TOÀN TRÍ, TOÀN TRI, TOÀN TRỊ- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng!”.

Được khen ngợi như một ‘Phaolô khổng lồ’ của Hoa lục, Hudson Taylor viết cho một người bạn, “Dường như Chúa đã tìm khắp thế giới một đứa ‘đủ yếu’ để làm công việc của Ngài. Tìm thấy tôi, Ngài nói, ‘Con đủ yếu, con sẽ làm được!’. Tất cả những người khổng lồ của Chúa đều là những đứa yếu. Họ không cậy mình, nhưng cậy Ngài, Đấng ‘toàn trí, toàn tri, toàn trị!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay mời chúng ta chiêm ngắm Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa ‘toàn trí, toàn tri, toàn trị’; cũng là Đấng đã nói, “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng!”. Dẫu là Vua Trời, Ngài xuống thế mặc lấy hình hài một thơ nhi để cứu chuộc loài người. Đó chính là ý nghĩa của lễ Giáng Sinh!

Giêsu, người đang nói những lời này là ai? Ngài là người có thể nhìn thấu nơi kín đáo trong tâm hồn mỗi người và khám phá ở đó những điều ẩn giấu. Ngài biết bạn và tôi đang vất vả nhọc nhằn! Rằng, chúng ta nặng gánh bởi những đòi hỏi của cuộc sống, những tì đè của tội lỗi, những bất an của lương tâm. Và rằng, chúng ta căng thẳng bởi sự giằng co của những đam mê và những ước muốn điên rồ không thoả mãn. Giêsu là người dám hứa những gì mà linh hồn luôn khao khát cho nơi tôn nghiêm thẳm sâu của nó; những gì chưa bao giờ được phép hy vọng, và hơn cả những gì một người có thể cảm thấy mình xứng đáng. “Hãy đến với tôi!”. Ai có thể thốt ra lời mời đơn giản, nhẹ nhàng nhưng hấp dẫn đến thế nếu không phải là Đấng ‘toàn trí, toàn tri, toàn trị!’.

Điều tương tự được tìm thấy qua lịch sử Israel. Giữa chốn lưu đày, khi dân Chúa sa sút niềm tin, Israel tưởng nghĩ, Thiên Chúa đã bỏ họ, “Thanh niên thì mệt mỏi, nhọc nhằn; trai tráng cũng ngả nghiêng, lảo đảo”. Biết họ đang ngờ vực, hoang mang, ‘đặt Ngài lên bàn cân’ với các thần ngoại, Ngài lên tiếng, “Các ngươi so sánh Ta với ai, để Ta phải ngang hàng với nó? Hãy đưa mắt lên cao mà nhìn: Ai đã sáng tạo những vật đó? Đấng tung ra toàn bộ đạo binh tinh tú, gọi đích danh từng ngôi một!”. Nói như thế khác nào nói, “Ta là Đấng ‘toàn trí, toàn tri, toàn trị!’”. Rồi đây, Ngài sẽ đưa họ về, băng bó, chữa lành; để mỗi người có thể nhủ lòng, “Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

“Hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng!”. Đến cách nào? Bằng cách “Hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi!”. “‘Ách’ của Chúa bao gồm việc mang lấy gánh nặng của người khác với tình yêu thương huynh đệ. Một khi nhận được sự ủi an và nghỉ ngơi của Chúa, chúng ta được kêu gọi trở thành sự nghỉ ngơi và ủi an cho anh chị em mình với thái độ ngoan nguỳ và khiêm nhượng noi gương Thầy mình. Sự ngoan ngoãn và khiêm nhường trong lòng giúp chúng ta không chỉ mang lấy gánh nặng của người khác, mà còn giữ cho quan điểm cá nhân, phán đoán, chỉ trích hoặc sự thờ ơ của chúng ta không đè nặng lên họ!” – Phanxicô. Hãy đến với máng cỏ nơi Giêsu đang nằm bất lực! Đấng ‘toàn trí, toàn tri, toàn trị’ nhập thể vì yêu con người! Chỉ cần lặng thinh! Mọi tham vọng sẽ tan biến, mọi đam mê sẽ dịu lại và tất cả những gì viển vông mụ mị phải tan bay!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy con biết ‘chìm sâu vào trong’ khi cung chiêm máng cỏ! Cho con biết mình ‘quá yếu’ khi được Chúa ‘lỡ chọn’ cho những công việc quá ư ‘khổng lồ!’”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

*************************************************

Thứ Tư Tuần II Mùa Vọng:

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

28 Khi ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. 29 Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. 30 Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.”


 

Tấn công Đại học Fulbright Việt Nam một kiểu như 30 năm trước

Ba’o Nguoi-Viet

December 10, 2024

*Chuyện Vỉa Hè

*Đặng Đình Mạnh

Tháng 08/2024, một video mang tên “Không để cách mạng màu đổi màu giáo dục”đã bị lặng lẽ gỡ ra khỏi không gian mạng.

Theo đó, chủ nhân của video là Đài Truyền Hình Quốc Phòng đã cho phát trên kênh của mình với nội dung cho rằng Trường Đại học Fulbright Việt Nam (FUV), có trụ sở tại Sài Gòn là nơi tuyên truyền tư tưởng sai lệch.

Bà Hillary Clinton, Ngoại trưởng Mỹ nói chuyện với sinh viên trường đại học Fulbright Việt Nam hồi Tháng Bảy 2012. (Hình: Brendan Smialowski/AFP/Getty Images)

Thậm chí ám chỉ rằng trường đại học này có liên hệ với các tổ chức phản động với mục đích “gây kích động”, cổ súy cho mầm mống “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”…

Nhìn lại câu chuyện tấn công vào Trường Đại học Fulbright, khiến tôi nhớ về cuộc tấn công tương tự vào Khoa Luật Trường Đại học Tổng hợp TP.HCM từ hơn 30 năm trước, nơi tôi và hơn một nghìn bạn đã may mắn được học ở khóa đầu tiên, vì nó khá giống với nhau về cung cách và nội dung tấn công.

Khóa luật của chúng tôi được khai sinh từ những “bà mụ” gồm ông Triệu Quốc Mạnh, Luật sư, nguyên là Biện Lý Cuộc và là Chỉ Huy Trưởng của lực lượng Cảnh sát Đô Thành trong những giờ cuối cùng của VNCH cũ. Có điều, ông cũng là một cán bộ nằm vùng của Việt Cộng. Ông Phan Hiền, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và ông Nguyễn Ngọc Giao, Giáo sư, Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp TP.HCM.

Khi ấy, khóa luật vẫn chưa được thành lập thành một khoa riêng biệt tại Trường Đại học Tổng hợp, mà chỉ là một ngành (Ngành Luật) thuộc Khoa Triết mà thôi.

Tháng 09/1990, khóa luật đầu tiên của chúng tôi khai giảng với 3 lớp, gồm các lớp 5LHA, 5LHB và 5LHC. Trong đó, tuy là khóa luật học đầu tiên, nhưng lệ thuộc vào Khoa Triết lúc ấy đang đào tạo khóa thứ 5, nên các lớp của chúng tôi được đặt ký hiệu bắt đầu bằng khóa 5 là vậy.

Cả 3 lớp đều được giảng dạy tại cơ sở 2, đường Đinh Tiên Hoàng, Quận 1, nơi trước năm 1975 là cơ sở của trường Đại Học Văn Khoa.

Ban Giảng huấn được Luật sư Triệu Quốc Mạnh mời tham gia, hầu hết là số Giáo sư từ Đại học Luật khoa Sài Gòn (Cần Thơ và Huế), Học viện Quốc gia Hành chính còn ở lại trong nước sau năm 1975, một số luật sư và một số nguồn khác. Một số vị tôi còn nhớ tên, mà khi nhắc lại danh tính, tôi vẫn thấy đầy hãnh diện khi được thọ giáo họ, các giảng sư: Vũ Tam Tư, Nguyễn Mạnh Bách, Đào Quang Huy, Vũ Phúc Tùng, Triệu Quốc Mạnh, Nguyễn Văn Ngôn, Lương Hữu Định, Lương Văn Lý, Nguyễn Ngọc Bích, Lê Tử Thành, Nguyễn Văn Trung (Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP. HCM), Nguyễn Văn Hòa, Trần Thị Bông, Phạm Mạnh Khôi, Trần Văn Huỳnh, Trần Trung Hậu…

Đồng thời, rất nhiều giáo trình của Đại học Luật khoa Sài Gòn cũng được các Giáo sư biên tập lại, đưa vào giảng dạy. Không chỉ giáo sư, giáo trình từ Đại học Luật khoa Sài Gòn cũ, mà mô thức đào tạo theo hình kim tự tháp cũng được vận dụng tương tự.

Đại học Văn Khoa sau những năm giải phóng.

Theo đó, đầu vào như mặt đáy kim tự tháp, mở rộng dễ dàng cho mọi người muốn theo học. Họ chỉ cần ghi danh mà không cần phải qua bất kỳ kỳ thi tuyển nào cả. Nhưng đầu ra như đỉnh chóp kim tự tháp thu hẹp nhỏ dần, thế nên, mức độ khó tăng dần theo hàng năm để sàng lọc người học. Chỉ còn lại một số ít sinh viên cuối cùng qua kỳ thi tốt nghiệp sẽ có khả năng vào làm việc tại các cơ quan tư pháp.

Mô thức đào tạo theo hình kim tự tháp có ích lợi trong việc phổ cấp kiến thức pháp luật rộng rãi cho người dân, dù chỉ học chương trình cử nhân luật trong một vài năm đầu cũng đều rất tốt cho xã hội. Vì khi ấy, họ đã được trang bị các kiến thức luật pháp cơ bản cho mình. Rất tiếc, mô thức đào tạo theo hình kim tự tháp này trong ngành luật đã mai một, không còn nghe ai nhắc đến nữa.

