Bị công an ép nhận tội, dù không giết người

Bị công an ép nhận tội, dù không giết người
Nguoi-viet.com

SÓC TRĂNG (NV) – Ông Trần Hol, 29 tuổi và ông Thạch Sô Phách, 26 tuổi vừa giải thích tại sao họ thú nhận đã giết ông Lý Văn Dũng, 42 tuổi.

Ông Trần Hol (trái) và ông Thạch Sô Phách (phải). (Hình: VietNamNet)

Hồi đầu tháng 7 năm 2013, ông Lý Văn Dũng, 42 tuổi, một người chạy xe ôm, ngụ tại huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng bị giết với 7 nhát dao. Chiếc xe, điện thoại di động và ví của nạn nhân vẫn còn tại hiện trường.

Đến trong tuần tháng 7 năm 2013, công an Sóc Trăng xác định vụ án mạng này là do hiềm khích cá nhân và bắt khẩn cấp ông Trần Hol vì ông Hol từng có xung đột với nạn nhân. Sau đó công an lần lượt bắt giữ thêm năm người khác là bạn bè của ông Hol gồm: Trần Cua, Trần Văn Đỡ, Thạch Sô Phách, Thạch Mươl, Khâu Sóc.

Tất cả thú nhận đã cùng nhau giết ông Dũng. Công an còn bắt thêm một phụ nữ tên là Nguyễn Thị Bé Diễm, tiếp viên của một quán nhậu tại thị trấn Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề, với lý do “không tố giác tội phạm.”

Theo kết luận điều tra của công an tỉnh Sóc Trăng và cáo trạng của Viện Kiểm Soát tỉnh Sóc Trăng thì Thạch Sô Phách thú nhận đã cùng các bạn của mình là: Hol, Đỡ, Cua, Sóc, Mươl đánh và đâm ông Dũng. Riêng cô Nguyễn Thị Bé Diễm thì “thừa nhận” có nghe và biết về “âm mưu” của nhóm thanh niên này.

Sau khi hoàn tất “kết luận điều tra,” các điều tra viên trong “Ban Chuyên Án” được thượng cấp khen thưởng. Họ đã nhận quyết định khen thưởng và chờ nhận hiện kim là tiền thưởng do “thành tích phá án nhanh.”

Đúng lúc đó thì có một cô gái tên là Lê Thị Mỹ Duyên, ngụ tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, đến công an phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Sài Gòn, đầu thú vì là đồng phạm trong vụ án giết ông Dũng. Cô Duyên cho biết, cô đã cùng cô Nguyễn Kim Xuyến, ngụ tại huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, giết ông Lý Văn Dũng để cướp tài sản nhưng vụ cướp bất thành. Sau đó cả hai rời Sóc Trăng lên Sài Gòn. Tại Sài Gòn, cô Xuyến có quan hệ tình cảm với người khác. Cô Duyên quyết định ra đầu thú để cả hai có thể ở bên nhau đến trọn đời trong… tù.

Công an Sài Gòn không phải là công an Sóc Trăng nên hệ thống tư pháp đã kiểm tra toàn bộ lời khai của cô Duyên và nhận thấy những lời khai này trùng khớp hoàn toàn với các tình tiết của vụ án. Cũng vì vậy, tháng 2 năm 2014, Viện Kiểm Soát tỉnh Sóc Trăng phải ký, công bố quyết định đình chỉ điều tra đối với 7 người mà chính họ phê chuẩn lệnh bắt.

Cáo trạng do cơ quan điều tra của Viện Kiểm Soát Tối cao lập và vừa công bố cho biết, sở dĩ bảy thanh niên không “giết người,” không “che giấu tội phạm” nhưng vẫn “nhận tội” vì đã bị tra tấn.

Ông Thạch Sô Phách giải thích lý do ông “thú nhận” đã cùng các bạn mình “giết người” là vì điều tra viên Triệu Tuấn Hưng treo lên cửa sổ bằng còng số 8, chỉ còn để các đầu ngón chân chạm đất, rồi dùng tay, đầu gối, đánh liên tục vào bụng. Triệu Tuấn Hưng còn dùng khăn lau bàn bọc nước đá buộc vào hạ bộ của ông Phách…

Ông Trần Hol cũng bị tra tấn như ông Phách nhưng ông Hol dứt khoát không chịu nhận tội theo ý các điều tra viên. Cuối cùng, ông Hol đầu hàng vì điều tra viên Nguyễn Hoàng Quân đánh vào cổ. Lối tra tấn này khiến nạn nhân kiệt sức vì không thể ăn, uống và không nhận tội thì sẽ chết do kiệt sức.

Theo dự kiến thì ngày 24 tháng này, tòa án tỉnh Sóc Trăng sẽ đưa hai điều tra viên: Nguyễn Hoàng Quân, Triệu Tuấn Hưng ra xử vì “dùng nhục hình” và kiểm soát viên Phạm Văn Núi ra xử vì “thiếu trách nhiệm.”

Tuy nhiên cả bảy thanh niên bị bắt oan, truy tố oan cùng khẳng định, ngoài Quân và Hưng còn hàng chục điều tra viên khác tham gia tra tấn, ép họ nhận tội. Tình trạng tương tự cũng đã xảy ra tại trại tạm giam của công an tỉnh Sóc Trăng.

Ông Hol cho biết, trước khi bị giải về công an tỉnh Sóc Trăng, ông đã bị hàng chục sĩ quan của công an huyện Trần Đề đánh đập trong phòng tạm giam.

Ông Trần Văn Đở – một trong bảy người từng phải “cúi đầu nhận tội” tố cáo, ông nhớ có một điều tra viên tên Huy của công an huyện Trần Đề tham gia tra tấn ông và tại trại tạm giam của công an tỉnh Sóc Trăng, có cả ông Nguyễn Hoàng Phú – phó phòng cảnh sát điều tra (PC 45) của công an tỉnh Sóc Trăng, tham gia tra tấn ông.

“Ban Chuyên án” được khen thưởng vì thành tích “phá án nhanh” trong vụ ông Lý Văn Dũng bị giết có ông ông Nguyễn Việt Thanh, trưởng phòng PC45 làm trưởng ban. Các ông Nguyễn Hoàng Phú, Phan Văn Lắm – cùng là phó phòng PC45 và ông Hồ Văn Nhiều – phó công an huyện Trần Đề làm phó ban. Chưa kể hàng chục điều tra viên khác là thành viên.

Chỉ có hai điều tra viên trong “Ban Chuyên Án” này bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Những thành viên khác trong “Ban Chuyên Án,” từ trưởng ban trở xuống chỉ phải kiểm điểm và bị cảnh cáo hay khiển trách.

Ông Hol – một trong bảy nạn nhân bảo với tờ VietNamNet rằng, “Ban Chuyên Án” đã làm gia đình ông tan nát, bạn bè không nhìn mặt nhau. Đó là một ác mộng và ông mong nó qua mau. (G.Đ)

“TÔI CHẲNG HÃNH DIỆN VỀ ĐIỀU GÌ…”

“TÔI CHẲNG HÃNH DIỆN VỀ ĐIỀU GÌ…”

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

Trích EPHATA 659

Tôi có quen với một ông là đảng viên đảng Công Sản Việt Nam, ông làm việc trong lãnh vực Y Tế, là một nhà khoa học, trí thức, ông du học và lấy bằng tiến sĩ ở Liên xô. Trong những năm gần đây ông có dịp tiếp xúc nhiều với các thành phần khác, trong đó có các Linh Mục thuộc Giáo Hội Công Giáo.

Trong một lần trò chuyện và khi những cuộc gặp gỡ đã củng cố tình thân quen giữa hai chúng tôi, ông mạnh dạn hỏi tôi một câu hỏi: “Giáo Hội Công Giáo của các vị có nhiều môn phái lắm phải không ?” Tôi không ngạc nhiên với câu hỏi này, vì nhìn qua chúng ta cũng thấy ngay trong nội bộ những người tin vào Chúa chúng ta cũng có nhiều khuynh hướng khác nhau khiến người ngoài ngỡ tưởng chúng ta có nhiều “giáo phái”, nhưng thật sự tôi ngạc nhiên và buồn vì lý do ông hỏi không phải là vậy.

Ông cho biết: “Tôi có nhà ở gần một Nhà Thờ nọ, để giao lưu, tôi có mời các cha đến nhà dùng cơm khi nhà tôi có việc, các cha cũng đến, rất cởi mở, nhưng trong câu chuyện tôi thấy các cha có nhiều kiểu khác nhau, một số các cha hay nói chuyện về những chuyến đi nước ngoài, có khi chỉ là du lịch, các cha ấy nói chuyện về rượu Tây, rồi trao đổi như là xem ai sành rượu nhất. Tôi không hề thấy các cha ấy nói về con người, về xã hội, về các vấn đề đạo đức giáo dục… Ngược lại, tôi cũng có gặp một số các cha khác, họ luôn thao thức về công lý, về những bất công trong xã hội, về người nghèo, người bệnh tật… Khi có dịp gặp lại các cha kia, tôi có gợi ý về các vấn đề này thì họ bảo rằng: đó không phải là việc của chúng tôi !?!”

Tôi cố giải thích cho ông ta hiểu là các cha có nhiều nhiệm vụ khác nhau, và vấn đề xã hội là một vấn đề nhạy cảm, khó có thể đề cập đến trong các buổi gặp gỡ nói chuyện giao lưu, vì rất nhiều quan điểm, rất nhiều suy nghĩ trái chiều nhau, hơn nữa, biết ông là đảng viên nên các cha không muốn bàn về vấn đề xã hội gắn liền với chế độ và ý thức hệ như hiện nay. Nhưng tôi biết, ông là một nhà trí thức thì không dễ gì mình tránh né quanh co được trước mặt ông. Ông buông một câu như thể muốn knock out tôi, ông bảo: “Tôi nhận ra mối bận tâm của các cha ấy trong các câu chuyện, chứ không phải nội dung câu chuyện !” Sau đó ông nhẹ nhàng tránh sang chuyện khác.

Có một thực trạng mà có lần tôi đã chia sẻ. Một ngày tôi có việc đi xa, ngang qua một nơi thấy rất nhiều xe cộ lũ lượt đổ về, tôi mới biết Giáo Phận đó chọn một Giáo Xứ gần đây để làm lễ Truyền Dầu, khi xe đến Nhà Thờ nơi sẽ làm lễ Truyền Dầu, một cảnh tượng gây cho tôi cảm giác nặng nề, đó là, một bãi giữ xe riêng cho các cha, toàn là xe 4 bánh loại nhỏ, dĩ nhiên không thiếu xe đời mới, đắt tiền cỡ Lexus, còn lại là một bãi giữ xe của các bà Sơ và của Giáo Dân toàn là xe bus… Đáng tiếc rằng ngay trong các cuộc gặp gỡ họp mặt thì các cha cũng hay khoe nhau về xe hơi của người này người kia và những chuyến du lịch nước ngoài. Có Linh Mục trẻ vừa chịu chức về làm cha phó mà dám xin cha xứ cho tiền mua xe hơi, cho có bạn có bè !

Tuần qua, ngày 14 tháng 9, Giáo Hội kính việc suy tôn Thánh Giá, trong bài gẫm số 1 Kinh Sách trích trong thư gửi các tín hữu ở Galát có câu: “Tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta ! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian” ( Gl 6, 14 ). Điều làm chúng ta hãnh diện hiện nay là điều gì, bậc thang nào định giá mà chúng ta đã chọn ? Có chỗ nào cho thập giá cắm vào không ?

Chia sẻ đôi điều trong ý thức chính mình là kẻ hèn mọn và tội lỗi, Chúa đã tin và trao cho mình sứ mạng làm chứng, chúng ta cần nhủ bảo nhau sao cho người ngoài không có cái nhìn méo mó về Thiên Chúa của chúng ta. Chúng ta cầu nguyện cho nhau trong tình thương mến để hoàn thiện nhau mỗi ngày trên bước đường đi theo Chúa.

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

 16.9.2015

“NẾU CHỈ CÒN MỘT NGÀY ĐỂ SỐNG…”

“NẾU CHỈ CÒN MỘT NGÀY ĐỂ SỐNG…”

Trích EPHATA 659

Cái tin cô Anh chỉ còn sống được chừng hơn 3 tháng nữa thôi đã làm chấn động cả lớp thể dục. Ai nấy đều bàng hoàng, sững sờ và rồi… buồn bã. Thiên hạ ban đầu thì ngạc nhiên rồi sau đó đua nhau bàn tán, vì mới ngày nào cô vẫn còn khoẻ và lên đây tập với mọi người kia mà. Mà mọi người buồn cũng phải, vì cô luôn là niềm vui của lớp. Vắng bóng cô từ gần cả tháng nay, sáng sáng không còn ai lên sớm đùa giỡn, kể vài mẫu chuyện vui, cũng không còn ai đem cho tôi khi thì mấy trái tắc, lúc là bó rau tươi ở nhà do chính tay cô trồng. Thế mà… chỉ nghĩ đến lúc sẽ vĩnh viễn mất cô mãi mãi trong đời, tôi bất chợt rùng mình và bỗng cảm thấy thật buồn…

Tôi biết cô Kim Anh từ gần 3 năm nay, ở lớp thể dục Hồng Gia. Tôi rất quý cô ở cái tính giản dị, chân chất, bộc trực, có gì nói đó. Cô thương tôi như con cháu trong nhà, nấu món gì ngon cô cũng mang cho tôi, nhà cô hễ cây nào ra trái là cô hái đem cho tôi ngay, hết nhãn, tắc, cam, hồng rồi đến chuối, thanh long, bưởi, rau tần ô, cải làn… Sáng nào ông xã cô cũng chở cô đến lớp tập, đến 8 giờ chú lại đến đón cô về. Tôi hay chọc “Sao mà cô chú tình quá vậy ?” thì lần nào cô cũng cười thật tươi ” Ngày xưa còn tình hơn nhiều con ơi…

Cô thường bảo tôi bây giờ già rồi, nên với cô chỉ có sức khỏe là trên hết. Cô hiện đang sống hạnh phúc với ông xã và vợ chồng cô con gái út cùng hai đứa cháu ngoại. Năm nay cô 68 tuổi, và cô luôn ước ao sẽ được sống đến 80 tuổi hay hơn nữa, để còn phụ giúp baby sit cho các con đi làm, vì đó cũng là niềm vui của cô. Có lẽ người già thường mang nhiều tâm sự, nên cô Anh hay kể tôi nghe về cuộc đời cô ngày xưa, khi cô còn con gái, nào là ngày xưa cô đào hoa lắm, rồi vì sao cô chú quen nhau, cùng những kỷ niệm đẹp và vui trong cuộc đời cô…

XƯA…

Cô gái Phạm Kim Anh ngày xưa, duyên dáng, mượt mà, với nụ cười rất tươi, nên luôn được rất nhiều anh săn đón, nhưng cô đã chọn chú Vũ Duyên Hy, chỉ vì “chú hiền, ít nói… nhưng hễ cô thích gì chú đều biết và mua hay làm sẵn cho cô trước rồi…” Năm 20 tuổi, cô lên xe hoa về nhà chồng, và sau đó có 6 mụn con, 4 gái và 2 trai. Chú đi làm ở sở quan thuế, cô nghỉ học ở nhà lo chăm sóc các con.

Thời ấy gia đình cô rất khá giả, tính cô lại rộng rãi, thương người, nên bà con chòm xóm ai mà thiếu hụt gì cũng chạy sang mượn cô, thậm chí có người nghèo xin tiền cô cũng cho luôn. Cô kể: “Có lần có bà hàng xóm nghèo quá đến mượn tiền cô, bà ta năn nỉ và nói: “Chị cho tui mượn đi, kiếp này không trả nổi thì tui nguyện kiếp sau sẽ làm thân trâu ngựa mà trả chị…” Cô hỏi lại ngay: “Chị nghĩ kỹ chưa mà nói câu đó ? Làm trâu ngựa cho nhà tôi cực khổ lắm đó nhe…”, nhưng rồi cô cũng cho người phụ nữ đó mượn tiền, dù biết rằng người ta sẽ không thể nào trả nổi…

Năm 1982, chú đi vượt biên cùng 3 đứa con lớn, đến đảo ở 3 năm chờ được xét để định cư. Thời gian đó cô Anh rất cực khổ, thân gái một mình nuôi 3 con, tiền bao nhiêu xài dần rồi cũng hết, nên cô bắt đầu bươn trải ra ngoài kiếm sống, lại còn phải chắt chiu gửi qua đảo cho chồng và các con. Cô sống rất cần kiệm, nhưng được hàng xóm thương nên cũng đắp đổi qua ngày.

Đến năm 1985 thì chú qua Mỹ định cư, sau đó bảo lãnh cho cô và đến năm 1992 thì cô và 3 con sang Mỹ đoàn tụ cả gia đình. Mấy năm đầu sang Mỹ, cô chú làm đủ mọi nghề để sống và nuôi các con ăn học: làm nhà hàng, hãng may, ở công xưởng… hễ ai kêu đâu cũng làm, lương bao nhiêu cũng chịu, đi xa cũng phải ráng để có tiền nuôi con, cho đến mãi năm 65 tuổi thì cô chú mới về hưu…

NAY…

Cô Kim Anh đến với lớp thể dục từ năm 2007 vì cô bị cao huyết áp và yếu thận. Cô lại bị cao mỡ, và tiểu đường nhẹ. Cô có uống thuốc nhưng bác sĩ khuyên cô cần phải tập thêm thể dục mỗi ngày, cho nên ngày nào xong lớp học là cô chú cùng nhau lái xe ra biển, rồi đi bộ dọc theo bãi biển, tay trong tay, vừa hít thở khí trời trong lành, vừa “hâm nóng tình yêu lãng mạn ngày nào” – như lời cô hay nói đùa với cả lớp. Cô kể cách đây vài năm, lúc đó cô bị tiểu đường nặng lắm, mà cả mỡ trong máu cũng cao luôn. Cholesterol làm nghẹt một động mạch cổ nên cô không thở được, cô bất tỉnh và ông xã chở cô vào cấp cứu. Lúc đang hôn mê thì cô cảm thấy có bàn tay Đức Mẹ vỗ nhẹ vào ngực cô 3 cái, thì cô bừng tỉnh dậy, và từ đó cô luôn đặt hết niềm tin vào Đức Mẹ và phó thác sinh mạng mình vào tay Ngài…

CUỐI ĐỜI…

Cách đây hơn một tháng, tôi có việc cần đi Arizona vài ngày. Khi về, vào lớp tập lại thì mới hay cô đã được đưa vào cấp cứu với triệu chứng khó thở và ngất xỉu. Nằm bệnh viện một tuần thì cô được cho về nhà, nhưng bác sĩ cho biết là vì hai quả thận của cô đã quá suy nên không thể bài tiết các chất độc và thải nước tiểu một cách bình thường nữa, do vậy mà cô sẽ phải đi lọc máu 3 lần mỗi tuần, cho đến… hết đời. Cô trông hốc hác và ốm hẳn đi. Cô cho biết là đã sụt hơn 15 pounds. Đến thăm cô, tôi không khỏi chạnh lòng vì thấy cô hầu như không còn ăn được gì cả, thứ gì cô cũng đều phải kiêng cữ, vì hễ ăn vô là mình mẩy nhức ê ẩm.

