
MÙA ĐÔNG XỨ HUẾ -Lê Dinh & Minh Kỳ -Hương Lan


Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)


Houston: Nhân viên bắn chết quản lý trong Hong Kong 4 rồi tự sát
Ngọc Lan – Nhất Anh/Người Việt
HOUSTON, Texas (NV) – Một nhân viên dùng súng bắn chết người quản lý sau đó tự sát tại khu thương mại Hong Kong City Mall (thường gọi là Hong Kong 4), trên đường Bellaire, nơi mua sắm lớn nhất của người Việt ở Houston, Texas.
Vụ nổ súng xảy ra vào trưa 5 Tháng Mười tại khu vực bán thực phẩm của khu thương mại. Theo nguồn tin của báo Người Việt, cả hung thủ và nạn nhân đều là người gốc Việt.
Nguồn tin cho hay, ‘một nhân viên làm việc trong chợ, tên Thanh, đã làm việc tại chợ khoảng 8 năm, bắn chết người quản lý, tên Hoàng, mới vào làm việc khoảng 2 năm. Bắn ngay tại bàn làm việc của ông Hoàng. Sau khi bắn 1 phát ngay vào đầu của người quản lý thì nhân viên tên Thanh quay người bước đi và chĩa súng bắn vào đầu mình và ngã xuống chết luôn ngay trong chợ.”
Trả lời phỏng vấn của Người Việt qua điện thoại, bà Dương Hà, chủ nhân của Khu thương Mại Hong Kong 4, nói rằng: ‘Tôi đang rất bối rối bởi không biết vì sao nhân viên của mình lại hành xử như vậy.’ Đồng thời bà Dương Hà từ chối trả lời các câu hỏi liên quan đến vụ nổ súng.
![]() |
|
Phía trước của khu thương mại Hong Kong 4, trung tâm mua sắm lớn nhất của người Việt ở Houston. (Hình: Khôi Nguyên/Người Việt) |
Báo Houston Chronicle tường thuật cho hay, ‘cuộc cãi vã giữa nhân viên và người quản lý thành vụ nổ súng, khiến cả hai đều thiệt mạng.’
Tiếng súng nổ vào khoảng 12:50 trưa Thứ Hai, 5 Tháng Mười, tại khu bán thực phẩm trong trung tâm thương mại Hong Kong 4, số 11205 đường Bellaire.
Cảnh sát cho biết, sau khi gây gổ lớn tiếng với người quản lý của mình, người nhân viên bắn chết người này bằng khẩu súng lục 0.50 Desert Eagle và sau đó bắn luôn chính mình trong khu vực phía sau chợ.
“Đó là một cảnh tượng kinh hoàng,” cảnh sát Houston, ông Wendell Gilbert cho biết.
Cảnh sát sau đó đưa tất cả các khách hàng ra khỏi trung tâm thương mại và tiếp tục điều tra.
Theo tin của Click2Houston, một nhân viên hàng thịt trong chợ là ông Đạt Bành nói ông nghe thấy tiếng súng liền lập tức rời khỏi chợ.
“Tôi nghe tiếng súng nổ…Đùng…đùng. Chỉ vậy thôi, tôi vội vàng chạy ra ngoài nên không thấy gì hết,” ông Đạt cho biết.
Bà Kim Lê, một khách hàng ở trong khu thương mại lúc đó đang đi mua sắm cùng hai đứa con của mình.
“ Khi tôi vừa mới đi vào cửa hàng, thì đột nhiên cảnh sát chặn lại và yêu cầu phải rời khỏi nơi đây ngay lập tức vì mới có vụ nổ súng,” bà Kim cho hay.
Các điều tra viên cho biết vụ nổ súng được thu lại bằng camera của chợ. Trong đoạn phim được quay lại, nghi can bắn chết người quản lý của mình gần nơi những nhân viên nhà kho đang làm việc.
Cảnh sát vẫn đang tiếp tục điều tra hiện trường. Cả khu trung tâm thương mại đóng cửa.
![]() |
|
Khu vực bán thực phẩm (HongKong Food), nơi chiếm diện tích lớn nhất của Hong Kong 4. (Hình: Facebook) |
Qua điện thoại, một phụ nữ không muốn nêu tên, bán hàng gần nơi xảy ra sự việc, kể lại với báo Người Việt: ‘khi đó tôi đang trong tiệm của mình, thì có người chạy ra kêu đóng cửa lại vì trong chợ có bắn nhau, không biết có phải cướp hay gì không. Tôi cũng đóng cửa nhưng sau đó nhiều người trong chợ chạy ra nói rằng người bắn cũng đã tự vận rồi.’Vẫn theo phụ nữ này, ‘những người trong chợ kể lại thì người quản lý muốn làm tốt công việc của mình thì đương nhiên họ cũng có khó khăn với nhân viên. Có thể người nhân viên đó nghĩ mình đã phải chịu bị ép nên phẫn uất.’
” Với cá nhân tôi thì thấy từ khi có ông quản lý mới này về thì chợ tốt hơn nhiều. Ông đó cũng thuộc dạng người giỏi, chỉ mới chừng 40 tuổi thôi. Còn người nhân viên kia khoảng hơn 50 tuổi. Khoảng hơn 2 tiếng sau khi sự việc xảy ra, tiệm tôi đã mở cửa lại, trong khi chợ Hồng Kông vẫn còn đang đóng cửa và mười mấy cảnh sát đang phỏng vấn những người có mặt tại thời điểm xảy ra sự việc.”
Khi được hỏi cảm nghĩ của bà khi nghe tin này là gì? Người phụ nữ này tâm sự: “Buồn lắm. Người ta đã phải hy sinh nhiều thứ để tìm đường qua đến đây mà tại sao chỉ vì những chuyện không vừa lòng nhau trong công việc mà dẫn đến sự việc như thế này thì rõ ràng là họ đã phải trả giá quá đắt. Làm chỗ này không được thì đi làm chỗ khác, tại sao lại để sự nóng giận của mình dẫn đến chuyện phải đổi hai mạng người như thế thì đắt quá. Tin tức này xảy ra cho người Việt mình, tôi thấy không có vui. Tôi cũng nghĩ với những người làm quản lý thì cũng nên nói những lời dễ nghe hơn với nhân viên của mình, chứ những lời khó nghe mà cứ lặp đi lặp lại, người ta để trong lòng thì lâu ngày sẽ dẫn đến những chuyện không hay.”
Được xây dựng vào năm 1999, Hong Kong City Mall là trung tâm thương mại rộng lớn hai tầng. Đa số những người buôn bán ở đây là người gốc Việt, nhiều sinh hoạt của cộng đồng người Việt cũng được tổ chức tại đây. Chợ Hong Kong Food, nơi xảy ra vụ nổ súng là một trong những cửa hàng lớn nhất trong khu thương mại này.
XIN VÂNG
ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt
Bài Tin Mừng hôm nay kết thúc bằng hai tiếng “Xin vâng” của Đức Mẹ. Hai tiếng “Xin vâng” thật đơn sơ nhỏ bé, nhưng lại có ảnh hưởng lớn lao.
Trước hết hai tiếng “Xin vâng” có ảnh hưởng tới chương trình của Thiên Chúa.
Thiên Chúa có chương trình tốt đẹp cho loài người. Nhưng để chương trình ấy thành công, cần có sự tham gia, đồng thuận, vâng phục của con người. Chúa muốn con người được hạnh phúc. Nhưng nếu con người từ chối, Thiên Chúa không thể ban hạnh phúc cho con người. Chương trình đầu tiên của Chúa đã thất bại vì ông bà nguyên tổ không vâng lời Chúa. Ông bà nguyên tổ đã nghe ma quỷ hơn nghe Chúa. Ông bà nguyên tổ đã làm theo ý riêng hơn làm theo ý Chúa. Trái lại Đức Mẹ đã tham gia, đã đồng ý, đã vâng phục, nên chương trình của Thiên Chúa được thực hiện. Kế hoạch cứu độ loài người của Thiên Chúa nhờ hai tiếng “Xin vâng” của Đức Mẹ mà thành công.
Hai tiếng “Xin vâng” của Đức Mẹ vọng lại hai tiếng “Xin vâng” của Ngôi Hai Thiên Chúa.
Vì vâng lời Đức Chúa Cha, Đức Giêsu đã vui lòng xuống thế làm người. Hôm nay, khi Đức Mẹ nói tiếng “Xin vâng” với Thiên thần, Đức Giêsu cũng nói “Xin vâng” với Đức Chúa Cha. Với hai tiếng “Xin vâng”, Đức Mẹ khai thông chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa. Sau hai tiếng “Xin vâng”, Ngôi Hai xuống thế làm người, tượng thai trong lòng Đức Mẹ.
Hai tiếng “Xin vâng” có ảnh hưởng tới cả cuộc đời.