Có lẽ cũng vì “đầu vào” dễ dàng như vậy, nên không chỉ đối với sinh viên thuần túy, mà còn thu hút không ít quan chức đủ các cấp, các ngành ghi danh theo học. Nổi tiếng nhất là Chủ Tịch UBND thành phố lúc bấy giờ, ông Trương Tấn Sang, người mà về sau nắm giữ đến chức vụ Chủ Tịch nước, hoặc ông Phó Giám đốc Công an thành phố Trần Văn Tạo…

Số sinh viên trong các khóa Luật lúc đó, nay đã ngồi vào khá nhiều vị trí quan trọng trong ngành tư pháp Việt Nam, kể cả 1 người đã là Thẩm phán thuộc Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao, chỉ gồm 17 thành viên. Phó Chánh án Tòa án Nhân dân Cấp cao tại Sài Gòn. Còn số Chánh án, Phó Chánh án, Chánh tòa các cấp tại Sài Gòn hoặc các quận huyện thì nhiều lủ khủ. Có 2 người đã trở thành Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tại Sài Gòn. Số trở thành công tố viên hoặc lãnh đạo các ngành công an, hải quan cũng không ít.

Xét trong bối cảnh hiện nay, với thành phần ban giảng huấn và giáo trình như kể trên đã là cả một cái gai xương xóc khó mà được chấp nhận đối với chế độ, huống chi vào thời điểm ấy, cách nay 34 năm, khi tư duy giáo điều nặng nề vẫn đang chế ngự khắp nơi, thì nó còn là điều cấm kỵ nghiêm trọng đến mức nào.

Chuyện đến rồi phải đến. Khoảng cuối năm thứ nhất, trên báo Sài Gòn Giải Phóng đã xuất hiện bài viết của tác giả Mai Hồng Quỳ, bà là một Tiến sĩ Luật, phê phán khóa luật Trường Đại học Tổng hợp kịch liệt với những lời cáo buộc “chết người”, nào là mất quan điểm chính trị, đào tạo xa rời định hướng xã hội chủ nghĩa, cổ súy cho pháp luật tư bản… Nếu sự phê phán đến từ một Tiến sĩ Luật, trong thời buổi còn nặng nề giáo điều, thì lời lẽ cáo buộc sẽ ghê người đến mức nào vào lúc ấy!?

Không phải trên báo thường mà chọn đăng tải bài viết trên báo Đảng là sự tấn công trực diện vào khóa luật còn non trẻ. Tuy vậy, giờ nhìn lại, tác động của bài viết tưởng nặng nề, mà hóa ra lại chỉ như việc ném đá ao bèo, chỉ gợn chút sóng lăn tăn mà thôi.

Nhưng trong thời điểm ấy cho đến tận khi tốt nghiệp, chưa bao giờ chúng tôi hết lo lắng về sự tồn tại của khóa luật, như những kẻ phải học lậu trong một khóa học bất hợp pháp vậy. May mắn, khóa cử nhân luật dự kiến chỉ 4 năm đã được chúng tôi hoàn thành vào năm 1995, sau đến 5 năm mài đũng quần trên giảng đường.

Sau chúng tôi vài khóa, thì Trường Đại học Luật với Hiệu trưởng Mai Hồng Quỳ, cô nàng cố nhân xinh đẹp ngày nào, cũng đã kịp thôn tính khoa luật Trường Đại học Tổng hợp, chấm dứt những khóa luật với ban giảng huấn và giáo trình mà chúng tôi đã may mắn và hãnh diện được thọ giáo.

Caption (VN-TruyenHinhQuoc-Phong-1-121222.jpg) Phóng viên đài Truyền hình Quốc Phòng CSVN tường thuật cuộc triển lãm võ khí quốc tế tại Hà Nội cuối năm 2022. (Hình: Chụp lại màn hình THQP)

Sự phê phán của bà Mai Hồng Quỳ khi đó, về học thuật mà nói, thì thật ra làm gì có pháp luật tư bản! Chỉ có một hệ pháp luật chung cho loài người sử dụng mà thôi, đúng như tục dao pháp lý La-tinh “Ubi Societas, Ibi Jus” (Được hiểu rằng: Ở đâu có xã hội, ở đấy có pháp luật). Nó chỉ mang tên là “Pháp luật tư bản” khi những lý thuyết gia Cộng sản đặt tên và gán cho nó chức năng đấu tranh giai cấp:”Pháp luật là vũ khí của giai cấp bóc lột” để rồi xa lánh nó.

Nhưng sau đó, tôi không rõ ngôi Trường Đại học Luật dưới thời Hiệu trưởng, Tiến sĩ Luật Mai Hồng Quỳ đã chấp nhận việc đưa các kiến thức pháp luật, vốn tri thức chung của loài người vào giảng dạy trong trường hay chưa? Để các cử nhân luật tốt nghiệp từ ngôi trường này có thể hòa nhập với thế giới pháp lý văn minh? Hay vẫn sắt máu với tính giai cấp để tạo sân chơi riêng cho mình với 4 đối tác sắp tuyệt chủng của nhân loại, gồm Trung Cộng, Lào, Bắc Hàn và Cuba?

Giờ nhớ lại, như nước chảy hoa trôi thôi nhỉ? Nhưng nhìn lại vào sự tấn công vào Đại học Fulbright Việt Nam theo mô thức cũ, đã có từ hơn 30 năm trước mà thấy rùng mình.

DC, ngày 9 Tháng Mười Hai 2024
Đặng Đình Mạnh 


 

Lễ nhớ Đức Mẹ Loreto (10/12).- Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 10/12/2024

Bạn biết không? Năm ngày từ ngày 8 tháng 12 đến ngày 12 tháng 12 giữ một vị trí đặc biệt trong trái tim của những người có lòng sùng kính Đức Mẹ. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi này, Giáo Hội cử hành ba lễ dành riêng cho Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, tất cả đều liên quan đến một cách nào đó những sự kiện kỳ diệu. Nổi bận hơn nhất là Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (8/12), Lễ trọng—bổn mạng của đất nước Hoa Kỳ. Kế đến là Lễ kính Đức Mẹ Guadalupe  (12/12), bổn mạng Giáo hội Mỹ châu Latinh. Chen vào giữa là Lễ nhớ Đức Mẹ Loreto (10/12). Vào ngày 7 tháng 10 năm 2019, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã cho phép cử hành Lễ Đức Mẹ Loreto như lễ nhớ tùy ý trong lịch phụng vụ của Giáo Hội hoàn vũ.

Lễ kính Đức Mẹ Loreto—Sau khi Đức Mẹ hồn xác về trời, ngôi nhà Đức Mẹ ở Nazareth được gọi là ngôi nhà thánh (Santa Casa) biến thành nguyện đường. Ở đó, giáo dân tiên khởi tôn kính một pho tượng Đức Mẹ ẩm Chúa Hài Đồng. Tục truyền rằng pho tượng hay làm phép lạ đó được tạc bằng một khúc gỗ bách hương xứ Libăng.

Vào thế kỷ thứ IV, hoàng hậu Helena cho xây cất một ngôi thánh đường rộng rãi bọc lên trên ngôi nhà thánh này, khách hành hương viếng cảnh thánh địa thường hay đến tôn kính. Năm 1252, vua Louis IV đã viếng ngôi nhà thánh này.

Vào thế kỷ thứ 13, khi quân Hồi giáo xâm chiếm thánh địa, ngôi nhà thánh được di chuyển (qua không gian hay đường biển không rõ, theo tục truyền do bàn tay các thiên thần) về trên đồi Loretto, nước Ý; sau một thời gian ở tại Tersato, xứ Dalmatia.

Sự kiện xảy ra vào khoãng năm 1294, ngôi nhà thánh được chuyển từ Dalmatia bên kia biển Adriatique về Recawati và được đặt vào trong một khu rừng thuộc quyền sở hữu của một nhà quí phái tên là Loretto.

Một điều đáng chú ý là các nhà khảo cổ kiểm chứng được rằng kích thước của ngôi nhà thánh ở Loreto giống kích thước của ngôi nhà thánh xưa kia mà Thánh Gia Thất đã ở được lưu giữ trong một thánh đường ở Nazareth mà nay mất tích. Thứ đá dùng cũng giống nhau. Hơn nữa, ngôi nhà thánh lại không có móng và bậc thang như đã được kiểm chứng trong các lần khác vào năm 1962-1965.

Cũng như ở bên thánh địa thời trước, một thánh đường dâng kính Mẹ Loreto được xây cất bọc lên thánh tích và năm 1728 được Đức Giáo Hoàng Benedicto XIII nâng lên bậc Vươmg Cung Thánh Đường. Giáo dân tấp nập đến kính viếng. Kinh cầu Đức Bà Loreto được đặt ra vào khoãng năm 1400 để dùng trong các cuộc hành hương.

Có khoãng 50 vị Giáo Hoàng đã đến kính viếng ngôi nhà thánh và có nhiều vị thánh như thánh Ignatius Loyola, thánh Francis Xavier, thánh Charles Borromeus, thánh Alphonsus de Ligorius là giáo lữ hành hương.

Theo hiệp ước Latran ký kết giữa chính phủ Ý và tòa thánh Vatican năm 1929 thì thánh đường Loreto thuộc quyền sở hữu của Tòa Thánh. Trước ngày khai mạc Công Đồng Viticanô II ngày 04 tháng 10 năm 1962, Đức Giáo Hoàng John XXIII đã đến kính viếng ngôi nhà thánh để xin cho Công Đồng thành công mỹ mãn và ngày 08 tháng 9 năm 1979, Đức Giáo Hoàng John Paul II đã đến hành hương để xin “ơn soi sáng và hổ trợ” trước khi thăm viếng và đọc diển văn tại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York ngày 03/10/1979.