Vậy mà cô vẫn lạc quan. Cô kể: “Con biết hôn, hôm đó lúc đầu cô cảm thấy chóng mặt và choáng váng, rồi thì sau đó cô không biết gì nữa. Nhưng chỉ chốc lát sau thì cô thấy Đức Mẹ hiện ra, đưa bàn tay cho cô nắm. Cô mừng rỡ vừa nắm vừa hôn tay Mẹ, đâu chỉ chừng một, hai phút thì cô giựt mình tỉnh dậy, thấy mình nằm trong bệnh viện với đầy các bác sĩ, y tá và con cháu xung quanh. Sau này con gái cô kể lại rằng lúc đó cô đã tắt thở 2 phút rồi, bác sĩ tưởng là cô đã “đi luôn” rồi chứ, làm các con cô khóc òa lên… Vậy là cô hiểu, chính Đức Mẹ đã cứu sống cô lần nữa…”

Rồi cô dẫn tôi ra sau vườn, chỉ cho tôi xem từng cây ăn trái mà cô chú đã trồng. Vườn cây ăn trái của cô chú thật rộng, rộn tiếng chim hót, trồng đủ loại cây, và rau cải, có thể nói là cô chỉ cần đi chợ mua thịt cá, chứ rau cải thì có đủ hết. Cô bảo con gái cô, chị Hương, hái cho tôi một bịch tắc thiệt bự “Đem về ăn đi con, mai này không còn cô thì phải tự đi mua tắc mà ăn đó nhe…” Bỗng nhiên cô hỏi tôi “Đố con cây cỏ có linh hồn không ?” Tôi còn đang ấp úng thì cô tiếp: “Ông xã cô kể là cả tuần khi cô nằm bệnh viện, cả nhà lo vô thăm nuôi cô, nên không còn ai nhớ mà tưới cây nhãn này hết đó – cô đưa tay chỉ tôi xem cây nhãn cô vừa mới chiết cành xin từ một người bạn, bởi vậy nó héo rồi chết luôn. Vậy mà từ hôm cô về, vài ngày sau tự dưng nó đâm nhánh ra thêm, rồi lá xanh tươi trở lại, làm thằng cháu ngoại cứ bảo rằng: “Cây nhãn nó thương Ngoại nên nó sống lại đó, thì Ngoại cũng phải sống với con nhe Ngoại…” Cô nói, miệng cười mà mắt cô long lanh giọt nước…

Khi nghe ông xã cô cho biết là cô phải đi lọc máu cho đến khi nào có người tặng cô hai quả thận để ghép vô thay cho hai quả thận của cô không còn hoạt động nữa, tôi ngao ngán thở dài. Chờ đợi… chờ đến bao giờ ? Cô đã ghi tên ở bệnh viện UCLA rồi, mà waiting list thì… dài thòng, nghe đâu phải chờ cầu 5, 6 năm mới hy vọng có người cho thận. Mà nếu như có may mắn đến lượt mình thì chắc gì quả thận đó sẽ dễ dàng được cơ thể dung nạp, hay sẽ lại bị reject? Thế mà cô vẫn vui vẻ, cô bảo: “Còn sống ngày nào là cô vẫn còn hy vọng…”

Có nghe cô kể về những buổi lọc máu thì mới thấy thương cho những người bệnh. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Mỗi tuần chú Hy chở cô đi lọc máu 4 lần, rời nhà từ 5 giờ rưỡi sáng, và quá trình lọc như vậy mất hơn 3 tiếng rưỡi đồng hồ, về đến nhà gần 11 giờ. Cô bảo ngồi bên cạnh cái máy lọc máu, đầu óc cô rỗng không. Được chừng hơn 2 tiếng là cô bắt đầu mệt, mồ hôi tuôn ra như tắm, lỗ tai lùng bùng, thì lúc đó y tá đến gắn ống oxy cho cô thở, vì cô quá yếu sức… Từ ngày xuất viện về nhà, cô yếu hẳn đi và không còn đi tập thể dục nổi nữa.

Mấy hôm gần đây phone thăm cô không có ai bắt phone, tôi linh tính có điều gì không hay. Tôi có ghé đến nhà cô, bấm chuông mãi nhưng cũng không ai ra mở cửa. Thế là tôi bắt đầu lo. Gần cả tuần trôi qua thì cô gọi. Tôi mừng quá, hỏi thăm cô tới tấp. Cô kể là cô lại mới phải vô cấp cứu, vì nước tràn đầy vào phổi, và lần này bác sĩ cho biết là tình trạng của cô: từ thận nay đã chuyển sang tim. Các tĩnh mạch dẫn máu về tim của cô bị nghẽn rất nhiều, còn van tim thì lại bị hở. Nên bây giờ mỗi thứ bảy thì cô phải vừa đi lọc máu, vừa để bác sĩ rút bớt nước ra khỏi phổi của cô, vì nếu không thì phổi cô sẽ bị ứ nước nữa và tính mạng cô sẽ bị nguy hiểm.

Con gái cô cho tôi biết là bác sĩ đã bó tay, ông cho gia đình biết là cô Anh có thể đi bất cứ lúc nào. Ông xã cô thì nói với giọng nghẹn ngào: “Bác sĩ bảo bả chỉ còn sống được ba đến năm tháng là maximum, nên gia đình cứ chìu ý bả đi, bả thích gì thì cho ăn nấy…” Tôi quay sang cô hỏi: “Thế cô thích ăn gì, làm gì hở cô?” Cô cười buồn: “Không thích, cũng không thèm ăn gì hết, giờ phút này thì cô chỉ thèm… được sống”. Đôi mắt nhìn xa xôi, cô nhỏ giọng: “Ai rồi cũng đến lúc phải ra đi. Vui hay buồn là ở cái tâm của mình. Nếu thật sự là Chúa đang đợi cô, thì cô sẽ vui mà về với Ngài… Nhưng Đức Mẹ vừa cứu cô kia mà…”, rồi bỗng dưng cô ngập ngừng: “…Con ơi, sao mà cô vẫn còn yêu lắm cuộc đời này…” giọng cô tắc nghẹn.

Nuốt nước miếng một cách khó khăn, cô tiếp với một giọng đều đều: “Con cháu cô bây giờ lớn cả rồi, có công ăn việc làm, có gia đình đông đủ, nên cô không còn gì phải lo nữa. Cuộc sống cô nói chung cũng đã quá đầy đủ, nên cô cũng không có gì phải hối tiếc. Hơn 68 năm qua, cô luôn làm hết khả năng mình lo cho chồng, cho con, cho mọi người, nên bây giờ có thể nói là cô khá mãn nguyện…”

Cô cho biết cô vừa mới may xong chiếc áo liệm trắng, là chiếc áo mà người con của Chúa sẽ được mặc, theo nghi lễ, lúc chôn cất. Cô An, người bạn già ở lớp thể dục, đã may tặng cho cô như một món quà cuối đời…

“Thế cô còn có dự định hay ước muốn gì không cô ?” – “Nếu như nhờ ơn Chúa mà cô còn sống được đến sinh nhật cô vào năm sau, thì cô sẽ tổ chức một lễ sinh nhật thật lớn. Cô sẽ mời tất cả bạn bè, người thân, người quen, hàng xóm, tất cả những ai mà cô biết trong đời… đến dự, để cô nói một lời xin lỗi, nếu như vì vô tình cô đã làm hay nói điều gì buồn lòng họ, và để cám ơn họ đã cho cô có được những kỷ niệm đẹp và đáng nhớ trong đời…”

Tôi hỏi: “Cô có còn điều gì nuối tiếc không, một khi ra đi về bên kia thế giới ?” Im lặng – thật lâu, rồi cô chậm rãi đáp: “Đời cô vui buồn có đủ, thăng trầm cũng nhiều. Nếu bảo có hối tiếc điều chi thì có lẽ chỉ một điều duy nhất: đó là cô thường rất ít sống vui với giây phút hiện tại”. Thở một hơi dài, cô nói tiếp: “Thời son trẻ thì cô lúc nào cũng lo lắng cho tương lai, cho chồng con, cứ mãi đi làm kiếm tiền cho tương lai con cháu. Có tiền rồi thì lại lo dành dụm. Lúc về già thì lại hồi tưởng và tiếc nuối quá khứ cùng kỷ niệm, cứ sống và nhớ mãi cái thời xa xưa huy hoàng ở Việt Nam. Chỉ cho đến phút giây này, khi cái chết đã cận kề, thì cô mới hiểu cuộc đời mình đẹp nhất là phút giây hiện tại. Bởi vậy mà bây giờ, cô chấp nhận và vui với ngày hôm nay…”

Ngừng lại giây lát, cô tiếp: “Cô cũng có chút tiếc nuối là cô chưa hề có dịp về thăm lại Việt Nam. Lúc mới qua Mỹ thì cứ cắm đầu đi làm, đến chừng có chút tiền, có thời gian thì lại đổ bệnh, nên đâu dám về nữa. Cô ước gì mình có duyên về lại thăm quê cô, miền Trảng Bàng, là nơi mà ngày xưa mỗi ngày cô đi học qua ngang nhà chú, nhờ đó mà cô chú quen nhau…”

Nghe cô nhắc đến chữ duyên, tôi hơi ngạc nhiên nên hỏi lại: “Cô chú đạo Chúa phải không ? Mà cô vẫn tin vào chữ Duyên à ?” Cô cười nhẹ: “Tin chứ con. Cô đạo Chúa, nhưng cô đọc nhiều sách về Phật pháp lắm, nên cô tin vào Nhân Quả, tin vào Nghiệp và cô tin có luân hồi…” Rồi cô hóm hỉnh nheo mắt nhìn về phía ông xã đang ngồi theo dõi câu chuyện nãy giờ: “Nghiệp đó con thấy hôn, kiếp trước ổng “nợ” cô nên kiếp này ổng cả đời cứ phải trả “nợ” cho cô. Cô ăn gì vô cũng bị hành đau đớn, cũng là do cái Nghiệp cô đã gieo, và cô còn sống được đến giờ này cũng nhờ cái Nhân phước đức mà cô đã giúp đỡ những người hàng xóm trong lúc khốn cùng…”

Quay sang chú Hy, tôi hỏi: “Cô Anh đi, chắc chú buồn dữ lắm, chú hở ?” Chú cười buồn: “Sớm muộn gì thì cũng phải đến lúc đó, cháu à. Chỉ là người đi trước hay đi sau mà thôi…” Tôi hỏi: “Nhưng người đi sau sẽ là người buồn hơn, phải không chú ?” – “Đúng, bởi vậy nếu chú làm người đi sau, chú cũng ráng vui, vì ít ra chú còn lo cho bả được chu toàn…” Tôi ngồi mà nghe lòng mình xao động, đẹp làm sao một mối tình già… Quay sang cô Anh, tôi hỏi: “Thế khi chết thì cô nghĩ rằng cô sẽ về đâu ?” – “Cô mong là cô có đủ phước duyên mà được lên Thiên Đàng với Chúa. Chúa Nhật nào cô chú cũng đi Nhà Thờ, tối nào cũng đọc kinh cầu nguyện. Cả đời cô đã luôn cố gắng sống và làm theo lời Ngài dạy, thì cô mong Ngài sẽ đến đón cô đi…”

“Cô nè, con hỏi cô câu này nhe, nếu như chỉ còn một ngày để sống thì cô sẽ làm gì ?” – “Sẽ yêu thương” – cô trả lời ngay, không một chút do dự. Cô sẽ mỉm cười với mọi người, cả với những người không quen biết. Cô sẽ tha thứ hết mọi lỗi lầm nhỏ nhặt của mọi người mà bao lâu nay cô cứ cho là lớn lao ghê gớm lắm. Cô sẽ bố thí nhiều hơn, cho đi nhiều hơn, làm từ thiện nhiều hơn, vì bây giờ cô mới thật sự hiểu rằng chúng ta sẽ không mang theo được gì bên mình lúc ra đi. Cô sẽ nói với ông xã, với các con, các cháu… là cô thương tất cả mọi người – điều mà gần bảy chục năm qua vì mắc cỡ mà cô chưa bao giờ dám nói. Cô sẽ yêu hơn cuộc đời này. Cô sẽ…”

Giọng cô bỗng ngắt quãng vì cơn ho kéo tới. Tôi nhìn cô, đang ôm ngực ho sù sụ, mà ái ngại. Phải chăng đó cũng sẽ là hình ảnh của Mẹ tôi một ngày gần đây, và của ngay chính bản thân tôi một ngày nào đó ? Ông xã và con gái dìu cô vào giường nghỉ. Tôi xin phép ra về, thì cô ôm tôi và níu bàn tay tôi kéo lại: “Con nhớ lời cô nhe, hãy biết buông xả và yêu thương, trước khi quá muộn…”

Rời nhà cô Anh mà bên tai tôi vẫn còn văng vẳng những lời cô nói: “Nếu chỉ còn một ngày để sống, thì cô sẽ trân quý từng phút giây hiện tại và sẽ yêu thương hơn cuộc đời này…”

Chia tay cô, tôi thầm cầu chúc cô Anh có được những ngày cuối đời thật an lạc và giây phút ra đi cũng thật là bình an, để mà về với Chúa…

Lên xe, tôi với tay mở chiếc CD thì tiếng nhạc vọng ra sao mà tha thiết:

“…Nếu chỉ còn một ngày để sống, người cho tôi về với quê nhà
Để tôi thăm làng xưa nguồn cội, cho tôi mơ, mơ tiếng Mẹ Cha…

Nếu chỉ còn một ngày để sống, làm sao tôi trả ơn cuộc đời
Làm sao tôi đền đáp bao người, Nâng tôi lên qua bước đời chênh vênh…

Nếu chỉ còn một ngày để sống, làm sao tôi chuộc hết lỗi lầm
Làm sao tôi thanh thản tâm hồn, xuôi đôi tay đi giữa hừng đông…

Cho tôi như khúc ca bay đi xa rất xa, cho tôi được cám ơn cuộc đời,
Cho tôi được sống trong tim người bằng những lời ca…

Nếu chỉ còn một ngày để sống, muộn màng không lời hối lỗi chân thành
Buồn vì ai ? Ta làm ai buồn ? Xin bao dung, tha thứ vì nhau…

Nếu chỉ còn một ngày để sống, chợt nhận ra cuộc đời quá đẹp
Phải chăng ta có lúc vội vàng, nên ra đi chưa được bình an…”

Đúng vậy, cuộc sống này quả thật quá mong manh. Thế còn bạn, bạn sẽ làm gì… nếu như bạn chỉ còn một ngày để sống ?

HOÀNG THANH

CHA THÁNH PIÔ

CHA THÁNH PIÔ

http://caccioppoli.com/Padre%20Pio%20add%204/wo005.jpg

Cha thánh Piô sinh ngày 25-05-1887 tại
Năm 1903, ngài vào dòng Phanxicô.  Một năm sau nhận tu phục Dòng Phanxicô Capucinô và có tên mới là Piô. Pietrelcina, được gọi tên là Francesco Forgione.  Ngài lớn lên trong một gia đình Công giáo đạo đức.  Lúc

khoảng 6, 7 tuổi, ngài đã có được sự liên kết rất đặc biệt với Thiên Chúa.  Ngài thường trò chuyện với Thiên Chúa ở nơi đồng vắng.  Từ thuở nhỏ, ngài có thói quen rất tốt lành là sốt mến cầu nguyện.  Ngài nhìn ngắm Chúa Giêsu trên Thánh giá và thân thưa cùng Chúa cho mình được chia sẻ những đau đớn với Chúa.

Ngài được phong chức linh mục và được chuyển đến một số nơi.  Đến năm 1916, ngài được chuyển đến San Giovanni Rotondo và đã ở đây suốt 52 năm.  Cha được mọi người ngưỡng mộ vì lòng yêu mến nhiệt thành đối với Chúa Giêsu, Mẹ Maria và được coi như là một nhà thần bí vĩ đại thời hiện đại.

Cha Pio xuất thân từ nhà nghèo nên ngài rất yêu mến người nghèo.  Cha ao ước có được bệnh xá để sau cuộc chiến sẽ cứu chữa những thương binh trở về, và cha cũng đã được toại nguyện do tin tưởng mãnh liệt vào Đức Maria ban ơn cứu giúp.

Cha Pio có nhiều kinh nghiệm về những khả năng siêu nhiên với các phép lạ kèm theo: nhìn thấu suốt tâm hồn con người, nói tiên tri, ở hai nơi cùng một thời điểm, hương thơm đời sống thánh thiện, biết biện phân các thần khí, ngủ ít nhưng vẫn sống được, chữa người ta khỏi bệnh cách lạ lùng, được Chúa Giêsu và Mẹ Maria đến thăm, nhất là hằng ngày được rước lễ với Thiên thần bản mệnh của mình.

Một trong những ân huệ siêu nhiên nổi tiếng nhất của ngài là được Chúa ghi Năm Dấu Thánh trên thân xác vào năm 1918 khi ngài cầu nguyện trước Thánh giá.  Những vết thương đã gây cho ngài rất nhiều đau đớn và cũng rất nhiều ân ban kỳ diệu.  Trong cuốn sách “Cuộc đời cha Piô” có kể lại rằng:

“Cái yên tĩnh của ban đêm đã bao trùm tu viện khi Cha Piô còn ngồi giải tội cho các thầy.  Đó là ngày 5 tháng Tám 1918, là ngày ngài không thể quên được vì nó bắt đầu sự thống khổ đặc biệt của ngài.

Ngài giật mình kinh hãi khi thấy một người lạ tay cầm thanh kiếm dài và mỏng đứng ngay trước mặt.  Thân thể như tê liệt, ngài không thể cựa quậy và mắt trừng trừng theo dõi mũi kiếm mà từ đó phát ra những tia lửa.  Đột nhiên, ngài thất thanh kêu lên một tiếng lớn khi thanh kiếm như xuyên qua linh hồn ngài.  Không biết làm sao mà ngài lấy lại được bình tĩnh và giải tán các thầy đang chờ xưng tội.  Suốt đêm đó và qua một ngày và một đêm hôm sau, thân thể ngài yếu dần vì như có lưỡi kiếm bằng lửa đang cắt thân thể ngài ra từng mảnh.

Hơn một tháng trôi qua, sau khi làm lễ vào sáng thứ Sáu, ngày 20 tháng Chín, sự kinh hoàng và thống khổ của ngài đến tột đỉnh ngoài sức chịu đựng của con người.  Tuy nhiên, cơn ác mộng đó bắt đầu trong một giây phút thật bình thản và yên lặng.  Ngài cảm thấy buồn ngủ, như thể ngài ngủ say đến độ không còn biết gì cả.  Cái cảm giác kỳ lạ thấm dần qua từng sớ thịt và hầu như làm ngài mê đi.

Và rồi, vị khách bí ẩn đã đến trong giấc mộng êm đềm, và chính lúc đó các giọt máu từ tay, chân và cạnh sườn của vị khách bắt đầu chẩy ra và đọng lại thành vũng trên sàn nhà.  Ngay lập tức cái êm đềm của Cha Piô tan biến và tim ngài bắt đầu đập mạnh như muốn vỡ tung lồng ngực trong cái thân thể bất động.  May mắn thay, tất cả dịu lại một cách thật bất ngờ cũng như khi xuất hiện, và thân thể mềm nhũn của ngài khụy xuống vũng máu.

Ngài mở mắt, những giọt nước lăn dài trên khoé mắt.  Cơ thể ngài bắt đầu có cảm giác và ngài nhận thấy tay trái của mình đang run rẩy.  Ngài cố nhấc chân lên và ngay lập tức cái đau âm ỉ trở thành nhói buốt đâm vào tay, chân và cạnh sườn ngài.  Ngài chống khủy tay ngẩng đầu dậy và nhìn vào đôi tay run lẩy bẩy.  Hai bàn tay đầy máu.  Nhìn vào thân thể, ngài thấy một bên áo dòng ướt đẫm.  Đôi mắt ngài tiếp tục nhìn xuống.  Và đôi chân ngài cũng đỏ máu.  Toàn thân ngài run lên vì sợ hãi.  Ngài muốn cất tiếng kêu cứu nhưng cổ họng như nghẹn lại, và ngài há hốc mồm để thở.

Cơn ác mộng tiếp diễn.  Có một động lực nào như giục ngài đứng dậy, đi về phòng trước khi các linh mục trong tu viện trở về và có thể bắt gặp.  Ngài cố nhấc mình lên, và thân thể quặn đau theo từng bước.  Không hiểu làm sao mà ngài có thể lết qua cái hàng lang dài để về đến phòng.  Ngài ngã vật xuống giường trong đau đớn và sợ hãi.

Ngài rên rỉ, “Xin giúp con.  Xin Chúa giúp con để hiểu.”

Hơi thở ngài đã đều hòa, nhưng cơn đau vẫn mãnh liệt.  Khi đưa tay sờ vào cạnh sườn, ngài cảm thấy vết máu trên áo dòng ngày càng lan rộng, như bị xuất huyết tự bên trong.  Đôi mắt mở to vì sợ hãi, ngài ngồi dậy và xem xét vết máu trên áo, tự hỏi không biết mình có chết vì vết thương này hay không.

Ngài cầu xin, “Xin đừng để con khiếp sợ.”           

Những giây phút chậm chạp trôi qua.  Từ từ ngài lấy lại bình tĩnh và xem xét các vết thương. Không nghi ngờ gì cả, đó là những vết thương thật.  Đó không phải là ác mộng hay ảo giác.  Bắt đầu ngài nhận ra sự thật.  Ngài được in năm dấu thánh là những vết thương có hình dạng và vị trí giống như các vết thương của Đức Kitô.

Tâm trí ngài từ từ mở ra với thực tại, và cảm thấy khuây khỏa khi biết rằng các vết thương đó không nguy hiểm đến tính mạng.  Nước mắt ngài tuôn tràn, và cảm tạ Thiên Chúa…

Giáo Hội ghi nhận có khoảng 290 người được Chúa ban cho năm dấu thánh. Vị thánh nổi tiếng của thời đại là Thánh Phanxicô Assisi, sáng lập dòng Phanxicô.  Thánh Phanxicô, khi là thầy sáu, được in năm dấu thánh vào ngày 17 tháng Chín 1224, trên núi Alvernia trong rặng Appenine, hai năm trước khi ngài chết.