Hai tiếng “Xin vâng” nghe thật bé nhỏ, khiêm tốn, những ảnh hưởng tới cả cuộc đời Đức Giêsu và Đức Mẹ. Vì vâng lệnh Đức Chúa Cha, Đức Giêsu đã từ trời xuống thế, như lời Thánh vịnh: “Máu chiên bò, Chúa không ưng. Của lễ toàn thiêu, Chúa không nhận. Thì này con đến để làm theo ý Cha”. Vì vâng lệnh Đức Chúa Cha, Đức Giêsu đã chấp nhận con đường bé nhỏ, khiêm nhường. Vì vâng lệnh Đức Chúa Cha, Đức Giêsu vui lòng chịu chết, chết nhục nhã trên cây Thánh giá: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho Con khỏi uống chén này. Nhưng xin đừng làm theo ý Con, chỉ xin vâng ý Cha mà thôi”.
Cũng vậy, khi nói tiếng “Xin vâng” với Thiên thần, Đức Mẹ ràng buộc tất cả đời mình vào chương trình của Thiên Chúa. Vì xin vâng mà phải sinh con trong hang đá nghèo nàn. Vì xin vâng mà phải trốn chạy sang Ai cập. Vì xin vâng mà chấp nhận lời tiên tri Simêon: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tim bà.” Vì xin vâng mà theo Đức Giêsu trên khắp các nẻo đường truyền giáo. Vì xin vâng mà phải đứng dưới chân thập giá, chịu mọi đau đớn, khổ nhục với con, dường như cùng chết với con vậy.
Như thế, để nói tiếng “Xin vâng” với Thiên Chúa, Đức Giêsu và Đức Mẹ đã phải nói “Không” với chính mình. Để một lần nói “Xin vâng” với Thiên Chúa, Đức Giêsu và Đức Mẹ phải nhiều lần nói “Không” với chính mình. Tiếng “Vâng” lớn thành hình nhờ những tiếng “Không” nhỏ bé. Ý Chúa được thể hiện nhờ biết bỏ ý riêng. Chương trình lớn thành công nhờ những hy sinh bé nhỏ âm thầm.
Khi tạo dựng nên ta, Chúa đã có chương trình cho mỗi người chúng ta. Đó chính là chương trình tốt đẹp nhất. Nhưng nếu ta không cộng tác, thì chương trình ấy không thực hiện được. Để chương trình của Chúa được thực hiện, ta hãy noi gương Đức Mẹ, nói tiếng “Xin vâng” với Chúa. Hãy biết bỏ ý riêng để vâng theo ý Chúa. Hãy biết bỏ chương trình riêng để đi vào chương trình của Chúa. Hãy xin vâng khi vui. Hãy xin vâng khi buồn. Hãy xin vâng khi hạnh phúc. Hãy xin vâng khi đau khổ. Hãy noi gương Đức Mẹ, xin vâng trong ngày truyền tin vui tươi, và xin vâng cả khi đứng dưới chân thập giá đau buồn. Xin Vâng từng giây phút trong cuộc đời. Khi chương trình của Chúa được thực hiện, ta sẽ được hạnh phúc và đem hạnh phúc cho những người chung quanh ta.
Lạy Mẹ, xin dạy con hai tiếng XIN VÂNG như Mẹ. Amen.
ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt
Anh chi Thu Mai goi
Mỹ và 11 quốc gia đạt thỏa thuận TPP
Nguoi-viet.com
ATLANTA, Hoa Kỳ (NV) – Hoa Kỳ, Nhật và 10 quốc gia khác hôm Thứ Hai đạt thỏa thuận về tự do mậu dịch lớn nhất trong hơn thập niên nay.

Một công nhân làm việc trong xưởng may giày ở Sài Gòn. Việt Nam sẽ là
một trong các quốc gia tham gia TPP. (Hình: Getty Images)
Đây là một nỗ lực đầy tham vọng của Tổng Thống Barack Obama nhằm liên kết các nền kinh tế trong một khu vực rộng lớn của thế giới.
Bản tin của tờ Washington Post cho hay thỏa thuận này là kết qủa của hơn năm năm thương thảo khó khăn về một vấn đề trọng yếu trong các chương trình kinh tế của ông Obama và có thể sẽ là một dấu ấn quan trọng ông để lại sau thời gian cầm quyền.
Các thương thuyết gia trong tuần qua đã hối hả có các cuộc thảo luận để tạo sự đồng thuận về các điểm trong thỏa ước đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Hôm Chủ Nhật, các kế hoạch công bố thỏa thuận đã mấy lần phải đình lại vì các phía vẫn còn tranh cãi về chi tiết kỹ thuật của một số vấn đề liên quan đến việc tiếp cận thị trường sản phẩm sữa cũng như các loại thuốc thế hệ mới.
Theo tờ Washington Post, các vấn đề tạo nhiều tranh cãi gồm cả việc giảm mức thuế nhập cảng cho sản phẩm nông nghiệp, xe cộ cũng như quyền sở hữu trí tuệ cho các loại thuốc và phim ảnh, tự do internet, bảo vệ đời sống hoang dã, buôn bán trên mạng và giải quyết tranh chấp giữa các công ty đa quốc gia.
Tổng Thống Obama cũng nhiều lần đích thân can thiệp vào những ngày cuối của cuộc thảo luận, gọi điện thoại cho một số nhà lãnh đạo, kể cả Thủ Tướng Úc Malcolm Turnbull.
Bước tới cũng rất quan trọng đối với ông Obama là vận động để Quốc Hội thông qua đạo luật này, sớm nhất là đầu năm tới, tờ Washington Post cho hay. (V.Giang)
Vừa qua VTV1 và hàng loạt cơ quan truyền thông của đảng CS đưa tin: Nguyên nhân nhà 8b Lê Trực cao hơn 16 m, rộng hơn 6. 000 m2 so với giấy phép là do cơ quan chức năng phường, quận “không xử lý kiên quyết, dứt điểm”.
Tôi cam đoan nếu giở lại ngàn, vạn, chục vạn… hồ sơ xây dựng không phép, sai phép ở Hà Nội cũng như các thành phố ở Việt Nam (có lẽ trừ Đà Nẵng thời ông Nguyễn Bá Thanh lãnh đạo) thì hầu hết có hiện tượng này. Tức các công trình không / sai phép đều bị phạt thậm chí ra lệnh ngừng thi công nhiều lần nhưng cuối cùng công trình vẫn hoàn thành, tồn tại. Hiện tượng này được gọi là cách quản lý đô thị “phạt cho tồn tại” của thời đại tham nhũng là “quốc sách” đã diễn ra từ nhiều chục năm nay.
Theo quan sát và phản ánh của nhân dân, những người hoàn thành trót lọt một ngôi nhà, cái cổng, cái hố xí… không, sai phép là như thế này: Bước đầu chủ đầu tư lén gặp “cơ quan chức năng” hoặc người môi giới thỏa thuận cách thức tiến hành, giá cả (từ vài triệu, chục triệu, trăm triệu, vài tỷ… tùy quy mô công trình) để xây công trình. Khi đã thỏa thuận, trao tiền xong, gia chủ cứ việc xây. Khi công việc xây móng đang tiến hành thì cơ quan chức năng “phát hiện” sốt sắng đến lập biên bản, phạt vài trăm ngàn, vài triệu đồng (tùy công trình lớn, nhỏ) đúng quy định có hóa đơn đỏ hẳn hoi. Sau khi “chức năng” ra về chủ đầu tư vẫn tiến hành xây như không có chuyện gì xảy ra. Khi công trình xây lên một hai tầng thì “chức năng” lại “ập đến” lập biên bản dừng thi công lần nữa nhưng gia chủ vẫn cứ tiến hành công việc. Với công trình lớn hàng chục tầng thì “chức năng” kiểm tra, phạt chiếu lệ vài lần, có khi cả chục lần. Theo phản ánh của những người xây nhà không, sai phép xin dấu tên thì những năm 2012 đến nay ở các quận nội thành Hà Nội xây một nhà sàn rộng 60-70 m2, ba tầng trên đất hợp pháp nhưng chưa có sổ đỏ thì giá “trọn gói” không hóa đơn là 150 triệu đ. Đất lấn chiếm, lưu không 300-400 triệu đ. Cũng có những trường hợp “chức năng” thu theo tầng. Trừ phần móng “nặng đô” 100-150 triệu đ sau đó cứ mỗi tầng thu 50 triệu đ (không hóa đơn)… Điều này giải thích tại sao ở nhiều nơi nhất là ở khu tập thể của cán bộ nhân viên ngành hàng không Việt Nam khu vực sân bay Gia Lâm, Tân Sơn Nhất (chắc chắn nhiều nơi khác cũng như vậy)… phần lớn xây nhà từ khi không có sổ đỏ (tức không được cấp phép xây nhà kiên cố cao tầng) nhưng nay hầu hết nhà cửa nguy nga, bệ vệ, ung dung là như vậy.
Đây là kịch bản lý tưởng để tham nhũng hoành hành, vớ bẫm mà vẫn an toàn gần như 100%. Bởi vì, hầu hết nhà cửa kiên cố đã xây xong không vi phạm quy hoạch xây dựng công trình của nhà nước, không ai kiện cáo thì không ai ngoài “cơ quan chức năng” nhòm ngó, xử lý, tháo dỡ làm gì do “chính quyền thông cảm, quan tâm lợi ích của người dân”. Nếu bất quá gặp trường hợp vụ việc quá lớn (như nhà 8b Lê Trực… chẳng hạn) khi điều tra ra thì “sai phạm thuộc chủ đầu tư tự ý thi công sai phép, không phép” còn cơ quan chức năng và lãnh đạo địa phương đã làm đúng chức năng kiểm tra, xử phạt, yêu cầu dừng thi công nhiều lần nên chỉ có “thiếu sót không xử lý kiên quyết, dứt điểm”.