Ngày 24/3/1920, Đức Giáo Hoàng Benedictus XV công bố chọn Đức Mẹ Loreto làm quan thầy chính của các phi công, ám chỉ ngầm ngôi nhà thánh được di chuyển do “bàn tay của các Thiên Thần” cũng như trong lời nguyện khi làm phép “các cơ khí dùng để bay trong không khí trời” (Trích “Mẹ Maria” của Cố Lm Hồng Phúc, CSsR  trang 251)

Để bày tỏ lòng tôn kính đối với Ðức Mẹ Loreto, mời bạn hãy hiệp cùng con cái Mẹ trên khắp hoàn cầu dâng lời cầu xin: Chúng con lạy ơn Rất Thánh Đức Mẹ Chúa Trời, chúng con trông cậy Đức Bà là Chúa bầu chúng con, xin cho chúng con biết lòng Đức Mẹ yêu dấu con mọn này, còn ở dưới thế cách xa mặt Mẹ. Đức Chúa Giêsu xưa xuống thế gian chẳng bỏ loài kẻ có tội, lại liều mình chịu nạn chịu chết vì hết cả loài người ta. Đức Mẹ cũng một lòng theo con như vậy. Mẹ ơi, Khoan thay! Nhân thay! Chớ trở mặt đi mà chẳng nhìn chúng con. Xin Đức Mẹ thương xem dạy dỗ yên ủi chúng con. Con cậy Mẹ có phép tắc nhiều trên hết Thiên Thần cùng trên hết các Thánh. Chúng con còn ở dưới thế này như kẻ đi biển cả vậy. Đức Mẹ là như Ngôi Sao chính ngự ở trời bên Bắc vậy, xin Đức Mẹ dẫn đàng cho chúng con được theo kẻo phải xiêu chìm sa hỏa ngục vô cùng. Chúng con trông cậy Đức Mẹ cho chúng con ngày sau được vào cửa Thiên đàng, xem thấy mặt Đức Chúa Giêsu cùng mặt Đức Mẹ, được hưởng muôn muôn sự phúc gồm hết mọi sự tốt lành chẳng hay hết, chẳng hay cùng. Amen. (Lời nguyện trong Kinh Cầu Đức Bà Loreto)

From: Do Dzung

****************************

30 Bài Thánh Ca Về Đức Mẹ Maria Hay Nhất – Thánh Ca Tuyển Chọn 

Luật sư thứ 4 trong vụ án Thiền Am Bên bờ Vũ Trụ đến Mỹ tị nạn

VOA

10/12/2024

Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc tại North Carolina, Mỹ, ngày 9/12/2024.

Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc vừa rời Việt Nam đến Hoa Kỳ tị nạn sau thời gian gần hai năm ông “liên tục bị áp lực nặng nề” từ công an tỉnh Long An. Ông là luật sư thứ tư trong vụ án Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ đã phải rời khỏi đất nước.

“Chúng tôi chân thành cảm ơn Chính phủ Hoa Kỳ thông qua các tổ chức hữu trách đã giúp đỡ, tiếp nhận, có phương cách hữu hiệu đảm bảo sự an toàn cho vợ chồng chúng tôi vào định cư nước Mỹ”, luật sư Trịnh Vĩnh Phúc viết cho VOA hôm 9/12.

Ông cho biết thêm rằng ông và gia đình rời Việt Nam hôm 3/12, đến bang North Carolina của Mỹ hôm 4/12.

“Việc phải rời Việt Nam sang Hoa Kỳ, xa quê hương Việt Nam yêu thương và từ bỏ nghề luật sư tranh tụng mà tôi theo đuổi hơn 30 năm với nhiều tâm huyết và sự dấn thân là một quyết định khó khăn đối với tôi”, luật sư Phúc bày tỏ. “Tuy nhiên, áp lực nặng nề suốt hơn 20 tháng qua từ Công an tỉnh Long An và việc bảo toàn danh dự, phẩm giá khiến tôi quyết định rời đi”.

Embed share

Vụ án Thiền Am: Vì sao các luật sư bị điều tra theo Điều 331?

VOA đã liên lạc Công an tỉnh Long An, Bộ Ngoại giao Việt Nam và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về việc luật sư Trịnh Vĩnh Phúc đến Mỹ để lánh nạn, nhưng chưa được phản hồi.

Trong vụ án xảy ra tại Tịnh Thất Bồng Lai hay còn gọi là Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ, có 5 luật sư tham gia bào chữa gồm Trịnh Vĩnh Phúc, Đặng Đình Mạnh, Nguyễn Văn Miếng, Đào Kim Lân và Ngô Thị Hoàng Anh.

Theo truyền thông nhà nước, hồi tháng 4/2023, cả 5 luật sư này đều bị công an tỉnh Long An triệu tập do có tin báo về tội phạm từ Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05 – Bộ Công an) về các hành vi phát tán các thông tin trên không gian mạng, bị cho là “có dấu hiệu tội phạm lợi dụng quyền tự do dân chủ”, theo Điều 331 Bộ luật Hình sự. Đây cũng chính là điều luật mà các thân chủ của họ tại Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ bị khởi tố và phạt tù.

Vào tháng 11/2022, một phiên tòa phúc thẩm ở Long An tuyên y án tổng cộng 23,5 năm tù đối với 6 thành viên tại Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ, với mỗi bị cáo lãnh án từ 3 năm đến 5 năm tù cho tội danh “lợi dụng quyền tự do dân chủ”, theo Điều 331.

Truyền thông Việt Nam cho hay luật sư Phúc và luật sư Anh đã đến trình diện công an tỉnh Long An theo giấy mời, trong khi ba luật sư kia không xuất hiện.

Hồi tháng 6/2023, như VOA đã đưa tin, ba luật sư gồm Đặng Đình Mạnh, Nguyễn Văn Miếng, Đào Kim Lân đến Mỹ tị nạn sau khi các ông bị công an truy tìm.

Ngày ba luật sư đến Mỹ, Bộ Ngoại giao Mỹ ra thông điệp nói rằng chính quyền Việt Nam chớ nên trả thù các luật sư.

“Hoa Kỳ khuyến khích chính phủ Việt Nam tôn trọng quyền được xét xử công bằng như đã được đảm bảo theo luật pháp Việt Nam, bao gồm cả việc đảm bảo các luật sư bào chữa các vụ án hình sự có thể hành nghề tư vấn pháp lý một cách hiệu quả mà không sợ bị trả thù”, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ cho VOA biết qua email.

Vào tháng 4/2024, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh đã xóa tên luật sư Đặng Đình Mạnh và luật sư Nguyễn Văn Miếng.

“Ở Việt Nam, luật sư khi tham gia tố tụng bào chữa, bảo vệ các nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền, các tù nhân lương tâm, các vụ án liên quan đến chính trị, tôn giáo, sắc tộc, giúp đỡ pháp lý cho dân oan mất đất trong các vụ cưỡng chế thu hồi đất, tháo dỡ nhà, nhất là các vụ việc đụng chạm đến quyền hành của công an luôn gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm, tiềm ẩn nguy cơ bị xử lý ngược, có thể bị khởi tố, bị bắt giam, bị tù đày”, luật sư Trịnh Vĩnh Phúc bày tỏ những rủi ro đối với việc hành nghề của các luật sư


 

Tại các thành phố đang già hóa của Trung Quốc, người trẻ bỏ đi trong khi có ít em bé được sinh ra

Theo nhật báo phố Wall – WSJ và các báo khác.

Trước đây từng là nơi năng động trong sự sản xuất, Phủ Thuận nay lại là một thành phố đang dần chìm vào giấc ngủ. Hầu hết các mỏ than và nhà máy lọc dầu đã đóng cửa. Một nửa số người trẻ đã rời đi. Quỹ lương hưu của thành phố đang thâm hụt nghiêm trọng, vì trả tiền cho khoảng một phần ba dân số từ 60 tuổi trở lên.

Năm ngoái, chỉ có 5.541 trẻ sơ sinh được sinh ra tại thành phố 1,7 triệu dân này. Để so sánh, Quận Wayne của Michigan, bao gồm Detroit và có dân số tương đương, đã ghi nhận hơn 20.000 ca sinh sản. 

 

Vào năm 2015, Phủ Thuận bắt đầu gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình hình tài chính của mình, với lý do thâm hụt lương hưu khoảng 1,5 tỷ đô la, theo một bài báo của Tân Hoa Xã vào thời điểm đó.

Nghĩa vụ trả lương hưu kể từ đó đã tăng nhanh và hiện được dự đoán sẽ vượt quá tổng sản phẩm quốc nội của thành phố là 13,1 tỷ đô la. 

Cách duy nhất mà Phủ Thuận vẫn có thể trả lương cho người về hưu là thông qua trợ cấp từ chính quyền trung ương.

Nhu cầu nhà hưu dưỡng tăng cao trong khi ngân sách nhà nước thì có hạn.

Ngân Hàng Thế Giới tiên đoán gánh nặng ngân sách dành cho người già và sự sút giảm sản lượng GDP ở Trung Cộng.

Người già sống cô đơn, không con cháu ở các thành phố Trung Cộng. Số người tự vẫn gia tăng.

Dân số Trung Quốc bắt đầu giảm vào năm 2022 và tỷ lệ sinh đã giảm mạnh trong nhiều năm. Đến năm 2035, Trung Quốc sẽ phản ánh giống như tình hình hiện tại của tỉnh Phủ Thuận, nơi có 30% người Trung Quốc từ 60 tuổi trở lên, dựa trên ước tính dân số của Liên Hợp Quốc. 

Sự trỗi dậy của Phủ Thuận được xây dựng dựa trên sách lược tăng trưởng của Đảng Cộng sản đối với đầu tư do nhà nước lãnh đạo và hạn chế sinh đẻ. Phủ Thuận là một ngôi sao trong cả hai lĩnh vực. Giờ đây, nó là hiện thân của sự căng thẳng về kinh tế và nhân khẩu học mà toàn bộ Trung Quốc sẽ phải đối mặt trong tương lai. 

Tỷ lệ sinh của Trung Quốc đang dao động ở mức chỉ hơn một ca sinh trên một phụ nữ, thấp hơn nhiều so với mức 2,1 cần thiết để duy trì dân số ổn định. Trung Quốc hiện đang cố gắng thúc đẩy một “nền văn hóa chuộng sinh nở”.