Những vết thương của cha Piô có mùi thơm nồng nàn của hoa tím, hoa huệ tây và hoa hồng. Trong lịch sử các thánh, sự kiện có mùi thơm thì không gì mới mẻ.  Tay Thánh Đa Minh phát ra mùi thơm khi dân chúng hôn tay ngài, và Thánh Helena phát ra mùi thơm khi ngài rước lễ.  Một số thân thể các thánh phát ra mùi thơm sau khi chết, như trường hợp của Thánh Coletta, Thánh Joseph Cupertino, và Thánh Martin de Porres.  Bất cứ ai đang trong tình trạng mắc tội trọng, Thánh Philip Rôma đều ngửi thấy mùi hôi thối khi ngài đến gần, mặc dù thân thể người đó rất sạch sẽ.

Trong trường hợp của Cha Piô, mùi thơm nói lên sự hiện diện an ủi của cha.  Đó là để khuyến khích, chú ý đến điều nguy hiểm ngay lập tức, hay nhớ đến sự hiện diện, sự khuyên bảo và sự hướng dẫn của cha.  Nhiều người nhận ra mùi thơm đó một cách riêng biệt, không phải ai ai cũng nhận thấy cùng một lúc.”

Vì sự thánh thiện và ân huệ lớn lao Chúa ban cho cha Piô, nên ma quỷ đã huy động cuộc chiến dữ dội chống lại cha thánh trong suốt cuộc đời của ngài.  Chúng tấn công thân xác ngài bằng những vết cắt, vết thâm tím và những dấu bị thương hữu hình khác.

Tất cả những ai được cha Piô giúp đỡ đều tôn kính ngài.  Cha thánh hết sức tận tâm đối với các linh hồn trong luyện ngục, có lần ngài nói: “Nhiều linh hồn đã chết ở trong luyện ngục hơn những linh hồn còn đang sống.  Họ đã đến ngọn đồi này để chờ được tham dự thánh lễ và xin tôi cầu nguyện.”

Cả đời cha Piô tận tụy giải tội cho các tín hữu và xin được nhiều ơn lành cho nhiều người.

Cha thánh qua đời lúc 2 giờ 30 sáng ngày 23-9-1968, đang khi tay vẫn nắm chặt chuỗi Mân Côi và thốt lên tên cực trọng “Giêsu Maria”, trong phòng số một của tu viện San Giovanni Rotonodo, phía nam Italia.  Xác cha Pio được bỏ trong một hòm bằng kẽm bọc gỗ sau đó được thay thế bằng một hòm bằng kim loại và có gắn tấm kính để cho giáo dân có thể trông thấy ngài.

Chiều ngày 26-9-1968, quan tài cha Pio đã được rước qua các đường chính của thị trấn San Giovanni Rotondo với sự tham dự của 100.000 người.

Ban tối quan tài được đưa xuống hầm nhà thờ Đức Mẹ Ban Ơn để an táng trong huyệt đào ngay trong nền nhà thờ.  Phía dưới chiếc quan tài có đề “Francesco Forgione sinh tại Pietrelcina ngày 25-5-1887, qua đời tại San Giovanni Rotondo ngày 23-9-1968.”

Từ ngày đó trở đi, cứ vào ngày 22 tháng 9 hằng năm tín hữu khắp nơi lại hành hương về thị trấn San Giovanni Rotondo để tham dự đêm canh thức kỷ niệm ngày cha Pio qua đời.

Ngày 23-9-1969, Đức Cha Cunial, Tổng Giám Mục Manfredonia cho phép dòng Capucino hèn mọn mở cuộc điều tra liên quan tới vị tôi tớ Chúa.

Tiến trình án phong chân phước được khởi sự ngày 20-3-1983.

Trong dịp hành hương San Giovanni Rotondo ngày 25-5-1987, Đức Gioan Phaolô II đã giới thiệu cha Piô với thế giới như là mẫu gương của linh mục.  Từ đó trở đi tín hữu đến hành hương đông một cách ngoại thường.  Người ta phổ biến sách báo viết về cha Pio, lấy tên cha Pio đặt cho các đài kỷ niệm và đường phố, hay trường học hoặc nhà thương.  Năm 1990, kết thúc các tìm hiểu cuộc đời cha Pio.

Năm 1997, các cố vấn của Bộ Phong Thánh đồng thanh chấp nhận các nhân đức anh hùng của vị tôi tớ Chúa.  Và sau khi có phép lạ được thừa nhận, ngày 2-5-1999, Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II đã phong chân phước cho cha Pio, trong thánh lễ trọng thể cử hành tại thềm đền thờ thánh Phêrô, với sự tham dự của gần 400.000 tín hữu.

Vào năm 2001, ủy ban bác sĩ thừa nhận phép lạ khỏi bệnh tức khắc của em Matteo Coltella, bị sưng màng óc cấp tính là hiện tượng không thể giải thích được trên bình diện khoa học.

Năm sau đó, Giáo Hội thừa nhận đó là phép lạ và ngày 16-6-2002, Đức Gioan Phaolo II đã chủ sự lễ phong hiển thánh cho cha Pio.  Hai năm sau đó đền thánh mới được khánh thành tại San Giovanni Rotondo.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Trên con đường một mình anh về

“Trên con đường một mình anh về”
nơi chốn tha hương.
Cơn đau xa người còn thấm môi hôn nhớ về ai.
Phút chia tay em nói lời tiễn đưa
Mắt anh buồn nhìn em, thôi đã mất.”
(Hoàng Trọng Thụy – Đoản Khúc Cuối Cho Em)

( Cv 3: 17-20)

Trần Ngọc Mười Hai

“Đoản khúc cuối cho em”, ư? Phải chăng, đây là lời nhắn gửi đến mọi người, hoặc muôn người? Chí ít, là những người lâu nay được đề-cao, nâng nhấc, kích bốc lên tận chín tầng mây trên đó, chốn đạo hạnh?
Sở dĩ bần đạo đây, hôm nay, nói lên những điều khó nói này là vì, vừa qua, bần-đạo đọc được “Bản Tin Giáo Xứ” của một họ đạo ở nước Úc, rất Sydney. Bản tin hôm ấy, tóm gọn chỉ mỗi lời nhắn không theo dạng “Đoản Khúc Cuối Cho Em”, mà là lời nhủ khuyên gửi đến các vị lâu rày lãng quên chuyện hỗ-trợ các bậc vị-vọng nay chìm vào chốn lãng quên, rất như sau:

“Hôm nay, ta thực-hiện quyên góp giúp các Linh mục về hưu có nơi ăn chốn ở, được chăm sóc sức-khoẻ bằng những hỗ-trợ cần-thiết để các ngài có cuộc sống xứng-đáng, khi về hưu.

Chúng ta mắc nợ các linh mục rất nhiều. Các ngài đã cống-hiến cả đời mình để phục-vụ Thiên-Chúa và nuôi dưỡng lòng tin của ta, cũng như đóng góp bằng nhiều cách cho cuộc sống cộng-đoàn. Hỗ-trợ Quỹ Tài trợ Linh mục về hưu, là cung-cách thực-tiễn qua đó ta chứng-tỏ lòng cảm-kích biết ơn các linh-mục thừa-tác từng cho đi chính đời mình hầu phục-vụ tha-nhân và cộng-đoàn niềm tin.” (X.Bulletin of Fairfield Parish 23rd Ordinary Sunday year B, 06/9/2015)

Lý-do khiến bần-đạo trích dẫn “Bản tin Giáo xứ” này, ở đây, không để nhắn bạn đạo nào ở đâu đó rằng: bà con ta đừng quên các linh mục già đầy tuổi tác đang sống ở viện dưỡng-lão đây đó, trên toàn quốc. Nhưng, vì lời lẽ “kích-bốc” theo kiểu “lời vàng” khá cũ của thời trước, nay lỗi thời.
Lỗi thời hơn, là quan-niệm của vị nào đó cứ coi các đấng-bậc thày cả như quan-viên sống trên đầu/trên cổ đám giáo-dân lúc này cũng đã biết nhiều và hiểu nhiều về những chuyện xảy ra trong/ngoài nhà Đạo, nay bê bết.
Lỗi thời mãi, lại là quan-niệm của một số vị cứ tâng-bốc các đấng bậc “thày cả” vẫn tự coi mình là “kẻ cả” có tư-thế và vai-vế hơn hẳn người dưới trướng trong Hội-thánh La Mã, rất Vaticăng.
Nay, quan-niệm “ở trên đầu/trên cổ giáo dân” đã mai-một không còn hợp thời và lẽ đạo nữa, đến độ Đức Phanxicô đã phải nhắn-nhủ con dân trong Đạo, những người vẫn đi đạo và giữ đạo nhưng không biết tình-hình trong Đạo. Lời nhắn-nhủ ấy như thế này:

“Các linh mục phải đồng-hành ngang hàng mọi người, chứ không thể ở trên hoặc ở trước họ.

Hôm 3/9/2015, Đức Phanxicô có chuyển đến các linh-mục thuộc Phong-trào Schoenstatt một lời nhắn cũng rất mạnh rằng: “Linh-mục ở Đạo ta không bao giờ nên ở trên hoặc ở trước mọi người. Thay vào đó, họ phải đồng-hành bên cạnh các vị ấy, mới được…

Thông-điệp, gửi các vị tham-gia buổi hội-thảo hàng năm của Phong-trào Schoenstatt này đây, hôm ấy, Đức Phanxicô có được sự đồng-thuận của những người trong cuộc, nên ngài đã mạnh-dạn trích-dẫn nhận-định của Lm Kentenich của Phong-trào, khi ông bảo: “Mọi người chúng ta, ai cũng nên mở tai mình ra mà đặt vào tâm-can của Chúa và đặt đôi tay lên nhịp đập của thời-đại… Đó là hai cột-trụ của đời sống linh-thao hôm nay, rất đích-thực.”

Đức Phanxicô, sau đó, đã rời buổi hội-thảo của Phong-trào nói trên nhưng không quên để lại đề-nghị khẩn-cấp để bảo rằng: “Chúng ta nên dâng-tiến chính mình để giúp đỡ các gia-đình, đặc biệt là gia-đình nào đang trong cảnh bức-bách, khó khăn, khổ sở. Đồng thời, cũng nên bỏ giờ ra mà ngồi toà cáo-giải nghe hối-nhân xưng-thú lỗi/tội của họ, đặc biệt trong năm thánh mừng vui này. Còn một điều nữa, cũng nên quan-tâm đến, là: ta hãy cầu-nguyện thêm cho Đức Giáo-Hoàng nữa.” (Xem News: Priests must walk alongside others, not in front: Pope”, trên tờ The Catholic Weekly ngày 13/9/2015 tr.10).

Đức Giáo-Hoàng nói thế, tức bảo rằng: nay là lúc con dân dưới trướng nên giúp giùm/đùm bọc lẫn nhau, chứ không nên kẻ trước/người sau, cứ thế mà giành nhau vị-thế trên dưới/trước sau, với người thường? Phải chăng, vì thế không nên cứ coi giáo dân như kẻ ở dưới trướng, cần đe nẹt?
Nói như Đức Giáo-Hoàng nhà mình, là nói theo kiểu nhà Đạo, lúc nào cũng hỗ-trợ nhau về mọi cách, chứ không thể đi đằng trước /bước lên trên rồi lại yêu-cầu người đi sau hoặc đi dưới cứ thế yểm trợ bằng công sức, tiền bạc và lời cầu nguyện kéo dài mãi không ngừng.
Nói như Đức Giáo-Hoàng, là cứ nói và nhớ lời bậc thánh hiền khi xưa từng nhủ khuyên/khuyên-nhủ các vị được đề-bạt hoặc thăng quan tiến chức, rất ở trên, bằng những lời rằng:

“Thưa anh em,
giờ đây tôi biết anh em đã hành động vì không hiểu biết,
cũng như các thủ lãnh của anh em.
Nhưng, như vậy là Thiên Chúa đã thực hiện
những điều Người dùng miệng tất cả các ngôn sứ mà báo trước,
đó là: Đấng Kitô của Người phải chịu khổ hình.
Vậy anh em hãy sám hối và trở lại cùng Thiên Chúa,
để Người xoá bỏ tội lỗi cho anh em.
Như vậy thời kỳ an lạc mà Đức Chúa ban cho anh em sẽ đến,
khi Người sai Đấng Kitô Người đã dành cho anh em,
là Đức Giêsu.”
(Cv 3: 17-20)

Nói theo kiểu các đấng bậc ở chốn chóp bu nhà Đạo thì như thế. Còn, nói và hát theo kiểu con dân ngoài đời, rất nghệ-sĩ, thì như sau:

“Đêm hôm nào mùa trăng thu chờ em đến bên tôi
Vùi thân rã rời hình bóng em theo chăn gối này
Thoáng hương xưa thôi cũng đành
Nói cho nhau lời cuối cùng
Dấu chân em rời căn gác buồn tênh.

Và ngày em đi, anh đưa môi tìm lên môi son cũ
Dấu vết ái ân tan theo như lời nói khi lìa nhau
Bàn tay như cố kéo những ước mơ đã mãi xa rồi
Nhìn tháng năm tàn phai, hình bóng thôi còn ai.
(Hoàng Trọng Thụy – bđd)

Thật ra thì, làm đấng bậc thủ-lãnh trong Đạo, là phải sống như một Kitô-khác, tức: rất giống Đức Kitô là Đấng nhân-hiền thánh hoá. Chí ít, là đấng bậc “thày cả” của “cả-và-thiên-hạ”.
Thật ra thì, làm thủ-lãnh đấng bậc ở Đạo Chúa, tức: không những phải chối-từ chuyện ngồi chiếu trên hay luôn đi trước đám giáo-dân trong đó nhiều người còn rành rẽ, thánh-thiện và khiêm-tốn hơn cả “thày cả”, nữa.
Thật ra thì, làm thủ-lãnh đấng bậc trong Đạo, là bắt chước Đức Kitô và/hoặc tuân-thủ Lời Ngài khuyên-dạy để sống xứng-đáng chức-năng/vai-trò bé nhỏ mà Đấng bậc nọ ở Sydney mới đây lên tiếng bằng một nhận-định ngắn gọn, như sau:

“Khi xưa Đức Giêsu Kitô làm tất cả mọi việc và nói tất cả mọi lời, Ngài đều nói và làm qua câu hát.

Nhiều lần, Ngài ra tay chữa trị hoặc “chữa lành” người tật/bệnh, Ngài lại còn cất tiếng hát khe khẽ, nhẹ êm trong đó có lời ca toàn là những yêu thương, trìu mến rất đầy đặn.

Nhiều khi, Ngài kể cho những người đi theo Ngài đôi ba câu chuyện hay ho/nho nhỏ, Ngài cũng lại cất lên giai-điệu tuyệt vời, tức: thứ âm-giai nhẹ mà khi nghe rồi, người nghe sẽ không còn quên lãng. Đó, là giai-điệu mà ta thường ngâm-nga suốt ngày không cần biết mình đang làm gì, sẽ ra sao.

Rất nhiều lần, khi Ngài bênh-vực quyền-lợi của người thấp bé/nghèo-hèn, thì tiếng giọng của Ngài lớn mạnh đầy quyền-uy, cho đến đoạn cuối kết thúc bằng cái chết thập-giá, trên đó Ngài lại hát mạnh hơn đến độ tiếng giọng của Ngài ngân-vang cùng khắp xuyên suốt vũ-trụ.

Môn-đồ nghe Ngài hát, lại cứ nghĩ: đây là bài ca họ chưa từng nghe bao giờ hết. Và, khi Ngài về với Cha Ngài, họ cũng bắt đầu hát như thế cho hết mọi người trong/ngoài nhóm/hội của mình. Dù bắt chước Ngài nhiều lần và nhiều cách, môn-đồ Ngài lại cũng không hát được những lời Đức Giêsu khi xưa từng hát. Đôi lúc, môn-đồ Ngài quên cả lời ca cùng sức-lực đến bể giọng. Tuy thế, về sau này, đồ-đệ Ngài vẫn cố hát hết mình. Và dù tiếng giọng của họ có yếu đi nhiều, thì chúng-dân tuy không nghe rõ tiếng các vị hát, vẫn nghĩ rằng đó là bài ca hay nhất họ từng biết.

Bài ca do môn-đệ hát, vẫn lan-tràn từ Giêrusalem sang đất miền khác đến độ: các bậc mẹ cha ở đây đó lại cũng hát vang cho con mình; và cứ thế lan-truyền xuống thế-hệ kế tiếp suốt nhiều thời.

Nhiều lúc, trong cuộc sống của các bậc thánh-hiền lớn/nhỏ, rất nhiều bài ca được hát bằng tiếng giọng tuyệt-vời. Cũng có khi, các vị lại hát sai/hát quấy do bởi lời ca/tiếng nhạc ở trong đó mạnh đến độ nhiều vị sử-dụng sức mạnh của nó để ra đi gây chiến, đè bẹp và khuynh-loát nhiều người khác.

Thành thử, người ta lại cứ bàn-cãi, đấu-tranh, giành quyền sở-hữu bài hát ấy, rồi còn bóp méo và phủ lên nó bằng những tầng dầy do con người thêm-thắt vào. Và, con người dù có làm tất cả mọi sự để được thế, họ vẫn không bắt chụp được chúng-dân khi tính giản-đơn, mỏng dòn và nhẹ êm nơi bài ca cho phép họ hát mãi như thế, suốt mọi ngày.

Một trong những chốn miền mà bài ca đạt tới, là đất miền cùng tận ở phía Nam mang tên Úc-Đại-Lợi. Ban đầu, bài ca này được hát vẫn không đạt, bởi nét đẹp của bản ca bị nhận chìm bên dưới âm thanh mạnh bạo của lằn roi vọt đập lên lưng tội-phạm đến từ Anh-quốc và rồi, do tiếng than khóc của Thổ-dân thấp cổ/bé họng sống ở đây. Duy có bài ca còn cao cả hơn người hát, vẫn được ca và hát trong nhà ở hoặc nguyện-đường làm bằng gỗ, cùng thánh-đường nguy-nga, khi ấy lan rộng sang tận đất miền khô khan và rộng lan.

Cuối cùng, bài hát ấy đã đến với tôi theo cách nhẹ êm, yêu thương xuất từ miệng mẹ cha cùng người thân-thuộc. Giống nhiều triệu người sinh sống trước thời của tôi, cả tôi nữa cũng bị lôi-cuốn/mê hoặc bởi bài ca mà tôi vẫn muốn hát, muốn vui say/nhảy mừng với cả thân mình của tôi.

Bài ca nay không thể dừng lại ở thế-hệ của chúng tôi được nữa rồi. Đổi lại, chúng tôi cũng phải trao ban nét đẹp tuyệt-vời của nó cho những người đến sau tôi. Và khi làm như thế, chúng tôi sẽ luôn nhớ, rằng: bài ca này có hai đặc-trưng/đặc-thù, rất khác-biệt.

Thứ nhất, là: trong khi chúng tôi hát bài ca ấy một cách bết-bát/tệ-hại, thì dù gì đi nữa, ta vẫn hát cho hết khả-năng của mình. Và, người khác cũng sẽ nghe được dù không chỉ mỗi tiếng-giọng yếu-ớt của ta mà thôi, nhưng phía sau ta và ngang qua ta, họ sẽ còn nghe được tiếng giọng mạnh mẽ và chắc-chắn hơn, vì đó là chính tiếng giọng của Ngài, Đức Giêsu Kitô của ta.