Với công trình 8b Lê Trực thì kịch bản còn có vẻ công phu hơn nhiều: Ngoài cơ quan chức năng cũng kiểm tra, phạt, dừng thi công… nhiều lần họ còn “xin ý kiến Bộ Quốc phòng”. Rõ ràng đây là thủ đoạn cố tình làm sai rất bài bản của nhà đầu tư vì họ nhờ cả “nhà nước B” bảo kê với khẳng định mập mờ “công trình không vi phạm tĩnh không”. Phải chăng đây là sự lừa đảo bịp bợm? Bởi vì, khu vực Ba Đình là nơi cấm bay vĩnh viễn, không có đường bay nào qua đây, trừ trường hợp máy bay nhỏ biểu diễn trong các dịp lễ lạt với độ cao ít nhất 500 m. Hơn nữa, việc tham khảo tĩnh không là thuộc chức trách thành phố Hà Nội chứ Bộ Quốc phòng nào làm việc với từng chủ đầu tư? Ngay ở sân bay Gia Lâm, Tân Sơn Nhất máy bay lớn hạ, cất cánh nhưng người ta còn xây sân golf, nhà cao từ 4 đến hơn 10 tầng sát đường lăn hoặc cách đường băng chỉ 200-400, 500 m kia mà.
Theo dư luận những ngày gần đây thì ngoài phải chi số tiền “bôi trơn” rất lớn để khu đất vàng 8b Lê Trực này không xây trường học (đang rất thiếu) mà xây công trình thương mại thì chủ đầu tư đã phải “cưa đôi” số lợi tăng thêm chiều cao ngôi nhà 16 m và diện tích 6.000 m2. Nghĩa là với giá bán căn hộ 65-78 triệu đ/m2 nhân với 6.000 m2 rồi “cưa đôi” thì cái cơ quan chức năng “không xử lý kiên quyết, dứt điểm” và có thể cả cấp trên của họ sẽ có 195-234 tỷ đ?
Với những số tiền khổng lồ ấy nếu có mà phải nhận kỷ luật phê bình hay cảnh cáo “nghiêm khắc” do “xử lý không kiên quyết dứt điểm” thì có ai trong bộ máy đã từng cho hoàn thành công trình “hàm cá mập” ở bờ hồ Hoàn Kiếm, lừa cho xây khách sạn trong công viên Thống nhất, Thủy cung Thăng Long, nhà 9 tầng không phép ở Xuân La, mưu toan tàn sát, trộm cắp cả rừng cây xanh Hà Nội… từ chối không nhỉ?
Bộ máy tham nhũng áp dụng quy trình “phạt cho tồn tại” phá nát các thành phố Việt Nam, biết đến bao giờ mới chấm dứt?
N. Đ. A.
Người biểu tình Campuchia đốt cờ Việt Nam bên ngoài Đại sứ quán Việt Nam ở thủ đô Phnom Penh hồi cuối năm 2014.
04.10.2015
Gần 2 nghìn người, phần lớn là người Việt, đã bị chính quyền Phnom Penh trục xuất trong 9 tháng đầu năm 2015, số liệu của chính phủ Campuchia cho biết.
Tính từ tháng Một tới tháng Chín năm nay, 1.919 người đã bị đuổi khỏi vương quốc này, trong đó có 90% là người gốc Việt.
Theo con số mà cơ quan nhập cảnh Campuchia công bố, tỷ lệ người Việt Nam bị trục xuất gia tăng kể từ năm ngoái.
Năm 2014, trong khoảng thời gian từ tháng Bảy và tháng 12 khi số liệu được ghi nhận, có 1.307 vụ trục xuất, trong đó người Việt chỉ chiếm hơn 80%.
Phe đối lập Campuchia bấy lâu nay thường sử dụng “con bài” người Việt ở Campuchia để cáo buộc chính quyền Phnom Penh nhân nhượng Hà Nội.
Chưa rõ là việc Campuachia trục xuất nhiều người Việt như trên có nhằm mục đích chứng tỏ sự cứng rắn đối với vấn đề nhập cư cho những người phản đối thấy hay không.
Ngoài người Việt, các di dân trái phép còn từ các nước như Trung Quốc, Nigeria, Mỹ, Anh, Pháp và Italia.
Theo các quan chức địa phương, những người bị trục xuất không có giấy tờ nhập cảnh hợp pháp, giấy phép làm việc và thường vào Campuchia trái phép qua các tuyến đường không chính thống.
Tổ chức nhân quyền Adhoc hoan nghênh việc chính phủ minh bạch về con số người bị trục xuất, nhưng nhấn mạnh rằng họ cần phải được đối xử công bằng.
Ngoài vấn đề di dân, phe đối lập cũng thường cáo buộc chính quyền “dâng đất” cho Viêt Nam.
Trả lời VOA Việt Ngữ khi biểu tình bên ngoài trụ sở Liên Hiệp Quốc hôm 26/9, ông Thành Kiên, một người Khmer Krom, nói với VOA Việt Ngữ: “Nếu mà giải quyết vụ đất đai không được hoặc không thể giải quyết cái vụ người Việt Nam ở trên đất nước Campuchia bất hợp pháp quá nhiều thì nên cho [Thủ tướng] Hun Sen ra đi”.
Theo Phnom Penh Post, VOA
Công an Việt Nam ‘tính sổ’ với ‘Otofun’
HÀ NỘI (NV) – Công an Hà Nội vừa mời các thành viên quản trị “Otofun” đến “làm việc” về những nội dung đã được đăng và thảo luận trên trên diễn đàn này

Viên đại úy tên Vũ Việt Đức trong video clip đang gây rắc rối
cho “Otofun.” (Hình: tintuc.vn)
“Otofun” là tên của một trong hai diễn đàn trên Internet dành cho những người yêu thích xe hơi ở Việt Nam. Diễn đàn còn lại là “Otosaigon.” Từ năm ngoái đến nay, “Otofun” và “Otosaigon” được nhiều người chú ý và hoan nghênh vì là nơi tập hợp rất nhiều video clip và các bài viết giới thiệu cách thức đối phó với nạn mãi lộ của cảnh sát giao thông Việt Nam.
Qua “Otofun” và “Otosaigon,” các video clip ghi lại những cuộc tranh luận với cảnh sát giao thông Việt Nam và các bài viết tập hợp những quy định hiện hành, chỉ dẫn cách thức vô hiệu hóa các chiêu, trò làm tiền của cảnh sát giao thông Việt Nam đã được trích dẫn, giới thiệu trên nhiều diễn đàn điện tử và mạng xã hội khác.
“Otofun” và “Otosaigon” được xem như một trong cú hích, khuyến khích dân chúng Việt Nam sử dụng camera, điện thoại di động ghi lại những hành vi, lời nói không thể chấp nhận được của cảnh sát giao thông Việt Nam nói riêng và công an Việt Nam nói chung để bày ra trên Internet. Do áp lực của công luận, cả cảnh sát giao thông Việt Nam lẫn công an Việt Nam đã phải xử lý nhiều thuộc cấp vì những thuộc cấp này bị “bắt tận tay, day tận trán.”
Mới đây, “Otofun” tiếp tục giới thiệu một video clip ghi lại cảnh hai cảnh sát giao thông đã lăng mạ và đánh một người dân khi ông ta đòi cảnh sát giao thông chứng minh ông ta đã vượt đèn đỏ ở ngã tư Giải Phóng-Đại Cồ Việt, thành phố Hà Nội.
Bởi video clip rất rõ ràng nên hôm 1 Tháng Mười, phòng cảnh sát giao thông của công an Hà Nội đã buộc phải tạm đình chỉ công tác của một viên đại úy tên là Vũ Việt Đức – kẻ mà qua video clip vừa kể cho thấy đã nói năng hết sức mất dạy và hành xử hết sức thô lỗ.
Tuy nhiên lần này, những người điều hành “Otofun” đã gặp rắc rối. Họ bị công an Hà Nội mời “làm việc” vì phòng cảnh sát giao thông của công an Hà Nội có công văn của đề nghị phòng cảnh sát phòng chống tội phạm công nghệ cao cũng của công an Hà Nội xác minh xem ai là người đưa video clip vừa kể lên Internet và những ai là người đã dùng những lời lẽ thiếu văn hóa, xúc phạm lực lượng công an.
Mới đây, trả lời BBC, ông Nguyễn Mạnh Thắng, người quản trị “Otofun” bảo rằng, công an Hà Nội chỉ tìm thông tin về những thành viên đưa video clip lên diễn đàn. Ông Thắng phủ nhận tin đồn là công an Hà Nội đã buộc các thành viên quản trị “Otofun” phải cam kết không để cho các thành viên nói xấu công an.