Tỉnh Liêu Ninh, nơi có Phủ Thuận, đã áp dụng chính sách một con với sự nhiệt tình cách mạng cao độ, Ủy ban tỉnh từng khoe khoang về “kỳ tích kép” của việc kiểm soát dân số hiệu quả và tăng trưởng kinh tế cao hơn các nơi khác. Các quan chức ước tính sẽ có thêm 22 triệu ca sinh nở trong tỉnh từ năm 1980 đến năm 2010 nếu chính sách này không được áp dụng triệt để. 

 

Tình cảnh người già ở Trung Cộng

Đảng khuyến khích, tặng quà mà dân Trung Cộng không chịu tin và có thêm con

Nhân vụ Đàm Vĩnh Hưng, nói chuyện vãn: Xướng ca vô loại

Ba’o Nguoi-Viet

December 9, 2024

Vương Trùng Dương

“Không có nghề nào xấu, chỉ có người xấu”

(Ngạn ngữ)

“Chỉ thời gian mới chứng tỏ người chính trực; nhưng chỉ cần một ngày để biết được ai là kẻ xấu”

(Triết Gia Sophocles)

***

Trong thời gian qua, Đàm Vĩnh Hưng (Huỳnh Minh Hưng), ca sĩ trong nước đến Mỹ. Ngày 19 Tháng hai, 2024, cô Mộng Linh, bạn của vợ chồng tỷ phú Gerard Williams & ca sĩ Bích Tuyền mượn ngôi biệt thự ở Newport Coast, California tổ chức buổi tiệc ngoài sân, nơi có bồn phun nước. Tuy có dựng sân khấu lộ thiên thấp nhưng gần cuối bữa tiệc, Đàm Vĩnh Hưng nhảy lên ngồi lên bệ phun nước dẫn đến ngã bệ nước, phải nhập viện cấp cứu và sau đó cắt bỏ ngón chân.

Ông Gerard Williams cũng tử tế trả tiền giải phẫu cho bệnh viện khoảng một trăm nghìn đôla. Theo VOA, 18 Tháng Mười Một 2024 “Đàm Vĩnh Hưng cáo buộc trong đơn kiện rằng ông Williams không thực hiện quy trình kiểm tra và bảo trì tài sản thường xuyên, tạo ra môi trường làm việc không an toàn cho khách mời.”

Trở về Việt Nam, Đàm Vĩnh Hưng tiếp tục hát hò, múa may nhảy nhót… nhưng ngày 30 Mười, nguyên đơn của Đàm Vĩnh Hưng qua tổ hợp luật sư gởi Tòa Thượng Thẩm tiểu bang California với lý do liên quan đến bất cẩn và trách nhiệm của người chủ nhà, cho rằng bệ phun nước không bảo đảm an toàn (mặc dù anh ta tự ý nhảy lên cao để mọi người theo dõi, không phải anh ta đứng cạnh đó hát mà bệ phun nước tự nhiên ngã xuống dập chân!)… và theo đơn kiện thì tai nạn xảy ra đã làm thiệt hại “sự nghiệp” nên bồi thường vài chục triệu đôla!

Thời gian đầu, vài tờ báo mạng trong nước cũng a dua bênh vực chàng ta, nhưng sau khi ông Gerard Williams thấy vô lý nên kiện ngược lại Đàm Vĩnh Hưng với mức bồi thường là “1 đồng danh dự.” Mục tiêu chính của ông là muốn nói lên sự thật. Và, sau đó Đàm Vĩnh Hưng rút đơn kiện.

Theo chia sẻ của ca sĩ Bích Tuyền thì Đàm Vĩnh Hưng bị thương ở chân là do anh tự ý leo lên bồn phun nước trong sân để hát, điều này khiến bồn nước bị vỡ làm chân anh bị thương.

Vụ lùm xùm nầy qua các cơ quan truyền thông Việt ngữ ở California đề cập khá nhiều và đả kích Đàm Vĩnh Hưng kiểu “ăn vạ” làm xấu đi hình ảnh trong giới ca hát.

Trong quá khứ thì cộng đồng người Việt tị nạn không ưa, biểu tình “ca sĩ dở hơi,” điển hình như bài viết của nhà văn Huy Phương “Biểu tình ‘chống Đàm Vĩnh Hưng!’” trên nhật báo Người Việt ngày 31 Tháng năm, 2015: “Chúng tôi đã được đọc các tin tức về các cuộc biểu tình của người Việt khắp nơi từ Đông sang Tây, gần đây là tối Thứ Bảy, 1 Tháng Ba, rất đông người Việt đã tổ chức cuộc biểu tình phản đối lại việc ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng sẽ sang biểu diễn tại thành phố Denver, Colorado. Tối hôm Thứ Sáu, 15 Tháng Năm, dưới bầu trời giá lạnh, vào lúc 11 giờ khuya, đông đảo người Việt tại Bắc California tập trung biểu tình tại câu lạc bộ Pure Lounge, thành phố Sunnyvale, cách thành phố San Jose khoảng 8 dặm đường, để “chống” Đàm Vĩnh Hưng…

… Việc Đàm Vĩnh Hưng bị người Việt ở Hoa Kỳ phản đối mạnh mẽ là do ca sĩ này bị coi là tuyên truyền cho nhà nước Việt Nam. Đàm Vĩnh Hưng được nhà nước Việt Nam tuyên dương và hát một số bản nhạc mang tính chính trị, cầm cờ đỏ sao vàng đứng hát, là điều mà nhiều người Việt tại Hoa Kỳ ‘rất dị ứng.’

Năm 2012, trong buổi đấu giá gây quỹ từ thiện cho một ca sĩ trong nước chữa bệnh tại phòng trà “Không Tên” ngày 4 tháng Mười Một, 2012, Đàm Vĩnh Hưng hôn môi một nhà sư trẻ, gây tiếng xấu trong dư luận và bị chính Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch Việt Nam xử phạt 5 triệu đồng. Ông sư trẻ tuổi hôn môi với Đàm Vĩnh Hưng sau đó đã xin hoàn tục…”

Phải nói cộng đồng người Việt tị nạn (khán, thích giả) với tấm lòng nhân hậu, dễ dãi nên không cố chấp nhiều với ca sĩ nầy đã xảy ra trong quá khứ.

Ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng. (Hình: Facebook “Đàm Vĩnh Hưng”)

Nhắc đến chuyện “đáo tụng đình” nầy để đề cập đến chuyện vãn dưới đây vì gần nửa thế kỷ qua với giới ca sĩ hải ngoại nói chung và ở Hoa Kỳ nói riêng không tệ đến trường hợp như vậy ở tư gia của thân hữu.

Ngày xưa, Trần Hậu Chủ ưa thích hưởng thụ nơi chốn cung đình, yến tiệc với thực khách và cung tần, mỹ nữ, tuyển chọn thơ để phổ thành nhạc với khúc “Hậu Đình Hoa” ca hát, ăn chơi, phó mặc sơn hà xã tắc cho đám cận thần đến chỗ mất nước.

Hậu Đình Hoa tạo dựng bởi những bài thơ tuyển chọn được phổ nhạc thành khúc hát của Trần Hậu Chúa dùng trong khi yến tiệc ở cung đình của quan trong triều, thực khách cùng gia tần để hưởng thụ.

Đời nhà Đường ở Trung Hoa, nhà thơ Đỗ Mục (803-853) giữ chức Ngự sử ở Lạc Dương. Xuất thân từ dòng dõi quý tộc, giỏi thi phú, được gọi là Tiểu Đỗ (nhà thơ Đỗ Phủ (712-770) gọi là Lão Đỗ).

Quan Tư đồ Lý Nguyện ở Lạc Dương lúc nào cũng tiệc tùng, quấn quít bên đám ca kỹ, ồn ào thâu đêm. Nhân dịp Lý Nguyện mở đại tiệc, quan trông coi hình sự Đỗ Mục được mời tham dự, giới thiệu nhà thơ kỹ nữ Tử Vân, Đỗ Mục xao xuyến làm kẻ tình si trước dung nhan mỹ nữ.

Đỗ Mục hào hoa phong nhã, đa tình, nhưng lại khinh thường lớp xướng ca, bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Bạc Tần Hoài đã mô tả hình ảnh người ca kỹ tiêu biểu cho lớp người thuộc thành phần xướng ca vô loại:

“Yên lung hàn thủy, nguyệt lung sa,

Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia.

Thương nữ bất tri vong quốc hận

Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa.”

Trần Trọng Kim dịch:

“Khói lồng nước, bóng trăng lồng cát

Bến Tần Hoài, thuyền sát tửu gia

Gái ca đâu nghĩ nước nhà

Cách sông vẫn hát khúc Hoa Hậu Đình.”

Bài thơ tứ tuyệt nầy trở thành quen thuộc ở nước ta trong nhiều thập niên qua, được nhiều văn nhân chuyển dịch. Xin trích hai câu sau “Thương nữ bất tri vong quốc hận! Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa” qua các ngòi bút chuyển dịch:

“Mặc ai tan nát nước nhà

Chị em vẫn hát bài “Hoa sau vườn””

(Ngô Tất Tố )

“Chẳng biết khúc buồn xưa mất nước

Bên sông cón hát Hậu Đình Hoa”

(Bùi khánh Đản & Đỗ Bằng Đoàn)

“Ca nhi nào biết quốc vong

Đình hoa còn hát, như không hận thù”

(Chi Điền)

“Thương nữ chẳng hay hờn mất nước

Hậu đình có hát ở bên sông”

(Đào Hữu Dương)

Theo Hoàng Lê Bổn trong “Tầng Lớp & Giai Cấp Xã Hội Việt Nam Thời Xưa” về thứ cấp, tầng lớp  được tổng hợp với ngành nghề trong xã hội vào thời điểm trước công nguyên có Ngư (công việc liên quan đến sông nước), Tiều (núi, rừng), Canh (đất đai, đồng áng), mục (chăn nuôi, gia súc); sau nầy có: Sĩ, Nông, Công, Thương. Sĩ ở đây được hiểu là lớp người khoa bảng, trí thức… được hiểu là sĩ phu, không có nghệ sĩ trong thành phần này.