Hai nữa, là: ta sẽ luôn hát hoài, hát mãi bài ca ấy cho hay-ho nhiều hơn nữa, mỗi khi ta học hát với nhau –không chỉ một tiếng giọng ở đây đó, mà sẽ cùng hát những lời khác hẳn giai-điệu ta từng hát trước đây, nhưng cùng chung một tiếng, một giọng, thế mới tuyệt. Bởi, rồi ra, toàn-thể thế-giới sẽ thực-sự biết rằng: vẫn còn bài ca đẹp đẽ, tuyệt-vời nhất mà họ chưa từng nghe biết.” (X. Gm Geoffrey Robinson, 2015 Synod, the Crucial Questions: Divorce and Homo-sexuality, ATF Press Australia 2015, tr. 6-8)

Vâng. Ở ngoài đời, cũng có bạn trẻ nọ từng nhận-định về chuyện hát hò ở trong đời, có những lời như sau:

“Cuộc đời, là những tiếng hát mà mỗi người chúng ta sẽ tự hát lên theo cách riêng của mình: có tiếng trong veo, vút cao, có tiếng khàn đục, trầm lắng. Cụ thể hơn, cuộc đời còn là sự song-hành của một chuỗi những buồn/vui, được/mất mà mỗi người sẽ tự hát lên, kể từ lúc bản thân mình bắt đầu nhận thức được về thế giới chung quanh, cho đến khi thấy mình nhẹ tênh như một chiếc lá lìa cành, tìm về đất mẹ. Và bên cạnh ngàn vạn tiếng ca với những âm-sắc bộn-bề buồn/vui, được/mất khác nhau ấy, ai cũng có một khoảng bình-yên ru hồn nương náu, nơi mà “địa đàng còn in dấu chân, bước quên”. (X. Anthony Trần, Du Ký Đi Tây Duc in Altum số 86 Quý 2/2014, www.giadinhanphong.com)

Chính thế. Cả đời ta và đời người, cùng đời của đấng bậc vị vọng là “thày cả” ở thế-giới này cũng như đám dân đen bên dưới rồi ra cũng sẽ hát lên bài ca yêu-thương đồng-hành cạnh bên nhau. Sẽ không còn cảnh trên dưới/trước sau nữa. Bởi, ta và người trước/sau như một, sẽ cùng ca và cùng hát chỉ mỗi bài ca yêu-thương, là tất cả.
Và tất cả, đều sẽ sướng vui với giai-điệu đằm-thắm ấy như bậc thánh-hiền xưa nay từng khẳng-định và nhủ-khuyên.
Để minh-hoạ điều này, nay mời bạn và mời tôi, ta đi vào vùng trời truyện kể có ý/lời sau đây:
“Truyện rằng:
Trước cổng một nghĩa trang nọ, người ta thấy có một chiếc xe Roll Royce sang trọng dừng lại. Người tài xế tiến lại người giữ cổng và nói: xin anh giúp một tay cho người đàn bà này xuống xe vì bà ta yếu quá không đi được nữa. Vừa ra khỏi xe, người đàn bà tự giới thiệu và nói với người giữ cổng nghĩa trang:
– Từ hai năm qua, mỗi tuần, tôi là người đã gửi cho anh 5 đô-la để mua hoa và đặt trên mộ con trai tôi, nhưng nay các bác sĩ bảo rằng, tôi không còn sống được bao lâu nữa, nên tôi đến đây để chào từ biệt và cảm ơn anh đã mua hoa giùm tôi.
Thế nhưng, người đàn bà không ngờ rằng người giữ cổng nghĩa trang trả lời như sau:
– Thưa bà, tôi lấy làm tiếc rằng bà đã làm công việc ấy!
Người đàn bà cảm thấy như bị ai đó vả vào mặt. Nhưng bà vẫn còn đủ bình tĩnh hỏi lại người thanh niên:
– Tại sao lại lấy làm tiếc về cử chỉ đẹp như thế?
Người thanh niên giải thích:
– Thưa bà, tôi lấy làm tiếc vì những người chết như con trai bà, chẳng bao giờ còn thấy được một cánh hoa nào nữa!
Bị chạm tự ái, người đàn bà liền cao giọng:
– Anh có biết anh đã làm tổn thương tôi không?
Người thanh niên bình tĩnh trả lời:
– Thưa bà, tôi xin lỗi, tôi chỉ muốn nói với bà rằng có rất nhiều người đang cần đến những cánh hoa của bà hơn. Tôi là hội viên của một tổ chức chuyên đi thăm những người già lão, các bệnh nhân trong viện dưỡng lão, các bệnh viện. Chính họ mới là những người đang cần đến những cánh hoa của chúng ta, họ có thể nhìn thấy và ngửi được cánh hoa ấy.
Nghe thế, người đàn bà ngồi bất động trên chiếc xe sang trọng một lúc, rồi ra hiệu cho tài xế mở máy. Vài tháng sau người đàn bà trở lại nghĩa trang. Nhưng lần này không cần ai giúp đỡ, bà tự động bước xuống xe với một dáng vẻ vui tươi nhanh nhẹn hơn, và điều đáng ngạc nhiên hơn nữa, một nụ cười rạng rỡ, bà nói với người thanh niên giữ cổng:
– Chú đã có lý, tôi mang hoa đến cho những người già lão, bệnh tật. Quả thật, điều đó đã làm cho họ được hạnh phúc. Nhung người thực sự hạnh phúc chính là tôi. Cac bác sỹ không biết được bí quyết làm tôi khỏe mạnh lại. Nhưng tôi đã khám phá ra cái bí quyết ấy, tôi đã tìm ra lẽ sống.

Và người kể, nay thêm đôi lời bàn Mao Tôn Cương, đã nói rằng:

“Giúp đỡ người khác là giúp đỡ chính mình”. Đó cũng là khuôn vàng thước ngọc của Thượng đế “cho thì có phúc hơn là nhận lãnh”. Bởi vì, trao ban cho người tức là trao ban cho mình. Một ngạn ngữ Anh cũng nói một cách tương tự: “điều tôi tiêu đi là tôi có, điều tôi giữ lại là tôi mất, điều tôi cho đi là tôi được”. Đó là lý luận của tình yêu. Tình yêu lớn lên theo mức độ của sự trao ban. Có biết yêu thương thì con người mới thực sự triển nở, và tìm gặp lại chính mình. Có biết yêu thương thì con người mới biết vui sống, và tìm được hạnh phúc đích thực trong cuộc sống.

Kể thế rồi, nay mời bạn mời tôi, ta lại sẽ hiên ngang hướng về phía trước, cứ thế ngâm nga đôi lời ca được người nghệ-sĩ viết lên vào thời trước, những hát rằng:

“Trên con đường một mình anh về nơi chốn tha hương.
Cơn đau xa người còn thấm môi hôn nhớ về ai.
Phút chia tay em nói lời tiễn đưa,
Mắt anh buồn nhìn em, thôi đã mất.”
Đêm hôm nào mùa trăng thu chờ em đến bên tôi,
Vùi thân rã rời hình bóng em theo chăn gối này.
Thoang hương xưa thôi cũng đành.
Nói cho nhau lời cuối cùng,
Dấu chân em rời căn gác buồn tênh.
Và ngày em đi, anh đưa môi tìm lên môi son cũ.
Dấu vết ái ân tan theo như lời nói khi lìa nhau,
Bàn tay như cố kéo những ước mơ đã mãi xa rồi.
Nhìn tháng năm tàn phai, hình bóng thôi còn ai.
(Hoàng Trọng Thụy – bđd)

Hát thế rồi, nay mới thấy: cứ “nhìn tháng năm tàn phai, hình bóng thôi còn ai”, nay anh có đồng-hành ở bên trên hay phía trước hết mọi người, rồi ra cũng chẳng là gì hết. Bởi, nếu không cùng cất tiếng hát “Tình thương yêu mến mộ”, hoặc nếu không yêu thương, nhường nhịn và tương kính nhau, thì có giành giựt cho lắm từ danh vọng đến chức quyền đi nữa, tất cả cũng chỉ là phù-vân, chóng hết, rất tầm thường.

Trần Ngọc Mười Hai
Nhiều lúc cũng có tâm-tư trầm lắng
Rất như thế.

9/11:Nữ Trung Tá gốc Việt thoát chết bởi Một Giấc Chiêm Bao!

9/11:Nữ Trung Tá gốc Việt thoát chết boi Một Giấc Chiêm Bao!

Tác giả: Lệ Hoa Wilson

Ngày này, 14 năm trước, khủng bố đã tấn công nước Mỹ. Bài viết mới của Lệ Hoa Wilson là chuyện của một bà mẹ Mỹ Tho kể về người con hiện là nữ trung tá làm việc tại Ngũ Giác Đài. Tác giả là một Phật tử, pháp danh Tâm Tinh Cần, nhũ danh Quách Thị Lệ Hoa, đã nhận giải đặc biệt Viết Về Nước Mỹ 2011, với loạt bài tự sự của một phụ nữ Việt thời chiến, kết hôn với một chàng hải quân Hoa Kỳ. Ông bà có văn phòng Di Trú-Thuế Vụ tại Long Beach.
* * *
blank

Trụ sở Ngũ Giác Đài bị khủng bố tấn công ngày 11 tháng 9, 2001.

Chúng ta tạm gọi nó là Mì Tô, bạn nhé.

Nó là con gái, sinh năm 1968 tại Việt Nam. Ba Mỹ. Má Việt. Và trước sau nó chỉ có một mình, không có thêm anh em nào nữa.

Mỗi tháng nó theo mẹ về Mỹ Tho thăm bà ngoại. Trong đời nó không có món nào ngon bằng chuối chiên của dì Tám, giò chéo quẩy của Hai Hửng và nước mía của Má Thằng Lộc. Nó nghe người lớn kêu sao thì kêu vậy và một lần nó ăn một bạt tay nhẹ của bà ngoại vì nó kéo áo má nó nói: “Con muốn uống nước miá của Má Thằng Lộc”. Bà ngoại hỏi má nó chớ cô có biết dạy con không, sao để nó ăn nói hỗn hào như vậy? Má nó định nói gì đó nhưng lại thôi.

Cái tát tay không làm nó đau nhưng làm nó khó hiểu. Nếu là ba nó thì ông sẽ giải thích cho nó biết nó làm lỗi gì, phải sửa đổi ra sao và ông sẽ nheo một mắt, đưa ngón tay cái của bàn tay mặt lên trời và nói “không có lần sau nữa, phải không con gái yêu quí của ba” và dĩ nhiên nó vui vẻ gật đầu.

Nó cũng không hiểu tại sao khi bị bạt tay nó không khóc mà má nó lại khóc khi bà ngoại nói chuyện nhẹ nhàng với má nó. Nó nằm ngủ trên bộ ván ngưạ, vòng tay ngắn ngủi choàng qua ôm ngang bụng mẹ. Tiếng hỷ mũi sột soạt và từng cơn nấc làm bụng mẹ nó trồi lên hụp xuống khá nhanh khiến nó tỉnh giấc. Một vài giọt nước mắt rơi xuống mu bàn tay làm nó thấy lành lạnh và trong lòng nó nổi lên một cảm giác là lạ. Nó cố gắng nhớ lại coi những khi ở nhà má nó khóc thì ba nó làm gì? Hình như ông nói nhiều lắm nhưng nó chỉ nhớ và thích câu “Em hãy tựa đầu lên vai anh và khóc đi, khóc cho tới khi em hết buồn!” Nó nghiệm ra rằng khi buồn thì người ta khóc và khi khóc thì phải khóc cho đến khi nước mắt không chảy ra nữa thì mới hết buồn.

À thì ra má nó đang buồn. Nó sửa soạn ngồi dậy để nói với má nó cái câu ba nó thường nói và sẽ đưa cái vai nhỏ nhắn của nó ra cho má nó dựa vào. Lòng nó thương mẹ nhiều đến đổi nó vùng dậy như một cây tên bật ra khỏi dây cung, miệng méo xệch và mắt ướt nhẹp.

– Má…má…dựa vào…

Nó lắp bắp cố nhớ lại lời ba nó thì bà ngoại đã nạt ngang:

– Con nít biết gì mà lộn xộn. Ra ngoài sân chơi đi!

Má nó đưa tay vuốt đầu nó rồi nhét vô tay nó hai tờ giấy bạc:

– Con xuống bếp nói dì Hai dẫn con đi mua chuối chiên và nước mía đi. Má thương con.

Khi nó trở về từ đầu ngõ, một tay cầm miếng chuối chiên vàng rợm, một tay ly nước mía lạnh ngọt ngào, nó thấy một đám trẻ bu quanh một người đàn bà mà la hét, quơ tay múa chân. Đám con trai thì nhảy loi choi, miệng hò hét nhẩy … nhẩy, đám con gái thì vừa la liệng… liệng vừa vung tay liệng tất cả những gì chúng đang cầm: lá chuối, bông phượng, đất sét, gạch ngói…

Người đàn bà đầu tóc rũ rượi, mồ hôi chảy đầy trán, quần áo xộc xệch vừa nhảy vừa liệng ra tất cả những gì bà đã nâng niu: hai trái chuối xiêm, nửa đòn bánh tét và một tờ giấy bạc nhàu nát.

Có mấy người lớn làm công việc lặt vặt trước cửa nhà nhưng không ai rầy la ngăn cản đám con nít. Có lẽ chuyện nầy xảy ra thường ngày nên họ cũng chẳng buồn để ý.

Lòng của Mì Tô thắt lại. Ba má nó thường dạy nó phải kính trọng và thương yêu người khác, nhứt là những người tàn tật, bịnh hoạn. Hiện tại, dưới mắt nó, bà già nầy đúng là người ba má nó thường khuyên dạy nó phải giúp đỡ và yêu thương.

Nó kéo tay áo dì Hai và cố gắng dùng tất cả tiếng Việt mà nó biết:

– Dì Hai, ngừng đi… ngừng đi…. Bà già mệt rồi… áo ướt rồi…

Dì Hai hiểu nó nên bước lên nắm tay môt thằng nhỏ có vẻ là đầu đàn và la lớn:

– Đủ rồi tụi bây. Bà Sáu khùng gần xỉu rồi. Đồ quỷ, đi chỗ khác chơi!

Thế là tụi nhỏ tan hàng. Bà Sáu đứng lại thở hồng hộc và lết lại gốc cây phượng ngồi xuống. Mì Tô ngồi xuống cạnh bà, đưa ly nước mía:

– Bà ơi uống nước mía của Má…., nó sực nhớ lại cái tát tay nhẹ của ngoại nên nói lảng:

– Nước mía và chuối chiên ngon lắm, bà ăn đi, uống đi.

Người đàn bà đưa tay ra cầm tay Mì Tô, nhìn nó chăm chăm và hai dòng nước mắt lặng lẽ chảy dài.

Qua lời thuật lại của dì Hai, má nó biết là lúc đó bà Sáu khùng và Mì Tô nắm hai tay nhau, tay Mì Tô còn cầm ly nước mía và tay kia miếng chuối chiên. Hai tay bà Sáu bọc ngoài hai tay nó và họ nhìn nhau. Cảnh tượng lúc đó có cái gì là lạ làm dì Hai nổi gai ốc, hình như có cái gì xoáy tròn, hình như có cái gì nhẹ nhàng bay lên… Dì Hai sợ ma nên kéo tay Mì Tô lôi về.

Sau đó mỗi lần về thăm ngoại, Mì Tô thường hay đem quà bánh nó để dành và đem lại chia xẽ với bà Sáu. Khi gặp nó thì bà Sáu lại tỉnh táo kể cho nó nghe chuyện con Tấm con Cám, chuyện câu cá bắt cua ở quê bà, chuyện cây xoài gây lộn với cây ổi v.v..và nó cười vui vẻ cùng bà. Hình như nó là đứa trẻ duy nhứt hay có thể nói nó là người duy nhứt đối xử với bà Sáu như Một Con Người.

Nhiều năm về sau Mì Tô mới biết những lần về thăm bà ngoại đã ảnh hưởng tới cuộc đời nó huyền diệu đến thế nào. Nó không thể thay đổi được dĩ vãng, nhưng tương lai thì…
*
blank

Trụ sở Ngũ Giác Đài bị khủng bố tấn công ngày 11 tháng 9, 2001.

Năm 1975, mẹ con nó theo ba nó về Mỹ và từ đây nó trở thành cô Maddison.

Cái tên Mì Tô là do ba nó phát âm tiếng Mỹ Tho ngọng nghịu làm mọi người bật cười và gán cái biệt danh đó cho nó. Còn má nó khóc mỗi lần về thăm ngoại là vì bị mẹ rầy rà đay nghiến về cái tội lấy Mỹ! Bận rộn với cuộc đời mới nó quên hẳn tên Mì Tô cũng như bà Sáu khùng.

Đối với Maddison, mẹ cô là người làm cho cô biết thương yêu đồng loại và sẵn sàng chia xẻ. Nhưng ba cô lại tạo cho cô một tình yêu quê hương thắm thiết, đậm đà. Cô yêu nước Mỹ và nước Việt Nam tuy rằng nước Mỹ đối với cô gần gũi, thiết thực còn nước Việt Nam thì xa lạ, mơ hồ.

Trong suốt thời kỳ theo học đại học, cô lúc nào cũng nghĩ tới học môn gì, làm nghề gì cho có ích lợi cho Mỹ và Việt Nam? Và cô đã chọn ngành Criminal Justice và học rành rẽ tiếng Nga vì cô nghĩ rằng người Nga và người Tàu đã giúp cộng sản chiếm miền nam. Lúc đó tiếng Tàu không thông dụng ở Mỹ nên cô chọn tiếng Nga và gia nhập quân đội. Sau nầy nếu cô có là một spy thì ngoại hình của cô sẽ thích hợp với châu Âu hơn là châu Á.

Năm 2001, Maddison đã là một chuyên viên nghiên cứu, theo dõi và cung cấp các hoạt động tình báo của Nga cho Ngũ Giác Đài và mang cấp bậc thiếu tá.

Tối ngày 10 tháng 09 năm 2001, cô ngủ và có một giấc mơ kỳ lạ. Cô thấy lại bà Sáu mà cô đã quên từ rất lâu. Bà hôm đó sạch sẽ hơn và có vẻ tỉnh táo hơn. Bà đứng nhìn cô và nói:

– Bà điên sẽ cứu con, bà điên sẽ cứu con.

Tỉnh dậy rồi ngủ lại, hai ba lần cô đều có cùng một giấc mơ. Đầu óc cô lộn xộn giữa mộng và thật. Rồi cô ngủ, rồi mơ, rồi ngủ…

Sáng 11 tháng 09 thức dậy cô bần thần, đầu óc thiếu ngủ nên dật dờ. Dù vậy, cô vẫn nhớ là hôm nay có một cuộc họp quan trọng với các trưởng lão của Ngũ Giác Đài và cơ quan tình báo Mỹ (CIA) mà cô là người thuyết trình và giải thích một chương trình mới về các hoạt động gián điệp của Nga. Cô vội vã sửa soạn đi làm. Trên đường đi, giấc mơ tối qua làm cô bối rối. Có cái gì đó thúc đẩy cô khiến cô vừa lái xe vừa dùng điện thoại có loa loại đặc biệt gắn riêng cho xe cô, gọi bà mẹ ở California.

Hai mẹ con dĩ nhiên nói tiếng Mỹ nhưng tôi xin viết lại bằng tiếng Việt cho dễ hiểu hơn:

– Mẹ à, tối qua con nằm chiêm bao kỳ quá. Con thấy cái bà già ở gần nhà ngoại đó…

– Bà già nào con? Có bà con với mình không? Phải dì Tám Phong, má anh Nhơn không?

– Không phải mẹ à. Cái bà con hay cho bánh mỗi khi con về Mỹ Tho đó. Cái bà bị tụi nhỏ bắt nhảy tửng tửng đó…”

– À ạ, “bà Sáu khùng!”

– Phải rồi, bà Sáu. Mà sao con thấy bữa nay bà có vẻ tỉnh rồi mà còn nói cái gì lạ lắm con không hiểu.

– Bả nói gì ?

– Bà nói cái gì mà cứ “ ba đen cưu con, ba đen cuu con”.

Mẹ cô bên CA cũng ngẩn ngơ không biết cô nói cái gì vì cái accent tiếng Việt của cô nặng quá. Cái gì mà “ba đen cuu con”? Mẹ cô nghĩ hoài không ra. Hai mẹ con bàn qua tán lại một lúc cũng không đi đến kết quả. Mẹ cô nói hay là con cúp điện thoại đi để mẹ suy nghĩ một lúc rồi con gọi lại nghe.

Mười phút sau, cô gọi lại. Lại một hồi nói ra nói vào. Lại cũng không kết quả. Không biết có cái gì đó trong cô thúc đẩy cô phải tìm hiểu và cô cứ lằng nhằng với mẹ. Khi cúp điện thoại thì cô nhận ra cô đã đi quá con đường chỗ phải exit để tới sở làm. Có hơi quýnh quáng vì sợ trễ buổi họp, cô lái xe nhanh hơn và quẹo vào cái exit kế đó.

Trời ơi, hôm nay không phải là ngày của cô. Đêm thì chiêm bao lung tung thiếu ngủ. Sáng thì nói cả tiếng mà mẹ không hiểu làm cô mất tự tin. Đi làm thì lố cái ngả rẽ. Bây giờ thì đằng trước có cái gì mà xe lại đùn đống như vậy? Mà cái gì đưa đẩy làm cho cô phải chú tâm tới một giấc chiêm bao tào lao như vậy? Đó không phải là tính cách của một quân nhân trong ngành nghề của cô.

Cô thở dài ân hận. Tại sao cô lại không chờ tới tối rồi hãy hỏi mẹ? Tại sao lại thắc mắc về một giấc mộng mị vặt vãnh, bâng khuâng về lời nói của một người đàn bà đã đi qua đời cô quá lâu rồi?

