mình.”

Lạy Chúa, xin giúp chúng con hiểu biết Chúa hơn để chúng con biết vác thập giá đi theo Chúa và được vào hưởng vinh quang với Chúa.

Noel Quesson.

Chủ tịch nước Nguyễn Tấn Dũng

Chủ tịch nước Nguyễn Tấn Dũng

Người Buôn Gió

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nguồn ảnh: Internet

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nguồn ảnh: Internet

Năm 2012 là năm gay go nhất đối với Nguyễn Tấn Dũng, sau khi suýt bị Bộ Chính Trị kỷ luật, ông Dũng đã buộc phải đứng giữa quốc hội, xin rút kinh nghiệm và kể lể công sức của mình phục vụ đảng từ lúc nhỏ để mong được tha thứ. Đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc lúc đó đã thẳng thừng đặt câu hỏi rằng liệu ông Dũng có nghĩ đến việc từ chức không? Đây là một câu hỏi thằng thừng mà chưa có tiền lệ đặt ra với lãnh đạo Việt Nam.

Liên tiếp năm 2013 đến 2014 Nguyễn Tấn Dũng phải đối mặt với hàng loạt hướng tấn công từ các đối thủ của mình. Sức tấn công mạnh nhất vẫn từ hướng của Nguyễn Bá Thanh vào vụ án Vinashin. Trong lúc đó Nguyễn Phú Trọng liên tục mở những cuộc chấn chỉnh đảng, phê bình và tự phê bình, những điều đảng viên không làm để nhằm triệt hạ bằng được Nguyễn Tấn Dũng.

Nhưng cái chết bất ngờ của Nguyễn Bá Thanh đã làm đình trệ công cuộc chống tham nhũng hướng vào Nguyễn Tấn Dũng. Kỳ thực, cuộc chống tham nhũng đó chỉ là cái tên của một chiến dịch thanh toán nhau trong nội bộ ĐCSVN, bởi tất cả lãnh đạo cộng sản nào cũng tham nhũng, kể cả Nguyễn Bá Thanh.

Nguyễn Tấn Dũng đã có một điểm mạnh mà không có đối thủ nào của ông ta có được. Đó là khả năng biết chia tiền, chia nguồn thu, lợi lộc cho các đồng chí. Tính quyết đoán khi cần thanh toán đối thủ hoặc có thể nhẫn nhịn làm hoà. Những khả năng thường có ở những ”Bố Già” thượng thặng. Nhờ vậy Nguyễn Tấn Dũng nắm gần hết lá phiếu của ban chấp hành trung ương Đảng để biểu quyết cho mình, thoát được vụ kỷ luật của Bộ Chính Trị năm 2012 và các đợt tấn công những năm sau đó. Để đến năm 2015, sau hai kỳ đại hội trung ương trong năm này, Nguyễn Tấn Dũng nắm gần hết quyền lực trong đảng cộng sản. Một trong những đối thủ nặng ký với Dũng là Phùng Quang Thanh bất ngờ đổ bệnh giữa năm 2015, buộc phải làm đơn xin không ứng cử nhiệm kỳ tới đây vào năm 2016 vì lý do sức khoẻ.

Việc đổ bệnh của Phùng Quang Thanh dập tắt hoàn toàn những đốm lửa le lói còn lại từ chiến dịch của Nguyễn Bá Thanh muốn tấn công Nguyễn Tấn Dũng.

Con đường của Nguyễn Tấn Dũng thênh thang hơn bao giờ hết. Các đối thủ tấn công, người thì đột tử, đột bệnh hoặc trở nên ngoan ngoãn, hiền lành, an phận. Đối thủ có thể cạnh tranh với Dũng bây giờ là Trương Tấn Sang. Nhưng dường như Nguyễn Tấn Dũng không bận tâm đến Sang nhiều. Sang là một kẻ bất tài, không có thực lực, không tạo được vây cánh, cả sự nghiệp lãnh đạo của Sang không có một dấu ấn nào cho thấy Sang có năng lực. Bất quá chỉ là những lời nói ”lạ” gãi đúng bức xúc của dân chúng, ngoài ra không có gì khá hơn. Nếu một kẻ như Sang có ngồi vào trước ghế TBT nhiệm kỳ tới cũng là điều Dũng chấp nhận được.

Tất cả những vị trí trọng yếu như thủ tướng, bộ trưởng công an, bộ trưởng quốc phòng, chủ tịch quốc hội tới đây đều là tay chân thân tín của Nguyễn Tấn Dũng. Vì vậy Dũng chẳng khó khăn gì, khi để chức TBT Đảng CSVN cho người hữu danh vô thực như Sang duy trì bóng ma hồn cốt của chế độ Cộng Sản, làm bình phong cho Dũng thao túng chính trường.

Trong chế độ cộng sản Việt Nam, chức thủ tưởng, chủ tịch quốc hội, chủ tịch nước chỉ là bù nhìn so với Tổng Bí Thư. Nguyễn Tấn Dũng đã thành công trong việc biến chức thủ tướng vốn ít quyền hành trước kia, thành chức có nhiều quyền lực, ảnh hưởng nhất so với các thủ tướng tiền nhiệm như Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải. Chắc chắn tương lai ở cương vị chủ tịch nước, với bộ sậu đàn em dưới trướng, Nguyễn Tấn Dũng sẽ biến chức chủ tịch nước vô vị bấy lâu thành một chức vị quyền lực mạnh nhất, lớn nhất đất nước.