Vì vậy, xướng ca không có xếp loại trong thành phần nào. Công việc ca hát nầy chỉ mua vui cho thiểu số ở cung đình, quan chức và ở chốn thanh lâu… cho nên người đời không mấy thiện cảm.

Không chỉ ở Đông phương mới xem thường hình ảnh xướng ca, nhà điện ảnh Charles Chaplin (1899-1977), được mệnh danh vua hề Charlot, để lại ca khúc bất hủ “Limelight” rất quen thuộc qua lời ca của Phạm Duy và Xuân Mỹ: “Đời ca hát ngày tháng cho đời mua vui… Rồi khi ánh đèn tắt, lặng lẽ cô đơn. Chìm trong bóng đêm, người ta lãng quên, bẽ bàng.”

Đứng trên nhiều địa hạt khác “East is East, West is West” như quan niệm của nhà văn Anh quốc Rudyard Kipling (1865-1936), nhưng từ ngàn xưa giữa Đông và Tây, cuộc đời ca nữ nó phũ phàng và bất hạnh, bị người đời xem đó như lớp người để mua vui cho khách làng chơi. Dòng thơ Xuân Diệu thời tiền chiến đã giãi bày tâm sự, hình ảnh qua bài Tình Kỹ Nữ:

“Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lả,

Tay em đây mời khách ngả đầu say;

Đây rượu nồng, và hồn của em đây,

Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử…

… Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt

Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi.”

Quan niệm đó, ngày nay đã lỗi thời. Trong 4 thú vui tao nhã: cầm, kỳ, thi, họa; nhà văn Toan Ánh trong “Cầm Ca Việt Nam” đã viết: “Cái thú phong lưu thứ hai của ta sau cầm, tôi nghĩ cần nói tới ca hát trước… Ta thường ca hát khi cảm hứng nổi lên muốn đem tâm tư gửi vào giọng hát, hoặc cũng có khi vì uất hận muốn gởi nỗi niềm bực tức vào câu ca… Ta cũng thích hát và hát cũng là một thú chơi thanh cao tao nhã không kém gì cầm, kỳ, thi, họa”

(Toan Ánh – CCVN, NXB Xuân Thu trg 73-74).

Vào thời điểm cuối cùng của thế kỷ XX để bước vào thiên niên kỷ mới. Sau bao thập niên ca sĩ trong nước sống cuộc sống của “công nhân xướng ca”, được làn gió đổi mới thổi vào từ bên ngoài, xướng ca có cơ hội ca… xướng, chưa được lâu dài liền bị “sao… quả tạ” mang búa rìu giáng xuống.

Nghề xướng ca ở trong nước ở miền Bắc trong hai thập niên (1954-1975) “nghèo rớt mồng tơi” vì chỉ là “công nhân ca hát” trong tổ chức để hưởng tem phiếu thực phẩm. Và cả nước khoảng thập niên 1990 nhờ “nhạc vàng” với những sáng tác các nhạc sĩ thời tiền chiến (bị cấm vì lãng mạn, yếu đuối) và các nhạc sĩ ở miền Nam Việt Nam mới “ăn nên làm ra” rồi nào “chảnh”, “trưởng giả học làm sang”… dẫn đến những trò nhố nhăng, kệch cỡm mất thiện cảm. làm xấu đi hình ảnh xướng ca!

Khi đến cập đến “hiện tượng” nầy không phải người viết có đầu óc đố kỵ mà nhìn vào thực tế giới ca sĩ ở miền Nam VN hầu hết giữ được nhân cách của người nghệ sĩ nên không làm hoen ố hình ảnh “xướng ca vô loại.” Tôi đã viết nhiều bài về các ca sĩ như Thái Thanh, Lệ Thanh, Hà Thanh, Lệ Thu, Mai Hương… Trần Văn Trạch, Duy Trác, Ban Hợp Ca Thăng Long… với hình ảnh đẹp và được khán thính giả cảm tình và ái mộ.

Trước đây báo chí trong nước đã phê phán: “Ca sĩ miền Bắc thì ỉ eo ca sĩ miền Nam hát sến, chỉ chuộng màu mè, phù phiếm. Làng ca sĩ Sài Gòn lại chê các đồng nghiệp ở Hà Nội khuôn sáo, khô cứng.”

Chê bai cách ăn mặc cực kỳ kinh dị “phụ họa thêm những động tác nhảy nhót, lúc lắc bốc lửa khiến những chàng choai choai phát rồ phát dại”.

Đưa ra những hình ảnh nhố nhăng, bệnh hoạn, kiêu căng, làm tiền làm tội của giọng hát được bốc thành “sao” hốt tiền bạc tỷ… cho thấy mối nguy hại “bệnh ngôi sao” của loại xướng ca nầy đang hoành hành trong nước.

Tờ ANTG số 142 ví von qua lời Tường Vy: “… Dường như tình cảm nhân đạo trong lớp trẻ bây giờ ít, họ ích kỷ hơn và không muốn chia sẻ, thậm chí vô lễ với thầy cô. Đối với bạn bè thì khan hiếm tình thân ái, nói xấu nhau không tiếc lời. Nhiều lần đi diễn cùng họ, ngồi trong cánh gà, tôi nghe hết.”

Tú Gân trong ngành VH-TT Lâm Đồng:… “Tất cả những điều nầy cho thấy cái tư cách và chất nghệ sĩ đích thực đã và đang mất đi một cách trầm trọng. Chính họ, chứ không ai khác, đã tự làm mất mình”. Ông Đặng Văn Phong, Nghệ An:… “Nếu đem so sánh với hiểm họa ma túy thì tác hại của nó còn lớn hơn chúng ta tưởng”. Ông Phạm Quang Bình:… “Những gì mà tác giả bài báo đã nêu lên khiến bạn đọc phải bàng hoàng, giật mình thì lại e rằng vẫn còn chưa đủ.”

Hấp thụ làn sóng mới, thời đại mới trong “giai đoạn tạp chủng” trong xã hội bị băng hoại đạo đức, ca sĩ nào không vướng chuyện lăng nhăng tình ái?. Lên án phong trào ca nhạc thương mại, nhiều nhạc sĩ cũng nhập cuộc để nói về chức năng nghệ thuật và giải trí, vẫn theo luận điệu cũ rích thời bút chiến “nghệ thuật và nhân sinh” ở thập niên 40 để đả phá xướng ca không tuân theo đường lối nhà nước.

Cách nay 1.200 năm ở Trung Hoa với khúc nhục ca vong quốc Hậu Đình Hoa.

Trần Hậu Chủ (583-587), vị vua cuối cùng của nhà Hậu Trần thời Nam Bắc triều. Trần Hậu Chủ mê hai mỹ nhân Khổng Quý Tân và Trương Lệ Hoa, cho dựng gác Lâm Xuân, gác Ỷ Kết, lầu Vọng Tiên bằng gỗ trầm hương, dát thêm vàng ngọc, để cùng mỹ nhân thưởng ngoạn. Hằng đêm lại bày tiệc vui, họp các quan học sĩ làm thơ xướng họa… Những bài thơ hay cho chép thành tập, đem phổ nhạc để ca nhân xướng hát, gồm ba tập: Nghinh Xuân Nhạc, Ngọc Thụ, và Hậu Đình Hoa. Trong ba tập, Hậu Đình Hoa gồm những bài thơ, bài hát du dương, tình tứ nhất.

Khi quân của Tuỳ Văn Đế đánh vào tới kinh đô, Trần Hậu Chủ vẫn còn say tuý luý trên lầu Ỷ Kết. Người ta lấy nước đổ vào mặt cho tỉnh, khuyên ra hàng để cứu sinh linh, Hậu Chủ bèn nghĩ kế… thoát thân bằng cách dắt mỹ nhân và quần thần nhảy xuống giếng ở sau lầu để trốn!

Hơn hai trăm năm sau, thi sĩ Đỗ Mục vào cuối đời Đường, một đêm đậu thuyền ở bến Tần Hoài, mắt nhìn cảnh khói phủ mờ sông lạnh, trăng chiếu bãi cát xa, tai nghe giọng hát, động mối cảm hoài, làm nên bài thơ tuyệt tác Bạc Tần Hoài. Thương nữ xưa kia, cũng như thất phu, không được học hành rành rẽ, cho nên thấy khúc ca du dương thì hát, hay đâu đó là khúc nhục ca vong quốc nên để lại cho người đời hình ảnh  “Thương nữ bất tri vong quốc hận”. Con sâu làm rầu nồi canh!

Người xưa quá khắt khe khi quy kết “xướng ca vô loại” suy cho cùng cũng vô lý vì “Không có nghề nào xấu, chỉ có người xấu” mà chỉ riêng cá nhân nào đó làm tổn thương nghề nghiệp.

Than ôi! kiếp xướng ca…!

(Little Saigon, December 2024)


 

Nhà báo Mỹ mất tích ở Syria 12 năm, nay gia đình hay tin còn sống

Ba’o Nguoi-Viet

December 9, 2024

WASHINGTON, DC (NV) – Hôm Chủ Nhật, 8 Tháng Mười Hai, Tổng Thống Joe Biden cho biết chính phủ Hoa Kỳ tin rằng Austin Tice, nhà báo người Mỹ bặt vô âm tín từ 12 năm trước gần thủ đô Syria, vẫn còn sống và Washington cam kết đưa ông về nhà sau khi quân nổi dậy lật đổ ách cai trị của Bashar al-Assad ở Damascus, thông tấn xã AP đưa tin.