Vậy là đúng vào ngày 11 tháng 09 năm 2001, cô Maddison vì nói chuyện điện thoại với mẹ nên đi lố ngả rẽ và bị kẹt xe trong ngả rẽ tiếp vì có tai nạn xe cộ đằng trước. Đồng hồ cô chỉ 9 giờ 15 sáng mà buổi họp định sẽ diễn ra lúc 9 giờ sáng và kéo dài tới 11 giờ. Nóng nảy, cô kêu viên trung úy phụ tá và nhờ ông thông báo với mọi người liên hệ là cô xin dời lại giờ họp là một giờ trưa và cô xin trung úy nói với đại tá trưởng phòng là cô thành thật xin lổi và sẽ vui lòng nhận chịu mọi trách nhiệm.

9:37 sáng ngày 11 tháng 09 năm 2001, cô Maddison ngồi trong xe đang chờ cảnh sát dọn dẹp đường thì một tiếng nổ kinh hồn bùng lên. Chiếc xe cô lắc lư, rung rinh. Cô thoáng nghỉ trời ơi sao mà xui quá, tai nạn phía trước chưa dọn xong thì lại có tai nạn nữa, kiểu nầy khi tới được sở chắc là bị đổi đi phòng khác nhỏ hơn, chức vụ khác thấp hơn. Khi cô nhìn lên thấy khói bụi bốc mù mịt từ phía tây của tòa Ngũ Giác Đài thì tim cô từ 70 độ nhảy lên 120 độ và máu thì chảy rần rật trong thân thể. Cô len lõi giữa các xe, lái xe lên bờ lề, bất chấp những tiếng còi và lời ta thán của những người lái xe khác, chìa cái thẻ của NSA (National Security Agency) cho người cảnh sát và lái như điên đến Ngũ Giác Đài. Chiếc máy bay số 77 của hãng American Airline bị bọn khủng bố lái thẳng vào tầng một của mặt tây tòa nhà làm sụp đổ một phần ba các tầng phòng và giết hại một trăm hai mươi lăm nhân viên dân sự và quân đội.

Cô Maddison đứng nhìn đống gạch đá khổng lồ chất chồng lên những thân hình oằn oại máu me rồi ngồi sụp xuống ôm mặt khóc nức nở. Đây là văn phòng cô làm việc, đây là nơi cô có buổi hẹn sáng nay, đây là thân thể đẫm máu của trung úy Garrison vừa mới Yes, Major. Will do” lúc 9 giờ 15 sáng.

Nếu cô không nằm mơ, nếu bà khùng không nói lảm nhảm làm cô phải kêu mẹ, làm cô đi lố đường, làm cô kẹt vì tai nạn, làm cô trễ giờ đến sở thì trong đống gạch vụn đó với tay chân gảy nát, với tim óc tung tóe đã có thêm một thiếu tá Maddison và 20 viên sĩ quan khác.

Cô kêu mẹ vừa khóc vừa nói Mẹ ơi bây giờ con hiểu bà Sáu nói gì trong giấc mơ của con. Sau khi nghe con gái kể lại mọi chuyện, bà cũng khóc nói bây giờ mẹ cũng đã hiểu “Bà điên cứu con. Bà điên cứu con” là những lời mà bà Sáu đã gởi gấm cho con.

Sau đó, mẹ cô có nói cho cô biết là bà Sáu đã chết năm 1985. Sở dĩ bà bị khật khùng là vì đã chứng kiến cái chết đau thương đột ngột của chồng con. Chồng bà là một quân nhân của Việt Nam Cộng Hòa. Năm ngày trước khi chồng bà về nghỉ phép, một ổ đặc công của việt cộng trong làng đã bị quân đội VNCH càn quét, thiệt hại đáng kể. Để trả thu, một trái lựu đạn đã được bọn đặc công còn lại thảy vào nhà ba. Bốn giờ sáng ngày định mệnh, bà bơi xuồng chất đầy mận, ổi, nhãn ra chợ quận bán để mua thêm thịt cá về đãi chồng trong những ngày nghỉ phép. Khi trở về, Bà đã thả rơi những gói rau thịt xuống đất khi trông thấy xác chồng và đứa con gái 5 tuổi, và từ đó bà đã thả luôn đời mình cho gió bụi và trở thành bà…khùng.

Có lần bà tỉnh lại và tâm sự với mẹ của Mì Tô rằng kể từ ngày bà mất chồng con, chưa có ai đưa cho bà thức ăn với tất cả trân trọng và thương yêu như Mì Tô đã làm. Cũng chưa có ai nhìn bà với ánh mắt như Mì Tô đã nhìn.
*
blank

Trụ sở Ngũ Giác Đài bị khủng bố tấn công ngày 11 tháng 9, 2001.

Mẹ cô Maddison là cư dân San Pedro, CA. Bà làm cho học khu của quận Los Angeles, phục vụ buổi ăn trưa cho học sinh một trường trung học tại Long Beach. Và bà đến văn phòng tôi làm thuế hằng năm. Nhờ thế tôi được bà kể lại rành rẽ chuyện của Mì Tô.

Bà không phải đạo Phật, chỉ là đạo ông bà nên bà cũng không rành lắm về lý thuyết nhà Phật. Tôi không phải là nhà thần học để hiểu được những liên quan của linh hồn, không phải là một người tu hành đạo cao đức trọng thấy được dĩ vãng tương lai, không phải là bà đồng bóng biết chuyện trò với người đã qua đời. Tôi lại càng không tin tưởng vào thần linh và ma quỷ.

Vậy tôi và bạn phải nghĩ sao đây về hành động đầy tình người của một cô bé lúc sáu tuổi, kết quả là hai mươi mấy năm sau nó đã cứu đời cô? Tôi thật không biết. Trong vũ trụ bao la kia, sự hiểu biết của con người như hạt cát mà sự huyền bí thì vô cùng vô tận.

Dù sao, sau khi nghe chuyện, tôi cũng đã chia xẻ với mẹ của cô Maddison hai điều tôi học được trong chuyện nầy. Đúng hay sai tùy theo cảm nghĩ của từng người.

Thứ nhứt là cháu Mì Tô đã cho người mẹ mất con đau khổ kia một tình thương trong sáng, ngọt ngào. Trong lòng bàn tay của đứa bé 6 tuổi, ly nước mía và trái chuối chiên đã bốc hơi lên thành một cái nhân khí huyền diệu đợi chờ. Trong cái phút hai cặp mắt thương yêu, ơn nghĩa nhìn nhau, một kết quả chắc chắn đã thành hình đâu đó: TÌNH NGƯỜI!

Phải rồi bạn ơi. Tình người đã thành hạt mè và ngày đó, hai mươi mấy năm trước, dì Hai đã cảm thấy nó hình như xoáy tròn bay lên không trung và nằm đó đợi chờ, lại cũng hình như vĩnh viễn ngưng đọng giữa hai trái tim cùng dòng máu đỏ. Như một giọt nước li ti bốc hơi lên từ đại dương và chờ ngày thành đám mưa rơi xuống cứu thoát nhân gian.

Thứ hai là lòng biết ơn của người đàn bà điên loạn. Trong một giây phút ngắn ngủi nhận ly nước mía và trái chuối chiên, sự biết ơn sâu đậm đó, sự cảm nhận được yêu thương đó đã làm sống dậy trong bà một nguồn năng lượng vô biên. Nó làm cho cánh cửa tâm hồn bà mở ra, nhận biết lại khổ đau cũng như hạnh phúc. Chỉ một sát na. Nhưng trong cái sát na đó, hai loại tình cảm thiêng liêng đã hòa quyện vào nhau thành một cái nhân nằm đó. Rồi một ngày nào đó với đầy đủ đất nước gió lửa, hột mè sẽ nở. Quả sẽ trổ tròn đầy. Ngay trong cuộc đời hay trong giấc chiêm bao. Và huyền diệu thay, giấc mơ lại tác dụng sâu đậm tới hiện thực, hòa quyện vào nhau cứu độ mạng người. Mộng hay Thực? Vô Thường!

Tôi nhớ lại một lời dạy của đức Phật “Đừng khinh những điều thiện nhỏ mà không làm!” Và tôi tin có một chuyện linh thiêng mà ta có thể cầu khẩn để đời ta luôn có nhiều hạnh phúc! Đó là hãy cầu khẩn cho lòng thương yêu nhân loại luôn đâm chồi nẩy lộc trong tâm hồn ta.

Năm 2006 mẹ cô Maddison có cho tôi đọc một bài viết về cô của Ngũ Giác Đài nhân dịp cô được phong lên chức trung tá, có nhắc lại ngày 11 tháng 09 không thể nghĩ bàn của cô.

Vì chức vị và nghề nghiệp của cô nên tôi đã đổi tên cô khác đi một chút. Có một điều chắc chắn là tên giữa của cô có hai chữ M.T., có nghĩa là Mỹ Tho!

Lệ Hoa Wilson

Thấy gì ở bên ngoài nhân việc Tạ Phong Tần đi Mỹ

Thấy gì ở bên ngoài nhân việc Tạ Phong Tần đi Mỹ

Mai Tú Ân

Tù Nhân Lương Tâm Tạ Phong Tần, một chiến sĩ đấu tranh dân chủ bị kết án tù 10 năm đã bất ngờ được chính quyền Việt Nam trả tự do trước thời hạn 5 năm, và được đưa thẳng lên máy bay bay qua Mỹ. Chị hoàn toàn không được hưởng một giây phút tự do nào trên quê hương Việt Nam mà chị đã dấn thân và phải trả giá bằng nhiều năm tù đằng đẵng. Chị cũng không có được phút giây viếng mộ mẹ già, không được đốt cây nhang kính viếng đến người mẹ đã tự thiêu một năm sau ngày chị bị bắt giữ bất công.

Hoàn toàn giống với TS Cù Huy Hà Vũ và Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải trước đó, cũng bị lực lượng AN áp tải thẳng từ nhà tù tới phi trường để bay sang Mỹ. Thậm chí anh Điếu Cày vẫn không kịp thay đôi dép nhựa…

Đó là sự đổi chác, hay là sự biến tấu của những cuộc “đầy ải” biệt xứ thì chúng ta không biết, mà chỉ biết chắc rằng, đã có một thoả thuận ngầm nào đó giữa chính quyền Việt Nam và chính quyền Mỹ. Và những màn “xuất ngoại” vừa vội vàng vừa lỗi thời và không giống ai của những tù nhân lương tâm nổi tiếng đó chỉ là thực hiện thoả thuận bí mật trên mà thôi.
Có lẽ chính quyền Mỹ, qua sự đấu tranh của đồng bào hải ngoại, của các tổ chức quốc tế và qua truyền thống nhân đạo của mình (như vụ HO chẳng hạn) đã lại đưa bàn tay nhân ái ra để giúp cho những người tù nhân lương tâm đang bị đày ải bất công trong các nhà tù CS. Tất nhiên là người Mỹ cũng đấu tranh để đòi “tự do vô điều kiện” cho các TNLT nhưng có lẽ họ đã làm hết sức có thể và kết quả chỉ là thế. Và nếu có điều gì để nói thì chúng ta chỉ nên nói lời cám ơn chân thành.

Và giờ đây người phụ nữ can đảm Tạ Phong Tần của chúng ta đã đến với nước Mỹ của tự do, của đồng bào ruột thịt chung đường với cô giống như cá về với nước, như con cháu về với gia đình…

Nhưng, chúng ta hãy trở về với thực tế. Thế giới tự do hoá ra lại không hẳn là nơi hoạt động đắc địa cho các chiến sĩ đấu tranh cho tự do. Những con người tốt nhất của phong trào đấu tranh trong nước (họ xứng đáng được gọi như thế bởi sự dấn thân, sự trả giá cho những lý tưởng của mình) thì khi qua nước ngoài thì dường như đều bị “ngợp” bởi sự công kích bất công, sự bới lông tìm vết, sự thù nghịch vô lý của một số thành phần, mà buồn thay lại là những người cùng chung chiến tuyến. Những người nổi tiếng như nhà báo Bùi Tín, nhà văn Vũ Thư Hiên trước đây, và Ts Cù Huy Hà Vũ, Blogger Điếu Cày vừa qua, người nhiều người ít nhưng đều là những người mà ở trong nước chúng tôi rất trân trọng, yêu mến nhưng họ đều vất vả, khổ sở khi phải đối phó, chống đỡ, thanh minh trước bao nhiêu búa rìu khi xuất ngoại…

Vẫn biết rằng quyền cá nhân phản biện là quyền dân chủ đương nhiên ở đất nước dân chủ, vẫn biết rằng số người công kích họ không phải là nhiều trong cộng đồng hải ngoại vốn công bằng, nhân hậu nhưng đó là những thành phần mạnh miệng, nhân danh đủ thứ và mạt sát đủ thứ khiến cho những chiến sĩ ấy của chúng tôi tổn thương, hoặc lạc lõng và ít nhiều đều giảm sức đấu tranh.

Tất cả hầu như đều bị chụp cho cái mũ ngớ ngẩn là CS, hay CS sang nằm vùng. Và không biết có phải ngẫu nhiên không khi hầu như tất cả họ đều là người xuất thân từ miền Bắc, hay ít nhiều dính líu đến chế độ CS. Chế độ mà họ đã và đang đấu tranh đến cùng. Đó là những người trí thức có tài, có tâm và có cả dũng nữa để dấn thân, và việc phải ra nước ngoài là việc chẳng đặng đừng. Nói một cách thật lòng thì đa phần những người dấn thân ở trong nước đều chấp nhận trả giá cho việc dấn thân, chứ không mấy ai hoan hỉ với việc “đi Mỹ” này.
Vậy mà giờ này vẫn có những cái tên, những con người “đồng chí hướng” với họ vẫn ra rả công kích bất công và vô lý , vẫn không ngừng bới lông tìm vết, không ngừng đòi hỏi để cuối cùng thì những người đó giống như những kẻ ngồi nhà bắc nồi để chờ ninh xương cọp làm cao hổ cốt, và lại lên tiếng mạt sát những người đã và đang ở trong hang cọp để bắt cọp.
Tất cả những điều đó không hạ gục được ai nhưng nó không chỉ buồn lòng những người ra đi, mà cả những người ở lại.

Mong rằng những điều không đáng có đó không đến với nữ nhi can đảm Tạ Phong Tần của chúng ta…

M.T.A

Cô dâu 14 tuổi và hành trình bị bán sang Trung Quốc

Cô dâu 14 tuổi và hành trình bị bán sang Trung Quốc

VOA
Trà Mi
20-9-2015
Ảnh cưới của Lý Thị Minh lúc 14 tuổi, và ông Pay Long Phe, một thợ hồ Trung Quốc. Ảnh cưới của Lý Thị Minh lúc 14 tuổi, và ông Pay Long Phe, một thợ hồ Trung Quốc.

Ảnh cưới của Lý Thị Minh lúc 14 tuổi, và ông Pay Long Phe, một thợ hồ Trung Quốc.
Ảnh cưới của Lý Thị Minh lúc 14 tuổi, và ông Pay Long Phe, một thợ hồ Trung Quốc.

Hôn nhân đổi chác giữa các cô gái Việt với đàn ông nước ngoài không phải là hiếm, nhưng câu chuyện gửi tới các bạn hôm nay sẽ phơi bày sự thật đau lòng về thảm trạng buôn người mà nạn nhân là các bé gái ở những vùng biên giới của Việt Nam đang hàng ngày bị bắt cóc bán cho những người đàn ông nông thôn ở Trung Quốc mua về làm vợ.

Đó là nghịch cảnh của 3 chị em Lý Thị Sua, Lý Thị Minh, và Lý Thị Sinh cùng bị bắt cóc và bị bán sang Trung Quốc vào năm 2011 lúc Sua mới lên 13, Minh tròn 14, và Sinh bước vào tuổi 20. Hai người em là Sua và Minh đã tìm cách thoát về Việt Nam, còn cô chị hiện chưa biết tung tích ở đâu, sống chết thế nào.

Cuộc trò chuyện giữa chúng tôi với Minh, cô gái dân tộc Hmong không nói được tiếng Kinh, bị gián đoạn rất nhiều lần vì nỗi sợ hãi, lo lắng, và những chấn động tâm lý chưa nguôi ngoai sau khi cô vượt thoát người chồng Trung Quốc trở về Việt Nam với gia đình ở xóm Khuổi Vin, xã Lý Bôn, huyện Bảo Lâm (tỉnh Cao Bằng) hôm 22/7 vừa qua.

Minh vẫn còn nhớ như in cái ngày định mệnh đã rẽ ngoặc cuộc đời cô, thay đổi tương lai của cô bé tuổi cài trâm bị bán, bị ép làm vợ một người đàn ông quê mùa, ít học ở xứ lạ quê người. Không có ngày ấy thì giờ đây Minh lẽ ra đang là một thiếu nữ bước vào tuổi 18 đầy hoa mộng và hứa hẹn. Nhưng sau 4 năm bị bán sang Trung Quốc, Minh giờ đây là một bà mẹ trẻ đã bỏ lại đứa con thơ chưa dứt sữa để chạy trốn khỏi người chồng Trung Quốc.

Cô dâu 14 tuổi

Chuyện xảy ra ngày 28 tháng 4 năm 2011, khi chị em Minh được 3 thanh niên mới quen, trạc ngoài đôi mươi, người dân tộc Nùng, rủ đi lễ hội ở chợ Khâu Vai, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. Trong số này có một người tên là Lò Văn Hiền, trú ở xã Đức Hạnh, cùng huyện Bảo Lâm với 3 nạn nhân. Sau khi mời các cô ăn uống dọc đường, thay vì đi Hà Giang như hứa hẹn, nhóm thanh niên đã chở thẳng 3 chị em qua Trung Quốc sang tay cho một đường dây buôn người chuyên săn tìm các cô gái Việt bán cho những người đàn ông Trung Quốc không đủ khả năng lấy vợ bản xứ.

Qua lời thông dịch của anh trai, cô Minh thuật lại:

“Sau khi Hiền cùng đồng bọn đưa 3 chị em chúng tôi tới đường biên giới Việt Nam-Trung Quốc, họ cho chúng tôi xuống xe và tát chúng tôi mỗi người một cái. Lúc đó, chúng tôi mới tỉnh vì trước đó họ có cho chúng tôi uống nước và có thể có chứa chất gây kích thích tâm lý. Họ đòi điện thoại của chúng tôi. Hiền và đồng bọn đã đánh 3 chị em tôi, đưa dao kề cổ khống chế và dọa giết nếu chúng tôi bỏ chạy. Sau đó, họ đưa chúng tôi vào nhà một người Hmong ở Trung Quốc cách đường biên giới Việt Nam khoảng 7 giờ đồng hồ. Trong nhà này có một người đàn ông khoảng 45-50 tuổi chuyên mua bán phụ nữ từ Việt Nam sang Trung Quốc. Họ cho người canh gác 3 chị em tôi rất nghiêm ngặt. Sáng hôm sau, họ bán chị Sinh và Sua đi trước. Hiền và đồng bọn thì về Việt Nam. Khi tôi van xin được nhìn 2 chị em của tôi lần cuối thì ông chủ nhà đưa cho xem một khẩu súng ngắn và nói ‘Chúng tao sẽ dùng khẩu súng này đi đón 2 chị mày.’ Một ngày sau, có một cặp vợ chồng tới đón tôi chở thẳng tới tỉnh Sơn Tây của Trung Quốc. Vợ là người Hmong Việt Nam.”

Minh không rõ tên của người đàn ông Trung Quốc tới đón cô đi bán, nhưng người đàn bà Hmong Việt Nam đi cùng, theo cô được biết, tên là Thào Thị Tráng, một tay buôn người chuyên nghiệp thường xuyên cung cấp gái cho những người Trung Quốc muốn lấy vợ Việt Nam. Minh nói lúc đó cô đã nhìn thấy bà Tráng bán 3 cô gái Việt khác, trong đó có một người tên là Mị từ huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, Việt Nam.

Tới Sơn Tây, bà Tráng đưa hình 3 người đàn ông Trung Quốc cho Minh xem và bảo cô phải lấy một trong ba người này làm chồng, nếu không, sẽ bị mang đi bán xa hơn nữa. Không thể chống cự, cuối cùng Minh phải nhận lời làm vợ một người trong ảnh tên là Pay Long Phe, lớn hơn cô 20 tuổi.

Sau cuộc ngã giá, Minh bị bán cho ông Pay, một thợ hồ ngụ tại số 18 đường Bắc, thôn Hà Khẩu, xã Cao Hồng Khẩu, huyện Ngũ Đài. Đây là một vùng quê nghèo, hẻo lánh thuộc tỉnh Sơn Tây có đa phần dân cư là thành phần lao động chân tay, làm thuê làm mướn kiếm sống qua ngày.