Nếu Dũng làm TBT, mặc nhiên vị trí của Dũng sẽ gây khó khăn cho các đàm phán với quốc tế trước đây.  Tầm hoạt động của Dũng bị gò bó trong khuôn khổ nội bộ đất nước. Việc giao tiếp với các nước tư bản hay không cộng sản sẽ trắc trở về thủ tục ngoại giao và danh nghĩa. Ở cương vị CTN Nguyễn Tấn Dũng vẫn có danh chính, ngôn thuận để tiếp xúc thoả thuận bên ngoài và chỉ đạo trong nước thực hiện những đàm phán, thoả thuận đó.

Khả năng Dũng đạt được hai chức Tổng Bí Thư và Chủ Tịch Nước như dư luận đồn đoán là khó xảy ra. Bởi Trung Quốc sẽ không cho phép Việt Nam được bắt chước mô hình Trung Quốc bây giờ. Trừ những thủ đoạn cai trị, trấn áp người trong nước và đối phó với phương Tây bằng thái độ thù địch là được cho phép học tập, áp dụng triển khai ngay. Còn những cải cách khác về kinh tế, chính trị, Việt Nam chỉ được Trung Quốc cho phép làm theo khi cải cách đó có ở Trung Quốc từ 5 năm trở lên.

Trung Quốc đang ráo riết âm mưu ngăn cản Việt Nam chịu ảnh hưởng của Phương Tây. Cho nên một TBT kiêm CTN mà có con rể, con gái quốc tịch Hoa Kỳ như con của Dũng là điều Trung Quốc đương nhiên là không muốn.

Để cân bằng quan hệ quốc tế và quyền lực nội bộ bên trong cùng với những đòi hỏi của dân chúng về một nhà nước pháp quyền, những nhu cầu cấp thiết cần cải cách về kinh tế, pháp luật, nhân quyền, hành chính đồng thời vẫn đảm bảo sự tồn tại của Đảng CSVN mà không gây xáo trộn xã hội bất ngờ. Chắc chắn Nguyễn Tấn Dũng phải làm Chủ Tịch Nước.

Từ Bảo Đại đến Hồ Chí Minh: Hai bản tuyên ngôn độc lập

Từ Bảo Đại đến Hồ Chí Minh: Hai bản tuyên ngôn độc lập

Phạm Cao Dương

VietCatholic News

70 năm nhìn lại: Từ Bảo Đại đến Hồ Chí Minh: HAI BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

Trong lich sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết hay chỉ được học bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết hay không được học bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn. Bài này nhằm bổ khuyết cho tình trạng thiếu sót đó, đồng thời phân tích nội dung và ý nghĩa của từng bản.

(A) TUYÊN NGÔN CỦA HOÀNG ĐẾ BẢO ĐẠI

Hoàn cảnh được công bố

Bản tuyên ngôn độc Lập của Hoàng Đế Bảo Đại được công bố ngày 11 tháng 3 năm 1945, hai ngày sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và sau một thời gian dài hơn bốn năm, từ tháng 9 năm 1940, sau khi quân Nhật vào phần đất này của Đông Nam Á, gần năm tháng trước khi Nhật Bản đầu hàng và Thế Chiến Thứ Hai kết thúc. Trong thời gian này Việt Nam bị sống dưới sự cai trị của cả người Pháp, từ sau khi Hòa Ước 1884 được ký kết, lẫn người Nhật, từ ngày 22 tháng 9 năm 1940, với một hậu quả khủng khiếp là Trận Đói Tháng Ba Năm Ất Dậu. Hoàn cảnh này đã làm cho không chỉ riêng những người Cộng Sản, vốn chủ trương đánh đổ chế độ quân chủ để cướp chính quyền (chữ của chính người Cộng Sản) để từ đó thực thi cách mạng xã hội chủa nghĩa vô sản mà luôn cả những người không những không có cảm tình với chế độ quân chủ đương thời mà còn chủ trương lật đổ chế độ này để thay thế bằng một chế độ dân chủ, không nhìn nhận giá trị đích thực của của bản tuyên ngôn này. Lý do là vì Bảo Đại luôn luôn bị coi như một ông vua bù nhìn, trước kia trong tay người Pháp và lúc đó trong tay người Nhật. Theo họ trước kia người Pháp bảo sao, ông làm vậy và sau đảo chính 9 tháng 3 năm 1945, người Nhật bảo ông tuyên bố độc lập thì ông tuyên bố độc lập, thế thôi. Người ta hiểu hay được học đơn giản như vậy. Nền độc lập mà Bảo Đại tuyên bố theo họ chỉ là do người Nhật ban cho và bản tuyên ngôn của ông chẳng có một giá trị gì trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của người Việt. Thực chất của nó chỉ là “sự tuyên bố công khai việc thay thầy đổi chủ của triều đình Bảo Đại”[1] không hơn không kém.