“Otofun” hiện có một quy định: “Tuyệt đối không đăng tải/chia sẻ/dẫn link/bàn luận các chủ đề về chính trị. Không đăng tải các tin tức, hình ảnh gây không rõ ràng, gây tranh cãi và/hoặc khởi nguồn cho các bình luận thiếu tính xây dựng.”
Có thể vì vậy, một thành viên của “Otofun” góp ý rằng, dường như admin và nhiều thành viên của diễn đàn quá sợ hãi trước hai từ “chính trị.” Thành viên này nhấn mạnh, tán dương hay phê phán công an không phải là chuyện “chính trị.” Công an là công bộc. Đừng khoác yếu tố “chính trị, chính em vào đó.” Góp ý này hiện đã bị xóa.
Cũng cần nhắc lại là hồi Tháng Năm vừa qua, công an Hải Phòng đã bắt giữ hai Facebooker ở Hải Phòng sau khi họ lập một trang Facebook để chỉ dẫn mọi người tránh các điểm mà cảnh sát giao thông Hải Phòng thường rình rập. (G.Đ)
LỜI TRẦN TÌNH ĐÁNG SUY TƯ CỦA MỘT CỰU LINH MỤC
Trên tờ Records của giáo phận Perth, Australia, có đăng lời tâm sự của một cựu linh mục, một nhà thần học sau gần 20 năm trong thiên chức linh mục, nay đã hoàn tục. Bài tâm sự này là một lời cảnh báo cho tất cả chúng ta không nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện hằng ngày.
“Không có gì tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa, trong Đức Kitô. Tôi xác quyết rằng dù sống hay dù chết, dù tù đày, bắt bớ, dù khốn cùng, quẫn bách. Không có gì tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa, trong Đức Kitô”.
Tôi đã nhiều lần gân cổ, mặt đanh lại khi hát những câu hát trên. Cứ tưởng như là chỉ cần gào to lên như vậy thì tôi sẽ đời đời sống trong lòng mến của Thiên Chúa.
Thật ra, cũng không hoàn toàn là vô lý. Thật sự, đúng là tù đày, bắt bớ, khốn cùng, quẫn bách đã không tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa. Nhưng, đơn giản là vì những thứ ấy không xảy ra trên đất nước tự do này. Ai dám bỏ tù tôi, ai dám kỳ thị tôi, ngược đãi tôi vì tôi là người Công giáo, tôi kiện họ lên tới Tối Cao Pháp Viện chứ chơi à.
Tuy nhiên, đã có một thứ nhẹ nhàng hơn, êm ái hơn đã không chỉ tách tôi mà thực sự là “bứng” tôi hoàn toàn khỏi lòng mến của Thiên Chúa: một đời sống bận rộn và thiếu sự cầu nguyện.
Năm 1972, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ thần học ở Rôma, tôi đã nổi như cồn với tác phẩm đầu tay “Tiếng thở dài.” Cuốn sách trình bày những suy tư thần học về ý nghĩa của sự đau khổ trong kiếp nhân sinh này, đã được bề trên, các linh mục và anh chị em giáo dân đón nhận nhiệt liệt.
Có những người viết thư cho tôi cho biết họ tìm lại được đức tin sau khi đọc cuốn sách đó. Họ tìm lại được lòng trông cậy vào Chúa và khen nức nở các ý kiến của tôi.
Mỗi khi có chuyện không như ý, theo lời khuyên trong cuốn sách, họ cầu nguyện với Chúa: “Lạy Chúa, con biết Chúa hằng yêu thương con. Con phó thác mọi sự trong tay Chúa. Nhưng, lạy Chúa, qua chuyện không vui này, Chúa muốn nói với con điều gì?”
Khốn nạn thân tôi, trong khi khuyên người ta cầu nguyện, tôi càng ngày càng ít dành thời gian cho việc cầu nguyện. Tôi miệt mài trong các thư viện, cố viết hay hơn nữa, nhiều hơn nữa. Tôi tưởng tôi đã gặp được Chúa trong những suy tư thần học, cho nên tôi xao lãng đời sống cầu nguyện, tôi đã không thực hành chính những điều tôi nói và viết hằng ngày trên bục giảng và trong các tác phẩm của tôi. Có lẽ, tôi đã cho rằng cầu nguyện chỉ là hình thức cấp thấp dành cho những người bình dân. Siêu đẳng như tôi thì không cần. Càng ngày tôi cũng càng ít có giờ cho giáo dân và càng ngày tôi càng bướng bỉnh và kiêu căng với các đấng bề trên. Chuyện gì đến cũng đã đến. Tôi không muốn sa vào những phân tích vụn vặt. Điều tôi muốn nói với các bạn sau nhiều năm suy tư, sau những đêm dài không ngủ và trong sự hối tiếc chân thành của tôi là sự thật đơn giản này: Những hiểu biết sâu hơn về Thiên Chúa, nhiều hơn về Thiên Chúa không giúp giữ tôi trong lòng mến của Ngài. Chính đời sống cầu nguyện đơn sơ mà mẹ tôi tập cho tôi từ ngày còn bé mới giữ tôi lại trong tình yêu thương của Thiên Chúa.
Chẳng vậy, mà trong Phúc âm biết bao nhiêu lần chúng ta gặp câu này: “Sau đó, Người lui vào một nơi thanh vắng mà cầu nguyện.” Chính Chúa Con mỗi ngày còn cần đến sự cầu nguyện ở nơi thanh vắng để hiểu được ý Chúa Cha. Chúng ta là ai, tư cách gì, mà đòi có thể biết được ý Chúa qua trí khôn, qua sự xét đoán nông cạn của mình trong cái náo nhiệt, bận rộn của cuộc sống quay cuồng chung quanh.
Chẳng vậy, tất cả các lần Đức Mẹ hiện ra, Mẹ đã không nói gì nhiều hơn là lặp lại tiếng kêu gọi khẩn cấp hãy cầu nguyện đó sao. Chúng ta cũng nhìn thấy điều này nơi các Thánh mà chúng ta hằng tôn kính. Chính sự cầu nguyện đã giúp các Ngài nên Thánh.
Tôi đặc biệt mong muốn lặp lại ở đây những điều Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã viết trong cuốn “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng”: Việc cầu nguyện vừa là tìm tòi Thiên Chúa, vừa là mặc khải Thiên Chúa. Nơi việc cầu nguyện của ta, Thiên Chúa tỏ rõ Ngài là Đấng Sáng Tạo và là Cha, là Đấng Cứu Chuộc và là Chúa Cứu Thế, là Thần Khí “dò thấu mọi sự, cả đến những gì sâu xa nhất của Thiên Chúa” (1 Cr 2, 10), cũng như dò thấu những gì bí mật của tâm hồn.
Trong việc cầu nguyện, trước hết, Thiên Chúa tỏ ra Ngài là tình thương xót, nghĩa là một Tình yêu đi tới gặp con người đau khổ. Tình yêu này nâng đỡ, vực dậy và mời gọi chúng ta hãy tin tưởng.”
Trên tất cả mọi sự, tôi nhận rõ rằng chính việc thiếu một đời sống cầu nguyện đã giết chết ơn gọi Linh mục trong tôi.
Trích “Nên thánh trong thời đại mới”, Kilian Mc Gowan, C.P
Người dịch LM JBM Trần Minh Cương
– Chúa ở cùng anh chị em.
Dừng lại một chút, ta thấy những nghi thức này trong thánh lễ quá kỳ diệu.
Chúa ở cùng anh chị em là gì? Tại sao linh mục cần nhận lại lời cầu chúc:
– Và ở cùng cha.
* * *
Nhiều lần, nhiều nơi, trong nhiều thánh lễ, khi nói lời cầu chúc này, theo cách thế bên ngoài, thì có linh mục không nói bằng tâm hồn. Nói qua cho xong. Vì linh mục vừa nói, nhưng không đối thoại với giáo dân, thiếu chuẩn bị nên đang bận mở sách. Hoặc vì muốn chóng xong, cắt ngắn thời gian. Không có thời gian đón nhận lời giáo dân cầu chúc: Chúa ở cùng cha. Giáo dân đáp lại cho có lệ. Những lời chúc như thế trong thánh lễ nhạt nhẽo làm sao! Khi họ không tha thiết trong lời cầu chúc, thì làm sao dám nói họ thiết tha trong mong ước Chúa thật sự đến với người họ cầu chúc. Nếu vậy, Chúa ở đâu trong mối tương quan họ với Chúa, với nhau? Thiếu tha thiết trong lời cầu chúc, thì khó mà xác định mình thiết tha Chúa đến với người mình chúc. Từ đó, làm sao định nghĩa đấy là một thánh lễ sốt sáng.
Khi họ không nhận định kỹ “Chúa ở cùng anh chị em” là gì, thì làm sao rõ “Chúa ở cùng chúng ta”, và “Chúa ở cùng tôi” quan trọng đến đâu. Họ đánh mất ý nghĩa tên gọi EMMANUEL.
EMMANUEL là tên gọi của Thiên Chúa. Bởi đó, lời cầu chúc trong thánh lễ “Chúa ở cùng anh chị em” là lời rất quan trọng. Và, thánh lễ là gì nếu chúng ta để mất vẻ đẹp: CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA?