Mẹ và em trai ông Pay, qua điện đàm với chúng tôi, dường như hơi bất thường, nói năng không được minh mẫn và mạch lạc. Sau rất nhiều cuộc gọi, khó khăn lắm chúng tôi mới gặp được ông Pay.

Người đàn ông này thừa nhận đã mua cô Minh với giá trên 60.000 nhân dân tệ, khoảng 130 triệu đồng Việt Nam, nhưng ông từ chối tiết lộ bất kỳ thông tin nào về kẻ môi giới. Ông nói ông không biết gì về người này và chưa từng gặp mặt trực tiếp. Ông Pay Long Phe kể:
“Một trong những bà con trong gia đình tôi giới thiệu tôi với người môi giới này vì anh ấy cũng lấy vợ Việt Nam thông qua đường môi giới này.”

Khi được hỏi cuộc mua bán diễn ra thế nào, ông Pay nói tới giờ hẹn, một người nào đó không phải là chủ môi giới đã thả cô Minh vào làng rồi gọi ông ra nhận. Chúng tôi thắc mắc vì sao ông không lấy vợ bản xứ mà đi mua vợ từ Việt Nam, người thợ hồ Trung Quốc không ngần ngại giải thích:

“Tôi nghe nói vợ Việt Nam rất dễ dạy, ngoan hiền, lại siêng năng làm lụng.”
Về số tiền khá lớn ông đã bỏ ra, ông Pay nói đó là giá trung bình phải chi để cưới vợ ở đây, nhưng cưới vợ Trung Quốc còn tốn hơn nhiều vì những đòi hỏi về tiền bạc, nhà cửa, và sính lễ vượt quá khả năng giới lao động như ông.

Kế hoạch vượt thoát

Minh cho biết sau khi bị ông Pay mua về, cô dâu bất đắc dĩ phải chung sống với gia đình chồng gồm 8 người. Hằng ngày cô phải đi làm mướn phụ tiền chi tiêu, nhưng bị gia đình chồng canh chừng rất nghiêm ngặt, tới điện thoại cô cũng không được dùng.
Ở tuổi 14, Minh đã phải chịu đựng biết bao tủi khổ trong cuộc hôn nhân cưỡng ép hơn 4 năm trời mà không một lần dám bỏ trốn vì cô được nghe kể có một trường hợp tương tự sau 2 lần vượt thoát bất thành bị bắt lại, bị đánh đập rất dã man. Minh chia sẻ:
“Mỗi lúc cãi nhau, ông chồng đều nhắc tới chuyện mua tôi và nói rằng nếu không nghe lời thì sẽ mang bán tôi đi một nơi thật xa nữa.”

Bản thân không rành ngôn ngữ bản địa, lại bị đưa đi quá xa, có tìm đường chạy về thì chắc gì đã thành công mà rủi bị bắt lại thì khó sống. Nghĩ vậy nên Minh đành khoanh tay chấp nhận số phận.

Mãi đến tháng 3 năm nay, lần đầu tiên Minh nhờ được một phụ nữ Hmong từ Hà Giang sang Sơn Tây làm vợ người Trung Quốc giúp thông tin với cha mẹ ruột ở Việt Nam. Từ ngày nối liên lạc được với gia đình, Minh nung nấu quyết tâm trở về.

Biết ý muốn của ông Pay bỏ tiền mua vợ chủ yếu kiếm một đứa con, Minh nghĩ chỉ có cách sinh con mới có thể được gia đình chồng tin yêu và có thể thuyết phục họ cho cô về Việt Nam thăm gia đình. Vì vậy, Minh đã cố gắng ‘ngoan ngoãn’ và sinh cho ông Pay một đứa con.
Kế hoạch của cô diễn ra suôn sẻ khi ông Pay cho phép cô lần đầu tiên sau hơn 4 năm ở với ông được về thăm cha mẹ hôm 22/7 vừa qua, lúc con của Minh vừa tròn 18 tháng. Ông đưa Minh tới cửa khẩu Săm Pun, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, và nhờ một phụ nữ buôn bán tại đây dắt qua biên giới, nơi cô đã điện thoại hẹn gia đình đến đón. Minh thuật lại:

“Lúc sắp về, gia đình chồng bàn bạc rất kỹ, nhưng tôi không biết họ nói với nhau cái gì. Lúc tới biên giới, ông chồng dặn về 3 ngày phải quay lại ngay vì đã có một đứa con rồi.”
Nhưng vừa bước chân qua biên giới Việt Nam, Minh đã quyết định không bao giờ trở lại Trung Quốc nữa. Ngay hôm sau, cô đã gọi điện báo cho ông Pay và lập tức thay đổi số điện thoại liên lạc.

Minh nói dứt áo ra đi khi con thơ hãy còn khát sữa là một quyết định hết sức đau lòng và đầy uẩn khúc, nhưng người mẹ trẻ cương quyết thà bỏ con chứ không thể trở lại kiếp sống ‘nô lệ mới’:

“Tôi có nhớ tới đứa con của tôi, nhưng nghĩ lại thấy họ mua bán tôi như một món đồ chơi và một thứ vật nuôi, tôi thấy rất buồn. Nỗi nhớ con tới đâu thì thời gian rồi sẽ quên đi, không đau bằng họ bán tôi như vật nuôi và đánh đập tôi lúc tôi bị họ bắt cóc. Nghĩ tới đó tôi thấy rất cay, rất buồn. Nỗi nhớ con rồi sẽ qua nhưng nỗi đau về thể xác và tinh thần lúc tôi hãy còn là một đứa trẻ con sẽ không qua được, nên tôi quyết định không về nữa.”
Quyết định của Minh khiến người chồng Trung Quốc hết sức bàng hoàng. Ông nói những cô gái được mua về làm vợ như Minh trong làng của ông, có người đã ở đây hơn chục năm nay mà không hề bỏ chạy. Ông Pay trần tình:

“Tôi chỉ muốn cô ấy quay về, đứa con tội nghiệp còn quá nhỏ, nhưng tôi không liên lạc được với cô ấy nữa. Nếu cô ấy quay lại, tôi sẽ cho cô ấy đi đi về về thăm gia đình.”
Tố cáo buôn người và hồi đáp của chính quyền

Vừa về được Việt Nam, Minh đã lập tức trình báo công an huyện Bảo Lâm và gửi đơn tố cáo lên công an tỉnh Cao Bằng về vụ bắt cóc phụ nữ-trẻ em bán sang Trung Quốc mà 3 chị em cô là những nạn nhân trực tiếp.

Người anh cả trong gia đình Minh, anh Lý Thành Lương, cho biết:
“Họ bảo ‘Về được thì tốt rồi,’ chỉ như vậy thôi. Lúc 3 chị em vừa mới mất tích, gia đình đi tìm khắp nơi và lên trình báo công an huyện Bảo Lâm nhiều lần và xin giấy thông hành qua Trung Quốc tìm kiếm, nhưng công an huyện nói không đủ thẩm quyền làm việc này và chỉ lên đồn biên phòng làm. Tới đồn biên phòng, họ bảo không phải thẩm quyền họ làm, mà của công an. Trở lại công an huyện, họ chỉ lên công an tỉnh Cao Bằng. Không có giấy phép đi, gia đình chúng tôi, tôi đây, trực tiếp liều mạng đi tìm ở khu vực giáp biên giới 1, 2 lần nhưng không thấy. Vì mình không có người thân, không biết liên lạc ở đâu nữa, cho nên bó tay. Chỉ biết nhờ vào công an thôi mà họ cũng không giúp được.”

Anh Lương kể hôm 5/4 sau khi nối được liên lạc với Minh, gia đình anh đã gặp trực tiếp ông Lý Hữu Cư , Đội trưởng Đội Phòng chống Tệ nạn Xã hội của Công an huyện Bảo Lâm, nhưng ông Cư nói công an không giúp được và bảo rằng “Biết được còn sống là mừng lắm rồi.”
Trong ba chị em bị bắt cóc bán sang Trung Quốc vào năm 2011, cô Lý Thị Sua là người đầu tiên may mắn chạy thoát về Việt Nam và đã nhiều lần làm đơn tố cáo gửi công an tỉnh, huyện xin can thiệp giải cứu hai chị em còn lại, nhưng cũng không được hồi đáp. Có lần cô nhận diện được kẻ bắt cóc và báo công an, nhưng Lô Văn Hiền bị câu lưu không lâu lại được thả. Phó trưởng công an huyện, ông Dương Minh Hải, nói với gia đình rằng xác minh Hiền không phạm tội nên phóng thích.

Chúng tôi rất nhiều lần liên lạc với công an huyện Bảo Lâm để ghi nhận ý kiến giới hữu trách, nhưng không lần nào được hồi đáp. Trong nhiều tuần lễ liên tiếp, chúng tôi gọi vào số di động của Phó trưởng công an Dương Minh Hải đều không được bắt máy.

Bộ Công an Việt Nam nói đã phối hợp với công an Trung Quốc tấn công tội phạm buôn người từ Việt Nam sang Trung Quốc, nhưng không cho biết đã giải cứu được bao nhiêu trường hợp.
Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, đồng sáng lập Liên minh Bài trừ Nô lệ mới ở Á Châu (CAMSA), tổ chức phi vụ lợi hỗ trợ các nạn nhân bị buôn người tại các vùng biên giới Việt Nam trong đó có trường hợp của cô Minh, cho biết CAMSA đã có phương án can thiệp:

“Chúng tôi đang chờ thêm một thời gian ngắn nữa để xem sự hồi đáp của chính quyền Việt Nam tới đâu, lúc đó chúng tôi sẽ khởi động một cuộc vận động chính phủ Hoa Kỳ can thiệp. Chúng tôi thật sự đã báo động Bộ Ngoại giao Mỹ rồi. Đến nay chúng tôi đã can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp cho 11.000 nạn nhân đã được giải cứu mà không hề có một trường hợp nào được chính quyền Việt Nam điều tra , chưa kể tới vấn đề trừng phạt. Nhưng dù sao chúng tôi cũng phải đi qua thủ tục báo động với chính quyền địa phương trước đã. Luật pháp Hoa Kỳ có điều khoản giải cứu cho nạn nhân và chính phủ Mỹ có cơ quan đánh giá từng quốc gia mỗi năm. Chính phủ nào không hợp tác phòng-chống buôn người thì có thể bị đưa vào cấp hạng 3, có thể bị chế tài. Chúng tôi tin rằng với sự can thiệp của Mỹ, chính phủ Việt Nam sẽ có động cơ để tích cực hơn trong vấn đề giải cứu nạn nhân và trừng trị thủ phạm buôn người.”
Báo chí nhà nước nói trong quý đầu năm nay có 70 vụ buôn người bị phát hiện trên cả nước, với 145 nạn nhân. Trong đó, cứ 10 vụ thì có 8 trường hợp bị bán sang Trung Quốc và các tỉnh trọng điểm bao gồm Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên, Nghệ An.

Theo thống kê của CAMSA, chỉ riêng trong xã Lý Bôn của chị em cô Minh hiện có trên dưới 20 phụ nữ bị mất tích. Thời gian gần đây cứ 1, 2 tháng lại xảy ra một trường hợp như thế.
Trong khi chưa có giải pháp chống buôn người hiệu quả, những kẻ buôn người chưa biết sẽ phải trả giá như thế nào, nhưng những trường hợp như cô Minh là một kinh nghiệm đau đớn cho các nạn nhân Việt Nam, một bài học cay đắng cho những người đàn ông Trung Quốc mua vợ, và là hồi chuông cảnh báo cho toàn xã hội.

Những đứa trẻ từ các cuộc hôn nhân kiểu ‘nô lệ mới’ như thế, số phận chúng rồi sẽ ra sao? Làm sao có thể chấm dứt những hậu quả đau lòng này? Thật đáng buồn, câu trả lời hãy còn bị bỏ ngõ.

Tiếng nói bên ngoài và cuộc đấu tranh bên trong

Tiếng nói bên ngoài và cuộc đấu tranh bên trong
Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-09-21

Các nhà đấu tranh Blogger Điếu Cầy, Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ và Blogger Tạ Phong Tần

Các nhà đấu tranh Blogger Điếu Cầy, Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ và Blogger Tạ Phong Tần
RFA
<
Thêm một tù nhân chính trị tại Việt Nam, cô Tạ Phong Tần, đến Hoa Kỳ do áp lực của chính quyền Mỹ cũng như sự lên tiếng lâu nay về tình hình nhân quyền- dân chủ tại Việt Nam.
Thực tế tiếng nói từ bên ngoài giúp cho phong trào đấu tranh cho quyền con người trong nước đến đâu và vai trò của người dân trong nước thế nào?

Lên tiếng từ bên ngoài

Nhiều người thừa nhận nếu không có sự can thiệp từ phía chính phủ Hoa Kỳ, thì những cựu tù nhân chính trị tại Việt Nam như tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải hay blogger Sự Thật & Công Lý Tạ Phong Tần sẽ không được viên chức ngoại giao của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội cùng đi theo trên chuyến bay từ Việt Nam sang đến Xứ Cờ Hoa.
Ông Trần Văn Huỳnh, cha của tù nhân chính trị Trần Huỳnh Duy Thức, hiện đang thụ án 16 năm tù tại trại giam ở Xuyên Mộc, Bà Rịa- Vũng Tàu cho biết về sự lên tiếng từ bên ngoài và con ông nằm trong danh sách của những tù nhân chính trị tại Việt Nam được nêu ra:
“ Khi Thức tròn 6 năm ở trong tù, danh sách của Thức được chính thức 36 tổ chức xã hội dân sự, trong đó 20 tổ chức ở nước ngoài và 16 tổ chức trong nước, yêu cầu trả tự do cho Thức.

Thứ hai, trong lần 3 nhà báo thế giới được ông Obama tiếp kiến có Nguyễn Văn Hải- Điếu Cày, danh sách đưa ra có Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy Thức, rồi một số người nữa.
Và trong những đối thoại nhân quyền của giới chức Mỹ sang Việt Nam ( cách đây chừng vài tháng- tôi không nhớ rõ), ông Tom Malinowski- trợ lý của ngoại trưởng Kerry, cũng đề nghị đến trường hợp của các tù nhân lương tâm được khuyến nghị trả tự do, trong đó có Thức.”
Vào ngày 21 tháng 9, tham tán Terry White, đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội được hãng thông tấn AP trích dẫn phát biểu rằng phía Hoa Kỳ hoan nghênh quyết định của cơ quan chức năng Việt Nam trả tự do cho cô Tạ Phong Tần người quyết định đi Mỹ sau khi ra khỏi tù; tuy nhiên phía Hoa Kỳ vẫn rất quan ngại về trường hợp của những người bị bỏ tù chỉ vì thực thi nhân quyền và các quyền căn bản của họ. Hoa Kỳ kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do vô điều kiện cho tất cả những tù nhân này và cho phép tất cả những người Việt Nam được quyền bày tỏ chính kiến của họ mà không sợ bị trừng phạt.

Tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch qua phát biểu của ông Phil Robertson, phó giám đốc khu vực Châu Á, cũng lên tiếng kêu gọi chính quyền Hà Nội trả tự do ngay cho những nhà hoạt động khác và nếu họ muốn ở lại trong nước thì phải đáp ứng nguyện vọng của họ; đồng thời ngưng can thiệp vào các hoạt động chính trị và ngưng vi quyền của những người đó. Danh sách những tù nhân chính trị mà Human Rights Watch nêu lên với yêu cầu trả tự do ngay cho họ gồm Trần Huỳnh Duy Thức, Hồ thị Bích Khương, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Trần Vũ Anh Bình, Võ Minh Trí tức nhạc sĩ Việt Khang, Đặng Xuân Diệu, Hồ Đức Hòa, Ngô Hào và nhiều tù nhân chính trị khác nữa.
Ủy ban Bảo Vệ Ký giả từ New York vào ngày 20 tháng 9 cũng ra thông cáo báo chí hoan nghênh việc trả tự do cho blogger Tạ Phong Tần, đồng thời kêu gọi chính quyền Hà Nội trả tự do cho những nhà báo và bloggers khác đang bị cầm tù.

Phiên tòa sơ thẩm xét xử 3 bị cáo phạm tội “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, theo Điều 88, Bộ luật Hình sự (gồm bị cáo Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải)

Phiên tòa sơ thẩm xét xử 3 bị cáo phạm tội “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, theo Điều 88, Bộ luật Hình sự (gồm bị cáo Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải) Ngày 24 tháng 9 năm 2012

Tác động

Nhà hoạt động Trần thị Nga, từ Hà Nam cho biết tác động của sự lên tiếng của người Việt ở nước ngoài, các nước khác và các tổ chức quốc tế đối với phong trào đấu tranh cho quyền con người và dân chủ tại Việt Nam:

“Góp sức của người Việt hải ngoại đối với công cuộc đấu tranh cho dân chủ- nhân quyền tại Việt Nam từ vấn đề truyền thông cho đến liên lạc với quốc tế để đưa ra sự thật tình trạng vi phạm nhân quyền do chính phủ Việt Nam đối với người dân Việt Nam… Đây là công sức của người Việt hải ngoại mà tôi hết sức trân quí. Đó là động lực để cho những người trong nước đấu tranh như tôi có niềm tin mình không đấu tranh đơn độc vì mình còn có đồng bào quốc tế, các tổ chức quốc tế nữa.

Thông qua những lần trao đổi với đại sứ quán của các nước, tôi thấy họ cũng rất quan tâm, cũng hổ trợ chúng tôi. Trong ngoại giao với chính quyền Việt Nam họ cũng nêu lên những vi phạm nhân quyền; trong khi Việt Nam là một thành viên của tổ chức nhân quyền thế giới mà vi phạm, chà đạp lên những điều đã ký. Đó là một điều mà chúng tôi thấy rất tốt.”
Thiết yếu của đấu tranh từ trong nước

Theo chị Trần Thị Nga thì dù có những tác động tích cực từ bên ngoài như thế nhưng người dân trong nước phải vượt qua sợ hãi, ý thức được quyền của bản thân để cùng tham gia đòi hỏi:

“Còn công cuộc chính để có hiệu quả, để người dân Việt Nam thực sự được hưởng quyền con người của mình trước hết phụ thuộc vào người dân trong nước dám đứng lên, dám đấu tranh đòi những quyền của mình.

Sự nổ lực giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, cũng như của đồng bào người Việt hải ngoại có tác dụng thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam, còn nếu người trong nước mà thờ ơ về việc quyền căn bản của mình bị chính quyền chà đạp thì những sự hổ trợ từ bên ngoài sẽ không có tác dụng mạnh mẽ được.”

Một cựu tù nhân chính trị khác và cũng là một nhà hoạt động tích cực hiện nay, luật sư Nguyễn Văn Đài, cũng có ý kiến về việc tự thân nổ lực trong công cuộc đấu tranh để thay đổi hiện trạng Việt Nam hiện nay:

“ Bất kỳ cuộc đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở quốc gia nào cũng vậy thôi, khi mình ở thế yếu luôn phải nhờ đến cộng đồng quốc tế. Trong khi đó chính phủ Hoa Kỳ là chính phủ quan tâm nhất đến tình trạng nhân quyền ở các nơi trên thế giới, chúng ta vẫn phải nhờ họ, vận động, kêu gọi họ ủng hộ cho chúng ta; nhưng chúng ta không đặt tất cả niềm tin hay hy vọng ở họ. Chúng ta muốn thay đổi triệt để đất nước của mình phải là chính nổ lực của mỗi người dân, của mỗi nhà hoạt động nhân quyền, mỗi nhà hoạt động xã hội dân sự tại Việt Nam. Chúng ta phải cố gắng giành quyền của mình, cũng như chúng ta xây dựng các tồ chức xã hội dân sự. Điều đó mới thay đổi được đất nước của mình.”

Tình trạng sách nhiễu, hành hung, bắt bớ và bỏ tù những người công khai lên tiếng đấu tranh cho các quyền căn bản của người dân tại Việt Nam cũng như công cuộc dân chủ hóa đất nước được những người trong cuộc cho biết vẫn diễn ra. Bản thân họ sẵn sàng chấp nhận hy sinh, mất mát; tuy nhiên họ luôn kêu gọi sự hỗ trợ thông qua việc lên tiếng từ các quốc gia, các tổ chức quốc tế yêu cầu chính quyền Hà Nội thực thi những điều đã ký kết với thế giới. Ngoài ra những người công khai đấu tranh cũng mong mỏi ngày càng nhiều dân chúng trong nước ý thức được quyền căn bản của con người và cùng lên tiếng đòi hỏi.

Các chiến binh được Mỹ huấn luyện tiến vào Syria

Các chiến binh được Mỹ huấn luyện tiến vào Syria

VOA
Các chiến binh từ 'Trung đoàn thứ nhất' thuộc lực lượng Quân đội Giải phóng Syria tham gia một cuộc huấn luyện quân sự ở vùng nông thôn miền tây Aleppo.