Sự thực không đơn giản như vậy. Người Nhật có lý do làm đảo chính lật đổ người Pháp và Bảo Đại có lý do phải chấp nhận yêu cầu của người Nhật tuyên bố Việt Nam độc lập. Lý do của Bảo Đại đã được ông giải thích khi tiếp kiến Trần Trọng Kim và cố gắng thuyết phục ông này chấp nhận làm Thủ tướng đầu tiên của chính phủ Nam Triều độc lập. Nguyên văn câu nói được Trần Trọng Kim kể lại như sau:

“-”Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên Bộ thượng thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải dứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó mọi việc.”[2]

Người ta cần phải nhớ là hơn mươi năm trước đó, sau khi du học từ Pháp về tới Huế được hai ngày, ngày tháng 10 tháng 9 năm 1932, Bảo Đại đã ra Dụ số 1 tuyên bố chấp chính và khẳng định chế độ quân chủ của Nam Triều hủy bỏ Quy Ước 6 tháng 11 năm 1925 do Hội Đồng Phụ Chính, đứng đầu là Tôn Thất Hân, ký với Toàn Quyền Đông Dương thời nhà vua còn nhỏ tuổi và đang du học bên Pháp, tước bỏ hầu hết các quyền hành còn lại của ông trừ các quyền có tính cách nghi lễ, ân xá, sắc phong, tế lễ…kèm theo nhiều dụ khác nhằm thực hiện những cải cách qui mô trong nền hành chánh của chính phủ Nam Triều, nhưng đã bị người Pháp ngăn cản và bị thất bại. Đảo chính 9 tháng 3 năm 1945 và lời yêu cầu tuyên bố độc lập của người Nhật dù gì đi chăng nữa cũng là điều vị hoàng đế còn trẻ tuổi từ lâu mong đợi. Ngoài ra theo nhận định và giải thích nhằm thúc đẩy Trần Trọng Kim “chịu khó” lập chính phủ mới. Ông Bảo Đại nói :

-“Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.”[3]

Hai tiếng “cơ hội” Bảo Đại dùng ở đây cho ta thấy ông từ lâu mong có dịp này. Đồng thời ông cũng hiểu rằng nền độc lập mà ông tuyên cáo chưa phải độc lập hẳn.” Chưa hết, tuyên bố rồi ông còn có nhu cầu phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập và nhất là để tránh không cho người Nhật “lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta.” Một sự e ngại chỉ có những người có kiến thức về lịch sử và chính trị học mói biết được. Ngoài ra những tiếng “rất có hại cho nước ta” cũng cho người ta thấy đối tương của hành động tuyên cáo độc lập của ông không phải là ngôi vua mà là đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam, đất nước của ông và thần dân của ông. Cái nhìn và quan điểm này cũng như sự hiểu biết của ông về tình hình thế giới và thế tất bại của người Nhật về sau đã được ông nói rõ trong hồi ký của ông. Riêng đối với người Nhật, ông đã không tin tưởng ở họ cũng như chiêu bài Đại Đông Á của họ. Nói cách khác Bảo Đại ở vị thế phải chấp nhận nhập cuộc dù ông hiểu rõ sự phức tạp của vấn đề. Phần khác, như ông cũng nói tới trong hồi ký của ông: Độc lập là ước mơ của tất cả mọi người Việt Nam thời đó.

Nội dung bản Tuyên ngôn

Đây là một bản văn tương đối ngắn so với những bản văn cùng loại, nhằm ba mục tiêu chính yếu là hủy bỏ hòa ước Triều Đình Huế đã ký với nước Pháp, tuyên bố Việt Nam độc lập, đứng vào khối Đại Đông Á trong chương trình phát triển chung, đồng thời bày tỏ sự tin tưởng vào lòng thành của nước Nhật với nguyên văn như sau:

“ “Cứ tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này điều ước bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập.

“ Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vương chung.

“Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên.[4]

Bản Tuyên Bố được đề ngày 11 tháng Ba năm 1945 tức ngày 27 tháng Giêng năm Bảo Đại thứ 20 được Bảo Đại ký tên với sáu thượng thư phó thự. Sáu vị thượng thư gồm có: Phạm Quỳnh, bộ Lại, Hồ Đắc Khải, bộ Hộ, Ưng Úy, bộ Lễ, Bùi Bằng Đoàn, bộ Hình, Trần Thanh Đạt, bộ Học, và Trương Như Định, bộ Công. Theo Bảo Đại đây là lần đầu tiên trong lịch sử một văn kiện được ký bởi nhà vua và tất cả các nhân vật quan trọng nhất trong triều đình.

Đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập này của Bảo Đại, người ta cần chú ý tới những chi tiết sau đây:

Thứ nhất: Gọi là tuyên ngôn nhưng thực sự đây chỉ là một văn kiện hủy bỏ một điều ước đã được ký kết trước đó vì do tình hình biến chuyển một trong hai phía đã không tôn trọng những gì mình đã ký kết hay không thực thi được những gì mình đã ký kết trong một sinh hoạt quốc tế. Điều ước bị hủy bỏ ở đây là Hòa Ước Giáp Thân được ký kết giữa Triều Đình Huế và người Pháp ngày 6 tháng 6 năm 1884, đặc biệt hai điều khoản của hòa ước này là điều khoản thứ nhất, theo đó Việt Nam công nhận và chấp nhận Quyền Bảo Hộ của nước Pháp và điều khoản thứ mười lăm, theo đó nước Pháp cam kết bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ của các xứ do vua Việt Nam cai trị và bảo vệ nhà vua chống lại những sự xâm nhập từ bên ngoài và những cuộc nổi loạn từ bên trong..[5] Sự hủy bỏ này phải được hiểu là do người Pháp bất lực không bảo vệ được Việt Nam trước sự bành trướng của quân đội Nhật và cuối cùng là chính người Pháp đã bị người Nhật lật đổ trong cuộc Đảo Chính ngày 9 tháng 3 năm 1945. Sự hủy bỏ này cũng có tính cách đơn phương từ phía Hoàng Đế Bảo Đại với tư cách là người kế vị chính thống của Triều Đình Nhà Nguyễn hay trực tiếp hơn từ Vua Tự Đức, căn cứ vào những gì đã xảy ra vào thời điểm này.

Điểm cần được lưu ý ở đây là từ ngữ hòa ước trong văn kiện này được dùng theo số ít, trong tiếng Việt, không có chữ “các” hay “những” đi kèm và trong tiếng Pháp không có chữ “s” theo sau. Điều này có nghĩa là bản tuyên cáo chỉ hủy bỏ hòa ước bảo hộ tức Hòa Ước Giáp Thân 1884 mà thôi thay vì hủy bỏ tất cả các hòa ước đã được ký kết trước đó. Đó là các Hòa Ước Nhâm Tuất 1862 và Hòa Ước Giáp Tuất 1874 liên hệ tới xứ Nam Kỳ theo đó xứ này đã bị nhường đứt cho người Pháp là và trở thành thuộc địa của họ, không còn thuộc quyền cai trị của Vua và Triều Đình Huế nữa. Vấn đề thâu hồi xứ Nam Kỳ do đó chưa được giải quyết ngay nhưng đã trở thành mối bận tâm và một phần hành quan trọng của chính Hoàng Đế Bảo Đại ngay từ buổi nhà vua tiếp kiến Đại Sứ nhật Yokoyama và của Chính Phủ Trần Trọng Kim trong gần suốt thời gian chính phủ này tồn tại. Xứ Nam Kỳ chỉ được người Nhật trao trả trong những ngày cuối của chính phủ này và chỉ chính thức trở về với lãnh thổ quốc gia Việt Nam ngót năm năm sau, vào giữa tháng 6 năm 1949, và do Bảo Đại với tư cách Quốc Trưởng tiếp nhận chứ không phải là do công lao của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.

Đây cũng là một sự kiện ít người biết đến hay chỉ biết một cách lơ mơ. Một chi tiết khác cũng cần phải được chú ý ở đây là hai chữ “độc lập” đã được sử dụng tới hai lần: “nước Nam khôi phục quyền độc lập” và “Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập”, trong một bản văn ngắn. Sau này chính Bảo Đại đã dùng danh từ “tuyên ngôn độc lập – proclamation d’indépendance” khi nói tới văn kiện này trong hồi ký của ông.

Thứ hai: ”Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập….giúp cho cuộc thịnh vượng chung.” Câu này xác định phương thức hoạt động nhằm thực hiện tư cách độc lập (tự phát triển như một quốc gia độc lập không phụ thuộc vào nước ngoài cho xứng đáng một quốc gia độc lập) và thế đứng của Việt Nam trên trường quốc tế (tự coi mình là một phần tử Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vượng chung). Ta cũng nên để ý tới khẩu hiệu Châu Á của Người Á do người Nhật đưa ra trong thời gian này, một khẩu hiệu hàm chứa sự độc lập của các nước Á Châu lúc đó còn là thuộc địa của các đế quốc Âu Châu. Đây cũng là một cách nói khéo léo nhằm ngăn chặn trước sự can thiệp vào nội tình Việt Nam của người Nhật, một điều cả nhà vua và Chính Phủ Trần Trọng Kim luôn luôn quan tâm phòng ngừa.

Thứ ba: “Chính phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc…”.”Câu này nhằm buộc chặt lời hứa của người Nhật bằng cách nhấn mạnh vào sự trung thành của người Nhật với những gì họ đã nói, với quan niệm trung thành như một truyền thống chung của các dân tộc Á Đông.

Thứ tư: “”quyết chí hợp tác với nước Nhật đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên.””Mục đích như trên là mục đích gì? Phải hiểu mục đích này bao gồm hai phần là “tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập” và “giúp cho cuộc thịnh vương chung” như là một phần tử của khối Đại Đông Á.”

Nói cách khác, đây là một bản văn tuy ngắn ngủi, cô đọng nhưng rất quan trọng vì nó vừa mang tính cách pháp lý, có liên hệ tới nhiều văn kiện ngoại giao khác đã được hình thành trước đó, vừa biểu lộ chủ trương của một quốc gia được trao trả độc lập trong một hoàn cảnh không nhận không được, vô cùng tế nhị và phức tạp vào lúc tình hình thế giới biến chuyển quá nhanh và hoàn toàn bất lợi cho quân đội và quốc gia đảm nhận sự trao trả nền độc lập này. Mỗi điều nói ra, mỗi chữ được viết đều đòi hỏi người soạn thảo phải vô cùng thận trong và ước tính kỹ càng.