* * *
EMMANUEL
– Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt. 2:24).
Khởi đầu Phúc Âm, Mátthêu giới thiệu tên của Thiên Chúa là Emmanuel, nghĩa là tên gọi đó được phiên dịch ra: Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Và rất đẹp, hôm nay chúng ta cụ thể hóa tên gọi đó trong lời chào của thánh lễ: “Chúa ở cùng anh chị em.” “Và ở cùng cha.”
Kết thúc Phúc Âm, Mátthêu để chính Ðức Kitô tự nói về mình bằng lời chấm dứt như sau: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt. 28:20).
Mở đầu và kết thúc một cuốn sách là dẫn vào và đưa tới cho người đọc toàn thể cuốn sách đó nói gì. Tư tưởng trọn gói ở đây, tên gọi của Thiên Chúa là ở cùng con người.
* * *
TÌNH YÊU VÀ Ở CÙNG
Thiên Chúa không yêu thương con người bằng cách từ trên cao nhìn xuống.
Thiên Chúa không cứu chuộc con người bằng cách ở trên cao vớt con người lên.
Thiên Chúa xuống thế làm người. Thiên Chúa ở cùng.
Trong cuộc sống nhân loại, con người thường cứu nhau bằng sức mạnh của kẻ hơn. Kẻ có sức mạnh hơn, nhìn xuống kẻ yếu. Tôi giàu có hơn, tôi giúp đỡ anh. Tôi khỏe mạnh hơn, tôi vớt anh lên.
Màu nhiệm tình yêu Thiên Chúa lại không như thế. Mà là một tình yêu ở cùng. Kinh Thánh chỉ định, tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng.
Tại sao tình yêu lại hệ tại ở cùng mà không phải ở trên thương xuống?
Tại sao tình yêu lại không là nhìn xuống để vớt lên mà lại là cùng xuống để nhìn?
Phêrô cũng thế, đã có lần Ðức Kitô gọi Phêrô là Satan. Nhưng Ngài không đuổi Phêrô. Ngài bảo: “Lui lại đàng sau Thầy.” Lui lại phía sau, chứ không là đuổi đi xa. Vì Satan đang ở trong con, nên con cần ở cùng Thầy.
Ðời người là những chặng đường kiếm tìm. Huyền nhiệm cuộc sống mở ra như những cánh hoa. Một ngày không tìm kiếm là một ngày chết ủ. Cánh hoa phải mở ra, bật lên thành màu. Bấy giờ mới là cánh hoa. Cuộc sống cũng thế, những ấp ủ băn khoăn kia phải bật lên thành màu mới là cuộc sống. Và ta phải tìm kiếm. Tại sao tình yêu lại hệ tại ở cùng? Nhất là tên gọi kia của tình yêu Thiên Chúa. Tại sao lại là Thiên Chúa ở cùng chúng ta? Ðể giúp người học trò tìm kiếm. Nhà đạo sĩ hỏi người học trò:
– Ngày con đau, mẹ con không là thầy thuốc. Bà không có quyền lực cứu con khỏi bệnh. Sao bà cứ đứng bên giường nhìn con, ngay cả khi con ngủ?
Tình yêu không cứ là “doing”, mà là “being.” Nghĩa là ở cùng. Thật ra, ở cùng, không phải là không làm gì. Bởi “ở cùng – being” đúng nghĩa là sự hiện hữu trọn gói. Khi linh mục nói “Chúa ở cùng anh chị em”, mà chỉ nói vì công thức cho qua. Như thế, sẽ là có “doing” đó, nhưng vắng mặt của “being.” Khi bà mẹ nhìn con ngủ trong cơn đau. Cứ chốc chốc, bà đến bên giường nhìn con ngủ. Bà không có năng lực chữa bệnh cho con. Bà không “doing” được điều gì theo nghĩa sản xuất. Bà chỉ hiện diện trọn gói tâm hồn bà ở đó. Ðấy là chiều sâu của ngôn ngữ ở cùng, là “being.”
Trong cuộc sống, tôi cần một người nhìn tôi. Nói với tôi là cuộc sống, có họ ở cùng với tôi. Người vợ dọn cơm chiều, chỉ mong chồng về, đến bên cạnh, thầm nói rằng “anh ở cùng em.” Buổi chiều đó có thể trở thành hương hoa. Họ cần cái ở cùng này. Người ta kinh nghiệm trong cuộc sống thực như thế. Không ai chỉ hạnh phúc bởi tấm pay check, có “doing” mà không có “being”. Trong nỗi đau, con người thường kêu:
– Lạy Chúa, xin cất chén đắng này cho con.
Họ muốn Thiên Chúa “doing”. Chúa hãy lấy quyền năng mà hành động. Nếu Chúa không cất nỗi đau cho con mà chỉ “being”, nghĩa là chỉ đau với con thôi thì có ích gì. Người ta lý luận tình yêu thì phải cụ thể bằng hành động. Chúa thương tôi, Chúa phải hành động, xin hãy tặng tôi những món quà tôi xin. Tình yêu Thiên Chúa lại không như thế. Thay vì cứu con người khỏi chết thì lại chết với con người. Thay vì cứu con người khỏi đau thì lại đau với con người. Trong nỗi bực dọc, con người oán trách Thiên Chúa. “Ông không phải là Ðấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với! (Lc. 23:39). Con người thách thức Thiên Chúa, cứu tôi đi, nếu thực sự thương tôi. Rồi tôi sẽ tin. Ðức Kitô không lấy quyền năng để cứu những tiếng kêu này. Ngài cũng không lấy quyền năng thoát khỏi cái chết này.
Tại sao tình yêu không là cứu người mình yêu khỏi chết, mà là chết cùng?
Trước khi tiếp tục đề tài. Vị đạo sĩ nhắc người học trò về một kinh nghiệm:
– Nỗi đau là không có ai đau cùng, chứ chưa hẳn là không có ai cất cho mình nỗi đau. Làm sao con có năng lực làm cho người chết sống lại? Con không cất được nỗi đau đó. Nhưng nếu con đau cùng, “being” bên cạnh người đang đau. Thì nỗi đau kia nhẹ vơi. Làm sao trong tình yêu mà người ta nói: Anh không cất được nỗi đau của em. Rồi người đàn bà đi sanh con một mình. Người đàn ông rất thực tế. Tôi không sanh con thay vợ tôi được. Tôi không “doing” gì được. Ông ở nhà đi câu.
Hạnh phúc và đau khổ không là cứu, là cho, mà là ở cùng.
Thiên Chúa ở cùng.
Ðó là ý nghĩa EMMANUEL, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
Khi cho một món quà là cho một phần tài sản. Khi cho chính mình là cho hết. Không thể cho hết khi mình không cùng giống thân phận người đó. Bởi thế, vô cùng tuyệt vời khi Phúc Âm tường thuật về người lính canh như sau:
Ðức Giêsu lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở. (Mc 15: 37).
Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Ðức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói:
Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15: 39).
Hai sự kiện đặc biệt trong cụm từ “Tắt Thở” mà ta phải kiếm tìm.
– Thứ nhất, lúc tạo dựng con người. Thiên Chúa thở hơi, cho Ađam sự sống. Bấy giờ Thiên Chúa chỉ cho một chút hơi thở. Nhưng ở đây, Ngài không cho một chút hơi, mà Tắt Thở. Nghĩa là cho hết không còn hơi để thở. Như thế, tên gọi EMMANUEL, càng ngày theo chiều lịch sử cứu độ càng trở nên rực rỡ. “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, lời tung hô ấy như ngọn pháo bông muôn màu bật tung lên trong thánh lễ.
– Sự kiện thứ hai là viên đội trưởng, lính canh nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa khi Ngài “Tắt Thở”. Tắt thở là giây phút yếu nhất của một đời người. Ðáng nhẽ ông ta phải nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa trong những việc quyền năng, những phép lạ lớn lao. Tại sao lại nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa trong giây phút yếu đuối nhất?
Trong giây phút yếu nhất ấy của Chúa Kitô, ông ta nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa. Còn chúng ta, chúng ta quá yếu đuối tâm linh nên không nhìn ra sức mạnh trong sự yếu đuối như người lính canh.
Ở cùng là trở nên một thân phận. Ðấy là chiều sâu khó nhất của tình yêu. Khó nhất mà cũng đẹp nhất. Phải trở nên thân phận thì mới hiểu. Hiểu mới có thể thương. Trong ý nghĩa này, thương bao giờ cũng phải là ở cùng.
Chiều sâu của tình yêu là ở cùng. Ðêm nay trời đã vào khuya. Con về ngủ đi. Tại sao Chúa Cha không lấy quyền năng như lời Ðức Kitô cầu xin, cất chén đắng này cho con?
Tại sao Chúa Kitô như quá cô đơn vậy?
“Lạy Cha, Cha bỏ con sao đành Cha?” Ðâu là ý nghĩa ở cùng?
Ðây là Tình Yêu và Quyền Năng. Chúng ta sẽ nói tới.