Các chiến binh từ ‘Trung đoàn thứ nhất’ thuộc lực lượng Quân đội Giải phóng Syria tham gia một cuộc huấn luyện quân sự ở vùng nông thôn miền tây Aleppo.

20.09.2015
Nhiều chiến binh nổi dậy Syria được Mỹ và các đối tác liên quân huấn luyện đã tiến vào miền bắc Syria, theo tin của một nhóm quan sát.
Ðài quan sát Nhân quyền Syria hôm Chủ nhật nói rằng 75 chiến binh được huấn luyện tại Thổ Nhĩ Kỳ đã băng qua biên giới vào Syria sáng sớm thứ Bảy.
Các giới chức của liên quân do Mỹ lãnh đạo chưa bình luận về diễn biến mới này.
Trong khi đó, Pháp tấn xã loan tin rằng phe nổi dậy và các lực lượng chính phủ vừa thỏa thuận ngưng bắn với hiệu lực tức thời.
Không có tin tức về thời hạn của thỏa thuận ngưng bắn, nhưng Ðài quan sát Nhân quyền Syria nói với Pháp tấn xã rằng các bên xung đột sẽ tiếp tục đàm phán cho một thỏa thuận ngừng bắn rộng lớn hơn.
Hôm thứ Bảy, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ John Kerry nói rằng Tổng thống Syria Bashar al-Assad phải từ chức, nhưng thời điểm để ông ra đi sẽ được quyết định qua thương lượng.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry nói về cuộc khủng hoảng đang diễn ra tại Syria trong cuộc họp báo với Ngoại trưởng Anh Philip Hammond tại Lonon, ngày 19/9/2015.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry nói về cuộc khủng hoảng đang diễn ra tại Syria trong cuộc họp báo với Ngoại trưởng Anh Philip Hammond tại Lonon, ngày 19/9/2015.

Ông Kerry phát biểu như vậy tại London sau khi hội đàm với người tương nhiệm Anh Philip Hammond. Ông kêu gọi cả Nga và Iran dùng ảnh hưởng của họ đối với Syria để thuyết phục ông Assad thương lượng việc từ chức nhằm chấm dứt cuộc nội chiến thảm khốc ở Syria.
Ông Kerry cũng nhấn mạnh đến sự liên hệ của cuộc nội chiến Syria với làn sóng khổng lồ người tị nạn đổ vào Châu Âu. Ông gọi 4 năm nội chiến Syria là “căn nguyên” của cuộc khủng hoảng di dân, và gọi làn sóng di dân khổng lồ là “thách thức chính cho Châu Âu.”
“Chúng tôi cần phải thương lượng với ông Assad,” Ngoại trưởng Kerry nói. “Đó là điều chúng tôi đang tìm cách thực hiện, và chúng tôi hy vọng Nga và Iran hay bất cứ quốc gia nào khác có ảnh hưởng giúp cho tiến trình đó.
“Chúng tôi sẽ bàn về một số ý tưởng…làm thế nào để sử dụng thời điểm này khi Nga hình như muốn hành động nhiều hơn” để chống lại các phần tử chủ chiến Nhà nước Hồi giáo đang tìm cách chiếm quyền kiểm soát Syria.”
Ông Kerry nói: “Đó là mục tiêu.”
Moscow và phương Tây bất đồng sâu sắc về các chiến lược nhằm chấm dứt cuộc nội chiến đã nổ ra vào năm 2011. Các chính phủ Tây phương quả quyết rằng cuộc khủng hoảng sẽ không chấm dứt cho đến khi nào ông Assad tự thôi chức hay bị truất bỏ quyền hành, trong khi Moscow nói rằng mối đe dọa do các phần tử hiếu chiến đề ra cần phải dập tắt trước khi giải quyết tương lai của ông Assad.
Ước tính 250.000 người Syria đã thiệt mạng trong khi tiến trình ngoại giao bế tắt. Hàng trăm ngàn người bị Nhà nước Hồi giáo đe dọa và các binh sĩ chính phủ tháo chạy, tìm đến những nơi an toàn và sung túc hơn ở Châu Âu.

Giới đòi dân chủ ở Thái Lan xuống đường biểu tình

Giới đòi dân chủ ở Thái Lan xuống đường biểu tình

Nguoi-viet.com

BANGKOK, Thái Lan (AP) – Hơn 200 người tranh đấu đòi dân chủ đã bất chấp các đe dọa của hội đồng quân nhân cai trị Thái Lan đã xuống đường để tham dự cuộc biểu tình hiếm thấy tại thủ đô Bangkok, đánh dấu ngày xảy ra cuộc đảo chánh của quân đội lật đổ một chính phủ do dân bầu lên và đưa quốc gia vùng Đông Nam Á này vào gần một thập niên bất ổn chính trị.

Khoảng 200 người đấu tranh đòi dân chủ biểu tình tại thủ đô Bangkok, đánh
dấu ngày xảy ra cuộc đảo chánh của quân đội nước này. (Hình: Christophe
Archambault/AFP/Getty Images)

Các nhà tranh đấu đã tuần hành tới Tượng Đài Dân Chủ, một biểu tượng đã trở thành nơi tập trung của các cuộc biểu tình đòi dân chủ mấy năm trở lại đây.
Người biểu tình mang theo bích chương biểu ngữ chống hội đồng quân nhân và hô khẩu hiệu đòi dân chủ. Lực lượng cảnh sát túc trực đông đảo nhưng không tìm cách phá vỡ cuộc biểu tình.
Cuộc biểu tình khởi sự bằng hội thảo ở đại học Thammasat ở Bangkok, vốn được phép của giới hữu trách, nhưng không cho phép tuần hành bên ngoài khuôn viên đại học.
Người biểu tình, thuộc một nhóm mệnh danh là Phong Trào Tân Dân Chủ, kêu gọi hãy đánh dấu cuộc đảo chánh ngày 19 Tháng Chín năm 2006 lật đổ chế độ của Thủ Tướng Thaksin Shinawatra, với lý do là ông này tham nhũng, lạm quyền và bất kính với nhà vua. Cuộc đảo chánh đưa Thái Lan vào các đợt biểu tình bạo động giữ những người ủng hộ ông Thaksin và thành phần chống ông.
Năm ngoái, quân đội Thái Lan lật đổ chính quyền của bà Yingluck Shinawatra, em gái của ông Thaksin, lấy lý do là phải tái lập trật tự và hòa giải chính trị giữa các phe phái.
Các giới chỉ trích, ở cả trong và ngoài nước, cho rằng hội đồng quân nhân từng do tướng Prayuth Chan-ocha lãnh đạo, người hiện là thủ tướng Thái Lan, không hề có nỗ lực tạo hòa giải mà chỉ chú trọng vào việc đàn áp đối lập, giới hạn các quyền công dân.
Lúc đầu ông Prayuth hứa sẽ nhanh chóng tổ chức bầu cử để tái lập nền dân chủ, nhưng nay ông cho hay phải sớm nhất là năm 2017 mới có bầu cử. (V.Giang)

Thầy Trân

Thầy Trân

TRANG CHÂU

Đến giờ Sử Địa cả lớp học hổi hộp ngồi chờ.Hôm nay ông hiệu trưởng sẽ đưa giáo sư mới đến dạy, thay thế thầy Tuyên vừa về hưu.Con Chín, ngồi cạnh tôi, đoán già đoán non:
-Tao chắc lại một ông giáo sư già lụm khụm. Môn này không mấy hấp dẫn nên không có nhiều thầy trẻ như bên Việt Văn, Toán hay Sinh Ngữ.
Tự nhiên tôi lạc quan một cách vô cớ:
-Biết đâu kỳ này lớp ta sẽ may mắn rước được một thầy Sử Địa trẻ, đẹp trai lại độc thân cho mà xem.
Con Chín nheo mắt nhìn tôi cười:
-Được như mày nói tao sẽ chớp ngay, không để ông độc thân lâu đâu.
Tôi cười cười nhạo nó:
-Giáo sư độc thân trường mình thiếu gì. Nè thầy Vui bên Anh Văn,thầy Ngô bên Toán, sao mày không chớp đi để hai ông độc thân hoài vậy ?
Con Chín nhún vai:
-Không hạp nhãn tao. Độc thân thì độc thân nhưng cũng phải bắt mắt một tí. Tao chấm thầy Thi bên Pháp Văn nhưng tiếc thầy có chủ mất rồi!
Trong lớp đệ tứ, lớp cuối cùng của trường nữ trung học duy nhất ở tỉnh lỵ nhỏ bé này, Chín và tôi là hai nữ sinh lớn tuổi nhất.Chín trể học đến ba năm, còn tôi hai năm. Nó bị sốt rét, tôi thì thương hàn. Tiếp đến là tản cư rồi hồi cư, sau đó lại theo gia đình rời quận lên tỉnh.Cho nên khi học tới lớp chót của trường thì Chín đã 19 tuổi, còn tôi thì sắp 18.Hai đứa tôi thuộc loại học khá nhưng không phải là giỏi nhất lớp. Chín được chọn làm trưởng lớp vì nó vừa lớn tuổi vừa ăn nói dạn dĩ .Nhìn về nhan sắc, hoa khôi trong lớp là con Vy, 16 tuổi.Tôi được xếp hạng nhì.Tôi không rỏ tôi được xếp hạng nhì vì tôi lớn tuổi hơn conVy hay con Vy đẹp hơn tôi thật.Nhưng tôi rất bằng lòng nhận xét của con Chín:
-Con Vy đẹp thật nhưng là một cái đẹp lạnh, đẹp kiêu còn mi đẹp duyên, đẹp mặn.Mi sẽ làm đàn ông con trai mê mệt hơn nó cho mà xem.
Khi ông hiệu trưởng đưa tân giáo sư Sử Địa vào lớp giới thiệu, con Chín hích cùi chõ hông tôi nói nhỏ:
-Mi đoán đúng, thầy Trân sẽ là “ hoa khôi” trong ban giảng huấn trường mình đó.
Tôi cũng phải công nhận thầy Trân trẻ và khôi ngô.Thầy lại có giọng giảng bài ấm, lối giảng của thầy gọn và lôi cuốn .Con Chín phê bình thầy Trân ngay sau giờ dạy đầu tiên:
-Thầy Trân giảng bài hay nhưng không phải mẫu người của tao. Tao không thích đàn ông nho nhã quá. Tao chịu mấy anh chàng sĩ quan tác chiến hơn. Đàn ông là phải hùng.
Bỗng nó quay sang nheo mắt nhìn tôi:
-Mi thích thơ văn chắc mẫu người của thầy Trân hợp với mi hơn.Mà này, mi tên Huyền, thầy tên Trân, trường lại là trường Huyền Trân, không chừng là duyên tiền định đó nghe mi !
Nói xong nó cười khanh khách, xách cặp chạy để tránh cái vói tay của tôi để véo nó.Nhưng câu nói đùa của Chín làm tôi suy nghĩ.Mà lạ thật, sao lại có sự tình cờ như thế được.Trò tên Huyền, thầy tên Trân, chung dưới một mái trường tên Huyền Trân.
Sự tình cờ đó khiến tôi để ý thầy Trân hơn các thầy khác. Và một lần trong lớp, khi gọi tên các nữ sinh để điểm danh, nghe đến tên Huyền tôi ngay ngắn đứng lên nhìn thầy Trân, nở một nụ cười dễ thương nhất mà tôi có thể tạo ra được để trình diện thầy.Tôi thấy thầy Trân có vẽ như khựng lại mấy giây trước nụ cười của tôi; thầy nhìn tôi mỉm cười rồi tiếp tục gọi tên nữ sinh kế tiếp.
Từ đó trong tuần tôi mong cho đến giờ dạy của thầy Trân.Tôi đâm mê môn học này khi nghe thầy Trân kể về tiểu sử của những nhân vật , những biến cố , những trận đánh lịch sữ.Tôi bỗng nhiên trở nên một nữ sinh xuất sắc về môn Sử. Một hôm học về nhà Trần, thầy nói đến công ơn của các vua nhà Trần trong việc mở mang bờ cõi khi đem công chúa Huyền Trân gả cho vua Chiêm Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô và châu Rí. Con Chín bỗng đưa tay lên xin hỏi:
-Thưa thầy, vua Trần có công mở mang bờ cõi thật nhưng em nghĩ đem con gả cho vua một tiểu quốc thì không những bất xứng mà còn nhẫn tâm nữa. Vì thế cho nên mới có hai câu ca dao lưu truyền trong dân gian để vừa mai mỉa vua Trần vừa thương hại công chúa Huyền Trân :
“Tiếc thay cây quế giữa rừng
“Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo”
Thầy Trân ôn tồn trả lời con Chín:
-Nếu tôi là một nhà đạo đức thì tôi cũng đồng ý với phát biểu của trò Chín. Nhưng vì tôi là một giáo sư dạy Sử nên tôi chỉ trình bày những hành xử có tính cách quốc gia của tiền nhân.Chắc tất cả đều biết Châu Ô và Châu Rí ngày xưa chính là hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, trong đó có cố đô Huế, của ngày nay. Nhưng tôi nghĩ sự hy sinh cho quyền lợi quốc gia của công chúa Huyền Trân đã được tổ quốc ghi ơn,bằng chứng là chúng ta đang ngồi ôn lịch sử dưới một mái trường mang tên Huyền Trân.
Cả lớp vỗ tay râm ran sau khi thầy Trân dứt lời. Đến lượt tôi đưa tay xin hỏi trước sự ngạc nhiên của cả lớp vì ai cũng biết bản tính rụt rè của tôi.
-Thưa thầy, lịch sử có nói đến một tướng nhà Trần tên là Trần Khắc Chung. Xin hỏi thầy có tài liệu lịch sử nào xác nhận tướng Trần Khắc Chung là người yêu của công chúa Huyền Trân không ?
Thầy Trân nhìn tôi cười mỉm rồi nói:
-Tôi chưa đọc được sử liệu nào nói tướng Trần Khắc Chung là người yêu của công chúa Huyền Trân.Chỉ biết vua Trần, khi hay tin vua Chế Mân đột ngột băng hà, để cứu công chúa Huyền Trân khỏi bị thiêu sống theo chồng theo tục lệ người Chàm, đã sai tướng Trần Khắc Chung đem quân qua Chiêm giải cứu và đưa công chúa Huyền Trân về lại Việt Nam .Lịch sử không ghi về lại Việt Nam công chúa Huyền Trân có tái giá với ai không.Nhưng sự tích Huyền Trân sang Chiêm đã là đề tài sáng tác cho giới văn nghệ sĩ về sau. Đặc biệt có một bài vọng cổ rất hay nói về mối tình Huyền Trân-Trần Khắc Chung .Có trò nào nghe chưa ?
Cả lớp vang lên tiếng chưa.Con Chín bạo dạn gạ thầy:
-Chắc thầy ca hay lắm!Xin thầy ca cho tụi em nghe !
Thầy Trân cười thoái thác :
-Tôi cũng không thuộc, chỉ nhớ có một câu. Mà không hiểu sao tôi chỉ nhớ có câu đó.
Cả lớp nhao nhao:
-Một câu cũng được, xin thầy cho nghe!
Lớp học bỗng trở nên vui nhộn.Thầy Trân đứng trên bục, hai tay nắm sống lưng cuốn Sử được dựng đứng, nhìn lên trần lớp học, mắt mơ màng.Sau cái tằng hắng, thầy cất cao giọng trầm ấm, xuống câu vọng cổ :
“Huyền cô ơi!Huyền cô ra đi khiến cho địa thảm , thiên ơơơ ơ..sầu…”
Thầy Trân ngân dài tiếng “sầu”, mắt rời trần lớp học hướng về chỗ tôi ngồi. Cả lớp vỗ tay khen giọng ca “mùi” của thầy. Thầy Trân kín đáo, qua câu vọng cổ, thổ lộ cảm tình của thầy với tôi chăng ?Tôi nghe hai má mình nóng bừng.Suốt đêm hôm ấy tôi trằn trọc không ngủ với thắc mắc không biết thầy Trân đã có ai chưa ? Tôi cho thầy Trân nhiều lắm cũng chỉ 25, 26 tuổi thôi.Nghe nói thầy tốt nghiệp sư phạm năm rồi và trường Huyền Trân là nhiệm sở đầu tiên của thầy.Tôi đi vào giấc ngủ muộn với ước mơ thầy Trân còn độc thân.
Nhưng oái ăm thay, nữ sinh đầu tiên trong lớp bị thầy Trân phạt lại chính là tôi.Cũng tại cái con khỉ Chín nó đem khoe cây bút Parker của thằng Thiếu Úy Biệt Động Quân, bồ nó,mới tặng nhân sinh nhật nó.Nhìn cây Parker bạc óng ánh tôi buộc miệng khen: “Ồ ! cây bút đẹp quá !”.Lời khen của tôi tuy không lớn nhưng cũng đủ làm cả lớp, lúc đó đang im lặng nghe thầy Trân giảng,quay đầu về phía chỗ ngồi của con Chín và tôi.Con Chín dấu vội cây bút Parker, làm mặt nghiêm nhìn thẳng lên bảng đen.Thầy Trân nhíu mày nhìn tôi, không nói gì, tiếp tục giảng bài.Hết giờ thầy Trân gọi tôi đến bàn ông.Giọng ông vẫn ôn tồn nhưng sắc mặt lộ vẻ giận. Ông đưa tôi mảnh giấy và nói:
-Trò chép lại câu này 60 lần, sau đó đưa cho phụ huynh trò ký rồi đem nộp cho giám thị trường.
Tôi cầm mảnh giấy liếc nhìn mấy chử “tôi sẽ không lo ra trong lớp”.Nước mắt lưng tròng, tôi nhìn thầy Trân, miệng lí nhí:
-Em xin lổi thầy, em không cố ý làm ồn trong lớp!
Thầy Trân mở cửa, thấy tôi,thầy đứng sửng, ngạc nhiên .Hai tay cầm cuốn tập để trước vạt áo , mặt nóng ran , tôi nói trong hơi thở :
-Em đến xin thầy ký vào tập bài phạt để em nộp cho thầy giám thị. Em không dám đưa cho ba em ký, ông sẽ… đánh em chết ! Xin thầy thương mà thông cảm vì em chưa bao giờ phạm kỹ luật trường cả.
Thầy Trân nhìn tôi, đứng nhích sang một bên rồi nói:
-Em vào đây, ta sẽ nói chuyện
Phòng trọ của thầy Trân rất đơn sơ,chỉ vỏn vẹn một cài bàn viết với 2 ghế ngồi, một tủ nhỏ và một chiếc giường ngủ .Tôi khép nép ngồi xuống ghế đối diện với ghế thầy ngồi và đưa tập bài phạt sang phía thầy.Thầy Trân không mở ra xem, chỉ đẩy tập vở sang một bên và nói:
-Thôi, thầy giữ tập viết này khỏi cần đưa cho thầy giám thị. Coi như thầy không phạt em.Thầy tin là em ngoan nhưng thầy thấy em và Chín là hai em lớn tuổi nhất lớp nên thầy muốn hai em là gương mẫu cho cả lớp.
Tôi sung sướng dạ nhỏ một tiếng rồi bổng dưng bạo dạn hỏi thầy:
-Chị Chín , trưởng lớp,muốn tìm biết sinh nhật của thầy, để đến ngày đó cả lớp chúc mừng thầy như vẫn làm với các thầy khác.Thầy có thể cho em biết để em nói lại với chị Chín?
Thầy Trân cười vui vẻ:
-À, thầy sinh ngày 2 tháng 5. Thế còn sinh nhật của em ?
Tôi ngạc nhiên sao thầy hỏi ngày sinh nhật mình. Một thoáng nghĩ làm tim tôi đập mạnh: Chắc thầy cũng để ý mình.
-Dạ, em sinh ngày 20 tháng 12.
-Như thế em sẽ được quà sinh nhật trước quà Giáng Sinh. Thích quá nhỉ!
Tôi nở một nụ cười buồn:
-Dạ em chưa bao giờ được quà sinh nhật lẫn Giáng Sinh
-Sao lạ vậy ?
-Dạ, vì nhà em rất… đơn sơ và không công giáo
Thầy Trân nhìn tôi, tôi đọc trong đôi mắt thầy một sự trìu mến lạ thường.Giọng thầy trở nên thân thuộc:
-Hy vọng năm nay em sẽ được cả hai.
Nói xong thầy đứng dậy.Tôi cũng đứng dậy theo.Nắng bên ngoài gay gắt chiếu xuống thềm cửa.Tôi dang tay che nắng, nói lời từ giã:
-Em xin cám ơn và xin chào thầy
Thầy Trân đứng yên đưa tay chào trả tôi và nói:
-Khi nào em có việc cần gặp thầy thì cứ đến, thầy không bị phiền đâu.
Tôi ra về, lòng nở hoa.