Ai là tác giả của bản tuyên ngôn này?

Người được nói đến nhiều nhất là Phạm Quỳnh, lúc đó đang giữ chức thượng thư bộ lại. Điều này có nhiều phần đúng nếu người ta để ý tới khả năng nghị luận và viết văn, viết báo kèm theo sự hiểu biết và kinh nghiệm của một học giả, một người làm báo, và sau đó là một ngự tiền văn phòng tổng lý của nhà vua cũng như thượng thư bộ lại trong nhiều năm trước đó. Nó cũng được Phạm Khắc Hòe, đương thời là ngự tiền văn phòng tổng lý của Bảo Đại, trong hồi ký của ông này xác nhận[6].

(B) BẢN TUYÊN NGÔN CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA HỒ CHÍ MINH

Hoàn cảnh được công bố

Bản tuyên ngôn này đã được Hồ Chí Minh một mình soạn thảo, một mình đứng tên và đọc tại Quảng Trường Ba Đình ở Hà Nội vào buổi chiều ngày 2 tháng Chín năm 1945, ngót năm tháng sau bản tuyên ngôn của Bảo Đại, hơn hai tuần lễ sau khi Nhật Bản đầu hàng, mười ba ngày sau khi Việt Minh cướp được chính quyền ở Hà Nội và hai ngày sau khi Bảo Đại chính thức thoái vị.

Vì được công bố sau bản tuyên ngôn của Bảo Đại, sau khi người Nhật đã đầu hàng cũng như chế độ bảo hộ của người Pháp đã bị người Nhật lật đổ trước đó, bản tuyên ngôn này đã bị nhiều người cho là thừa, không cần thiết, chưa kể tới sự kiện là chính phủ mới do Hồ Chí Minh thành lập là kế vị chính phủ Nam Triều do Hoàng Đế Bảo Đại thoái vị nhường cho dựa theo chiếu thoái vị của Bảo Đại và đã được Hồ Chí Minh và chính phủ mới của ông chấp nhận. Chính Phủ Lâm Thời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong những điều kiện này đương nhiên kế tục những gì Hoàng Đế Bảo Đại và Chính Phủ Trần Trọng Kim đã làm trước đó, trong đó có Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 11 tháng 3 năm 1945. Lập luận như vậy là hoàn toàn hợp lý đứng trên phương diện công pháp quốc tế. Một lập luận đơn giản và hoàn toàn dễ hiểu. Câu hỏi được đặt ra là Hồ Chí Minh, và những cộng sự viên của ông, khi đưa ra bản tuyên ngôn của mình có biết là trước đó Bảo Đại đã làm công việc này rồi hay không? và biết như vậy tại sao ông lại còn làm lại việc đó một lần nữa?

Cho câu hỏi thứ nhất, câu trả lời là chắc chắn có; Hồ Chí Minh chắn phải biết là Bảo Đại trước đó đã tuyên cáo hủy bỏ hòa ước bảo hộ 1884 rồi. Nhưng ông vẫn làm lại công việc này vì ông có nhu cầu phải làm. Những nhu cầu đó là những nhu cầu gì?

Thứ nhất , là vì từ lâu toàn dân ai nấy đếu khao khát được thấy nước nhà độc lập, đúng như Bảo Đại đã viết trong hồi ký của ông, độc lập là ước mơ của mọi người dân Việt[7], cũng như nó được phản ảnh ở khắp nước ngay trước và sau ngày 2 tháng 9 năm 1945. Nói tới độc lập vào lúc đó là gõ đúng tần số của bất cứ một người dân Việt Nam nào từ đó đem lại công lao và thanh thế cho người chính thức công bố ra điều đó.

Thứ hai , là cho tới ngày 2 tháng 9 năm 1945, cái tên Hồ Chí Minh hoàn toàn xa lạ ở trong nước cũng như ở ngoài nước. Võ Nguyên Giáp, một trong những cộng sự viên thân cận nhất của Hồ Chí Minh trong thời gian này, đã viết trong hồi ký của ông này rằng: “Ba tiếng HỒ CHÍ MINH không bao lâu đã vang đi khắp thế giới với những truyền thuyết mà người ta thường dành cho các bậc vĩ nhân. Nhưng vào ngày hôm ấy, cái tên mới của Bác vẫn còn mới lạ với nhiều đồng bào. Số người biết Bác chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc khi đó không nhiều.” [8]

Ngay vua Bảo Đại ngày 23 tháng 8 năm 1945, khi nhận được điện tín của của các ông Nguyễn Xiển, Nguyên Văn Huyên, Ngụy Như Kon-Tum và Hồ Hữu Tường nhân danh Ủy Ban Nhân Dân Cách mạng, yêu cầu nhà vua thoái vị nhường quyền lãnh đạo quốc gia cho Chính Phủ Nhân Dân Cách mạng với chủ tịch là “Cụ Hồ Chí Minh” đã không biết Hồ Chí Minh là ai. Còn Phạm Khắc Hòe, người ở bên cạnh nhà vua và được Việt Minh móc nối cũng không biết nốt, phải chạy đi hỏi Tôn Quang Phiệt, một đảng viên Cộng Sản, rồi Đào Duy Anh nhưng Tôn Quang Phiệt đi vắng và Đào Duy Anh lục lọi, truy tìm các tài liệu, sách vở ông có nhưng cũng không ra tên này. Cuối cùng Vũ Văn Hiền, ở Bắc về mới xác nhận Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc.[9]