“Chúng tôi nghĩ rằng giờ đã tới lúc đưa ông ấy về nhà,” Biden nói với các phóng viên tại Tòa Bạch Ốc, đồng thời thừa nhận rằng “chính phủ không có bằng chứng trực tiếp” nào cho thấy hiện giờ Tice đang ra sao. “Assad phải chịu trách nhiệm.”

Tổng Thống Biden cho biết các viên chức vẫn cần phải xác định chính xác vị trí của Tice sau khi ông mất tích vào Tháng Tám 2012 tại một trạm kiểm soát trong khu vực tranh chấp phía Tây Damascus.

Marc và Debra Tice, cha mẹ của ký giả Austin Tice (chân dung bên trái), trong một cuộc họp báo ở Beirut, Lebanon ngày 4 Tháng Mười Hai, 2018 (Hình: JOSEPH EID/AFP/Getty Images)

“Chúng tôi vẫn cam kết giúp ông ấy đoàn tụ với gia đình,” Biden nói.

Tice, cư ngụ tại Houston, viết tin cho The Washington Post, tờ McClatchy và các phương tiện truyền thông khác.

Một đoạn phim công bố vài tuần sau khi Tice mất dạng cho thấy ông bị bịt mắt, bị các chiến binh có võ trang giữ lại, và ông thốt lên, “Ôi, lạy Chúa.” Từ đó cho tới nay, không một ai hay biết gì về ông. Syria từng công khai chối bỏ việc tống giam Tice.

Hoa Kỳ không có bằng chứng mới nào cho thấy Tice còn sống, nhưng vẫn tiếp tục hoạt động dò la theo giả thuyết ông còn tồn tại, theo một viên chức Hoa Kỳ ẩn danh. Viên chức này cho biết Hoa Kỳ sẽ tiếp tục nỗ lực nhằm xác định vị trí của Tice và cố gắng đưa ông về quê nhà.

Mẹ của Tice, Debra, cho biết trong một cuộc họp báo hôm Thứ Sáu ở Washington rằng gia đình nhận được tin tức từ một “nguồn tin quan trọng,” nhưng bà không nêu danh, xác nhận rằng con trai bà vẫn còn sống.

“Con trai tôi đang được săn sóc và còn khỏe mạnh, chúng tôi biết điều này,” bà nói.

Vào tuần trước, gia đình Tice đã gặp gỡ các viên chức tại Bộ Ngoại Giao và Tòa Bạch Ốc.

“Tôi có đôi lời nhắn nhủ người dân Syria, xin quý vị hãy lắng nghe, xin hãy nhớ cho một điều, chúng tôi đang chờ Austin,” Debra Tice nói trong các bình luận được các tổ chức ủng hộ con tin lan truyền trên mạng xã hội hôm Chủ Nhật. “Chúng tôi biết chắc một điều rằng khi con tôi quay về với xã hội, nó sẽ cần thời gian để bình tâm và sẽ cần được săn sóc và chỉ dẫn rất nhiều. Hãy giúp tôi đưa đường dẫn lối cho Tice về trong vòng tay gia đình!” (TTHN)


 

VIẾT CÁO PHÓ CHO MÌNH – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Sẽ đến thời chúng ta không còn viết sơ yếu lý lịch nhưng bắt đầu viết cáo phó cho mình. Tôi không chắc ai là người nói câu đó đầu tiên, nhưng nó hàm chứa một sự khôn ngoan.

Sơ yếu lý lịch và cáo phó khác nhau ở điểm nào? Sơ yếu nói lên những thành tựu của bạn, cáo phó thể hiện cách bạn muốn được tưởng nhớ và những điều tốt lành nuôi dưỡng nào bạn muốn để lại. Nhưng chính xác làm thế nào để viết được cáo phó sao cho nó đừng chỉ là một phiên bản kiểu khác của lý lịch? Tôi xin đưa ra gợi ý thế này.

 

Cáo Phó: Bà Cố Maria Nguyễn Thị Lân, Thân Mẫu Linh Mục Phaolô Lê Quang ...

Trong Do Thái giáo, có truyền thống là hằng năm, một người trưởng thành phải đưa ra một di chúc tâm linh. Ban đầu, nó là kiểu di chúc thông thường, tập trung vào việc mai táng, phân chia tài sản, cách xử lý những việc còn dang dở trong đời mình về mặt pháp lý và thực tế. Tuy nhiên, qua thời gian, nó biến đổi thành dạng di chúc tập trung hơn vào việc xem lại đời mình, nêu bật những gì quý báu nhất đời, những hối hận và xin lỗi thật tâm, những lời chúc phúc cho những người mà mình muốn có lời từ biệt thật đặc biệt. Di nguyện này được xem lại và viết lại hàng năm, cuối cùng là được đọc to trong tang lễ như là lời cuối cùng chúng ta muốn để lại cho người thân yêu.

Đây có lẽ là một việc làm rất hữu ích cho chúng ta, trừ việc di chúc này không phải viết ra để đưa cho luật sư, nhưng trong tinh thần cầu nguyện, gửi gắm cho một linh hướng, một cha giải tội đang giúp chúng ta. Vậy di chúc tâm linh này nói đến những chuyện gì?

Nếu bạn đang cần những ví dụ, thì tôi xin đưa ra tác phẩm và những bài viết của Richard Groves, đồng sáng lập Trung tâm Nghệ thuật Thiêng liêng của Đời sống. Trong hơn 30 năm ông làm việc trong lĩnh vực tâm linh cuối đời và cho chúng ta một vài hướng dẫn rất hữu ích về việc lập một di chúc tâm linh và đều đặn làm mới nó. Di chúc tâm linh tập trung vào ba điểm này.

An obituary 1,700 years old has been translated - CNN

Thứ nhất: Trong cuộc đời, Thiên Chúa muốn tôi làm gì? Tôi đã làm chưa? Tất cả chúng ta đều có một vài ý thức về ơn gọi, ý thức mình có một mục đích khi tồn tại trên đời, ý thức mình đã được giao nhiệm vụ để hoàn thành trong đời. Có lẽ chúng ta chỉ nhận thức thoáng qua về nó, nhưng với một mức độ nào đó, mỗi một chúng ta đều ý thức về một bổn phận và mục đích nào đó. Việc đầu tiên trong di chúc tâm linh là cố nắm bắt điều này. Thiên Chúa muốn tôi làm gì trong cuộc đời? Tôi đã làm tốt hay tệ việc đó?

Thứ hai: Tôi cần phải nói lời xin lỗi với ai? Tôi có những điều gì hối tiếc? Cũng như người khác đã làm tổn thương ta, thì chúng ta cũng có thể làm tổn thương người khác. Trừ phi chết trẻ, tất cả chúng ta đều từng mắc sai lầm, từng làm tổn thương người khác và làm những việc mà mình hối tiếc. Một di chúc tâm linh là xác định việc này với một lòng thành thật tận cùng và hối hận sâu sắc. Chúng ta không bao giờ có tấm lòng cao cả, cao thượng, sùng tín và xứng đáng được tôn trọng hơn, khi chúng ta quỳ gối chân thành nhận ra điểm yếu của mình, xin lỗi và hỏi xem chúng ta cần làm gì để sửa chữa.

Thứ ba: Trước khi qua đời, tôi muốn chúc phúc và trao lại món quà nuôi dưỡng cụ thể cho ai? Chúng ta được gần giống Thiên Chúa (truyền năng lượng thần thiêng vào cuộc đời) những khi chúng ta ái mộ người khác, tán thành người khác, cho họ những gì chúng ta có thể làm để giúp cuộc đời họ tốt hơn. Nhiệm vụ của chúng ta là làm việc này cho tất cả mọi người, nhưng chúng ta đâu thể làm cho tất cả, nên chúng ta làm cho một số người, và là những người cụ thể. Trong di chúc tâm linh, chúng ta có dịp để nói lên những người mà chúng ta muốn chúc phúc nhất. Khi tiên tri Ê-li mất, người hầu cận ngài là tiên tri Ê-li-sê nài xin ông để lại cho mình “phần gấp đôi” thần trí của ông. Khi chết, chúng ta phải để lại tinh thần của mình làm của nuôi dưỡng cho tất cả mọi người, nhưng có những người cụ thể mà chúng ta muốn để lại “phần gấp đôi.” Trong di chúc này, chúng ta nêu lên những người đó là ai.

 

Trong quyển sách đầy thách thức: Bốn điều quan trọng nhất

(The Four Things That Matter Most)

Bác sĩ Ira Byock, người chăm sóc cho những người hấp hối, nói rằng có bốn điều chúng ta cần nói với những người thân yêu trước khi họ qua đời. “Xin tha thứ cho tôi”, “Tôi tha thứ cho bạn”, “Cám ơn”, và “Tôi yêu bạn”.

Ông nói đúng, nhưng với những chuyện chẳng ngờ, những căng thẳng, tổn thương, đau lòng và thăng trầm trong tình cảm, kể cả với những người mà chúng ta yêu thương nhất, không phải lúc nào cũng dễ (và đôi khi là bất khả thi) nói ra những lời này cách rõ ràng nhất.

Một di chúc tâm linh cho chúng ta cơ hội để nói những lời này với tâm tư vượt lên những căng thẳng thường che mờ tình cảm giữa chúng ta, và ngăn chúng ta nói rõ những lời quan trọng này, để rồi ở tang lễ, sau những lời điếu văn, chúng ta sẽ không còn chuyện gì dang dở.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

KHOA HỌC LÀM SÁNG TỎ CÁC BÍ MẬT CỦA ĐỨC BÀ GUADALUPE- Philip Callahan


Philip Callahan

Hôm đẹp trời lạnh lẽo 12-12-1531 ấy, Juan Diego – một trong những người cải đạo sớm nhất ở Mexico – không thể mơ có một ngày trong tương lai xa xôi, ông lại được bất tử hóa và được đặt trên bàn thờ của Giáo Hội hoàn vũ.