Trời khuya rồi. Ðêm thường nói với chúng ta nhiều ý nghĩa cuộc sống. Ðêm nói về thân phận mù lòa, vất vả đi tìm. Những giờ phút tăm tối cuộc sống, khổ làm sao. Nhưng nhờ đêm mà ta phải khắc khoải. Nhờ khắc khoải tìm kiếm mà hồn ta mới thức giấc. Và con ạ, không bao giờ đêm dài bất tận. Ngày mai có ánh bình minh.
Vị tôn sư đi về am thất. Người học trò vẫn ngồi lại. Anh đang nhìn vào cõi sáng của bóng đêm. Thứ cõi sáng và bóng đêm của riêng anh.
* * *
Từ lời cầu chúc “Chúa ở cùng anh chị em.” “Và ở cùng cha.” Thánh lễ phải là mầu nhiệm diễn tả tên gọi làm người của Thiên Chúa, EMMANUEL, Chúa ở cùng chúng ta. Mỗi thánh lễ, nếu ta trân trọng trong lời chào này, thì thánh lễ quá ngọt ngào. Thánh lễ là một diễn giải tuyệt vời mầu nhiệm Thiên Chúa yêu thương. Chúng ta hạnh phúc nối tiếp bí tích kỳ diệu đó qua những lời chào mang cả một chiều kích thần học rất sâu:
– Chúa ở cùng anh chị em.
– Và ở cùng cha.
(Trích tập suy niệm “KẺ ÐI TÌM”)
Anh chị Thụ Mai gởi
Tạp ghi Huy Phương
Hồ Anh Thái, sinh năm 1960 tại Hà Nội, là một nhà văn đương thời của Việt Nam, từng là chủ tịch Hội Nhà Văn Hà Nội trong vòng 10 năm, tác giả của gần 30 tác phẩm và đoạt bốn giải thưởng “nội địa.” Ông được xem thuộc thế hệ nhà văn thời hậu chiến và là một nhà ngoại giao, tiến sĩ Văn Hóa Đông Phương, hiện giữ chức vụ phó đại sứ Việt Nam tại Iran.
Nói về Hồ Anh Thái, Anh Chi, trong tạp chí Nghiên Cứu Văn Học Hà Nội đã ca tụng: “Bây giờ nhìn nhận hiện tượng văn chương Hồ Anh Thái, chúng tôi nghĩ, anh đã và đang tiếp tục sáng tác những tác phẩm chứa đựng nhiều phẩm chất văn hóa,” hay “…Với lao động sáng tạo liên tục và mang tính chuyên nghiệp, anh đã thể hiện bản lĩnh của một nhà văn hàng đầu ở Việt Nam trong thời đại văn chương nước ta hội nhập với văn chương thế giới!” Nói chung Hồ Anh Thái được ca tụng như một nhà văn lớn, có tầm cỡ quốc tế của Việt Nam.
Như vậy, khi Bắc Việt chiếm miền Nam, Hồ Anh Thái mới 15 tuổi, chưa đến tuổi ra trận, trước 1975 chỉ mới là loại thiếu nhi khăn quàng đỏ, đánh trống ếch và thuộc lòng “ai yêu bác Hồ Chí Minh bằng các em nhi đồng,” bị nhiễm độc bằng lối tuyên truyền xảo trá Mỹ đang xâm lược miền Nam và lính ngụy là bọn ăn thịt người. Thời nhỏ, có thể Hồ Anh Thái mục kích cảnh máy bay Mỹ dội bom xuống Hà Nội, thấy lửa cháy và những cái chết, muốn trở thành nhà văn, nhưng nếu muốn viết về chiến tranh, phải cần có kinh nghiệm sống, hay học hỏi, nghiên cứu, chứ không phải qua những câu chuyện kể của những người đi xâm lược miền Nam trở về sau ngày 30 Tháng Tư, 1975.
Khi đã trở thành người thắng cuộc, ai cũng là anh hùng, người lính có bao nhiêu điều phấn khởi, hả hê, khoác lác để kể chuyện cho bọn trẻ đang ngóng tai nghe. Một trong những đứa trẻ ấy lớn lên trở thành một nhà văn viết về chiến tranh, mà kinh nghiệm sống là chỉ cần nghe những kẻ bốc phét, hoang tưởng, kể lại những chuyện không có được một phần nghìn sự thật.
Câu chuyện lính ngụy ăn gan người, uống máu có lẽ đã được mô tả trong nhiều tác phẩm của các nhà văn miền Bắc trong và sau chiến tranh, chỉ với mục đích gây lòng căm thù cho quần chúng, nhưng nhà văn mới lớn sau 1975, Hồ Anh Thái đã đi quá đà, thêm câu chuyện moi gan, ăn tim bằng cách mô tả lính ngụy “quay” tử thi Việt Cộng, rồi “róc thịt uống rượu!” như sau:
“Hai ngày sau bọn địch phản công. Cả trung đội mình bị bằm nát. Thằng Thiết bị đạn găm đầy mình, vừa đưa tay ấn ruột vào, vừa bóp cò. Bọn ngụy ào lên như lũ quỷ, quyết bắt sống thằng Thiết. Như sau này anh em trinh sát kể lại, chúng quay thằng Thiết như quay một con lợn rồi róc thịt uống rượu trả thù cho đồng đội.”
Trong một cảnh khác, lính ngụy không quay Việt Cộng như quay heo, mà chỉ nổi lửa để nướng tim, gan ăn tại chỗ, đặc biệt trí tưởng tượng của nhà văn bắt đầu đi đến chỗ điên khùng khi viết: “Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp cao hơn.”
“…Cuối cùng, điều Hoa không ngờ đã tới. Cô chỉ nghĩ rằng bọn thám báo sẽ lôi Hùng đi làm tù binh để tiếp tục lấy khẩu cung. Nhưng thằng cầm con dao găm của anh đã cúi xuống rạch một đường thành thạo trên bụng Hùng. Anh quằn quại hét lên một tiếng rùng rợn. Ở trên cao, Hoa nghiến chặt răng gần như ngất đi. Hai thằng kia đè chặt chân tay Hùng cho thằng mổ bụng moi tim gan ra. Chúng nổi lửa nướng tim gan ăn ngay tại chỗ. Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp cao hơn.”
Hồ Anh Thái có thể chỉ nghe kể lại qua một nhân vật ngôi thứ ba, với chuyện lính ngụy quay người, moi tim gan uống rượu, nhưng với Dương Thu Hương, như lời người kể chuyện thật với nhân vật “chúng tôi” nói về lính thám báo miền Nam, hiếp dâm, xẻo vú và cửa mình thanh nữ xung phong miền Bắc:
“…Chúng tôi hướng vào góc rừng đã tỏa ra mùi thối khủng khiếp mà đi. Tới vực cô hồn, gặp sáu cái xác truồng. Xác đàn bà. Vú và cửa mình bị xẻo, ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh.
Nhờ những tấm khăn dù, nhờ những chiếc cổ áo sơ mi kiểu lá sen tròn và hai ve nhọn mà chúng tôi nhận ra đấy là những người con gái miền Bắc. Có lẽ họ thuộc một binh trạm hoặc một đơn vị thanh niên xung phong cơ động nào đó bị lạc. Cũng có thể họ đi kiếm măng hoặc rau rừng như chúng tôi rồi vấp bọn thám báo.
Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết! Những cái xác bầm đập méo mó! Da thịt con gái nõn nà tươi thắm vậy mà khi chết cũng thối rữa y như da thịt một lão già phung lỡ hay một con cóc chết!” (tiểu thuyết Vô Đề)
Phải chăng vì bọn ngụy ác độc, man rợ như vậy nên miền Bắc có quyền vẽ lên hình ảnh “người lính cụ Hồ” đáp lễ với những cách người hả hê, khát máu, để làm gương cho cả một thế hệ sôi sục vì căm thù:
“Quân ta ào lên, bắt giết, đâm, giẫm đạp. Một mụ ngụy cái, ngực để trần, miệng há ra ú ớ. Niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực mình. Mình găm vào ngực mụ cả loạt khiến ngực mụ vỡ toác mà mặt mụ vẫn chưa tắt hy vọng. Giết người lúc ấy sao thấy sướng thế! Một thằng ngụy bị mình xọc lê vào bụng, nghe ‘thụt’ một cái. Mình nghiến răng vặn lê rồi trở báng súng phang vào giữa mặt hắn. Hắn lộn một vòng, gồng mình giãy chết như con tôm sống bị ném vào chảo m…ỡ.” (Tạ Duy Anh, “Đi Tìm Nhân Vật,” tiểu thuyết, NXB Văn Hóa Dân Tộc, 2002.)
Tôi ở miền Nam, không biết ngoài mặt trận “con ngụy cái” này là ai, vì chúng tôi không có nữ quân nhân tham chiến, không lẽ đây là một người đàn bà trong ngôi làng, một cán bộ Xây Dựng Nông Thôn để lính Bắc Việt trút hết nỗi căm hờn và thỏa mãn thú tính lên cao độ như thế, một con chó cắn người hay một con cọp vồ mồi cũng không “thú” hơn” là chất “thú” của một người lính Việt Cộng?
– “Giết người lúc ấy sao thấy sướng thế!”