Tuyên bố Việt Nam độc lập đối với Hồ Chi Minh vào thời điểm này do đó là cách tự giới thiệu mình tốt nhất và hữu hiệu nhất vói toàn thể đồng bào và để được nhìn và được chấp nhận như là lãnh tụ đầu tiên đã mang lại được độc lập cho tổ quốc và cho toàn dân Việt Nam, một nhu cầu tối cần thiết, dầu rằng nền độc lập này hoàn toàn không phải do ông hay do Mặt Trận Việt Minh tạo ra mà là do những biến cố khác của lịch sử trước đó, trong đó quan trọng nhất là Đảo Chính 9 tháng Ba năm 1945, trong đó người Nhật đã loại bỏ người Pháp, kèm theo là bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoàng Đế Bảo Đại nói trên, và cuối cùng là sự bại trận sau này của người Nhật.

Chúng ta cũng cần để ý là đối với đa số người Việt Nam thời đó, ngày 2 tháng 9 là Ngày Độc Lập, đúng như Nguyễn Hữu Đang, người được Hồ Chí Minh chỉ định tổ chức ngày này, gọi, qua các văn thư chính thức ông đã gửi cho các cơ quan liên hệ, trong đó có thư gửi cho Thị Trưởng Hà Nội[10] và theo bìa in bản tuyên ngôn của bản đầu tiên năm 1945, do Chủ Tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Hồ Chí Minh đọc trong Ngày Độc Lập”.[11] Nhưng đối với Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 còn có một ý nghĩa quan trọng hơn nữa. Đó là “ngày khép lại cuộc Cách mạng tháng Tám, và khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa”, theo lời ông nói với Nguyễn Hữu Đang, “Chú phải nhớ…[12]

Tại sao vậy? Tại vì Hồ Chí Minh phải làm chuyện này trước khi quân Đồng Minh kéo vô Việt Nam, đặc biệt là thủ đô Hà Nội, nhằm đặt họ trước một sự đã rồi, không thể đảo ngược đươc. Sự kiện vua Bảo Đại thoái vị được nhắc tới và câu “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp” là nhằm vào mục tiêu này.

Nội dung bản Tuyên Ngôn

Bản Tuyên Ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh, vì được phổ biến rộng rãi và hầu như được coi là bàn tuyên ngôn duy nhất gắn liền với ngày 2 tháng 9, ngày Quốc Khánh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa rồi Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nên đã được nhiều người đọc, phân tích và tìm hiểu. Trong phần này người viết chỉ nêu lên những gì ít được mọi người nhắc hay để ý đến.

Trong khi Tuyên Cáo của Bảo Đại đơn giản chỉ là một bản văn thuần túy pháp lý nhằm hủy bỏ hòa ước bảo hộ mà triều đình Huế đã ký trước đó, căn cứ vào sự bất lực của người Pháp không giữ được cam kết đã được ghi trong điều khoản thứ nhất và điều khoản thứ mười lăm của hòa ước này mà không nhằm vào một đối tượng quần chúng hay quốc tế, thì bản Tuyên Ngôn của Hồ Chí Minh nhằm vào toàn thể người Việt qua lời mở đầu “Hỡi đồng bào cả nước…”. Tuy nhiên ở những đoạn cuối tác giả lại nhắm vào các nước Đồng Minh. Điều này phải tinh ý người ta mới nhận ra được. Về tư cách, Bảo Đại nhân danh Hoàng Đế Việt Nam, người đứng đầu của một quốc gia độc lập đã tồn tại từ trước khi người Pháp xâm lăng và là người kế thừa chính thống của các vua Nhà Nguyễn, thì Hồ Chí Minh đã nhân danh “Lâm Thời Chính Phủ của nước Việt Nam mới.”” Mới là vì đến ngày đó chính phủ này mới chính thức được ra mắt trước quốc dân. Lời văn do đó phản ảnh hai tư cách của hai bản chất con người khác nhau. Một người là hoàng đế kế thừa chính thống của một triều đại đã trị vì một quốc gia từ hơn một trăm năm trước dù cho là chỉ còn hư vị; người kia là lãnh tụ của một phong trào cách mạng vừa chủ trương chống Pháp, vừa chủ trương chống Nhật và lật đổ chế độ quân chủ để giành chính quyền. Văn phong trong bản tuyên ngôn của Bảo Đại là văn phong bình thường của người cầm quyền; còn văn phong của Hồ Chí Minh mang tính cách kêu gọi và ở một mức độ nào đó có tính cách bình dân, kể lể dài dòng kể công và nhất là xách động.