Juan Diego đang trên đường tới nhà thờ sáng sớm hôm đó thì lại nghe tiếng nói ngọt ngào của Bà Đẹp vốn đã hiện hình trước mắt ông tại chân Đồi Tepeyac ở ngoại ô Thành phố Mexico hai hôm trước.

Bà Đẹp đã lặp lại ước muốn của mình là có một teocali (nhà nguyện) được xây nơi Bà đã hiện ra.  Juan Diego nói với Bà rằng Đức Giám mục Juan Zumarraga đòi bằng chứng về tính xác thực của yêu cầu này.  Đức Bà đã chấp thuận.  Theo hướng dẫn của Người, Juan Diego đã hái một bó hoa hồng Castilian rồi chính Người xếp trên tilma của ông (áo choàng, ct: một loại poncho hai mảnh trước và sau).  Ông sẽ phải đưa bó hoa hồng đó cho Đức Giám Mục.  Vâng, những đóa hồng Castilian lạ lùng nở vào mùa Đông!

Juan Diego vội vàng đến gặp Đức Giám Mục.  Và khi ông trải áo choàng của mình ra thì lạ chưa, Đức Giám Mục và mọi người có mặt đều hết sức kinh ngạc khi thấy không những nhiều đóa hồng thơm ngát rơi xuống từ áo choàng của ông mà còn cả một bức ảnh (cao 143 cm) của một phụ nữ trẻ đẹp với nước da hơi sẫm.

Đó là câu chuyện hay về việc làm sao hình ảnh Đức Bà Guadalupe đã xuất hiện.  Hình Mẹ được bao quanh bằng những tia sáng mặt trời và dưới chân Đức Trinh Nữ có một vầng trăng lưỡi liềm và một thiên thần nâng Người lên.  Đức Bà mặc một áo choàng màu xanh dương lẫn xanh lục với những ngôi sao vàng, và bên trong là một áo dài hồng thêu những nụ hoa viền vàng.  Một đai lưng màu tía sẫm thắt quanh eo Đức Trinh Nữ theo kiểu các thai phụ Aztec vẫn thường mang.

Đức Mẹ yêu cầu Juan Diego gọi Người là coatloxopeuh mà trong tiếng Nahuatl, ngôn ngữ Aztec châu Mỹ, có nghĩa là “người đạp dẹp con rắn.”  Trên phương diện lịch sử, đó là một phần văn hóa Aztec đương thời, vốn hàng năm dâng ít nhất 20.000 đàn ông, đàn bà và trẻ em cho các thần của họ như tế vật.  Nhờ Đức Bà Guadalupe hiện ra với Juan Diego, hàng triệu người đã trở lại Kitô giáo, như thế là đạp dẹp con rắn của việc thờ ngẫu tượng.

Áo choàng của Juan Diego được làm bằng sợi thô, cứng, một thứ vải hoàn toàn không thích hợp để vẽ.  Cuộc nghiên cứu và nhiều thử nghiệm khoa học đã được thực hiện trên áo choàng đó từ năm 1666 bởi các họa sĩ, bác sĩ và khoa học gia.  Những phát hiện của họ cho thấy như sau: các đặc điểm lạ lùng của hình ảnh vượt quá mọi hiểu biết khoa học; hình ảnh xem ra đã không được vẽ bởi bàn tay con người; các màu sắc xuất hiện như “tích hợp” vào thớ vải; và chất màu được sử dụng không có nguồn gốc từ động vật hay khoáng vật.  Hơn nữa, áo choàng, được làm bằng sợi đặc biệt đó, là tấm khăn duy nhất cùng loại còn tồn tại sau 476 năm [ct: 2007, thời điểm tác giả viết bài này].

Renzo Allegri, trong bài viết trên báo Messenger of Saint Anthony (Sứ giả của Thánh Antôn), cho biết rằng hiện tượng đã đánh thức sự tò mò khoa học đối với hình ảnh Đức Bà Guadalupe, liên quan đến cái đã được khám phá trong đồng tử đôi mắt Đức Mẹ.  Năm 1929, Alfonso Gonzales, một nhiếp ảnh gia của Vương cung Thánh đường Guadalupe, sau khi nghiên cứu âm bản (phim) của hình ảnh, đã tìm ra cái có vẻ là hình ảnh rõ nét của một người nam có râu phản chiếu ở mắt bên phải.

Hơn 20 năm sau, một nhiếp ảnh gia khác của Vương cung Thánh đường, Carlos Chavez, đã tuyên bố rằng ông thấy một hình người trong mắt bên trái cũng như mắt bên phải của Đức Bà Guadalupe.  Từ năm 1956 tới 1958, Rafael Torija Lavoigner đã thực hiện 5 cuộc nghiên cứu sử dụng các thấu kính phóng đại và kính soi đáy mắt (ophthalmoscopes), ông xác nhận có nhiều hình người trong đôi mắt của Đức Trinh Nữ.

Các hiện tượng như thế trở nên giật gân hơn nữa khi đôi mắt Đức Bà được nghiên cứu có sử dụng kỹ thuật tinh vi hơn nối kết với các máy vi tính.

Năm 1979, Tiến sĩ Jose Aste Tousman, một kỹ sư xuất sắc chuyên về vi tính ở Hoa Kỳ, đã đến Mexico.  Ông là một trong những nhà nghiên cứu có khả năng nhất về đôi mắt Đức Bà Guadalupe.  Allegri viết rằng công trình Tiến sĩ Tousman thực hiện trong 23 năm thật đáng kinh ngạc; ông đã sử dụng thiết bị cập nhật hay tinh vi nhất, giống các loại mà NASA vẫn dùng để giải mã các bức ảnh do vệ tinh chụp trong không gian.  Tiến sĩ Tousman đã phóng to hình ảnh đôi mắt Đức Bà Guadalupe tới 2.500 lần, sử dụng 25.000 màu được chiếu sáng cho mỗi mm vuông.

Sau khi lọc và xử lý hình ảnh kỹ thuật số, Tiến sĩ Tousman khám phá ra một toàn cảnh được bắt hay được chụp trong đôi mắt Đức Bà Guadalupe.  Trong toàn cảnh, có khoảng 11 người.  Có một người Mexico bản địa ngồi xếp hai chân và tóc dài tết thành đuôi ngựa.  Kế ông là một cụ già, hói đầu, râu trắng, mũi thẳng, lông mày rậm và một giọt nước mắt chảy dài xuống má phải.  Nhân vật này được xác định là Đức Giám Mục Juan Zumarraga.  Bên trái ngài là tay phiên dịch của ngài, Juan Gonzales.  Có bóng dáng một ông già để râu và ria, với một cái mũi to kiểu Rôma, xương gò má lồi lên, đôi mắt chìm sâu và đôi môi nửa khép nửa mở – rõ ràng là một thổ dân châu Mỹ – đang mở áo choàng của mình khi quay mặt về phía ông già đầu hói.  Rõ ràng là Juan Diego, kẻ đem những đóa hồng trong áo choàng mình tới cho Đức Giám Mục.  Cũng có nhiều kẻ không xác định được gồm một người cha, một người mẹ, hai ông bà già và 3 đứa trẻ.

Cảnh tượng được khám phá trong đôi mắt phóng đại của hình ảnh kỹ thuật số cho thấy rằng trong giây phút đầy xúc động ấy, khi Juan Diego trải áo choàng cho Đức Giám mục và khi tất cả những ai đang hiện diện trong căn phòng thấy hình ảnh Đức Bà được vẽ lên đó, thì Mẹ Thiên Chúa thực sự có mặt: như những caméra tinh vi nhất, đôi mắt của Người đã chụp cảnh tượng và đã bảo tồn nó cho các thế hệ tương lai.  Cũng kỳ lạ ở chỗ: ý thức những giới hạn của khoa học và kỹ thuật thời đó, Đức Mẹ biết rằng điều này sẽ chỉ được khám phá vài trăm năm sau, khi các thiết bị tinh vi nhất được con người phát minh chế tạo.

Sứ điệp của Đức Bà Guadalupe có thể là gì qua các phát hiện ấy của khoa học?  Tiến sĩ Aste Tousman đã đi đến những suy nghĩ như vậy.  Sự hiện diện của những kẻ không xác định có thể là một sự nhấn mạnh đến tầm quan trọng của gia đình và các giá trị gia đình.  Vì hai người đàn ông da trắng và những thổ dân châu Mỹ được tìm thấy trong cảnh tượng, sự hiện diện của những chủng tộc pha trộn có thể là một cảnh báo chống kỳ thị chủng tộc và là một lời kêu gọi tình huynh đệ giữa con người.  Việc khám phá cảnh tượng nhờ thiết bị hiện đại có thể là một lời mời gọi dùng kỹ thuật để loan truyền lời Chúa Kitô.

Juan Diego đã được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong thánh tại Mexico.  Thổ dân châu Mỹ khiêm nhường, đơn sơ này có thể đã không hình dung rằng Bà Đẹp Guadalupe mà ông đã nói chuyện với ở đồi Tepayac còn có nhiều bí mật khác được tiết lộ, được dành riêng cho các thế hệ tương lai.  Trong trí óc đơn giản của mình, ông đã không thể nhận thức điều ấy.  Chỉ cần nói rằng ông đã vâng lời và yêu mến Đức Mẹ, Đức Mẹ cũng đã yêu mến ông vì tâm hồn đơn sơ và trong sạch của ông.

Xem ra lạ lùng đối với một khoa học gia khi nói lên điều ấy, nhưng với tôi là kẻ cảm thấy liên hệ, bức ảnh gốc thật kỳ diệu.  Nghiên cứu hình ảnh này là kinh nghiệm cảm động nhất của đời tôi.  Tiếp cận với nó, tôi có cùng cảm giác lạ lùng như những ai đã nghiên cứu Khăn liệm thành Turin (Italia).  Tôi tin vào những cách giải thích lô-gích tới một điểm nào đó.  Nhưng không có cách giải thích lô-gích cho cuộc sống.  Bạn có thể bẻ sự sống thành các nguyên tử, nhưng cái gì đến sau đó?  Ngay cả nhà bác học Einstein cũng chân nhận có Thiên Chúa mà!