Ở ngoài mặt trận, không giết người thì người giết. Nhưng giết người mà thấy khoái cảm thì nhân loại chỉ thấy có người lính Bắc Việt. Ngay cả ISIS cắt cổ người cũng không có cái hả hê như thế! Tạ Duy Anh còn không che đậy, nói rằng “niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực mình!” Thì ra thế là đấu tranh, không phải tạo hạnh phúc cho người khác, mà là nếu họ hạnh phúc hơn mình, hãy giết hết họ, chẳng qua vì lòng ganh ghét.
Đó là nguyên nhân rõ ràng của “cải cách ruộng đất,” vì họ giàu hơn mình, của “thảm sát Mậu Thân,” vì họ sướng hơn mình.
Với Tạ Duy Anh “giết người thấy sướng,” đối với Dương Thu Hương “với khoái cảm không che đậy”:
“…Hùng thường nghĩ ra những cách giết người đặc sắc trong các trận giáp lá cà. Và gã kể lại cho đồng đội nghe với khoái cảm không che đậy. Kẻ thì gã xọc lê từ họng xuống tim, kẻ gã chọc từ nách bên phải qua bên trái, kẻ gã lại đâm từ hạ bộ ngược lên ở bụng. Kỳ thú nhất là một lần đánh ấp, gã bò vào phòng riêng một tên sĩ quan ngụy, chờ tên này dính chặt với cô vợ trắng phôm phốp của y như một cặp cá thờn bơn, gã mới phóng lê từ trên xuống. ‘Một xọc xuyên hai, bảo đảm là sướng mắt…’” (TTVĐ- chương 11)
Một sự thèm khát đầy dục vọng, ở đây Dương Thu Hương rất giống Tạ Dụy Anh hay Tạ Duy Anh rất giống Dương Thu Hương, ở chỗ “niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực.”
Đó là chưa nói đến chuyện bừa bãi, vô lý trong tình tiết một tên bộ đội bò “vào phòng riêng một tên sĩ quan ngụy,” “bị đạn găm đầy mình, vừa đưa tay ấn ruột vào, vừa bóp cò,” thám báo hoạt động trong lòng địch mà nổi lửa quay người hay hiếp dâm, xẻo vú!
Chuyện căm thù, dã man của người lính miền Bắc đã để lại trong một câu chuyện có thật, đó là cái chết của nhà văn Y Uyên, người sĩ quan của TK Bình Thuận năm 1966.
“Trên thân xác của Uy, khi chở về quân y viện, có những dấu đạn thừa, những dấu dao vô lối. Những dấu đạn, vết dao không thể cắt nghĩa được. Nếu không phải là chúng có từ những thù hận ghê gớm, những chất ngất căm hờn, thì không thể làm sao tìm ra lý do giải thích sự hiện diện của chúng trên thân hình một người đã chết.”
Tôi xin nhường sự phê phán ấy cho một nhà văn miền Nam:
“Tôi không hiểu bằng cách nào, trong cuộc chiến tương tàn, ròng rã hơn 20 năm này, những người lãnh đạo Cộng Sản đã dạy cho binh lính của họ như thể nào để lòng thù hận chất ngất mênh mông đến thế? Tôi chấp nhận những viên đạn thứ nhất là hợp lý – Ừ, thì cứ cho là hợp lý. Nhưng những viên đạn bắn bồi, những nhát dao đâm thêm trên một xác thân đã chết là những viên đạn, những nhát dao không thể cắt nghĩa, không thể chấp nhận được. Những người Cộng Sản Việt Nam đã làm những điều dã man như thế, khởi đi từ lòng thù hận, từ sự cuồng tín.” (“Núi Tà Dôn và Dấu Chân Uy” của Lê Văn Chính -Tạp Chí Văn, số 129, phát hành ngày 1 Tháng Năm, 1969)
Bốn mươi năm đã trôi qua, bây giờ người ta đang nói chuyện “hòa hợp hòa giải,” “khép lại quá khứ,” nhưng sau 40 năm cũng là lúc đã nhìn rõ mặt nhau. Có những nhà văn như thế đấy! Nếu có một cuộc xét lại, những nhà văn miền Bắc sẽ nghĩ gì về những tác phẩm “hoang tưởng” như thế? Và dù sao thì nó cũng đã để lại những vết dơ của nền văn hóa XHCN, còn ảnh hương lâu dài đến những nhận thức của những lớp người mới lớn lên sau khi Sài Gòn đổi tên.
Để kết luận bài này tôi xin ghi lại những câu thơ đầy lương tri của miền Nam viết trong chiến tranh:
“…Xem chiến cuộc như tai trời ách nước.
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi.”
(Nguyễn Bắc Sơn)
“…Trời ơi, những xác thây la liệt
Con ai, chồng ai, anh em ai?”
(Tô Thùy Yên)
Sự thật của lịch sử luôn luôn ẩn dấu rất nhiều điều bí mật, đôi khi sự tiết lộ của lịch sử cũng làm sụp đổ niềm tin và khiến nhiều người thất vọng hoàn toàn về thần tượng của mình. Kết quả như thế thường xảy ra ở các quốc gia độc tài, với lối tuyên truyền nhồi sọ và bưng bít thông tin, trong đó có cả Việt nam.
Mới đây ngày 30/9/2015, dư luận ở Việt nam đã xôn xao trước tin ông Hà Huy Hoàng, cựu phóng viên báo Thế giới và Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại giao, bị Tòa án Nhân dân TP Hà Nội kết án 6 năm tù vì cung cấp thông tin cho tình báo Trung Quốc. Điều đáng nói ở đây là trong các bình luận thì hầu hết người ta đều nguyền rủa ông Hà Huy Hoàng vì tội làm gián điệp cho Trung quốc, mà theo họ đó là điều nhục nhã và là vết nhơ muôn đời không thể rửa sạch. Có nghĩa là cho dù bất cứ nguyên nhân hay động cơ gì, thì việc làm gián điệp cho nước ngoài là điều người Việt nam không thể chấp nhận được.
Lâu nay, trong suy nghĩ của đa số người Việt nam, đặc biệt là những người lớn lên ở miền Bắc thì họ luôn được giáo dục rằng, cùng với Mark và Engels thì Lê nin là lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nông và nhân dân lao động trên toàn thế giới, là người thầy của cách mạng Việt nam v.v.. và v.v… Tuy vậy từ khi xuất hiện mạng thông tin internet thì mọi bí ẩn về vị lãnh tụ “đáng kính” này cũng dẫn dần bị tiết lộ. Ví dụ, bằng chứng cho rằng Lê nin chết vì bệnh giang mai, theo đó vào năm 2004 một nhóm bác sĩ Do Thái đã công bố một bài báo, dựa theo các triệu chứng ghi trong hồ sơ bệnh án của Liên Xô, họ đưa ra giả thuyết rằng Lenin đã mắc bệnh giang mai hơn 10 năm trước khi qua đời.. Đồng thời sau khi khảo sát các tài liệu và hồ sơ bệnh án của Lênin, Nhà sử học Helen Rappaport cũng đặt ra giả thuyết rằng ông đã chết vì bệnh giang mai, lây truyền từ một cô gái điếm ở Paris. Và giả thiết này vẫn tiếp tục tồn tại cho tới nay.
Hôm nay tình cờ được đọc trên trang Đại kỷ nguyên VN bài viết với tựa đề “Lênin làm gián điệp cho Đức được đưa vào sách giáo khoa ở Nga”, với nội dung cụ thể như sau:
Lênin làm gián điệp cho Đức được đưa vào sách giáo khoa ở Nga
Trong Thế chiến thứ nhất (1914 – 1918), nước Đức đã dùng thủ đoạn chiến tranh phi quân sự bằng cách mua chuộc phản đồ, gián điệp từ nước Nga, đối tượng mua chuộc chính là Lênin. (Ảnh: internet)
Gần đây, sách giáo khoa lịch sử thuộc cấp trung học phổ thông ở Nga đã phát hành phiên bản mới với một số sửa đổi quan trọng, trong đó nổi bật là việc cho rằng Liên Xô thuộc thời đại Lênin là một “địa ngục” và vạch trần bộ mặt thật của Lênin trong Thế chiến thứ nhất là nội gián của Đức.
Tài liệu chỉ ra: Trong Thế chiến thứ nhất (1914 – 1918), nước Đức đã dùng thủ đoạn chiến tranh phi quân sự bằng cách mua chuộc phản đồ, gián điệp từ nước Nga, đối tượng mua chuộc chính là Lênin, kẻ ngông cuồng muốn tận dụng cơ hội chính phủ Nga trong lúc khó khăn để lật đổ một cách hợp pháp và lên nắm quyền.
Từ 1915, nước Đức luôn đứng sau yểm trợ cho Lênin.