Mở đầu cho bản tuyên ngôn, Hồ Chí Minh đã trích dẫn một số câu trong phần đầu của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ và một câu trong Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp. Sự trích dẫn này, vào lúc mà sự hiểu biết của quần chúng Việt Nam còn thấp kém, đặc biệt là về lịch sử Hoa Kỳ và thế giới chắc chắn không nhằm vào quần chúng người Việt mà nhằm vào người Mỹ và người Pháp. Lý do là Hồ Chí Minh như là một đảng viên Cộng Sản Quốc Tế chắc chắn đă hiểu hơn ai hết là người Mỹ vào thời điểm này đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong chính tình ở Á Châu, trong đó có Việt Nam. Được nguời Mỹ công nhận là coi như làm chủ được chính quyền. Hiểu được như vậy, ngay từ khi còn ở chiến khu Hồ Chí Minh khi tiếp xúc với người Mỹ đã yêu cầu họ cung cấp cho ông một bản Tuyên Ngôn Độc Lập của họ, đồng thời khi tiếp xúc với họ, Hồ Chí Minh cũng nhận thấy rằng nói về lịch sử nước Mỹ với họ là một cách để chinh phục cảm tình của họ. Cũng vậy, với những gì chứa đựng trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của người Pháp. Có điều sự trích dẫn nàychỉ nhằm mục tiêu lôi cuốn sự chú ý và cảm tình của người Mỹ mà thôi.

Hồ Chí Minh không cần đi xa hơn nữa và rất có thể ông cũng không hiểu rõ hơn hay cố tình không hiểu sự khác biệt trong quá trình giành độc lập của mười ba thuộc địa của người Mỹ vào cuối thế kỷ XVIII và của nước Việt Nam thời ông. Vì vậy ông đã áp dụng quan điểm của người Mỹ về quyền bình đẳng, quyền được sống tự do và mưu cầu hạnh phúc của mọi – người – như-là-những-cá-nhân vào trường hợp Việt Nam như một – quốc – gia đòi quyền độc lập một cách gượng ép hay ít ra là suy luận theo quan điểm chủ quan của mình với dụng ý riêng của mình. Cũng vậy với những gì ông trích dẫn từ bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp.

Phần kế tiếp, Hồ Chí Minh lên án người Pháp và người Nhật, đồng thời ông kể công cho Việt Minh: “Trước ngày mồng 9 tháng 3, đã bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật…”, sau đó “đ ã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ” và kết luận rằng “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt-nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”.

Điều, như người viết đã nói ở trên, là không đúng sự thật. Sự thật là Chính Phủ Bảo Đại – Trần Trọng Kim đã lấy lại được toàn thể nước Việt Nam từ trước khi người Nhật đầu hàng kể cả lấy lại xứ Nam Kỳ và Việt Minh đã cướp chính quyền từ trong tay của chính phủ Bảo Đại -Trần Trọng Kim trong những ngày 17 và 19 tháng 8 năm 1945 sau đó. Lý do là vì Việt Minh “đã có đường riêng của họ rồi”, nói theo Phan Anh, Bộ Trưởng Thanh Niên trong Chính Phủ Trần Trọng Kim và sau này là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng trong Chính Phủ Liên Hiệp của Hồ Chí Minh. Trong những đoạn này Hồ Chí Minh đã dùng các từ ngữ ta hay “dân ta” hay “đất nước ta”, nhưng mục đích không nhằm vào người Việt Nam mà vào người Pháp.

Phần cuối cùng của bản văn, từ “Bởi thế cho nên…” cho đến hết, lời văn cho người ta thấy Hồ Chí Minh không hướng về người Việt mà về cả thế giới. Trong phần này ông xưng là “chúng tôi, Lâm thời Chính phủ, đại biểu cho toàn dân Việt -nam “ để tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, kêu gọi các nước Đồng Minh công nhận quyền độc lập của dân Việt-nam… Phần này Hồ Chí Minh thay vì quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của mọi – người – như – những – cá – nhân do Tạo Hóa ban cho, những quyền phải hiểu là tự nhiên ai như là một cá nhân đều có, đã nói về quyền hưởng tự do và độc lập của – cả – nước – Việt – Nam. Điều này hoàn toàn trái với tinh thần của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Người Mỹ và nhất là của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách mạng Pháp mà danh xưng của nó đã nói lên một cách rõ ràng, không thể hiểu sai được vì độc lập không phải luôn luôn đồng nghĩa với tự do, dân quyền và nhân quyền.

Không những thế, thay vì coi những quyền này là do Tạo Hóa ban cho, Hồ Chí Minh lại lý luận là vì dân tộc Việt Nam là “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc ấy phải được độc lập!”.” Lý luận như vậy người ta phải hiểu, theo Hồ Chí Minh, rằng những dân tộc không gan góc chống lại những thế lực đè nén, áp bức mình và không gan góc đứng về phe Đồng Minh, chống phát-xít là không đáng được tự do, độc lập. Cũng vậy, với các quyền độc lập, tự do và mưu cầu hạnh phúc của con người như là những cá nhân trong xã hội.