Philip Callahan

 (*) Giáo sư Philip Callahan là khoa học gia xuất chúng, ĐH Florida năm 1979.

Trích Francis Johnston, Sự kỳ diệu của Guadalupe.

Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi dịch từ nguyên bản Anh ngữ

Nguồn: http://www.all-about-the-virgin-mary.com/our-lady-of-guadalupe-science.html


 

XUẤT HÀNH MỚI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất!”.

“Xác thịt, một hỏng hóc cố hữu, khiến con người tự nhiên không thể phụng sự Chúa hoặc làm vui lòng Ngài. Nó sở hữu một nội lực hấp dẫn ‘thừa hưởng’ từ sự sa ngã; tự nó, luôn thể hiện một sự nổi loạn chống lại Thiên Chúa, chống lại điều thiện. Nó không thể được cải tạo hoặc cải thiện! Hy vọng duy nhất để khỏi sa ngã là thực hành và thay thế toàn bộ cuộc sống bằng một cuộc ‘xuất hành mới’ trong Chúa Kitô!” – M. Bubeck.

Kính thưa Anh Chị em,

Cả hai bài đọc hôm nay soi rọi ý tưởng của M. Bubeck; nhất thiết cần có một khởi đầu mới trong Chúa Kitô! Isaia nói đến cuộc ‘xuất hành mới’ khi dân Chúa trở về từ chốn lưu đày; Chúa Giêsu nói đến cuộc ‘xuất hành mới’ khi con chiên lạc được tìm lại.

Bằng những lời trấn an ngọt ngào từ miệng Thiên Chúa, “Sách An Ủi” mở đầu, “Hãy an ủi, an ủi dân Ta!”. Thời nô lệ đã mãn, Israel hồi hương! Việc về lại Giêrusalem được coi là cuộc ‘xuất hành mới’; trong đó, “Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt”. Đây là cuộc trở về mà Israel sẽ vĩnh viễn đoạn tuyệt chốn lưu đày; một cuộc lên đường mà mọi chướng ngại phải được loại bỏ, “Mọi thung lũng sẽ được lấp đầy, mọi núi đồi sẽ phải bạt xuống, nơi lồi lõm sẽ hoá thành đồng bằng!”, và “Vinh quang Đức Chúa sẽ tỏ hiện!”. Thánh Vịnh đáp ca tiên báo, “Kìa Thiên Chúa chúng ta quang lâm hùng dũng!”.

Nếu thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã phát động một cuộc ‘xuất hành mới’ để tái quy tụ dân, thì thời Tân Ước, điều tương tự cũng đã xảy ra trong Chúa Kitô. Ví mình như người mục tử lên đường tìm chiên, Chúa Kitô cất bước tìm từng tội nhân trong một nhân loại tội luỵ. Ngài sẽ cứu cả nhân loại thương tích bằng chính mạng sống Ngài; qua đó, Ngài phục hồi cho mọi tội nhân phẩm tính con cái Thiên Chúa. Đó là lý do của lễ Giáng Sinh! Con chiên lạc là biểu tượng cho cả nhân loại lạc lối, trong đó có bạn và tôi. Ngài sẽ vác trên vai từng con chiên – nghĩa là từng tội nhân; rửa sạch mọi tội lỗi, chữa lành mọi thương tích, hầu mọi tội nhân có thể thực sự trải nghiệm lòng thương xót và sự tha thứ của Thiên Chúa từ cuộc ‘xuất hành mới!’.

Anh Chị em,

“Cha trên trời không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất!”. “Trong viễn kiến của Chúa Giêsu, không con chiên nào bị lạc mất hoàn toàn, mà chỉ có những con chiên phải được tìm lại. Cần hiểu rõ điều này! Với Chúa, không ai bị lạc mất hoàn toàn. Không bao giờ! Cho đến phút cuối, Chúa vẫn tìm kiếm chúng ta. Hãy nghĩ đến anh trộm lành! Trong mắt Chúa Giêsu, không ai bị lạc mất hoàn toàn. Quan điểm của Ngài hoàn toàn năng động, cởi mở, thách đố và sáng tạo. Nó thúc giục chúng ta tiến lên để tìm kiếm người anh em. Không khoảng cách nào có thể ngăn cản người tìm chiên; và không đàn chiên nào có thể từ bỏ một người anh em. Tìm thấy người bị lạc là niềm vui của người tìm chiên và của Chúa, đó cũng là niềm vui của toàn thể đàn chiên! Chúng ta đều là những con chiên đã được cứu và đưa trở về bởi lòng thương xót của Chúa, và chúng ta được kêu gọi tập hợp toàn thể đàn chiên lại với Ngài!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con hiểu rằng, mùa Vọng, mùa Chúa đang tìm con! Và còn là mùa – cùng Chúa – con lên đường tìm những anh chị em con đang trên đường lầm lạc!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************************

Thứ Ba Tuần II Mùa Vọng

Thiên Chúa không muốn những kẻ bé nhỏ phải hư vong.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.   Mt 18,12-14

12 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em nghĩ sao ? Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao ? 13 Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc. 14 Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất.”


 

Tin Kỹ Thuật: Google chế ra con Chip Quantum mạnh và nhanh nhất thế giới.

Google đã chế tạo ra một con chip máy tính tên là Willow, kích thước 4 centimet vuông. Nó chỉ mất năm phút để hoàn thành các tác vụ mà một số máy tính thông thường nhanh nhất thế giới phải mất 10 triệu tỷ năm mới có thể hoàn thành.

Các chính phủ trên khắp thế giới đang đổ hàng chục tỷ đô la vào nghiên cứu điện toán lượng tử – Quantum.

Với tiến bộ của chip Willow,  chỉ còn khoảng năm năm nữa là máy tính lượng tử trở nên đủ mạnh để bắt đầu chuyển đổi khả năng nghiên cứu và phát triển các vật liệu mới của loài người từ thuốc đến pin, và nhất là AI.

Điều đáng chú ý là Willow được cho là ít có khả năng mắc lỗi hơn nhiều so với các phiên bản trước và có thể mở rộng tiềm năng của lĩnh vực trí tuệ nhân tạo vốn đang phát triển nhanh chóng.

Dr Erik Lucero, lead engineer of Google Quantum AI, points to motherboards while leading media on a tour of the Quantum Computing Lab in September 2022. Photograph: Frederic J Brown/AFP/Getty Images

Tiến sĩ Erik Lucero, kỹ sư trưởng của Google Quantum AI, chỉ vào bo mạch chủ trong khi dẫn đầu đoàn truyền thông tham quan Phòng thí nghiệm máy tính lượng tử vào tháng 9 năm 2022. Ảnh: Frederic J Brown/AFP/Getty Images© Ảnh: Frederic J Brown/AFP/Getty Images

Năm 2019, Google đã tạo nên lịch sử khi chế tạo chip máy tính Quantum thực hiện một tác vụ chuẩn trong 200 giây so với siêu máy tính cổ điển nhanh nhất thế giới vào thời điểm đó phải chạy mất 10.000 năm.

Đến năm 2024 chip lượng tử Willow, đã chạy mẫu tính toán loại mạch ngẫu nhiên (RCS) và hoàn thành tác vụ trong 300 giây, so với siêu máy tính cổ điển nhanh nhất hiện nay phải tốn mất 10 septillion năm (10 triệu tỷ năm).

Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội-Cha Vương

Bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay Giáo Hội mừng Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Lễ buộc. Xin Mẹ đoái thương đến con cái Mẹ hôm nay và mãi mãi.

Cha Vương

Thứ 2: 09/12/2024

TIN MỪNG: Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ toả bóng trên bà ; vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. (Lc 1:35)

SUY NIỆM: Mùa Vọng là mùa trông đợi, là thời gian chuẩn bị tâm hồn để đón Con Thiên Chúa. Sự chuẩn bị này không đầy đủ nếu không nói đến vai trò của Đức Trinh Nữ Maria trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Nếu không có Mẹ thì không có Chúa Giê-su, nếu không có Chúa Giê-su thì không có ơn cứu độ. “Đức Nữ Trinh Maria chiếm một vị thế đặc biệt vì như Mẹ cũng đã trông chờ việc ứng nghiệm lời hứa của Thiên Chúa trong một cách thế độc nhất vô nhị. Mẹ đã chào đón trong đức tin và trong xác thân Giê-su, Con Thiên Chúa, với thái độ vâng phục hoàn toàn thánh ý Thiên Chúa.” Bên cạnh thái độ vâng phục Mẹ lại còn khiêm nhường, luôn ý thức mình là hèn mọn, là thấp bé… “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. (Lc 1:48) Khiêm nhường và vâng phục là đôi chân bước tới Chúa là nguồn sống và hy vọng của người tín hữu. Vậy trong Mùa Vọng này, bạn hãy học nơi Mẹ hai nhân đức này nhé.

LẮNG NGHE: Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người. (Ep 1:4)

CẦU NGUYỆN: “Lạy Chúa, Chúa đã dọn sẵn một cung điện xứng đáng cho Con Chúa giáng trần khi làm cho Đức Trinh Nữ Maria khỏi mắc tội tổ tông ngay từ trong lòng mẹ. Chúa cũng gìn giữ Người khỏi mọi vết nhơ tội lỗi nhờ công nghiệp Con Chúa sẽ chịu chết sau này. Vì lời Đức Trinh Nữ nguyện giúp cầu thay, xin Chúa cũng ban cho con được trở nên công chính thánh thiện mà đón rước Con Chúa.”

THỰC HÀNH: Đọc 10 Kinh Kính Mừng và 1 Kinh Sáng Danh, hãy xin cho được hiền lành và khiêm nhường cả trong lòng lẫn hành động.

From: Do Dzung

*******************************

Lạy Mẹ Maria Mẹ Thiên Chúa Mẹ Đồng Trinh đoàn con chung tiếng hát