Hết giờ Toán thầy Ngô gọi tôi đến bàn và nói:
-Bài toán vừa rồi em giải sai phần sau. Nếu em muốn, mỗi tuần em ghé chỗ tôi trọ tôi chỉ thêm cho. Thầy biết em giỏi các môn khác,nếu toán cũng giỏi nữa thì em không những đẹp mà còn giỏi nhất lớp.
Tôi bối rối tìm cách trì hoãn:
-Dạ, em xin cám ơn thầy.Em phải về xin phép ba má .
Thầy Ngô bỗng đổi ý:
– Thôi em khỏi phải cần xin phép ba má.Khi nào em cần hỏi gì về toán thì sau giờ học trên đường về ghé thầy chừng 15 phút là đủ.
Tôi dạ và lặng lẻ cúi đầu chào thầy Ngô.Tôi ái ngại sự ân cần của thầy vì tôi nhớ có lần con Chín nói với tôi:
-Tao thấy thầy Ngô có vẻ chấm mi.
Tôi cũng thấy vậy. Thầy Ngô có bộ mặt nghiêm khắc nên tôi chỉ kính mà không cảm.Thầy Ngô không làm tôi mơ mộng như thầy Trân.Tôi làm bộ ngây thơ trả lời con Chín:
-Tao thấy thầy Ngô đối xử với ai hồi nào cũng như hồi nào.
Con Chín tỏ vẻ sành sỏi:
-Mi đừng nhìn cái bề ngoài của mấy thầy.Núi lửa bên trong cả đó mi.Mi chờ xem, có ngày núi lửa của thầy Ngô sẽ phun ra cho mà coi. Mô phạm gì cũng có lúc tức nước vỡ bờ.Chuyện con tim mà, thánh mới kìm nỗi nó.
Thấy con Chín nói quá đúng tôi làm thinh.Cũng may nó không tra khảo tôi gì về con tim của tôi đối với thầy Trân.Tôi cũng mong cho nó nghĩ tôi chỉ biết lo học chứ chưa thao thức gì về đàn ông.
Một tuần trước lễ Giáng Sinh, lúc tan lớp, đi ngang qua bàn thầy Trân, thầy ra hiệu cho tôi lại gần và nói vừa đủ cho tôi nghe:
-Huyền ghé nhà thầy: có quà tặng cho Huyền.
Lòng tôi rộn ràng khi sực nhớ lời thầy Trân nói với tôi trước đây: sinh nhật tôi và Giáng Sinh năm nay tôi sẽ có quà.Tôi chờ cho đám bạn về hết mới đạp xe đến nhà thầy.Dựng xe trước nhà trọ của thầy Trân, lòng tôi hồi hộp,bồn chồn .Tôi nhìn quanh xem có ai trước khi gõ cửa .
Thầy Trân đưa tay mời tôi ngồi ở chiếc ghế tôi ngồi lần trước.Thầy mở tủ lầy ra hai gói quà bọc giấy hoa, để trước mặt tôi và dịu dàng nói:
-Lần trước nghe Huyền nói chưa bao giờ có quà sinh nhật và Giáng Sinh thầy rất bùi ngùi. Thầy có hai món quà nhỏ tặng Huyền, một cho Giáng Sinh, một cho sinh nhật.Mừng Huyền 18 tuổi, tuổi truởng thành.
Tôi cảm động nhìn thầy Trân, miệng ấp úng:
-Em..em cám ơn thầy !
– Huyền mở quà ra đi. Thầy mong Huyền sẽ ưng ý.
Tôi lóng cóng bóc từng mảnh giấy hoa. Quà là một cây bút parker và một cuốn album.
Tôi nhìn thầy Trân cười sung sướng:
-Cám ơn thầy, quà của thầy là những thứ em mơ ước từ lâu!
Khi đưa tôi ra cửa, thầy Trân thân mật khoác vai tôi, đặt một nụ hôn lên mái tóc tôi. Tôi đứng im, người nóng ran,vừa ngây dại vừa lo lắng cử chỉ kế tiếp của thầy .Nhưng thầy Trân ngừng lại ở đó:
-Cám ơn thầy lần nữa, em về.
– Huyền về, chúc Huyền một sinh nhật và một Giáng Sinh vui tươi, hạnh phúc.
Tôi đập con heo đất, lấy hết tiền để dành cho vào bóp rồi đạp xe ra phố.Phố của tỉnh lỵ nhỏ bé này đi bộ chừng 15 phút là hết. Tôi vừa lấy một quyết định táo bạo là đi mua một chiếc cà vạt tặng thầy Trân nhân dịp lễ Giáng Sinh.Tôi đi nhanh vào tiệm bán đồ đàn ông,chọn chiếc cà vạt màu xanh đậm, mua không cần trả giá, rồi trở ra xe thật lẹ.Tôi sợ có người quen bắt gặp,sợ người ta đọc được tâm tư mình rồi đàm tiếu.Tiền mua chiếc cà vạt chiếm hết hai phần ba số tiền tôi bỏ ống.Nhưng tôi không một chút xót xa.
Thầy Trân ra mở cửa , ngạc nhiên khi thấy tôi đến thăm thầy vào lúc sắp tối.Thấy tôi nháo nhác nhìn quanh, thầy nói nhanh:
-Huyền vào nhà nói chuyện.
Ngồi xuống ghế đối diện với tôi, thầy Trân nhìn tôi như chờ đợi một lời giải thích.Tôi lấy hộp đựng cà vạt trong cái giỏ mây ra để lên bàn rồi rụt rè nói:
-Em..em có món quà Giáng Sinh tặng thầy.
Thầy Trân ồ lên một tiếng, đưa hai tay nhận gói quà, tháo giấy ,mở hộp, lấy chiếc cà vạt đưa lên ngắm nghía:
-Thầy cám ơn Huyền, thầy có một chiếc cà vạt màu xanh đã cũ, chiếc này đến thay thế rất là đúng lúc.
Thầy Trân bỗng đưa hai bàn tay sang úp lên hai bàn tay tôi . Tôi để yên, cúi mặt ngồi im, lòng rộn ràng.Cả phút dài trôi qua.Tôi nghe giọng thầy ngập ngừng:
-Ngoài cho quà, Huyền có ..cảm nghĩ ..gì khác không ?
Tôi vẫn cúi mặt,thu hết can đảm trả lời thầy :
-Ngoài ra em..em muốn đến..thăm thầy !
Tay thầy Trân rời tay tôi. Tôi nghe thầy rời ghế bước sang phía tôi.Tôi nghe thầy đặt tay lên hai vai tôi, kéo tôi đứng lên, xoay người tôi lại. Bóng chiều phủ mờ căn phòng chưa lên đèn.Tôi ngước mắt lên.Trong đáy mắt tôi là cái nhìn đắm đuối của thầy .Rồi môi thầy chạm môi tôi.Thầy ôm sát tôi vào người.Toàn thân tôi mềm nhủn mà hừng hực lữa.Tay thầy, như vừa bức phá mọi trói buộc,xoa nắn ngực tôi. Tôi co rúm người khi tay thầy lần xuống phía dưới. Ở giờ phút nầy tôi biết tôi không cưỡng lại bất cứ ý muốn nào của thầy vì tôi là một kẻ đồng lõa nhiệt tình.Nhưng tay thầy bỗng khựng lại ở thắt lưng tôi, như có một lực cản nào bắt thầy dừng lại.Tay thầy đi ngược trở lên, nhẹ nhàng trên ngực , trên môi, trên mắt, trên tóc tôi.
-Thôi, Huyền về kẻo sắp tối.
Trên đường về tôi nghe thân thể mình khác lạ,có thứ gì vừa mất đi, nhưng cũng có một thứ gì vừa chợt đến. Nhưng tôi không thấy hụt hẫng vì thứ mất đi mà tròn đầy thứ vừa ngập đến.Chưa bao giờ tôi thấy đời đáng yêu và đáng sống như bây giờ.Tôi sắp bước vào tương lai nào thì tôi không rõ, tôi chỉ biết tôi vừa từ giả tuổi thơ không chút luyến tiếc.
Hai tuần trước khi trường đóng cửa nghỉ Tết thì ông hiệu trưởng vào thông báo cho lớp học nghỉ giờ Sữ Địa vì giáo sư bệnh.Tôi lo lắng không biết thầy Trân bệnh gì và nôn nóng muốn đến thăm thầy.Bất ngờ trong giờ ra chơi gặp thầy Ngô trong hành lang.Thầy nhìn tôi rồi nói:
-Giáo sư Trân bị cảm .Có hôn thê của ông xuống săn sóc.
Nói xong ông cười nhạt rồi bỏ đi.Tôi tái mặt vì nghi thầy Ngô biết chuyện tình cảm giữa tôi và thầy Trân. Nhưng điều làm tôi rụng rời, đau điếng là thầy Trân đã có hôn thê.Bây giờ thì tôi hiểu cái khựng lại của bàn tay thầy trên thân thể tôi.Bàn tay ngừng lại vì nó đã có chủ.Lương tri đã cản được đam mê của thầy.Tôi thấy đất như quay cuồng, trời như đang sụp đổ .
Giờ Sữ tuần sau thầy Trân đi dạy lại. Mặt thầy hơi xanh nhưng giọng nói vẫn ấm áp truyền cảm.Có lúc hướng về phía tôi ngồi thầy nhìn tôi lâu hơn thường lệ.Tan lớp,tôi nấn ná để làm người cuối cùng rời lớp.Thấy tôi đi ngang qua bàn,thầy Trân nói khẻ:
-Huyền ra quán cà phê Mimosa chờ thầy. Thầy có chuyện muốn nói với Huyền.
Tôi dạ rồi lầm lủi đi.Tôi cảm thấy mình thương hại mình quá đỗi!Tôi đoán biết gặp tôi thầy Trân sẽ nói gì.
Thầy Trân có mặt ở quán trước tôi .Quán có hai bàn khách nhưng may mắn toàn là khách lạ.Tôi ngồi xuống ghế thì thấy có ly chanh đường để sẵn trên bàn.Thầy Trân khuấy khuấy ly cà phê đen nhưng không uống.Thầy cất tiếng trước,giọng buồn buồn:
-Thầy hiện đang có khách ở nhà trọ, Huyền không nên ghé thầy lúc này.
-Em biết, hôn thê của thầy xuống săn sóc thầy .
Thầy Trân ngạc nhiên:
-Sao Huyền biết ?
– Thầy Ngô nói với em.
-Lại cái thầy Ngô !Cũng chính thầy Ngô báo cho Thu biết !
-Thu là hôn thê của thầy ?
Thầy Trân im lặng gật đầu.Giây lâu thầy mới nói:
-Thầy xin lỗi Huyền về cử chỉ hôm trước Giáng Sinh vì đã không kìm hãm được xao xuyến của lòng mình.Con tim có lúc đã vượt qua lí trí.Thầy không có quyền hành động như thế. Nhưng ít ra thầy cũng đã không để tình cảm đi quá đà.Thầy mong Huyền tha lỗi cho thầy.
Tôi rũ người, rung rung đôi vai, cố nuốt những giòng lệ . Thu hết can đảm tôi thốt ra được mấy lời cảm khái:
-Thầy không có lỗi gì hết.Em vẫn kính trọng thầy và.. thương thầy !
Nói xong tôi với tay lấy ly chanh đường đưa lên môi hớp mấy ngụm nhỏ rồi đứng lên đưa tay vẫy chào thầy.Qua màn mắt nhập nhòa tôi thấy khuôn mặt trái soan của thầy Trân vẫn đáng yêu như hôm thầy hôn tôi lần đầu.
Đó là lần cuối cùng tôi gặp mặt thầy Trân.Sau một tuần nghỉ Tết, đi học lại , cả lớp mới hay thầy Trân đã xin đổi trường.Tôi bàng hoàng khóc lẽ loi một mình suốt cã mấy tuần.Con Chín không hay biết gì chuyện sóng gió vừa xảy cho đời tôi cũng như lý do thầy Trân xin đột ngột đổi trường..Người thứ hai tôi nghĩ hay biết chuyện là thầy Ngô. Điều làm tôi hơi ngạc nhiên là vắng bóng thầy Trân, tôi vẫn không thấy thầy Ngô tỏ vẽ gì săn đón tôi hơn ;trái lại mỗi lần chạm mặt tôi thầy có vẽ ngượng nghịu. Tôi có cảm tưỡng thầy ân hận vì có phần trách nhiệm trong việc đổi trường của thầy Trân.
Thi đậu xong bằng trung học đệ nhất cấp, gia đình gởi tôi lên Sàigòn học tiếp.Và tôi chỉ biết học và học.Tôi không để ý đến đàn ông nữa.Tôi chỉ có một người đàn ông nhưng tôi đã mất ông rồi!Tôi đậu tú tài phần 1 rồi phần 2 dễ dàng.Vào đại học tôi cũng chọn ngành sư phạm, môn Anh Văn; tôi cũng sẽ là một giáo sư như thầy Trân.
Không ngờ năm học cuối cùng của tôi lại là năm mất Miền Nam.Tị nạn sang Hoa Kỳ, một lần nữa tôi lại muộn màng cắp sách đến trường.Nhờ vốn liếng anh ngữ sẳn có tôi học lại dễ dàng. Tôi chọn ngành Luật.Tôi lập gia đình lúc đang tập sự hành nghề luật sư.Chồng tôi là một chuyên gia kinh tế người Việt.Chúng tôi sống êm đềm bên nhau đã 15 năm và có hai con. Mỗi khi chọn tên cho con tự nhiên tôi nhớ đến hai người của ngôi trường củ. Đứa con gái đầu, 14 tuổi, tôi đặt tên Chi để nhớ con Chín, con bạn học ngồi cạnh tôi. Thằng con trai, 12 tuổi, tôi đặt tên Trung để nhớ đến thầy Trân.Chồng tôi không một chút thắc mắc khi tôi chọn tên Việt cho con ; anh chỉ lo kiếm tên tương đương bằng tiếng Mỹ ,Carolyn cho Chi và Tom cho Trung.
Tôi xa quê hương như vậy cũng đã gần hai mươi năm.Một hôm tôi ngỏ ý với chồng, tôi muốn đưa hai đứa nhỏ về thăm Việt Nam một chuyến cho chúng biết đất nước thật của chúng.Chồng tôi không hồ hởi cũng không chống đối.Anh chỉ nói:
-Nếu em quyết định về cùng hai con thì cứ đi.Riêng anh, tình hình chính trị bên đó chưa thuận tiện cho anh về.
Tôi biết chồng tôi nói khéo chứ tôi rỏ lập trường của anh rất dứt khoát:anh chỉ trở về Việt Nam khi chế độ Cọng Sản sụp đổ.
Về lại Việt Nam chuyện đầu tiên tôi làm là về thăm ngôi trường cũ.Tôi thất vọng não nề khi thấy trường biến thành trụ sở nhân dân tỉnh với lá cờ đỏ sao vàng ngất ngưỡng ở đỉnh cột cờ.Tôi không có cảm tình với lá cờ này vì thấy nó không “hiền” như lá cờ vàng ba sọc đỏ của miền Nam trước đây.Về thăm đất nước, sau gần hai mươi năm xa cách, tôi thấy mình chỉ là một du khách.Hiện tại không đưa tôi tìm lại được quá khứ.Dù những cái tên không thay đổi. Vẫn Đà Lạt, Nha Trang, vẫn Huế, Hà Nội,vẫn Hạ Long, Vũng Tàu.Nhưng cái xã hội vô hồn hiện nay khiến cho lòng người về cũng trở nên vô cảm trước cảnh vật. Tuy nhiên tôi cũng cố gắng giảng giải sự tích của những nơi thăm viếng để hai đứa con tôi biết đôi chút lịch sữ mấy ngàn năm của nước nhà.
Ba tuần trôi qua mau. Tuần thứ tư tôi đóng đô ở Sàigòn.Sàigòn xưa của tôi đã mất! Y lời của một bài hát tôi từng nghe:Tôi mất Sàigòn như Sàigòn đã mất tên! Đường phố đầy những kẽ tật nguyền ăn xin, đặc biệt là ở các tiệm ăn.Nhìn những kẻ cụt tay, cụt chân, tôi chạnh nghĩ trong số những người này không hiếm kẻ là thương phế binh của quân đội miền Nam trước đây. Tôi chợt nhớ đến con Chín và người tình đầu của nó, anh chàng Thiếu Úy Biệt Động Quân, người đã tặng nó cây bút Parker,không biết bây giờ ra sao.Còn sống hay đã chết ? Còn ở với nhau hay đã chia tay ? Nhớ tới cây bút Parker tôi lại nhớ chuyện bị thầy Trân bắt chép phạt, nhớ cây bút Parker, quà của thầy tặng tôi sau đó.Mặc cho bác xích lô đạp loanh quanh khắp nẻo Sàigòn, mặc cho hai đứa nhỏ ngồi phía trước líu lo chỉ chỏ cảnh trí bên ngoài,tôi ngả người vào nệm lưng chiếc xe, lim dim mắt, thả hồn về dĩ vãng.
-Mẹ,mẹ, họ bán gì kia ?
Tôi giật mình, nhô đầu ra khỏi mui chiếc xich lô, nhìn sang vệ đường:
-À,họ bán vé số.
-Sao có nhiều người bán vậy ?
-Chắc vì có nhiều người mua.
Vừa nói tôi vừa đảo mắt nhìn những quầy bán vé số. Ngồi đàng sau quầy là những bộ mặt buồn hiu, đàn ông có, đàn bà có .Tuy nói với hai con tôi nhiều quầy hàng vì có nhiều người mua nhưng tôi chẳng thấy người mua nào. Và tôi thắc mắc với ngần ấy quầy hàng, mỗi ngày một người bán được bao nhiêu vé để đủ sống ?Tôi bỗng chú ý đến một người đàn ông ngồi sau quầy hàng cuối cùng.Trông ông ta quen quen. Tóc ông đã muối tiêu, má hóp, da mặt sạm đen. Nhìn mang tai trái của ông tôi giật mình:
-Thầy Trân !
Thầy Trân có cái nút ruồi nơi mang tai trái. Tôi sửng sờ đi một lúc. Sao thầy Trân giờ lại ra nông nỗi này ? Một ông giáo sư đi bán vé số ! Tôi vẫn lạc quan tin nghề giáo, dưới bất cứ chế độ nào, vẫn hữu dụng.Tôi nghe lòng tê tái .Tôi bảo bác xích lô tấp xe vào bờ đường. Tôi mở ví, tìm cuốn sổ tay,xé một trang nhỏ, lấy bút ghi vội dòng chữ: “Ông có phải là thầy Trân dạy Sữ
trước đây ở trường Huyền Trân không ?”.Tôi đưa mảnh giấy cho Chi, con gái lớn của tôi, và nói với nó bằng tiếng Mỹ cho nó dễ hiểu và cũng để bác xích lô không biết chuyện:
-Con xuống xe, đi lại chỗ ông bán vé số quầy cuối cùng, đưa cho ông tờ giấy này. Ông đó là thầy dạy học của mẹ trước đây.
Con gái tôi mở tròn hai mắt:
-Thầy dạy học mà đi bán vé số! My God !
– Chắc tại ông mất việc.
Tôi đưa tiếp cho Chi hai tờ 100 mỹ kim và dặn thêm:
-Nếu ông nhận ông là giáo sư Trân thì con đưa cho ông số tiền này và nói của một học trò cũ của ông tặng. Mẹ dặn thêm, nếu ông có hỏi tên mẹ thì con trả lời: “ Mẹ con dặn đừng nói”.
Thấy con bé ngỡ ngàng không hiểu vì sao tôi lại dặn nó dấu tên tôi, tôi giục nó:
-Con đi ngay và nhớ lời mẹ dặn.
Tôi ngồi thu mình trong xe theo dõi.Tôi thấy người đàn ông cầm tờ giấy tôi viết đọc. Tôi thấy ông nhìn sửng con bé,rồi đưa hai tay ôm vai nó, đầu gật gật.Con bé đưa tiếp cho ông số tiền tôi đưa. Tôi thấy ông cầm tiền, đứng ngây người ra,rồi mắt nhớn nhác nhìn tứ phía như tìm kiếm ai.Tôi thấy ông cúi xuống như muốn gặng hỏi gì con bé . Con bé lắc đầu hai ba cái.Nó đưa tay ra bắt tay ông rồi vừa đi vừa chạy về hướng chiếc xich lô tôi ngồi.Tôi thấy ông cuộn tròn hai tấm giấy bạc, nắm chặc trong lòng bàn tay, mắt đăm đăm nhìn theo hướng con bé chạy.Tôi mở ví lấy cặp kính đen đeo vội để dấu đôi mắt đẫm ướt của mình.
TRANG CHÂU

  Thầy Trân