Chính vì vậy Luật sư Trần thanh Hiệp,khi được Đài Á Châu Tự Do phỏng vấn ngày 2 tháng 9 năm 2007, đã có lý khi ông gọi bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh này là một bản tuyên ngôn phi nhân quyền,[13] dù cho là nó đã được chính tác giả của nó trích dẫn và soạn thảo theo tinh thần của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách mạng Pháp. Nhưng dù nói thế này hay thế khác sự kiện này đã phản ảnh chủ trương cách mạng bạo lực của những người Cộng Sản mà Hồ Chí Minh ở đây là một trường hợp điển hình.

Người ta có thể giải thích sự thiếu rõ ràng trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh kể trên là do nó đã được soạn thảo trong một thời gian quá ngắn và trong tình trạng tác giả của nó còn phải bận rộn với nhiều vấn đề cấp bách khác. Điều này không đúng vì trước đó từ lâu, khi tiếp xúc với một sĩ quan người Mỹ, Hồ Chí Minh đã xin một bản tuyên ngôn nhân quyền của người Mỹ rồi. Nói cách khác, Hồ Chí Minh đã nghĩ tới và đã thai nghén bản tuyên ngôn của ông từ lâu chứ không phải chỉ ít ngày trước ngày 2 tháng 9 năm 1945. Do đó những gì ông nói tới, những từ ngữ ông dùng đều được cân nhắc kỹ càng và đều có dụng ý riêng với những mục tiêu riêng mà chỉ sau này phải phân tích kỹ, đối chiếu kỹ và có thể sau này khi mọi việc liên hệ đã xảy ra rồi, người ta mới có thể hiểu được. /-

Phạm Cao Dương

[1] Dương Trung Quốc. Việt Nam : Những Sự Kiện Lịch Sử (1919-1945). HàNội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 202.tr. 388.

[2] Lệ Thần Trần Trọng Kim. Một Cơn Gió Bụi (Kiến Văn Lục).Saigon, Nhà Xuất Bản Vĩnh Sơn, 1969. tr. 49.

[3] – nt – , tr. 51.

[4] Dương Trung Quốc, Việt Nam…, tr. 388; Nguyễn Vỹ. Tuấn, Chàng Trai Nước Việt (Chứng Tích Thời Đại Từ 1900 đến 1970, Quyển II. Saigon, ? , 1970. Fort Smith, AR tái bản ở Hoa Kỳ, ?. tr. 512.; S.M. Bao Dai. Le Dragon d’Annam. Paris, Plon. 1990. Cameron, Allan W. Viet-Nam Crisis, A Documentary History, Volume I: 1940-1956. Ithaca, N.Y. Cornell University Press, 1971.. tr. 31-32. Hai bản tiếng Việt in trong tác phẩm của Dương Trung Quốc và tác phẩm của Nguyễn Vỹ hơi khác nhau về ngôn từ nhưng hoàn giống nhau về nội dung. David G. Marr trong Vietnam 1945, The quest for Power (Berkeley, University of California Press, 1995, tr. 71) có nói tới các bản tiéng Việt và tiếng Pháp ở văn khố Pháp và bản đăng trên tờ Dân Báo, ngày 12 tháng Ba. Vũ Ngự Chiêu cũng nói tới tờ Tin Mới, nhưng nhất thời người viết bài này chưa đến được các nơi cần đến để tìm kiếm.

[5] Taboulet, Georges. La Geste Francaise en Indochine,Histoire par les textes de la France en Indochine des origines à 1914, tome II, Paris, Adrien – Maisonneuve, 1956. tr. 809 – 812; Phan Khoang, Việt Nam Pháp Thuộc Sử, 1884 – 1945. Saigon,, ? ,1961. Tái bản ở Hoa Kỳ. tr. 322 – 328.

[6] Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc. Huế, Thuận Hóa, 1987, tr. 16 -.

[7] S.M.Bảo Đại, Le Dragon d’Annam, đã dẫn, tr. 103

[8] Võ Nguyên Giáp, “Những Năm Tháng Không Thể Nào Quên”, trong Tổng Tập Hồi Ký. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Quân Đội Nhân Dân, 206, tr.. 255.

[9] Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Dình Huế…, tr. 76.

[10] Phùng Quán, Ba Phút Sự Thật. Thành Phố Hồ Chí Minh, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ, 2006, tr. 114 – 115.

[11] Hồ Chí Minh, Tuyên Ngôn Độc Lập Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Sự Thật, 1976, tr.13. Nguyễn Khánh Toàn và Lữ Huy Nguyên, Tổng Tập Văn Học Việt Nam, Tập 36. Hà Nội, 1980. tr. 812 – 823.

[12] – nt-, tr. 134.

[13] Trần Thanh Hiệp và Trương Giang, “Một Bản Tuyên Ngôn Phi Nhân Quyền”, trên Nhật Báo Người Việt, số 7940, ngày Thứ Hai, 3 tháng 9 năm 2007. Dương Trung Quốc. Việt Nam : Những Sự Kiện Lịch Sử (1919-1945). HàNội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 202.tr. 388.Việt, số 7940, ngày Thứ Hai, 3 tháng 9 năm 2007.

(*) Chú thích của Tòa sọan: Tác gỉa Phạm Cao Dương là Giáo sư, Tiến sỹ dạy môn Lịch sử và Văn hoá Việt Nam tại một số Đai học Mỹ