Năm 1917, Lênin lưu vong ở nước ngoài đã ngồi “chuyến tàu kín” do nước Đức bố trí, có binh lính hộ tống đi tới Peterborough. Ngày 8/4, Bộ Tổng tham mưu Đức đã báo cáo với Hoàng đế Đức khi đó là Wilhelm II rằng: “Lênin đã trở về Nga thuận lợi. Ông ta quả thực đã làm đúng ý của chúng ta.”[ads1]
Theo thống kê, nước Đức đã chi 50 triệu mác (khoảng hơn 9 tấn vàng) hỗ trợ Lênin làm “cách mạng”. Sách lược của người Đức đã thành công, cuối cùng nhờ công ơn của nước Đức mà Lênin đã làm “cách mạng” thành công, giành được chính quyền. Còn nước Đức cũng được trả ơn gấp hàng ngàn lần: “Hai nước Nga – Đức cuối cùng đã đình chiến làm hòa, Lênin không quan tâm đến thực trạng kiên quyết phản đối trong nội bộ Đảng (gồm cả nội bộ Bolshevik), đã ký kết Hiệp ước Brest với nước Đức, cắt 1 triệu km2 để bồi thường đền ơn 6 tỷ mác mà người Đức chi viện giúp đỡ.”
Sự thực lịch sử này nhân dân thế giới, gồm cả người Nga, hầu như đều biết, nhưng việc chính quyền Nga đưa vào sách giáo khoa lịch sử hiện nay là một tiến bộ lớn của lịch sử nước Nga.
Tóm tắt nội dung của bài viết cho thấy, Lê nin đã nhận tiền từ nước Đức 50 triệu mác (khoảng hơn 9 tấn vàng) để làm cách mạng ở Nga vào năm 1917 và sau khi nắm được chính quyền thì ông ta đã trả ơn nước Đức gấp hàng ngàn bằng cách cắt 1 triệu km2 để đền bù 6 tỷ mác để bồi thường và đền ơn cho người Đức do đã chi viện giúp đỡ. Nói tóm lại là Lê nin đã từng là một kẻ bán nước.
Thực ra về khách quan mà nói, một thông tin từ trang Đại kỷ nguyên VN thì cũng chưa có gì để đảm bảo rằng chuyện “Lênin làm gián điệp cho Đức được đưa vào sách giáo khoa ở Nga” đó là thông tin xác thực 100%. Tuy vậy nếu đối chiếu với các thông tin mà chúng ta đã từng biết đến nay, thì chuyện Lênin làm gián điệp cho Đức đều có cơ sở cả. Những chuyện như: Cuộc Cách mạng tháng 2 năm 1917 lật đổ chế độ Sa Hoàng và thiết lập một Chính phủ Lâm thời; chuyện Lê nin lưu vong ở Đức và được nước Đức yểm trợ để đưa về Nga làm Cách mạng Tháng 10/1917, vì nước Đức đã hy vọng Lenin sẽ gây ra tình trạng bất ổn chính trị ở Nga giúp Đức có thể chấm dứt chiến tranh tại Mặt trận phía Đông; Lê nin đã làm cách mạng để lật đổ Chính phủ Lâm thời; chuyện vào lúc ấy, Kerenskii và những người đối lập khác trong Bolshevik cũng đã từng buộc tội Lenin là một điệp viên ăn lương của Đức và nhận một khoản tài trợ lớn để làm cách mạng vô sản… đã được ghi rất rõ trong lịch sử nước Nga.
Tuy vậy cũng theo sử liệu thì, theo ghi nhận trên giấy tờ, trong các năm 1915 – 1917, có đến ba lần Parvus – một nhà tư bản người Đức đã tìm cách bắt liên lạc với Lenin, với mong muốn hỗ trợ tiền bạc. Thế nhưng, Parvus cả ba lần đã không thành công. Nghĩa là thông tin Lê nin làm gián điệp cho Đức còn là điều đang tranh cãi. Song đến lúc này, nếu quả thực là sách giáo khoa của Nga chính thức đưa điều này vào sách học là chuyện có thật thì chuyện Lê nin bán nước chắc chắn là một sự thật.
Đảng CSVN luôn luôn coi Lê nin là người thầy của cách mạng Việt nam và tượng Lê nin từ lâu đã được dựng sừng sững tại trung tâm thủ đô Hà nội, thì khó tránh khỏi việc có một số người cho rằng Đảng CSVN đã tôn thờ kẻ từng làm gián điệp cho ngoại bang và nghiêm trọng hơn đó lại là một kẻ bán nước. Một câu hỏi sẽ được đặt ra rằng: Phải chăng, tôn thờ kẻ bán nước như Lê nin, thì các học trò Việt nam trước kia và hôm nay chắc cũng phải có các hành động tương tự?
Sở dĩ chưa khẳng định chắc chắn, vì đến nay sự thật lịch sử chưa được công bố rõ ràng, trong khi lâu nay vẫn có nhiều tài liệu đã khẳng định ông Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là gián điệp của Quốc tế Cộng sản, từng là Thiếu tá trong quân đội Bát lộ quân của Mao Trạch Đông hay còn nhiều chuyện khác nữa. Đồng thời cũng có nhiều bằng chứng cho thấy để tổ chức hoạt động để tiến tới giành quyền lực chính trị cho mình, ông Hồ Chí Minh và Đảng CSVN đã nhận tiền từ nước ngoài.
Cụ thể là trong Hồi kí Nguyễn Đăng Mạnh, tại Phần II, Chương VII: Hồ Chí Minh, tác giả có viết rõ thế này:
Đến xã Túc Vinh, huyện Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây thì bị bọn Hương cảnh Trung Quốc bắt (ngày 27-8-1942).
Không phải ông Hồ không có giấy tờ hợp lệ. Hồ Chí Minh không thể sơ xuất như thế được. Hồ Chí Minh bị bắt vì khám trong người, cảnh sát Tầu phát hiện có rất nhiều đôla. Nghe nói hồi ở Pắc Bó, có người đã thấy ông phơi đôla cho khỏi ẩm mốc. Bây giờ qua Trung Quốc, ông đem đôla đi để mua vũ khí cho Việt Minh.
Nhưng cảnh sát Tầu cho là Hán gian, là gián điệp của Nhật lúc bấy giờ đang đánh Trung Quốc. Chỉ có gián điệp mới có đôla thôi chứ, người dân Trung Quốc bình thường làm gì có lắm ngoại tệ thế! Điều này tác giả Nhật kí trong tù cũng đã nói rõ trong thơ của mình:
Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng
Lại bị tình nghi là Hán gian(“Đường đời hiểm trở”)
Hôm nay xiềng sắt thay dây trói,
Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung;
Tuy bị tình nghi là gián điệp,
Mà như khanh tướng vẻ ung dung.(“Đi Nam Ninh”)
Vấn đề được đặt ra ở đây là, vào thời điểm đó thì ông Hồ Chí Minh lấy đâu ra tiền đô la để sang Trung quốc mua vũ khí? Số tiền đô la ấy không thể có do ông Hồ in tiền giả hay lao động mà có được, mà chắc chắn số tiền này phải được cung cấp từ một cơ quan tình báo nước ngoài.
Sở dĩ hôm nay nói đến chuyện nhận tiền của nước ngoài đề hoạt động chính trị, là vì hiện nay cơ quan tuyền truyền của nhà nước Việt nam và các bạn Dư Luận viên luôn lên tiếng phản đổi và phỉ báng các nhà hoạt động dân chủ vì tội nhận tiền từ nước ngoài để tiến hành các hoạt động, thậm chí họ không ngại ngần chụp mũ rằng các nhà hoạt động dân chủ chỉ vì tiền. Song nếu như hiểu rằng rằng tiền bạc luôn là phương tiện cho mọi hành động hay việc làm, kể cả hoạt động chính trị và làm cách mạng để thực hiện hoài bão lớn lao của họ thì có lẽ chẳng có lý do gì để chê trách họ cả. Vấn đề là ở chỗ, nếu hiểu chính trị là các vấn đề xung quanh việc giành và giữ quyền lực, thì một khi nếu ai đó có ý đồ đấu tranh để nhằm tranh giành quyền lực với Đảng CSVN hiện nay, thì chính quyền cứ chiểu theo luật pháp mà trừng trị. Chứ không thể cứ khơi khơi chụp mũ một cách vô căn cứ như vậy.
Nếu hiểu làm gián điệp là hành động để chỉ những kẻ nhận tiền của nước ngoài để tiến hành các hoạt động mang lại lợi ích cho mình và ngoại bang, là điều được hầu hết người Việt nam coi là hết sức xấu xa. Tuy vậy, lịch sử cũng như đồng tiền có 2 mặt và mặt tốt luôn thuộc về kẻ nắm quyền. Nghĩa là những lãnh tụ cách mạng của chế độ đương đại luôn luôn là những vĩ nhân, là những nhà cách mạng kiệt xuất. Không chỉ thế, họ còn là những tấm gương bắt buộc cho toàn dân học tập và noi theo.
Nhưng một khi sự thật lịch sử bị bạch hóa, phơi bầy hoặc có sự thay đổi thể chế chính trị thì các thần tượng “vĩ đại” đó sẽ trở thành những kẻ tội đồ của dân tộc. Lúc ấy sẽ thấy, hình tượng lãnh tụ vốn được đánh bóng, tô vẽ quá mức sẽ trở thành cái họa và cáng bị người ta nguyền rủa.
Ngày 03/10/2015
© Kami